{ "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ của Quốc hội, số 42/2019/QH14": { "1": "Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm\n\n1. Bổ sung các khoản 21, 22, 23, 24, 25 và 26 vào sau khoản 20 Điều 3 như sau:\n\n“21. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm.\n\n22. Tư vấn bảo hiểm là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn về chương trình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, quản trị rủi ro bảo hiểm và đề phòng, hạn chế tổn thất.\n\n23. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm.\n\n24. Tính toán bảo hiểm là hoạt động thu thập, phân tích số liệu thống kê, tính phí bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ, vốn, biên khả năng thanh toán, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, xác định giá trị doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.\n\n25. Giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất, tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm.\n\n26. Hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm là hoạt động hỗ trợ bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các thủ tục giải quyết bồi thường bảo hiểm.”.\n\n2. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau:\n\n“Điều 11. Quyền tham gia các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về kinh doanh bảo hiểm\n\nDoanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm được tham gia các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích phát triển thị trường bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên theo quy định của pháp luật.”.\n\n3. Sửa đổi, bổ sung tên Chương IV như sau:\n\n“Chương IV\n\nĐẠI LÝ BẢO HIỂM, DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM, DỊCH VỤ PHỤ TRỢ BẢO HIỂM”\n\n4. Bổ sung Mục 3 vào sau Mục 2 Chương IV như sau:\n\n“Mục 3\n\nDỊCH VỤ PHỤ TRỢ BẢO HIỂM\n\nĐiều 93a. Cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm\n\n1. Nguyên tắc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm:\n\na) Trung thực, khách quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan;\n\nb) Tuân theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm;\n\nc) Tuân theo quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành.\n\n2. Cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 93b của Luật này được quyền cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm theo quy định sau đây:\n\na) Cá nhân được quyền cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm;\n\nb) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức khác có tư cách pháp nhân được quyền cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm (gọi chung là tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm).\n\n3. Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm:\n\na) Giữ bí mật thông tin khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích và không được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật;\n\nb) Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;\n\nc) Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà tổ chức đó đồng thời là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;\n\nd) Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà doanh nghiệp đó thực hiện thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm.\n\n4. Hợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải được lập thành văn bản.\n\nĐiều 93b. Điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm\n\n1. Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:\n\na) Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;\n\nb) Có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành khác và chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp.\n\n2. Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:\n\na) Có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động hợp pháp;\n\nb) Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động phụ trợ bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải có đủ các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; có văn bằng, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm phù hợp với loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thực hiện do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp.\n\nCá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giám định viên theo quy định của pháp luật về thương mại.\n\nCá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động tính toán bảo hiểm còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về tuân thủ pháp luật, đạo đức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về hành nghề tính toán bảo hiểm, tư cách thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểm quốc tế.\n\nChính phủ quy định chi tiết điểm này.\n\n3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về nội dung chương trình đào tạo, thi, cấp chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm đối với các cơ sở đào tạo ở trong nước và quy định việc công nhận đối với chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm do cơ sở đào tạo ở nước ngoài cấp.”.\n\n5. Sửa đổi, bổ sung tên Chương VI như sau:\n\n“Chương VI\n\nDOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VÀ DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI; CUNG CẤP DỊCH VỤ QUA BIÊN GIỚI”\n\n6. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 105 như sau:\n\n“2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm qua biên giới theo quy định của Chính phủ.”.\n\n7. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 120 như sau:\n\na) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:\n\n“1. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; xây dựng chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;”;\n\nb) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:\n\n“4. Giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro và việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm.\n\nGiám sát hoạt động cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thông qua việc chấp hành quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới;”.\n\n8. Bổ sung khoản 9a vào sau khoản 9 Điều 124 như sau:\n\n“9a. Vi phạm quy định về quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; cung cấp loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới;”.", "3": "Hiệu lực thi hành\n\n1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2019, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.\n\n2. Bổ sung mục 32a vào sau mục 32 Phụ lục 4 Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 90/2015/QH13, Luật số 03/2016/QH14, Luật số 04/2017/QH14 và Luật số 28/2018/QH14 như sau:\n\n“32a. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm”.\n\n3. Các dịch vụ phụ trợ bảo hiểm mới phát sinh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Chính phủ quy định và phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành.\n\n4. Các quy định về sở hữu trí tuệ tại Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với các trường hợp sau đây:\n\na) Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp có ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;\n\nb) Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý được cấp trên cơ sở đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp có ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;\n\nc) Yêu cầu chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;\n\nd) Vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý từ ngày 14 tháng 01 năm 2019; yêu cầu khác về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.", "2": "Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ\n\n1. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 6 như sau:\n\n“a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.\n\nQuyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.\n\nQuyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;”.\n\n2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 60 như sau:\n\n“3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ.\n\n4. Quy định tại khoản 3 Điều này cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.”.\n\n3. Sửa đổi, bổ sung Điều 61 như sau:\n\n“Điều 61. Trình độ sáng tạo của sáng chế\n\n1. Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.\n\n2. Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bộc lộ theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 60 của Luật này không được lấy làm cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế đó.”.\n\n4. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 80 như sau:\n\na) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:\n\n“1. Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa theo nhận thức của người tiêu dùng có liên quan trên lãnh thổ Việt Nam;”;\n\nb) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:\n\n“3. Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ hoặc đã được nộp theo đơn đăng ký nhãn hiệu có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại của hàng hóa;”.\n\n5. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 89 như sau:\n\n“3. Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến.”.\n\n6. Sửa đổi, bổ sung tên Mục 4 Chương VIII như sau:\n\n“Mục 4\n\nĐƠN QUỐC TẾ, ĐỀ NGHỊ QUỐC TẾ VÀ XỬ LÝ ĐƠN QUỐC TẾ, ĐỀ NGHỊ QUỐC TẾ”\n\n7. Bổ sung Điều 120a vào sau Điều 120 trong Mục 4 Chương VIII như sau:\n\n“Điều 120a. Đề nghị quốc tế và xử lý đề nghị quốc tế về chỉ dẫn địa lý\n\n1. Đề nghị công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang đàm phán gọi là đề nghị quốc tế.\n\n2. Việc công bố đề nghị quốc tế, xử lý ý kiến của người thứ ba, đánh giá điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý trong đề nghị quốc tế được thực hiện theo các quy định tương ứng tại Luật này đối với chỉ dẫn địa lý trong đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.”.\n\n8. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 136 như sau:\n\n“2. Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu. Việc sử dụng nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này.”.\n\n9. Sửa đổi, bổ sung Điều 148 như sau:\n\n“Điều 148. Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp\n\n1. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.\n\n2. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên.\n\n3. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại khoản 2 Điều này, trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba.\n\n4. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao bị chấm dứt.”.\n\n10. Bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào sau khoản 3 Điều 198 như sau:\n\n“4. Tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí hợp lý để thuê luật sư hoặc các chi phí khác theo quy định của pháp luật.\n\n5. Tổ chức, cá nhân lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lạm dụng thủ tục đó phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong đó bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư. Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục này.”.\n\n11. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 205 như sau:\n\n“1. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:\n\na) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;\n\nb) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;\n\nc) Thiệt hại vật chất theo các cách tính khác do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra phù hợp với quy định của pháp luật;\n\nd) Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.”.\n\n12. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 218 như sau:\n\n“1. Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật này thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng. Cơ quan hải quan cung cấp cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông tin về tên và địa chỉ của người gửi hàng; nhà xuất khẩu, người nhận hàng hoặc nhà nhập khẩu; bản mô tả hàng hóa; số lượng hàng hóa; nước xuất xứ của hàng hóa nếu biết, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính để xử lý đối với hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu theo quy định tại khoản 4 Điều 216 của Luật này.”." }, "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội của Quốc hội, số 62/2025/QH15": { "2": "Hiệu lực thi hành\n\n1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày được Quốc hội thông qua.\n\n2. Các Ủy ban của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội được tổ chức theo Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 tiếp tục hoạt động cho đến khi Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyết định về việc kết thúc hoạt động.\n\n___________________________________________\n\nLuật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp bất thường lần thứ 9 thông qua ngày 17 tháng 02 năm 2025.\n\nCHỦ TỊCH QUỐC HỘI\n\n(Đã ký)\n\nTrần Thanh Mẫn\n\nQUỐC HỘI______________Luật số: 62/2025/QH15CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc__________________LUẬTSỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14.Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội1. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau:“Điều 5. Làm luật và sửa đổi luật1. Quốc hội ban hành luật để quy định về các nội dung sau đây:a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt; tố tụng tư pháp;c) Chính sách cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định các thứ thuế, về huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;d) Chính sách cơ bản về quốc phòng, an ninh quốc gia; hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;đ) Chính sách cơ bản về đối ngoại; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác;e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;g) Trưng cầu ý dân;h) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;i) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và luật.2. Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính ổn định, có giá trị lâu dài; quy định cụ thể các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân, tố tụng tư pháp, các vấn đề có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và xã hội. Đối với các nội dung quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực, các vấn đề mới, có tính kiến tạo phát triển, các vấn đề chưa có thực tiễn kiểm nghiệm, luật chỉ quy định các nội dung chính sách có tính nguyên tắc, định hướng thuộc thẩm quyền của Quốc hội để thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng; phân quyền cho Chính phủ, các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc tiếp tục cụ thể hóa các quy định của luật và thực hiện phân cấp bảo đảm phù hợp với năng lực tổ chức thực hiện của từng cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương các cấp và kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn; cơ bản không quy định các nội dung về thủ tục hành chính, về quy trình, quy chuẩn chuyên môn, kỹ thuật và các nội dung có tính biến động cao.3. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định về các nội dung sau đây:a) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội khác với quy định của luật hiện hành;b) Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;c) Vấn đề khác do Quốc hội quyết định.4. Việc xây dựng pháp luật theo từng nhiệm kỳ được xác định và thực hiện theo Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội.5. Trình tự, thủ tục xây dựng, xem xét, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.”.2. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 8 như sau:“6. Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.”.3. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:“Điều 12. Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệmQuốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thực hiện theo quy định của Quốc hội.”.4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 30 như sau:“1. Đại biểu Quốc hội có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.Căn cứ vào năng lực chuyên môn, yêu cầu công tác và khả năng bố trí thời gian tham gia đầy đủ hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có thể đăng ký tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc một Ủy ban của Quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phù hợp với cơ cấu số lượng thành viên của từng cơ quan đã được quyết định.”.5. Sửa đổi, bổ sung Điều 39 như sau:“Điều 39. Việc tạm đình chỉ hoặc mất quyền đại biểu Quốc hội1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong các trường hợp sau đây:a) Đại biểu Quốc hội bị khởi tố bị can;b) Trong quá trình xem xét, xử lý hành vi vi phạm của đại biểu Quốc hội, có cơ sở xác định phải xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên đối với đại biểu Quốc hội là cán bộ, công chức, viên chức hoặc xử lý bằng pháp luật hình sự mà cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã có văn bản đề nghị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội đối với đại biểu Quốc hội đó. 2. Đại biểu Quốc hội được trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu và khôi phục các lợi ích hợp pháp khi cơ quan có thẩm quyền có quyết định, kết luận về việc không có vi phạm, không xử lý kỷ luật, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với đại biểu đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên đại biểu đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự. Trường hợp đại biểu Quốc hội bị xử lý kỷ luật thì tùy theo tính chất, mức độ mà có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc cho trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu hay đề nghị Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội.3. Đại biểu Quốc hội bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”.6. Sửa đổi, bổ sung Điều 48 như sau:“Điều 48. Xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết1. Ủy ban thường vụ Quốc hội chủ trì xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quyết định và điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội; cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết, về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội trước khi trình Quốc hội và chủ trì tổ chức việc trình Quốc hội xem xét, thông qua luật, nghị quyết.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; ban hành nghị quyết để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.Trình tự, thủ tục xây dựng, xem xét, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.”. 7. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 53 như sau:“1. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.2. Quyết định số lượng, phê chuẩn danh sách và việc cho thôi đối với Phó Chủ tịch, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng dân tộc và Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm của Hội đồng dân tộc.Quyết định số lượng, phê chuẩn danh sách và việc cho thôi đối với Phó Chủ nhiệm, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban và Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm của Ủy ban của Quốc hội.”.8. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 54 như sau:“4. Xem xét đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội, người trúng cử đại biểu Quốc hội, khám xét nơi ở, nơi làm việc của đại biểu Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp; quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này; báo cáo với Quốc hội về việc đại biểu Quốc hội mất quyền đại biểu.”.9. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 60 như sau:“4. Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội được mời tham dự các phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được mời tham dự phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội bàn về những nội dung thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy ban phụ trách.”.10. Sửa đổi, bổ sung Điều 66 như sau:“Điều 66. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội1. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội là các cơ quan của Quốc hội, do Quốc hội quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội để thực hiện chức năng hoạt động thường xuyên quy định tại Điều 68a của Luật này, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.2. Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội trong trường hợp cần thiết theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.”.11. Sửa đổi, bổ sung Điều 67 như sau:“Điều 67. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội 1. Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng dân tộc và Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm của Hội đồng dân tộc. Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban và Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm của Ủy ban.2. Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu. Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên của Hội đồng dân tộc, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên của Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.3. Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội là bộ phận thường trực, làm việc thường xuyên giúp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội giải quyết các công việc của Hội đồng, Ủy ban trong thời gian Hội đồng, Ủy ban không họp và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định và phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội.4. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có đơn vị chuyên môn, trực tiếp tham mưu, giúp việc Hội đồng, Ủy ban. 5. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về cơ cấu tổ chức, hoạt động, quy chế làm việc mẫu của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của đơn vị chuyên môn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; quyết định biên chế và quy định chế độ, chính sách áp dụng đối với đội ngũ công chức giúp việc cho Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phù hợp với tính chất đặc thù trong hoạt động của Quốc hội.”.12. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 68 như sau:“1. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số kết hợp với đề cao trách nhiệm của Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy ban và vai trò điều hành của Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm Ủy ban.”.13. Bổ sung Điều 68a vào sau Điều 68 như sau:“Điều 68a. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội1. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thực hiện các chức năng sau đây:a) Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; thẩm tra các báo cáo, dự án, đề án khác thuộc lĩnh vực được giao phụ trách;b) Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan nhà nước khác ở trung ương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương thuộc lĩnh vực được giao phụ trách;c) Kiến nghị các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của cơ quan mình;d) Trình dự án luật, nghị quyết trước Quốc hội, dự án pháp lệnh, nghị quyết trước Ủy ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực được giao phụ trách;đ) Thực hiện một số chức năng khác theo quy định của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.”.14. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 84 như sau:“2. Việc triển khai các hoạt động đối ngoại của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội và cấp có thẩm quyền.”.15. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 90 như sau:“2. Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ.Kỳ họp không thường lệ của Quốc hội được tổ chức khi có yêu cầu của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội để kịp thời xem xét, quyết định các vấn đề cấp bách thuộc thẩm quyền của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.”.16. Sửa đổi, bổ sung tên gọi của Chương VI như sau: “Bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Quốc hội”.17. Sửa đổi, bổ sung Điều 99 như sau: “Điều 99. Văn phòng Quốc hội1. Văn phòng Quốc hội là cơ quan hành chính, tham mưu tổng hợp, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.2. Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội về hoạt động của Văn phòng Quốc hội.Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người phát ngôn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.3. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội; quyết định biên chế, quy định chế độ, chính sách áp dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác thuộc Văn phòng Quốc hội phù hợp với tính chất đặc thù trong hoạt động của Quốc hội.”.18. Sửa đổi, bổ sung Điều 101 như sau:“Điều 101. Kinh phí hoạt động của Quốc hội1. Kinh phí hoạt động của Quốc hội là một khoản trong ngân sách nhà nước do Quốc hội quyết định, bao gồm kinh phí hoạt động chung của Quốc hội, kinh phí hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, lương của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, hoạt động phí, thù lao tham gia hoạt động Quốc hội, các khoản phụ cấp và các chế độ của đại biểu Quốc hội gắn với hoạt động của Quốc hội và do Văn phòng Quốc hội quản lý.2. Việc dự toán, quản lý, cấp và sử dụng kinh phí hoạt động của Quốc hội được thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội phù hợp với tính chất đặc thù trong hoạt động của Quốc hội.”.19. Thay cụm từ “phiên họp bất thường” tại khoản 1 Điều 33, cụm từ “kỳ họp bất thường” tại khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 92 bằng cụm từ “kỳ họp không thường lệ”; thay cụm từ “họp bất thường” tại khoản 3 Điều 33 bằng cụm từ “tổ chức kỳ họp không thường lệ”.20. Bỏ cụm từ “các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội,” tại khoản 4 Điều 58.21. Bãi bỏ các điều 13, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, khoản 2 Điều 80, khoản 3 Điều 84, các điều 85, 86, 87, 98 và 100.Điều 2. Hiệu lực thi hành1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày được Quốc hội thông qua.2. Các Ủy ban của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội được tổ chức theo Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 tiếp tục hoạt động cho đến khi Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyết định về việc kết thúc hoạt động.___________________________________________Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp bất thường lần thứ 9 thông qua ngày 17 tháng 02 năm 2025.CHỦ TỊCH QUỐC HỘI (Đã ký)Trần Thanh Mẫn" }, "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng của Quốc hội, số 62/2020/QH14": { "2": "Sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 40/2019/QH14\n\nSửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:\n\n“Điều 17. Hình thức phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng nhà ở\n\n1. Hình thức phát triển nhà ở bao gồm:\n\na) Phát triển nhà ở theo dự án đầu tư xây dựng nhà ở;\n\nb) Phát triển nhà ở theo dự án đầu tư xây dựng khu đô thị;\n\nc) Phát triển nhà ở của hộ gia đình, cá nhân.\n\n2. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo quy định của Luật này bao gồm:\n\na) Dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo một công trình nhà ở độc lập hoặc một cụm công trình nhà ở;\n\nb) Dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ tại khu vực nông thôn;\n\nc) Dự án đầu tư xây dựng sử dụng đất hỗn hợp có diện tích đất trong dự án để xây dựng nhà ở;\n\nd) Dự án đầu tư xây dựng công trình có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.\n\n3. Việc đầu tư xây dựng khu đô thị quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải tuân thủ quy định về nhà ở theo pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan.”." }, "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính lần 1": { "2": "Bổ sung, thay thế, bỏ một số từ, cụm từ, dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại một số điều, khoản, điểm của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13\n\n1. Bổ sung một số từ, cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy vào các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13\n\na) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại điểm c khoản 1 Điều 6;\n\nb) Bổ sung cụm từ “; văn hóa; đất đai; xây dựng” vào sau cụm từ “an ninh trật tự, an toàn xã hội” tại khoản 1 Điều 23;\n\nc) Bổ sung từ “tín ngưỡng;” vào trước từ “tôn giáo”, từ “; đối ngoại” vào sau từ “thống kê” tại điểm a khoản 1, cụm từ “; kiểm toán nhà nước” vào sau cụm từ “bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản” tại điểm đ khoản 1 Điều 24.\n\nd) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại khoản 4 Điều 62.\n\nđ) Bổ sung cụm từ “phương tiện vi phạm hành chính,” vào sau cụm từ “tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật,” tại khoản 8 Điều 125.\n\n2. Thay thế cụm từ tại các điều, khoản sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13\n\na) Thay thế cụm từ “xử phạt một người thực hiện” bằng cụm từ “một vụ việc có” tại khoản 4 Điều 52;\n\nb) Thay thế cụm từ “khoản 1 Điều này” bằng cụm từ “khoản 3 Điều này” tại khoản 4, thay thế cụm từ “làm chứng” bằng cụm từ “chứng kiến” tại khoản 9 Điều 125.\n\n3. Bỏ cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13\n\na) Bỏ cụm từ “Vi phạm hành chính nhiều lần;” tại điểm b khoản 1 Điều 10;\n\nb) Bỏ cụm từ “06 tháng,” tại khoản 3, khoản 4, điểm c khoản 5 Điều 17.\n\nc) Bỏ cụm từ “có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này” tại điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 38; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 39; điểm c khoản 3 Điều 40; điểm c khoản 4, điểm c khoản 5 điểm c khoản 6 Điều 41; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4 Điều 42; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 43; điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 44; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 45; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 46; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 47; điểm c khoản 1, điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 48; điểm c khoản 2, điểm c khoản 4 Điều 49;\n\nd) Bỏ cụm từ “tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ;” tại khoản 2 Điều 58;\n\nđ) Bỏ cụm từ “người tiến hành tịch thu,” tại khoản 1 Điều 81;\n\ne) Bỏ cụm từ “và 3” tại khoản 6 Điều 90;\n\ng) Bỏ cụm từ “người ra quyết định tạm giữ,” tại khoản 9 Điều 125.", "3": "Điều khoản thi hành\n\n1. Hiệu lực thi hành\n\nLuật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2020.\n\n2. Quy định chi tiết\n\nChính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.\n\nLuật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ thông qua ngày tháng năm 2019.\n\nDỰ THẢO 1LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNHCăn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13.Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH131. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 5: Quy định cụ thể việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài.2. Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 2 Điều 6: Quy định việc xác định thời hiệu đối với đối tượng cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính.3. Sửa đổi, bổ sung Điều 8: Thống nhất cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính.4. Bổ sung Điều 18a vào sau Điều 18 như sau: Quy định cụ thể về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính.4. Bổ sung Điều 19a vào sau Điều 19: Quy định cụ thể về kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.5. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 25: Bổ sung quy định về cách thức xác định thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với một hành vi vi phạm hành chính cụ thể tương tự như quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC .6. Sửa đổi, bổ sung Điều 40: Quy định bổ sung thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện cho Đồn trưởng Đồn biên phòng và Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng.7. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 54: Quy định cụ thể một số nội dung liên quan đến việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính.8. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 52: Quy định cụ thể một số nọi dung liên quan đến xác định thẩm quyền xử phạt và tạm giữ tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm.9. Sửa đổi, bổ sung Điều 60: - Bổ sung từ “phương tiện” vào sau từ “tang vật” tại tên Điều và nội dung Điều 60.- Tăng thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện để xác định giá trị từ “không quá 24 giờ” lên “không quá 48 giờ”, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 48 giờ (so hvới hiện tại là 24 giờ”. - Sửa đổi thời điểm xác định thời hạn bắt đầu tạm giữ, từ “thời điểm ra quyết định tạm giữ” thành “thời điểm tạm giữ thực tế” cho thống nhất với quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật XLVPHC.10. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 64: Bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vụ việc vi phạm hành chính được phát hiện thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính.11. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 65:Quy định cụ thể các vấn đề sau đây:- Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng phải (hiện tại là “có thể”) ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả để khắc phục hậu quả dohành vi vi phạm hành chính gây ra. - Việc tịch thu được thực hiện đối với tất cả các loại tang vật và xử lý đối với tang vật vi phạm hành chính sau khi bị tịch thu sẽ do người có thẩm quyền xử phạt quyết định căn cứ vào tính chất của tang vật vi phạm hành chính bị tịch thu (sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy đối với tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành) theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật XLVPHC.- Việc ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành và tài sản khác thì phải tịch thu. 12. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 71 như sau:Quy định cụ thể: cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 71 lập hồ sơ thành hai bản, bản gốc lưu tại cơ quan lập hồ sơ, bản sao hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có) được chuyển cho cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi hành theo quy định của Luật này. Cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm trả chi phí vận chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.13. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 82 như sau:Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 82 Luật XLVPHC theo hướng như sau: Đối với giấy tờ, tài liệu, chứng từ liên quan tới tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì chuyển cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng tài sản theo quy định tại điểm d khoản này. Trường hợp giấy tờ, tài liệu, chứng từ bị cố ý tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc không còn giá trị sử dụng thì phải tiến hành tiêu hủy”.14. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 87:Bổ sung quy định cụ thể về người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế trong trường hợp chuyển quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành:- Trường hợp chuyển quyết định xử phạt để thi hành theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Luật, nếu cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. - Trường hợp người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì phải báo cáo thủ trưởng của mình là người có thẩm quyền quyết định cưỡng chế được quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật để xem xét ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.15. Sửa đổi khoản 4 Điều 92:Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm “02 lần trong 06 tháng” và quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.16. Sửa đổi khoản 1 Điều 94:Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm “02 lần trong 06 tháng” và quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.17. Sửa đổi khoản 1 Điều 96:Bỏ quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.18. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 122:Quy định bổ sung một số trường hợp được tạm giữ người theo thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan:- Khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;- Khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;- Để bảo đảm việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trưởng giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này;- Để xác định tình trạng nghiện ma túy;- Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.19. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 123:Hướng sửa đổi, bổ sung: Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi vắng mặt và được giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính khác.20. Bổ sung điểm c và điểm d vào sau điểm b khoản 1 Điều 124:Quy định bổ sung thêm một số trường hợp được áp giải người vi phạm nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn: - Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc khi hết thời hạn được hoãn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không tự giác chấp hành quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật XLVPHC.- Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc khi hết thời hạn được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không tự giác đến trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để tiếp tục chấp hành quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 112 của Luật XLVPHC.21. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 126:Sửa đổi, bổ sung quy định tại Đoạn 2 khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC theo hướng cụ thể về trình tự, thủ tục áp dụng, bảo đảm tính khả thi hơn.22. Bãi bỏ một số điểu khoản sau:- Bãi bỏ khoản 3 Điều 49, vì theo Điểm b khoản 1 Điều 163 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã bị bãi bỏ bởi khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì chức danh Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ việc phá sản không được xử phạt vi phạm hành chính. - Bãi bỏ khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 90: Vì các Điều 92, 94, 96 Luật XLVPHC được sửa đổi theo hướng không áp dụng biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi áp dụng các biện pháp: Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 2. Bổ sung, thay thế, bỏ một số từ, cụm từ, dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại một số điều, khoản, điểm của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH131. Bổ sung một số từ, cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy vào các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13a) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại điểm c khoản 1 Điều 6;b) Bổ sung cụm từ “; văn hóa; đất đai; xây dựng” vào sau cụm từ “an ninh trật tự, an toàn xã hội” tại khoản 1 Điều 23;c) Bổ sung từ “tín ngưỡng;” vào trước từ “tôn giáo”, từ “; đối ngoại” vào sau từ “thống kê” tại điểm a khoản 1, cụm từ “; kiểm toán nhà nước” vào sau cụm từ “bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản” tại điểm đ khoản 1 Điều 24.d) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại khoản 4 Điều 62.đ) Bổ sung cụm từ “phương tiện vi phạm hành chính,” vào sau cụm từ “tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật,” tại khoản 8 Điều 125.2. Thay thế cụm từ tại các điều, khoản sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13a) Thay thế cụm từ “xử phạt một người thực hiện” bằng cụm từ “một vụ việc có” tại khoản 4 Điều 52;b) Thay thế cụm từ “khoản 1 Điều này” bằng cụm từ “khoản 3 Điều này” tại khoản 4, thay thế cụm từ “làm chứng” bằng cụm từ “chứng kiến” tại khoản 9 Điều 125.3. Bỏ cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13a) Bỏ cụm từ “Vi phạm hành chính nhiều lần;” tại điểm b khoản 1 Điều 10;b) Bỏ cụm từ “06 tháng,” tại khoản 3, khoản 4, điểm c khoản 5 Điều 17.c) Bỏ cụm từ “có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này” tại điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 38; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 39; điểm c khoản 3 Điều 40; điểm c khoản 4, điểm c khoản 5 điểm c khoản 6 Điều 41; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4 Điều 42; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 43; điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 44; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 45; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 46; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 47; điểm c khoản 1, điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 48; điểm c khoản 2, điểm c khoản 4 Điều 49;d) Bỏ cụm từ “tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ;” tại khoản 2 Điều 58;đ) Bỏ cụm từ “người tiến hành tịch thu,” tại khoản 1 Điều 81;e) Bỏ cụm từ “và 3” tại khoản 6 Điều 90;g) Bỏ cụm từ “người ra quyết định tạm giữ,” tại khoản 9 Điều 125.Điều 3. Điều khoản thi hành1. Hiệu lực thi hànhLuật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2020.2. Quy định chi tiếtChính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ thông qua ngày tháng năm 2019." } }