version
stringclasses
1 value
data
dict
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Từ ngày 18/7/2022, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an đã hoàn thành ứng dụng định danh điện tử (VNeID) để cung cấp tiện ích cho công dân, đồng thời đưa hệ thống định danh và xác thực điện tử vào sử dụng. Đến nay, đã thu nhận gần 6 triệu hồ sơ đăng ký tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) để phê duyệt, cung cấp cho người dân. Theo đó, Bộ Công an xin trả lời như sau: - Tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) không tự động sinh ra mà sẽ được cấp khi công dân có yêu cầu. Theo nhu cầu sử dụng của công dân, TKĐDĐT có 2 mức, trong đó, mức 1 dành cho công dân đăng ký online trên ứng dụng VNeID. Mức 2 khi công dân đăng ký trực tiếp tại cơ quan Công an hoặc đăng ký khi đi làm Căn cước công dân gắn chíp. TKĐDĐT có thể được hiểu là \"ví giấy tờ điện tử\", là phương thức quản lý thông tin thẻ Căn cước của công dân hay toàn bộ giấy tờ tùy thân trên môi trường mạng. TKĐDĐT bao gồm thông tin về các loại giấy tờ của công dân. Mục đích để làm tài khoản đăng nhập thực hiện các dịch vụ công mà không cần phải xác minh lại thông tin cá nhân của người đó. Đồng thời, có thể sử dụng TKĐDĐT để thay thế một số giấy tờ, giấy phép như: Thẻ Căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký xe, giấy phép lái xe... Một số thông tin trên tài khoản định đanh điện tử có thể được sử dụng, cụ thể: + Thông tin Căn cước công dân: Thay thế thẻ Căn cước gắn chíp, có thể phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi thực hiện nhiều thủ tục hành chính mà không cần xuất trình Căn cước công dân. + Thông tin thẻ bảo hiểm y tế: Thay thế thẻ bảo hiểm y tế vật lý. Thông tin hiển thị bảo hiểm y tế trên VNeID được xác thực và truy xuất từ Cơ sở dữ liệu Bảo hiểm y tế Việt Nam. Vì vậy, thông tin về bảo hiểm y tế trên ứng dụng VNeID sẽ phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm mà không cần trình thẻ bảo hiểm y tế vật lý. + Thông tin đăng ký xe, giấy phép lái xe: Các thông tin hiển thị các hạng giấy phép lái xe, đăng ký xe trên VNeID được liên thông, xác thực với Cơ sở dữ liệu về giao thông vận tải. Do đó, người dân và cơ quan chức năng có thể sử dụng khi thực hiện các thủ tục liên quan đến công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ. + Thông tin người phụ thuộc, người giám hộ; thực hiện thông báo lưu trú mọi lúc, mọi nơi, không cần phải liên hệ qua cơ quan Công an. + Chức năng tố giác tội phạm: VNeID cung cấp thêm một kênh chính thống để người dân tố giác tội phạm với cơ quan Công an một cách bảo mật, an toàn mà không lộ lọt thông tin. Những ai được đăng ký tài khoản định danh điện tử? Mọi cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên được đăng ký TKĐDĐT thông qua ứng dụng VNeiD. Người chưa đủ 14 tuổi thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Đối với người được giám hộ khác thì cần đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của người giám hộ. Những thông tin cần khai báo khi đăng ký gồm: Số định danh cá nhân, số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (đối với người nước ngoài); họ tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch (đối với người nước ngoài); số điện thoại, email. Mọi người dân được miễn phí chi phí thực hiện đăng ký định danh điện tử. Tài khoản định danh sẽ có cùng thời hạn với thời hạn của Căn cước công dân gắn chíp. Có bắt buộc phải đăng ký tài khoản định danh điện tử? Bộ Công an khuyến khích công dân đăng ký sử dụng TKĐDĐT để được hưởng nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian, chi phí vì không phải kê khai nhiều loại biểu mẫu, giảm các thủ tục trong giao dịch hành chính công. Với tài khoản mức độ 1, người dân được sử dụng một số tính năng cơ bản gồm: Phòng chống dịch (khai báo y tế, thông tin tiêm chủng), giải quyết dịch vụ công trực tuyến (thông báo lưu trú, đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng). Với tài khoản mức độ 2, công dân có thể sử dụng tất cả tiện ích mà ứng dụng VNeID cung cấp gồm: Tích hợp các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế), thanh toán nhiều loại hóa đơn điện tử (điện, nước, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chuyển tiền). Người dân đăng ký tài khoản định danh điện tử mức 1 trên ứng dụng VNeID. Với mức 2, công dân đến cơ quan Công an địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) để đăng ký. Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử Các dữ liệu về định danh điện tử không lưu trữ trên thiết bị di động đã cài đặt ứng dụng VNeID nên phần mềm hacker khó truy cập vào thiết bị để đánh cắp thông tin. Chỉ khi công dân đăng ký truy cập mới được hiển thị lên ứng dụng. Khi cán bộ chức năng yêu cầu kiểm tra thông tin cá nhân, giấy tờ của công dân thì công dân phải cho phép (cấp quyền kiểm tra) thì cán bộ mới có thể xem được thông tin. Bên thứ 3 (ngân hàng, ví điện tử, y tế, bảo hiểm, hệ thống dịch vụ công) muốn sử dụng dữ liệu của công dân sẽ phải được sự đồng ý của chủ tài khoản. Ngoài ra, thông tin công dân sẽ được ký số (chống thay đổi, chống chối bỏ) và được mã hóa. Hệ thống của các bên thứ 3 khi kết nối với hệ thống định danh, xác thực điện tử đều phải được xác thực bảo mật. Dữ liệu mã hóa cộng với giải pháp bảo mật ở mức độ cao, nên có thể ngăn ngừa hacker xâm nhập để đánh cắp thông tin cá nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 394, "text": "- Tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) không tự động sinh ra mà sẽ được cấp khi công dân có yêu cầu. Theo nhu cầu sử dụng của công dân, TKĐDĐT có 2 mức, trong đó, mức 1 dành cho công dân đăng ký online trên ứng dụng VNeID. Mức 2 khi công dân đăng ký trực tiếp tại cơ quan Công an hoặc đăng ký khi đi làm Căn cước công dân gắn chíp. TKĐDĐT có thể được hiểu là \"ví giấy tờ điện tử\", là phương thức quản lý thông tin thẻ Căn cước của công dân hay toàn bộ giấy tờ tùy thân trên môi trường mạng. TKĐDĐT bao gồm thông tin về các loại giấy tờ của công dân. Mục đích để làm tài khoản đăng nhập thực hiện các dịch vụ công mà không cần phải xác minh lại thông tin cá nhân của người đó. Đồng thời, có thể sử dụng TKĐDĐT để thay thế một số giấy tờ, giấy phép như: Thẻ Căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký xe, giấy phép lái xe... Một số thông tin trên tài khoản định đanh điện tử có thể được sử dụng, cụ thể: + Thông tin Căn cước công dân: Thay thế thẻ Căn cước gắn chíp, có thể phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi thực hiện nhiều thủ tục hành chính mà không cần xuất trình Căn cước công dân. + Thông tin thẻ bảo hiểm y tế: Thay thế thẻ bảo hiểm y tế vật lý. Thông tin hiển thị bảo hiểm y tế trên VNeID được xác thực và truy xuất từ Cơ sở dữ liệu Bảo hiểm y tế Việt Nam. Vì vậy, thông tin về bảo hiểm y tế trên ứng dụng VNeID sẽ phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm mà không cần trình thẻ bảo hiểm y tế vật lý. + Thông tin đăng ký xe, giấy phép lái xe: Các thông tin hiển thị các hạng giấy phép lái xe, đăng ký xe trên VNeID được liên thông, xác thực với Cơ sở dữ liệu về giao thông vận tải. Do đó, người dân và cơ quan chức năng có thể sử dụng khi thực hiện các thủ tục liên quan đến công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ. + Thông tin người phụ thuộc, người giám hộ; thực hiện thông báo lưu trú mọi lúc, mọi nơi, không cần phải liên hệ qua cơ quan Công an. + Chức năng tố giác tội phạm: VNeID cung cấp thêm một kênh chính thống để người dân tố giác tội phạm với cơ quan Công an một cách bảo mật, an toàn mà không lộ lọt thông tin. Những ai được đăng ký tài khoản định danh điện tử? Mọi cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên được đăng ký TKĐDĐT thông qua ứng dụng VNeiD. Người chưa đủ 14 tuổi thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Đối với người được giám hộ khác thì cần đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của người giám hộ. Những thông tin cần khai báo khi đăng ký gồm: Số định danh cá nhân, số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (đối với người nước ngoài); họ tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch (đối với người nước ngoài); số điện thoại, email. Mọi người dân được miễn phí chi phí thực hiện đăng ký định danh điện tử. Tài khoản định danh sẽ có cùng thời hạn với thời hạn của Căn cước công dân gắn chíp. Có bắt buộc phải đăng ký tài khoản định danh điện tử? Bộ Công an khuyến khích công dân đăng ký sử dụng TKĐDĐT để được hưởng nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian, chi phí vì không phải kê khai nhiều loại biểu mẫu, giảm các thủ tục trong giao dịch hành chính công. Với tài khoản mức độ 1, người dân được sử dụng một số tính năng cơ bản gồm: Phòng chống dịch (khai báo y tế, thông tin tiêm chủng), giải quyết dịch vụ công trực tuyến (thông báo lưu trú, đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng). Với tài khoản mức độ 2, công dân có thể sử dụng tất cả tiện ích mà ứng dụng VNeID cung cấp gồm: Tích hợp các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế), thanh toán nhiều loại hóa đơn điện tử (điện, nước, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chuyển tiền). Người dân đăng ký tài khoản định danh điện tử mức 1 trên ứng dụng VNeID. Với mức 2, công dân đến cơ quan Công an địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) để đăng ký. Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử Các dữ liệu về định danh điện tử không lưu trữ trên thiết bị di động đã cài đặt ứng dụng VNeID nên phần mềm hacker khó truy cập vào thiết bị để đánh cắp thông tin. Chỉ khi công dân đăng ký truy cập mới được hiển thị lên ứng dụng. Khi cán bộ chức năng yêu cầu kiểm tra thông tin cá nhân, giấy tờ của công dân thì công dân phải cho phép (cấp quyền kiểm tra) thì cán bộ mới có thể xem được thông tin. Bên thứ 3 (ngân hàng, ví điện tử, y tế, bảo hiểm, hệ thống dịch vụ công) muốn sử dụng dữ liệu của công dân sẽ phải được sự đồng ý của chủ tài khoản. Ngoài ra, thông tin công dân sẽ được ký số (chống thay đổi, chống chối bỏ) và được mã hóa. Hệ thống của các bên thứ 3 khi kết nối với hệ thống định danh, xác thực điện tử đều phải được xác thực bảo mật. Dữ liệu mã hóa cộng với giải pháp bảo mật ở mức độ cao, nên có thể ngăn ngừa hacker xâm nhập để đánh cắp thông tin cá nhân." } ], "id": "1", "is_impossible": false, "question": "Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử như thế nào?" } ] } ], "title": "Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Căn cước được Quốc hội khoá XV thông qua tại Kỳ họp thứ 6, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 có những điểm mới như sau: 01. Chính thức đổi tên Căn cước công dân thành Căn cước (Điều 3). 02. Giá trị sử dụng của Thẻ căn cước công dân, Chứng minh nhân dân đã được cấp (Điều 46): - Thẻ Căn cước công dân đã được cấp trước ngày 01/7/2024 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được ghi trong thẻ.Công dân khi có nhu cầu thì được cấp đổi sang thẻ căn cước. - Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. - Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng. 03. Chứng minh nhân dân hết hiệu lực từ 01/01/2025 (Điều 46): Chứng minh nhân dân còn thời hạn sử dụng thì được sử dụng đến ngày 31/12/2024. 04. Bỏ thông tin quê quán và vân tay trên thẻ căn cước (Điều 18): Thẻ Căn cước mới đã bỏ thông tin quê quán, nơi thường trú, vân tay, đặc điểm nhận dạng, thay vào bằng thông tin nơi đăng ký khai sinh và nơi cư trú. 05. Mở rộng đối tượng được cấp thẻ căn cước (Điều 18 và Điều 19): - Công dân Việt Nam dưới 14 tuổi cấp thẻ căn cước theo nhu cầu. - Công dân Việt Nam có nơi cú trú gồm nơi thường trú hoặc nơi tạm trú hoặc nơi ở hiện tại được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thẻ căn cước mới thay thông tin nơi thường trú bằng thông tin nơi cư trú). 06. Cấp thẻ Căn cước cho người dưới 06 tuổi (Điều 23): - Người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước cho người dưới 06 tuổi thông qua cổng dịch vụ công hoặc ứng dụng định danh quốc gia. - Không thu nhận thông tin nhân dạng và sinh trắc học đối với người dưới 06 tuổi. 07. Bổ sung quy định cấp Giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch (Điều 3 và Điều 30): - Giấy chứng nhận căn cước là giấy tờ tùy thân chứa đựng thông tin về căn cước của người gốc Việt Nam, chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. - Giấy chứng nhận căn cước có giá trị chứng minh về căn cước để thực hiện các giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. 08. Bổ sung quy định cấp Căn cước điện tử (Điều 31 và Điều 33): - Mỗi công dân Việt Nam được cấp 01 Căn cước điện tử. Căn cước điện tử của công dân được cơ quan quản lý căn cước Bộ Công an tạo lập ngay sau khi công dân hoàn thành thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 (VNeID). - Căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác theo nhu cầu của công dân. 09. Bổ sung quy định thu thập thông tin sinh trắc học (Điều 16 và Điều 23): - Thu nhận thông tin sinh trắc học mống mắt đối với công dân từ đủ 06 tuổi trở lên khi thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước. - Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp khi thực hiện thủ tục cấp căn cước. 10. Bổ sung quy định về việc tích hợp thông tin vào thẻ Căn cước (Điều 22): - Thông tin tích hợp vào thẻ căn cước gồm thông tin thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. - Người dân đề nghị tích hợp thông tin vào thẻ căn cước khi có nhu cầu hoặc khi thực hiện việc cấp thẻ căn cước. - Việc sử dụng thông tin được tích hợp vào thẻ căn cước có giá trị tương đương như việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng giấy tờ có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 121, "text": "01. Chính thức đổi tên Căn cước công dân thành Căn cước (Điều 3). 02. Giá trị sử dụng của Thẻ căn cước công dân, Chứng minh nhân dân đã được cấp (Điều 46): - Thẻ Căn cước công dân đã được cấp trước ngày 01/7/2024 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được ghi trong thẻ.Công dân khi có nhu cầu thì được cấp đổi sang thẻ căn cước. - Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. - Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng. 03. Chứng minh nhân dân hết hiệu lực từ 01/01/2025 (Điều 46): Chứng minh nhân dân còn thời hạn sử dụng thì được sử dụng đến ngày 31/12/2024. 04. Bỏ thông tin quê quán và vân tay trên thẻ căn cước (Điều 18): Thẻ Căn cước mới đã bỏ thông tin quê quán, nơi thường trú, vân tay, đặc điểm nhận dạng, thay vào bằng thông tin nơi đăng ký khai sinh và nơi cư trú. 05. Mở rộng đối tượng được cấp thẻ căn cước (Điều 18 và Điều 19): - Công dân Việt Nam dưới 14 tuổi cấp thẻ căn cước theo nhu cầu. - Công dân Việt Nam có nơi cú trú gồm nơi thường trú hoặc nơi tạm trú hoặc nơi ở hiện tại được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thẻ căn cước mới thay thông tin nơi thường trú bằng thông tin nơi cư trú). 06. Cấp thẻ Căn cước cho người dưới 06 tuổi (Điều 23): - Người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước cho người dưới 06 tuổi thông qua cổng dịch vụ công hoặc ứng dụng định danh quốc gia. - Không thu nhận thông tin nhân dạng và sinh trắc học đối với người dưới 06 tuổi. 07. Bổ sung quy định cấp Giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch (Điều 3 và Điều 30): - Giấy chứng nhận căn cước là giấy tờ tùy thân chứa đựng thông tin về căn cước của người gốc Việt Nam, chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. - Giấy chứng nhận căn cước có giá trị chứng minh về căn cước để thực hiện các giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. 08. Bổ sung quy định cấp Căn cước điện tử (Điều 31 và Điều 33): - Mỗi công dân Việt Nam được cấp 01 Căn cước điện tử. Căn cước điện tử của công dân được cơ quan quản lý căn cước Bộ Công an tạo lập ngay sau khi công dân hoàn thành thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 (VNeID). - Căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác theo nhu cầu của công dân. 09. Bổ sung quy định thu thập thông tin sinh trắc học (Điều 16 và Điều 23): - Thu nhận thông tin sinh trắc học mống mắt đối với công dân từ đủ 06 tuổi trở lên khi thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước. - Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp khi thực hiện thủ tục cấp căn cước. 10. Bổ sung quy định về việc tích hợp thông tin vào thẻ Căn cước (Điều 22): - Thông tin tích hợp vào thẻ căn cước gồm thông tin thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. - Người dân đề nghị tích hợp thông tin vào thẻ căn cước khi có nhu cầu hoặc khi thực hiện việc cấp thẻ căn cước. - Việc sử dụng thông tin được tích hợp vào thẻ căn cước có giá trị tương đương như việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng giấy tờ có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác." } ], "id": "2", "is_impossible": false, "question": "Những điểm mới của Luật Căn cước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024?" } ] } ], "title": "Những điểm mới của Luật Căn cước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Dự thảo Luật Căn cước công dân (CCCD) (sửa đổi) quy định thông tin trên thẻ CCCD sẽ được thay đổi, lược bỏ một số thông tin so với quy định hiện nay như thay đổi thông tin về nơi thường trú, quê quán thành nơi cư trú, nơi đăng ký khai sinh, thay đổi thông tin về họ tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ thành nơi cấp: Bộ Công an. Bên cạnh đó, một số thông tin trên thẻ sẽ được lược bỏ như vân tay, đặc điểm nhân dạng của người cấp thẻ. Việc quy định như trên để bảo đảm thuận lợi, bảo đảm tính riêng tư cho công dân trong quá trình cấp, sử dụng thẻ CCCD.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 322, "text": "Bộ Công an. Bên cạnh đó, một số thông tin trên thẻ sẽ được lược bỏ như vân tay, đặc điểm nhân dạng của người cấp thẻ. Việc quy định như trên để bảo đảm thuận lợi, bảo đảm tính riêng tư cho công dân trong quá trình cấp, sử dụng thẻ CCCD." } ], "id": "3", "is_impossible": false, "question": "Mẫu thẻ Căn cước công dân theo dự thảo Luật Căn cước công dân (sửa đổi) có điểm gì mới so với mẫu cũ?" } ] } ], "title": "Mẫu thẻ Căn cước công dân theo dự thảo Luật Căn cước công dân (sửa đổi) có điểm gì mới so với mẫu cũ?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân được quy định tại Điều 4 của Luật Cư trú, như sau: 1. Công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây: a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng; d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này; đ) Các trường hợp khác theo quy định của luật. 3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 98, "text": "1. Công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây: a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng; d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này; đ) Các trường hợp khác theo quy định của luật. 3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan." } ], "id": "4", "is_impossible": false, "question": "Những trường hợp nào thì Công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú?" } ] } ], "title": "Những trường hợp nào thì Công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 6 Nghị định 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài” như sau: 1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện hành vi mua bán người, phát hiện bản thân mình hoặc người khác có nguy cơ bị mua bán thì gọi đến số điện thoại của Tổng đài để báo tin, tố giác. 2. Người tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài thực hiện ghi chép nội dung thông tin tiếp nhận theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, trong trường hợp cần thiết và theo nhu cầu của người trình báo thực hiện tư vấn tâm lý, tư vấn chính sách, pháp luật, tư vấn hỗ trợ nạn nhân, cung cấp kỹ năng ứng phó với hành vi mua bán người. 3. Ngay sau khi kết thúc việc tiếp nhận tố giác, tin báo hành vi mua bán người, người tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi mua bán người hoặc nơi người báo tin cư trú để giải quyết theo quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 4. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tố giác, tin báo về hành vi mua bán người mà nạn nhân hoặc người nghi là nạn nhân là trẻ em thì việc xử lý theo quy định của pháp luật về trẻ em.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 6 Nghị định 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài” như sau: 1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện hành vi mua bán người, phát hiện bản thân mình hoặc người khác có nguy cơ bị mua bán thì gọi đến số điện thoại của Tổng đài để báo tin, tố giác. 2. Người tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài thực hiện ghi chép nội dung thông tin tiếp nhận theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, trong trường hợp cần thiết và theo nhu cầu của người trình báo thực hiện tư vấn tâm lý, tư vấn chính sách, pháp luật, tư vấn hỗ trợ nạn nhân, cung cấp kỹ năng ứng phó với hành vi mua bán người. 3. Ngay sau khi kết thúc việc tiếp nhận tố giác, tin báo hành vi mua bán người, người tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi mua bán người hoặc nơi người báo tin cư trú để giải quyết theo quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 4. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tố giác, tin báo về hành vi mua bán người mà nạn nhân hoặc người nghi là nạn nhân là trẻ em thì việc xử lý theo quy định của pháp luật về trẻ em." } ], "id": "5", "is_impossible": false, "question": "Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người" } ] } ], "title": "Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 17 Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Trách nhiệm phòng ngừa mua bán người trong tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ” như sau: Các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điều 10 của Luật này có trách nhiệm sau đây: 1. Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; 2. Nắm thông tin về đối tượng được cung cấp dịch vụ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phòng ngừa mua bán người; 3. Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương để phòng ngừa mua bán người; 4. Thực hiện đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra về phòng, chống mua bán người đối với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 5. Phối hợp, thực hiện đầy đủ yêu cầu khi cơ quan có thẩm quyền sàng lọc dấu hiệu bị mua bán đối với người lao động tại tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 6. Chủ động phòng ngừa, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành vi có dấu hiệu mua bán người. Điều 10 Luật Phòng, chống mua bán người quy định như sau: “Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ 1. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây phải được quản lý, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng để thực hiện hành vi mua bán người: a) Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp; kinh doanh casino; kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động, tư vấn du học, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tuyển dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú; b) Hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nuôi con nuôi; c) Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người. 2. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này để phòng, chống mua bán người.”", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 17 Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Trách nhiệm phòng ngừa mua bán người trong tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ” như sau: Các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điều 10 của Luật này có trách nhiệm sau đây: 1. Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; 2. Nắm thông tin về đối tượng được cung cấp dịch vụ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phòng ngừa mua bán người; 3. Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương để phòng ngừa mua bán người; 4. Thực hiện đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra về phòng, chống mua bán người đối với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 5. Phối hợp, thực hiện đầy đủ yêu cầu khi cơ quan có thẩm quyền sàng lọc dấu hiệu bị mua bán đối với người lao động tại tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 6. Chủ động phòng ngừa, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành vi có dấu hiệu mua bán người. Điều 10 Luật Phòng, chống mua bán người quy định như sau: “Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ 1. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây phải được quản lý, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng để thực hiện hành vi mua bán người: a) Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp; kinh doanh casino; kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động, tư vấn du học, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tuyển dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú; b) Hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nuôi con nuôi; c) Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người. 2. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này để phòng, chống mua bán người.”" } ], "id": "6", "is_impossible": false, "question": "Cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm gì trong phòng ngừa mua bán người?" } ] } ], "title": "Cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm gì trong phòng ngừa mua bán người?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 231 Bộ luật hình sự quy định về “Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ” như sau: 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên; d) Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 231 Bộ luật hình sự quy định về “Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ” như sau: 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên; d) Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm." } ], "id": "7", "is_impossible": false, "question": "Hành vi cố ý làm trái quy định về hàng cứu trợ sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi cố ý làm trái quy định về hàng cứu trợ sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Qua công tác nắm tình hình, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an phát hiện hành vi lợi dụng việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, các đối tượng lừa đảo mạo danh cán bộ xã/phường hoặc Cảnh sát khu vực gọi điện dụ dỗ người dân truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng VNeID giả mạo chứa mã độc nhằm chiếm quyền điều khiển thiết bị, qua đó chiếm đoạt tài sản của người dân. Ứng dụng giả mạo. Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng là: - Gọi điện bằng thuê bao di động thông thường hoặc tổng đài ảo, giả mạo danh nghĩa cơ quan, tổ chức giới thiệu là cán bộ Ủy ban xã/phường, cảnh sát khu vực… thông báo về việc thay đổi bộ máy hành chính, đề nghị người dân cập nhật thông tin mới. Các đối tượng đã thu thập thông tin cá nhân của người dân từ trước và đưa ra để tạo niềm tin trước khi yêu cầu thực hiện theo hướng dẫn của chúng. - Đối tượng yêu cầu người dân truy cập vào đường dẫn do chúng cung cấp hoặc cài đặt ứng dụng VNeID, dịch vụ công giả mạo có chứa mã độc. - Sau khi người dân đã truy cập hoặc cài đặt ứng dụng, chúng đã chiếm quyền điều khiển thiết bị, tiếp tục dẫn dụ người dân làm theo hướng dẫn để tìm cách lấy mã OTP tài khoản ngân hàng hoặc dụ người dân nhìn vào điện thoại nhằm lấy dữ liệu sinh trắc học, từ đó chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của người dân. Bộ Công an cảnh báo: - Người dân tuyệt đối không làm theo yêu cầu qua điện thoại của các đối tượng gọi điện tự xưng là cán bộ xã/phường, cảnh sát khu vực… Nếu cần cập nhật thông tin phải ra trực tiếp Công an xã/phường nơi mình sinh sống. - Tuyên truyền, vận động gia đình, bạn bè, người thân cảnh giác trước phương thức, thủ đoạn trên. - Trường hợp người dân đã truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng chứa mã độc, ngay lập tức liên hệ với ngân hàng để khóa tài khoản và tắt nguồn điện thoại, không để các đối tượng có cơ hội lấy được mã OTP ngân hàng hoặc dữ liệu sinh trắc học. - Trình báo đến cơ quan Công an nơi gần nhất khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. - Bộ Công an khuyến nghị người dân truy cập các tài khoản mạng xã hội chính thức của Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để thường xuyên cập nhật tin tức, tình hình cũng như phương thức, thủ đoạn mới của các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng. *Lưu ý: Ứng dụng VNeID được phát triển bởi Trung tâm Dữ liệu Quốc gia về Dân cư, có thể tìm kiếm và tải về từ CH Play (đối với Android) hoặc App Store (đối với iOS), đều được dán nhãn là ứng dụng Chính phủ hoặc được phát triển bởi cơ quan Nhà nước. Người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin các ứng dụng trước khi tải.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 516, "text": "- Gọi điện bằng thuê bao di động thông thường hoặc tổng đài ảo, giả mạo danh nghĩa cơ quan, tổ chức giới thiệu là cán bộ Ủy ban xã/phường, cảnh sát khu vực… thông báo về việc thay đổi bộ máy hành chính, đề nghị người dân cập nhật thông tin mới. Các đối tượng đã thu thập thông tin cá nhân của người dân từ trước và đưa ra để tạo niềm tin trước khi yêu cầu thực hiện theo hướng dẫn của chúng. - Đối tượng yêu cầu người dân truy cập vào đường dẫn do chúng cung cấp hoặc cài đặt ứng dụng VNeID, dịch vụ công giả mạo có chứa mã độc. - Sau khi người dân đã truy cập hoặc cài đặt ứng dụng, chúng đã chiếm quyền điều khiển thiết bị, tiếp tục dẫn dụ người dân làm theo hướng dẫn để tìm cách lấy mã OTP tài khoản ngân hàng hoặc dụ người dân nhìn vào điện thoại nhằm lấy dữ liệu sinh trắc học, từ đó chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của người dân. Bộ Công an cảnh báo: - Người dân tuyệt đối không làm theo yêu cầu qua điện thoại của các đối tượng gọi điện tự xưng là cán bộ xã/phường, cảnh sát khu vực… Nếu cần cập nhật thông tin phải ra trực tiếp Công an xã/phường nơi mình sinh sống. - Tuyên truyền, vận động gia đình, bạn bè, người thân cảnh giác trước phương thức, thủ đoạn trên. - Trường hợp người dân đã truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng chứa mã độc, ngay lập tức liên hệ với ngân hàng để khóa tài khoản và tắt nguồn điện thoại, không để các đối tượng có cơ hội lấy được mã OTP ngân hàng hoặc dữ liệu sinh trắc học. - Trình báo đến cơ quan Công an nơi gần nhất khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. - Bộ Công an khuyến nghị người dân truy cập các tài khoản mạng xã hội chính thức của Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để thường xuyên cập nhật tin tức, tình hình cũng như phương thức, thủ đoạn mới của các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng. *Lưu ý: Ứng dụng VNeID được phát triển bởi Trung tâm Dữ liệu Quốc gia về Dân cư, có thể tìm kiếm và tải về từ CH Play (đối với Android) hoặc App Store (đối với iOS), đều được dán nhãn là ứng dụng Chính phủ hoặc được phát triển bởi cơ quan Nhà nước. Người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin các ứng dụng trước khi tải.”." } ], "id": "8", "is_impossible": false, "question": "Cảnh báo thủ đoạn lợi dụng việc sáp nhập tỉnh, thành để lừa đảo cài ứng dụng VNeID giả mạo nhằm chiếm đoạt tài sản" } ] } ], "title": "Cảnh báo thủ đoạn lợi dụng việc sáp nhập tỉnh, thành để lừa đảo cài ứng dụng VNeID giả mạo nhằm chiếm đoạt tài sản" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi; d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai; e) Đối với 02 người trở lên; g) Đối với người đang cai nghiện; h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác; k) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 13 tuổi. 4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi; d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai; e) Đối với 02 người trở lên; g) Đối với người đang cai nghiện; h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác; k) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 13 tuổi. 4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng." } ], "id": "9", "is_impossible": false, "question": "Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào" } ] } ], "title": "Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 6 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân” như sau: 1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền sau đây: a) Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người; b) Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp phòng ngừa mua bán người; c) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận hỗ trợ; d) Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định của pháp luật; đ) Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân; e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; g) Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ; h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ sau đây: a) Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ; b) Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; c) Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc mua bán người; d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 6 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân” như sau: 1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền sau đây: a) Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người; b) Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp phòng ngừa mua bán người; c) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận hỗ trợ; d) Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định của pháp luật; đ) Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân; e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; g) Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ; h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ sau đây: a) Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ; b) Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; c) Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc mua bán người; d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan." } ], "id": "10", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của mua bán người có quyền và nghĩa vụ gì?" } ] } ], "title": "Trường hợp nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của mua bán người có quyền và nghĩa vụ gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 32 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Căn cứ để xác định nạn nhân” như sau: 1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây: a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp; b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp; c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp; d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp; đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp; e) Lời khai, tài liệu do người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp; g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp; h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc cung cấp; i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác. 2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc bị mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân: a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác; b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ, quản lý và bị đối xử như nạn nhân này; c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này; d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ vắng mặt tại nơi cư trú; đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 32 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Căn cứ để xác định nạn nhân” như sau: 1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây: a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp; b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp; c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp; d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp; đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp; e) Lời khai, tài liệu do người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp; g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp; h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc cung cấp; i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác. 2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc bị mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân: a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác; b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ, quản lý và bị đối xử như nạn nhân này; c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này; d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ vắng mặt tại nơi cư trú; đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân." } ], "id": "11", "is_impossible": false, "question": "Căn cứ để xác định nạn nhân được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Căn cứ để xác định nạn nhân được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 16/7/2014, Bộ Nội vụ ký Quyết định số 732/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội thể thao Bridge&Poker Việt Nam và công nhận Poker là một môn thể thao trí tuệ ở Việt Nam. Vì vậy, việc các câu lạc bộ được thành lập và tổ chức giải thi đấu Poker sẽ phải thực hiện theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL ngày 19/11/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các quy định về điều lệ tổ chức giải đấu Poker theo thể thức tournament của Hiệp hội thể thao Bridge&Poker Việt Nam, cụ thể: 1. Theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL, các giải đấu Poker phải xin cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức cho các vận động viên tham gia giải đấu trong phạm vi mà cơ quan có thẩm quyền đó cấp phép. 2. Các giải đấu phải được công bố thông tin trên các phương tiện truyền thông. 3. Poker chỉ được cấp phép hoạt động dưới hình thức tổ chức giải thi đấu (tournament) với mục đích tạo sân chơi bổ ích và cọ sát trình độ cho các vận động viên tại Việt Nam. 4. Hình thức đánh giải (tournament) là hợp pháp, trong đó người chơi đóng lệ phí tham gia (buy-in). Phần thu từ lệ phí sẽ được dùng để chi trả kinh phí tổ chức và trao thưởng cho người chiến thắng và được đóng thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp đầy đủ. Vì vậy Các câu lạc bộ Poker ở Việt Nam tổ chức các giải đấu (Tournament) cho các thành viên của câu lạc bộ, dưới hình thức người chơi mua vé tham dự và thi đấu đến thứ hạng nhận giải, giải thưởng được trao bằng tiền là hợp pháp nếu việc tổ chức và tham dự giải thi đấu Poker đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên. Nếu thi đấu Poker với mục đích đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức cash game (dùng tiền thật) hoặc mua phỉnh rồi đổi thành tiền là đánh bạc bất hợp pháp, sẽ bị xử lý hình sự về Tội đánh bạc (Điều 321 Bộ luật Hình sự), và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322 Bộ luật Hình sự).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 487, "text": "1. Theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL, các giải đấu Poker phải xin cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức cho các vận động viên tham gia giải đấu trong phạm vi mà cơ quan có thẩm quyền đó cấp phép. 2. Các giải đấu phải được công bố thông tin trên các phương tiện truyền thông. 3. Poker chỉ được cấp phép hoạt động dưới hình thức tổ chức giải thi đấu (tournament) với mục đích tạo sân chơi bổ ích và cọ sát trình độ cho các vận động viên tại Việt Nam. 4. Hình thức đánh giải (tournament) là hợp pháp, trong đó người chơi đóng lệ phí tham gia (buy-in). Phần thu từ lệ phí sẽ được dùng để chi trả kinh phí tổ chức và trao thưởng cho người chiến thắng và được đóng thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp đầy đủ. Vì vậy Các câu lạc bộ Poker ở Việt Nam tổ chức các giải đấu (Tournament) cho các thành viên của câu lạc bộ, dưới hình thức người chơi mua vé tham dự và thi đấu đến thứ hạng nhận giải, giải thưởng được trao bằng tiền là hợp pháp nếu việc tổ chức và tham dự giải thi đấu Poker đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên. Nếu thi đấu Poker với mục đích đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức cash game (dùng tiền thật) hoặc mua phỉnh rồi đổi thành tiền là đánh bạc bất hợp pháp, sẽ bị xử lý hình sự về Tội đánh bạc (Điều 321 Bộ luật Hình sự), và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322 Bộ luật Hình sự)." } ], "id": "12", "is_impossible": false, "question": "Các trường hợp chơi Poker bất hợp pháp và hợp pháp tại Việt Nam" } ] } ], "title": "Các trường hợp chơi Poker bất hợp pháp và hợp pháp tại Việt Nam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người." } ], "id": "13", "is_impossible": false, "question": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 5 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người” như sau: 1. Phòng, chống mua bán người là nội dung của chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm và được kết hợp với việc thực hiện các chương trình khác về phát triển kinh tế - xã hội. 2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia, hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. 3. Ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phòng, chống mua bán người; hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống mua bán người. 4. Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật. 5. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản theo quy định của pháp luật. 6. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến phức tạp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 5 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người” như sau: 1. Phòng, chống mua bán người là nội dung của chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm và được kết hợp với việc thực hiện các chương trình khác về phát triển kinh tế - xã hội. 2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia, hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. 3. Ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phòng, chống mua bán người; hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống mua bán người. 4. Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật. 5. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản theo quy định của pháp luật. 6. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến phức tạp." } ], "id": "14", "is_impossible": false, "question": "Hiện nay Nhà nước có những chính sách gì đối với công tác phòng, chống mua bán người?" } ] } ], "title": "Hiện nay Nhà nước có những chính sách gì đối với công tác phòng, chống mua bán người?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng đoạt tài sản” như sau: 1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng đoạt tài sản” như sau: 1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản." } ], "id": "15", "is_impossible": false, "question": "Hành vi cưỡng đoạt tài sản sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi cưỡng đoạt tài sản sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như sau: 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như sau: 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”." } ], "id": "16", "is_impossible": false, "question": "Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Ðiều 317 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm” như sau: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; d) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; e) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; i) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Ðiều 317 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm” như sau: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; d) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; e) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; i) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”." } ], "id": "17", "is_impossible": false, "question": "Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người." } ], "id": "18", "is_impossible": false, "question": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Trong những năm gần đây, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng để hoạt động diễn biến phức tạp. Các đối tượng triệt để sử dụng các ứng dụng, công nghệ, phương tiện hiện đại để thực hiện hành vi phạm tội, hoạt động ẩn danh, khó truy vết; phần lớn hoạt động có tổ chức, nhưng chỉ liên lạc, móc nối qua không gian mạng, không tiếp xúc, trao đổi ngoài đời thực. Đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hình thức nhắn tin, gọi điện qua điện thoại, qua mạng xã hội diễn ra rất phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, đồng thời thường xuyên thay đổi để đối phó với cơ quan chức năng. Điển hình là khi chúng ta thực hiện chủ trương chuẩn hóa thông tin thuê bao di động, làm sạch \"Sim rác\" để hạn chế tội phạm lừa đảo, thì các đối tượng lại lợi dụng chính chủ trương này để mạo danh cơ quan quản lý nhà nước, nhân viên các nhà mạng, ngân hàng gọi điện để yêu cầu người dân cung cấp thông tin cá nhân để chiếm đoạt \"Sim\" điện thoại của nạn nhân, tài khoản ngân hàng, ví điện tử, mạng xã hội... để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và như cử tri phản ánh. Điều này cho thấy tính chất phức tạp của loại tội phạm này, việc phát hiện, xử lý là rất khó khăn. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tăng cường công tác nắm tình hình; chủ động phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm lừa đảo trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài ngành Công an xây dựng, đăng tải hàng trăm phóng sự cảnh báo về phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đề nghị các doanh nghiệp viễn thông đồng loạt gửi tin nhắn tuyên truyền người dân chấp hành các quy định của pháp luật. Tổ chức triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Năm 2024, lực lượng Công an phát hiện, xử lý hơn 7.866 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản (có hơn 4.100 vụ lừa đảo trên không gian mạng) - theo mốc thống kê số liệu của Quốc hội). Kết quả đấu tranh đã góp phần ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo toàn lực lượng bám sát các nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 21/CT-TTg, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ và đấu tranh trấn áp tội phạm, cụ thể: (1) Phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao ý thức cảnh giác của người dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại cộng đồng, trên các trang mạng xã hội (đặc biệt là người dân trong độ tuổi lao động, thanh thiếu niên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) về các phương thức, thủ đoạn hoạt động và hậu quả của tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và Nhân dân biết, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp với các nhà mạng viễn thông gửi tin nhắn đến các thuê bao di động cảnh báo tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác trước các phương thức hoạt động của tội phạm lợi dụng không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. (2) Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên không gian mạng; thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử; đẩy mạnh thực hiện Đề án 06/CP về \"Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030\", nhất là ứng dụng dữ liệu dân cư để xác thực thông tin thuê bao di động loại bỏ \"Sim rác\", xác thực tài khoản ngân hàng, xác thực sinh trắc học khi thực hiện các giao dịch trong thanh toán trực tuyến trên Internet, hạn chế các trường hợp sử dụng vào mục đích hoạt động lừa đảo; sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) trong các giao dịch điện tử, góp phần phòng ngừa tội phạm. (3) Triển khai các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; thông báo toàn quốc số điện thoại đường dây nóng (0692.345.860) của Cục Cảnh sát hình sự là đầu mối tiếp nhận tin báo, tố giác của người dân về các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phối hợp Viện kiểm sát, Tòa án các cấp điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh để răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp nhanh, \"khẩn cấp\" truy vết dòng tiền, tạm khóa, phong tỏa tài khoản liên quan đến hoạt động phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (4) Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng nói chung và phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng không gian mạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, nhất là chia sẻ xác minh thông tin, thu thập tài liệu, chứng cứ, đấu tranh, bắt giữ và chuyển giao đối tượng gây án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng của Lào, Campuchia và các quốc gia có liên quan trong hợp tác đấu tranh chuyên án chung đối với các đối tượng lợi dụng địa bàn nước ngoài để hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của công dân trong nước.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "Trong những năm gần đây, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng để hoạt động diễn biến phức tạp. Các đối tượng triệt để sử dụng các ứng dụng, công nghệ, phương tiện hiện đại để thực hiện hành vi phạm tội, hoạt động ẩn danh, khó truy vết; phần lớn hoạt động có tổ chức, nhưng chỉ liên lạc, móc nối qua không gian mạng, không tiếp xúc, trao đổi ngoài đời thực. Đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hình thức nhắn tin, gọi điện qua điện thoại, qua mạng xã hội diễn ra rất phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, đồng thời thường xuyên thay đổi để đối phó với cơ quan chức năng. Điển hình là khi chúng ta thực hiện chủ trương chuẩn hóa thông tin thuê bao di động, làm sạch \"Sim rác\" để hạn chế tội phạm lừa đảo, thì các đối tượng lại lợi dụng chính chủ trương này để mạo danh cơ quan quản lý nhà nước, nhân viên các nhà mạng, ngân hàng gọi điện để yêu cầu người dân cung cấp thông tin cá nhân để chiếm đoạt \"Sim\" điện thoại của nạn nhân, tài khoản ngân hàng, ví điện tử, mạng xã hội... để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và như cử tri phản ánh. Điều này cho thấy tính chất phức tạp của loại tội phạm này, việc phát hiện, xử lý là rất khó khăn. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tăng cường công tác nắm tình hình; chủ động phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm lừa đảo trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài ngành Công an xây dựng, đăng tải hàng trăm phóng sự cảnh báo về phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đề nghị các doanh nghiệp viễn thông đồng loạt gửi tin nhắn tuyên truyền người dân chấp hành các quy định của pháp luật. Tổ chức triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Năm 2024, lực lượng Công an phát hiện, xử lý hơn 7.866 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản (có hơn 4.100 vụ lừa đảo trên không gian mạng) - theo mốc thống kê số liệu của Quốc hội). Kết quả đấu tranh đã góp phần ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo toàn lực lượng bám sát các nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 21/CT-TTg, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ và đấu tranh trấn áp tội phạm, cụ thể: (1) Phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao ý thức cảnh giác của người dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại cộng đồng, trên các trang mạng xã hội (đặc biệt là người dân trong độ tuổi lao động, thanh thiếu niên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) về các phương thức, thủ đoạn hoạt động và hậu quả của tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và Nhân dân biết, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp với các nhà mạng viễn thông gửi tin nhắn đến các thuê bao di động cảnh báo tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác trước các phương thức hoạt động của tội phạm lợi dụng không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. (2) Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên không gian mạng; thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử; đẩy mạnh thực hiện Đề án 06/CP về \"Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030\", nhất là ứng dụng dữ liệu dân cư để xác thực thông tin thuê bao di động loại bỏ \"Sim rác\", xác thực tài khoản ngân hàng, xác thực sinh trắc học khi thực hiện các giao dịch trong thanh toán trực tuyến trên Internet, hạn chế các trường hợp sử dụng vào mục đích hoạt động lừa đảo; sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) trong các giao dịch điện tử, góp phần phòng ngừa tội phạm. (3) Triển khai các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; thông báo toàn quốc số điện thoại đường dây nóng (0692.345.860) của Cục Cảnh sát hình sự là đầu mối tiếp nhận tin báo, tố giác của người dân về các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phối hợp Viện kiểm sát, Tòa án các cấp điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh để răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp nhanh, \"khẩn cấp\" truy vết dòng tiền, tạm khóa, phong tỏa tài khoản liên quan đến hoạt động phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (4) Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng nói chung và phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng không gian mạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, nhất là chia sẻ xác minh thông tin, thu thập tài liệu, chứng cứ, đấu tranh, bắt giữ và chuyển giao đối tượng gây án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng của Lào, Campuchia và các quốc gia có liên quan trong hợp tác đấu tranh chuyên án chung đối với các đối tượng lợi dụng địa bàn nước ngoài để hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của công dân trong nước." } ], "id": "19", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về việc tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm lừa đảo qua mạng" } ] } ], "title": "Kiến nghị về việc tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm lừa đảo qua mạng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và việc phải làm thủ tục hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được thực hiện theo các quy định của pháp luật, gồm: (1) khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan 2014 quy định \"7. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi\"; (2) Điều 54 Luật Hải quan 2014 quy định \"1. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu; 2. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh; 3. Tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế\"; (3) khoản 30 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 quy định \"2. Người xuất cảnh, nhập cảnh không phải khai hải quan nếu không có hành lý vượt định mức miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế, không có hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi. Người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi khai hải quan, người khai hải quan không gộp chung định mức miễn thuế của nhiều người nhập cảnh để khai báo miễn thuế cho một người nhập cảnh, trừ hành lý của các cá nhân trong một gia đình mang theo trong cùng chuyến đi. Việc khai báo định mức miễn thuế tính theo từng lần nhập cảnh \". Miễn thuế đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập nhẩu \"1. Người nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc giấy tờ thay hộ chiếu (trừ giấy thông hành dùng cho việc xuất cảnh, nhập cảnh), do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp, có hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi được miễn thuế nhập khẩu cho từng lần nhập cảnh theo định mức như sau: a) Rượu từ 20 độ trở lên: 1,5 lít hoặc rượu dưới 20 độ: 2,0 lít hoặc đồ uống có cồn, bia: 3,0 lít. Đối với rượu, nếu người nhập cảnh mang nguyên chai, bình, lọ, can (sau đây viết tắt là chai) có dung tích lớn hơn dung tích quy định nhưng không vượt quá 01 lít thì được miễn thuế cả chai. Trường hợp vượt quá 01 lít thì phần vượt định mức phải nộp thuế theo quy định của pháp luật; b) Thuốc lá điếu: 200 điếu hoặc thuốc lá sợi: 250 gam hoặc xì gà: 20 điếu; c) Đồ dùng cá nhân với số lượng, chủng loại phù hợp với mục đích chuyến đi; d) Các vật phẩm khác ngoài hàng hóa quy định tại các điểm a, b, và c khoản này (không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện) có tổng trị giá hải quan không quá 10.000.000 đồng Việt Nam; Trường hợp vượt định mức phải nộp thuế, người nhập cảnh được chọn vật phẩm để miễn thuế trong trường hợp hành lý mang theo gồm nhiều vật phẩm\". Căn cứ quy định theo từng thời điểm để xác định tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp, người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp một người đi du lịch rồi mua kim cương hoặc các loại đá quý khác bỏ vào hành lý mang về, nếu vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc xử lý phải căn cứ vào hành vi ý thức của người thực hiện theo từng trường hợp cụ thể.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 173, "text": "(1) khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan 2014 quy định \"7. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi\"; (2) Điều 54 Luật Hải quan 2014 quy định \"1. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu; 2. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh; 3. Tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế\"; (3) khoản 30 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 quy định \"2. Người xuất cảnh, nhập cảnh không phải khai hải quan nếu không có hành lý vượt định mức miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế, không có hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi. Người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi khai hải quan, người khai hải quan không gộp chung định mức miễn thuế của nhiều người nhập cảnh để khai báo miễn thuế cho một người nhập cảnh, trừ hành lý của các cá nhân trong một gia đình mang theo trong cùng chuyến đi. Việc khai báo định mức miễn thuế tính theo từng lần nhập cảnh \". Miễn thuế đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập nhẩu \"1. Người nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc giấy tờ thay hộ chiếu (trừ giấy thông hành dùng cho việc xuất cảnh, nhập cảnh), do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp, có hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi được miễn thuế nhập khẩu cho từng lần nhập cảnh theo định mức như sau: a) Rượu từ 20 độ trở lên: 1,5 lít hoặc rượu dưới 20 độ: 2,0 lít hoặc đồ uống có cồn, bia: 3,0 lít. Đối với rượu, nếu người nhập cảnh mang nguyên chai, bình, lọ, can (sau đây viết tắt là chai) có dung tích lớn hơn dung tích quy định nhưng không vượt quá 01 lít thì được miễn thuế cả chai. Trường hợp vượt quá 01 lít thì phần vượt định mức phải nộp thuế theo quy định của pháp luật; b) Thuốc lá điếu: 200 điếu hoặc thuốc lá sợi: 250 gam hoặc xì gà: 20 điếu; c) Đồ dùng cá nhân với số lượng, chủng loại phù hợp với mục đích chuyến đi; d) Các vật phẩm khác ngoài hàng hóa quy định tại các điểm a, b, và c khoản này (không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện) có tổng trị giá hải quan không quá 10.000.000 đồng Việt Nam; Trường hợp vượt định mức phải nộp thuế, người nhập cảnh được chọn vật phẩm để miễn thuế trong trường hợp hành lý mang theo gồm nhiều vật phẩm\". Căn cứ quy định theo từng thời điểm để xác định tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp, người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp một người đi du lịch rồi mua kim cương hoặc các loại đá quý khác bỏ vào hành lý mang về, nếu vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc xử lý phải căn cứ vào hành vi ý thức của người thực hiện theo từng trường hợp cụ thể." } ], "id": "20", "is_impossible": false, "question": "Vận chuyển đá quý trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Vận chuyển đá quý trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Điều 14 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa như sau: 1. Việc nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa do tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện và phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; c) Có nội quy ra, vào tổ chức, doanh nghiệp, phương án bảo đảm an ninh, trật tự; kiểm soát phương tiện, đồ vật, hàng hóa được vận chuyển ra, vào tổ chức, doanh nghiệp; tổ chức lực lượng bảo vệ 24/24 giờ; d) Có nội quy, trang bị đầy đủ phương tiện, tổ chức lực lượng, kiểm tra an toàn phòng cháy, chữa cháy, phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; tổ chức diễn tập phương án ứng phó sự cố cháy, nổ và các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy theo quy định; đ) Thực hiện các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý nguyên liệu, phế thải và xử lý ô nhiễm môi trường tại chỗ; không để rò rỉ, phát tán độc hại ra môi trường; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; e) Địa điểm nghiên cứu, sản xuất và kho bảo quản phải bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình công cộng, văn hóa, xã hội, lịch sử, khu vực bảo vệ, nơi cấm, khu vực cấm; g) Phải có phương tiện, thiết bị phù hợp để kiểm tra, giám sát các thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình nghiên cứu, sản xuất; có nơi thử nghiệm riêng biệt; h) Sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sản phẩm phải có nhãn hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng; i) Người quản lý và người lao động trực tiếp tham gia nghiên cứu, sản xuất phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn. 2. Việc kinh doanh pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; b) Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh pháo hoa phải phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển, phòng cháy và chữa cháy; c) Người quản lý, người phục vụ có liên quan đến kinh doanh pháo hoa phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn; d) Chỉ được kinh doanh pháo hoa bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định. 3. Việc xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được phép nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa thì được xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Pháo hoa xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chủng loại, nhãn hiệu, số hiệu, ký hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng trên từng loại pháo hoa.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 181, "text": "1. Việc nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa do tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện và phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; c) Có nội quy ra, vào tổ chức, doanh nghiệp, phương án bảo đảm an ninh, trật tự; kiểm soát phương tiện, đồ vật, hàng hóa được vận chuyển ra, vào tổ chức, doanh nghiệp; tổ chức lực lượng bảo vệ 24/24 giờ; d) Có nội quy, trang bị đầy đủ phương tiện, tổ chức lực lượng, kiểm tra an toàn phòng cháy, chữa cháy, phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; tổ chức diễn tập phương án ứng phó sự cố cháy, nổ và các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy theo quy định; đ) Thực hiện các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý nguyên liệu, phế thải và xử lý ô nhiễm môi trường tại chỗ; không để rò rỉ, phát tán độc hại ra môi trường; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; e) Địa điểm nghiên cứu, sản xuất và kho bảo quản phải bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình công cộng, văn hóa, xã hội, lịch sử, khu vực bảo vệ, nơi cấm, khu vực cấm; g) Phải có phương tiện, thiết bị phù hợp để kiểm tra, giám sát các thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình nghiên cứu, sản xuất; có nơi thử nghiệm riêng biệt; h) Sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sản phẩm phải có nhãn hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng; i) Người quản lý và người lao động trực tiếp tham gia nghiên cứu, sản xuất phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn. 2. Việc kinh doanh pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; b) Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh pháo hoa phải phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển, phòng cháy và chữa cháy; c) Người quản lý, người phục vụ có liên quan đến kinh doanh pháo hoa phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn; d) Chỉ được kinh doanh pháo hoa bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định. 3. Việc xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được phép nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa thì được xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Pháo hoa xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chủng loại, nhãn hiệu, số hiệu, ký hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng trên từng loại pháo hoa." } ], "id": "21", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa gồm những gì?" } ] } ], "title": "Điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa gồm những gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Tội phạm xâm hại trẻ em Theo thống kê số liệu 63/63 tỉnh, thành phố năm 2018, toàn quốc phát hiện 1.547 vụ xâm hại trẻ em, giảm 2,8% so với năm 2017 (1.547/1.592) với 1.669 đối tượng, xâm hại 1.579 em. Trong đó, số vụ án xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ (chiếm 82% so với tổng số vụ xâm hại trẻ em) với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em. * Phân tích theo tội danh: - Giết trẻ em : 43 vụ, 39 đối tượng, xâm hại 48 em; - Hiếp dâm trẻ em : 425 vụ, 411 đối tượng, xâm hại 391 em; - Cưỡng dâm trẻ em : 06 vụ, 06 đối tượng, xâm hại 06 em; - Giao cấu với trẻ em : 606 vụ, 591 đối tượng, xâm hại 531 em; - Dâm ô với trẻ em : 232 vụ, 225 đối tượng, xâm hại 213 em; - Cố ý gây thương tích với trẻ em : 103 vụ, 182 đối tượng, xâm hại 114 em; - Mua bán, chiếm đoạt trẻ em : 22 vụ, 44 đối tượng, xâm hại 24 em; - Tội phạm khác : 97 vụ, 125 đối tượng, xâm hại 133 em. * Kết quả xử lý: - Xử lý hình sự: 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); - Xử lý hành chính: 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%). - Đang điều tra xác minh: 62 vụ (chiếm 4%) với 58 đối tượng (chiếm 3,5%), còn lại các vụ tạm đình chỉ, không khởi tố… Các địa phương xảy ra nhiều vụ án xâm hại trẻ em gồm: Hà Nội 88 vụ, TP. Hồ Chí Minh 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ… Các đối tượng có hành vi bạo lực, bạo hành, xâm hại trẻ em ở nhiều lứa tuổi, thành phần xã hội khác nhau, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật và xã hội còn rất hạn chế. Phân tích cho thấy số đông là người có trách nhiệm nuôi dưỡng, bảo mẫu, quản lý trẻ em như giáo viên, bảo mẫu, cha mẹ ruột, cha dượng, mẹ kế; nạn nhân thường là trẻ em nhỏ tuổi được cha mẹ gửi quản lý, chăm sóc hoặc sống trong gia đình không hoàn thiện, cha mẹ ly thân, ly hôn phải sống với cha dượng, mẹ kế… Các trường hợp khác nằm ngoài sự quản lý của cha mẹ, người thân nên bị các đối tượng xâm hại. Một số vụ việc do hoàn cảnh khó khăn, người mẹ sinh con ngoài ý muốn lo sợ ảnh hưởng đến bản thân, danh dự gia đình đã vứt bỏ con khi mới sinh hoặc cố ý bỏ con tại các nơi công cộng, nơi hoang vắng, các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà chùa, nhà thờ… 2. Tội phạm mua bán người Năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ/261 đối tượng. Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ/194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ/233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ/213 bị cáo; các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người nhập cảnh, di cư trái phép. Năm 2018, một loại hình tội phạm mới được các đối tượng thực hiện nhưng rất khó khăn trong xử lý khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là tình trạng các đối tượng đưa những phụ nữ có thai ra nước ngoài dưỡng thai sau đó đẻ và bán con. Với hành vi này hiện chưa thể áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý các đối tượng về hành vi mua bán người. Điển hình là vụ 05 phụ nữ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đang có thai được Mông Thị Oanh đưa sang Trung Quốc đẻ sau đó bán con tại Trung Quốc. 3. Giải pháp 3.1. Giải pháp về tuyên truyền: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trong công tác tuyên truyền phải tạo dư luận xã hội mạnh mẽ và hướng dư luận xã hội vào việc tham gia phòng ngừa phát hiện đấu tranh, lên án, ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng, đảm bảo công tác tuyên truyền thực sự có hiệu quả hấp dẫn, đúng quy định, ưu tiên hướng về cơ sở. 3.2. Giải pháp về kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng, vì vậy, muốn phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người có hiệu quả thì không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ các giải pháp về kinh tế bao gồm: - Phát triển và giữ vững sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc gia, ở mỗi vùng và mỗi địa phương, trên cơ sở đó tăng cường đầu tư vào các chế độ, phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, phụ nữ nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội đối với các gia đình và trẻ em phụ nữ gặp nhiều khó khăn về kinh tế tại cộng đồng như hướng dẫn hoặc giải quyết tìm việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế gia đình, hạn chế số trẻ em vì khó khăn gia đình mà phải bỏ học hoặc bỏ nhà đi lang thang kiếm sống để trở về gia đình, ổn định cuộc sống. 3.3. Giải pháp về chính sách pháp luật: - Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và mua bán người. Đồng thời tăng cường công tác phổ biến pháp luật, kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến xâm hại trẻ em và mua bán người nói riêng. - Xây dựng và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng khác có liên quan nhằm phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người; từng bước chuyên môn hóa tổ chức và cán bộ làm nhiệm vụ này. 3.4. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ: - Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng miền, khu vực, cụm dân cư thường xảy ra tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. - Lên danh sách những đối tượng tiềm ẩn nguy cơ phạm tội xâm hại trẻ em, chủ yếu tội phạm giết trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và những đối tượng thường rủ rê, lôi kéo, cưỡng ép, mua chuộc các em vào con đường phạm tội. - Lên danh sách các em chưa thành niên có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, chủ yếu là số hư hỏng, bỏ nhà lang thang, tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… - Lên danh sách các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em sống xa cha mẹ, có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực gia đình… Đồng thời có kế hoạch cụ thể trong việc phân công giúp đỡ quản lý trợ giúp tại gia đình, cộng đồng. - Chủ động mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tham mưu cho Bộ, Chính phủ mở các kế hoạch chuyên đề theo từng thời gian, vùng miền để đấu tranh ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. 3.5 Về công tác phối hợp Phối hợp với Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp tổ chức xét xử nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em, mua bán người để vừa răn đe tội phạm vừa tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng nâng cao tinh thần phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm hại trẻ em và buôn bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 371, "text": "- Giết trẻ em : 43 vụ, 39 đối tượng, xâm hại 48 em; - Hiếp dâm trẻ em : 425 vụ, 411 đối tượng, xâm hại 391 em; - Cưỡng dâm trẻ em : 06 vụ, 06 đối tượng, xâm hại 06 em; - Giao cấu với trẻ em : 606 vụ, 591 đối tượng, xâm hại 531 em; - Dâm ô với trẻ em : 232 vụ, 225 đối tượng, xâm hại 213 em; - Cố ý gây thương tích với trẻ em : 103 vụ, 182 đối tượng, xâm hại 114 em; - Mua bán, chiếm đoạt trẻ em : 22 vụ, 44 đối tượng, xâm hại 24 em; - Tội phạm khác : 97 vụ, 125 đối tượng, xâm hại 133 em. * Kết quả xử lý: - Xử lý hình sự: 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); - Xử lý hành chính: 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%). - Đang điều tra xác minh: 62 vụ (chiếm 4%) với 58 đối tượng (chiếm 3,5%), còn lại các vụ tạm đình chỉ, không khởi tố… Các địa phương xảy ra nhiều vụ án xâm hại trẻ em gồm: Hà Nội 88 vụ, TP. Hồ Chí Minh 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ… Các đối tượng có hành vi bạo lực, bạo hành, xâm hại trẻ em ở nhiều lứa tuổi, thành phần xã hội khác nhau, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật và xã hội còn rất hạn chế. Phân tích cho thấy số đông là người có trách nhiệm nuôi dưỡng, bảo mẫu, quản lý trẻ em như giáo viên, bảo mẫu, cha mẹ ruột, cha dượng, mẹ kế; nạn nhân thường là trẻ em nhỏ tuổi được cha mẹ gửi quản lý, chăm sóc hoặc sống trong gia đình không hoàn thiện, cha mẹ ly thân, ly hôn phải sống với cha dượng, mẹ kế… Các trường hợp khác nằm ngoài sự quản lý của cha mẹ, người thân nên bị các đối tượng xâm hại. Một số vụ việc do hoàn cảnh khó khăn, người mẹ sinh con ngoài ý muốn lo sợ ảnh hưởng đến bản thân, danh dự gia đình đã vứt bỏ con khi mới sinh hoặc cố ý bỏ con tại các nơi công cộng, nơi hoang vắng, các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà chùa, nhà thờ… 2. Tội phạm mua bán người Năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ/261 đối tượng. Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ/194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ/233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ/213 bị cáo; các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người nhập cảnh, di cư trái phép. Năm 2018, một loại hình tội phạm mới được các đối tượng thực hiện nhưng rất khó khăn trong xử lý khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là tình trạng các đối tượng đưa những phụ nữ có thai ra nước ngoài dưỡng thai sau đó đẻ và bán con. Với hành vi này hiện chưa thể áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý các đối tượng về hành vi mua bán người. Điển hình là vụ 05 phụ nữ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đang có thai được Mông Thị Oanh đưa sang Trung Quốc đẻ sau đó bán con tại Trung Quốc. 3. Giải pháp 3.1. Giải pháp về tuyên truyền: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trong công tác tuyên truyền phải tạo dư luận xã hội mạnh mẽ và hướng dư luận xã hội vào việc tham gia phòng ngừa phát hiện đấu tranh, lên án, ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng, đảm bảo công tác tuyên truyền thực sự có hiệu quả hấp dẫn, đúng quy định, ưu tiên hướng về cơ sở. 3.2. Giải pháp về kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng, vì vậy, muốn phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người có hiệu quả thì không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ các giải pháp về kinh tế bao gồm: - Phát triển và giữ vững sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc gia, ở mỗi vùng và mỗi địa phương, trên cơ sở đó tăng cường đầu tư vào các chế độ, phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, phụ nữ nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội đối với các gia đình và trẻ em phụ nữ gặp nhiều khó khăn về kinh tế tại cộng đồng như hướng dẫn hoặc giải quyết tìm việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế gia đình, hạn chế số trẻ em vì khó khăn gia đình mà phải bỏ học hoặc bỏ nhà đi lang thang kiếm sống để trở về gia đình, ổn định cuộc sống. 3.3. Giải pháp về chính sách pháp luật: - Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và mua bán người. Đồng thời tăng cường công tác phổ biến pháp luật, kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến xâm hại trẻ em và mua bán người nói riêng. - Xây dựng và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng khác có liên quan nhằm phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người; từng bước chuyên môn hóa tổ chức và cán bộ làm nhiệm vụ này. 3.4. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ: - Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng miền, khu vực, cụm dân cư thường xảy ra tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. - Lên danh sách những đối tượng tiềm ẩn nguy cơ phạm tội xâm hại trẻ em, chủ yếu tội phạm giết trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và những đối tượng thường rủ rê, lôi kéo, cưỡng ép, mua chuộc các em vào con đường phạm tội. - Lên danh sách các em chưa thành niên có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, chủ yếu là số hư hỏng, bỏ nhà lang thang, tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… - Lên danh sách các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em sống xa cha mẹ, có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực gia đình… Đồng thời có kế hoạch cụ thể trong việc phân công giúp đỡ quản lý trợ giúp tại gia đình, cộng đồng. - Chủ động mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tham mưu cho Bộ, Chính phủ mở các kế hoạch chuyên đề theo từng thời gian, vùng miền để đấu tranh ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. 3.5 Về công tác phối hợp Phối hợp với Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp tổ chức xét xử nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em, mua bán người để vừa răn đe tội phạm vừa tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng nâng cao tinh thần phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm hại trẻ em và buôn bán người." } ], "id": "22", "is_impossible": false, "question": "Giải pháp của Bộ Công an đối với loại tội phạm mua bán người và xâm hại tình dục trẻ em" } ] } ], "title": "Giải pháp của Bộ Công an đối với loại tội phạm mua bán người và xâm hại tình dục trẻ em" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về việc này, Bộ Công an trả lời như sau: Hiện nay, tình trạng lộ, lọt, hoạt động đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân diễn ra phổ biến trên không gian mạng, phức tạp như cử tri phản ánh, đặt ra nhiều thách thức cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để ngăn chặn tình trạng lộ, lọt thông tin cá nhân và hành vi vi phạm pháp luật về dữ liệu cá nhân, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2023. Việc ban hành Nghị định này đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo đảm kế thừa văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân, thông tin cá nhân, quyền riêng tư; cụ thể hóa đầy đủ tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Thời gian tới, để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện một số giải pháp sau: (1) Tham mưu Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị định số 13/2023/NĐ-CP; đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. (2) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân; truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân; đưa ra cảnh báo về các hành vi, phương thức, thủ đoạn thu thập thông tin cá nhân, mua bán dữ liệu cá nhân qua các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao ý thức cảnh giác, bảo mật thông tin cá nhân của người dân, có biện pháp bảo vệ các tài khoản ngân hàng, tài khoản cá nhân để tránh bị các đối tượng lợi dụng, chiếm đoạt; hướng dẫn người dân tố giác khi bị thu thập thông tin cá nhân trái phép… (3) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật. (4) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các địa phương tập trung lực lượng, chủ động rà soát, nắm tình hình, lên danh sách, quản lý các đối tượng có biểu hiện mua bán, sử dụng thông tin cá nhân trái phép; làm tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các đối tượng. Kịp thời điều tra, đề nghị truy tố, xét xử công khai đối với các vụ án đã được phát hiện để răn đe, giáo dục và tuyên truyền cho nhân dân cảnh giác, phòng ngừa. (5) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là lực lượng được giao làm công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân, thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 41, "text": "Hiện nay, tình trạng lộ, lọt, hoạt động đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân diễn ra phổ biến trên không gian mạng, phức tạp như cử tri phản ánh, đặt ra nhiều thách thức cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để ngăn chặn tình trạng lộ, lọt thông tin cá nhân và hành vi vi phạm pháp luật về dữ liệu cá nhân, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2023. Việc ban hành Nghị định này đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo đảm kế thừa văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân, thông tin cá nhân, quyền riêng tư; cụ thể hóa đầy đủ tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Thời gian tới, để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện một số giải pháp sau: (1) Tham mưu Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị định số 13/2023/NĐ-CP; đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. (2) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân; truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân; đưa ra cảnh báo về các hành vi, phương thức, thủ đoạn thu thập thông tin cá nhân, mua bán dữ liệu cá nhân qua các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao ý thức cảnh giác, bảo mật thông tin cá nhân của người dân, có biện pháp bảo vệ các tài khoản ngân hàng, tài khoản cá nhân để tránh bị các đối tượng lợi dụng, chiếm đoạt; hướng dẫn người dân tố giác khi bị thu thập thông tin cá nhân trái phép… (3) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật. (4) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các địa phương tập trung lực lượng, chủ động rà soát, nắm tình hình, lên danh sách, quản lý các đối tượng có biểu hiện mua bán, sử dụng thông tin cá nhân trái phép; làm tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các đối tượng. Kịp thời điều tra, đề nghị truy tố, xét xử công khai đối với các vụ án đã được phát hiện để răn đe, giáo dục và tuyên truyền cho nhân dân cảnh giác, phòng ngừa. (5) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là lực lượng được giao làm công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân, thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân." } ], "id": "23", "is_impossible": false, "question": "Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân" } ] } ], "title": "Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Trong thời gian qua, tình hình chống người thi hành công vụ có xu hướng gia tăng, với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm; nhiều vụ việc có nhiều người tham gia, sử dụng vũ khí, công cụ nguy hiểm để chống đối, tấn công người thi hành công vụ. Thực trạng này là rất đáng lo ngại, không những đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ, còn thể hiện sự coi thường pháp luật, làm giảm hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước ở một số lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và lực lượng Công an nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc điều tra, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ và bảo vệ người thi hành công vụ. Theo số liệu thống kê cho thấy từ năm 2005 đến hết năm 2009 toàn quốc xảy ra 2.373 vụ chống người thi hành công vụ, năm sau cao hơn năm trước (năm 2006 tăng 9,6%, năm 2007 tăng 19,9%, năm 2008 tăng 14,8%, năm 2009 tăng 11,9%). Riêng năm 2009 đã xảy ra 606 vụ tăng 11,9% so với năm 2008, trong đó chống lại lực lượng CAND thi hành nhiệm vụ tăng 85,5%, nhất là chống lại lực lượng Cảnh sát tiếp tục diễn ra rất nghiêm trọng và ngày càng gia tăng (riêng chống lại lực lượng CSGT xảy ra 97 vụ, làm 1 đồng chí hy sinh, 32 đồng chí bị thương). Trong 2 tháng năm 2010, tội phạm chống người thi hành công vụ tăng 14% so với cùng kỳ năm 2009. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, cơ bản nổi lên một số nguyên nhân sau đây: - Các đối tượng chống người thi hành công vụ hoạt động rất manh động và liều lĩnh; nhận thức về pháp luật còn hạn chế, coi thường pháp luật và các lực lượng chức năng đang thi hành nhiệm vụ; vì các động cơ cá nhân đã kích động, lôi kéo, tụ tập đông người để chống lại lực lượng thi hành công vụ, làm cho tình hình ANTT trở nên phức tạp. - Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân còn nhiều hạn chế; Các chế tài xử lý hành vi chống người thi hành công vụ chưa đủ để răn đe, giáo dục người phạm tội; trong một số vụ án, đối tượng có nhiều lần chống người thi hành công vụ thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật nhưng chế tài xử lý chưa nghiêm khắc. - Một số cán bộ trong khi làm nhiệm vụ đã có những lời nói, cử chỉ, hành động chưa đúng mực, thiếu văn hóa; chưa thực sự tôn trọng nhân dân mà còn tỏ ra hách dịch, cửa quyền, gây ra tâm lý ức chế, bức xúc cho công dân, vì thế dẫn đến việc chống lại những yêu cầu, đề nghị của lực lượng thi hành công vụ… Để phòng ngừa, đấu tranh làm giảm và hạn chế đến mức thấp nhất đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, Bộ Công an đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai, thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây: - Tham mưu, giúp Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2010/NQ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội thay thế cho Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT. Theo đó, tại điểm a, b khoản 3 điều 7 của Nghị định quy định các hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm đến danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; xúi giục người khác không chấp hành các yêu cầu của người thi hành công vụ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. - Nghiên cứu đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 257- Bộ Luật Hình sự theo hướng tăng thêm mức hình phạt đối với đối tượng có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ. - Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội các hành vi chống người thi hành công vụ. Dự thảo Thông tư đang được khẩn trương hoàn thiện để trình lãnh đạo liên ngành ký, triển khai thực hiện. - Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. - Tất cả các vụ việc chống người thi thành công vụ đều phải được điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ vững chắc và nhanh chóng đưa ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật. Kết quả xử lý phải được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến đến tất cả mọi người dân để lên án hành vi vi phạm, đồng thời giao cho chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục người vi phạm không để tái phạm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1423, "text": "- Các đối tượng chống người thi hành công vụ hoạt động rất manh động và liều lĩnh; nhận thức về pháp luật còn hạn chế, coi thường pháp luật và các lực lượng chức năng đang thi hành nhiệm vụ; vì các động cơ cá nhân đã kích động, lôi kéo, tụ tập đông người để chống lại lực lượng thi hành công vụ, làm cho tình hình ANTT trở nên phức tạp. - Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân còn nhiều hạn chế; Các chế tài xử lý hành vi chống người thi hành công vụ chưa đủ để răn đe, giáo dục người phạm tội; trong một số vụ án, đối tượng có nhiều lần chống người thi hành công vụ thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật nhưng chế tài xử lý chưa nghiêm khắc. - Một số cán bộ trong khi làm nhiệm vụ đã có những lời nói, cử chỉ, hành động chưa đúng mực, thiếu văn hóa; chưa thực sự tôn trọng nhân dân mà còn tỏ ra hách dịch, cửa quyền, gây ra tâm lý ức chế, bức xúc cho công dân, vì thế dẫn đến việc chống lại những yêu cầu, đề nghị của lực lượng thi hành công vụ… Để phòng ngừa, đấu tranh làm giảm và hạn chế đến mức thấp nhất đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, Bộ Công an đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai, thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây: - Tham mưu, giúp Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2010/NQ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội thay thế cho Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT. Theo đó, tại điểm a, b khoản 3 điều 7 của Nghị định quy định các hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm đến danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; xúi giục người khác không chấp hành các yêu cầu của người thi hành công vụ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. - Nghiên cứu đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 257- Bộ Luật Hình sự theo hướng tăng thêm mức hình phạt đối với đối tượng có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ. - Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội các hành vi chống người thi hành công vụ. Dự thảo Thông tư đang được khẩn trương hoàn thiện để trình lãnh đạo liên ngành ký, triển khai thực hiện. - Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. - Tất cả các vụ việc chống người thi thành công vụ đều phải được điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ vững chắc và nhanh chóng đưa ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật. Kết quả xử lý phải được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến đến tất cả mọi người dân để lên án hành vi vi phạm, đồng thời giao cho chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục người vi phạm không để tái phạm." } ], "id": "24", "is_impossible": false, "question": "Liên quan vấn đề xử phạt hành vi chống người thi hành công vụ" } ] } ], "title": "Liên quan vấn đề xử phạt hành vi chống người thi hành công vụ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo khoản 2, 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 và Luật số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp thì công dân trong câu hỏi không phải là người được yêu cầu giám định theo Luật, đồng thời các tội về ma túy là các tội hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi gặp các trường hợp nêu trên, đề nghị công dân trình báo thông tin với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn để được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo khoản 2, 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 và Luật số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp thì công dân trong câu hỏi không phải là người được yêu cầu giám định theo Luật, đồng thời các tội về ma túy là các tội hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi gặp các trường hợp nêu trên, đề nghị công dân trình báo thông tin với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn để được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật." } ], "id": "25", "is_impossible": false, "question": "Có thể giám định đồ vật nghi chứa ma túy hay không?" } ] } ], "title": "Có thể giám định đồ vật nghi chứa ma túy hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử Thuốc lá điện tử (TLĐT) không đáp ứng quy định về khái niệm thuốc lá và nguyên liệu của thuốc lá theo quy định của pháp luật hiện hành, không thuộc điều chỉnh của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Hiện, TLĐT không thuộc danh mục mặt hàng cấm sản xuất, kinh doanh hay sản xuất, kinh doanh có điều kiện. Pháp luật cũng chưa quy định độ tuổi được mua bán, sử dụng TLĐT. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn trong và ngoài nước, tất cả các loại thuốc lá đều độc hại, bao gồm cả TLĐT. Không có bằng chứng nào chứng minh TLĐT ít gây hại hơn thuốc lá thông thường. TLĐT thường có nicotine gây nghiện mạnh cho người sử dụng và việc hít các hương liệu trong dung dịch TLĐT gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thanh thiếu niên. Các sản phẩm thuốc lá mới có nguy cơ cao tiềm ẩn và phát sinh tệ nạn xã hội, nhất là sử dụng ma túy và các chất gây nghiện (theo một số nghiên cứu, nguy cơ sử dụng ma túy gấp 3,5 lần so với không hút TLĐT). Thế giới và Việt Nam đều đã ghi nhận ma túy được pha trộn vào trong tinh dầu TLĐT (chủ yếu là cần sa tổng hợp) và các trường hợp ngộ độc do sử dụng TLĐT có chứa chất ma túy. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, tình trạng mua bán, sử dụng thuốc lá điện tử có pha trộn, phun tẩm ma túy (cần sa tổng hợp) đang diễn biến phức tạp, nhất là trên không gian mạng. Đối tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ. Số vụ, số đối tượng, tang vật bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ tăng mạnh về số lượng, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các đối tượng thường xuyên tạo ra các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy với nhiều mẫu mã, tên gọi, chất ma túy khác nhau, đi liền với các quảng cáo gây hiểu lầm (có tác dụng thần kỳ, tạo khoái cảm, tăng lực, không có chất cấm, không có tác hại...). Sử dụng các chất ma túy mới, chưa nằm trong Danh mục để tạo các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy nhằm trốn tránh sự xử lý của pháp luật. 2. Định hướng chính sách quản lý Nhà nước về thuốc lá điện tử Do tính độc hại của TLĐT, ngày 13/6/2019, Bộ Công thương có Công văn số 534/XNK-TMQT gửi Tổng cục Hải quan về việc \"mặt hàng thuốc lá điện tử, thuốc lá điếu loại không cháy, sử dụng cho tẩu IQOS và tương tự chưa được nhập vào Việt Nam\". Theo thống kê chính thức của Tổ chức Y tế thế giới, có 34 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng chính sách cấm hoàn toàn (sản xuất, nhập khẩu, mua bán) các sản phẩm TLĐT. Riêng khu vực Asean có 05 nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Brunei cấm hoàn toàn. Ngoài ra, một số nước không cấm hoàn toàn mà cấm theo khu vực hoặc theo sản phẩm. Trung Quốc cấm hoàn toàn các sản phẩm có hương liệu (mà TLĐT thì hầu hết có hương liệu). Ở nước ta, hiện các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Quốc hội đang tích cực xây dựng và đề xuất các cơ chế quản lý chặt chẽ đối với thuốc lá mới (trong đó có TLĐT) trong các kỳ họp Quốc hội tới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2463, "text": "Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Brunei cấm hoàn toàn. Ngoài ra, một số nước không cấm hoàn toàn mà cấm theo khu vực hoặc theo sản phẩm. Trung Quốc cấm hoàn toàn các sản phẩm có hương liệu (mà TLĐT thì hầu hết có hương liệu). Ở nước ta, hiện các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Quốc hội đang tích cực xây dựng và đề xuất các cơ chế quản lý chặt chẽ đối với thuốc lá mới (trong đó có TLĐT) trong các kỳ họp Quốc hội tới." } ], "id": "26", "is_impossible": false, "question": "Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử" } ] } ], "title": "Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ các quy định của pháp luật thì hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản đều là những hành vi vi phạm pháp luật cần phải bị xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay bị xử lý vi phạm hành chính còn tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi (vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm). Việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm và vi phạm hành chính căn cứ những tình tiết cụ thể để đối chiếu với quy định của pháp luật: mức độ gây thiệt hại cho xã hội; mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện tội phạm... Về căn cứ pháp lý để xử lý đối với từng hành vi nêu trên được quy định như sau: - Hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại các Điều 178, 318 và Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Nếu hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các Điều 5, 15 và 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 558, "text": "mức độ gây thiệt hại cho xã hội; mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện tội phạm... Về căn cứ pháp lý để xử lý đối với từng hành vi nêu trên được quy định như sau: - Hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại các Điều 178, 318 và Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Nếu hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các Điều 5, 15 và 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình." } ], "id": "27", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về hành vi chống người thi hành công vụ và gây rối, hủy hoại tài sản công quyền" } ] } ], "title": "Hỏi về hành vi chống người thi hành công vụ và gây rối, hủy hoại tài sản công quyền" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về những nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: - Những thủ đoạn đối tượng mua bán người thường sử dụng để dụ dỗ và thực hiện hành vi mua bán người: + Các đối tượng mua bán người thường lợi dụng khó khăn về kinh tế, sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác để lừa phụ nữ tại các tỉnh miền núi phía Bắc; lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin (qua các trang mạng xã hội: Zalo, Facebook, Viber...) làm quen, giả vờ yêu đương, kết bạn nhằm môi giới hôn nhân nước ngoài trái phép; lợi dụng quy định về hiến ghép tạng, các đối tượng tìm gặp những nạn nhân khó khăn kinh tế có nhu cầu bán thận, thương lượng mua với giá rẻ, làm giả giấy tờ, con dấu, sau đó, bán cho những người bệnh với giá cao. + Các đối tượng lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của gia đình, nhà trường; thông qua các trang mạng xã hội như: Zalo, Facebook... tiếp cận, rủ rê, lôi kéo đi du lịch, làm thuê thu nhập cao..., lừa nhiều em gái ở các tỉnh đưa về thành phố bán cho nhà hàng, quán karaoke hoặc để tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức lao động. + Lợi dụng chính sách mở cửa của Việt Nam và nhu cầu lao động ở nước ngoài, các đối tượng mua bán người đã tổ chức nhiều vụ đưa người trái phép ra nước ngoài lao động, khi ra nước ngoài, chúng thu giữ giấy tờ tùy thân, bán để cưỡng bức lao động, quỵt tiền lương hay báo cơ quan chức năng kiểm tra, bắt giữ và trục xuất về nước hoặc dùng bạo lực khống chế đòi tiền chuộc; xuất hiện các đường dây môi giới lập tài khoản trên mạng với tên giả; dùng “tiền” làm mồi nhử, thông qua mạng lưới cò mồi đến các địa phương, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa dụ dỗ, lôi kéo những người có nhu cầu xuất khẩu lao động với chi phí thấp, mức lương cao, thủ tục đơn giản, tổ chức xuất cảnh ra nước ngoài, sau đó, bán để cưỡng bức lao động. + Bên cạnh đó, các đối tượng còn sử dụng mạng xã hội như: Zalo, Facebook, sử dụng hình ảnh, tên, địa chỉ giả để kết bạn làm quen với những phụ nữ, trẻ em gái, tán tỉnh yêu đương hoặc những người có nhu cầu tìm việc làm ở nước ngoài với mức lương cao, sau đó hứa hẹn rồi dẫn họ tổ chức vượt biên sang Trung Quốc, Lào, Campuchia rồi chúng đón ép bán làm vợ, bán vào các ổ mại dâm, các sòng bài tại Campuchia, Myanrma. + Ngoài ra, các đối tượng lập các trang mạng trên Facebook, Zalo để tìm kiếm người mang thai, sinh con ngoài ý muốn... sau đó dụ dỗ đưa họ sang nước ngoài sinh con để bán; hoặc cũng bằng thủ đoạn trên để tìm kiếm những người bị bệnh phải ghép tạng, môi giới cho những người muốn bán tạng để thực hiện việc mua bán mô, bộ phận cơ thể. - Những trường hợp có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người: Nạn nhân của tội phạm mua bán người thường tập trung ở những vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, địa bàn biên giới (người dân tộc), đa phần trong số họ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, gặp những chuyện éo le về tình cảm, thiếu hiểu biết xã hội và kỹ năng sống, nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin hoặc một số cô gái trẻ thích hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, dễ tin theo lời hứa hẹn của đối tượng về việc làm ổn định, thu nhập cao hoặc lấy chồng người nước ngoài khá giả, dẫn đến bị lừa bán. - Nếu không may trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người, nạn nhân cần: Giữ bình tĩnh, giữ thông tin bí mật không để các đối tượng nghi ngờ, tìm cách báo cho gia đình, người thân hoặc cơ quan nhà nước nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước sở tại về địa điểm, địa danh của mình để được hướng dẫn, giúp đỡ giải cứu an toàn. Có thể gọi điện thoại trực tiếp đến Tổng đài quốc gia 111 để được tư vấn, hỗ trợ. Về việc tiếp nhận, xác minh, bảo vệ nạn nhân và hỗ trợ nạn nhân được quy định tại Chương IV và Chương V của Luật phòng, chống mua bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 51, "text": "- Những thủ đoạn đối tượng mua bán người thường sử dụng để dụ dỗ và thực hiện hành vi mua bán người: + Các đối tượng mua bán người thường lợi dụng khó khăn về kinh tế, sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác để lừa phụ nữ tại các tỉnh miền núi phía Bắc; lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin (qua các trang mạng xã hội: Zalo, Facebook, Viber...) làm quen, giả vờ yêu đương, kết bạn nhằm môi giới hôn nhân nước ngoài trái phép; lợi dụng quy định về hiến ghép tạng, các đối tượng tìm gặp những nạn nhân khó khăn kinh tế có nhu cầu bán thận, thương lượng mua với giá rẻ, làm giả giấy tờ, con dấu, sau đó, bán cho những người bệnh với giá cao. + Các đối tượng lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của gia đình, nhà trường; thông qua các trang mạng xã hội như: Zalo, Facebook... tiếp cận, rủ rê, lôi kéo đi du lịch, làm thuê thu nhập cao..., lừa nhiều em gái ở các tỉnh đưa về thành phố bán cho nhà hàng, quán karaoke hoặc để tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức lao động. + Lợi dụng chính sách mở cửa của Việt Nam và nhu cầu lao động ở nước ngoài, các đối tượng mua bán người đã tổ chức nhiều vụ đưa người trái phép ra nước ngoài lao động, khi ra nước ngoài, chúng thu giữ giấy tờ tùy thân, bán để cưỡng bức lao động, quỵt tiền lương hay báo cơ quan chức năng kiểm tra, bắt giữ và trục xuất về nước hoặc dùng bạo lực khống chế đòi tiền chuộc; xuất hiện các đường dây môi giới lập tài khoản trên mạng với tên giả; dùng “tiền” làm mồi nhử, thông qua mạng lưới cò mồi đến các địa phương, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa dụ dỗ, lôi kéo những người có nhu cầu xuất khẩu lao động với chi phí thấp, mức lương cao, thủ tục đơn giản, tổ chức xuất cảnh ra nước ngoài, sau đó, bán để cưỡng bức lao động. + Bên cạnh đó, các đối tượng còn sử dụng mạng xã hội như: Zalo, Facebook, sử dụng hình ảnh, tên, địa chỉ giả để kết bạn làm quen với những phụ nữ, trẻ em gái, tán tỉnh yêu đương hoặc những người có nhu cầu tìm việc làm ở nước ngoài với mức lương cao, sau đó hứa hẹn rồi dẫn họ tổ chức vượt biên sang Trung Quốc, Lào, Campuchia rồi chúng đón ép bán làm vợ, bán vào các ổ mại dâm, các sòng bài tại Campuchia, Myanrma. + Ngoài ra, các đối tượng lập các trang mạng trên Facebook, Zalo để tìm kiếm người mang thai, sinh con ngoài ý muốn... sau đó dụ dỗ đưa họ sang nước ngoài sinh con để bán; hoặc cũng bằng thủ đoạn trên để tìm kiếm những người bị bệnh phải ghép tạng, môi giới cho những người muốn bán tạng để thực hiện việc mua bán mô, bộ phận cơ thể. - Những trường hợp có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người: Nạn nhân của tội phạm mua bán người thường tập trung ở những vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, địa bàn biên giới (người dân tộc), đa phần trong số họ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, gặp những chuyện éo le về tình cảm, thiếu hiểu biết xã hội và kỹ năng sống, nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin hoặc một số cô gái trẻ thích hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, dễ tin theo lời hứa hẹn của đối tượng về việc làm ổn định, thu nhập cao hoặc lấy chồng người nước ngoài khá giả, dẫn đến bị lừa bán. - Nếu không may trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người, nạn nhân cần: Giữ bình tĩnh, giữ thông tin bí mật không để các đối tượng nghi ngờ, tìm cách báo cho gia đình, người thân hoặc cơ quan nhà nước nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước sở tại về địa điểm, địa danh của mình để được hướng dẫn, giúp đỡ giải cứu an toàn. Có thể gọi điện thoại trực tiếp đến Tổng đài quốc gia 111 để được tư vấn, hỗ trợ. Về việc tiếp nhận, xác minh, bảo vệ nạn nhân và hỗ trợ nạn nhân được quy định tại Chương IV và Chương V của Luật phòng, chống mua bán người." } ], "id": "28", "is_impossible": false, "question": "Những thủ đoạn của các đối tượng mua bán người thường sử dụng để dụ dỗ và thực hiện hành vi mua bán người" } ] } ], "title": "Những thủ đoạn của các đối tượng mua bán người thường sử dụng để dụ dỗ và thực hiện hành vi mua bán người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, dịch vụ xuất khẩu lao động: Quốc hội ban hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2020/NĐ-CP ngày 03/4/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong đó, Luật quy định như sau: Điều 8. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 1. Hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. 2. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp dịch vụ) phải có vốn pháp định theo quy định của Chính phủ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 3. Doanh nghiệp được cấp giấy phép phải trực tiếp tổ chức hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 4. Chính phủ quy định các loại hình doanh nghiệp được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Trong lĩnh vực kết hôn với người nước ngoài: Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình (2014); Luật Hộ tịch (2014); Luật Nuôi con nuôi (2010); Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Bộ Tư pháp ban hành các thông tư hướng dẫn thi hành nhằm chấn chỉnh việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, trong đó, khắc phục các kẽ hở không để tội phạm mua bán người lợi dụng hoạt động phạm tội trong lĩnh vực này. - Các cơ quan, tổ chức dịch vụ được cấp giấy phép có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền tích cực tuyên truyền, giáo dục, giúp đỡ công dân Việt Nam; phối hợp với các cơ quan chức năng nước sở tại ngăn chặn tình trạng đưa người di cư trái phép, môi giới hôn nhân, cho nhận con nuôi bất hợp pháp, tích cực trợ giúp các trường hợp phụ nữ Việt Nam bị đưa vào đường dây mua bán người; cung cấp thông tin, hướng dẫn cho người dân kỹ năng xử lý tình huống liên quan đến mua bán người; các tổ chức tiến hành các hoạt động tuyên truyền cho cộng đồng người Việt Nam sở tại nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa và tham gia đấu tranh chống tội phạm mua bán người. Ngoài ra, Bộ Công an đã ban hành nhiều kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn Công an các địa phương phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan, tiến hành tổng điều tra, rà soát về tình hình hoạt động tội phạm mua bán người và đối tượng khác có liên quan; các trường hợp kết hôn với người nước ngoài; tăng cường công tác nắm tình hình, kiên quyết triệt xoá các đường dây đưa người xuất cảnh trái phép; các cơ sở môi giới hôn nhân, cho nhận con nuôi bất hợp pháp, các tụ điểm tổ chức cho người nước ngoài xem mặt phụ nữ Việt Nam muốn kết hôn với người nước ngoài; tổ chức quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh, quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 67, "text": "Quốc hội ban hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2020/NĐ-CP ngày 03/4/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong đó, Luật quy định như sau: Điều 8. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 1. Hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. 2. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp dịch vụ) phải có vốn pháp định theo quy định của Chính phủ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 3. Doanh nghiệp được cấp giấy phép phải trực tiếp tổ chức hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 4. Chính phủ quy định các loại hình doanh nghiệp được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Trong lĩnh vực kết hôn với người nước ngoài: Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình (2014); Luật Hộ tịch (2014); Luật Nuôi con nuôi (2010); Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Bộ Tư pháp ban hành các thông tư hướng dẫn thi hành nhằm chấn chỉnh việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, trong đó, khắc phục các kẽ hở không để tội phạm mua bán người lợi dụng hoạt động phạm tội trong lĩnh vực này. - Các cơ quan, tổ chức dịch vụ được cấp giấy phép có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền tích cực tuyên truyền, giáo dục, giúp đỡ công dân Việt Nam; phối hợp với các cơ quan chức năng nước sở tại ngăn chặn tình trạng đưa người di cư trái phép, môi giới hôn nhân, cho nhận con nuôi bất hợp pháp, tích cực trợ giúp các trường hợp phụ nữ Việt Nam bị đưa vào đường dây mua bán người; cung cấp thông tin, hướng dẫn cho người dân kỹ năng xử lý tình huống liên quan đến mua bán người; các tổ chức tiến hành các hoạt động tuyên truyền cho cộng đồng người Việt Nam sở tại nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa và tham gia đấu tranh chống tội phạm mua bán người. Ngoài ra, Bộ Công an đã ban hành nhiều kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn Công an các địa phương phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan, tiến hành tổng điều tra, rà soát về tình hình hoạt động tội phạm mua bán người và đối tượng khác có liên quan; các trường hợp kết hôn với người nước ngoài; tăng cường công tác nắm tình hình, kiên quyết triệt xoá các đường dây đưa người xuất cảnh trái phép; các cơ sở môi giới hôn nhân, cho nhận con nuôi bất hợp pháp, các tụ điểm tổ chức cho người nước ngoài xem mặt phụ nữ Việt Nam muốn kết hôn với người nước ngoài; tổ chức quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh, quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài." } ], "id": "29", "is_impossible": false, "question": "Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ như thế nào để phòng ngừa tội phạm mua bán người" } ] } ], "title": "Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ như thế nào để phòng ngừa tội phạm mua bán người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Các yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người: Theo khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 quy định về tội mua bán người như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.” Như vậy, có thể hiểu các yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người, gồm: Về mặt khách quan: + Các dấu hiệu về hành vi bao gồm: Hành vi chuyển giao và tiếp nhận người; các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao và tiếp nhận người. + Về thủ đoạn: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hay bằng các thủ đoạn khác như lợi dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân, ép nạn nhân sử dụng bia, rượu hoặc chất kích thích.... Hoặc bất kỳ thủ đoạn nào khác để thực hiện hành vi chuyển giao tiếp nhận người. + Người bị hại phải đủ từ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp bị hại dưới 16 tuổi thì cấu thành tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo Điều 151 Bộ luật Hình sự và không nhất thiết phải chứng minh thủ đoạn. Về mặt chủ quan: + Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý, biết được hành vi mua bán người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. + Mục đích phạm tội: (1) để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; (2) để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động; (3) để lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác như ép buộc đi ăn xin, ép buộc thực hiện các hành vi phạm tội, làm vật thí nghiệm, ép buộc tham gia chiến tranh... Mặt khách thể: Hành vi mua bán người xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, tính mạng, sức khỏe và danh dự của con người (nạn nhân). Mặt chủ thể: Bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (từ 14 tuổi trở lên đủ năng lực trách nhiệm về hành vi, nhận thức). - Anh Võ Thanh Hùng nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác thì có được báo Công an để ngăn chặn hay không? Bộ Công an trả lời như sau: Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân được tham gia tích cực vào công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng. Việc anh Hùng phát hiện một phụ nữ gần nhà anh thường xuyên bị một người ở địa phương khác đến rủ đi lao động ở nước ngoài và anh nghi ngờ người đó đang có hành vi dụ dỗ người hàng xóm đi lao động nước ngoài để bán, anh hoàn toàn có quyền được đến cơ quan Công an hoặc các cơ quan công quyền khác của Nhà nước như Ủy ban nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,... để trình báo, cung cấp thông tin về những nghi ngờ của mình để các cơ quan này tiến hành các hoạt động điều tra xác minh và làm rõ có hay không có hành vi phạm tội mua bán người hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác để kịp thời xử lý. Mặt khác, nếu có thể anh Hùng nên gặp gỡ trực tiếp chị hàng xóm nghi là nạn nhân hoặc người thân của chị để nói lên những băn khoăn nghi ngờ của mình để người hàng xóm cảnh giác, tìm hiểu kỹ trước khi quyết định đi lao động nước ngoài, không để trở thành nạn nhân của mua bán người. - Anh Hùng nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác mà không báo Công an để ngăn chặn thì có bị coi là hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm không? Bộ Công an trả lời như sau: Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tại: “Điều 18. Che giấu tội phạm Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.” Điều 19. Không tố giác tội phạm Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.” Trường hợp của anh Hùng mới chỉ là nghi ngờ về việc một người có hành vi dụ dỗ người phụ nữ hàng xóm đi lao động nước ngoài để bán, bản thân anh cũng không thể biết chính xác hành vi của người đến rủ chị hàng xóm đi lao động nước ngoài có đúng là để lừa bán hay không nên việc anh không đi trình báo Công an để ngăn chặn không bị coi là hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, khi phát hiện hành vi dụ dỗ, tuyển mộ người đi lao động nước ngoài nghi ngờ là để bán, anh nên đến cơ quan Công an hoặc các cơ quan chức năng khác để trình báo, cung cấp thông tin về những nghi vấn của mình như đã nêu ở phần trên để các cơ quan này tiến hành điều tra xác minh xử lý.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 47, "text": "Theo khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 quy định về tội mua bán người như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.” Như vậy, có thể hiểu các yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người, gồm: Về mặt khách quan: + Các dấu hiệu về hành vi bao gồm: Hành vi chuyển giao và tiếp nhận người; các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao và tiếp nhận người. + Về thủ đoạn: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hay bằng các thủ đoạn khác như lợi dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân, ép nạn nhân sử dụng bia, rượu hoặc chất kích thích.... Hoặc bất kỳ thủ đoạn nào khác để thực hiện hành vi chuyển giao tiếp nhận người. + Người bị hại phải đủ từ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp bị hại dưới 16 tuổi thì cấu thành tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo Điều 151 Bộ luật Hình sự và không nhất thiết phải chứng minh thủ đoạn. Về mặt chủ quan: + Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý, biết được hành vi mua bán người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. + Mục đích phạm tội: (1) để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; (2) để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động; (3) để lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác như ép buộc đi ăn xin, ép buộc thực hiện các hành vi phạm tội, làm vật thí nghiệm, ép buộc tham gia chiến tranh... Mặt khách thể: Hành vi mua bán người xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, tính mạng, sức khỏe và danh dự của con người (nạn nhân). Mặt chủ thể: Bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (từ 14 tuổi trở lên đủ năng lực trách nhiệm về hành vi, nhận thức). - Anh Võ Thanh Hùng nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác thì có được báo Công an để ngăn chặn hay không? Bộ Công an trả lời như sau: Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân được tham gia tích cực vào công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng. Việc anh Hùng phát hiện một phụ nữ gần nhà anh thường xuyên bị một người ở địa phương khác đến rủ đi lao động ở nước ngoài và anh nghi ngờ người đó đang có hành vi dụ dỗ người hàng xóm đi lao động nước ngoài để bán, anh hoàn toàn có quyền được đến cơ quan Công an hoặc các cơ quan công quyền khác của Nhà nước như Ủy ban nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,... để trình báo, cung cấp thông tin về những nghi ngờ của mình để các cơ quan này tiến hành các hoạt động điều tra xác minh và làm rõ có hay không có hành vi phạm tội mua bán người hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác để kịp thời xử lý. Mặt khác, nếu có thể anh Hùng nên gặp gỡ trực tiếp chị hàng xóm nghi là nạn nhân hoặc người thân của chị để nói lên những băn khoăn nghi ngờ của mình để người hàng xóm cảnh giác, tìm hiểu kỹ trước khi quyết định đi lao động nước ngoài, không để trở thành nạn nhân của mua bán người. - Anh Hùng nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác mà không báo Công an để ngăn chặn thì có bị coi là hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm không? Bộ Công an trả lời như sau: Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tại: “Điều 18. Che giấu tội phạm Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.” Điều 19. Không tố giác tội phạm Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.” Trường hợp của anh Hùng mới chỉ là nghi ngờ về việc một người có hành vi dụ dỗ người phụ nữ hàng xóm đi lao động nước ngoài để bán, bản thân anh cũng không thể biết chính xác hành vi của người đến rủ chị hàng xóm đi lao động nước ngoài có đúng là để lừa bán hay không nên việc anh không đi trình báo Công an để ngăn chặn không bị coi là hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, khi phát hiện hành vi dụ dỗ, tuyển mộ người đi lao động nước ngoài nghi ngờ là để bán, anh nên đến cơ quan Công an hoặc các cơ quan chức năng khác để trình báo, cung cấp thông tin về những nghi vấn của mình như đã nêu ở phần trên để các cơ quan này tiến hành điều tra xác minh xử lý." } ], "id": "30", "is_impossible": false, "question": "Nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác thì có được báo Công an để ngăn chặn không?" } ] } ], "title": "Nghi ngờ về hành vi mua bán người của người khác thì có được báo Công an để ngăn chặn không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 110/2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội quy định: người tham gia lễ hội có trách nhiệm không thực hiện việc đổi tiền có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội. - Hành vi đổi tiển lẻ có chênh lệch nói trên là hành vi trái pháp luật, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3; điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (bị phạt từ 20.000.000 đồng từ 40.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng từ 80.000.000 đồng đối với tổ chức).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 91, "text": "người tham gia lễ hội có trách nhiệm không thực hiện việc đổi tiền có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội. - Hành vi đổi tiển lẻ có chênh lệch nói trên là hành vi trái pháp luật, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3; điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (bị phạt từ 20.000.000 đồng từ 40.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 40.000.000 đồng từ 80.000.000 đồng đối với tổ chức)." } ], "id": "31", "is_impossible": false, "question": "Hành vi đổi tiển lẻ có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi đổi tiển lẻ có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có một số điều khoản quy định liên quan hoạt động truyền đạo của tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam và việc xử lý các hoạt động gây ảnh hưởng ANTT, như: + Khoản 3 Điều 8: Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam. + Khoản 1 Điều 48: Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trước khi mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động tôn giáo, hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. + Khoản 1 Điều 64: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. Do đó, việc xử lý hoạt động truyền đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam gây ảnh hưởng ANTT còn căn cứ vào các quy định khác tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Điều 17 Vi phạm về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và đi lại); Bộ luật Hình sự (Điều 37 Trục xuất; Điều 117 Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ...); Luật Xử lý vi phạm hành chính (Điều 27 Trục xuất); Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán quốc tế (đối với trường hợp người phạm tội hình sự thuộc đối tượng hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 198, "text": "+ Khoản 3 Điều 8: Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam. + Khoản 1 Điều 48: Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trước khi mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động tôn giáo, hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. + Khoản 1 Điều 64: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. Do đó, việc xử lý hoạt động truyền đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam gây ảnh hưởng ANTT còn căn cứ vào các quy định khác tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Điều 17 Vi phạm về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và đi lại); Bộ luật Hình sự (Điều 37 Trục xuất; Điều 117 Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ...); Luật Xử lý vi phạm hành chính (Điều 27 Trục xuất); Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán quốc tế (đối với trường hợp người phạm tội hình sự thuộc đối tượng hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam)." } ], "id": "32", "is_impossible": false, "question": "Hoạt động truyền đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được pháp luật quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Hoạt động truyền đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được pháp luật quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 01/02/2020; Quyết định số 07/2020/QĐ- TTg ngày 26/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ, thì bệnh Covid-19 được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A (Nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bại liệt; bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê - bô - la (Ebola), Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh). Đồng thời, theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 thì các hành vi sau đây bị nghiêm cấm: “Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm 1. Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. 2. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 3. Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 4. Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm. 5. Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm. 6. Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này. 7. Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Do đó, đối với hành vi “người biết mình đã bị nhiễm bệnh Covid-19 mà bản thân không khai báo y tế và vẫn tiếp xúc với mọi người khiến dịch bệnh lây lan rộng”, tùy tính chất và mức độ của hành vi mà người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý trách nhiệm hình sự, cụ thể: 1. Quy định xử phạt vi phạm hành chính Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế thì hành vi che giấu bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, bị xử phạt vi phạm hành chính đến 1.000.000 đồng, cụ thể: Điều 6. Vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm 1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A. 2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; b) Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Quy định về xử lý hình sự Hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid-19 cho người khác có thể bị xử lý trách nhiệm về hình sự về “Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người vi phạm có thể bị xử phạt hình phạt tù cao nhất đến 12 năm tù. Điều 240. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiếm có khả năng lây truyền cho người; c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế; b) Làm chết người. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm: a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; b) Làm chết 02 người trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định chi tiết đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm có hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người và các trường hợp khác liên quan đến tác nhân là con người làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người. Đến thời điểm hiện nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể như thế nào là “Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” theo điểm c Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, để có căn cứ xử lý hình sự đối với người có các hành vi như trên làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người, cơ quan chức năng cần kiến nghị, đề xuất Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số hướng dẫn cụ thể thi hành Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 898, "text": "“Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm 1. Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. 2. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 3. Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 4. Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm. 5. Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm. 6. Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này. 7. Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Do đó, đối với hành vi “người biết mình đã bị nhiễm bệnh Covid-19 mà bản thân không khai báo y tế và vẫn tiếp xúc với mọi người khiến dịch bệnh lây lan rộng”, tùy tính chất và mức độ của hành vi mà người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý trách nhiệm hình sự, cụ thể: 1. Quy định xử phạt vi phạm hành chính Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế thì hành vi che giấu bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, bị xử phạt vi phạm hành chính đến 1.000.000 đồng, cụ thể: Điều 6. Vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm 1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A. 2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; b) Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Quy định về xử lý hình sự Hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid-19 cho người khác có thể bị xử lý trách nhiệm về hình sự về “Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người vi phạm có thể bị xử phạt hình phạt tù cao nhất đến 12 năm tù. Điều 240. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiếm có khả năng lây truyền cho người; c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế; b) Làm chết người. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm: a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; b) Làm chết 02 người trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định chi tiết đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm có hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người và các trường hợp khác liên quan đến tác nhân là con người làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người. Đến thời điểm hiện nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể như thế nào là “Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” theo điểm c Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, để có căn cứ xử lý hình sự đối với người có các hành vi như trên làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người, cơ quan chức năng cần kiến nghị, đề xuất Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số hướng dẫn cụ thể thi hành Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015." } ], "id": "33", "is_impossible": false, "question": "Hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, người thi hành công vụ được hiểu bao gồm những người sau: Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội. Khoản 2, Điều 3, Nghị định 208/2013/NĐ-CP quy định hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ, hoặc có hành vi khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao. Tại khoản 3, Điều 5, Nghị định 208/2013/NĐ-CP quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với tổ chức, cá nhân: Không chấp hành các quy định của pháp luật; không chấp hành sự điều hành, hướng dẫn, yêu cầu của người thi hành công vụ; chống đối hoặc cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ; lợi dụng quyền tự do, dân chủ, tín ngưỡng, tôn giáo để lôi kéo, xúi giục, kích động người khác chống người thi hành công vụ; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người thi hành công vụ; xâm hại tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của lực lượng thi hành công vụ; các hành vi khác nhằm chống người thi hành công vụ. Theo đó, đối với người không chấp hành quy định phòng, chống dịch COVID-19 và có hành vi chống người thi hành công vụ, tùy tính chất và mức độ của hành vi mà người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý trách nhiệm hình sự, cụ thể: 1. Quy định xử phạt vi phạm hành chính Nếu người vi phạm có các hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ trong thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 như: có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ, hành vi chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị xử phạt hành chính theo Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội. Điều 20. Hành vi cản trở, chống lại thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ 1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ; b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ; c) xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ; 3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ; b) Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ; c) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính. 4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác đối với hành vi quy định tại điểm c Khoản 3 Điều này. 2. Quy định về xử lý hình sự Nếu người vi phạm có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ trong thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành “Tội chống người thi hành công vụ”, thì người vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người vi phạm có thể bị xử phạt hình phạt tù cao nhất đến 07 năm tù. Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên; đ) Tái phạm nguy hiểm", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 227, "text": "Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội. Khoản 2, Điều 3, Nghị định 208/2013/NĐ-CP quy định hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ, hoặc có hành vi khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao. Tại khoản 3, Điều 5, Nghị định 208/2013/NĐ-CP quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với tổ chức, cá nhân: Không chấp hành các quy định của pháp luật; không chấp hành sự điều hành, hướng dẫn, yêu cầu của người thi hành công vụ; chống đối hoặc cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ; lợi dụng quyền tự do, dân chủ, tín ngưỡng, tôn giáo để lôi kéo, xúi giục, kích động người khác chống người thi hành công vụ; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người thi hành công vụ; xâm hại tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của lực lượng thi hành công vụ; các hành vi khác nhằm chống người thi hành công vụ. Theo đó, đối với người không chấp hành quy định phòng, chống dịch COVID-19 và có hành vi chống người thi hành công vụ, tùy tính chất và mức độ của hành vi mà người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý trách nhiệm hình sự, cụ thể: 1. Quy định xử phạt vi phạm hành chính Nếu người vi phạm có các hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ trong thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 như: có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ, hành vi chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì bị xử phạt hành chính theo Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội. Điều 20. Hành vi cản trở, chống lại thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ 1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ; b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ; c) xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ; 3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ; b) Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ; c) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính. 4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác đối với hành vi quy định tại điểm c Khoản 3 Điều này. 2. Quy định về xử lý hình sự Nếu người vi phạm có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ trong thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành “Tội chống người thi hành công vụ”, thì người vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người vi phạm có thể bị xử phạt hình phạt tù cao nhất đến 07 năm tù. Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên; đ) Tái phạm nguy hiểm" } ], "id": "34", "is_impossible": false, "question": "Hành vi không chấp hành quy định phòng, chống dịch COVID-19, chống người thi hành công vụ sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi không chấp hành quy định phòng, chống dịch COVID-19, chống người thi hành công vụ sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Điều 247 Bộ luật Hình sự quy định: Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý - Tại Khoản 1 quy định khung hình phạt cơ bản Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống; b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây. - Tại Khoản 2 của Điều luật là định khung hình phạt tăng nặng. - Tại Khoản 4 quy định: Người nào phạm tội thuộc Khoản 1 Điều này nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. 2. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - Tại Khoản 1 quy định khung hình phạt cơ bản Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; ... d) Lá cây cô ca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam; … - Tại Khoản 2, 3, 4 của Điều luật là định khung hình phạt tăng nặng. Như vậy, đối với nội dung câu hỏi trên, cần xác minh chủ thể là người nước ngoài có thuộc đối tượng được hưởng quyền “miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự…” hay không; làm rõ hành vi “trồng” hay hành vi “tàng trữ” cây cần sa và các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 247 và Điều 249 Bộ luật Hình sự đã viện dẫn như trên. Nếu đủ căn cứ thì tiến hành khởi tố, điều tra và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp không phải là tội phạm thì căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ để xác định nếu vi phạm thì xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 38, "text": "Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý - Tại Khoản 1 quy định khung hình phạt cơ bản Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống; b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây. - Tại Khoản 2 của Điều luật là định khung hình phạt tăng nặng. - Tại Khoản 4 quy định: Người nào phạm tội thuộc Khoản 1 Điều này nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. 2. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - Tại Khoản 1 quy định khung hình phạt cơ bản Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; ... d) Lá cây cô ca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam; … - Tại Khoản 2, 3, 4 của Điều luật là định khung hình phạt tăng nặng. Như vậy, đối với nội dung câu hỏi trên, cần xác minh chủ thể là người nước ngoài có thuộc đối tượng được hưởng quyền “miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự…” hay không; làm rõ hành vi “trồng” hay hành vi “tàng trữ” cây cần sa và các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 247 và Điều 249 Bộ luật Hình sự đã viện dẫn như trên. Nếu đủ căn cứ thì tiến hành khởi tố, điều tra và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp không phải là tội phạm thì căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ để xác định nếu vi phạm thì xử phạt vi phạm hành chính theo quy định." } ], "id": "35", "is_impossible": false, "question": "Người nước ngoài trồng cây cần sa và tàng trữ trái phép cần sa khô sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Người nước ngoài trồng cây cần sa và tàng trữ trái phép cần sa khô sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Hiện nay, trên không gian mạng xuất hiện rất nhiều trang mạng, tài khoản đăng tải thông tin giả. Do đó, khi tiếp cận thông tin trên không gian mạng, người dân cần bình tĩnh, tỉnh táo sàng lọc thông tin, tự trang bị kiến thức về pháp luật, xã hội và nhận diện rõ các thông tin xuyên tạc, giả mạo, cụ thể: - Kiểm chứng cơ sở nguồn tin, xem thông tin đó đến từ nguồn nào, nếu đến từ một người lạ, thông tin không rõ ràng cần cảnh giác, có thể xem mục giới thiệu để kiểm tra. - Kiểm tra tên miền của trang mạng đăng tải thông tin, thường nguồn phát của thông tin xuyên tạc, giả mạo thường là những trang mạng có tên miền nước ngoài (.com, .org), không có đuôi tên miền Việt Nam “.vn”. Các trang mạng chính thống của cơ quan tổ chức Nhà nước có tên miền quốc gia “.vn” và có địa chỉ, thông tin đăng ký cụ thể rõ ràng trên trang. Đối với các trang mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức chính thống, thường đã được đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ và được cung cấp dấu bản quyền (dấu tích xanh). Người dân nên quan sát và phân biệt rõ các trang mạng xã hội chính thống và các trang giả mạo. - Kiểm tra tác giả, đọc kỹ nội dung để suy ngẫm xác định thông tin thật hay giả; tin tức giả hay bị lỗi chính tả hoặc có bố cục lộn xộn, các hình ảnh, video trong tin giả thường bị chỉnh sửa, cắt ghép, thay đổi nội dung, ngày tháng của sự kiện thường bị thay đổi. Tìm các tin, bài viết trên các trang chính thống, uy tín có nội dung tương tự để đối chiếu hoặc xin sự tham vấn của các chuyên gia trên từng lĩnh vực. - Lựa chọn thông tin đăng tải, chia sẻ từ những trang mạng xã hội nên tiếp cận các luồng thông tin chính thống; không tham gia đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục và văn hóa của dân tộc hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của tổ chức và cá nhân; thông tin trái với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hoạt động vi phạm pháp luật hoặc thông tin mà chưa rõ nguồn gốc, chưa xác định được tính chính xác của thông tin. Trường hợp phát hiện các hoạt động nghi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cần báo ngay cho các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý. Đẩy mạnh thông tin tích cực, có ý nghĩa trong cuộc sống, đấu tranh, phê phán lên án hành vi sai trái vi phạm trên mạng xã hội.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 304, "text": "- Kiểm chứng cơ sở nguồn tin, xem thông tin đó đến từ nguồn nào, nếu đến từ một người lạ, thông tin không rõ ràng cần cảnh giác, có thể xem mục giới thiệu để kiểm tra. - Kiểm tra tên miền của trang mạng đăng tải thông tin, thường nguồn phát của thông tin xuyên tạc, giả mạo thường là những trang mạng có tên miền nước ngoài (.com, .org), không có đuôi tên miền Việt Nam “.vn”. Các trang mạng chính thống của cơ quan tổ chức Nhà nước có tên miền quốc gia “.vn” và có địa chỉ, thông tin đăng ký cụ thể rõ ràng trên trang. Đối với các trang mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức chính thống, thường đã được đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ và được cung cấp dấu bản quyền (dấu tích xanh). Người dân nên quan sát và phân biệt rõ các trang mạng xã hội chính thống và các trang giả mạo. - Kiểm tra tác giả, đọc kỹ nội dung để suy ngẫm xác định thông tin thật hay giả; tin tức giả hay bị lỗi chính tả hoặc có bố cục lộn xộn, các hình ảnh, video trong tin giả thường bị chỉnh sửa, cắt ghép, thay đổi nội dung, ngày tháng của sự kiện thường bị thay đổi. Tìm các tin, bài viết trên các trang chính thống, uy tín có nội dung tương tự để đối chiếu hoặc xin sự tham vấn của các chuyên gia trên từng lĩnh vực. - Lựa chọn thông tin đăng tải, chia sẻ từ những trang mạng xã hội nên tiếp cận các luồng thông tin chính thống; không tham gia đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục và văn hóa của dân tộc hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của tổ chức và cá nhân; thông tin trái với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hoạt động vi phạm pháp luật hoặc thông tin mà chưa rõ nguồn gốc, chưa xác định được tính chính xác của thông tin. Trường hợp phát hiện các hoạt động nghi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cần báo ngay cho các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý. Đẩy mạnh thông tin tích cực, có ý nghĩa trong cuộc sống, đấu tranh, phê phán lên án hành vi sai trái vi phạm trên mạng xã hội." } ], "id": "36", "is_impossible": false, "question": "Kỹ năng để nhận biết thông tin sai sự thật trên không gian mạng" } ] } ], "title": "Kỹ năng để nhận biết thông tin sai sự thật trên không gian mạng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thời gian qua, đã có nhiều cuộc tấn công mạng diễn ra trên phạm vi toàn thế giới gây những thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội. Đặc biệt khi dư luận xã hội quan tâm nhiều tới tình hình diễn biến của dịch bệnh Covid-19 và các thông báo, hướng dẫn về phòng dịch của cơ quan chức năng, các tổ chức y tế thì tin tặc đã gia tăng giả mạo các thông báo, hướng dẫn này để phát tán mã độc và thực hiện các cuộc tấn công lừa đảo. Hơn nữa, khi các quốc gia trên thế giới triển khai các biện pháp cách ly, giảm giao tiếp xã hội để hạn chế lây lan dịch bệnh, nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chuyển sang làm việc trên môi trường mạng trong thời gian ngắn dẫn đến một số hạn chế như: (1) Tin tặc can thiệp vào dữ liệu trực tuyến như thay đổi nội dung, chèn các nội dung không phù hợp; (2) Nhà sản xuất ứng dụng thu thập trái phép dữ liệu cá nhân của người dùng và chia sẻ với các bên thứ ba mà người dùng không biết; (3) Dữ liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật nội bộ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp bị lộ khi người dùng trao đổi qua các ứng dụng trực tuyến; (4) Tin tặc thông qua tấn công các ứng dụng trực tuyến để kiểm soát camera, micro trên thiết bị của người dùng; (5) Lượng người dùng tăng đột biến nhưng nhà sản xuất không kịp thời nâng cấp phần mềm, hạ tầng kỹ thuật phù hợp dẫn đến chất lượng dịch vụ giảm. Để đảm bảo an ninh mạng khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến trong thời gian này, các cơ quan, tổ chức và người dân cần chú ý một số vấn đề như sau: - Nghiên cứu kỹ trong lựa chọn sử dụng các ứng dụng, tránh sử dụng các ứng dụng đang bị cảnh báo tồn tại lỗ hổng, điểm yếu bảo mật. Khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến cần sử dụng các kênh có mật khẩu bảo vệ, xác thực người tham gia. - Không sử dụng các ứng dụng trực tuyến để trao đổi, gửi nhận các dữ liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật nội bộ, bí mật cá nhân. Khi nhận thấy có dấu hiệu lừa đảo, cần báo ngay cho cơ quan chức năng để kịp thời xử lý. - Khi sử dụng hòm thư điện tử, không mở các thư điện tử không rõ nguồn gốc; không tải, mở các tập tin, đường dẫn lạ khi không chắc chắn về nguồn gốc, địa chỉ hòm thư người gửi. Cần chú ý kiểm tra tên địa chỉ hòm thư thật kỹ, tội phạm mạng thường sử dụng các ký tự gần giống nhau để đánh lừa người nhận, ví dụ: “boyte” thành “boyle”, “microsoft” thành”mlcrosoft”. - Thường xuyên cập nhật bản vá lỗ hổng bảo mật hệ điều hành và các ứng dụng trên các thiết bị, bao gồm máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại di động và các ứng dụng khác có kết nối Internet.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 674, "text": "(1) Tin tặc can thiệp vào dữ liệu trực tuyến như thay đổi nội dung, chèn các nội dung không phù hợp; (2) Nhà sản xuất ứng dụng thu thập trái phép dữ liệu cá nhân của người dùng và chia sẻ với các bên thứ ba mà người dùng không biết; (3) Dữ liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật nội bộ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp bị lộ khi người dùng trao đổi qua các ứng dụng trực tuyến; (4) Tin tặc thông qua tấn công các ứng dụng trực tuyến để kiểm soát camera, micro trên thiết bị của người dùng; (5) Lượng người dùng tăng đột biến nhưng nhà sản xuất không kịp thời nâng cấp phần mềm, hạ tầng kỹ thuật phù hợp dẫn đến chất lượng dịch vụ giảm. Để đảm bảo an ninh mạng khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến trong thời gian này, các cơ quan, tổ chức và người dân cần chú ý một số vấn đề như sau: - Nghiên cứu kỹ trong lựa chọn sử dụng các ứng dụng, tránh sử dụng các ứng dụng đang bị cảnh báo tồn tại lỗ hổng, điểm yếu bảo mật. Khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến cần sử dụng các kênh có mật khẩu bảo vệ, xác thực người tham gia. - Không sử dụng các ứng dụng trực tuyến để trao đổi, gửi nhận các dữ liệu bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật nội bộ, bí mật cá nhân. Khi nhận thấy có dấu hiệu lừa đảo, cần báo ngay cho cơ quan chức năng để kịp thời xử lý. - Khi sử dụng hòm thư điện tử, không mở các thư điện tử không rõ nguồn gốc; không tải, mở các tập tin, đường dẫn lạ khi không chắc chắn về nguồn gốc, địa chỉ hòm thư người gửi. Cần chú ý kiểm tra tên địa chỉ hòm thư thật kỹ, tội phạm mạng thường sử dụng các ký tự gần giống nhau để đánh lừa người nhận, ví dụ: “boyte” thành “boyle”, “microsoft” thành”mlcrosoft”. - Thường xuyên cập nhật bản vá lỗ hổng bảo mật hệ điều hành và các ứng dụng trên các thiết bị, bao gồm máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại di động và các ứng dụng khác có kết nối Internet." } ], "id": "37", "is_impossible": false, "question": "Cách nhận biết mã độc và những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến" } ] } ], "title": "Cách nhận biết mã độc và những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- “Game hợp pháp” là các trò chơi điện tử đã được phê duyệt nội dung, kịch bản và được cung cấp bởi các doanh nghiệp đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử G1, G2, G3, G4 (danh sách các doanh nghiệp và trò chơi được cấp giấy phép đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông, đường dẫn: https: //dvc.mic.gov.vn). - Đối với hành vi “đánh bạc” theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, tại Điều 1 xác định: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. - Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về tội đánh bạc như sau: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hay hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên; c) Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử phạm tội; d) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000.” Như vậy “cờ bạc” là hiện tượng xã hội tiêu cực, bị dư luận xã hội lên án, đấu tranh, loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đối với các hành vi nguy hiểm trong các loại hình cờ bạc, Nhà nước quy định đó là tội phạm cần xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 354, "text": "https: //dvc.mic.gov.vn). - Đối với hành vi “đánh bạc” theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, tại Điều 1 xác định: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. - Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về tội đánh bạc như sau: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hay hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên; c) Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử phạm tội; d) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000.” Như vậy “cờ bạc” là hiện tượng xã hội tiêu cực, bị dư luận xã hội lên án, đấu tranh, loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đối với các hành vi nguy hiểm trong các loại hình cờ bạc, Nhà nước quy định đó là tội phạm cần xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự." } ], "id": "38", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về việc phân biệt \"game hợp pháp\" và game đánh bạc trên mạng Internet" } ] } ], "title": "Hỏi về việc phân biệt \"game hợp pháp\" và game đánh bạc trên mạng Internet" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo như lời bạn hỏi cho thấy tài liệu chứng minh bạn (chủ quán) trước đó đã biết rõ khách đến uống cà phê có đánh bạc và bạn đã dán giấy chú ý yêu cầu không được đánh bạc dưới mọi hình thức để nhắc nhở khách đến uống nước không được đánh bạc. Nên nếu thời điểm cơ quan Công an bắt quả tang tại quán cà phê có khách tham gia cá độ, đánh bạc và chủ quán biết nhưng không ngăn cản hoặc báo cơ quan chức năng thì tùy theo tính chất mức độ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gá bạc. Nếu thời điểm đó chủ quán không biết hoặc nếu biết mà ngăn cản, báo ngay cơ quan chức năng thì không xem xét xử lý trách nhiệm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo như lời bạn hỏi cho thấy tài liệu chứng minh bạn (chủ quán) trước đó đã biết rõ khách đến uống cà phê có đánh bạc và bạn đã dán giấy chú ý yêu cầu không được đánh bạc dưới mọi hình thức để nhắc nhở khách đến uống nước không được đánh bạc. Nên nếu thời điểm cơ quan Công an bắt quả tang tại quán cà phê có khách tham gia cá độ, đánh bạc và chủ quán biết nhưng không ngăn cản hoặc báo cơ quan chức năng thì tùy theo tính chất mức độ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gá bạc. Nếu thời điểm đó chủ quán không biết hoặc nếu biết mà ngăn cản, báo ngay cơ quan chức năng thì không xem xét xử lý trách nhiệm." } ], "id": "39", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về việc tổ chức cá độ bóng đá tại nơi công cộng" } ] } ], "title": "Hỏi về việc tổ chức cá độ bóng đá tại nơi công cộng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Khoản 1 Điều 17 Nghị định 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa quy định xử phạt vi phạm đối với chủ phương tiện, thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa:Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi khi đang làm việc trên phương tiện mà có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở hoặc sử dụng các chất kích thích khác mà luật cấm sử dụng.Như vậy, đối với thuyền viên, người điều khiển phương tiện thủy nội địa khi đang điều khiển phương tiện mà có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc 40 miligam/1 lít khí thở hoặc sử dụng các chất kích thích khác mà luật cấm, đã vi phạm Khoản 1 Điều 17 Nghị định 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì người vi phạm sẽ bị xử phạt với mức trung bình của khung tiền phạt, cụ thể số tiền là 250.000 đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 254, "text": "Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi khi đang làm việc trên phương tiện mà có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở hoặc sử dụng các chất kích thích khác mà luật cấm sử dụng.Như vậy, đối với thuyền viên, người điều khiển phương tiện thủy nội địa khi đang điều khiển phương tiện mà có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc 40 miligam/1 lít khí thở hoặc sử dụng các chất kích thích khác mà luật cấm, đã vi phạm Khoản 1 Điều 17 Nghị định 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì người vi phạm sẽ bị xử phạt với mức trung bình của khung tiền phạt, cụ thể số tiền là 250.000 đồng." } ], "id": "40", "is_impossible": false, "question": "Quy định về nồng độ cồn đối với thuyền viên, người điều khiển phương tiện thủy nội địa" } ] } ], "title": "Quy định về nồng độ cồn đối với thuyền viên, người điều khiển phương tiện thủy nội địa" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe:- Quy định về chứng từ chuyển quyền sở hữu đối với xe cá nhân (Khoản 1 Điều 10) như sau:“…Quyết định bán, cho, tặng hoặc hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật; Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính; Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực…”- Quy định trách nhiệm của chủ xe (Khoản 2 Điều 6): “Ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ xe phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Trường hợp chủ xe không thông báo thì tiếp tục phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chiếc xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.”Như vậy, bạn phải thực hiện các thủ tục trên khi bán xe.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 87, "text": "- Quy định về chứng từ chuyển quyền sở hữu đối với xe cá nhân (Khoản 1 Điều 10) như sau:“…Quyết định bán, cho, tặng hoặc hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật; Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính; Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực…”- Quy định trách nhiệm của chủ xe (Khoản 2 Điều 6): “Ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ xe phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Trường hợp chủ xe không thông báo thì tiếp tục phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chiếc xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.”Như vậy, bạn phải thực hiện các thủ tục trên khi bán xe." } ], "id": "41", "is_impossible": false, "question": "Xác nhận từ bỏ quyền sở hữu đối với xe máy" } ] } ], "title": "Xác nhận từ bỏ quyền sở hữu đối với xe máy" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Điểm d Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép đồ chơi nguy hiểm. Đồng thời, tại Điểm a Khoản 8 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm này.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 249, "text": "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép đồ chơi nguy hiểm. Đồng thời, tại Điểm a Khoản 8 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm này." } ], "id": "42", "is_impossible": false, "question": "Kinh doanh đồ chơi nguy hiểm bị cấm" } ] } ], "title": "Kinh doanh đồ chơi nguy hiểm bị cấm" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 21 và Điểm 19 của Phụ lục II Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC và Điểm b, c, Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ thì cơ sở kinh doanh, sửa chữa và thay lốp xe phải xây dựng phương án chữa cháy của cơ sở theo mẫu số PC11 của Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an và phải được cơ quan Cảnh sát PCCC phê duyệt. - Cơ sở phải tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về PCCC và phải có giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ PCCC. Căn cứ theo quy định tại Điểm b, c, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 16 Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "- Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 21 và Điểm 19 của Phụ lục II Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC và Điểm b, c, Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ thì cơ sở kinh doanh, sửa chữa và thay lốp xe phải xây dựng phương án chữa cháy của cơ sở theo mẫu số PC11 của Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an và phải được cơ quan Cảnh sát PCCC phê duyệt. - Cơ sở phải tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về PCCC và phải có giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ PCCC. Căn cứ theo quy định tại Điểm b, c, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 16 Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an." } ], "id": "43", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về việc lập phương án PCCC và giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ PCCC" } ] } ], "title": "Hỏi về việc lập phương án PCCC và giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ PCCC" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về kiến nghị nêu trên, Bộ Công an trả lời như sau: Ngày 31/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; theo đó, đã quy định tăng mức xử phạt đối với hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng (theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) lên mức từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phạt tù với mức cao nhất từ 02 năm đến 05 năm; Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hành vi vu khống người khác có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phạt tù với mức cao nhất từ 03 năm đến 07 năm. Như vậy, theo quy định hiện hành, chế tài xử phạt đối với hành vi vu khống, xúc phạm nhân phẩm danh dự người khác rất cao, đảm bảo tính răn đe, nghiêm khắc của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 51, "text": "Ngày 31/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; theo đó, đã quy định tăng mức xử phạt đối với hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng (theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) lên mức từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phạt tù với mức cao nhất từ 02 năm đến 05 năm; Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hành vi vu khống người khác có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phạt tù với mức cao nhất từ 03 năm đến 07 năm. Như vậy, theo quy định hiện hành, chế tài xử phạt đối với hành vi vu khống, xúc phạm nhân phẩm danh dự người khác rất cao, đảm bảo tính răn đe, nghiêm khắc của pháp luật." } ], "id": "44", "is_impossible": false, "question": "Mức xử phạt đối với hành vi vu khống, xúc phạm danh dự người khác" } ] } ], "title": "Mức xử phạt đối với hành vi vu khống, xúc phạm danh dự người khác" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại điểm a, Khoản 1, Điều 242 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây, gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Sử dụng chất độc, chất nổ, các hóa chất khác, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản...” Như vậy, trong Điều 242 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rất cụ thể việc đánh bắt thủy sản bằng hình thức hủy diệt có thể bị xử lý hình sự với hình thức phạt tù cao nhất lên đến 03 năm. Thời gian vừa qua, Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường công tác đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tuy nhiên, quá trình đấu tranh xử lý các vi phạm còn một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế, trong đó các hành vi vi phạm chủ yếu chỉ xử lý về hành chính, chưa xử lý hình sự, nguyên nhân là do các vi phạm chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, đối tượng vi phạm là người dân nghèo, người có thu nhập thấp; số lượng thủy sản bị thiệt hại có giá trị chưa cao, chưa đủ điều kiện để xử lý hình sự. Thời gian tới, để tăng cường công tác đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Bộ Công an sẽ chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau: - Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản và tăng cường công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản; các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Triển khai các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tập trung phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản. Tăng cường phối hợp với các ngành liên quan trong công tác phát hiện, đấu tranh. Nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo, cán bộ, chiến sỹ được phân công phụ trách địa bàn, lĩnh vực trong quá trình triển khai thực hiện công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Tổ chức tập huấn chuyên sâu, quán triệt các quy định mới của pháp luật cho lực lượng Cảnh sát môi trường và các lực lượng có liên quan công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Nghiên cứu, đề xuất kiện toàn hệ thống tổ chức và biên chế cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về thủy sản; bổ sung kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về thủy sản.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "Tại điểm a, Khoản 1, Điều 242 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây, gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Sử dụng chất độc, chất nổ, các hóa chất khác, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản...” Như vậy, trong Điều 242 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rất cụ thể việc đánh bắt thủy sản bằng hình thức hủy diệt có thể bị xử lý hình sự với hình thức phạt tù cao nhất lên đến 03 năm. Thời gian vừa qua, Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường công tác đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tuy nhiên, quá trình đấu tranh xử lý các vi phạm còn một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế, trong đó các hành vi vi phạm chủ yếu chỉ xử lý về hành chính, chưa xử lý hình sự, nguyên nhân là do các vi phạm chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, đối tượng vi phạm là người dân nghèo, người có thu nhập thấp; số lượng thủy sản bị thiệt hại có giá trị chưa cao, chưa đủ điều kiện để xử lý hình sự. Thời gian tới, để tăng cường công tác đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Bộ Công an sẽ chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau: - Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản và tăng cường công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản; các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Triển khai các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tập trung phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản. Tăng cường phối hợp với các ngành liên quan trong công tác phát hiện, đấu tranh. Nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo, cán bộ, chiến sỹ được phân công phụ trách địa bàn, lĩnh vực trong quá trình triển khai thực hiện công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Tổ chức tập huấn chuyên sâu, quán triệt các quy định mới của pháp luật cho lực lượng Cảnh sát môi trường và các lực lượng có liên quan công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. - Nghiên cứu, đề xuất kiện toàn hệ thống tổ chức và biên chế cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về thủy sản; bổ sung kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về thủy sản." } ], "id": "45", "is_impossible": false, "question": "Đánh bắt thủy sản bằng hình thức hủy diệt có bị xử lý hình sự không?" } ] } ], "title": "Đánh bắt thủy sản bằng hình thức hủy diệt có bị xử lý hình sự không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Thời gian qua, Bộ Công an đã chỉ đạo các lực lượng chức năng triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhất là tập trung xử lý các hành vi quấy rối, tấn công mạng gây mất an toàn hoạt động tổ chức dạy học trực tuyến. Trong 6 tháng đầu năm 2020, lực lượng chức năng Bộ Công an đã phát hiện trên 1.700 trang, cổng thông tin điện tử của Việt Nam bị tin tặc tấn công và thay đổi giao diện; phát hiện, xử lý trên 280 trang thông tin điện tử tồn tại lỗ hổng bảo mật; hàng chục hệ thống thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công mạng, cài cắm mã độc. Qua đó, Bộ Công an đã chỉ đạo lực lượng chức năng triển khai các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh dữ liệu, thông tin cá nhân trên các ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động giao tiếp, hội thảo, hội họp, đào tạo, dạy học trực tuyến qua mạng Internet. Bên cạnh đó, để tạo cơ sở pháp lý xử lý nghiêm minh, nhằm răn đe đối với các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, Bộ Công an đã hoàn thành xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, hiện nay đang chờ Chính phủ xem xét ban hành. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, thời gian tới Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn trong quá trình học tập trực tuyến. Đồng thời, tăng cường phòng ngừa, kịp thời phát hiện và đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, trọng tâm là: Triển khai các kế hoạch bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia; kiểm tra, đánh giá và khắc phục tình trạng mất an ninh hệ thống mạng, an toàn hệ thống thông tin; thiết lập cơ chế xác minh, truy vết đối tượng qua các nền tảng dịch vụ ứng dụng dạy học trực tuyến; thông báo gửi các cơ quan, tổ chức để cảnh báo về hoạt động tấn công mạng, nguy cơ mất an ninh hệ thống mạng, khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn trong quá trình dạy học trực tuyến qua mạng Internet trong thời gian tới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "Thời gian qua, Bộ Công an đã chỉ đạo các lực lượng chức năng triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhất là tập trung xử lý các hành vi quấy rối, tấn công mạng gây mất an toàn hoạt động tổ chức dạy học trực tuyến. Trong 6 tháng đầu năm 2020, lực lượng chức năng Bộ Công an đã phát hiện trên 1.700 trang, cổng thông tin điện tử của Việt Nam bị tin tặc tấn công và thay đổi giao diện; phát hiện, xử lý trên 280 trang thông tin điện tử tồn tại lỗ hổng bảo mật; hàng chục hệ thống thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công mạng, cài cắm mã độc. Qua đó, Bộ Công an đã chỉ đạo lực lượng chức năng triển khai các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh dữ liệu, thông tin cá nhân trên các ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động giao tiếp, hội thảo, hội họp, đào tạo, dạy học trực tuyến qua mạng Internet. Bên cạnh đó, để tạo cơ sở pháp lý xử lý nghiêm minh, nhằm răn đe đối với các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, Bộ Công an đã hoàn thành xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, hiện nay đang chờ Chính phủ xem xét ban hành. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, thời gian tới Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn trong quá trình học tập trực tuyến. Đồng thời, tăng cường phòng ngừa, kịp thời phát hiện và đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, trọng tâm là: Triển khai các kế hoạch bảo đảm an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia; kiểm tra, đánh giá và khắc phục tình trạng mất an ninh hệ thống mạng, an toàn hệ thống thông tin; thiết lập cơ chế xác minh, truy vết đối tượng qua các nền tảng dịch vụ ứng dụng dạy học trực tuyến; thông báo gửi các cơ quan, tổ chức để cảnh báo về hoạt động tấn công mạng, nguy cơ mất an ninh hệ thống mạng, khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn trong quá trình dạy học trực tuyến qua mạng Internet trong thời gian tới." } ], "id": "46", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về giải pháp khắc phục những bất cập, khó khăn trong việc học tập trực tuyến" } ] } ], "title": "Kiến nghị về giải pháp khắc phục những bất cập, khó khăn trong việc học tập trực tuyến" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp phòng ngừa, đấu tranh quyết liệt với tội phạm và tệ nạn ma túy, bắt giữ nhiều vụ ma túy số lượng lớn. Để phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy trong học sinh, thanh thiếu niên, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT/BCA-BGDĐT về phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác trong ngành giáo dục; phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 03/2011/NQLT về “Phối hợp hành động phòng, chống ma túy trong thanh thiếu niên”; tăng cường tuyên truyền về pháp luật, về các chất ma túy mới để thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên biết, chủ động phát hiện, phòng tránh; thường xuyên kiểm tra, rà soát và triển khai các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, xử lý các vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy khu vực trường học, trong quán bar, karaoke, vũ trường… Tuy nhiên, tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn diễn biến rất phức tạp, trong đó tình trạng sử dụng trái phép chất ma túy nói chung và ma túy tổng hợp nói riêng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, chủ yếu tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên (thống kê cho thấy, trong số hơn 230.000 người nghiện có hồ sơ quản lý thì số người từ 16 - 30 tuổi chiếm 48%). Trong khi đó, các loại ma túy tổng hợp ngày càng đa dạng về chủng loại, giá thành rẻ, dễ cất giấu, dễ sử dụng, vì thế chúng len lỏi vào học đường dưới những cái tên mỹ miều, gây tò mò như “tem giấy”, “bùa lưỡi”, “nước vui”, “trà sữa”, “khô gà”… Đồng thời, các loại hình vui chơi, giải trí như quán bar, karaoke, vũ trường… phát triển nhanh chóng nên số lượng người sử dụng ma túy là thanh thiếu niên ngày càng tăng; các loại ma túy tổng hợp thường trở nên kích thích hơn khi sử dụng kèm với rượu, bia trong môi trường âm nhạc mạnh nên các quán bar, karaoke, vũ trường thường là nơi các đối tượng và thanh thiếu niên lợi dụng để tổ chức, sử dụng trái phép ma túy. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy. Cụ thể, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã tham mưu Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019 về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW cùng với sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản, quy định khác có liên quan sẽ góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy. Đối với công tác phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy trong học sinh, thanh thiếu niên, Bộ Công an phối hợp các bộ, ngành triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; tăng cường tuyên truyền về pháp luật, về các chất ma túy mới để thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên biết, chủ động phát hiện, phòng tránh; thường xuyên kiểm tra, rà soát và triển khai các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, xử lý các vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực trường học, trong quán bar, karaoke, vũ trường…; tiếp tục triệt phá các tụ điểm tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy nhỏ lẻ ở các địa phương, nhất là khu vực nông thôn.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp phòng ngừa, đấu tranh quyết liệt với tội phạm và tệ nạn ma túy, bắt giữ nhiều vụ ma túy số lượng lớn. Để phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy trong học sinh, thanh thiếu niên, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT/BCA-BGDĐT về phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác trong ngành giáo dục; phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 03/2011/NQLT về “Phối hợp hành động phòng, chống ma túy trong thanh thiếu niên”; tăng cường tuyên truyền về pháp luật, về các chất ma túy mới để thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên biết, chủ động phát hiện, phòng tránh; thường xuyên kiểm tra, rà soát và triển khai các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, xử lý các vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy khu vực trường học, trong quán bar, karaoke, vũ trường… Tuy nhiên, tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn diễn biến rất phức tạp, trong đó tình trạng sử dụng trái phép chất ma túy nói chung và ma túy tổng hợp nói riêng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, chủ yếu tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên (thống kê cho thấy, trong số hơn 230.000 người nghiện có hồ sơ quản lý thì số người từ 16 - 30 tuổi chiếm 48%). Trong khi đó, các loại ma túy tổng hợp ngày càng đa dạng về chủng loại, giá thành rẻ, dễ cất giấu, dễ sử dụng, vì thế chúng len lỏi vào học đường dưới những cái tên mỹ miều, gây tò mò như “tem giấy”, “bùa lưỡi”, “nước vui”, “trà sữa”, “khô gà”… Đồng thời, các loại hình vui chơi, giải trí như quán bar, karaoke, vũ trường… phát triển nhanh chóng nên số lượng người sử dụng ma túy là thanh thiếu niên ngày càng tăng; các loại ma túy tổng hợp thường trở nên kích thích hơn khi sử dụng kèm với rượu, bia trong môi trường âm nhạc mạnh nên các quán bar, karaoke, vũ trường thường là nơi các đối tượng và thanh thiếu niên lợi dụng để tổ chức, sử dụng trái phép ma túy. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy. Cụ thể, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã tham mưu Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019 về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW cùng với sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản, quy định khác có liên quan sẽ góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy. Đối với công tác phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy trong học sinh, thanh thiếu niên, Bộ Công an phối hợp các bộ, ngành triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; tăng cường tuyên truyền về pháp luật, về các chất ma túy mới để thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên biết, chủ động phát hiện, phòng tránh; thường xuyên kiểm tra, rà soát và triển khai các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, xử lý các vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực trường học, trong quán bar, karaoke, vũ trường…; tiếp tục triệt phá các tụ điểm tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy nhỏ lẻ ở các địa phương, nhất là khu vực nông thôn." } ], "id": "47", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về tăng cường các biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy đối với học sinh, thanh thiếu niên" } ] } ], "title": "Kiến nghị về tăng cường các biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy đối với học sinh, thanh thiếu niên" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thời gian qua, tình trạng chống người thi hành công vụ diễn biến hết sức phức tạp; đối tượng chống người thi hành công vụ gồm nhiều thành phần, các đối tượng này chủ động, lôi kéo nhiều người tham gia, xảy ra ở nhiều địa phương trong toàn quốc. Trong khi đó, các quy định về xử lý đối với các hành vi chống người thi hành công vụ còn thiếu, khung hình phạt đối với hành vi này còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe; quy định về trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ và các quy định khác về sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, phòng, chống các hành vi chống người thi hành công vụ nói riêng còn chưa đầy đủ, khó áp dụng trong thực tiễn dẫn tới nhiều vụ việc người thi hành công vụ đã bị tổn hại sức khỏe hoặc bị truy cứu trách nhiệm khi thiếu sót trong chấp hành nhiệm vụ, trực tiếp đối đầu với tội phạm nguy hiểm. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng, chống tội phạm chống người thi hành công vụ, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện các công việc trọng tâm sau: - Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm chống người thi hành công vụ, nhất là Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 24/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ, Kế hoạch số 371/KH-BCA ngày 29/11/2017 của Bộ Công an về thực hiện Chỉ thị nêu trên của Thủ tướng Chính phủ. - Nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật, làm rõ những bất cập, hạn chế trong quá trình triển khai áp dụng để tham mưu cho cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung tăng chế tài xử lý đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, hướng dẫn để áp dụng thống nhất, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quy định đầy đủ và chi tiết về xử lý hành chính đối với hành vi chống người thi hành công vụ, quy định rõ hơn về thẩm quyền, cách thức, thủ tục sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ công tác của lực lượng chức năng. - Tham mưu, đề nghị Chính phủ tiếp tục trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ hiện đại cho các lực lượng thi hành công vụ, nhất là đối với các lực lượng trực tiếp trấn áp tội phạm; từng bước luật hóa để có chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi chống người thi hành công vụ. - Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở nhằm chủ động phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm, thiếu sót trong quá trình thi hành công vụ của người được giao thực thi công vụ; tăng cường bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của người thi hành công vụ, thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác góp phần phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi chống người thi hành công vụ. - Đẩy mạnh công tác nghiệp vụ, chủ động nắm tình hình, phát hiện, bắt giữ, xử lý nghiêm các đối tượng có biểu hiện chống đối, kích động, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật nói chung và chống người thi hành công vụ nói riêng. - Phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật tới người dân, để nhân dân hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng thi hành công vụ, nhất là đối với lực lượng Công an nhân dân; qua đó có trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ, ủng hộ, giúp đỡ các lực lượng thi hành công vụ, góp phần giữ gìn đảm bảo an ninh, trật tự, tránh bị các thế lực thù địch, bọn tội phạm lợi dụng kích động, chống đối với lực lượng thi hành công vụ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1027, "text": "- Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm chống người thi hành công vụ, nhất là Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 24/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ, Kế hoạch số 371/KH-BCA ngày 29/11/2017 của Bộ Công an về thực hiện Chỉ thị nêu trên của Thủ tướng Chính phủ. - Nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật, làm rõ những bất cập, hạn chế trong quá trình triển khai áp dụng để tham mưu cho cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung tăng chế tài xử lý đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, hướng dẫn để áp dụng thống nhất, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quy định đầy đủ và chi tiết về xử lý hành chính đối với hành vi chống người thi hành công vụ, quy định rõ hơn về thẩm quyền, cách thức, thủ tục sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ công tác của lực lượng chức năng. - Tham mưu, đề nghị Chính phủ tiếp tục trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ hiện đại cho các lực lượng thi hành công vụ, nhất là đối với các lực lượng trực tiếp trấn áp tội phạm; từng bước luật hóa để có chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi chống người thi hành công vụ. - Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở nhằm chủ động phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm, thiếu sót trong quá trình thi hành công vụ của người được giao thực thi công vụ; tăng cường bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của người thi hành công vụ, thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác góp phần phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi chống người thi hành công vụ. - Đẩy mạnh công tác nghiệp vụ, chủ động nắm tình hình, phát hiện, bắt giữ, xử lý nghiêm các đối tượng có biểu hiện chống đối, kích động, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật nói chung và chống người thi hành công vụ nói riêng. - Phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật tới người dân, để nhân dân hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng thi hành công vụ, nhất là đối với lực lượng Công an nhân dân; qua đó có trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ, ủng hộ, giúp đỡ các lực lượng thi hành công vụ, góp phần giữ gìn đảm bảo an ninh, trật tự, tránh bị các thế lực thù địch, bọn tội phạm lợi dụng kích động, chống đối với lực lượng thi hành công vụ." } ], "id": "48", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về việc xây dựng các chế tài mạnh hơn nữa để xử lý hành vi chống người thi hành công vụ" } ] } ], "title": "Kiến nghị về việc xây dựng các chế tài mạnh hơn nữa để xử lý hành vi chống người thi hành công vụ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an ghi nhận và trân trọng cảm ơn cử tri tỉnh Trà Vinh đã quan tâm, theo dõi, chia sẻ với những khó khăn, vất vả của lực lượng Công an, nhất là tình trạng chống đối lực lượng Cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ. Những năm gần đây, tình trạng chống người thi hành công vụ nói chung và chống lực lượng Cảnh sát giao thông nói riêng diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, manh động và liều lĩnh hơn, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây bức xúc trong dư luận xã hội (năm 2019 xảy ra 25 vụ chống lại lực lượng Cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ, làm 01 đồng chí hy sinh, 18 đồng chí bị thương). Nguyên nhân chủ yếu là do: Điều kiện thực tế về cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý về giao thông còn hạn chế, phương tiện giao thông tăng nhanh, trong khi đó, nhận thức và ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nói riêng; công tác giáo dục, quản lý lái xe chưa được quan tâm đúng mức; việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về xử lý các đối tượng chống người thi hành công vụ chưa sâu rộng, mạnh mẽ nên chưa tạo được sự đồng thuận trong toàn xã hội, có trường hợp báo chí đưa tin về vụ việc chưa đúng, thiếu chính xác làm người dân hiểu lầm vụ việc xảy ra do người thi hành công vụ. Các quy định của pháp luật về xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ còn chưa cụ thể, chưa đủ sức răn đe như cử tri phản ánh. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ chỉ đạo các lực lượng tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ; thực hiện đồng bộ các giải pháp để ngăn chặn tình trạng chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Hoàn thiện, đề xuất xây dựng Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ để tạo hành lang pháp lý vững chắc, đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm và tăng thẩm quyền cho người thi hành công vụ được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để bảo vệ mình trong những trường hợp, tình huống cụ thể được pháp luật quy định, siết lại kỷ cương pháp luật, tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào lực lượng thực thi pháp luật. Đồng thời, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; thông báo công khai chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông để người dân đồng tình ủng hộ, giúp đỡ Cảnh sát giao thông, lên án mạnh mẽ các hành vi chống người thi hành công vụ. Đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ và các điều kiện cần thiết để tăng cường thêm sức mạnh, sức chiến đấu, xử lý ngay các tình huống chống người thi hành công vụ. Đối với những trường hợp chống người thi hành công vụ sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị củng cố hồ sơ xử lý nghiêm theo quy định để tăng cường tính răn đe.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 667, "text": "Điều kiện thực tế về cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý về giao thông còn hạn chế, phương tiện giao thông tăng nhanh, trong khi đó, nhận thức và ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nói riêng; công tác giáo dục, quản lý lái xe chưa được quan tâm đúng mức; việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về xử lý các đối tượng chống người thi hành công vụ chưa sâu rộng, mạnh mẽ nên chưa tạo được sự đồng thuận trong toàn xã hội, có trường hợp báo chí đưa tin về vụ việc chưa đúng, thiếu chính xác làm người dân hiểu lầm vụ việc xảy ra do người thi hành công vụ. Các quy định của pháp luật về xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ còn chưa cụ thể, chưa đủ sức răn đe như cử tri phản ánh. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ chỉ đạo các lực lượng tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ; thực hiện đồng bộ các giải pháp để ngăn chặn tình trạng chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Hoàn thiện, đề xuất xây dựng Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ để tạo hành lang pháp lý vững chắc, đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm và tăng thẩm quyền cho người thi hành công vụ được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để bảo vệ mình trong những trường hợp, tình huống cụ thể được pháp luật quy định, siết lại kỷ cương pháp luật, tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào lực lượng thực thi pháp luật. Đồng thời, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; thông báo công khai chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông để người dân đồng tình ủng hộ, giúp đỡ Cảnh sát giao thông, lên án mạnh mẽ các hành vi chống người thi hành công vụ. Đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ và các điều kiện cần thiết để tăng cường thêm sức mạnh, sức chiến đấu, xử lý ngay các tình huống chống người thi hành công vụ. Đối với những trường hợp chống người thi hành công vụ sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị củng cố hồ sơ xử lý nghiêm theo quy định để tăng cường tính răn đe." } ], "id": "49", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về xử lý nghiêm các đối tượng chống người thi hành công vụ" } ] } ], "title": "Kiến nghị về xử lý nghiêm các đối tượng chống người thi hành công vụ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về thẩm quyền, đối tượng sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được quy định cụ thể tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Hằng năm, để tăng cường nguồn lực cho công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy và phòng, chống mua bán người, Chính phủ phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống tội phạm và ma túy giai đoạn 2016 - 2020 cho các bộ, ngành, địa phương, trong đó có phần kinh phí phục vụ trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng thi hành nhiệm vụ. Tuy nhiên, do hạn chế về ngân sách nên kinh phí, phương tiện chưa đáp ứng được yêu cầu như phản ánh của cử tri. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ báo cáo Chính phủ, Ban Bí thư chủ trương tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22-10-2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; báo cáo Thủ tướng Chính phủ chủ trương tổng kết đánh giá các Chương trình phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2020, đồng thời đề xuất xây dựng Chương trình và kinh phí cho giai đoạn 2021 - 2025, trong đó có vấn đề tăng cường nguồn lực, trang thiết bị, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho công tác phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Về thẩm quyền, đối tượng sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được quy định cụ thể tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Hằng năm, để tăng cường nguồn lực cho công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy và phòng, chống mua bán người, Chính phủ phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống tội phạm và ma túy giai đoạn 2016 - 2020 cho các bộ, ngành, địa phương, trong đó có phần kinh phí phục vụ trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng thi hành nhiệm vụ. Tuy nhiên, do hạn chế về ngân sách nên kinh phí, phương tiện chưa đáp ứng được yêu cầu như phản ánh của cử tri. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an sẽ báo cáo Chính phủ, Ban Bí thư chủ trương tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22-10-2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; báo cáo Thủ tướng Chính phủ chủ trương tổng kết đánh giá các Chương trình phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2020, đồng thời đề xuất xây dựng Chương trình và kinh phí cho giai đoạn 2021 - 2025, trong đó có vấn đề tăng cường nguồn lực, trang thiết bị, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho công tác phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra." } ], "id": "50", "is_impossible": false, "question": "Đề xuất tăng cường nguồn lực cho công tác phòng, chống tội phạm" } ] } ], "title": "Đề xuất tăng cường nguồn lực cho công tác phòng, chống tội phạm" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Đối tượng trộm chó hay đối tượng trộm cắp tài sản khác đều phải chịu trách nhiệm về hành vi gây ra, mức xử phạt nặng hay nhẹ tùy thuộc vào hành vi, tính chất, mức độ vi phạm được quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự. Theo đó, nếu đối tượng trộm chó hành vi manh động, sẵn sàng chống trả khi bị phát hiện được coi là tình tiết tăng nặng trong quá trình xem xét trách nhiệm hình sự, bảo đảm nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vừa trừng trị, vừa răn đe, giáo dục, cải tạo, phòng ngừa. Tuy nhiên, tiếp thu kiến nghị của cử tri tỉnh Long An, trong thực tế triển khai thi hành pháp luật, Bộ Công an sẽ phối hợp cơ quan tư pháp rà soát, đánh giá mức độ, hiệu quả của việc áp dụng chế tài xử phạt đối với các hành vi trộm cắp tài sản (trộm chó), nếu chế tài xử phạt theo quy định hiện hành chưa đủ sức răn đe, giáo dục người vi phạm sẽ báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Để ngăn chặn tình trạng trộm chó, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp, kế hoạch ngăn ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi trộm chó. Đề nghị cử tri và nhân dân khi phát hiện đối tượng trộm chó không được có hành vi xâm hại thân thể và báo ngay cơ quan chức năng gần nhất để kịp thời xử lý.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Đối tượng trộm chó hay đối tượng trộm cắp tài sản khác đều phải chịu trách nhiệm về hành vi gây ra, mức xử phạt nặng hay nhẹ tùy thuộc vào hành vi, tính chất, mức độ vi phạm được quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự. Theo đó, nếu đối tượng trộm chó hành vi manh động, sẵn sàng chống trả khi bị phát hiện được coi là tình tiết tăng nặng trong quá trình xem xét trách nhiệm hình sự, bảo đảm nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vừa trừng trị, vừa răn đe, giáo dục, cải tạo, phòng ngừa. Tuy nhiên, tiếp thu kiến nghị của cử tri tỉnh Long An, trong thực tế triển khai thi hành pháp luật, Bộ Công an sẽ phối hợp cơ quan tư pháp rà soát, đánh giá mức độ, hiệu quả của việc áp dụng chế tài xử phạt đối với các hành vi trộm cắp tài sản (trộm chó), nếu chế tài xử phạt theo quy định hiện hành chưa đủ sức răn đe, giáo dục người vi phạm sẽ báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Để ngăn chặn tình trạng trộm chó, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp, kế hoạch ngăn ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi trộm chó. Đề nghị cử tri và nhân dân khi phát hiện đối tượng trộm chó không được có hành vi xâm hại thân thể và báo ngay cơ quan chức năng gần nhất để kịp thời xử lý." } ], "id": "51", "is_impossible": false, "question": "Đề xuất tăng cường chế tài xử phạt đối với đối tượng trộm chó" } ] } ], "title": "Đề xuất tăng cường chế tài xử phạt đối với đối tượng trộm chó" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an trả lời như sau: 1. Bộ Công an đã phối hợp với Bộ, ngành, cơ quan như Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội… xây dựng, trình Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Theo đó, nguyên tắc xử lý của Bộ luật Hình sự năm 2015 (quy định tại Điều 3) thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người phạm tội là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng. Nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo nguyên tắc này, đảm bảo vừa xử phạt nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội do cá nhân, pháp nhân thương mại gây ra, vừa cảm hóa, giáo dục, cải tạo, giám sát để họ trở thành người có ích cho xã hội và không tái phạm tội. Cùng với triển khai thi hành Bộ luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, Bộ Công an tiếp tục phối hợp Bộ, ngành, địa phương thực hiện Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; triển khai Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, trong đó chú trọng công tác tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, phòng ngừa tái phạm tội; nâng cao chất lượng công tác giáo dục, tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề, truyền nghề cho phạm nhân, trại viên, học sinh trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Hiện nay, Bộ Công an đang xây dựng Chỉ thị về nâng cao chất lượng công tác quản lý, giáo dục đối tượng ở địa bàn cơ sở, trong đó có người chấp hành xong án phạt tù, phòng ngừa tái phạm tội. 2. Những năm qua, tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra phức tạp. Năm 2018, xảy ra 378 vụ, 575 đối tượng, trong đó 115 vụ, 164 đối tượng chống lại lực lượng Công an. Đối tượng chống người thi hành công vụ đa dạng về thành phần và thường chủ động dùng vũ lực, hung khí, vũ khí tấn công hoặc kích động, lôi kéo nhiều người tham gia, gây cản trở quá trình thực thi nhiệm vụ của lực lượng chức năng. Tiếp thu ý kiến của cử tri, Bộ Công an đã và đang tiếp tục chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tập trung thực hiện một số biện pháp trọng tâm để phòng ngừa, hạn chế và xử lý nghiêm loại tội phạm này, cụ thể là: - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 24/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tham mưu, phối hợp các cấp, các ngành xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch, phương án xử lý tình huống chống người thi hành công vụ, không để bị động, bất ngờ trong giải quyết các vụ việc. - Nghiên cứu, rà soát những bất cập về pháp luật liên quan hoạt động thi hành công vụ và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ để đề xuất Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tăng chế tài xử lý nghiêm khắc hành vi chống người thi hành công vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền, nghĩa vụ công dân, bảo vệ người thi hành công vụ, tăng cường kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật; quy định rõ hơn về thẩm quyền, trường hợp, thủ tục sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong thi hành nhiệm vụ của các lực lượng chức năng để có cơ sở pháp lý bảo vệ người thi hành công vụ và phòng ngừa, xử lý nghiêm hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. - Phối hợp cơ quan chức năng điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh tội phạm chống người thi hành công vụ, tăng cường xét xử một số vụ án điểm đối tượng chống người thi hành công vụ coi thường pháp luật để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 28, "text": "1. Bộ Công an đã phối hợp với Bộ, ngành, cơ quan như Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội… xây dựng, trình Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Theo đó, nguyên tắc xử lý của Bộ luật Hình sự năm 2015 (quy định tại Điều 3) thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người phạm tội là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng. Nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo nguyên tắc này, đảm bảo vừa xử phạt nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội do cá nhân, pháp nhân thương mại gây ra, vừa cảm hóa, giáo dục, cải tạo, giám sát để họ trở thành người có ích cho xã hội và không tái phạm tội. Cùng với triển khai thi hành Bộ luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, Bộ Công an tiếp tục phối hợp Bộ, ngành, địa phương thực hiện Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; triển khai Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, trong đó chú trọng công tác tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, phòng ngừa tái phạm tội; nâng cao chất lượng công tác giáo dục, tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề, truyền nghề cho phạm nhân, trại viên, học sinh trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Hiện nay, Bộ Công an đang xây dựng Chỉ thị về nâng cao chất lượng công tác quản lý, giáo dục đối tượng ở địa bàn cơ sở, trong đó có người chấp hành xong án phạt tù, phòng ngừa tái phạm tội. 2. Những năm qua, tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra phức tạp. Năm 2018, xảy ra 378 vụ, 575 đối tượng, trong đó 115 vụ, 164 đối tượng chống lại lực lượng Công an. Đối tượng chống người thi hành công vụ đa dạng về thành phần và thường chủ động dùng vũ lực, hung khí, vũ khí tấn công hoặc kích động, lôi kéo nhiều người tham gia, gây cản trở quá trình thực thi nhiệm vụ của lực lượng chức năng. Tiếp thu ý kiến của cử tri, Bộ Công an đã và đang tiếp tục chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tập trung thực hiện một số biện pháp trọng tâm để phòng ngừa, hạn chế và xử lý nghiêm loại tội phạm này, cụ thể là: - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 24/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tham mưu, phối hợp các cấp, các ngành xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch, phương án xử lý tình huống chống người thi hành công vụ, không để bị động, bất ngờ trong giải quyết các vụ việc. - Nghiên cứu, rà soát những bất cập về pháp luật liên quan hoạt động thi hành công vụ và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ để đề xuất Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tăng chế tài xử lý nghiêm khắc hành vi chống người thi hành công vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền, nghĩa vụ công dân, bảo vệ người thi hành công vụ, tăng cường kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật; quy định rõ hơn về thẩm quyền, trường hợp, thủ tục sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong thi hành nhiệm vụ của các lực lượng chức năng để có cơ sở pháp lý bảo vệ người thi hành công vụ và phòng ngừa, xử lý nghiêm hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. - Phối hợp cơ quan chức năng điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh tội phạm chống người thi hành công vụ, tăng cường xét xử một số vụ án điểm đối tượng chống người thi hành công vụ coi thường pháp luật để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung." } ], "id": "52", "is_impossible": false, "question": "Tăng cường xử lý nghiêm đối với các đối tượng chống người thi hành công vụ" } ] } ], "title": "Tăng cường xử lý nghiêm đối với các đối tượng chống người thi hành công vụ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Trên thế giới và ở nước ta đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều dạng mới của ma túy, số người nghiện tiếp tục gia tăng với trên 230.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, đa số họ đang ở ngoài xã hội gây lo lắng trong nhân dân và cử tri. Trong khi đó, việc xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (trong đó có các trường hợp “ngáo đá”) chưa đủ sức răn đe (Bộ luật Hình sự năm 2015 không còn tội danh sử dụng trái phép chất ma túy); việc lập hồ sơ đưa người nghiện ma túy vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc còn nhiều khó khăn, vướng mắc về mặt trình tự, thủ tục thực hiện. Đây là một trong những bất cập và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghiện ma túy, sử dụng trái phép ma túy tổng hợp dẫn đến “ngáo đá” diễn biến phức tạp, xảy ra các vụ án giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật… do đối tượng “ngáo đá” gây ra. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an đang tham mưu với Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội dự án sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy, phối hợp sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính và sẽ nghiên cứu, bổ sung các quy định liên quan đến xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo hướng nghiêm khắc hơn; đơn giản quy trình, thủ tục lập hồ sơ đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn tại các cơ sở cai nghiện, cơ sở chữa bệnh và tại cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế tình trạng người sử dụng ma túy gây hệ lụy cho xã hội. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, thông báo rộng rãi các hình thức, biểu hiện “ngáo đá” để người dân cảnh giác phòng tránh, phát hiện và cung cấp thông tin kịp thời cho các lực lượng chức năng ngăn chặn, xử lý. 2. Có thể khẳng định, trong tất cả các loại tội phạm, tội phạm về ma túy phải chịu các hình phạt nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, mức xử phạt nặng hay nhẹ tùy thuộc vào từng tội danh, hành vi, tính chất, mức độ vi phạm pháp luật của người vi phạm được quy định theo khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (tại Chương XX, gồm 13 điều từ Điều 247 đến Điều 259, tất cả đều được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm về ma túy hiện nay). Trong đó, tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy có hình phạt cao nhất là chung thân, tử hình (9/13 tội danh). Thực tế trong những năm qua, lực lượng Công an đã tập trung đấu tranh, trấn áp mạnh với tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy, nhất là mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, ngăn chặn ma túy thẩm lậu từ bên ngoài vào nước ta, đồng thời tăng cường triệt xóa các đường dây, tụ điểm, đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy trong nội địa, góp phần ngăn chặn, làm giảm “nguồn cung” ma túy vào trong nước, bắt giữ, điều tra, đề nghị truy tố hàng chục nghìn vụ án, đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép ma túy. Các cơ quan tư pháp đã áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy, số bị cáo phạm tội bị kết án tử hình, chung thân nhiều nhất trong các loại tội phạm, thể hiện sự nghiêm trị của pháp luật đối với loại tội phạm nguy hiểm này.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "1. Trên thế giới và ở nước ta đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều dạng mới của ma túy, số người nghiện tiếp tục gia tăng với trên 230.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, đa số họ đang ở ngoài xã hội gây lo lắng trong nhân dân và cử tri. Trong khi đó, việc xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (trong đó có các trường hợp “ngáo đá”) chưa đủ sức răn đe (Bộ luật Hình sự năm 2015 không còn tội danh sử dụng trái phép chất ma túy); việc lập hồ sơ đưa người nghiện ma túy vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc còn nhiều khó khăn, vướng mắc về mặt trình tự, thủ tục thực hiện. Đây là một trong những bất cập và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghiện ma túy, sử dụng trái phép ma túy tổng hợp dẫn đến “ngáo đá” diễn biến phức tạp, xảy ra các vụ án giết người, cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật… do đối tượng “ngáo đá” gây ra. Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Công an đang tham mưu với Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội dự án sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy, phối hợp sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính và sẽ nghiên cứu, bổ sung các quy định liên quan đến xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo hướng nghiêm khắc hơn; đơn giản quy trình, thủ tục lập hồ sơ đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn tại các cơ sở cai nghiện, cơ sở chữa bệnh và tại cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế tình trạng người sử dụng ma túy gây hệ lụy cho xã hội. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, thông báo rộng rãi các hình thức, biểu hiện “ngáo đá” để người dân cảnh giác phòng tránh, phát hiện và cung cấp thông tin kịp thời cho các lực lượng chức năng ngăn chặn, xử lý. 2. Có thể khẳng định, trong tất cả các loại tội phạm, tội phạm về ma túy phải chịu các hình phạt nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, mức xử phạt nặng hay nhẹ tùy thuộc vào từng tội danh, hành vi, tính chất, mức độ vi phạm pháp luật của người vi phạm được quy định theo khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (tại Chương XX, gồm 13 điều từ Điều 247 đến Điều 259, tất cả đều được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm về ma túy hiện nay). Trong đó, tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy có hình phạt cao nhất là chung thân, tử hình (9/13 tội danh). Thực tế trong những năm qua, lực lượng Công an đã tập trung đấu tranh, trấn áp mạnh với tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy, nhất là mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, ngăn chặn ma túy thẩm lậu từ bên ngoài vào nước ta, đồng thời tăng cường triệt xóa các đường dây, tụ điểm, đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy trong nội địa, góp phần ngăn chặn, làm giảm “nguồn cung” ma túy vào trong nước, bắt giữ, điều tra, đề nghị truy tố hàng chục nghìn vụ án, đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép ma túy. Các cơ quan tư pháp đã áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy, số bị cáo phạm tội bị kết án tử hình, chung thân nhiều nhất trong các loại tội phạm, thể hiện sự nghiêm trị của pháp luật đối với loại tội phạm nguy hiểm này." } ], "id": "53", "is_impossible": false, "question": "Về đề nghị xử lý mạnh tay với tội phạm về ma túy" } ] } ], "title": "Về đề nghị xử lý mạnh tay với tội phạm về ma túy" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an trả lời như sau: Theo quy định tại Nghị định số 37/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009 của Chính phủ quy định về các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan thì lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới thuộc Danh mục các mục tiêu quan trọng do lực lượng Cảnh sát nhân dân. Các ngân hàng khác có trách nhiệm bố trí lực lượng bảo vệ chuyên trách tại trụ sở theo quy định tại Nghị định số 06/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ quy định về bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp hoặc thuê nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp thuộc các công ty kinh doanh dịch vụ bảo vệ đã được cấp phép kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016. Về trang bị cho lực lượng bảo vệ chuyên trách và nhân viên bảo vệ thuê của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được thực hiện theo Thông tư số 17/2018/TT-BCA ngày 15/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ. Theo đó, khi nhận được đề nghị của các ngân hàng, căn cứ tính chất, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, cơ quan Công an sẽ xem xét trang bị các loại công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ; tuy nhiên, trước khi được trang bị và sử dụng các loại công cụ hỗ trợ, lực lượng bảo vệ phải được cơ quan có thẩm quyền đào tạo, huấn luyện, cấp chứng chỉ, chứng nhận nghiệp vụ bảo vệ và sử dụng công cụ hỗ trợ. Như vậy, các quy định về bố trí lực lượng bảo vệ và trang bị công cụ hỗ trợ phục vụ công tác bảo vệ tại các ngân hàng đã có đầy đủ. Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường đấu tranh, trấn áp tội phạm; phối hợp, hướng dẫn ngành ngân hàng tăng cường công tác bảo vệ tại các trụ sở, chi nhánh, phòng giao dịch, góp phần chủ động bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 28, "text": "Theo quy định tại Nghị định số 37/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009 của Chính phủ quy định về các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan thì lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới thuộc Danh mục các mục tiêu quan trọng do lực lượng Cảnh sát nhân dân. Các ngân hàng khác có trách nhiệm bố trí lực lượng bảo vệ chuyên trách tại trụ sở theo quy định tại Nghị định số 06/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ quy định về bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp hoặc thuê nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp thuộc các công ty kinh doanh dịch vụ bảo vệ đã được cấp phép kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016. Về trang bị cho lực lượng bảo vệ chuyên trách và nhân viên bảo vệ thuê của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ được thực hiện theo Thông tư số 17/2018/TT-BCA ngày 15/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ. Theo đó, khi nhận được đề nghị của các ngân hàng, căn cứ tính chất, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, cơ quan Công an sẽ xem xét trang bị các loại công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ; tuy nhiên, trước khi được trang bị và sử dụng các loại công cụ hỗ trợ, lực lượng bảo vệ phải được cơ quan có thẩm quyền đào tạo, huấn luyện, cấp chứng chỉ, chứng nhận nghiệp vụ bảo vệ và sử dụng công cụ hỗ trợ. Như vậy, các quy định về bố trí lực lượng bảo vệ và trang bị công cụ hỗ trợ phục vụ công tác bảo vệ tại các ngân hàng đã có đầy đủ. Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường đấu tranh, trấn áp tội phạm; phối hợp, hướng dẫn ngành ngân hàng tăng cường công tác bảo vệ tại các trụ sở, chi nhánh, phòng giao dịch, góp phần chủ động bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân." } ], "id": "54", "is_impossible": false, "question": "Quy định về bố trí lực lượng bảo vệ và trang bị công cụ hỗ trợ cho bảo vệ tại các ngân hàng" } ] } ], "title": "Quy định về bố trí lực lượng bảo vệ và trang bị công cụ hỗ trợ cho bảo vệ tại các ngân hàng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an xin trả lời như sau: Ngày 20/6/2017, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018; theo đó, tại Điều 305 quy định về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, Khoản 1 nêu rõ: “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” và Khoản 2 nêu rõ: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:… b) Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;”. Quy định này được hiểu người nào sử dụng thuốc nổ dưới 10 kilôgam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ nếu đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm. Mặt khác, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn áp dụng Điều 95, Điều 96 Bộ luật Hình sự đã hết hiệu lực thi hành (chỉ có tính chất tham khảo). Do vậy, không thể căn cứ vào văn bản này để làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự trong thời điểm hiện nay.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 32, "text": "Ngày 20/6/2017, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018; theo đó, tại Điều 305 quy định về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, Khoản 1 nêu rõ: “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” và Khoản 2 nêu rõ: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:… b) Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;”. Quy định này được hiểu người nào sử dụng thuốc nổ dưới 10 kilôgam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ nếu đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm. Mặt khác, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn áp dụng Điều 95, Điều 96 Bộ luật Hình sự đã hết hiệu lực thi hành (chỉ có tính chất tham khảo). Do vậy, không thể căn cứ vào văn bản này để làm cơ sở xác định trách nhiệm hình sự trong thời điểm hiện nay." } ], "id": "55", "is_impossible": false, "question": "Xử lý trách nhiệm hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ" } ] } ], "title": "Xử lý trách nhiệm hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an xin trả lời, như sau: Năm 2017, phát hiện 446 vụ hiếp dâm trẻ em, tăng 5,19%, 08 vụ cưỡng dâm trẻ em, tăng 14,29% so với năm 2016… Nạn nhân bị xâm hại tình dục chủ yếu là các bé gái (chiếm trên 80%); đối tượng xâm hại phần lớn chưa có tiền án, tiền sự, thường có mối quan hệ quen thân với nạn nhân. Vừa qua, xảy ra một số vụ xâm hại tình dục trẻ em gây bức xúc dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc đưa tin bài của các phương tiện thông tin đại chúng về các vụ xâm hại tình dục trẻ em “đẩy nóng” sự việc, từ đó làm cho nạn nhân và gia đình bị tổn thương trong thời gian dài, có vụ do hướng xử lý ban đầu không hợp lý, khiến cho dư luận đặt ra nghi vấn đối với các cơ quan xử lý. Nguyên nhân của tình hình trên là do: (1) Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tin báo tố giác về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em còn chưa kịp thời, công tác thống kê, tổng hợp kết quả xử lý tin báo tố giác tội phạm còn bất cập; kỹ năng tiếp nhận, thu thập xử lý thông tin, tài liệu tội phạm xâm hại tình dục trẻ em còn hạn chế. (2) Việc tố cáo, trình báo tội phạm xâm hại tình dục trẻ em thường chậm nên công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, củng cố chứng cứ gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp không khắc phục được, ảnh hưởng tới kết quả điều tra, xử lý tội phạm. (3) Xâm hại tình dục trẻ em là vụ việc có tính nhạy cảm nên nạn nhân và người thân thường giấu kín, không tố giác, có trường hợp đối tượng thực hiện hành vi nhiều lần, trong thời gian dài mới bị phát hiện, có trường hợp nạn nhân và gia đình thiếu hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc cung cấp chứng cứ, xử lý tội phạm. (4) Hầu hết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em không có nhân chứng trực tiếp, trẻ em bị xâm hại tình dục còn nhỏ tuổi, năng lực nhận biết còn hạn chế, tâm lý dễ bị tác động, hoảng loạn về tinh thần nên khai báo chưa chính xác. Một số vụ nạn nhân thường khai báo không thống nhất, khai báo theo sự hướng dẫn của cha mẹ, người thân… nên gây khó khăn cho công tác điều tra. (5) Việc đánh giá tài liệu, chứng cứ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhiều khi chưa thống nhất dẫn đến vụ việc kéo dài hoặc không được xử lý. Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh đối với hành vi xâm hại tình dục trẻ em, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tập trung thực hiện các công tác trọng tâm sau: (1) Chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân và phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em. (2) Đẩy mạnh thực hiện chuyên đề đấu tranh với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm về bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em. Thiết lập đường dây nóng, điện thoại, email, hộp thư tố giác tội phạm tại nơi công cộng, nơi có nguy cơ xảy ra các vụ án, vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, tăng cường vận động quần chúng nhân dân kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Tòa án đưa ra xét xử các vụ án xâm hại tình dục trẻ em để nâng cao tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. (3) Tổ chức hướng dẫn, đào tạo cho lực lượng trực tiếp đấu tranh, phòng chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Trong đó, tập trung vào hướng dẫn và tổ chức thực hiện nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, yêu cầu và biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính đối với trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em là người bị hại, người làm chứng; đào tạo, bồi dưỡng nội dung về quyền trẻ em, về tâm lý học, khoa học giáo dục cho điều tra viên giải quyết các vụ án có liên quan đến trẻ em. Khẩn trương xây dựng quy trình điều tra đặc biệt đối với các vụ án dâm ô trẻ em để thống nhất tổ chức thực hiện. (4) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện những biện pháp thiết thực, hiệu quả trong phòng ngừa, ngăn chặn xâm hại tình dục trẻ em, tội phạm liên quan đến trẻ em… Tổ chức các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm… tại các câu lạc bộ, nhà văn hóa, nhà trường, nơi công cộng, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hướng dẫn các kỹ năng phòng ngừa, xử lý các vụ bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em; phát hiện, tố cáo các hành vi xâm hại tình dục trẻ em… (5) Chủ động phối hợp, nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật liên quan đến phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 33, "text": "Năm 2017, phát hiện 446 vụ hiếp dâm trẻ em, tăng 5,19%, 08 vụ cưỡng dâm trẻ em, tăng 14,29% so với năm 2016… Nạn nhân bị xâm hại tình dục chủ yếu là các bé gái (chiếm trên 80%); đối tượng xâm hại phần lớn chưa có tiền án, tiền sự, thường có mối quan hệ quen thân với nạn nhân. Vừa qua, xảy ra một số vụ xâm hại tình dục trẻ em gây bức xúc dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc đưa tin bài của các phương tiện thông tin đại chúng về các vụ xâm hại tình dục trẻ em “đẩy nóng” sự việc, từ đó làm cho nạn nhân và gia đình bị tổn thương trong thời gian dài, có vụ do hướng xử lý ban đầu không hợp lý, khiến cho dư luận đặt ra nghi vấn đối với các cơ quan xử lý. Nguyên nhân của tình hình trên là do: (1) Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tin báo tố giác về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em còn chưa kịp thời, công tác thống kê, tổng hợp kết quả xử lý tin báo tố giác tội phạm còn bất cập; kỹ năng tiếp nhận, thu thập xử lý thông tin, tài liệu tội phạm xâm hại tình dục trẻ em còn hạn chế. (2) Việc tố cáo, trình báo tội phạm xâm hại tình dục trẻ em thường chậm nên công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, củng cố chứng cứ gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp không khắc phục được, ảnh hưởng tới kết quả điều tra, xử lý tội phạm. (3) Xâm hại tình dục trẻ em là vụ việc có tính nhạy cảm nên nạn nhân và người thân thường giấu kín, không tố giác, có trường hợp đối tượng thực hiện hành vi nhiều lần, trong thời gian dài mới bị phát hiện, có trường hợp nạn nhân và gia đình thiếu hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc cung cấp chứng cứ, xử lý tội phạm. (4) Hầu hết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em không có nhân chứng trực tiếp, trẻ em bị xâm hại tình dục còn nhỏ tuổi, năng lực nhận biết còn hạn chế, tâm lý dễ bị tác động, hoảng loạn về tinh thần nên khai báo chưa chính xác. Một số vụ nạn nhân thường khai báo không thống nhất, khai báo theo sự hướng dẫn của cha mẹ, người thân… nên gây khó khăn cho công tác điều tra. (5) Việc đánh giá tài liệu, chứng cứ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhiều khi chưa thống nhất dẫn đến vụ việc kéo dài hoặc không được xử lý. Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh đối với hành vi xâm hại tình dục trẻ em, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tập trung thực hiện các công tác trọng tâm sau: (1) Chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân và phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em. (2) Đẩy mạnh thực hiện chuyên đề đấu tranh với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm về bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em. Thiết lập đường dây nóng, điện thoại, email, hộp thư tố giác tội phạm tại nơi công cộng, nơi có nguy cơ xảy ra các vụ án, vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, tăng cường vận động quần chúng nhân dân kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Tòa án đưa ra xét xử các vụ án xâm hại tình dục trẻ em để nâng cao tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. (3) Tổ chức hướng dẫn, đào tạo cho lực lượng trực tiếp đấu tranh, phòng chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Trong đó, tập trung vào hướng dẫn và tổ chức thực hiện nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, yêu cầu và biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính đối với trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em là người bị hại, người làm chứng; đào tạo, bồi dưỡng nội dung về quyền trẻ em, về tâm lý học, khoa học giáo dục cho điều tra viên giải quyết các vụ án có liên quan đến trẻ em. Khẩn trương xây dựng quy trình điều tra đặc biệt đối với các vụ án dâm ô trẻ em để thống nhất tổ chức thực hiện. (4) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện những biện pháp thiết thực, hiệu quả trong phòng ngừa, ngăn chặn xâm hại tình dục trẻ em, tội phạm liên quan đến trẻ em… Tổ chức các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm… tại các câu lạc bộ, nhà văn hóa, nhà trường, nơi công cộng, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hướng dẫn các kỹ năng phòng ngừa, xử lý các vụ bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em; phát hiện, tố cáo các hành vi xâm hại tình dục trẻ em… (5) Chủ động phối hợp, nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật liên quan đến phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em." } ], "id": "56", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em" } ] } ], "title": "Kiến nghị về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Trong những năm qua, nhằm giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, đặc xá tha tù trở về địa phương tái hòa nhập cộng đồng, Bộ Công an đã tham mưu, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2011/NĐ-CP, ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tham mưu với cấp ủy, chính quyền chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể thực hiện nghiêm túc Nghị định số 80/2011/NĐ-CP; tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng, tổ chức tiếp nhận, quản lý giáo dục người chấp hành xong án phạt tù ngay từ khi họ hết án trở về địa phương. Các trại giam tiếp tục đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân; chú trọng công tác tư vấn, hướng nghiệp, đào tạo nghề cho phạm nhân, thành lập Trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp cho phạm nhân tại các trại giam; lập Quỹ tái hòa nhập cộng đồng trích từ kết quả lao động, học nghề của phạm nhân, nhằm giúp họ có điều kiện thuận lợi để tái hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh đó, để đánh giá thực trạng tình hình người được đặc xá, chấp hành xong án phạt tù tái phạm tội, Bộ Công an đã chỉ đạo tiến hành tổng điều tra, khảo sát tình hình người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại các địa phương từ năm 2002 - 2012. Kết quả khảo sát 424.878 người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương cho thấy, trong đó số người chấp hành xong án phạt tù tái phạm tội chiếm tỷ lệ 18,86%; số người được đặc xá phạm tội chiếm tỷ lệ 4,34% trên tổng số người được đặc xá. Nguyên nhân chủ yếu là do người chấp hành xong án phạt tù hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, không có việc làm, thu nhập không ổn định, bị tác động của kẻ xấu, trong đó có phần thiếu sự quan tâm của chính quyền, gia đình, xã hội. Để công tác tái hòa nhập cộng đồng đạt hiệu quả, đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị và chung tay góp sức của toàn xã hội. Thời gian tới, Bộ Công an sẽ chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương: - Tham mưu cấp ủy, chính quyền xây dựng các mô hình nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội trong việc quản lý, giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng. - Báo cáo Chính phủ tổ chức Hội nghị biểu dương mô hình, cá nhân điển hình thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù (dự kiến tổ chức Quý III/2014). - Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện Dự án “Tăng cường năng lực giáo dục dạy nghề cho các trại giam, trường giáo dưỡng”; phối hợp với Trung ương Hội Luật gia Việt Nam tổ chức phổ biến, giáo dục, tư vấn pháp luật, hỗ trợ cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù, người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; phối hợp với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc giáo dục phạm nhân trong độ tuổi thanh niên và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng. - Vận động, khuyến khích doanh nghiệp các tỉnh, thành phố tổ chức tư vấn nghề nghiệp và tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù vào làm việc tại các doanh nghiệp. Tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong đó có phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Như vậy, các đối tượng tái phạm tội sau khi được mãn hạn tù hoặc được ân xá, sẽ bị xử lý tăng nặng trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của Bộ luật hình sự. Tỉnh Bình Dương là địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, nên có nhiều điều kiện trong giải quyết việc làm, nhất là đối với lao động phổ thông, đề nghị cử tri kiến nghị với các cấp chính quyền, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh vận động các doanh nghiệp quan tâm tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù để giúp họ tái hòa nhập cộng đồng bền vững.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1976, "text": "- Tham mưu cấp ủy, chính quyền xây dựng các mô hình nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội trong việc quản lý, giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng. - Báo cáo Chính phủ tổ chức Hội nghị biểu dương mô hình, cá nhân điển hình thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù (dự kiến tổ chức Quý III/2014). - Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện Dự án “Tăng cường năng lực giáo dục dạy nghề cho các trại giam, trường giáo dưỡng”; phối hợp với Trung ương Hội Luật gia Việt Nam tổ chức phổ biến, giáo dục, tư vấn pháp luật, hỗ trợ cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù, người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; phối hợp với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc giáo dục phạm nhân trong độ tuổi thanh niên và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng. - Vận động, khuyến khích doanh nghiệp các tỉnh, thành phố tổ chức tư vấn nghề nghiệp và tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù vào làm việc tại các doanh nghiệp. Tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong đó có phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Như vậy, các đối tượng tái phạm tội sau khi được mãn hạn tù hoặc được ân xá, sẽ bị xử lý tăng nặng trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của Bộ luật hình sự. Tỉnh Bình Dương là địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, nên có nhiều điều kiện trong giải quyết việc làm, nhất là đối với lao động phổ thông, đề nghị cử tri kiến nghị với các cấp chính quyền, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh vận động các doanh nghiệp quan tâm tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù để giúp họ tái hòa nhập cộng đồng bền vững." } ], "id": "57", "is_impossible": false, "question": "Về đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng phạm tội nhiều lần sau khi được mãn hạn tù hoặc được ân xá" } ] } ], "title": "Về đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng phạm tội nhiều lần sau khi được mãn hạn tù hoặc được ân xá" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Những năm gần đây, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương, nhất là việc lợi dụng, núp bóng doanh nghiệp như: các hiệu cầm đồ, công ty tài chính, dịch vụ đáo nợ ngân hàng, công chứng… Trước tình hình đó, Bộ Công an đã và đang tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện tốt một số công tác trọng tâm sau: Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, nhất là quy định về giao dịch, vay mượn, huy động, sử dụng vốn an toàn cũng như phương thức, thủ đoạn của tội phạm liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” để giúp người dân chủ động phòng ngừa, tích cực tố giác tội phạm. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu dân cư bảo đảm an ninh, an toàn; không cầm cố tài sản với mục đích không rõ ràng; không trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động cho vay lãi nặng, “tín dụng đen”, lợi dụng kinh doanh dịch vụ cầm đồ để vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; rà soát, phát hiện, xử lý nghiêm các doanh nghiệp, cơ sở ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (đòi nợ, cầm đồ…) lừa đảo người dân dẫn đến vay nợ, cầm cố, siết nợ, đòi nợ thuê trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; tiếp tục thiết lập, tổ chức hoạt động của các đường dây “nóng”, hòm thư tố giác tội phạm để tiếp nhận, xử lý kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm. Mở các cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, triệt phá các tổ chức, các băng, nhóm tội phạm, đường dây lợi dụng hoạt động “tín dụng đen” để vi phạm pháp luật. Nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá các vụ án liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”; phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, đưa ra xét xử công khai, lưu động để răn đe, phòng ngừa chung. Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, đề xuất Chính phủ, Quốc hội bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”, nhất là phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay nặng lãi và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 185, "text": "các hiệu cầm đồ, công ty tài chính, dịch vụ đáo nợ ngân hàng, công chứng… Trước tình hình đó, Bộ Công an đã và đang tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện tốt một số công tác trọng tâm sau: Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, nhất là quy định về giao dịch, vay mượn, huy động, sử dụng vốn an toàn cũng như phương thức, thủ đoạn của tội phạm liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” để giúp người dân chủ động phòng ngừa, tích cực tố giác tội phạm. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu dân cư bảo đảm an ninh, an toàn; không cầm cố tài sản với mục đích không rõ ràng; không trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động cho vay lãi nặng, “tín dụng đen”, lợi dụng kinh doanh dịch vụ cầm đồ để vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; rà soát, phát hiện, xử lý nghiêm các doanh nghiệp, cơ sở ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (đòi nợ, cầm đồ…) lừa đảo người dân dẫn đến vay nợ, cầm cố, siết nợ, đòi nợ thuê trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; tiếp tục thiết lập, tổ chức hoạt động của các đường dây “nóng”, hòm thư tố giác tội phạm để tiếp nhận, xử lý kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm. Mở các cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, triệt phá các tổ chức, các băng, nhóm tội phạm, đường dây lợi dụng hoạt động “tín dụng đen” để vi phạm pháp luật. Nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá các vụ án liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”; phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, đưa ra xét xử công khai, lưu động để răn đe, phòng ngừa chung. Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, đề xuất Chính phủ, Quốc hội bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”, nhất là phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay nặng lãi và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan." } ], "id": "58", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về hoạt động ''tín dụng đen''" } ] } ], "title": "Kiến nghị về hoạt động ''tín dụng đen''" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Về đề nghị có giải pháp ngăn chặn tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, được Chính phủ và Bộ Công an quan tâm tập trung chỉ đạo quyết liệt. Công an các cấp đều bố trí lực lượng chuyên trách thực hiện công tác này. Tuy nhiên, tình hình hoạt động của tội phạm mua bán người, nhất là phụ nữ, trẻ em vẫn diễn biến phức tạp, xu hướng tăng, tính chất, quy mô và thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức chặt chẽ, xuyên quốc gia và quốc tế. Trong 6 tháng đầu năm 2013, trên cả nước xảy ra 227 vụ, lừa bán 451 nạn nhân (tăng 0,44% số vụ, 3,81% số nạn nhân so với cùng kỳ năm 2012). Thời gian gần đây, xuất hiện tình trạng mua bán trẻ sơ sinh tại TP. Hồ Chí Minh (các bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương…), mua bán người tại các tỉnh Nam Bộ (Tây Ninh, Bình Phước…), gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Nguyên nhân của tình hình trên chủ yếu là do sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể nhiều nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa đồng đều; các biện pháp phòng ngừa xã hội hiệu quả thấp; công tác truyền thông, phổ biến và giáo dục pháp luật về phòng, chống mua bán người còn dàn trải và hình thức, chưa tập trung; công tác tiếp nhận, xác minh và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về còn chậm, chủ yếu hỗ trợ nạn nhân thông qua giải cứu hoặc trao trả; hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập; phong trào toàn dân phòng, chống tội phạm mua bán người ở cơ sở chưa rộng khắp…Bên cạnh đó ý thức tự bảo vệ của một bộ phận người dân chưa được coi trọng, một bộ phận không nhỏ người dân chủ quan để các đối tượng lợi dụng sơ hở thực hiện hành vi phạm tội… Trước tình hình đó, với vai trò là Cơ quan Thường trực Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương đẩy mạnh thực hiện Chương trình 130/CP, gắn với các mặt công tác nghiệp vụ nhằm tăng cường phòng ngừa, phát hiện đấu tranh với tội phạm mua bán người. Đồng thời, tổ chức giải cứu, tiếp nhận, phối hợp hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về như trợ cấp khó khăn, học nghề, tạo việc làm, khám chữa bệnh... Thời gian tới, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động mua bán phụ nữ và trẻ em. Bộ Công chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện tốt các công tác sau: - Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền các cấp tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37/2012/QH13, ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tội phạm và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy; phòng, chống mua bán người, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng. - Chủ động báo cáo cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành, đoàn thể, cơ quan thông tin truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân, tăng cường cảnh giác phòng ngừa và tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Phối hợp các cơ quan truyền thông tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm; kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt, điển hình trong phòng, chống tội phạm mua bán người. - Tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện và xử lý triệt để các trung tâm môi giới trái pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, xuất khẩu lao động, cho nhận con nuôi nhằm hoạt động mua bán người. Tăng cường công tác quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu, khắc phục những sơ hở trong quản lý người nước ngoài, quản lý nhân hộ khẩu, quản lý dịch vụ Internet... không để đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội mua bán người. - Triển khai có hiệu quả các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm mua bán người, trọng tâm là tuyến biên giới Việt Nam- Trung Quốc, Việt Nam- Cam-pu-chia. Tập trung đấu tranh, làm rõ các vụ án mua bán người, đặc biệt là các vụ án có tổ chức, xuyên quốc gia; truy bắt đối tượng phạm tội, nhất là đối tượng chủ mưu, cầm đầu, đảm bảo mọi hành vi phạm tội mua bán người đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh. Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp khẩn trương điều tra, làm rõ các vụ án mua bán người đã xảy ra đưa ra xét xử công khai, lưu động để tuyên truyền, giáo dục, răn đe các đối tượng phạm tội khác. - Tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ quan thực thi pháp luật, lực lượng cảnh sát các nước trong đó tập trung thông qua kênh hợp tác Interpol, ASEANAPOL trong công tác phòng, chống tội phạm mua bán người. Các địa phương có đường biên giới duy trì giao ban, gặp gỡ, đàm phán, thiết lập đường dây “nóng” với các đơn vị, địa phương của các nước láng giềng nhằm chủ động trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, truy bắt tội phạm, giải cứu, tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về; tổ chức các diễn đàn truyền thông chung về phòng, chống mua bán người. 2. Về đề nghị tăng cường các biện pháp giải quyết triệt để nạn lâm tặc Trong những năm qua, công tác bảo vệ rừng đã được Chính phủ, các bộ, ngành, cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp ở địa phương quan tâm chỉ đạo. Một số biện pháp cấp bách để bảo vệ rừng đã được triển khai quyết liệt, nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng được tăng cường; sự phối hợp giữa các lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm được đẩy mạnh, đã mở nhiều đợt truy quét để phát hiện, xử lý tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái pháp luật. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phổ biến, ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; xuất hiện nhiều điểm nóng về khai thác rừng trái pháp luật gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Nguyên nhân của vi phạm quy định về bảo vệ và phát triển rừng trong những năm qua chủ yếu là do: (1) Sơ hở trong thực hiện các chính sách bảo vệ, phát triển rừng; chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; thực hiện các dự án phát triển rừng, chế biến lâm sản; việc mở rộng sản xuất, chế biến, xuất khẩu lâm sản; xây dựng ồ ạt các công trình thủy điện vừa và nhỏ trong thời gian qua là những nguyên nhân làm suy kiệt tài nguyên rừng và tạo sơ hở cho lâm tặc lợi dụng để vi phạm. (2) Người dân phá rừng ở những vùng đất tốt để lấy đất trồng cây nông sản, cây công nghiệp, sau đó sang nhượng đất trái pháp luật. Một bộ phận khác phá rừng lấy gỗ phục vụ nhu cầu sinh hoạt. (3) Hoạt động phá rừng do các băng nhóm có tổ chức để khai thác các loại gỗ tốt, gỗ quý hiếm, có giá trị thương mại cao để buôn bán trái pháp luật. (4) Hiệu quả công tác phòng, chống lâm tặc còn nhiều hạn chế. Để ngăn chặn tình trạng trên, trong thời gian tới, Bộ Công an đề xuất với Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành một số giải pháp sau: - Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý giám sát, chính sách bảo vệ, phát triển rừng; chính sách an sinh cho đồng bào trong khu vực có rừng, vùng lõi, vùng đệm. - Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý, thực thi pháp luật trong công tác quy hoạch, phát triển, giám sát, bảo vệ rừng. Quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp thực hiện các dự án phát triển, trồng rừng, thủy điện, giao thông, chế biến lâm sản… không để sơ hở, thiếu sót cho lâm tặc lợi dụng hoạt động. - Xây dựng cơ chế cân bằng giữa khai thác, sử dụng và phát triển rừng hợp lý, tránh tình trạng suy kiệt tài nguyên rừng. - Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng, sự quan trọng của rừng đối với môi trường và cuộc sống của con người. Vận động chính quyền, già làng trưởng bản, những người có uy tín cũng như nhân dân tại những địa phương có rừng nâng cao ý thức bảo vệ rừng và tố giác tội phạm; vận động những đối tượng chuyên làm thuê cho các đầu nậu từ bỏ công việc làm thuê. Đối với Bộ Công an, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ nghiên cứu xây dựng đơn vị chuyên trách phòng, chống tội phạm về bảo vệ rừng, đủ năng lực để thực thi có hiệu quả công tác đấu tranh với các loại tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng; tổ chức điều tra, xử lý, triệt phá các đường dây, băng, nhóm, các đầu nậu khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh lâm sản trái pháp luật; kiên quyết điều tra xử lý nghiêm các vụ chống lại lực lượng bảo vệ rừng; tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng như Quân đội, Kiểm lâm, Thuế vụ, Hải quan và chính quyền các cấp để xử lý nghiêm các cán bộ quản lý tham nhũng, tiêu cực, làm ngơ, tiếp tay cho các hoạt động vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. 3. Về đề nghị có giải pháp ngăn chặn nạn đinh tặc Năm 2011, trước tình trạng ở một số địa phương (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Hà Nội, Hà Nam…) nổi lên hoạt động của các đối tượng có hành vi tự chế và rải đinh, vật kim loại sắc nhọn trên các tuyến giao thông trọng điểm nhằm làm hư hỏng các phương tiện tham gia giao thông để bắt chẹt, chiếm đoạt tài sản của người đi đường dưới hình thức sửa chữa, thay thế phụ tùng với giá cao hơn nhiều lần so với giá thông thường, bất chấp việc gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe và gây khó khăn, cản trở hoạt động hoạt động giao thông của người dân; Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân, cảnh giác phòng ngừa và tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống nạn đinh tặc. Đồng thời, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, kiên quyết đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm. Vì vậy, cơ bản đã ngăn chặn được nạn rải đinh, vật sắc nhọn trên các tuyến giao thông. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình hoạt động rải đinh trên các tuyến giao thông xuất hiện phức tạp trở lại ở một số địa phương (TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Cần Thơ, Đồng Nai, Hà Nội, Bắc Ninh…). Bộ Công an đang tiếp tục chỉ đạo lực lượng Công an phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia tố giác, cung cấp thông tin về các đối tượng có hành vi rải đinh, vật sắc nhọn trên đường; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, tuần tra kiểm soát, phát hiện các đối tượng có hành vi vi phạm, củng cố tài liệu, chứng cứ, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân đưa ra truy tố, xét xử điểm một số vụ để răn đe và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng này. Thời gian tới, trong quá trình tham gia xây dựng Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thay thế Nghị định 34/NĐ-CP và Nghị định 71/NĐ-CP; Bộ Công an sẽ kiến nghị, đề xuất mức xử phạt nghiêm khắc, phù hợp đối với các hành vi rải đinh, vật kim loại sắc nhọn trên các tuyến giao thông gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2364, "text": "- Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền các cấp tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37/2012/QH13, ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tội phạm và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy; phòng, chống mua bán người, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng. - Chủ động báo cáo cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành, đoàn thể, cơ quan thông tin truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân, tăng cường cảnh giác phòng ngừa và tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Phối hợp các cơ quan truyền thông tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm; kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt, điển hình trong phòng, chống tội phạm mua bán người. - Tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện và xử lý triệt để các trung tâm môi giới trái pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, xuất khẩu lao động, cho nhận con nuôi nhằm hoạt động mua bán người. Tăng cường công tác quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu, khắc phục những sơ hở trong quản lý người nước ngoài, quản lý nhân hộ khẩu, quản lý dịch vụ Internet... không để đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội mua bán người. - Triển khai có hiệu quả các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm mua bán người, trọng tâm là tuyến biên giới Việt Nam- Trung Quốc, Việt Nam- Cam-pu-chia. Tập trung đấu tranh, làm rõ các vụ án mua bán người, đặc biệt là các vụ án có tổ chức, xuyên quốc gia; truy bắt đối tượng phạm tội, nhất là đối tượng chủ mưu, cầm đầu, đảm bảo mọi hành vi phạm tội mua bán người đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh. Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp khẩn trương điều tra, làm rõ các vụ án mua bán người đã xảy ra đưa ra xét xử công khai, lưu động để tuyên truyền, giáo dục, răn đe các đối tượng phạm tội khác. - Tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ quan thực thi pháp luật, lực lượng cảnh sát các nước trong đó tập trung thông qua kênh hợp tác Interpol, ASEANAPOL trong công tác phòng, chống tội phạm mua bán người. Các địa phương có đường biên giới duy trì giao ban, gặp gỡ, đàm phán, thiết lập đường dây “nóng” với các đơn vị, địa phương của các nước láng giềng nhằm chủ động trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, truy bắt tội phạm, giải cứu, tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về; tổ chức các diễn đàn truyền thông chung về phòng, chống mua bán người. 2. Về đề nghị tăng cường các biện pháp giải quyết triệt để nạn lâm tặc Trong những năm qua, công tác bảo vệ rừng đã được Chính phủ, các bộ, ngành, cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp ở địa phương quan tâm chỉ đạo. Một số biện pháp cấp bách để bảo vệ rừng đã được triển khai quyết liệt, nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng được tăng cường; sự phối hợp giữa các lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm được đẩy mạnh, đã mở nhiều đợt truy quét để phát hiện, xử lý tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái pháp luật. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phổ biến, ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; xuất hiện nhiều điểm nóng về khai thác rừng trái pháp luật gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Nguyên nhân của vi phạm quy định về bảo vệ và phát triển rừng trong những năm qua chủ yếu là do: (1) Sơ hở trong thực hiện các chính sách bảo vệ, phát triển rừng; chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; thực hiện các dự án phát triển rừng, chế biến lâm sản; việc mở rộng sản xuất, chế biến, xuất khẩu lâm sản; xây dựng ồ ạt các công trình thủy điện vừa và nhỏ trong thời gian qua là những nguyên nhân làm suy kiệt tài nguyên rừng và tạo sơ hở cho lâm tặc lợi dụng để vi phạm. (2) Người dân phá rừng ở những vùng đất tốt để lấy đất trồng cây nông sản, cây công nghiệp, sau đó sang nhượng đất trái pháp luật. Một bộ phận khác phá rừng lấy gỗ phục vụ nhu cầu sinh hoạt. (3) Hoạt động phá rừng do các băng nhóm có tổ chức để khai thác các loại gỗ tốt, gỗ quý hiếm, có giá trị thương mại cao để buôn bán trái pháp luật. (4) Hiệu quả công tác phòng, chống lâm tặc còn nhiều hạn chế. Để ngăn chặn tình trạng trên, trong thời gian tới, Bộ Công an đề xuất với Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành một số giải pháp sau: - Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý giám sát, chính sách bảo vệ, phát triển rừng; chính sách an sinh cho đồng bào trong khu vực có rừng, vùng lõi, vùng đệm. - Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý, thực thi pháp luật trong công tác quy hoạch, phát triển, giám sát, bảo vệ rừng. Quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp thực hiện các dự án phát triển, trồng rừng, thủy điện, giao thông, chế biến lâm sản… không để sơ hở, thiếu sót cho lâm tặc lợi dụng hoạt động. - Xây dựng cơ chế cân bằng giữa khai thác, sử dụng và phát triển rừng hợp lý, tránh tình trạng suy kiệt tài nguyên rừng. - Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng, sự quan trọng của rừng đối với môi trường và cuộc sống của con người. Vận động chính quyền, già làng trưởng bản, những người có uy tín cũng như nhân dân tại những địa phương có rừng nâng cao ý thức bảo vệ rừng và tố giác tội phạm; vận động những đối tượng chuyên làm thuê cho các đầu nậu từ bỏ công việc làm thuê. Đối với Bộ Công an, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ nghiên cứu xây dựng đơn vị chuyên trách phòng, chống tội phạm về bảo vệ rừng, đủ năng lực để thực thi có hiệu quả công tác đấu tranh với các loại tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng; tổ chức điều tra, xử lý, triệt phá các đường dây, băng, nhóm, các đầu nậu khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh lâm sản trái pháp luật; kiên quyết điều tra xử lý nghiêm các vụ chống lại lực lượng bảo vệ rừng; tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng như Quân đội, Kiểm lâm, Thuế vụ, Hải quan và chính quyền các cấp để xử lý nghiêm các cán bộ quản lý tham nhũng, tiêu cực, làm ngơ, tiếp tay cho các hoạt động vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. 3. Về đề nghị có giải pháp ngăn chặn nạn đinh tặc Năm 2011, trước tình trạng ở một số địa phương (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Hà Nội, Hà Nam…) nổi lên hoạt động của các đối tượng có hành vi tự chế và rải đinh, vật kim loại sắc nhọn trên các tuyến giao thông trọng điểm nhằm làm hư hỏng các phương tiện tham gia giao thông để bắt chẹt, chiếm đoạt tài sản của người đi đường dưới hình thức sửa chữa, thay thế phụ tùng với giá cao hơn nhiều lần so với giá thông thường, bất chấp việc gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe và gây khó khăn, cản trở hoạt động hoạt động giao thông của người dân; Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân, cảnh giác phòng ngừa và tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống nạn đinh tặc. Đồng thời, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, kiên quyết đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm. Vì vậy, cơ bản đã ngăn chặn được nạn rải đinh, vật sắc nhọn trên các tuyến giao thông. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình hoạt động rải đinh trên các tuyến giao thông xuất hiện phức tạp trở lại ở một số địa phương (TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Cần Thơ, Đồng Nai, Hà Nội, Bắc Ninh…). Bộ Công an đang tiếp tục chỉ đạo lực lượng Công an phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia tố giác, cung cấp thông tin về các đối tượng có hành vi rải đinh, vật sắc nhọn trên đường; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, tuần tra kiểm soát, phát hiện các đối tượng có hành vi vi phạm, củng cố tài liệu, chứng cứ, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân đưa ra truy tố, xét xử điểm một số vụ để răn đe và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng này. Thời gian tới, trong quá trình tham gia xây dựng Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thay thế Nghị định 34/NĐ-CP và Nghị định 71/NĐ-CP; Bộ Công an sẽ kiến nghị, đề xuất mức xử phạt nghiêm khắc, phù hợp đối với các hành vi rải đinh, vật kim loại sắc nhọn trên các tuyến giao thông gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông." } ], "id": "59", "is_impossible": false, "question": "Ngăn chặn triệt để tình trạng buôn bán trẻ em, phụ nữ..." } ] } ], "title": "Ngăn chặn triệt để tình trạng buôn bán trẻ em, phụ nữ..." }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, lực lượng Công an đã tập trung tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phòng, chống tội phạm, liên tục triển khai các chương trình, kế hoạch, biện pháp tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, kiềm chế gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội. Năm 2014, lực lượng Công an đã phát hiện, khởi tố, điều tra 77.913 vụ án, tăng 2%, trong đó tội phạm trộm cắp tài sản là 25.449 vụ, tăng 3,08%, tội phạm mua bán người là 220 vụ, tăng 10% so với năm 2013; tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm về trật tự xã hội đạt 77,3%, tăng 1,34%; đã triệt phá 4.904 băng nhóm tội phạm, trong đó, có 161 băng nhóm nguy hiểm, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng, nhất là tội phạm sử dụng “vũ khí nóng”, tội phạm hoạt động theo băng, nhóm, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mua bán người, tội phạm trộm cắp tài sản, tội phạm ma túy... Nguyên nhân chủ yếu là: (1) Tình hình kinh tế còn khó khăn, kéo theo nhiều người lao động mất việc làm tạo áp lực lớn đến các vấn đề xã hội. (2) Đạo đức trong gia đình, nhà trường, xã hội, lối sống thực dụng, hưởng thụ, chạy theo lợi ích vật chất, nhất là trong thanh, thiếu niên rất đáng lo ngại. (3) Tác động tiêu cực của ấn phẩm đồi trụy, trò chơi trực tuyến trên mạng Internet (game online) đối với thanh, thiếu niên đang trong độ tuổi phát triển về nhận thức, tâm, sinh lý chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. (4) Số người nghiện ma túy tổng hợp có chiều hướng tăng và diễn biến phức tạp, nhất là ở địa bàn các thành phố lớn, tiềm ẩn nhiều yếu tố làm nảy sinh tội phạm (cả nước hiện có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý). (5) Công tác phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ còn hạn chế, tỷ lệ khám phá tội phạm trộm cắp tài sản chưa cao. (6) Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa được duy trì thường xuyên. (7) Ý thức cảnh giác của nhiều người dân còn hạn chế, chủ quan, sơ hở bị tội phạm lợi dụng. (8) Công tác quản lý Internet nói chung và các trang mạng xã hội nói riêng còn bất cập; các mạng xã hội hiện nay chủ yếu có máy chủ đặt tại nước ngoài, dẫn đến khó khăn trong xác định cụ thể đối tượng phạm tội. (9) Hệ thống các văn bản pháp luật còn có những bất cập, nhất là các quy định liên quan đến xử lý tình trạng vay nợ, “tín dụng đen” trong nhân dân, quản lý người nghiện ma túy, việc xử lý đối tượng sử dụng công nghệ cao phạm tội. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện một số công tác trọng tâm sau: (1) Tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự. Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cơ quan Công an đối với công tác này. (2) Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và cảnh giác trong nhân dân đối với tội phạm trộm cắp tài sản, tội phạm lừa đảo qua mạng xã hội, tội phạm mua bán người; vận động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm. (3) Tăng cường triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa đối với các loại tội phạm, nhất là đối với các băng, nhóm tội phạm, tội phạm trộm cắp tài sản, tội phạm lừa đảo qua mạng xã hội, tội phạm ma túy, tội phạm mua bán người; quản lý chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ... Đẩy mạnh công tác lập hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc, trường giáo dưỡng và đưa vào diện giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. (4) Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước đối với Internet. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để chủ động phòng ngừa, phối hợp xử lý tội phạm mạng có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế qua Inernet. (5) Tăng cường công tác kiểm tra, thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong nhân dân; phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tàng trữ, buôn bán, sản xuất trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. (6) Tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; thiết lập và duy trì hoạt động của các đường dây “nóng” (điện thoại, email), hòm thư tố giác tội phạm để tiếp nhận, xử lý kịp thời mọi thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm, nhất là hoạt động của các băng, nhóm tội phạm. (7) Liên tục triển khai các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung trấn áp các băng, nhóm tội phạm nguy hiểm, hoạt động đâm thuê, chém mướn, tội phạm sử dụng vũ khí gây án, giết người, cướp, cướp giật tài sản, tội phạm ma túy... ở các thành phố lớn, các tuyến, địa bàn trọng điểm, không để tội phạm gia tăng, không để tội phạm lộng hành. (8) Phối hợp chặt chẽ với các ngành tư pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nhất là đối với các vụ án về tội phạm hoạt động theo băng, nhóm, sử dụng “vũ khí nóng”, hung khí gây án, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ma túy, tội phạm mua bán người; tổ chức xét xử kịp thời các vụ án điểm nhằm răn đe tội phạm. (9) Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trọng tâm là xây dựng dự án Luật Phòng, chống tội phạm có tổ chức, Luật Truy nã tội phạm; phối hợp xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính...", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1213, "text": "(1) Tình hình kinh tế còn khó khăn, kéo theo nhiều người lao động mất việc làm tạo áp lực lớn đến các vấn đề xã hội. (2) Đạo đức trong gia đình, nhà trường, xã hội, lối sống thực dụng, hưởng thụ, chạy theo lợi ích vật chất, nhất là trong thanh, thiếu niên rất đáng lo ngại. (3) Tác động tiêu cực của ấn phẩm đồi trụy, trò chơi trực tuyến trên mạng Internet (game online) đối với thanh, thiếu niên đang trong độ tuổi phát triển về nhận thức, tâm, sinh lý chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. (4) Số người nghiện ma túy tổng hợp có chiều hướng tăng và diễn biến phức tạp, nhất là ở địa bàn các thành phố lớn, tiềm ẩn nhiều yếu tố làm nảy sinh tội phạm (cả nước hiện có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý). (5) Công tác phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ còn hạn chế, tỷ lệ khám phá tội phạm trộm cắp tài sản chưa cao. (6) Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa được duy trì thường xuyên. (7) Ý thức cảnh giác của nhiều người dân còn hạn chế, chủ quan, sơ hở bị tội phạm lợi dụng. (8) Công tác quản lý Internet nói chung và các trang mạng xã hội nói riêng còn bất cập; các mạng xã hội hiện nay chủ yếu có máy chủ đặt tại nước ngoài, dẫn đến khó khăn trong xác định cụ thể đối tượng phạm tội. (9) Hệ thống các văn bản pháp luật còn có những bất cập, nhất là các quy định liên quan đến xử lý tình trạng vay nợ, “tín dụng đen” trong nhân dân, quản lý người nghiện ma túy, việc xử lý đối tượng sử dụng công nghệ cao phạm tội. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện một số công tác trọng tâm sau: (1) Tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự. Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cơ quan Công an đối với công tác này. (2) Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và cảnh giác trong nhân dân đối với tội phạm trộm cắp tài sản, tội phạm lừa đảo qua mạng xã hội, tội phạm mua bán người; vận động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm. (3) Tăng cường triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa đối với các loại tội phạm, nhất là đối với các băng, nhóm tội phạm, tội phạm trộm cắp tài sản, tội phạm lừa đảo qua mạng xã hội, tội phạm ma túy, tội phạm mua bán người; quản lý chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ... Đẩy mạnh công tác lập hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc, trường giáo dưỡng và đưa vào diện giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. (4) Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước đối với Internet. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để chủ động phòng ngừa, phối hợp xử lý tội phạm mạng có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế qua Inernet. (5) Tăng cường công tác kiểm tra, thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong nhân dân; phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tàng trữ, buôn bán, sản xuất trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. (6) Tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; thiết lập và duy trì hoạt động của các đường dây “nóng” (điện thoại, email), hòm thư tố giác tội phạm để tiếp nhận, xử lý kịp thời mọi thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm, nhất là hoạt động của các băng, nhóm tội phạm. (7) Liên tục triển khai các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung trấn áp các băng, nhóm tội phạm nguy hiểm, hoạt động đâm thuê, chém mướn, tội phạm sử dụng vũ khí gây án, giết người, cướp, cướp giật tài sản, tội phạm ma túy... ở các thành phố lớn, các tuyến, địa bàn trọng điểm, không để tội phạm gia tăng, không để tội phạm lộng hành. (8) Phối hợp chặt chẽ với các ngành tư pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nhất là đối với các vụ án về tội phạm hoạt động theo băng, nhóm, sử dụng “vũ khí nóng”, hung khí gây án, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ma túy, tội phạm mua bán người; tổ chức xét xử kịp thời các vụ án điểm nhằm răn đe tội phạm. (9) Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trọng tâm là xây dựng dự án Luật Phòng, chống tội phạm có tổ chức, Luật Truy nã tội phạm; phối hợp xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính..." } ], "id": "60", "is_impossible": false, "question": "Về đề xuất tăng cường các biện pháp xử lý nghiêm các loại tội phạm" } ] } ], "title": "Về đề xuất tăng cường các biện pháp xử lý nghiêm các loại tội phạm" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013; tại Điều 92, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng dưới 16 tuổi bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cụ thể: -Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiệm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự. -Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật Hình sự. -Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. -Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây: -Người không có năng lực trách nhiệm hành chính. -Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện. -Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Không áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: -Người không có năng lực trách nhiệm hành chính. -Người chưa đủ 18 tuổi. -Nữ trên 55 tuổi; Nam trên 60 tuổi. -Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện. -Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 255, "text": "-Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiệm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự. -Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật Hình sự. -Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. -Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây: -Người không có năng lực trách nhiệm hành chính. -Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện. -Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Không áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: -Người không có năng lực trách nhiệm hành chính. -Người chưa đủ 18 tuổi. -Nữ trên 55 tuổi; Nam trên 60 tuổi. -Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện. -Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận." } ], "id": "61", "is_impossible": false, "question": "Người dưới 16 tuổi trong những trường hợp nào thì đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng của Bộ Công an" } ] } ], "title": "Người dưới 16 tuổi trong những trường hợp nào thì đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng của Bộ Công an" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Điều 44 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định: “Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án. Mỗi phân trại giam được thành lập thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống loa truyền thanh, mỗi buồng giam tập thể được trang bị một máy vô tuyến truyền hình màu”. Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, ngày 15/12/2011 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT, ngày 06/2/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quy định và hướng dẫn rất cụ thể việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân. Như vậy, phạm nhân mặc dù bị hạn chế một số quyền của công dân, nhưng họ vẫn được hưởng thụ các giá trị văn hóa, tinh thần phù hợp, theo quy định của pháp luật. Thực hiện các quy định của pháp luật, Bộ Công an đã chỉ đạo các Trại giam thực hiện công tác quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân, trong đó quan tâm tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân. Hằng ngày, ngoài giờ lao động và trong các ngày nghỉ chủ nhật, ngày lễ, tết, phạm nhân đều được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện Trại giam. Hàng ngày, cứ 30 phạm nhân được cấp phát 01 tờ báo Nhân dân; mỗi phân trại trong Trại giam, khu giam giữ phạm nhân có trang bị 01 hệ thống loa truyền thanh; mỗi buồng giam dưới 30 phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu từ 21 inch trở lên; buồng giam có từ trên 30 phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu trên 29 inch. Một số Trại giam có điều kiện đã trang bị hệ thống truyền hình cáp nội bộ để kết hợp thông tin, tuyên truyền trong nội bộ và cho phạm nhân xem video, phim ảnh. Hoạt động sáng tác, thi báo tường, biểu diễn văn nghệ của phạm nhân được tổ chức thường xuyên. Nhiều Trại giam đã mời các đoàn ca nhạc, kịch, cải lương của Trung ương và địa phương đến biểu diễn cho phạm nhân xem. Đặc biệt, trong những năm qua, Bộ Công an đã chỉ đạo các Trại giam tổ chức thành công nhiều hội thi như: “Hội diễn tiếng hát tình đời phạm nhân lần thứ II”, cuộc thi viết “Sự hối hận và niềm tin hướng thiện, cuộc thi vẽ tranh “Khát vọng hoàn lương”... được đông đảo phạm nhân tham gia, dư luận xã hội quan tâm và đánh giá cao về giá trị nhân văn, tính nghệ thuật và tác dụng giáo dục, hướng thiện đối với phạm nhân. Các Trại giam đều duy trì tốt việc cho phạm nhân tập thể dục buổi sáng, thể thao buổi chiều. Như vậy, có thể nói đời sống văn hóa, tinh thần của phạm nhân trong Trại giam đã được quan tâm đáng kể, góp phần tạo môi trường giáo dục, nghiêm túc, động viên phạm nhân yên tâm lao động, học tập, cải tạo tiến bộ để trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, do yêu cầu của công tác giam giữ và điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí còn hạn chế, việc đảm bảo các nhu cầu hưởng thụ và hoạt động văn hóa, tinh thần của phạm nhân còn gặp không ít khó khăn.Để thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho phạm nhân, thời gian tới, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các Trại giam triển khai thực hiện một số giái pháp như sau:- Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, Nghị định số 117/2011/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT về hướng dẫn việc tổ chức giáo dục, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân.- Tăng cường đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở giam giữ, trong đó, quan tâm đến các hạng mục công trình phục vụ tổ chức các hoạt động văn hóa, như: nhà học tập tập trung, thư viện, khu thể thao, vui chơi giải trí cho phạm nhân. Kịp thời trang bị, bổ sung các phương tiện, dụng cụ phục vụ cho hoạt động văn hóa, thể thao, nghe nhìn, nhất là hệ thống truyền thanh, truyền hình, sách báo thư viện cho phạm nhân.- Đẩy mạnh các hoạt động sáng tác văn học, biểu diễn văn nghệ trong phạm nhân, tạo sân chơi bổ ích và phát huy những khả năng sẵn có của phạm nhân vào công tác giáo dục và tự giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cải tạo phạm nhân.- Chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giao lưu, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, thể thao với phạm nhân. Đẩy mạnh việc phối hợp giữa Trại giam với thư viện các cấp để có thêm sách báo cho phạm nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 52, "text": "“Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án. Mỗi phân trại giam được thành lập thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống loa truyền thanh, mỗi buồng giam tập thể được trang bị một máy vô tuyến truyền hình màu”. Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, ngày 15/12/2011 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT, ngày 06/2/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quy định và hướng dẫn rất cụ thể việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân. Như vậy, phạm nhân mặc dù bị hạn chế một số quyền của công dân, nhưng họ vẫn được hưởng thụ các giá trị văn hóa, tinh thần phù hợp, theo quy định của pháp luật. Thực hiện các quy định của pháp luật, Bộ Công an đã chỉ đạo các Trại giam thực hiện công tác quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân, trong đó quan tâm tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân. Hằng ngày, ngoài giờ lao động và trong các ngày nghỉ chủ nhật, ngày lễ, tết, phạm nhân đều được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện Trại giam. Hàng ngày, cứ 30 phạm nhân được cấp phát 01 tờ báo Nhân dân; mỗi phân trại trong Trại giam, khu giam giữ phạm nhân có trang bị 01 hệ thống loa truyền thanh; mỗi buồng giam dưới 30 phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu từ 21 inch trở lên; buồng giam có từ trên 30 phạm nhân được trang bị 01 máy vô tuyến truyền hình màu trên 29 inch. Một số Trại giam có điều kiện đã trang bị hệ thống truyền hình cáp nội bộ để kết hợp thông tin, tuyên truyền trong nội bộ và cho phạm nhân xem video, phim ảnh. Hoạt động sáng tác, thi báo tường, biểu diễn văn nghệ của phạm nhân được tổ chức thường xuyên. Nhiều Trại giam đã mời các đoàn ca nhạc, kịch, cải lương của Trung ương và địa phương đến biểu diễn cho phạm nhân xem. Đặc biệt, trong những năm qua, Bộ Công an đã chỉ đạo các Trại giam tổ chức thành công nhiều hội thi như: “Hội diễn tiếng hát tình đời phạm nhân lần thứ II”, cuộc thi viết “Sự hối hận và niềm tin hướng thiện, cuộc thi vẽ tranh “Khát vọng hoàn lương”... được đông đảo phạm nhân tham gia, dư luận xã hội quan tâm và đánh giá cao về giá trị nhân văn, tính nghệ thuật và tác dụng giáo dục, hướng thiện đối với phạm nhân. Các Trại giam đều duy trì tốt việc cho phạm nhân tập thể dục buổi sáng, thể thao buổi chiều. Như vậy, có thể nói đời sống văn hóa, tinh thần của phạm nhân trong Trại giam đã được quan tâm đáng kể, góp phần tạo môi trường giáo dục, nghiêm túc, động viên phạm nhân yên tâm lao động, học tập, cải tạo tiến bộ để trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, do yêu cầu của công tác giam giữ và điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí còn hạn chế, việc đảm bảo các nhu cầu hưởng thụ và hoạt động văn hóa, tinh thần của phạm nhân còn gặp không ít khó khăn.Để thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho phạm nhân, thời gian tới, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo các Trại giam triển khai thực hiện một số giái pháp như sau:- Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, Nghị định số 117/2011/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT về hướng dẫn việc tổ chức giáo dục, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân.- Tăng cường đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở giam giữ, trong đó, quan tâm đến các hạng mục công trình phục vụ tổ chức các hoạt động văn hóa, như: nhà học tập tập trung, thư viện, khu thể thao, vui chơi giải trí cho phạm nhân. Kịp thời trang bị, bổ sung các phương tiện, dụng cụ phục vụ cho hoạt động văn hóa, thể thao, nghe nhìn, nhất là hệ thống truyền thanh, truyền hình, sách báo thư viện cho phạm nhân.- Đẩy mạnh các hoạt động sáng tác văn học, biểu diễn văn nghệ trong phạm nhân, tạo sân chơi bổ ích và phát huy những khả năng sẵn có của phạm nhân vào công tác giáo dục và tự giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cải tạo phạm nhân.- Chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giao lưu, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, thể thao với phạm nhân. Đẩy mạnh việc phối hợp giữa Trại giam với thư viện các cấp để có thêm sách báo cho phạm nhân." } ], "id": "62", "is_impossible": false, "question": "Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tại các trại giam" } ] } ], "title": "Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tại các trại giam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 30/6/2021, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN về đặc xá năm 2021. * Theo đó, tại Điều 4 quy định về các trường hợp không được đề nghị đặc xá như sau: Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự; 2. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự; 3. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; 4. Trước đó đã được đặc xá; 5. Có từ 02 tiền án trở lên; 6. Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm đối với người được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3; trên tám năm đối với người được quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 3 Quyết định này; 7. Bị kết án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này; 8. Phạm tội giết người có tổ chức; giết người có tính chất côn đồ; cố ý gây thương tích có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ hoặc phạm tội nhiều lần đối với một người hoặc một lần đối với nhiều người hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm có tính chất loạn luân; hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tính chất loạn luân hoặc hiếp dâm người dưới 10 tuổi; cướp tài sản có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; chống người thi hành công vụ có tổ chức hoặc phạm tội từ 02 lần trở lên hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên); 9. Phạm tội về ma túy hoặc tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối với người bị kết án phạt tù dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân; 10. Phạm một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý mà thời hạn tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 10 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân; 11. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án phạm tội có tổ chức; người dùng thủ đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức; người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; 12. Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma tuý; 13. Bị kết án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên hoặc phạm từ hai tội do cố ý trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt; 14. Có một tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội do cố ý; 15. Đã từng bị kết án phạt tù, kể cả trường hợp đã được xóa án tích hoặc đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, kể cả cơ sở giáo dục trước đây hoặc đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: Về ma tuý; giết người; hiếp dâm trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người dưới 16 tuổi hoặc đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cho vay lãi nặng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép. * Đối với đặc xá trong trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 5 như sau: Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 22, Điều 23 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 206, "text": "Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự; 2. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự; 3. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; 4. Trước đó đã được đặc xá; 5. Có từ 02 tiền án trở lên; 6. Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm đối với người được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3; trên tám năm đối với người được quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 3 Quyết định này; 7. Bị kết án phạt tù về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này; 8. Phạm tội giết người có tổ chức; giết người có tính chất côn đồ; cố ý gây thương tích có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ hoặc phạm tội nhiều lần đối với một người hoặc một lần đối với nhiều người hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm có tính chất loạn luân; hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tính chất loạn luân hoặc hiếp dâm người dưới 10 tuổi; cướp tài sản có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; chống người thi hành công vụ có tổ chức hoặc phạm tội từ 02 lần trở lên hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên); 9. Phạm tội về ma túy hoặc tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối với người bị kết án phạt tù dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân; 10. Phạm một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý mà thời hạn tù còn lại trên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 10 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân; 11. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án phạm tội có tổ chức; người dùng thủ đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức; người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; 12. Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma tuý; 13. Bị kết án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên hoặc phạm từ hai tội do cố ý trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt; 14. Có một tiền án mà lại bị kết án phạt tù về tội do cố ý; 15. Đã từng bị kết án phạt tù, kể cả trường hợp đã được xóa án tích hoặc đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, kể cả cơ sở giáo dục trước đây hoặc đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: Về ma tuý; giết người; hiếp dâm trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người dưới 16 tuổi hoặc đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cho vay lãi nặng (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép. * Đối với đặc xá trong trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 5 như sau: Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 22, Điều 23 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định." } ], "id": "63", "is_impossible": false, "question": "Những trường hợp nào không được đề nghị đặc xá?" } ] } ], "title": "Những trường hợp nào không được đề nghị đặc xá?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Khoản 2 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự quy định: “Khi gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư; tiền mặt, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục cấm…”. Như vậy, theo quy định trên thì khi gặp thân nhân phạm nhân mới được nhận thư. Tuy nhiên, để giúp phạm nhân nắm được các thông tin và những tâm tư, tình cảm của gia đình họ, hiện nay, các trại giam vẫn tạo điều kiện cho phạm nhân được nhận thư, gửi qua đường bưu điện. Vì vậy, để đáp ứng với thực tiễn, Bộ Công an đã xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự về việc phạm nhân được nhận thư do thân nhân gửi qua đường bưu điện. Trường hợp của bạn đọc Hương Anh, nếu thuộc thân nhân được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân thì được gửi thư cho cháu bạn là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù khi đến thăm gặp hoặc gửi qua thân nhân khác khi đến thăm gặp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 59, "text": "“Khi gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư; tiền mặt, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục cấm…”. Như vậy, theo quy định trên thì khi gặp thân nhân phạm nhân mới được nhận thư. Tuy nhiên, để giúp phạm nhân nắm được các thông tin và những tâm tư, tình cảm của gia đình họ, hiện nay, các trại giam vẫn tạo điều kiện cho phạm nhân được nhận thư, gửi qua đường bưu điện. Vì vậy, để đáp ứng với thực tiễn, Bộ Công an đã xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự về việc phạm nhân được nhận thư do thân nhân gửi qua đường bưu điện. Trường hợp của bạn đọc Hương Anh, nếu thuộc thân nhân được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân thì được gửi thư cho cháu bạn là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù khi đến thăm gặp hoặc gửi qua thân nhân khác khi đến thăm gặp." } ], "id": "64", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về quy định gửi thư cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù" } ] } ], "title": "Hỏi về quy định gửi thư cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, việc tổ chức cho phạm nhân lao động vừa là quyền lợi, nghĩa vụ, vừa là yêu cầu bắt buộc trong thời gian chấp hành án phạt tù, mục đích chính là giáo dục, cải tạo phạm nhân thông qua lao động, học nghề từng bước trau dồi hành vi, nhân cách, đồng thời sản xuất ra của cải vật chất, góp phần nâng cao đời sống, vật chất tinh thần cho phạm nhân, tạo điều kiện để phạm nhân sau khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng. Thời gian qua, việc truyền nghề, dạy nghề cho phạm nhân thông qua việc tổ chức cho phạm nhân lao động, học nghề được Bộ Công an rất quan tâm và chú trọng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức lao động, đào tạo nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, tăng cơ hội tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm, Bộ Công an tiếp tục thực hiện một số công tác trọng tâm sau: - Chỉ đạo Công an các địa phương chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đề ra các biện pháp, hình thức vận động các tổ chức kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư tham gia vào công tác tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân, nhất là việc tạo điều kiện cho phạm nhân học nghề, được truyền nghề, cấp chứng chỉ hành nghề, xin việc làm... - Tập trung nghiên cứu, xây dựng và đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân trong các trại giam trong giai đoạn tới. Nghiên cứu, từng bước xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp nhằm huy động tối đa các nguồn lực tham gia đào tạo nghề và định hướng bố trí sử dụng nguồn nhân lực số phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù được lao động, học tập nhằm ổn định cuộc sống. - Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương liên quan chủ động phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan (Thông tin, truyền thông, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội...) tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến và phối hợp tổ chức lao động, hướng nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, dạy nghề, trang bị kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, kỹ năng tìm kiếm việc làm ổn định đời sống cho phạm nhân, tránh tái phạm tội.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "Theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, việc tổ chức cho phạm nhân lao động vừa là quyền lợi, nghĩa vụ, vừa là yêu cầu bắt buộc trong thời gian chấp hành án phạt tù, mục đích chính là giáo dục, cải tạo phạm nhân thông qua lao động, học nghề từng bước trau dồi hành vi, nhân cách, đồng thời sản xuất ra của cải vật chất, góp phần nâng cao đời sống, vật chất tinh thần cho phạm nhân, tạo điều kiện để phạm nhân sau khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng. Thời gian qua, việc truyền nghề, dạy nghề cho phạm nhân thông qua việc tổ chức cho phạm nhân lao động, học nghề được Bộ Công an rất quan tâm và chú trọng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức lao động, đào tạo nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, tăng cơ hội tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm, Bộ Công an tiếp tục thực hiện một số công tác trọng tâm sau: - Chỉ đạo Công an các địa phương chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đề ra các biện pháp, hình thức vận động các tổ chức kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư tham gia vào công tác tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân, nhất là việc tạo điều kiện cho phạm nhân học nghề, được truyền nghề, cấp chứng chỉ hành nghề, xin việc làm... - Tập trung nghiên cứu, xây dựng và đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân trong các trại giam trong giai đoạn tới. Nghiên cứu, từng bước xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp nhằm huy động tối đa các nguồn lực tham gia đào tạo nghề và định hướng bố trí sử dụng nguồn nhân lực số phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù được lao động, học tập nhằm ổn định cuộc sống. - Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương liên quan chủ động phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan (Thông tin, truyền thông, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội...) tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến và phối hợp tổ chức lao động, hướng nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, dạy nghề, trang bị kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, kỹ năng tìm kiếm việc làm ổn định đời sống cho phạm nhân, tránh tái phạm tội." } ], "id": "65", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về việc xây dựng đề án cho phạm nhân được học nghề, truyền nghề trong quá trình cải tạo lao động sản xuất ở trại giam" } ] } ], "title": "Kiến nghị về việc xây dựng đề án cho phạm nhân được học nghề, truyền nghề trong quá trình cải tạo lao động sản xuất ở trại giam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Điều 1 Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam quy định:“…Một tháng không quá 03 lần người bị tạm giữ, tạm giam được nhận quà và đồ dùng sinh hoạt của gia đình, thân nhân gửi đến theo quy định; lượng quà không được vượt quá 03 lần tiêu chuẩn ăn hàng ngày mà nhà nước quy định cho mỗi người bị tạm giữ, tạm giam”. Khoản 2 Điều 22 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam quy định “Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định”. Đề nghị bạn Nguyễn Mỹ Huyền liên hệ với Trại tạm giam Công an tỉnh và cơ quan đang thụ lý vụ án để được giải quyết yêu cầu về thăm gặp và gửi quà cho người bị tạm giam.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 219, "text": "“…Một tháng không quá 03 lần người bị tạm giữ, tạm giam được nhận quà và đồ dùng sinh hoạt của gia đình, thân nhân gửi đến theo quy định; lượng quà không được vượt quá 03 lần tiêu chuẩn ăn hàng ngày mà nhà nước quy định cho mỗi người bị tạm giữ, tạm giam”. Khoản 2 Điều 22 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam quy định “Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định”. Đề nghị bạn Nguyễn Mỹ Huyền liên hệ với Trại tạm giam Công an tỉnh và cơ quan đang thụ lý vụ án để được giải quyết yêu cầu về thăm gặp và gửi quà cho người bị tạm giam." } ], "id": "66", "is_impossible": false, "question": "Quy định gặp thân nhân của người bị tạm giam" } ] } ], "title": "Quy định gặp thân nhân của người bị tạm giam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Việc quản lý người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 263 Bộ luật Tố tụng hình sự và Khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự. - Khoản 1 Điều 263 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cư trú hoặc làm việc quản lý. Họ không được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức quản lý họ”. - Khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự quy định: “Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.” Như vậy, căn cứ các quy định trên thì người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án về gia đình quản lý, chăm sóc, chữa bệnh phải chịu sự quản lý, giám sát của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi người đó về cư trú; người được tạm đình chỉ có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú, làm việc để khám bệnh thì việc xem xét, giải quyết thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi đến địa chỉ cư trú mới, người được tạm đình chỉ phải đăng ký tạm trú theo quy định. 2. Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi nơi khác khám bệnh mà không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã thì bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng theo Điểm a Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, như sau: “Phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đối với người được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đi khỏi nơi cư trú mà không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc không có mặt tại nơi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú sau khi hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.”", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 243, "text": "“Người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cư trú hoặc làm việc quản lý. Họ không được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức quản lý họ”. - Khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự quy định: “Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.” Như vậy, căn cứ các quy định trên thì người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án về gia đình quản lý, chăm sóc, chữa bệnh phải chịu sự quản lý, giám sát của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi người đó về cư trú; người được tạm đình chỉ có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú, làm việc để khám bệnh thì việc xem xét, giải quyết thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi đến địa chỉ cư trú mới, người được tạm đình chỉ phải đăng ký tạm trú theo quy định. 2. Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi nơi khác khám bệnh mà không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã thì bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng theo Điểm a Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, như sau: “Phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đối với người được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đi khỏi nơi cư trú mà không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc không có mặt tại nơi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú sau khi hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.”" } ], "id": "67", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi khỏi nơi cư trú" } ] } ], "title": "Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi khỏi nơi cư trú" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tha tù trước thời hạn có điều kiện và đặc xá có những điểm khác biệt sau: - Về thẩm quyền: Tha tù trước thời hạn có điều kiện do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh quyết định theo đề nghị của các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi quản lý phạm nhân. Đặc xá do Chủ tịch nước quyết định trên cơ sở đề nghị của Hội đồng tư vấn đặc xá do Chủ tịch nước quyết định thành lập. - Về đối tượng: Đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 66, Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối tượng được đặc xá là phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có đủ điều kiện theo quy định của Luật Đặc xá và Quyết định của Chủ tịch nước đối với từng đợt đặc xá. Ngoài phạm nhân đang chấp hành án thì người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cũng có thể được đặc xá trong trường hợp đặc biệt. - Về hậu quả pháp lý: Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa chấp hành xong bản án, chỉ thay đổi hình thức chấp hành án từ trong các cơ sở giam giữ sang quản lý tại cộng đồng dân cư trong thời gian còn lại của bản án (gọi là thời gian thử thách). Sau khi được tha ra khỏi cơ sở giam giữ, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã...) cho đến khi hết thời hạn chấp hành thời gian thử thách, họ sẽ được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Người được đặc xá đã chấp hành xong bản án (giống như người chấp hành xong án phạt tù) và chỉ phải chấp hành tiếp các hình phạt bổ sung theo bản án, quyết định thi hành án (nếu có).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 74, "text": "- Về thẩm quyền: Tha tù trước thời hạn có điều kiện do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh quyết định theo đề nghị của các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi quản lý phạm nhân. Đặc xá do Chủ tịch nước quyết định trên cơ sở đề nghị của Hội đồng tư vấn đặc xá do Chủ tịch nước quyết định thành lập. - Về đối tượng: Đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 66, Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối tượng được đặc xá là phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có đủ điều kiện theo quy định của Luật Đặc xá và Quyết định của Chủ tịch nước đối với từng đợt đặc xá. Ngoài phạm nhân đang chấp hành án thì người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cũng có thể được đặc xá trong trường hợp đặc biệt. - Về hậu quả pháp lý: Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện chưa chấp hành xong bản án, chỉ thay đổi hình thức chấp hành án từ trong các cơ sở giam giữ sang quản lý tại cộng đồng dân cư trong thời gian còn lại của bản án (gọi là thời gian thử thách). Sau khi được tha ra khỏi cơ sở giam giữ, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã...) cho đến khi hết thời hạn chấp hành thời gian thử thách, họ sẽ được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Người được đặc xá đã chấp hành xong bản án (giống như người chấp hành xong án phạt tù) và chỉ phải chấp hành tiếp các hình phạt bổ sung theo bản án, quyết định thi hành án (nếu có)." } ], "id": "68", "is_impossible": false, "question": "Điểm khác biệt giữa tha tù trước thời hạn có điều kiện và đặc xá" } ] } ], "title": "Điểm khác biệt giữa tha tù trước thời hạn có điều kiện và đặc xá" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định việc đưa người bị kết án phạt tù có quyết định thi hành án của tòa án đến nơi chấp hành án hoặc điều chuyển phạm nhân giữa các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ do Bộ Công an quản lý thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quản lý Thi hành án hình sự Bộ Công an. Hiện nay, pháp luật chưa quy định về việc đưa phạm nhân đến nơi chấp hành án theo nguyện vọng của cá nhân hoặc gia đình phạm nhân. Tuy nhiên, căn cứ yêu cầu quản lý, giam giữ, công tác giáo dục, dạy nghề đối với phạm nhân theo quy định của pháp luật và chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, Thủ trưởng Cơ quan Quản lý Thi hành án hình sự Bộ Công an có thể xem xét, đưa người bị kết án phạt tù đến nơi chấp hành án, điều chuyển phạm nhân giữa các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đối với một số trường hợp cá biệt như gia đình liệt sỹ, con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân phạm nhân là thương binh, có công với nước hoặc đã lập công giúp lực lượng Công an ngăn chặn, điều tra, khám phá tội phạm hoặc lập công lớn trong quá trình chấp hành án, bảo vệ an toàn trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, phạm nhân bị bệnh nặng do cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên kết luận trong hồ sơ bệnh án, những trường hợp này phạm nhân phải có đơn có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam, trưởng nhà giam giữ và gia đình phạm nhân phải có đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú./.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định việc đưa người bị kết án phạt tù có quyết định thi hành án của tòa án đến nơi chấp hành án hoặc điều chuyển phạm nhân giữa các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ do Bộ Công an quản lý thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quản lý Thi hành án hình sự Bộ Công an. Hiện nay, pháp luật chưa quy định về việc đưa phạm nhân đến nơi chấp hành án theo nguyện vọng của cá nhân hoặc gia đình phạm nhân. Tuy nhiên, căn cứ yêu cầu quản lý, giam giữ, công tác giáo dục, dạy nghề đối với phạm nhân theo quy định của pháp luật và chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, Thủ trưởng Cơ quan Quản lý Thi hành án hình sự Bộ Công an có thể xem xét, đưa người bị kết án phạt tù đến nơi chấp hành án, điều chuyển phạm nhân giữa các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đối với một số trường hợp cá biệt như gia đình liệt sỹ, con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân phạm nhân là thương binh, có công với nước hoặc đã lập công giúp lực lượng Công an ngăn chặn, điều tra, khám phá tội phạm hoặc lập công lớn trong quá trình chấp hành án, bảo vệ an toàn trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, phạm nhân bị bệnh nặng do cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên kết luận trong hồ sơ bệnh án, những trường hợp này phạm nhân phải có đơn có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam, trưởng nhà giam giữ và gia đình phạm nhân phải có đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú./." } ], "id": "69", "is_impossible": false, "question": "Xét chuyển trại giam cho phạm nhân" } ] } ], "title": "Xét chuyển trại giam cho phạm nhân" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các loại tội phạm được quy định từ Chương XIII đến Chương XXVI. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác giam giữ và giáo dục, lao động, hướng nghiệp dạy nghề cho phạm nhân, căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân, kết quả chấp hành án, Bộ Công an đã quy định phân loại giam giữ phạm nhân thành 03 nhóm tội (Loại A gồm phạm nhân phạm một trong các tội quy định tại Chương 13, Chương 26; Loại B gồm phạm nhân phạm các tội quy định tại Chương 14 (lỗi cố ý), Chương 15, Chương 16 (lỗi cố ý), và các Chương 20, 21, 22; Loại C gồm phạm nhân phạm các tội quy định tại Chương 14 (lỗi vô ý), Chương 15, Chương 16 (lỗi vô ý) và các Chương 17, 18, 19, 21, 22, 23, 24, 26). Đồng thời, các trại giam hiện nay đang giam giữ phạm nhân theo Điều 30 và 35 Luật Thi hành án hình sự; Điều 6 và 9 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 09/11/2020 của Chính phủ và Thông tư số 09/2020/TT-BCA ngày 04/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, tổ chức giam giữ như sau: - Khu I giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc các trường hợp tái phạm nguy hiểm. - Khu II giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại dưới 15 năm; phạm nhân thuộc các trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án. - Trong từng khu giam, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng: phạm nhân nữ; phạm nhân là người dưới 18 tuổi; phạm nhân là người nước ngoài; phạm nhân bị bệnh truyền nhiễm; phạm nhân có dấu hiệu bị tâm thần; phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam; phạm nhân là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính; phạm nhân giam giữ tại nhà giam riêng do vi phạm nhiều lần, chống đối, không chịu lao động. - Ngoài ra, mỗi phân trại giam đều có buồng kỷ luật để giam những phạm nhân bị kỷ luật. Như vậy, với các quy định của pháp luật hiện hành, việc tổ chức phân loại và giam giữ phạm nhân theo loại như hiện nay đã đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân, thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với phạm nhân và bảo đảm an ninh, an toàn trại giam cũng như đảm bảo sức khỏe, tinh thần cho phạm nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các loại tội phạm được quy định từ Chương XIII đến Chương XXVI. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác giam giữ và giáo dục, lao động, hướng nghiệp dạy nghề cho phạm nhân, căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân, kết quả chấp hành án, Bộ Công an đã quy định phân loại giam giữ phạm nhân thành 03 nhóm tội (Loại A gồm phạm nhân phạm một trong các tội quy định tại Chương 13, Chương 26; Loại B gồm phạm nhân phạm các tội quy định tại Chương 14 (lỗi cố ý), Chương 15, Chương 16 (lỗi cố ý), và các Chương 20, 21, 22; Loại C gồm phạm nhân phạm các tội quy định tại Chương 14 (lỗi vô ý), Chương 15, Chương 16 (lỗi vô ý) và các Chương 17, 18, 19, 21, 22, 23, 24, 26). Đồng thời, các trại giam hiện nay đang giam giữ phạm nhân theo Điều 30 và 35 Luật Thi hành án hình sự; Điều 6 và 9 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 09/11/2020 của Chính phủ và Thông tư số 09/2020/TT-BCA ngày 04/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, tổ chức giam giữ như sau: - Khu I giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc các trường hợp tái phạm nguy hiểm. - Khu II giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại dưới 15 năm; phạm nhân thuộc các trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án. - Trong từng khu giam, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng: phạm nhân nữ; phạm nhân là người dưới 18 tuổi; phạm nhân là người nước ngoài; phạm nhân bị bệnh truyền nhiễm; phạm nhân có dấu hiệu bị tâm thần; phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam; phạm nhân là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính; phạm nhân giam giữ tại nhà giam riêng do vi phạm nhiều lần, chống đối, không chịu lao động. - Ngoài ra, mỗi phân trại giam đều có buồng kỷ luật để giam những phạm nhân bị kỷ luật. Như vậy, với các quy định của pháp luật hiện hành, việc tổ chức phân loại và giam giữ phạm nhân theo loại như hiện nay đã đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân, thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với phạm nhân và bảo đảm an ninh, an toàn trại giam cũng như đảm bảo sức khỏe, tinh thần cho phạm nhân." } ], "id": "70", "is_impossible": false, "question": "Trả lời kiến nghị của cử tri về nghiên cứu thành lập các trại giam hoặc có phân khu để giam, giữ, cải tạo riêng các loại tội phạm" } ] } ], "title": "Trả lời kiến nghị của cử tri về nghiên cứu thành lập các trại giam hoặc có phân khu để giam, giữ, cải tạo riêng các loại tội phạm" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Đặc xá năm 2007 chưa quy định cụ thể thủ tục tiến hành bảo hộ công dân đối với phạm nhân là người nước ngoài được Việt Nam đặc xá, do đó, trên thực tế có một số trường hợp đến ngày công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước cho phạm nhân là người nước ngoài nhưng không có người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước mà người đó là công dân đến nhận, dẫn đến việc trại giam gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý. Dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi) đã bổ sung quy định “Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân nhưng các cơ quan này không đến nhận hoặc chưa đến nhận thì người nước ngoài được đặc xá được bố trí lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm các thủ tục cần thiết” tại Điều 19 và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Quy định như trong dự thảo là rất cần thiết và phù hợp, cụ thể: - Quy định này không trái với Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia về nhận trở lại công dân, tương trợ tư pháp… - Quy định này phù hợp với Khoản 4 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự năm 2010: “Phạm nhân là người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù thì được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù và được lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh”; phù hợp với quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014. - Quy định này bảo đảm giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quy định của Luật Đặc xá năm 2007 về đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài. - Hiện nay, Bộ Công an có các cơ sở lưu trú tại phía Bắc và phía Nam với quy mô quản lý 50 người lưu trú/cơ sở; việc đưa người vào cơ sở lưu trú, quản lý người lưu trú trong thời gian qua được thực hiện đúng quy định của pháp luật và được sự quan tâm phối hợp của các cơ quan có liên quan và chưa phát sinh vướng mắc, khó khăn. Việc thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân về việc đưa vào cơ sở lưu trú chờ điều kiện để xuất cảnh về nước thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người nước ngoài phạm tội. Tổng kết thực tiễn cho thấy, phạm nhân là người nước ngoài được đặc xá luôn được bảo đảm các điều kiện tốt nhất./.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 991, "text": "- Quy định này không trái với Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia về nhận trở lại công dân, tương trợ tư pháp… - Quy định này phù hợp với Khoản 4 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự năm 2010: “Phạm nhân là người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù thì được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù và được lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh”; phù hợp với quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014. - Quy định này bảo đảm giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quy định của Luật Đặc xá năm 2007 về đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài. - Hiện nay, Bộ Công an có các cơ sở lưu trú tại phía Bắc và phía Nam với quy mô quản lý 50 người lưu trú/cơ sở; việc đưa người vào cơ sở lưu trú, quản lý người lưu trú trong thời gian qua được thực hiện đúng quy định của pháp luật và được sự quan tâm phối hợp của các cơ quan có liên quan và chưa phát sinh vướng mắc, khó khăn. Việc thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân về việc đưa vào cơ sở lưu trú chờ điều kiện để xuất cảnh về nước thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người nước ngoài phạm tội. Tổng kết thực tiễn cho thấy, phạm nhân là người nước ngoài được đặc xá luôn được bảo đảm các điều kiện tốt nhất./." } ], "id": "71", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về quy định đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài" } ] } ], "title": "Hỏi về quy định đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ vào quy định của pháp luật, phạm nhân chỉ được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện về xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT/BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân. Theo đó, đối với trường hợp của chồng công dân Lê Xuân bị xử phạt 03 năm tù giam chỉ có thể được xem xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù khi chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn tù, chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có ít nhất một quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ Khá trở lên. Nếu chồng của công dân Lê Xuân đã có tiền án thì phải có thời gian thử thách nhiều hơn và có số kỳ xếp loại từ Khá trở lên nhiều hơn so với những phạm nhân chưa có tiền án, tương ứng với mỗi tiền án là một quý xếp loại từ Khá trở lên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Căn cứ vào quy định của pháp luật, phạm nhân chỉ được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện về xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT/BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân. Theo đó, đối với trường hợp của chồng công dân Lê Xuân bị xử phạt 03 năm tù giam chỉ có thể được xem xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù khi chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn tù, chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có ít nhất một quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ Khá trở lên. Nếu chồng của công dân Lê Xuân đã có tiền án thì phải có thời gian thử thách nhiều hơn và có số kỳ xếp loại từ Khá trở lên nhiều hơn so với những phạm nhân chưa có tiền án, tương ứng với mỗi tiền án là một quý xếp loại từ Khá trở lên." } ], "id": "72", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện để được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù" } ] } ], "title": "Điều kiện để được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Điều 2 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đặc xá năm 2021 quy định về đối tượng đặc xá bao gồm: Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đặc xá năm 2021, điều kiện được đề nghị đặc xá, gồm: 1. Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là ½ thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người tại Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù ít nhất 2/3 thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 18 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng; đ) Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng; Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này; e) Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; g) Không thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ; b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 3). c) Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 3. d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 1/3 thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 13 năm hoặc trường hợp bị kết án về một trong các tội quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3 đã chấp hành ít nhất 2/5 thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, 16 năm đối với án phạt tù chung thân, nếu có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g Khoản 1, các điểm a, c và d Khoản 2 Điều 3 thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; b) Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ và người có công nuôi dưỡng liệt sỹ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; c) Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân; d) Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại điểm 4 Điều 3; đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên; e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình; g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; h) Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự. 4. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g Khoản 1 Điều 3 hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g Khoản 1, điểm a và điểm d Khoản 2 Điều 3 được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành ít nhất 1/3 thời gian hoặc đã chấp hành được ít nhất 2/5 thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù về một trong các tội quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 167, "text": "Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đặc xá năm 2021, điều kiện được đề nghị đặc xá, gồm: 1. Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là ½ thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người tại Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù ít nhất 2/3 thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 18 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng; đ) Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng; Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này; e) Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; g) Không thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ; b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 3). c) Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 3. d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 1/3 thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 13 năm hoặc trường hợp bị kết án về một trong các tội quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3 đã chấp hành ít nhất 2/5 thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, 16 năm đối với án phạt tù chung thân, nếu có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g Khoản 1, các điểm a, c và d Khoản 2 Điều 3 thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; b) Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ và người có công nuôi dưỡng liệt sỹ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; c) Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân; d) Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại điểm 4 Điều 3; đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên; e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình; g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; h) Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự. 4. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g Khoản 1 Điều 3 hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g Khoản 1, điểm a và điểm d Khoản 2 Điều 3 được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành ít nhất 1/3 thời gian hoặc đã chấp hành được ít nhất 2/5 thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù về một trong các tội quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 3." } ], "id": "73", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện được đề nghị đặc xá năm 2021 là gì?" } ] } ], "title": "Điều kiện được đề nghị đặc xá năm 2021 là gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tiêu chuẩn ăn của phạm nhân được quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và khoản 1 Điều 7 Nghị định số 118/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự, theo đó: Phạm nhân được tiêu chuẩn định lượng ăn mỗi tháng là 17 kg gạo tẻ; 15 kg rau xanh; 01 kg thịt lợn; 01 kg cá; 05 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,2 lít dầu ăn; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; gia vị khác: Tương đương 0,5 kg gạo tẻ; chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc than. Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 118/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 của Chính phủ còn quy định phạm nhân được bổ sung mức ăn từ nguồn kết quả lao động, học nghề. Như vậy, chế độ ăn hiện nay của phạm nhân đã từng bước được tăng thêm, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta và cơ bản đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của phạm nhân, giúp họ yên tâm học tập, cải tạo tốt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 241, "text": "Phạm nhân được tiêu chuẩn định lượng ăn mỗi tháng là 17 kg gạo tẻ; 15 kg rau xanh; 01 kg thịt lợn; 01 kg cá; 05 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,2 lít dầu ăn; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; gia vị khác: Tương đương 0,5 kg gạo tẻ; chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc than. Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 118/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 của Chính phủ còn quy định phạm nhân được bổ sung mức ăn từ nguồn kết quả lao động, học nghề. Như vậy, chế độ ăn hiện nay của phạm nhân đã từng bước được tăng thêm, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta và cơ bản đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của phạm nhân, giúp họ yên tâm học tập, cải tạo tốt." } ], "id": "74", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về nâng mức chế độ ăn, ăn thêm đối với người bị giam giữ" } ] } ], "title": "Kiến nghị về nâng mức chế độ ăn, ăn thêm đối với người bị giam giữ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về án treo như sau: \"1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. 3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này. 4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách. 5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này\". Tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định: \"3. Bổ sung Điều 4a vào sau Điều 4 như sau: Điều 4a. Xác định thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án nhưng cho hưởng án treo đã bị tạm giữ, tạm giam Thời gian đã tạm giữ, tạm giam đối với người bị kết án nhưng cho hưởng án treo không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù để ấn định thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới\". Như vậy, với quy định nêu trên thì thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để ấn định thời gian thử thách.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 89, "text": "\"1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. 3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này. 4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách. 5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này\". Tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định: \"3. Bổ sung Điều 4a vào sau Điều 4 như sau: Điều 4a. Xác định thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án nhưng cho hưởng án treo đã bị tạm giữ, tạm giam Thời gian đã tạm giữ, tạm giam đối với người bị kết án nhưng cho hưởng án treo không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù để ấn định thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới\". Như vậy, với quy định nêu trên thì thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để ấn định thời gian thử thách." } ], "id": "75", "is_impossible": false, "question": "Thời gian tạm giữ, tạm giam có được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hay không?" } ] } ], "title": "Thời gian tạm giữ, tạm giam có được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Khoản 2 Điều 30 Luật Thi hành án hình sự, quy định: “Phạm nhân được gửi số tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, làm trong ngày nghỉ, tiền thưởng do có thành tích trong lao động cho thân nhân hoặc gửi trại giam quản lý, được sử dụng theo quy định hoặc được nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù”. Tại Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Tiền thưởng, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, tăng năng suất lao động được chuyển vào lưu ký để phạm nhân sử dụng mua hàng hóa tại căng tin, gửi điện tín, liên lạc điện thoại với thân nhân, gửi về cho thân nhân hoặc nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù”.Tại Điều 11 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc chuyển, giao trực tiếp cho thân nhân hoặc gửi qua đường bưu điện. Phạm nhân phải trả chi phí gửi đồ vật theo giá cước quy định”.Căn cứ các quy định trên, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ của chồng chị Phạm Diễm Thu (đang chấp hành án tại trại giam) được gửi về cho chị. Vì vậy, nếu chồng chị có nguyện vọng thì gặp cán bộ quản giáo trại giam để được hướng dẫn giải quyết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 56, "text": "“Phạm nhân được gửi số tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, làm trong ngày nghỉ, tiền thưởng do có thành tích trong lao động cho thân nhân hoặc gửi trại giam quản lý, được sử dụng theo quy định hoặc được nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù”. Tại Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Tiền thưởng, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ, tăng năng suất lao động được chuyển vào lưu ký để phạm nhân sử dụng mua hàng hóa tại căng tin, gửi điện tín, liên lạc điện thoại với thân nhân, gửi về cho thân nhân hoặc nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù”.Tại Điều 11 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc chuyển, giao trực tiếp cho thân nhân hoặc gửi qua đường bưu điện. Phạm nhân phải trả chi phí gửi đồ vật theo giá cước quy định”.Căn cứ các quy định trên, tiền bồi dưỡng làm thêm giờ của chồng chị Phạm Diễm Thu (đang chấp hành án tại trại giam) được gửi về cho chị. Vì vậy, nếu chồng chị có nguyện vọng thì gặp cán bộ quản giáo trại giam để được hướng dẫn giải quyết." } ], "id": "76", "is_impossible": false, "question": "Chế độ bồi dưỡng cho phạm nhân" } ] } ], "title": "Chế độ bồi dưỡng cho phạm nhân" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ Điều 11 Luật Đặc xá năm 2017 quy định về các trường hợp không được đề nghị đặc xá như sau: - Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; - Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; - Trước đó đã được đặc xá; - Có từ 02 tiền án trở lên; - Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định. Trường hợp của anh trai công dân Quỳnh Sen, mặc dù trong thời gian chấp hành án đã thực hiện tốt nội quy trại giam và tích cực lao động cải tạo nhưng đã có 02 tiền án nên thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá. Đồng thời, công dân có thể tham khảo Luật Đặc xá để hiểu rõ các quy định của pháp luật về đặc xá nhất là điều kiện được đề nghị đặc xá và các trường hợp không được đề nghị đặc xá.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 98, "text": "- Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; - Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; - Trước đó đã được đặc xá; - Có từ 02 tiền án trở lên; - Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định. Trường hợp của anh trai công dân Quỳnh Sen, mặc dù trong thời gian chấp hành án đã thực hiện tốt nội quy trại giam và tích cực lao động cải tạo nhưng đã có 02 tiền án nên thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá. Đồng thời, công dân có thể tham khảo Luật Đặc xá để hiểu rõ các quy định của pháp luật về đặc xá nhất là điều kiện được đề nghị đặc xá và các trường hợp không được đề nghị đặc xá." } ], "id": "77", "is_impossible": false, "question": "Các trường hợp không được đề nghị đặc xá" } ] } ], "title": "Các trường hợp không được đề nghị đặc xá" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Khoản 1, Điều 46 Luật Thi hành án hình sự quy định chế độ gặp thân nhân, nhận quà của phạm nhân như sau: “Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ, trường hợp đặc biệt thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế trại giam hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí nơi phạm nhân gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.”.- Điều 4 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30 tháng 06 năm 2011 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân thì đối tượng được thăm gặp phạm nhân gồm những đối tượng sau: 1. Những người là thân nhân phạm nhân được thăm gặp phạm nhân gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị, em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.2. Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị thăm gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích chính đáng của phạm nhân và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.Khi gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền mặt, đồ vật (trừ đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) và được sử dụng theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Thông tư này.”.Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên, việc công dân Lê Mỹ Như đi chung cùng gia đình đến thăm gặp phạm nhân là không đúng với quy định của pháp luật vì công dân Lê Mỹ Như không thuộc đối tượng là thân nhân của phạm nhân được quy định tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 46/2011/TT-BCA. Nếu công dân Lê Mỹ Như có nguyện vọng đến thăm gặp phạm nhân là bạn thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 46 đã nêu trên (thủ tục gồm: Thẻ căn cước công dân; đơn có xác nhận của cơ quan tổ chức của công dân Lê Mỹ Như; đơn có xác nhận của UBND nơi công dân Lê Mỹ Như đang sinh sống) gửi Giám thị trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù để được xem xét, giải quyết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 107, "text": "“Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ, trường hợp đặc biệt thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế trại giam hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí nơi phạm nhân gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.”.- Điều 4 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30 tháng 06 năm 2011 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân thì đối tượng được thăm gặp phạm nhân gồm những đối tượng sau: 1. Những người là thân nhân phạm nhân được thăm gặp phạm nhân gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị, em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.2. Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị thăm gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích chính đáng của phạm nhân và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.Khi gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền mặt, đồ vật (trừ đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) và được sử dụng theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Thông tư này.”.Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên, việc công dân Lê Mỹ Như đi chung cùng gia đình đến thăm gặp phạm nhân là không đúng với quy định của pháp luật vì công dân Lê Mỹ Như không thuộc đối tượng là thân nhân của phạm nhân được quy định tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 46/2011/TT-BCA. Nếu công dân Lê Mỹ Như có nguyện vọng đến thăm gặp phạm nhân là bạn thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 46 đã nêu trên (thủ tục gồm: Thẻ căn cước công dân; đơn có xác nhận của cơ quan tổ chức của công dân Lê Mỹ Như; đơn có xác nhận của UBND nơi công dân Lê Mỹ Như đang sinh sống) gửi Giám thị trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù để được xem xét, giải quyết." } ], "id": "78", "is_impossible": false, "question": "Đối tượng được thăm gặp phạm nhân" } ] } ], "title": "Đối tượng được thăm gặp phạm nhân" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an trả lời vấn đề này như sau: 1. Về giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng, Bộ Công an đã tham mưu với Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức sơ kết thực hiện Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017; tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; trong đó, nêu rõ những nhiệm vụ công tác trọng tâm của các bộ, ngành, địa phương trong phối hợp thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng. Thực hiện Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Bộ Công an đã tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng thay thế Nghị định số 80/2011/NĐ-CP. Nghị định số 49/2020/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các nội dung cơ bản của Nghị định số 80/2011/NĐ-CP và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 33/CT-TTg; đồng thời, đã điều chỉnh, bổ sung cụ thể hơn về các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, các cấp chính quyền triển khai có hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng. Đến nay, đã có 31 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, 50 Công an các đơn vị, địa phương gửi Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 49/2020/NĐ-CP về Bộ Công an (trong đó có tỉnh Lào Cai). 2. Về việc kiểm tra, hướng dẫn, trao đổi phát hiện nhân rộng các mô hình tốt trong thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng Theo thống kê (đến tháng 7/2020), cả nước có 339 mô hình tái hòa nhập cộng đồng đang được duy trì hoạt động hiệu quả; nhiều mô hình được lồng ghép trong thực hiện các mô hình của phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ở cơ sở. Đặc biệt, có 11 địa phương đã xây dựng được các mô hình quỹ, huy động nguồn vốn đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp để hỗ trợ, giúp đỡ người lầm lỗi vay vốn, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, tiêu biểu như: Mô hình “Quỹ doanh nhân với an ninh trật tự” của tỉnh Đồng Nai, đã huy động được 25 tỷ đồng, cho trên 1.200 người lầm lỗi vay vốn, tạo việc làm; mô hình “Quỹ phát triển tái hòa nhập cộng đồng” của tỉnh Đồng Tháp, đến nay đã có số vốn quay vòng trên 19 tỷ đồng, đã hỗ trợ vay vốn cho 682 trường hợp người chấp hành xong án phạt tù... Thời gian tới, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo Công an các địa phương chủ động tham mưu với các cấp ủy, chính quyền tiến hành rà soát, đánh giá lại hiệu quả những mô hình tái hòa nhập cộng đồng đang hoạt động để có biện pháp duy trì, phát huy và nhân rộng; đồng thời, tham mưu xây dựng mới các mô hình hỗ trợ giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng phù hợp thực tế của địa phương. 3. Về tham mưu cho Chính phủ sớm ban hành văn bản quy định chế độ phụ cấp cho cán bộ làm công tác thi hành án hình sự tại xã, phường, thị trấn, tái hòa nhập cộng đồng Bộ Công an ghi nhận ý kiến đóng góp của cử tri tỉnh Lào Cai để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất xây dựng chế độ phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang; trong đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp đặc thù đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nói chung, cán bộ làm công tác thi hành án hình sự nói riêng, đảm bảo phù hợp với tính chất, đặc điểm công việc của từng lực lượng, cùng với nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 39, "text": "1. Về giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng, Bộ Công an đã tham mưu với Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức sơ kết thực hiện Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017; tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; trong đó, nêu rõ những nhiệm vụ công tác trọng tâm của các bộ, ngành, địa phương trong phối hợp thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng. Thực hiện Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Bộ Công an đã tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng thay thế Nghị định số 80/2011/NĐ-CP. Nghị định số 49/2020/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các nội dung cơ bản của Nghị định số 80/2011/NĐ-CP và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 33/CT-TTg; đồng thời, đã điều chỉnh, bổ sung cụ thể hơn về các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, các cấp chính quyền triển khai có hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng. Đến nay, đã có 31 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, 50 Công an các đơn vị, địa phương gửi Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 49/2020/NĐ-CP về Bộ Công an (trong đó có tỉnh Lào Cai). 2. Về việc kiểm tra, hướng dẫn, trao đổi phát hiện nhân rộng các mô hình tốt trong thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng Theo thống kê (đến tháng 7/2020), cả nước có 339 mô hình tái hòa nhập cộng đồng đang được duy trì hoạt động hiệu quả; nhiều mô hình được lồng ghép trong thực hiện các mô hình của phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ở cơ sở. Đặc biệt, có 11 địa phương đã xây dựng được các mô hình quỹ, huy động nguồn vốn đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp để hỗ trợ, giúp đỡ người lầm lỗi vay vốn, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, tiêu biểu như: Mô hình “Quỹ doanh nhân với an ninh trật tự” của tỉnh Đồng Nai, đã huy động được 25 tỷ đồng, cho trên 1.200 người lầm lỗi vay vốn, tạo việc làm; mô hình “Quỹ phát triển tái hòa nhập cộng đồng” của tỉnh Đồng Tháp, đến nay đã có số vốn quay vòng trên 19 tỷ đồng, đã hỗ trợ vay vốn cho 682 trường hợp người chấp hành xong án phạt tù... Thời gian tới, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo Công an các địa phương chủ động tham mưu với các cấp ủy, chính quyền tiến hành rà soát, đánh giá lại hiệu quả những mô hình tái hòa nhập cộng đồng đang hoạt động để có biện pháp duy trì, phát huy và nhân rộng; đồng thời, tham mưu xây dựng mới các mô hình hỗ trợ giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng phù hợp thực tế của địa phương. 3. Về tham mưu cho Chính phủ sớm ban hành văn bản quy định chế độ phụ cấp cho cán bộ làm công tác thi hành án hình sự tại xã, phường, thị trấn, tái hòa nhập cộng đồng Bộ Công an ghi nhận ý kiến đóng góp của cử tri tỉnh Lào Cai để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất xây dựng chế độ phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang; trong đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp đặc thù đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nói chung, cán bộ làm công tác thi hành án hình sự nói riêng, đảm bảo phù hợp với tính chất, đặc điểm công việc của từng lực lượng, cùng với nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp." } ], "id": "79", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về việc nâng cao chất lượng các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù" } ] } ], "title": "Kiến nghị về việc nâng cao chất lượng các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo báo cáo, các trại giam, trại tạm giam đã tổ chức được 573 lớp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho hơn 82.000 phạm nhân được đề nghị đặc xá với nội dung tư vấn giáo dục những vấn đề cần thiết về chấp hành pháp luật sau khi được đặc xá, xóa án tích, tác hại của ma túy, HIV/AIDS, các thủ tục để đăng ký hộ khẩu, xin cấp chứng minh nhân dân, những kiến thức cơ bản để hòa nhập với cộng đồng… Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã tạo điều kiện thuận lợi để người được đặc xá liên hệ với thân nhân nên ngay sau khi công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước và tha người được đặc xá, hầu hết số phạm nhân được đặc xá đều được thân nhân đến đón và đưa về với gia đình. Số phạm nhân được đặc xá phải tiếp tục chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, các trại giam đã trực tiếp bàn giao cho Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú để tổ chức quản lý, giáo dục theo quy định; đối với những người được đặc xá ốm yếu, không có thân nhân đến đón, trại giam đã tổ chức đưa về và bàn giao cho gia đình người được đặc xá. Số người được đặc xá còn lại không có thân nhân đến đón, các trại giam đã đưa đến bến xe, ga tàu gần nhất để thuận tiện cho họ trở về nơi cư trú. Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã cấp cho người được đặc xá tiền tàu xe, tiền ăn, quần áo, giày dép theo đúng chế độ. Công an các cấp nắm vững hoàn cảnh từng người được đặc xá trở về cộng đồng, gặp gỡ, động viên, quản lý, giáo dục, giúp đỡ họ tái hoà nhập cộng đồng, tránh mặc cảm, xa lánh, đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội liên hệ với các doanh nghiệp hỗ trợ, tiếp nhận, tạo việc làm cho người được đặc xá ổn định cuộc sống, tránh tái phạm... Bộ Công an đã cùng Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Luật gia Việt Nam phối hợp triển khai công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, trong đó có người được đặc xá.. Quá trình triển khai công tác tái hòa nhập cộng đồng đã xuất hiện nhiều mô hình tổ chức giúp đỡ người được được đặc xá và người chấp hành xong án phạt tù như: mô hình “Quỹ hoàn lương” của Thành phố Hồ Chí Minh, “Quỹ doanh nhân với an ninh trật tự” của các tỉnh: Thanh Hóa, Đồng Nai, các mô hình của thành phố, tỉnh: Đà Nẵng, Bắc Ninh, Nam Định... Các mô hình này đang được nhân rộng tới nhiều địa phương và nhận được nhiều sự hợp tác của các tổ chức kinh tế, xã hội, các doanh nhân tham gia giúp đỡ người được đặc xá và người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn, có việc làm, tạo lập cuộc sống ổn định, hạn chế tái phạm. Theo báo cáo của Công an các đơn vị, địa phương, trong tổng số hơn 87.000 người được đặc xá, đa số đã về đúng địa chỉ cư trú và đều được Công an địa phương hướng dẫn, đăng ký cư trú, cấp giấy tờ tùy thân; trong đó, gần 50.000 người được đặc xá đã có việc làm và thu nhập ổn định; công tác hòa nhập cộng đồng đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm và huy động sự tham gia của các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư vào công tác cảm hóa, giúp đỡ người được đặc xá. Tỷ lệ người có hành vi vi phạm pháp luật, tái phạm tội thấp (1.007 người, chiếm tỉ lệ 1,16%).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2193, "text": "mô hình “Quỹ hoàn lương” của Thành phố Hồ Chí Minh, “Quỹ doanh nhân với an ninh trật tự” của các tỉnh: Thanh Hóa, Đồng Nai, các mô hình của thành phố, tỉnh: Đà Nẵng, Bắc Ninh, Nam Định... Các mô hình này đang được nhân rộng tới nhiều địa phương và nhận được nhiều sự hợp tác của các tổ chức kinh tế, xã hội, các doanh nhân tham gia giúp đỡ người được đặc xá và người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn, có việc làm, tạo lập cuộc sống ổn định, hạn chế tái phạm. Theo báo cáo của Công an các đơn vị, địa phương, trong tổng số hơn 87.000 người được đặc xá, đa số đã về đúng địa chỉ cư trú và đều được Công an địa phương hướng dẫn, đăng ký cư trú, cấp giấy tờ tùy thân; trong đó, gần 50.000 người được đặc xá đã có việc làm và thu nhập ổn định; công tác hòa nhập cộng đồng đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm và huy động sự tham gia của các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư vào công tác cảm hóa, giúp đỡ người được đặc xá. Tỷ lệ người có hành vi vi phạm pháp luật, tái phạm tội thấp (1.007 người, chiếm tỉ lệ 1,16%)." } ], "id": "80", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người được đặc xá" } ] } ], "title": "Hỏi về công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người được đặc xá" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: \"Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới\". Trong đó \"các quyết định khác của bản án\" là: án phí, truy thu tiền thu lợi bất chính, thực hiện trách nhiệm dân sự (bồi thường tiền, trách nhiệm cấp dưỡng...), do đó, trường hợp người chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thực hiện trách nhiệm dân sự là bồi thường tiền tức là chưa chấp hành xong \"các quyết định khác của bản án\" thì không được xóa án tích.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 51, "text": "\"Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới\". Trong đó \"các quyết định khác của bản án\" là: án phí, truy thu tiền thu lợi bất chính, thực hiện trách nhiệm dân sự (bồi thường tiền, trách nhiệm cấp dưỡng...), do đó, trường hợp người chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thực hiện trách nhiệm dân sự là bồi thường tiền tức là chưa chấp hành xong \"các quyết định khác của bản án\" thì không được xóa án tích." } ], "id": "81", "is_impossible": false, "question": "Chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thực hiện trách nhiệm dân sự là bồi thường tiền thì có đương nhiên được xoá án tích hay không?" } ] } ], "title": "Chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thực hiện trách nhiệm dân sự là bồi thường tiền thì có đương nhiên được xoá án tích hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 17/8/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ký, ban hành Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù (CHXAPT); Quyết định có hiệu lực từ ngày 10/10/2023. - Về đối tượng áp dụng (khoản 1 Điều 3): Là người CHXAPT bao gồm người chấp hành xong thời hạn chấp hành án phạt tù đã được cấp Giấy chứng nhận CHXAPT quy định tại Luật Thi hành án hình sự và người được đặc xá đã được cấp Giấy chứng nhận đặc xá quy định tại Luật Đặc xá. - Về điều kiện vay vốn (khoản 2 Điều 3): + Có nhu cầu vay vốn; có tên trong danh sách người CHXAPT về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được UBND cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định này; + Không còn dư nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đối với các chương trình tín dụng khác có cùng mục đích sử dụng vốn vay để đào tạo nghề và sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo quy định của pháp luật. Thời gian kể từ khi CHXAPT đến thời điểm vay vốn tối đa là 05 năm. - Về phương thức cho vay (khoản 1 Điều 4): Cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình của người CHXAPT là người đứng tên vay vốn và giao dịch với NHCSXH. Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc thành viên còn lại không còn sức lao động, không có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật thì người CHXAPT trực tiếp đứng tên vay vốn tại NHCSXH. - Về thời hạn vay vốn (Điều 8): Thời hạn cho vay tối đa 120 tháng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 227, "text": "Là người CHXAPT bao gồm người chấp hành xong thời hạn chấp hành án phạt tù đã được cấp Giấy chứng nhận CHXAPT quy định tại Luật Thi hành án hình sự và người được đặc xá đã được cấp Giấy chứng nhận đặc xá quy định tại Luật Đặc xá. - Về điều kiện vay vốn (khoản 2 Điều 3): + Có nhu cầu vay vốn; có tên trong danh sách người CHXAPT về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được UBND cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định này; + Không còn dư nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đối với các chương trình tín dụng khác có cùng mục đích sử dụng vốn vay để đào tạo nghề và sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo quy định của pháp luật. Thời gian kể từ khi CHXAPT đến thời điểm vay vốn tối đa là 05 năm. - Về phương thức cho vay (khoản 1 Điều 4): Cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình của người CHXAPT là người đứng tên vay vốn và giao dịch với NHCSXH. Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc thành viên còn lại không còn sức lao động, không có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật thì người CHXAPT trực tiếp đứng tên vay vốn tại NHCSXH. - Về thời hạn vay vốn (Điều 8): Thời hạn cho vay tối đa 120 tháng." } ], "id": "82", "is_impossible": false, "question": "Trình tự, thủ tục hỗ trợ vay vốn đối với người tái hòa nhập cộng đồng" } ] } ], "title": "Trình tự, thủ tục hỗ trợ vay vốn đối với người tái hòa nhập cộng đồng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Điều 87 Luật Thi hành án hình sự 2019 quy định người đang được hưởng án treo phải thực hiện một số nghĩa vụ sau đây: Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này; Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; Chấp hành quy định tại Điều 92 của Luật này. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau: \"Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này\". Đối với trường hợp người nhà của bạn đọc Thành Long đang được hưởng án treo mà lại phạm tội ở một vụ án khác, tức là người nhà của bạn thực hiện hành vi phạm tội mới thì lúc này, Tòa án buộc người nhà của bạn phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) quy định về vấn đề này như sau: \"Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được thực hiện như sau: Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung; Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này; Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Căn cứ Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP), những trường hợp không cho hưởng án treo gồm: - Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; - Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử; - Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo; - Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây: a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. - Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau: a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi: b) Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể; d) Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Như vậy, theo quy định nêu trên, người hưởng án treo sẽ không được tiếp tục hưởng án treo nếu rơi vào trường hợp phạm tội mới trong thời gian thử thách; hoặc đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 374, "text": "Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này; Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; Chấp hành quy định tại Điều 92 của Luật này. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau: \"Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này\". Đối với trường hợp người nhà của bạn đọc Thành Long đang được hưởng án treo mà lại phạm tội ở một vụ án khác, tức là người nhà của bạn thực hiện hành vi phạm tội mới thì lúc này, Tòa án buộc người nhà của bạn phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) quy định về vấn đề này như sau: \"Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được thực hiện như sau: Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung; Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này; Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Căn cứ Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP), những trường hợp không cho hưởng án treo gồm: - Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; - Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử; - Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo; - Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây: a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. - Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau: a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi: b) Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể; d) Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Như vậy, theo quy định nêu trên, người hưởng án treo sẽ không được tiếp tục hưởng án treo nếu rơi vào trường hợp phạm tội mới trong thời gian thử thách; hoặc đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo." } ], "id": "83", "is_impossible": false, "question": "Người đang hưởng án treo nhưng phạm tội mới trong thời gian thử thách thì thời hạn chấp hành án treo còn lại sẽ được tính như thế nào?" } ] } ], "title": "Người đang hưởng án treo nhưng phạm tội mới trong thời gian thử thách thì thời hạn chấp hành án treo còn lại sẽ được tính như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 46 Luật Thi hành án hình sự năm 2019: “Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan Thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp giấy chứng nhận CHXAPT cho người đã CHXAPT”. Cơ quan đã cấp giấy chứng nhận CHXAPT có trách nhiệm gửi giấy chứng nhận đó cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự (cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định thi hành án đối với trường hợp chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự...), Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi người CHXAPT về nơi cư trú. Đồng thời giấy chứng nhận CHXAPT được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Theo quy định của Thông tư số 60/2020/TT-BCA, ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định công tác hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân, sau khi phạm nhân CHXAPT, được đại xá, đặc xá hoặc được miễn chấp hành thời gian còn lại của án phạt tù hồ sơ phạm nhân nộp lưu về cơ quan hồ sơ để quản lý, lưu trữ. Hiện nay, không có quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận CHXAPT. Để được cấp bản sao giấy chứng nhận CHXAPT, công dân cần có đơn đề nghị, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú gửi Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an để được giải quyết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 78, "text": "“Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan Thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp giấy chứng nhận CHXAPT cho người đã CHXAPT”. Cơ quan đã cấp giấy chứng nhận CHXAPT có trách nhiệm gửi giấy chứng nhận đó cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự (cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định thi hành án đối với trường hợp chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự...), Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi người CHXAPT về nơi cư trú. Đồng thời giấy chứng nhận CHXAPT được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Theo quy định của Thông tư số 60/2020/TT-BCA, ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định công tác hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân, sau khi phạm nhân CHXAPT, được đại xá, đặc xá hoặc được miễn chấp hành thời gian còn lại của án phạt tù hồ sơ phạm nhân nộp lưu về cơ quan hồ sơ để quản lý, lưu trữ. Hiện nay, không có quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận CHXAPT. Để được cấp bản sao giấy chứng nhận CHXAPT, công dân cần có đơn đề nghị, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú gửi Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an để được giải quyết." } ], "id": "84", "is_impossible": false, "question": "Thủ tục cấp lại giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù?" } ] } ], "title": "Thủ tục cấp lại giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì không áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với các trường hợp sau: - Người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội khủng bố. - Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không phải thi hành án tử hình theo Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự. - Người bị kết án 10 năm tù trở lên về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự do cố ý. - Người bị kết án tù từ 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; sản xuất trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy; chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Như vậy, không áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia; hạn chế áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người và một số tội về ma túy. Ngoài quy định tại Bộ luật Hình sự, điều kiện về tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 168, "text": "- Người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội khủng bố. - Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không phải thi hành án tử hình theo Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự. - Người bị kết án 10 năm tù trở lên về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự do cố ý. - Người bị kết án tù từ 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; sản xuất trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy; chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Như vậy, không áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia; hạn chế áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người và một số tội về ma túy. Ngoài quy định tại Bộ luật Hình sự, điều kiện về tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao." } ], "id": "85", "is_impossible": false, "question": "Các trường hợp không áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện" } ] } ], "title": "Các trường hợp không áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có hai hình thức xóa án tích, đó là đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích do tòa án quyết định. - Đương nhiên được xóa án tích: Áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự. - Xóa án tích theo quyết định của tòa án: Được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. - Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt: Người bị kết án có thể được tòa án xóa án tích sớm hơn so với quy định của pháp luật trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì tòa án quyết định việc xóa án tích. Theo thông tin do bạn đọc Nguyễn Kim Oanh cung cấp, bạn đọc bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nên hình thức xóa án tích của bạn đọc là đương nhiên được xóa án tích. 1. Điều kiện đương nhiên được xóa án tích Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, bạn đọc Nguyễn Kim Oanh đương nhiên được xóa án tích, nếu trong thời hạn 05 năm từ khi chấp hành xong hình phạt tù, bạn đọc đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án (nếu có) và không thực hiện hành vi phạm tội mới. 2. Thẩm quyền xác nhận về việc đương nhiên được xóa án tích Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận người đó “không có án tích” nếu có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự. Như vậy, nếu bạn đọc có yêu cầu xác nhận về việc “không có án tích”, khi có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thực hiện thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. 3. Thủ tục yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp số 1 Theo quy định tại Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp và Điều 37 Luật Cư trú năm 2020, hồ sơ yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân gồm những giấy tờ sau: - Tờ khai yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. - Bản sao chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. - Văn bản ủy quyền trong trường hợp cá nhân ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp số 1. Trường hợp người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền. 4. Nơi nộp hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp - Công dân Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú; trường hợp cư trú tại nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. - Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. 5. Thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp Theo Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp, thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 199, "text": "Áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự. - Xóa án tích theo quyết định của tòa án: Được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. - Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt: Người bị kết án có thể được tòa án xóa án tích sớm hơn so với quy định của pháp luật trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì tòa án quyết định việc xóa án tích. Theo thông tin do bạn đọc Nguyễn Kim Oanh cung cấp, bạn đọc bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nên hình thức xóa án tích của bạn đọc là đương nhiên được xóa án tích. 1. Điều kiện đương nhiên được xóa án tích Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, bạn đọc Nguyễn Kim Oanh đương nhiên được xóa án tích, nếu trong thời hạn 05 năm từ khi chấp hành xong hình phạt tù, bạn đọc đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án (nếu có) và không thực hiện hành vi phạm tội mới. 2. Thẩm quyền xác nhận về việc đương nhiên được xóa án tích Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 Bộ luật Hình sự, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận người đó “không có án tích” nếu có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự. Như vậy, nếu bạn đọc có yêu cầu xác nhận về việc “không có án tích”, khi có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thực hiện thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. 3. Thủ tục yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp số 1 Theo quy định tại Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp và Điều 37 Luật Cư trú năm 2020, hồ sơ yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân gồm những giấy tờ sau: - Tờ khai yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. - Bản sao chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. - Văn bản ủy quyền trong trường hợp cá nhân ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp số 1. Trường hợp người yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền. 4. Nơi nộp hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp - Công dân Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú; trường hợp cư trú tại nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. - Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia. 5. Thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp Theo Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp, thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày." } ], "id": "86", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp muốn xóa án tích thì mất bao lâu, cần có thủ tục giấy tờ gì?" } ] } ], "title": "Trường hợp muốn xóa án tích thì mất bao lâu, cần có thủ tục giấy tờ gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về thời điểm đặc xá năm 2024: Căn cứ Quyết định về đặc xá năm 2024 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quyết định số 758/2024/QĐ-CTN ngày 30/7/2024), việc thực hiện đặc xá năm 2024 sẽ áp dụng đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp 79 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/2024) và 70 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/2024). Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 30/9/2024 (Điều 1 Quyết định số 758/2024/QĐ-CTN). Về quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá (quy định tại Điều 13 Luật Đặc xá số 30/2018/QH14) như sau: - Được phổ biến chính sách, pháp luật về đặc xá; thông báo Quyết định về đặc xá, văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện của người được đề nghị đặc xá và thông tin khác về đặc xá liên quan đến người được đề nghị đặc xá. - Liên hệ với thân nhân để thu thập giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cấp, xác nhận giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Cung cấp giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền đề nghị đặc xá; khai báo đầy đủ, trung thực thông tin về cá nhân liên quan đến việc đề nghị đặc xá. - Khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương V của Luật này. Về việc đương nhiên được xóa án tích của người được đặc xá: Người được đặc xá được xóa án tích nếu đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đó là: 1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. 2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: - 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; - 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; - 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; - 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. 3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này. 4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này. Như vậy, người được đặc xá không phải là người đương nhiên được xóa án tích. Người được đặc xá chỉ đương nhiên được xóa án tích khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 30, "text": "Căn cứ Quyết định về đặc xá năm 2024 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quyết định số 758/2024/QĐ-CTN ngày 30/7/2024), việc thực hiện đặc xá năm 2024 sẽ áp dụng đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp 79 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/2024) và 70 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/2024). Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 30/9/2024 (Điều 1 Quyết định số 758/2024/QĐ-CTN). Về quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá (quy định tại Điều 13 Luật Đặc xá số 30/2018/QH14) như sau: - Được phổ biến chính sách, pháp luật về đặc xá; thông báo Quyết định về đặc xá, văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện của người được đề nghị đặc xá và thông tin khác về đặc xá liên quan đến người được đề nghị đặc xá. - Liên hệ với thân nhân để thu thập giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cấp, xác nhận giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Cung cấp giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền đề nghị đặc xá; khai báo đầy đủ, trung thực thông tin về cá nhân liên quan đến việc đề nghị đặc xá. - Khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương V của Luật này. Về việc đương nhiên được xóa án tích của người được đặc xá: Người được đặc xá được xóa án tích nếu đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đó là: 1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. 2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: - 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; - 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; - 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; - 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. 3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này. 4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này. Như vậy, người được đặc xá không phải là người đương nhiên được xóa án tích. Người được đặc xá chỉ đương nhiên được xóa án tích khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017." } ], "id": "87", "is_impossible": false, "question": "Người được đặc xá có đương nhiên được xóa án tích hay không?" } ] } ], "title": "Người được đặc xá có đương nhiên được xóa án tích hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Việc quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 263 Bộ Luật Tố tụng hình sự và Điều 32 Luật Thi hành án hình sự.Khoản 1 Điều 263 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: “người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cư trú hoặc làm việc quản lý. Họ không được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ, chức quản lý của họ.”Khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự quy định: Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho UBND xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ.UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.- Như vậy, căn cứ các quy định trên, thì người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án về gia đình quản lý, chăm sóc, chữa bệnh, phải chịu sự quản lý, giám sát của UBND cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Người được tạm đình chỉ có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú, làm việc để khám bệnh thì việc xem xét, giải quyết thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã. Khi đến địa chỉ cư trú mới, người được tạm đình chỉ phải đăng ký tạm trú theo quy định.Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi nơi khác khám bệnh mà không được sự đồng ý của UBND cấp xã thì bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng theo điểm a khoản 4 Điều 14 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vi phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình.Điểm a khoản 4 Điều 14 quy định: phạt tiền từ 2 đến 3 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:- Người được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đi khỏi nơi cư trú mà không được sự đồng ý của UBND cấp xã hoặc không có mặt tại nơi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú sau khi hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù./.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 211, "text": "“người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cư trú hoặc làm việc quản lý. Họ không được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ, chức quản lý của họ.”Khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự quy định: Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho UBND xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ.UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.- Như vậy, căn cứ các quy định trên, thì người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án về gia đình quản lý, chăm sóc, chữa bệnh, phải chịu sự quản lý, giám sát của UBND cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Người được tạm đình chỉ có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú, làm việc để khám bệnh thì việc xem xét, giải quyết thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã. Khi đến địa chỉ cư trú mới, người được tạm đình chỉ phải đăng ký tạm trú theo quy định.Trường hợp người được tạm đình chỉ thi hành án tự ý đi nơi khác khám bệnh mà không được sự đồng ý của UBND cấp xã thì bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng theo điểm a khoản 4 Điều 14 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vi phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình.Điểm a khoản 4 Điều 14 quy định: phạt tiền từ 2 đến 3 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:- Người được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đi khỏi nơi cư trú mà không được sự đồng ý của UBND cấp xã hoặc không có mặt tại nơi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự nơi cư trú sau khi hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù./." } ], "id": "88", "is_impossible": false, "question": "Giám sát người được tạm đình chỉ thi hành án để điều trị bệnh" } ] } ], "title": "Giám sát người được tạm đình chỉ thi hành án để điều trị bệnh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 6 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự: “Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp Giấy chứng nhận đã CHXAPT cho người đã CHXAPT”. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đã CHXAPT có trách nhiệm gửi Giấy chứng nhận đã CHXAPT cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Cơ quan thi hành án dân sự (cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định thi hành án đối với trường hợp chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung, đền bù dân sự,...), Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người CHXAPT về cư trú, Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an. Đồng thời, Giấy chứng nhận đã CHXAPT được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Theo quy định của chế độ hồ sơ năm 2013, trong thời hạn không quá 6 tháng sau khi phạm nhân CHXAPT, hồ sơ phạm nhân nộp lưu về cơ quan hồ sơ để quản lý, lưu trữ (phạm nhân chấp hành án ở trại tạm giam thuộc Công an tỉnh, thành phố, nhà tạm giữ, hồ sơ nộp về Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an cấp tỉnh; phạm nhân chấp hành án ở trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ, hồ sơ nộp lưu về Cục Hồ sơ nghiệp vụ). Trong câu hỏi của công dân Phạm Sang không nêu cụ thể đã chấp hành án ở đâu, CHXAPT khi nào, đã liên hệ với cơ quan nào để xin trích sao Giấy chứng nhận đã CHXAPT và cơ quan nào trả lời hồ sơ đã bị thất lạc. Hiện nay, không có cơ quan, đơn vị nào có chức năng cấp lại Giấy chứng nhận đã CHXAPT. Để trích sao Giấy chứng nhận đã CHXAPT, công dân Phạm Sang liên hệ với cơ quan hồ sơ để giải quyết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 69, "text": "“Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp Giấy chứng nhận đã CHXAPT cho người đã CHXAPT”. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đã CHXAPT có trách nhiệm gửi Giấy chứng nhận đã CHXAPT cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Cơ quan thi hành án dân sự (cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định thi hành án đối với trường hợp chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung, đền bù dân sự,...), Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người CHXAPT về cư trú, Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an. Đồng thời, Giấy chứng nhận đã CHXAPT được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Theo quy định của chế độ hồ sơ năm 2013, trong thời hạn không quá 6 tháng sau khi phạm nhân CHXAPT, hồ sơ phạm nhân nộp lưu về cơ quan hồ sơ để quản lý, lưu trữ (phạm nhân chấp hành án ở trại tạm giam thuộc Công an tỉnh, thành phố, nhà tạm giữ, hồ sơ nộp về Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an cấp tỉnh; phạm nhân chấp hành án ở trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ, hồ sơ nộp lưu về Cục Hồ sơ nghiệp vụ). Trong câu hỏi của công dân Phạm Sang không nêu cụ thể đã chấp hành án ở đâu, CHXAPT khi nào, đã liên hệ với cơ quan nào để xin trích sao Giấy chứng nhận đã CHXAPT và cơ quan nào trả lời hồ sơ đã bị thất lạc. Hiện nay, không có cơ quan, đơn vị nào có chức năng cấp lại Giấy chứng nhận đã CHXAPT. Để trích sao Giấy chứng nhận đã CHXAPT, công dân Phạm Sang liên hệ với cơ quan hồ sơ để giải quyết." } ], "id": "89", "is_impossible": false, "question": "Xin cấp lại Giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù để xóa án tích" } ] } ], "title": "Xin cấp lại Giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù để xóa án tích" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Khoản 1 Điều 38 Luật Thi hành án hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân vi phạm nội quy, quy chế trại giam hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì bị kỷ luật bằng một trong những hình thức sau:a) Khiển trách;b) Cảnh cáo;c) Giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày;Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người chưa thành niên, phạm nhân là người già yếu”.Tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật)…”Căn cứ các quy định trên, việc thân nhân của anh Nguyễn Văn Phương vi phạm Nội quy trại giam đang bị giam tại buồng kỷ luật. Vì vậy, trại giam không giải quyết cho thăm gặp phạm nhân là đúng quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 55, "text": "“Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân vi phạm nội quy, quy chế trại giam hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì bị kỷ luật bằng một trong những hình thức sau:a) Khiển trách;b) Cảnh cáo;c) Giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày;Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người chưa thành niên, phạm nhân là người già yếu”.Tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân, quy định: “Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật)…”Căn cứ các quy định trên, việc thân nhân của anh Nguyễn Văn Phương vi phạm Nội quy trại giam đang bị giam tại buồng kỷ luật. Vì vậy, trại giam không giải quyết cho thăm gặp phạm nhân là đúng quy định của pháp luật." } ], "id": "90", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về việc thăm gặp phạm nhân vi phạm kỷ luật" } ] } ], "title": "Hỏi về việc thăm gặp phạm nhân vi phạm kỷ luật" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: - Về những trường hợp chấp hành xong án phạt nhưng không đến nhận giấy chứng nhận chấp hành xong án hoặc bỏ đi khỏi địa phương: Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định bắt buộc người chấp hành xong án phạt đến nhận giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Đối với thi hành án phạt tại xã, phường, thị trấn (án treo, cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định), Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án và gửi giấy đó cho người chấp hành án và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Theo quy định, trường hợp người chấp hành xong án phạt bỏ đi khỏi địa phương trong thời gian chấp hành án, phải tiến hành xác minh và xử lý theo các hình thức, như: lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, kiểm điểm (án treo, cải tạo không giam giữ, người được tha tù trước hạn có điều kiện), xử phạt vi phạm hành chính, buộc chấp hành án phạt tù (đối với án treo, tha tù trước hạn có điều kiện), xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. - Về thời hạn khi Chủ tịch nước nhận đơn xin ân giảm trong thời hạn bao nhiêu ngày sẽ có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình: Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019, không có quy định về thời gian Chủ tịch nước có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình kể từ khi nhận đơn. Cơ sở cho quy định này là việc ân giảm án tử hình là thẩm quyền tối cao, riêng có của Chủ tịch nước dựa trên việc đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện tính chất của vụ án, điều kiện, hoàn cảnh của người phạm tội, khả năng áp dụng hình phạt khác… để xem xét, quyết định. Do đó, việc quy định thời hạn Chủ tịch nước xem xét, bác đơn ân giảm là không phù hợp. - Về bố trí kinh phí xây dựng và nâng cấp nhà tạm giữ, tạm giam của Công an cấp huyện, tránh tình trạng cơ sở giam, giữ không đủ điều kiện làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hoặc bị can bỏ trốn: Hằng năm, Bộ Công an giao nhiệm vụ cho các đơn vị chức năng rà soát, tổng hợp, báo cáo, đề xuất danh sách, thứ tự ưu tiên để phân bổ kinh phí xây dựng, cải tạo, nâng cấp các cơ sở giam giữ. Mặt khác, do nguồn kinh phí được cấp còn hạn chế, nên Bộ Công an đã hướng dẫn Công an các địa phương báo cáo chính quyền địa phương đề nghị hỗ trợ kinh phí xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất các cơ sở giam giữ. Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý giam giữ trong tình hình mới, Bộ Công an đang chỉ đạo các đơn vị chức năng xây dựng “Dự án tổng thể đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam thuộc Bộ Công an quản lý (giai đoạn 2021 - 2025)” để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "- Về những trường hợp chấp hành xong án phạt nhưng không đến nhận giấy chứng nhận chấp hành xong án hoặc bỏ đi khỏi địa phương: Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định bắt buộc người chấp hành xong án phạt đến nhận giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Đối với thi hành án phạt tại xã, phường, thị trấn (án treo, cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định), Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án và gửi giấy đó cho người chấp hành án và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Theo quy định, trường hợp người chấp hành xong án phạt bỏ đi khỏi địa phương trong thời gian chấp hành án, phải tiến hành xác minh và xử lý theo các hình thức, như: lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, kiểm điểm (án treo, cải tạo không giam giữ, người được tha tù trước hạn có điều kiện), xử phạt vi phạm hành chính, buộc chấp hành án phạt tù (đối với án treo, tha tù trước hạn có điều kiện), xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. - Về thời hạn khi Chủ tịch nước nhận đơn xin ân giảm trong thời hạn bao nhiêu ngày sẽ có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình: Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2019, không có quy định về thời gian Chủ tịch nước có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình kể từ khi nhận đơn. Cơ sở cho quy định này là việc ân giảm án tử hình là thẩm quyền tối cao, riêng có của Chủ tịch nước dựa trên việc đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện tính chất của vụ án, điều kiện, hoàn cảnh của người phạm tội, khả năng áp dụng hình phạt khác… để xem xét, quyết định. Do đó, việc quy định thời hạn Chủ tịch nước xem xét, bác đơn ân giảm là không phù hợp. - Về bố trí kinh phí xây dựng và nâng cấp nhà tạm giữ, tạm giam của Công an cấp huyện, tránh tình trạng cơ sở giam, giữ không đủ điều kiện làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hoặc bị can bỏ trốn: Hằng năm, Bộ Công an giao nhiệm vụ cho các đơn vị chức năng rà soát, tổng hợp, báo cáo, đề xuất danh sách, thứ tự ưu tiên để phân bổ kinh phí xây dựng, cải tạo, nâng cấp các cơ sở giam giữ. Mặt khác, do nguồn kinh phí được cấp còn hạn chế, nên Bộ Công an đã hướng dẫn Công an các địa phương báo cáo chính quyền địa phương đề nghị hỗ trợ kinh phí xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất các cơ sở giam giữ. Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý giam giữ trong tình hình mới, Bộ Công an đang chỉ đạo các đơn vị chức năng xây dựng “Dự án tổng thể đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam thuộc Bộ Công an quản lý (giai đoạn 2021 - 2025)” để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt." } ], "id": "91", "is_impossible": false, "question": "Thời hạn bao nhiêu ngày sẽ có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình?" } ] } ], "title": "Thời hạn bao nhiêu ngày sẽ có quyết định ân giảm hoặc bác đơn ân giảm đối với các trường hợp bị kết án tử hình?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Đối với doanh nghiệp có người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài thì phải đăng ký định danh cho doanh nghiệp như thế nào? Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an đã phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an triển khai cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 cho người nước ngoài từ ngày 01/7/2025. Đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có người đại diện pháp luật là người nước ngoài sẽ thực hiện đăng ký tài khoản định danh điện tử mức độ 02 cho người nước ngoài sau đó đăng ký tài khoản định danh tổ chức theo Điều 12 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 quy định về định danh và xác thực điện tử. Khi nào có hướng dẫn cụ thể cho định danh là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam? Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an đã phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an triển khai cấp tài khoản định danh điện tử cho người nước ngoài từ ngày 01/7/2025 theo điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 quy định về định danh và xác thực điện tử. Người nước ngoài đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an hoặc Công an cấp tỉnh xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và làm thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 theo hướng dẫn của Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Trường hợp chúng tôi chưa có mã định danh tổ chức do vấn đề nêu trên thì chúng tôi có bị phạt hành chính đối với các hệ quả liên quan không? Ví dụ: hệ thống của thuế ngày 01/7/2025 trở đi phải đăng nhập bằng mã số định danh, nếu không đăng nhập được thì chúng tôi không thể nộp thuế? Căn cứ vào khoản 4 Điều 40 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 trong đó có quy định \"tài khoản được tạo lập bởi Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh cấp cho cơ quan, tổ chức được sử dụng đến hết ngày 30/6/2025\". Do đó để thực hiện dịch vụ công, thủ tục hành chính trực tuyến, cơ quan, tổ chức cần đăng ký tài khoản định danh điện tử cho tổ chức theo hướng dẫn của Bộ Công an.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1450, "text": "hệ thống của thuế ngày 01/7/2025 trở đi phải đăng nhập bằng mã số định danh, nếu không đăng nhập được thì chúng tôi không thể nộp thuế? Căn cứ vào khoản 4 Điều 40 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 trong đó có quy định \"tài khoản được tạo lập bởi Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh cấp cho cơ quan, tổ chức được sử dụng đến hết ngày 30/6/2025\". Do đó để thực hiện dịch vụ công, thủ tục hành chính trực tuyến, cơ quan, tổ chức cần đăng ký tài khoản định danh điện tử cho tổ chức theo hướng dẫn của Bộ Công an." } ], "id": "92", "is_impossible": false, "question": "Định danh tổ chức cho doanh nghiệp có người đại diện pháp luật là người nước ngoài" } ] } ], "title": "Định danh tổ chức cho doanh nghiệp có người đại diện pháp luật là người nước ngoài" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "- Việt Nam và Thái Lan đã ký Hiệp định miễn thị thực song phương ngày 9/5/2000, có hiệu lực từ ngày 9/7/2000, miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông với thời gian tạm trú không quá 30 ngày. - Việt Nam ký Hiệp định miễn thị thực song phương với Singapore, có hiệu lực từ ngày 10/11/2003 cho phép người mang hộ chiếu phổ thông nhập cảnh, thời gian tạm trú không quá 30 ngày, với điều kiện hộ chiếu còn giá trị ít nhất 6 tháng và có vé khứ hồi hoặc có vé đi tiếp nước khác, có khả năng tài chính chi trả trong thời gian tạm trú và có đủ các điều kiện cần thiết để đi tiếp nước khác bao gồm cả thị thực. Trường hợp có dự định lưu trú quá 30 ngày thì phải xin cấp phép thị thực. - Việt Nam đã ký Hiệp định, Thỏa thuận và trao đổi miễn thị thực song phương với 82 quốc gia, danh sách các quốc gia và nội dung cụ thể của các Hiệp định, Thỏa thuận đã được đăng tải trên website của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "- Việt Nam và Thái Lan đã ký Hiệp định miễn thị thực song phương ngày 9/5/2000, có hiệu lực từ ngày 9/7/2000, miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông với thời gian tạm trú không quá 30 ngày. - Việt Nam ký Hiệp định miễn thị thực song phương với Singapore, có hiệu lực từ ngày 10/11/2003 cho phép người mang hộ chiếu phổ thông nhập cảnh, thời gian tạm trú không quá 30 ngày, với điều kiện hộ chiếu còn giá trị ít nhất 6 tháng và có vé khứ hồi hoặc có vé đi tiếp nước khác, có khả năng tài chính chi trả trong thời gian tạm trú và có đủ các điều kiện cần thiết để đi tiếp nước khác bao gồm cả thị thực. Trường hợp có dự định lưu trú quá 30 ngày thì phải xin cấp phép thị thực. - Việt Nam đã ký Hiệp định, Thỏa thuận và trao đổi miễn thị thực song phương với 82 quốc gia, danh sách các quốc gia và nội dung cụ thể của các Hiệp định, Thỏa thuận đã được đăng tải trên website của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao." } ], "id": "93", "is_impossible": false, "question": "Miễn visa cho người Việt Nam khi đi du lịch nước ngoài" } ] } ], "title": "Miễn visa cho người Việt Nam khi đi du lịch nước ngoài" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo nội dung thư của chị Trần Thị Hà trình bày thì chị Hà đang ở Ba Lan, cháu Vũ đang ở Việt Nam; thông tin chi tiết về thân nhân, địa chỉ của cháu Vũ không đầy đủ và cũng không có giấy tờ kèm theo như trong thư chị Hà nêu nên Cục Quản lý xuất nhập cảnh không đủ cơ sở để kiểm tra và hướng dẫn.Do đó, đề nghị chị Hà thông báo cho người thân (người giám hộ hợp pháp của cháu Vũ) trực tiếp liên hệ với Cục Quản lý xuất nhập cảnh theo địa chỉ: (44 - 46 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội - ĐT 04 38260922 hoặc số 7 Trần Quý Cáp, TP. Đà Nẵng - ĐT 0511 3822131 hoặc 254 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Duy Trinh, quận 1, TP. Hồ Chí Minh - ĐT 08 39201701) để được giải đáp chi tiết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 442, "text": "(44 - 46 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội - ĐT 04 38260922 hoặc số 7 Trần Quý Cáp, TP. Đà Nẵng - ĐT 0511 3822131 hoặc 254 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Duy Trinh, quận 1, TP. Hồ Chí Minh - ĐT 08 39201701) để được giải đáp chi tiết." } ], "id": "94", "is_impossible": false, "question": "Thủ tục xuất cảnh" } ] } ], "title": "Thủ tục xuất cảnh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 03/02/2016 Tổng cục Cảnh sát có Công văn số 380/C41-C72 về việc hướng dẫn xác nhận số CMND cho công dân gửi Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, khi công dân chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác thì Phòng PC64 nơi công dân chuyển đi có trách nhiệm sao gửi hồ sơ CMND đến Phòng PC64 nơi công dân chuyển đến để lưu vào hồ sơ CMND. Khi công dân đã được cấp CMND theo tỉnh, thành phố nơi chuyển đến đề nghị cấp Giấy xác nhận số CMND cũ đã được cấp tại tỉnh, thành phố nơi chuyển đến là của cùng một người thì đơn vị làm thủ tục cấp CMND của Phòng PC64 hoặc Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi công dân chuyển đến có trách nhiệm tiếp nhận đề nghị của công dân và tiến hành xác nhận số CMND cũ cho công dân.Trường hợp tra cứu trong kho tàng thư Căn cước công dân không có hồ sơ cấp CMND cũ của công dân do Công an tỉnh, thành phố nơi chuyển đi của công dân chưa gửi đến thì Công an nơi tiếp nhận đề nghị cấp Giấy xác nhận của công dân có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị Phòng PC64 Công an tỉnh, thành phố nơi công dân chuyển đi tra cứu tàng thư Căn cước công dân để gửi tờ khai, chỉ bản cùng các thủ tục theo quy định làm căn cứ xác nhận số CMND cho công dân.Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 6 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về CMND thì khi công dân làm thủ tục đổi CMND phải nộp lại CMND cũ. Vì vậy, công dân chỉ có thể dùng 1 CMND hiện nay có hộ khẩu thường trú do Công an tỉnh Đắk Nông cấp.Căn cứ hướng dẫn trên, công dân có thể đến nơi đã tiếp nhận hồ sơ làm thủ tục cấp CMND (Công an cấp huyện hoặc Phòng PC64 Công an tỉnh Đắk Nông) để được xác nhận số CMND.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Ngày 03/02/2016 Tổng cục Cảnh sát có Công văn số 380/C41-C72 về việc hướng dẫn xác nhận số CMND cho công dân gửi Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, khi công dân chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác thì Phòng PC64 nơi công dân chuyển đi có trách nhiệm sao gửi hồ sơ CMND đến Phòng PC64 nơi công dân chuyển đến để lưu vào hồ sơ CMND. Khi công dân đã được cấp CMND theo tỉnh, thành phố nơi chuyển đến đề nghị cấp Giấy xác nhận số CMND cũ đã được cấp tại tỉnh, thành phố nơi chuyển đến là của cùng một người thì đơn vị làm thủ tục cấp CMND của Phòng PC64 hoặc Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi công dân chuyển đến có trách nhiệm tiếp nhận đề nghị của công dân và tiến hành xác nhận số CMND cũ cho công dân.Trường hợp tra cứu trong kho tàng thư Căn cước công dân không có hồ sơ cấp CMND cũ của công dân do Công an tỉnh, thành phố nơi chuyển đi của công dân chưa gửi đến thì Công an nơi tiếp nhận đề nghị cấp Giấy xác nhận của công dân có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị Phòng PC64 Công an tỉnh, thành phố nơi công dân chuyển đi tra cứu tàng thư Căn cước công dân để gửi tờ khai, chỉ bản cùng các thủ tục theo quy định làm căn cứ xác nhận số CMND cho công dân.Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 6 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về CMND thì khi công dân làm thủ tục đổi CMND phải nộp lại CMND cũ. Vì vậy, công dân chỉ có thể dùng 1 CMND hiện nay có hộ khẩu thường trú do Công an tỉnh Đắk Nông cấp.Căn cứ hướng dẫn trên, công dân có thể đến nơi đã tiếp nhận hồ sơ làm thủ tục cấp CMND (Công an cấp huyện hoặc Phòng PC64 Công an tỉnh Đắk Nông) để được xác nhận số CMND." } ], "id": "95", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về việc xác nhận hai CMND là của một người" } ] } ], "title": "Hỏi về việc xác nhận hai CMND là của một người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Trong hộ chiếu (mặt trong bìa sau) có nội dung quy định đối với người được cấp hộ chiếu, theo đó yêu cầu không được tẩy xóa, viết thêm, sửa đổi những nội dung ghi trong hộ chiếu; nên để đảm bảo cho việc làm thủ tục xuất nhập cảnh được thuận lợi, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đề nghị bạn làm thủ tục cấp lại hộ chiếu nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Trong hộ chiếu (mặt trong bìa sau) có nội dung quy định đối với người được cấp hộ chiếu, theo đó yêu cầu không được tẩy xóa, viết thêm, sửa đổi những nội dung ghi trong hộ chiếu; nên để đảm bảo cho việc làm thủ tục xuất nhập cảnh được thuận lợi, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đề nghị bạn làm thủ tục cấp lại hộ chiếu nêu trên." } ], "id": "96", "is_impossible": false, "question": "Ký tên nhầm trên hộ chiếu có cần làm lại hộ chiếu mới không?" } ] } ], "title": "Ký tên nhầm trên hộ chiếu có cần làm lại hộ chiếu mới không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định, người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam phải thông qua người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú để khai báo tạm trú. Cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn thực hiện việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài qua Trang thông tin điện tử của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt cơ sở lưu trú. Các cơ sở lưu trú khác được lựa chọn một trong hai cách thức khai báo tạm trú cho người nước ngoài qua Trang thông tin điện tử hoặc bằng Phiếu khai báo tạm trú với Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an nơi có cơ sở lưu trú. Khuyến khích thực hiện qua Trang thông tin điện tử.Để thực hiện khai báo tạm trú cho người nước ngoài qua Trang thông tin điện tử, các cơ sở lưu trú chỉ cần thực hiện các thao tác đơn giản sau:Bước 1: Truy cập Trang thông tin điện tử của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố nơi đặt cơ sở lưu trú để nhận tài khoản khai báo (https://tentinh.xuatnhapcanh.gov.vn).Bước 2: Đăng nhập hệ thống.Bước 3: Nhập thông tin tạm trú của người nước ngoài. Với những nơi chưa đủ điều kiện thực hiện khai báo tạm trú cho người nước ngoài qua Trang thông tin điện tử vẫn tiếp tục thực hiện bằng Phiếu khai báo tạm trú.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 801, "text": "Bước 1: Truy cập Trang thông tin điện tử của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố nơi đặt cơ sở lưu trú để nhận tài khoản khai báo (https://tentinh.xuatnhapcanh.gov.vn).Bước 2: Đăng nhập hệ thống.Bước 3: Nhập thông tin tạm trú của người nước ngoài. Với những nơi chưa đủ điều kiện thực hiện khai báo tạm trú cho người nước ngoài qua Trang thông tin điện tử vẫn tiếp tục thực hiện bằng Phiếu khai báo tạm trú." } ], "id": "97", "is_impossible": false, "question": "Thủ tục xin visa cho người nước ngoài ở Việt Nam" } ] } ], "title": "Thủ tục xin visa cho người nước ngoài ở Việt Nam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ điểm b khoản1 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, xử phạt đối với cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản.Về việc mượn xe, thuê xe hay vợ chồng điều khiển xe của nhau, con lấy xe bố, mẹ để di chuyển… là quan hệ dân sự, điều này không phát sinh thủ tục hành chính là “thủ tục đăng ký sang tên xe” cho nên không bị xử phạt với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe./.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Căn cứ điểm b khoản1 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, xử phạt đối với cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản.Về việc mượn xe, thuê xe hay vợ chồng điều khiển xe của nhau, con lấy xe bố, mẹ để di chuyển… là quan hệ dân sự, điều này không phát sinh thủ tục hành chính là “thủ tục đăng ký sang tên xe” cho nên không bị xử phạt với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe./." } ], "id": "98", "is_impossible": false, "question": "Về việc xử phạt xe không chính chủ" } ] } ], "title": "Về việc xử phạt xe không chính chủ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Căn cước công dân và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Căn cước công dân không quy định đối tượng ưu tiên được cấp Căn cước công dân là cán bộ, chiến sỹ đang công tác trong lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nhân dân nói riêng. Tuy nhiên hiện nay, lực lượng Công an đang triển khai “Chiến dịch” cấp 50 triệu thẻ Căn cước công dân gắn chíp điện tử, phấn đấu hoàn thành trước ngày 01/7/2021. Theo đó, Công an các địa phương sẽ tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động tại các địa bàn xã, phường, thị trấn, các cơ quan trường học, đơn vị lực lượng vũ trang. Bạn Nguyễn Thành Nam có thể liên hệ với Công an xã, phường, thị trấn nơi đơn vị đóng quân để nắm được thời gian, cách thức làm việc của các tổ cấp Căn cước công dân lưu động tại địa phương. Như vậy, đơn vị bạn Nam đóng quân sẽ được Công an địa phương phối hợp tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động. Công dân không cần chuẩn bị giấy tờ gì khi thu nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân nếu thông tin công dân đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp công dân chưa có dữ liệu thông tin dân cư hoặc có sự thay đổi, điều chỉnh thông tin dân cư thì xuất trình Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân, giấy tờ hợp pháp để chứng minh nội dung thay đổi, điều chỉnh.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Luật Căn cước công dân và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Căn cước công dân không quy định đối tượng ưu tiên được cấp Căn cước công dân là cán bộ, chiến sỹ đang công tác trong lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nhân dân nói riêng. Tuy nhiên hiện nay, lực lượng Công an đang triển khai “Chiến dịch” cấp 50 triệu thẻ Căn cước công dân gắn chíp điện tử, phấn đấu hoàn thành trước ngày 01/7/2021. Theo đó, Công an các địa phương sẽ tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động tại các địa bàn xã, phường, thị trấn, các cơ quan trường học, đơn vị lực lượng vũ trang. Bạn Nguyễn Thành Nam có thể liên hệ với Công an xã, phường, thị trấn nơi đơn vị đóng quân để nắm được thời gian, cách thức làm việc của các tổ cấp Căn cước công dân lưu động tại địa phương. Như vậy, đơn vị bạn Nam đóng quân sẽ được Công an địa phương phối hợp tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động. Công dân không cần chuẩn bị giấy tờ gì khi thu nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân nếu thông tin công dân đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp công dân chưa có dữ liệu thông tin dân cư hoặc có sự thay đổi, điều chỉnh thông tin dân cư thì xuất trình Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân, giấy tờ hợp pháp để chứng minh nội dung thay đổi, điều chỉnh." } ], "id": "99", "is_impossible": false, "question": "Cán bộ, chiến sỹ công tác tại nơi xa nhà có được ưu tiên cấp Căn cước công dân gắn chíp điện tử hay không?" } ] } ], "title": "Cán bộ, chiến sỹ công tác tại nơi xa nhà có được ưu tiên cấp Căn cước công dân gắn chíp điện tử hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Điều 14 Thông tư số 07/2016/TT-BCA ngày 01/02/2016 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật Căn cước công dân và Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân quy định về đối tượng, trình tự, thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân cho người đang ở trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân như sau: - Đối với những công dân trong biên chế chính thức của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể chưa đăng ký thường trú tại một địa chỉ xác định khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư số 07/2016/TT-BCA ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Công an. Riêng việc xuất trình sổ hộ khẩu được thay bằng giấy chứng minh do Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cấp; trường hợp chưa có giấy chứng minh do Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cấp thì xuất trình quyết định tuyển dụng, điều động hoặc phân công công tác. Đối với các trường hợp nêu trên, khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân cần kèm theo giấy giới thiệu của thủ trưởng đơn vị và mục nơi thường trú trên thẻ Căn cước công dân được ghi theo địa chỉ trụ sở đơn vị nơi công dân đang trực tiếp công tác. - Thẩm quyền cấp giấy giới thiệu cho người đang ở trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân để làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân là thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp cán bộ, chiến sỹ đó (ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu); đối với đơn vị trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không được sử dụng con dấu riêng thì người cấp giấy giới thiệu là thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp của đơn vị đó được sử dụng con dấu riêng; Người cấp giấy giới thiệu làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân phải chịu trách nhiệm cấp đúng đối tượng theo quy định (là cán bộ, chiến sỹ đang sinh sống ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể của đơn vị quản lý và chưa đăng ký thường trú theo hộ gia đình). Trường hợp công dân trong biên chế chính thức của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã đăng ký thường trú tại một địa chỉ xác định thì việc cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thực hiện như đối với công dân khác”. Như vậy, đối với trường hợp công dân nêu đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể chưa đăng ký thường trú theo hộ gia đình thì khi làm thủ tục cấp Căn cước công dân phải xuất trình giấy giới thiệu, kèm giấy Chứng minh Công an nhân dân hoặc quyết định tuyển dụng, điều động hoặc phân công công tác đến Công an cấp huyện nơi đơn vị đóng quân để làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 398, "text": "- Đối với những công dân trong biên chế chính thức của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể chưa đăng ký thường trú tại một địa chỉ xác định khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư số 07/2016/TT-BCA ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Công an. Riêng việc xuất trình sổ hộ khẩu được thay bằng giấy chứng minh do Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cấp; trường hợp chưa có giấy chứng minh do Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cấp thì xuất trình quyết định tuyển dụng, điều động hoặc phân công công tác. Đối với các trường hợp nêu trên, khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân cần kèm theo giấy giới thiệu của thủ trưởng đơn vị và mục nơi thường trú trên thẻ Căn cước công dân được ghi theo địa chỉ trụ sở đơn vị nơi công dân đang trực tiếp công tác. - Thẩm quyền cấp giấy giới thiệu cho người đang ở trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân để làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân là thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp cán bộ, chiến sỹ đó (ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu); đối với đơn vị trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không được sử dụng con dấu riêng thì người cấp giấy giới thiệu là thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp của đơn vị đó được sử dụng con dấu riêng; Người cấp giấy giới thiệu làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân phải chịu trách nhiệm cấp đúng đối tượng theo quy định (là cán bộ, chiến sỹ đang sinh sống ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể của đơn vị quản lý và chưa đăng ký thường trú theo hộ gia đình). Trường hợp công dân trong biên chế chính thức của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã đăng ký thường trú tại một địa chỉ xác định thì việc cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thực hiện như đối với công dân khác”. Như vậy, đối với trường hợp công dân nêu đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể chưa đăng ký thường trú theo hộ gia đình thì khi làm thủ tục cấp Căn cước công dân phải xuất trình giấy giới thiệu, kèm giấy Chứng minh Công an nhân dân hoặc quyết định tuyển dụng, điều động hoặc phân công công tác đến Công an cấp huyện nơi đơn vị đóng quân để làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định." } ], "id": "100", "is_impossible": false, "question": "Thủ tục làm thẻ Căn cước công dân theo địa chỉ của hộ khẩu tập thể" } ] } ], "title": "Thủ tục làm thẻ Căn cước công dân theo địa chỉ của hộ khẩu tập thể" }