text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để làm sáng tỏ bài văn là Khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang Bài làm “Chết là hết”, người đời thường nói vậy. Và cuối cùng ai cũng phải chết. Nhưng có những cái chết "không một tiếng vang", lại có những cái chết để “tiếng thơm muôn thuở”. Người nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật đẹp: “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. Có thể nói toàn bộ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là "khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” Phạm Văn Đồng). Thế là đã hơn một thế kỉ trôi qua. Cuộc khởi nghĩa của những người nông dân Cần Giuộc đã thất bại. Họ phải ngã xuống giữa chiến trường trong cảnh "da ngựa bọc thây, xác phàm vội bỏ”Họ là những người thất thế, đúng như vậy. Nhưng bài văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc của Nguyễn Đình Chiểu đã làm họ “sống lại" trong những hình tượng đầy khí phách hiên ngang. Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như răng sao ấy đã tạo cho bài Văn tế âm hưởngcủa một khúc ca bi tráng. Người nghĩa quân Cần Giuộc vốn chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm: “Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung… ". Ấy thế mà khi giặc đến họ liền trở thành những dũng sĩ.Ở họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự giác: Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi chuyến này dốc ra tay bô hổ Trong khi triều đình khiếp nhược, chỉ tính bài nhượng bộ, đầu hàng thì họ đã tự động đứng dậy Tinh thần: “Mến nghĩa lùm quân chiêu mộ" của những người dân cày này thật đáng khâm phục. Cuộc chiến đấu của họ tất nhiên là đầy khó khan: Lực lượng địch, ta quá chênh lệch, thiếu kỹ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí. Đoàn nghĩa quân nông dân chán đất nghèo khổ, lam lũ này gần như đi thẳng đến chiến trường từ những Lúp lều rách nát và những luống cày của họ, không cờ reo, trống giục, không mũ nón, không giáp trụ, cùng chẳng gươm giáo, cung tên… Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”, “gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay. Thế mà họ đã làm cho kẻ thù thất điên bát đảo, khiến cho “mã tà ma ní hồn kinh” Sức mạnh của họ không có gì khác ngoài sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy gan vàng dọ với dạn sát, lấy lòng căm hờn chống lại "tàu thiếc, tàu đồng" Nguyễn Đình Chiểu không quên họ là những nông dân "Mùi tinh chiên vấy đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỗ". Người dân cày vốn hiền lành, nhưng một khi lòng yêu nước ở họ được khơi dậy thì sức mạnh căm thù trờ nên thật dữ dội: Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khỏi chạy đen si, muốn ra cắn cố Lòng căm thù ấy đã đem đến cho họ sự dũng cảm và sức mạnh phi thường. “ kẻ đâm ngang, người chém ngược", họ tả xuug hữu đột, tung hoành ngang dọc như ở chỗ không người: "Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, "xô cửa xông vào, Liều mình như chẳng cỏ”. Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn thật trang trọng, đẹp đẽ. Nhưng ông không che giấu sự thật đau lòng. Bài văn còn là lời ai điếu, là tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sự thất thế và cái chốt của nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho con người,đất trời, cây cỏ cũng phải động lòng: Đoái sông Cần Giuộc: cỏ cậy mấy dặm sầu giăng, Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ. Lắng nghe trong lời văn của Đồ Chiểu như có tiếng khóc, tiếng nấc nghẹn ngào: Ôi thôi thôi! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khác đùng trá hờn, tui phận hạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy!Mẹ già ngồi khóc trẻ,, ngọn đèn khuyaleo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ Cái bi bao trùm lên cả đoạn thơ, nhưng cái bi ở đây không phải là cái bi mà là bi tráng. Đây là nỗi đau lớn vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản lòng, thối chí, bi mà giục giã mọi người đứng dậy hiên ngang cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống. Nhưng chết vinh con hơn sống nhục: Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với mun di rất khổ. Chết như thế thì chết cũng như còn, vì "danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen”, ''tiếng hay trái muôn đời ai cũng mộ”. Chết như thế là để lại tấm gương chói lọ, có sức động viên lớn đối với cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh Ca ngợi người anh hùng chống Mĩ, Nguyễn Văn Trỗi, nhà thơ Tố Hữu viết Có những phút làm nên lịch sử Có cái chết hóa thành bất tử. (Hãy nhớ lấy lời tôi) Đó cũng là cái chốt của những nghĩa sĩ cần Giuộc, những con người thất thế nhưng vẫn hiên ngang" được phản ánh trong bài Văn tế bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu. cảm ơn nhà thơ mù Đồ Chiểu đã bằng tấm lòng và tài năng nghệ thuật để làm sống dậy cả một thời bi thương mà oanh liệt. Ông đã bất tử hóa những người đã khuất, tạc dựng họ thành một cụm tượng đài bền vững và cao đẹp trong thơ cũng như trong lòng người đọc mãi mãi về sau.
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để làm sáng tỏ bài văn là Khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang
1,096
Phân tích bài về đọc sách – Chu Quan Tiềm Hướng dẫn Phân tích bài về đọc sách – Chu Quan Tiềm Chu Quang Thiềm (1897 – 1986) là một mĩ học và là một nhà lý luận văn học nổi tiếng đầu thế kỷ 20. Với một khối lượng tác phẩm đồ sộ, ông đã đem đến độc giả những tác phẩm văn học đậm chất nhân văn và triết lý sâu sắc, nhằm khuyên răn và định hướng con người hướng tới một xã hội tốt đẹp, văn minh và hoàn chỉnh hơn. Tác phẩm “Bàn về đọc sách” cũng là một trong những tác phẩm nổi bật của ông. Đây là một tác phẩm mà sức ảnh hưởng cũng như tính phổ cập của nó cho đến thời đại hiện nay cũng không thể phủ nhận. Đọc sách như thế nào, đọc sách để làm gì, đọc sách có lợi ích gì đều là những thắc mắc tưởng chừng như không thể xảy ra, nhưng trong tác phẩm đặc biệt này, tất cả những thắc mắc đó đều được lý giải một cách gắng gọn và súc tích nhất. Ba luận điểm chính nổi bật trong bài mà tác giải muốn nhắc tới: thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách, cách đọc sách như thế nào và phải phân loại sách như thế nào để đọc cho phù hợp. Đây cũng chính là ba ý lớn xuyên suốt tác phẩm. Với những lập luận chặt chẽ, sử dụng nhiều biện pháp, thủ pháp nghệ thuận nhằm nổi bật lên mục đích chính của vấn đề mà tác giả muốn nhắc đến, làm thế nào để mọi người thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách, để trở thành một con người hiểu biết: biết chọn sách, đọc sách, giúp cho mỗi người có thể thực hiện tốt được hành trình học vấn của chính bản thân mình. Học vấn không chỉ dừng lại là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách lại chính là con đường của học vấn bởi vì học vấn không chỉ là việc của đối với riêng mỗi cá nhân mà ngược lại nó cũng chính là việc của toàn nhân loại. Hơn thế nữa, mỗi loại học vấn phát triển cho đến giai đoạn cho hôm nay là thành quả của từng nhân loại. Trải qua quá trình hình thành, và cố gắng bồi đắp và vươn lên thông qua sách vở lưu chép, ghi lại. Chính vì vậy, sách chính là kho tang quý báu lưu giữ di sản tinh thần của nhân loại do vậy nếu chúng ta muốn phát triển lên về mọi mặt thì phải lấy những thành quả của nhân loại làm điểm xuất phát, nhưng nếu xóa bỏ những thành quả đó thì ta sẽ lại trở lại điểm xuất phát ban đầu. Mọi thứ đều phải tìm kiếm và gây dựng lại từ đầu, và nếu như mọi nhân loại đều phủ nhận thành quả trong quá khứ thì đến bao giờ mới có thể phát triển lên cao được? Hay chỉ cứ quanh co để xây dựng cái nền móng đã được xây vững chắc từ trước. Vậy có ai trong chúng ta đặt câu hỏi: tại sao chúng ta cứ mãi quẩn quanh xây dựng những điều đã có sẵn. Chính vì vậy, muốn phát triển lên thì chúng ta không được phủ nhân sạch trơn quá khứ mà ngược lại, chúng ta phải biết kế thừa và phát triển những giá trị đã có – những điều mà chúng ta có được thông qua sách vở lưu truyền. Chỉ có một cách duy nhất để ta có thể khám phá những nét truyền thống đó là thông qua sách, qua cách đọc của mỗi chúng ta. Mỗi cá nhân không chỉ đọc cho chính là bản thân mình mà ngược lại, làm cách nào đó và bằng cách nào đó để có thể phát triển cho toàn nhân loại. Thông qua luận điểm một, tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc sách: Sách là một kho tang kiến thức vô tận, lưu giữ những di sản tinh thần của nhân loại, là cái tích lũy hàng nghìn năm. Do vậy, con đường đi vào học vấn phải đọc sách chính là đọc sách để có thể tiếp thu các vốn tri thức mới. Vậy thế nào là đọc sách? Và tầm quan trọng trong học vấn của mỗi con người là đến đâu? – Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả lao động. Là ôn lại những tư tưởng của nhân loại được tích lũy mấy nghìn năm. Là một cách để chúng ta hưởng thức những kiến thức những kiến thức của biết bao người trong quá khứ đã khổ tâm tìm kiếm mới thu nhận được. Và chỉ có một sự chuẩn bị chắc chắn như vậy thì một con người mới có thể thực hiện được cuộc hành trình vạn dặm trên con đường học vấn để có thể khám phá ra những chân trời mới, kiến thức mới. Nếu đọc nhiều sách mà không chuyên sâu hay đọc nhiều mà nhiều người đọc bị đưa lạc hướng thì lại không mang lại hiệu quả cao bằng khi chúng ta đọc ít mà hiểu nhiều, đọc ít mà chất lượng còn hơn đọc nhiều mà không đem lại thành quả gì. Đọc sách không lấy cốt là đọc nhiều mà quan trọng là đọc cho tinh, đọc cho kỹ. Đọc mười quyển không có giá trị thì thà lấy thời gian đó đọc một thật kỹ càng và đem lại hiệu quả thực sự. “Đọc mười quyển mà chỉ lướt qua thì chi bằng đọc được một quyển cho thật kỹ”. Đã biết hiểu sách, quý sách, thì ta phải biết chọn sách – đây là một trong những công đoạn không thể thiếu của một người ham đọc sách. Ta phải “chọn sách mà đọc”, chọn như thế nào và quyển nào cần cho ta, thì ta cần phải tham khảo ý kiến của những người đi trước và vận dụng từ chính vốn hiểu biết của mình để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhất. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài về đọc sách – Chu Quan Tiềm
1,045
Đề bài: Phân tích bài “Xa ngắm thác núi Lư” của Lí Bạch Bài làm Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa với phong cách thơ Đường nổi tiếng phóng khoáng, tự do thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương của tác giả Bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” thể hiện tâm hồn lãng mạn, yêu thiên nhiên, yêu cảnh đẹp của đất nước của tác giả. Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây. Ngay từ nhan đề của bài thơ đã thể hiện sự rộng lớn của không gian, khi tác giả ngắm thác núi Lư từ một nơi xa, thể hiện sự mênh mông của thiên nhiên, sự bao la rộng lớn của đất trời. Từ một nơi xa nhìn về phía trước tác giả Lí Bạch đã quan sát rất chi tiết mọi vật xung quanh mình thể hiện sự tinh tế trong cách nhìn của nhà thơ. Những tia nắng xuyên vào dòng nước Hương Lô mù sương tạo thành những dòng mây khói màu “tía” bay lên không trung bao la ngút ngàn. Thể hiện một màu sắc tươi đẹp của cảnh sắc nơi đây. Có thể nói đây là cõi thần tiên nơi hạ giới. Chốn bồng lai tiên cảnh, khi tác giả được thả bộ tới đây nhìn thấy cảnh vật nên thơ hữu tình đã không cầm lòng được mà làm bài thơ này “Nắng rọi Hương Lô khói tía bay” thể hiện sự “thi vị” khi ánh nắng chiếu vào những dòng nước tạo thành những màu như màu của cầu vồng sau cơn mưa. Thiên nhiên được tác giả miêu tả, tái hiện một cách vô cùng tươi đẹp. “Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước” thể hiện sự cao lớn của thác núi Lư với độ dốc lớn, dòng nước chảy với tốc độ vô cùng lớn như lao thẳng, thể hiện sự hùng vĩ của dòng thác có thể cuốn trôi đi tất cả. Người đọc có thể cảm nhận sự hùng vĩ, hoang sơ của dòng thác này đứng chênh vênh bên một vách núi cao, hiểm trở có thể làm cho người ta cảm thấy khiếp sợ vì độ lớn của nó nhưng cũng làm người ta thích thú vì sự hùng vĩ, mạnh mẽ Hình ảnh dòng nước trắng xóa lao xuống từ vách núi “tưởng dòng ngân hà tuột khỏi mây” thể hiện sự chơi chữ, nghệ thuật so sánh vô cùng thú vị của tác giả Lí Bạch. Hình ảnh so sánh này làm nên chất thi vị cho bài thơ, thể hiện phong cách thơ của tác giả vô cùng tinh tế, phóng khoáng Câu thơ như thể hiện sự bay bổng huyền ảo của cảnh thiên nhiên nơi thác núi Lư tuôn chảy nó vừa hư hư, thực thực đan xen vào nhau tạo nên hình ảnh thơ vô cùng thú vị, độc đáo làm cho người đọc cảm nhận được bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ huyền diệu.
Phân tích bài Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch
514
Đề bài: Phân tích bài Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu Bài làm “Thi dĩ ngôn chí” – thơ để nói chí, tỏ lòng. Cho nên tầm vóc của loại thơ này rốt cuộc, phụ thuộc vào tầm vóc của chí. Mà chí khí không phải là những bột phát nhất thời, càng không thể là những chí hướng vay mượn. Chí cần phải được đảm bảo bằng nghiệp. Có thể có những sự nghiệp không thành, nhưng sự dang dở ấy cũng chứng tỏ về một chí lớn đã dấn thân, không phải thứ chí suông. Chính nó là sự đảm bảo cho thơ. Vì thế. thơ sẽ chỉ còn là những lời lẽ khoa trương sáo rỗng, là sự cường điệu đao to búa lớn rẻ tiền, nếu như không có một chí lớn, hơn thế nếu như chí lớn ấy không gắn với một cốt cách lớn, một cuộc đời lớn. Tiếng thơ bộc lộ trực tiếp các chí lớn xưa nay thường gắn với những bậc hào kiệt, những đấng trượng phu. Thơ của họ là lời tuyên ngôn của cuộc đời họ. Trước khi họ tạc con người mình vào trong thơ, thì họ đã tạc con người mình vào sông núi. Người đời thường ví họ như chim hồng, chim hộc và đối lập với những chim sẻ, chim ri. Và trong thơ của mình, họ hiện ra đúng như những cánh đại bàng vẫy vùng trong mênh mông trời biển. Tư thế của họ là tư thế kì vĩ, tư thế vũ trụ, chẳng “Hoành sóc giang san cáp kỉ thu’ (Cấp ngang ngọn giáo bảo vệ giang sơn đã mấy. thu – Phạm Ngũ Lão), thì cũng “Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma” (Bao phen mang gươm báu mài dưới trăng – Đặng Dung), chẳng "Trường khiếu nhắt thanh hàn thái hư” (Kêu to một tiếng làm lạnh cả hư không – Không Lộ thiền sư) thì cũng “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô” (Nguyễn Hữu cầu)… như thế dã chứa đựng trong đó hào khí của cả giống nòi. Nằm trong mạch ngôn chí trực tiếp ấy, Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu là hùng tâm tráng chí của một trong những người con ưu tú nhất của nòi giống Việt Nam. Thực ra cái quan niệm làm trai ở trong bài thơ này không phú cua riêng Phan Bội Châu. Nó là quan niệm chung về chí làm trai của nhà Nho thuở trước. Và ít nhất ta cũng thấy nó từng vang lên rất mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Công Trứ. Song, điều đáng nói chính là ở chỗ, không phải Phan Bội Châu đang ném ra cuộc đời một quan niệm lí thuyết như một người có ý đồ lập thuyết, mà ông là người đã sống cái quan niệm ấy một cách đủ đây trước khi viết thành thơ. Có lẽ vì thế mồ Xuất dương lưu biệt không chỉ chứa đựng một lẽ sống mà trước hết là chứa đựng chân dung một con người – một con người lỗi lạc, kiệt xuất: Hai câu đề: Làm trai phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển dời. Tôi không nghĩ chữ “lạ” trong bản dịch này đã thể hiện được hết cái tinh thần của chữ “kì”. Bởi chữ “kì” muốn nói đến cái điều: làm trai phải làm được những điều kì lạ, kiệt xuất, phi thường. Một mình chữ “lạ” không tải hết ý của Phan tiên sinh. Tôi cũng không nghĩ rằng người dịch dùng ba chữ "ở trên đời” là đã diễn được thực ýcủa nguyên tác. “Đời” là một không gian tưởng là rộng nhưng hóa ra lại hẹp, bởi nó có xu hướng co vào cái phạm vi của thế giới người thôi. Trong nguyên văn, Phan Bội Châu không dùng những chữ ấy. Chỉ đến câu thứ hai ta mới thấy yêu tố không gian xuất hiện. Và lập tức bậc tu mi nam tử theo quan niệm của Phan Sào Nam đã hiện ra trong tương quan kì vĩ nhất: không gian vũ trụ. Đấng nam nhi sinh ra ở trong vũ trụ này là đối mặt với càn khôn (trời đất), nghĩa là với tất cá những gì lớn lao nhất trong vũ trụ này, chứ không riêng gì thế giới người. Vậy là ngay từ hai câu đề, hình ánh khái quát về một bậc hào kiệt đã hiện lên đầy ấn tượng: Đó không phải là kẻ sống thụ động phó mặc đường đời mình cho trời đất, và cũng không phó mặc cõi đời này cho sự xoay vần của trời đất. Đấng nam tử phải là người chủ động đổi thay cả càn khôn. Cái chí dọc ngang trời đất, chọc trời khuấy nước, cải tạo vũ trụ đó mới là điều xứng với một đời làm nam nhi. Quan niệm con người của Phan Bội Châu ở đây là quan niệm con người vũ trụ rất quen thuộc của văn chương Nho giáo trung đại. Nếu hai câu đề gợi ra hình ảnh nam tử trong không gian kì vĩ, thì hai câu thực đã phát triển hình ảnh ấy trong một chiều kích khác: thời gian. Thời gian ở đây cũng là thời gian thuộc tầm cỡ vĩ mô: Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở há không ai? Ở câu đề tuy khẩu khí cá nhân đã rõ, nhưng quan niệm vẫn là quan niệm chung. Đến đây thì con người cá nhân Phan Bội Châu đã xuất hiện ngay trên bề mặt câu chữ. Ông đã ý thức về vai trò lịch sử của mình thật kiêu hùng đầy tự tôn, tự tin. Mình phải trở thành một nhân vật không thể thiếu trong cái khoảng thời gian một trăm năm nay. Nói một cách khác, ông tự lĩnh nhận sứ mạng của mình: một con người cần thiết của thế kỉ. Đối diện với càn khôn, đối diện với cả thế kỉ, tầm vóc của bậc nam tử này thật là tầm vóc vũ trụ. Không phải ông muốn chiếm lấy một chỗ đứng trong thời gian như một kẻ vĩ cuồng háo danh. Mà chính là làm nên cái việc trọng đại, kiệt xuất là xoay chuyển càn khôn để làm đổi thay bộ mặt của thế kỉ. Chữ “tớ” là cách dịch thoát của chữ “ngã“ (tôi). Dù dịch là tôi, là ta, là “tớ” thì ngã vẫn cứ là cái ý thức mãnh liệt về cá nhân mình trên cõi thế gian này. Hình ảnh tác giả hiện ra trong mênh mông thời gian, lồng lộng không gian như thế là một vẻ đẹp cá nhân thật nguy nga tráng lệ. Phải thấy rằng, ít có ai đã tự họa mình trong một không gian và thời gian hoành tráng như vậy! Dầu sao trong bốn câu đầu này mới nói đến điều phải “lạ”, mà chưa nói rõ “việc lạ” cần làm là gì! Bốn câu tiếp theo sẽ dần dần làm sáng lên điều đó. Hai câu luận là một sự nhìn nhận phi thường: Non sông đã chết sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài Câu trên khẳng định: Non sông đã chết! Khi chủ quyền đã về tay kẻ ngoại bang, thì non sông đã chết. Sống mà không có quyền làm chủ là sống nhục. Bốn chữ “Giang sơn tử hĩ” chất đầy đau đớn và phẫn uất. Câu dưới tiếp tục Hiền thánh đã vắng bóng thì có đọc sách cũng ngu thôi! Tất cả là những lời phủ định dứt khoát, quyết liệt rằng: Còn theo đòi sách vở, còn sống ở trong nước thời buổi này là điều nhục nhã đối với một trang nam nhi. Bởi đó là đã nhắm mắt quay lưng cho “càn khôn tự chuyển đi”, là phó mặc mình cho đời xoay vần. Tất cả những gì thiêng liêng xứng đáng với một bậc nam tử coi như đã chết. Vì thế mà cần phải có hành động xứng đáng. Hành động xứng đáng, hành động kiệt xuất phi thường ấy bây giờ chính là: Xuất dương. Những câu trên ta thấy cái tôi (ngã) hiện ra trước “càn khôn”, trước “ Bách niên trung”, “Thiên tải hậu” những chiều kích vĩ của không gian và thời gian, ở đây, nó tiếp tục được tô đậm bằng: “Giang sơn” và “Thánh hiền". Con người ấy đối mặt với giang sơn đất nước, đối mặt với toàn bộ nền học vấn. Cho nên, càng về sau chân dung của con người ấy, cái tôi ấy càng sắc nét với tất cả những gì lớn lao nhất. Cái không gian duy nhất có thể chứa đựng được con người ấy là vũ trụ. Đến hai câu kết thì những nét bút kì vĩ cuối cùng đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của một cuộc đời kiệt xuất: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. Sáu câu trên gợi ra những nghĩ suy, những lựa chọn, những chuẩn bị trong tâm lí, trong tư tưởng của một con đại bàng. Ở hai câu này, chúng ta thấy con đại bàng ấy đang tung đôi cánh mênh mông của mình bay thẳng ra trùng dương, đối mặt với hết thảy những giông tố bão bùng. Câu thơ gợi ta nhớ đến tư thế của con chim lớn trong thư Quận He: “Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô”. Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu không còn là một hình ảnh ước lệ nữa. Bởi phong trào Đông du mà ông là người chủ trương, bởi việc xuất dương mà ông là người khởi sự chính là những hành động phi thường của những bậc trượng phu sẵn sàng ném đời mình vào muôn trùng sóng bạc ra khơi tìm đường làm sống lại “giang sơn đã chết”, tìm cách xoay chuyển càn khôn. Bài thơ kết bằng câu thơ đầy hùng tâm tráng chí mà câu thơ dịch chưa thể chuyền tải hết được: Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. Như vậy, làm trang nam nhi không phải là bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định cá nhân. Mà cá nhân ấy phải làm nên việc phi thường, ấy là việc kinh bang, tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu ở đây, một lần nữa, giúp ta hiểu được cái cốt cách vĩ đại của con người kiệt xuất này.
Phân tích bài Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu
1,771
Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện Bài làm Qua bài Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, các nhà khoa học đã cảnh báo chúng ta một nguy cơ ô nhiễm môi trường là nạn sử dụng bao bì ni lông một cách bừa bãi. Song còn biết bao nhiêu tệ nạn nữa cần cảnh báo, thậm chí cần báo động. Một trong những tệ nạn ấy là “nghiện thuốc lá”. Đọc bài Ôn dịch, thuốc lá của bác sĩ – nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện – chúng ta được cảnh báo thêm vể một vấn đề thiết yếu với đời sống mỗi người. Đây là một vãn bản thuyết minh, kết hợp những lập luận khoa học rất sáng tỏ và chặt chẽ. Từ nhan đề của văn bản đến bố cục, các dẫn chứng, các lời giải thích, lập luận, nhất là hai cụm từ (một ở phần mở đầu, một ở phần kết thúc), tác giả đã vừa chỉ rõ những nguy hại ghê gớm vừa bày tỏ sự kinh hãi, lời lên án gay gắt với tộ nghiện thuốc lá. Lấy ra hai cụm từ đặc sắc của bài văn, chúng ta có thể coi đây là những tiếng báo động khẩn thiết về nạn nghiện thuốc lá mà mỗi lần nghĩ đến ai cũng phái rùng mình, kinh sợ: Ôn dịch, thuốc lá, tiếng báo động… nghĩ đến mà kinh! Tiếng báo động đáng kinh sợ ấy thể hiện ngay từ cái tiêu đề của bài viết. Tác giả dùng từ “thuốc lá” là nói tắt của “tệ nghiện thuốc lá”. Đặt “thuốc lá” sau từ “ôn dịch” là muốn so sánh tệ nghiện thuốc lá như một thứ bệnh có đặc điểm là dễ lây lan như “dịch tả”, “dịch cúm”,… Nhưng không viết “dịch thuốc lá” mà viết “Ôn dịch…”, một từ thường dùng làm tiếng chửi rủa, hơn nữa lại đặt dấu phẩy giữa “ôn dịch” và “thuốc lá” như một biện pháp tu từ, người viết đã biểu lộ tình cảm vừa căm tức vừa ghê rợn. Ta có thể hiểu thâm ý của người viết thế này chăng: “Thuốc lá! Mày là đổ ôn dịch, đáng ghét, cần tiêu diệt”. Và tiếp theo, ngay ở phán mở bài (từ câu đầu đến “… còn nặng hơn cả AIDS”), tiếng báo động đã trực tiếp vang lên. Từ tin mừng loài người hầu như đã diệt trừ được dịch hạch, dịch tá, người viết nói tới đại dịch AIDS, rồi giống lên hồi còi dài bằng một câu vãn trĩu nặng nỗi lo: “… nhiều nhà bác học sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu đã lớn tiếng báo động: Ôn dịch thuốc lá đang đe doạ sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”. Đúng là một hồi còi báo động làm kinh sợ người đọc, người nghe. Bởi vì, tác giả đã đặt ôn dịch thuốc lá ngang tầm với AIDS, đã sử dụng con số hơn năm vạn công trình nghiên cứu sau mấy chục năm của các nhà bác học để nhấn mạnh tính xác đáng, tầm quan trọng của thông tin. Tuy là văn bản khoa học, văn thuyết minh, nhưng cách dùng từ, đặt câu của tác giả khá tinh tế, phần nào bộc lộ được cảm xúc người viết và truyền tới người đọc. 1. Trước hết, thuốc lá gặm nhấm cơ thể, sức lực người hút, người nghiện. Tác giả chỉ rõ: “Khói thuốc lá chứa nhiều chất độc, thấm vào cơ thể”. Bằng lời giảng của một nhà khoa học, một bác sĩ tài giỏi, tác giả giải thích, phân tích cụ thể tác hại của khói thuốc lá đối với các bộ phận trong cơ thể người hút, người nghiện. Sau mỗi lời giảng giải là một sơ kết, nhấn mạnh những hậu quá thuốc lá gieo vào con người. Nào là “gây ho hen và sau nhiều năm gây viêm phế quán”, nào là “sức khoẻ người nghiện thuốc ngày càng sút kém”. Lại nữa, hỏi bệnh viện K, bác sĩ viện trường thông báo: “trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá”, đến Viện tim mạch, cũng dược nghe Viện trưởng cho biết: “chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim,… có thấy những người 40 – 50 tuổi đã chết đột xuất vì nhồi máu cơ tim… có thấy những khối u ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê gớm của thuốc lá…”. Trong một câu ngắn có tính khoa học lạnh lùng, tác giả đã dùng liền hai từ biểu cảm ghê tởm, ghê gờm khiến người đọc, đọc lên không khỏi rùng mình. Đấy là tiếng báo động cấp 1. 2. Tiếp sau là tiếng báo động cấp 2: thuốc lá gặm nhấm cơ thể, sức khoẻ những người xung quanh. Để báo động điều này, tác giả sử dụng cách lập luận, tranh luận đơn giản mà thuyết phục. Dẫn lí sự của người nghiện: “Tồi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi”, tác giả “đấu lại” luôn: “Hút thuốc là quyền của anh, nhưng anh không có quyền đầu độc những người ớ gần anh… Hút thuốc thì người gần anh cũng hít phái luồng khói dộc. Điều này hàng nghìn công trình nghiên cứu đã chứng minh…”. Như thế là rõ, người nghiện thuốc, hút thuốc không chỉ tự đầu độc mình mà còn đầu độc những người xung quanh. Những người xung quanh đó là ai? Đó là vợ, con, những người làm việc cùng phòng, những người tiếp xúc với người nghiện. Họ hít phải khói thụốc, bị nhiễm độc, cũng đau tim mạch, viêm phế quản, cũng ung thứ,… Và “Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm dộc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu. Hút thuốc cạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác”. Những từ ngữ đầu độc, tội nghiệp thay, một tội ác… xen kẽ trong đoạn văn vừa nhấn mạnh mức độ nguy hại của thuốc lá vừa bày tỏ thái độ nghiêm khắc phê phán những người nghiện thuốc lá. Tri thức khoa học, kết hợp phương pháp lập luận và ngôn ngữ biểu cảm khiến cho đoạn văn sinh động, có sức thuyết phục cao. 3. Cao thêm một bậc nữa là thuốc lá gặm nhấm tâm hồn và lối sống của con người, nhất là thế hệ trẻ. Bố và anh, chú và bác hút thuốc không chỉ đầu độc thể lực mà còn nêu gương xấu cho con cháu. Tác giả nói như thế, rồi dẫn chứng số tiền thanh thiếu niên Âu Mỹ, thanh thiếu niên Việt Nam mua bao thuốc và nhấn mạnh: “đã hút là phải hút thuốc sang. Chỉ có một cách là trộm cắp… Từ điếu thuốc sang cốc bia rồi đến ma tuý, con đường phạm pháp đã mở đầu với điếu thuốc. Người lớn hút thuốc… chính là đã đẩy con em vào con đường phạm pháp”. Ở đây, tác giả tập trung phê phán người lớn để đệm thêm cho tiếng báo động về tệ nạn nghiện thuốc lá. Song thế hệ trẻ, những học sinh THCS và THPT chúng ta cũng cần lắng nghe để giữ mình, đừng nên đổ lỗi hoàn toàn cho người lớn. Bởi vì, những người lớn nghiện hút nêu gương xấu trước mặt trẻ em, nếu trẻ em ý thức được cái xấu ấy, không đua đòi học theo thì thuốc lá không dỗ gì hoành hành, tác yêu tác quái. Có thể nói, tiếng còi báo động của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện về nạn nghiện thuốc lá, tác hại và cách gây hại của thuốc lá mỗi lúc một gióng cao thêm, vang xa hơn và thấm sâu vào trong lòng tất cả mọi lớp người. Tóm lại, giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khoẻ và tính mạng con người. Song nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch. Nó gặm nhấm sức khoẻ con người nên không dễ nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với cuộc sống gia đình và xã hội, mọi người hãy tìm cách chống lại nó, ngãn chặn nó. Muốn thế, ta cần có quyết tâm lớn, tự giác cao và nhiều biện pháp triệt để hơn cả việc phòng chống ôn dịch.
Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện
1,462
Đề bài: Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá trong tác phẩm Từ thuốc lá đến ma túy – Bệnh nghiện – Nguyễn Khắc Viện. Bài làm Là một bác sĩ lâu năm giàu kinh nghiệm, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã viết bài Từ thuốc lá đến ma túy để phân tích tác hại to lớn của thuốc lá đối với đời sống cá nhân và cộng đồng, thông qua đó nêu lên quyết tâm chống thuốc lá của Nhà nước ta. Đoạn ôn dịch, thuốc lá được trích từ văn bản này. Trước hết, ta nên hiểu tựa để trên như thế nào cho đúng? Thuốc lá là cách nói tắt của tệ nghiện thuốc lá. Ôn dịch là từ dân gian dùng để chỉ chủng các loại bệnh nguy hiểm, dễ lây lan và làm chết người hàng loại. Ví dụ dịch tả, dịch HIV, SARS… Tác giả so sánh tác hại đáng sợ của thuốc lá với hậu quả ghê gớm của ôn dịch là rất chính xác. Từ ôn dịch còn được dân gian dùng làm tiếng chửi rủa với hàm ý ghê tởm. Có thể diễn giải một cách cụ thể ý nghĩa của tựa đề bài văn như sau: Thuốc lá là một thứ ôn dịch. Cấu trúc văn bản này chia thành bốn phần: Phần 1: Từ đầu… đến nặng hơn cả AIDS: Nhận xét khái quát về tác hại của thuốc lá. Phần 2: Tiếp theo… đến tổn hao sức khỏe: Chứng minh tác hại cụ thể của thuốc lá đối với sức khỏe người hút. Phần 3: Tiếp theo… đến con đường phạm pháp: Nêu tác hại của khói thuốc lá đối với những người không hút. Phần còn Ịại: Cảm nghĩ và lời bình của tác giả. Mở đầu đoạn trích, tác giả nêu nhận xét chung về hậu quả ghê gớm của những nạn dịch từ trước đến nay và lấy đó làm cơ sở để khẳng định tác hại nghiêm trọng của thuốc lá: Dịch hạch, thổ tả, hàng vạn hàng triệu người chết, nhờ tiến bộ y học, loài người hầu như đã diệt trừ được những dịch khủng khiếp ấy. Nhưng vào cuối thế kỉ này lại xuất hiện những ôn dịch khác. Cả thế giới đang lo âu về nạn AIDS, chưa tìm ra giải pháp, thì nhiều nhà bác học, sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu đã lớn tiếng báo động: Ôn dịch thuốc lá đang đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS. Câu cuối này chính là luận đề của văn bản. Phần sau giải thích và chứng minh cho luận đề. Cách đặt vấn đề nhự vậy thật độc đáo. Tác giả dùng phương pháp tăng cấp để thu hút sự chú ý của người đọc và nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề được đặt ra trong bài viết của mình. Ở phần 2, tác giả khẳng định rằng thuốc lá đã và đang đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người. Tác giả đã mượn câu nói nổi tiếng của nhà quân sự thiên tài Trần Hưng Đạo: Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu để so sánh những khó khăn trong việc chống thuốc lá không kém gì việc chống giặc ngoại xâm. Khói thuốc lá được ví như thứ giặc vô hình, rất khó đối phó. Các chất độc trong khói thuốc không tàn phá ngay một lúc sức khỏe con người mà nó gặm nhấm từng chút một theo kiểu tằm ăn lá dâu, rốt cuộc là không còn gì cả. Người hút không thấy ngay tác hại của thuốc lá và càng không hể biết rằng hơn bốn ngàn chất độc trong khói thuốc lá cố khả năng gây ra những bệnh hiểm nghèo. Ngược lại, họ còn thấy sảng khoái, thư giãn khi ngậm điếu thuốc phì phèo nhả khói, thậm chí còn coi đó là một biểu tượng quý trọng (!) Nhiều thiếu niên còn lấy thuốc lá để chứng tỏ là mình “sành điệu” và khẳng định rằng mình đã lớn. Tại sao mọi người lại có thái độ chủ quan, coi nhẹ tác hại của thuốc lá như vậy? Bởi vì, người hút thuốc lá không lăn đùng ra chết, không say bê bết như người uống rượu nên không sợ. Khói thuốc lá chứa nhiều chất độc, thấm vào cơ thể. Nạn nhân đầu tiên là những lông rung của những tế bào niêm mạc ở vòm họng, ở phế quản, ở nang phổi bị chất hắc ín trong khói thuốc lá làm tê liệt Các lông mao này có chức năng quét dọn bụi bặm và các vi khuẩn theo luồng không khi tràn vào phế quản và phổi; khi các lông mao ngừng hoạt động, bụi và vi khuẩn không được đẩy ra ngoài nữa, tích tụ lại gây ho hen và sau nhiều năm gây viêm phế quản. Trong khói thuốc lá lại có chất ô-xít các-bon, chất này thấm vào máu, bám chặt các hồng cầu không cho chúng tiếp cận ôxi nữa. Không lạ gì sức khỏe của người nghiện thuốc ngày càng sút kém. Thấm vào các tế bào, chất hắc ín lại thường gây ra ung thư. Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ: Bác sĩ viện trưởng cho biết trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá. Ta đến Viện Nghiên cứu các bệnh tim mạch, bác sĩ viện trưởng cho biết: Chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim. Có thấy một bệnh nhân bị tắc động mạch chân lên những cơn đau như thế nào, rồi phải cắt dần từng ngón chân đến cả bàn chân; có thấy những người 40 – 50 tuổi đã chết đột xuất vì nhồi máu cơ tim; có thấy những khối ung thư ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê gớm của thuốc lá. Cuối cùng, tác giả kết luận về tác hại ghê gớm của khói thuốc lá không chỉ đối với sức khỏe con người mà cồn đối với các lĩnh vực khác trong xã hội, cao hơn nữa là cả nền kinh tế quốc dân: Không cần nhắc đến những việc nghiêm trọng như vậy, chỉ riêng bệnh viêm phế quản của hàng triệu người cũng đã làm mất bao nhiêu ngày công lao động và làm tổn hao sức khỏe cộng đồng. Vậy thì những bệnh nặng hơn do thuốc lá gây ra như ung thư, tim mạch… sẽ làm tổn hao bao nhiêu tiền của cho người bệnh và công sức của những người phải bỏ việc để phục vụ bệnh nhân? Rõ ràng, thuốc lá gây thiệt hại rất lớn cho bản thân, gia đình và xã hội. Bên cạnh việc nêu lên tác hại của khói thuốc lá đối với bản thân người hút, tác giả còn nêu ra tác hại đối với cả những người không hút thuốc. Để làm nổi bật điều này, tác giả nhắc lại những lời chống chế thường gặp ở những người nghiện hút: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi! Bằng những lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và cả sự bức xúc, tác giả đã bác bỏ luận điệu sai lầm ấy: Vợ con, những người làm việc cùng phòng với những người nghiện thuốc cũng bị nhiễm độc, cũng đau tim mạch, viêm phế quản, cũng bị ung thư. Anh có quyền hút, nhưng có mặt người khác, xin mời anh ra ngoài sân, ngoài hành lang mà hút. Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm độc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu. Hút thuốc cạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác. Bố và anh hút, chú bác hút không những đầu độc con em mình mà còn nêu gương xấu… Tác giả đã cụ thể hoá hai khái niệm được các nhà nghiên cứu y học sử dụng là hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động. Người không hút nhưng thường xuyên phải hít khói thuốc cũng bị ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Bản thân người hút tự làm hại mình đồng thời cũng làm hại bao nhiêu người khác. Đây là điều mà mọi người cán biết và lên án. Để chứng minh thuốc lá gây thiệt hại như thế nào về mặt kinh tế, tác giả đã lấy dẫn chứng từ xã hội Âu – Mĩ xa xôi để so sánh với nước ta: Tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở các thành phố lớn nước ta ngang với tỉ lệ các thành phố Âu – Mĩ. Chi có khác là với một thanh niên Mĩ 1 đô la mua một bao thuốc lá là một khoản tiền nhỏ, còn đối với một thiếu niên Việt Nam, muốn có 15.000 đồng mua một bao 555 – (giá hiện nay là sáu mươi ngàn đồng) vì đã hút là phải hút thuốc sang – chỉ có một cách là trộm cắp. Trộm một lần, quen tay. Từ điếu thuốc sang cốc bia rồi đến ma túy, con đường phạm pháp thực ra đã mở đầu với điếu thuốc. Cứ tưởng điếu thuốc lá là chuyện nhỏ không đáng kể nhưng thực ra nó không nhỏ chút nào. Trung bình mỗi năm có bao nhiêu tỉ đồng bị đốt thành khói, trong khi đó đời sống vật chất của nhiều người vẫn ở mức nghèo khổ?! Người nghiện hút có tiền mua thuốc đã đành, còn không thì khi thấy người khác hút là lên cơn thèm, đành chìa tay xin hoặc nhặt nhạnh từng mẩu thuốc lá thừa người khác vứt đi. Tư cách lúc ấy thật thảm hại. Tệ hơn nữa là lấy trộm tiền của gia đình để mua thuốc hút và sau đó thì chuyện nhúng tay vào những việc xấu xa và sa chân vào vòng tù tội chi còn trong gang tấc. Từ góc độ của một nhà giáo dục, tác giả chỉ ra rằng: Bố và anh hút thuốc, chú bác hút không những đầu độc con em mình mà còn nêu gương xấu… Đúng như vậy! Ngày nay, không ít học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông đã tập tành phì phèo điếu thuốc trên môi. Không chỉ nam mà cả nữ. Đó là những hình ảnh không đẹp về tuổi học trò trong trắng, hồn nhiên. Nhà trường và gia đình cần lưu tâm khuyên nhủ và ngăn chặn kịp thời. Trước những tác hại ghê gớm của thuốc lá, tác già đã bày tỏ sự bức xúc của mình và đưa ra một số giải pháp tích cực để khống chế và dần dần đi đến việc cấm sản xuất và sử dụng thuốc lá trên phạm vi toàn thế giới: Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch chống thuốc lá. Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm (Ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm 500 đồ la). Khắp nơi, những tài liệu, khẩu hiệu chống thuốc lá dần dần lấn át những quảng cáo của các hảng thuốc lá. Và nhiều nước đã cấm quảng cáo thuốc lá trên báo chí, vô tuyến truyền hình. Chỉ trong vài năm, chiến dịch chống thuốc lá này đã làm giảm hẳn số người hút, và người ta đã thấy triển vọng có thể nêu lên khẩu hiệu cho những năm cuối thế kỉ XX: “Một châu Âu không còn thuốc lá”. Nước ta khác với các nước châu Âu, đang còn trong tình trạng có nhiều bệnh tật do vi trùng, kí sinh trùng gây ra, nay lại theo đòi các nước phát triển, nhiễm thêm các bệnh do thuốc lá; sốt rét, bệnh phong, lao, ỉa chảy chưa thanh toán được, lại ôm thêm ôn dịch thuốc lá này. Nghĩ đến mà kinh. Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này. Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chủ đề tác hại của thuốc lá vào chương trình Ngữ văn ở trung học cơ sở để giúp học sinh nhận thức được tác hại ghê gớm của thuốc lá và hạn chế dần tệ hút thuốc lá trong cán bộ, công nhân viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên, những người mà hai lá phổi của họ là “công cụ” quan trọng nhất của nghề dạy học. Riêng đối với học sinh, khi đã nhận thức đầy đủ về tác hại của thuốc lá, các em sẽ lánh xa tệ nghiện hút và góp phần đẩy lùi tệ nghiện thuốc lá trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây những tổn thất nghiêm trọng cho sức khoẻ và tính mạng con người. Nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch bởi nó gặm nhấm sức khỏe nên người ta khó nhận biết. Bên cạnh đó nó còn gây ra tác hại nhiều mặt đối với cuộc sống gia đình và xã hội. Bởi vậy, muốn tiêu diệt thuốc lá, mọi người cần phải có quyết tâm cao và biện pháp triệt để hơn cả việc phòng chống những nạn ôn dịch khác.
Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá trong tác phẩm Từ thuốc lá đến ma túy – Bệnh nghiện – Nguyễn Khắc Viện
2,281
Đề bài: Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá trong tác phẩm Từ thuốc lá đến ma túy – Bệnh nghiện – Nguyễn Khắc Viện Bài làm. Để non sông Việt Nam ta có thể trở nên tươi đẹp, sánh vai với các cường quốc năm châu, thì trước hết những vấn nạn về thuốc lá cần phải được loại bỏ triệt để. Chính vì tinh thần chung này, bác sĩ, dồng thời là một nhà thơ, nhà báo, nhà văn Nguyễn Khắc Viện đã viết bài “Ôn dịch, thuốc lá” để từ đó nêu lên tác hại to lớn của thuốc lá với đời sống cá nhân và cộng đồng, thông qua đó nêu cao quyết tâm chống thuốc lá của Nhà nước ta. Nhan đề mà tác giả đặt phần nào thấy rõ được thái độ căm ghét và sự đáng sợ của tệ nạn nghiện thuốc lá hiện nay.Nó như một thứ ôn dịch, đang cướp đi sự sống của chình chúng ta. Văn bản được chia thành 4 phần. Phần 1 từ đầu đến nặng hơn cả AIDS, là nhận xét khái quát về tác hại của thuốc lá. Phần 2 tiếp theo cho đến tổn hao sức khỏe, chứng minh về tác hại cụ thể của thuốc lá đối với con người. Phần 3 tiếp cho đến con đường phạm pháp, nêu tác hại của khói thuốc lá với người không hút. Phần còn lại cảm nghĩ và lời bình của tác giả. Mở đầu văn bản tác giả lên tiếng cảnh báo về một đại dịch lớn đang bùng phát còn nghiêm trọng và có sức đe dọa hơn cả AIDS chính là thuốc lá. Cách dẫn dắt vấn đề theo mức độ tăng cấp càng gây chú ý cho người đọc. Sang phần tiếp theo tác giả so sánh những khó khăn trong việc phòng chống thuốc lá qua câu nói của Trần Hưng Đạo. Khói thuốc lá được ví như thứ giặc vô hình, rất khó đối phó. Các chất độc trong thuốc lá không tàn phá ngay mà âm ỉ, dai dẳng trong cơ thể, gặm nhấm từng chút mọt theo kiểu tằm ăn lá dâu, rốt cuộc là không còn gì cả. Người hút không biết gì đến tác hại của thuốc lá và càng không biết hơn bốn mươi nghìn chất độc trong khói thuốc có thể gây ra các bệnh như ung thư, viêm phổi. Sang phàn hai tác giả tiếp tục lấy những dẫn chứng cụ thể về tác hại của thuốc lá và khói thuốc lá để di đến kết luận thuốc lá không chỉ gây hại về sức khỏe mà còn đối với các ngành kinh tế khác trong xã hội, vô hình làm suy giảm cả một thế hệ tương lai của dân tộc. Trước những tác hại ghê gớm của thuốc lá, tác giả đã bày tỏ sự bức xúc của mình và đưa ra một sỗ giải pháp tích cực để chống thuốc lá, cấm các cơ sở sản xuất tuốc lá trên phạm vi toàn thế giới. Giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây ra những tổn thát nghiêm trọng cho sức khỏe và tính mạng con người. Nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch vì nó gây ra tác hại mà ta không hề biết. Bên cạnh đó, nó còn gay ra tác hại trên các mặt khác của đời sống xã hội. Bởi vậy, muốn diệt thuốc lá mọi người cần phải có quyết tâm cao độ, và đi lên từ ý thức và nhận thức sâu sắc. Bằng một lối lập luận chặt chẽ, sắc bén và tâm slong yêu nước lo lắng trước thực trang đất nước đang bị suy yếu vì tệ nạn thuốc lá, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã đưa đến người đọc một bài luận về một vấn đề xã hội hết sức cần thiết, bức xúc, từ đó nâng coa được nhạn thức và cúng là hồi chuông cảnh báo thức tỉnh nhân dân.
Phân tích bài Ôn dịch, thuốc lá
676
Đề bài: Phân tích bài Ý nghĩa của văn chương của Hoài Thanh ngữ văn 7. Bài làm Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên (1909 – 1982), quê ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông là một nhà phê bình văn học xuất sắc. Năm 2000, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa – Nghệ thuật. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn Thi nhân Việt Nam, in năm 1942. Bài Ý nghĩa của văn chương sau này in lại đã đổi tựa đề thành Ý nghĩa và công dụng của văn chương. Với một lối văn nghị luận kết hợp hài hòa giữa lí lẽ sắc bén với cảm xúc tinh tế, trong văn bản này, Hoài Thanh khẳng định: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha. Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng. Hơn thế, văn chương còn góp phần sáng tạo ra sự sống, gây dựng cho con người những tình cảm không có và luyện những tình cảm sẵn có. Đời sống tinh thần của nhân loại nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn, tẻ nhạt. Quan niệm đúng đắn đó thể hiện trình độ hiểu biết sâu sắc cùng thái độ yêu quý, trân trọng của tác giả dành cho văn chương. Bố cục bài văn có thể chia thành hai phần. Phần một: Từ đầu đến gợi lòng vị tha: đề cập đến nguồn gốc cốt yếu của văn chương. Phần còn lại: bàn về vai trò quan trọng và công dụng to lớn của văn chương. Trước khi phân tích bài văn, chúng ta nên tìm hiểu khái niệm văn chương. Vậy thế nào là văn chương? Học giả Phan Kế Bính đã định nghĩa ngắn gọn rằng: Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Nhời (lời) của người ta, rực rỡ bóng bẩy, tựa như có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nên gọi là văn chương… Theo cách hiểu trước đây thì văn chương nghĩa rộng bao gồm cả triết học, sử học, văn học;,,Nghĩa hẹp dùng để gọi các tác phẩm văn học, nghĩa hẹp hơn nữa là tính nghệ thuật, vẻ đẹp của câu văn, lời thơ… Trong văn bản này, thuật ngữ văn chương được dùng theo nghĩa hẹp. Hoài Thanh giải thích nguồn gốc của văn chương bắt đầu bằng một giai thoại hoang đường: Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, nhịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca. Cách mở bài độc đáo như trên đã thu hút sự chú ý của người đọc. Tác giả mượn câu chuyện này để cắt nghĩa nguồn gốc của văn chương. Văn chương thực sự chỉ xuất hiện khi con người có cảm xúc mãnh liệt trước một con người hoặc một hiện tượng nào đó trong cuộc sống. Tác giả kết luận: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài. Theo ông thì lòng nhân ái bao la chính là nguồn gốc của văn chương. Đây là lời nhận xét rất đúng đắn. Tuy vậy, bên cạnh nó còn có những quan niệm khác như văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động của con người hoặc văn chương là nghệ thuật của ngôn từ… Các quan niệm này tuy khác nhau nhưng không loại trừ nhau. Ngược lại, chúng bổ sung cho nhau về mặt ý nghĩa. Để làm rõ hơn nguồn gốc văn chương, Hoài Thanh tiếp tục đưa ra nhận định về vai trò của tình cảm trong sáng tạo văn chương: Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế văn chương còn sáng tạo ra sự sống. Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn chương đều là tình cảm, là lòng vị tha. Ở câu thứ nhất tác giả nhấn mạnh: cuộc sống vốn dĩ thiên hình vạn trạng. Văn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống theo đúng quy luật tự nhiên của nó. Văn chương thậm chí góp phần sáng tạo ra đời sống, làm cho đời sống ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Ở câu thứ hai, ông khẳng định: Văn chương sáng tạo nên những hình ảnh, những ý tưởng mới lạ, tiến bộ mà trong cuộc sống hiện tại chưa có, để mọi người phấn đấu, biến ý tưởng đó thành hiện thực. Thực tế cho thấy sự sáng tạo văn chương bắt nguồn từ cảm xúc yêu thương chân thành của nhà văn, nhà thơ. Thông qua văn chương, các tác giả giúp người đọc nhận thức được nhiều điều bổ ích về cuộc sống trong quá khứ cũng như hiện tại. Đọc ca dao, tục ngữ hay thần thoại, cổ tích, chúng ta hình dung được tổ tiên xưa kia sinh sống ra sao trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Những ước mơ, khát vọng chinh phục thiên nhiên; những bài học về đạo lí và kinh nghiệm sống ở đời được gửi gắm qua các loại hình văn học cứ thấm dần vào máu thịt, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho mỗi con người. Văn chương hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời. Vì vậy nó là món ăn tinh thần không thể thiếu. Nó giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích hơn đối với gia đình và xã hội. Cách đây hàng trăm năm, ông cha ta đã có câu tục ngữ: Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Nguồn gốc của câu tục ngữ trên cũng xuất phát từ lòng nhân ái, từ mục đích muốn con người có cách ăn nói sao cho đúng, cho hay; có cách cư xử với nhau tốt đẹp hơn. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có biết bao tiếng hát, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trong những lời khuyên đó là: Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Cuộc sống lao động chân lấm tay bùn của người nông dân xưa kia trở nên đẹp dẽ, thơ mộng biết bao trước cái nhìn yêu thương trìu mến đối với con người và thiên nhiên chốn quê nhà: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ảnh trăng vàng đổ đi? Chỉ bằng hai dòng thơ nhưng tác giả dân gian đã vẽ nên bức tranh sinh hoạt tuyệt đẹp: cảnh cô gái tát nước đêm trăng. Ánh trăng tràn ngập khắp nơi, sóng sánh trong từng gàu nước. Một gàu nước là một gàu trăng. Cô gái múc nước mà như múc ánh trăng vàng. Sự liên tưởng độc đáo đã tạo ra hình ảnh đẹp đẽ và thơ mộng. Câu hỏi tu từ đầy tính nghệ thuật cũng là cách tỏ tình vô cùng tinh tế của người xưa. Để ca ngợi vẻ đẹp của làng quê và phẩm chất cao quý của dân quê, ca dao có bài: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen. Hoa sen thường mọc trong đầm lầy và trong đầm không hoa nào đẹp bằng sen. Sen là loài hoa hương sắc vẹn toàn. Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen, bài ca dao còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người lao động, dẫu sống gần bùn mà vẫn giữ được phẩm chất thanh cao, trong sạch. Lòng yêu quê hương tha thiết của người xưa được thể hiện rất rõ qua bài ca dao này. Bàn về sự hấp dẫn đặc biệt và công dụng to lớn của văn chương, Hoài Thanh viết: … Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình, thế mà khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui, buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu, vì những chuyện ở đâu đâu, há chẳng phải là chứng cớ cho cái mãnh lực lạ lùng của văn chương hay sao? Đúng vậy! Văn chương khơi dậy những cảm xúc cao thượng của con người. Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, bao thế hệ người đọc say mê và vui buồn cùng nhân vật Thúy Kiều. Họ căm giận bọn Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh bao nhiêu thì càng thương xót cho số phận nàng Kiều bấy nhiêu và càng ghê tởm cái xã hội tôn thờ đồng tiền: Trong tay đã sẵn đồng tiền, Đọc bài văn cổng trường mở ra của Lí Lan, người đọc hiểu thêm tình thương yêu của mẹ đối với đứa con; hiểu thêm về vai trò quan trọng của nhà trường đối với mỗi con người. Đọc bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch, ta càng thấm thía tình quê hương sâu nặng của một kiếp người sống trong cảnh xa nhà đằng đẵng suốt bao năm. Nhận định về tác dụng to lớn của văn chương, Hoài Thanh viết: Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần. Đây chính là chức năng giáo dục của văn chương. Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm con người. Mục đích của văn chương là giúp con người tự khám phá, hiểu biết, nâng cao niềm tin vào bản thân và có khát vọng hướng tới chân lí, hướng tới cái đẹp của cuộc đời. Đặc điểm của văn chương là nâng con người vượt lên trên những lợi ích vật chất tầm thường. Đi vào thế giới của văn chương, người đọc sẽ cùng sống, cùng chia sẻ vui buồn, sướng khổ với nhân vật. Những giờ phút đến với văn chương, tâm hồn ta thanh thản biết bao! Có thể nói văn chương đã đem đến cho con người niềm vui lớn lao và một đời sống tinh thần phong phú. Văn chương thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của con người bằng vẻ đẹp của ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo của cốt truyện… nhưng trước hết nó làm rung động tâm hồn người đọc bằng hình tượng nhân vật điển hình trong tác phẩm. Những hình tượng điển hình như,Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Huấn Cao, chị Dậu, Chí Phèo… có sức sống muôn đời bởi đó chính là hiện thân đầy đủ nhất, khái quát nhất của vui buồn, sướng khổ trong cuộc sống con người. Văn chương còn dạy cho ta bao điều hay lẽ phải trong cuộc đời, giúp ta ngày một hoàn thiện hơn về nhân phẩm, đạo đức. Văn chương giúp ta nâng cao kiến thức, mở rộng tâm hồn. Vì vậy, văn chương vừa là người bạn thân thiết vừa là người thầy uyên bác, tận tình luôn bên cạnh chúng ta trên đường đời. Văn chương như có phép màu kì diệu làm cho những thứ bình thường trong cuộc sống bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường: Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề tài ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay… Chúng ta thử đọc lại bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi: Côn Sơn suối chảy rì rầm Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn… Khung cảnh thiên nhiên hiện lên sinh động với dòng suối chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan, lúc nhặt. Phiến đá phẳng phủ rêu xanh mướt, mịn như chiếu êm. Thông, tùng mọc như nêm. Rừng trúc bạt ngàn màu xanh tỏa bóng râm che mát hồn người. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trãi, Côn Sơn có một vẻ đẹp riêng, không giống với bất cứ cảnh đẹp ở một nơi nào khác. Những vần thơ trên giúp chúng ta hiểu thêm cội nguồn tình yêu quê hương, đất nước của thi hào Nguyễn Trãi. Đọc Côn Sơn ca, lòng ta xao xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương. Văn chương có vai trò quan trọng và tác dụng lớn lao như vậy nên nó là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống nhân loại. Thử hình dung một ngày nào đó: Nếu pho lịch sử loài người xóa các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xóa hết những dấu vết họ còn lưu lợi thì cái cảnh tượng nghèo nàn đến bậc nào! Đây chính là giá trị to lớn và vĩnh cửu không gì có thể thay thế của văn chương. Các thi nhân, văn nhân từ xưa đến nay đã dùng văn chương để tạo dựng nên thế giới tinh thần phong phú của nhân loại. Như thế là chỉ bằng bốn câu văn bàn luận về văn chương, Hoài Thanh đã giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc và vai trò quan trọng của văn chương. Văn chương nâng cao nhận thức, làm phong phu tâm hồn con người. Văn chương làm đẹp, làm giàu cho cuộc sông trên trái đất này. Đặc sắc nghệ thuật trong văn bản Ý nghĩa của văn chương chính là cách lập luận chặt chẽ, khoa học kết hợp nhuần nhuyễn với cảm xục tinh tế. Ta có thể nhận thấy thái độ và tình cảm của Hoài Thanh đối với văn chương bộc lộ khá rõ trong bài văn này. Ông rất am hiểu văn chương và đã dùng lí lẽ, tình cảm để bày tỏ quan điểm của mình. Quạ quá trình bình luận, thái độ của Ông trước sau như một: trân trọng và đề cao giá trị của văn chương. Hoài Thanh đã khẳng định thế giới văn chương thật kì diệu, có sức hấp dẫn muôn đời đối với con người. Chân dung Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma Phân tích bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống của Hồ Xuân Hương Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu con người không có ý thức bảo vệ môi sống Phát biểu cảm nghĩ truyện Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Hồ Chí Minh Phát biểu cảm nghĩ về bài ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính Bình luận chứng minh Thiên nhiên là bạn tốt của con người và con người cần bảo vệ thiên nhiên Cảm nghĩ của em về mùa xuân thành phố Hồ Chí Minh
Phân tích bài Ý nghĩa của văn chương của Hoài Thanh
2,577
Phân tích bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh Bài làm Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được nghe ông bà kể chuyện cổ tích, nghe mẹ hát ru những bài ca dao – dân ca. Lớn lên, chúng ta được đọc, được học những bài thơ, những truyện ngắn và một vài cuốn tiểu thuyết,… cổ tích, ca dao, những bài thơ, các tác phẩm truyện ấy chính là những áng văn chương. Chúng ta đến với văn chương một cách hồn nhiên, theo sự rung động của tình cảm. Mấy ai đã suy ngẫm về ý nghĩa của văn chương đối với bản thân ta cũng như với mọi người. Vậy văn chương có ý nghĩa gì? Đọc văn thơ, học văn thơ, chúng ta thu lượm được những gì? Muốn giải đáp những câu hỏi mang tính lí luận sâu rộng rất thú vị ấy, chúng ta hãy đọc bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh – một nhà phê bình văn học có uy tín lớn. Văn bản được viết năm 1936 (in trong sách Văn chương vù hành động). Đây là tác phẩm thuộc thể nghị luận văn chương, bàn về những vấn đề thuộc văn chương, khác bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là văn chính luận bàn về vấn đề chính trị xã hội… Vì là đoạn trích trong một bài nghị luận dài nên văn bản chúng ta được học không gồm ba phần hoàn chỉnh: đặt, giải quyết và kết thúc vấn đề. Nổi bật trong văn bản là ba nội dung quan trọng mà tác giả Hoài Thanh gọi chung là Ý nghĩa văn chương: nguồn gốc, nhiệm vụ của văn chương nói chung, của các tác phẩm thơ, văn, kịch nói riêng. 1. Nguồn gốc của văn chương. Đi vào văn bản, chúng ta bắt gặp ngay ở phần đầu một câu chuyện đời xưa thú vị. Từ câu chuyện ấy, tác giả giải thích nguồn gốc của văn chương. Theo Hoài Thanh, “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài”. Quan niệm ấy đúng không? Rất đúng, nhưng không phải là duy nhất. Có nhiều nhà lí luận giải thích: Văn chương bắt nguồn từ lao động, hoặc văn chương bắt nguồn từ những nỗi đau, những khát vọng cao cả của con người… Tuy ý kiến của Hoài Thanh khác với các quan niệm trên, nhưng không đối lập, không loại trừ nhau. Ngược lại, ý kiến của ông đã bổ sung, làm giàu thêm cho một vấn đề quan trọng trong lí luận về nguồn gốc của văn chương. Do đó, tác giả dùng từ cốt yếu sau từ nguồn gốc để chỉ rõ nguồn gốc chính, nguồn gốc quan trọng của văn chương là lòng thương… Đây là một cách nói mềm dẻo, khéo léo, không áp đặt, cũng không khẳng định quan niệm của mình là bao quát mọi quan niệm khác. Từ ý kiến của Hoài Thanh, tiếp tục suy nghĩ và học tập, lên các lớp trên, chắc chúng ta sẽ được biết sâu thêm về vấn để này. 2. Nhiệm vụ của văn chương. Từ một câu văn ngắn gọn giải thích nguồn gốc văn chương, nhà văn giải thích tiếp: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Hai câu văn cô dọng nêu ra nhiệm vụ, chức nâng cơ bản của văn chương, tập trung trong hai cụm từ “hình dung của sự sống”, “sáng tạo ra sự sống”. Điều đó nghĩa là gì? Phải chăng tác giả muốn nói: Vãn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống? Ở đây, hình dung là danh từ, nó có nghĩa như hình ảnh, kết quả của sự phản ánh, sự miêu tả trong văn chương. Hai câu thơ của Bác Hồ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa – Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” (Cảnh khuya) đã hình dung, phản ánh, tái hiện bức tranh phong cảnh đêm rừng Việt Bắc tuyệt đẹp. Hay qua bài Sài Gòn tôi yêu, tác giả Minh Hương cũng đã hình dung cảnh và người, sự sống rất đáng yếu của mảnh đất Sài Gòn ngọc ngà xưa và nay. Cách hình dung, cách tái hiện, phản ánh cuộc sống của văn chương vô cùng phong phú, muôn hình vạn trạng đúng như Hoài Thanh nói. Mỗi nhà văn, nhà thơ có cách phản ánh, cách hình dung lại sự sống riêng tuỳ thuộc vốn sống, tài năng và tâm hồn của mình. Tâm hồn của con người thì bao la, vô tận. Do đó, Hoài Thanh viết: “Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm dồi dào của nhà văn. Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác”. Đó cũng là nhiệm vụ của văn chương: nhiệm vụ sáng tạo. Điều ấy nghĩa là gì? Nghĩa là: qua các áng văn chương, bằng trí tưởng tượng bay bổng, bằng khát vọng tốt lành, nhà văn dựng nên bức tranh thiên nhiên, bức tranh đời sống vượt trên thực tế, đẹp hơn cuộc đời thực tại. Nguyễn Trãi chẳng hạn. Sau khi đất nước thanh bình, đời ông gặp nhiều ẩn ức. Ông đã cáo quan, về Côn Sơn. Rừng núi nơi đây vẫn như xưa, có suối chảy, có đá rêu phong, có thông, có trúc… lặng im, vô cảm. Vậy mà, trong Bài ca Côn Sơn, tất cả đã sống dậy, có đàn cầm tấu nhạc, có chiếu êm, giường phẳng, mái nhà râm mát và… ngân nga tiếng thơ nhàn tản, thảnh thơi của con người. Nguyễn Trãi đã sáng tạo ra sự sống khác hẳn cuộc sống mà ông đã đối mặt. Không chỉ sáng tạo ra sự sống cho riêng mình để giải toả những ẩn ức, bế tắc, nhà văn còn gửi gắm những thông điệp, những mong muốn, khát vọng tới bạn đọc để nhắc nhở chúng ta hãy yêu, ghét đúng đắn, hãy chia sẻ, cộng hưởng niềm vui, nỗi buồn, những ước mơ, khát vọng với nhà văn để quyết tâm làm những điều thiện, điều có ích, để cuộc sống mà nhà văn hình dung được ngày càng tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn, thậm chí khác hẳn sự sống trong áng văn chương. Miêu tả cảnh đêm rừng Việt Bắc trong bài Cảnh khuya, nhà thơ Hồ Chí Minh mong muốn cuộc kháng chiến lúc bấy giờ sớm thành công để núi rừng Việt Bắc, Tổ quốc Việt Nam sẽ đẹp hơn, cuộc sống của nhân dân sẽ hạnh phúc hơn. Ca ngợi mảnh đất và con người Sài Gòn trong bài Sài Gòn tôi yêu, nhà văn Minh Hương mong muốn “mọi người đều yêu Sài Gòn như tôi”. Tình yêu sẽ thúc đẩy con người làm được nhiều điều tốt đẹp. Yêu Sài Gòn, “mọi người” – trong đó có nhà văn – và bạn đọc sẽ góp phần tích cực tạo ra một Sài Gòn đẹp hơn, đáng yêu hơn. Sau những áng văn chương, sự sống bao giờ cũng được nối dài, được phát triển trong tâm hồn, ý chí, khát vọng và hành động của bạn đọc… Phải chăng đấy chính là nhiệm vụ “sáng tạo sự sống” của văn chương như Hoài Thanh quan niệm. Phân tích bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh 3. Công dụng của văn chương. Nói tới nhiệm vụ hình dung lại, sáng tạo ra sự sống, cũng là đề cập tới một ý nghĩa quan trọng nữa của văn chương. “Và vì thế – Hoài Thanh viết – Công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha”. Phần hai của văn bản Ý nghĩa văn chương tập trung giảng giải, bình luận về công dụng của văn chương. Chúng ta hiểu nghĩa từ công dụng là: tác dụng, là hiệu quả, là sự bồi đắp trí tuệ, sự truyền cảm… của văn chương đối với bạn đọc nói riêng, con người nói chung. Vậy, qua ý kiến của Hoài Thanh, chúng ta hiểu công dụng của văn chương như thế nào? Hoài Thanh viết: “Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình… khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui, buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu,…”. Nghĩa là văn chương có khả năng lay động tâm hồn, giúp ta biết chia sẻ buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc… với mọi người, dắt chúng ta sống gần với nhau hơn trong tình nhân ái, tình thương yêu, đoàn kết giữa con người với con người… “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Rõ ràng, văn chương đã bồi đắp tình cảm tốt đẹp cho người đọc, làm giàu thêm thế giới tâm hồn của chúng ta. Không những thế, văn chương còn góp phần tô điểm biết bao sắc màu, âm thanh làm cho thế giới, con người, cuộc sống được tốt đẹp hơn, đáng yêu hơn. […] Từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay… Hoài Thanh viết như thế, đã nhấn mạnh thêm công dụng của văn chương. Hiểu và suy ngẫm những ý kiến ấy, rồi liên tưởng tới các áng văn chương đã được đọc, được học, ta thấy quả đúng như vậy. Đọc những bài ca dao tình nghĩa con người, ta càng thêm yêu ông bà, cha mẹ ta hơn. Tóm lại, với một lối văn nghị luận vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh, Hoài Thanh đã cho rằng: nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha. Văn chương là hình dung của sự sống và sáng tạo ra sự sống, góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho chúng ta. Nếu lịch sử nhân loại xoá bỏ văn chương thì sự sống sẽ nghèo nàn vô cùng. Quan niệm như thế có thể là chưa đầy đủ, nhưng đã có những điều cơ bản và đúng đắn, giúp cho chúng ta hiểu rõ: nguồn gốc, nhiệm vụ và công dụng của văn chương. Nhờ đó, chúng ta đọc văn, học văn, hiểu và suy ngẫm về văn chương được sáng tỏ và sâu sắc hơn.
Phân tích bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh
1,774
Phân tích bài Ý nghĩa văn chương để cho thấy cách viết tài hoa, độc đáo của Hoài Thanh Hướng dẫn Hoài Thanh (1909 – 1982) là cây bút phê bình xuất sắc. Những bài bình của ông rất đặc sắc, tài hoa. Tên tuổi ông trở thành bất tử với tác phẩm Thi nhân Việt Nam (1942). Bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh viết đã trên 60 năm, nhưng ngày nay chúng ta đọc vẫn tìm được nhiều điều thú vị. Hai chữ “văn chương” trong bài văn này mang nghĩa hẹp, đó là tác phẩm thơ văn, là vẻ đẹp của câu thơ, lời văn. Đây là một bài báo ngắn, nên Hoài Thanh chỉ nói được một số điều, một số ý kiến về ý nghĩa văn chương. Tác giả vào đề bằng một câu chuyện đời xưa kể chuyện một thi sĩ Ấn Độ đã khóc nức nở khi nhìn thấy một con chim bị thương…, tác giả chỉ ra rằng: “Tiếng khóc ấy, nhịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca”. Hoài Thanh vào đề một cách có duyên, nhẹ nhàng, hấp dẫn. Cách mở bài ấy được gọi là “dụ khởi” (lối mở bằng ví dụ, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn cũng có cách mở bài như thế). Từ câu chuyện hoang đường ấy, tác giả nêu rõ nguồn gốc của văn chương là gì. Đó là lòng thương người và rộng ra là thương cả muôn vật, muôn loài. Nói một cách khác, hiểu một cách khác, cảm hứng thơ văn là tình thương. Nguồn gốc của văn chương “là tình cảm, là lòng vị tha”; thơ văn đích thực có “mãnh lực lạ lùng” có thể làm cho độc giả vui, buồn, mừng, giận… Đó chính là tính giáo dục của văn chương. Văn chương có tính nhân bản đã góp phần nhân đạo hóa con người. Quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc, về công dụng của văn chương rất tiến bộ, đúng đắn. Ta yêu kính cha mẹ hơn, hiếu thảo hơn khi đọc bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”. Ta thầm nhớ công ơn người trồng cây, gieo hạt nhờ họ, ta được nếm hương đời, vị đời: “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Văn chương rất kì diệu, thể hiện những ước mơ, khát vọng của con người, “gây cho ta những tình cảm ta không có (hoặc sẽ có), luyện những tình cảm ta sẵn có” như Hoài Thanh đã nói. Thương người, yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, say mê học tập và lao động, sáng tạo, mơ ước vươn tới những chân trời bao la.., những tình cảm ấy là do cuộc sống, do văn chương mà tâm hồn ta được bồi đắp. Văn chương làm cho cuộc đời thêm đẹp, cuộc sống thêm sắc màu ý vị, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn. Đúng như tác giả đã viết: “Cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần”. “Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân..!”(Vũ Bằng). “Khi chén rượu, khi cuộc cờ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Cuộc đời không thể thiếu văn chương. Văn chương sáng tạo ra cái đẹp, làm cho ta thấy cuộc đời đẹp hơn, đáng yêu hơn. Hoài Thanh đã dùng hình ảnh gợi cảm để diễn tả ý đó: “từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay”. Bàn về ý nghĩa văn chương, Hoài Thanh đã đưa ra những lí lẽ xác đáng về nguồn gốc và công dụng của thơ văn. Giá trị nhân bản và tính nhân văn của văn chương đã được tác giả nêu bật một cách sáng tỏ. Cách viết nhẹ nhàng, biểu cảm, sử dụng hình ảnh có duyên và đậm đà, do đó lí lẽ của Hoài Thanh nêu ra tuy không mới, nhưng đầy sức thuyết phục.
Phân tích bài Ý nghĩa văn chương để cho thấy cách viết tài hoa, độc đáo của Hoài Thanh
721
Đề bài: Phân tích – bình luận bài Đi bộ ngao du (trích Ê-min hay Về Giáo dục) của G. Ru-xô Bài làm Đi bộ ngao du như một thiên phiếm luận, dưới hình thức “nói chơi”. Thiên phiếm luận ấy đặt trong khuôn khổ một cuốn tiểu thuyết nên có nét đặc thù. Tác dụng của nó không ngoài mục đích làm cho nhân vật có được một chút thư giãn, thảnh thơi cả đầu óc và tâm hồn. Tuy chỉ là nói chơi mà không vô bổ. Đoạn văn chứng minh cho lợi ích của việc đi bộ. Ở vào thời điểm của thế kỉ XVIII, đây là một phát hiện bất ngờ. Cách đi (đi bộ) của người chân đất, cách đi hành xác nhọc nhằn lại trở thành một thú chơi hơn hẳn các phương tiện của ván minh (đi ngựa) hay bất cứ của các thành tựu khoa học nào (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ,…). Câu hỏi ở đây là cách nhà văn nói thật hay nói chơi, với người đọc cứ lởn vởn trong đầu. Cần tìm ra đáp số, phải theo dõi bài văn. Bài văn ấy lại như một cuộc đàm đạo, nghĩa là đối thoại với người nghe một cách từ tốn, hồn nhiên, không có gì nặng nề, áp đật. Mở đầu là một phát hiện bất ngờ và khái quát, rồi sau đó là những luận điểm chứng minh, mà chứng minh ấy lại nằm trong một hệ thống nói chơi nửa thực nửa đùa. Chính từ giọng điệu ấy đã tạo ra sức thuyết phục độc đáo không tìm thấy ở một tác phẩm nào trong thứ văn chương được gọi là nghiêm túc cả. Thì không đúng như thế hay sao? 1. Thứ nhất:đi bộ ngao du là cách mà con người được giải phóng, được tự do. Từ một khái niệm về phương diện thông thường của vật chất, của sinh hoạt hằng ngày mà người viết đã nâng lên một cái đích cao siêu của tinh thần, tư tưởng. Nó là một tiếng reo thú vị biết bao! Nhà văn giống như người tìm ra một chân lí bất ngờ mà không mấy ai quan tâm, để ý. Một chữ “ta” chủ thể, chủ thể của ý thích, chủ thể của hành động, chủ thể của bản thân mình, chẳng phụ thuộc vào ai. Đoạn văn diễn tả được cái hứng khởi tràn đầy trong bối cảnh tự do khi con người được “cởi trói” khỏi những ràng buộc với xung quanh. “Cái tôi” của nhà văn lúc này là cả một thế giới tự do, nó được tháo cũi sổ lồng. Này nhé: về ý thích, ta “ưa”, ta muốn “nhiều ít thế nào thì tuỳ về hành động cũng tha hồ như thế. Nào “Ta quay sang phải, sang trái, ta xem xét tất cả những gì thấy hay hay, ta dừng lại ở tất cả mọi khía cạnh”. Câu văn, rồi cả đoạn vãn say người chính là ở tư thế tự do mà con người ta có được. Nó là nhận thức, nó cũng bay lượn như một nỗi niềm lần đầu được chấp cánh bởi tự do. Cái duy nhất lúc này mà người viết phụ thuộc là chính bản thân, một bản thân không gì còn vướng cản để tha hồ “hưởng thụ tất cả sự tự do mà con người có thể hưởng thụ”. Cách lập luận của đoạn văn vừa là song hành vừa là móc xích. Song hành trong cách bộc lộ một chủ thể tự do, móc xích dưới hình thức câu hỏi và tự mình giải đáp. Vừa trần thuật giả định trong một câu chưa trọn ý “Nếu tôi mệt…” đã lập tức có một “cái tôi” khác trả lời – trong quan hệ hô, ứng vang lên: “Nhưng Ê-min có mệt gì lắm đâu ; em to khoẻ ; và sao em có thể mệt được cơ chứ?” Sự phân thân tách mình ra làm hai con người khác kết hợp với sự hội nhập (hỏi và đáp cũng chỉ là con người ấy) đã làm nên sắc thái đa dạng, sinh động của lời văn, không rơi vào tình thế phát ngôn một chiều, đơn điệu. Nó hấp dẫn được người đọc, người nghe. Nó như một tiếng reo thầm khi nhu cầu cần giãi bày, chia sẻ. Thiên nhiên – qua cách đi bộ ngao du mà người ta tiếp cận – là một trường học lớn. Đó là cả một kho tàng. Những kiến thức về nông nghiệp, về tự nhiên như những ngọn gió ùa vào qua cái cửa sổ trí tuệ mà con người khao khát. Cách học hỏi bằng cách gần gũi với thiên nhiên, hoà mình với thiên nhiên này khác xa, khác hẳn với cách học giáo điều, hình thức. Thiên nhiên sống động, thiên nhiên toàn cảnh hoàn toàn không giống với những mô hình tượng trưng trong các phòng sưu lập của “các ngài tự nhiên học” đã đành, nó một trời một vực cả với các phòng sưu tập của những quý ngài, những đấng bậc quyền uy vào hàng vua chúa. Bởi cái mà họ có tưởng là đủ nhưng chỉ là một nửa của sự thật mà thôi. Còn sự thật của thiên nhiên hùng vĩ phải có linh hồn của nó, nghĩa là nơi “mọi vật đều ở đúng chỗ” như Trái Đất đã an bài tạo nên một tổng thể hài hoà và sinh động, một sự sắp xếp mà không một nhà khoa học tài giỏi nào có thể sắp xếp tốt hơn. 3. Đi bộ ngao du là cách tốt nhất để tăng cường sức khoẻ. Thông qua một bài văn được viết theo lối văn nhật dụng đời thường, ta thấy hiện ra một con người có văn hoá. Ây là một Ru-xô giản dị, quý trọng tự do và yêu mến thiên nhiên. Nhưng khi gắn bài văn vào hoàn cảnh đời tư của tác giả không nên chỉ nhấn mạnh một chiểu, chẳng hạn, khi còn thơ ấu, ông thường bị chủ xưởng chửi mắng đánh đập,… nên khao khát tự do, hoặc cũng từ nhỏ vì không được học hành nên ông khao khát kiến thức. Nếu theo cái đà lập luận đó thì ông thích tăng cường thể lực vì từ bé đã bệnh tật, ốm yếu hay sao? Thêm nữa, bản thân việc đi bộ ngao du vừa có ý nghĩa khách quan của chính nó (không loại trừ một ai, ở bất cứ đẳng cấp xã hội nào) vừa có ý nghĩa chú quan đối với từng con người cụ thể. Và như thế, lấy tiêu chí chủ quan mà xem xét vấn đề rõ ràng là khiên cưỡng, không nên. Ngoài vấn đề nêu trên, cách sử dụng đại từ nhân xưng là “ta” và “tôi” chẳng qua cũng chỉ là thay đổi cách xưng hô, làm cho diễn đạt thêm phần linh hoạt, sinh động bằng việc thay đổi cách nhìn. Vẫn chi là một “cái tôi” khi tách ra, lúc nhập lại với người đọc, người nghe như một người tri kỉ đồng hành. Văn nghị luận mà giống với kể chuyện, gần gũi với mọi người chính là vì thế.
Phân tích bài Đi bộ ngao du trích trong tác phẩm Ê-min hay về giáo dục của G. Ru-xô
1,219
Đề bài: Phân tích bài Đám tang lão Gô-ri-ô của Ban-dắc Bài làm Ban-dắc(1799 – 1850) là nhà tiểu thuyết Pháp nổi tiếng, "một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực’’. Ông đã sáng tạo ra bộ “Tấn trò đời” đồ sộ, bất hủ gồm 97 tác phẩm với trên 2.000 nhân vật. Miếng da lừa (1831), Ơ-giê-ni Grăng-đé (1833), Lão Gô-ri-ô (1834), Ảo mộng tiêu tan (1937 – 1843),… là những kiệt tác của Ban-dắc. Bằng ngòi bút chân thực, cụ thể lịch sử, Ban-dắc đã xây dựng hàng loạt tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình qua bộ "Tấn trò đời", tác giả đã phê phán xã hội tư sản, ví nó như một tấn hài kịch, trong đó đồng tiền tác oai tác quái, gây ra biết bao bi kịch đau lòng. Phân tích đoạn văn “Đám tang lão Gô-ri-ô”. Lão Gô-ri-ô xưa kia nhờ buôn bán lúa mì mà giàu có. Nhưng hai “ái nữ” của lão đã bòn rút đến đồng vàng cuối cùng. Cuối đời lão sống cô đơn, nghèo khổ trong cái quán trọ tồi tàn của mụ Vô-ke. Lão chết năm 69 tuổi. Không một thân thích. Người ta đã tháo đinh quan tài, đặt lên ngực lão “cái hình ảnh ” hai cô con gái yêu thương của lão khi chúng nó "còn bé bỏng, đồng trinh và trong trắng… ” Một chi tiết hiện thực vô cùng chua chát nói lên sự vô tình, bạc bẽo của hai đứa con gái lấy chồng giàu sang. Chỉ có Ra -xti-nhăc và Cri-xtô-phơ (hai người cùng ở chung nơi quán trọ) với hai gã đô tùy đưa quan tài lão Gô-ri-ô đến ngôi nhà thờ Thánh Ê chiên đuy Mông. Xác chết của lão nghèo khó được đặt trước một giáo đường thấp và tối. Tang lễ sơ sài, qua quýt mất hai mươi phút với cái giá bảy mươi quan do hai vị linh mục, chú bé hát lễ và người bõ nhà thờ. Tang lễ qua quýt thế thôi, bởi lẽ “trong một thời kì mà tôn giáo không lấy gì làm giàu lắm để tẩu kinh làm phúc”. Như vậy là, Thánh đường, linh mục, tang lễ… đều được cân, đong, đếm bằng tiền. Bọn người có mặt trong tang lễ cũng vì tiền mà đến. Cri-xtô-phơ vì "nghĩa vụ ” mà anh ta đến đưa đám, vì lão Gô-ri-ô chết "đã làm cho anh ta kiếm được mấy món tiền đãi công kha khá”. Không có người đưa đám, lại đã năm giờ rưỡi rồi, xác chết lão Gô-ri-ô được chở nhanh đến nghĩa địa. Lúc ấy có hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi, một của bá tước Đơ Re-xtô, và một của nam tước Đơ Nuy-xin-ghen theo sau chiếc xe tang đến nghĩa địa! Dù là con gái, nhưng nay đã trở thành một mệnh phụ phu nhân rồi, không thể đi đám ma một kẻ nghèo khó, hèn mọn! Một nét vẽ sâu sắc lên án đạo lí suy đồi, tình đời bạc bẽo! Cảnh hạ huyệt vội vội vàng vàng. Bài kinh ngắn cầu cho kẻ xấu số do chàng sinh viên trả tiền (như một sự bố thí). Người nhà hai cô con gái và đám người nhà đạo biến ngay! Hai gã đào huyệt mới hất được vài xẻng đất xuống cho lấp chiếc áo quan thì ngẩng đầu lên đòi tiền đãi công “Ơ-gien móc túi và thấy không còn đồng nào, chàng buộc phải vay Cri-xtô-phơ hai mươi xu”. Cái món nợ này lại ghi vào sổ nợ của người xấu số ngày một thêm chồng chất! Ai sẽ trả cho lão Gô-ri-ô? Cảnh nghĩa địa là,ngày tàn, một buổi hoàng hôn ẩm ướt trên bầu trời có những đám mây. Trong cái khung cảnh buồn bã ấy, Ra-xti-nhắc “ não lòng ghê gớm…”, “giọt nước mắt trào ru…". Đây là giọt nước mắt duy nhất trong đám tang lão Gô-ri-ô. ra. Một đám tang của kẻ già nua, cô đơn và nghèo hèn. Số tiền làm lễ ở nhà thờ, tiền đọc kinh cầu nguyện lúc hạ huyệt, tiền đãi công phu đào huyệt, và tiền thuê đòn đám ma – bấy nhiêu khoản tiền, ai bố thí cho lão Gô-ri-ô? Cha cố và con chiên, cha và con,… tất cả đều vì tiền. Bằng những chi tiết chân thực, cụ thể, Ban-dắc đã làm hiện lên một đám tang của kẻ nghèo hèn trong cái xã hội kim tiền, tình đời đen bạc. Chúng ta hãy đọc lên vần thơ này để ai điếu lão Gô- ri-ồ bất hạnh: … “Ai chết đó? Trục xoay và bánh đẩy, Xe tang đi về tận thế giới nào? Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao, Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó… " (Nhạc sầu – Huy Cận)
Phân tích bài Đám tang lão Gô-ri-ô của Ban-dắc
803
Phân tích bài Đại cáo bình ngô Hướng dẫn Phân tích bài Đại cáo bình ngô Vua Lê Thánh tông đã từng đề cao: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi được nhớ tới, đánh giá như một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của non sông Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà chính trị đại tài của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Các tác phẩm là sự kết hợp hài hòa của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Một trong số tác phẩm của ông thể hiện rõ điều này là tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” Tác phẩm ra đời khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế đặt tên hiệu là Thuận Thiên (hợp lòng trời) và cử Nguyễn Trãi soạn bài cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hoà bình. Bình ngô đai cáo là một luận văn chính trị tổng kết chặt chẽ, súc tích- về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dựa trên tư tưởng yêu nước thiết tha và sự nhận thức sâu sắc, mới mẻ về nhân dân và dân tộc. Bao trùm bài cáo là niềm tự hào vô biên trước thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến, của khí phách của dân tộc Việt Nam. Ngay từ đầu, Nguyễn Trãi đã khẳng định sự đấu tranh này là vì lợi ích của nhân dân: Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Nguyễn Trãi đã viết tự đáy lòng ông, chứ không chỉ như được từng nghe suông. Chính ông đã coi việc nhân nghĩa cốt ở yên dân như mục tiêu phấn đấu cao nhất của đời mình.Với đạo đức nho giáo ngày xưa, nhân nghĩa là một điều mà con người ai cũng phải có, và thể hiện bằng cách xử sự đối đãi tốt đẹp với người khác. Ở Nguyễn Trãi, nhân nghĩa đã được nhân lên một tầm cao hơn hẳn, và mở rộng hơn nữa: đó là lo cho dân, giúp cho dân – dân ở đây nói với nghĩa bao trùm tất cả thiên hạ. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại- dân là nòng cốt, là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia. Nhân nghĩa còn là “trừ bạo”, bạo chính là quân nhà Minh, bọn gian tà chuyên đi hà hiếp nhân dân. Có thể thấy Nguyễn Trãi đã coi ‘dân” chính là trụ cột của một quốc gia, người chèo thuyền cũng là dân và người lật thuyền cũng là dân. Tư tưởng này giản dị nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc. Trong những cuộc kháng chiến thì nhân dân đóng vai trò quan trọng đối với sự thắng bại của cuộc chiến đó. Nếu dân mạnh, lòng dân yên thì ắt hẳn sẽ đánh bay hết sự tàn bạo của quân thù. Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có. Khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, NguyễnTrãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Để nêu bật tư thế độc lập tự cường của dân tộc, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi. Đại Việt và Trung Hoa đã bao đời song song tồn tại.“Văn hiến” của nước Nam là do nhân dân Việt Nam xây dựng, trải qua thăng trầm, sự tàn khốc và mất mát của chiến tranh mới có được. Cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với “ Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc, điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thôn tính Đại Việt. Vậy nên: Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét Chứng cứ còn ghi. Ở đoạn thơ này, NguyễnTrãi đã cho ta thấy những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn tự do của Tổ quốc. Cách nêu dẫn chứng rõ ràng, cụ thể bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Nội dung được diễn đạt bằng những vế rất đăng đối. Tuy vậy nếu để ý ta thấy tư thế cân bằng, tác giả dường như ngày càng muôn đặt nặng đồng cân hơn về phía Đại Việt với từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “ Hàm Tử”, “ Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức: “Lưu Cung..tham công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Tất cả những trang sử hào hùng, vẻ vang ấy, đều đã được sử sách ta cẩn thận ghi lại, không thể chối cãi, và không ai có thể thay đổi. Trong suốt toàn bài Cáo Bình Ngô, ngòi bút của Nguyễn Trãi dã tỏ rõ lòng ưu ái đối với dân. Vì thương dân, ông đã xót xa trước những thảm cảnh mà quân cuồng Minh thừa cơ gây họa do bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Chúng đã: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây thù kết oán trải mấy mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời. Nặng thuế khoá sạch không đầm núi. Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng. Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng. Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán, Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa? Nặng nề những nổi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi. Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được? Lợi dụng việc chính trị rối ren, giặc Minh cấu kết với bọn Vỉệt gian bán nước, điên cuồng sang cướp nước ta, xâm phạm chủ quyền dân tộc, còn gây ra bao tội ác tày trời: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Đọc lại sử sách cũ, chúng ta có thể thấy hai câu trên hoàn toàn không phải là cách diễn đạt cường điệu mà là sự thật: Giặc Minh hết sức hung tàn, chúng thường rút ruột người treo lên cây, nấu xác người lấy mỡ thắp đèn, nhiều khi chúng mua vui bằng cách nướng những người dân vô tội. Ngoài ra, bọn giặc đã thực hiện một chế độ sưu thuế cống nạp nặng để vơ vét của cải (Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng – Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc). Lòng tham vô đáy, chúng đã gây nên nỗi đau ghê gớm cho dân ta lúc bấy giờ, sản xuất bị đình trệ (tan tác cá nghề canh cửi), cuộc sống nhân dân bị huỷ hoại không còn lại gì (tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ), đẩy con người ta vào tình cảnh thê lương, khốn cùng (nheo nhóc thay kẻ goá bụa khôn cùng) … Tội ác của giặc Minh chồng chất đến dẫu chặt hết tre rừng cũng không ghi hết, khiến cho trời đất không thể dung tha, thần và dân đều không chịu được. Ông đã vạch trần bản chất thực của kẻ xâm lược bằng những câu văn phẫn nộ, bi thương. Đau xót và căm thù, người dân Đại Việt phải đồng lòng đứng dậy. Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, Chính lúc quân thù đang mạnh. Tập trung miêu tả hình ảnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã khái quát toàn vẹn nưng phẩm chất tiêu biểu nhất của con người yêu nước ở thế kỷ XV. Những đặc điểm của con người yêu nước trong văn học thời kỳ này thường có đặc điểm sau: Xuất thân bình thường; Khởi đầu gặp nhiều khó khăn nhưng luôn có tinh thần vượt khó, kiên trì ;Biết tập hợp, đoàn kết toàn dân ;Biết sử dụng chiến lược, chiến thuật tài tình; Biết nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa trong mọi hoạt động. Có thể nói, Lê Lợi chính là hình ảnh tiêu biểu của những con người yêu nước dám hy sinh quên mình đứng dậy chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc. Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân tài như lá mùa thu, Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần, Nơi duy ác hiếm người bàn bạc, Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông, Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả. Thế mà: Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi. Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối. Phần vì giận quân thù ngang dọc, Phần vì lo vận nước khó khăn, Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, Lúc Khôi Huyện quân không một đội. Trời thử lòng trao cho mệnh lớn Ta gắng trí khắc phục gian nan. Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh, Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. Tinh thần và lòng quyết tâm đã dâng cao như núi nhưng buổi đầu của cuộc khởi nghĩa thật là đầy khó khăn: quân giặc thì đang hùng mạnh, mà chúng ta mới có ít người, nhân tài thiếu thốn như sao buổi sớm, như lá mùa thu. Có lúc bị bao vây, lương thực cạn kiệt, quân sĩ chẳng con mấy người (khi Linh Sơn, lương hết mấy tuần – khi Khôi Huyện quân không một đội) … Tuy vậy, nhờ bền gan vững chí khắc phục gian nan, nhờ sự chung lưng đấu cật của tướng sĩ, nhờ sự đoàn kết của toàn dân và chiến lược, chiến thuật đứng đắn…, chúng ta đã dần dần xây dựng được lực lượng vững mạnh dẫn tới chiến thắng. Đoạn tiếp theo, Nguyễn Trãi tập trung lược thuật quá trình chiến thắng. Điều đáng lưu ý, trên thực tế, từ khi dựng cờ khởi nghĩa đến khi toàn thắng, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng nhiều trận. Nhưng ở đây, Nguyễn Trãi chỉ tập trung nói đến một số trận tiêu biểu nhất của từng giai đoạn. Ở giai đoạn mở màn đánh lớn, tác giả nói đến hai trận chiến ác liệt xảy ra tại Bồ Đằng và Trà Lân. Quân giặc hoàn toàn bị bất ngờ, thua chạy liểng xiểng ; quân ta chiến thắng nhanh chóng. Ở đây, Nguyễn Trãi có cách miêu tả rất ngắn gọn nhưng vẫn làm nổi bật lên được cái cốt lõi của hai trận đánh là sự bất ngờ trong việc dừng quân. Do đó, giặc thì hoảng sợ, hoang mang, quân ta thi càng đánh càng mạnh: Sĩ khí đã hăng Quân Thanh càng mạnh Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía, Lí An, Phương Chinh nín thở cầu thoát thân. Ở giai đoạn hai, quân ta mở chiến dịch Thanh Nghệ để tiến quân ra Bắc. Nguyễn Trãi nói đến hai trận có ý nghĩa chiến lược và đã diễn ra vô cùng ác liệt là trận Ninh Kiều và trận Tốt Động. Giặc thì huy động tổng lục sống chết cố thủ, ta thì quyết chiến quyết thắng ; do đó, trận chiến trở nên cực kì dữ dội. Bằng cách nói cường điệu, Nguyễn Trãi đã khiến người đọc có ấn tựợng sâu sắc về sự ác liệt của trận chiến, sự thất bại nhục nhã của giặc Minh: Ninh Kiều máu chày thành sông, tanh trôi vạn dặm Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Phúc âm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu. Mọt gian kẻ thù: Lí Lượng củng đành bỏ mạng. Ở giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, Nguyễn Trãi tập trung bút lực kể về chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang. Đây là bản hùng ca vang dội nhất của cuộc kháng chiến trường kì. Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại, Năm ấy tháng mười, Mộc Thạch chia đường từ Vân Nam tiến sang. Nhưng ta đã có sự bố phòng chu đáo. Hai gọng kìm của giặc liên tiếp bị bẻ gãy: Ta trước điều bỉnh thủ hiểm, chặt mũi tên phong. Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực. Sau đó là những chiến thắng dồn dập. Hơi văn hăm hở như có nhịp thở của người viết, mạch văn dồn đuổi như cố theo kịp bước hành quân thần tốc và những đòn đánh cấp tập của nghĩa quân: Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế, Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong. Ngày hai tám, Thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn. Tiếp đó, bài cáo chuyển sang tiếp cận cụ thể cảnh trận mạc. Câu vãn đúc lại, ngắn gọn, đầy hình ảnh thâm xưng phóng đại nhằm cực tả sức mạnh vĩ đại, khí thế áp đảo của quân ta: Sĩ tốt kén tay hùng hổ, Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh, Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông Hình ảnh quân ta lúc này hiện lên với lực lượng đông đảo, ý chí mạnh mẽ kiên cường, tầm vóc lồng lộng nơi vũ trụ. Khi đánh giặc, càng đánh càng hăng, khí thế ngập đất trời bởi trái tim luôn tràn trề tình yêu nước. Bởi thế nên quân ta mới đánh bại quân giặc. Lúc này, quân giặc hiện lên trong thật đáng thương, thảm hại: Cơn gió to trút sạch lá khô, Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ. Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng, Thần vũ chẳng giết hại thể lòng trời ta mở đường hiến sinh, Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể vẫn hồn bay phách lạc. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Những cái “danh” không thể giấu nổi sự hèn nhát và nhục nhã: Trần Trí, Sơn Thọ, Lí An, Phương Chính, Vương Thông, Mã Anh… Tất cả làm nên một khung cảnh chiến trường tuy hỗn độn nhưng thế chủ động hoàn toàn đã thuộc về phe chính nghĩa. Quân giặc nhốn nháo, hãi hùng, mỗi tên mỗi vẻ vô cùng thảm hại. Nhưng nhân dân ta vốn ưa hoà bình, không thích cảnh binh đao: Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Quân giặc đã “tham sống sợ chết”, ta cũng chẳng cạn tình. Quan điểm “dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo” của Nguyễn Trãi chính được biểu hiện ở đây. Theo ông, binh đao khói lửa chỉ là chuyện bất đắc dĩ, vì làm hao tổn sinh mạng, ông luôn mưu phạt tâm công, dùng áng văn chính luận có sức mạnh hơn 10 binh để tránh đổ máu mà thu phục được lòng người. Với quân tướng bại trận của giặc, ông đã tha bổng và giúp cho về nước, không giết hại: thể lòng trời, ta mở đường hiếu sinh để giữ vẹn hoà hiếu. Ta thấy Nguyễn Trãi quả là một con người nhân nghĩa, với tấm lòng nhân hậu, bác ái và thanh cao tuyệt vời! Bài cáo kết thúc. Câu văn chuyển sang nhịp khoan thai, dàn trải, trang trọng. Giọng văn hiền hoà tươi vui Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới. Nhưng niềm vui không ồn ào. Tác giả hiểu hơn ai hết cái giá đắt của chiến thắng, và cái ơn rất sâu của đồng bào và của trời đất tổ tông thiêng liêng đã đồng lòng giúp đỡ. Từ đây dân tộc bước vào một thời đại mới. Độc lập, tự do và sự yên bình lại trở về trên mỗi miền quê. Đoạn văn dựa vào những quy luật tất yếu của tự nhiên mà khái quát thành những điều tất yếu trong xã hội. Xã hội phải đối diện với “những sự đổi thay” nhưng cũng như càn khôn “bĩ rồi lại thái”, như nhật nguyệt “hối rồi lại minh”. Và dường như cũng chỉ có như vậy ta mới thấu hết được cái ý nghĩa của hình ảnh đất nước trong gian lao, và mới hiểu thế nào là “muôn thuở nền thái bình vững chắc”. Đất nước đã thanh bình, hình ảnh đất nước trong tương lai vững vàng và tươi sáng: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”. Bài cáo còn viết với nghệ thuật xuất sắc: lời văn biền ngẫu hùng tráng, hơi văn cuồn cuộn như bão giông, như sóng lớn, từ ngữ sắc bén như những nhát dao chém thẳng vào quân xâm lược, phép đối kết hợp với cấu trúc câu của loại phú cận thể tạo nên tiết tấu mạnh mẽ thể hiện được tất cả các cảm xúc hào sảng bừng bừng trong huyết quản của tác giả ngay trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn thắng trận giòn giã. Bài cáo đã ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Minh với những chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo đã đem lại những trận đánh long trời lở đất làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã.“Bình Ngô đại cáo” xứng đáng là “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước nhà. Tóm lại, tác phẩm Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nướcnhà. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài Đại cáo bình ngô
3,705
Đề bài: Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài làm Trong số các nhà thơ thế hệ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là người rất thành công với giọng thơ trữ tình chính luận thể hiện rõ những tâm tư của thế hệ trẻ đô thị miền Nam. Trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971) là tiếng vọng tâm tình của một hồn thơ hòa cùng mạch cảm xúc của dân tộc đứng trước dòng thác lũ thời đại, trong đó chương V “Đất nước” đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của thế hệ chống Mỹ Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc…” Giọng thơ thủ thỉ đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Nhân Dân – Đất Nước, tiếp nối mạch suy tưởng của thi ca giai đoạn trước.Đất Nước là một chủ đề xuyên suốt bao trùm lên các tác phẩm trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các nhà thơ nhà văn bằng tình cảm công dân đã có nhiều phát hiện mới mẻ độc đáo về Tổ quốc, nhân dân. Tổ quốc thường được soi chiếu từ bình diện lịch sử chống ngoại xâm, được khái quát bằng những hình tượng kỳ vĩ, khai thác triệt để chất sử thi hoành tráng. Trong dòng chủ lưu ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn lựa cách thể hiện riêng của mình, bằng trải nghiệm tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cách mạng và cả bằng vốn tri thức được đào tạo bài bản từ mái trường xã hội chủ nghĩa, tạo nên chiều sâu của hình tượng Đất Nước, hoà mạch thơ chính luận – trữ tình. Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Trả lời cho câu hỏi: “Đất Nước là gì? Đất Nước từ đâu ra?”, nhà thơ đã bắt đầu bằng những kí ức tuổi thơ để hình dung ra một sự tồn tại của Đất Nước trong nhận thức và tình cảm tự nhiên nhất của con người. Những vẻ đẹp được khơi lên từ mạch tâm tình, thấm đẫm hơi thở ca dao dân ca, huyền tích sử thi của dân tộc. Cái hay của phần mở đầu chương Đất Nước chính là sự xuất hiện của hàng loạt những hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng nhưng rất gần gũi: Tóc mẹ thì búi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng Đất Nước có từ ngày đó… Sức gợi từ những hình ảnh đã dựng lên cả một không gian văn hoá truyền thống, mang theo hơi thở tâm tình của ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” thấm thía tình nghĩa thủy chung. Mạch nguồn ấy tiếp tục với quá trình trưởng thành của từng cá nhân, từ thuở cắp sách đến trường đến khoảnh khắc rung động đầu đời. Tất cả đều xuất phát một cách rất tự nhiên, nôn nao ngọt ngào kỷ niệm: Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm… Đan xen với khoảnh khắc thời gian không gian hiện tại là sự thức tỉnh của ký ức cộng đồng, với sự tổng hoà những vẻ đẹp trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. Vẻ đẹp quê hương đất nước được tái hiện trong những lời ca dao toát lên lòng tự hào về non sông gấm vóc, về Cha Rồng Mẹ Tiên, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức từng người Việt: Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào mình trong bọc trứng… Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đã được nhà thơ lý giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mỹ và hàm chứa mối quan hệ Đất Nước – con người Nhân Dân không thể tách rời. Thời gian lịch sử, không gian văn hoá hoà quyện trong mạch thơ đầy ân tình đã phác hoạ rõ nét dần tượng đài Đất Nước. Không chỉ tiếp cận hình tượng trong huyền sử, trong hiện thực đời sống, trong mối quan hệ cá nhân – cộng đồng, Nguyễn Khoa Điềm còn dẫn dắt độc giả trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nói lên tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một thế hệ chống Mỹ thật sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm: Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Ý thơ thật giản dị, không hề gượng ép tình cảm, khi từ mối quan hệ riêng tư để hướng về với quan hệ cộng đồng, dân tộc. Tứ thơ độc đáo chính là từ sự mở rộng từ thế giới của “anh và em hôm nay” đến với “mọi người”. Vẻ đẹp Đất Nước được phát hiện thêm với những vẻ đẹp “hài hoà nồng thắm” và “vẹn tròn to lớn”. Đó cũng là sự kết hợp hài hoà của lý trí và tình cảm con người thời đại chống Mỹ. Hơn thế nữa, những câu thơ này còn cắt nghĩa cho vẻ đẹp tình yêu của thế hệ trẻ chống Mỹ không hề mất đi vẻ lãng mạn, khi khoảnh khắc cầm tay hiện tại đã nghĩ về thế hệ tương lai, về một ngày thanh bình và sự phát triển của Đất Nước với “tháng ngày mơ mộng”. Không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục đi sâu vào mối quan hệ Đất Nước với tâm hồn của từng con người. giọng thơ tâm tình thấm thía: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời. Nguyễn Khoa Điềm viết nên những câu thơ này bằng tất cả sự trải nghiệm của một người lăn lộn trong phong trào tranh đấu của thanh niên đô thị miền Nam. Nhà thơ đã thay mặt thế hệ mình để phát biểu tâm tư với tinh thần công dân, với nhiệt tình tuổi trẻ. Đó cũng là lời đáp cho câu hỏi mang tính chính luận về sự trường tồn của Đất Nước. Đất Nước bất tử chính nhờ ở tinh thần của những con người sẵn sàng dâng bầu máu của tuổi thanh xuân, biết sống có trách nhiệm với thời đại và đầy khát vọng về tương lai trường tồn của Đất Nước. Phần mở đầu của chương Đất Nước được cấu tứ trên cơ sở gắn bó giữa các vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo và giàu sức biểu cảm để làm nên vẻ đẹp chung tổng hoà thành hình tượng Đất Nước kỳ vĩ và giàu sức thuyết phục với bạn đọc. Nhà thơ đã trữ tình hoá vấn đề mang tính chính luận, nhằm trả lời những câu hỏi lớn mà dân tộc đang phải tìm lời đáp trong cuộc chiến đấu vì lý tưởng độc lập tự do, cuộc chiến đấu của lương tri chống lại thế lực bạo tàn. Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nước đã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng.
Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
1,374
Đề bài: Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của G.G. Mác-két Gợi ý Đấu tranh cho một thế giới hòa bình mang ý nghĩa như một bức thông điệp của Mác-két, người Cô-lôm-bi-a, nhà hoạt động xã hội lỗi lạc, nhà văn được giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982, gửi cho các dân tộc trên hành tinh chúng ta. Để làm sáng tỏ luận đề Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, Mác-két đã đưa ra 3 luận điểm đầy sức thuyết phục: một là, nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; hai là, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém; ba là, lời kêu gọi chống nguy cơ hạt nhân, đấu tranh cho hòa bình. 1. Nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; cái "nguy cơ ghê gớm đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét". Với hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân bố trí khắp hành tinh, mỗi con người đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ. Số vũ khí hạt nhân ấy có thể hủy diệt 12 lần mọi dấu vết sự sống trên trái đất; có thể "tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh mặt trời, cộng thêm 4 hành tinh nữa… "Mác-két ghê tởm lên án nguy cơ hạt nhân là “dịch hạch hạt nhân"vì "cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết"… Những con số mà Mác-két đưa ra đã nâng cao nhận thức cho mọi người về nguy cơ chiến tranh hạt nhân, và sự hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hạt nhân. 2. Tiếp theo, Mác-két đã chỉ ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là vô cùng tốn kém. Đây là những số liệu cụ thể mà tác giả đã đưa ra: – Chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu là 100 tỉ đô-la. Số tiền ấy có thể cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới. – Giá 10 chiếc tàu sân bay Ni-mít mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong 14 năm cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở châu Phi. – Số lượng ca-lo trung bình cho 575 triệu người thiếu dinh dưỡng tốn kém không bằng 149 tên lửa MX…; chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền mua nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong 4 năm tới. – Chỉ cần 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới. Nhà văn được giải thưởng Nô-ben đã nghiêm khắc cảnh cáo: "Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí", – lí trí con người, cả lí trí tự nhiên. Sự sống trên Trái Đất phải trải qua 380 triệu năm thì con bướm mới biết bay; rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở, trải qua 4 kỉ địa chất (trên dưới 40 triệu năm), con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Nhưng chỉ cần "bấm nút một cái" là sẽ "đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm, trở lại điểm xuất phát của nó", nghĩa là Trái Đất bị hủy diệt hoàn toàn. Nghệ thuật lập luận của Mác-két rất sắc bén. Những con số về tiền bạc mà ông nêu lên đã cho thấy ngân sách quân sự, chi phí chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém! Tác giả sử dụng lối biện luận tương phản về thời gian: quá trình hình thành sự sống và văn minh nhân loại phải trải qua hàng triệu triệu năm, còn sự hủy diệt Trái Đất chỉ diễn ra trong nháy mắt, "chỉ cần bấm nút một cái" thì tất cả sẽ trở thành tro bụi – ông đã chỉ cho mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia thấy rõ hiểm họa vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang hạt nhân khủng khiếp như thế nào! 3. Luận điểm thứ 3 là lời kêu gọi của Mác-két. – Ông kêu gọi mọi người "chống lại việc đó – cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân; hãy " tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng". – Ông đề nghị "mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ, có thể tồn tại được sau tai họa hạt nhân"để cho nhân loại tương lai biết rằng "sự sống đã từng tồn tại"…, để nhân loại tương lai " biết đến "những thủ phạm đã "gây ra những lo sợ, đau khổ"cho hàng tỉ con người, để biết đến tên những kẻ "giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn…" Mác-két đã có một cách nói đặc sắc, độc đáo lên án những kẻ hiếu chiến đã và đang gây ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, đe dọa cuộc sống hòa bình yên vui của các dân tộc và nhân loại. Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòn bình thể hiện trí tuệ và tâm hồn của Mác-két. Ông đã sáng suốt và tỉnh táo chỉ cho nhân loại thấy rõ nguy cơ hạt nhân là một hiểm họa đáng sợ – "dịch hạch hạt nhân”. Tâm hồn của ông cháy bỏng một niềm khao khát hòa bình cho nhân loại. Mác-két đã có một lối nói, lối viết rất độc đáo. Những số liệu của ông nêu ra có một sức thuyết phục to lớn, làm cho mọi người, mọi dân tộc nhận thức một cách sâu sắc về sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình là sự sống còn của nhân loại.
Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của G.G. Mác-két
1,027
Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình Bài viết văn của bạn Thuỷ Minh đến từ Hà Nội gửi đến ban biên tập website. Bài làm Chiến tranh đã qua đi đến gần nửa thế kì, thế nhưng những dư chấn mà các cuộc thảm họa do chiến tranh gây ra vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.Chúng ta vẫn đau đáu khi nhìn đứa trẻ bị nhiễm chất độc da cam, vẫn thương xót khi nhìn thấy những đứa trẻ ở vùng đất nghèo nàn do chiến tranh không biết đến những con chữ.Tuy những thảm họa đó đã được khắc phục nhưng số mạnh của các em bé bị nhiễm chất độc ấy vẫn chẳng được sống trong hạnh phúc.Khi nhận ra được thảm họa mà hạt nhân mang lại cho thế giới , nhà văn người Cô-lôm-bô Gác-bri-en Gác-xi-a đã viết ra bài luận “Thanh gươm Đã-mô- clét cùng các nguyên thủ sáu nước kêu gọi chấm dứt chiến tranh.Nơi đây, ông đã để lại dấu ấn mạnh mẽ cho những người yêu hòa bình, yêu độc lập, nó như ngọn lửa thắp sáng mãng liệt tình yêu hòa bình của con người.Và văn bản “ Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” là đoạn trích nổi tiếng trong bản thâm luận của ông. Ngay từ mở đâu đoạn , Mác két đã đặt ra câu hoiir cho toàn thể nhân loại :“Chúng ta đang ở đâu?” Một câu hỏi có nhiều cách trả lời nhưng chung quy lại, chúng ta đang sống và tồn tại trển ngôi nhà Trái Đất thân thương này. Nối tiếp câu hỏi đó, Mác-két đã đưa ra những con số cụ thể của đầu đạn hạt nhân và sự nguy hiểm mà mỗi người con trên Trái Đất ta phải gánh chịu :“Hơn 50000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh”,nói nôm na ra điều đó có nghĩa là mỗi người , không trừ trẻ con chúng ta đang ngồi trên một thùng đến bốn tấn thuốc nổ.Những con số thạt khủng khiếp và ác liệt , và còn khủng khiếp hơn nữa , khi bốn tấn thuốc nổ kìa được kích hoạt thì phải chăng , những dấu vết của sự sống còn chẳng còn tồn tại trên Trái Đất nữa , nó sẽ làm tan biến hết thảy những hành tinh xung quanh Trái Đất như tác giả từng giả định, rồi làm lệch đi quy đạo của Mặt Trời.Thật khó có thể hình dung mức độc nguy hiểm mà chiến tranh hạt nhân gây ra cho toàn thể nhân loại .Tác giả thật khéo léo khi so sánh tình hình thực tế mà con người phải gánh chịu trực tiếp từ chiến tranh như cách Đa-Mô- clét treo thanh gươm ngay phía trên đầu bằng sợi lông ngựa , một tính thế có thể nói là “nghìn cân treo sợi tóc’, hết sức nguy hiểm và gay go, nhưng cái thế”nghièn cân treo sợi tóc’ ấy, nó đè nặng như thanh gươm Đa-mô- clét ấy do ai mà ra? Tôi nhớ đến câu nói của Albert Camus từng nói: “Chúng ta từng tự hỏi chiến tranh sống ở đâu mà ra , và điều gì khiến nó gớm guốc đến vậy .Và giờ đây, chúng ta mới nhận ra mình biết nó sống ở đâu…. ở ngay trong chúng ta”.Vâng chính là con người, từ chúng ta mà ra đấy thôi.Chúng ta đều là đứa con của thần Adam và Eva , đều là ah em chung một tổ ấm là Trá Đẩt thân thương , nhưng chỉ là sự tham lam , sự ganh đua và lòng hiếu thắng chúng t a đã ra tay giết hại ngay chính người anh em, chính ‘ngoi nhà’ của mình ,thật là tàn ác biết bao!COn người ta đã tạo ra nền công nghiệp hạt nhân mà thời đó , theo tác giả nhận định ‘Không có một ngành khoa học hay công nghiệp nào có được những tiến bộ ghê gớm như ngàng công nghiệp hạt nhân kể từ khi nó ra đời cách đây bốn mươi mốt năm .”, trong câu trên, tác giả đã sử dụng câu phủ định như một lời khẳng định sự tiến bộ vượt bậc của ngành công nghiệp hạt nhânh phục vụ cho lòng tham của con người trên thế giới,qua đó ta mới thấy nguy cơ khủng khiếp và nghiêm trọng của chiến tranh hạt nhân ‘dành tặng’ cho con người chúng ta. Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình Thử tưởng tưởng viễn cảnh nếu Eva không vì tò mò mà ăn trái cấm , con người chúng ta không có lòng tham lam thì liệu, chúng ta , cả nhân loại ta có đã và đang chìm đắm trong một thế giới hạnh phúc,tuỏi đẹp, phát triển tốt bậc những thứ phục vụ cho cuộc sống hiện tại và sau này của chúng ta hay không?Nhưng cái ‘dịch hạch hạt nhân’ ấy cứ ‘ đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng được sống tốt đẹp hơn’.Trong luận điểm 2 này , tác giả đã đưa ra các dẫn chứng, luận cứ cụ thể bằng số liệu để nói về sự tốn kém và phung phí cho chiến tranh hạt nhân: Để giải quyết cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhẩ trên thế giới, ta chỉ cần tốn kém gần 100 tỉ đo la, số tiền ấy chỉ bằng 100 máy bau ném bom chiến lược B1B của Mỹ và 7000 vướt đại châu.Hay như giá của 10 chiếc tàu sann bay mang vũ khí hạt nhân của Ni-mít cũng đủ để thực hiện phòng bệnh cho mọi người trong mười bốn năm và bảo vệ cho hơn 1 tỉ người phòng chống bệnh sốt rét đang hoành hành trên thế giới, không những thế ,số tiền ấy đủ để cứu chữa cho hơn 14 trieeuj trẻ em Châu Phi.Hay, chỉ cần 27 tên lửa MX , ta có thể đủ tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo trong bốn năm có đủ thực phẩm sinh hoạt.Và với 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhânh là đủ xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới.Những số liệu xác thực ấy đã cho ta thấy sự tốn kém của chiến tranh hạt nhân, và hơn thế nữa , những con số như tố cáo lòng hám lợi vô đáy đang tồn tại trong mỗi chúng ta.Như câu thiết yêu , duy trì sự sống với chí phí thấp mà giúp đỡ hay cứu sống đươc hành tỉ người dân ,ta tỏ ra là một giấc mơ chẳng thể nào vươn tới được, nhưng vũ khí diệt tiêu đi sự sống với chi phí quá cao và đắt đỏ đã và đang được chúng ta thực hiện nây đây, điều đó chẳng khác gì ta biến mình thành ‘còn dã tràng xe cát’ làm mấy điều vô bổ , độc hại tồi chẳng mang lại ích lợi chi cho thế giới. Trái Đất chính là nơi duy nhất trong Vũ Trụ có thể đem lại điều kiện sống tốt cho con người , nó là ‘ngôi làng nhỏ bị lãng quên ở ngoại vi vũ trụ’ , và cũng chĩnh lí do đó làm tác giả mạnh mẽ khẳng định: “Chay đua cũng trang là đi ngược lại lí trí con người và lí trí của tự nhiên.”.Khi sự sống được thắp sáng trên Trái Đất , “đã phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được , rồi mất đế 180 triệu năm những bông hoa hồng mới nở chỉ để làm đẹp cho đời.Và chúng ta , đã phải trải qua biins kỉ địa chất mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu.” Chúng ta, vạn vật chúng ta đã phải trải qua một trường kì lịch sử để có được những thứ tốt đẹp thời bấy giờ , ấy thế mà , trong thời kì hoàng kim của khoa học,con người đã phát minh ra thứ chẳng lấy mà đáng tự hào .Chỉ cần cái bấm nút ,’Bùm’ nó sẽ đưa tất cả những thứ ‘thiên biến vạn hóa’ phải mất hàng tỉ năm trở về vạch ban đầu. Cái bấm nút đó sẽ phá hủy mộ nền văn mình triệu năm của nhân loại , nó sẽ phản lại sự tiến bộ , huy hoại đi hạnh phúc và nhu cầu được sống tốt đẹp hơn của con người.Nó đã đi ngược lai với lí trí nhân loại và đi ngược lại với lí trí tự nhiên mà cả thế giới mong ước.Quả không sai khi nói :’CHiến tranh là khoa học của sự hủy diệt’ (John Abbott). Phần cuối của văn bản chính là lời kêu gọi đấu tranh cho một thế giới hoàn bình của tác giả : “ Chúng ta đến đây để cố gắng cùng nhay chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng.Nhưng dù cho tai họa có xảy ra đĩ nữa thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải vô ích…”Với câu từ cứng rắn , nghiêm khắc những ẩn chứ trong đó là tình cảm yêu hòa bình tha thiết, tác giả đã kêu gọi nhừng người yêu hòa bình từ tứ phương, hòa vào bản đông ca , để ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang , tàng trữ hạt nhân hết sức phi lí.Và chính từ bản đồng ca từ những người yêu hòa bình , mong muốn thế giới luôn hạnh phúc ấy đã tạo ra một ngọn lửa sức mạnh , đánh tan đi suy nghĩ muốn chiếm lợi từ các nước đế quốc, xoa dịu nối đau lòng của những người đã mất và những người đang phải đấu tranh với cuộc chiến tranh , bén lửa trong tâm hồn, trong trái tim họ một tình yêu hòa bình mãnh liệt.Cuối cùng tác giả đã đề nghị mở ra ‘một nhà băng trí nhớ’ có thể tồn tại sau thảm họa hạt nhân để cho nhân loại đời sau có thế biết thế giới đã từng tồn tại , từng đau khổ và bất công ra sao ,họ từng biết đến tình yêu nhưng chưa từng hạnh phúc , từng biết đến những nièm vui nhưng chưa từng cười , từ ấy nhân loại sau , và cả thế hệ mai sau sẽ biết tới những thủ phạm ghê tơm đã phá hủy đi nhu cầu được hạnh phúc , tiêu diệt đi cả nền văn minh của dân tộc bằng những phát minh tàn ác nào , ‘ nhân danh những lợi ích ti tiền nào , mà cuộc sống đó đã bị xóa bỏ khỏi vũ trụ này.’Với cách diễn đạt đặc sắc, độc đáo, những thông điệp Mác – két đưa ra là những thông điệp có ý nghĩa cấp thiết và thực sự quan trọng chó thế giới. Chiến tranh đã qua đi đến gần nửa thế kỉ vậy là nửa thế kỉ qua và cả sau này nữa , chúng ta hứa sẽ được dống và tồn tại trong nền hòa bình. Tuy đâu đó vẫn còn âm ỉ những cuộc chiến tranh phi nghĩa , nhưng để có một nền độc lập hòa bình và tự do , hơn ai hết , chúng ta , thế hệ trẻ chún mình và sau này phải biết ơn, phải biết trân trọng và giữ gìn những giây phút hòa bình đáng quý mà thế hệ đi trước đã dành được. Bất giác , tâm trị tôi hiện lên câu thơ của Tố Hữu: “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau”
Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
1,994
Phân tích bài đồng dao Ăn bát cơm đầy Nhớ người cầy ruộng … Hướng dẫn Phân tích bài đồng dao Ăn bát cơm đầy Nhớ người cầy ruộng … “Ăn một bát cơm, Nhớ người cày ruộng Ăn đĩa rau muống, Nhớ người đào ao. Ăn một quả đào, Nhớ người vun gốc.” Hãy phân tích và bình luận tư tưởng cao đẹp hàm chứa trong những câu đồng dao ấy. Bài làm Trong nền thơ ca dân gian, đồng dao chiếm một vị trí đáng kể. Đồng dao là những bài hát cho trẻ em, được viết bằng thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ, vừa cụ thể, hồn nhiên, vừa ngộ nghĩnh. Có bài đồng dao để trẻ hát cho vui. Có bài đồng dao giúp trẻ con hiểu biết những điều đơn giản. Có bài đồng dao giáo dục trẻ em những tư tưởng, tình cảm về đạo lí, nhân sinh. Những câu đồng dao sau đây đã từng đem đến cho tuổi trẻ chúng ta nhiều thú vị: “Ăn một bát cơm, Nhớ người cày ruộng. Ăn đĩa rau muống, Nhớ người đào ao. Ăn một quả dào, Nhớ người vun gốc…” Sáu câu đồng dao trên đây nói về chuyện “ăn” và chuyện “nhớ” ở đời. “Một bát cơm”, một “đĩa rau muống’, “một quả đào”… là những biểu tượng mang ý nghĩa tượng trưng cho mọi giá trị và thành quả lao động. “Người cày ruộng”, “người đào ao”, “người vun gốc”… là nhân dân lao động, những con người đã đổ mồ hôi, công sức, làm ra mọi của cải vật chất và mọi giá trị tinh thần để nuôi sống xã hội. “Ăn” chỉ sự hưởng thụ. “Nhớ” nói lên một thái độ, một tình cảm, biểu thị lòng biết ơn. Chữ “ăn” chữ “nhớ” được điệp lại nhiều lần làm cho ý thơ, giọng thơ được nhấn mạnh, bài học vẻ tình nghĩa thấm sâu vào lòng người, tác dụng giáo dục vô cùng sâu sắc. Tóm lại nhà thơ dân gian đã đi từ cụ thể đến khái quát, nhắc khẽ trẻ em từ “ăn” đến “nhớ” qua đó nêu lên bài học về lòng biết ơn, về tình nghĩa thủy chung ở đời. Bài học ấy đã, được diễn tả thật giản dị, nhẹ nhàng, trong sáng và rất thấm thía. “Đĩa rau muống”, “một quả đào” tượng trưng cho hoa thơm trái ngọt ở đời. “Đĩa rau muống” ấy làm cho bữa cơm đạm bạc của nhiều gia đình thêm ngon lành, ý vị. “Một quả đào” cho ta hương vị đậm đà quê hương. Đĩa rau muống và “một quả đào” cổ nhiều nhặn gì đâu nhưng chứa chan biết bao tình đời và tình người. Câu đồng dao nhắc mọi người, nhắc trẻ em phải biết sống có tình có nghĩa thủy chung, không được vong ơn bội nghĩa. Có “vay” thì tất phải có “trả”, đó là nghĩa đời. “Đã vay dòng máu thơm thiên cổ – Hãy trả cho ta mạch giống nòi” (Tố Hữu). Nghĩ về quá khứ, ta nhớ ơn tổ tiên. Nghĩ về hiện tại, được sống trong hòa bình, ta nhớ ơn Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ. Ở đời, vì tình nhân ái mà người ta biết giúp đỡ, cưu mang đồng loại. Nhưng “làm ơn há dễ trông người trả ơn” (Truyện Lục Vân Tiên). Tuy vậy, mang ơn người, ta có nghĩa vụ đền đáp. Ta lại biết noi gương tốt của người để sẵn sàng tương thân tương ái những ai đang sống trong cảnh nghèo khổ, hoạn nạn: Thấy người đói rét ta nhường áo cơm”. Lòng biết ơn là một trong những đức tính tốt đẹp của con người. Nó làm cho chúng ta biết sống nhân hậu, có nhân cách. Biết sống trong tình thương đồng loại. Biết coi trọng tình nghĩa thủy chung. Biết làm đứa con hiếu thảo trong gia đình. Biết tôn sư trọng đạo. Biết sống thủy chung trong tình bạn, trong nghĩa vợ chồng,… Những kẻ vong ân bội nghĩa, lừa thầy phản bạn, ăn cháo đá bát… là xấu xa, đê tiện nhất, bị mọi người khinh bỉ xa lánh. Nhân dân ta cơi trọng tình nghĩa nên tục ngữ, ca dao mới có nhiều câu hay và sâu sắc lắm: Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy, Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao. Ai ơi bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cầy cho chăng? Vân vân,,. Thật tự hào biết bao khi đọc những câu ấy. Đọc những câu đồng dao trên, ta cảm thấy tâm hồn mình được bồi đắp, mở rộng, Càng thấy yêu người và tin vào lòng tốt của nhân dân. Trong hành trang của tuổi trẻ chúng ta bước vào thế kỉ 21, bài học về lòng biết ơn cho ta sức mạnh để đi tới, tự nhắc nhở lương tâm biết sống tình nghĩa “mình vi mọi người” vì hạnh phúc của nhân dân.
Phân tích bài đồng dao Ăn bát cơm đầy Nhớ người cầy ruộng …
817
Phân tích bài Độc Thanh Ký của Nguyễn Du Hướng dẫn Phân tích bài Độc Thanh Ký của Nguyễn Du Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc, sống khoảng đầu thời Minh. Vốn thông minh nên từ nhỏ cô đã thông hiểu nhiều môn nghệ thuật như thi ca, âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô làm vợ lẽ một nhà quyền quý. Những tưởng sẽ được sống cuộc sống hạnh phúc, ấm êm, sung túc đủ đầy nhưng thật bất hạnh khi người cả lại là người hay ghen, bắt cô phải sống riêng một mình trên Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Vì đau buồn, cô sinh bệnh rồi chết ở tuổi 18 – cái tuổi đang độ thanh xuân tràn trề, đang dạt dào bao lý tưởng, ước mơ. Nhưng cuộc đời bất hạnh là lòng người nghiệt ngã đã giết chết một cô gái tài hoa mà bạc mệnh. Bao nhiêu nỗi uất ức, đau khổ được cô gái gửi vào thơ nhưng nhiều bài đã bị người vợ cả đốt. May mắn còn sót lại một số bài và được người sau gìn giữ, đặt tên là Phần dư. Ba trăm năm sau, Nguyễn Du – một nhà thơ luôn có tấm lòng xót thương cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc đã bắt gặp được những bài thơ đoản mệnh ấy. Nỗi đau của Tiểu Thanh chạm đến trái tim thương cảm sâu sắc của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Ông đặt bút và nước mắt tuôn trào, những tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa bật ra khỏi đầu bút và ông viết lên những vần thơ mang tên “Độc Tiểu Thanh Kí”. Nhan đề bài thơ có hai cách hiểu: một là đọc tập thơ của Tiểu Thanh, hai là Tiểu Thanh Kí, nghĩa là câu truyện viết về nàng Tiểu Thanh. Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa, đây cũng là tiếng lòng đồng cảm, xót thương của Nguyễn Du tới một cuộc đời bất hạnh, khổ đau, một nữ giai nhân có tài có sắc nhưng số phận hẩm hiu, nghiệt ngã. “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chi thư.” Dịch thơ: “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang, Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” “Cảnh đẹp” nhưng lòng người nặng trĩu những buồn đau. “Cảnh đẹp” nhưng cuộc đời bi thảm không cho phép người con gái tài sắc mang tên Tiểu Thanh ấy được vui vầy với tuổi xuân. Vườn hoa nơi nàng sống lẽ ra sẽ là nơi cho nàng đón những tia nắng bình minh tinh khiết và rong chơi trong những buổi hoàng hôn diệu kỳ. Nhưng không, cuộc đời nàng lại là một dấu chấm than ngắn ngủi khi vườn hoa ấy chính là “gò hoang”, là nơi chôn cất thân xác nàng khi tuổi vừa mới sang xuân. Nỗi đau ấy, khiến cho lòng Nguyễn Du phải “thổn thức” khi đọc được những vần thơ ai oán, sầu bi. “Gò hoang”, “mảnh giấy tàn” đều là những từ ngữ gợi lên sự buồn thương da diết, khôn nguôi. Dường như nhà thơ muốn chạm tay vào quá khứ, muốn kéo nàng Tiểu Thanh ra khỏi cảnh u uất ấy, nhưng ngăn cách quá lớn, ông chỉ còn biết gửi lòng mình về miền quá khứ xa xôi ấy, để đồng cảm và để khóc cùng người con gái bạc mệnh, khổ đau: “Chi phấn hữu thần liên từ hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư” Dịch thơ: “Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương” Một cô gái chưa tròn hai mươi đã phải chịu quá nhiều ấm ức và đơn đau cả về thể xác lẫn tinh thần. Có tài, có sắc, nhưng lại không được hưởng một cuộc sống hạnh phúc mà phải sống cô đơn, hiu quạnh. Ngày đêm nàng chỉ còn biết làm bạn với son phấn, với những vần thơ ai oán đớn đau. Lòng người vô tâm vô cảm đã đẩy nàng vào cảnh sống lẻ loi và hiu quạnh. Cùng là thân phận phụ nữ, sống cùng thời, cùng chế độ phong kiến nam quyền nhưng vì lòng ích kỷ, người vợ cả ghen tuông, không cho nàng được sống một cuộc sống bình yên. Thậm chí, lúc chết rồi, những vần thơ là tiếng lòng của nàng cũng bị bà ta đốt. Cũng may còn xót lại một số bài, để đến thời điểm này, khi Nguyễn Du bắt gặp, trái tim ông dường như muốn tan chảy vì số phận hẩm hiu của người con gái xấu số. Và rồi, ông nghĩ đến những cuộc đời bất hạnh khác, cũng tài hoa, nhưng cũng nhận lại một kết cục bi thảm không khác gì Tiểu Thanh. “Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư” Dịch thơ: “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang.” Đồng cảm với Tiểu Thanh, với mối hận trong lòng nàng, một mối hận có hỏi trời, trời cũng không thấu. Và mỗi hận ấy đâu chỉ riêng nàng, mà còn có Đỗ Phủ, có Khuất Nguyên. Họ cũng là những người tài hoa mà bạc mệnh. Có lẽ lúc này tác giả đang suy tư lắm, buồn đau lắm khi không thể làm gì giúp cho những số phận bất hạnh ấy vượt lên trên hoàn cảnh của mình. Mọi thứ dồn nén trong lòng ông, được tuôn trào ra khỏi đầu ngọn bút, viết lên thành những vần thơ não nề, ảm đạm. Ông muốn hỏi trời, trời không thấu nhưng ai cũng hiểu rằng, số phận của nàng Tiểu Thanh và của những người cùng cảnh với nàng là do chế độ phong kiến bất nhân bất nghĩa mang lại, do người đời vô tâm, ích kỷ hẹp hòi đã đẩy đồng loại của mình vào cảnh sống điêu tàn, cô liêu. “Bất tri tam bách, dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Dịch thơ: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?” Khóc cho Tiểu Thanh của ba trăm năm về trước, và rồi nhà thơ tự khóc cho mình trong hiện tại. Ông thấy cô đơn, một nỗi niềm riêng lẻ. Và liệu rằng ba trăm năm sau, có ai khóc mình như mình đang khóc Tiểu Thanh không? Dường như nỗi đau đang gặm nhấm, đang xâm chiếm tâm hồn nhà thơ. Khiến ông phải tự thốt lên rằng: “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Bài thơ khép lại, nhưng nỗi lòng của Nguyễn Du vẫn còn đó, còn mãi trên từng trang sách, trang thơ mà các thế hệ học sinh ngày hôm nay đang học hiểu. Đọc thơ của Tiểu Thanh, khóc cho Tiểu Thanh nhưng cũng là khóc cho chính số phận của mình, của những người có tài mà bất hạnh. Qua đó cũng nói lên một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.
Phân tích bài Độc Thanh Ký của Nguyễn Du
1,180
Phân tích bài Độc tiểu thanh kí Hướng dẫn Phân tích bài Độc tiểu thanh kí Bài làm Nguyễn Du là nhà thơ lớn gắn liền với nhiều tác phẩm được lưu truyền cho tới ngày nay. Một số tác phẩm như Truyện Kiều, hay Độc Tiểu Thanh kí đều khắc khoải những suy nghĩ và chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về số phận, kiếp người và những hoàn cảnh trớ trêu cảu thân phận người nghèo hàn khó khăn trong xã hội cũ. Đặc biệt thân phận và những kiếp người bất hạnh được khắc họa thành công đầy thương cảm trong những trang viết của ông Một trong những bài thơ viết về kiếp hồng nhan bạc phận chính là “ Độc tiểu thanh kí” nhắc đến nàng Tiểu Thanh xinh đẹp nhưng lại gặp phải số phận và hoàn cảnh trớ trêu. Phận nữ nhi không thể chống lại những lễ giáo và thành kiến hà khắc, cũng không thể làm chủ cuộc sống và số phận của mình. Tiểu Thanh là cô gái đáng thương khi kết thúc cuộc đời của mình khi tuổi chỉ ở mới trăng tròn, lẽ ra cái tuổi đẹp nhất này, những cô gái mà hồng vui vẻ e ấp hoặc hạnh phúc với vòng tay yêu thương của chồng. Nhưng số phận lại không mỉm cười với nàng khi liên tục phải chịu đựng những éo le của xã hội phong kiến. Nàng chết rồi, một cái chết tức tưởi và cô độc nhưng tài năng của nàng cũng bị vợ cả đốt hết toàn bộ văn chương, một số bài thơ còn sót lại được lưu truyền và nói hộ thay cho kiếp hồng nhan của nàng. Đọc được những tâm sự và xót xa cho thân phận nàng tiểu Thanh, Nguyễn Du đã sáng tác bài thơ khi có dịp đứng trước Tây Hồ, bùi ngùi xúc động trước sự buồn bã đau xót cho thân phận người phụ nữ bé nhỏ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn; Phong vận kì oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch thơ Tiếng Việt: Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang, Thổn thức bên song mảnh giấy tàn. Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương. Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang. Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng? Tây Hổ hoa uyển tẫn thành khư, (Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,) Đứng trước không gian của Tây Hồ, lòng nhà thơ bùi ngùi xúc động khi nhớ và viết về câu chuyện xung quanh người phụ nữ xinh đẹp và tài giỏi. Khung cảnh chẳng còn nguyên vẹn và tươi đẹp như xưa, cảnh vật hoang tàn gợi nhớ đến câu chuyện đáng buồn của người con gái xưa. Cuộc đời của người con gái tài sắc vẹn toàn, thân xác chưa vướng mấy bụi trần mà phải chôn vùi thân xác dưới đất đá kia. Tình cảnh đau xót tăng lên gấp bội và trái tim nhà thơ lại hướng đến một kiếp người đầy bất hạnh. Dường như cảnh đẹp kia chẳng còn đẹp bởi ở đó câu chuyện buồn của người con gái thời xưa vẫn lưu truyền cho đến tận bây giờ Độc điếu song tiền nhất chi thư. (Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.) Chẳng còn nữa một Tiểu Thanh xinh đẹp nhưng kiếp người dở dang lại được chia sử qua những trang giấy và thân phận và số mệnh ấy mãi khiến cho tác giả xót xa tới quặn thắt lòng. Khóc cho số phận nàng Tiểu Thanh, khóc cho một kiếp người những cũng là cả một xã hội của những số phận bạc bẽo. Tác giả bày tỏ sự xúc động mãnh liệt đến những người như nàng Tiểu Thanh và cũng chính là khóc thương cho chính số phận của bản thân mình Văn chương vô mệnh lụy phần dư: (Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương.) Người chết đi, chẳng còn thân xác trần tục nhưng linh hồn dường như vẫn còn vấn vương với trần gian thế thái, còn đâu nưa một Tiểu Thanh bằng xương bằng thịt nhưng linh hồn của nàng khiến cho người ta càng thêm chua xót và xúc động đến tột cùng. Nỗi hận của nàng Tiểu Thanh là nỗi uất hận, thân xác bị chôn vùi nhưng nỗi buồn về nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời thương tiếc tới muôn đời sau.Linh hồn và những câu chuyện xung quanh Tiểu Thanh vẫn không bao giờ bị chôn vùi mà đội mồ bật dậy, càng thêm chua xót càng thêm tủi hờn. Người đẹp chết đi nhưng văn chương không thể nào bị chôn vùi giống như số phận của chính chủ nhân của nó. Cũng không thể trách được, sức mạnh tinh thần và linh hồn của Tiểu Thanh dường như quyện vào gửi gắm vào những trang viết, nỗi lòng nhuốm máu của Tiểu Thanh Đến hai câu luận: Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kì oan ngã tự cư. (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang.) Nỗi tuyệt vọng và nỗi niềm thương cảm của tác giả dành cho số phận của Tiểu Thanh ngày một dâng cao. Nỗi oán hận của Tiểu Thanh đã được tác giả khái quát lên trở thành nỗi hận của giới giai nhân tài tử, tài hoa nhưng bạc mệnh. Con người quá nhỏ bé không thể chống lại được số phận, cuộc đời quá khắt khe hay do xã hội quá vô lí bất công, thành kiến hà khắc đã khiến cho nỗi buồn kim cổ của những giai nhân tài sắc vẹn toàn thêm sâu sắc. Người đời ai khóc Tố Như chăng? Khóc cho Tiểu Thanh rồi tác giả lại ngậm ngùi cho chính số phận của chính mình. Những con người bản mệnh yếu đuối chẳng chống lại số mệnh, những người đã có duyên với văn chương giống như tự vận nỗi buồn thiên cổ, những suy nghĩ về cuộc đời và con người vào trong chính những trang viết của mình. Không biết sau này có ai đồng cảm với chính tác giả không, với những tác phẩm của ông. Tóm lại, Nguyễn Du là một nhà thơ có những góc nhìn nhận sâu sắc và đầy đồng cảm đối với những số phận bất hạnh và sống chịu những chế độ hà khắc trong xã hội cũ. Không thể phủ nhận rằng một lần nữa khi Nguyễn Du nhắc lại câu chuyện Tiểu Thanh đã khiến cho độc giả vô cùng xúc động mà còn đặt ra câu hỏi về sự đồng cảm và sợi dây truyền nối giữa hậu thế với cuộc đời số phận của ông và những đứa con tinh thần của ông. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích bài Độc tiểu thanh kí
1,169
Phân tích bài Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng Bài làm Chúng ta, nhất là thanh thiếu niên Việt Nam từng được nghe nhiều người kể chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác Hồ kính yêu của dân tộc, về những kỉ niệm được gặp Bác Hồ, được làm việc bên Bác, học tập ở Bác biết bao điều bổ ích. Một trong những người được gần gũi và hiểu Hồ Chủ tịch nhất là Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng chính phủ nước Việt Nam trong nhiều năm. Phạm Văn Đổng là người học trò xuất sắc, là cộng sự gần gũi của Hồ Chí Minh. Suốt mấy chục năm liền, ông được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ. Vì vậy, ông đã viết nhiều bài và sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự hiểu biết tường tận và lòng kính yêu chân thành, thắm thiết của mình. Bài Đức tính giản dị của Bác Hồ là một trong số văn bản ấy. Văn bản trong sách giáo khoa là đoạn trích từ bài điếu văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc trong lễ kỉ niệm tám mươi năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 – 5 – 1970). Học văn bản này, chúng ta có thêm một phương diện nữa để nhớ và noi gương Bác Hồ vĩ đại. Đây là văn bản thuộc thể văn nghị luận chứng minh, xen kẽ đôi doạn giải thích, bình luận. Vấn đề mà tác giả nghị luận là: Đức tính giản dị của Bác Hồ được biểu hiện trong cách ăn ở, sinh hoạt, cách ứng xử và trong lời nói, bài viết. Vì là đoạn trích, nên văn bản này không đầy đủ ba phần trong bố cục thông thường của bài nghị luận. Bài chỉ có hai phần: Mở bài (từ đầu đến “… thanh bạch, tuyệt đẹp”) sự nhất quán giữa cuộc đời cách mạng và phong cách sống giản dị, thanh bạch ở Bác Hồ. Thân bài (đoạn còn lại) chứng minh sự giản dị của Bác Hồ trong phong cách sống, trong lời nói, bài viết. Bài văn lập luận sáng tỏ, rành mạch, liên kết với nhau rất chặt chẽ. Tác giả sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng, dùng thao tác chứng minh, giải thích, bình luận (chứng minh là chính) một cách hài hoà, lự nhiên, đầy thuyết phục. Theo sự dẫn dắt ấy, chúng ta hiểu và suy ngẫm, rút ra được nhiều bài học bổ ích, vừa nhớ vừa thêm kính yêu Bác. Ngay ở phần đầu trong luận để, tác giả đã nêu một nét đặc trưng tiêu biểu trong nhân cách vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn”. Câu văn gồm hai vế đối lập, bổ sung cho nhau: “đời hoạt động lay trời chuyển đất” và “đời sống bình thường vô cùng giàn dị…”. Điều đó giúp chúng ta hiểu rằng Bác Hồ vừa là bậc vĩ nhân, lỗi lạc, phi thường vừa là người bình thường, rất gần gũi, thân thương đối với mọi người. Điều đó xua tan quan điểm của một vài người muốn thần thánh hoá Bác, coi Bác là siêu nhân huyền thoại xạ vời, chỉ để thờ phụng mà không chịu tìm hiểu, học tập. Nhấn mạnh thêm nét đặc trưng về “sự nhất quán” trong cuộc đời và phone cách sống của Bác, tác giả giải thích: “trong 60 năm của một cuộc đời đầy sóng gió…, Bác Hồ vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng, tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch…”. Phẩm chất vừa vĩ đại vừa giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân, gắn bó với hạnh phúc nhân dân. Sự trong sáng, thanh bạch của Bác vừa bắt nguồn từ nhân dân vừa bổ sung, góp phần nâng cao cuộc đời và phẩm giá làm người trong sáng, thanh bạch của nhân dân. Luận đề và cách lập luận của Phạm Văn Đồng ngắn gọn mà sâu sắc biết bao. Đức tính giản dị của Bác Hồ được toả sáng ở từng từ, từng câu văn trong cách lập luận ấy. Trước hết, tác giả nêu ra và giải quyết luận điểm một: Đời sống của Bác Hồ giản dị. Dẫn chứng ngắn gọn, bằng lời vãn kể chuyện nhỏ nhẹ: “Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất… Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chí có vài ba phòng … luôn lộng gió và ánh sáng… Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn… đến việc rất nhỏ… việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp…”. Xen giữa những lời kể, những dẫn chứng, tác giả bình luận, đánh giá cũng bằng lời văn nhỏ nhẹ mà thấm thìa. Chẳng hạn về cách ăn uống của Bác, tác giả viết: “ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ”. Nhận xét căn nhà, phong cách sinh hoạt của Bác, tác giả viết: “Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao!”. Nhấn thêm một bước nữa, tác giả giải thích cội nguồn, đối chiếu đức tính giản dị của Bác bằng vài ba lí lẽ dễ hiểu mà sâu sắc. Bác sống giản dị không phải là theo lối sống khắc khổ của các nhà tu hành, cũng không phải kiểu nhà hiển triết ẩn dật. Sống giản dị về đời sống vật chất bởi vì Bác Hồ có đời sống tinh thần phong phú. Đó là cuộc sống cách mạng vì một lí tưởng cao đẹp. Đọc văn của Phạm Vãn Đồng, chúng ta nhớ lại chính Bác Hồ cũng tự kể về cuộc sống của mình trong bài thơ Tức cảng Pác Bó… mà Người làm ở Việt Bắc năm 1941: Sáng ra bờ suối tối vào hang, Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng, Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, Cuộc đời cách mạng thật là sang. Sự giản dị về vật chất, càng làm nổi bật sự phong phú về đời sống tinh thần khiến cho Bác luôn sống vui, sống khoẻ như Bác tự nhận xét “Sống quen thanh đạm nhẹ người – Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung” (Sáu mươi ba tuổi) và như nhà thơ Tố Hữu ca ngợi: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng…” (Theo chân Bác). Có thể nói, phong cách sống giản dị của Bác Hồ “là đời sống thực sự văn minh, nêu gương sáng cho thế giới ngày nay”. Đoạn văn được sơ kết bằng câu văn như thế, vừa có giá trị khái quát, nhấn mạnh luận điểm, vừa rút ra bài học thiết thực của tác giả. Từ đó chuyển tới bạn đọc chúng ta ngày nay lời thông điệp tâm huyết: Hãy tìm hiểu, hãy suy ngẫm về đức tính giản dị trong cách sống của Bác Hồ, để nhớ Bác, biết ơn, kính trọng và mãi mãi noi gương Bác. Văn nghị luận vốn chỉ biểu ý, ít biểu cảm. Nhưng trong những lời văn ấy vẫn toát ra tình cảm của người viết làm lay động tình cảm người đọc. Phân tích bài Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng “Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong tác phong, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết”. Câu văn chuyển ý rất tự nhiên, từ luận điểm một vào luận điểm hai. Chứng minh ý này, tác giả lập luận theo kiểu nhân – quả. Phạm Văn Đồng nêu “Vì muốn quần chúng hiểu được, nhớ được, làm dược”, rồi đưa ra hai dẫn chứng lời nói bài viết giản dị của Bác: ”Không có gì quý hơn dộc lập, tự do” ; Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không hao giờ thay đổi. Hai câu văn trên được trích từ những văn kiện quan trọng mà Hồ Chí Minh đã viết, đã đọc trước nhân dân cả nước. Câu thứ nhất, Bác viết, rồi đọc trong thời kì chống Mĩ cứu nước sỏi động, năm 1967. Câu thứ hai, Bác phát biểu giữa những ngày căng thẳng, nóng bỏng đầu năm 1946. Chúng ta cũng có thể dẫn ra nhiều bài thơ, câu văn, bài văn, lời nói giản dị mà sâu sắc của Bác. Chẳng hạn lời Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không” trong giờ phút đọc Tuyên ngôn Độc lập, những bài thơ Bác viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những câu văn cúa Bác trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, v.v. Nhiều câu nói, lời văn của Bác tuy giản dị nhưng chứa đựng nội dung sâu sắc như những chân lí. Vì vậy, khái quát, đánh giá ý nghĩa và hiệu quả của chúng, Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Câu văn bình luận ấy vừa ngợi ca hiệu quả, tác dụng của những bài viết, những tư tưởng của Bác Hồ, vừa sơ kết, khái quát luận điểm hai trong áng văn nghị luận. Qua văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ, chúng ta hiểu rằng: cùng với nhiều phẩm chất cao quý khác, giản dị là đức tính nổi bật ở Bác Hồ. Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, Bác Hồ cũng giản dị trong lời nói và bài viết. Ở Bác Hồ, đời sống vật chất giản dị hoà hợp với đời sống tinh thần phong phú, với tư tưởng và tình cảm cao đẹp. Viết bài văn này, tác giả không chỉ trình bày những điều mình biết vể Bác Hồ mà còn biểu hiện biết bao tình cảm kính yêu, trân trọng Bác, những bài học đạo đức cao đẹp mà mình đã tiếp nhận từ tấm gương sáng ngời Hồ Chí Minh. Do đó, đọc bài văn này, chúng ta được thêm một phương diện nữa để hiểu Bác, nhớ Bác và noi gương Bác Hồ vĩ đại.
Phân tích bài Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng
1,821
Đề bài: Phân tích bài “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh Bài làm Tác giả Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc chúng ta. Người không chỉ là người có sự nghiệp cách mạng lừng lẫy, mà còn được biết đến với như một nhà thơ, một nhà văn với nhiều kiệt tác văn học tên tuổi. Những bài thơ mà Hồ Chí Minh viết chủ yếu về cách mạng, viết về những năm tháng gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của người. Bác đã ra đi nhưng những tác phẩm văn học, và công lao to lớn của Bác thì vẫn còn sống mãi. Bài thơ “Cảnh khuya” được ra đời vào thời điểm khi nước ta bước vào giai đoạn chiến đấu chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Đây là một cuộc chiến nhiều cam go, thử thách nhưng chúng ta vẫn luôn giữ cho mình một thái độ sống lạc quan yêu đời, tự tin vào con đường tương lại trước mặt. Bài thơ được tác giả mở đầu với những hình ảnh vô cùng nhẹ nhàng, tinh tế, thể hiện tinh thần yêu đời, sức sống mãnh liệt của con người. “ Tiếng hát trong như tiếng hát xa” Hình ảnh thơ đậm chất trữ tình lãng mạn, lối so sánh độc đáo thể hiện hồn thơ phong phú của Bác. Tiếng suối được ví như tiếng hát xa xăm trong trẻ nhẹ nhàng, tiếng suối được cảm nhận bằng thính giác khiến cho người nghe cảm nhận được như những tiếng hát văng vẳng, lảnh lót đâu đây. Trong câu thơ này Bác đã sử dụng nghệ thuật so sánh vô cùng độc đáo thần kỳ, so sánh tiếng suối với tiếng hát, khiến cho tiếng suối không chỉ là dòng chảy của tự nhiên nữa mà là tiếng lòng của con người. Nó có tâm hồn chứa đựng những tâm tư, tình cảm của mình trong đó. Thông qua câu thơ ta thấy con người và thiên gắn liền với nhau thân thiết tri kỷ, thể hiện tình bạn sâu sắc, không gì có thể tách rời, xa cách. “ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” Trong câu thơ này tác giả đã sử dụng hình ảnh “lồng” thể hiện cho sự đan xen hòa quyện vào nhau, tạo nên một hiệu ứng vô cùng đặc biệt cho bài thơ. Hình ảnh ánh trăng soi rọi lên cây cổ thụ tạo thành một chiếc bóng lớn, rồi bóng cây lồng ghép vào ánh trăng tạo nên những đốm như những khóm hoa xinh đẹp. Đây là một bức tranh thiên nhiên vô cùng sinh động tươi đẹp với những mảng tối sáng vô cùng rõ ràng, thể hiện tài quan sát tỉ mỉ, tinh tế của tác giả. Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Thông qua câu thơ ta thấy rằng thiên nhiên và con người nơi đây vô cùng thân thiết, có sự hòa quyện, lồng ghép vào nhau thân thiết không rời. “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Bài thơ được sáng tác vào thời điểm những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thiên nhiên của Việt Bắc càng tươi đẹp thì càng khiến cho Bác của chúng ta khó ngủ hơn, bởi Bác lo lắng muốn bảo vệ sự bình yêu tươi đẹp của đất nước, của những miền quê thân thương. Tâm trạng của tác giả không chỉ là người thưởng ngoạn cảnh đẹp của thiên nhiên mà còn là người đứng đầu, một vị lãnh tụ của công cuộc giải phóng dân tộc, giải cứu nước nhà khỏi ách nô lên. Nên việc Bác trằn trọc khó ngủ trước cảnh đêm núi rừng hoang vu, là điều vô cùng dễ hiểu. Bởi việc nước việc nhà đang làm cho tác giả trăn trở, băn khoăn giấc chẳng thành. Thiên nhiên và con người đã trở thành bạn thân tri kỷ của nhau trong những đêm không ngủ như đêm này. Nhìn ngắm thiên nhiên tươi đẹp làm cho Bác với bớt đi những âu lo, trăn trở trong lòng. Những nỗi âu lo kia là nỗi niềm canh cánh trong tâm tư Bác nên không lúc nào Bác cảm thấy bình yên. Lo lắng cho nước nhà nhưng Bác vẫn luôn quan tâm tới thiên nhiên, dành tình cảm của mình cho những vẻ đẹp tự nhiên sông núi, bởi với tác giả thiên nhiên chính là người bạn thân tri kỷ, là nơi để Bác có thể san sẻ bớt những âu lo muộn phiền trong lòng mình. Bài thơ “Cảnh khuya” thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và chất nghệ sĩ của Bác dù Bác là người làm chính trị nhưng không vì thế mà con người trở nên khô cứng, khuôn mẫu, Bác của chúng ta vẫn có những phút rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên rất con người. Thể hiện một tâm hồn đa cảm, hướng nội, một tâm hồn lớn. Thảo Nguyên
Phân tích bài “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh
835
Phân tích bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch Hướng dẫn Phân tích bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch Một nhà thơ được coi là một trong những nhà thơ lớn nhất thời Đường, đó là Lí Bạch, ông(701-762) biểu tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, ông là một trong những nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn danh tiếng nhất thời Thịnh Đường nói riêng và Trung Quốc nói chung. Suốt cuộc đời thanh cao của mình, ông được tuyên dương là một thiên tài về thi ca, người đã mở ra một giai đoạn phát triển hưng thịnh của thơ Đường. Ông là người bạn thân thiết của Đỗ Phủ, hai người bạn đã trở thành hai biểu tượng thi văn lỗi lạc không chỉ phạm vi trong nước mà còn lan rộng ra toàn khu vực Đông Á. Lí Bạch đã viết hàng ngàn những bài thơ bất hủ, hai ngàn bài thơ của ông được tập hợp trong tập “Hà Nhạc Anh Linh tập”, một tuyển tập thơ đồ sộ. Cuộc đời ông được đi vào truyền thuyết, với phong cách yêu hiếm có, những chuyện ngụ ngôn và truyền thuyết về tinh thần trượng nghĩa, cũng như những điển tích nổi tiếng về việc mà ông đã chết đuối khi nhảy khỏi thuyền để bắt cái bóng của mặt trăng. Ông yêu thích việc ngao du sơn thủy nên đã xin rời khỏi kinh đô. Ông có những bài thơ hay kể về những chuyến đi của mình. Tiêu biểu có tác phẩm “Hành lộ nan” (Đường khó đi) vào năm 744 ngay sau khi rời khỏi cung đình và giã từ thành Trường An. Chùm thơ “Hành lộ nan” gồm có 3 bài, đây là bài thơ thứ nhất và cũng là bài thơ hay nhất có tư tưởng lành mạnh và tích cực nhất. Tên của bài thơ này vốn là một tên của ca khúc xưa, thường được dùng để nói về sự gian nan, nỗi khổ li biệt trong cuộc đời. Bài thơ viết bằng bút pháp lãng mạn, thể hiện được cái hùng tâm và tráng khí của một thi nhân kiếm khách. Lí Bạch viết bài thơ theo thể “hành” gồm có 12 câu, chia làm 3phần mỗi phần lại nói lên một thứ khó khăn gặp phải trên đường đời. Mỗi phần lại có cấu trúc giống nhau: 2câu trên viết về khó khăn trên đường đười, 2 câu sau nói về thái độ cử xử của kẻ kiếm khách. “Cốc vàng, rượi trong, vạn một đấu Mâm ngọc, nhắm quý, giá mười ngàn” Cốc vàng, rượi trong, mâm ngọc, nhắm quý là những thứ sơn hào hải vị, đồ ngon trên đời, những dụng cụ quý hiếm, đắt tiền, sang trọng. Xưa chỉ có vua chúa, các đại vương mới có được. Ở trong bài thơ này những thứ đó nó tượng trưng cho danh lợi, quyền chức, vật chất ở đời. Hai câu thơ song hành, thủ pháp nghệ thuật xưng cực tả cái cao sang quyền quý: rượi ngon đấu giá hàng vạn, nhắm quý giá là mười ngàn. “Dừng chén, ném đũa, nuốt không được Rút kiếm, nhìn quanh, lòng mênh mang.” Tiếp theo ở câu thơ này chúng ta thấy tác giả sử dụng nghệ thuật đối, tương phản với cái cao sang ở hai câu thơ trên thì ở câu này là thái độ phủ định quyết liệt. “Nuốt không được” biểu hiện của một nỗi niềm u uất pha nhiều thứ chua chát và cay đắng. Từng cử chỉ “dừng chén”, “ném đũa” hay hành động “rút kiếm, nhìn quanh” chính là thái độ phủ định của kẻ sĩ chân chính. Bữa ăn đang diễn ra nhưng tại sao lại dừng đột ngột, thái độ thi tức giận, và không ăn nữa, rút kiếm rồi nhìn quanh nỗi lòng mênh mang như có cái gì đó tác động thật mạnh mẽ vào tâm hồn của tác giả. Ông đã thoát ra khỏi sự tức giận đó bằng cách viết ra bài “Hành lộ nan” nàytrong một buổi trưa mất điện và ông cởi trần viết, trong một buổi trưa nhưng cũng dần chuyển về chiều, những ánh nắng của mùa hạ. Đó chỉ như là bề nổi của bài thơ, còn sâu xa hơn nữa chính là sự coi thường danh lợi quyền quý, xa lánh bọn giàu sang. Còn thể hiện rõ sự tự do trong ông, ông mong muốn thoát khỏi chốn này với lưỡi gươm vung lên và đi mọi chân trời xa rộng. “ Lòng mênh mang” của một kẻ sĩ chính là một tâm hồn bay bổng mang chí khí hải hồ, phi thường. Năm 744, ông rời khỏi chốn quan trường kinh đô mang theo thanh kiếm, hiệp khách lên đường cho thỏa ước muốn tự do của mình nói lên nhân cách cao đẹp của ông. Trong chốn quan trường ấy, ông làm quan được hưởng vinh hoa phú quý, rượu thịt đồ ngon vật lạ nhưng ông vẫn quyết tâm từ bỏ, người đời có mấy ai làm được? “Muốn vượt Hoàng Hà, sông băng đóng Toan lên Thái Hàng, núi tuyết phơi” Đọc đến đây chỉ cần nhìn sông rộng, núi cao “Hoàng Hà”, “Thái Hàng” đó là những khó khăn đâu dễ vượt qua. Khó khăn lại thêm khó khăn khi sông thì đóng băng còn núi thì đầy tuyết thật đáng sợ. “Muốn vượt”, “toan lên” đâu phải dễ dàng, phải là một người có đầy nghị lực, quyết tâm thì mới có thể vượt qua. Trước cái “khó” này tác giả đã có một cách ứng xử tích cực: “Lúc rỗi buông câu bờ suối biếc Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mặt trời” Đây là hai câu thơ đầy chất lãng mạn và nên thơ,mang giàu chất trí tuệ nên lên một cách ứng xử thông minh. Có những khó khăn qua lớn mà trước mắt chưa thể giải quyết được thì phải kiên nhẫn chờ đợi khi cơ hội tới. Hình tượng thơ lãng mạn và khí phách hào hùng của tác giả. Ở cả bốn câu thơ này tác giả chỉ rõ phải sáng suốt và kiên trì đón chờ thời cơ tới, phải giữ vững mục tiêu đi tới trên đường đời. Không nên thấy khó mà bỏ cuộc, thấy gian nan mà ngại vượt qua. Bốn câu thơ kết, giọng thơ vang lên dồn dập, mạnh mẽ.Cấu trúc câu thơ biến hóa nhanh nhạy: điệp cú, điệp khúc, câu cảm thán, câu hỏi tu từ. Cách ngắt nhịp 3/3 gợi tả những chặng đường khó khăn nói nhau hiện ra, và quyết tâm của kẻ sĩ đầy hùng tâm, tráng chí: Đa kì lộ, kim an tại?” Bao ngả đường xuôi ngược, quanh co trắc trở, rất dễ lạc đường mất phương hướng cáci hó khăn này là cái khó khăn lớn nhất. Vậy cái chí sẽ làm gì? “Cưỡi gió phá sóng hẳn có ngày Treo thẳng buồm mây vượt biển cả.” Lộ trình rất xa, mênh mông: vượt biển cả, vượt trùng dương. Phải có sức mạnh phi thường, cái chí phải cao như núi.Ý thơ hào hùng, toát lên chí khí sức mạnh của kẻ sĩ với niềm tin sáng ngời. Bài thơ đã cho ta thấy nhân cách và chí khí của Lí Bạch, chỉ bằng vài nét chấm phá trong 12 câu mà ông đã lột tả được hết những cái gian khó mà con người gặp phải trong cuộc đời, những cám dỗ mà ít ai có thể vượt qua. Nên con người ta cần phải có ý chí vững như núi, vượt qua những trở ngại tầm thường thì con người sẽ trở thành những bậc thánh nhân. Bài thơ làm thức tỉnh thế hệ trẻ cần phải có sức kiên trì vượt qua gian khó, đừng thấy gian gian mà chùn bước đi của mình. Hãy cố gắng hết sức mình vì một đất nước giàu mạnh văn minh.
Phân tích bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch
1,322
Phân tích bài “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích bài “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh Mở đầu tập nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh có viết như một lời tâm sự: Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây Càng ngâm càng đợi đến ngày tự do Thơ đối với Người, thành nỗi giải khuây nhưng với người đọc, bắt gặp bất cứ một bài thơ nào cũng thấy hiện lên trong đó tâm hồn của một thi sĩ, một chiến sĩ, người luôn hướng ra ánh sáng. “Ngắm trăng” là một bài thơ như thế. Nhan đề bài thơ là “Vọng nguyệt”, đó là đề tài phổ biến trong thi ca, cũng trở thành thi hứng cho biết bao tác giả, trăng là bạn tri ân để dốc bầu tâm sự. Gặp ánh trăng, thơ Bác cũng tự nhiên như thiên nhiên vậy: Ngục trung vô tử diệc vô hoa (Trong tù không rượu cũng không hoa) Lẽ thường, nhà thơ gặp trăng đẹp thường đem rượu uống, đem hoa ra ngắm. Bởi có rượu, có hoa thì trăng trở nên thi vị và con người cũng trở nên không cô đơn dưới đêm trăng ấy. Nhưng câu mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh như kể tự nhiên chứ không hề kêu ca về hoàn cảnh. Một con người đang bị giam cầm, mất tự do “ngục trung” nên “vô tửu, vô hoa” là điều tất yếu. từ “diệc” làm cho sự thiếu thốn tăng lên. Nhưng chúng ta vẫn thấy giọng thơ của Bác không hề bực bội vì thiếu thốn mà hết sức bình thản đón nhận nó. Đến câu thơ thứ hai, vẫn giữ nét tự nhiên, vần thơ trở thành câu hỏi: (Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) Câu thơ nhịp nhàng bởi sự hòa trộn của các vần bằng- trắc đều đặn, có cái bối rồi, xốn xang rất nghệ sĩ. Trước cảnh đẹp đêm trăng, tâm hồn nghệ sĩ yêu say đắm thiên nhiên, ắt hẳn cũng muốn thưởng trăng đầy đủ, nhưng trong tù thì không thể có, nên người tiếc nhưng không để cảnh đẹp ấy trôi qua vô ích, vì thế có cái bối rối: Làm thế nào có thể hững hờ trước cảnh đẹp? Nhưng cũng có thể đó là lời khẳng định nhẹ nhàng: Không thể hững hờ trước cảnh đẹp dù có thiếu thốn. Chính thực tế thiếu thốn gặp một tâm hồn yêu thiên nhiên, say đắm trước thiên nhiên đã tạo ra cách hỏi hóm hỉnh như một cái cười rất tinh tế của Hồ Chí Minh. Tình yêu thiên nhiên đã giúp Bác chiến thắng hoàn cảnh: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tong song khích khan thi gia (Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ) Rượu, hoa đã thiếu nhưng dường như chính tâm hồn nhà thơ đã đủ cho một bữa tiệc thưởng trăng. Nhân- nguyệt, Nguyệt- Thi gia có “song” chắn ở giữa nhưng có lẽ ngục tù không thể thắng nổi mối tương giao giữa người ngắm trăng và trăng tìm đến người. Song sắt hiện lên thô bạo, vô tình nhưng bất lực bởi trăng và Người vẫn gặp nhau vô cùng tự do, tinh tế. Trước cuộc ngắm trăng, Bác là người tù, tìm được trăng nhưng cuối cuộc trăng, người tù ấy trở thành “thi gia”- nhà thơ. Có người nhận xét: đây là một cuộc vượt ngục tinh thần, quả không sai. Bị giam cầm trong tù ngục nhưng tâm hồn Bác lại luôn hướng đến ánh sáng, hướng đến thiên nhiên. Dù trong hoàn cảnh nào Bác vẫn luôn dành cho thiên nhiên một chỗ đứng vững trãi. Có khi thiên nhiên để khỏa lấp sự cô đơn, có thiên nhiên báo hiệu niềm vui chiến thắng, có khi thiên nhiên để dốc bầu tâm sự nhưng cũng có khi thiên nhiên chở nặng khao khát được tự do, chở nặng một tâm hồn muốn hướng ra ánh sáng. “Ngắm trăng’ là bài thơ khẳng định tâm hồn, cốt cách của một thi sĩ, sự thanh cao của vị lãnh tụ trong hoàn cảnh tăm tối, ngục tù.
Phân tích bài “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh
702
Phân tích bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến BÀI LÀM 1 Vài nét về tác giả và tác phẩm Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, hiệu là Quế Sơn. Ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay thuộc Hà Nam Ninh). Ông vốn dòng dõi nhà nho nghèo. Học giỏi, ông đỗ đầu cả ba kỳ thi (thi hương, thi hội, thi đình) nên gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông làm quan đến chức Tống đốc. Năm 1883, buồn vì không làm được ích lợi cho quốc gia trong khuôn khố của chế độ thực dân, ông cáo quan về dạy học. Tác phẩm của ông gồm có Quế Sơn thi tập bằng chữ Hán và nhiều thơ, văn, câu đối bằng chữ Nôm, hầu hết được sáng tác trong thời gian cáo quan về nhà. Ông mất năm 1909. Thời đại Nguyễn Khuyến và hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Cuộc đời Nguyễn Khuyến nằm gọn trong cảnh “nước mất nhà tan”. Bên cạnh triều đình bù nhìn, hèn nhát, phản bội quyền lợi của dân tộc, có những tên bán nước, cầu vinh, có những người cố tình bưng tai bịt mắt để trục lợi, có những kẻ làm quan chỉ nhằm đục khoét của dân, có những phường “vá áo túi cơm” mang danh khoa bảng mà bất tài, bất lực..v..v. Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến đã chỉa thẳng vào những con người ấy, kể cả bọn thực dân “Vịnh Kiều, Ồng Nghè tháng Tám, Hỏi thăm quan tuần mất cướp, Hội Tây, Gục nhe…” Đời sống của nhân dân dưới hai tầng áp bức bóc lột, ngày càng cơ cực- thiên tai đe dọa, sưu thuế nặng nề… Lâu năm sống ở nông thôn, ông rung cảm với cảnh sống của người nông dân một cách sâu sắc. Những mũi tên trào phúng của ông bắn vào bọn thống trị đương thời. Tấm lòng yêu nước của ông lắng sâu trong lòng. Nhiều lúc ông thấy phải xa lánh cuộc đời xấu xa, lánh những thực tế đau buồn để hòa vào thiên nhiên cho tâm hồn chơi vơi trên mặt nước, bay trên từng mây. Bài Thu Điếu được sáng tác trong hoàn cảnh như vậy. Ta còn rung cảm qua bài thơ chính là vì hình tượng tâm tư của tác giả, vì thái độ phán kháng, dù là tiêu cực, của một con người có tài không chịu khuất phục bọn cướp nước và bán nước. Phân tích bài thơ Quan hệ đồng nhất hay chủ đề của bài thơ này là gì? Ta phân tích cấu trúc của bài thơ mới có thể xác nhận được. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Câu “thực” lẽ ra phải miêu tả buổi câu cá, nhưng tác giả chỉ miêu tả thiên chiên: Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lả vàng trước gió khẽ đưa vèo Câu “luận” lẽ ra phải luận về câu cá, nhưng tác giả cũng chỉ nói đến thiên nhiên: Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt Nqõ trúc quanh co khách vắng teo Câu “kết” nói rõ: Câu mãi mà không được cá, thực ra cũng chằng kết luận gì về câu cá. Vậy thì tác giả diễn tả cái gì trong bài thơ này? Phải phân tích những yếu tố trong bài thơ và những nét đối lập giữa chúng với nhau mới thấy được. Bài thơ thể hiện hai trạng thái đối lập nhau: tĩnh và động, nhưng tĩnh nhiều hơn động: Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Từng mây lơ lửng, trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Chỉ có tiếng động khẽ phá vỡ không khí yên tĩnh này: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Cá đâu đớp động dưới chân bèo Tác dụng của hai tiếng động khẽ ấy nêu rõ được tính chất của trạng thái yên tĩnh và của bức tranh hiện thực: Người câu cá (tác giả) ngồi trên thuyền câu “tựa gối ôm cần”, nhưng không phải để câu cá mà là để nhìn mặt nước và “sóng biếc theo làn hơi gợn tí”. Bỗng chiếc lá vàng bay vèo trước mắt, kéo ông trở về thực tại, rồi ông ngước mắt nhìn lên: “từng mây lơ lửng trời xanh ngắt” rồi lại nhìn xuống đất: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Rồi bỗng “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” làm ông chú ý tới việc đi câu và mới biết mình: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được”. Rõ ràng tác giả không tả buổi câu cá, mà chỉ tả cái dáng điệu người câu cá. Thông qua dáng người câu cá, tác giả miêu tả tâm trạng cô đơn của mình. Những từ ngữ miêu tả tâm trạng cô đơn, vắng vẻ trong bài thơ là những yếu tố chủ yếu diễn đạt hệ thống tâm tư của nhà thơ. Thuyền câu ở đây cũng không phải là một “con thuyền” linh hoạt như thuyền của ông Tô Tử trên sông Xích Bích: Ông Tô Tử qua chơi sông Xích Bích Một con thuyền với một túi thơ Cũng không phải là một “lá thuyền” mơ mộng: Thuyền một lá xông pha dòng Bạch Lộ mà là một chiếc thuyền cô đơn, bé tẻo teo. Sự bé nhỏ của chiếc thuyền càng làm tăng thêm cảnh “lạnh lẽo” của ao thu, đồng thời như quên cả cái tồn tại vật chất bên ngoài, mà chỉ còn lại cái suy tưởng bên trong của người câu cá. Tất cả là vắng vẻ, cô đơn. Nhà thơ chìm đắm triền miên trong dòng suy tưởng. Nhìn lên bầu trời thì: Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt Mây cũng chơi vơi ở giữa bầu trời bao la xanh ngắt, không trung êm ắng, mọi hoạt động như ngừng đọng. Nhìn xuống đất thì chung quanh ao cũng đượm một màu hiu quạnh: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Ngõ trúc bên ao cũng mang hình ảnh ngõ trúc của nhà tác giả. Dù nhìn xuống mặt nước, nhìn ra chung quanh, nhìn lên trời hay xuống đất, lúc nào cái nhìn của nhà thơ cũng là cái nhìn trong suy tưởng. BÀI LÀM 2 “Thu điếu” là một trong ba bài thư viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến rất nổi tiếng xưa nay. Mùa thu đã thú vị, mùa thu ngồi câu cá lại càng thú vị hơn. Niềm thú vị ấy đã trở thành cảm hứng cho một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Khuyến. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến giới thiệu và hạn định khái quát nơi phát sinh cảm hứng với câu phá đề: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Địa điểm là ao, thời gian là thu, một mùa thu. Hai từ “ao”, “thu” được kết hợp thành một nghĩa “ao thu”, một thứ ao riêng chỉ đến mùa thu mới có những nét ấy. Cảm xúc ban đầu của Nguyễn Khuyến về ao thu được phát hiện nhờ tính chất “lạnh lẽo” và “nước “trong veo”. Chính nhờ vậy mà lòng nhà thơ tràn trề cảm hứng. Sau một mùa hạ nóng nực, kéo dài, cái “lạnh lẽo” của mùa thu với bao cảm xúc, cái lạnh nhưng lại có “nước trong veo”. Ao lạnh, nước yên, nước trong nhìn tận đáy. Trời cũng lặng gió, bầu trời cũng phải thật trong, nước mới có thể “trong veo” như thế. Cái “ao” ở đây gợi lên một cái gì rất thân quen bình dị trong cuộc sống ở nông thôn. Trên cái nền ấy là hình ảnh người ngồi câu cá. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Người ngồi câu cá không phải ngồi trên bờ như những người khác ngồi mà ngồi trên “một chiếc thuyền câu”, vì thế tầm nhìn rộng hơn, bao quát hơn. Nhà thơ lại ngồi trên một chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” nghĩa là rất nhỏ có thể đó là một thứ “thuyền thúng” rất phổ biến ở vùng quê miền Bắc, vừa vặn cho một người ngồi. Vừa thực mà vừa mơ, cả không gian như co lại trong cái lạnh mùa thu và trên chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Nhờ vậy nhà thơ đã nhận ra nhiều vẻ của mùa thu: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Trong bốn câu thơ trên, hai câu thực là cảnh gần, hai câu luận là cảnh xa. Cảnh gần thì có “sóng biếc gợn” và lá vàng đưa tiếng và hình cực nhỏ cuối hai câu nổi lên hai từ “tí”, “vèo”, một từ diễn tả sự cực nhỏ của hình khối, một từ diễn tả sự cực nhỏ, của âm thanh. Vẻ tĩnh lặng của mùa thu cứ tăng dần qua từng cấp độ. Không gian động mà tĩnh ở hai câu luận, cảnh thu như xa hơn một chút, cảnh ngoài giới hạn của ao thu, phía trên là bầu trời mùa thu, trước mắt là làng xóm mùa thu. Trời thu xanh, xóm làng thì vắng vẻ. Trời thu thì xanh ngắt, đó cũng là điểm đặc trưng khơi gợi của trời thu. Từng mây lơ lửng ở bên dưới là để làm rõ thêm trời xanh ngắt. Một cái nhìn và cảm thật tinh tế! Cảnh xóm làng thì vắng vẻ gần như tuyệt đối: “vắng teo”. Hai câu kết con người mới xuất hiện, chính là tác giả bài thơ: Tựa gối ôm cần lâu chẳng được. Một tư thế có thể ngồi lâu để mà vừa câu cá, vừa trầm tư, thưởng thức cái cảnh đẹp của mùa thu. Nhưng ngồi đã lâu mà vẫn chưa có cá. Hình như nhà thơ chỉ một điều gì đó mà chính mình cũng không rõ. Thế rồi “Cả đâu đớp động dưới chân bèo” Một câu kết mơ hồ mà cũng như có thực: Có thể cá cắn câu mà cũng có thể không. Cái rung động nhẹ nhành ấy khiến cả không gian mùa thu như lắng đọng lại. “Thu điếu” với sự điêu luyện trong việc sử dụng tiếng nói dân tộc uyển chuyển, phong phú đạt đến mức tuyệt đối trong sáng và tinh tế. Nhờ đó đã diễn tả được vẻ đẹp giản dị thực sự của mùa thu ở những làng quê Việt Nam, đồng thời trong “Thu điếu” ta cũng nhận ra một vẻ đẹp của tâm hồn trong sáng tinh tế, mà giản dị, chân thành, gắn bó với quê hương và dân tộc.
Phân tích bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến
1,750
Phân tích bài “Thơ duyên” của nhà thơ Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích bài “Thơ duyên” của nhà thơ Xuân Diệu Bài làm Một vũ trụ bao la, vài làn gió liêu xiêu với những cành cây lả lả trong sự đổi thay của đất trời bỗng làm cho tâm hồn thi nhân rung động, bỗng bừng lên niềm giao cảm trước các mênh mông vô tận của thiên nhiên, của cuộc đời; để lời thơ lại dồi dào lên đầu ngọn bút. Có lẽ bạn sẽ cười: đề tài đó không còn là mới lạ nữa, nó đã quen và gần gũi lắm rồi. Nhưng cái hay của bài thơ là ở hồn thơ, cái hồn lại ẩn kín ẩn sâu kì diệu lắm. Vì vậy, trong cái quen thuộc bình thường kia còn có những vẻ đẹp tìm ẩn của thiên nhiên, vẻ đẹp tìm ẩn của hồn người luôn luôn giao hòa gắn bó. Thơ duyên của Xuân Diệu là một bài thơ như thế. Bài thơ đã mang đến cho người đọc một cảm giác dễ chịu, khoan khoái, nó mở ra một không gian thoáng đãng qua hình ảnh “chiều mộng hòa thơ” và “nhánh duyên”. Trong các chiều mộng mơ, có lẽ thi nhân sẽ say sưa, đã chếch choáng trước cảnh nên thơ của đất trời, cho nên cảm xúc cứ theo đà ấy mà trào dâng, để tâm hồn rung lên những ý thơ tuyệt diệu hòa vào cái buổi chiều mộng mơ ấy. Chính nó cái hòa thơ trong một buổi chiều để từ cảnh mà sinh tình, cái tình bao la lại trùm lên cảnh trong cái duyên gắn bó với hồn người với cây cỏ mây trời. Thiên nhiên trời đất được mở ra không nhanh, không vội vàng mà lan tỏa từ từ nhẹ nhàng, nó đến với người đọc từ cái say của thi sĩ. Không say sao lại có cái chiều mộng hòa thơ? Đoạn đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên hài hòa có màu sắc có âm thanh, có cảnh có tình. Đất trời mùa thu! Đó là màu xanh ngọc lấp ló sau những vòm me xanh ngắt, là tiếng líu ríu lách tách của một sức sống đang vươn lên phơi phới của một cặp chim chuyền. Và mùa thu là tiếng đàn bay bổng lâng lâng trong không gian mùa thu êm dịu. Trong cái bát ngát của màu xanh, có một tiếng chim lao xao trong tiếng đàn ngân nga trải dài quả là hình ảnh vô cùng lãng mạn, nó đẹp trong cái vẻ êm ả, bình yên bởi cảnh động trong những âm thanh dìu dịu. Người ta bảo mùa thu buồn lắm, nhưng cảnh trong bài thơ không cảnh lúc nào bởi nó có những âm thanh huyền dịu, đang chen nhẹ nhàng vào giao hòa trong gió mây, bay qua những vòm me xanh, thổi tan vào bầu trời xanh như ngọc. Chính cách miêu tả cụ thể sinh động này mà ta mới hiểu được cái chiều mộng ở trên kia, mới thấy được làm sao mới có bài thơ hòa trong chiều mơ, làm sao lại có một nhánh duyên yêu kiều bí ẩn đến như vậy. Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Cảnh vật ở đây rõ ràng không còn cụ thể mà dưới con mắt nhìn say sưa của nhà thơ, tất cả lâng lâng đều như nhớ lại, có cái gì vừa vời vợi xa xôi, lại vừa làm quen gần gũi. Dường như nhà thơ đã thu vào tầm mắt cả vũ trụ bao la, dường như tất cả những lá bay theo cảnh hoang trong các buổi nắng trở chiều. Xiêu xiêu là gì? Lả lả là gì? Không ai hay chỉ biết nó gợi hình gợi âm sắc lắm. Người ta nghe thấy những gì thoang thoảng lao xao trong gió, người ta thấy cái la đà, phất phơ chếch choáng trong những cành hoang. Tất cả đều là cảnh đấy nhưng sao mà trong mà êm, nhẹ đến nỗi cảnh muốn bay lên trong không trung, như muốn tan ra loãng vào mây gió. Như thế mới thấy được cái đẹp của tiết trời sang thu: dịu dàng và thanh thoát cái đẹp đã cuốn hút thi nhân, đã làm say lòng người để cho mọi vật dưới con mắt nhà thơ trở nên lung linh, cảnh đấy mà như tan ra trở thành vô hình. Như thế mới thấy thế nào là: “Lần đầu rung động nỗi thương yêu”. Lâu nay ta cứ thấy có “anh” có “em” là nghĩ ngay đến tình yêu trai gái. Trong bài này, Xuân Diệu cũng nhắc đến nhiều lần: “Em bước điềm nhiên không vướng chân – Anh đi lững thững chẳng theo gần”; “anh với em như một cặp vần” hay là “lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Nhưng xin những người thâm thơ hãy hiểu thoáng hơn, cởi mở hơn để cho cảnh cho tình đẹp với vẻ đẹp tự nhiên của nó. Cảnh đẹp thế này làm sao nhà thơ không thể gọi bằng em? Chính cái “Em bước điềm nhiên không vướng chân – Anh đi lững thững chẳng theo gần” càng khẳng định cái say của thi nhân là có thực, càng làm cho cảnh đẹp hơn lên. Em là em, là cả đất trời, là vũ trụ bao la kia muôn màu muôn vẻ dưới chiều thu! Anh là kẻ đang khao khát, đang đi tìm cái nhựa sống ở đời. Vô tâm thôi nhưng cái huyền dịu, cái mộng mơ của em đã níu kéo hồn anh, đã đến trong con mắt của anh tự nhiên, bình thản, tâm hồn thi sĩ đã đến đúng cái nơi con tim khao khát kiếm tìm. Vì thế mà “Anh với em như một cặp vần”, vì thế mà giữa người với cảnh không còn giới hạn khoảng cách mà đã hòa vào nhau như một, tình và cảnh giao hòa tha thiết, Cái hay cái tinh tế của bài thơ là Xuân Diệu đã phát hiện được cái hơi thở của sự “chuyển mùa” thu đến. Nhà thơ nghe được hơi muôn loài. Bài thơ diễn tả được niềm giao cảm đầy tinh tế và hứng khởi của nhà thơ với cuộc với thiên nhiên vũ trụ, đất trời. Sao nhà thơ lại có thể nhìn thấy ở đám mây cái dáng bay gấp gấp, sao nhìn thấy ở con cò một đôi cánh phân vân. Rõ ràng cái “gấp gấp” và “phân vân” kia là tâm trạng ở bên trong của sự vật, cái ở bên trong bí ẩn tiềm tàng mà nhà thơ vẫn cảm và nói lên quả là thơ tuyệt diệu lắm. Ta bắt gặp một cách tả mới, một cách nhìn mới: nhà thơ không chỉ là bút pháp chân thực cụ thể sinh động, không chỉ ta theo chiều rộng của không gian bao la thoáng đãng mà nhà thơ còn miêu tả cái hồn của đất trời, của cỏ cây hoa lá. Nhà thơ đã đi sâu vào bên trong tâm tình của sự vật. Cái đẹp của đất trời, cái hứng khởi say sưa của thi nhân khiến cho dưới con mắt của nhà thơ, tất cả đều tràn đầy sức sống, tất cả như đang cựa quậy, chuyển hóa, tất cả đều trong mình cái cảm giác lâng lâng của chiều thu: Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân Chim nghe trời rộng dang thêm cánh Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần. Vì thế mà có một áng mây bay vội vã, có một con cò còn dang cánh phân vân; vì thế mà trời rộng thêm ra bởi đôi cánh vẫy vùng của một con chim tự do trong trời đất và một bông hoa bỗng thấm lạnh chiều sương. Cảnh đẹp như thế sao ta chẳng gọi là em? Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn Thì hôm nay đã hòa mình vào cuộc sống, không thể đối lập cái tôi của mình với cuộc sống, với người đời và thế giới. Hôm nay nhà thơ đã khẳng định mình: Khát khao giao cảm với đời, yêu cuộc sống với vũ trụ bao la, Với “con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu – lả lả cành hoang nắng trở chiều” để đến bây giờ “Lòng anh thôi đã cưới lòng em”.
Phân tích bài “Thơ duyên” của nhà thơ Xuân Diệu
1,412
Phân tích bài “Đi bộ ngao du” trích “Ê-Min hay về giáo dục” của Ru-xô. Hướng dẫn Phân tích bài “Đi bộ ngao du” trích “Ê-Min hay về giáo dục” của Ru-xô. Jăng Jắc Ru- xô là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của nước Pháp thế kỷ XVIII. Đoạn trích “Đi bộ ngao du” trích từ luận văn “ Ê-min hay về giáo dục”- một tác phẩm đề cập đến vấn đề giáo dục một em bá từ lúc trào đời cho đến lúc khôn lớn. Em bé đó là Ê-min. Nhân vật đảm nhiệm chức vụ giáo dục em bé là nhà văn. Tác phẩm có năm chương, ứng với năm giai đoạn của quá trình giáo dục. Đoạn trích “Đi bộ ngao du” trích trong chương V khi Ê-min đã trưởng thành. Đoạn trích và một bài văn nghị luận chặt chẽ nói về tác dụng của việc đi bộ. Thứ nhất, ông đưa ra tác dụng: Đi bộ ngao du thì hoàn toàn tự do, không phụ thuộc vào ai. Có lẽ luận điểm đã đánh vào mong muốn của tất cả mọi người, ai cũng mong muốn tự do, sự phụ thuộc đẩy con người đến những thái độ tiêu cực, việc đi bộ ngao du giúp con người thoát khỏi chính sự nô lệ của mất tự do. Tác giả dùng những lý lẽ của mình để minh chứng cho luận điểm đang thu hút người đọc ấy. Ông nhắc người ta đến thói quen hàng ngày là đi ngựa, đó cũng là một cách đi mang đến nhiều sự thi vị. Nhưng để ngao du người ta cần đi bộ. Tác giả minh chứng cụ thể bằng việc đưa ra những lợi ích vô cùng thiết thực: “Ta ưa đi lúc nào thì đi, ta thích dừng lúc nào thì dừng, ta muốn hoạt động nhiều ít thế nào là tùy. Ta quan sát khắp nơi ; ta quay sang phải,sang trái ; ta xem xét tất cả những gì thấy hay hay ; ta dừng lại ở tất cả mọi khía cạnh.” Đi bộ đang thực chất đem lại mọi thứ tự do mà con người muốn được hưởng thụ. Tác giả cũng đặt ra trường hợp thời tiết xấu, ảnh hưởng đến việc đi bộ, người ta cũng thoải mái trong việc tự do, lúc đó có thể lựa chọn phương tiện đi lại. Thứ hai: đi bộ ngao du làm giàu nhận thức của con người. Tác giả không hề nói xuông, ông đưa ra những dẫn chứng hết sức cụ thể: Đi bộ ngao du là đi như Ta-lét, Pla-tông và pi-ta-go- những con người có xương, có thịt ai cũng biết đến, đi bộ là khoảng thời gian họ khám phá để làm nên khoa học, tên tuổi của họ. Những thành công có một không hai của họ có được nhờ việc đi bộ ngao du, nhưng lần này tác giả không khẳng định mà đưa ra sự thuyết phục bằng chính những câu hỏi: “Ai là người yêu mến nông nghiệp chút ít mà lại không muốn biết các sản vật đặc trưng cho khí hậu những nơi mình đi qua và cách thức trồng trọt những đặc sản ấy? Ai là người có chút hứng thú với tự nhiên học mà lại có thể quyết định đi ngang một khoảnh đất mà ko xem xét nó, một lèn đá mà không ghè vài mẩu, những quả núi mà không sưu tập hoa lá, những hòn sỏi mà không tìm các hoá thạch! Thứ ba:đi bộ giúp con người rèn luyện sức khỏe và có tinh thần sảng khoái. Đây là đoạn văn tác giả viết ngắn gọn, dùng phương pháp so sánh: Tôi thường thấy những kẻ ngồi xe tốt chạy rất êm nhưng mơ màng,buồn bã,cáu kỉnh hoặc đau khổ ; còn những người đi bộ lại luôn luôn vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả. biện pháp so sánh này đã chỉ ra mặt tích cực, thực tế nếu dùng phương tiện đi bộ. Con người không mong muốn gì hơn khi việc họ làm lại mang đến sự thoải mái và kết quả đạt được lại là sự hài lòng. Đi bộ là việc mọi người bình thường đều có thể làm nhưng lợi ích lại vô cùng to lớn như vậy. Hơn những thế, người ta có tiền có thể mua được nhiều thứ nhưng lại không thể mua được sức khoẻ, thì đi bộ lại đem đến một sức khỏe dẻo dai mà tiền bạc không mua được: “Ta hân hoan biết bao khi về gần đến nhà! Một bữa cơm đạm bạc mà sao có vẻ ngon lành thế! Ta thích thú biết bao khi lại ngồi vào bàn ăn!Ta ngủ ngon giấc biết bao trong một cái giường tồi tàn! Khi ta chỉ muốn đến một nơi nào, ta có thể phóng bằng xe ngựa trạm; nhưng khi ta muốn ngao du thì cần phải đi bộ.”Kết luận tác giả đưa ra “khi ta muốn ngao du thì cần phải đi bộ” rất tập trung và giản dị thôi thúc mọi người: không thể không đi bộ ngao du.
Phân tích bài “Đi bộ ngao du” trích “Ê-Min hay về giáo dục” của Ru-xô.
873
Đề bài: Phân Tích Bài Đi Bộ Ngao Du Của Ru-Xô Bài làm G. Ru-xô (1712 – 1788) là nhà triết học lớn của nước Pháp ở Thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ XVIII). Năm 14 tuổi học nghề thợ chạm, rồi sống lang thang, làm đủ các nghề như dạy nhạc, làm đầy tớ, làm gia sư… Nhờ thông minh, biết tự học và sáng tạo, ông đã trở thành nổi tiếng với 10 tác phẩm gồm nhạc, kịch, tiểu thuyết, luận văn, triết học, tiêu biểu nhất là hai tác phẩm Khế ước xã hội và Ê-min hay Về giáo dục. Tác phẩm Ê-min hay Về giáo dục được Ru-xô viết vào năm 1762, là đỉnh cao triết học của ông, gồm có năm cuốn. Ê-min là một nhân vật tượng trưng, được nuôi dưỡng từ thơ bé trong cuộc sống tự nhiên, trong môi trường dân chủ và tự do mà trí tuệ, nhân cách và thể lực ngày một phát triển tốt đẹp. Trích đoạn Đi bộ ngao du rút trong cuốn 5, khi Ê-min đã khôn lớn, trưởng thành. Qua đoạn trích, Ru-xô khẳng định đi bộ ngao du thật có ích và vô cùng thú vị. Trích đoạn Đi bộ ngao du gồm có ba đoạn văn: mỗi đoạn văn là một luận điểm: Đi bộ ngao du rất thoải mái, chủ động và tự do; Đi bộ ngao du rất có ích vì quan sát, học tập được nhiều kiến thức trong thế giới tự nhiên bao la; Đi bộ ngao du rất thú vị. Thứ nhất, Ru-xô khẳng định: Đi bộ ngao du rất thoải mái, chủ động và tự do. Tác giả kể chuyện bằng ngôi thứ nhất và lấy những kinh nghiệm của bản thân trong việc đi bộ ngao du để thuyết phục mọi người: Tôi chỉ quan niệm được một cách đi ngao du thú vị hơn đi ngựa: đó là đi bộ. Ta ưa đi lúc nào thì đi, ta thích dừng lúc nào thì dừng, ta muốn hoạt động nhiều ít thế nào là tuỳ. Ta quan sát khắp nơi; ta quay sang phải, sang trái; ta xem xét tất cả những gì thấy hay hay… một dòng sông…; một khu rừng rậm; một hang động…; một mỏ đá… các khoáng sản… Xem tất cả những gì con người có thể xem…; chẳng phụ thuộc vào những con ngựa hay gã phu trạm. Hưởng thụ tất cả sự tự do mà con người có thể hưởng thụ… Ta làm chủ ý thích, làm chủ hành động, làm chủ bản thân, không phụ thuộc vào ai. Căn cứ vào lời lẽ phân tích, giảng giải của vị gia sư cho cậu bé Ê-min thì đi bộ ngao du quả là thú vị nhất trần đời, vì nó đem lại cho con người cảm giác sảng khoái của tự do tuyệt đối. Mà trên đời, còn gì sung sướng hơn được tự do? Ta là chủ bản thân ta, không bị lệ thuộc hay chi phối bởi bất cứ ai, bất cứ điều gì. Nhờ vậy mà ta thỏa mãn được những nhu cầu đặt ra trước chuyến đi. Ở Pháp và Tây Âu trong thế kỉ XVIII, đi ngựa là sang trọng, văn minh. Nhưng Ru-xô đã so sánh và khẳng định: đi bộ ngao du thú vị hơn đi ngựa. Đi bộ ngao du rất thoải mái và chủ động: có thể đi hay dừng, có thể quay phải, quay trái, quan sát khắp nơi, xem xét tất cả tùy thích. Có thể đến với bao cảnh đẹp, cảnh lạ đó đây: một dòng sông, một khu rừng rậm, một hang động, một mô đá… Đến đâu ưa thích thì ta lưu lại đấy, lúc nào thấy chán thì đi. Đi bộ ngao du rất tự do, ta chẳng phụ thuộc vào những con ngựa hay gã phu trạm, có thể đi theo những con đường mà ta thích, gặp thời tiết xấu thì ta đi ngựa, chẳng hềvội vã… E-min to khỏe, không mệt mỏi, em tìm được nhiều thú để giải trí, để làm việc, để vận động chần tay. Đối với Ru-xô, tự do là mục tiêu quan trong hàng đầu. Ông luôn khao khát tự do. Ông cảm thấy tự do quý giá như thế nào từ lúc còn nhỏ tuổi bị chủ xưởng chửi mắng, đánh đập rồi lại phải đi ở cho người ta để kiếm ăn như làm đầy tớ, làm gia sự, dạy âm nhạc,… Suốt đời ông đấu tranh cho tự do, chống lại chế độ phong kiến. Ru-xô là người thuở nhỏ hầu như không được học hành. Thời thơ ấu, ông chỉ được đi học vài năm, từ năm 12 đến năm 14 tuổi, sau đó tìm cuộc sống tự do, lang thang nhiều nơi. Vì vậy, ông rất khao khát kiến thức, cả đời ông phải nỗ lực tự học. Có lẽ vì thế nên lập luận trau dồi vốn tri thức, không phải trong sách vở mà từ thực tiễn sinh động của thiên nhiên, được ông xếp ở vị trí thứ hai trong số các lợi ích của đi bộ ngao du. Ngày nay, tuy phương tiện giao thông ngày càng hiện đại, thế nhưng, chúng ta đừng vì thế mà phụ thuộc vào nó. Những lúc cần nhanh, bạn có thể đi xe máy, ô tô,… nhưng những lúc cần thiết chúng ta nên rèn luyện sức khỏe bằng việc đi bộ. Vì như Ru-xô đã khẳng định, đi bộ có rất nhiều lợi ích to lớn. Bạn hãy lập thời gian biểu đi bộ hàng tuần để nâng cao thể chất, bồi dưỡng tâm hồn, hãy tập sống một cách lành mạnh như Ru-xô, bạn nhé!
Phân Tích Bài Đi Bộ Ngao Du Của Ru-Xô
954
Phân tích Bình Ngô Đại Cáo Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi lớp 10 bao gồm dàn ý phân tích Bình Ngô Đại Cáo và các bài văn mẫu chọn lọc cho: phân tích bình ngô đại cáo đoạn 1, phân tích bình ngô đại cáo đoạn 2, phân tích bình ngô đại cáo đoạn 3. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích Bình Ngô Đại Cáo hay nhất. Dàn ý phân tích Bình Ngô Đại Cáo Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là ánh văn bất hủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đề yêu cầu phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định là một “thiên cổ hùng văn”, tức là yêu cầu một sự phân tích theo hướng, không phải là sự phân tích chung chung.Vì vậy, cần làm rõ về hoàn cảnh sáng tác, bố cục, thể loại, chủ đề của tác phẩm khi phân tích. 1. Hoàn cảnh sáng tác Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, thang 1 năm 1428, nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước.Sau chiến thắng,Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế. Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) để tuyên bố cho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiều nguy nan đã thắng lợi, từ đây dân tộc bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hoà bình, thông nhất. 2. Tựa đề Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo binh Ngô, nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô. Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề cho ngắn gọn, chứ chưa hẳn là dịch. Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương bắc,với sắc thái coi khinh. Trong tác phẩm, quân Ngô chính là giặc Minh. 3. Thể loại – Bài văn được viết theo thể cáo, thể văn biền ngẫu, thường ra đời nhằm công bố sự kiện trọng đại của quốc gia hoặc sau một cuộc kháng chiến lâu dài. Đây là văn kiện chính luận, không phải lúc nào ngưòi ta cũng dùng. – Kiểu câu trong văn biển ngẫu: Tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc. 4. Bố cục – Phần 1 (từ đầu đến chứng cớ còn ghi): nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến. – Phần 2 (Vừa rồi … chịu được): Tố cáo tội ác của giặc Minh – Phần 3: thuật lại quá trình kháng chiến bao gồm hai đoạn nhỏ: + Tiểu đoạn 1 (Ta đây … lấy ít địch nhiều): Lược thuật những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn. – Phần 4 (Xã tắc …Ai nấy đều hay): Tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỷ nguyên hoà bình, khẳng định địa vị,tư thế của đất nước. 5. Phân tích 5.1. Nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến – Tư tưởng nhân nghĩa: Việc nhân dân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Đập lại luận điệu của quân Minh Cuộc chiến của ta vì dân -> nội dung khác, cụ thể hơn (liên hệ ) Giải thích -> chiến đấu vì trừ bạo -> quân Minh, bọn tay sai. =>Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống có hạnh phúc, yên bình. – Từ cách độc lập của dân tộc. +Biểu hiện: tên đất nước, nền văn hoá riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài. =>Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia (so với các tác phẩm trước Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ). +Giọng văn: Sảng khoái, tự hào. +Cách viết:câu văn biền ngẫu “Từ Triệu, Đình, Lý, Trần … Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên..” -> Bình đẳng, ngang hàng (đế). =>Cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa. 5.2.Tố cáo tội ác của giặc Minh – Liệt kê hàng loạt: Khủng bố (thui sống, chôn sống),bóc lột (thuế má: nặng thuế khoá; phu phen: những nỗi phu phen nay xây ma đập đất …; dâng nạp: dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vang, bắt dò chim trả, bắt bẫy hươu đen…; diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sống: Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng… – Tội ác man rợ nhất của giặc Minh được miêu tả trong câu: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ. Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội. =>Lột tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng. Đó cũng là lý do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến. 5.3 Lược thuật cuộc kháng chiến 5.3.1 Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa. – Hình tượng trung tâm là anh hùng Lê Lợi (Ta đây ). +Tập trung miêu tả về nội tâm: ngẫm, đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai, giận, suy xét, đắn đo, trằn trọc, băn khoăn. =>Chân dung tâm trạng Lê Lợi:lòng yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm cao, nung nấu nghiền ngẫm chí lớn, là người nhìn xa trông rộng. +Hình tượng Lê Lợi có sự gởi gắm tâm trạng của Nguyễn Trãi, của toàn dân -> chân thực, xúc động. – Khó khăn trong buổi đầu kháng chiến: +Chênh lệch về lực lượng: ta yếu, địch mạnh. +Thiếu thốn về vật chất. +Hiếm nhân tài. – Vì sao vượt qua được? +Ý chí, tấm lòng cầu hiền. +Có chiến lược, chiến thuật đúng đắn, đánh bất ngờ, đánh nhanh. +Dựa vào sức mạnh nhân dân. +Lấy nhân nghĩa làm cơ sở. – Giọng điệu: trầm lắng, suy tư. 5.3.2.Lược thuật chiến thắng – Diễn tả của trận đánh qua 3 bước +Phản công: Bô Đằng – Trà Lân -> bất ngờ ; câu văn ngắn, chắc, hình ảnh bất ngờ: Sấm vang chớp giật,Trúc chẻ tro bay. Giặc: sợ hãi. +Tiến công: Tây Kinh, Đông Đô -> nơi đầu lão của giặc. Trận chiến ác liệt -> hình ảnh máu chẩy thành sông, thây chất đầy nội, giặc thất bại thảm hại. Mưu phạt tâm công dùng ngọn cờ chính nghĩa, dùng mưu trí và thu phục lòng người. +Đánh quân cầu viện: Giặc tiến sang rầm rộ ( câu văn dài ) 2 mũi tiến công từ Khâu Ôn và Vân Nam. Ta: đánh bất ngờ, dứt khoát:chặt, tuyệt. Nhịp văn ngắt bất ngờ. Liệt kê -> chiến thắng dồn dập. Hình ảnh đối lập giữa ta và giặc. =>Khắc hoạ sự thất bại thảm hại của kẻ thù và sức mạnh, khí thế của quân ta. Giọng điệu: sảng khoái, hào hùng khi khắc hoạ tư thế của người chiến thắng. – Thái độ nhân nghĩa yêu chuộng hoà bình: Giọng văn chẫm rãi, khoan thai. Tha chết cho kẻ thù, cấp ngựa và thuyền dẻ về nước. Muốn nhân dân nghỉ sức. Tính kế lâu dài. 5.4 Tuyên bố hoà bình – Giọng văn hả hê, vui mừng tin tưởng vào hoà bình lâu dài ( Giang sơn từ đây đổi mới … Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu ). – Một loạt các từ tả vũ trụ -> cảm hứng độc lập dân tộc được nâng lên gắn liền với cảm hứng vũ trụ bao la vĩnh hằng.Mặt khác thể hiện ý thức về sự thiêng liêng tôn kính lịch sử. 6. Chủ đề Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại, nêu cao lòng tự hào, niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa, ca ngợi tài năng lãnh đạo cà khí phách hào hùng của dân tộc. 7. Kết luận – Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên được mãi mãi là thiên cổ hùng văn. – Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm nghệ thuật đạt dến trình độ hoàn chỉnh năng lực duy hình tượng sắc sảo, biến hoá, hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Bài văn mẫu phân tích Bình Ngô Đại Cáo Phân tích Bình Ngô Đại Cáo – bài 1 Vua Lê Thánh tông đã từng đề cao: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi được nhớ tới, đánh giá như một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của non sông Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà chính trị đại tài của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Các tác phẩm là sự kết hợp hài hòa của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Một trong số tác phẩm của ông thể hiện rõ điều này là tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” Tác phẩm ra đời khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế đặt tên hiệu là Thuận Thiên (hợp lòng trời) và cử Nguyễn Trãi soạn bài cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hoà bình. Bình ngô đai cáo là một luận văn chính trị tổng kết chặt chẽ, súc tích- về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dựa trên tư tưởng yêu nước thiết tha và sự nhận thức sâu sắc, mới mẻ về nhân dân và dân tộc. Bao trùm bài cáo là niềm tự hào vô biên trước thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến, của khí phách của dân tộc Việt Nam. Ngay từ đầu, Nguyễn Trãi đã khẳng định sự đấu tranh này là vì lợi ích của nhân dân: Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Nguyễn Trãi đã viết tự đáy lòng ông, chứ không chỉ như được từng nghe suông. Chính ông đã coi việc nhân nghĩa cốt ở yên dân như mục tiêu phấn đấu cao nhất của đời mình.Với đạo đức nho giáo ngày xưa, nhân nghĩa là một điều mà con người ai cũng phải có, và thể hiện bằng cách xử sự đối đãi tốt đẹp với người khác. Ở Nguyễn Trãi, nhân nghĩa đã được nhân lên một tầm cao hơn hẳn, và mở rộng hơn nữa: đó là lo cho dân, giúp cho dân – dân ở đây nói với nghĩa bao trùm tất cả thiên hạ. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại- dân là nòng cốt, là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia. Nhân nghĩa còn là “trừ bạo”, bạo chính là quân nhà Minh, bọn gian tà chuyên đi hà hiếp nhân dân. Có thể thấy Nguyễn Trãi đã coi ‘dân” chính là trụ cột của một quốc gia, người chèo thuyền cũng là dân và người lật thuyền cũng là dân. Tư tưởng này giản dị nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc. Trong những cuộc kháng chiến thì nhân dân đóng vai trò quan trọng đối với sự thắng bại của cuộc chiến đó. Nếu dân mạnh, lòng dân yên thì ắt hẳn sẽ đánh bay hết sự tàn bạo của quân thù. Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có. Khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, NguyễnTrãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Để nêu bật tư thế độc lập tự cường của dân tộc, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi. Đại Việt và Trung Hoa đã bao đời song song tồn tại. “Văn hiến” của nước Nam là do nhân dân Việt Nam xây dựng, trải qua thăng trầm, sự tàn khốc và mất mát của chiến tranh mới có được. Cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với “ Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc, điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thôn tính Đại Việt. Để làm tăng sức thuyết phục lên gấp bội, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu”,“đã chia”, “cũng khác”. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo – chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Khẳng định nền độc lập và tư tưởng của mình, ông nêu ra các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử mà chúng đều thất bại: Vậy nên: Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét Chứng cứ còn ghi. Ở đoạn thơ này, NguyễnTrãi đã cho ta thấy những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn tự do của Tổ quốc. Cách nêu dẫn chứng rõ ràng, cụ thể bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Nội dung được diễn đạt bằng những vế rất đăng đối. Tuy vậy nếu để ý ta thấy tư thế cân bằng, tác giả dường như ngày càng muôn đặt nặng đồng cân hơn về phía Đại Việt với từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “ Hàm Tử”, “ Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức: “Lưu Cung..tham công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Tất cả những trang sử hào hùng, vẻ vang ấy, đều đã được sử sách ta cẩn thận ghi lại, không thể chối cãi, và không ai có thể thay đổi. Trong suốt toàn bài Cáo Bình Ngô, ngòi bút của Nguyễn Trãi dã tỏ rõ lòng ưu ái đối với dân. Vì thương dân, ông đã xót xa trước những thảm cảnh mà quân cuồng Minh thừa cơ gây họa do bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Chúng đã: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây thù kết oán trải mấy mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời. Nặng thuế khoá sạch không đầm núi. Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng. Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng. Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán, Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa? Nặng nề những nổi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi. Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được? Lợi dụng việc chính trị rối ren, giặc Minh cấu kết với bọn Vỉệt gian bán nước, điên cuồng sang cướp nước ta, xâm phạm chủ quyền dân tộc, còn gây ra bao tội ác tày trời: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Đọc lại sử sách cũ, chúng ta có thể thấy hai câu trên hoàn toàn không phải là cách diễn đạt cường điệu mà là sự thật: Giặc Minh hết sức hung tàn, chúng thường rút ruột người treo lên cây, nấu xác người lấy mỡ thắp đèn, nhiều khi chúng mua vui bằng cách nướng những người dân vô tội. Ngoài ra, bọn giặc đã thực hiện một chế độ sưu thuế cống nạp nặng để vơ vét của cải (Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng – Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc). Lòng tham vô đáy, chúng đã gây nên nỗi đau ghê gớm cho dân ta lúc bấy giờ, sản xuất bị đình trệ (tan tác cá nghề canh cửi), cuộc sống nhân dân bị huỷ hoại không còn lại gì (tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ), đẩy con người ta vào tình cảnh thê lương, khốn cùng (nheo nhóc thay kẻ goá bụa khôn cùng) … Tội ác của giặc Minh chồng chất đến dẫu chặt hết tre rừng cũng không ghi hết, khiến cho trời đất không thể dung tha, thần và dân đều không chịu được. Ông đã vạch trần bản chất thực của kẻ xâm lược bằng những câu văn phẫn nộ, bi thương. Đau xót và căm thù, người dân Đại Việt phải đồng lòng đứng dậy. Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, Chính lúc quân thù đang mạnh. Tập trung miêu tả hình ảnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã khái quát toàn vẹn nưng phẩm chất tiêu biểu nhất của con người yêu nước ở thế kỷ XV. Những đặc điểm của con người yêu nước trong văn học thời kỳ này thường có đặc điểm sau: Xuất thân bình thường; Khởi đầu gặp nhiều khó khăn nhưng luôn có tinh thần vượt khó, kiên trì ;Biết tập hợp, đoàn kết toàn dân ;Biết sử dụng chiến lược, chiến thuật tài tình; Biết nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa trong mọi hoạt động. Có thể nói, Lê Lợi chính là hình ảnh tiêu biểu của những con người yêu nước dám hy sinh quên mình đứng dậy chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc. Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân tài như lá mùa thu, Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần, Nơi duy ác hiếm người bàn bạc, Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông, Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả. Thế mà: Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi. Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối. Phần vì giận quân thù ngang dọc, Phần vì lo vận nước khó khăn, Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, Lúc Khôi Huyện quân không một đội. Trời thử lòng trao cho mệnh lớn Ta gắng trí khắc phục gian nan. Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh, Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. Tinh thần và lòng quyết tâm đã dâng cao như núi nhưng buổi đầu của cuộc khởi nghĩa thật là đầy khó khăn: quân giặc thì đang hùng mạnh, mà chúng ta mới có ít người, nhân tài thiếu thốn như sao buổi sớm, như lá mùa thu. Có lúc bị bao vây, lương thực cạn kiệt, quân sĩ chẳng con mấy người (khi Linh Sơn, lương hết mấy tuần – khi Khôi Huyện quân không một đội) … Tuy vậy, nhờ bền gan vững chí khắc phục gian nan, nhờ sự chung lưng đấu cật của tướng sĩ, nhờ sự đoàn kết của toàn dân và chiến lược, chiến thuật đứng đắn…, chúng ta đã dần dần xây dựng được lực lượng vững mạnh dẫn tới chiến thắng. Đoạn tiếp theo, Nguyễn Trãi tập trung lược thuật quá trình chiến thắng. Điều đáng lưu ý, trên thực tế, từ khi dựng cờ khởi nghĩa đến khi toàn thắng, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng nhiều trận. Nhưng ở đây, Nguyễn Trãi chỉ tập trung nói đến một số trận tiêu biểu nhất của từng giai đoạn. Ở giai đoạn mở màn đánh lớn, tác giả nói đến hai trận chiến ác liệt xảy ra tại Bồ Đằng và Trà Lân. Quân giặc hoàn toàn bị bất ngờ, thua chạy liểng xiểng ; quân ta chiến thắng nhanh chóng. Ở đây, Nguyễn Trãi có cách miêu tả rất ngắn gọn nhưng vẫn làm nổi bật lên được cái cốt lõi của hai trận đánh là sự bất ngờ trong việc dừng quân. Do đó, giặc thì hoảng sợ, hoang mang, quân ta thi càng đánh càng mạnh: Sĩ khí đã hăng Quân Thanh càng mạnh Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía, Lí An, Phương Chinh nín thở cầu thoát thân. Ở giai đoạn hai, quân ta mở chiến dịch Thanh Nghệ để tiến quân ra Bắc. Nguyễn Trãi nói đến hai trận có ý nghĩa chiến lược và đã diễn ra vô cùng ác liệt là trận Ninh Kiều và trận Tốt Động. Giặc thì huy động tổng lục sống chết cố thủ, ta thì quyết chiến quyết thắng ; do đó, trận chiến trở nên cực kì dữ dội. Bằng cách nói cường điệu, Nguyễn Trãi đã khiến người đọc có ấn tựợng sâu sắc về sự ác liệt của trận chiến, sự thất bại nhục nhã của giặc Minh: Ninh Kiều máu chày thành sông, tanh trôi vạn dặm Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Phúc âm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu. Mọt gian kẻ thù: Lí Lượng củng đành bỏ mạng. Ở giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, Nguyễn Trãi tập trung bút lực kể về chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang. Đây là bản hùng ca vang dội nhất của cuộc kháng chiến trường kì. Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại, Năm ấy tháng mười, Mộc Thạch chia đường từ Vân Nam tiến sang. Nhưng ta đã có sự bố phòng chu đáo. Hai gọng kìm của giặc liên tiếp bị bẻ gãy: Ta trước điều bỉnh thủ hiểm, chặt mũi tên phong. Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực. Sau đó là những chiến thắng dồn dập. Hơi văn hăm hở như có nhịp thở của người viết, mạch văn dồn đuổi như cố theo kịp bước hành quân thần tốc và những đòn đánh cấp tập của nghĩa quân: Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế, Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu. Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong. Ngày hai tám, Thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn. Tiếp đó, bài cáo chuyển sang tiếp cận cụ thể cảnh trận mạc. Câu vãn đúc lại, ngắn gọn, đầy hình ảnh thâm xưng phóng đại nhằm cực tả sức mạnh vĩ đại, khí thế áp đảo của quân ta: Sĩ tốt kén tay hùng hổ, Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh, Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông Hình ảnh quân ta lúc này hiện lên với lực lượng đông đảo, ý chí mạnh mẽ kiên cường, tầm vóc lồng lộng nơi vũ trụ. Khi đánh giặc, càng đánh càng hăng, khí thế ngập đất trời bởi trái tim luôn tràn trề tình yêu nước. Bởi thế nên quân ta mới đánh bại quân giặc. Lúc này, quân giặc hiện lên trong thật đáng thương, thảm hại: Cơn gió to trút sạch lá khô, Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ. Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng, Thần vũ chẳng giết hại thể lòng trời ta mở đường hiến sinh, Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể vẫn hồn bay phách lạc. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Những cái “danh” không thể giấu nổi sự hèn nhát và nhục nhã: Trần Trí, Sơn Thọ, Lí An, Phương Chính, Vương Thông, Mã Anh… Tất cả làm nên một khung cảnh chiến trường tuy hỗn độn nhưng thế chủ động hoàn toàn đã thuộc về phe chính nghĩa. Quân giặc nhốn nháo, hãi hùng, mỗi tên mỗi vẻ vô cùng thảm hại. Nhưng nhân dân ta vốn ưa hoà bình, không thích cảnh binh đao: Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Quân giặc đã “tham sống sợ chết”, ta cũng chẳng cạn tình. Quan điểm “dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo” của Nguyễn Trãi chính được biểu hiện ở đây. Theo ông, binh đao khói lửa chỉ là chuyện bất đắc dĩ, vì làm hao tổn sinh mạng, ông luôn mưu phạt tâm công, dùng áng văn chính luận có sức mạnh hơn 10 binh để tránh đổ máu mà thu phục được lòng người. Với quân tướng bại trận của giặc, ông đã tha bổng và giúp cho về nước, không giết hại: thể lòng trời, ta mở đường hiếu sinh để giữ vẹn hoà hiếu. Ta thấy Nguyễn Trãi quả là một con người nhân nghĩa, với tấm lòng nhân hậu, bác ái và thanh cao tuyệt vời! Bài cáo kết thúc. Câu văn chuyển sang nhịp khoan thai, dàn trải, trang trọng. Giọng văn hiền hoà tươi vui Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới. Nhưng niềm vui không ồn ào. Tác giả hiểu hơn ai hết cái giá đắt của chiến thắng, và cái ơn rất sâu của đồng bào và của trời đất tổ tông thiêng liêng đã đồng lòng giúp đỡ. Từ đây dân tộc bước vào một thời đại mới. Độc lập, tự do và sự yên bình lại trở về trên mỗi miền quê. Đoạn văn dựa vào những quy luật tất yếu của tự nhiên mà khái quát thành những điều tất yếu trong xã hội. Xã hội phải đối diện với “những sự đổi thay” nhưng cũng như càn khôn “bĩ rồi lại thái”, như nhật nguyệt “hối rồi lại minh”. Và dường như cũng chỉ có như vậy ta mới thấu hết được cái ý nghĩa của hình ảnh đất nước trong gian lao, và mới hiểu thế nào là “muôn thuở nền thái bình vững chắc”. Đất nước đã thanh bình, hình ảnh đất nước trong tương lai vững vàng và tươi sáng: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”. Bài cáo còn viết với nghệ thuật xuất sắc: lời văn biền ngẫu hùng tráng, hơi văn cuồn cuộn như bão giông, như sóng lớn, từ ngữ sắc bén như những nhát dao chém thẳng vào quân xâm lược, phép đối kết hợp với cấu trúc câu của loại phú cận thể tạo nên tiết tấu mạnh mẽ thể hiện được tất cả các cảm xúc hào sảng bừng bừng trong huyết quản của tác giả ngay trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn thắng trận giòn giã. Bài cáo đã ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Minh với những chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo đã đem lại những trận đánh long trời lở đất làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã. “Bình Ngô đại cáo” xứng đáng là “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước nhà. Tóm lại, tác phẩm Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà. Phân tích bình ngô đại cáo đoạn 1 Bình ngô đại cáo là tác phẩm tiêu biểu nhất của nguyễn trãi, nhà chính trị, quân sự và dĩ nhiên là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất của dân tộ. bình ngô đại cáo là bài cáo của nguyễn trãi thay vua lê thía tổ viết để tuyên cáo rộng rãi với nhân dân về quá trình kháng chiến và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa lam sơn. Thông qua bài cáo, nguyễn trãi cũng nêu lên triết lý nhân nghĩa của ông cũng như đã định nghĩa 1 cách tự hào về đất nước Nhân nghĩa là 1 nội dung nho giáo nói về sự thương yêu, giúp đỡ giữa con người với nhau. Tuy nhiên đối với nguyễn trãi, nhân nghĩa đã nâng lên thành 1 bậc. nhân nghĩa đối với ông là việc, là hành động cụ thể Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điều phạt trước lo trừ bạo Thường thì trong xã hội phong kiến, quân đội được xây dựng là để bảo vệ chế độ, bảo vệ nhà vua. Nhưng ở đây, nguyễn trãi cho rằng, quân đội thì phải trừ bạo, phải làm cho dân được ấm no, hạnh phúc Nguyễn trãi đã dùng rượu mới để đỗ vào bình cũ của nho giáo. Nhân nghĩa là 1 khái niệm phải nghĩ đến trước tiên nếu như muốn trị thiên hạ Đất nước việt nam có truyền thống nhân nghĩa, con người việt nam nhân đạo. đó là nội dung mà nguyen trãi muốn đề cập ở những câu cuối của phần 1 bài cáo. Nguyễn trãi đã cất cao giọng nêu tên đất nước Như nước đại việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Ta nhận thấy ở đây 1 giọng điệu sảng khoái, phấn khở, chắc có lẽ khi viết hai dòng văn này, mọi tình cảm yêu nước ông đều họp lại tại trái tim để rồi từ đó, ông bật ra Như nước đại việt ta từ trước Nước đại việt đã có từ trước, vì thế mà hình thành một nền văn hiến lâu đời. văn hóa đại việt dù ít nhiều có ảnh hưởng của văn hóa phương bắc nhưng nó vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Nếu như lí thường kiệt đã từng nói sông núi bờ cõi nước nam đã được định phận tại sách trời thì nguyễn trãi lại nêu lên 1 nội dung khái quát hơn Núi sống bờ cõi đã chia Phong tục bắc nam cũng khác Đất nam đất bắc đã có ranh giới rõ ràng được chia. Có thể do trời chia nhưng cũng có thể do người chia. Nhưng ta có thể hiểu rằng, trải qua hơn một ngàn năm đấu tranh gian khổ, qua bao nhiêu nhọc nhằn, cha ông mới dựng nên đất nước. vâng, chính con người việt nam đã đưng lên đấu tranh, đã nằm xuống, đã quyết tử cho tổ quốc quyết sinh để hình thành nên đất nước. giang san đã được chia thì phong tục, tập quán cũng có nhiều khác lạ. dân nước nam khác dân nước bắc, ngôn ngữ cũng khác. Nhưng có 1 điều giống nhau là cả 2 nước đều tồn tại song song những triều đại Từ triệu đinh lí trần bao đời gây nền độc lập Cùng hán đường tống nguyên mỗi bên xưng đế 1 phương Đây là dòng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, từ bấy lâu, các hoàng đế trung hoa đều cho rằng đất nước ta là 1 bộ phận, 1 quận nhỏ của họ. nhưng giờ đây nguyễn trãi đã khẳng định nước ta có chủ quyền như 1 lời xỉ vả vào mặt quân thù. Tuy lúc yếu, lúc mạnh nhưng hào kiệt đất nam không thiếu, nào là đinh bộ lĩnh, lý thường kiệt và xa hơn nữa là ngooq uyền với chiến thắng bạch đằng năm 938 ở ra kỷ nguyên độc lập cho đất nước Trong phần 1 bài cáo, nguyễn trãi không chỉ nêu lên triết lý nhân nghĩa 1 cách sâu sắc mà ông còn định nghĩa về đất nước với 1 niềm tự hào dân tộc. đứng trên lập trường của dân tộc, ông khẳng định về đất nước về 1 niềm tự dân tộc, ông đã khẳng định nước ta có truyền thống nhân nghĩa vì thế mà tồn tại được và đánh bại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù Mỗi lần đọc bình ngô địa cáo, trong em lại hừng hực niềm tự hào mình là người việt, là hậu thế của nguyễn trãi. Và nghĩ về đời người anh hùng dân tộc, không khỏi nhói lên trong em nỗi lòng xót thương nguyễn trãi. Và rồi chúng ta có thể cất cao giọng ca ngợi tổ quốc việt nam muôn năm Phân tích bình ngô đại cáo đoạn 2 Lấp lánh rọi sang như một ngôi sao Khuê trong tâm hồn, trong trái tim ” ưu thời ái quốc”-thâm thúy, sắc bén đấy biến hóa trong tài mưu lược chính trị ; nhẹ nhàng mà thanh tao, thi vị trong những vần thơ viết về thiên nhiên, Nguyễn Trãi đã tạc mình vào vóc dáng dân tộc. Định mệnh có thể khiến con người ta sinh ly tử biệt song, thời gian lại chẳng thể xóa nhòa những giá trị vĩnh hằng. Sự trường tồn của tên tuổi Nguyễn Trãi cùng non sông nước Việt là minh chứng hung hồn cho điều đó. Nếu Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất mọi thời đại thì Bình Ngô Đại Cáo là áng văn bất hủ của ông trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Tác phẩm gồm 4 phần: phần 1 nêu luận đề chính nghĩa, phần 2 vạch rõ tội ác của kẻ thù, phần 3 kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của chuộc khởi nghĩa, phần 4 tuyên bố kết quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa. Bài viết sau đây sẽ chỉ làm rõ tội ác của giặc Minh qua phần 2 của tác phẩm. Sau hơn 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, thang 1 năm 1428 nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô Đại Cáo để tuyên bố cho toàn dân biết công cuộc cứu nước đã thắng lợi.Từ đây, dân tộc sẽ bước vào một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên hòa bình. Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại Cáo Bình Ngô, nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc đã dẹp yên giặc Ngô. Chữ Ngô ở đây là cách gọi của Người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương Bắc với sắc thái coi khinh. Trong tác phẩm, quân Ngô chính là giặc Minh. Nếu như đoạn 1 nêu lên lập trường chính nghĩa thì đoạn 2 là bản cáo trạng đanh thép vạch rõ tội ác của quân xâm lược nhà Minh.Nguyễn Trãi đã lột trần âm mưu thâm độc của chúng: lợi dụng nhà Hồ chính sự đổ nát, giặc mInh đã thừa cơ vào cướp nước ta: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa, Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Năm 1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi của nhà Trần, nhà Minh huy động một lực lượng lớn gồm 20 vạn bộ binh và thuỷ binh cùng với hàng chục vạn dân phu vận chuyển, dưới quyền chỉ huy của Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc kéo vào xâm lược Đại Việt. Quân Minh chia làm hai cánh: một cánh do Trương Phụ chỉ huy theo đường Bằng Tường, Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn, một cánh do Mộc Thạnh chỉ huy từ Vân Nam theo đường sông Hồng kéo xuống. Nhà Minh còn sai người mang sắc vào dụ vua Chămpa phối hợp tấn công ở biên giới phía nam. Trong suốt hai mươi năm đô hộ nước ta (1407-1427), chính quyền đô hộ nhà Minh đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp từ tinh vi đến trắng trợn nhằm xoá bỏ quá khứ đấu tranh, dựng nước và giữ nước bất khuất của dân tộc ta, thủ tiêu những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của nhân dân Đại Việt để chiếm đóng vĩnh viễn đất nước ta. Nhà Minh nhiều lần đốt sách vở, kể cả sách học của trẻ em,phá hủy các bia đá. Lịch sử đã ghi lại tội ác của giặc Minh và Bình Ngô Đại Cáo lại thêm một lần tố cáo mạnh mẽ tội ác của chúng. Tác giả đã khẳng định đó là tội ác “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” và kể ra những hành động dã man của bọn chúng. Âm mưu xâm lược của quân giặc gian xảo bao nhiêu thì chính sách cai trị của chúng càng thâm độc bấy nhiêu. Vẫn là những chính sách cũ nhưng thâm độc hơn nhiều: chúng không chỉ bóc lột vơ vét hết mọi sản vật, sức người, sức của của dân ta mà chúng còn huỷ hoại cả môi trường sống (tàn hại giống côn trùng cây cỏ) và tàn sát con người không biết ghê tay. Hai câu: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Đây là hình ảnh vừa cụ thể, vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội quân giặc. Văn học trung đại Việt Nam không có nhiều nhà thơ đưa hình ảnh “Dân đen” vào trang viết của mình. Dân đen-những kiếp người nhỏ bé tận cùng dưới đáy xã hội.Họ là nạn nhân của tội ác mà quân giặc đã gieo rắc trên bờ cõi đan tộc.Nếu ko có một tấm lòng rộng mở, nếu ko có một tư tưởng nhân đạo sâu sắc thì Nguyễn Trãi đâu thể viết nên những câu văn mang đầy sức gợi và đậm tính nhân văn như thế? Có thể nói, hai câu văn đã được viết viết ra bằng máu và nước mắt của người anh hùng suốt đời một lòng vì dân vì nước. Vơ vét sản vật, tiêu diệt con người, tội ác của giặc không giấy bút nào tả xiết: Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Nguyễn Trãi chọn cái vô cùng (trúc Nam Sơn, nước Đông Hải) để nói đến tội ác của một loài quỷ dữ (thằng há miệng, đứa nhe răng).Bọn chúng như những con thú dữ khát máu người, chỉ nhăm nhe cắn xé nhân dân ta đến tận xương tủy. Hậu quả bọn chúng để lại thật là tàn khốc: gia đình tan nát, vợ mất chồng, con cái thì nheo nhóc, muôn loài bị phá huỷ, tiêu diệt, sản xuất thì trì trệ, nhân dân khổ cực Để nêu rõ tội ác của quân xâm lược, tác giả đã dụng phương pháp liệt kê có chọn lọc, sử dụng những câu văn giàu hình tượng, giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc.Lúc thì tỏ ra căm phẫn, tức giận đến thấu xương cái lũ xâm lược tàn bạo, lúc thì lại thể hiện sự xót xa, đau đớn cho nhân dân ta. Hai câu cuối kết án vô cùng đanh thép: Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được? Tội ác của giặc Minh đã vượt qua cái giới hạn của lẽ trời. Hành động nhơ bẩn của chúng khiến cả thần và người đều không thể tha thứ. Đứng trên lập trường nhân nghĩa, đoạn văn là máu, là nước mắt, thể hiện sự căm hận sục sôi của Nguyễn Trãi đối với kẻ thù. Nói tóm lại, đoạn văn này là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác khủng khiếp của giặc Minh trong 20 năm trên mảnh đất Đại Việt. Ðể đảm bảo vừa tăng cường sức thuyết phục vừa đạt được tính cô đọng, hàm súc của ngôn từ văn chương, Nguyễn Trãi sử dụng đan xen, kết hợp hài hòa giữa những hình ảnh mang tính chất khái quát với những hình ảnh có tính cụ thể, sinh động. Như vậy bằng cái tái và cái tâm của mình, Nguyễn trãi đã khiến cho Bình Ngô Đại Cáo xứng đáng được vinh danh là áng thiên cổ hung văn(áng văn bất hủ muôn đời). Để rôì văn đàn Việt Nam tự hào có một Nguyễn Trãi. Dân tộc Việt Nam tự hào có một Ức Trai. Phân tích bình ngô đại cáo đoạn 3 Sau khi đánh tan giặc Minh, Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi viết bài cáo để thông báo cho toàn thể nhân dân về trận đánh thắng lợi. Bài cáo không chỉ khẳng định được chủ quyền nước nhà, tố cáo tội ác của giặc Minh mà còn trình bày quá trình từ đấu tranh bất khuất đến thắng lợi của nhân dân Đại Việt. Đặc biệt vai trò lãnh đạo và ý chí quyết đánh tan quân giặc của vua Lê Lợi được thể hiện rõ. Mở đầu phần ba tác giả nêu lên những khó khăn mà bản thân vua Lê Lợi nói riêng và nhân dân Đại Việt nói chung phải đối mặt: “Ta đây: Núi Lam sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, Chính lúc quân thù đang mạnh.” Đoạn thơ thể hiện những khó khăn và ý chí quyết tâm của vua Lê Lợi. Vì không chấp nhận được cảnh nhân dân trở thành nô lệ cho bọn giặc Minh quỷ dữ kia mà người anh hùng Lê Lợi đã quyết ở chốn hoang dã, nếm mật nằm gai mà chờ ngày dấy cờ khởi nghĩa. Vua Lê căm thù giặc, đau lòng đến nhức óc, mộng mị cũng trằn trọc chỉ vì một mục tiêu đánh bại quân Minh. Giữa lúc quân Minh đang còn mạnh vậy mà muốn khởi nghĩa người tài lại khó tìm: “Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân tài như lá mùa thu,” Nghệ thuật so sánh càng cho thấy hoàn cảnh khó khăn của đất nước. Khó khăn chồng chất khó khăn, nhà vua không có ai để bàn bạc hay đỡ đần. Tuy nhiên, lòng người muốn cứu nước vẫn cứ đăm đăm hướng về phía Đông mong dẹp giặc. Trông người thì người vắng bóng nên Lê Lợi phải tự mình gắng sức, phần vì muốn dẹp giặc phần vì lo nỗi nước nhà. Cũng có những lúc lương hết, binh tan nhưng trăm dân như một, ý chí quật cường, vua Lê sử dụng kế sách lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Và sự thật cho thấy bằng những cố gắng vượt qua khó khăn và ý chí cũng chiến lược thao binh tuyệt vời Lê Lợi đã lãnh đạo nhân dân giành được chiến thắng và đánh đuổi quân Minh về nước: “Trọn hay: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay …….. Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen. Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp” Bằng biện pháp nghệ thuật liệt kê các sự việc từng trận đánh được nhà văn thuật lại một cách chi tiết nhất. Những cái tên như Trần Trí, Sơn Thọ, Lý An, Phương Chính, Tuyên Đức, Liễu thăng…đều trở thành những cái tên làm trò cười cho thiên hạ. Vì tham công vì bạo ngược ngu dốt mà chuốc lấy. “Ngày mười tháng tám” rồi “ngày hai mươi” tác giả sử dụng thời gian để thuật lại diễn tiến của quá trình vua Lê Lợi và những binh sĩ của mình dành chiến thắng từng bước. Chúng ta lấy nhân nghĩa để trừ bạo ngược, lấy chính nghĩa để thắng hung tàn. Các trận đánh đều sấm vang chớp giật, tan tác tro bay. Đánh cho chúng không còn được rút lui phải bò ra mà xin hàng, xác người chất thành đống, máu tanh trôi đầy sông. Không chỉ thắng trận liên tiếp, Lê Lợi và những binh sĩ của mình thể hiện sự nhân nghĩa nhân đạo kể cả khi chúng ta dành phần thắng: “Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.” Mặc dù thắng trận nhưng quân ta vẫn cấp cho chúng thuyền, ngựa để về. Theo Lê Lợi, họ đã muốn hòa thực lòng thì ta nên giữ lấy toàn quân, để nhân dân nghỉ sức. Đây quả là một quá trình chiến đấu đầy gian khổ để có chiến thắng như ngày hôm nay. Chiến tranh của quân dân Đại Việt là chiến tranh chính nghĩa, lấy nhân nghĩa để chiến đấu với bạo ngược hung tàn, và kết quả là chính nghĩa dành chiến thắng. Đồng thời ta cũng tự hào về vua Lê Lợi – một người tài trí hơn người đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Đặc biệt không thể không kể đến tài năng và công lao của Nguyễn Trãi khi viết áng thiên cổ hùng văn này. Trên đây là bài tập làm văn phân tích Bình Ngô Đại Cáo, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích Bình Ngô Đại Cáo
8,362
Đề bài: Phân tích bút pháp lãng mạn trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Bài làm Tập truyện ngắn này của Nguyễn Tuân cũng là một thành tựu rực rỡ của văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, hội tụ trong đó những yếu tố thẩm mỹ và nguyên tắc sáng tác của phương pháp sáng tác này. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một trong số đó. Trong “Chữ người tử tù” nói riêng và tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” nói chung, Nguyễn Tuân đã dựng lại những mảnh của cuộc sống một thời đã qua, một thời vang bóng. Cả một dấu xưa vàng son, quá vãng nay trở về sáng lại trên mỗi trang văn với vẻ đẹp mê hồn, có khi rùng rợn mang đầy nuối tiếc, bâng khuâng. Truyện tuy ngắn nhưng cũng đủ để nhà văn vẽ ra một sự tương phản giữa cái lý tưởng và hoàn cảnh thực tại, giữa cái Thiện và cái Ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhân vật Huấn Cao, quản ngục, thầy thư lại là một bộ ba nhân vật mà trong đó chỉ Huấn Cao là có tên (một cái tên cũng khá mơ hồ gồm tên gọi tắt của chức vụ (Huấn) đi kèm với họ (Cao)) nhưng vẫn sáng lên như những nốt nhấn giữa một mặt bằng tăm tối. Có thể nói hoàn cảnh nhà lao nói riêng và hoàn cảnh xã hội nói chung đã giam hãm những con người trong sạch đó vào cái lồng thiên địa chật hẹp và bó buộc, là một không gian thù địch và luôn ẩn chứa sức phá hoại đối với cái Tài, cái Đẹp, cái Thiên lương. Nhân vật quản ngục và thư lại là những con người trung gian mà Huấn Cao là nhân vật lý tưởng, mẫu hình lý tưởng đối lập với cuộc sống đang níu giữ, kéo ghì quản ngục và thư lại xuống. Quản ngục và thư lại sống lẫn trong cuộc sống đó, Huấn Cao vượt lên khỏi cuộc sống đó nhưng xét đến cùng họ đều là nhân vật của văn học lãng mạn. Huấn Cao sống một cuộc sống mà bình sinh chọc trời khuấy nước mặc dầu với những hình tích và hành trạng bí ẩn đầy màu sắc truyền thuyết. Con người ấy đối lập mình với thế giới, với chế độ mà mình đang sống bởi tự ý thức được mình, ý thức được phẩm giá của mình, kiêu hãnh đứng riêng ra và cao hơn với xung quanh và cảm thấy cô độc trong niềm kiêu hãnh đó. Tuy quản ngục và thầy thư lại không được như Huấn Cao nhưng họ vẫn là những người xa lạ với hoàn cảnh của mình đang sống. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người (…) của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”. Họ sống lạc lõng với xung quanh, là những người chọn nhầm nghề bởi nơi họ sống là một nơi “lẫn lộn (…) khó giữ thiên lương”, là nơi mà những cái thuần khiết bị đày ải giữa một đống cặn bã. Giữa cảnh sống đó, nhân cách và tài năng của Huấn Cao càng rực sáng hơn, Huấn Cao đã vượt lên khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh để sống với chính bản thân mình dù rằng ông đang ở trong cảnh tù đày, cá nằm trên thớt. Nguyễn Tuân đã dùng những lời thật đẹp để tả lại khung cảnh “một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định (…); bấy nhiêu âm thanh phức tạp bay cao dần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ…”. Những câu văn bay bổng, tài hoa đó đã nói lên phần nào lòng yêu mến của nhà văn với các nhân vật lý tưởng của mình. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bức tranh gồm nhiều mảng màu khác nhau, phân rõ tối sáng, đậm nhạt mà trong đó cái Thiện và cái Ác, ánh sáng và bóng tối luôn tương phản với nhau. Có thể nói, ngay ước muốn xin chữ Huấn Cao của viên quản ngục đã là một ý định đầy chất lãng mạn. Ước mơ đó đã là cái nền nâng đỡ cho hàng loạt chi tiết sau này để những mảng màu tương phản được bày ra. Cảnh tượng Huấn Cao cho chữ là tột đỉnh của quan điểm lãng mạn mà tại điểm hội tụ đó cái Thiện chiến thắng cái Ác, ánh sáng đã lấn át bóng tối và quan trọng hơn là sự phát triển của tính cách nhân vật không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Tính cách, cảm xúc của nhân vật đã vượt lên trên hoàn cảnh. Nguyễn Tuân đã nói đó là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” và chúng ta có thể nói nếu theo logic thông thường của cuộc sống thì đó là một cảnh tượng “không thể có”. Ở đây các nhân vật đã quên đi tất cả, quên đi địa vị, danh phận, địa điểm mình đang đứng mà chỉ sống với cái đẹp, hướng tới ánh sáng, thưởng thức chung một nét chữ, cảm nhận cùng một mùi thơm của mực. Trong bức tranh sơn dầu đó, Huấn Cao có cái đẹp lan toả của một người nghệ sĩ còn viên quản ngục và thầy thư lại có cái đẹp của lòng biệt nhỡn liên tài, vẻ đẹp của thiên lương còn giữ được giữa bao quay cuồng đen trắng. Từ hành động rỗ gông của Huấn Cao ở đầu truyện tới việc Huấn Cao viết chữ ở cuối truyện là sự thống nhất nhân cách của một nhân vật lãng mạn. Quản ngục, thư lại là hai nhân vật nâng đỡ nhưng cũng đẹp và đầy chất thơ – chất thơ của cái đẹp, của tài hoa đối lập và vượt lên khỏi thực tại tầm thường, tăm tối. Câu nói “Xin lĩnh ý” của viên quản ngục khi bị Huấn Cao quát đuổi ra ngoài chỉ đơn thuần là một sự nhũn nhặn nhưng câu nói “Xin bái lĩnh” của chính nhân vật này ở cuối truyện, nói sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên bảo lại là một nét đẹp của một tâm hồn hướng thiện, yêu mến tài hoa. Trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn, người ta có thể nhận ra được hình bóng nhà văn trong nhân vật lý tưởng của mình. Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một nhân vật như thế. Hành trạng một đời tung hoành không biết trên đầu có ai cùng sự tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân gửi vào trong đó. Con người Nguyễn Tuân ở ngoài đời cũng như con người ông trong văn chương và các nhân vật của ông có những nét chồng khít đến kỳ lạ mà trong đó sự tài hoa, ngang tàng, phóng túng là mẫu số chung của những phân số đó. Con người nghệ sĩ ấy không chấp nhận cái tầm thường xung quanh, muốn nổi loạn với tất cả mà ở đây hình mẫu lịch sử của nhân vật Huấn Cao (một số nhà nghiên cứu nói là Cao Bá Quát) chỉ còn tiếng vọng. Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn Tuân đã giúp ông bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo, không đưa vào trong tập sách “Vang bóng một thời”. Khi truyện ngắn “Vang bóng một thời” in lần đầu trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đã nghĩ rằng mình đã có “lời”, có “lãi” khi biệt đãi Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết. Cái kết này đã bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đã làm cho truyện thành công hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vì nó là một khối lãng mạn thực sự mà không bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dù chỉ trong từng chi tiết nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi là vô giá trị…”. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
Phân tích bút pháp lãng mạn trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,569
Đề bài: Phân tích bút pháp và cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài làm Quang Dũng sáng tác không nhiều, nhưng thơ ông để lại ấn tượng sâu sắc với những rung cảm sâu lắng trong tâm hồn người đọc. Thơ Quang Dũng hiện lên một “cái tôi” hào hoa, thanh lịch giàu chất lãng mạn, với khả năng cảm nhận một cách tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên, bình dị, chân thật. Bài thơ Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Không lẩn tránh đề cập đến cái bi nhưng cảm hứng lãng mạn đã đem đến cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn đã được triển khai trên nền cảm xúc kí ức – Nhớ Tây Tiến. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Tây Tiến là tên một binh đoàn có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt – Lào, tiêu hao sinh lực địch. Phần đông lính Tây Tiến là những chàng trai Hà thành. Họ mang vào chiến trường không chỉ có tình yêu Tổ quốc, khát vọng độc lập mà còn có những nét hào hoa thanh lịch cùa người Tràng An. Cuộc sống gian khổ, thiếu thốn không ngăn được lính Tây Tiến vui vẻ, sôi nổi, yêu đời và mộng mơ. Năm 1947, Quang Dũng gia nhập binh đoàn Tây Tiến, ông từng là đại đội trưởng một đại đội thuộc binh đoàn này. Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Nỗi nhớ Tây Tiến đau đáu, da diết đã khiến nhà thơ viết nên một bài thơ tuyệt tác. Tây Tiến gợi lên một cuộc hành quân về phía Tây Tổ quốc, một cuộc hành quân đầy gian lao vất vả giữa vùng rừng núi đầy hiểm trở, hung vĩ đầy vẻ hoang dại và huyền bí. Vốn sẵn tố chất hào hoa của người trai đất Hà thành, chất hào hoa lại được gặp thiên nhiên và con người miền Tây với vẻ đẹp huyền hoặc, Quang Dũng lại từng sống và chứng kiến những tháng ngày hào hung giữa binh đoàn Tây Tiến, hồn thơ ấy đã hòa quyện lại tất cả để tạo nên những thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng lãng mạn của bài thơ trước hết là nỗi nhớ ngập tràn: tác giả nhớ rừng núi hoang vu, hiểm trở, dữ dội, nhớ những cảnh đẹp huyền ảo nên thơ, đặc biệt là nhớ bước quân hành của đoàn quân Tây Tiến, nhớ gương mặt, ánh mắt, nhớ cả những hi sinh gian khổ, những giây phút đồng đội nằm xuống nơi biên cương. Tất cả cứ theo dòng hồi ức mà hiện lên cùng với trí tưởng tượng phóng khoáng, bay bổng. Để giúp cho trí tướng tượng bay cao, bay xa và tình cảm, cảm xúc được diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất, nhà thơ đã vận dựng thủ pháp nghệ thuật tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội cũng như cái tuyệt mĩ, thơ mộng. Một trong những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng đắc địa nhất là thủ pháp đối lập. Đối lập giữa cái hùng vĩ, dữ dội với cái tuyệt mĩ, thơ mộng, đối lập giữa gian khổ, vất vả với anh hùng, bất khuất, đối lập giữa cái bi và cái hùng… Trong Tây Tiến, thiên nhiên sừng sững trở thành một hình tượng lớn. Hồn thơ lãng mạn cứa Quang Dũng đã tô đậm, tuyệt đối hóa cái sừng sững, hùng vĩ của thiên nhiên để qua đó thấy được ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến. Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngủi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Bốn câu thơ trên được coi là tuyệt bút trong việc khắc họa cái hùng vĩ, hiểm trở cùa thiên nhiên. “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”. Nhịp điệu tiếp nối liên tục của những thanh trắc kết hợp với cùng một lúc hai từ láy tượng hình (khúc khuỷu, thăm thẳm) dường như đã đẩy chiều cao của dốc núi lênn vời vợi với hình thế cheo leo, gập ghềnh. Cách ngắt nhịp câu thơ (Dốc lên khúc khuỷu / dốc thăm thẳm) như muốn diễn tả nỗi vất vả, cực nhọc cùng với lưng áo đẫm mồ hôi của người lính Tây Tiến. Chưa đủ. ngòi bút Quang Dũng vẫn tiếp tục đẩy chiều cao của dốc núi lên lên tuyệt đối: Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Núi cao tưởng chừng như chạm mây, mây chất thành đống, thành cồn, “heo hút cồn mây”, người lính như đứng trên mây, giữa bốn bề mây đến nỗi “súng ngửi trời”. Chữ “ngửi” được dùng rất bạo. “Súng ngửi trời” là cách đo chiều cao của người lính – vừa chính xác, vừa rất “tếu”. Hiệu quả của bút pháp lãng mạ không chỉ dựng lên một thiên nhiên hiểm trở mà còn dựng lên kích thước, tư thế của người lính, một tư thế, kích thước sánh ngang tầm thiên nhiên. Hai câu trước có sự phối hợp tuyệt vời của những thanh trắc. Dòng thơ tiếp theo như gãy đôi để vẽ ra hai chiều của dốc núi: một vút lên, một đổ xuống gần như thẳng đứng: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Cảnh được dựng bằng thủ pháp đối lập để khắc họa cái dữ dội, hùng vĩ của núi rừng. Những dốc núi cao tới chóng mặt, bên dưới là vực sâu thăm thẳm. Người lính như treo mình giữa vách đá, trên một sườn núi giữa chặng đường hành quân. Ba câu trên thanh trắc chiếm ưu thế, câu thứ tư hoàn toàn thanh bằng: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Đây cũng là một cách đối lập tạo ra sự tương phản giữa hai chặng đường hành quân: Vượt núi vất vả – dừng chân thoải mái. Câu thơ toàn thanh bằng với 6/7 tiếng là phù bình thanh cùng với hình ảnh những ngôi nhà ấm áp thấp thoáng ẩn hiện trong sương mù, mưa núi đã diễn tả trọn vẹn cái cảm giác thở phào nhẹ nhõm, thoải mái. Đúng là một dòng thơ bỗng “bay ngang lưng trời”. Bút pháp lãng mạn vẫn được sử dụng để tô đậm vẻ hoang dại, dữ dội, đầy huyền bí, sự ghê gớm của rừng thiêng. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Hai chi tiết tiêu biêu (thác gầm thét, cọp trêu người) gắn với hai thời điểm tiêu biểu (chiều chiều, đêm đêm), không phải một chiều, một đêm mà thời gian lặp lại mang tính liên tục, không gian như bị vây bọc bởi những âm thanh man dại. Câu thơ tạo nên ấn tượng mạnh mẽ trong trí tưởng tượng của người đọc. Cảm xúc lãng mạn được xây dựng trên nền cảm xúc kí ức. Đoạn thơ được viết ra như một dòng kí ức đứt, nối, mờ tỏ liên tục. Cho nên đan cài với những câu thơ tả cảnh dữ dội, hùng vĩ là những câu thơ mênh mang, chơi vơi. Hai câu cuối đoạn là một sự đầm ấm bất ngờ đến ngây ngất bởi tiếng gọi thiết tha vang lên tự đáy lòng (Nhớ ôi Tây Tiến), bởi hình ảnh gợi sự thanh thản, đầm ấm đến nao lòng (cơm lên khỏi, thơm nếp xôi). Hai câu thơ còn có giá trị chuyển cảnh, chuyển đoạn. Nếu ở đoạn trên, bút pháp lãng mạn đã tô đậm vẻ hoang dại, hùng vĩ của thiên nhiên thì ở đoạn tiếp theo, cảm hứng lãng mạn lại gây ấn tượng mạnh về cái thơ mộng, tuyệt mĩ của núi rừng và con người Tây Bắc. Đêm liên hoan văn nghệ có “ đuốc” có “hoa”, có tiếng khèn, điệu múa và nhất là có hình ảnh những thiếu nữ miền Tây Bắc trong trang phục dân tộc óng ánh sắc màu, hoa văn núi rừng. E ấp trong những điệu xòe duyên dáng. Tất cả như say, như mơ, như mê đế “hồn thơ” được “xây" lên từ đó. Cảnh sông nước bộc lộ hồn thơ nhạy cảm, tinh tế và tài hoa của Quang Dũng. Làn sương chiều mỏng, dáng lau đơn sơ, phơ phất, dáng người trên độc mộc, dòng nước, hoa đong đưa tình tứ… Nhà thơ không tả mà chỉ gợi bằng những câu thơ thiên về cảm tính trực giác. Cái nhạt nhòa hư ảo càng được tăng lên bởi những từ ngữ gợi nhớ một nỗi nhớ mênh mang (chiều sương ấy, có thấy, có nhớ, người đi, hồn lau, bến bờ, dòng nước, đong dưa…). Tất cả cứ lung linh, khó nắm bắt. Chỉ có thể cam nhận bằng tâm hồn – một tâm hồn chứa tận cùng sâu thẳm là tình yêu và nỗí nhớ. Mỗi đoạn thơ có một giá trị riêng. Song đặt hai đoạn thơ cạnh nhau, bút pháp lãng mạn càng được nổi bật bởi sự tương phản đôi lập. Nếu ở đoạn 1cảnh được vẽ bằng những nét bút gân guốc, táo bạo, khỏe khoắn thì ở đoạn 2 cảnh lại được vẽ bởi những nét bút mềm mại, tinh tế. Hai nét vẽ đó dựng lên hoàn chỉnh bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, bí hiểm vừa thơ mộng, mĩ lệ. Đó chính là chất tài hoa trong ngòi bút Quang Trung. Bút pháp lãng mạn tiếp tục được nhà thơ khai thác triệt để khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến. Thật ra không phải đến đây hình ảnh người lính mới hiện lên mà ở hai phần trên, hình ảnh người lính cứ thấp thoáng ẩn hiện: ở tư thế trèo đèo, lội suối, ở những phút dừng chân giữa chặng đường hành quân, ở “đêm hội đuốc hoa” và “Châu Mộc chiều sương ấy”… thậm chí có lúc hiện lên rât rõ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Tuy nhiên, phải đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh người lính Tây Tiến mới hiện lên đầy đủ. Hai câu mở đoạn: “Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm” đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho “không mọc tóc” là do người lính cạo trọc đầu (người ta gọi là những anh “vệ trọc”) còn “xanh màu lá” là xanh màu lá ngụy trang. Đó là những người lính dũng cảm, can trường. Có người khác lại cho “không mọc tóc” là do sốt rét rụng hết tóc, còn “xanh màu lá” là màu da xanh như lá (do sốt rét). Tác giả muốn tô đậm những gian khổ, đói rét, ốm đau của người lính… Nhà thơ Trần Lê Văn, một chiến sĩ Tây Tiến đã từng nói: “Đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều”. Chính Quang Dũng cũng có lần tâm sự: “Chúng tôi hành quân bằng đôi chân thực sự đã nếm mùi Tây Tiến. Chúng tôi mở rừng, ăn rừng, ngủ rừng”. Thiếu thốn, đói rét, ốm đau là một thực tế. Nhà thơ nói đến tất cả những điều đó nhưng ý thơ lại được nâng đỡ bởi bút pháp lãng mạn. Quang Dũng đã khắc họá chân dung người lính hết sức lẫm liệt, oai hùng. Tác giả dùng hai chữ “đoàn binh” mà không dùng “đoàn quân”. Cái “dữ oai hùm” khiến ta nhớ đến câu thơ hừng hực “hào khí Đông A” của Phạm Ngũ Lão: “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Nhà thơ không miêu tả một gương mặt riêng biệt mà dồn tất cả sự đối lập tạo nên một gương mặt chung khiến ta vừa cảm động, vừa cảm phục, vừa xót thương vừa tự hào. Hình ảnh thơ tuy có thiên về nét vẽ hình thể nhưng lại giúp người đọc thấy rõ hơn khi phách hào hùng của những chiến sĩ Tây Tiến – những anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời. Giữa hai câu trước và hai câu sau lại tạo nên một đối lập khác: đối lập với mắt trừng”, “oai hùm” là “mộng”, là “mơ”, đặc biệt là câu: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Thật hào hùng mà cũng thật hào hoa. Chiến tranh tàn khốc rất cần đến – những nét dữ dằn nhưng không thể giết chết những giấc mơ, không thể cướp đi những mộng đẹp. Đó là vẻ đẹp và đó cũng là sức mạnh. Trước đây có người cho rằng người chiến sĩ Tây Tiến trong bài thơ chỉ có cái vẻ “yên hùng”, khí phách bên ngoài, còn bên trong yếu ớt, tiểu tư sản, mơ mộng viển vông. Nhưng người lính trong Đồng chí của Chính Hữu nhớ “giếng nước gốc đa”, nhớ “bạn thân cày”, nhớ “gian nhà không”… Người lính trong Nhớ của Hồng Nguyên nhớ đến cháy lòng người vợ trẻ “mòn chân bên cối gạo canh khuya”… thì người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng mơ về Hà Nội để nhớ một dáng hình con gái thì cũng là một điều dễ hiểu. Trong chiến tranh, nếu người lính không còn biết mơ, biết nhớ, không còn mảy may rung động trước một bông hoa đẹp hay sắc đẹp cùa một người con gái thì điều đó quả thật là vô cùng đáng sợ. Họ chiến đấu làm gì? Vì ai? Nếu không phải là để trả lại cho con người, cho dân tộc những giá trị nhân văn cao đẹp như vậy. Bài thơ còn dựng lên hai tinh thần đối lập mà thống nhất: bi và hùng, tạo thành chất lãng mạn bi tráng, một khúc độc tấu mang âm hưởng tráng ca. Tất cả những gian khổ thử thách, đói rét ốm đau mà nhà thơ đề cập đến trong suốt hai phần đầu bài thơ như một sự chuẩn bị tâm lí cho người đọc để đến khi tác giả nói về cái chết (phần 3) không gây nên cảm giác đột ngột. Tuy không đột ngột và mặc dù quá hiểu chiến tranh là thế – có thể ngã xuống bất cứ lúc nào, song đọc những câu thơ của Quang Dũng, chúng ta vẫn thấy một cảm giác chơi vơi khó gọi tên. Cũng chính những câu thơ ấy đã bất tử hóa cái chết, anh hùng hóa sự hi sinh để nâng đỡ cảm giác buồn đau, hẫng hụt, thành thử bi thương mà không bi lụy, bi ca chứ không phải khốc ca. Chính điều đó làm nên một khúc độc tấu bi tráng rền vang sông núi và lay động lòng người. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Mỗi người lính ngã xuống, những nấm mộ mọc lên. Những nấm mộ rải rác khắp biên cương là dấu tích cùa biết bao nỗi buồn thầm lặng. Nhà thơ nhìn xuyên suốt con đường hành quân của Tây Tiến mà lặng đi đến tê người khi trước mắt anh hiện lên những nấm mộ đồng chí, đồng đội. Câu thơ sau nhanh chóng gạt đi những cảm giác bi thương giống như có một lực đẩy vô hình: Chiến trường đi chẳng tiếc dời xanh! Câu thơ vừa mang dáng dấp cuộc ra đi “nhất khứ hề” của Kinh Kha tráng sĩ vừa mang âm hướng của những cuộc ra đi trong thơ lãng mạn Việt Nam trước cách mạng với những “li khách” cùa Thâm Tâm, “khách chinh phu” của Thế Lữ.. Hơn nữa, các từ Hán – Việt: “biên cương”, “viễn xứ”, “chiến trường”,… có sức âm vang tạo nên tính cổ điển của hình tượng. Tuy nhiên, chất làng mạn của câu thơ Quang Dũng là chất lãng mạn cách mạng, lãng mạn anh hùng. Quang Dũng đã nói được một điều cốt lõi trong nhân cách người lính: biết hi sinh vẫn dấn thân, ra đi chẳng tiếc đời mình, tuổi thanh xuân đẹp nhất hiến dâng cho lí tưởng. Họ ngã xuống thanh thản, nhẹ nhàng thậm chí nụ cười vẫn nở trên môi. Quang Dũng đã gạt nước mắt để ngẩng cao đầu với niềm tự hào kiêu hãnh. Hai câu tiếp theo cũng mang cảm hứng tương tự: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Có người hiểu là lấy áo bào thay cho chiếu, có người lại hiểu là áo bào được thay bằng chiếu. Quang Dũng có lần tâm sự: ngay cả khi nằm xuống, người tử sĩ cũng không có đủ manh chiếu liệm. Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa rừng”. Thế là đã rõ. Không có chiến bào. Thậm chi không có cả chiếu liệm. Nhưng không thể để đau thương, buồn thảm quật ngã. Câu thơ độc đáo của Quang Dũng đã lãng mạn hóa cái chết, làm cho cái chết trở thành một sự ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, ung dung với một vẻ đẹp hào hùng, oai phong và sang trọng. Giọng thơ như muốn hạ xuống cung bậc thấp nhất phù hợp với nỗi tiếc thương, nhưng hạ thấp để cuối cùng vút lên với cung bậc dữ dội và hùng tráng: Sông Mã gầm lên khúc độc hành Những mất mát, đau thương như dồn nén, tích tụ trong tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Những người lính Tây Tiến hi sinh là trở về với thiên nhiên, trở về với đất mẹ và các anh lại hóa thân vào thiên nhiên để hát mãi khúc quân hành. Tây Tiến có phảng phất nét buồn đau nhưng đó là nét buồn đau bi tráng. Nằm trong thi pháp chung của nền văn học 1945 – 1975, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lăng mạn, Tây Tiến đã để lại dấu ấn riêng độc đáo. Đó là sự phối hợp hài hòa giữa các mặt đối lập trong các hình tượng thơ. Tây Tiến còn là sự gửi gắm tất cả men say ước nguyện của Quang Dũng vào sự nghiệp cứu nước. Vì thế, Tây Tiến hấp dẫn người đọc bởi thế giới nghệ thuật của cái đẹp, cái cao cả hào hùng – sản phẩm của một bút pháp và cảm hứng lãng mạn.
Phân tích bút pháp và cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
3,099
Phân tích Bạch đằng giang phú của Trương Hán Siêu Hướng dẫn Phân tích Bạch đằng giang phú của Trương Hán Siêu Thiên nhiên là những cảnh đẹp nên thơ hùng vĩ vì thế mà nó đã trở thành một đề tài nổi bật trong văn thơ. Đã có rất nhiều nhà thơ thành công ở đề tài này, mỗi nhà thơ lại cho ta thấy một vẻ đẹp riêng của thiên nhiên nơi mình đang sống. Để góp mình vào đề tài này Trương Hán Siêu đã thể hiện tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước tiêu biểu là bài thơ Bạch Đằng giang Phú. Bài thơ này viết về con sông lịch sử của dân tộc đó là sông Bạch Đằng. Khi đất nước đã giành được độc lập thì vua quan thời Trần chỉ biết ăn chơi hưởng lạc mà không quan tâm đến dân. Trương Hán Siêu thấy vậy thì nhức nhói trong lòng ông bắt đầu đi ngao du. Đi đến con sông Bạch Đằng tự dưng ông nhớ về quân ta hai lần đại thắng quân Nguyên Mông. Ôi thật vẻ vang và oanh liệt và nó đã là minh chứng cho con sông lịch sử của nước ta từ đó ông có cảm hứng và viết nên bài thơ ở nơi đây: “Khách có kẻ: Giương buồm giăng gió chơi vơi Lướt bể chơi trăng mải miết Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương, Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt” Trong khi chiến đấu con sông Bạch đằng trở thành người anh hùng, trở thành con sông lịch sử chứng kiến bao trận đánh oanh liệt với bao kẻ thù của dân tộc. Khi hòa bình được lập lại thì con sông trở lại vẻ đẹp bình dị và đầy thơ mộng. Trong khung cảnh đấy tác giả đã nhớ đến những con người từng ngao du sơn thủy hưởng ngoại những người có cuộc sống tự do tự tại: Nơi có người đi đâu chẳng biết Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều Mà tráng khí bốn phương còn tha thiết” Tác giả còn nêu lên những con người mang trí hướng thích phiêu lưu hưởng ngoại với những địa danh cụ thể. Dù là ở những địa danh quen thuộc và gần gũi nhưng khung cảnh ấy vẫn làm cho người đến du ngoại tìm được những điều mới lạ. Ý tác giả muốn ca ngợi những con người có trí hướng tự do như vậy. Đồng thời qua đây tác giả cũng nói nên tình yêu của mình đối với thiên nhiên quê hương đất nước: “Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều, Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều Bát ngát sóng kình muôn dặm Thướt tha đuôi trĩ một màu Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu” Đầu tiên tác giả nêu lên quá trình bản thân đi đến với con sông Bặch Đằng “Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều”. Khi đã đến được với Bạch Đằng thì “thuyền bơi một chiều” thể hiện sự êm ả của dòng sông, không giữ dội mà chảy nhẹ nhàng rất bình thản, chầm chậm như đang muốn giữ chân thuyền ở lại. Ở phía a xa xa khi tác giả nhìn thấy những con sóng kình nối đuôi nhau. trong tác giả thì con sống này rất độc đáo và khác lạ “Thướt tha đuôi trĩ một màu”. Cảnh sắc thật đẹp và thơ mộng khiến nhà thơ đắm chìm mãi không thôi. “Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá Tiếc thay dấu vết luống còn lưu” Bằng Đằng bây giờ bình yên và lặng lẽ có chút hoang vắng bởi xung quay ven bờ lâu đã mọc rất nhiều. Từ đó làm cho tác giả man mát buồn và nhớ đến những trận đánh oanh liệt chống giặc của dân tộc. Con sông như phải hứng chịu bao nỗi đau “Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”. Một con sông chứa đầy đau thương mất mát khiến tác giả buồn và thấy xót xa khi nghĩ lại những cảnh tượng này. “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá” tác giả thương và nhớ đến những vị anh hùng đã từng chiến đấu ở nơi này. Nhưng thời gian thì cứ lặng lẽ trôi như thể vô tình khiến con sông lịch sử dần phai nhạt đi. “Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói Trận đánh được thua chửa phân Chiến lũy Bắc Nam chống đối” Rồi sau đó tác giả như muốn rõ lên cuộc chiến đấu oanh liệt này. Hai bên ngang hàng ngang sức nên trận chiến khó có thể phân thắng bại. “Kìa Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối Những tưởng gieo roi một lần Quét sạch Nam bang bốn cõi” Ở đây tác giả như muốn chế nhạo quân Nguyên Mông vậy. Quân Nguyên Mông cũng không nhường lòng thể hiện ý trí quyết tâm “Quét sạch Nam bang bốn cõi” Trời cũng chiều người Hung đồ hết lối” Tác giả đã thể hiện sự đắc ý chiến thắng của quân Đại Việt. Cuối cùng ông trời cũng có mắt đã cho nhân dân ta cơ hội để chiến thắng kẻ thù để nhân dân được bình yên. Đồng thời tác giả cũng ca ngợi ý chí quyết tâm tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta. “Khác nào khi xưa Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi” Tác giả đã so sánh chiến thắng trước kia và bây giờ. Tác giả như muốn chia sẻ niềm vui lớn cho tất cả mọi người biết về những điều tuyệt đẹp của lịch sử dân tộc ta. Bặch Đằng Giang của Trương Hán Siêu là một bài thơ hay nói về cảnh đẹp quê hương đất nước đồng thời tác giả đã tái hiện lại trận đánh lịch sử của dân tộc trên con sông huyền thoại này. Tác giả muốn gửi gắm và ca ngợi tinh thần yêu nước và tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta bởi truyền tốt tốt đẹp này mãi ăn sâu vào tâm hồn con người Việt Nam.
Phân tích Bạch đằng giang phú của Trương Hán Siêu
1,034
Đề bài: Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bài làm Ngày 2.9.1945 là một sự kiện lớn, một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử dân tộc, trong tâm trí của người dân Việt Nam. Hơn sáu mươi năm đã trôi qua nhưng mỗi khi xem lại những thước phim tư liệu chúng ta lại hồi hồi như đang đứng giữa Quảng trường Ba Đình năm ấy và lại rưng rưng cảm giác xúc động vui sướng, tự hào khi nghe giọng Bác trầm ấm” Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” khi đọc lời tuyên ngôn độc lập – mội văn kiện lịch sử đặc biệt – một áng văn chính luận bất hủ. Toàn văn bản tuyên ngôn độc lập không dài, chỉ gói gọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữ những vô cùng chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh Phần đầu, bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lí về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ ra đời sau khi nước Mĩ đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí, là kết quả của những cuộc cách mạng có Tính chất tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta có thể thấy sự hiểu biết và cân nhắc kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lí đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo: "Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và cũng đầy thuyết phục. Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng chính là lời trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền đã toả ra chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của hành động trái ngược hẳn: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta". Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật được phơi bày cách hiển nhiên là bản chất của thực dân Pháp ở Việt Nam trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn dầy sức thuyết phục: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Mở rộng hơn, phần thứ hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị, “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Kế đó là “chúng thi hành những luật pháp dã man, ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết…” Cả đoạn dày đặc những câu liệt kê định tội rắn rỏi, tố cáo toàn diện tội ác cùa bọn cướp nước. Từng câu, từng chữ đã nêu bật bản chất bọn xâm lược. Thực dân Pháp đã thi hành chính sách ngu dân, tiêu diệt văn hoá, chính là muốn diệt trừ tận gốc bản sắc dân tộc, ý thức lịch sử và truyền thống dân tộc bằng cách “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”. Chúng đàn áp thẳng tay và dã man những người yêu nước, "tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu", cướp đoạt trắng trợn và bất công quyền thiêng liêng nhất của con người: quyền được sống. Đó là thực chất khai hoá, cái gọi là đem văn minh đến cho người bản xứ mông muội. Chúng còn "bóc lột dân la đến xương tuỷ… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu… đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta trở nên tin cùng… chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn". Hành động của chúng thật hết sức vô nhân đạo và chánh nghĩa. Hơn nữa, khi bị Nhật tước khí giới, chúng đã bỏ chạy, đầu hàng, bán nước hai lần cho Nhật. Đó là thực chất bảo hộ của chúng, sự thật lịch sử đã tố cáo bản chất dối trá, hèn nhát của bọn xâm lược. Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả đã xé toang chiêu bài "khai hoá, bảo hộ" giả dối bịp bợm mà bây lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Tác giả dùng liên tiếp những sắc thái từ cao độ: hắn, tuyệt đối không cho, dã man, thẳng tay chém giết, tắm… trong những bể máu, bóc lột đến tận xương tuỷ…. ngôn ngữ linh hoạt, sắc bén, đầy hình ảnh cụ thể, chính xác, gợi tả, tỏ thái độ căm giận sâu sắc trước những tội ác man rợ đó. Điệp từ chúng xuất hiện dày đặc, lồng trong những câu song hành, đồng nghĩa, như những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc hoa mĩ bọn thực dân vẫn tuôn ra bấy lâu, tạo những âm vang sóng dội, nhấn mạnh và trở đi trở lại, như khắc sâu ghi nhớ, như kết án luận tội đồng thời tỏ ra sức mạnh của chúng ta, sức mạnh của chính nghĩa. Đối lập với những hành động phi nhân đó của thực dân Pháp cuộc đấu tranh đầy nhân đạo chính nghĩa của nhân dân ta. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết chính trị phạm, tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo, khoan hồng của quân và dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Điệp ngữ Sự thật là… đã khẳng định chiến thắng của ta: ta đã lấy lại đất nước từ trong tay Nhật, đất nước mà thực dân Pháp đã cướp lấy rồi bán cho phát xít Nhật. Chúng ta chiến đấu chống phái xít, đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, có vai trò và vị trí xứng đáng trước thế giới chính do sức mạnh tự chủ tự thân của dân tộc. Như vậy các nước tiến bộ trên thế giới phải đồng tình ủng hộ quyền được hưởng tự do độc lập một cách chính đáng của dân tộc ta. Câu tuyên bố “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn gọn và súc tích, nghe như một lời reo vui. Câu này cũng có thể làm một ví dụ tiêu biểu cho văn phong Hồ Chí Minh là ngắn gọn chuẩn xác mà đầy uy lực, giàu ý nghĩa. Tuyên bố với thế giới về việc thành lập của một đất nước mới nhưng đã phải chịu nhiều đau thương, tác giả đã rất đanh thép và triệt để khi dùng những cụm từ thoát li hẳn, xoá bỏ hết, Xóa bỏ tất cả để nhấn mạnh sự phủ định tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc với Pháp, chặt nốt những mắt xích cuối cùng ràng buộc Việt Nam, để đất nước này đứng lên trong tự do hoàn toàn, xây dựng một chế độ mới. Tự do vừa giành được thật vô giá. Để có được nó, nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết. Thế mà vẫn còn bao nhiêu thù trong giặc ngoài lúc bây giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ. Hiểu được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đó chính là tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh tất cả để giữ lấy độc lập, tự do. Cụm từ tự do và độc lập được lặp lại ba lần, như khắc sâu vào tâm trí muôn triệu người dân Việt, vang lên mạnh mẽ và rung động như tiếng kèn xung trận hào hùng. Lời tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá và thiêng liêng, vừa khích lệ nhân dân la vừa cảnh báo kè thù. Đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới, đánh dấu một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên cường. Nó đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một nước ở châu Á. Mặt khác, bản Tuyên ngôn còn là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lí lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ. Ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân và tranh thủ sự đồng tình quốc tế. Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kế thừa được những chân lí cùa lịch sử dân tộc và thế giới vừa mang tính thời đại. Bản tuyên ngôn còn đồng thời mang tính tính lịch sử và mang tính văn chương. Bởi thế nó mãi mãi là áng văn bất hủ, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam yêu nước.
Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1,809
Phân tích Bắt sấu rừng U minh hạ của Sơn Nam Hướng dẫn Phân tích Bắt sấu rừng U minh hạ của Sơn Nam Mảnh đất miền Nam thân yêu của tổ quốc cúng trở thành đề tài lớn cho những nhà văn nhà thơ thỏa sức thể hiện tình cảm yêu quê hương đất nước và con người của mình. Mấy ai trong chúng ta không biết đến bài hát về Cà Mau “ Nghe nói Cà Mau xa lắm ở cuối tận bản đồ Việt Nam”, nghe nó mà chúng ta cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên và con người đẹp như thế nào. Không chỉ xuất hiện trong bài hát đó Cà Mau mũi cuối của đất nước ta một lần nữa được hiện lên thật rõ ràng cụ thể về vẻ đẹp thiên nhiên và con người nơi đây qua bài Bắt sấu rừng U Minh hạ của nhà văn Sơn Nam. Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo, v. v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc. Câu chuyện nổi bật lên hình ảnh thiên nhiên cực nam vô cùng nguy hiểm. Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở đó chính là thiên nhiên rừng xanh nước độc ấy – rùng U Minh, đặc biệt trong chốn rừng thiêng ấy còn có cả đàn sấu. Những con cá sấu nguy hiểm đã giết hại biết bao nhiêu người dân nơi đây. Họ phải vào rừng để kiếm ăn kiếm kế sinh nhai nhưng ở đó cũng có thể địa ngục của họ nếu như họ gặp đàn sấu ấy. Chúng to khỏe và nguy hiểm khiến ai là dân trong vùng ấy đều sợ, họ chỉ biết khóc lóc thương tiếc những người thân xấu số của mình chứ chưa ai dám động đến chúng “nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? ”. đã vậy ở dòng sông ấy, rừng U Minh ấy còn có rất nhiều loại động thực vật phong phú và đa dạng. Về số lượng của đàn cá xấu tác giả miêu tả thật rõ nét, thật chính xác qua câu “– Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. đây là một phép so sánh vô cùng hay. Tác giả không dùng biện pháp phóng đại nói quá mà như trong tác phẩm thì người dân ở đây khi đứng lên trên cao nhìn xuống ngoài cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn ra thì toàn là những lưng con cá sấu hiện lên thành những vệt đen chi chít. Chúng còn ở đó thì người dân miền nam không thể yên ổn làm ăn được. Có thể nói chúng là mối nguy hiểm lớn nhất của người dân nơi đây. Đàn cá sấu ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà chúng còn rất khôn lanh “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu. ” Tác giả miêu tả thật sống động những hoạt động của đàn cá sấu khôn lanh và đồng thời qua đó chúng ta thấy nếu không xử lý được chúng thì còn nhiều người dân nữa biến thành thức ăn của chúng. Cảnh bắt cá xấu hiện lên thật đầy nguy hiểm cũng thật hấp dẫn người đọc bởi sự khôn khéo và tài tình của ông Năm Hên. Đi theo ông còn có Tư Hoạch. Ban đầu mọi người không tin ông Năm có thể giết bắt đàn cá xâu nhưng sự thật thì ông có thể. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòm địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng: như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” tất cả những chi tiết ấy đã chứng minh sức khỏe cũng như tài trí của ông Năm Hên. Chuyện bắt cá sấu kết thúc tốt đẹp với hình ảnh “Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng… Qua đây ta càng thêm yêu những con người miền nam của tổ quốc. Đặc biệt ta cũng thấy được rừng U Minh lúc hoang so ban đầu nguy hiểm như thế nào, thiên nhiên không chỉ mang lại nguồn thức ăn, sự sinh nhai mà còn có cả những loại động vật nguy hiểm như đàn sấu này nữa. Tuy nhiên những con người ấy vẫn kiên cường vượt qua khó khăn và chiến thắng thiên nhiên hoang sơ một cách oanh liệt. Và nhân vật ông Năm Hên đại diện cho vẻ đẹp của những người dân Nam Bộ ấy.
Phân tích Bắt sấu rừng U minh hạ của Sơn Nam
1,303
Đề bài: Phân tích bộ mặt tàn ác của thực dân pháp qua tác phẩm thuế máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp. Bài làm Nguyễn Ái Quốc là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta người từng bôn ba 5 châu bốn biển ” Tìm đường đi cho dân tộc đi theo”. Một trong những phương diện đấu tranh của người là dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu. Năm 1925 người cho ra đời ” bản án chế độ thực dân Pháp”. Trong đó có chương I ” Thuế máu” người đã vạch trần bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp đồng thời phản ánh số phận thảm thương của người dân thuộc địa. Phần 2 chế độ lính tình nguyện đã minh chứng điều đó. Người dân thuộc địa bị thực dân Pháp bóp nặng hàng trăm thứ thuế, sưu sai tạp dịch bị ép mua rượu thuốc phiện theo lệnh quan trên. Giờ đây còn phải thêm cái vạ mộ lính. Thực dân Pháp ra sức bắt lính phục vụ cho chiến trường CA trong chiến tranh thế giới lần thứ I năm 1914 – 1918. Trong phần chế độ lính tình nguyện trước hết tác giả phơi bày bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp. Giữa lời nói và hành động của chúng có sự đối lập tương phản. Tác giả đã sử dụng bút pháp trào phúng để phơi bày bộ mặt của giặc, đả kích bộ mặt trắng trợn. Chúng dùng những danh từ mĩ miều ” Các bạn đã tấp nập đầu quân”, ” các bạn đã không ngần ngại dời bỏ quốc hội biết bao trìu mến”. Chúng gọi đó là ” chế độ lính tình nguyện” nhưng tác giả đã vạch trần gọi đó là danh từ ” mỉa mai đáng ghê tởm”. Nối nói giễu nhại: Tấp nập, không ngần ngại phơi bày sự bỉ ổi của thực dân Pháp. Không chỉ phơi bày bộ mặt thật của chúng tác giả còn phản ánh số phận thảm thương của người dân thuộc địa. Họ đã phải đóng thuế bằng chính xương máu của mình. Họ tìm mọi cách để trốn thoát khỏi các trại lính. Không trốn thoát họ tự hủy hoại sức khỏe của mình thông thường nhất là bệnh ” đau mắt hoét chảy mủ” bằng cách sát vôi sống vào mủ bệnh lậu. Người xưa đã nói ” giàu hai con mắt, khó hai bàn tay” thế mà học phải hủy ” tài sản” quí nhất của mình. Bởi như vậy còn giữ được tính mạng, còn gì cực nhục hơn thế! Đi lính tình nguyện ư? Họ đã bị xích tay nhốt vào trường trung học, lính pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần. Như vậy đoạn trích tiêu biểu cho bút pháp trào phúng của tác giả từ ngôn từ đến hình ảnh, cây văn giọng giễu nhại thủ pháp đối lập tương phản giữa lời nói và hành động giọng văn châm biếm đả kích lúc lại ngậm ngùi thương cảm đều toát lên tính chất trào phúng độc đáo đặc sắc trong thơ văn Nguyễn Ái Quốc. Đoạn văn tiêu biểu cho tính chiến đấu cao trong văn chương của người bước đầu vạch ra cho người dân các nước thuộc địa con đường đấu tranh giành lại quyền sống. Tóm lại chế độ ” lính tình nguyện” nói riêng và ” thuế máu” nói chung đã phản ánh số phận thảm thương của người dân thuộc địa và phơi bày bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp. Từ đó ta thấy được tấm lòng của tác giả thương cảm cho người dân, căm thù giặc. Đọc văn bản ta càng thấy được giá trị của hòa bình hôm nay, thấy được trách nhiệm của bạn trẻ trong việc học tập rèn luyện để trở thành người công dân có ích giúp nước giàu mạnh, không để kẻ thù xâm lượng nhòm ngó lãnh thổ, chủ quyền.
Phân tích bộ mặt tàn ác của thực dân pháp qua tác phẩm Thuế Máu
665
Đề bài: Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng Bài làm Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ, người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: văn là người. Điều đó thật đúng vỏi những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ, văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng, ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa. Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người ngất ngưởng. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải là phận sự của ông Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ của Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tới Chí nam nhi, Chí làm trai, Chí tang bồng, Phận sự làm trai, Nợ nam nhi, Nợ tang bồng… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà Nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng điệu ngất ngưởng, ngang tàng. Cứ xem cách xưng hô ở câu thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là Ông Hi Văn, giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như đã vào lồng, ta cũng đủ thấy rất rõ thái độ người viết vừa trang nghiêm, lại vừa như hài hước. Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức: Khỉ Thủ khoa, khi tham tán, khi Tổng đốc Đông. Hoặc Lúc bình Tây, cờ đại tướng; có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách ngất ngưởng càng thêm ổn đinh. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã tháo cũi, sổ lồng, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên ngất ngưởng. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế: Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời: Được mất dương dương người thái thượng Khen chê phơi phới ngọn đông phong. Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện binh thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống (Lâm Ngữ Đường): Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng Không Phật, không Tiên, không vướng tục. Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều điều lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, ngông nghênh kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự chòng ghẹo cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn, từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kì mà nhà Nguyễn Mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp Nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ: Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông. Ông tâm niệm thế và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông. Kết thúc bài ca. Nguyễn Công Trứ viết Trong triều ai ngất ngưởng như ông! Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời. Đúng là câu thơ và cả bài thơ cũng ngất ngưởng như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyền Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân.
Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng
1,212
Đề bài; Phân tích bức tranh phố huyện nghèo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam Bài làm Hai đứa trẻ tuy chưa phải là truyện ngắn hay nhất nhưng lại khá tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam: bình dị, nhẹ nhàng mà tinh tế, thâm thúy. Truyện dường như chẳng có gì: hầu như không có cốt truyện, chẳng có xung đột gay cấn, chắng có gì đặc biệt cả. Hai đứa trẻ chỉ là một mảng đời thường bình lặng của một phố huyện nghèo từ lúc chiều xuống cho tới đêm khuya, với hương vị màu sắc, âm thanh quen thuộc: tiếng trống thu không cất trên một chiếc chòi nhỏ, một ráng chiều ở phía chân trời, một mùi vị âm ẩm của đất, tiếng chó sủa, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve… những âm thanh của mấy người bé nhỏ, thưa thớt, một quán nước chè tươi, một gánh hàng phở, một cảnh vãn chợ chiều với vỏ nhãn, vỏ thị, rác rưởi và những đứa trẻ con nhà nghèo đang cúi lom khom tìm tòi, nhặt nhạnh, một đoàn tàu đêm lướt qua… và nỗi buồn mơ hồ với những khao khát đến tội nghiệp của Hai đứa trẻ. Chuyện hầu như chỉ có thế. Nhưng những hình ảnh tầm thường ấy, qua tấm lòng nhân hậu, qua ngòi bút tinh tế, giàu chất thơ của Thạch Lam lại như có linh hồn, lung linh muôn màu sắc, có khả năng làm xao động đến chỗ thầm kín và nhạy cảm nhất của thế giới xúc cảm, có khả năng đánh thức và khơi gợi biết bao tình cảm xót thương, day dứt, dịu dàng, nhân ái. Đó là truyện của Hai đứa trẻ nhưng cũng là truyện của cả một phố huyện nghèo với những con người bé nhỏ thưa thớt, tội nghiệp đang âm thầm đi vào đêm tối. Ít có tác phẩm nào hình ảnh đêm tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại… như một ám ảnh không dứt như trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam: tác phẩm mở đầu bằng những dấu hiệu của một “ngày tàn” và kết thúc bằng một “đêm tịch mịch đầy bóng tối”, ở trong đó, màu đen, bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả: đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối, tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Một tiếng trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi cũng chìm ngay vào bóng tối… Cả đoàn tàu từ Hà Nội mang ánh sáng lướt qua trong phút chốc rồi cũng “đi vào đêm tối”… Trong cái phông của một khung cảnh bóng tối dày đặc này, là những mảnh đời của những con người sống trong tăm tối. Họ là những con người bình thường, chỉ xuất hiện thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng, từ hình ảnh mẹ con chị Tí với hàng nước tồi tàn đến một gia đình nhà xẩm sống lê la trên mặt đất, cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh, tìm tòi… … Tất cả họ không được Thạch Lam miêu tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân, số phận… nhưng có lẽ nhờ thế mà số phận họ hiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống một cách âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ. Văn Thạch Lam là như thế: nhẹ về tả, thiên về gợi và biểu hiện đời sống bên trong: sống trong lặng lẽ, tăm tối nhưng giữa họ không thể thiếu vắng tình người. Qua những lời trao đổi và những cử chỉ thân mật giữa họ ta nhận ra được mối quan tâm, gắn bó. Và tất cả họ dường như đều hiền lành, nhân hậu qua ngọn bút nhân hậu của Thạch Lam. Nhưng giữa bấy nhiêu con người, nhà văn chỉ đi sâu vào thế giới tâm hồn của hai đứa trẻ: Liên và An. Chúng chưa phải là loại cùng đinh nhất của xã hội nhưng là tiêu biểu cho những con nhà lành, đang rơi vào cảnh nghèo đói, bế tắc vì sa sút, thất nghiệp. Không phải ngẫu nhiên tác giả lấy Hai đứa trẻ để đặt tên cho truyện ngắn của mình. Hình ảnh tăm tối của phố huyện và những con người tăm tối không kém, sống ở đây hiện lên qua cái nhìn và tâm trạng của chị em Liên, đặc biệt là của Liên. Mở đầu tác phẩm ta bắt gặp hình ảnh Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của chị” và “chị thấy buồn man mác trước cái giờ khắc của “ngày tàn””. Thạch Lam không miêu tả tỉ mỉ đời sống vật chất của họ, nhà văn chủ yếu đi sâu thể hiện thế giới tinh thần của Liên với nỗi buồn man mác, mơ hồ của một cô bé không còn hoàn toàn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Tác giả gọi “chị” là vì quả Liên là một người chỉ biết quan tâm săn sóc em bằng tình cảm trìu mến, dịu dàng, biết đảm đang tảo tần thay mẹ nhưng tâm hồn Liên thì vẫn còn là tâm hồn trẻ dại với những khao khát hồn nhiên, thơ ngây, bình dị. Ở đây, nhà văn đã nhập vào vai của “hai đứa trẻ”, thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ và diễn tả cái thế giới tâm hồn trong sáng của chị em Liên: hình ảnh bóng tối và bức tranh phố huyện mà ta đã nói trên kia được cảm nhận chủ yếu từ nỗi niềm khao khát của hai đứa trẻ. Tâm hồn trẻ vốn ưa quan sát, sợ bóng tối và khát khao ánh sáng. Bức tranh phố huyện hiện ra chính là qua tâm trạng này: “Hai chị em gượng nhẹ (trên chiếc chõng sắp gãy) ngồi yên nhìn ra phố…” Liên trông thấy “mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi” nhưng “chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó…”. Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra… Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo bà cụ Thi đi lẫn vào bóng tối… “Hai chị em đành ngồi yên trên chõng đưa mắt theo dõi những người về muộn từ từ đi trong đêm”… “Từ khi nhà Liên dọn về đây… đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng với cái tối của quang cảnh phố xung quanh”… Đêm tối đối với Liên “quen lắm, chị không sợ nó nữa”. “Không sợ nó nữa” nghĩa là đã từng sợ. Chỉ mất từ “không sợ nó nữa” mà gợi ra bao liên tưởng. Hẳn là Liên đã từng sợ cái bóng tối dày đặc đã từng bao vây những ngày đầu mới dọn về đây. Còn bây giờ Liên đã “quen lắm”. Sống mãi trong bóng tối rồi cũng thành quen, cũng như khổ mãi người ta cũng quen dần với nỗi khổ. Có một cái gì tội nghiệp, cam chịu qua hai từ “quen lắm” mà nhà văn dùng ở đây. Nhưng ngòi bút và tâm hồn của Thạch Lam không chỉ dừng ở đấy. Cam chịu nhưng cũng không hoàn toàn cam chịu, nhà văn đã đi sâu vào cái nỗi thèm khát ánh sánh trong chỗ sâu nhất của những tâm hồn trẻ dại. Ông dõi theo Liên và An ngước mắt lên nhìn vòm trời vạn ngôi sao lấp lánh để tìm sông Ngân hà và con vịt theo sau ông thần nông như trẻ thơ vẫn khao khát những điều kì diệu trong truyện cổ tích, nhưng vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật, lại quá xa lạ làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát, hai em lại cúi nhìn về mặt đất, và quầng sáng thân mật xung quanh ngọn đèn lay động của chị Tí… Nhà văn chăm chú theo dõi từ cử chỉ, ánh mắt của chúng và ghi nhận lại thế thôi. Nhưng chỉ cần thế, cũng đủ làm nao lòng người đọc. Sống mãi trong bóng tối, “quen lắm” với bóng tối, nhưng càng như hế, chúng càng khát khao hướng về ánh sáng, chúng theo dõi, tìm kiếm, chỉ mong ánh sáng đến từ mọi phía: từ “ngàn sao lấp lánh trên trời”, đếm từng hột sáng lọt qua phên nứa, chúng mơ tưởng tới ánh sáng của quá khứ, của những kỉ niệm về “Hà Nội xa xăm”, “Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” đã lùi xa tít tắp; chúng mải mê đón chờ đoàn tàu từ Hà Nội về với “các toa đèn sáng trưng”; chúng còn nhìn theo cả cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng xa xa mãi… Đó là thế giới của ao ước, dù chỉ là một ao ước nhỏ nhoi, dù chỉ như là một ảo ảnh. Không thấm đượm một tấm lòng nhân ái sâu xa, không hiểu lòng con trẻ, không có một tâm hồn nhạy cảm giàu chất thơ thì không thể diễn tả tinh tế đến thế nỗi thèm khát ánh sáng của những con người sống trong bóng tối. Đọc Hai đứa trẻ, ta có cảm giác như nhà văn chẳng hư cấu sáng tạo gì. Mọi chi tiết giản dị như đời sống thực. Cuộc sống cứ hiện lên trang viết như nó vốn như vậy. Nhưng sức mạnh của ngòi bút Thạch Lam là ở đấy. Từ những chuyện đời thường vốn phẳng lặng, tẻ nhạt và đơn điệu, nhà văn đã phát hiện ra một đời sống đang vận động, có bề sâu, trong đó ánh sáng tồn tại bên cạnh bóng tối, cái đẹp đẽ nằm ngay trong cái bình thường, cái khao khát ước mơ trong cái nhẫn nhục cam chịu, cái xôn xao biến động trong cái bình lặng hàng ngày, cái tăm tối trước mắt và những kỷ niệm sáng tươi… Nét độc đáo trong bút pháp Thạch Lam là ở chỗ: nhà văn đã sử dụng nghệ thuật tương phản một cách hầu như tự nhiên, không chút tô vẽ, cường điệu, và nhờ thế, bức tranh phố huyện trở nên phong phú, chân thật, gợi cảm. Đọc Hai đứa trẻ ta bị ám ảnh day dứt không thôi trước đêm tối bao trùm phố huyện và xót xa thương cảm trước cuộc đời hiu quạnh cam chịu của những con người sống nơi đây. Nhưng Hai đứa trẻ cũng thu hút ta bởi cái hương vị man mác của đồng quê vào một “chiều mùa hạ êm như ru” và “một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”… Nó làm sống lại cả một thời quá vãng, nó đánh thức tình cảm quê hương đậm đà, và làm giàu tâm hồn ta bởi những tình cảm “êm mát và sâu kín”.
Phân tích bức tranh phố huyện nghèo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam
1,926
Phân tích bức tranh quê và tấm lòng yêu đời của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ Hướng dẫn Phân tích bức tranh quê và tấm lòng yêu đời của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ Trong làn thơ mới nước ta nếu như chúng ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, phươu lưu trong trường tình của Lê Trọng Lư, đắm say cùng Xuân Diệu với tình yêu và cuộc sống thì cũng điên dại cùng với Hàn Mạc Tử. Thật vậy trong phong trào Thơ Mới hàn Mạc Tử nổi tiếng với những phần thơ điên loạn cùng hình ảnh của hồn và trăng. Thế nhưng lại ít có ai biết rằng ngoài những phần thơ điên loạn ấy Hàn Mạc Tử còn có những vần thơ trữ tình dịu dàng đằm thắm. Trong số những tác phẩm trữ tình nhẹ nhàng ấy nổi bật có bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ không chỉ thể hiện được tâm trạng của nhà thơ mà còn vẽ lên một bức tranh quê tuyệt đẹp, ở trong bức tranh quê ấy ta thấy một tấm lòng yêu đời của nhà thơ. Bài thơ được viết khi ông đang ở trại phong Tuy Hòa, sống trong cảnh cách ly với tất cả mọi người. Chính vì thế mà ông chỉ có thơ làm bạn, thơ văn như một cứu tinh tâm hồn của Hàn Mạc Tử. Khi ấy ông bất ngờ nhận được bức thư của người con gái năm xưa tên Hoàng Thị Kim Cúc. Đó là người con gái mà nhà thơ thầm thương trộm nhớ nhưng vì nhút nhát mà ông tơ mà nguyệt chẳng thèm se duyên kết tóc cho hai người. bức thư ấy mang lại cảm xúc cho nhà thơ viết lên bài thơ này. Trước hết là bức tranh quê được thể hiện rất rõ nét và mang đậm bản chất xứ Huế trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử. Đó là những hình ảnh thiên nhiên mà chỉ có xứ Huế mới có, nó mang một nét đẹp không pha trộn không lẫn với một địa danh nào. Thứ nhất trong tứ thơ Đây thôn Vĩ Dạ bức tranh thiên nhiên được hiện lên với hình ảnh của buổi sáng tinh khôi với ánh nắng mai nhẹ nhàng: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Câu hỏi không về chơi thôn Vĩ như là cái tựa để cho nhà thơ giới thiệu về bức tranh quê xứ Huế mộng mơ. Sao không về chơi thôn Vĩ giống như câu hỏi và lời trách của người con gái tên Hoàng Cúc cũng giống như một lời mời gọi hãy về xứ Huế thôn Vĩ Dạ. Ở đó có bức tranh quê hương đẹp đẽ tuyệt vời. Nhà thơ chọn khung cảnh buổi sáng để nói về thiên nhiên nơi đây. Hình ảnh “nắng” được nhắc đến hai lần trong một câu thơ nhấn mạnh nét đẹp nơi đây là ánh sáng của nắng. Đến với thôn Vĩ chúng ta như được ngập tràn trong những ánh nắng của bình minh và những hàng cau dài thẳng vút lên trời. Ánh nắng nơi đây vào buổi sáng không mang cái màu “sớm mai hồng” của quê hương Tế Hanh mà nó mang màu nắng tinh khôi nhẹ nhàng thanh khiết. Ánh nắng của trời đất như soi tỏ xuyên chiếu vào từng thân cau đọt cau khiến cho những cây cau cũng trở nên lung linh trong nắng sớm. nắng chiếu cả xuống những mảnh vườn của con người Vĩ Dạ khiến cho màu xanh trở nên trong trẻo như ngọc vậy. Tính từ “mướt” như thể hiện được sự tốt tươi sinh sôi nảy nở của thiên nhiên nơi đây. Ban sang bắt đầu một ngày mà hình ảnh thiên nhiên nơi đây dịu dàng mà lại lung linh đến như vậy. Nhắc đến Huế người ta không chỉ biết đến những con người dịu dàng thơ mộng mà còn biết đến thiên nhiên cũng dịu dàng như con người vậy. Tiếp theo bức tranh quê Vĩ Dạ được nhà thơ khám phá vào lúc tối đến đêm về. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ lại chọn hình ảnh thiên nhiên vào buổi tối và buổi sáng. Mà có lẽ là do bức tranh quê hương Huế hiện lên ở hai khoảnh khắc thời gian đó đẹp nên nhà thơ nhớ đến và miêu tả về nó: “Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?” Hình ảnh gió, mây, sông, nước, con thuyền, hoa bắp hiện lên cũng thật sự thu hút hấp dẫn người đọc. Nếu bức tranh buổi sớm tinh khôi trong trẻo thế nào thì đến buổi tối lại hắt hiu đến thế. Nó không còn sự sinh sôi nảy nở tươi tốt nữa mà nó mang một nét thơ mộng nhưng phảng phất nỗi buồn. Vốn thường là gió thổi mây bay mà nhà thơ lại nói là gió theo lối gió mây đi đường mây. Phải chăng chính tâm trạng buồn thương của mình cho nên hình ảnh cũng mang tính chia ly chi a cắt đến như thế?. Tuy nhiên trước mắt chúng ta vẫn hiện lên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp. Nó vẫn không tài nào dấu đi được sự nhẹ nhàng đặc trưng của xứ Huế. Gió chỉ nhẹ nhàng khẽ thổi khiến cho cành hoa bắp khẽ lay chứ không tài nào rung rinh được. Lẽ nào đến cây cối nơi đây cũng nhẹ nhàng như con người. Trăng không thể thiếu trong một cảnh đêm tuyệt đẹp càng không thể thiếu được trong xứ Huế thơ mộng này. Ánh trăng như soi tỏa in hình dáng mình lên dòng sông kia. Con thuyền đứng cạnh đó như đang chuẩn bị trở trăng về. Thật là một hình ảnh thơ mộng biết bao, ở đây thuyền không gắn với biển mà gắn với hình ảnh của trăng. Tất cả những hình ảnh ấy tạo nên một bức tranh thiên nhiên thơ mộng lung linh trữ tình. Bức tranh xứ Huế còn hiện lên mờ ảo trong hình ảnh của khách đường xa, sương khói mờ nhân ảnh: “Áo em trắng quá nhìn không ra… Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” Lúc nào cũng thế Huế luôn mơ màng và thơ mộng khiến cho người ta thấy thương thấy nhớ vô cùng. “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Hay “Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?” Có thể nói nhà thơ phải là một người yêu thiên nhiên lắm thì mới có thể miêu tả một bức tranh thiên nhiên quê đẹp đến như vậy. Ngay cả khi tâm trạng ông rất là buồn, đau khổ, nhớ thương dằn vặt khiến cho hình ảnh thiên nhiên cũng mang sự chia cắt nhưng càng chia cắt càng bi kịch thì lại càng thể hiện sự yêu đời yêu thiên nhiên của nhà thơ. Bởi lẽ trong bị kịch ấy nhà thơ vẫn thể hiện sự khao khát được sống, được yêu thương được hòa nhập với cuộc đời này. Một tình cảm minh chứng cho sự yêu đời của Hàn Mạc Tử đó chính là tình yêu, sự nhớ thương tới người con gái năm ấy. Hình ảnh người con gái hiện lên với nét đẹp của đặc trưng của con người xứ Huế đó là nét đẹp phúc hậu, kín đáo qua hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Không những thế dù Kim Cúc đã đi lấy chồng, mặc cho hoàn cảnh khó khăn cũng như bệnh tình của mình nhà thơ vẫn thương vẫn nhớ người con gái Huế ấy. Qua đây ta thấy được bức tranh quê tinh khôi trong trẻo, lãng mạn thơ mộng lung linh và tấm lòng yêu đời của con người tài năng nhưng bạc mệnh. Dù sống trong hoàn cảnh đau đớn của bị kịch tinh thần và bệnh tật nhưng niềm yêu đời của nhà thơ mãi như ngọn lửa sáng trong đêm trường, dù cho mọi đau đớn dằn vặt ông vẫn giữ nguyên tấm lòng yêu người yêu đời ấy.
Phân tích bức tranh quê và tấm lòng yêu đời của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ
1,396
Đề bài: Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu Bài làm “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam” Trong những năm tháng nô lệ đau thương của đất nước, rất nhiều những chiến sĩ trung kiên của cách mạng Việt Nam đã bị bắt giam trong những nhà tù thực dân. Nhưng từ bóng đêm căm hờn vẫn vút lên những tiếng thơ bày tỏ niềm say mê, khao khát với cuộc đời. Bài thơ “Khi con tu hú” của Tố Hữu là một trong số ấy. Sáu câu thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh thiên nhiên rực rỡ thể hiện sự phong phú, sôi nổi và niềm yêu đời tha thiết của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín, trái cày ngọt dần. Vườn răm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Bài thơ " Khi con tu hú" sáng tác tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng bị địch bắt giam tại lao Thừa Thiên – Huế (Tố Hữu bị địch bắt tháng 4-1939 – khi nhà thơ mới 19 tuổi). Bài thơ thể hiện tâm trạng ngột ngạt của người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh. Tâm trạng ấy càng trở nên bức bối khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài. Giữa tháng hè nắng lửa, giữa cái im lìm đáng sợ của chốn lao tù chợt vang lên tiếng tu hú gọi bầy: “Khi con tu hú gọi bầy” Trong tiềm thức của con người Việt Nam, tiếng tu hú là tiếng gọi mùa: 'Tu hú kêu, tu hú kêu, hoa phượng nở, hoa gạo đỏ đầy ước mơ hi vọng…". Đó là mùa hạ chói chang ánh nắng và đi cùng với đó là những sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Tiếng tu hú thân quen bất chợt vang vọng gợi lên trong tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi đang sục sôi ước mơ, khát vọng nhưng bị mất tự do ấy bao suy tưởng về một mùa hè ngập tràn màu sắc và niềm vui. Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần. Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hat đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Mùa hè được tái hiện trong tâm trí người tù rất chân thực, màu sắc hài hòa với những âm thanh sống động. Đó là màu rộm vàng của lúa chín, sắc đỏ lấp ló của quả ngọt, màu vàng tươi của ngô, sắc đào tươi của nắng, màu xanh thẳm của trời cao… tiếng ve ngân râm ran, tiếng sáo diều vi vút… Chao ôi! Đẹp đẽ quá! Rạo rực quá! Mới hồi tưởng thôi đã đủ cồn cào khao khát lao ra trời cao mà nhảy nhót hát ca. Tác giả đã vẽ lên bức tranh mùa hè sông động và tươi tắn bằng những từ ngữ giản dị, nhưng đầy sức gợi hình, gợi cảm. Nếu không có niềm gắn bó tha thiết với cuộc đời, không có niềm khao khát tự do mãnh liệt, không có một tâm hồn tinh tế nhạy cảm và một trí tưởng tượng vô cùng phong phú thì nhà thơ không thế viết được những câu thơ tuyệt vời đến thế…. Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật tả cảnh rất sinh động, cụ thể và gợi cảm, các từ ngữ lựa chọn có giá trị tạo hình. Đặc biệt, phép liệt kê được vận dụng tạo ra những ấn tượng huy hoàng về một mùa hè phong phú, sôi động đong đầy ước mơ và khát vọng tuổi trẻ. Hình ảnh thiên nhiên mùa hè hiện lên trong tâm hồn nhà thơ trong cánh lao tù ấy đã thể hiện niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm nén nổi. Đoạn thơ đã cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ xả thân vì lí tưởng cao đẹp đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng.
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu
743
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tây tiến của Quang Dũng Bài làm “Đường lên Tây Bắc vút xa mờ. Đường lên Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ… Gặp lại dấu chân cha ông, gặp lại chín năm gian khổ”. Những giai điệu trong bài hát Hành quân lên Tây Bắc của nhạc sĩ Nguyễn An Thuyên đã hơn một lần đưa ta ngược về thời gian, vượt qua khoảng cách không gian về với núi rừng Tây Bắc của một thời đạn lửa. Giữa rất nhiều tác phẩm văn chương nói chung và văn học thời kì kháng chiến chống Pháp nói riêng in đậm dấu ấn vùng cao Tây Bắc, Tây Tiến của Quang Dũng là bài thơ có vị trí đặc biệt. Đọc Tây Tiến người ta không chỉ thấy hiện lên sừng sững bức tượng đài người lính mà còn ấn tượng sâu sắc về bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng không kém phần thơ mộng, lãng mạn. Tây Tiến (1948) là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng. Bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – hoạ. Cả Tây Tiến là một nỗi nhớ khôn nguôi của nhà thơ về một vùng đất một thời trận mạc. Vậy nên, khi nhắc đên địa danh này, ta nhận thấy những kí ức của quá khứ hiện về thật tươi nguyên, nó chen lấn thực tại, tạo nên độ nhoè giữa hai không gian: không gian hiện tại và không gian hồi tưởng. Bởi thế, dù lạ lẫm, qua hồn thơ và nỗi nhớ Quang Dũng, các địa danh ấy xâm chiếm cõi nhở người đọc, giúp họ yên tâm cùng “ Quang Dũng -trôi’ về một vùng đất đẹp đẽ, dữ dội và mộng mơ, đằm thắm. Bao trùm nền cảnh Tây Bắc là vẻ hùng vĩ dữ dội, hiểm trở. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến như mờ ảo, ẩn hiện trong sương khói. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi. Những bản mường xa lạ được nhắc đến với bao kỉ niệm yêu thương. Quang Dũng là một trong những nhà thơ đã dùng thơ để gợi nhớ trong hồn người những địa danh, những tên làng, tên bản, tên núi, tên sông của quê hương đất nưỏc vối bao ý vị đậm đà. Ông không trao nỗi nhớ của mình những địa chỉ “vu vơ”, ông điểm danh từng tên cụ thể: sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… và sự mặt của các địa danh này lập tức gợi ra ý niệm về sự cách trở, hoang sơ. Những địa danh đã gắn bó vơi đầy với tác giả và đi sâu vào tâm thức nhà thơ. Đoàn quân Tây Tiến hành quân trong biển sương mù dày đặc, trong màn đêm hơi núi, gió rét căm căm của chốn “thâm sơn cùng cốc”. Sương lấp đường đi, lấp dáng người trong mờ mịt. Những nẻo đường hành quân chiến đấu như kéo dài vô tận: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Ba câu thơ là một minh chưng tiêu biểu cho quan niệm “thi trung hữu hoạ”, bởi những hình ảnh trong bức tranh thơ này được vẽ lên bằng những đường nét có sức khái quát lốn và mang tính đặc trưng cao. Nó đã gây được ấn tượng mạnh mẽ và gợi ra trong tâm trí người đọc vẻ trùng điệp, hoang vu, hiểm trở của núi rừng Tây Bắc. Cao hơn những màn sương che lấp bóng dáng đoàn quân đang vượt dốc, vây bọc lấy những bản làng trong hơi lạnh là những đỉnh núi gập ghềnh, hiểm trở cao ngàn thước có mây phủ kín bốn mùa. Lên tới đỉnh, đầu người lính và mũi súng tưởng như chạm vào trời cao: “súng ngửi trời’ Dưới chân họ lại là những vực sâu thăm thẳm ngàn thước. Câu thơ như được ngắt làm đôi, vẽ ra hai chặng của con đường hành quân, diễn tả rất đạt sự chênh vênh, cheo leo của đèo và dốc giữa lưng chừng núi. Với câu thơ có nhịp điệu bẻ đôi đột ngột trong sự đối lập tương phản, người đọc có thể hình dung dốc lên cao rồi đổ xuống gần như thẳng đứng. Nhìm lên cao thì hun hút không cùng, nhìn xuống thì sâu thăm thẳm đến chóng mặt. Những hình ảnh thơ giàu chất nhạc, chất hoạ đã gợi tả một Tây Bắc hùng vĩ dữ dội hiểm trở để gợi nhớ một thời Tây Tiến đầy gian khổ, gian khổ đến nỗi: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”. Gian khổ tưỏng như đã vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Những tên địa danh không gần gũi dân dã như thôn Đoài thôn Đông trong thơ Nguyễn Bính mà vô cùng xa lạ với người đọc nhưng chính những địa danh ấy đã liên tiếp vẽ lên con đường Tây Tiến một thời như khắc như tạc vào tâm trí người đọc núi non gập ghềnh hiểm trở miền Tây Bắc. Miền Tây còn là nơi ngự trị của vẻ âm u, hoang dã, là nơi đầy những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian với mà còn được khám phá ở chiều thời gian với những đe doạ khủng khiếp luôn luôn rình rập; Chiều chiều oai linh thác gấm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “Chiều chiều” và “đêm đêm” – những khoảng thời gian gợi nỗi buồn trong lòng người thì chỉ nghe thấy tiếng cọp trêu người và tiếng thác sông Mã gầm thét. Điều đó càng gợi sự hoang sơ âm u của núi rừng Tây Bắc. Nghệ thuật phối thanh trắc: “Mường Hịch – cọp trêu người” hai dấu nặng liền kề gợi cái nặng nề như bước chân thú dữ đang rình rập đe doạ con người. Rừng già miền Tây Bắc hoang sơ âm u bí ẩn luôn là thử thách với người chiến sĩ trên con đường hành quân. Vượt qua vẻ hùng vĩ dữ dội, vượt lên trên sự hoang sơ khắc nghiệt của rừng núi Tây Bắc, người đại đội trưởng binh đoàn Tây Tiến khi xưa nhớ về chốn cũ còn ghi tạc trong mình về một miền Tây thơ mộng và lãng mạn: Mường Lát hoa về trong đêm hơi Hình ảnh nhân hoá “hoa về” gợi nhiều liên tưởng: có thể là hoa nở trong đêm sương, có thể “hoa” là ngọn đuốc trong đêm hành quân, cũng cỏ thê hiêu là bóng dang người đẹp… “Đêm hơi” tái hiện không gian núi rừng huyền ảo thơ mộng trong màn sương mỏng manh bồng bềnh. Câu thơ phối nhiều thanh bằng gợi cảm giác như sương như hương, như hoa, như hôn người. Hình ảnh hoa về là hình ảnh đa nghĩa, là điểm sáng làm rõ vẻ đẹp tâm hồn người lính, xua đi những mệt mỏi trên con đường hành quân. Giữa mạch thơ khắc hoạ tập trung cái dữ dội tột đỉnh của thiên nhiên miền Tây, Quang Dũng đã thả một câu thơ toàn thanh bằng với nhạc điệu lâng lâng, mênh mang thể hiện ánh măt nhìn vô cùng bay bổng của người lính Tây Tiến: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi “Mưa xa khơi” là hình ảnh tả thực những cơn mưa xối xả nơi núi rừng Tây Bắc bằng cách lấy mưa biển tả mưa rừng. Câu thơ còn như tiếng thở phào nhẹ nhõm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, qua một không gian mù mịt sương rừng mưa núi thấy thấp thoáng những ngôi nhà như những cánh buồm bồng bềnh trên biển khơi, trong một “đêm hơi” mơ hồ huyền ảo… gợi một niềm đầm ấm thân mật trong lòng người. Câu thơ như một gam màu lạnh giữa những gam màu nóng làm dịu lại cả đoạn thơ. Những địa danh “Mường Lát”, “Pha Luông” đọc lên nghe êm dịu phù hợp với nét thơ mộng của cảnh không gian được mỏ rộng ra bát ngát vừa cao rộng vừa xa vừa mờ như một bức tranh thuỷ mặc. Thiên nhiên Tây Bắc là vậy, hùng vĩ hiểm trở nhưng cũng rất đỗi trữ tình lãng mạn, để lại dấu ấn khó phai trong kí ức người lính Tây Tiến. Bốn câu sau của đoạn thơ thứ hai về bức tranh sông nước miền Tây là nét vẽ hoàn chỉnh về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Cảnh vật Tây Bắc trong bốn câu thơ này cũng vẫn được dệt nên bằng cảm xúc hồi tưởng, là sự tiếp nối của cái nỗi “nhớ chơi vơi" ở phần đầu bài thơ, là sự tiếp theo của nỗi nhớ “hội đuốc hoa” ở bốn câu trước, cảnh Tây Bắc ở đây là một buổi chiều Châu Mộc được giăng mắc bởi một màn sương mờ, có dòng sông đôi bờ lặng lẽ, hoang dã như đôi bờ tiền sử, như một miền co tích. Một lần nữa, hình ảnh sương khói lại xuất hiện trở thành không gian đặc trưng về Tây Tiến trong nỗi nhớ, trở thành thời gian của hoài niệm đẹp đẽ, mờ ảo của sương khói miền Tây Bắc. Cũng giống như Chế Lan Viên khi nhớ về Tây Bắc: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Người và cảnh hoà quyện với nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa có hồn vừa man mác, xa xăm. Bởi nhớ cảnh núi rừng miền Tây trong buổi chiều sương nhưng là nhớ tới hồn lau. Hình ảnh hồn lau đầy thơ mộng là một nét đẹp của chiều sương Châu Mộc. Mùa xuân hoa lau nở tím rừng, sang thu hoa lau nở trắng rừng. Hoa lau, cờ lau phất phơ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu. Câu thơ “Cỏ thấy hồn lau nẻo bến bờ” đúng là câu thơ mang đậm chất tâm hồn thi nhân” (GS. Phan Cự Đệ). Rồi, trên cái nền của dòng sông đậm sắc màu cổ tích và huyền thoại ấy, nổi bật lên hình dáng thướt tha, uyển chuyển của cô gái vùng cao trên chiếc thuyền “độc mộc” cùng cái tình tứ “đong đưa” làm duyên của những bông hoa bên dòng nước lũ. Những câu thơ chỉ gợi không tả song cũng đủ sức vẽ lên một bức tranh Tây Tiến sống động huyền ảo. Cả núi rừng khi thì thấp thoáng trong màn sương lạnh, khi thì ẩn hiện trong cơn mưa xa khơi, lúc lại chìm trong màn sương như thực như mộng. Những nét chấm phá rất mảnh rất nhẹ nhưng sống động cho thấy vẻ đẹp tâm hồn tinh tế nhạy cảm của người lính bất chấp hiện thực khốc liệt của chiến tranh, người lính Tây Tiến vẫn mở lòng cảm nhận nâng niu những nét đẹp riêng của núi rừng. Đằng sau những câu thơ giàu chất nhạc, chất hoạ là tấm lòng Quang Dũng gắn bó yêu thương tha thiết với cuộc sống con người miền Tây. Thiên nhiên trong cái nhìn của người chiến sĩ Tây Tiến giống như một tác phẩm hội hoạ tuyệt vời. Những nét vẽ táo bạo khoẻ khoắn, ngôn ngữ gân guốc ở đoạn đầu khi phác hoạ núi cao rừng thẳm dữ dội kết hợp với những nét vẽ thật nhẹ nhàng, ngôn ngữ mềm mại, nhịp thơ êm ả thơ mộng khi tả cảnh sông nước miền Tây. Và trên hết, thiên nhiên Tây Bắc chính là phông nền để người lính Tây Tiến hiện lên như những ngưòi anh hùng phi thường của sử thi thời chống Pháp. Đó chính là cái tài hoa của ngòi bút Quang Dũng. Sáu mươi sáu năm đã trôi qua, bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng đã vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian mà đứng vững, đi vào lòng người vì những rung động, của tác giả không chỉ về đoàn quân Tây Tiến mà còn về bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp – vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ và thơ mộng của một miền Tổ quốc. Độc giả ngày càng có vốn văn hoá sâu rộng, tâm hồn ngày càng tinh tế, đa dạng hơn ắt là sẽ càng cảm và yêu mến Tây Tiến.
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tây tiến của Quang Dũng
2,136
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hướng dẫn Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Bài làm Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh. Nỗi đau về bệnh tật, nỗi đau về một kiếp sống ngắn ngủi đã khiến cho những vần thơ của ông thấm đẫm một nỗi buồn da diết. “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng là một bài thơ được nhà thơ sáng tác vào những năm cuối đời của mình, với nỗi niềm tiếc nuối với mối tình với cô gái trong mộng chưa kịp chớm nở đã bị số phận trớ trêu cắt đứt. Bài thơ cũng là một bức tranh về thôn Vĩ Dạ thơ mộng bên bờ sông Hương, thật đẹp, những vẫn thấm đẫm một nỗi buồn da diết, bâng khuâng của Hàn Mặc Tử. Sau câu hỏi đầu tiên: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, câu hỏi vừa như một lời trách móc nhẹ nhàng, vừa như một lời mời về với thôn Vĩ Dạ, toàn bộ cảnh vật nơi đây hiện dần lên qua những dòng thơ của Hàn Mặc Tử. “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Khung cảnh thôn quê mộc mạc nhưng cũng vô cùng đẹp đẽ hiện lên trước mắt người đọc qua từng câu thơ. Từ cổng vào, đã thấy hàng cau thẳng tắp, xanh mướt. Từng tia nắng chiếu trên hàng cau ấy. Nắng mới lên là một màu nắng nhạt, không quá chói chang và cũng không gây ra cảm giác nóng nực của nắng trưa. Nắng mới lên trải đều lên hàng cau, biểu hiện cho một sức sống mãnh liệt, một vẻ đẹp trẻ trung, khỏe khoắn, sinh động. Vào đến sâu trong vườn, cũng lại chỉ thấy một màu xanh của cây cối, của lá trúc. Cả khu vườn xanh mướt, mượt mà đến lạ lùng. Từ “mướt” ở đây, để chỉ một màu xanh bóng, tựa như mọi nơi đều là màu xanh, xanh đến lạ lùng. Màu xanh ngọc ở đây,cũng có thể là do nắng chiếu xuyên qua lá tạo thành màu xanh ngọc, cũng có thể là do nắng chiếu lên những giọt sương sớm còn đọng trên phiến lá tạo thành những viên ngọc long lanh, đẹp tuyệt vời. Trong không gian xanh mộc mạc, giản dị nhưng cũng tuyệt đẹp đó, con người xuất hiện khiến cho cảnh vật càng trở lên sinh động. Tác giả không nói rõ người ấy là ai, cũng chẳng rõ hình dáng khuôn mặt, chỉ biết người ấy ẩn ẩn hiện hiện sau màu xanh của lá trúc. Đó cũng có thể là một người đang chăm sóc vườn, cũng có thể là một người khách đến thăm. Phóng mắt ra xa, chính là trời đất, gió mây, sông nước: “Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?” Tuy vẫn là cảnh thiên nhiên, nhưng nó đã bị vương một chút gì đó của sự tan rã, chia ly. Gió thổi mây bay, từ xưa đến nay gió với mây vốn vẫn luôn quấn quýt với nhau, chẳng mấy khi tách rời. Vậy mà ở đây, gió đi một đường, mây đi một nẻo, hai con đường ấy không trùng nhau. Gió với mây chia ly, dòng nước cũng trở nên buồn bã, hiu quạnh. Tất cả như dừng lại vì chán nản, chỉ còn những bông hoa bắp ở hai bên bờ khẽ khàng lay động, như vô tình không biết, hay có lẽ là đang quan tâm, an ủi dòng sông đang buồn trước cảnh chia ly. Giữa cảnh thực, Hàn Mặc Tử bỗng lại vẽ lên con thuyền và bến sông trăng. Thuyền sắp đi, liệu có chờ kịp trăng để chở trăng về tối nay. Cái mờ ảo thấm đẫm từng câu thơ, hư hư thực thực. Thuyền trăng, bến sông trắng, đó chỉ là những thứ mà tác giả tưởng tưởng ra, là ảo ảnh, là sự tiếc nuối, lỡ làng của một kiếp sống dở dang với đời, với tình. “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo xem trắng quá, nhìn không ra” Từ “mơ” được đặt ở đầu câu, có thể hiểu đó là mơ ước, cũng có thể là giấc mơ. Người con gái ở nơi xa luôn ở trong tim, trong tâm và đi theo cả nhà thơ vào trong mơ. Đó là do sự nhớ mong da diết người ở phương xa, nên bất cứ lúc nào cũng có thể nhầm tưởng, cũng có thể mơ tới. Thế nhưng, nhớ nhung thì sao, bởi vẫn là sự chia ly. Em đã là “khách đường xa”, anh cũng chẳng thể nhìn thấy em được nữa. Vì đã là người khách đi xa, bóng hình em cũng chỉ còn là những hình ảnh nhạt nhòa, mở ảo mà thôi. Màu áo dài trắng là một màu đặc trưng của những người con gái Huế, tác giả cũng muốn nhắc đến vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện của người con gái ấy. Mãi mãi, người con gái ấy vẫn luôn đẹp trong tâm trí nhà thơ. Thế nhưng, với một cuộc sống ngắn ngủi, nhà thơ chỉ biết thốt lên lời than: “Ở đây sương khói mở nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?” Sương khói mờ nhân ảnh, hay cũng chính là cuộc đời lắm chông gai, lắm biến cố, lắm thứ làm người ta mờ mắt. Giữa nhân gian bụi bặm, liệu người còn ghi tạc mối tình năm ấy hay là đã quên rồi? Câu thơ cuối, không rõ là ai hỏi ai, có thể là hà thơ hỏi người tình nơi xa, cũng có thể là nhà thơ tự vấn chính mình. Câu hỏi cũng như tiếng kêu thắt ruột, của một con người cuộc đời dở dang mà tình duyên cũng dang dở. Đoạn cuối khổ thơ đầy những hình ảnh hư hư thực thực, như toàn bộ những cảm xúc tuyệt vọng, đau khổ, nhớ nhung…đang vây lấy nhà thơ.
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
1,029
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử Hướng dẫn Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử Bài làm Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng của nền thơ ca Việt Nam. Ông là người đi tiên phong cho dòng thơ lãng mạn hiện đại của Việt Nam, và là người khởi xướng ra Trường Thơ Loạn. Phong cách thơ của ông luôn có cái tôi riêng, nhưng lại theo hướng hơi “ điên” với những vần thơ tưởng như sắp vượt ra khỏi hiện thực. Nhưng bên cạnh đó cũng có những bài thơ nhẹ nhàng lãng mạn với những áng thơ rất đẹp. “ Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ như vậy, một bài thơ đẹp đẽ về tình yêu cùng với thiên nhiên tươi đẹp, mát lành. Đọc bài thơ, người đọc cảm nhận đây có lẽ là bức thư tình của tác giả gửi cho một cô gái tên Kim Cúc. Bài thơ là tiếng lòng, tâm sự muốn thổ lộ của Hàn Mặc Tử. Bài thơ mở đầu bằng những lời lẽ tưởng như trách móc nhưng lại rất nhẹ nhàng, chất chứa biết bao tình cảm: Sao anh không về chơi thôn Vỹ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Đọc những câu thơ này, người đọc ắt hẳn sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh cô gái đang trách móc người yêu “ sao anh không về chơi” thôn Vỹ mộng mơ. Thôn Vỹ đẹp như vậy, nên thơ như vậy, nhưng lâu lắm mà anh không đến. Đây là một lời trách móc nhưng cũng mang tính chất đợi mong điều gì đó. Khung cảnh thôn Vỹ như một bức tranh dần hiện lên qua từng câu chữ của tác giả. Không gian miền quê yeen bình với ánh nắng sớm mai tinh khiết, trong lành. Bầu trời cao và xanh hơn bao giờ hết. Hình ảnh “ vườn ai” có lẽ để chỉ ai đó mà chỉ có ai kia mới biết. Sự kín đáo đầy tinh tế và sâu sắc. Hàn Mặc Tử sử dụng từng ngôn từ, từng câu chữ rất đẹp, nhẹ nhàng mà lãng mạn. Khu vườn có màu “ xanh như ngọc” chứ không phải màu xanh thường thấy. Một khu vườn tươi mát đầy sức sống, tràn đầy tình yêu và lãng mạn. Trong khung cảnh đó, con người thấp thoáng xuất hiện nhưng vẫn chưa rõ ràng, phải chăng đây là một vị khách từ xa đến chơi mà không báo trước. Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay. Hàn Mặc Tử tạo nên sự khác biệt với lẽ thường khi để “ gió theo lỗi gió, mây đường mây” mà không phải là mây gió luôn gắn liền với nhau. Phải chăng đây là sự chia ly khiến cho người ta đau lòng? Người ta có cảm giác vụn vỡ, tan nát cõi lòng khi đọc hình ảnh “ hoa bắp lay” rơi rụng xuống dòng sông. Hàn Mặc Tử mượn thiên nhiên để nói đến tâm sự của mình hiện tại, đó là một nỗi buồn đến tê tái, rụng rời. Ông còn dùng thuyền và trăng để nói thay cho nỗi lòng của mình. Một sự mơ hồ, kỳ ảo đặc trưng trong thơ của Hàn Mặc Tử. Hình ảnh “ sông trăng” nên thơ, huyền diệu, có lẽ là đêm trăng đẹp, tròn đầy, lãng mạn nhất. Vậy mà cuối khổ thơ lại là một câu hỏi đang bỏ ngỏ chưa csos lời đáp. Nhịp thơ khiến cho câu thơ trở nên vội vàng, gấp gáp hơn. Ở khổ thơ cuối, một màu sắc của sự kỳ ảo bao trùm toàn bộ không gian: Mơ khách đường xa khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà. Đến đây, người đọc có thể chắc chắn rằng, nỗi nhớ đã quá lớn, quá sâu đậm khiến cho “ khách đường xa” đã lạc bước cả vào trong giấc mơ, tưởng gần nhưng cũng chẳng thể chạm đến được. Có lẽ tác giả đã đợi chờ, mong mỏi đến hao gầy vì một mối tình. Thêm vào đó, gam màu trắng bao chùm khổ thơ càng khiến cho khung cảnh trở nên kỳ ảo. HÀn Mặc Tử dường như đang lo lắng, không biết rằng mối tình của mình sẽ đi đến đâu? Có đến được bến bờ hạnh phúc không? Bởi tác giả không chắc chắn rằng tình ngwoif ta có đậm đà như đã hẹn thề với nhau hay không? Có cảm giác mọi thứ dần vụn vỡ, tan ra khiến mặt sông trở nên huyền ảo, mơ màng sương khói. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử
826
Phân tích bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều-Nguyễn Du) Hướng dẫn Bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều qua 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều-Nguyễn Du) Mở bài: Truyện Kiều là kiệt tác văn học bất hủ của nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Thiên tài Nguyễn Du viết Truyện Kiều và khoảng thời gian sau khi đi xứ Trung Quốc trở về. Sau khi ra đời, tác phẩm nhanh chóng được nhân dân say mê đón nhận. truyện Kiều trở thành một phần tinh thần, ăn sâu vào trong đời sống văn hóa của dân tộc. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích tái hiện chân thực bức tranh tâm trang của Thúy Kiều khi bị “giam lỏng” ở lầu Ngưng Bích. Đặc biệt ở 8 câu thơ cuối, tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng được đẩy lên đến cực đỉnh, thể hiện tài năng khắc họa tâm lí con người của thiên tài Nguyễn Du. Thân bài: Sau khi biết mình bị Mã Giám Sinh lừa bán vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức rút dao toan tự vẫn. May thay, Tú Bà kịp thời can ngăn. Sợ mất đi vốn liếng, Tú Bà bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ hết mực. Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục, sẽ gả cho người tử tế; rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới. Vừa mới bước vào đời đã vấp phải thói đời giả trá, lừa lọc khiến nàng vô cùng đau đớn. Vừa tủi thân mình lại vừa giận số kiếp bạc bẽo. Ở lầu Ngưng Bích cô vắng, quạnh hiu nàng không nguôi nhớ nhung da diết. Mở đầu là bức tranh đặc tả tâm trạng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích qua cảnh vật đìu hiu, hoang vắng đến thê lương. * Nhìn ra cửa biển xa xa: “Buồn trông cửa bề chiềm hôm Thuyền ai thấp thoánh cánh buồm xa xa!”. Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều. Tại lầu Ngưng Bích cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo. Không một biện pháp tu từ, mà gói trọn cả một tâm trạng thầm buồn “buồn trông”, một không gian buồn “cửa bể”, một thời gian đượm buồn chiều hôm của một người đang lẻ loi, ngóng đợi. Ngay bây giờ đây, hơn lúc nào hết, nàng cần có người bạn tâm giao để giải bày tâm sự nhưng tất cả chỉ là vô vọng. “Thuyền ai thấp thoáng”, giống như một niềm tin an ủi đối với Kiều trong lúc cô đơn. Dù sao nàng vẫn còn trông thấy những hoạt động sống. Nơi biển khơi xa “thuyền ai” thấp thoáng tưởng như để hỏi nhưng không phải. Đó là tiếng kêu đau thương, là sự với tìm trong vô vọng. Nàng cố tìm một điểm tựa để nương náu tinh thần cho bớt chơi vơi. Thế nhưng càng tìm kiếm càng thấy xa vắng hơn. Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâm nàng Kiều. Trước mắt nàng đó là hình ảnh một “cánh buồm” nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi giữa mênh mông trời nước, bơ vơ trên mặt biển lúc “chiều hôm” vừa ập xuống… Nàng ngước nhìn xa xa phía chân trời góc bể, không thấy gì hơn ngoài cánh buồm thấp thoáng nơi khơi xa. Từ “xa xa” gợi lên khoảng cách xa đến vô vọng. Cánh buồm là hình ảnh của con người, là nơi nương tựa tinh thần thế nhưng nó ở xa quá. Có mà như không có. Cánh buồm còn là biểu tượng của kẻ đến người đi, mang theo tin tức, đồng cảm, sẻ chia cùng con người. Tưởng như nó sẽ làm cho không gian bớt rộng, trở nên gần gũi và ấm áp hơn. Nhưng ngược lại, cánh buồm ấy chỉ thấp thoáng càng làm cho mặt biển mênh mông trở nên rộng đến vô cùng. Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt. Cũng như Kiều trong không gian vắng lặng của hiện tại nhìn về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương. Con thuyền gần như mất hút, vẫn còn lênh đênh trên mặt biển khi mà những con thuyền khác đều đã cập bến, biết bao giờ mới tìm được bến bờ neo đậu. Cũng như Kiều còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với những người thân yêu. Câu thơ mang dáng dấp một câu hỏi như xoáy mãi vào tâm can người đọc bao thế hệ, để lại trong ta những nỗi niềm day dứt, trăn trở. Nàng Kiều hỏi rồi lại tự mình càng đau đớn, càng xót xa hơn. Những từ tượng hình “thấp thoáng”, “xa xa” gợi lên hình ảnh mơ hồ của con thuyền hay chính là nỗi nhớ mong vô vọng. Âm điệu thơ rã rời, trầm lắng hẳn… * Nhìn dòng nước chảy: Trong tầm nhìn gần hơn, có biết bao hình ảnh thiên nhiên chợt ùa vào trong mắt Kiều. Trên dòng nước uốn quanh, bông hoa lững lờ trôi, bất giác nàng nghĩ đến phận mình: “Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?” Đọc câu thơ ta hình dung một “ngọn nước” đổ mạnh, cuốn theo nó là cánh hoa bé nhỏ trôi về phương trời vô định. Cánh hoa bọt bèo kia hay chính là thân phận nàng Kiều chìm nổi, lênh đênh giữa dòng đời mênh mang. Cánh hoa ấy đang bị vùi dập như cuộc đời “bạc mệnh” của Thúy Kiều. Hình ảnh “hoa trôi”, “về đâu” gợi cảm ấy khiến cho Kiều “man mác” buồn khi chạnh nghĩ đến thân phận bèo mây nổi trôi theo dòng đời chấp chới. Trước mắt, Kiều vẫn chưa biết mình sẽ đi đâu về đâu giữa biển đời rộng lớn này. Số phận nàng dường như một ẩn số với bao điều tăm tối. Còn gì đau đớn, xót xa hơn khi con người ta đã bị mất quyền làm người, tồn tại mà như bị phủ nhận, bị lãng quên. Nỗi đau trong lòng nàng Kiều nghe sao tê tái, thê lương. * Nhìn vào nội cỏ, mặt đất mịt mờ: Nỗi lòng ấy, tâm sự ấy không chỉ dừng lại ở đó mà tiếp tục lan ra, bao trùm cảnh vật: “Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”. Nội cỏ “dầu dầu”, chân mây, mặt đất “xanh xanh” tuy đầy màu sắc mà ảm đạm vô cùng. Sắc xanh héo úa, mù mịt, nhạt nhòa trải dài từ chân mây đến mặt đất. Cảnh vật úa tàn hay chính cuộc đời, tâm hồn nàng Kiều đang một ngày tàn tạ, héo úa. “Màu xanh xanh” ấy gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ. Nàng dường như mất cả nhận thức về thế giới thực tại, tâm trạng rơi vào trạng thái bấn loạn, hoang mang tột độ. Cái “màu xanh xanh” ấy không còn là màu của cỏ cây mà đó là màu của tâm trạng – một tâm trang hoảng hốt và sợ hãi. Có còn đâu cái “xanh tận chân trời” như sắc cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm: “Cỏ non xanh tận chân trời Cạnh lệ trắng điểm một vài bông hoa”. Cái màu “xanh xanh” héo hắt, ủ dột, cạn kiệt sức sống như ngọn cỏ vàng trên nấm mộ hoang lạnh của người kỹ nữ Đạm Tiên ngày nào mà nàng đã bắt gặp trong lễ hội Thanh minh năm ấy: “Sè sè nắm đất bên đường Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Hình ảnh cánh đồng cỏ “xanh xanh” già cỗi, héo úa trải dài “chân mây mặt đất” mờ mịt, xa xâm quá, phải chăng tương lai phía trước của Thúy Kiều cũng rất mịt mờ cùng quẫn, bế tắc, không lối thoát hay đó cũng chính là nỗi buồn vô tận cho cuộc sống tẻ nhạt, vô vị mà nàng đang phải cắn răng chịu đựng. * Nhìn vào chính tâm hồn của mình: Đến hai câu thơ cuối, Kiều như đã rơi vào hoang tưởng, bế tắc tột cùng: “Buồn trông gió cuốn mặt dềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”… Cái âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” ấy hay chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công. Thiên nhiên thật là dữ dội, tiếng sóng biển “ầm ầm” quanh bốn phía hòa với những cơn “gió cuốn” gào thét nổi lên khiến cho Kiều vừa buồn, vừa lo sợ hãi hùng khi nàng mường tượng đến chặng đường đầy bão tố đang sấp ập lên cuộc đời mình. Tiếng sóng biển – hay cũng chính là tiếng lòng sóng lòng, tiếng sóng cuộc đời vang lên tiếng gõ cửa của định mệnh, muốn hất tung người con gái đơn côi yếu đuối trên điểm tựa chiếc ghế đờ nhỏ bé, chông chênh. Thực ra, xung quanh nàng nào đâu có gió, có sóng. Gió cuốn mặt dềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là do ảo giác mà ra. Nõi sợ hãi, đau đớn, tuyệt vọng đã hoàn toàn chiếm lĩnh lấy tâm hồn và toàn bộ lí trí của nàng. Giờ đây tất cả đều vô hình, chỉ có nỗi đau hiện hình, xoắn lấy và hành hạ người con gái nhỏ bé đã bất lực trước cuộc đời nghiệt ngã. Những thành công nghệ thuật của Nguyễn Du trong đoạn trích: Nguyễn Du đã rất thành công khi khắc họa đậm nét tâm lí nhân vật. Ông đã để cho Kiều nhìn cảnh vật bằng chính tâm trạng của mình nên mỗi cảnh vật đều gợi lên những bất hạnh khổ đau của cuộc đời nàng. Vương trong con mắt người con gái bán mình đang “buồn trông”, mọi hình ảnh vừa chìm, trôi dạt, vừa có cái gì như mờ mịt, nhạt nhòa. Đấy là những hình ảnh thật hay hình ảnh tưởng tượng, huyễn hoặc trong tâm trạng cô thiếu nữa đáng thương. Điệp ngữ liên hoàn“Buồn trông” giống như một điệp khúc trong khúc ca sầu thảm, tạo cho ta cảm giác nỗi buồn ấy cứ trở đi, trở lại khôn nguôi, dai dẳng, triền miên, đang ngày một thấm sâu vào tâm hồn Thúy Kiều, nhuộm lên cảnh sắc thiên nhiên, nỗi buồn mênh mang trời đất, thấm đẫm cả không gian, thời gian. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tất cả là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất. Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời “thanh lâu hai lần, thanh y hai lượt”. Âm điệu trầm lắng của đoạn thơ cùng với cách lựa hình ảnh, sắc màu, âm thanh, đường nét của tác giả trong đoạn thơ này thật dụng công. Tất cả đều phù hợp với tâm trạng của nhân vật. Đọc đoạn trích, ta thấy hình ảnh con người cứ mờ dần đi, chỉ còn lại tâm trạng nổi bật lên trên khung cảnh thiên nhiên. Từng lời thơ giống như tiếng lòng nàng Kiều đang thổn thức, tái tê. Toàn bộ đoạn trích kết hợp lại thành một bức tranh mà trong đó tâm cảnh hòa lẫn với ngoại cảnh. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình thật tài hoa, đặc sắc biết bao. Nghệ thuật ấy đã trở nên quen thuộc trong văn chương kim cổ, góp phần vào sự thành công của kiệt tác “Truyện Kiều”. Không chỉ “tả cảnh ngụ tình”, đoạn trích còn dự báo cả tương lai, số phận của nhân vật. Đúng như Kiều âu lo, sau chặng đường “bình yên trước cơn bão tố”, nàng đã rơi vào bẫy của Sở Khanh và Tú Bà để tiếp tục trở lại lầu xanh ô nhục. Kết bài Qua việc vận dụng ngòi bút miêu tả tinh tế, điêu luyện, chọn lọc hình ảnh tiêu biểu kết hợp với một giai điệu trầm buồn và bằng cả bức tranh thiên nhiên trữ tình tuyệt tác, đoạn thơ đã diễn tả tinh tế, chân thật tâm trạng “ngổn ngang trăm mối” của nàng Kiều trong một “chặng đường yên tĩnh trước cơn bão tố”… Nguyễn Du thực sự là một bậc thầy trong việc sử dụng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” và nhiêu bút pháp nghệ thuật đặc sắc khác.
Phân tích bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều-Nguyễn Du)
2,212
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu Hướng dẫn Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu Bài làm Nhắc đến Việt Bắc là ta nhớ đến hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam trước cách mạng tháng 8, một mảnh đất nặng nghĩa nặng tình- nơi chôn sâu những kí ức của chiến sĩ. Một cuộc kháng chiến với tinh thần sục sôi quýêt dành cthắg, hòa quỵên trong tình quân dân sự gắn kết giữa “mình với ta” và cứ thế sợi nhớ sợi Thươg đi vào lòng mỗi người. Nỗi nhớ dạt dào nặng sâu nghĩa tình với tâm tình người chiến sĩ đã được tố hữu khắc họa rõ nét trong bài thơ Việt Bắc Đặc biệt bức tranh tứ bình núi rừng tây bắc sinh động tràn sức sống ở khổ thơ 6 Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị với những tâm tư sâu lắng dễ dàng đi vào tâm hồn người đọc. Việt Bắc là bài thơ đã đánh dấu mốc son của đất nước, bài thơ được viết vào t10-1954 khi trung ương Đảng chính phủ và bác hồ chia tay Việt bắc về với thủ đô Hà Nội. Cả bài thơ là niềm nhớ thương hòai niệm về những ngày chiến đấu gian khổ, nhưng cũng gắn liền với niềm yêu thương chia sẻ ngọt bùi đắng cay ở chiến khu Việt bắc. Bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân hạ thu đông đã khắc họa rõ nét nhất. …. Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Trong một đọan thơ ngắn từ ” nhớ” đã lặp lại rất nhiều lần. Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối đọan. Ngay ở câu thơ đầu tiên câu hỏi tu từ mk có nhớ ta, và câu sau là câu tự trả lời. Với tố hữu khi về thủ đô không chỉ nhớ đến những ngày chiến đấu gian khổ mà còn là tình giữa hoa và người. Cảnh thiên nhiên tây bắc được tác giả ví như hoa, luôn tươi thắm rực rỡ giữa mảnh đất ấy, vẫn đua nhau khoe thắm giữa chiến trường của bom đạn. Trong bức tranh thiên nhiên là hình ảnh con người tràn đầy sức sống sự lao động cần cù và luôn giữ trong mình tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Con người, thiên nhiên gắn kết với nhau tạo nên bản sắc riêng cho Việt bắc. Bốn mùa của đất nước đi qua chỉ trong những câu văn ngắn ngọn nhưng chứa đầy màu sắc hương vị riêng của từng mùa. Mùa đông với thời tiết lạnh của miền bắc nhưng rừng vẫn biếc xanh hòa quỵên màu đỏ tươi của hoa chuối rừng. Cả núi rừng bừng ság khi hoa mơ nở báo hiệu mùa xuân về. Xuân qua hè tới với nhữa tiếng ve kêu và có cả rừng phách đổ vàng. Khi cái lạnh cái nóng đã qua là bắt đầu với không khí mát mẻ của mùa thu với những ánh trăng màu dìu dìu vàng. Đọan thơ với muôn vàng màu sắc khi chói lọi rực rỡ khi lại dịu nhẹ tinh khiết. Một bức tranh sinh động hài hòa nói lên sự chuyển giao của núi rừng theo mùa. Và khung cảnh tươi thắm ấy càng tô đậm khi hình bóng con người xuất hiện. Con người và thiên nhiên đang lồng vào nhau, một sức sống căng tràn ở tây bắc. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu
590
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – văn lớp 12 Bài làm Trong không khí hân hoan của văn chương nghệ thuật khi đón nhận thơ mới, Tố Hữu lại lựa chọn nằm ngoài làn gió thời đại, quay về với hồn phách dân tộc. Với thể thơ lục bát cổ truyền, bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu làm sống lại không chỉ hào khí của một thời lửa cháy mà còn cả tình quân dân như cá với nước. Như một bài dân ca trữ tình, từng câu thơ thắp sáng trong lòng người đọc kỷ niệm thương nhớ trong những năm kháng chiến chống Pháp ở rừng Việt Bắc. Nơi ấy không chỉ có tình người mà còn có cả cảnh vật nên thơ trữ tình, làm nên một bức tranh tứ bình mang đậm nét riêng của Việt Bắc: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Vốn mang nặng tình cảm với cảnh vật và con người nơi rừng núi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ nên một Việt Bắc không những thấm đẫm tình người mà ngày cả thiên nhiên nơi đây cũng khiến lòng người xuyến xao. Thi nhân từ trước đến nay vẫn luôn không thể cưỡng lại sức hấp dẫn của thiên nhiên, và Tố Hữu cũng vậy. Bằng vài nét phác họa, rừng Việt Bắc hội tụ cả bốn mùa hiện lên trước mắt người đọc. Bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông được gói gọn trong tám câu thơ lục bát. “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ấm dao gài thắt lưng.” Không có không khí lạnh lẽo, cũng chẳng có chút tư vị khô khốc nào của mùa đông chính là nét hay và đặc sắc trong nghệ thuật tả cảnh của Tố Hữu. Thay vì miêu tả không khí ra sao, cảnh vật như nào một cách cụ thể, ông lựa chọn những chi tiết đắt giá nhất, tiêu biểu nhất dùng làm biểu tượng cho mùa đông Việt Bắc. Ở đây là hoa chuối. Trên nền rằng xanh mát tươi non mơn mởn là màu đỏ tràn đầy ấm áp của hoa chuối. Điều này khiến cho vạn vật xung quanh đều như được sưởi ấm. Lối tả mang gợi nhiều hơn đặc tả giúp người đọc thỏa chí sáng tạo, suy ngẫm và tự vẽ nên cho mình bức tranh mùa đông Việt Bắc. Nắng ấm thậm chí không mất đi mà còn tô điểm thêm cho ánh đỏ hoa chuối, làm nó càng thêm chói lọi hơn. Hình ảnh:Dao gài thắt lưng làm khung cảnh như được tiếp thêm sức sống của hơi ấm con người, xua tan đi không khí hoang dã của vừng rừng thâm u. Đó cũng là vẻ đẹp của lao động – vẻ đẹp không bao giờ mất đi giữa cuộc sống này. Đông qua thì xuân tới mang theo trăm hoa đua nở. “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón truốt từng sợ giang.” Vùng núi Tây Bắc vốn nổi tiếng bởi ắc trăng hoa mơ hoa mận. Mỗi khi mùa mơ mận về, cả cánh rừng đại ngàn lại ngập trong sắc trắng tinh khôi như vườn địa đàng. Không khí mùa xuân lan tỏa muôn nơi, thổi bừng lên sức sống. Tràn ngập không khí là sự tinh khôi ngất ngây lòng người. Và trung tâm của khung cảnh trắng tinh khiết ấy là con người Tây Bắc đang « truốt từng sợi giang ». Bao nhiêu sợi giang là bấy nhiêu sợi nhớ sợi thương. Tuy cảnh vật tĩnh lặng nhưng lại vẫn sống động bởi sự xuất hiện của con người lao động – những con người « đẹp tựa chân lý sinh ra ». Nỗi nhớ về người và vật cứ đan xen mỗi lần nhớ về vùng núi thân quen, kéo dài từ năm này sang năm khác, khiến tâm tưởng tác giả không thôi bồi hồi xúc động. Chẳng mấy chốc mà hạ đã sang: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình” Rừng núi hạ sang thường râm ran tiếng ve kêu, nơi nơi đều tràn ngập ánh nắng cháy bỏng tuôn chảy như mật, rót lên từng tán cây, ngọn cỏ. Và đến tận bức tranh mùa hạ, con người mới hiện lên một cách cụ thể,rõ ràng. Đó là hình ảnh đầy ngọt ngào và thân thương của “cô em gái hái “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Từ bao lâu trăng thu vẫn được xem là đẹp nhất. Vậy nhưng ánh trăng ở đây không phải chỉ ánh trăng bình thường mà đó là ánh sáng của độc lập tự do, là ánh trăng sáng tỏ của các mạng tháng Tám. Và ở giữa khung cảnh khơi gợi lòng người, tình người, ánh trăng như luồn lách thật sâu vào tâm tương thi nhân đê thấy nỗi nhớ nhung trong lòng mà không có bất cứ đối tượng cụ thể nào. Nhớ nhung bâng khuâng trong câu thơ Tố Hữu khiến người đọc, người nghe nhớ đến nỗi nhớ của Nguyễn Bính Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai. Có lẽ đó là nỗi hoài niệm về những ngày tháng chung lưng đấu cật ở chiến khu Việt Bắc – nơi đầu não của cách mạng. Bốn cặp câu thơ chữ ít ý nhiều hòa vào tâm hồn người đọc, giăng mắc và vấn vương như chẳng bao giờ rời khỏi. Việt Bắc khiến trái tim nhà thơ rung động bởi vẻ đẹp ở cả cảnh vật lẫn con người. Và hơn thế, nhớ về Việt Bắc, Tố Hữu còn đang nhớ lại tình nghĩa nặng sâu của những con người trong kháng chiến chống Pháp.
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc – văn lớp 12
1,017
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn lớp 12 Bài làm Tác giả Tố Hữu được xem là một nhà văn cách mạng trong thời kỳ đầu tiên của nước ta. Mỗi tác phẩm của ông đều thể hiện tinh thần yêu quê hương, đất nước, tinh thần kiên cường ý chí anh hùng của người chiến sĩ cách mạng, chiến sĩ bộ đội cụ Hồ Bài thơ Việt Bắc được tác giả sáng tác khi chia tay với bà con dân tộc Tây Bắc sau mười lăm năm gắn bó trong kháng chiến chống thực dân Pháp, để những chiến sĩ cách mạng trở về quê hương, về lại thủ đô thân yêu sau nhiều năm xa cách. Bài thơ chính là tâm sự tình cảm nỗi niềm của tác giả khi phải rời xa mảnh đất thân thương đã từng che chở cho mình trong chiến tranh. Tình cảm quân dân gắn bó thân thiết máu thịt. Đặc biệt trong bài thơ hiện lên bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người vùng núi Việt Bắc vô cùng tươi đẹp. Bài thơ chính là tâm tư tình cảm chứa chan sâu sắc của tác giả Tố Hữu dành cho những người dân nơi đây. Nơi gắn bó những kỷ niệm không thể nào quên vào sinh ra tử trong kháng chiến chống thực dân pháp gian lao, khổ cực. Trong bài thơ người đọc bắt gặp hình ảnh gần gũi, giản dị, mộc mạc của những con người dân tộc Việt Bắc chân chất trong những lời thơ nồng nàn tình cảm của Tố Hữu. Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Tác giả Tố Hữu thật tinh tế khi truyền đạt tình cảm của mình thông qua lối xưng hô gần gũi giữa ta và mình như những người yêu nhau hoặc người thân trong gia đình. Từ những lời thơ giản dị đó tác giả đã dẫn dắt người đọc vào bức tranh tứ bình vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vào mùa đông ở Việt Bắc vô cùng sinh động, nhiều sức sống: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Màu đỏ của hoa chuối rừng như xóa tan đi sự lạnh lẽo hoang vu của núi rừng Việt Bắc, hoa chuối màu đỏ thể hiện sự ấm áp, thể hiện lòng nhiệt huyết đang chảy trong huyết mạch của mỗi con người. Nó cũng là biểu tượng của niềm tin vào sự hy vọng. Ánh nắng hiện lên càng làm cho bức tranh mùa đông trở nên ấm áp không hề hiu quạnh, hay ảm đạm như khung cảnh mùa đông mà chúng ta thường thấy trong thơ mỗi khi viết về mùa đông. Người dân tộc vùng Việt Bắc khi đi làm nương rẫy đều mang theo một con dao bên mình để phòng vệ, hoặc chặt lá rừng che lối đi, kiếm củi hái măng… tất cả mọi sinh hoạt của họ đều cần đến sự trợ giúp của những nông cụ lao động. Đặc biệt là con dao. Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Trong hai câu thơ này hình ảnh mùa xuân trong khu rừng toàn một màu trắng của hoa mơ, một bức tranh thiên nhiên dịu dàng, ấm áp thể hiện sự thanh tao. Màu trắng trong bức tranh gợi nên chất thơ nhẹ nhàng làm say đắm lòng người bởi vẻ đẹp trữ tình lãng mạn của mùa xuân trong rừng Việt Bắc. Tác giả Tố Hữu luôn gắn liền thiên nhiên với một hoạt động của con người nơi đây. Hình ảnh người con gái dịu dàng chuốt từng sợi giang nhẹ nhàng đan nón, khiến cho bức tranh mùa xuân trở nên mềm mại, tinh tế hơn bao giờ hết. Người con gái hiền lành, lương thiện đó đã đi vào trái tim tác giả, trở thành một kỷ niệm sâu đậm khó phai. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Trong mùa hè tiếng ve kêu râm ran trong rừng phách đã làm cho không khí của núi rừng Việt Bắc tĩnh lặng trở nên huyên náo, phá tan không gian yên tĩnh. Màu vàng của rừng hổ phách chính là đặc trưng riêng của mùa hè vùng cao Việt Bắc. Trong tiếng ve du dương những giai điệu mùa hè đó, hình ảnh người con hái măng trong rừng một mình, không hề gợi lên sự cô đơn, hiu quạnh mà càng tăng thêm phần sinh động cho bức tranh mùa hè. Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Trong hai câu thơ này hình ảnh mùa thu hiện lên trên núi rừng Tây Bắc với ánh trăng sáng tỏ, dịu dàng, mát trong. Thiên nhiên đã ưu ái dành cho xứ sở Tây Bắc rất nhiều cảnh đẹp thể hiện sự tròn đầy, chung thủy của ánh trăng rằm. Ánh trăng hòa bình chính là ánh trăng của sự tự do, của khát khao giải phóng dân tộc đã thành công. Ánh trăng cũng biết điều đó nên nó có vẻ to đẹp hơn thường ngày. Ánh trăng tròn đầy thủy chung như những con người vùng đất Tây Bắc này, đã cùng với các chiến sĩ cách mạng vượt qua nhiều gian nan, thử thách để có kết quả thắng lợi như ngày hôm nay. Tình cảm thủy chung son sắc giữa quân và dân không bao giờ thay đổi. Bài thơ Việt Bắc là một bài thơ vô cùng xuất sắc của tác giả Tố Hữu. Bức tranh tứ bình được tác giả khắc họa vô cùng tinh tế thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên, cũng như con người của vùng Tây Bắc.
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn lớp 12
973
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Bài làm Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm. “Việt Bắc” được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình bằng thơ tuyệt đẹp trong “Việt Bắc”. Xuyên suốt bài thơ “Việt Bắc” là dòng tâm tư, tình cảm chan chứa và sâu lắng của Tố Hữu dành cho quân và dân từng tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, đời sống bình dị, cả những con người chân chất Việt bắc qua lời thơ Tố Hữu. Phải có một tình cảm da diết, phải là người “nặng” tình thì Tố Hữu mới thổi hồn vào từng câu đối đáp bằng thơ lục bát nhuần nhuyễn như vậy. Có thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng Việt Bắc qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu. Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của “xứ Tiên” này. Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Thật khéo léo và tinh tế khi Tố Hữu truyền đạt tình cảm một cách kín đáo như thế này. Ngôn ngữ gần gũi, cách diễn tả nhẹ nhàng cũng đã khiến người đọc thấy rất thấm. Tố Hữu hỏi “người” nhưng thực ra là hỏi “mình” và câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Lời mào đầu sâu sắc này sẽ dẫn người đọc lần lượt khám phá nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc trải dọc theo 4 mùa. Dẫn dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy tin yêu: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”. Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt Bắc. Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cảo đã tạo thành một bức trang mùa đông rạng rớ, đầy hi vọng. Bức tranh mùa xuân ở núi rừng Việt Bắc hiện lên thật trữ tinh, thơ mộng như tiên cảnh: Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp treenn những con đường màu sắc ấy. Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần gũi. Động từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người. Bức tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố Hữu: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Tiếng ve kêu vàng giữa “rừng phách” đã làm nên cái động giữa muôn vàn cái tĩnh. Màu vàng của rừng phách là đặc trưng báo hiệu mùa hè về trên xử sở vùng cao. Tiếng ve như xé tan sự yên tĩnh của núi rừng, đánh thức sự bình yên nơi đây. Từ “đổ” dùng rất đắc điệu, là động từ mạnh, diễn tả sự chuyển biến quyết liệt, lôi cuốn của màu sắc. Bức trang mùa hè chợt bừng sáng, đầy sức sống với màu vàng rực của rừng phách. Ở mỗi bức trang thiên nhiên, người đọc đều thấy thấp thoáng bóng dáng con người. Có thể nói đây chính là sự tài tình của Tố Hữu khi gắn kết mối tâm giao giữa thiên nhiên và con người. Giữa rúi bao la, thấp thoáng bóng dáng “cô gái hái măng” tuyệt đẹp đã khiến cho thiên nhiên có sức sống hơn. Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung. Thật vậy với 4 cặp thơ lục bát ngắn gọn, 4 mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống. Tác giả thật tài tình, khéo léo, vốn hiểu biết rộng cũng như tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ. Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi đây.
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu
1,145
Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Hẳn ai cũng biết bát cháo hành huyền thoại trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Một bát cháo nghĩa tình, hay cũng có thể gọi là món quà của tình yêu giữa Chí Phèo và Thị Nở. Một bát cháo rất giản đơn nhưng chất chứa bao ý nghĩa sâu sắc mà nhà văn Nam Cao đã gửi gắm vào. Ông đã dựng nên một thước phim quay chậm về thảm cảnh bi thương của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Ở đó, có Chí Phèo là đại diện cho những người nông dân nghèo khó bị xã hội ruồng rẫy đến mức tha hóa nhân cách, còn Bá Kiến đại diện cho thế lực cầm quyền tác ác bất nhân đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Khiến họ không còn là chính mình nữa. Nhưng trong nỗi đau bao giờ cũng ánh lên những nỗi niềm khát khao cháy bỏng, chi tiết bát cháo hành của Thị Nở chính là tia hi vọng sáng ngời cho cuộc đời đầy tăm tối của Chí, là cứu cánh cho những bước chân Chí đang lầy lội giữa vũng bùn hôi tanh của xã hội phong kiến. Có thể nói, bát cháo hành ấy giống như một liều thuốc thần kỳ giải rượu cho Chí sau một cơn say dài dằng dặc. Cả một cuộc đời hơn bồn mươi năm, lần đầu tiên Chí được ăn cháo hành, lần đầu tiên được người khác cho một thứ. Bởi từ trước tới giờ Chí toàn phải cướp giật, dọa nạt mới có được những thứ mình muốn chứ chẳng bao giờ Chí được ai cho cái gì. Chí bị xã hội ruồng rẫy, bị tước đoạt quyền làm người, những tiếng chửi của Chí chẳng ai thèm để ý. Nhưng tiếng chửi ấy lại khiến người đọc chạnh lòng và rơm rớm nước mắt khi Chí chửi mẹ cha đứa nào đẻ ra hắn để hắn phải sống một cuộc đời như thế này. Được sinh ra làm người là một diễm phúc lớn lao. Chí cũng vậy, nhưng tại sao Chí lại không được sống kiếp của một con người? Chí trở thành một con quỷ, nhưng là một con quỷ đáng khinh chứ không đáng sợ. Điều gì đã khiến Chí trở nên như vậy? Giữa những lầy lội, những bê bối đang ngập tràn cuộc đời, Chí lại gặp Thị Nở. Chính lúc rơi vào hố sâu của lầm lỗi, của bi thương, thị lại ban cho Chí một ân huệ vô cùng lớn lao. Một bát cháo hành tuy nhỏ bé nhưng chân chất nghĩa tình. Một cháo hành rất bình thường như bao bát cháo khác, cũng chỉ có gạo và hành, nhưng nó đặc biệt vì được nấu lên từ tình thương chân thân của một người đàn bà dở hơi, xấu xí, xấu đến nỗi ma chê quỷ hờn. Và cũng giống như Chí, cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm để ý đến thị. Nhưng thị may mắn hơn là vẫn được mọi người nhìn nhận là một con người. Thị và Chí gặp nhau trong một đêm trăng sáng, khi Chí đang ngà ngà say. Họ lao vào nhau như một tiếng sét ái tình, như một lẽ thường tình tự nhiên. Sau đêm ấy, thị trở nên thương hắn, yêu hắn. Và hắn cũng thế. Thị chăm sóc Chí như một người vơ thực sự săn sóc cho chồng lúc ốm đau. Bát cháo của thị khiến lòng Chí rung động. Hương vị ngon lành của cháo hành đã vực dậy Chí sau những cơn say dài triền miên, đã kéo Chí từ cái đáy của vực thẳm trở về bên bến bờ đầy hi vọng. Thị chính là cánh cửa để Chí quay trở về làm người lương thiện. Cháo hành thơm và nóng khiến Chí thức tỉnh và sống lại với ước mơ của mình. Ước mơ thật đơn sơ. Chí ước có được một gia đình nho nhỏ. Chồng cày thuê cuốc mướn. Vợ dệt vải. Khá giả mua thêm mấy sào ruộng làm ăn. Đây cũng là niềm mơ ước lớn lao của biết bao nhiêu người khác cùng thời với Chí. Nhưng xã hội nhiều bon chen quá, Chí chưa kịp thực hiện được hoài bão của mình thì đã bị nhấn chìm trong khổ đau, trong lầm lỗi. Giờ đây, bàn tay thị sẽ kéo Chí trở về, sẽ dìu Chí dậy. Những hương vị của cuộc sống theo mùi thơm của cháo hành quay trở về bên Chí. Chí cảm nhận được tiếng chim hót líu lo, tiếng mái chèo gõ cá, tiếng người đi chợ vải nói chuyện với nhau… Những thứ rất quen thuộc ngày nào cũng có nhưng vì say nên Chí không nhận ra. Nay được thị mở lòng đón nhận, Chí quyết tâm trở lại làm người. Chí thèm được ăn những bát hành thêm nữa, thèm được làm người lương thiện. Nhìn Chí ngồi ăn cháo hành, không ai bảo hắn là kẻ chuyên đi rạch mặt ăn vạ, chuyên đâm thuê chém mướn. Đây mới chính là con người thực sự của Chí. Hiền lành, tốt tính. Chỉ tiếc rằng, thị không đủ tỉnh táo để nấu cho Chí những bát cháo hành tiếp theo. Và Chí cũng không đủ mạnh để đứng lên làm lại từ đầu mặc dù lòng Chí đang khát khao lắm. Chí còn rủ thị sang ở cùng cho vui, cho kết thúc những ngày tháng say sưa triền miên, cho những vết sẹo trên mặt Chí mờ dần, mờ dần. Nhưng bi kịch lại một lần nữa đến với Chí. Hơi cháo hành còn chưa dứt thì thị đã quay lưng lại với Chí. Như vậy, bát cháo hành của thị đã cứu Chí khỏi những ngày tháng tối tăm. Chí chết nhưng chết để được sống. Chết để không còn bị dân làng coi khinh nữa. Bát cháo ấy cũng chính là lời ca ngợi, là niềm hi vọng mà Nam Cao đã gửi gắm vào. Ca ngợi tấm lòng lương thiện của một người đàn bà xấu xí, dở hơi. Thị càng xấu thì tâm hồn thị càng sáng. Hơn nữa, Nam Cao cố tình dành cho Thị những chi tiết xấu nhất là để làm đòn bẩy cho tình thương nơi thị được tỏa sáng. Và hình ảnh bát cháo hành chính là hiện vật cụ thể của tình thương ấy. Cả làng Vũ Đại, chỉ có duy nhất một mình thị nhìn nhận Chí. Nhưng bi kịch vẫn chưa buông tha cho Chí. Và Chí đã tự kết thúc bi kịch cho đời mình bằng cái chết. Chết cho những lỗi lầm, chết cho những ước mơ không bao giờ còn thực hiện được nữa. Và chết vì dẫu sao, cả đời Chí cũng đã được thưởng thức một bát cháo hành, được săn sóc tận tình từ bàn tay của một người đàn bà với tấm lòng chân thật và trong sáng.
Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
1,212
Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo Hướng dẫn Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo Bài làm Hẳn ai cũng biết bát cháo hành huyền thoại trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Một bát cháo nghĩa tình, hay cũng có thể gọi là món quà của tình yêu giữa Chí Phèo và Thị Nở. Một bát cháo rất giản đơn nhưng chất chứa bao ý nghĩa sâu sắc mà nhà văn Nam Cao đã gửi gắm vào. Ông đã dựng nên một thước phim quay chậm về thảm cảnh bi thương của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Ở đó, có Chí Phèo là đại diện cho những người nông dân nghèo khó bị xã hội ruồng rẫy đến mức tha hóa nhân cách, còn Bá Kiến đại diện cho thế lực cầm quyền tác ác bất nhân đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Khiến họ không còn là chính mình nữa. Nhưng trong nỗi đau bao giờ cũng ánh lên những nỗi niềm khát khao cháy bỏng, chi tiết bát cháo hành của Thị Nở chính là tia hi vọng sáng ngời cho cuộc đời đầy tăm tối của Chí, là cứu cánh cho những bước chân Chí đang lầy lội giữa vũng bùn hôi tanh của xã hội phong kiến. Có thể nói, bát cháo hành ấy giống như một liều thuốc thần kỳ giải rượu cho Chí sau một cơn say dài dằng dặc. Cả một cuộc đời hơn bồn mươi năm, lần đầu tiên Chí được ăn cháo hành, lần đầu tiên được người khác cho một thứ. Bởi từ trước tới giờ Chí toàn phải cướp giật, dọa nạt mới có được những thứ mình muốn chứ chẳng bao giờ Chí được ai cho cái gì. Chí bị xã hội ruồng rẫy, bị tước đoạt quyền làm người, những tiếng chửi của Chí chẳng ai thèm để ý. Nhưng tiếng chửi ấy lại khiến người đọc chạnh lòng và rơm rớm nước mắt khi Chí chửi mẹ cha đứa nào đẻ ra hắn để hắn phải sống một cuộc đời như thế này. Được sinh ra làm người là một diễm phúc lớn lao. Chí cũng vậy, nhưng tại sao Chí lại không được sống kiếp của một con người? Chí trở thành một con quỷ, nhưng là một con quỷ đáng khinh chứ không đáng sợ. Điều gì đã khiến Chí trở nên như vậy? Giữa những lầy lội, những bê bối đang ngập tràn cuộc đời, Chí lại gặp Thị Nở. Chính lúc rơi vào hố sâu của lầm lỗi, của bi thương, thị lại ban cho Chí một ân huệ vô cùng lớn lao. Một bát cháo hành tuy nhỏ bé nhưng chân chất nghĩa tình. Một cháo hành rất bình thường như bao bát cháo khác, cũng chỉ có gạo và hành, nhưng nó đặc biệt vì được nấu lên từ tình thương chân thân của một người đàn bà dở hơi, xấu xí, xấu đến nỗi ma chê quỷ hờn. Và cũng giống như Chí, cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm để ý đến thị. Nhưng thị may mắn hơn là vẫn được mọi người nhìn nhận là một con người. Thị và Chí gặp nhau trong một đêm trăng sáng, khi Chí đang ngà ngà say. Họ lao vào nhau như một tiếng sét ái tình, như một lẽ thường tình tự nhiên. Sau đêm ấy, thị trở nên thương hắn, yêu hắn. Và hắn cũng thế. Thị chăm sóc Chí như một người vơ thực sự săn sóc cho chồng lúc ốm đau. Bát cháo của thị khiến lòng Chí rung động. Hương vị ngon lành của cháo hành đã vực dậy Chí sau những cơn say dài triền miên, đã kéo Chí từ cái đáy của vực thẳm trở về bên bến bờ đầy hi vọng. Thị chính là cánh cửa để Chí quay trở về làm người lương thiện. Cháo hành thơm và nóng khiến Chí thức tỉnh và sống lại với ước mơ của mình. Ước mơ thật đơn sơ. Chí ước có được một gia đình nho nhỏ. Chồng cày thuê cuốc mướn. Vợ dệt vải. Khá giả mua thêm mấy sào ruộng làm ăn. Đây cũng là niềm mơ ước lớn lao của biết bao nhiêu người khác cùng thời với Chí. Nhưng xã hội nhiều bon chen quá, Chí chưa kịp thực hiện được hoài bão của mình thì đã bị nhấn chìm trong khổ đau, trong lầm lỗi. Giờ đây, bàn tay thị sẽ kéo Chí trở về, sẽ dìu Chí dậy. Những hương vị của cuộc sống theo mùi thơm của cháo hành quay trở về bên Chí. Chí cảm nhận được tiếng chim hót líu lo, tiếng mái chèo gõ cá, tiếng người đi chợ vải nói chuyện với nhau… Những thứ rất quen thuộc ngày nào cũng có nhưng vì say nên Chí không nhận ra. Nay được thị mở lòng đón nhận, Chí quyết tâm trở lại làm người. Chí thèm được ăn những bát hành thêm nữa, thèm được làm người lương thiện. Nhìn Chí ngồi ăn cháo hành, không ai bảo hắn là kẻ chuyên đi rạch mặt ăn vạ, chuyên đâm thuê chém mướn. Đây mới chính là con người thực sự của Chí. Hiền lành, tốt tính. Chỉ tiếc rằng, thị không đủ tỉnh táo để nấu cho Chí những bát cháo hành tiếp theo. Và Chí cũng không đủ mạnh để đứng lên làm lại từ đầu mặc dù lòng Chí đang khát khao lắm. Chí còn rủ thị sang ở cùng cho vui, cho kết thúc những ngày tháng say sưa triền miên, cho những vết sẹo trên mặt Chí mờ dần, mờ dần. Nhưng bi kịch lại một lần nữa đến với Chí. Hơi cháo hành còn chưa dứt thì thị đã quay lưng lại với Chí. Như vậy, bát cháo hành của thị đã cứu Chí khỏi những ngày tháng tối tăm. Chí chết nhưng chết để được sống. Chết để không còn bị dân làng coi khinh nữa. Bát cháo ấy cũng chính là lời ca ngợi, là niềm hi vọng mà Nam Cao đã gửi gắm vào. Ca ngợi tấm lòng lương thiện của một người đàn bà xấu xí, dở hơi. Thị càng xấu thì tâm hồn thị càng sáng. Hơn nữa, Nam Cao cố tình dành cho Thị những chi tiết xấu nhất là để làm đòn bẩy cho tình thương nơi thị được tỏa sáng. Và hình ảnh bát cháo hành chính là hiện vật cụ thể của tình thương ấy. Cả làng Vũ Đại, chỉ có duy nhất một mình thị nhìn nhận Chí. Nhưng bi kịch vẫn chưa buông tha cho Chí. Và Chí đã tự kết thúc bi kịch cho đời mình bằng cái chết. Chết cho những lỗi lầm, chết cho những ước mơ không bao giờ còn thực hiện được nữa. Và chết vì dẫu sao, cả đời Chí cũng đã được thưởng thức một bát cháo hành, được săn sóc tận tình từ bàn tay của một người đàn bà với tấm lòng chân thật và trong sáng.
Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo
1,207
Phân tích chi tiết Chí Phèo bị Thị Nở cự tuyệt trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích chi tiết Chí Phèo bị Thị Nở cự tuyệt trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Ai đó từng nói yêu là mù quáng. Nhưng đằng sau sự mù quáng ấy còn biết bao nhiêu cơ sự khác mà không giấy bút nào có thể phân tích hay giãi bày được hết. Và người ta vẫn thường nhắc đến mối tình của Chí Phèo – Thị Nở như một câu chuyện hài hước về tình yêu dang dở, trái ngang. Nhà văn Nam Cao đã để cho một người dở hơi, xấu xí, ế chồng, còn một kẻ say xỉn triền miên, sống bằng nghề ăn vạ và ăn xin, hai con người ở tận cùng đáy của xã hội gặp nhau, yêu nhau trong tình cờ, chớp nhoáng. Nhưng ai đâu biết rằng, hạnh phúc mong manh ấy chẳng được bao lâu, thị quay mặt đi cự tuyệt Chí sau những ân cần, săn sóc thật lòng thị dành cho Chí. Đau khổ, tuyệt vọng vì bị người yêu cự tuyệt, một lần nữa Chí rơi vào hố sâu của hận thù và khổ đau. Cặp đôi “trời sinh” ấy bước ra từ tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, viết về hiện thực cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ, cùng quẫn trong xã hội cũ. Chí Phèo là điển hình cho những kiếp người vì khổ quá, vì nghèo quá mà đánh mất cả nhân cách và tâm hồn. Họ liên tục bị đẩy vào vòng luẩn quẩn của tội lỗi, của hận thù, cho đến cuối cùng, niềm khát khao được sống, được yêu lên đến đỉnh điểm, họ chọn cho mình một cái chết bi thương. Như Chí đã gào thét trong tuyệt vọng, rồi đi đến cái chết để mong được giữ bản thân mình không lấn sâu thêm vào tội lỗi nữa. Chí chết, nhưng cái chết vẫn chưa phải là lúc đau khổ nhất, mà đau khổ nhất chính là giây phút Chí bị người yêu cự tuyệt. Giữa lúc Chí còn đang tỉnh táo, đang mơ màng nghĩ đến chuyện tương lai với thị, giữa lúc hình ảnh một gia đình nhỏ bé với những đứa con thật đầm ấm, hạnh phúc đang chấp chới trong đầu Chí, thì thị lại xuất hiện phá tan tất cả những điều tốt đẹp Chí đang hướng tới. Tại sao vậy? Tại sao đang yêu nhau thắm thiết, đang hạnh phúc vui vẻ, thị lại dở mặt với Chí? Vừa mới đây thôi, thị còn cười duyên lắm, tình tứ lắm, vậy mà giờ đây, chính thị lại là người trút những lời nói phũ phàng vào mặt Chí. Hơi cháo hành còn chưa bay xa mà thị đã vội vàng ngoa ngoắt, làm lòng Chí quặn thắt đớn đau. Chí ngây ngô chẳng hiểu chuyện gì. Chỉ thấy người yêu đang đùng đùng nổi giận. Còn thị sau khi trút giận hả hê, “thị ngoay ngoáy cái mông đít ra về. Hắn sửng sốt, đứng lên gọi lại. Ai mà thèm lại! Còn muốn lôi thôi cái gì? Hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay. Thị gạt ra, lại giúi thêm cho một cái. Hắn lăn khoèo xuống sân”. Sao không phải là nụ cười duyên ngày hôm qua, cũng không phải cái lườm yêu yêu, ngượng ngùng mà là sự bẽ bàng, nghiệt ngã trong từng câu nói thị trút ra. Hụt hẫng, đớn đau và tuyệt vọng, một người đã dành hết tình yêu và niềm tin khi yêu như Chí, giờ đây nhận lại quả đắng thật đáng thương biết chừng nào. Sự cự tuyệt của thị đã mang đến nỗi đau khổ lớn lao cho Chí. Có thể cả hai không hiểu thế nào là tình yêu, bởi họ đến với nhau trong cơn say và chớp nhoáng, trong sự ngù ngờ nhưng không phải mất ý thức tự chủ. Cũng có thể họ đến với nhau vì ham mê xác thịt, nhưng sau khi thỏa mãn, những gì Chí nhận lại không chỉ là sự khoái lạc mà còn là cả một bầu trời đầy niềm tin và hi vọng. Rõ ràng, sự săn sóc của thị, nhất là bát cháo hành đã làm Chí thức tỉnh sau cơn say dài triền miên. Sự sống như hồi sinh trong con người đã làm biết bao nhiêu điều ác để tồn tại, để sống. Chí không muốn sống như thế nữa. Chí muốn làm hòa với mọi người, muốn có được một gia đình nhỏ bé như ngày nào Chí ước mơ. Giờ đây gặp thị, Chí sẽ tiếp tục thực hiện ước mơ còn dang dở ấy. Nhưng thôi rồi! Thị đã cự tuyệt Chí. Bàn tay thị mới hôm qua vực dậy Chí từ dưới vực thẳm tăm tối lên bến bờ hi vọng chói lòa, nay cũng chính bàn tay ấy ẩn giúi Chí ngã lăn khoèo xuống đất. Chí ngã, đồng nghĩa với việc ngã vào tuyêt vọng. Chí không biết phải làm gì vào lúc này nữa. Cái thói quen ăn vạ lại trỗi dậy. Nhưng ăn vạ với ai bây giờ? Với thị chăng? Thị đã quay đi mất rồi. Chỉ còn mình Chí nằm đấy với hơi cháo hành thoang thoảng đâu đây lẫn với men rượu khiến chí càng uống càng tỉnh. Chí muốn uống cho say, cho quên đi hết lẽ đời, quên đi cả những ngày hạnh phúc sum vầy bên thị. Chẳng lẽ cuộc đời Chí chỉ đến thế thôi sao? Ngay cả một người đàn bà dở hơi, xấu xí cũng không chấp nhận Chí nữa sao? Như vậy, việc Thị Nở cự tuyệt Chí mặc dù gây đớn đau cho Chí – cho một kẻ đã yêu và tin hết mình, nhưng cũng chính nhờ sự kiện ấy, Chí tìm lại cho mình lẽ sống đích thực. Dù có phải chết, nhưng chết để không phải tiếp tục lún sâu vào vũng bùn tăm tối mà Bá Kiến và những kẻ tàn ác như hắn đã gây nên. Nhà văn Nam Cao đã rất thành công khi đưa chi tiết này vào làm xáo trộn cuộc đời Chí, làm người đọc vừa xót thương vừa cảm thông cho những kiếp người vì khổ quá mà đánh mất cả nhân cách của chính mình. Chí không ác, chỉ là không có cơ hội để làm người lương thiện. Thị cũng vậy, thị có yêu Chí, nhưng vì người cô, và cũng vì xã hội mà phải cự tuyệt với người mình yêu.
Phân tích chi tiết Chí Phèo bị Thị Nở cự tuyệt trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
1,114
Phân tích Chinh Phụ Ngâm Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm lớp 10 bao gồm các bài văn mẫu chọn lọc phân tích Chinh Phụ Ngâm và tình cảm lẻ loi của người Chinh Phụ. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích Chinh Phụ Ngâm hay nhất. Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác. Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy. Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khộ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ: – Đoạn 1: Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được. – Đoạn 2: Từ Lòng này gùi gió đông có tiện… đốn Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm. – Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc. Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này. Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương! Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng. Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy. Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương! Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ. Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn deo đẳng, ám ảnh nàng. Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi: Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào! Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh: Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy. Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió: Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ: Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác: Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nối lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả. Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trỏ về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn: Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô. Hình như người chinh phụ đã thấm thìa sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chí mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng. Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm: Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên. Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau! Ý thơ đi từ tinh đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chí vò võ một mình một bóng mà thôi! Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo. Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương;một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ “Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.” Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến như thế. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh đã của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là nỗi đau người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nỗi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ. Nhà văn Tô Hoài đã từng khẳng định: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Thời đại của Đặng Trần Côn là thời kì mà chiến tranh các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên và phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, nhà nhà sống trong cảnh loạn lạc, khói lửa, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than, tang tóc. Khi thời đại đưa cho ông một đề tài quen thuộc “hiện thực chiến tranh”, bằng cảm hứng nhân đạo của mình, Đặng Trần Côn đã chiếu ngòi bút của mình xuống những nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh để cất lên tiếng nói của con người thời đại, tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa, tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc qua khúc tự tình trường thiên “Chinh phụ ngâm”. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, qua nỗi niềm của người chinh phụ có chồng ra trận, tác giả đã đã để cho người đọc cảm nhận nỗi đau thương trong chiến tranh của cả hai phía người ra trân và người ở lại. Nếu ở nơi chiến địa, chinh phu đang từng ngày từng giờ đối mặt với cái chết thì chinh phụ nơi quê nhà cũng đang mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng, và chìm đắm trong muộn phiền. Ba sáu câu thơ trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” như tích tụ nỗi đau, nỗi nhớ thương và niềm khao khát hạnh phúc lứa ở tầng sâu nhất của tác phẩm. Mở đầu đoạn trích, tác giả đã khắc họa bức chân dung tâm trạng của người chinh phụ trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi, ngày qua ngày mong ngóng tin chồng: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Giữa một không gian tịch mịch “vắng” và “thưa”, người chinh phụ hiện lên như hiện thân của nỗi cô đơn. Nàng đi đi lại lại, những bước chân của nàng không phải là bước chân “xăm xăm” khi nghe thấy tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc của nàng Kiều mà những bước chân ấy gieo xuống từng bước như gieo vào lòng người đọc những thanh âm của sự lẻ loi cô độc. Nàng hết buông rèm rồi lại kéo rèm để hướng ra ngoài, hướng về nơi biên ải xa xôi kia để mong ngóng chút tin tức của chinh phu nhưng không có dấu hiệu hồi đáp lại. Nhịp thơ chậm, kéo dài như ngưng tụ cả không gian và thời gian. Dường như hành động nàng đang lặp đi lặp lại một cách vô thức bởi tâm trí nàng giờ đây đang dành trọn cho người chồng nơi chiến trường đầy hiểm nguy. Những thao tác trữ tình ấy đã lột tả được tâm tư trĩu nặng và cảm giác bế tắc không yên của người chinh phụ. Trong nỗi bồn chồn khắc khoải ấy, nàng mong ngóng một một người có thể sẻ chia những tâm tư nhưng tất cả chỉ có một ngọn đèn khuya leo lét: “Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi Buồn rầu chẳng nói nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương” Ngọn đèn vừa chứng kiến vừa soi tỏ nỗi cô đơn của người phụ nữ xa chồng. Khi đối diện với ngọn đèn là người phụ nữ đáng thương ấy đang tự đối diện với chính mình, dưới ánh sáng của ngọn đèn mà tự phơi chải nỗi đau của chính mình. Để rồi những tâm tư ấy bật thành lời tự thương da diết “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”. Nàng thấy mình chỉ như kiếp hoa đèn kia mỏng manh và dang dở, thấy sự tàn lụi ở ngay trước mắt mình. Nếu ngọn đèn không tắt đồng hành với người phụ nữ trong ca dao thắp lên nỗi nhớ thương: “Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” Ngọn đèn trong đêm với Thúy Kiều đã trở thành nhân chứng của nỗi đau của người con gái tài sắc: “Một mình một ngọn đèn khuya Áo đầm giọt tủi tóc se mái đầu” Thì hình ảnh ẩn dụ ngọn đèn của người chinh phụ soi bóng trong đêm lại là sự hiện diện của lẻ loi, đơn chiếc, trống trải. Hình ảnh hoa đèn và bóng người như phản chiếu vào nhau để diễn tả nỗi cô đơn đên héo úa canh dài, đến hao mòn cả thể chất. Dường như nỗi niềm ấy đã vo tròn, nén chặt đè nặng trong lòng người chinh phụ, và trở thành nỗi “bi thiết” không thể nói lên lời, là nỗi “buồn rầu” đến não nề, đến thương cảm. Bức chân dung người phụ nữ ấy không chỉ gợi lên qua những bước chân, động tác, cử chỉ, qua gương mặt buồn rầu, qua dáng ngồi bất động trước ngọn đèn khuya mà còn nổi bật lên trên nền của không gian và thời gian: “Gà eo óc gáy sương năm trống Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên” Hình ảnh “bóng hòe phất phơ” suốt ngày dài cùng biện pháp lấy động tả tĩnh với sự xuất hiện âm thanh “tiếng gà eo óc suốt” đêm thâu như tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình. “Eo óc” đó là âm thanh thưa thớt trong một không gian rộng lớn, hiu quạnh có cảm giác tang tóc, tang thương đã bộc lộ sâu sắc nỗi chán chường của chủ thể trong đêm thâu. Nàng đã thức trọn năm canh để nghe thấy tận sâu trong đáy lòng mình nỗi sầu, nỗi đau vô hình ấy. Từ láy “phất phơ” đã biểu đạt một cách tinh tế dáng điệu võ vàng của người chinh phụ, tâm trạng của một người vợ ngóng chờ từng chút hình ảnh của người chồng. Tâm trạng của nhân vật trữ tình như đang thấm đẫm, lan tỏa cả trong thời gian và xuyên suốt cả thời gian. Tác giả đã biến thời gian thành thời gian tâm lí, không gian thành không gian cảm xúc bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật so sánh trong hai câu thơ: “Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa” Câu thơ theo đúng nguyên tác của Đặng Trần Côn: “Sầu tựa hải Khắc như niên” Chỉ thêm hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” nhưng sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu trong đó. Kể từ khi chinh phu ra đi, một ngày trở nên dài lê thê như cả một năm, những mối lo toan, nỗi buồn sầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương ấy. Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn, chiến đấu để thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt của chính mình: “Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát ấy của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để kiếm tìm sự thanh thản thì lại rơi sâu hơn vào cơn mê man. Nàng gượng soi gương để chỉnh trang nhan sắc thì lại chỉ thấy những giọt sầu. Nàng gượng tìm đến với âm nhạc để giải tỏa thì nỗi âu lo về duyên cầm sắt và tình loan phượng lại hiện hình. Dường như nàng đang mang trong mình quá nhiều những nỗi lo sợ, lo lắng, bởi thế, người chinh phụ không những không thể giải tỏa được nỗi niềm bản thân mà còn như chìm sâu hơn vào nỗi bi thương xót xa. Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ được đã đặc tả bằng bút pháp trữ tình đa dạng để độc giả có thể cảm nhận được tâm trạng ấy của nhân vật trữ tình ngay cả khi ngày lên cũng như khi đêm xuống, luôn đồng hanh cùng người chinh phụ cả khi đứng, khi ngồi, lúc ở trong phòng và ngoài phòng và bủa vây khắp không gian xung quanh. Sự cô đơn ấy đã làm hao gầy cả hình dáng và héo úa cả tâm tư và người chinh phụ như đang chết dần trong cái bọc cô đơn ấy. Sống trong không gian cô đơn ấy, nàng chỉ biết nhớ về người chồng nơi biên ải xa xôi kia với một tấm lòng thủy chung, sắt son: “Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời” Người chinh phụ đã gom hết những yêu nhớ, thương xót và cả lòng thủy chung của mình vào gió đông, nhờ cơn gió mùa xuân ấm áp gửi tâm tư thầm kín của mình đến non Yên. Những hình ảnh có tính tượng trưng ước lệ như “gió đông”, “non Yên”, “trời thăm thẳm” vừa gợi ra không gian rộng lớn vô tận nói lên khoảng cách xa xôi giữa chinh phu và chinh phụ vừa biểu đạt được tấm lòng chân thành, nỗi nhớ nhung vô hạn của người vợ nơi quê nhà. Phải chăng ngọn gió đông đánh thức tâm hồn chinh phụ cũng chính là ngọn gió xuân đánh thức giấc mộng ái ân khuê phòng trong “xuân tứ” của nhà thơ Lí Bạch: “Cỏ non xanh biếc vùng Yên Cành dâu xanh ngà ở bên đất Tần Lòng em đau đớn muôn phần Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà Gió xuân có biết chi mà Cớ chi lọt bức màn là tới ai” Nhưng nỗi thương nhớ của người chinh phụ người ta còn thấy được cả dư vị của nỗi đau, sự ngậm ngùi, xót xa: “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong” Hai từ láy “thăm thẳm” và “đau đáu” đã biểu đạt trực tiếp sắc thái củ nỗi nhớ thương ấy của người chinh phụ. Nếu hai từ “thăm thẳm” gợi nên trường độ của nỗi nhớ nhung trải dài dằng dặc, triền miên trong không gian thì độ sâu của nỗi nhớ được thể hiện qua từ “đau đáu”. Hình ảnh đường lên trời mù mịt, xa xăm cũng giống như bi kịch nỗi nhớ mong của nàng chẳng biết đâu là bến bờ, chẳng biết đến khi nào người chồng trở về để kết thúc cái bi kịch ấy. “Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun” Cảnh vật xung quanh chính là tâm cảnh bởi nó đã được nhìn bởi đôi mắt đẫm lệ, đã nhuốm màu tâm trạng của chủ thể trữ tình. Ý thơ đã đúc kết qui luật cảm xúc và có sự gặp gỡ với ý thơ của Nguyễn Du trong kiệt tác “Truyện Kiều”: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Câu thơ như một tấm bản lề khép lại nỗi nhớ nhung sầu muộn dẫn người đọc đến với nỗi sầu muộn của người chinh phụ trong câu thơ sau. Trong bức tranh mùa đông được gợi mở, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh bất ngờ để cực tả nỗi sầu muộn và cảm giác lạnh lẽo trong lòng người phụ nữ: “Sương như búa bổ mòn gốc liễu Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô” Nỗi đau đớn sầu muộn ấy khi thì nặng nề như búa bổ, khi thì nặng nề như cưa xẻ còn “gốc liễu” “cảnh ngô ấy phải chăng chính là hiện thân của người phụ nữ đang mòn mỏi chờ chồng. Cả dung nhan và tâm hồn nàng dường như đang bị tàn phá không phải chỉ bởi cái lạnh lẽo của sương tuyết mà còn là cái lạnh lẽo, cô dơn đang bủa quanh. Mùa đông của thiên nhiên nhiên giờ đây đã hóa thành mùa đông của cuộc đời người chinh phụ. “Giọt sương phủ bụi chim gù Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi” Tiếng chim gù trong bụi cây sương phủ, tiếng côn trùng nỉ non não nề trong đêm sương phải chăng nhà thơ muốn bật lên tiếng lòng tê buốt lạnh giá của người chinh phụ? Phải chăng không chỉ là tiếng sâu tường bên cạnh “vẳng” ra, tiếng chuông chùa từ xa “nện” lại mà đó còn là những cơn sóng dữ dội, tha thiết và nhức nhối đang cuộn lên trong lòng người phụ nữ ấy? Tất cả những âm thanh như đang xoáy sâu vào tâm hồn, ăn mòn tâm trí của chinh phụ. Với sự thành công của biện pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của thi ca cổ điển nhà thơ không chỉ tô đậm ấn tượng lạnh lẽo của bức tranh mùa đông mà còn đang phơi bày thế giới nội tâm lạnh giá của người chinh phụ. Nếu không phải là một ngòi bút khắc họa tâm lí sắc sảo chắc chắn sẽ không thể miêu tả tâm trạng của người chinh phụ sâu sắc và tinh tế đến thế. Tưởng chừng như người chinh phụ sẽ mãi chìm đắm trong nỗi sầu muộn ấy, nhưng trong giây lát nàng đã đến với những khao khát của hạnh phúc lứa đôi qua bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy của thiên nhiên “Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên Lá màn lay động gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm Hoa đãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiêt đâu” Bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy ấy đã được nhà thơ khắc họa bằng thủ pháp trùng điệp liên hoàn tạo ra những hình ảnh lồng xoáy vào nhau, những lớp hình ảnh giao hòa. Hoa phô bày vẻ đẹp dưới ánh trăng vàng và vầng trăng tỏa sáng lại phản chiếu bóng hình hoa trên mặt đất. Sắc hoa ngời lên dưới nguyệt và cuối cùng kết tinh lại ở hình ảnh đẹp nhất, một biểu tượng ý nghĩa nhất: nguyệt và hoa giao hòa quấn quýt lẫn nhau. Phải chăng chính sự giao hòa của thiên nhiên, tạo vật đã đánh thức niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi thầm kín trong lòng chinh phụ bấy lâu? Nhưng phải chăng cũng bởi thế mà nỗi đau về sự lẻ loi lại quay lại với nàng mà còn như khơi sâu thêm hơn nữa? Đến thiên nhiên vô tri vô giác còn có cảm giác hạnh phúc lứa đôi, còn nàng, nàng chỉ có một mình với một tấm lòng thủy chung chờ đợi chồng nơi khuê phòng này, chờ những hạnh phúc ái ân sẽ trở về. Cùng với hình ảnh, âm điệu của lời thơ cũng trở nên tha thiết, nồng nàn như những con sóng của niềm khao khát đang dâng lên trong lòng người chinh phụ. Đến đây, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã đạt đến mức điêu luyện. Nếu ở đoạn thơ trên tác giả đã gửi tình vào cảnh thì ở đoạn sau tác giả đã để cho cảnh gợi tình. Những hình ảnh mĩ lệ của hoa lồng nguyệt và nguyệt lồng hoa hết sức mĩ lệ đã thể hiện hết sức tế nhị những khao khát thầm kín và mãnh liệt của người chinh phụ – đó cũng là những khát vọng trần thế và nhân bản của con người. Bên cạnh tài năng miêu tả tâm lí nhuần nhuyền bằng nhiều bút pháp được thể hiện qua thể thơ song thất lục bát mềm mại của tác giả, dịch giả Hồng Hà Nữ Sĩ còn thành công khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách tinh tế và thanh nhã.Chính sự kết hợp của ngôn ngữ giàu về “thể chất” của Nguyễn Gia Thiều với cái linh hồn ngôn ngữ của Đoàn Thị Điểm đã làm cho ngôn ngữ bài thơ truyền tải được mọi cung bậc cảm xúc tinh tế nhất trong diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Tác phẩm đã góp phần vào tiếng nói đấu tranh, tố cáo chiến tranh phong kiến chia rẽ hạnh phúc lứa đôi đồng thời khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc nhân bản nhất của con người. Đó cũng là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc nhất của tác phẩm. Những vần thơ khép lại nhưng dường như nỗi đau của người chinh phụ vẫn còn đó. Niềm khao khát về một hạnh phúc từ đây mà trở thành niềm khao khát của cả một thời đại và thúc giục con người hành động để đạt dành được hạnh phúc mà mình đáng có. Trên đây là bài tập làm văn Phân tích Chinh Phụ Ngâm, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích Chinh Phụ Ngâm
5,518
Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Mở bài: Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kì kháng chiến chống Mỹ. Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm đặc sắc mang đậm chất sử thi, anh hùng ca. Sau năm 1975, đất nước thoát khỏi chiến tranh, bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển trong thời hòa bình, mở ra cho văn học những tiền đề mới. Vốn giàu tâm huyết với văn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với kì vọng của nhân dân, Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được yêu cầu đồi mới tư duy văn học. Tác phẩm của ông từ cảm hứng sử thi lãng mạn chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc sống mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được in lần đầu trong tập “Bến quê”. Sau được Nguyễn Minh Châu lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn, in năm 1987. Chiếc thuyền ngoài xa là một truyện ngắn đặc sắc, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự đời tư. Đồng thời cũng thể hiện sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Thân bài: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đã tạo nên được một tình huống truyện độc đáo đặc sắc. Qua tình huống này, nhà văn không chỉ làm nổi rõ tư tưởng, chủ đề của truyện ngắn mà còn khắc họa đậm nét tính cách nhân vật. Thông thường trong thể loại truyện ngắn có 3 loại tình huống phổ biến: tình huống hàng động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu hướng tới tô đậm hành động có tính bước ngoặt của nhân vật. Tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu lí giải,cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Ở truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn kiểu tình huống nhận thức. Đó là sự ngộ nhận của nhân vật – nghệ sĩ nhiếp ảnh tài năng và lãng mạn. Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo đúng yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là công trường cũ của anh, để dự tính bố cục, đã phục kích mấy buổi sáng để chụp bằng được một cảnh thật ưng ý. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, giữa trời biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận thiện, tận mĩ, thấy tâm hồn mình như được gội rửa, trở nên thật trong trẻo tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa lãng mạn của cuộc đời. Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài năng, có tâm hồn mơ mộng, lãng mạn. Để có một bộ lịch đẹp theo yêu cầu của trưởng phòng,… Phùng đã bỏ ra nhiều công sức, nhiều tâm huyết để săn tìm bằng được những cảnh đẹp của thiên nhiên, con người. Nhưng công sức bỏ ra của Phùng không uổng phí, anh đã chợp được một cảnh thật đẹp, thật ưng ý đó là hình ảnh Chiếc thuyền ngoài xa trên mặt biển mờ sương. Bức ảnh có sự hài hòa về đường nét, màu sắc giống như bước tranh cảnh vật của danh họa Trung Quốc thời xưa. Thế nhưng diễn biến tiếp theo của sự việc đã đặt người nghệ sĩ nhiếp ảnh vào một tình huống bất ngờ và trớ trêu, như trò đùa quái ác của cuộc sống. Nhân vật Phùng đã từng có cái khoảng khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại… “Anh đã từng chiêm nghiệm bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Vậy mà hóa ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển kia lại chẳng phải là đạo đức, là chân lí của sự toàn thiện. Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền đẹp như như trong mơ ấy, bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằng, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương pháp để giải tỏa những uất ức khổ đau. Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do dân tộc, vì cái đẹp thanh bình của biển cả hôm nay, anh không thể chịu đựng được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo. Nhưng, anh chưa kịp xông ra thì thằng Phát con trai lão đã kịp tới che chở cho người mẹ đáng thương. Sự đổ vỡ trong nhận thức của Phùng: bức tranh mà anh dày công tìm kiếm và tưởng như đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật đạt tới sự toàn thiện, toàn mĩ … Hóa ra lại ẩn chứa đằng biết bao nghịch lý đau lòng, xấu xa. Phùng cũng nhận ra có một khoảng cách khá xa giữa nghệ thuật và cuộc sống. Câu chuyện của người đàn bà làng chài ở Tòa án là câu chuyện về sự thật cuộc sống. Nó giúp những người như Phùng và Đẩu hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô lý. Nhìn bên ngoài, đó là người đàn bà quá nhẫn nhục, thường xuyên bị chồng đánh đập hành hạ “3 ngày một trận nhẹ, 5 ngày một trận nặng”. Vậy mà chị vẫn gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy. Chỉ qua những lời dãi bày thật tình của người mẹ đáng thương đó mới thấy nguồn gốc của sự hi sinh của bà là tình thương vô bờ bến đối với những đứa con. Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi phải cần có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng, đặng một sấp con, nhà nào trên dưới chục đứa… Phải sống cho các con, không thể sống cho mình. Sau khi thấy cái biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không hiệu quả, Đẩu – với tư cách thẩm phán Huyện đã khuyên người vợ nên li hôn để khỏi bị hành hạ, ngược đãi. Anh mời người đàn bà đến công sở để trao đổi vấn đề này. Nhưng trong buổi nói chuyện đó, mọi lí lẽ tưởng như thuận tình, hợp lí đó của anh đều bị người đàn bà chất phát, lam lũ bác bỏ. Hóa ra, lòng tốt của anh là lòng tốt phi thực tế. Anh bảo vệ pháp luật bằng sự thông hiểu giấy tờ, sách vở nên trước cuộc sống đích thực, đầy sự bộn bề phức tạp. Anh đã trở thành kẻ nông nổi ngây thơ. Người đàn bà thất học quê mùa nhưng thật sâu sắc khi nhìn suốt cả đời mình đã khiến “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố Huyện vùng biển”. Có thể nói, anh vừa ngộ ra những nghịch lí của đời sống – những nghịch lý mà con người buộc phải chấp nhận dù là xót xa chua chát: “Trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợn, tàn bạo”. Phải chăng cũng từ tình huống đó, thẩm phán Đẩu mới hiểu ra rằng: Muốn con ngươi thoát ra khỏi đau khổ tối tăm cần có những giải pháp thiết thực, chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ nhưng xa rời thực tiễn. Việc chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống của tình huông truyện. Lời kể chuyện cũng trở nên khách quan, chân thật và giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ các nhân vật cũng phù hợp với đặc điểm, tính cách của mỗi người; giọng điệu của lão đàn ông thật thô bỉ, tàn nhẫn với những lời lẽ cục cằn, thô bạo; những lời của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khi phải nói với con, thật đớn đau và thấu trải khi nói về thân phận của mình; nhẵng lời của thẩm phán Đẩu ở tòa án Huyện rõ là ngôn ngữ, giọng điệu của một con người tốt bụng, chân thành,… Kết bài: Một tác phẩm có thể có nhiều giọng điệu khác nhau nhưng bao giờ cũng nổi trội một giọng điệu chủ đạo. Chiếc thuyền ngoài xa được triển khai, xoay quanh tình huống tự nhận thức. Nghĩa là, đi từ lầm lẫn, ngộ nhận đến sự “hiểu biết, giác ngộ” nên sắc thái giọng điệu luôn thay đổi theo diễn biến tình tiết giàu kịch tính: có lúc say sưa hùng biện, lúc hài hước tự trào, lúc khách quan tiết chế, lúc trầm lắng suy tư nhưng có lẽ sắc thái suy tư – chiệm nghiệm, suy tư – triết lí nổi bật hơn cả, tạo nên giọng điệu chủ đạo, gợi nhiều lo âu, day dứt hơn là thanh thản, nhẹ nhõm.
Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu
1,603
Phân tích Chiếu cầu hiền để thấy tấm lòng vì dân vì nước và tài nhìn xa trông rộng của Quang Trung Mở bài Năm 1788, triều Lê – Trịnh sụp đổ, vua Quang Trung xây dựng lại đất nước nhưng còn gặp nhiều trở ngại do đất nước loạn lạc, kẻ sĩ bi quan, chán chường. Mặc khác, vẫn không ít sĩ phu, nhân tài bảo thủ với triều đại cũ mà bất hợp tác với triều đình Tây Sơn. Trước tình hình ấy, Quang Trung đã ban Chiếu cầu hiền để thuyết phục trí thức Bắc Hà hiểu đúng vai trò và sứ mệnh xây dựng đất nước. Mặc dù người trực tiếp viết chiếu thư là Ngô Thì Nhậm nhưng nội dung tư tưởng vẫn là của vua Quang Trung. Thân bài Bằng lối văn nghị luận cổ, Chiếu cầu hiền được Ngô Thì Nhậm thể hiện thành công qua cách viết súc tích, thiết thực. Văn bản được chia làm 4 phần rõ ràng theo bố cục của một bài chiếu cũng là theo cách thuyết phục người hiền của vua Quang Trung. Mở đầu bài chiếu, tác giả đã đưa ra quy luật xử thế của người hiền bằng hình ảnh so sánh độc đáo: người hiền như ngôi sao sáng còn thiên tử như sao Bắc thần. Chỉ khi quy phục sao Băc thần thì những ngôi sao kia mới sáng thật sự cũng như chỉ khi phụng sự vua, phục vụ cho nhân dân thì bản lĩnh và tài năng của họ mới thật sự phát huy. Thế nên việc người hiền quay về, tìm đến dưới trướng vua là thuận theo lẽ tự nhiên, hợp lòng dân, ý trời. Để tăng sức thuyết phục, tác giả đưa ra phản đề đánh đúng tâm lí những kẻ sĩ đang ở ẩn. Bên cạnh đó, Ngô Thì Nhậm còn mượn cứ liệu từ sử sách Trung Quốc như luận ngữ của Khổng Minh vừa hợp lòng sĩ tử vừa cho thấy Quang Trung cũng là người hiền, từng đọc sách thánh hiền. “Trước đây thời thế suy vi…lẩn tránh suốt đời” là những ví dụ điển hình trước đây kẻ sĩ mai danh ẩn tích, trốn tránh việc đời hoặc chọn nhầm con đường…Qua đó, tác giả cũng thể hiện rõ quan điểm của nhà vua. Quang Trung cho những điều đó là sai lầm nhất thời, là vạn bất đắc dĩ, không truy cứu, không trách cứ những chuyện đã qua. Đối với sĩ phu Bắc Hà từng nhận lộc của vua Lê – Trịnh, nặng chữ trung nên khó chấp nhận việc thay đổi triều đại, Quang Trung cũng đề cập đến một cách rất chi tiết bằng việc phân tích nguyên nhân và lí giải thấu tình. Tác giả Ngô Thì Nhậm đã truyền đạt lại suy nghĩ của vua bằng những lời lẽ châm biếm nhưng không hề khiến người nghe phẫn uất. Ngược lại những điều chiếu ban trở thành ân tình mà lẽ ra các sĩ phu phải đón nhận từ sớm. Tấm lòng của bậc minh vương thánh đế thể hiện qua cách cư xử và thái độ trân trọng người hiền dù trước kia người ấy có ý đối nghịch với chính mình. Kẻ sĩ là những người học hành để phụng sự cho đất nước. Vậy đang lúc xả tắc đang cần há chẳng phải là lúc thích hợp nhất để người hiền trong thiên hạ bộc lộ khả năng của mình? Để chỉ ra nhu cầu của đất nước trong thời điểm hiện tại, người viết không giấu giếm những yếu kém về kinh tế, chính trị, xã hội nhưng lại có cách nói khéo léo. Đất nước gặp rất nhiều khó khăn, bao nhiêu nhiệm vụ mới mẻ chưa hoàn tất, từ việc binh đao nơi biên cương đến việc học hành, chỉnh đốn văn hóa đều rất cần người tài giúp sức. Đã vậy mà nội bộ triều đình lại rối ren, một vị minh quân dù có tài giỏi đến nhường nào cũng không thể quán xuyến hết một đất nước nếu không có những cánh tay đắc lực. Giọng điệu vừa tha thiết, chân thành vừa khiêm nhường, hiểu biết khiến người hiền không thể không giúp triều đình. Qua đấy ta cũng thấy được tấm lòng và trí tuệ của vua Quang Trung. Để kết thúc bài Chiếu, tác giả một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của hiền tài đối với đất nước và tính cấp thiết của vấn đề qua lời kêu gọi tha thiết, khích lệ cùng chung một gánh giang sơn “Nay trời trong sáng, đất thanh bình chính là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài có đức hãy cùng cố gắng lên, ghi tên tại triều đình..” Bằng lời văn sáng tạo, súc tích, lập luận chặt chẽ, khúc chiết nhưng thấu tình đạt lí, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của vua Quang Trung trong việc cầu hiền tài phụng sự cho đất nước. Thông qua đó, chúng ta nhìn rõ hơn về tài năng và đức độ của một vị vua áo vải.
Phân tích Chiếu cầu hiền để thấy tấm lòng vì dân vì nước và tài nhìn xa trông rộng của Quang Trung
862
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Bài làm Lí Công Uẩn (974 – 1028) quê ở châu cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều võ công hiển hách. Dưới thời Tiền Lê, ông làm quan đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Lê Ngọa Triều băng hà, ông được triều thần tôn lên làm vua, xưng là Lí Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm Canh Tuất (1010), Lí Thái Tổ viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay). Tương truyền khi thuyền nhà vua đến đoạn sông dưới chân thành thì chợt thấy có rồng vàng bay lên. Cho là điềm lành, Lí Thái Tổ nhân đó đổi tên Đại La thành Thăng Long. Chiếu dời đô phản ánh ý chí tự cường và khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất, lớn mạnh của dân tộc Đại Việt. Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ vì trên thuận ý trời, dưới hợp lòng người, có sự kết hợp hài hòa giữa lí với tình. Chiếu là một loại văn bản cổ, nội dung thông báo một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó của vua chúa cho thần dân biết. Chiếu thường thể hiện một tư tưởng lớn lao có ảnh hưởng đến vận mệnh triều đại, đất nước. Chiếu dời đô cũng mang đầy đủ đặc điểm trên nhưng bên cạnh đó, nó cũng có những nét riêng. Đó là tính chất mệnh lệnh kết hợp hài hòa với tính chất tâm tình. Ngôn ngữ bài chiếu vừa là ngôn ngữ hành chính vừa là ngôn ngữ đối thoại. Bố cục bài chiếu có thể chia làm ba đoạn: Đoạn một: Từ đầu đến không thể không dời đổi: Tác giả nêu những dẫn chứng trong sử sách để làm cơ sở cho việc dời đô của mình. Đoạn hai: Tiếp theo đến phong thái tốt tươi: Tác giả phân tích thực tế là kinh đô cũ không còn thích hợp với sự mở mang phát triển của đất nước cho nên cần thiết phải dời đô. Đoạn còn lại: Tác giả khẳng định thành Đại La là nơi hội đủ mọi điều kiện thuận lợi để chọn làm kinh đô mới. Kết cấu nói trên tiêu biểu cho kết cấu của một bài văn nghị luận chính trị xã hội. Bằng phương thức lập luận sắc bén, chặt chẽ, lôgíc, tác giả đã trình bày và thuyết phục mọi người đồng tình với quyết định dời đô của mình. Để chứng minh quyết định dời đô là đúng đắn, tác giả nêu một số dẫn chứng trong lịch sử cổ kim để củng cố lí lẽ, tăng thêm khả năng thuyết phục. Để giải tỏa tâm trạng băn khoăn của không ít người trước việc dời đô, tác giả khẳng định dời đô là việc làm thường xuyên xảy ra trong lịch sử các triều đại phong kiến từ trước tới nay. Lí Công uẩn viện dẫn gương các triều vua thời cổ đại bên Trung Quốc cũng đã từng dời đô: Đoạn này nêu tiền đề làm chỗ dựa cho lí lẽ mà tác giả sẽ trình bày ở những phần tiếp theo. Trong lịch sử phong kiến phương Bắc đã từng có chuyện dời đô và mang lại những kết quả tốt đẹp, cho nên việc dời đô của Lí Thái Tổ không phải là chuyện bất thường. Nhà vua khẳng định các bậc đế vương khi quyết định dời đô đều nhằm mục đích mưu đồ nghiệp lớn, xây dựng vương triều phồn thịnh, tính kế lâu dài cho quốc gia, dân tộc. Việc dời đô trên thì thuận theo mệnh trời (tức phù hợp với quy luật khách quan), dưới thì thuận theo ý dân (phù hợp với nguyện vọng của nhân dân) nôn kết quả là đều đem đến sự phát triển thịnh vượng cho quốc gia dân tộc. Qua việc đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng ấy, tác giả khẳng định việc thay đổi kinh đô đối với triều đại nhà Lí là một tất yếu khách quan. Ý định dời đô của Lí Công Uẩn bắt nguồn từ thực tế lịch sử đồng thời thể hiện ý chí mãnh liệt của nhà vua cũng như của dân tộc ta hồi đó. Nhà vua muốn xây dựng và phát triển Đại Việt thành một quốc gia hùng mạnh trong tương lai. Dựa vào óc quan sát, phân tích kĩ lưỡng tình hình thực tế, ông nêu ra những nhận xét có tính chất phê phán: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi. Theo ông, nếu cứ để kinh đô ở chỗ cũ thì sẽ phạm những sai lầm như không phù hợp quy luật khách quan: lại theo ý riêng mình khinh thường mệnh trời; không biết học theo cái đúng của người xưa: không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây. Hậu quả là triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi… Tóm lại, kinh đô của quốc gia Đại Việt không thể phát triển thịnh vượng trong một vùng đất chật hẹp như thế. Bôn cạnh lí lẽ sắc sảo, vua Lí Thái Tổ còn dùng tình cảm chân thành để tác động mạnh mẽ tới tâm hồn dân chúng, ông tỏ ra tinh tế, khiêm nhường khi giãi bày ý định của mình. Tính thuyết phục của lí lẽ càng tăng lên khi tác giả lồng cảm xúc của mình vào: Trẫm rất đau xót về việc đó. Cảm xúc đó phản ánh khát vọng của nhà vua là muốn phát triển đất nước thành một quốc gia hùng cường. Tuy nhiên đằng sau lời lẽ mềm mỏng ấy vẫn là một quyết định cứng rắn không thể không dời đổi. Nhà vua chứng minh ưu thế mọi mặt của thành Đại La và khẳng định đây là địa điểm tốt nhất để đặt kinh đô mới: Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hưởng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Nhà vua dựa vào thuyết phong thủy để phân tích và chứng minh lợi thế và vẻ đẹp muôn mặt của thành Đại La về địa lí, văn hóa, đầu mối giao lưu, điều kiện sống của dân cư và sự phong phú, tốt tươi của cảnh vật. Thành Đại La ở vị trí trung tâm của đất nước. Có thế rồng cuộn hổ ngồi. Địa hình đa dạng có núi có sông, địa thế cao và khoáng đạt, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, tiện cho việc phát triển lâu dài của quốc gia. Đây cũng là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước. Xét toàn diện, thành Đại La có đủ điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt. Chứng cớ nhà vua đưa ra có sức thuyết phục rất lớn vì được cân nhắc kĩ càng trên nhiều lĩnh vực, Trên cơ sở đó nhà vua khẳng định: Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thánh địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Kết thúc bài Chiếu dời đô, Lí Thái Tổ không lấy uy quyền của vua chúa để ban bố mệnh lệnh mà lại đặt ra câu hỏi: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào? Câu hỏi tu từ này thể hiện thái độ tôn trọng của người đứng đầu đất nước đối với triều đình phong kiến đương thời. Có thể coi đây là yếu tố dân chủ tiến bộ trong tư tưởng của Lí Thái Tổ. Lời lẽ bài chiếu mang tính chất đối thoại, tạo sự hiểu biết và đồng cảm giữa nhà vua với các bậc quan lại trong triều đình và dân chúng. Một lần nữa, nhà vua khẳng định quyết tâm dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La của mình. Chiếu dời đô được viết theo lối văn biền ngẫu với những cặp câu song song, các vế câu đối nhau rất chỉnh về cả ý lẫn lời. Những đoạn văn cân xứng kết hợp và bổ sung cho nhau để thể hiện nội dung tư tưởng của bài chiếu. Tác giả đã thuyết phục người nghe bằng lí lẽ sắc sảo và tình cảm chân thành. Nguyện vọng dời đô của Lí Thái Tổ phù hợp với nguyện vọng của thần dân trăm họ. Chiếu dời đô phản ánh ý chí độc lập tự cường của dân tộc và sự phát triển lớn mạnh của quốc gia Đại Việt. Qua đó, chúng ta có thể thấy được khát vọng mãnh liệt của tổ tiên về một nước Đại Việt độc lập, thống nhất, hùng cường và tư thế hiên ngang của một quốc gia tự chủ đang trên đà phát triển lớn mạnh. Dời đô từ vùng núi Hoa Lư chật hẹp ra vùng đồng bằng rộng rãi, điều đó chứng tỏ triều đình nhà Lí đã đủ khả năng chấm dứt nạn phong kiến cát cứ trong nước và đủ sức chống cự với quân xâm lược phương Bắc. Việc Lí Thái Tổ định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn về một mối, để có điều kiện xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh. Sự đúng đắn của quyết định dời đô đã được lịch sử chứng minh một cách hùng hồn. Thăng Long xưa – thủ đô Hà Nội ngày nay xứng đáng là trái tim của Tổ quốc, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước, đã vững vàng trước mọi thử thách ác liệt của nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm.
Phân tích Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn ngữ
1,794
Phân tích chuyển biến tâm trạng của Chí phèo sau đêm ăn nằm với Thị Nở Hướng dẫn Sau đêm ăn nằm với Thị Nở, tâm trạng Chí phèo trở nên hiền lành khác thường Mở bài: Chí Phèo là tác phẩm văn học xuất sắc của nhà văn Nam Cao và của nền văn học hiện thực phê phán thế kỉ 20. Có thể nói truyện ngắn Chí Phèo ra đời thực sự mang đến một “cơn địa chấn” dữ dội trong làng văn học thời bấy giờ. Lần đầu tiên người ta thấy một tên say rượu ngật ngưỡng đi về trong bóng tối. Lần đầu tiên người ta nghe những tiếng gào thét, chửi bới, văng tục dữ dội đến như vậy. Chí Phèo, con quỷ dữ làng Vũ Đại, say chưa từng tỉnh. Nhưng có một lần hắn thực sự thức tỉnh. Đó là sau đêm ăn nằm với Thị Nở, một người phụ nữ tưng tửng, xấu xí đến ma chê quỷ hờn. Thân bài: Không những thành công trong xây dựng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao còn rất thành công khi khắc họa nhân vật Thị Nở. Xuất hiện khá muộn trong tác phẩm nhưng Thị Nở đã tạo ra được những chuyển biến sâu sắc cho câu chuyện. Chính Thị Nở đã tạo bước ngoặc làm thay đổi con người Chí Phèo, giúp hắn nhận thức được sự sống ngọt ngào. Nhưng đáng tiếc thay, cũng chính Thị Nở lại là người làm sống lại “con thú dữ” trong tâm hồn Chí vốn mới vừa ngủ yên khiến cho hắn sau khi giết chết Bá Kiến cũng tìm đường tận tuyệt, chấm dứt cuộc đời trong phẫn uất tột cùng. Chí Phèo gặp Thị Nở trong một đêm định mệnh. Sau cuộc rượu ngà ngà ở nhà Tư Lãng, Chí Phèo giảo bước ra về. Đêm trăng sáng vằng vặc rọi khắp vườn quê. Tiếng côn trùng rả rích trong lùm cây bụi cỏ. Gió hiu hiu thổi phất phơ tà áo vốn không bao giờ cài cúc của hắn. Đêm hè nóng bức, Thị Nở ra nằm gần bụi chuối cho mát mẻ rồi ngủ quên ở đó. Cái dáng nằm hớ hênh, da thịt thập thò trong chiếc áo ngắn khiến đất trời bâng khuân. Định mệnh đã đặt Thị Nở trên lối đi của Chí Phèo. Ánh trăng lấp ló trong tàn lá, đêm vắng lặng như tờ. Chí Phèo dừng lại. Lần đầu tiên trong cơn say hắn dừng lại để ngắm nhìn. Hắn ngắm ngía Thị Nở một cách kinh ngạc. Rồi bất ngờ hắn lao vào ôm lấy thị như con mãnh thú vồ lấy con mồi yếu ớt. Thị Nở giật mình la làng. Nhưng hắn la còn to hơn át cả tiếng thị. Dân làng Vũ Đại đâu lạ gì tiếng la thét của kẻ điên cuồng ấy. Không ai quan tâm. Trong đêm khuya khắtthế này, cứ kệ hắn gào la. Tiếng gào la nhỏ dần rồi tắt lịm trong đêm tối. Không gian lại yên tĩnh như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Đêm ấy họ đã ăn nằm với nhau. Chuyện ăn nằm của người xưa là một chuyện hệ trọng. Nam Cao cũng đã khéo ló xử lí việc này. Tuy là một việc xằng bậy nhưng mang lại kết cục tốt đẹp. Đối với Thị Nở, hành động của Chí Phèo khác nào là cưỡng bức thị. Thế mà thị không hề giận. Thị thấy thương thương con người ấy. Lúc đầu kháng cự quyết liệt vì sợ hãi, sau cũng buông xuôi. Chí Phèo trở dậy khi mặt trời đã lên cao. Chí thấy miệng đắng, chân tay uể oải. Lần đầu tiên, sau bao năm không còn ý thức được bản thân, giờ đây Chí thấy lòng bâng khuâng, mơ hồ buồn đến lạ. Một nỗi buồn vô cớ không biết từ đâu dội về trong lòng vốn đã chai sạn của hắn. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm tháng chìm trong cơn say bất tận, đây là giây phút Chí hoàn toàn tỉnh táo. Hắn nhận ra âm thanh cuộc sống đời thường xung quanh đang vọng về. Tiếng cuộc sống nhịp nhàng như một bản nhạc, tuy đơn điệu nhưng rất dễ chịu. Tiếng chim hót, tiếng anh thuyền chài khua mái chèo đuổi cá, tiếng người nói chuyện rì rầm đâu đó khiến hắn chú ý. Những âm thanh ấy vốn vẫn lặp đi, lặp lại từng ngày nhưng bấy lâu hắn nào nghe thấy. Bởi bấy lâu nay, hắn chìm ngập trong cơn say của rượu, trong bóng đêm của hận thù, trong u mê tăm tối. Hắn sống mà như đã chết. Hắn hình người nhưng có tâm hồn của quỷ dữ. Hắn điên cuồng trong những cảnh đâm chém dữ dội. Hắn thích nghe tiếng kêu la thảm thiết của nạn nhân chớ nào chú ý đến những âm thanh dịu dàng, êm tai và ngọt ngào ấy. Cuộc sống bình dị đã làm Chí Phèo cảm thấy nao lòng. Hắn bỗng nhớ lại những tháng ngày rất xa xôi. Những mơ ước năm nào bỗng rạo rực trong lòng hắn. Thật may thay là hắn vẫn còn nhớ. Tâm hồn của hắn chưa hẳn đã chết. Có những mầm sống đang ngủ quên ở đâu đó trong tâm hồn cằn cỗi ấy. Hắn mơ ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng chăm bẫm cuốc mướn cày thuê, vợ ở nhà kéo tơ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khó thì chăn chỉ, chắt chiu từng ngày. Khá giả thì mua năm sào ruộng để dành. Mơ ước của Hắn thật nhỏ bé và giản dị nhưng suốt bao năm qua nó vẫn chưa trở thành hiện thực. Những ước mơ tốt đẹp của Chí Phèo không hề bị mất đi mà nó chỉ chìm sâu vào một góc tăm tối nào đó của tâm hồn Chí. Hiện tại của hắn thật đáng buồn. Buồn vì Chí Phèo thấy mình đã già đã sang cái dốc bên kia cuộc đời. Có thể đã hư hỏng nhiều thế mà hắn vẫn đang cô độc. Tương lai của hắn lại đáng buồn hơn. Bởi hắn có quá nhiều sự bất hạnh đói rét ốm đau và cô độc. Giờ đây, đối với Chí, cô độc còn đáng sợ hơn nhiều đói rét và ốm đau. Hắn bắt đầu thấy sợ và lo nghĩ đến tương lai. Lần đầu tiên, kể từ khi ra khỏi nhà tù, hắn biết nghĩ đến tương lai. Một kẻ chỉ biết đến uống rượu và ăn vạ như hắn mà còn nghĩ đến tương lai. Thật đáng cười cho cái suy nghĩ vẩn vơ của hắn lắm. Hắn cũng nghĩ là hắn đang mơ ước vẩn vơ thôi. Lập tức, hắn nghĩ đến cái tình trạng bi đát và khốn cùng của mình. Hắn nhận ra hắn đáng thương và cần có ai đó để thương hắn. hắn thấy giờ đây hắn yếu duối vô cùng và cần có nơi nào đó để nương tựa trong quãng đời còn lại. Đúng lúc đang suy nghĩ vẩn vơ thì Thị Nở bước vào với bát cháo hành nóng hổi trên tay cùng nụ cười đoan đả. Mùi bát cháo hành thơm phưng phức xốc vào mũi hắn cùng người đàn bà ở bên cạnh khiến hắn cảm thấy ấm áp vô cùng. Ngay trong lúc ốm đau và tuyệt vọng mà có ai đó ở bên cạnh quả thực thật vô cùng hạnh phúc. Hắn hết nhìn bát cháo rồi lại nhìn Thị Nở. Hắn xúc động đến muốn khóc. Lần đầu tiên có một người cho hắn một bữa ăn mà trước đây hắn phải giành giật, cướp bóc, ăn vạ mới có được. Hắn lại tiếp tục suy nghĩ. Hắn nghĩ về những ngày tháng cơ nhục và lạnh lẽo. Hắn nghĩ đến những người đã bị hắn trấn áp tàn tệ. Lương tâm hắn bắt đầu cắn rứt và xung đột dữ dội. Tình người hãy còn đây, mà hắn nỡ nào bội bạc, nhẫn tâm đến thế. Hắn nhận ra trong bát cháo hành của thị nở chan chứa tình yêu thương. Hắn nhìn thấy nụ cười trìu mến, thiết tha trên đôi môi chờ đợi của Thị Nở. Thị đến với hắn như ánh sáng của thiên thần, soi rọi vào mọi ngóc ngách trong tâm hồn hắn. Hắn còn không tin đó là sự thật nữa. Hắn đón nhận bát cháo yêu thương từ tay người đàn bà, ngửi lấy rồi chậm rãi múc từng muỗng. Từng miếng cháo như vị thuốc thần tiên thấm vào thân thể hắn, xóa tan phần tăm tối và làm bừng sáng lương tri. Bát cháo hành kì diệu của Thị Nở khiến Chí Phèo khao khát làm người lương thiện hơn bao giờ hết. Hắn bắt đầu nhận biết được cái thiện và cái ác. Hắn cũng nhận ra cái đúng và cái sai, cái tốt đẹp và cái xấu xa, tàn nhẫn ở đời. hắn thấy mình trong những ngày qua đã sống thật tồi tệ. Hắn hối hận. Nguồn sống trong hắn bắt đầu cuộn mình trỗi dậy. Hắn muốn sống đúng nghĩa một con người. “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao”. Chí Phèo mong muốn được xã hội “bằng phẳng, thân thiện của những người lưng thiện”, thâu nhận lại hắn. Hắn muốn ở cùng mọi người, muốn được yêu thương chứ không phải sợ hãi và thù ghét. Nhưng có được không với bao nhiêu tai họa mà hắn đã mang đến cho cái làng này? Hắn cũng không biết rõ nữa nhưng hắn đang rất muốn được như thế lắm. Thế nhưng, có ngờ đâu, con đường trở lại làm người lương thiện vừa mở ra trước mắt Chí Phèo đã bị đóng sầm lại. Sự mong ước được sống hiền lương của Chí Phèo một lần nữa lại không thành sự thật. Sự thức tỉnh trong lương tri và khát vọng làm lại cuộc đười của chí đã không được nhìn nhận. Cũng không ai muốn nhìn nhận điều đó dù trong năm ngày qua hắn đã không uống rượu, không gào thét, không ăn vạ hay xung đột với ai. Hắn đã thực sự tu tâm dưỡng tính và mong muốn mọi người hiểu điều đó. Nhưng dường như, cả cái làng Vũ Đại không ai còn tin hắn nữa. Cũng có thể họ tin anh muốn lương thiện thật nhưng không thể quên con quỷ luổn ẩn giấu trong anh. Thị Nở không thể giúp gì thêm cho hắn, bởi lẽ bà cô thị kiên quyết ngăn cản mối tình này. Bà không thể đồng ý cho cháu bà đâm đầu đi lấy thằng Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, bấy lâu nay chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ, hắn mãi mãi chỉ là con quỷ dữ, không bao giờ có thể làm người. Khi thị ra về, hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay nhưng thị gạt ra. Hắn tha thiết níu kéo nhưng đến cả Thị Nở giờ đây cũng bở rơi hắn. Lần thứ hai, Chí Phèo rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Lần này khốc liệt hơn lần trước. Chí thấy cuộc đời thật giả tạo, thấy đau đớn và tuyệt vọng vô cùng. Chí đã khóc. Những giọt nước mắt thánh thiện lăn tròn trên má. Những giọt nước mắt hối hận nhưng đã quá muộn màng. Mọi cánh cửa đến với cuộc đời đã đóng sầm trước mặt, đen tối và đáng sợ. Kết bài: Bằng ngòi bút sắc sảo và nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế, Nam Cao đã làm hiện rõ những khát khao tốt đẹp của nhân vật Chí Phèo. Sự thức tỉnh của Chí thể hiện sự cảm thông sâu sắc của Nam Cao với khát vọng lương thiện trong con người và sự bế tắc của những khát vọng trong hiện thực xã hội ấy. Nhìn lại cuộc đời Chí Phèo, có thể nói rằng, Chí Phèo đã sống bằng cuộc đời con người, bản tính con người ý nghĩa nhất chỉ trong vẻn vẹn có năm ngày ở cùng Thị Nở. Những chuyển biến trong tâm hồn Chí phèo thực sự như những đóa hoa bừng nở lên trên mảnh đất khô cằn. Nó không ngừng khao khát sự sống dù đó chỉ là một cơ hội hết sức mong manh. Nam Cao thực sự đã tỏ ra là một bậc thầy trong việc khám phá và khai thác những điều ẩn sâu trong con người để viết lên được những trang văn đầy cảm động ấy.
Phân tích chuyển biến tâm trạng của Chí phèo sau đêm ăn nằm với Thị Nở
2,124
Đề bài: Phân tích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Gợi ý a. Yếu tố hoang đường kì ảo Truyện có nhiều chi tiết mang yếu tố hoang đường kì ảo: hồn tên tướng giặc tử trận làm yêu làm quái trong dân gian, khi bị đốt đền hiện lên trách mắng dọa dầm Tử Văn, thổ công đến gặp Tử Văn, Tử Văn ốm rồi chết, hồn bị giải xuống âm phủ gặp Diêm Vương, cảnh thế giới địa phủ và cảnh Diêm Vương xử án, Tử Văn sống lại sau khi đã chết được hai ngày, sau đó lại mất, hồn nhận chức phán sự đền Tản Viên. Yếu tố hoang đường kì ảo xen kẽ với yếu tố hiện thực tạo cho câu chuyện sắc màu huyền hoặc và sức hấp dẫn ma lực của thể truyền kì. Những yếu tố hoang đường kì ảo trong tác phẩm cũng là phương tiện để nhà văn thể hiện ý tưởng nghệ thuật của mình: thế giới cõi âm là sự phản chiếu bóng dáng cuộc đời thực. Quan điểm, thái độ của nhà văn đối với những vấn đề trong cuộc sống con người qua đó cũng được thể hiện. b. Những vấn đề cơ bản về nội dung tư tưởng: Truyện kể về cuộc đối đầu kịch liệt giữa một bên là chàng Ngô Tử Văn tính tình khẳng khái, nóng nảy thấy sự tà gian thì không thề chịu được.Với một bên là hồn ma tên tướng giặc bại trận đang ngang nhiên làm hại dân lành. Đây thực chất là cuộc đối đầu giữa chính nghĩa và gian tà, giữa thiện và ác, giữa công bằng dân chủ và áp bức bất công. Nhân vật Ngô Tử Văn dẫu một mình đơn độc trong cuộc đấu tranh với kẻ ác vẫn không hề nao núng, trong bất cứ bối cảnh nào vẫn vững tin vào chính nghĩa của mình đã trở thành đại diện điển hình cho những người trí thức trung thực, bán lĩnh, giàu tinh thần dân tộc luôn có mặt trong mọi giai đoạn lịch sử của đất nước. Đề cao, cao ngợi những con người đó, Nguyễn Dữ đã cùng với nhân dân đóng góp một tiếng nói đồng tình mạnh mẽ vào cuộc chiến đấu chống lại cái ác, cái xâ'u của con người. Sự chiến thắng của Tử Văn sau bao gian nguy, thử thách là phần thưởng xứng đáng cho sự dũng cảm, kiên định của nhân vật, đồng thời là biểu hiện của niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà và khát vọng giành được công lí của nhân dân. Đó cũng là lời cổ vũ nhiệt thành của tác giả cho con người trong cuộc đấu tranh đầy gian nan, khốc liệt với những thế lực hung ác. Nhân vật tên tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược, khi chết thành hồn ma xảo quyệt tiếp tục thể hiện bản chất tham tàn, bạo ngược là điển hình cho sự ngoan cố. dai dẳng của những thê lực gian tà. Bên cạnh đó, còn có những thánh, thần tham của bàng quan, vô trách nhiệm tạo điều kiện cho cái ác lộng hành trở thành biểu tượng sinh động chân thực của bọn tham quan ở lại chốn trần gian. Thông qua những nhân vật này, tác giả cho người đọc thấy được, bức tranh hiện thực, phần nhiều là đen tối chốn dương gian mà ở đó điều nhức nhối nhất là những kẻ đại diện cho công lí, nắm trong tay công lí lại chính là nhừng kẻ bất lương, vô nhân tính. Tố cáo xã hội, tố cáo giai cấp thông trị và kêu gọi con người đấu tranh đến cùng cho chính nghĩa, cho công lí cũng là một trong những vấn đề nội dung quan trọng của tác phẩm.
Phân tích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
643
Phân tích Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Hướng dẫn CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN (“Tản Viên từ phán sự lục” – Trích “Truyền kì mạn lục”)- Nguyễn Dữ – I. Tìm hiểu chung 1.Tác giả +Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỉ XVI, quê ở Thanh Miện-Hải Dương. +Xuất thân trong gia đình khoa bảng, đã từng ra làm quan nhưng sau đó lui về ở ẩn. +Ông để lại tác phẩm nổi tiếng là Truyền kì mạn lục 2.Tác phẩm Truyền kì mạn lục – Thể loại: Truyền kì – Viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. – Về giá trị nội dung: + Đề cập đến số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu ->phản ánh hiện thực xã hội đương thời. + Thể hiện tinh thần dân tộc, niềm tự hào về nhân tài, văn hóa nước Việt. -Về giá trị nghệ thuật: Có sự tham gia của yếu tố hoang đường, kì ảo. Truyền kì mạn lục vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân đạo, được Vũ Khâm Lân (thế kỉ XVII) khen tặng là Thiên cổ tuỳ bút, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài 3.Văn bản Vị trí: Được trích trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. -Nội dung 2: Đọc – hiểu văn bản (25 phút) II. Đọc –hiểu văn bản Tóm tắt: Ngô Tử Văn người đất Lạng Giang, vốn khẳng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không chịu được. Cuối đời Hồ, có tên giặc tử trận vào đền TV rồi tác oai, tác quoái trong dân gian. Tử Văn tức giận, châm lửa đốt đền. Về nhà chàng lên cơn sốt, mơ thấy tên giặc kia đên đe dọa nhưng mặc kệ. Thổ Công kể rõ sự tình, bày cho chàng cách ứng xử khi bị bắt xuống âm phủ. Tử Văn bị quỷ sứ bắt đi. Trước mặt Diêm Vương, Tử Văn tâu trình sự việc với lời lẽ rất cửng cỏi. Diêm Vương sinh nghi, cho người đến đền Tản Viên lấy chứng thực và thấy đúng như lời Tử Văn nói. Tức giận, Diêm Vương sai lính đày tên giặc giả danh xuống ngục Cửu. Tử Văn sống lại, cùng dân làng dựng lại đền. Thổ Công cảm kích, mời Tử Văn về làm chức phán sự ở đền Tản Viên. Tử Văn nhận lời, thu xếp việc nhà rồi không bệnh mà mất. 1. Giới thiệu Ngô Tử Văn – Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng. – Tính cách: Khẳng khái, nóng nảy, cương trực. Cách giới thiệu nhân vật: Theo phương pháp truyền thống của văn học trung đại, vừa cụ thể, ngắn gọn, vừa gây ấn tượng cho người đọc, tạo cảm giác “người thật, việc thật”. Đây là cách giới thiệu nhân vật phổ biến trong văn học trung đại. VD: giới thiệu chị em Thúy Kiều “Đầu lòng hai ả tố nga / Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”. Hay giới thiệu Từ Hải: “Râu hùm, hàm én, mày ngài / Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao / Đường đường một đấng anh hào / Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài / Đội trời đạp đất ở đời / Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông.” 2. Ngô Tử Văn đốt đền – Nguyên nhân: + Tức giận, không chịu được yêu tà tác oai tác quái hại dân. + Đả phá sự mê tín thần linh của quần chúng nhân dân. – Hành động: tấm gội sạch sẽ, khấn trời, châm lửa đốt đền. ->Thể hiện sự khẳng khái, chính trực, dũng cảm và tinh thần dân tộc. 3. Sau khi đốt đền: -Trạng thái cơ thể bất thường -> mở đầu cuộc giao tiếp với thế giới thần linh. – Gặp hồn tên tướng bộ họ Thôi và vị thổ thần nước Việt. + Tên tướng bộ họ Thôi: đòi trả đền, mắng, đe dọa>< Tử Văn điềm nhiên. + Thổ công giúp đỡ, hứa làm chứng ở Minh Ti. Thể hiện tinh khảng khái, cương trực, cứng cỏi của Tử Văn. Theo quan niệm dân gian, khi con người xâm phạm vào chốn linh thiêng sẽ bị trừng phạt. Lời kể của vị Thổ thần thực chất là lời tố cáo xã hội đương thời, phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân, tố cáo nạn tham nhũng, ăn của đút của chính cõi trần để bênh vực, che đậy cái ác, cái xấu khiến người tốt bị oan khuất, vùi dập d.Cuộc xử kiện dưới âm phủ – Quang cảnh nơi âm phủ: rợn người-> ấn tượng hãi hùng về một thế giới khác, ở đó cái ác sẽ bị trừng trị nhằm thức tỉnh con người. + Tòa nhà rất lớn, xung quanh có thành sắt cao vòi vọi… + Sông lớn, trên sông bắc một cây cầu dài hơn ngàn thước, gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương… + Hai bên cầu có mấy vạn quỷ dạ xoa, mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác… Thế giới âm phủ được miêu tả từ góc nhìn kì vĩ tạo ra ấn tượng hãi hùng về một thế giới khác, ở đó cái ác sẽ bị trừng trị nhằm thức tỉnh con người. Cảnh xử kiện dưới âm phủ Ý nghĩa của việc trừng trị hồn ma: “Ngôi mộ bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám”. Người xưa quan niệm rằng, người chết luôn mong muốn mình có được “mồ yên mả đẹp”, không muốn ai đụng vào mồ mả của mình.Việc trừng trị này đã thể hiện sự nghiêm khắc đối với những kẻ làm điều xấu. Chiến thắng của Ngô Tử Văn có ý nghĩa: -Giải trừ tai họa, đem lại sự an lành cho dân. -Diệt trừ tận gốc thế lực bọn xâm lược tàn ác, giải oan cho thổ thần. -Được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên đảm đương nhiệm vụ giữ gìn công lí. -Chiến thắng của Tử Văn có ý nghĩa khẳng định niềm tin vào chính nghĩa nhất định thắng gian tà. =>Ngô Tử Văn là đại diện cho kẻ sĩ nước Việt, tác giả đề cao nhân vật này thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ, đấu tranh triệt để với cái xấu, cái ác để bảo vệ dân, bảo vệ chính nghĩa. – Ý nghĩa của chức phán sự đền Tản Viên: Đền Tản Viên thờ đức thánh Tản người phán xử rõ mọi công đức, tội trạng của con người trần thế. Tử Văn nhậm chức phán sự – xem xét các vụ kiện tụng, giúp việc xử án cho đức Thánh Tản – góp phần thực hiện công lí chính nghĩa. – Hồn ma tên tướng giặc xảo quyệt, tham lam, hung ác. – Hiện tượng oan trái, bất công từ cõi trần đến cõi âm: kẻ ác được bao che, người lương thiện chịu oan ức. => Hãy đấu tranh đến cùng chống cái ác cái xấu. Ý nghĩa: + Phê phán hồn ma tên tướng giặc xảo quyệt, giả mạo thổ thần, sống chết đều hung ác, tham lam, hại dân, đáng bị vạch mặt và trừng trị. + Hiện tượng oan trái, bất công từ cõi trần đến cõi âm: kẻ ác làm càn được bao che, người lương thiện chịu oan ức, thánh thần ở cõi âm cũng tham của đút bao che cho kẻ ác và cái ác lộng hành; Diêm Vương và các phán quan đại diện cho công lí cũng bị lấp tai che mắt. Đây là hình chiếu những bất công trong xã hội đương thời mà ở đó bọn tham quan ô lại đã tiếp tay cho kẻ xấu để gây nên bao nỗi khổ cho người dân lương thiện. Thông điệp của nhà văn: +Hãy đấu tranh đến cùng chống cái ác cái xấu; chỉ có đấu tranh dũng cảm mới đem lại phần thắng cho chính nghĩa. Liên hệ thực tế: – Qua câu chuyện về Ngô Tử Văn, em thấy trong cuộc sống hôm nay còn có nhiều người như Ngô Tử Văn không? – Từ câu chuyện về các thánh thần tham của đút nên đã bênh vực cho tên họ Thôi, em suy nghĩ gì về tệ nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay? 5. Nghệ thuật a. Nghệ thuật kể chuyện -Nghệ thật kể chuyện đặc sắc, linh hoạt, sinh động và hấp dẫn b. Vai trò của yếu tố kì ảo – Yếu tố kì ảo dày đặc -> câu chuyện thêm hấp dẫn. – Kì ảo là phương thức chuyên chở nội dung và cảm hứng hiện thực. I. Tổng kết Ghi nhớ (SGK/ T61)
Phân tích Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
1,430
Đề bài: Phân tích chân dung Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan Bài làm Khi nhắc đến bọn quan lại dưới thời phong kiến, nhân dân ta thường nhìn chúng với thái độ căm ghét, ghê tởm và gọi chúng là “quan tham, sâu mọt”. Là nhà văn am hiểu sâu sắc xã hội phong kiến, Nguyễn Công Hoan đã khắc hoạ nổi bật tính cách bọn quan lại chuyên ăn hối lộ, chuyên đục khoét, chuyên ăn bẩn… Một trong những viên quan mà ông miêu tả là Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma. Mở đầu truyện nhà văn cực lực lên án sách vệ sinh, ông cho rằng sách vệ sinh sai khi dạy người ta phải ăn ở hợp vệ sinh thì mới có sức khoẻ tốt. Với Huyện Hinh điều đó không đúng một chút nào, hắn chuyên “ăn bẩn” mà vẫn béo, rất béo là đằng khác. Phải chăng “ăn bẩn” mà nhà văn nói ở đây là “ăn bẩn” theo một nghĩa khác? Giọng văn châm biếm hài hước, thật kinh ngạc: Chà! Chà! Béo ơi là béo vì to béo quá, thân hình quan đồ sộ làm cho quan tưởng là “nói xỏ” khi có thằng dân nào nói nhờ bóng quan lớn to béo đến mức ra mặt hắn căng lên, râu không sao chồi ra ngoài được. Bởi vậy ngoài tứ tuần mà mặt hắn cứ nhẵn thín, cố gắng lắm trên mép hắn mới có được cái dấu chua chủa. Bằng thủ pháp cường điệu phóng đại nhà văn miêu tả diện mạo bên ngoài của hắn nhằm chứng minh: “những anh béo là những anh thích ăn bẩn cả”. Ăn bẩn không phải là ăn ở thiếu vệ sinh mà chính là kiếm ăn bằng những phương cách bẩn thỉu hèn hạ. Danh tính của Huyện Hinh sang đến nỗi làm quan luôn bị dân kiện, bao năm vẫn “lẹt đẹt” tri huyện mãi. Hắn bảo làm bố chánh có văng sỉ ra mà ăn. Đó là sự lọc lõi, cáo già của kẻ chuyên ăn bẩn. Với y danh dự, nhân phẩm, trách nhiệm cũng không bằng cách đục khoét dốc đầy vào bao tượng mặc dù có “bẩn” đi chăng nữa. Ta hãy xem hắn – Huyện Hinh ăn bẩn như thế nào? Trong truyện này chỉ là một phương cách trong muôn nghìn phương cách mà Huyện Hinh ăn bẩn. Con mẹ Nuôi vào cửa quan. Nó đi trình việc mất trộm hôm trước lên quan. Trước khi lên quan nó phải đi chạy vạy vay mượn một đồng hai hào, vì nó biết được “thông lệ gặp quan”. Trước mặt quan, ngài oai vệ quá, mắt trừng trừng nhìn nó. Thế là lúng túng, run quá, hoảng quá, nó đi trình việc mất trộm mà y như nó là kẻ ăn trộm vậy. Thế là rơi tiền, đồng rơi ở xó này, đồng rơi ở xó kia, quái! Còn một đồng nữa? Nó không biết rằng đồng hào mà nó tưởng là có ma ấy đang nằm dưới chân “con ma” trước mặt nó. Không đủ tiền “vi thiềng” quan con mẹ Nuôi lủi thủi ra về. Huyện Hinh chờ cho con mẹ khốn nạn đi khuất đưa mắt xuống chân dịch chiếc giày ra một tí mà vẫn thản nhiên như không, thò tay nhặt đồng hào, thổi những hạt cát còn bám và bỏ tọt vào túi. Tội nghiệp cho con mẹ Nuôi đã mất trộm lại mất cả tiền đi trình việc mất trộm. Nó phải đi vay tiền cả thảy có một đồng hai, khốn nạn có phải lót cho tên lính lệ hai hào từ cổng. Còn một đồng cứ tưởng… do lúng túng, hoảng sợ trước cửa quan, cả năm đồng hào đôi rơi tuốt xuống sân nhà, và thế là trong số tiền rơi ấy có một đồng “có ma”. Nó khăng khăng là “đồng hào của nó có ma”, nó không dám nghi ngờ cho quan bởi vì cửa quan là nơi tôn nghiêm, uy nghi sao có chuyện như vậy được. Nó lủi thủi ra về, mất đến bốn hào bạc mà không giải quyết được việc gì. Con mẹ Nuôi sẽ không khỏi hoài nghi về tiền mà nó mang đi lót tay cho quan để trình việc mất trộm. Có phải có ma thật trong đồng hào đôi của nó? mà nếu có ma thì tại sao nó lại không biến mất khỏi bao tượng bên người nó. Vậy thì ma ở đâu? Có ma thật không? sự nghi ngờ này được Nguyễn Công Hoan giải mã bằng đoạn băng ghi hình sau…Dịch chiếc giày ra một tí… bỏ tọt vào túi. Trong buồng quan chỉ có con mẹ Nuôi và quan vậy ai là ma? Con ma ấy là Huyện Hinh. Con ma đang trừng trừng nhìn nó vẻ soi mói, và có lẽ y quan sát xem đối tượng trước mặt mình là ai, y sẽ khoét bằng cách nào. Con ma giữa công đường, con ma thực thi pháp luật, phụ mẫu hi dân phải chăng quan lại phong kiến đều là bọ ma quái, tham lam nhũng nhiễu như vậy sao? Chúng dùng bao phương cách “mưu na trước quỷ” để bóc lột đến tận xương tuỷ của nhân dân. Vậy thì dân có thể trông tin quan như trời hạn trông mưa thế nào được. Hắn ti tiện bẩn thỉu vô cùng khi ăn món tiền chỉ đáng bằng món tiền con mẹ Nuôi lót tay cậu lính lệ. Hắn oai vệ quá, hắn béo quá và hắn còn càng ngày càng béo vì “ăn bẩn”. Cũng là quan huyện, nhưng viên quan phụ mẫu lại được Phạm Duy Tốn miêu tả sinh động ở góc độ khác.Vô trách nhiệm với nhiệm vụ của mình, ăn chơi hưởng thụ phó mặc cuộc sống của dân lành, khi thấy có khả năng mình bị liên lụy y đổ tội cho kẻ khác. Như vậy bộ mặt quan lại xưa là như thế, chúng bẩn thỉu ti tiện, vô lương tâm. Chẳng thế mà có bao câu ca dao tục ngữ chế giễu, đả kích bọn quan lại, coi chúng là sâu bọ, ung nhọt, kẻ cướp trong xã hội. Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan Hay Quan đi kinh lý trong vùng Đâu có… gà vịt thời lùng về xơi Có thể nhà văn dùng chút ít lối viết phóng đại, nhưng bản chất sự việc là có thật. Huyện Hinh là một tên quan có tâm địa hèn hạ, bẩn thỉu không từ chối bất kỳ thủ đoạn kiếm ăn nào. Đó cũng chính là bản chất chung của bọn quan lại dưới thời phong kiến. Cách nhìn của nhà văn đối với chúng cũng chính là cách nhìn của nhân dân ta. Từ đó dẫn đến một thái độ căm ghét, phản kháng, và tất yếu dẫn đến đấu tranh chống lại cường quyền áp bức.
Phân tích chân dung Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan
1,168
Phân tích chân dung Mã Giám Sinh và nội tâm Thúy Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều Hướng dẫn Phân tích chân dung Mã Giám Sinh và nội tâm Thúy Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều Truyện Kiều của Nguyễn Du ngoài giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc thì còn có thêm giá trị nghệ thuật đã đạt tới đỉnh cao. Nguyễn Du đã tỏ ra hết sức tài tình trong việc miêu tả về chân dung của nhân vật, vừa mang tính cụ thể lại vừa có tính khái quát thực sự cao. Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều là một ví dụ tiêu biểu như thế. Những câu thơ miêu tả chân dung bên ngoài của Mã Giám Sinh: “Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Vói bút pháp tả thực sắc ảo tài tình Nguyễn Du đã vẽ nên được chân dung sống động của tên lưu manh bán thịt buôn người nấp dưới bỏ bọc của mã giám sinh. Cái tài tình của Nguyên Du ở đây không phải là miêu tả tỉ mỉ dài dòng mà biết đưa vào nhũng chi tiết chọn lọc, thể hiện tập trung nhất về thần thái của nhân vật để từ đó làm nổi rõ tính cách. Hình thức của Mã có nhiều mâu thuẫn. Tuổi tác của hắn ta được tác giả miêu tả bằng mấy tù phỏng đoán như là: quá, trạc, ngoại từ Việt có, từ Hán có khiến cho người đọc càng khó hình dung ra đúng tuổi của hắn. Ngoại tứ tuần có thể hiểu là tầm 41- 42 tuôi mà cũng có thể hơn. Ngày xưa đàn ông năm mươi đã được xếp vào hạng lão, Vậy mà cách ăn mặc của tên Mã Gíam Sinh đó lại cố làm ra như mình trẻ trung, nhố nhăng: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Những tính từ tả thực mang theo ý nghĩa dung tục hàm chứa một ý mỉa mai, diễu cợt của Nguyễn Du đối với nhân vật này. Rõ ràng, Mã giám Sinh đang tìm mọi cách để che đậy bản chất xấu xa bên trong của hắn ta. Nực cười hơn nữa là hắn càng che đậy thì sư lố lăng, hợm hĩnh của một con buôn vô học, vô nhân tính cứ hiện ra lồ lộ. Những câu thơ miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều: “Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng! Ngại ngùng dợn gió e sương, Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày. Mối càng vén tóc bắt tay, Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”. Đến đây chúng ta lại bắt gặp được bút pháp ước lệ quen thuộc của Nguyễn Du khi tả những nhân vật chính diện mà ông yêu mến. Bình thường sắc đẹp của nàng khiến cho hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh thì lúc đau buồn tới tột cùng thì vẻ đẹp của nàng vẫn làm thổn thức lòng người. Nghệ thuật đối đã được tác giả khai thác một cách triệt để trong những dòng thơ tả về tâm trạng của Thúy Kiều. Cảm xúc chân thành của nhà thơ đã phá vỡ về tình khuôn phép của bút pháp cổ điển, mang lại cho người đọc một niềm xúc động sâu xa. Có lẽ lúc này Kiều đã mang một tâm trạng tột đỉnh của đau thương. Ngẫm tới tình yêu đầu đời trong sáng và đẹp đẽ với Kim Trọng đã tan thành mây khói thì lòng Kiều không khỏi xót xa, trái tim của nàng giống như bàn tay thô bạo nào đó bóp nát. Rồi nàng lại nghĩ tới tai họa từ đâu ập xuống gia đình khiến khiến cho cha và em lâm vào cảnh tù tội, tài sản đều bị lũ đầu trâu mặt ngựa cướp hết, Kiều đã đau đớn như đứt từng đoạn ruột. Khiến cho bước chân nàng nặng trĩu: “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng”. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích chân dung Mã Giám Sinh và nội tâm Thúy Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
672
Phân tích chân dung tinh thần của nhà nho Nguyễn Khuyến trong bài thơ Thu điếu Bài viết văn của bạn Mỹ Hạnh đến từ Thanh Hoá gửi đến ban biên tập website. Bài làm Thu điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến nằm trong chùm ba bài thơ thu “nức danh nhất” trong văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ tạo dựng được một bức tranh “điển hình hơn cả cho làng cảnh Việt Nam”. Sau mỗi dòng thơ, mỗi hình ảnh thơ, chúng ta có thể hình dung một cách rõ nét bức chân dung tinh thần của một nhà nho với cốt cách thanh cao và tấm lòng yêu nước thầm kín. Nguyễn Khuyến là người tài năng, là một nhà nho có cốt cách thanh cao, thâm trầm, có tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Qua cái nhìn phát hiện của nhà thơ Xuân Diệu, tất cả những phẩm chất cao quý ấy hiện lên thật tinh tế: “Bức ảnh cụ Nguyễn Khuyến cầm chén rượu hạt mít này tôi yêu quý lắm. Người cụ đẹp, đôi lông mày và đôi mắt đa tình hơn là thơ cụ (…) đầu đội khăn lượt nghiêm trang, dáng vẻ đàng hoàng trịnh trọng như các nhà nho xưa, như ánh lên tài hoa chứ chẳng khô khan chút nào (…) tôi quý trọng cái chén rượu hạt mít thanh cao trong những ngón tay thanh nhã này ở ảnh cụ Tam nguyên Yên Đổ. Trong thời thế ấy nó là một thách thức, một đắc ý, một sáng tạo” (Tiểu luận phê bình Đọc thơ Nguyễn Khuyến). Cốt cách của nhà nho Nguyễn Khuyến không chỉ hiện lên trong một bức ảnh, qua con mắt của nhà phê bình tài hoa Xuân Diệu mà còn ẩn trong rất nhiều các sáng tác của ông. Phân tích chân dung tinh thần của nhà nho Nguyễn Khuyến trong bài thơ Thu điếu Nguyễn Khuyến đã để lại một số lượng sáng tác lớn, gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, với trên 800 bài, chủ yếu là thơ. Tiêu biểu là Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ, cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng. Thu điếu nằm trong chùm ba bài thơ thu “nức danh nhất” trong văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ tạo dựng được một bức tranh “điển hình hơn cả cho làng cảnh Việt Nam”. Sau mỗi dòng thơ, mỗi hình ảnh thơ, chúng ta có thể hình dung bắt gặp một cách rõ nét bức chân dung tinh thần của Nguyễn Khuyến – một nhà nho với cốt cách thanh cao và tấm lòng yêu nước thầm kín. Toàn bộ bài thơ Thu điếu là một bức tranh thu đặc trưng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Trung tâm của bức tranh mùa thu là hình ảnh “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Từ chiếc thuyền con giữa lòng ao nhỏ, cái nhìn của thi nhân bao quát xung quanh: Mặt nước ao thu lạnh lẽo, trong veo đến hết độ của sắc trong; sóng biếc hơi khẽ gợn; ngang tầm mắt là “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Cái nhìn ấy sau đó lại hướng lên trời cao để thu vào một khoảng trong xanh vời vợi, lơ lửng như yên tĩnh từ muôn đời. Thế rồi, ánh nhìn lại vội trở về mặt đất, bắt gặp “ngõ trúc quanh co” uốn lượn men theo lối đi của vô vàn những chiếc ao nhỏ vùng đồng bằng chiêm trũng này. Tầm mắt quay trở lại điểm dừng là chiếc thuyền câu bởi “thanh động” của tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo. Trong thế giới ấy, chân dung tinh thần của một nhà nho trước sự đổi thay của thời cuộc được phác họa một cách rõ nét. Nhuốm trong từng cảnh thu, sắc thu là tâm trạng u hoài, một cõi lòng vắng lặng mênh mang và cả nỗi cô đơn “Đời loạn đi về như hạc độc” (Cảm hứng) của một nhà nho bất lực trước thời thế. Thu điếu mở ra trước mắt người đọc một bức tranh thu tĩnh lặng mang nét đặc trưng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Bức tranh thu với những hình ảnh rất quen thuộc: Ao thu, nước thu, thuyền câu, lá vàng, gió thu, trời thu, ngõ trúc… Tất cả dệt nên một không khí thu, sắc thu riêng của vùng đồng bằng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam. Ở đây, sự hòa phối của màu sắc đã đạt đến sự “thú vị”, như phát hiện của nhà thơ Xuân Diệu: “Cái thú vị của bài thơ là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”. Đường nét trong bức tranh thu cũng thật mảnh mai, tinh tế: đường bao thanh mảnh của rặng trúc, đường gợn của lượn sóng ao thu… Tất cả được bao bọc bằng một không gian nghệ thuật tĩnh lặng, vắng bóng người. Sự tĩnh lặng ấy được hiện lên bằng việc sử dụng nghệ thuật lấy động để tả tĩnh. Phải là một không gian tĩnh lặng đến gần như tuyệt đối mới có thể thấy rõ cái “hơi gợn tí” của sóng biếc mặt ao và chút “khẽ đưa” của lá vàng. Cảnh thu, sắc thu, không gian thu tạo cho chúng ta cảm nhận “rất là đất nước nhà mình, có thật, rất sống”. Đó chỉ có thể là sự khúc xạ của một tâm hồn gắn bó thiết tha với thiên nhiên, với quê hương đất nước. Đằng sau bức tranh thu “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng quê Việt Nam” ta bắt gặp chân dung tinh thần của một nhà nho trước thời cuộc. Thu điếu không phải là ngoại lệ. Trong bức tranh thu, trong gam màu lạnh của sắc xanh: Xanh nước, xanh sóng, xanh trời… trong khí thu hiu hắt, dường như có cái se sắt trong lòng nhà thơ. Trong vế đối với “hơi gợn tí” của “sóng biếc” là “khẽ đưa vèo” của lá. “Khẽ đưa” đối chỉnh với “gợn tí”, nhưng chữ “vèo”, miêu tả tốc độ bay của lá thì thật không phù hợp với mức độ “khẽ đưa”. Phải chăng, sau dáng bay “vèo” của lá thu chính là cảm nhận về thời thế của nhà thơ? Nguyễn Khuyến từng đỗ đầu cả ba kì thi (thi Hương 1864, thi Hội và thi Đình năm 1871), được vua ban cờ biển có viết hai chữ “Tam nguyên”. Ông ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp. Năm 1885, chúng tấn công kinh thành Huế. Kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi, nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã. Sống giữa thời kì các phong trào yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc, ông đành xin cáo quan về ở ẩn. Thời thế đổi thay nhanh quá, giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của vị Tam nguyên Yên Đổ không thực hiện được. Thoáng chốc non sông đã rơi vào tay kẻ thù, vị đại khoa chỉ biết ngậm ngùi “dặn các con”: “Sách vở ích gì cho buổi ấy” (Ngày xuân dặn các con). Sự thay đổi của thời cuộc được cảm nhận trong cả cái vèo bay của “lá vàng”. Nhà tho Tản Đà về sau cũng có tứ thơ như vậy: Vèo trông lá rụng đầy sân Công danh phù thế có ngần ấy thôi (Cảm thu tiễn thu) Trong kết cấu thơ thất ngôn bát cú Đường luật, cặp câu 5, 6 thường là bàn luận, mở rộng những suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình được gợi ra từ hai câu thực (câu 3, 4). Trong bài thơ Thu điếu, vẫn nằm trong mạch thơ, tứ thơ về mùa thu, vẫn là những hình ảnh quen thuộc đặc trưng của mùa thu nhưng trong đó ẩn chứa nỗi niềm tâm sự sâu kín của nhà thơ: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Hình ảnh “trời xanh ngắt” được trở đi trở lại trong cả ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Trong Thu vịnh, đó là “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”; trong Thu ẩm là “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”. Và một lần nữa, trong Thu điếu, đó lại là “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt. “Tầng mây lơ lửng” giữa bầu trời cao rộng như mang theo cả sự lửng lơ trong tâm trạng con người. Tâm trạng thời thế cuối cùng được thu về trong dáng vẻ của ngư ông: Tựa gối buông cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Hai câu thơ gợi lên ấn tượng về sự tĩnh lặng của không gian. Chỉ một tiếng cá đớp động dưới chân bèo mà thanh động cả thế giới thu nhỏ trong ao thu. Thủ pháp dùng cái động để nói cái tĩnh trong bài thơ một lần nữa phát huy hiệu quả nghệ thuật của nó trong việc biểu hiện mỗi u hoài tĩnh lặng trong cõi lòng người câu cá. Câu cá hay câu cá mùa thu tồn tại trong thơ ca cổ Trung Quốc và Việt Nam như một đề tài quen thuộc. Ngoài những bài thơ vịnh nghề ngư trong tứ nghệ – ngư, tiều, canh, mục, hình ảnh nhân vật trữ tình cùng với chiếc cần câu thường để chỉ cái thú trong lúc thư nhàn, có khi đồng nghĩa với việc lánh đục tìm trong, thể hiện thái độ quay lưng lại với chính sự, lại có khi mang dáng dấp của một hành động ẩn nhẫn đợi chờ thời cơ. Trong bài thơ Thu điếu, cơ chế tâm hồn chi phối sự kể, tả của tác giả có lẽ cần được cắt nghĩa trên khía cạnh tinh thần như thế. Bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến khép lại, ấn tượng để lại sâu đậm trong lòng người đọc có lẽ cái thanh và tĩnh. Nhưng thanh và tĩnh không chỉ là sự tồn tại vốn có của sự vật mà nó còn là điểm hội tụ của tâm hồn đã ủ sẵn nỗi muộn sầu tìm gặp với cảnh sắc thiên nhiên. Có thể nhu cầu thổ lộ tâm trạng u hoài đã dẫn lối để nhân vật trữ tình tìm tới và biểu hiện những gì làm toát lên ấn tượng thanh và tĩnh. Chính sự hài hòa giữa cảnh và tình đã đem đến vẻ đẹp tinh tế cho bài thơ. Chân dung tinh thần của Nguyễn Khuyến trong Thu điếu vừa mang dáng vẻ của một nhà nho lạc bước giữa thời cuộc vừa mang vẻ đẹp thuần khiết của một tâm hồn yêu thiên nhiên, thiết tha với quê hương, đất nước.
Phân tích chân dung tinh thần của nhà nho Nguyễn Khuyến trong bài thơ Thu điếu
1,889
Phân tích chân lý đường đời cách mạng của Bác trong bài thơ Đi đường Hướng dẫn Phân tích chân lý đường đời cách mạng của Bác trong bài thơ Đi đường Tập thơ Nhật ký tròng tù có nhiều bài lấy cảm hứng trên đường đi làm đề tài. Đi đường (Tẩu lộ) là một trong những bài thơ đó. Bài thơ có hai lớp nghĩa. Nghĩa thực là nỗi gian lao vất vả của người đi đường núi và niềm vui sướng vô hạn khi họ đã đứng trên núi cao để ngắm cảnh. Sau lớp nghĩa thực bài thơ đã toát lên bài học chân lý đường đời, đường cách mạng. Phải chăng vừa chân thực vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa nên bài thơ được xem như lời tự khuyên mình của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Đi đường mới biết gian lao. Câu thơ như một lời nhận xét thốt ra rất tự nhiên của người tù đã thấm mệt trên con đường bị giải đi. Lời nhận xét tưởng như hồn nhiên này được rút ra từ chính cảnh cơ cực của nhà thơ trong những ngày bị bọn Tưởng giải tới giải lui hết nhà lao này sang nhà lao khác. Đây chính là một sự trải nghiệm, một câu thơ được đánh đổi bằng chính những ngày đi đường gian khổ vất vả của Bác. Có thể là gà gáy một lần đêm chửa tan đã phải ở trên đường để hứng những trận gió hàn. Có thể là Năm mươi ba cây số một ngày – áo mũ dầm mưa rách hết giầy… Lời thơ giản dị mà nặng trĩu suy tư, có sức khái quát cao độ. Thật đúng là đoạn trường ai có qua cầu mới hay như Nguyễn Du đã từng viết. Một chữ gian lao là nó chứa đựng bao thử thách, nó đối mặt với ý chí của con người mà chỉ có những người đi đường mới biết được. Bằng những dòng nhật ký, không đẽo gọt, không khoa trương, câu thơ đọc lên có một độ ngân rung từ nỗi niềm có thật. Cái có thật ấy với cách nói đơn sơ không khỏi làm cho người đọc rùng mình. Ấn tượng gian nan trong nguyên bản được khắc họa hơn bản dịch II nó có một tiết tấu riêng, một cách láy đi láy lại như một tứ thơ tự thoại: Hai chữ tẩu lộ (đi đường) như những nốt nhấn đúng nhịp (3/4) vừa như một nhận xét vừa như một nghiền ngẫm, suy nghĩ chiêm nghiệm bằng chính máu thịt của mình. Sự truyền cảm không cố tình trong câu thơ hàm súc, dồn nén tự nó bật ra đâu có phải nhiều lời. Nói ít không phải là không có gì để nói, mà ngược lại: nội dung dồi dào mà câu chữ cứ như không. Nguyên tắc tiết kiệm lời trong thơ phải chăng là như thế? Về ý câu thơ này, tục ngữ đã nói Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Bác cũng đang học, đang biết bằng cảnh ngộ riêng của mình, rút ra bài học cho chính mình: có đi đường mới biết việc đi đường là khó. Một chữ tri (biết) đơn giản vậy thôi mà có thể cả đời không học được. Câu thơ thứ hai tiếp tục mở rộng mạch thơ của câu thơ đầu: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Nó làm sáng tỏ cái ý gian lao ở câu thơ thứ nhất. Đây là một chi tiết tâm tình rất thực, thể hiện trong tiết tấu trùng san chi ngoại hựu trùng san. Giữa hai chữ trùng san bố trí ở đầu câu và cuối câu như một sự vây bọc bịt bùng, là chữ hựu (lại). Nghĩa là vừa mới vượt được một dãy núi cao này chưa kịp nghỉ ngơi, một dãy núi cao khác lại hiện ra, hỏi ai có thể bình tĩnh mà thư thái trong lòng. Một chữ hựu đơn giản vậy thôi mà bao nhiêu chất chứa, nó nặng nề trong tâm trí của kẻ chinh nhân. Chữ tài tri ở câu thứ nhất và chữ hựu ở câu thứ hai ta thấy thấp thoáng nhân vật trữ tình, người tù Hồ Chí Minh đang cảm nhận, thấm thía suy ngẫm về nỗi gian lao triền miên của việc đi đường núi cũng như con đường cách mạng, con đường đời. Lộ trình trong bài thơ đến câu thứ ba vẫn còn chưa chấm dứt, thậm chí còn phải vượt qua một đỉnh núi cao khác hơn mọi thứ trùng san: Núi cao lên đến tận cùng, Mạch thơ không đi theo hướng có nữa mà chuyển cảnh, chuyển tình. Vì thế trong thơ tứ tuyệt gọi câu ba là câu chuyển. Nó như cầu nối mạch thơ, tiếp tục diễn tả núi cao của câu thứ hai nhưng cũng tiếp tục phát triển cao hơn. Ta cảm nhận từ sự lấy đà ấy của nhịp thơ: Trùng san chi ngoại hựu trùng san Trùng san đăng đáo cao phong hậu Ta chú ý hai chữ trùng san sử dụng trong câu hai và ba đầy dụng ý. Mật độ của nó vốn đã dầy lúc này càng dầy hơn. Cũng là điệp ngữ nhưng trùng san ở cuối câu hai ở đầu câu ba là điệp ngữ nối tiếp, lặp vòng. Tiết tấu thơ không còn chậm rãi, đều đều. Nó khẩn trương hơn, có phần thanh thoát hơn như một cuộc chuẩn bị. Phảng phất trong câu thơ một thứ âm nhạc tâm hồn khoan khoái xốn xang. Vậy cái gì xảy ra sau đó? Mộ sự ngã gục ư? Một sự chiến thắng ư? Người đọc đã trút đi được gánh nặng ngàn cân và thở phào nhẹ nhõm bởi câu thơ thứ tư: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Chỉ trong một chớp mắt, tình thế đã đổi thay, tâm trạng đã thay đổi, cán cân lực lượng về mặt tinh thần giữa người đi đường và những gian truân trên con đường đèo dốc đã thay đổi theo chiều ngược lại. Từ tư thế con người bị đày đọa tới kiệt sức, tưởng như tuyệt vọng, người đi đường cực khổ ấy bỗng trở thành du khách ung dung say sưa ngắm phong cảnh đẹp. Tư thế của người đi đường- từ vị trí nạn nhân đã trở thành chủ nhân tạo cho núi non một gương mặt khác. Người đi đường chủ động thu vào tầm mắt tất cả núi non trùng điệp với niềm vui vô hạn, niềm hạnh phúc dạt dào không gì sánh được, ấy là niềm vui vì chiến thắng được hoàn cảnh, chiến thắng được chính bản thân mình. Niềm hạnh phúc ấy không phải tự nhiên mà có. Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần phải càng cao. Quả thật tinh thần của người tù còn cao hơn núi. Chính Bác đã tự chứng thực cho mình, bằng con người mình. Một sự thể nghiệm lặng lẽ kiên trì và nhẫn nại không chịu lùi một phân. Người đã chiến thắng. Bốn câu thơ rất bình dị mà cô đọng, vừa tự nhiên chân thực, vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa. Bài thơ toát lên bài học chân lý đường đời, đường cách mạng, như lời tự khuyên mình của mỗi con người. Mỗi cuộc đời là một trăm năm, ai cũng phải đi một trăm đường. Có con đường lao động mưu sinh, có con đường công danh lập nghiệp. Tuổi trẻ còn có con đường học tập. Bài thơ Đi đường dã trở thành hành trang cho mỗi chúng ta thêm sức mạnh để vươn tới tương lai.
Phân tích chân lý đường đời cách mạng của Bác trong bài thơ Đi đường
1,292
Đề bài: Phân tích truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng Bài làm Truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng đã nhân hoá năm bộ phận của thân thể con người tạo cho mỗi bộ phận một vị thế rất hóm hĩnh: cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai và lão miệng. Trước kia, họ vẫn dựa vào nhau mà cùng tồn tại. Nhưng rồi cô Mắt đã khởi xướng một cuộc tẩy chay bất hợp tác với lão Miệng. Cô đã vận động được cậu Chân, cậu Tay và bác Tai kéo đến "nhà" lão Miệng, nói cho lão ta biết phải lo lấy mà sống; chúng tôi vất vả lam lũ xưa này mà nào co biết cái gì ngọt bùi ngon lành nào đâu! Cuộc tẩy chay bắt đầu. Chỉ mấy ngày sau, cô Mắt thì lờ đờ, cậu Chân, cậu Tay thì không còn muốn cất mình lên để chạy nhảy vui đùa như trước nữa. Bác Tai thì ù ù như xay lúa ở trong,… Tất cả đều lừ đừ mệt mỏi; đến ngày thứ bảy thì không thể chịu được nữa. Còn lão Miệng trong thời gian ấy cũng nhợt nhạt cả hai môi, hàm răng thì khô như rang, không buồn nhếch mép. Cái "sáng kiến!' của cô Mắt thế là hoàn toàn thất bại, gây tác hại cho cả người lẫn mình! Anh em ta cùng nhau hân hoan: cậu Tay kiếm thức ăn bỏ vào mồm lão Miệng. Lão nhai và nuốt vào họng, cụ Bụng căng tròn (có một dị bản nói thế), tức thì ai cũng thấy "đỡ mệt nhọc", dần dần thấy "khoan khoái" như trước. Từ đó, họ bảo nhau thăn mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả. Từ thực tế mà họ thấm thìa lẽ đời. Lẽ đời không đơn giản! Bài học luân lí hàm chứa trong truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng khá sâu sắc: Trong cuộc sống đừng a dua, đừng nghe người ta xui dại, làm bậy mà thiệt hại đến mình. Con người không thể sống riêng biệt một mình mà tồn tại, mà được hạnh phúc. Mỗi người, mỗi bộ phận, mọi tổ chức đều gắn bó trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau như các bộ phận trong cơ thể. Cũng đừng cho mình là quan trọng nhất mà coi thường người khác, hoặc suy bì tị nạnh bon chen trong cuộc sống. Cùng sống, cùng hoà hợp và tồn tại để mưu cầu hạnh phúc là bài học sâu sắc nhất được rút ra từ truyện ngụ ngôn này.
Phân tích Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
435
Phân tích chương ”Trong lòng mẹ” để cho thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Hướng dẫn Phân tích chương ”Trong lòng mẹ” để cho thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Bài làm Nhà văn Nguyên Hồng (1918- 1982) là nhà văn hiện thực sâu sắc, giọng văn của ông như trút hết tất cả những tâm sự, những xúc động của bản thân vào trong những câu chuyện của ông. Rất nhiều những tác phẩm nổi tiếng của ông được nhiều người biết đến như “ Những ngày thơ ấu”, “ Bỉ vỏ”…. Đoạn trích “ Trong lòng mẹ thuộc chương IV của “ Những ngày thơ ấu”, nói đến những tháng ngày đau đớn, tủi cực của cậu bé Hồng mồ côi bố, cùng với niềm hạnh phúc vô bờ khi được gặp lại người mẹ thân yêu sau một năm xa cách. Mở đầu chương “ Trong lòng mẹ”, tác giả thuật lại những cay đắng, tủi cực thời thơ ấu của chính ông, khi phải sinh ra trong một gia đình đầy bất hạnh: người cha nghiện ngập chết rục bên bàn đèn thuốc phiện; mẹ thì đi bước nữa rồi “ chwaar đẻ với người khác”, túng quẫn cúng phải đi tha phương cầu thực. Hai anh em cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi, ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người thân họ hàng bên nội giàu có của mình. Hàng ngày cậu bé phải đổi mặt với một bà cô vô cùng cay nghiệt, bề ngoài thì luôn luôn tươi cười, mà bên trong thì nham hiểm giết người không dao. Nhưng sự tàn nhẫn ấy không phải cho ai khác lại để dành cho đứa cháu ruột bé bỏng vô tội của mình. Bà cô bịa ra nhiều điều xấu xa về mẹ của hồng, cố ý gieo rắc vào đầu óc của đứa trẻ những hoài nghi, ly gián tình mẫu tử, để đứa con có thái độ khinh miệt và ruồng rẫy mẹ của mình. Nhưng bỏ qua tất cả những điều đó, tấm lòng của đứa trẻ thật đáng quý biết bao. Cậu không quan tâm đến những gì bà cô nói. Đối với Hồng, mẹ là người tốt nhất, đẹp nhất. Cậu đáp trả bà cô với ý nghĩ: “ Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là góa chồng, nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Dù vậy, cũng không thể phủ nhận những vết thương lòng mà bé Hồng đã phải gánh chịu. Sự tra tấn tinh thần đã khiến sức chịu đựng của cậu bé khó lòng chống đỡ. Ta có thể cảm nhận từng khoảnh khắc đơn đau của cậu bé, cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay mẹ những thành kiến của người đời: “ Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất, lòng tôi thắt lại, khóe mắt tôi đã cay cay.” Những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không thể không rơi xuống, làm ta cảm thấy thật ghê sợ những loại người như bà cô đó, không tha cho ngay cả một đứa trẻ là cháu ruột của mình. Và ta cũng thấy được rằng, lòng hiếu thảo của cậu bé Hồng nói riêng và những người con nói chung, dù có phải sống trong bi kịch gia đình vẫn không hề bị dập tắt. Cậu bé Hồng cương quyết bảo vệ mẹ mình, bất chấp những thành kiến: “chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm…” Có lẽ trong thâm tâm, tình yêu thương, niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng cháy bỏng. Và rồi mẹ của Hồng đã trở về. Bà trở về vào đúng ngày giỗ của chồng, để làm tròn đạo lý làm vợ, và khẳng định tư cách người vợ, người mẹ trong gia đình. Khi Hồng gặp lại mẹ sau một năm xa cách, em gọi rối rít, hai mẹ con gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi. Mẹ xoa đầu con, kéo tay con, con òa khóc nức nở. Con ngắm nhìn gương mặt thân yêu của mẹ, sung sướng, khi thấy mẹ vẫn tươi sáng, đôi mắt trong, nước da mịn và gò má màu hồng. Nhìn thấy mẹ như được sống trong những giây phút hạnh phúc nhất. em sung sướng ngả đầu vào cánh tay mẹ, cảm nhận cảm giác ấm áp mơn man khắp da thịt, cảm nhận mùi thơm tho từ miệng xinh xắn nhai trầu của mẹ. Có thể nói, Hồng vô cùng hãnh diện về mẹ. Mẹ mang về cho hai con nhiều quá, mẹ thật sự có một êm dịu vô cùng… Khi đọc những câu văn trong chương Trong lòng mẹ, chúng ta cảm thấy thật đẹp, thật hạnh phúc. Chắc hẳn ai ai cũng nhìn thấy một phần hình ảnh của mình trong đó. Tình yêu, tình mẫu tử giữa mẹ và con là điều gì đó vô cùng thiêng liêng, êm dịu mà không một ai, không một thế lực nào có thể chia cắt được.
Phân tích chương ”Trong lòng mẹ” để cho thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng.
929
Đề bài: Phân tích chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài làm Có một thời, nhắc đến khái niệm “lãng mạn" người ta thường đồng nhất nó với những gì xa rời thực tế, cá nhân, tiêu cực, mềm yếu… và người ta phản đối, phê phán, thậm chí tẩy chay nó. Nhưng nếu xét đến tận cùng, phần lãng mạn ấy không thể thiếu trong đời sống tinh thần, trong tâm hồn con người và cái gọi là “lãng mạn” ấy cũng thật nhiều vẻ, nhiều hình. Nó có thể làm con người ta nhỏ lại yếu hèn đi nhưng cũng có thể đem đến cho con người có sức mạnh phi thường để làm nên những điều phi thường. Ta bắt gặp sức mạnh lãng mạn ấy qua Tây tiến của Quang Dũng – một tác phẩm mang đậm chất sử thi, đậm chất lãng mạn anh hùng, lãng mạn cách mạng. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Có thể nói, cuộc sống tinh thần của mỗi con người hay cả một cộng đồng dân tộc sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và nhàm chán biết bao nếu thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi tưởng tượng phong phú, diệu kỳ… Lãng mạn hiểu theo nghĩa đúng đắn, chắp cánh cho những ước mơ, thúc giục con người hướng tới cái đẹp, cái cao cả và sự hoàn thiện mà hiện thực cuộc sống còn chưa đạt tới. Chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến chính là cảm hứng bay bổng của nhà thơ hướng tới vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của thiên nhiên và con người Tây Bắc, Vẻ đẹp được cảm nhận từ một hiện thực gian khổ và đầy khốc liệt, khó khăn. Chính vì.sế, chất lãng mạn của bài thơ càng đáng chân trọng, nâng niu. "Nói" đúng hơn, chính nhờ chất lãng mạn ấy mà người lính Tây Tiến có thể vượt qua được mọi vất vả gian lao, mọi khó khăn thử thách. Chất lãng mạn trong Tâv Tiến xuất hiện dường như để lại "thăng bằng" cho cảnh vật và tâm hồn của con người. Vì thế bên cạnh một thiên nhiên hiểm trở, dữ dằn, những núi đá cheo leo, những cảnh rừng thiêng nước độc… ta lại thấy một thiên nhiên thơ mộng đến say người, một Tây Bắc đẹp như tranh thuỷ mạc. Nỗi nhớ Tây Tiến trong lòng nhà thơ cứ "chơi vơi” giữa hai gam màu ấy. Còn gì dữ dội và hiểm trở hơn những cảnh: "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.." Còn gì hoang dại và âm u, rùng rợn hơn tiếng thác gào và tiếng cọp gầm: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Nhưng liền đó lại là những cảnh rất đỗi nên hoạ, nên thơ. Đó là chiều sương Mộc Châu, là "hồn lau" thâ'p thoáng "nẻo bến bờ", là dáng người mảnh mai mềm mại trên chiếc thuyền độc mộc: Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Rõ ràng thiên nhiên Tây Bắc ở đây được cảm nhận với một vẻ độc đáo: vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa tươi tắn, thơ mộng. Mà không chỉ thiên nhiên, chất lãng mạn bay bổng còn thể hiện rõ khi tác giả khắc họa chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mỹ lệ ấy của núi rừng Tây Bắc. vẫn là đối chọi để "cân bằng" giữa một bên là hiện thực khắc nghiệt, là cuộc sống đầy gian nan và lắm hy sinh mất mát, với một bên là cuộc sống tươi đẹp và đầy chất thơ. Này đây là những vất vả, gian lao của cuộc đời người lính Tây Tiến: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi", "Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục sũng mũ bỏ quên đời!". Hình ảnh đoàn quân "không mọc tóc" với nước da "xanh màu lá" là kết quả của những trận sốt rét triền miên. Những nấm mồ "rải rác" khắp "biên cương” và cảnh người lính ngã xuống không manh chiếu liệm v.v… đủ nói lên tất cả gian khổ cùng cực của cuộc chiến đấu mà người lính phải gánh chịu. Nhưng nếu chỉ có thế, sức mạnh của hiện thực sẽ đè nát ý chí và tâm hồn người chiến sĩ. Chính cảm hứng lãng mạn đã truyền niềm tin di những người lính Tây Tiến khiến các anh sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của minh cho Tổ quốc "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Trong cái gian khổ khắc nghiệt trên, bỗng thoảng hương của nếp xôi của những cô gái xứ Mai Châu. Ta nao nao, say người trong đêm lửa trại giữa "hội đuốc hoa", khi bắt gặp trong mơ hình ảnh "nàng e ấp" trong xiêm áo lộng lẫy và tiếng khèn man điệu hoang dại của núi rừng. Nhiều khi sự cân bằng, đối chọi giữa hai màu sắc – hiện thực và lãng mạn – thể hiện ngay trong từng câu thơ, từng đoạn thơ. Vừa thây rợn người, trên độ cao ngàn thước chênh vênh bên bờ vực thẳm "ngàn thước xuống” đã lại thấy lòng thanh thản ngắm nhìn qua cơn mưa thanh bình nhà ai đó thoáng ở lưng núi Pha Luông. Vừa thấy hiện lên trước mắt hình ảnh: "Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi" rất hiện thực, đã lại chuyển sang hình ảnh đầy chất thơ "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Câu thơ lung linh huyền ảo với hàng loạt thanh bằng (6/7) đã ảo hoá hiện thực. Người đọc chỉ cảm nhận được cái gì đó nhẹ nhàng, bâng khuâng, chơi vơi như nỗi nhớ, bảng lảng như sương chiều, xua tan đi mệt mỏi của đoàn quân. Cũng như thế ở câu trên ta vừa thấy sự uất hận của người lính Tây Tiến gửi hai chữ "mắt trừng" thì ngay sau đó “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" một câu thơ cũng phần lớn dùng thanh (5/7). Tính chất lãng mạn của bài thơ còn thể hiện ở một phương diện Đó là chất bi tráng. Dường như vẫn là một cặp đối chọi nhau. Bi mà không luỵ, buồn đau mà hùng tráng, mất mát hy sinh mà vẫn lạc quan. Không bi sao trước những gian nan đến ghê người, những cơn sốt rét, nước da xanh lá và tóc rụng không mọc lại được; không bi sao được trước những mất mát hy sinh "Rải rác biên cương mồ viễn xứ". Tuy nhiên bi mà không lụy, bi mà tráng, mạnh mẽ quân xanh màu lá mà vẫn giữ oai hùm. Ngay trong một bài thơ ta đã thây rõ tính chất này: "Áo bào thay chiếu anh về đất”. Một sự ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, ung dung. Giọng thơ muốn hạ xuống cung bậc thấp phù hợp với nỗi tiếc thương. Nhưng hạ thấp là để mà cuối cùng vút lên bản nhạc dữ dội và hùng tráng: "Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Những mất mát đau thương của con người như dồn nén, tích tụ ưong tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Ai bảo lãng mạn như thế là tiêu cực, là mềm yếu. Thực chất, chính chất lãng mạn của bài thơ đã nâng được người đọc lên, vực dậy những người lính mệt mỏi đang dãi dầu không bước nữa, xoá tan đi bao nhọc nhằn đau khổ, lãng quên đi bao nỗi hiểm nguy và lấy lại cân bằng tâm hồn người lính, giúp họ vững bước đi lên… Chất lãng mạn ấy là sức và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Đọc Tây tiến của Quang Dũng ta bắt gặp cảm xúc lãng mạn anh hùng thăng hoa cái nền hiện thực, bắt gặp sức mạnh tinh thần mà những vần thơ lãng mạn ấy đem lại cho người lính binh đoàn Tây tiến. Nó là nét đẹp vĩnh hằng trong tâm hồn người lính và trong thơ ca kháng chiến.
Phân tích chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
1,373
Phân tích Chất thép trong thơ Hồ Chí Minh văn 12 Hướng dẫn Phân tích Chất thép trong thơ Hồ Chí Minh văn 12 Một nền văn học đặc sắc là một nền văn học có nhiều tác phẩm đặc sắc, một người nghệ sĩ tài bà thì cần phải có quan điểm sáng tác của riêng mình. Hồ Chí Minh một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt nam là một nhà nghệ sĩ như vậy. Trong quan điểm sáng tác của mình Hồ Chí Minh đã từng viết: “Nay ở trong thơ cần có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong” Trong trận chiến đấu ác liệt của dân tộc ta thì văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em nghệ sĩ chính là những chiến sĩ trên mặt trận ấy. Là người nói lên quan điểm ấy nên Hồ Chí Minh cũng làm gương thực hiện quan điểm ấy một cách xuất sắc trong thơ ca của mình. Từ đó chúng ta có thể nói thơ Hồ Chí Minh rất giàu chất thép. Trước hết chúng nên hiểu chất thép là gì?. Chất thép là thơ sáng tác nên phải có tính chiến đấu về mặt tư tưởng chính trị đối với cuộc đấu tranh chống quân xâm lược. Không những thế nó còn là sự đấu tranh kiên cường bất khuất thể hiện trong thơ mình. Điều đó nhằm khẳng định ý chí của dân tộc ta, cỗ vũ nhân dân ta chiến đấu vì tổ quốc. Khơi dậy niềm tự tôn dân tộc ở mỗi con người. Riêng cuốn Nhật Kí trong tù của Bác đã có bao nhiêu là tác phẩm nói lên chất thép ấy. Điển hình như chúng ta đã từng được lắng nghe những vần thơ thép trong bài thơ đề từ của Người: Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao” Qua những vần thơ ấy ta thấy được chất thép ở đây chính là ý chí vượt lên hoàn cảnh để chờ ngày tự do tiếp tục hoạt động cách mạng của mình. Đó là một tinh thần thép, ý chí thép, sự kiên cường vĩ đại. Dù cho Người có bị giam cầm trong lao ngục thì Người vẫn tự an ủi động viên chính bản thân mình phải lạc quan vượt qua nó. Tinh thần ấy cũng thể hiện phần nào ý chí quyết tâm đuổi bọn ngoại xâm về nước. Đó là những vần thơ thép trực tiếp, thế nhưng chất thép còn được thể hiện một cách gián tiếp. Nhiều bài thơ không nói chuyện thép, không lên giọng thép mà vẫn thấy chất thép. Ẩn sau những câu chữ hóm hỉnh, hài hước lại là những bài thơ chiến đấu. Trong tù có biết bao nhiêu là khó khăn về vật chất, điều kiện sống ấy khiến cho nhà thơ bị ghẻ lở, ngứa ngáy thế nhưng nhà thơ vẫn làm thơ: “Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu”. Đó chính là chất thép. Vì Bác muốn đấu tranh tư tương với cái hoàn cảnh ấy nên nó cũng thể hiện chất thép. Hay khi xiềng xích quán quanh người Bác lại nảy lên những vần thơ mới: “Rồng cuốn vòng quanh chân với tay Trông như quan võ quấn tua quay” Hay khi tiếng xích va đập vào nhau tạo nên tiếng động Người lại bật lên câu thơ so sánh: Đằng sau những vần thơ tưởng chừng như rất đỗi bình thường ấy lại là chất thép. Rõ ràng qua môi câu thơ chúng ta không thấy bất cứ một từ gân guốc nào thế nhưng chất thép lại ẩn sau những dòng thơ ấy. Nói về xiềng xích về tiếng kêu của nó nhà thơ một lần nữa lại thể hiện ý chí lạc quan vượt qua hoàn cảnh ngục tù để chờ ngày tự do hoạt động. Đồng thời thì chúng ta còn thấy được sự tố cáo của nhà thơ về chế độ nhà tù Tưởng giới Thạch. Chất thép trong thơ Bác lại còn được thể hiện trong khi Bác hòa mình vào thiên nhiên. Dù bị kìm kẹp bởi gông cùm những Bác vẫn thể hiên khát vọng tự do của mình qua những vần thơ thiên nhiên ấy. Và đó chính là chất thép trong thơ thiên nhiên của Người: “Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng Vui say ai cấm ta đừng Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu” (Đi đường) Bài thơ ấy rõ ràng không lên giọng thép chỉ là những hình ảnh thiên nhiên vô cùng đẹp. Tiếng chim ca rộn ràng trên khắp núi, hương thơm bay ngan ngát trong rừng. Chính cảnh đẹp ấy khiến cho nhà thơ quên đi nỗi vất vả trên đường đi. Nói cách khác nhà thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước. Và đặc biệt người lấy hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ấy để quên đi hoàn cảnh khốn cùng tiếp tục kiên trì chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đồng thời lòng yêu đời yêu cuộc sống ấy chứng minh cho ý chí quyết tâm bảo vệ sự tươi đẹp đó của Hồ Chí Minh. “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Nhà thơ thể hiện chất thép là ý chí vượt qua gian nan vất vả để kiên cường chờ ngày tự do. Trong tù ấy không có rượu không có hoa để cho nhà thơ thưởng thức cảnh đẹp. Đêm trăng ấy đẹp khiến cho nhà thơ không thể hững hờ được. Thế nên nhà thơ thì ngắm trăng qua khung cửa, trăng thì như nhòm nhà thơ. Hình ảnh ấy thể hiện nhà thơ vượt qua cái không gian tù chật hẹp ấy để đắm mình vào hình ảnh thiên nhiên. Đó chính là ý chí vượt lên trên hoàn cảnh. Thơ Bác quả thật đúng với nhận xét của Hoàng Trung Thông rằng: “Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình” Người không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là một nhà thơ có tinh thần thép. Đến với thơ Hồ Chí Minh chúng ta vừa được đắm chìm trong sư bát ngát của tình người, tình yêu thiên nhiên mà còn được say sưa mạnh mẽ trong chất thép. Văn chương của Bác là một vũ khí lợi hại để Bác chống lại sự khó khăn khi ở trong tù. Đồng thời nó khơi dậy ý chí chiến đấu của người dân Việt Nam.
Phân tích Chất thép trong thơ Hồ Chí Minh văn 12
1,102
Đề bài: Phân tích chất thơ trong Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Bài làm Bút kí là một thể loại kí văn học ghi lại sự việc, con người, cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe nhưng bút kí không chỉ phản ánh những sự kiện khách quan mà có những nhận xét, suy nghĩ, liên tưởng và nhất là cảm xúc, do đó bút kí có chất trữ tình. Tuy nhiên, tùy theo phong cách của từng tác giả mà yếu tố trữ tình đó có thể là đậm đặc, xuyên suốt hay điểm xuyết giữa những yếu tố thuyết minh, tự sự, nghị luận… Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong nhừng nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và chính luận, sử thi hóa lịch sử và khám phá chiều sâu văn hóa của đối tượng. Chất trữ tình trong bút kí của ông xuyên thấm vào tất cả và thăng hoa thành chất thơ của ngôn ngữ. Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Chất thơ là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều yếu tố cảm xúc, cái đẹp, trí tưởng tượng, tính chất của cuộc sống và nhạc điệu của ngôn ngữ… Khó có thể tách các yếu tố này khỏi nhau bởi nó hòa quyện với nhau, trong từng hình ảnh, từ ngữ, câu văn. đoạn văn. Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bài bút kí mà Hoàng Phú Ngọc Tường đã viết bằng tất cả tình yêu say đắm với sông Hương đẹp và dịu dàng, với Huế cổ kính thơ mộng. Đoạn mở đầu với những khu vườn cổ, những kí ức về Nguyễn Du đã gợi cảm xúc về một vùng đất có vẻ đẹp sâu lắng (thanh khiết, cổ kính, có tác dụng như một khúc dạo đầu của một bản đàn hay bài ca thơ mộng). Mỗi đoạn văn là một chắt lọc tinh túy về hành trình, về dáng vẻ, về vẻ đẹp với những từ ngữ gợi cảm, diễn tả tình yêu say đắm của con người với dòng Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Digan khoáng và ma dại”. “Sông Hương khi về đồng bằng đã thay đổi tính cách, sông như đã chế ngự bản năng ở người con gái để mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Với liên tướng kì thú, diễm tình, tác giả ví sông Hương như một ngựời con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức. Những câu văn đẹp, đầy màu sắc và ấn tượng. "Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “Sắc nước trở nên xanh thẳm”, “nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như những thành quách”. "Dòng sông như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược nhỏ bé vừa bằng con thoi, những ngọn đồi này tạo nên nhiều mảng phản quang nhiều màu sắc”. “Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Đến ngoại vi thành Huế, sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc như những rừng thông u tịch và những lăng tẩm đồ sộ phong kín niềm kiêu hãnh âm u. Đoạn tả sông Hương chảy vào thành phố, tác giả sáng tạo những hình ảnh đầy ấn tượng:chiếc cầu tráng in trên nền trời, uốn một cánh cung rất nhẹ”. Tác giả sử dụng rộng rãi đặc sắc những phép tu từ gợi cảm vốn là sở trường của thơ như so sánh kết hợp với nhân hóa, ẩn dụ: “Dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng váng không nói ra của tình yêu, khúc quanh trước khi ra biển, như một nỗi vấn vương cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Những chi tiết về phong tục, lễ hội cũng trở thành họa, thành nhạc, thành tình, nghĩa là thành thơ. “Trăm nghìn cánh hoa đang bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trở về bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Thi trung hữu nhạc đó là nhạc của lòng, trong văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có nhạc, gợi nhớ nhạc “Điệu chảy lặng lờ của nó (sông Hương) ngang qua thành phố. Đúng là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Những câu văn trải dài, uyển chuyển, du dương mà tự nhiên, nhuần nhị như dòng sông, dòng nhạc đẹp, một "Đanuyp xanh” trong văn. Trí tường tượng thật phong phú trong những liên tương so sánh, những hồi tưởng đầy hình ảnh kì thú “Sông Nê-va với những phiến băng trôi nhanh như những chiếc thuyền của những chú chim hải âu” (Chim hải âu đứng trên băng – NBS). Vẻ đẹp cùa đoạn văn tăng lên trong từng chi tiết, đến chi tiết cuối thì thăng hoa cao nhất, đẹp nhất. Tác giả lí giải tên dòng sông bằng huyền thoại đầy chất thơ khiến cho dòng sông vốn có cái tên thơ càng thơ hơn: Hương thơm, thơm cùa ngàn hoa, của nước nấu trăm loại hoa đổ xuống, làm thơm cả từng hơi đất. Bút kí cuốn hút người đọc một phần ở việc, ở trí thức, sự việc lạ, trí thức mới nhưng nếu chỉ có thế, bài bút ki sẽ không hơn một bài báo và nó nhanh qua đi mà không đọng lại trong lòng người. Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường không giống như thế, nó đầy chất liệu quý, thể hiện một vốn sống, vốn văn hóa phong phú, nhất là về Huế. Hơn thế nó còn mãi, ngân mãi vì nó đầy chất thơ. Chất thơ ấy gắn với nhiều yếu tố, bắt đầu từ nhiều nguồn nhưng yếu tố quan trọng nhất, nguồn lớn lao, dào dạt nhất là tình yêu, tình yêu tha thiết với dòng sông, với Huế, với đất nước của tác giả.
Phân tích chất thơ trong Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
1,028
Đề bài: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua nhân vật Tnú Bài làm Mỗi nhà văn thường có một vùng đất riêng, với Nguyễn Trung Thành đó là Tây Nguyên. Ông đã có rất nhiều những tác phẩm viết về mảng đề tài này, đặc biệt là hình ảnh của những con người kiên cường bất khuất nơi núi rung Tây Nguyên. Một trong những tác phẩm nổi bật nhất trong sáng tác của Nguyễn Trung Thành là truyện ngắn “Rùng xà nu”, tác phẩm là câu chuyện về dân làng Xô Man trong kháng chiến chống Mĩ.Trong số những con người hiên ngang bất khuất của làng Xô Man nổi bật lên là hình ảnh Tnú.Câu chuyện về cuộc đời anh đã được tái hiện cụ thể qua lời kể của già làng bên bếp lửa nhà ưng. Phân tích truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành Nhìn lại chặng đường đời của Tnú, chúng ta có thể dễ dàng thấy hiện lên hình ảnh một Tnú trước và sau khi đúng lên cầm vũ khí.Trước khi cầm vũ khí, ngày từ khi còn nhỏ Tnú đã là cậu bé gan góc, dũng cảm biểu lộ một tính cách táo bạo mạnh mẽ.Tnú thay người già làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ, nhanh nhẹn luồn rừng đưa thư, vượt qua suối lũ một cách dũng cảm.Cậu thất sáng dạ khi biết rằng bọn Mĩ nguỵ ít khi phục kích ở chỗ nứơc chảy xiết.Nguời đọc cảm thấy một cái gì thật đáng yêu ở sự quan tâm học chữ không chịu thua kém ai của Tnú.Cậu bé này dám lấy đá đập vào đầu mình khi học cái chữ không sáng tạo bằng Mai.Và đặc biệt sự gan dạ dũng cảm của Tnú khi bị giặc bắt, chú bé nhỏ tuổi này đã chỉ vào bụng mình và nói: “Cộng sản ở đây này”.Mặc cho những vết dao chém dọc ngang trên tấm lưng bé nhỏ Tnú vẫn không khai báo, vẫn gan dạ kiên cường.Trước những trận đòn roi tra tấn dã man của kẻ thù, Tnú thật may mắn khi được học cái chữ và được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Khi thoát ngục Kon tum trở về, Tnú đã là một chàng trai cường tráng, hiểu biết được tôi luyện qua nhiều thử thách.Giờ đây Tnú giống như một cây xà nu trưởng thành, vạm vỡ, căng đầy nhựa sống và ham ánh sáng.Theo lời dạy của anh Quyết ngày nào, Tnú thay anh làm cán bộ và một lần nữa anh đã đi 3 ngày đường lên núi Ngọc Linh nhưng không phải là lấy đá để làm phấn mà là để mài giáo mác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Không chỉ nhìn thấy rõ con đường để đi, Tnú còn có một cuộc sống hạnh phúc với tình yêu của Mai, với đứa con mới chào đời.Nhưng quãng thời gian hạnh phúc ấy thật ngắn ngủi, giặc đã cầm súng kéo về, buôn làng còn chưa kịp cầm vũ khí. Tnú và thanh niên trong làng phải trốn vào rừng để rồi một mình Tnú lại xông ra mong che chở cho mẹ con Mai trước đòn roi của kẻ thù, nhưng cả 2 đều ko sống được.Cảnh tượng về cái chết đau thương trong đêm ấy cứ trở đi trở lại trong lời kể của già làng và dòng hồi ức đau đớn của anh.Không những không cứu được vợ con, Tnú còn bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay “Mỗi ngón chỉ còn hai đốt….không mọc lại được”.Nỗi đau thương này là minh chứng hùng hồn cho câu nói vừa giản dị vừa sâu sắc của cụ Mết: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đặc biệt là hình ảnh của Tnú sau khi cầm vũ khí chiến đấu thật đẹp và lớn lao biết bao.Hình ảnh Tnú hiện lên như những anh hùnh thời nào trong các khan, trong các trường ca Tây Nguyên.Khi đốt cháy 2 bàn tay của Tnú kẻ thù muốn dập tắt ý chí phản kháng, muốn tiêu diệt khát vọng chiến đấu của người dân Xô Man.Chúng muốn người dân nơi đây mãi mãi xuôi tay trong kiếp nô lệ thấp hèn dướ lưỡi gươm và nòng súng tàn bạo của chúng.Nhưng Tnú và người dân làng Xô Man khoong cam chịu khuất phục, mà ngược lại họ đã phản kháng quyết liệt.Họ đã biết vượt lên đau thương để vùng lên cầm vũ khí tự giải phóng mình.Lửa đã thiêu cháy mười đầu ngón tay Tnú, lửa bùng cháy trên mười đầu ngón tay tẩm nhựa xà nu.Nhưng Tnú không thấy đau đớn, anh chỉ thấy lửa cháy ở trong lòng- ngọn lửa chiến đấu sẽ thiêu cháy kẻ thù.Và một tiếng hét căm hờn, phẫn uất đã vang vọng khắp núi rừng Xô man, tiếng het ấy như khơi dậy cao đọ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.Xác mười tên giặc đã chết nằm ngổn ngang trên mặt đất. Đêm ấy lửa cháy suốt trong bếp lửa nhà ưng.Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cái đêm nổi dậy ấy thật hào hùng, sôi động: “Tiếng chiêng nổi lên, đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn suốt đêm nghe cả rừng Xôman âo ào rung động và lửa cháy khắp rừng.Cái đêm nổi dậy ấy đâu chỉ là của dân làng Xôman mà là sự lớn dậy phi thường của cả 1 cộng đồng, dân tộc.Dường như trong đêm ấy đang sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của những thiên sử thi Tây Nguyên”. Một điều không thể thiếu khi nhắc tới cuộc đời của Tnú đó chính là hình ảnh hai bàn tay của anh. Đôi bàn tay bị đót cháy của Tnú đã nhóm lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắ của dân làng Xôman, nó còn soi sáng cuộc đời anh.Anh đã thay mặt người dân làng Xôman lên đường theo kháng chiến đi tìm những thằng Dục khác.Bởi lẽ không phải ngẫu nhiên tác giả lại để cho Tnú kể với dân làng mình sự đối đầu của anh với kẻ thù sau này: “Tôi nói: này tao có súng đây, tao có cả dao găm đây nhưng tao không giết mày súng, tao không đâm mày bằng dao nghe chưa Dục.Tao giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tao bóp cổ mày thôi”.Nhà văn đã cố tình tô đậm hình ảnh đôi bàn tay Tnú- đôi bàn tay có cả một lịch sử, một số phận. Lúc còn nhỏ, đôi bàn tay ấy kiên trì học từng nét chữ của anh Quyết, cần cù làm nương phát rẫy. Đôi bàn tay dám lấy đá đập vào đầu mình vì học cái chứ không sáng dạ bằng Mai.Và đôi bàn tay ấy dám chỉ vào bụng mình mà nói với quân giặc “Cộng sản ở đây này” khẳng định lòng trung thành vớ cách mạng.Lớn lên đôi bàn tay xúc động nắm lấy bàn tay người con gái anh yêu thương và cũng đôi bàn tay ấy xé tấm đồ làm nịu cho đứa con thơ dại.Lửa đốt cháy mười đầu ngón tay để rồi mãi mãi chỉ còn hai đốt không bao giờ mọc lại được…..cho nên Tnú muốn dung đôi bàn tay ấy để giết chết kẻ thù.Bao uất hận căm hờn đã dồn lên đôi bàn tay kia, nó đã trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất, cho sức sông mãnh liệt của Tnú và người dân làng Xôman.Kẻ thù tàn ác có thể đốt cháy đôi bàn tay nhưng không thể tiêu diệt được sức mạnh phi thường, tiềm ẩn trong con người họ. Đó là ý chí chiến đấu và khát vọng chiến thắng. Đó là một dân tộc kiên cường dũng cảm như những khu rừng xà nu hàng vạn cây không cso cây nào bị thương mà vẫn xanh tươi bát ngát trải xa tít tắp tận chân trời. Xây dựng thành công nhân vật Tnú, nhà văn đã khắc hoạ được hình ảnh tiêu biểu của con người mang đạm dòng máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên.Và qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành còn gợi ra được số phận và phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc chiến đấu bảo vệ buôn làng thân yêu. Đó là tình cảm gắn bó thiết tha sâu nặng với quê hương đất nước, với núi rừng Tây Nguyên, căm thù giặc sâu sắc một lòng một dạ đi theo cách mạng, không ngại khó khăn, gian khổ, hi sinh, tin tưởng tuyệt đối vào sự thắng lợi của cách mạng.Có thể nói qua thiên truyện ngắn xuất sắc này của Nguyễn Trung Thành, người đọc càng them hiểu và thêm trân trọng con người Tây Nguyên vớ biết bao phẩm chất thật đẹp, thật cao quý.
Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua nhân vật Tnú
1,492
Đề bài: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong Những đứa con trong gia đình Nguyễn Thi Bài làm Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng. Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng. Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo. Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước. Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng. Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng. Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị. Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ. Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà. Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo.
Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong Những đứa con trong gia đình Nguyễn Thi
1,935
Phân tích chủ nghĩa anh hùng trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Hướng dẫn Phân tích chủ nghĩa anh hùng trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Bài làm Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã đạt nhiều thành tựu lớn, đặc biệt là trong mảng tác phẩm thể hiện phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống lại kẻ thù xâm lược Mỹ. Với truyện ngắn “ Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, tác phẩm đã thành công trong sự khắc họa những hình tượng nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao đẹp, cho lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, sức mạnh chiến đấu của dân tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn học: Đó là sự thể hiện của lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh thần chiến đấu bất khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là sự trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong những hòan cảnh khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng có tính chất tiêu biểu cho cả dân tộc. Nguyễn Trung Thành gắn bó với cuộc chiến đấu chống Mĩ, là những nhà văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa. Tác phẩm mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình tượng nhân vật sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu. Hai truyện ngắn “Rừng xà nu” ( 1965), ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi đế quốc Mĩ đổ quân vào miền Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước trận chiến một mất một còn để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền sống. Đó là bối cảnh lịch sử để từ đó hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với chất sử thi đậm đà. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước tiên thể hiện ở những nhân vật mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, từ đau thương trỗi dậy để chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược. Tiêu biểu của truyện ngắn là nhân vật Tnu Trước tiên, Tnú là những người con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc: Khi còn nhỏ, Tnú được miêu tả như 1 cậu bé anh hùng: không có chuyện đánh quay, thả diều, bắt dế,…Tnú không sống 1 tuổi thơ bình thường mà đầy ắp những câu chuyện phi thường, đầy ắp chuyện chiến đấu. Tnú sớm là 1 cậu bé can trường, lanh lợi, trung thành với cách mạng. Mặc dù cho giặc chặt đầu những người vào rừng nuôi giấu cán bộ, Tnú và Mai vẫn xung phong làm việc này. Tnú rất khôn ngoan, thường vượt qua suối ở những chỗ nước chảy xiết, tức là chỗ không ngờ nhất. Khi bị địch bắt, tra hỏi cộng sản ở đâu, Tnú đã chỉ ngay vào bụng: “ở đây nay”. Lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém của kẻ thù.Người anh hùng nhỏ tuổi Tnú không sống cuộc đời bình thường và ngay cái việc bình thường như học chữ, Tnú cũng được miêu tả 1 cách phi thường- tức là Tnú học theo kiểu 1 người anh hùng: để tự trừng trị tội chóng quên chữ, Tnú đã lấp đá đập đầu đến mức máu chảy ròng ròng- 1 chi tiết rất” Nguyễn Trung Thành”: bởi ông luôn đẩy cái bình thường lên thành cái phi thường đẻ diễn tả vẻ đẹp cao cả của chủ nghĩa anh hùng chủ nghĩa Việt Nam trong những năm đánh Mĩ. Tnú đã chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc. Với Tnú, anh có đầy đủ phẩm chất anh hùng, lại có thêm mối tình thơ mộng với Mai- 1 cô gái xinh đẹp, dịu dàng- vậy mà Tnú vẫn không bảo vệ được hạnh phúc gia đình đang đẹp như trăng rằm soi trên đỉnh Ngọc Linh. Đoạn văn miêu tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con tràn đầy cảm xúc và ấn tượng. “ Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy (…).Ở chỗ 2 con mắt anh bây giờ là 2 cục lửa lớn.” 1 chi tiết dữ dội và bi thương. Căm thù đốt cháy 2 con mắt Tnú, nhưng căm thù mà bất lực. Vì sao vây? Tác giả đã mượn lời cụ Mết để giải thích thật thấm thía: “ Tnú, mày không cứu được vợ con( …..). Trong tay mày chỉ có 2 bàn tay trắng. Tau cũng không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có 2 bàn tay trắng không.”. Hình ảnh trong lời cụ Mết, trở thành 1 trăn trở lớn, âm vang 1 triết lí lớn: bạo lực chỉ có thể bị tiêu diệt bằng chính bạo lực, bạo lực CM là con đường sống duy nhất của nhân dân trước kẻ thù. Đây là chân lí lớn của cuộc đời chứ không phải là khẩu hiệu ồn ã. Chất tư tưởng hoà quyện với chất hình tượng và chất trữ tình khiến nhân vật sâu sắc mà không khô khan, tạo nên sức hấp dẫn đầy tính thẩm mĩ. Còn Chiến và Việt chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc. Những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Tnú lên đường đi “lực lượng” dù mỗi ngón tay mất đi một đốt, Chiến và Việt cùng vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả nợ nước thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con đường cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị, càng phải khắc sâu vào lòng người. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở từng nhân vật, mà còn thể hiện ở tập thể nhân vật anh hùng, và mỗi nhân vật đều tượng trưng cho phẩm chất của cả cộng đồng: Cụ Mết, Mai, Dít, Heng trong “Rừng xà nu. Họ đều là những con người yêu quê hương đất nước, gắn bó với buôn làng, với gia đình, với người thân yêu. Tình yêu tổ quốc của họ bắt đầu từ những tình cảm bình dị đó, cho nên nó càng bền bỉ, càng có sức mạnh lớn lao khiến kẻ thù phải run sợ. Tóm lại, các nhân vật của hai truyện ngắn đều đã vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng thương đau của chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Dân làng Xô Man như rừng cây xà nu mặc dù “ Trong rừng hàng vạn cây, không cây nào không bị thương”, nhưng vẫn “ ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”, một cây ngã xuống thì bốn năm cây con mọc lên. Mai hi sinh thì Dít vươn lên thay thế, Heng như cây xà nu non hứa hẹn trở thành cây xà nu cường tráng tiếp nối cha anh. Tầng tầng, lớp lớp những người dân Xô Man Tây Nguyên tiếp nối đứng lên kiên cường chiến đấu với quân thù để bảo vệ quê hương đất nước mình. Ông nội bị giặc giết, cha của Chiến và Việt trở thành cán bộ Việt Minh, cha bị giết hại dã man, má Việt tiếp tục nuôi con và chiến đấu, đến khi má ngã xuống thì anh em Chiến và Việt lại tiếp nối con đường chiến đấu, thực hiện lí tưởng của gia đình, và trong dòng sông truyền thống của gia đình, họ là khúc sông sau nên hứa hẹn đi xa hơn cả thế hệ trước.Sự tiếp nối và kế thừa đó đã làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam thời chống Mĩ, là sức sống bất diệt giúp họ vượt qua bao đau thương do kẻ thù gây ra để tiếp tục chiến đấu và chiến thắng. Nghệ thuật sử thi đòi hỏi tác phẩm tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước; phản ánh được chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. Đề tài: cuộc chiến đấu của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược. Chủ đề: ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Nhân vật chính: Là những con người tiêu biểu cho cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu hi sinh. Giọng văn: ngợi ca, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn cách mạng. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại chống Mĩ hiện diện trên khắp mọi miền của đất nước. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng đến miền núi. Tất cả tạo nên một sức mạnh long trời lở đất để “ nhấn chìm lũ bán nước và quân cướp nước”. Cuộc đời và sự hi sinh của những con người Việt Nam anh hùng mãi mãi là bản anh hùng ca tuyệt đẹp cho các thế hệ Việt Nam noi theo. phân tích vẻ đẹp chủ nghĩa anh hungcách mạng qua nhân vật tnú và việt
Phân tích chủ nghĩa anh hùng trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
1,764
Phân tích chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người. Hướng dẫn Phân tích chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người. Tình thương là cơ cơ quan trọng nhất tạo nên cái đẹp của xã hội chủ nghĩa. Tình thương là hạnh phúc của con người, là tình cảm cao đẹp thuộc bản chất của người lao động. Giai cấp áp bức bóc lột giai cấp khác thì không có tình thương, không có bình đẳng. Trước đây, Đảng ta giáo dục cho người lớn tuổi lòng căm thù giai cấp để đấu tranh chống lại cường quyền, áp bức của đế quốc và phong kiến. Bây giờ, sau khi thủ tiêu giai cấp bóc lột, phải giáo dục cho thế hệ mới tình thương yêu nhau giữa những người lao động và coi đó là một cơ sở của đạo đức mới, một cơ sở tình cảm để xây dựng quan hệ giữa người và người trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ dạy thanh niên phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Tôi nói tình thương, nói lòng nhân ái là nói trên quan điểm của giai cấp công nhân và cùng một ý nghĩa với lời dạy của Bác. Dân tộc Việt Nam ta xây dựng đất nước trên tình thương và đấu tranh: thương nước, thương nhà, thương người, thương mình; đồng thời đấu tranh kiên cường bất khuất chống cường quyền, chống xâm lược. Dân tộc ta có tinh thần yêu nước rất cao, đồng thời là một dân tộc giàu lòng nhân ái. Ngày nay trong chê độ mới, chúng ta cần nêu cao giá trị tinh thần đó. Đặc biệt thanh niên cần phải xây dựng tình thương sâu sắc đối với nhân dân lao động, và vì tình thương đó mà căm ghét bóc lột, ăn bám và tội ác. Đôi với nhân dân, thanh niên phải luôn tỏ lòng thương yêu, kính trọng. Tình cảm ấy, ý thức ấy phải biểu hiện trong nếp sống, trọng sự tiếp xúc hàng ngày với nhân dân. Tôi lấy một số ví dụ để làm rõ vấn đề này. Đối với ông già, bà già, thanh niên phải có thái độ kính nhường và hết lòng giúp đỡ, bởi vì một lẽ dễ hiểu là có ông già, bà già thì mới có chúng ta. Trên đường đi, thanh niên phải nhường bước cho người cao tuổi, phải đỡ gánh nặng cho cụ già, phải dìu bà lão qua cầu, qua suối. Những việc như thế, thanh niên không thể làm ngơ, và cũng không phải là việc khó nêu thanh niên thực sự có lòng kính yêu ông già, bà già. Khi đi tàu, đi xe, thanh niên không được chen lấn phụ nữ. Trong trường hợp phụ nữ, nhất là phụ nữ có thai, chưa có chỗ ngồi, thanh niên phải nhường chỗ của mình cho họ. Như vậy là biết khiêm nhường và tôn trọng phụ nữ. Sỗ sàng, thô bạo đối với phụ nữ là những hành vi xấu xa, đáng chê trách. Trong xã hội ta, nhiều thanh niên biết tỏ lòng thương yêu quý mến nhân dân bằng những hành động dũng cảm và hào hiệp; lúc chiến tranh xông pha lửa đạn để bảo vệ tính mạng và tài sản người đi đường bị ốm đau… Những việc làm mang nội dung đạo đức tốt đẹp của người thanh niên mới như thế rất đáng biểu dương, khuyến khích. Thanh niên phải có tinh thần xung phong, gương mẫu; bất cứ việc gì tập thể cần thì thanh niên phải làm với tinh thần không được phô trương, dối trá. Đó cũng là một thái độ đúng đắn của thanh niên đối với nhân dân, của cá nhân đối với tập thể. Tóm lại, thanh niên phải có lòng thương yêu kính trọng nhân dân như thương yêu kính trọng cha mẹ và người thân của mình, thì mới có quan hệ tốt với nhân dân được.
Phân tích chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người.
668
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Câu cá mùa thu Hướng dẫn Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Câu cá mùa thu Mùa thu là cảm hứng vô tận cho các thi nhân. Riêng Nguyễn Khuyến đã có một chùm thơ thu vô cùng đặc sắc: Thu vịnh, Thu điểu, Thu ẩm. Nhà thơ lấy cảnh thu, tình thu mà nói lòng mình vậy. Và cùng qua thơ thu ta thấy hiện lên một phần đáng trân trọng trong con người Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ Thu điếu – Câu cá mùa thu, Nguyễn Khuyến hiện lên với tấm lòng sâu nặng nghĩa tình đối với đất nước. Thơ thu xưa chẳng khi nào vui cả. Nhắc đến thơ thu là nhắc đến những tâm trạng u hoài, man mác. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến cũng vậy. Thơ gợi tình người mà người buồn thì thơ vui sao được? Bài thơ ra đời khi Nguyễn Khuyến đã quá bất mãn với xã hội mà lui về ở ẩn ở quê nhà. Xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến cướp đi quyền tự chủ của nước nhà, gieo rắc bao đau thương mất mát cho đất nước, con người Việt Nam. Buồn vì thảm cảnh”, bất hợp tác với thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến thể hiện khí tiết học ông ngư về quê câu cá. Bài thơ Câu cà mùa thu bước ra từ một tâm sự, một nỗi niềm như thế để giãi bày với hồn thiêng sông núi quê hương một tấm lòng yêu nước thiết tha, day dứt. Điều dễ thấy trong Câu cá mùa thu là cảnh tuy buồn nhưng vô cùng đẹp đẽ. Điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước ưu ái với thiên nhiên của thi nhân. Bức tranh mùa thu hiện lên trong trẻo, xinh xắn làm sao. Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Cái se lạnh của mùa thu làm làn nước ao “lạnh lẽo” “trong veo”. Câu thơ không chỉ nói đến cái lạnh mà còn nhắc đến cái tĩnh lặng, cái vắng vẻ, cái buồn buồn của khí trời, của cảnh vật. Phải rồi, “ao thu lạnh lẽo” thì mọi loài cũng chỉ muốn lặn mình xuống đáy, đâu muốn tung tăng bơi lội nô đùa? Vì thế, làn nước “trong veo” – trong trẻo, tĩnh lặng, cái trong có hình có khối. Tưởng đôi mắt Thúy Kiều – “làn thu thủy” – cũng chỉ trong đến thế. Mở đầu bài thơ là hình ảnh cái ao làng mùa thu – một hình ảnh hết sức quen thuộc ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Và từ đây, mọi cảnh vật trong bài thơ đều xoay quanh cái ao ấy, lấy cái ao làm điểm nhìn nghệ thuật. Hơi thu man mác, lạnh lẽo, trầm buồn từ làn nước mùa thu “trong veo” đang lan tỏa thấm dần vào từng hơi gió. Điểm xuyết cho bức tranh thu xinh xắn là gợn “sóng biếc” là chiếc lá vàng. Tưởng rằng thêm vào sẽ bớt vắng vẻ đìu hiu nhưng ở đây, làn sóng biếc, chiếc lá vàng càng gợi cái nhỏ bé mong manh của sự vật. Bởi “sóng biếc” thì “theo làn hơi gợn tí”, chỉ “hơi” gợn, chăm chú lắm mới thấy, mà còn là “gợn tí” một chút cỏn con… Còn lá vàng thì “đưa vèo” như chỉ tạo ra một vệt sáng vàng rồi nhanh chóng nằm lặng im nơi nào đó. Chiếc “lá vàng” ấy là lá gì? Là lá trúc, lá tre chăng? Có thể lắm bởi bờ ao đồng bằng Bắc Bộ thường có những lũy tre xanh tỏa bóng êm dịu. Càng có thể bởi ở hai câu sau nhà thơ đã viết: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Không gian được mở rộng lên chiều cao, sang bề rộng. Vậy nhưng cũng không bớt vắng vẻ cô đơn. Mây trắng “lơ lửng” giữa không trung không về với trời; chẳng sà xuống thấp, lẻ loi trôi dạt trong bao la. Sắc trời “xanh ngắt” – xanh rất đậm, xanh như có hình khối, sắc xanh tuyệt đối ấy càng khẳng định cái đơn côi lẻ loi của sự vật. Trời xanh cao mà buồn quá. Hạ tầm nhìn xuống thấp mong chờ sự giao hòa đồng cảm nhưng nhà thơ chỉ thấy “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Đường làng vốn đã rất nhỏ nay lại quanh co khúc khuỷu, tưởng như một dải lụa cố xoắn mình tự thu nhỏ lại. Đường vắng vẻ, vắng lắm, “vắng teo” Nếu chẳng “vắng teo”, dẫu có bóng người có lẽ củng nhỏ bé, đơn độc lắm. Một bức tranh thu xinh xắn hài hòa. Sự vật gì cùng thu mình lại để nhỏ hơn, để hoà hợp hơn với khuôn hình của sự vật khác. Đặc biệt, cách dùng vần “eo” rất tinh tế: “lạnh lẽo” “trong veo” “tẻo teo” “đưa vèo”…, ở đây có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức: vần “eo” khiến cảnh vật càng bé nhỏ, mong manh đơn côi hơn. Bức tranh thiên nhiên xinh xắn, đẹp đẽ thể hiện một tâm hồn thi nhân tinh tế, nhạy cảm. Hơn thế còn bộc lộ một con người đồng cảm với thiên nhiên, yêu thiên nhiên tha thiết. 0 hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông. Ai cũng biết “lá ngô đồng” “rừng phong đó” là hình ảnh ước lệ tả mùa thu, hai hình ảnh ấy tượng trưng cho mùa thu Trung Quốc. Các nhà thơ trung đại Việt Nam theo lối “tập cổ” mà vẫn ưu ái những hình ảnh ấy. Thiên nhiên trong bài thơ của Nguyễn Khuyến thì khác. Không một chút vay mượn, chỉ có cái thuần cảnh vật quê hương. Ao làng, bụi trúc, lá vàng rơi… những hình ảnh ấy giản dị, quen thuộc với người dân đồng bằng Bắc Bộ lắm. Đưa chúng vào thơ, Nguyễn Khuyến đã thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên quê nhà tha thiết, lòng tự hào về cảnh sắc quê hương. Tình yêu ấy cảm động ở việc đã phá bỏ những lề lối ước lệ bền chắc xưa cũ. Chưa hết, một bài thơ Đường luật năm mươi sáu chữ không một chữ nào không thuần Việt. Chẳng ai -tìm được một từ Hán Việt nào, nhà thơ hoàn toàn dùng ngôn ngữ của đất nước để vẽ nên bức tranh tuyệt mĩ về quê hương. Chẳng những vậy, nhà thơ còn vận dụng rất tài tình vần “eo” – vần thơ rất đặc biệt, nó nôm na xa lạ với thơ cổ nhưng lại đạt hiệu quả nghệ thuật rất cao. Sự tài tình trên chỉ có thể có ở một nhà thơ yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng dân tộc, tự hào về đất nước mình. Thiên nhiên, đẹp đẽ nhưng tầng sâu của nó là một nỗi buồn, một tâm sự của thi nhân. Cảnh đẹp nhưng sao buồn thế! Mọi vật đều hững hờ, đơn côi đến vô tình. Nguyễn Du đã có một câu thơ thật hay “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ở đây, cảnh thu cũng vậy. Nguyễn Khuyến buồn thì có cớ gì đế cảnh vui? Cảnh buồn, cảnh cô đơn bởi nhà thơ cũng đang mang nặng cảm giác ấy giữa cuộc đời biến động. Bất mãn với xã hội, khinh bạc chốn quan trường nhưng vẫn nậng lòng lo cho an nguy của Tổ quốc. Vậy nên, dầu lui về ở ẩn tâm hồn nhà thơ vẫn canh cánh một niềm riêng. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tư thế “tựa gối ôm cần” là tư thế mang nặng tâm trạng. Chờ hoài không có cá nên buồn bã, thất vọng “tựa gối” nhưng còn mong mỏi đợi chờ nên vẫn “ôm cần”. Nhưng có phải thi nhân đang câu cá? Nếu phải, tại sao lại có cảm nhận mơ hồ “cá đâu đớp động dưới chân bèo?”. Thực ra, Nguyễn Khuyến câu cá đâu phải vì muốn câu cá. (Thế nên mới có cái ngơ ngác nhìn quanh: cá ở đâu đớp động dưới chân bèo vậy? – Chăm chú câu cá sẽ không có chi tiết này). Nhà thơ làm ông ngư chỉ vì muốn lánh đời. Nhưng cuộc đời ở ẩn không làm tan đi nỗi ưu tư với đời. Câu cá mà không tập trung câu cá, tâm hồn vẫn chơi vơi nơi đâu không ở lại nơi cái ao làng nhỏ bé này. Thi nhân ưu tư điều gì? Ưu tư về vận nước, ưu tư về lẽ đời. Niềm ưu tư dai dẳng, khắc khoải dứt áo ở ẩn vẫn không nguôi trăn trở. Nguyễn Khuyến, một con người có tấm lòng yêu nước sâu nặng. Con người Nguyễn Khuyên qua Câu cả mùa thu hiện lên ở nhiều góc cạnh: yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng và tự hào về dân tộc, luồn trăn trở băn khoăn với vận nước, với cuộc đời… Tựu trung lại, bài thơ đã thể hiện một tâm hồn yêu nước khắc khoải, trăn trở đầy xúc động. Thơ Nguyễn Khuyến đa dạng về nội dung, nhiều màu vệ trong cách thể hiện nhưng sẽ còn mãi với thời gian. Và do đó, Câu cá mùa thu cũng luôn là một trong những “kiệt tác xinh xắn” của thơ ca Việt Nam. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Câu cá mùa thu
1,607
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) Hướng dẫn Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) Bài làm Xưa nay, trong văn chương Đông Tây kim cổ, có rất nhiều thi sĩ viết về đề tài mùa thu và nhiều bài thơ thu nổi tiếng sống mãi với thời gian. Nguyễn Khuyến cũng đóng góp vào nền thi ca nước Việt một chùm ba bài thơ tả mùa thu mang đậm nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, trong đó bài Vịnh mùa thu được lưu truyền rộng rãi nhất bởi nó thể hiện khá đầy đủ và sinh động tâm trạng của tác giả. Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ này sau khi ông đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Quê hương ông là xứ Vườn Bùi thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, một vùng đồng chiêm trũng đói nghèo bao thuở. Đáng lưu ý là các chi tiết trong bài thơ đều rút ra từ cảnh vật thân thuộc quanh ông. Đường làng nhỏ hẹp uốn lượn giữa hai bờ tre trúc và vô số ao chuôm. Những mái rạ đơn sơ cùng những cây rơm cũ kĩ thấp thoáng trong vườn cây trái. Hai câu đề chấm phá hai nét phong cảnh đơn sơ, thanh thoát, trong đó mọi chi tiết, đường nét, sắc màu đều rất hài hòa, nhịp nhàng, phù hợp với tâm hồn tác giả. Nhà thơ mới nói đến trời thu nhưng ta đã thấy cả hồn thu trong đó: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Xanh ngắt là xanh thăm thẳm tưởng chừng không giới hạn; mấy từng cao là dường như nhiều lớp, nhiều tầng chồng lên nhau, gợi cảm giác cao vời vợi. Trên cái nền là bầu trời bát ngát xanh, nổi bật lên hình ảnh thanh tú, mềm mại của cần trúc, tức là cây trúc non chưa trổ lá, cong cong như chiếc cần câu đang đung đưa khe khẽ trước làn gió hắt hiu. Gió hắt hiu là gió rất nhẹ và như chất chứa đầy tâm trạng bên trong. Sự lay động nhẹ nhàng của cần trúc càng tôn thêm vẻ lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Bầu trời lại như dồn hết cái sâu lắng của mình vào bên trong cần trúc, để cho nó chỉ khe khẽ rung rinh. Đó là nét động và nét tĩnh của cảnh thu chốn đổng quê, đồng thời cũng là những rung động thực sự trong hồn thơ Nguyễn Khuyến. Giữa cảnh vật và con người nhà thơ có sự đồng điệu, cảm thông tuy thầm lặng nhưng sâu sắc lạ thường. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu. Khi khí trời bắt đầu se lạnh, vào lúc sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao hồ thường có một lớp sương mỏng màu tím nhạt, trông xa như khói phủ. Khung cảnh bình thường ấy qua đôi mắt u buồn của thi nhân đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Tầng khói phủ khác làn khói phủ bởi sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, có độ sâu và như chất chứa một điều gì đó bên trong nên thành huyền ảo, mông lung. Đó là dáng thu dưới mặt đất, sau dáng thu trên bầu trời. Hình ảnh Song thưa để mặc bóng trăng vào có ý cởi mở. Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng trăng cũng trở nên mênh mông hơn, lặng lẽ hơn. Nếu ở câu trên, trạng thái của cảnh vật có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này cảnh vật lại có bề rộng, mặc dù bị giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa nhưng vẫn mênh mông ý nghĩa bên trong âm điệu và từ ngữ. Nhưng dù ở trạng thái nào đi nữa thì cảnh vật cũng vẫn chất chứa tâm trạng buồn thương. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào. Sau khi nhìn mặt nước khỏi phủ, ngắm ánh trăng tràn qua song thưa, nhà thơ trông ra bờ giậu ngoài sân. Ở đó nở mấy chùm hoa, có lẽ là hoa cúc. Rõ ràng là hoa năm nay mà cụ Tam Nguyên lại nghĩ là hoa năm ngoái. Trong đêm khuya, từ trên cao văng vẳng vài tiếng chim, khiến nhà thơ bâng khuâng tự hỏi không biết là tiếng ngỗng nước nào? Đó chính là biểu hiện của nỗi niềm hoài cổ khôn khuây của một người luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân nước. Điều gì đang xảy ra trong sâu thẳm tâm hồn thi sĩ? Con người đang sống trong thực tại mà như lùi về quá khứ, hay bóng dáng quá khứ luôn hiển hiện trong tiềm thức nhà thơ?! Nếu như trong bốn câu thơ trên, cảnh vật hài hòa, giao cảm với nhau thì đến đây, con người hòa hợp với cảnh vật trong một tâm trạng u uất. cảnh vật thể hiện tâm tư con người và tâm tư con người thể hiện qua cách cảm, cách nhìn cảnh vật. Như vậy là cảnh vật được miêu tả qua đôi mắt và trái tim rung cảm của nhà thơ. Mùa thu tới, nhà thơ nhìn hoa nở trước sân, nghe tiếng chim kêu trên trời trong đêm khuya thanh vắng mà trỗi dậy cảm xúc xót xa, ngậm ngùi đến não lòng. Chiều sâu của tâm hồn thi sĩ lắng đọng vào chiều sâu của mỗi câu thơ là vậy. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Cụ Tam Nguyên thẹn về nỗi gì vậy? Thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách cứng cỏi như Đào Tiềm – một vị quan có khí tiết cương trực và cũng là một thi sĩ nổi tiếng đời Đường bên Trung Quốc. Lôgíc của bài thơ là từ cảnh đến tình, từ tình đến người. Lời thơ trong câu cuối cùng có cái gì đó lửng lơ mà kín đáo, do đó càng làm tăng thêm chất suy tư vốn đã trĩu nặng của bài thơ. Nguyễn Khuyến miêu tả cảnh thu ở quê hương mình, từ màu trời, ngọn trúc, mặt nước, ánh trăng đến chùm hoa trước giậu, tiếng ngỗng trên không… để dẫn đến cảm xúc đầy suy tư, trăn trở ẩn chứa trong cảnh vật. Thông qua đó, ông gửi gắm tâm trạng xót xa, nuối tiếc trước cảnh đất nước rơi vào tay giặc ngoại xâm, quá khứ tốt đẹp không còn nữa mà mình thì lực bất tòng tâm. Thu vịnh là một bài thơ rất hay, góp phần khẳng định tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước đằm thắm trong thơ Nguyễn Khuyến. Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt tới mức tinh tế, điêu luyện mà vẫn dung dị, tự nhiên, không mấy ai sánh được.
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu)
1,182
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu Hướng dẫn Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu Nhắc tới Nguyễn Khuyến người ta nhớ đến những sáng tác của ông về mùa thu. Trong đó có nhiều bài thơ viết về mùa thu bằng chữ Hán và chữ Nôm.Bài thơ “Thu điếu” là một trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng: Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Chính chùm thơ về mùa thu này đã giúp Nguyễn Khuyến bước lện vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về mùa thu. Những câu thơ nhẹ nhàng dễ đi vào lòng người, sẽ không ai có thể quên, khi nhắc tới thơ về mùa thu Việt Nam, Thu điếu cũng góp phần thể hiện góc nhìn và tâm tư tình cảm của tác giả được gửi gắm qua đó. Được mệnh danh là một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam,ba bài thơ về mùa thu của Nguyễn Khuyến đặc biệt là Thu điếu đã trở thành một trong những bức tranh mùa thu đặc sắc của văn học Việt Nam. Vẻ đẹp của mùa thu được thi vị hóa, trở thành một bức tranh độc đáo. Giống như mọi thứ đang diễn ra trước mắt, hình ảnh nước trong veo, mặt hồ phẳng lặng là những đặc trưng của mùa thu Mỗi khung cảnh mỗi nét thơ cho ta một vẻ độc đáo riêng,mỗi cảnh có một sự thể hiện riêng nhưng có một sự thật không thể phủ nhận đó chính là mỗi bài thơ thu của Nguyễn Khuyến đều mang một dáng vẻ riêng. Riêng Thu điếu, mà nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam, là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết. Những hình ảnh trong sáng những đường nét mang chi tiết gợi rất lớn khiến cho bài thơ càng thêm có hồn Trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, những câu thơ ra đời trong hoàn cảnh tác gải lui về ở ẩn để giữ tâm hồn thanh cao, có một lối sống giản dị. Cho nên bài thơ giống như một cái cớ để ông giãi bày nỗi niềm của mình với sông núi với quê hương, đó là tình yêu quê hương đất nước day dứt. Khung cảnh trong thơ độc đáo nhưng gợn buồn, ngôn từ của nó cũng được tắm trong nỗi buồn vô cớ. Mọi thứ chỉ hơi gợn không một chút biến đổi mạnh nào, màu của sóng biếc pha trộn với sắc vàng của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật trong phần thực rất điêu luyện, lá vàng với sóng biếc, tốc độ vèo của lá bay tương ứng với mức độ tí của gợn sóng. Cách hiệp vần ở mỗi cuối câu khiến cho ta đọc lên cảm thấy không gian vừa rất tĩnh lại vừa thu hẹp lại,tâm điểm của bài thơ được nổi bật và tập trung điểm nhìn hơn. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Không gian dường như được mở rộng, bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời xanh ngắt với những từng mây lơ lửng trôi theo chiều gió nhẹ. Bầu trời xanh ngắt là một đặc trưng của thơ miêu tả thu của Nguyễn Khuyến. Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu và thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Không gian thu hẹp lại khi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Xóm thôn vắng lặng, tĩnh mịch, con đường quanh co, heo hút, không một bóng người qua lại. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Mọi thứ trong bài thơ như thu lại,với việc sử dụng từ thuần việt bài thơ kết hợp với vần “eo” đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng lại buồn bã, nỗi buồn sâu kín trong chính lòng tác giả.cho nên hai câu cuối là 2 câu mà tâm sự của tác giả được thể hiện mãnh liệt nhất. Cảnh vật càng trở nên êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt chìm vào không khí vắng lặng của mùa thu. Tất cả cảnh vật, từ mặt nước đến ao thu lạnh lẽo đến chiếc thuyền câu bé tí teo, từ sóng biếc đến lá vàng, từ tầng mây lơ lửng đến ngõ trúc… đều hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh có chút bâng khuâng, man mác, rất gần gũi, thân thiết với mọi người Việt Nam. Những hình ảnh đó dường như đã quá quen thuộc với người dân Việt Nam mỗi khi nhớ về kỉ niệm tuổi thơ, và nó cũng gắn liền với nỗi buồn không đáy.Biết bao thời gian trôi qua trong không gian của sáng tĩnh mịch ấy, nhưng tư thế ngồi của người buông cần câu như cũng bất động trong thời gian: Cá đâu đớp động dưới chân bèo Tư thế của người câu cá là tư thế tựa gối ôm cần, và không có chút gì là thay đổi tư thế,như ông đang chờ đợi điều gì xảy ra rất lâu và cứt thế, bình tĩnh để nhìn thấy kết quả. Hình ảnh này cũng mang dáng dấp của những người vui thú khi về ở ẩn, sống một cuộc sống đạm bạc. Bài thơ Thu điếu này cũng thể hiện khát vọng câu thanh, câu vắng cho tâm hồn của một nha thơ có phẩm chất thanh cao.Cái âm thanh cá đớp động gợi lên sự mơ hồ xa vắng, đánh thức tỉnh. Qua bài thơ ta thấy được một Nguyễn Khuyến với giàu lòng yêu nước và cũng gắn bó thiết tha với quê hương đất nước. Mọi hình ảnh chi tiết dáng dấp đều là để thể hiện nỗi lòng sâu kín của tác giả, đó là một tâm hồn yêu thiên nhiên,yêu con người yêu sự yên bình nhưng cũng sẵn sàng phản kháng mạnh mẽ trước thời cuộc bằng chính vũ khí thơ văn của mình. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu
1,052
Đề bài: Phân tích cuộc chạm trán đầy kịch tính giữa Va-ren và Phan Bội Châu trong tác phẩm Những trò lố hay là Va- ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc Bài làm Trong quãng thời gian sống và hoạt động cách mạng tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc có một số tác phẩm viết bằng tiếng Pháp như: Vi hành, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu… Đó là những tác phẩm thể hiện tính chiến đấu qua ngòi bút văn chương trong đó tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu đăng trên báo Người cùng khổ số 36, 37 vào tháng 9, tháng 10 năm 1925. Trong 3 phần của tác phẩm ta thấy rằng cuộc chạm trán giữa Va-ren và Phan Bội Châu đầy kịch tính, thể hiện ngòi bút châm biếm sắc sảo của Nguyễn Ái Quốc. Tác giả dùng thủ pháp tương phản tạo nên tính chiến đấu sắc bén cho tác phẩm. Va-ren là tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình còn Phan Bội Châu là bậc anh hùng vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng vì tìm đường cứu nước, cứu dân, cụ Phan bị bọn thực dân kết án “tử hình vắng mặt”, đang bị đeo gông và chờ ngày lên máy chém. Hai con người hoàn toàn đối lập nhau. Va-ren phải hứa “chăm sóc” cụ Phan Bội Châu. Lúc này nhà yêu nước Phan Bội Châu mới bị bắt giam. Cả nước đang dấy lên một phong trào đấu tranh rộng khắp đòi thả cụ. Đến Việt Nam hắn đã diễn ngay những trò lố. Tuy không trực tiếp nhìn thấy nhưng bằng con mắt thời cuộc và cảm nhận riêng của mình Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt của tên cáo già giả nhân giả nghĩa. Xuống tàu tên chính khách đâu có để ý đến lời hứa “chăm sóc” cụ Phan Bội Châu mà ngài chỉ muốn chăm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã. Như vậy ta thấy hắn chỉ lo cho bản thân mình, hứa là “chăm sóc” mà đến Đông Dương hắn còn lo yên vị xong xuôi, tác giả đã gây sự nghi ngờ cho dư luận. Thực tế là cụ Phan vẫn “ngồi tù”. Đến Việt Nam hắn vui thú trước những sự dụ dỗ, ấp ủ, tiệc tùng của chính quyền Sài Gòn và Huế. Từ Sài Gòn ra Hà Nội, Va-ren phải dừng lại ở Huế đế Hoàng đế Khải Định và triều đình cài lên ngực áo hắn Nam Long bội tinh, cái cao quý nhất của hoàng triều. Hắn chưa có công trạng gì cho thuộc địa mà đã được ban thưởng của triều đình nhà Huế. Tên toàn quyền vẫn vùi mình vào tiệc tùng, vô tình nuốt lời hứa, trong khi đó cụ Phan vẫn ngồi tù. Và Va-ren đến Hà Nội – cuộc chạm trán giữa một kẻ phản bội Đảng cộng sản Pháp với một bên là bậc thiên sứ, xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng. Điều thú vị sắp diễn ra, tên toàn quyền bắt tay cụ Phan, tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Phan Bội Châu trong nhà tù ảm đạm. Hắn tuyên bố tôi đem tự do đến cho ông đây. Cuộc mặc cả bắt đầu, y dụ dỗ, y yêu cầu cụ Phan hãy từ bỏ ý chí đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, y nêu ra một số tên phản bội để làm gương, và thật nực cười chính y cũng là kẻ phản bội. Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, giờ đây thì tôi làm toàn quyền… Tiếc thay cuộc “mặc cả”, “diễn thuyết” của Va-ren rất hùng hồn và không thiếu những lý lẽ đầy tình cảm như trong lúc ông và tôi nắm chặt tay – có thông ngôn rành mạch thế mà cụ Phan cứ dửng dưng. Xét binh tình thì lúc đó cả Phan Bội Châu và Va-ren không hiểu nhau. Cụ Phan làm sao lại hiểu được những lời nói giả dối của một kẻ xấu xa đã phản bội chính giai cấp mình, một kẻ mà ngoài mẽ thì lịch sự, oai phong mà bên trong thì gian xảo, cáo già. Cụ Phan không thể hiểu một kẻ mà với cụ chỉ là một tên cướp nước không hơn không kém. Còn với Va-ren một tên chính khách bẩn thỉu làm sao hiểu được sự cao thượng, vĩ đại của một người đem cả tính mạng của bản thân cho nền độc lập tự do của dân tộc. Hai thái cực đối lập nhau trong cuộc chạm trán nảy lửa với những lời nói, hành động của Va-ren đã bóc trần bộ mặt xảo trá của hắn. Trong cuộc chạm trán ấy, Phan Bội Châu rất chủ động dửng dưng im lặng, mỉm cười một cách kín đáo. Đặc biệt trong phần tái bút, tác giả cho biết một nhân chứng quả quyết rằng Phan Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren. Hành động này cho thấy thái độ ghê tởm, khinh bỉ của cụ Phan trước tên toàn quyền đang thao thao bất tuyệt lên mặt dạy đời ấy. Vị toàn quyền được triều đình An Nam tôn kính kia đã bị hạ nhục, coi thường. Người đọc cảm thấy thích thú qua chi tiết này. Bằng trí tưởng tượng phong phú tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt, giả nhân giả nghĩa của tên toàn quyền Va-ren trong cuộc chạm trán với cụ Phan. Sự đối lập, tương phản giữa hai con người đầy kịch tính, các chi tiết nghệ thuật làm cho người đọc bật cười, cái cười tán thưởng khâm phục cụ Phan anh hùng thiên sứ và khinh bỉ lên án tên toàn quyền Va-ren. Những trò lố mà hắn làm tại Đông Dương và đặc biệt cuộc chạm trán và mặc cả, dụ dỗ cụ Phan thực sự là những trò lố của trò lố. Nguyễn Ái Quốc viết truyện này không chỉ nhằm mục đích ca ngợi Phan Bội Châu – một người tù lừng tiếng mà còn đòi ân xá cho cụ, đồng thời vạch trần bộ mặt xảo quyệt bẩn thỉu của tên toàn quyền Va-ren nói riêng và lũ thực dân Pháp nói chung. Ngòi bút hiện thực đầy sắc sảo, nó chính lưỡi gươm chống lại kẻ thù xâm lược của Nguyễn Ái Quốc trong những năm sống và hoạt động tại Pháp.
Phân tích cuộc chạm trán đầy kịch tính giữa Va-ren và Phan Bội Châu trong tác phẩm Những trò lố hay là Va- ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc
1,141
Phân tích cuộc hội thoại của Hồn Trương Ba và xác hàng thịt Hướng dẫn Phân tích cuộc hội thoại của Hồn Trương Ba và xác hàng thịt Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ đã nói lên những triết lý rất sâu sắc về cuộc sống. Cuộc sống chỉ hoàn thiện khi được làm chủ chính mình, khi linh hồn và thể xác hòa nhập với nhau làm một. Lưu Quang Vũ – một nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại đã cho người đọc được thưởng thức một màn kịch thật tuyệt vời, xuất sắc. Không ít người đã nhìn nhận thấy chính bản thân mình cũng ở trong vở kịch ấy, bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Nhất là lúc Hồn Trương Ba và xác hàng thịt tranh luận với nhau, đây là đoạn cao trào của cuộc đấu tranh đầy mâu thuẫn giữa linh hồn và thể xác. Trương Ba chết do lỗi của Nam Tào nên hồn ông đã được Đế Thích cho nhập vào xác hàng thịt để tồn tại. Những tưởng cứu vãn được cuộc sống, mọi người sẽ mừng vui chào đón ông trở về từ cõi chết. Nhưng mọi chuyện diễn ra lại hoàn toàn trái ngược lại với những gì Trương Ba mong muốn. Vợ hàng thịt nhìn thấy chồng mình còn đó thì đòi chồng, còn gia đình Trương Ba cũng khó lòng nhìn nhận một người ông đáng kính, một người cha mẫu mực, một người chồng ân cần giàu lòng yêu thương với vóc dáng, hình hài của một kẻ phàm phu tục tĩu, thô kệch. Những rắc rối trong gia đình thường xuyên xảy ra. Đặc biệt ngay chính bản thân Trương Ba là người phải chịu nhiều biến cố nhất, đau khổ nhất khi phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Đặc biệt, thân xác hàng thitij làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải là của chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết. Hồn Trương Ba là hình ảnh đại diện cho tâm hồn và trí óc con người. Hồn không có hình thù cụ thể, mà được ẩn sâu trong mỗi con người. Còn xác hàng thịt là cái thể xác hiện hữu của mỗi người. Những suy nghĩ của tâm trí thường thể hiện bằng hành động. Nhưng trong nhiều trường hợp, tâm trí và thể xác không hòa nhập với nhau, tâm trí không thể nào chiến thắng được những thói hư tật xấu của thể xác. Ở đây, Lưu Quang Vũ đã cố tình dựng nên tình huống Hồn Trương Ba nhập và xác hàng thịt để mọi người thấy rõ sự khác biệt giữa tâm hồn và thể xác, để từ đó nói lên những triết lý sâu sắc về đạo đức và cuộc sống. Hồn Trương Ba cao quý với những ý nghĩ trong sáng, tốt đẹp. Còn xác hàng thịt lại ham mê những thứ tầm thường như rượu thịt, dục vọng… Sống trong cái thân xác ấy, Hồn Trương Ba không thể được làm chính mình, ông thất vọng và đau khổ. Và rồi ông bắt đầu sợ cái thân xác ấy. “Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”. Khao khát được sống là chính mình, được trở về nguyên vẹn và trong sáng như những gì mình nghĩ, nhưng thật đáng đau buồn là Hồn Trương Ba không thể nào làm được như vậy. Đang lúc tuyệt vọng, xác hàng thịt còn mỉa mai, chế giễu Trương Ba: “Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác…” Dù mỉa mai nhưng xác hàng thịt cũng đã nêu lên một chân lý rất thực tế: thân xác và linh hồn phải luôn hòa nhập làm một thì mới tồn tại được. Cũng bởi thế nên Hồn Trương Ba mới phải mượn xác ông để được sống lại. Chỉ tiếc rằng, những lối sống, suy nghĩ giữa Trương Ba và hàng thịt hoàn toàn trái ngược nhau, tạo nên những mẫu thuẫn tất yếu giữa hai người. Trương Ba cho rằng hàng thịt lúc này chỉ là cái xác thịt âm u đui mù. Nhưng thực tế, xác thịt có tiếng nói và Trương Ba đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Ngược lại với điều mọi người thường nghĩ rằng mọi hành động của thể xác là do ý chí quyết định. Nhưng do thể xác không phải của mình nên Trương Ba không thể điều khiển nó được. Thậm chí, chính vì âm u, đui mù mà thể xác có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết. Đúng thế, khi những nhu cầu của thể xác quá cao, ý chí con người nếu không mạnh mẽ sẽ bị thể xác làm cho lu mờ. Dù trước đây, Trương Ba là con người đức độ, nhã nhặn, khéo léo, nhưng lúc này ông đã bị sức mạnh ghê gớm của xác hàng thịt lấn át. Ông cứ nghĩ tâm hồn mình vẫn nguyên vẹn, trong sáng và thẳng thắn… nhưng xác hàng thịt đã nói lên một sự thât đau đớn: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn.” Dù Trương Ba có chối bỏ nhưng thực tế là vậy, chẳng có cách nào chối bỏ được cái thể xác thô lỗ này nếu Trương Ba vẫn còn muốn tồn tại. Bởi thể xác và linh hồn không thể tách rời nhau. Dù thế nào đi nữa, thể xác cũng nói lên những điều rất thực tế: “Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! … Đâu phải lỗi tại tôi… Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thé giới này qua những giác quan của tôi…. Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác… Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác… Mỗi bữa tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào?”. Có lẽ cũng không thể trách thể xác được. Bởi vốn dĩ thể xác thuộc về những điều tầm thường, điều đáng buồn là linh hồn và thể xác không hòa hợp được với nhau nên linh hồn không sai khiến được thể xác. Mặt khác, Hồn Trương Ba cũng đã ít nhiều tham dự vào những thú vui của thể xác. Vậy nên, khi dựng nên bi kịch này, tác giả đã cố tình đặt Trương Ba vào tình thế éo le mang lại cho người xem bài học sâu sắc: Thứ nhất, không thể nào sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Chỉ khi cả thể xác và linh hồn hòa nhập làm một, cuộc sống mới có ý nghĩa. Thứ hai, không thể sống dựa vào những gì không thuộc về mình. Thứ ba, kẻ thù lớn nhất của mỗi người chính là bản thân mình, hãy nâng cao ý chí, hãy sáng suốt để bản thân không vấp phải những sai lầm đáng tiếc. Thứ tư, nếu chỉ có suy nghĩ tốt đẹp mà hành động xấu xa thì cũng không thể gọi đó là một người tốt được. Vì vậy, muốn được sống toàn vẹn, trước hết, mỗi người hãy tự ý thức bản thân mình, làm chủ chính mình và hãy luôn để tâm trí sáng suốt điều khiển mọi hành vi, không để những ham muốn tầm thường mua chuộc và lấn át. Tâm hồn và thể xác là hai thứ không thể tách rời nhau. Tâm trí có trong sáng đến mấy mà hành động thô lỗ cũng không có ý nghĩa gì. Ngược lại, dù bản thân có làm điều tốt mà trong đầu lại chỉ nghĩ đến những điều đen tối thì dù tốt đến mấy cũng chẳng được ích chi. Vì vậy, mỗi người hãy sống sao thật là chính mình, để bên trong và bên ngoài luôn hòa nhập làm một. Đừng ai để mình phải rơi vào bi kịch đau thương như Hồn Trương Ba. Ông đã chấp nhận cái chết để được sống là chính mình. Nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ đã rất thành công khi xây dựng nên tình huống éo le này. Cho đến nay, vở kịch vẫn được nhiều lần công diễn như một bài học đầy triết lý sâu xa cho mọi người cảm nghiệm.
Phân tích cuộc hội thoại của Hồn Trương Ba và xác hàng thịt
1,618
Phân tích cuộc ác chiến giữa người lái đò và dòng sông trong Người lái đò sông đà-Nguyễn Tuân Hướng dẫn Mở bài: Người lái đò sông Đà là một tập tùy bút xuất sắc của nhà văn Nguyễn Tuân và của nền văn học Việt Nam. Bằng những trải nghiệm thực tế, cộng với trình độ am hiểu sâu sắc về con người và dòng sông Đà, dưới ngòi bút tài hoa, phóng túng, Nguyễn Tuân đã dựng nên một hình tượng nghệ thuật sừng sững vừa mạnh mẽ, dữ dội, vừa hết sức, lãng mạn. Thân bài: Đúng như tên gọi của đoạn trích “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã hướng ngòi bút của mình vào khám phá, tôn vinh những vẻ đẹp của hình tượng ông lái đò và dòng sông Đà. Để gây được ấn tượng đối với người đọc, Nguyễn Tuân đã dày công tạo nên một bức nền lí tưởng mở đường cho sự xuất hiện của nhân vật ông lái đò: bức tranh dòng sông Đà dữ dội. Cuộc ác chiến giữa ông lái dò và dòng sông là một trong những đoạn viết say mê và hào hứng nhất của thiên truyện này. Đó là bức tranh của rừng núi Tây Bắc thâm u, hiểm trở, dòng sông Đà uốn lượn, những bãi đá nổi cao vút, bãi đá ngầm gồ ghề chứa đầy bí mật, những hẻm núi “đúng chính ngọ mới thấy mặt trời”, những bờ đá “giữa mùa hè mà cảm thấy lạnh”. Con sông Đà làm người ta thấy ghê rợn với những hút nước “như cửa cống cái bị sặc”, “kêu ặc ặc như ai rót dầu sôi vào”. Và nhất là con thuyền bị nó nuốt chửng. nhưng bức tranh hùng vĩ ấy cũng chỉ là cái nền cho sự xuất hiện của ông lái đò trên sông Đà mà thôi. Bức tranh càng dự dôi, khốc liệt bao nhiêu thì hình tượng con người càng được nâng cao bấy nhiêu. Người lái đò sông Đà xuất hiện như hình ảnh của các nhân vật anh hùng trong sử thi kì vĩ và phi thường. Ông lái đò được khắc họa đậm nét trong sự đối lập với dồng sông Đà, qua cuộc chiến đầy cam go, căng thẳng để chế ngự tự nhiên. Đó là một ông lái đò lực lưỡng, dũng cảm, mưu trí, kiên cường một mình đối mặt với trùng vi thạch trận của con sông quái ác để xuôi ngược trên dòng. Trùng vi một là cửa ngõ bước vào mê cung đá nước. Nước và đá hè nhau bài binh bố trận tạo nên những dòng chảy chết người dụ dỗ các tay lái đi vào. Nước hò la áp đảo, đánh đòn lung đòn tỉa, đòn âm và kể cả những đòn độc hiểm nhất. Dù bị nước bắn, nước dộ thúc vào mạn sườn, vào mặt đau điếng, nhưng ông lái đò vẫn tỉnh táo chỉ huy sáu cái mái chèo vượt qua thạch trận. Ngọn nước cố gầm ghè trêu chọc và chế nhạo để ông mất tập trung mà phạm sai lầm nhưng ông vẫn không hề nao núng, cứ điềm tĩnh như không có chuyện gì. Dường như đối với ông, đó chỉ là một công việc quá dễ dàng, không có gì đáng bận tâm. Cửa thứ nhất dù nguy hiểm và khốc liệt đến thế nhưng cũng chỉ là màn dạo đầu trong trận chiến sinh tử giữa con người và thiên nhiên. Đến trùng vi thứ hai, hình tượng ông lái đò mới thực sự được khắc họa tỉ mỉ. Dòng sông vẫn mênh mông đá nước nhưng giờ đây từ thế thủ, ông lái đò chuyển sang thế công phá. Ông lái đò nắm chắc binh pháp, nhìn rõ cửa sinh, cửa tử, lựa chọn dòng nước mà lèo lái con thuyền đi đúng hướng. Khi thì ông lấn tới chặt đôi con nước, khi thì bẻ lái tránh được lưỡi đá sắc nhọn. Cứ như con thuyền đang nhảy múa trước trận đồ ma quái nào đó còn ông lái đò oai phong như một vị dũng tướng uy nghi, lẫm liệt vô cùng. Kết bài: Nguyễn Tuân đã rất thành công khi miêu tả cuộc ác chiến giữa ông lái đò và dòng sông Đà hung tợn. Đó là cuộc chiến không khoan nhượng một mất một còn. Dù biết là hiểm nguy trong mỗi chuyến đi nhưng con người chưa bao giờ chùng bước. Cứ đều đặn mỗi tháng, con thuyền vẫn cứ đi ngược về xuôi mang theo biết bao phẩm vật. Hình tượng người lái đò trên sông Đà đã được Nguyễn Tuân tôn vinh như một hiệp sĩ giữa đại ngàn. Rồi sẽ đến một ngày ông sẽ từ bỏ việc này nhưng mỗi khi đọc đến tùy bút này người đọc không khỏi thấy rạo rực, muốn được một lần đến với dòng sông để chứng kiến cảnh sắc thiên nhiên kì vĩ và những cuộc vượt thác nước ngoạn mục của con người.
Phân tích cuộc ác chiến giữa người lái đò và dòng sông trong Người lái đò sông đà-Nguyễn Tuân
839
Đề bài: Phân tích cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi trong truyện Tấm Cám Bài làm Các truyện cổ tích châu Âu cùng kiểu với truyện Tấm Cám của Việt Nam thường kết thúc khi cô gái mồ côi kết hôn với hoàng tử và hưởng hạnh phúc. Truvện Tấm Cám không chỉ dừng ở kết thúc phổ biến đó mà còn tiếp thêm một chặng nữa của cuộc đời nhân vật. Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt. Cô Tấm lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng cha đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Cô Tấm hiền lành, ngây thơ vừa ngã xuống, một có gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hóa thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc. Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với người nghe, người đọc truyện cổ tích. Bởi trong cuộc đời. những gì người mồ côi yếu thế, nhỏ nhoi không thể làm được thì cô Tấm đã thay họ thực hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng. Tấm thảo hiền bị dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết. Cô hóa vàng anh, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhở “Giặt áo chồng tao, thì giặt cho sạch, phơi áo chồng tao, thì phơi bằng sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết. Tấm hóa cây xoan đào (khung cửi), tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn “Lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khung cửi bị đốt cháy. Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hóa cây thị (quả thị) trở lại với đời. Trong sự hóa thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất. khuất của phụ nữ Việt Nam từ xa xưa. Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám Tấm đã hóa thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy, còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi sống lại của Tấm phản ánh tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến đấu giữa thiện với ác, đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của cái thiện. Phải chăng cô Tấm có thể chết đi sống lại, có thể tự mình hóa thân để trở lại với đời? Chính những người dân nhân hậu và giàu tình thương đã không nỡ để một cô gái lương thiện như Tấm phải chết oan ức trong thầm lặng. Họ đã mượn yếu tố kì ảo, thổi sức sống mãnh liệt cho nhân vật, di dưỡng sức sống tiềm tàng trong đó, vực nhân vật dậy “đi trả thù để sống tự do”. Nhân dân đã gửi gắm vào nhân vật Tấm lòng nhân đạo, tình yêu thương con người sâu sắc của mình. Chim vàng anh, cây xoan đào (khung cửi), cây thị (quả thị) là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị thân thương trong cuộc sông dân dã. Đó cũng là những hình ảnh đẹp của làng quê, làm nên ấn tượng thẩm mĩ cho câu chuyện. Nếu như ở phần đầu truyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì ở phần sau, cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy Tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô tấm thiệt thòi, đã gửi vào nhân vật ấy ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình. Đằng sau câu chuyện đã gửi gắm một chân lí: Hạnh phúc chỉ bền chặt khi ta biết dũng cảm giành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn Bụt làm thay tất cả, thì đến đây chim vàng anh, khung cửi, quả thị (yếu tố kì ảo) không thay Tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi Tấm hóa thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn. Sau bao lần hóa thân chống lại kẻ thù, Tấm trở về với cuộc đời, với làng quê bình dị, vẫn là cô gái đảm đang khéo léo vởi miếng trầu têm cánh phượng. Nhờ miếng trầu mà nhà vua nhận ra người vợ đảm của mình và đưa Tấm về cung. Miếng trầu là hình ảnh quen thuộc trong đời sông văn hóa Việt Nam, gắn với phong tục hôn nhân người Việt “Miếng trầu nên dâu nhà người”, “Miếng trầu ăn ngọt như đường, đã ăn lấy của phải thương lấy người”… Miếng trầu mang ý nghĩa giao duyên như vậy đã có mặt trong sự hội ngộ của nhà vua và Tấm. Nhưng sau nhiều lần chết đi sống lại trong lốt chim, cây, quả., dường như Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiện diện. Cô lừa Cám để nó sai người đào hố, giội nước sôi, tự tìm đến cái chết. Kết thúc đó nêu triết lí dân gian “ác giả ác báo”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù. Cuối cùng, hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng chung thủy và sự dũng cảm của cô. Sự hóa thân nhiều lần rồi trở về với cuộc đời của Tấm là biểu hiện sinh dộng của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc. Người lương thiện phải được nhận hanh phúc, còn kẻ ác nhát định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người. Người lao động không chờ đợi hạnh phúc đẹp và mơ hồ ở cõi nào khác, mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó, ở nơi trần thế. Những lần hóa thân ấy của Tấm đã hàm chứa nhiều triết lí dân gian sâu sắc về hạnh phúc và đấu tranh đúng như có nhà thơ đã viết: Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta, Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp Rơi vào tay người đó là định luật, Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam. Khi bàn về sự hóa thân của Tấm, có người cho đó là ảnh hưởng từ thuyết luân hồi nhà Phật (luân: vòng tròn, bánh xe; hồi: quay trở lại. Luân hồi là sự xoay vần liên tục. Một sinh vật sau khi chết sẽ chuyển sang hình hài một sinh vật khác: Người, vật, cây cỏ… để trả nợ cho những gì kiếp trước mình đã phạm). Nhưng nếu mượn thuyết luân hồi thì truyện Tấm Cám chỉ mượn hình thức để thể hiện mơ ước, tinh thần lạc quan của người lao động mà thôi. Bởi luân hồi nhà Phật là để chịu đau khổ do tội lỗi từ kiếp trước của mình, rồi sau đó tìm hạnh phúc ở cõi niết bàn cực lạc xa xôi. Còn cô Tấm chết đi sống lại nhiều lần không phải để chịu khổ đau, cũng không định tìm hạnh phúc đẹp nhưng mơ hồ ở cõi Niết bàn mà để quyết giành và giữ hạnh phúc có thực của mình ngay ở thế giới này. Đó là lòng lạc quan, yêu đời và tinh thần thực tế của người lao động khi sáng tạo truyện cổ tích. Cuộc chiến đâu giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ gian nan, quyết liệt nhưng cuối cùng Tấm đã chiến thắng. Đó là chiến thắng tất yếu của cái thiện, của lòng nhân đạo và lạc quan theo quan niệm của nhân dân. Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích là biểu hiện tập trung những ước mơ của tác giả dân gian. Hầu hết truyện cổ tích đều kết thúc có hậu: người nghèo sẽ giàu có, người mất vợ sẽ tìm lại được và sống hạnh phúc, người xấu xí, dị dạng trở nên xinh đẹp, người bị áp bức nhiều nhất sẽ bước lên địa vị tối cao, được làm vua hay hoàng hậu… Kết thúc đó mang đến ánh sáng và vẻ đẹp lãng mạn cho truyện cổ tích, làm cho nó có sức hấp dẫn đặc biệt đổi với mọi thế hệ, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm khát khao vươn tới cái đẹp, cái thiện của nhân dân lao động Việt Nam xưa. Cô Tấm nghèo khổ, bị hành hạ, chết đi sống lại, cuối cùng đã tiêu diệt cái ác, gặp lại chồng, trở về làm hoàng hậu bên những người dân hiền lành tốt bụng. Kết thúc đó còn mang mơ ước đổi đời của những người lao động nghèo, là bức tranh về một xã hội lí tưởng có “vua hiền, tôi giỏi”. Trong xã hội mơ ước đó, người lao động hiền lành, lương thiện đã được hưởng hạnh phúc. Cũng như nhiều truyện dân gian khác, truyện Tấm Cám có nhiều dị bản. Những bản kể ra đời ở thời trung đại đều kết thúc khi Tấm giết Cám, là mắm gửi về cho dì ghẻ. Mụ ăn cứ tấm tắc khen ngon, đến khi ăn hết mới nhận ra đầu lâu con mình ở đáy hũ liền lăn đùng ra chết. Không ít người từng hài lòng trước sự trừng phạt ấy, bởi Tấm đã thay mặt cái thiện để tiêu diệt cái ác, thực hiện công lí mang tính nhân dân thể hiện quan niệm và mơ ước về sự chiến thắng tuyệt đốỉ, tự mình tiêu diệt tận gốc kẻ thù. Mẹ con Cám đã không từ thủ đoạn độc ác nào để hành hạ Tấm, từ lừa gạt đến trắng trợn bóc lột, từ lén lút giết Tấm đến công khai đốt cô thành tro bụi… Tội ác man rợ đó đáng bị trừng trị, hơn thế theo quan niệm “làm ác trả ác", “hại nhân nhân hại” thì sự trừng phạt ấy là đích đáng. Nhưng hiện nay, tính chất thời đại đã thay đổi, hình thức trừng phạt ấy khiến cho nhiều người cảm thấy rùng rợn và ấn tượng đẹp về một cô Tấm thảo hiền, đôn hậu bị giảm đi. Vì vậy truyện cổ tích Tấm Cám lại tiếp tục số phận lịch sử của nó trên chặng đường truyền miệng, lời kể đã được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và quan niệm thẩm mĩ ở thời hiện đại mà nó đang lưu truyền. Bài làm 2 Đã là người Việt Nam, trong thời thơ ấu của mình có mấy ai không từng được nghe kể chuyện Tấm Cám và hình ảnh cô Tấm mồ côi ao ước chiếc yếm đào, ngồi khóc bên giếng vì mất bống, bị hắt hủi tội nghiệp đã làm lay động bao trái tim nhân hậu. Kiểu truyện Người mồ côi rất quen thuộc trong truyện cổ tích Việt Nam và nước ngoài, trong đó Tấm Cám là kiểu truyện phổ biến. Ở Pháp có truyện Lọ Lem, Đức có Cò Tro Bếp, Trung Quốc có Nàng Diệp Hạn, Thái Lan có Con cá vàng, Mianma có Truyện con rùa, Cam-pu-chia có Nẽang-Cantóc… Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có những truyện tương tự Tấm Cám: Tua Gia Tua Nhi (Tày), Ý Ưởi Ý Noọng (Thái), Gầu Nà – Gầu Rềnh (Mông), Đôi giày vàng (Chăm), ứ và Cao (Hơ-rê), Gơ liu- Gơ lát (Xơ-rê)… khác với những truyện tương tự Tấm Cám ở phương Tây, thường kể về cô gái mồ côi bất hạnh, chăm chỉ hiền lành được vào hoàng cung, lấy chồng hoàng tử và kết thúc ở đó. Truyện Tấm Cám còn có phần thứ hai, phản ánh cuộc đấu tranh gian nan và quyết liệt đế giành và giữ hạnh phúc của Tấm. Cả hai phần của truvện đều thể hiện mơ ước thiện thắng ác và mơ ước về hạnh phúc của nhân dân lao động Việt Nam xưa. Thân phận và con đường đến với hạnh phúc của cô gái mồ côi. Truyện kể mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi, lời kể đã xác định thân phận mồ côi của Tấm. Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ thiệt thòi nhất là thiếu mẹ. Tục ngữ có câu “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chạ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ. Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ còn thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều. Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con người dì ghẻ. Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ. bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng có cái yếm đào, Tấm khóc. Cái yếm đào chỉ là một món quà bé nhỏ, nhưng với cô Tấm nghèo khó, mồ côi, đang ở tuổi trăng tròn, lại chẳng bao giờ được nhận một món quà nào thì nó thật đáng quý. Vì vậy, dường như Tấm không chỉ khóc vì bị mất yếm đào mà còn vì chút hi vọng được nhận yêu thương cũng tan biến mất. Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, Tấm lại khóc. Chú bống nhỏ bé, được cô nhường nhịn, chăm chút yêu thương trong bát cơm hẩm san sẻ cho bống và câu gọi thiết tha “'Bổng bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”. Với cô gái mồ côi không được nhận sự chăm sóc nào như Tấm thì chăm chút cho bống là một nhu cầu tình cảm, nhu cầu được chăm chút và sẻ chia. Vì vậy, việc giết bống đâu phải để thỏa mãn sự tham ăn của mẹ con Cám mà là để hành hạ Tấm, phá đi chỗ dựa tình cảm của cô gái đơn côi. Cục máu bầm nổi trên mặt giếng như bằng chứng không lời về sự tàn bạo, độc ác của hành động giết bống. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng. Dì ghẻ trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt. Đến đây, sự hành hạ chẳng cần phải che đậy như những lần trước. Hội làng là ngày vui nhất trong năm. Mọi người từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo đều được đi hội và chia sẻ niềm vui chung, thế mà riêng Tấm bị bắt ở nhà, cô càng lẻ loi hơn. Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau khổ của cô lên cao hơn. Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội xưa. Mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn dì ghẻ – con chồng mà còn là biểu hiện cụ thể của xung đột thiện – ác trong cuộc đời. Tấm đại diện cho nhân vật thiện chăm chỉ, lương thiện, đôn hậu (bắt được đầy giỏ tép, đi chăn trâu đồng xa, nhịn cơm dành nuôi bông…). Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ bé nhỏ của Tấm là cái yếm đào, lén lút giết chết con bống là giết chết người bạn bé nhỏ của Tấm, trắng trợn trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô,… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gợi dậy niềm cảm thông, chia sẻ của mọi người. Cái thiện càng bị o ép, áp bức, cái ác càng lộng hành, tác oai tác quái thì mâu thuẫn thiện – ác thể hiện càng sâu sắc, không thể dung hòa, tạo nên không khí căng thẳng buộc phải thay đổi. Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn ấy theo hướng: dù lâu hay mau, dù gian nan khó khăn đến thế nào, song thiện nhất định sẽ thắng ác và người lương thiện nhất định sẽ được nhận hạnh phúc. Con đường đến với hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giải quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường sử dụng yếu tố kì ảo. Truyện Tấm Cám, giải quyết mối xung đột thiện – ác cũng theo hướng thiện thắng ác và nhờ sự giúp sức của nhân vật Bụt. Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi Tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ. Tấm mất yếm đào – Bụt cho cá bống. Tấm mất bống – Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội – Bụt cho chim sẻ đến giúp Tấm, đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc. Bụt (tên gọi dân gian của Phật) vốn là nhân vật của Phật giáo, đã được dân gian hóa, trở thành ông lão hiền lành, tốt bụng, nhiều quyền năng, xuất hiện đúng lúc để nâng đỡ mơ ước, chữa lại số phận hẩm hiu cho người nghèo. Cùng với Bụt, con gà biết cảm thông với Tâm, chim sẻ biết giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, cũng là yếu tố kì ảo, trợ giúp Tâm trên đường tới hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa. Những đau khổ của người mồ côi là có thực và phổ biến, còn hanh phúc mà họ được hưởng thường rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ. Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động. Trong truyện Tấm Cám Việt Nam và những truvện tương tự của nước ngoài, các cô gái mồ côi đến với hạnh phúc nhờ đôi giày, vật báu trực tiếp đem lại may mắn. Nhờ chiếc giày cô gái đánh rơi mà nhà vua hay hoàng tử nhận ra người đẹp và kết hôn với cô. Hình ảnh đôi giày trong văn hóa một số nước có ý nghĩa giao duyên, là vật làm tin các chàng trai cô gái thường trao cho nhau trước hôn lễ. Các chú rể người Đức thường tặng cho vị hôn thê của minh một đôi giày trong lễ đính hôn. Khi cô gái ướm chân vào giày, chàng trai phải tự tay mình đóng nốt những chiếc đinh cuối cùng với hi vọng hôn nhân của họ sẽ bền chặt, ơ Trung Quốc, các cô gái dù chưa biết mặt người chồng tương lai của mình là ai vẫn cứ khâu một đôi giày vải hoặc tết một đôi giày rơm làm món quà tặng đầu tiên cho chồng, ở Việt Nam, đôi giày không có ý nghĩa giao duyên, nhưng khi những người phụ nữ bình dân nghe tin loa truyền, ai đi vừa giày sẽ được làm hoàng hậu thì “đàn bà con gái trong đám hội chen nhau đến ướm chân vào giày”. Ướm chân hay chính là được một lần thử vận may của mình! Có ai không mơ ước hạnh phúc và có ai lại bỏ qua cơ hội kiếm tìm hạnh phúc cho mình. Ướm giày, họ hi vọng một may mắn tình cờ nào đó sẽ dẫn mình đến tương lai tôt đẹp. Nhưng truyện cổ tích không bao giờ có ngẫu nhiên cho những người bất kì. Chỉ có người đáng hưởng hạnh phúc nhất mới là người ướm chân vừa giày và nhận món quà may mắn của số phận. Ta hiểu rằng, đằng sau lũy tre làng yên tĩnh luôn ấp ủ bao mơ ước lãng mạn và kì diệu của người nghèo, truyện cổ tích đã tạo hình cho những mơ ước đó và nuôi nó sống động trong những câu chuyện kể. Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ, từ cô gái mồ côi nghèo trở thành hoàng hậu. Đó là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật thiện như Tấm trong truyện cổ tích châu Âu và thế giới. Điều đó một mặt phản ánh ước mơ thiện thắng ác, mặt khác còn nêu triết lí “ở hiền gặp lành”, một triết lí phổ biến trong truyện cổ tích.
Phân tích cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi trong truyện Tấm Cám
3,615
Phân tích cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện cổ tích Thạch Sanh Hướng dẫn Đề bài: Truyện cổ tích Thạch Sanh không chỉ là câu chuyện về quá trình đấu tranh để giành lấy hạnh phúc của Thạch Sanh mà còn là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác. Em hãy phân tích cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện cổ tích Thạch Sanh. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài – Giới thiệu tác phẩm, tình tiết cái ác, cái thiện trong truyện: Truyện dân gian là thể loại phản ánh chân thực bộ mặt của xã hội, thể hiện ước mơ khát vọng của con người – Qua chuyện cho người đọc thấy được cái giá phải trả của việc ác và những gì nhận lại được qua tấm lòng, hành động lương thiện của con người. 2. Thân bài – Hình ảnh biểu trưng cho cái thiện + Thạch Sanh: Hiền lành, thật thà, chất phác, đấu tranh sinh tồn, diệt chằn tinh, diệt đại bàng, cứu công chúa chống quân xâm lược + Cái thiện luôn phải chịu oan ức nhưng sau sự đấu tranh, cuối cùng vẫn sẽ nhận lại những gì xứng đáng nhất. – Hình ảnh biểu trưng cho cái ác và chống lại cái ác + Lý Thông: Lòng dạ thâm độc, nham hiểm, dựa vào người khác để đi lên, đùn đẩy trách nhiệm, cướp công người khác để vụ lợi cho bản thân mình + Cuộc đấu tranh chống cái ác: Cái ác tồn tại khắp mọi nơi, trước hết là chống lại những loài vật độc ác, chống lại sự độc ác bên trong con người + Cái ác trong con người Lý Thông: Tội ác giết người, tội ác vong ân bội nghĩa, lấy oán báo ân – Kết quả của cuộc đấu tranh + Cái thiện luôn giành phần thằng, cái ác phải trả giá, công lí luôn công bằng ở khắp mọi nơi 3. Kết bài Cảm nghĩ về cuộc đấu tranh trong tác phẩm: Lời cảnh tỉnh trong xã hội hiện nay đối với bất cứ tầng lớp xã hội nào. II. Bài tham khảo Truyện dân gian là thể loại phản ánh chân thực bộ mặt của xã hội, thể hiện ước mơ khát vọng của con người, không đâu xa lạ là tác phẩm Thạch Sanh một tác phẩm gắn liền với tuổi thơ của bất kì ai. Truyện thể hiện nhiều yếu tố thần kì, đồng thời là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác thể hiện chân thực đời sống xã hội ở bất kì giai đoạn nào, qua chuyện cho người đọc thấy được cái giá phải trả của việc ác và những gì nhận lại được qua tấm lòng, hành động lương thiện của con người. Người ta thường nói “Cái gì cũng có hai mặt của nó” điều đó chẳng sai chút nào, nó tồn tại ở bất cứ đâu, bất cứ trường hợp nào và trong câu chuyện Thạch Sanh hai mặt đó được thể hiện qua cái thiện và cái ác. Trước tiên xét về cái thiện, Thạch Sanh một con người hiền lành, thật thà, chất phác, luôn dùng bản lĩnh, tài năng sự dũng cảm của mình để đấu tranh sinh tồn, diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu công chúa, dùng tiếng đàn thức tỉnh con người côn chúa giúp cô yêu đời trở lại, đầu tranh chống quân xâm lược giải phóng nỗi lo của vua, của nhân dân nhưng sự hiền lành lương thiện đó chỉ được đổi lại bằng những lần oan uổng, hết lần này đến lần khác chàng bị vu oan, bị cướp công, rồi bị hãm hại đẩy tới tận bờ vực của cái chết, dưới sự giúp đỡ của thần linh, những yếu tố thần bí, chàng trai lương thiện Thạch Sanh quá cô độc, chỉ có một mình. Nhưng bản lĩnh của những con người có tài năng chẳng bao giờ là tắt, họ dùng bản lĩnh đó để đấu tranh, để tự cứu lấy bản thân và nhận lại những gì mà mình đáng được nhận, đồng thời tiêu diệt và bắt những con người sống tội lỗi phải trả giá. Xét về mặt cái ác, hình ảnh Lý Thông là tiêu biểu cho vấn đề này, một con người lòng dạ thâm độc, nham hiểm, luôn muốn dựa vào người khác để đi lên, khi gặp khó khăn thì đùn đẩy trách nhiệm, cướp công người khác để vụ lợi cho bản thân mình. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác với mục đích chính là tôn vinh cái thiện, dùng cái thiện để chống lại cái ác, cái ác luôn tồn tại ở khắp mọi nơi, đầu tiên là bọn yêu ma độc ác chằn tinh, đại bàng những loài vật mà khi nhắc đến bất kì ai cũng run sợ, sự tồn tại của chúng cũng đồng nghĩa với sự tồn tại của một vị anh hùng, một con người can đảm có tài năng tiêu diệt những thế lực đó đem lại yên bình cho nhân dân. Việc đấu tranh chống lại cái ác trong các loài vật khó khăn nhưng chống lại cái ác bên trong nội tâm con người còn khó khăn gấp vạn lần, cái ác của những loài vật có thể chỉ là tưởng tượng nhưng cái ác mà Lý Thông đem lại là cái ác có thật trong cuộc sống, cái ác tồn tại trong bất kì ai và có thể trỗi dậy mọi lúc mọi nơi, cái ác đó hội tụ những phẩm chất ở đáy của xã hội, không chỉ là tội ác hãm hại người khác, tội ác giết người mà còn là thể loại vong ân bội nghĩa, lấy oán báo ân. Cuối cùng sự đấu tranh giữa cái ác và cái thiện dù có trải qua chặng đường gian nan vất vả như thế nào thì kết quả vẫn là cái thiện lên ngôi, với lưỡi gươm công lý đó sẽ răn đe tất cả những cái ác tồn tại và chắc chắn ai làm điều ác sẽ bị diệt vong, sẽ phải trả giá thích đáng cho những gì mà họ đã gây ra. Cuối cùng tác phẩm lưu truyền trong dân gian cũng là lời cảnh tỉnh cho những con người đang sống trong bóng tối, sống trong phần con lớn hơn phần người, chắc chắn một điều rằng công lí ở đâu cũng đều công bằng, hãy sống một cuộc sống thoải mái với bản thân thông qua những việc làm phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Phân tích cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện cổ tích Thạch Sanh
1,106
Đề bài: Phân tích cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện Thạch Sanh Bài làm Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác là chủ đề chính trong truyện cổ tích. Trong xã hội, cái ác luôn hoành hành, làm tồn hại đạo lí tốt đẹp của dân tộc. Không những thế, nó còn đe doạ trực tiếp cuộc sống xã hội, làm hại tới sự bình yên của nhiều người lương thiện. Trong thực tế đời sống xã hội, nhân dân ta không hề chấp nhận và dung tha cho cái ác. Cuộc đấu tranh chống cái ác là một trận chiến gay go, phức tạp và dai dẳng. Tuy vậy, niềm tin và ước mơ về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác của nhân dân vẫn không hề suy giảm. Niềm tin và ước mơ ấy được họ gửi gắm vào trong các truyện cổ tích. Thạch Sanh là một truyện cổ tích tiêu biểu cho chủ đề chống cái ác. Cái ác trong truyện cổ tích hiện ra muôn hình vạn trạng. Ở Tấm Cám ta bắt gặp cái ác ở chỗ một người mẹ kế và một cô em cùng cha khác mẹ tìm mọi cách để giết chết người con chồng, người chị. Ở Sọ Dừa, cái ác còn đáng sợ hơn: hai người chị đang tâm xô đứa em ruột của mình xuống biển để cướp chồng của em… Tuy nhiên, trong Sọ Dừa và Tấm Cám, cái ác tuy rất tàn bạo, vẫn là những hành động từ con người bình thường và đơn lẻ, nên phần nào dễ đối phó hơn dễ trừng trị hơn. Đến Thạch Sanh, cái ác đã thực sự trở thành một lực lượng đông đảo, vô tình hỗ trợ nhau cùng nhằm vào một con người lương thiện. Đối phó với chúng không dễ, bởi chúng không chỉ là những người phàm trần mà còn gồm cả lũ yêu ma, thần thông biến hóa. Ngay cả những con người là phàm trần thì cũng rất gian ngoan, xảo quyệt. Trước hết ta hãy xét đến bọn ác nhân là lũ yêu ma, ác quỷ. Chúng được đại diện bằng hai tên trăn tinh và đại bàng. Trăn tinh là một con yêu do một con trăn núi khổng lồ sống lâu đã hoá tinh mà thành. Hắn rất độc ác. Hàng ngàn người lương thiện đã bị nó ăn thịt. Ngay đến nhà vua cũng phải nhượng bộ nó, lập đền thờ và hàng năm dâng nộp người. Đã độc ác lại có tài biến hoá, trăn tinh thực sự là mối hiểm hoạ lớn. Đồng đảng với trăn tinh là đại bàng – con yêu núi thứ hai. Tên này còn đáng sợ hơn cả trăn tinh. Đến cả thái tử con vua Thuỷ Tề – một vị vua đứng đầu một cõi thần linh, thuộc lực lượng siêu nhiên — còn bị hắn bắt nhốt vào trong cũi sắt không thoát ra được. Để đôi phó với hai con yêu núi này cần phải có một chàng dũng sĩ quả cảm. Và Thạch Sanh xuất hiện. Song để chuẩn bị cho hai cuộc quyết chiến tiêu diệt tràn tinh và đại bàng, phải có sự giúp đỡ của thần linh. Thiên thần đã dạy cho Thạch Sanh đủ các môn võ nghệ và các phép thần thông. Mặc dù đã được thần linh giúp đỡ, nhưng trong trận chiến tiêu diệt kẻ ác, Thạch Sanh vẫn là người đơn độc. Chàng phải tự lực là chính. Với tài trí phi thường, lòng quả cảm vô song và ý chí tiêu diệt kẻ ác, Thạch Sanh đã chiến thắng và chiến thắng giòn giã: chàng đã chém chết trăn tinh, xé xác nó làm hai, bắn chết tươi đại bàng. Và thật lí thú, Thạch Sanh lại bắn chết đại bàng bằng bộ cung tên vàng lấy dược từ tay trăn tinh. Phải chăng đấy là quan niệm của nhân dân: diệt kẻ ác này sẽ là cơ hội để diệt kẻ ác khác, diệt kẻ ác mạnh vừa sẽ là điều kiện để diệt kẻ ác mạnh hơn. Giết được trăn tinh và đại bàng, trừ được hoạ cho dân, nhưng chính chàng dũng sĩ diệt trăn tinh và đại bàng lại bị mang vạ vào thân: hồn chúng liên kết với nhau tìm cách báo thù và chàng dũng sĩ lương thiện phải chịu nỗi oan trong nhà ngục. Thế mới biết cuộc đấu tranh chống cái ác không đơn giản. Người có công không khéo có thể trở thành người có tội. Tuy nhiên, Thạch Sanh không mất niềm tin. Và nỗi oan của chàng đã được giải, Thạch Sanh đàng hoàng ngẩng cao đầu với tư thế của chàng dũng sĩ đấu tranh vì cái thiện. Cuộc đấu tranh chống cái ác là lực lượng yêu ma vốn đã khó khăn và dai dẳng, nhưng cuộc đấu tranh chống cái ác ở ngay trong hàng ngũ con người còn khó khăn, phức tạp và dai dẳng hơn nhiều. Kẻ ác ở đây tuy không có phép thần thông biến hoá nhưng lại rất nham hiểm, xảo trá. Đầu tiên, hắn vờ kết nghĩa anh em, rồi nguỵ trang bằng tình anh em để lừa Thạch Sanh đi thế mạng thay mình. Đến khi Thạch Sanh chém được đầu trăn tinh xách về thì hắn lại nảy sinh lòng tham, lừa đuổi Thạch Sanh đi để cướp công. Cướp được công của Thạch Sanh, được hưởng vinh hoa phú quý hắn vẫn không từ bỏ lòng tham và dã tâm. Hắn lại tiếp tục lợi dụng Thạch Sanh để lập công lớn hơn, nhằm có địa vị và danh vọng cao hơn. Lần này, để đạt được mục đích ấy, hắn sẵn sàng ra tay giết người. Hành động giết người vốn đã là đỉnh cao của tội ác, đáng sợ và ghê tởm hơn, người bị giết lại vừa là người em kết nghĩa, vừa là ân nhân của kẻ gây tội ác. Đã thế hành động gây tội ác của hắn không cần che giấu, mà phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt bao người. Có thể nói, Lí Thông đã lộ rõ nguyên hình của kẻ ác. Cái ác của Lí Thông là cái ác có thực trong xã hội. Nó bắt nguồn từ lòng tham, sự đố kị ghen ghét trước tài năng và công lao, thành tích của người khác. Cái ác của Lí Thông không chỉ là tội ác giết người, mà còn là tội ác của sự vong ân bội nghĩa, khiến cả con người lẫn đất trời đều phẫn nộ. Cuối cùng Thạch Sanh phải lên tiếng vạch mặt Lí Thông. Và dù Thạch Sanh có nhân từ tha tội chết cho mẹ con Lí Thông thì trời đất cũng không dung tha. Và lưỡi tầm sét cua Thiên Lôi chính là lưỡi gươm công lí của nhân dân vung lên tiễu trừ kẻ ác. Kẻ ác không những bị trừng trị mà còn bị trừng trị thật đích – đáng: bị biến thành bọ hung để đời đời kiếp kiếp bị người đời nguyền rủa và khinh bỉ. Đến đây, tôi lại nhớ tới sự trừng trị của nhân dân Nga dành cho kẻ tham lam bội bạc là mụ vợ ông lão đánh cá trong truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng. Và tôi mỉm cười: Công lí của nhân dân ở đâu cũng thật công bằng. Điều đó tạo cho tôi một niềm tin sâu sắc về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trong cuộc đời thực.
Phân tích cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện Thạch Sanh
1,279
Phân tích các chi tiết trong văn bản Cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan Bài làm Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước. Những mầm non đó muốn vươn lên mạnh mẽ để trở thành những cây xanh tốt tươi thì không thể thiếu đi nguồn dinh dưỡng – tình yêu thương của cha mẹ và sự giáo dục của nhà trường. Văn bản “Cổng trường mở ra” của Lí Lan, với hình thức như những dòng nhật kí tâm tình đầy sâu lắng, đã giúp người đọc hình dung và hiểu rõ hơn về tình yêu thương của người mẹ dành cho con cũng như vai trò của nhà trường trong cuộc sống của mỗi người. Đặc biệt, văn bản cũng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi những chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Văn bản là những dòng suy nghĩ của một người mẹ trong đêm trước ngày con chuẩn bị vào lớp một. Đứa con vừa háo hức, vừa hồi hộp cho ngày khai trường đầu tiên song đã nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say sưa. Còn người mẹ thì thao thức. vừa suy nghĩ đến đứa con thân yêu, vừa hồi tưởng lại ngày khai trường đầu tiên của mình và lại chợt nghĩ tới ngày khai trường đầy trang trọng, thiêng liêng ở đất nước Nhật Bản xa xôi. Những dòng tâm sự của người mẹ khép lại bằng một tưởng tượng của người mẹ khi dắt tay con bước vào thế giới kì diệu sau cánh cổng trường. Ấn tượng sâu đậm về buổi tựu trường đầu tiên trong tâm hồn người mẹ là chi tiết thứ hai để lại những ấn tượng trong lòng người đọc. Theo dòng hồi tưởng, tâm trạng của người mẹ trong ngày khai trường đầu tiên ấy lại ùa về: “Mẹ không lo, nhưng vẫn không ngủ được. Cứ nhắm mắt lại là dường như vang bên tai tiếng đọc bài trầm bổng: “Hàng năm cứ vào cuối thu… Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp”. Bài văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh như một dư vang không thể phai mờ trong tâm trí người mẹ dù hàng chục năm đã trôi qua. Những tâm trạng “lo”, “không ngủ được” của người mẹ – từng là một đứa trẻ hồn nhiên trong quá khứ như khiến người đọc cũng chợt nhớ lại những tâm trạng hồi hộp, bồn chồn trước ngày khai trường đầu tiên của chính mình. Những tâm trạng, cảm xúc đó luôn là những kí ức bền chặt không thể phai mờ, mà mỗi người luôn cất giữ trong một góc nhỏ của trái tim, để rồi chỉ cần được nhẹ nhàng đánh thức là những kí ức đó lại sống dậy, náo nức không thôi… Bằng những lời tâm sự, vừa như nói với con, vừa như đang đối thoại với chính mình, “Cổng trường mở ra” của Lí Lan là những dòng tâm sự chân thành, sâu sắc và đầy tha thiết của người mẹ nhằm bộc lộ tình yêu thương sâu nặng với con, đồng thời cũng thể hiện được vai trò to lớn của nhà trường với trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ. Những chi tiết trong văn bản tuy nhỏ nhưng lại góp phần làm nổi bật tư tưởng chủ đề của tác phẩm và để lại một ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc.
Phân tích các chi tiết trong văn bản Cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan
584
Phân tích các nhân vật cụ Mết, Tnu, Dít trong Rừng xà nu để làm sáng tỏ những con người kiên cường bất khuất của rừng núi Tây Nguyên Hướng dẫn Phân tích các nhân vật cụ Mết, Tnu, Dít trong Rừng xà nu để làm sáng tỏ những con người kiên cường bất khuất của rừng núi Tây Nguyên Mỗi một người nghệ sĩ thường gắn kết tên mình lên những vùng đất, vùng văn hóa thẩm định nhất định. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi chọn miền Nam để kết thân với mảnh đất con người kiên cường bộc trực thẳng thắn, Tô Hoài ngược lên Tây Bắc để nói về số phận những chàng trai cô gái bị chịu sự áp bức của thần quyền và cường quyền thì Nguyễn Trung Thành lại chọn mảnh đất tây Nguyên để làm sáng tỏ những con người kiên cường bất khuất của núi rừng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Chính mảnh đất này đã mang đến thành công cho tác phẩm rừng xà nu của ông. Cùng với những hình ảnh thiên nhiên nơi Tây Nguyên hùng vĩ ta còn thấy được những con người anh hùng như cụ mết, Tnú, Dít kiên cường bất khuất. Trước hết ta thấy được sự kiên cường bất khuất trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ là một đức tính chung của cả ba nhân vật cụ Mết, Tnú và Dít. Cả ba nhân vật đều là những thế hệ của dân làng xô Man Tây Nguyên. Họ là những đại diện cho từng thế hệ con người tây Nguyên. Và chính vì thế mà ta thấy được con người Tây Nguyên ở thế hệ nào cũng kiên cường bất khuất. Điểm chung thứ hai mà cả ba người có đó là thấm nhuần lý tưởng cách mạng bụng sạch như nước suối làng và sẵn sàng đứng lên đấu tranh để chống lại bọn cướp nước. Có thể nói kiên cường bất khuất chính là điểm chung lớn nhất khi nói về nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế nhưng ba nhân vật lại có ba cách thể hiện sự kiên cường ấy. Đến với Tnú chúng ta lại cảm nhận được một sự kiên cường bất khuất của một người trưởng thành, một thanh niên trẻ đầy sức khỏe và nhiệt huyết. Tnú còn xung phong để đi tiếp tế cho cán bộ trong rừng. Tnú rất gan dạ và thông minh ở chỗ, anh không tìm những đường đi cũ để đi mà thường vạch rừng mà đi, lội ngược suối mà đến. Chính vì thế mà việc tiếp tê được thuận lợi. Tuy nhiên có một lần anh bị bọn giặc bắt. Tnú không ngần ngại đã nuốt lấy lá thư vào bụng. Bon giặc hỏi cộng sản ở đâu. Tnú không ngại ngần mà chỉ vào bụng mình mà nói “cộng sản ở đây này”mặc cho sau đó có biết bao nhiêu vết chém ngang doc trên lưng mình. Điều đo chẳng phải gan dạ bất khuất kiên cường thì là gì?. Sự kiên cường gan dạ còn được thể hiện ở việc học chữ, học mãi không nhớ Tnú dám lấy đá để đập vào đầu mình. Và anh vẫn nuôi quyết tâm học thuộc chữ để trở thành cán bôn Đảng. Đến khi lớn lên và có gia đinh anh vẫn hoạt động cách mạng hăng say. Thế nhưng bọn địch lợi dụng vợ con anh để ép anh mắc mưu chúng. Vợ con anh bị chúng đánh chết, Tnú chứng kiến cảnh ấy biết rằng ra sẽ chỉ có con đường chết nhưng vì thương vợ con anh vẫn lao ra với sự kiên cường và tình yêu thương che chở. Cho đến khi bị bắt bị tẩm nhựa xà nu đốt trên mười đầu ngón tay. Khi ấy nhựa xà nu bắt nhanh khiến cho Tnú mười đầu ngón tay của Tnú trở thành mười ngọn đuốc thế nhưng anh lại không hề kêu lên một tiếng nào. Anh nói là một người cộng sản thì không được kêu. Nỗi đau đớn ấy Tnú quyết giữ ở trong lòng và khi được giải thoát anh gầm lên như một con hổ rừng khiến cho lũ giặc phải sợ hãi. Còn với Dít em gái của Mai. Cô đại diện cho những thế hệ sau Tnú. Ngay từ khi còn nhỏ Dít cũng nhận nhiệm vụ tiếp tế cho cán bộ trong rừng. Người Dít bé cho nên cô thường men theo những ống nước để lẩn vào trong rừng một cách an toàn. Thế nhưng cô cũng gặp một tình huống như Tnú. Cô bị bọn giắc bắt và tra tấn. Chúng trói cô vào và liên tục nã súng vào để làm hoảng loạn tinh thần của cô. Ban đầu Dít sợ hãi khóc lóc nhưng sau đó dường như con bé đã tức giận và trơ lì ra. Dít nhìn thẳng vào kẻ thù với ánh mắt căm thù mặc cho những tiếng súng ghê rợn bên cạnh mình. Với một bé gái thì đó quả là một sự kiên cường bất khuất. Và khi lớn lên cô tiếp tục hoạt động cách mạng để gìn giữ ngôi làng của mình. Như vậy những hành động và hoàn cảnh mà cả ba nhân vật gặp phải đã chứng minh được sự kiên cường và bất khuất của con người Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ. Không phân biệt tuổi tác hay giới tính hễ là người Tây Nguyên thì đều kiên cường bất khuất như thế. Và chính sự kiên cường bất khuất ấy đã đem lại thắng lợi cho đồng bào Tây Nguyên.
Phân tích các nhân vật cụ Mết, Tnu, Dít trong Rừng xà nu để làm sáng tỏ những con người kiên cường bất khuất của rừng núi Tây Nguyên
951
Đề bài: Phân tích cách khám phá đời sống mới mẻ của Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" Bài làm Nhà văn M.B Khrapchenko đã từng nói: “Mỗi sáng tạo nghệ thuật chân chính tuyệt nhiên không phải là sự minh họa giản đơn cho tư tưởng này hoặc tư tưởng khác cho dù đó là tư tưởng rất hay”. Thật vậy, một tác phẩm nghệ thuật muốn đi sâu vào tâm hồn của người đọc thì nó phải là sự sáng tạo của cá nhân nhà văn,tác phẩm đó phải phản ánh được cái nhìn riêng của tác giả chứ không phải là sự sao chép sáo rỗng tư tưởng, cái nhìn của người khác. “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm sáng tạo như vậy. Cách khám phá đời sống mới mẻ của nhà văn đã làm nên một “sáng tạo nghệ thuật chân chính” tạo nên chiều sâu tư tưởng cao đẹp cho tác phẩm. Phân tích cách khám phá đời sống mới mẻ qua truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" Bên cạnh cốt truyện hấp dẫn, nghệ thuật kể chuyện sinh động, phân tích tâm lý nhân vật tài tình… sự phát hiện, cái nhìn nhận mới mẻ về nội dung cũng là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của một tác phẩm truyện ngắn. Là một nhà văn “khắt khe” trong sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu luôn đòi hỏi tác phẩm của mình phải là “một bức tranh góc cạnh có chiều sâu, sức khái quát cao về cuộc sống đa diện, nhiều chiều luôn vận động và phát triển”, phải là “cái khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người”. Tư tưởng đó đã được nhà văn thể hiện thật thành công qua truyện ngắn “bức tranh”. Tác phầm là một “tiếng còi báo hiệu” một bước chuyển mới trong sáng tạo văn học, dự báo một quan niệm “nhận đường mới”, một bút pháp hoàn toàn mới của Nguyễn Minh Châu nó đã nói lên những phát hiện về cuộc sống với biết bao nghịch lý, lạ lùng thậm chí có cả sự tàn nhẫn, biết bao ngẫu nhiên bất ngờ, những phức tạp, bí ẩn của con người trong cuộc sống thường nhật…Và đến với “Chiếc thuyền ngoài xa” một lần nữa nhà văn đã thể hiện thật xuất sắc nội dung tư tưởng lớn lao ấy. Tác giả đã xây dựng nên một tình huống mang tính nhận thức với nhiều phát hiện độc đáo để khám phá ra được bản chất thực sự của đời sống. Với tư cách người nghệ sĩ nhiếp ảnh, Phùng đã kể lại câu chuyện về chuyến đi công tác của mình khi được người trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp ảnh bổ sung vào bộ lịch năm mới. Một cảnh biển buổi sáng có sương, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào tháng bảy. Tại đây, sau nhiều ngày “phục kích” thiên nhiên, Phùng ngẫu nhiên gặp được một cảnh đắt trời cho:“trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con dơi”.Trước vẻ đẹp ấy người nghệ sĩ “trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp chặt vào”. Trong khoảnh khắc đó, anh ta “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng ngay sau “khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đem lại” nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã chứng kiến một cảnh hoàn toàn đối lập với vẻ đẹp của chiếc thuyền khi nó còn ở ngoài xa với một “ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của “chiếc thuyền ngoài xa”. Bước ra từ chính chiếc thuyền ấy là hai người, một đàn ông với tấm lưng rộng, cong như lưng chiếc thuyền và một đàn bà xấu xí trạc ngoài bốn mươi tuổi. Hình ảnh con người hiện ra với vai trò là nhân vật trung tâm của bức tranh cuộc sống xã hội, để rồi từ đó Phùng có thể bám sâu vào hiện thực ấy phản ánh chân thật về con người, về những đều chưa thấy hay chỉ có thể nghe. Sau khi đi đến chiếc xe rà phá mìn trên bãi cát, người đàn ông “trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Còn người đàn bà thì nhẫn nhục, cam chịu, không hề kêu một tiếng, cũng không tìm cách trốn chạy. Tiếp sau đó là cảnh đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh bố để bị lão đàn ông “dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã xuống cát”. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Người đàn bà sau khi có những cử chỉ như van xin đứa con cũng đuổi theo gã đàn ông, trở lại thuyền. Một tình huống thật kỳ lạ! Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của người đàn bà trước chánh án Đẩu đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt bởi “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đằng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản: người đàn ông kia dù thô bạo nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền chật hẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến. Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người. Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu. Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương). Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”.Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người. Qua những cái nhìn khác nhau của các nhân vật, đều là sự khúc xạ cái nhìn của tác giả. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu lại chọn người kể chuyện là một nghệ sĩ đã từng là người lính. Từ điểm nhìn của một người lính đã từng chiến đấu bảo vệ mảnh đất này, lời kể gợi ra một cuộc chiến đấu mới không kém phần gay go, gian khổ so với cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Đó là cuộc chiến đấu bảo vệ nhân tính, vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc sống hòa bình, cuộc chiến đấu để tìm đến hạnh phúc, tìm đến những giá trị đích thực của cuộc sống. Không chỉ vậy nhà văn còn cho người đọc nhận ra “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” của cuộc sống để từ đó khái quát lên một quan niệm giàu tính nhân văn cao cả đó là sự đa chiều, phong phú của cuộc sống, con người không nên chỉ nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện, qua loa mà cần phải đi sâu vào bên trong sự việc, tâm hồn để có thể thấu hiểu toàn diện nhất sự việc, vấn đề đó. Đó chính là cái nhìn mới mẻ về cuộc sống con người của nhà văn! Có thể nó, với truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã cho người đọc cảm nhận được sự đa chiều của cuộc sống. Giống như là bản nhạc không chỉ có những thanh âm trong trẻo, nhẹ nhàng mà còn chứa đựng những giai điệu bay bổng, cao vút, cuộc sống luôn tồn tại song song những niềm vui, hạnh phúc còn có cả những đớn đau, bất hạnh… vì thế mà con người phải luôn nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc nhất để tránh được cái nhìn ấu trĩ, giản đơn. Giá trị đích thực của một tác phẩm là phải phản ánh được cuộc sống thật của con người như chính Nguyễn Minh Châu đã quan niệm: “Trên con đường đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình”. Sự phát hiện mới mẻ của nhà văn chính là một trào lưu văn học mới cho các thế hệ nhà văn noi theo, điều đó đã giúp cho Nguyễn Minh Châu trở thành cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới như nhà văn Nguyên Ngọc từng ca ngợi: “Nguyễn Minh Châu thuộc một trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài hoa nhất của văn học ta hiện nay”.
Phân tích cách khám phá đời sống mới mẻ của Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
2,821
Đề bài: Phân tích cách nhìn hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyển ngoài xa Bài làm Nguyễn Minh Châu đã mang đến những sáng tạo mới cho nền văn học trước và sau 1975, khẳng định một tay nghề vững chắc và có sức đi xa: Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Những người từ trong rừng ra (1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)… Từ đầu thập kỉ 80 trở đi, Nguyễn Minh Châu là một trong những người tiên phong của sự nghiệp đổi mới nền vàn xuôi Việt Nam. Tiêu biểu cho sự đổi mới này, có thể kể đến tác phẩm như: Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu, Hành khách ở xa quê, Bến quê, Phiên chợ Giát… Phân tích cách nhìn hiện thực cuộc sống trong tác phẩm Chiếc thuyển ngoài xa Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật ở Nguyễn Minh Châu trước hết thể hiện trong cách nhìn hiện thực. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (1987) được xem là một tác phẩm tiêu biểu cho cách nhìn đó. Đọc tác phẩm Nguyễn Minh Châu, có thế hình dung khá rõ quá trình vận động tư tưởng tinh cảm cũng như những tìm tòi, đổi mới cách tiếp cận đời sống và bút pháp sáng tạo, với những đóng góp đáng trân trọng. Trong những năm tháng chiến tranh, điều người ta cần nhất ở con người (những chuẩn mực thước đo giá trị chủ yếu của nhân cách) là sự cống hiến, hi sinh cho Tổ quốc Con người được đặt trong những mối quan hệ chủ yếu (để bộc lộ những phẩm chất đạo đức cách mạng) với kẻ thù, với đồng chí, với nhân dân. Các tác giả thời chiến tranh đã khá triệt để trong việc thi vị hóa nhân vật để khẳng định niềm tin vào tính chất “bất khả chiến bại” của cái đẹp tinh thần, của cái thiện. Sau chiến tranh, sau không khí tráng ca, mọi người có điều kiện bình tâm để nhìn lại, rõ hơn, kĩ hơn về những góc khuất cùa đời thường những phức tạp mới nảy sinh trong đời sống con người, thậm chí trong mỗi bản thân con người. Trong đó có cả chiều sâu, sự chín chắn của cái nhìn quá khứ hãy còn ấm nóng. Nguyễn Minh Châu đã làm công việc của người đi khai phá, mở đường với những ngã rẽ mà sau này, nền văn học sẽ đi qua. Tác giả viết về chiến tranh để đối diện với hai vấn đề: hồi ức đẹp đẽ và sự tự vấn lương tâm. Bức tranh là một ví dụ. Bất hạnh vẫn còn đeo bám tới hòa bình, một thứ khổ đau không có màu khói súng. Từ tác phẩm này, nhà văn gửi gắm một thông điệp khẩn thiết cùng với niềm tin ở khả năng thức tỉnh để sự hoàn thiện của những lớp son hào nhoáng của danh vọng, là những sự thật tàn nhẫn, những sự dối trá ngọt ngào, một điều thất tín đã khoét sâu thêm những mất mát tưởng như không còn nữa. Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyền Minh Châu đã để cho người nghệ sĩ (trước là người lính) trở về vùng đất từng là chiến trường cũ. Tại đây anh đã gặp nhiều điều “trớ trêu và bất ngờ”. Nhà văn tạo điểm nhìn hiện thực bằng cách xây dựng tình huống cho tác phẩm. Đây là “tình huống nhận thực”, nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu. Cách tạo tình huống mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống. Tình huống đó là sự kiện, người nghệ sĩ trong giây phút tâm hồn thăng hoa, bất ngờ chứng kiến cảnh đôi vợ chồng từ con thuyền “thơ mộng” bước xuống, rồi lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Tình huống này còn được lặp lại một Lần nữa. Nó có ý nghĩa bộc lộ rõ mối quan hệ, khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất tính cách, con người tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm trong cuộc đời con người, tạo ra những điều vỡ lẽ, giúp nhà văn nhìn sâu nơn vào hiện thực, vào con người, trong tình huống ấy, lão đàn ông tự lộ diện là một kẻ vũ phu, độc ác, người đàn bà thì cam chịu, nhẫn nhục. Tình huống ấy, buộc Phùng phải có một cách nhìn đời khác hẳn: không chỉ bằng con mắt một nghệ sĩ chỉ biết rung động say mê trước vẻ đẹp của ngoại cảnh thuần túy”, của cảnh biển thuyền lúc sớm mai. Đó là cái nhìn mang tính sự thật. Đằng sau bức ảnh chụp con thuyền rất đẹp, cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích mà người phóng viên đã thu được ẩn chứa một cuộc sống đầy vật lộn giống như trang văn của Nam Cao ngày trước, màn sương khói lãng mạn, thơ mộng của cảnh biển thuyền sớm mai – thứ “ánh trăng xanh huyền ảo” ban mai ấy đã che đậy những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xâu xa (Trùng sáng – Nam Cao). Dưới màn sương lãng mạn, từ tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, con mắt tinh tế nhà nghề của một người nhiếp ảnh, con thuyền ngư phủ đẹp như một bút mực tàu của một danh họa thời cổ chỉ là thứ nghệ thuật xa xôi, là cái đẹp mong manh, siêu thực. Phải chăng cái “chân lí của sự toàn thiện”, cái làm nên “khoảnh khắc trong ngần” của tâm hồn vẫn chỉ là điều mà ta đang tìm kiếm, theo đuổi. Sự thực không hiện lên ở đó mà khoảng khắc ngay sau đó. Thêm một chút, nán lại, thật bất ngờ, chỉ trong giây phút, người đó. Thêm một chút nán lại, thật bất ngờ, chỉ trong giây phút người nghệ sĩ vừa thấy được cái xa mờ của nghệ thuật lại chạm trán ngay với một hiện thực trần trụi. Sự cay đắng phũ phàng đã thay thế cho niềm hạnh phúc tràn ngập tâm hồn. Từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ trong sương sớm ấy bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, tàn nhẫn coi việc đánh vợ như một phương cách để giải tỏa uất ức. Sự ngang trái, xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là một thứ thuốc rửa quái đản, là những thước phim huyền diệu mà người nhiếp ảnh dày công chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp. Câu hỏi mà người đọc cũng như nhân vật “tôi” đặt ra là: Nguyên nhân nào khiến lão đàn ông đánh vợ? Vì sao người đàn bà không chống đỡ hay chạy trốn? Hiện thực được miêu tả như một câu chuyện cổ tích mà kết thúc không có hậu (không có sự giái thoát cho một bi kịch gia đình, một số phận bất hạnh). Với một khách du lịch, bãi biển đẹp như là nơi lí tưởng cần đến. Nhưng những người dân chài luôn bên biển, họ quan tâm gì tới cái đẹp của biển. Cũng như khách tham quan trầm trồi trước những bông tuyết hiếm hoi trên vùng núi Đà Lạt. Ẩn đằng sau những bông tuyết trắng ngần đẹp đẽ ấy là nỗi lo mất mùa của người nông dân, là sự rét mướt, lạnh cóng khó chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Cuộc sống người dân chài vùng biển là một cuộc mưu sinh đầy vặt lộn, lam lũ. Có những khi trời biển động suốt hàng tháng, cả gia đình vợ chồng con cái phải toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối. Gia đình họ đông con, lại không có nơi ở ổn định vì không thể bỏ nghề. Đàn ông thuyền khác thường uống rượu, còn lão chồng của người đàn bà này lúc nào thấy khổ quá lại xách vợ ra đánh như một sự trả thù cho số kiếp. Thực tế đó quả là bài toán khó, mầm độc ấy không phải thứ kẻ thù như trong chiến tranh mà một người lính đã từng cầm súng chiến đấu như nhân vật Đẩu có thể giải quyết hay thỏa hiệp, chấp nhận một cách dề dàng. Cuộc sống người dân chài vùng biển đầy giồng bão. Con thuyền ngư phú phải chống chọi với nhiều sóng gió của biển khơi trong những ngày giông bão. Nhưng còn một thứ giông bão do chính con người tạo ra, nghiệt ngã và cay đắng. Sức tàn phá, hậu quả mà nó để lại thật thê thám khủng khiếp, đau xót không kém gì giông bão tự nhiên. Đó là thứ giông bão nổi lên từ lòng thuyền, từ trong con thuyền. Đó là cuội sống đói nghèo, lam lũ mà chính con người gây ra cho con người. Nạn bạo hành trong gia đình ấy sẽ làm tổn thương những đứa trẻ, những tâm hồn lẽ ra phải được nuôi dưỡng bởi một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Từ cái nhìn hiện thực mang tính chất khám phá, phát hiện, có chiều sâu, Nguyễn Minh Châu muốn phê phán cái nhìn lãng mạn, một chiều với cuộc sống. Nhà văn đặt ra vấn đề trách nhiệm của người nghệ sĩ, của nghệ thuật phải đào sâu, phải khám phá, nhẫn nại với thực tế, dù thực tế ấy phũ phàng (cảnh tượng đau xót người đàn ông đánh vợ, cùng một sự đời phi lí: người vợ khốn khổ xin tòa đừng bắt chị ta bỏ chồng). Cùng từ cái nhìn hiện thực mang tính khám phá ấy, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đưa ra cách nhìn có chiều sâu của nhà văn về con người, làm câu chuyện gây ấn tượng vang gợi lên những cảm nghĩ khác nhau về các nhân vật. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là người phụ nữ, một người không có tên tuổi cụ thể, một người đàn bà bình thường như bao phụ nữ dân chài khác nhưng số phận của chị được tác giả tập trung tái hiện và được người đọc quan tâm nhất. Con người xấu xí (ngoại hình thô kệch), mặt rỗ, lúc nào cũng xuất hiện với một “khuôn mặt mệt mỏi” ấy, nhìn chị, ta thấy cả cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn. Nhưng trong con người xấu xí, lầm lũi, cam chịu ấy còn có một con người khác mà Phùng không hay biết. Chị có cái nhìn mà chỉ người trong cuộc mới thấy. Người phụ nữ có lẽ không bao giờ nhận thấy được vẻ đẹp của bãi biển, của con thuyền nhưng đã nhìn ra được nguyên nhân làm lão chồng mình trở nên đổi tính, trái nết (vì cuộc sống khổ quá) để mà tha thứ. Chị có thể giải thoát mình khỏi bi kịch gia đình bằng cách li hôn với chồng, nhưng lại coi bất hạnh của mình là lẽ đương nhiên bởi trong cuộc mưu sinh không dễ dàng gì trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề, chỉ vì có những đứa con cần được sống và lớn lên. Trong những chuỗi ngày cực nhọc, lam lũ, chị cũng biết chắt gạn niềm vui: “Ở trên thuyền, cũng có lúc vợ chồng, con ai chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi, chúng nó được ăn no”. Vậy là cái vỡ ra trong đầu Đẩu (vị chánh án miền biển) và cũng là của Phùng là: người đàn bà không phải là không mơ đến một hạnh phúc, không nghĩ đến nỗi khổ cực, tủi nhục của mình. Đằng sau cái sự lạc hậu mà người đàn bà tự biết là cả một sự thấu hiểu lẽ đời, cả một sự hi sinh đáng quý. “Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự hâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rét ra bề ngoài”. Không phải chị không biết chuyện gia đình mình làm cho người ngoài cũng bất bình, nhưng liệu sự bất bình của mọi người có đem đến sự thay đổi nào cho cuộc sống của chị? Cái lão đàn ông tàn bạo đó, chị vẫn cần sao, vì cuộc sống của những đứa con, vì chiếc thuyền trên biển không thế để bàn tay một người đàn bà chèo lái. Cái nhìn của chị gắn bó với thực tế: sự lo lắng cho số phận những đứa con, cho cuộc sống lênh đênh trên thuyền. Như vậy, sau chiến tranh, trở về với đời sống cá nhân, với thực tế đời thường của cuộc sống con người, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra những bão tố trong cuộc sống gia đình. Nhưng sự giải quyết mâu thuẫn của cuộc sống thực tại (qua gia đình người dân chài) không hề dễ dàng. Không chỉ đơn giản là khuyên người đàn bà li hôn, không phải cứ gọi lão chồng lên tòa để giáo dục là xong Cái xấu, cái ác trong con người không phải cứ không thích là có thể loại bó đi được. Như lão Khùng trong Phiên chợ Giát đã nghĩ: cứ bán con bò đi là bỏ được cái phần u tối của mình. Nhưng làm sao có thể được. Có vấn đề thuộc về cá nhân (lão chồng) nhưng cũng có vấn đề thuộc về cái chung, chuyện miếng cơm manh áo, việc làm cho người lao dộng. Thực tế không thuận chiều như người ta vẫn nghĩ, bởi con người tồn tại trong những mối quan hệ đa chiều, hết sức phức tạp. Nguyễn Minh Châu đã thu nhỏ ống kính của mình trong phạm vi cuộc sống gia đình – một nội diện hẹp hơn nhưng lại mở ra những điều không kém phần lớn lao, sâu sắc và cả nhức nhối nữa. Trong bức tranh nhỏ ấy chứa đựng cả một vấn đề xã hội, vấn đề nhân sinh. Điều thống nhất trong hành trình sáng tạo của Nguyền Minh Châu luôn vẫn là “nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người” về cuộc sống. Đây cũng là lí do mà Nguyễn Minh Châu một đời cầm bút với hi vọng. “Văn học sinh ra đời để gìn giữ trong từng con người – một cái gì hết sức mong manh và luôn luôn run rẩy… một cái gì đó thật là như vậy, nhưng thiếu nó trong con người thì y rằng con người ấy không thể sống giữa quần thể loài người được, và trở thành một tại họa cho loài người (Nhật kí – Nguyễn Minh Châu). Cái mầm ác trong con người không phải bây giờ mới mọc ra, có ai đó đã nói rằng chất độc nằm ngay trong sự sống. Lão chồng là một nhân vật vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính người thân mình. Phải làm sao để nâng cao cái phần thiện, phần người trong những kẻ thô bạo ấy. Nhà văn trong hàng loạt tác phẩm viết sau năm 1980 đã đối chứng với rất nhiều quan niệm bảo thủ, lệch lạc về cuộc đời con người; về văn chương, nghệ thuật đã từng có thời thống trị trong ý thức xã hội, trong văn chương. Sự thật nghiệt ngã được mô tả trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan làn khói lãng mạn phủ lên hình ánh từ lâu trở nên quen thuộc về cuộc sống ngư phủ dưới cánh buồm mời ảo, ban mai lên trên không gian rộng lớn của biển cả. “Cùng với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu còn hàng loạt tác phẩm chứa đựng ý nghĩa rộng lớn sâu xa, nó khiến ta giật mình nếu quen nghĩ rằng cuộc đời đã hết đau thương, nó khơi gợi người cầm bút nên nhìn kĩ vào những gì sau vẻ đẹp bề ngoài để nhớ tới trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống, trước con người. Tư duy nghệ thuật dù đổi mới đến đâu thì cũng không thể vượt qua những quy luật của chân, thiện, mĩ, quy luật nhân bản. Nhà văn chân chính có sứ mệnh khởi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” (Lã Nguvên). Trước sau, Nguyễn Minh Châu vẫn là người đi săn tìm cái đẹp, tìm cái hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người. Đó phải chăng là ý nghĩa của những biểu tượng như “mảnh trăng cuối rừng”, “chiếc thuyền ngoài xa”? Có sự đổi thay trong cách nhìn của nhà văn bởi thực tế và tâm thế sáng tạo của nhà văn đã khác trước, bởi cuộc sống hòa bình khác với cuộc sống chiến tranh. Về nghệ thuật, điều làm nên thành công của tác phẩm như đã nói trên đó là sự sáng tạo tình huống để các nhân vật tự thể hiện, tình huống làm cho con người phải thay đổi cách nhìn, cách quan niệm của mình. Nó được Nguyễn Minh Châu đẩy lên cao trào và ngày càng xoáy sâu hơn nữa để phát hiện tính cách con người, sự thật cuộc đời (Đặng Hiển). Tác phẩm vẫn là sự tiếp tục khám phá cuộc sống như trong Bức tranh, với cách nhìn đa diện và phức tạp. Ông đã nhìn cuộc sống đời thường với một mối quan tâm đậc biệt để chỉ ra những vấn đề bên trong của nó và làm cho người đọc cũng phái nhìn sự vật, cuộc sống, con người theo kiểu của mình, từ đó cùng suy nghĩ tìm ra cách giải quyết một cách thỏa đáng tóm lại là tìm đọc ra đáp số cho bài toán nghịch lí của cuộc đời. Đọc văn Nguyễn Minh Châu, người đọc bao giờ cùng nhìn thấy “đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc” của nhà văn nhìn vào nội tâm và cả cuộc đời nhân vật. Viết văn, với Nguyễn Minh Châu, luôn là sự thực hiện khát vọng tác động đối với đời sống và con người, là đặt ra những vấn đề về mối quan hệ giữa văn học và đời sống.
Phân tích cách nhìn hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyển ngoài xa
3,125
Phân tích cái chết của Mị Châu – Trọng Thủy Hướng dẫn Phân tích cái chết của Mị Châu – Trọng Thủy Mị Châu – Trọng Thủy, một mối tình có lẽ gây nhiều sự chú ý và tranh cãi nhất trong truyền thuyết Việt Nam. Vì yêu, vì hiếu nên họ đã mắc phải những sai lầm to lớn khiến mình phải đi vào con đường chết. Mị Châu chết hóa thành ngọc trai, còn Trọng Thủy vì thương vợ nên cũng chết trong giếng gần nơi táng Mị Châu. Ngọc trai càng rửa nước giếng này càng trong. Kết cục này vừa cảm động vừa ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Theo truyền thuyết, thời Âu Lạc, vua An Dương Vương được Rùa Vàng tặng cho một chiếc vuốt làm nỏ thần để đánh giặc. Cứ lấy nỏ bắn là giặc sẽ thua. Lần đầu tiên, quân Đà sang đánh, vua An Dương Vương ứng nghiệm chiếc nỏ thần. Quả thật, quân Đà thua to. Ít lâu sau, con trai Đà sang cầu hôn với công chúa. Vua không để ý nên đã vô tình gả con gái cho kẻ đã bị mình đánh bại. Đúng như âm mưu trước đó, Trọng Thủy đã dỗ Mị Châu cho xem trộm chiếc nỏ thần rồi ngầm làm một cái khác thay thế vào đó. Trong lúc chia ly, Mị Châu dặn Trọng Thủy nếu sau này hai đất nước loạn lạc, Mị Châu đi đâu sẽ rắc lông ngỗng đến đó để làm dấu cho Trọng Thủy tìm cứu nàng. Mất nỏ, vua An Dương Vương không hề biết nên khi quân Đà sang khiêu chiến, vua đã chủ quan và để mất nước Âu Lạc. Vua dẫn con gái chạy theo phí bờ biển. Mị Châu ngồi sau cha rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đúng như lời ước hẹn. Đến bờ biển, vua cha kêu sứ Thanh Giang, rùa vàng nổi lên vào bảo quân giặc ngay phía sau lưng. Ngay lập tức, vua tuốt gươm chém chết Mị Châu. Mị Châu chưa hiểu rõ vì sao lại bị cha chết, nàng khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đề biến thành hạt châu. Khi Trọng Thủy đến chỉ còn lại xác Mị Châu. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Có nhiều ý kiến trái chiều nhau về cái chết của Mị Châu. Có người cho rằng: Mị Châu đã ngheo theo lời Trọng Thủy cho xem trộm chiếc nỏ thần chỉ là việc thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước. Lại có kiến nói Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp đạo lý. Vậy ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai? Xét về việc cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, Mị Châu làm việc này hoàn toàn không hề có âm mưu gì, nàng cũng không biết được ý định của Trọng Thủy đánh cắp chiếc nỏ thần và thay thế chiếc khác. Chính sự khờ khạo này của Mị Châu là nguyên nhân đầu tiên khiến nước Âu Lạc bị mất. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Tại sao vua cha lại bị mất nỏ thần mà không hề hay biết? Và khi quân địch đến, vua cha còn thản nhiên ngồi đánh cờ, đến lúc dùng đến nỏ thần vua mới phát hiện ra đã bị mất. Lẽ ra một vật báu quan trọng như thế, liên quan đến sự sống còn của đất nước như thế, vua phải giữ gìn cẩn thận, thường xuyên kiểm tra. Nhưng vua An Dương Vương đã không làm điều đó. Còn Mị Châu thì vô tình bị Trọng Thủy dụ dỗ. Nhưng nàng cũng chỉ nghĩ rằng cho Trọng Thủy xem thôi rồi lại cất đi sẽ không ảnh hưởng gì. Như vậy Mị Châu vừa làm vui lòng chồng lại không làm nguy hại đến cha. Nhưng sự thật lại diễn ra hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ ngây thơ của nàng. Chưa hết, khi cùng vua cha chạy trốn, nàng còn dứt lông ngỗng trên áo làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo với mong muốn chồng sẽ cứu mình đúng như lời ước hẹn trước đó. Nhưng lại một lần nữa, Mị Châu tiếp tay cho giặc mà không hề hay biết. Trong suy nghĩ của nàng, việc làm này hoàn toàn đúng đắn và nên làm, vì “thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết”. Nếu như Trọng Thủy không phải con trai Đà, không phải kẻ địch của Âu Lạc thì có lẽ những gì Mị Châu làm hoàn toàn xứng đáng và hợp tình hợp lý. Nhưng thật éo le vì những việc làm mang ý nghĩa tình cảm vợ chồng sâu nặng của Mị Châu lại làm cho đất nước rơi vào tay kẻ địch. Giây phút cuối cùng của cuộc đời khi bị vua cha kết án là giặc, Mị Châu mới chợt nhận ra mình bị lừa. Nhưng tất cả đã quá muộn. Nàng không chối, cũng không kêu oan mà chỉ khấn sẽ thành cát bụi nếu mình là kẻ phản nghịch, ngược lại nếu lòng nàng trong sáng, chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Quả nhiên, khi Mị Châu chết, máu của nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Như vậy, nỗi oan của Mị Châu đã được giải. Chỉ tiếc rằng nàng đã chết, chết một cách bất ngờ đầy tiếc thương. Cái chết của Mị Châu vừa chứng minh được tấm lòng trong sạch của nàng, vừa thể hiện hai phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nàng: thứ nhất, Mị Châu là một người vợ chung thủy, nặng nghĩa tình. Thứ hai, nàng là một người con gái hiếu thảo, có tấm lòng trong sáng rất đáng trân trọng. Đồng thời, Mị Châu chết một phần lớn vì sự chủ quan của vua cha. Lẽ ra khi gả con gái, vua phải xem xét kỹ lưỡng xuất thân của con rể. Mặt khác, nỏ thần là vật báu quý hiếm, vua phải kiểm tra thường xuyên và cất giữ thật cẩn thận. Nhưng vua An Dương Vương đã không làm điều đó. Cho đến giây phút cuối cùng, ông phải đành lòng chém chết đứa con gái yêu dấu khi nghe Rùa Vàng kết án chính kẻ ngồi sau là giặc. Về phần Trọng Thủy, chàng đáng trách nhưng cũng đáng thương. Vì việc lấy nỏ trộm nỏ thần là do cha Trọng Thủy sai bảo. Mặc dù việc vua Đà đến đánh chiếm Âu Lạc, nhưng khi đưa sự việc ra đánh giá khách quan, khi đặt sự việc vào thời thế của đất nước, ta lại thấy Trọng Thủy làm đúng. Vì dù tình nghĩa vợ chồng sâu nặng nhưng chàng vẫn coi trọng việc nước hơn. Chàng hi sinh hạnh phúc riêng của mình cho đất nước. Chỉ tiếc rằng, cuộc chiến ấy lại là cuộc chiến phi nghĩa. Nếu là chính nghĩa thì Trọng Thủy sẽ trở thành một người hùng đẹp tuyệt vời. Trọng Thủy tuy là địch, tuy vâng lời cha lấy trộm nỏ thần nhưng mặt khác chàng không hề đối xử tệ bạc với vợ là con gái của vua An Dương Vương – người đã đánh bại cha mình. Khi vợ chết, Trọng Thủy vì thương nhớ mà cũng chết dưới giếng gần nơi chôn Mị Châu. Khi lấy ngọc đem rửa nước giếng này thì càng rửa càng sáng. Có lẽ Mị Châu đã thầm tha thứ cho Trọng Thủy. Và cả dân gian khi tạo nên cái kết này cũng đã dành sự cảm thông cho cả hai vợ chồng. Cái chết của hai vợ chồng đã làm cho nhiều người trẻ thức tỉnh. Vì hiện nay trong xã hội có không ít những kẻ dùng mọi thủ đoạn để trục lợi cá nhân. Họ phụ vợ, phụ chồng, phụ nhau để đạt được những mục đích riêng của mình. Qua câu chuyện, mỗi người hãy tự nhìn nhận lại bản thân, để cùng hướng đến cuộc sống mới, cuộc sống với những hành động và lý tưởng tốt đẹp.
Phân tích cái chết của Mị Châu – Trọng Thủy
1,462
Phân tích cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Hướng dẫn Phân tích cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Chết là sự kết thúc của một cuộc đời đã trải qua bao thăng trầm sóng gió, kết thúc một sự sống đã bao lần bấp bênh. Nhưng đôi khi, cái chết lại chính là sự hồi sinh, là sự bắt đầu của một cuộc sống mới, một cuộc sống không còn khổ đau. Cái chết của người thiếu phụ trẻ trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ chính là một sự khởi đầu cho bao niềm hi vọng, niềm tin mới. Dù cái chết ấy đã mang bao đau thương và ai oán, nhưng với nàng, chỉ có cái chết mới có thể giúp nàng giải thoát được cuộc sống đầy bất hạnh nơi trần thế. Nguyễn Dữ – một nhà văn giàu lòng thương xót đã xây dựng nên một nhân vật hoàn mỹ, đẹp cả người lẫn nết, nhưng éo le là nàng lại được đặt trong hoàn cảnh bất hạnh, hẩm hiu. Dù thùy mị nết na, dù đã sống hết lòng vì chồng vì con nhưng cuộc đời đầy trắc trở vẫn không buông tha cho nàng. Sau khi Trương Sinh – chồng nàng đi lính trở về, những tưởng vợ chồng sum họp sau bao lâu xa cách sẽ hạnh phúc mặn nồng. Nhưng tai họa đã ập xuống. Trương Sinh nghe theo lời con nhỏ kết án vợ hư hỏng, thất tiết. Dù Vũ Nương giải thích thế nào Trương Sinh cũng không nghe. Bất đắc dĩ, nàng phải tìm đến cái chết để minh chứng cho sự trong sạch của mình. Vũ Nương chết, nhưng là chết cho tâm hồn thanh cao và tấm lòng chung thủy của mình được sống. Chết để không phải sống trong cảnh đa nghi, bị chồng sỉ nhục. Người mà nàng đã ngày đêm mong nhớ, gìn giữ tiết hạnh nhưng cuối cùng lại chính vì người ấy mà nàng phải ôm uất hận, tủi nhục tìm đến cái chết. Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau bị chính người mà mình thương yêu hết lòng dồn đến bước đường cùng, người mà nàng tin rằng sẽ mang lại hạnh phúc cho mình thì nay lại đẩy nàng vào bế tắc, buộc nàng phải chết. Nhưng suy rộng hơn, trong một phần nào đó, Trương Sinh chính là sản phẩm của chế độ nam quyền trong xã hội phong kiến cũ. Ở xã hội ấy, người phụ nữ luôn luôn bì đàn áp, bị trà đạp, dường như họ chỉ như một thứ đồ dùng trong tay người đàn ông và không hề có quyền hành gì. Qua cái chết của Vũ Nương, ta càng thấu hiểu hơn sự bất công mà xã hội dành cho nàng. Đồng thời ta xót thương cho những con người cùng khổ giống như nàng, phải chịu cảnh áp bức đến cùng, đến ngay cả quyền sống và những khát khao hạnh phúc cũng có thể bị dập tắt bất cứ khi nào. Như vậy, cái chết của Vũ Nương còn là lời tố cáo đanh thép đến xã hội phong kiến tàn ác, bất nhân, là mũi dao nhọn chĩa vào những người đàn ông, người chồng nhu nhược, nóng nảy và vô tâm như Trương Sinh. Đành rằng hắn là người đa nghi, đành rằng là người đàn ông nắm quyền trong gia đình theo đúng quan niệm của xã hội phong kiến, nhưng nếu hắn thực sự yêu thương vợ thì đã không có cảnh Vũ Nương phải khóc lóc bên bến Hoàng Giang rồi gieo mình tự vẫn trong tủi nhục. Lẽ ra, hắn phải hỏi vợ đầu đuôi sự việc, lắng nghe nàng giải thích, phân biệt đúng sai. Nhưng ngược lại, Trương Sinh đã một mực đánh đuổi vợ, xúc phạm người vợ đã hết lòng vì mình, vì con. Một người chồng như vậy thật đáng lên án và phê phán. Trong xã hội hiện nay cũng không ít những gia đình xảy ra cảnh bạo hành mang lại đau thương cho người phụ nữ. Cũng đã có nhiều người vợ phải ôm hận tìm đến cái chết như Vũ Nương. Một cái chết đầy oan nghiệt và thương tâm. Nhưng để kết thúc có hậu và bày tỏ lòng thương xót trước người thiếu phụ trẻ thùy mị, nết na, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên những chi tiết ly kì, hấp dẫn. Sau khi gieo mình xuống sông Hoàng Giang, Vũ Nương được các nàng tiên cứu giúp và cho hưởng một cuộc sống mới nơi thủy cung. Nơi mà nàng sẽ chẳng bao giờ còn khổ đau nữa. Thay vào đó là sự yên bình, hạnh phúc. Đây mới chính là nơi để nàng thuộc về. Như vậy, cái chết của Vũ Nương đã trở thành sự hồi sinh, sự khởi đầu cho một cuộc sống mới, một cuộc sống không còn niềm đau và nước mắt. Ở nơi đây, nàng được tôn trọng, được quan tâm, được hưởng những điều xứng đáng nhất với đức hạnh khiết tịnh của mình. Một cái chết ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa. Thương cho số phận hẩm hiu của người con gái bạc mệnh, căm hờn phẫn uất trước kẻ làm chồng mà không thương vợ, không thấu hiểu vợ mình, nhưng phần lớn vẫn là tố cáo chế độ xã hội phong kiến cũ đã bất công với người phụ nữ. Đồng thời, ca ngợi đức hạnh và tấm lòng sắt son, chung thủy của Vũ Nương – một người vợ thùy mị nết na, chịu thương chịu khó. Chỉ tiếc rằng, nàng đã phải chịu cảnh oan ức, bi thương.
Phân tích cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
973
Phân tích cái hay cái đẹp của bài ca dao Hỡi cô tát nước bên đàng Hướng dẫn Ca dao dân ca Việt Nam tràn ngập ánh trăng vàng. Có vầng trăng thề nguyền, ước hẹn. Có vầng trăng thương nhớ, đợi chờ. Có vầng tràng li biệt, man mác bâng khuâng: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?” Có vầng trăng chênh chếch ngọn tre làng. Có cảnh tát nước đêm trăng. Vầng trăng và thôn nữ sao mà đẹp và đáng yêu thế: “Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?” Biết bao lần em được nghe vần ca dao bát ngát ánh trăng ấy. Vần ca dao ngọt ngào và dào dạt ánh trăng đã tắm mát và tỏa sáng tâm hồn em. Tâm hồn con người Việt Nam phong phú, tươi đẹp, đậm đà hương sắc hoa bưởi, hoa cà, hoa sen và tỏa sáng vầng trăng. Câu ca dao “Hỡi cô tát nước bên đàng…” đã làm đẹp thêm tâm hồn vốn rất yêu trăng của nhân dân ta. Thơ cổ ghi lại những thú vị chơi trăng. Có tao nhân “đăng sơn vọng nguyệt”. Có mặc khách “lên lẩu thưởng trăng”. Có trăng Tầm Dương trong tiếng Tì bà. Có “thi tiên” uống rượu và nằm ngủ dưới trăng, v.v… Trâng, rượu, hoa là thú vui tao nhã ở đời. Trăng được nói đến trong bài ca dao này là trăng đồng quê, vầng trăng với thiếu nữ, là cảnh tát nước đêm trăng. Một câu hỏi bâng quơ mà tinh nghịch? “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”’ Chàng trai làng đa tình lấp ló đâu đây? Một câu hỏi ngạc nhiên, một lời trầm trồ khen ngợi, hay một lời tỏ tình tế nhị, kín đáo của chàng trai? Tất cả đều có thể. Chân lí cuộc đời và chân lí nghệ thuật vốn đa âm và phức điệu. Trong cảm nhận của nhiều người xưa và nay là đằng sau sự miêu tả cảnh tát nước đêm trăng còn là tiếng hát giao duyên chứa chan tình thương nỗi nhớ. Đến với vầng, trăng ca dao, ta yêu thêm vầng trăng xứ sở, yêu thêm đồng lúa quê ta, yêu thêm người dân cày Việt Nam. Dưới vầng trăng thanh bình có biết bao mối tình trong sáng, thủy chung nảy nở: “Đèn tà thấp thoáng bống trăng, Ai đem người ngọc thung thăng chốn này?” Có cảm được vẻ đẹp nguyên sơ của vầng trăng ca dao dân ca thì mới có thể cảm được cái hay của vầng trăng trong cổ thi – trăng trong thơ Lý Bạch, trongJ:hơ Nguyễn Trãi, trăng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, trăng trong thơ Nguyễn * Khuyến và “trăng xưa, hạc cũ với xuân này” trong thơ Bác Hồ kính yêu…
Phân tích cái hay cái đẹp của bài ca dao Hỡi cô tát nước bên đàng
468
Đề bài: Phân tích cái ngông của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội Bài làm Tản Đà( 1889- 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Tản Đà thuộc dòng dõi quý tộc, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sự nghiệp sáng tác của Tản Đà hết sức phong phú và đa dạng. Trong đó, thơ là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phong phú ấy của ông. Có thể nói, từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1930, văn đàn Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà. Tản Đà sáng tác rất nhiều thơ, ở nhiều thể loại cả về nội dung lẫn hình thức. Thơ Tản Đà hay diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri kỉ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực. Với một tâm hồn mới mẻ, “cái tôi” lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái trong thơ văn ông đã chinh phục thế hệ độc giả mới đầu thế kỉ XX. Giữa lúc thơ phú nhà nho tàn cuộc, Tản Đà có lối đi riêng, vừa tìm về với ngọn nguồn thơ ca dân gian và dân tộc, vừa có những sáng tạo độc đáo, tài hoa. Thơ văn Tản Đà có thể xem như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. Cũng như Xuân Diệu từng nói: “ Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám giữ một cái tôi”. Nói cách khác, thơ Tản Đà biểu hiện rõ cái “ngông”. Vậy “ngông” là gì? Nói về “ngông”, theo cuốn “Tản Đà thơ và đời” cho rằng: “Ngông trước hết là một tính cách. Biểu hiện của tính cách đó là những hành động khác đời gây nên sự chú ý của số đông, những hành động ngông thường mang tính chất ngang tàng, phóng túng, đùa cợt.Tính cách ngông biểu hiện một mâu thuẫn với số đông bình thường, nó tách ra, nổi lên.Tính cách ngông vừa mang tính bi kịch lại vừa mang tính hài kịch và nó là sự phủ định thực tại, chỉ trích thực tại bằng sự giễu cợt và khinh thường. Ngông cũng là một cách sống, cách sống ấy vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội đương thời, trở thành một thách thức với xã hội đó.Cách sống ấy mang tính chất chủ quan và coi thường dư luận xã hội. Ngông còn là một hiện tượng tư tưởng: đó là tư tưởng bất mãn, bất đắc chí, bất cần đời, khinh thế ngạo vật. Một con người không có bản lĩnh không thể ngông, không có tâm sự không thể ngông, không đối kháng và phủ định thực tại trong những khía cạnh nào đó cũng không thể ngông”. Như vậy, ta có thể hiểu “ngông” thể hiện thái độ, phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách, tâm hồn khác biệt với người thường, không chấp nhận sự đơn điệu mà luôn phá cách, sống phóng túng, tự do khẳng định cá tính và bản lĩnh của mình. Vậy cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện như thế nào qua bài thơ Muốn làm thằng cuội. Trong bài thơ này, thi nhân thể hiện cái “ngông” bằng ước muốn thoát li thực tại để lên cung trăng được làm bầu bạn với chị Hằng; được hưởng lạc cuộc sống tự do tự tại. Tản Đà muốn thoát li thực tại, lên cung trăng làm bầu bạn với chị Hằng, vì thực tại – “đêm thu” theo cách gọi của ông là “buồn lắm”: “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần thế em nay chán nửa rồi.” Nói thế cũng đúng thôi, vì thực tại của xã hội thực dân nửa phong Kiến của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX đầy rối ren, thối nát. Thời đại Tản Đà sinh ra và lớn lên có thể nói là một giai đoạn phức tạp và rối ren nhất của lịch sử xã hội Việt Nam. Thực dân Pháp thi hành những chính sách cai trị tàn bạo, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đều thất bại, nhân dân lâm vào cảnh loạn lạc. Hơn thế, cũng trong thời gian này, nền văn hóa nước ta có sự giao lưu rộng rãi với nước ngoài, những luồng tư tưởng mới mẻ, những nét văn hóa khác biệt được du nhập vào đất nước mà người ta vẫn gọi là hiện tượng “gió Á mưa Âu”. Sự rối ren được thể hiện ở hầu hết các mặt từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.Đứng trước một thực tại xã hội như thế, Tản Đà không tìm thấy một lối đi nào cho mình.Ông thoát ly thực tại, đi vào trong cõi mộng và trốn tránh cõi trần.Ông loay hoay với những giấc mộng con đến giấc mộng lớn, ông phản kháng lại hiện thực bằng cách dùng văn chương để nói lên cái tôi cá nhân của mình.Ông chối bỏ, quay lưng với hiện thực phũ phàng, đi tìm lí tưởng, ôm ấp lí tưởng ở thế giới thần tiên được xây bằng trí tưởng tượng. Nỗi buồn đến mức buồn lắm trong cô đơn chỉ còn biết gọi chị Hằng để giãi bày tâm sự. Ba tiếng chị Hằng ơi Rất biểu cảm, ý vị làm cho giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ đầy ắp tâm sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết: Đời đáng chán hay không đảng chán, nay thì đã chán nửa rồi. Bài thơ in trong tập Khối tình con xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát tù hãm. Vì công danh dở dang: Tài cao, phận thấp, chí khí uất. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “Lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: “Nửa ngòi bút ngỗng bao sinh lụy Một mối tơ tằm mấy đoạn vương. (Đề khối tình con thứ nhất) Một chữ xin rất chân thành thiết tha, như nài nỉ: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. Hai câu thực đã làm rõ đề bài Muốn làm thằng Cuội ở nơi cung trồng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. Cành đa đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây cao xanh để chị nhắc lên chơi cung quế. Đó là giấc mộng thoát ly. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định. “Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.” (Nhớ mộng) Có lên được cung quế mới đỡ tủi, mới thỏa thích, thế mới vui. Có chị Hằng làm bầu bạn. Có gió, có mây cùng chơi với. Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được vận dụng sáng tạo, có cả tiểu đối và bình đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn, đọc lên nghe rất thú vị: “Có bầu/ có bạn, / can chi tủi, Cùng gió! cùng mây, / thế mới vui.” Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn Tản Đà thi sĩ (1939) đã nhận xét: Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ…. Cái ngông, cái phong tình của thi sĩ đã dâng lên cực điểm. Đêm rằm tháng Tám, là đêm trung thu đẹp nhất. Chẳng còn buồn vì cô đơn nữa, thi sĩ được cùng chị Hằng tựa nhau trông xuống thế gian cười. Cái cử chỉ tựa nhau và nụ cười ấy cũng là một giấc mộng đẹp. Thoáng một chút mỉa mai (cho trần thế), nhưng đầy thú vị vì được thoát li, được thỏa thích nơi cung quế: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian, cười” Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bảy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen: “Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe Trời cũng bật buồn cười Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bán chợ Trời!” (Hầu Trời) Bài Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ cổ thi đề độc đáo, thú vị. Giọng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng phong phú, kỳ diệu. Chất mộng ảo, màu sắc lãng mạn thấm đẫm bài thơ. Bất mãn với thực tại, Tản Đà sa vào cuộc sống hưởng lạc, triền miên với những cuộc say và những chuyến đi. Ông cũng không yêu ở thế giới thực mà lại tìm lên trời, bầu bạn với Hằng Nga, tâm sự với Ngưu lang, Chức Nữ. Cần lưu ý rằng, thời đại mà ông sống vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo truyền thống nên cách thể hiện cái tôi của ông thực sự rất ngông cuồng và táo bạo. Ông dám nói những điều người khác không dám nói, dám làm những gì người khác không dám làm. Ông đã phá vỡ sự gò bó của chế độ, đập tan xiềng xích lễ nghi trói buộc con người. Thay vào đó, ông phơi trải tâm hồn mình một cách tự do, khẳng định cá tính của mình theo một cách riêng biệt. Có thể nói, vì chán ghét thực tại, vì không thể thay đổi thực tại nên Tản Đà đã thể hiện cái ngông của mình bằng ngòi bút văn chương sắc sảo. Tuy có nói đến buồn, nói đến chán, có nói đến thoát ly, có thấm vị phong tình… nhưng toàn bài thơ toát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, khao khát được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi mãi giữ trọn thiên lương cao đẹp. Giá trị đích thực của bài thơ Muốn làm thằng Cuội là ở chỗ ấy…
Phân Tích Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội
1,845
Đề bài: Phân tích cái nhìn của tác giả Nguyễn Ái Quốc đối với các dân tộc bị áp bức được thể hiện qua Bản án chế độ thực dân Pháp Bài làm Phong trào giải phóng dân tộc "đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới vào đầu thế kỉ 20". Đặc biệt, chiến tranh đế quốc 1914 – 1918 và hòa ước Vécxây đáng sỉ nhục làm cho các dân tộc và các giai cấp bị áp bức trên toàn thế giới nhận định được rõ, thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản. Các nước đồng mình "chiến thắng", một mặt tăng cường bóc lột giai cấp công nhân Châu Âu, Châu Mĩ, một mặt ra sức khai thác tàn nhẫn thuộc địa. Cách mạng Tháng Mười chỉ ra con đường đấu tranh của nhân loại cần lao. "Phương Đông thức tỉnh" sẽ góp phần quan trọng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Nhân dân các nước bị nô dịch nổi dậy giành độc lập, tự do, có nghĩa là từng bộ phận của chủ nghĩa đế quốc sẽ sụp đổ, bão táp cách mạng sẽ nổi lên ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ latinh. Người anh hùng mới của thế kỉ 20 ra đời với một trách nhiệm lớn lao. Điều đó không thể vắng mặt trong văn học thế giới. Hồ Chủ tịch, người chiến sĩ tiên phong đã phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, dành trọn cuộc đời mình cho công cuộc cách mạng vĩ đại ấy. Ở đâu, bất cứ lúc nào, Bác cũng hướng tình cảm, ý chí, hoạt động vào đó. Bác "tin theo Lênin", tán thành Đệ tam Quốc tế, học tập, nghiên cứu, vào sinh ra tử cũng vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Những phút xúc động nhất trong đời Bác, khi ở nước ngoài, thời trẻ, là những phút Bác nghĩ đến những dân tộc còn sống trong vòng nô lệ: khi Bác được tin ông Cúc (Cook) tuyệt thực và chết vì vấn đề độc lập của dân tộc mình, khi Bác thấy những người công nhân da đen bị nước biển cuốn đi. Những lần ấy, Bác đã khóc. Tâm hồn nghệ sĩ của Bác dễ rung cảm trước những cảnh hùng vĩ. Trần Dân Tiên kể rằng: trên tàu biển, anh Ba thích xem cảnh mặt trời mọc; những đêm trăng, anh đi đi lại lại trên tàu, "hầu như không ngủ", và anh Ba "ngây người nhìn một hòn đảo ở Tênêríppho, miệng nhắc đi nhắc lại: – “Bốn! Anh nhìn kia! Đẹp quá, hùng vĩ quá!". Trái tim ấy hiểu thấu và thương cảm sâu xa hàng trăm triệu người sống cuộc đời lầm than, khổ nhục. Trái tim ấy càng thấy rõ cái "hùng vĩ" của những người nô lệ, những người có tâm hồn trong sáng, thủy chung, kiên cường – những người có đầy đủ chí khí để làm cách mạng. "Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình". Hiểu rõ giai cấp công nhân, Bác Hồ biết tất cả nỗi khổ cực và sức mạnh của họ, những người duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Xuất thân từ một gia đình yêu nước, Bác thông cảm sâu sắc với nông dân. Hình ảnh người nông dân thuộc dịa chiếm vai trò lớn trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" (…) Đề bạt người nông dân như một người bạn chiến đấu dũng cảm của giai cấp công nhân, đó là một sáng tạo trong văn học lúc bấy giờ. Qua hình tượng người nông dân trong tác phẩm, Hồ Chủ tịch chỉ rõ rằng vấn đề thuộc địa thực chất là vấn đề nông dân. Nói đến họ, lời văn "Bản án chế độ thực dân Pháp" bao giờ cũng đầm ấm, thiết tha, bác hiểu tấm lòng thương yêu quê hương đất nước của họ. Đàn cừu, mảnh vườn đối với họ là những gì thân thiết nhất: "Họ phải đột ngột lìa vợ, lìa con, bỏ đàn cừu, bỏ mảnh ruộng để vượt đại dương, đem xương phơi trên các bãi chiến trường Châu Âu". Dù có sống sót, họ cũng chỉ lê "tấm thân tàn ma dại" trở về sống kiếp trâu ngựa dưới cái chế độ "không hề biết gì đến công lí và chính nghĩa”. Bọn thực dân kết án tử hình những người vô tội. Tiếng oán hờn thống thiết như thúc giục mọi người hãy thấm máu trên người, đứng dậy làm cách mạng, đánh đuổi bọn thực dân: "Máu của những người Việt Nam ấy nhuộm đỏ cánh đồng Mỹ – ngụy, dù có phai với thời gian, nhưng vết thương lòng của những bà mẹ già, những em bé mồ côi, thì không bao giờ hàn gắn được". Chương Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ chứa chan tình thương cảm xót xa của Bác. Không phải Bác chỉ thấy ở nhân dân lao động thuộc địa cuộc đời đầy oan khốc, Bác còn thấy họ là những người khẳng khái, thương nước yêu nhà, và dũng cảm phản kháng cái chế độ thuộc địa bất lương ấy. Những người phụ nữ có chồng con, cha anh bị giam cầm, đã vượt mọi gian nguy đến thăm họ: "Tất cả cái đám người đã kiệt sức ấy mang theo đủ mọi thứ, nào nón, nào quần áo rách, cơm nắm… để lên đưa cho người bị can, là cha, là chồng". Đó là những người nông dân "nổi lên chống tạp dịch", là những người Lào bỏ nhà bỏ cửa trốn đi, không chịu đi phu cho giặc, là "những vụ biến động lừng danh năm 1908 và năm 1916" ở Việt Nam. Đặc biệt, trong chương XII, Nô lệ thức tỉnh, tác giả đã kết thúc tác phẩm bằng hình ảnh đầy hứa hẹn của Trường Đại học Phương Đông, trên đất nước Liên Xô, một "dấu hiệu của kỉ nguyên mới" của các dân tộc bị áp bức. Tóm lại, với Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ Chủ tịch, một nhân vật tích cực đã ra đời trong văn học hiện đại: nhân vật đại diện cho các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa vùng dậy làm cách mạng, đại diện cho một lực lượng cách mạng hiện nay đang làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu và tan vỡ, và thúc đẩy quá trình diệt vong của nó; một nhân vật anh hùng mà giản dị, gian khổ mà trong sáng, kiên cường, bất khuất, một lòng thủy chung với cách mạng.
Phân tích cái nhìn của tác giả Nguyễn Ái Quốc đối với các dân tộc bị áp bức được thể hiện qua Bản án chế độ thực dân Pháp
1,133
Phân tích cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Hướng dẫn Phân tích cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Bài làm Cổ tích là những câu chuyện cổ có thêm tính chất kì ảo và thường kết thúc có hậu do tác giả dân gian nghĩ và sáng tác nên với mong muốn là ở đời người ở hiền thì có kết thúc tốt người ác thì sẽ phải chịu sự trừng phạt. Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích hay nhất nước ta qua đó ta thấy được những cái thiện và những cái ác trong đó. Cái thiện trước hết là những cái hiền lành và trong cuộc sống cái thiện luôn luôn được người ta chú ý tới là những điều đẹp, tốt, là sự đánh giá đạo đức phù hợp với xã hội, lịch sử và giai cấp. hơn nữa theo văn hóa phương Đông cái thiện luôn luôn được đề cao trong Phật Giáo và hình tượng Cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám là đại diện cho cái thiện và được thể hiện qua những phẩm chất cũng như cuộc đời của cô. Tấm là một cô gái ngoan ngoãn biết nghe lời cha mẹ. Ngay cả khi cha mất nàng phải ở với Dì Ghẻ những luôn luôn nghe theo lời của Dì và chịu sự ghen ghét đố kị của người em gái của cô.Tấm còn là một người chị luôn biết nhường nhịn em cho dù chuyện có thiệt về mình. Trái tim Tấm luôn hướng tới điều thiện chứ không thể nào chứa trong đầu những cái đen tối và ác độc được. Cũng chính vì lòng bao dung hiền lành như vậy nên luôn có người giúp đỡ đặc biệt là có sự giúp đỡ của ông Bụt và sau khi bị hãm hai Tấm chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần, qua những lần ấy thì cô càng nhận thức được những việc làm độc ác kia. Lúc trèo cau, mụ dì ghẻ ở dưới chặt cau khiến cô ngã mà chết, rồi cô biến thành chim vàng anh. Sau khi biến thành chim vàng anh ngày đêm bên vua lại bị giết thì Tấm lại biến thành cây xoan đào, khung cửi, cây thị quả thị. Sức sống của Tấm làm cho mụ gì ghẻ phải bất lực và đó cũng chính là sức sống của cái thiện trong cuộc sống. Cái thiên tuy gian nan, con người thiện thường hay phải chịu những uất ức ban đầu nhưng cuối cùng vẫn nhận được những kết cục tốt đẹp. Nhưng ra sức hiếp đáp và hại người thì họ cũng phải gánh chịu hậu quả, cuộc đời họ vì thế mà cũng không có một chút thương tâm từ người đời để lại mà trái lại là cảm thấy hả hê khi cái ác bị tiêu diệt.Sau nhiều lần hại Tấm và cuối cùng cũng nhận lại cái chết đau đớn. Như vậy từ kết quả của câu chuyện dân gian thì cái ác không bao giờ tồn tại được lâu và thường bị hủy câu diệt. nhưng chính vì cái thiện luôn luôn mạnh cho nên cái ác luôn bị khống chế và tiêu diệt bởi cái Thiện
Phân tích cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám
544
Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Vội vàng sống, vội vàng yêu, vội vàng khát khao đến cuồng si và điên dại. Xuân Diệu – chính ông đã viết lên những vần thơ hối hả và cuồng nhiệt như thế. Mà ở đó, cái tôi trữ tình đã được nhà thơ gửi gắm bao tình cảm nồng nàn thiết tha: tình yêu cuộc sống mãnh liệt, yêu thiên nhiên đắm say với những ước muốn tưởng chừng như táo bạo và ngông cuồng. Xuân Diệu đã sớm nhận thức được sự tàn phá ghê gớm của thời gian đối với tuổi xuân, với cuộc đời, nên ông băn khoăn, day dứt “tiếc nuối cả đất trời”. Với những tâm tư và tình cảm ấy, ông đã đặt bút viết nên những vần thơ mang tên “Vội vàng” đúng như tâm trạng của mình. Xuân Diệu từng được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. Bài thơ “Vội vàng” là một trong những đứa con tinh thần quý báu của ông. Ở đó, cái tôi trữ tình được Xuân Diệu thể hiện một cách rất sâu sắc và đầy triết lý. Tất cả cũng chỉ vì lòng ông quá yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu đến nỗi muốn làm chủ cả vũ trụ: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”. Những gì mà Xuân Diệu muốn lúc này là “tắt nắng”, là “buộc gió” – những hành động không một ai có thể thực hiện được, thậm chí là chưa từng ai nghĩ đến. Vậy mà nhà thơ lại viết ra rất thẳng thắn và bộc trực. Không những thế, ông còn liên tục dùng đại từ “tôi muốn”. “Tôi muốn” thời gian ngừng trôi, muốn cuộc sống luôn luôn tỏa màu nắng, muốn gió cứ thổi mãi không ngừng. Vẫn biết những ước muốn ấy không bao giờ trở thành hiện thực nhưng Xuân Diệu vẫn khát khao đến cháy bỏng được đắm mình vào những gì tươi đẹp nhất của thiên nhiên. Trong cảm nhận của ông, mọi thứ đều đang rất đẹp, rất tuyệt vời: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Cảnh sắc thiên nhiên dường như đang được bày biện không khác gì một mâm cỗ cao sang với đầy đủ các món ăn thơm ngon bổ dưỡng. Món nào cũng quen thuộc nhưng được chế biến một cách rất mới lạ và độc đáo qua cái tôi trữ tình đang khao khát cuộc sống của hồn thơ Xuân Diệu. Thứ gia vị đặc biệt mà ông cho vào những món ăn ấy chính là tình cảm nồng nàn thiết tha đang dâng trào trong trái tim ông, là những biện pháp nghệ thuật ấn tượng chưa từng có nhà thơ nào sử dụng. Thế nên, món nào cũng ngon, cũng hấp dẫn. Nào là ong bướm đầy mật ngọt, hoa cỏ đồng nội xanh rì, nào là lá của cành tơ phơ phất, hay yến anh trong khúc tình si, rồi ánh sáng mỗi ban mai lùa vào hàng mi vừa thức giấc. “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Tác giả đã lấy cái trừu tượng, cái vô hạn của thời gian so sánh ngang bằng với cái rất chi tiết, cụ thể: cặp môi gần. Có rất nhiều câu hỏi đặt ra, thế nào là “cặp môi gần”, cặp môi ấy có vị gì chăng mà Xuân Diệu lại so sánh tháng giêng ngon như một cặp môi gần? Mỗi người một cảm nhận. Xuân Diệu cũng vậy, với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống đang cháy bỏng trong ông thì mọi thứ đều đẹp, đều ngon. Giống như ai đó đã từng nói “yêu nhau yêu cả đường đi”. Tháng giêng ngon lành của Xuân Diệu ở đây cũng vậy, ngon không phải vì ăn ngon mà vì mọi thứ đều mang lại cho ông một cảm giác no nê sảng khoái vô cùng, khiến ông phải thốt lên: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Dấu chấm được đặt ngay giữa câu khiến nhịp thơ bị ngắt quãng như sự băn khoăn, day dứt của nhà thơ trước những thay đổi không thể nào kiểm soát được của thời gian. Thế nên ông tự nhắc mình “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Xuân đến, xuân đi xuân lại đến nhưng mùa xuân của đời người chỉ có một. Lại một lần nữa cái tôi trữ tình được Xuân Diệu thêu dệt vào những băn khoăn, khoắc khoải, những nỗi niềm mang riêng tư nhưng lại mang triết lý vô cùng sâu sắc: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chặt Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn đất trời nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng, tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.” Giọng thơ trở nên trầm lắng hơn, không còn vồn vã, cuống quýt nữa. Có lẽ lúc này Xuân Diệu đang lo lắng, đang miên man với những nghĩ suy về thời gian, về mùa xuân hữu hạn của đời người. Xuân đến rồi xuân đi là quy luật của tự nhiên. Đời người cũng thế, qua thời son trẻ ắt sẽ bước đến tuổi già. Không cần tác giả nói ai cũng hiểu điều này. Nhưng qua cách sử dụng trực tiếp cái tôi trữ tình trong câu thơ, Xuân Diệu đã bộc bạch rất chân thành những cảm xúc tiếc nuối, bâng khuâng của mình. Nhịp thơ mỗi lúc một da diết hơn, khắc khoải hơn. Ông yêu thiên nhiên là thế, yêu mùa xuân là thế nhưng mùa xuân cũng đâu có ý nghĩa lý gì khi “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Điều mà ông khát khao ở đây là tuổi trẻ, là tuổi xuân chứ không phải những thứ tầm thường trong cuộc sống. Nhà thơ đã tự nhận “lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chặt”, “không cho dài tuổi trẻ của nhân gian”. Biết làm sao được khi đó là quy luật của tự nhiên, là điều không một ai có thể thay đổi được. Nếu như lúc trước, Xuân Diệu bày biện toàn những món ngon lành của tự nhiên đang đúng độ chín, đúng độ thưởng thức thì ở đây, ông đã nhìn thấy sự chia phôi, sự tiễn biệt trong từng kẽ lá, cành cây. Là cơn gió đang “hờn vì nỗi phải bay đi”, là tiếng chim “sợ độ phai tàn sắp sửa” hay là chính lòng ông đang sợ tuổi xuân sẽ qua đi? Bởi cơn gió đâu có biết gì, nó đâu có thể có những cảm xúc giống con người, cánh chim cũng vậy. Là vì trong lòng ông đang ngổn ngang bao niềm trắc trở băn khoăn. Đúng như Nguyễn Du từng viết: (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Mọi thứ cứ dần trôi, dần tuột khỏi cuộc đời mỗi con người. Có thể một làn gió, một cánh chim hay một ngọn cỏ không làm cho mọi người để ý. Nhưng với tình yêu cuộc sống mãnh liệt, thiết tha, Xuân Diệu đã tự ý thức được rằng mình phải làm gì để sống hết mình, sống không phí một phút giây nào của tuổi thanh xuân: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…” Dấu ba chấm bị bỏ lửng cuối dòng thay cho những khát khao đang bùng cháy. Điều mà tác giả nhận ra cũng chính là điều mà ai cũng biết nhưng mọi người không mấy khi để ý đến. Chỉ khi có một quả tim tràn trề tình yêu say đắm và một dòng cảm xúc nồng nàn thiết tha mới cảm nhận được hết những điều đơn giản mà giàu giá trị của thiên nhiên, của cuộc sống. Biết rằng không thể “tắt nắng” hay “buộc gió” nên Xuân Diệu đã tự giục lòng mình: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Cà non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Có lẽ nhà thơ cũng giống như làn gió “hờn vì nỗi phải bay đi”, như tiếng chim “sợ độ phai tàn sắp sửa”, nên khi “mùa chưa ngả chiều hôm”, ta phải “mau đi thôi”. Nhịp thơ lại trở nên gấp gáp, vội vàng như bước chân tác giả đang cuống quýt chạy để không bị thời gian chìm lấp. Lúc này, ông đã dùng đại từ “ta” chứ không phải “tôi” nữa. “Ta muốn ôm”, ôm trọn tất cả mọi thứ vào lòng, muốn “riết”, muốn “say” và rồi muốn “thâu”… Dường như mọi thứ vẫn chưa thể đủ để thỏa mãn sự cuồng nhiệt của nhà thơ. Dù “chếnh choáng mùi thơm”, dù “đã đầy ánh sáng” hay “no nê thanh sắc của thời tươi”, Xuân Diệu cũng vẫn muốn được chiếm trọn cả đất trời, cả thiên nhiên. Rồi lại một lần nữa, ông táo bạo muốn “cắn” vào “xuân hồng”. Xuân hồng chứ không phải xuân non như lúc trước nữa. “Hồng” có nghĩa là vừa chín tới, không còn xanh và cũng không chín quá, vừa đúng thời điểm ngon nhất để thưởng thức.
Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
1,768
Phân tích cái tôi trữ tình trongbài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận Hướng dẫn Phân tích cái tôi trữ tình trongbài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận Bài làm “Tràng Giang” là một ngọn lửa rực rỡ trong tập thơ “ Lửa thiêng” – tập thơ đầu tay của Huy Cận. Bài thơ được sáng tác vào một buổi chiều tháng 9 năm 1939, một buổi chiều buồn khi ông đạp xe trên đê sông Hồng vào mùa nước lũ. Trước dòng sông hùng vĩ và hoang vắng mùa lũ, ông mở rộng lòng mình để tâm hồn trôi nổi theo dòng nước. Cái hữu hạn của con người được đặt vào không gian bao la, “Tràng Giang” hiện lên với một nỗi buồn man mác. Bài thơ thể hiện tâm trạng một “cái tôi trữ tình” sầu đượm, cô đơn trước thiên nhiên hùng vĩ cùng những triết lí sâu xa và lòng yêu nước thầm kín. Nhìn vào bài thơ trước hết ta thấy ngay tựa đê “Tràng Giang” vô cùng nổi bật. “Tràng Giang” nghĩa là “sông dài”. Người ta từng đi tìm hiểu về con sông trong bài thơ này của Huy Cận nhưng rồi chợt nhận ra điều này là vô nghĩa. Huy Cận không nhắc về một con sông cụ thể nào. Nó có thể là con sông Hồng mùa nước lũ khi ông đi ngang qua và viết bài thơ, nhưng cũng có thể con sông này khởi nguồn từ xa hơn, là con sông quê ông như Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Sông Lam, Sông La hay là cả sông Hương nữa. Những con sông luôn nằm trong tiềm thức và luôn gắn bó với ông trong nỗi nhớ quê nhà. “Tràng Giang” không phải là tên sông, nó gợi lên cho người đọc một con sông u hoài trong kỉ niệm của riêng mình. Và đối với bài thơ, nó đúc kết một cách ngắn gọn nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Những câu thơ đầu tiên đưa ta đến với những ấn tượng về cảnh sông nước bao la trong một không gian mênh mông, bát ngát: Con thuyền xuôi mái nước song song” Sự mênh mang của không gian được gợi ra qua từng lớp từng lớp sóng. Sóng gợn nhấp nhô trên dòng sông dài khiến nỗi buồn chất chồng “điệp điệp”. Từ “ điệp điệp” vang lên khiên lòng người trĩu nặng, tạo lên một âm điệu trầm buồn còn mãi đọng lại dư âm. Trước không gian rộng lớn của dòng sông ta bắt gặp hình ảnh một con thuyền xa xăm xuôi mái theo những dòng nước song song rong ruổi về cuối chân trời. Cái nhỏ nhoi của con thuyền đơn độc càng làm nổi bật hơn cái rộng dài tưởng như mênh mang của dòng sông. Hai câu thơ với nghệ thuật đặc tả và khả năng khơi gợi đã làm nổi bật lên cái tôi trữ tình của tác giả: một tâm hồn man mác cô đơn. Hai câu thơ tiếp “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng” “Thuyền về” khiền mặt sông trở lên heo hút, “nước lại sầu trăm ngả”. “Thuyền” và “nước” di chuyển trái chiều nhau như một sự chia ly xa cách. Con thuyền đơn độc, lẻ loi chỉ xuất hiện một chút trong không gian rợn ngợp rồi lại rời đi để lại nỗi buồn ngổn ngang, trăm mối tơ vò. “Nước” và “thuyền” chỉ gợi lên nỗi “sầu trăm ngả” nhưng “củi một cành khô” lại cho ta cảm giác chênh chao, heo hút đến rợn người. Hình ảnh “củi” đã gầy guộc mong manh, ở đây “củi một cành khô” lại càng thêm nhỏ bé, như “lạc mấy dòng” vào vô vọng trong những con sóng nối tiếp đến vô cùng. Cái tôi trữ tình ở đây dường như trở lên mong manh, đơn bạc giữa những sóng gió cuộc đời. Những hi vọng xa xăm, những nỗi buồn rồi những băn khoăn về lí tưởng. Chỉ bằng những hình ảnh đơn sơ nhưng câu thơ đã khơi gợi lên thân phận cô đơn của cả một kiếp người. Đến khổ thơ thứ hai, bức tranh tràng giang mở ra với một nỗi buồn sâu lắng: “Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” Khổ thơ có thêm cảnh, thêm người nhưng nỗi buồn dường như không vơi đi mà còn lặng lẽ hơn. Nỗi buồn được gợi lên từ mặt nước, “lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu”. “Cồn cỏ” xuất hiện nhưng lại “lơ thơ” với “đìu hiu” tạo nên khung cảnh cô liêu, tịch mịch đầy tâm trạng. Làng xóm hiện ra nhưng chỉ với âm thanh xa vời “đâu tiếng làng xa”. “Chợ chiều” thường gắn với hình ảnh hiu hắt khi con người đã ra về hết, chỉ còn lại hàng quán với mái lá vắng tanh. Cảnh vật, làng xóm dường như càng làm cái tôi trữ tình cô đơn hơn, nổi bật lên khát khao trong tâm hồn của một con người mong muốn sẻ chia. Rồi nỗi buồn như lan toả hết không gian của bến bãi, mặt nước, bầu trời. “Nắng xuống” – “trời lên” hai hình ảnh vận động trái ngược làm cho không gian thêm chiều sâu. Cụm từ “sâu chót vót” chuyển đổi cảm giác khiến ta như rợn ngợp trước đất trời. Cảm xúc lướt dần để rồi đọng lại ở “bến cô liêu” như lột tả hết những cô đơn, hoang vắng, trống trải trong hồn người. Tiếp theo: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Những cánh bèo trôi dạt dường như khéo léo ẩn dụ cho thân phận nổi trôi của một kiếp người bế tắc. Những cánh bèo này không chỉ có một mà “hàng nối hàng”, cảm giác như miên man không dứt. Hai câu thơ sau càng cho ta thấy thêm sự vô vọng, “không một chuyến đò ngang”, “không cầu”, chẳng có một “niềm thân mật” nào để bám víu. Khoảnh khắc mà ánh sáng xanh của bờ bãi và nét vàng mờ nhạt xuất hiện là lúc cai tôi trữ tình chìm sâu trong nỗi buồn, những suy nghĩ mông lung. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” “Mây cao” và “núi bạc” xuất hiện gợi lên khung cảnh thiên nhiên tráng lệ nhưng vẫn mang đầy dáng vẻ cô đơn trong bóng chiều hiu hắt. Giữa trời đất bao la chỉ có một cánh chim nhỏ chao nghiêng. Tất cả như cô đơn, lẻ loi đến tội nghiệp và con người như chìm ngập giữa trời đất bao la. Cảm giác chênh chao của cán chim lẻ bóng lại xuất hiện để nổi bật lên trong nỗi sầu là tình cảm yêu quê hương đất nước đến da diết của cái tôi trữ tình. “Lòng quê dợn dợn vời con nước”, hai chữ “dợn dợn” thật đắt, nó thể hiện được cái dợn dợn trong tâm cảnh cũng như trong tâm hồn. Câu thơ cuối gợi nhớ tới một tứ thơ Đường: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Nhưng ở Huy Cận, ông không cần phải có “khói hoàng hôn” cũng vẫn “nhớ nhà” bởi nỗi nhớ này, nỗi buồn này dường như luôn thường trực trong tâm khảm. “Tràng Giang” bằng âm điệu trầm buồn cùng cảm xúc tinh tế đã làm nổi bật lên “cái tôi trữ tình” với một trái tim cô đơn nhưng luôn đau đau tình yêu với quê hương đất nước. Theo “Tràng Giang” ta không chỉ cảm thông với nỗi niềm của thi nhân mà còn quý trọng một tài hoa, một tâm hồn đáng trân trọng của Huy Cận.
Phân tích cái tôi trữ tình trongbài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận
1,338
Đề bài: Phân tích cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời Bài làm Như Hoài Thanh đã nói “Tiên sinh là người của hai thế kỉ”, Tản Đà là người đã đặt được dấu gạch nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại, là người “dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa”(Hoài Thanh). Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, ông sống khoáng đạt và đã đeo “túi thơ” đi khắp cuộc đời mình. Là một cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, ông để lại khá nhiều tác phẩm cho đời. Trong đó đáng kể là “Hầu Trời” được trích trong tập Còn chơi (1921). Bài thơ đã thể hiện rõ cái tôi cá nhân của Tản Đà thông qua sự việc lên thiên đình đọc thơ. Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc đến thi nhân là nhắc đến “xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có lẽ, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong “Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ. “Ngông” không phải chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm. Chất ngông thương được thể hiện bởi các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để “đóng dấu” hình ảnh của mình với thời gian. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách không thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông ấy trong “Hầu Trời” đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo. Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ ấy. “Đêm qua chẳng biết có hay không Chẳng phải thảng thốt không mơ mòng Thật hồn! Thật phách! Thật than thể Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”. Cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cảm hứng của nhà thơ. Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, có lẽ cái tôi độc dáo của Tản Đà là ở chỗ vào đề tự nhiên, hấp dẫn nhưng có duyên. Để thế gian thấy tài năng của nhà thơ đã khó vậy mà ngay đến Trời còn say mê, chư tiên yêu thích thì thật lạ lùng. Vậy mới thấy được cái ngông của nhà thơ biểu hiện mạnh mẽ qua bài Hầu Trời. Đã có dịp được lên Thiên đình, vì thế Tản Đà tranh thủ “quảng cáo” tài năng của bản thân: “Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè Trời nhấp giọng càng tốt hơi.” Tác giả đọc thơ rất tự tin, khoe tài của mình, đọc cao hứng và nhập thân vào tác phẩm. Qua đó bộc lộ cái tôi in đậm phong cách cái tôi cá nhân tự ý thức của chính ông. Sẵn tiện nhà thơ giới thiệu luôn những tác phẩm của mình: “Bẩm con không dám man cửa Trời Những áng văn con in cả rồi Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết Đài gương, Lên sáu văn vị đời Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch Đến quyển Lên tám nay là mười Nhờ Trời văn con còn bán được Chửa biết con in ra mấy mươi?” Nhà thơ có vẻ rất đắc ý bởi ông ý thức được cái tài của mình. Khẳng định bản ngã cái tôi phóng túng, ý thức tài năng giá trị của mình giữa cuộc đời. Trước Tản Đà các nhà nho tài tử đều hết thảy thị tài nhưng chữ tài mà họ nói tới nhiều khi mang một nội hàm khá rộng. Họ không dám nói đến cái hay, cái “tuyệt” của thơ mình, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời. Rõ ràng ý thức cá nhân ở nhà thơ đã phát triển rất cao độ. Chính vì vậy mà đến Trời cũng phải tán thưởng: “Văn dài hơi tốt ran cung mây! Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay. Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong một bài cùng vỗ tay.” ” Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hung mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!” Chính vì tình yêu văn chương, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Dường như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để thể hiện trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn chương là một nghề. Dù không biểu hiện trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều. Đặc biệt hơn dương như nhà thơ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theo đuổi nó: “Nhờ Trời văn con còn bán được” “Vốn liếng còn một bụng văn đó” Thật ngang tang khi thi sĩ muốn “gánh văn” lên Trời để bán. “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: -”Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”” Làm náo động thiên cung bằng những lời văn giàu thay lắm lối, nay nhà thơ còn muốn văn của ông được lan rộng cung đình để mọi người biết đến ông- một tài năng thực thụ của trần thế. Thế mới thấy được cái tôi mạnh mẽ đến nhường nào. Qua bài thơ “Hầu Trời” không dừng lại ở đó, Tản Đà còn vạch ra thực tế phũ phàng: tài năng không thống nhất với số phận. Ở cuộc đời nhà thơ thiếu tri âm, tri kỉ và bất hòa với cuộc đời: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.” Vì vậy ông khát khao lên Trời đọc thơ và tìm được người tri âm. Chỉ có Trời và chư tiên mới hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ ông. Và lời Trời khen hắn là sự thẩm định có sức nặng nhất, không thể bác bỏ, nghi ngờ. Đúng là lối tự khẳng định rất ngông ngạo của nhà thơ. Để Trời hiểu thơ, khen văn thơ tuyệt, Tản Đà liền đó “tâu trình” rõ ràng thân thế của mình, phù hợp hoàn toàn mạch chuyện: “Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về Địa Cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”. Khác người xưa, Tản Đà đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lý lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh. Qua đó ông thể hiện niềm yêu nước tha thiết, đầy tự hào về bản thân, ý thức cá nhân tự tôn dân tộc sâu sắc. Một cái tên- tên thật chứ không phải tự hay hiệu- mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Cũng qua câu thơ, tác giả ngầm giới thiệu bút hiệu của mình. Tản Đà là con người khoe tài, thị tài và rất ngông cho nên trước chư tiên không bao giờ kiềm chế mà luôn thể hiện hết tài hoa của mình. Từ đầu đến cuối nhà thơ đều tự tin về tài năng của bản thân và một lần nữa Tản Đà lại khẳng định rất “ngông”, của kẻ vốn đã “ngông” khi nhận mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Nhà thơ khẳng định tài năng và thân phận “khác thường của mình”. Sự khác thường đặc biệt này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là một người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả”việc thiên lương của nhân loại”, “Trời rằng không phải Trời đày, Trời định sai con một việc này, Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Một lần nữa cái ngông ấy lại được thổi vào trong ý thơ. Nhưng cái ngông ấy chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công, vì ông phải đi làm công việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người: “Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ Dám xin không phụ Trời trông mong” Nhà thơ ý thức về nhân cách, một nhân cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về danh lợi. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và danh lợi thời bấy giờ. Cuối cùng nhà thơ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân chẳng những đẹp mà còn ẩn chứa những ý niệm cao siêu về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh thế giới quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn đến cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, Tản Đà thực sự thăng hoa trong thế giới nghệ thuật, bộc lộ cảm xúc cái tự do cá nhân mới mẻ của riêng mình. Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác. Bài thơ “Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà. Nhưng không chỉ trên phương diện nội dung, những nét độc đáo và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật. Có lẽ “Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của cảm xúc cá nhân, cá thể của thơ cho phép nhà thơ thoát khỏi những ràng buộc quá khắt khe về hình thức để tự do vẫy vùng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo cá tính riêng của nhà thơ. Bên cạnh đó, “Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài khác nhau tạo nên cảm xúc tự do và nét mới trong thơ văn. Cách thể hiện của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy pham nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để thể hiện rõ cái tôi của ông. Nét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.
Phân tích cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời
2,254
Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Hướng dẫn Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai “Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Thân em như hạt mưa sa, Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. Thân em như con hạc đầu đình, Muốn bay không cất nổi mình mà bay.” Bài làm Ca dao – dân ca từ bấy lâu đã đi sâu vào văn hóa của người Việt, nó như một món ăn tinh thần không thể thiếu cảu người dân, đặc biệt là người dân lao động. Ca dao – dân ca được truyền từ đời này qua đời khác và nó được lưu giữ như một báu vật tinh thần không thể thiếu. Chính vì vậy mà những người dân lao động đã gửi gắm tiếng nói, tình cảm của mình vào ca dao với đầu đủ cung bậc cảm xúc, buồn, vui, tha thiết, nhớ nhung, giận hờn. Mỗi câu ca dao có thể giống nhau về nội dung hình thức, nhưng lại mang một vẻ đẹp riêng, với cảm xúc riêng. Nổi bật là những bài ca dao về thân phận của người phụ nữ. Chẳng vì thế mà một loạt câu ca dao về thân em được ra đời, để thể hiện số phận của những người phụ nữ khác nhau. Không ngẫu nhiên đâu, khi những ví von về người phụ nữ lại bắt đầu với từ “thân em”. Ta sẽ lần lượt phân tích từng câu ca dao để thấy cái hay, cái đẹp ẩn ý trong mỗi câu chữ. “Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Thân em như hạt mưa sa, Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. Thân em như con hạc đầu đình, Người phụ nữ xưa gắn với hình ảnh “tấm lụa đào” gợi cảm, vừa mềm mại dịu dàng như bản tính cố hữu của người phụ nữ, vừa tươi tắn sắc đào tươi như sức sống mãnh liệt của tâm hồn. “Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Hình ảnh ví von thật đẹp thật tròn trịa, vừa nhẹ nhàng vừa sâu lắng mà lại lột tả được vẻ đẹp của người phụ nữ. Đã là vải lụa thì ai trả thích, lại còn là tấm lụa đào. Đẹp về chất liệu và tươi sáng về màu sắc, nó gợi lên hình ảnh của người phụ nữ vừa đẹp vừa quyến rũ, lại rất quý giá.Thế nhưng tấm lụa cao quí ấy đã trở thành món hàng trao đổi – phất phơ giữa chợ. Không biết tấm lụa tuyệt đẹp này sẽ vào tay ai, một người giàu sang phú quý hiểu được giá trị của nó, hay một kẻ bần hàn coi nó cũng bình thường như những tấm vải khác. Thật khó để có thể trả lời? Câu hỏi tu từ “biết vào tay ai” như một lần nữa khẳng định sự lạc lõng của tấm lụa giữa chốn phồn hoa đông người. Đây cũng như hình ảnh của người phụ nữ ngày xưa, mỏng manh, phụ thuộc không biết đi đâu về đâu giữa dòng đời trong đục khó phân. Bởi thế, lời ca dao như một tiếng than, ngậm ngùi trong câu hỏi vọng lên biết vào tay ai? Dẫu phải rơi vào những nghịch cảnh như vậy, những lời ca về thân em vẫn toát lên một niềm kiêu hãnh về phẩm giá! Sự đối lập giữa hai dòng thơ phần nào cho chúng hiểu được nỗi lòng của người phụ nữ mỏng manh, yếu đuối lạc lõng giữa dòng người. “Thân em như hạt mưa sa, Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”. Hình ảnh hạt mưa xa gợi lên một sắc thái khác. Cô gái không còn đài các, kiêu sa nữa cô gái ở câu thơ này lại nhỏ bé, vô nghĩa. Ai có thể đếm được mỗi cơn mu có bao nhiêu hạt mưa. Mỗi hạt mưa đều giống nhau, đều màu trắng, đều ngọt ngào ai có thể phân biệt được mưa nào đẹp, mưa nào xấu. Thế nhưng câu thơ tiếp theo đã tash biệt ra cai khác của mỗi hạt mưa, đó là chỗ rơi của mỗi hạt mưa là khác nha. Hạt vào đài cac, hạt ra ruộng cày. Dù mưa ở đâu thì mưa cũng đem đến những hạt mưa ngọt ngào trong trẻo cho con người ta. Một hình ảnh so sánh thật đối lập, đài các nơi dành cho tầng lớp thượng lưu, ruộng cày nơi dành cho những người ở tầng lớp hạ lưu. Hạt mưa xa giống như thân phân của người phụ nữ ở trong cùng một thời đại, cùng một thân phận. Nhưng mỗi người lại có một số mệnh khác nhau, người may mắn lấy được người chồng tốt có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người không may mắn lấy được người chồng phụ bạc sống khổ suốt đời. Lời so sánh như một bức tranh sinh động về mỗi số phận của mỗi người phụ nữ khác nhau. “Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân” Nếu vế trước của câu ca dao là hình ảnh trong trẻo, mát lạnh của giếng giữa đàng, thì ở vế sau lại là một hình ảnh so sánh xô bồ, tấp nập. Giếng giữa đàng là giếng không của riêng ai, có người qua kẻ lại, mỗi người sử dụng nước với mục đích khác nhau. Người khôn thì rửa mặt, người phàm rửa chân, có người biết giá trị thì nâng niu, cẩn thận, người không biết giá trị thì phũ phàng, không biết giá trị. Qua đây ta có thể thấy được giá trị của người phụ nữ xưa, họ chỉ chờ đợi vào duyên số, họ không được tự làm chủ cuộc đời mình mà phải phụ thuộc trông chờ vào người khác. Và ở câu ca dao tiếp theo hình ảnh người phụ nữ còn tủi hờn hơn: “Thân em như con hạc đầu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay” Thật trớ trêu, thật đáng thương có gì khổ bằng sống cả cuộc đời không được làm những điều mà mình muốn. Dẫu có muốn bay cúng không cất nổi mình mà bay. Cả đời chấp nhận sống chung với sự cay đắng, khổ cực, trong cái vòng luẩn quẩn đã được sắp đặt trước. Câu ca dao chứa đựng niềm khao khát tự do cháy bỏng và một nỗi bất bình sâu sắc.Trong một xã hội phong kiến xưa, quan niệm trong nam khinh nữ đã biến cuộc đời người phụ nữ thành chuỗi bi kịch kéo dài. Biết than cùng ai, biết ngỏ cùng ai? Trời thì cao mà đất thì dày. Thôi thì đành giãi bày qua những câu ca vậy! Nguồn: Bài văn hay
Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
1,179
Phân tích câu ca dao “Anh hùng là anh hùng rơm. Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng”- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích câu ca dao “Anh hùng là anh hùng rơm. Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng”- Văn lớp 10 Bài làm Ca dao tục ngữ của dân tộc ta thường phản ánh những tâm tư, mong ước, nguyện vọng của người lao động xưa. Nó chính là đời sống tâm hồn của người nông dân, khi gửi gắm tâm trạng nỗi niềm của mình vào trong đó. Ca dao thường được viết theo lối thơ lục bát, vần điệu khiến cho chúng ta rất dễ đọc, dễ thuộc và dễ nhớ. Bài ca dao “Anh hùng là anh hùng rơm. Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng” thể hiện tiếng cười châm biếm đả kích với những người có tài khoác lác, thường thích thể hiện cái tôi của mình, tỏ vẻ anh hùng. Có những người trong xã hội thường dương oai múa võ, thể hiện ta đây có sức mạnh, anh hùng. Nhưng thực chất rất nhát gan, gan thỏ đế chỉ cần một điều gì nguy hiểm là cúp đuôi chạy mất, không dám quay đầu nhìn lại phía sau. Anh hùng là người như thế nào? Anh hùng là người tài giỏi, có ý chí kiên cường, có sức mạnh, hiên ngang, đầu đội trời chân đạp đất, gian nan không sợ hiểm nguy không sờn lòng. Người anh hùng trong nhân gian vô cùng hiếm có, hiếm gặp cho nên được xã hội và mọi người vô cùng trân trọng. Rơm thường được dùng làm thức ăn cho trâu bò, lợp mái nhà thời xưa, trộn bùn đắp thành thường, kè bờ đê, ngăn chặn triều cường, lũ lụt…. Người xưa thật sâu sắc khi mà dùng rơm một thứ yếu mềm, dễ bắt lửa để so sánh với người anh hùng. Một người anh hùng rơm thì sẽ chẳng có gì đáng sợ, chỉ được cái ra vẻ bên ngoài thôi chứ thực chất không hề kiên cường thật sự. Rơm cũng thường được dùng để làm thành bù nhìn, giúp người nông dân xua đuổi những con chim, con vật gây hại cho cây lúa, hoa màu ở trên đồng. Chính vì vậy, mà khi so sánh người anh hùng với rơm thì người xưa đã thật sự sâu sắc để thể hiện được ý kiến của mình. Câu ca dao “Anh hùng là anh hùng rơm. Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng” thể hiện sự bỡn cợt của người xưa đối với những người con trai thường có tài nó dóc, khoác lác, chém gió… Những người này thường hay thể hiện ta đây, huênh hoang, nhưng thực chất thì nhát như thỏ đế, động tí là sợ, chạy cúp đuôi. Chỉ như con bù nhìn rơm có thể xác, trông vào thì to lớn nhưng không làm được gì, chỉ cần một mồi lửa là tan thành tro bụi. Bài ca dao muốn đả kích châm biếm những anh hùng trượng nghĩa luôn tỏ vẻ trượng phu nhưng thực chất chẳng làm được gì cho ra hồn, chỉ được cái mồm hay khoác lác. Bài ca dao phê phá những con người chỉ tỏ vẻ bên ngoài mà thôi nhưng khi gặp khó khăn thử thách thì tỏ rõ bản chất hèn nhát, yếu đuối, không đáng tin cậy Việc họ tỏ vẻ anh hùng thực chất chỉ là hư danh, không hề có thực chỉ là vỏ bọc che đậy mà thôi, chứ bên trong mục ruỗng thối nát. Bài ca dao phê phán những con người thích “chém gió” sống không thực chất với chính mình, luôn ảo tưởng về sức mạnh.
Phân tích câu ca dao “Anh hùng là anh hùng rơm. Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng”- Văn lớp 10
618
Phân tích câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn Bài làm Với cuộc sống hằng ngày, chúng ta gặp rất nhiều tình huống, con người khác nhau đòi hỏi phải có những đánh giá liên tưởng đúng đắn để đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất. Tuy nhiên có nhiều việc không chỉ nhìn bề ngoài mà dánh giá bản chất bên trong được và ngược lại cũng thế. Chính vì những trường hợp như vậy mà chúng ta nhớ đến câu tục ngữ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Đây có thể coi là kinh nghiệm sống quý báu của ông cha ta trong việc đánh giá, chọn lựa một vấn đề gì đó mà chúng ta cần phải suy ngẫm học hỏi. Sự xuất hiện của hai hình ảnh “gỗ” và “nước sơn” đáng cho chúng ta phải có nhiều suy nghĩ. Gỗ là một loại vật liệu để làm nên các đồ dùng như tủ, bàn, ghế… còn nước sơn là chất liệu quét bên ngoài của ngỗ làm những đồ vật đó trở nên đẹp, thêm bền hơn. Nghĩa đen của câu tục ngữ là vậy nhưng nghĩa bóng của nó lại bao hàm ý nghĩa rộng hơn nhiều. Nó giống như lời khuyên về cách nhìn nhận những giá trị đích thực và nội dung tốt đẹp bên trong của một con người. Bởi vậy không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá bất kỳ ai, hình thức và sự hào nhoáng bên ngoài có thể đánh lừa bạn bất kỳ lúc nào. Trên thực tế cuộc sống nhiều trường hợp chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá sự việc và con người, những lúc như vậy thường rất ít khi nhận định chính xác, vì hình thức bên ngoài có thể làm tăng thêm giá trị cho những lỗ hổng bên trong. Đối với con người nếu có học thức, đạo đức mà bề ngoài xinh đẹp lịch thiệp thì càng làm cho chúng ta có cái nhìn thiện cảm hơn so với những người dù có đạo đức nhưng ăn nói thô lỗ cục cằn. Qua những thực tế cuộc sống chúng ta nên hiểu rằng hình thức và nội dung là hai khía cạnh luôn đi liền với nhau, bổ sung cho nhau cùng làm cho nên cái đẹp, cái bền lâu. Chính vì thế muốn đánh giá một con người hoặc sự việc nào đó cho thật sự đúng đắn thì chúng ta có thể áp dụng phương châm đúng đắn của câu tục ngữ: Tốt hỗ hơn tốt nước sơn để đánh giá. Qua câu tục ngữ mỗi chúng ta nên học cách coi trọng vẻ đẹp bên trong, cái cốt lõi làm nên giá trị của con người và sự vật như vậy sẽ đem đến hiệu quả thành công cũng như coi trọng con người hơn.
Phân tích câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
474
Đề bài: Phân tích câu tục ngữ "Lá lành đùm lá rách" Bài làm Tình cảm tương thân tương ái là một đặc điểm nổi bật trong quan niệm sống của người xưa. Bên cạnh những câu tục ngữ ca dao thông dụng như: Thương người như thể thương thân, Nhiễu điều phủ lấy giá gương… Nhân dân ta vẫn thường nhắc nhở nhau “lá lành đùm lá rách”. Đó là những bài học đạo lý làm người của những người cùng trong một nước, phải biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” gợi một hình ảnh quen thuộc, bình thường trong cuộc sống: chiếc bánh trưng, bánh ú ta thường thấy lá rách thì gói ở bên trong, còn bao bọc bên ngoài những lá lành lặn. Từ thực tế như vậy ta liên tưởng đến con người. Lá lành là tượng trưng cho những người có cuộc sống sung túc đầy đủ về vật chất. Còn lá rách là những cảnh đời nghèo khổ bất hạnh rủi ro. Trong cuộc sống họ không gặp nhiều may mắn. Nếu như những cuộc đời này, những con người này không được xã hội giúp đỡ thì có lẽ họ không bao giờ cải thiện được hoàn cảnh sống. Do vậy thương người như thể thương thân là lẽ tất yếu. Những người có cuộc sống hạnh phúc ấm no, đầy đủ về vật chất cần nhường cơm sẻ áo cho những người có hoàn cảnh đặc biệt. Đây chính là truyền thống tốt đẹp mà cha ông để lại. Trong cuộc sống không có ai sống lẻ loi một mình, họ phải có một quan hệ từ gia đình, làng xóm đến xã hội. Tuy lành hay rách cũng là lá, tuy “giàu sang” hay “nghèo hèn” cũng là con người. Những chiếc lá kia vô tri vô giác mà chúng còn biết che chở cho nhau huống chi con người. Do đó việc đùm bọc thương yêu nhau phải là một thái độ sống, phương châm sống của người. Sống với nhau phải biết cảm thông giúp đỡ lẫn nhau thì mới tạo được tình đoàn kết tương thân tương ái. Đây là cơ sở, là nền tảng để xây đựng một xã hội tốt đẹp. Giúp đỡ mọi người cũng chính là giúp đỡ mình mình vì mọi người, mọi người vì mình. Chẳng thế mà trong chiến tranh, trong thiên tai dân tộc ta đã làm tốt việc một miếng khi đói bằng một gói khi no. Thế nhưng giúp đỡ đùm bọc người khác phải dựa trên tình cảm trong sáng, tốt đẹp, không phải là sự bố thí coi khinh. Bên cạnh đó còn một số kẻ sống thiếu lòng nhân ái, quay lưng lại với cảnh màn trời chiếu đất của đồng bào, đồng chí. Những hạng người này đáng lên án. Câu tục ngữ nêu bật một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đó chính là lòng nhân ái bao la, con người chỉ sống tốt với nhau bằng lòng yêu thương mà thôi. Ngày nay câu tục ngữ không bó hẹp trong gia đình, làng xã, nó chính là lòng nhân đạo giữa người với người trong thế giới này. Câu tục ngữ nhăm nhắc nhở mọi người hãy sống vì lòng nhân ái, vì người khác để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Phân tích câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”
567
Đề bài: Phân tích câu tục ngữ "Đói cho sạch rách cho thơm" Bài làm Với lối nói ngắn gọn, giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hàm súc về nội dung. Tục ngữ luôn chú ý tôn vinh giá trị con người, đưa ra nhận xét, lời khuyên về những phẩm chất và lối sống mà con người cần phải có. Nhân cách, phẩm giá là thước đo giá trị con người. Nếu không may gặp hoàn cảnh khó khăn nghèo túng mà ta vẫn giữ được lối sống trong sạch, thanh cao, thì thật là quý giá vô cùng. Từ ngàn đời xưa việc giữ gìn nhân cách phẩm giá con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào đã được ông cha ta nhắc nhở qua câu tục ngữ: Đói cho sạch, rách cho thơm Đọc câu tục ngữ ta gặp ngay hai cảnh tượng đói và rách. Nhưng đối lập với hai cảnh tượng ấy lại là tính chất sạch và thơm. Như vậy ta cần hiểu rõ các chi tiết ấy để thấm nhuần lời dạy của ông cha ta. Đói nghĩa là thiếu thốn đủ thứ, không có cuộc sống đầy đủ. Và đã nghèo đói, thiếu thốn thì khó mà lành lặn cho được. Nghĩa là phải rách. Câu tục ngữ đã đặt con người ta vào tình huống thiếu thốn đến cơ cực. Vậy mà khi nghèo đói, thiếu thốn thì ta vẫn phải giữ cho sạch sẽ, tức là quần áo dù không lành lặn, có thế rách, vá víu nhưng phải sạch sẽ không có mùi hôi bẩn thỉu. Đã có biết bao người nghèo được như thế? Trên thực tế xã hội nếu hiểu theo nghĩa thực của câu tục ngữ thì quả là hiếm. Nhưng ở đây ông cha ta đã mượn những tính chất sạch, thơm để nhằm giáo dục con người. Trong cuộc sống nhiều khi người ta vin vào cảnh túng nghèo thiếu thốn để đổ lỗi cho việc ăn mặc rách nát hoặc bẩn thỉu của mình. Đó chỉ là cái hình thức bên ngoài nhưng còn nhân cách và phẩm giá con người thì sao? đó mới chính là cái cốt lõi mà câu tục ngữ muốn đề cập tới. Sạch và thơm không phải tự nhiên mà có được, điều này phải do chính con người tạo ra mới có. Nói một cách đúng hơn là do suy nghĩ, nhận thức của con người. Ta có thể hiểu rằng: dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng phải giữ cho được sự trong sạch, thanh cao, đẹp đẽ của tâm hồn, nghĩa là dù trong mọi tình huống no hay đói, rách rưới hay sung túc, con người ta đều phải biết giữ gìn nhân cách, lòng tự trọng của mình, đừng làm những điều xấu xa, bỉ ổi, bậy bạ để tổn thương đến danh dự cá nhân, danh dự gia đình. Bản thân mỗi người phải biết tự kiềm chế, phải sáng suốt và hết sức bình tĩnh trước mọi tình huống, mọi vấn đề, đừng vì nghèo túng hay vì vụ lợi cá nhân hoặc bất cứ một lý do nào khác mà bán rẻ lương tâm, danh dự của mình. Trong thực tế văn học đã cho chúng ta thấy điều đó. Nhân vật Lão Hạc trong truyện Lão Hạc (Nam Cao) là một hình tượng tuyệt đẹp và rất đáng trân trọng. Trước cái nghèo túng trầm trọng lão thà chết trong sạch chứ không thể để cho chính cái nghèo kia biến lão thành kẻ trộm cắp. Cái chết xót xa, đau đớn của Lão Hạc đã gây xúc động trong lòng người đọc bởi Lão Hạc là người nông dân nghèo nhưng có được tấm lòng và nhân cách đáng quý, thanh cao, đẹp đẽ, đáng khâm phục. Hay nhân vật Chị Dậu trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), vì quá nghèo mà phải bán con, bán chó để lấy tiền nộp sưu cho chồng. Vậy mà chị thẳng thắn ném thẳng nắm bạc vào mặt tên tri phủ Tư Ân để giữ gìn vào bảo vệ lòng chung thuỷ đối với chồng. Tất cả những tấm gương ấy đều là những nhân cách cao đẹp. Đặc biệt trong ca dao thì hình tượng con cò trong bài ca dao con cò mà đi ăn đêm là hình ảnh tiêu biểu cho người dân lao động bình thường, nghèo khó cơ cực, túng thiếu đói rách nhưng biết giữ gìn tiếng thơm cho con cháu đời sau. Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con Lời răn dạy trên của ông cha ta từ ngàn đời xưa cứ vang vọng mãi cho đến đời nay và đến cả mai sau. Lời dạy ấy quả là một bài học sâu sắc, có giá trị giáo dục về nhân cách đạo đức cho con người. Thấm nhuần giá trị câu tục ngữ trên, mỗi người chúng ta cố gắng thực hiện tốt lời dạy trên. Trong thực trạng xã hội ngày nay, đứng trước nguy cơ chạy theo đồng tiền, thì phẩm giá con người, nhân cách con người lại càng là một vấn đề hết sức quan trọng. Mỗi chúng ta quyết tâm giữ được sạch, thơm trong hoàn cảnh xã hội hiện nay quả là điều đáng quý.
Phân tích câu tục ngữ “Đói cho sạch rách cho thơm”
889
Phân tích cơn gió lạnh nhưng ấm áp tình người trong truyện gió lạnh đầu mùa Hướng dẫn Thạch Lam (1910 – 1942) là một trong những nhà văn nổi tiếng trước cách mạng tháng Tám. Lời văn của Thạch Lam nhẹ nhàng, tinh tế. Truyện ngắn của Thạch Lam phần lớn nói về những con người bình dị trong cuộc đời: người mẹ, người chị, những đứa em, những người bạn tốt… Có truyện ngắn Thạch Lam như một bài thơ trong sáng vẻ tình người: ‘nhà mẹ Lê’, ‘Dưới bóng hoàng lan’, ‘Cô hàng xén’, ‘Gió lạnh đầu mùa’, v.v… Truyện ‘Gió lạnh đầu mùa’ là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Thạch Lam. Tác giả đã giới thiệu với chúng ta một thế giới tuổi thơ vui chơi, chan hòa yêu thương trong tình làng nghĩa xóm vô cùng thân thiết. Sơn và chị Lan là hai hình ảnh đẹp nhất trong bài thơ – văn xuôi rất trong sáng về tình người, đã để „ lại ấn tượng sâu sắc trong lòng chúng ta. Câu chuyện bắt đầu từ sự chuyển đổi thời tiết. Trời đang ấm, chỉ qua một đêm mưa rào, bông gió rét thổi về. Ải cũng tưởng như đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn ‘tung chăn tỉnh dậy’. Em nhìn ra ngoài sân, nghe ‘gió vi vu…’, ám thanh xào xạc của những chiếc lá khô. Những khóm lan ‘lá rung động và hình như sắt lại vì rét’. Rồi Sơn kéo chăn đắp cho em. Một cử chỉ nhỏ ấy cũng đủ nói lên Sơn có một tâm tình đẹp, rất yêu em nhỏ. Khi nghe mẹ và vú già nhắc đến em Duyên, đứa em gái bé bỏng, tội nghiệp đã chết từ năm lên 4 tuổi, rồi nhìn thấy cái áo bông cũ của em để lại, ‘Sơn nhớ em, cảm động và thương em quá!’. Sơn xúc động theo dõi mọi biến đổi trên gương mặt mẹ. Người mẹ hiền nhìn chiếc áo cũ – kỉ vật thiêng liêng của đứa con thơ đã sớm ‘ra đi’, người vú già nhắc lại chuyện cũ đau lòng mơ hồ, xa xôi, ‘Sơn thấy mẹ hơi rơm rớm nước mắt’… Đó là những nét vẽ tinh tế, trong sáng, cảm động về tình người mà ta cảm nhận được trong phần Gió lạnh thổi về sớm. Sơn được mặc áo ấm: áo dạ chi đỏ, áo vệ sinh, ngoài mặc cái áo vải thâm dài. Trong lúc đó nhiều bạn của chị em Sơn như thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc, cái Hiên,… ‘vẫn những bộ quần áo nâu bạc, đã rách vá nhiều chỗ’ co ro trước làn gió lạnh. Sơn và chị Lan không vì thế mà cách bức,khinh khỉnh với các bạn nhỏ nhà nghèo như mấy đứa em họ. Hai chị em đã sống và vui chơi chan hòa yêu thương với các bạn. Sơn cũng ngây thơ, hồn nhiên khoe áo đẹp, như các em nhỏ khác. Em ‘lật vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem’,… Lũ trẻ xúm lại ngắm nghía, trầm trồ! Trong truyện ngắn này, với tấm lòng nhân hậu, ông đã ghi lại một tình tiết rất cảm động. Khi nhìn thấy cái Hiên chỉ mặc một ‘manh áo rách tả tơi hở cả lưng và tay’, Sơn chợt nhớ ra cảnh nhà bạn nghèo quá, mẹ phải mò cua bắt ốc ‘thì lấy đâu ra tiền mà mua sắm áo cho con nữa’. Sơn và chị Lan động lòng thương. Em nói thầm với chị: ‘Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ’. Và khi chị Lan chạy về nhà lấy áo, với lòng hồn nhiên của tuổi thơ, em thấy ‘ấm áp vui vui’. Đó là một chi tiết đẹp, chan chứa tình người. Cái áo bông cũ có đáng giá là bao! Nhưng đối với hoàn cảnh bé Hiên, con nhà nghèo giữa ngày đông tháng giá thì thật vô cùng quý báu. Đằng sau chiếc áo bông cũ là cả một tấm lòng vàng của chị em Sơn. Việc cho bạn một tấm áo rét là một việc làm đầy tình nghĩa. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tương trợ ‘lá lành đùm lá rách’, giúp đỡ bạn bè trong lúc khó khăn đói rét là một đức tính quý báu của con người. Tình yêu thương đồng loại làm cho con người trở nên cao quý. Đọc truyện ‘Gió lạnh đầu mùa’, hình ảnh một bà mẹ phúc hậu, hai đứa con ngoan như những đốm sáng lung linh, khơi gợi một tình đời ấm áp trong gió lạnh. Sơn là một đứa con ngoan, một người em dễ thương, một người anh đôn hậu, một người bạn tốt… hiện lên thấp thoáng trong làn gió lạnh đầu mùa. Sơn là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của tuổi thơ quê ta. ‘Gió lạnh đầu mùa’cho thấy một ngòi bút tinh tế trong biểu hiện cảnh, sâu sắc trong diễn tả tâm trạng. Cốt truyện đơn giản mà óng ánh vẻ đẹp nhân văn.’Gió lạnh đầu mùa’ là một bài thơ – văn xuôi rất đẹp nói về tình nhân ái. Văn chương đích thực nhân đạo hóa con người, làm cho người gần người hơn, góp phần làm cho tâm hồn ta trong sạch hơn, phong phú hơn… như Thạch Lam từng mong muốn.
Phân tích cơn gió lạnh nhưng ấm áp tình người trong truyện Gió lạnh đầu mùa
913
Phân tích Cảm hoài của Đặng Dung Hướng dẫn Phân tích Cảm hoài của Đặng Dung Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã trải qua biết bao thăng trầm. Song song với lịch sử phát triển của dân tộc là lịch sử của một nền văn học truyền thống, ở mỗi giai đoạn mỗi thời kì lịch sử khác nhau lại có những thế hệ nhà văn nhà thơ khác nhau góp tên mình vào bản đồ văn học nước nhà. Trong thời kì văn học Trung Đại Việt Nam ta không thể không nhắc tới Đặng Dung một tác giả trong thời kì hào khí Đông A, ông đã viết lên một tác phẩm mà đến tận bây giờ vẫn được người đời lưu truyền đó là tác phẩm “ Cảm hoài”. Cảm hoài là một bài thơ tự sự bằng chữ Hán, được sáng tác trong hoàn cảnh khi ông đem quân giúp vua Trùng Quang Đế. Cảm hoài thể hiện ý chí tinh thần sắt đá của chân dung người anh hung tuy không gặp thời, gặp thế nhưng vẫn nuôi trong mình ý chí lớn. Đặng Dung không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn có tài văn chương xuất trúng. Nhắc đến thơ của ông, dường dường như hiện lên cả chân dung con người ông được lột tả một cách sâu sắc qua từng câu thơ. Mở đầu bài thơ với hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện dc khát vọng của tác giả. Khát vọng được cống hiến tài năng, sức lực cho dân cho nước. Nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bất lực của chính tác giả, bất lực trước tuổi tác đã cao mà trí lớn chưa thành. “ Thế sự du du nại lão hà Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.” Luôn ý thức về trách nhiệm của bản thân mình trước đất nước và dân tộc thì tác gải lại càng thất vọng về hạn định về mặt tuổi tác, nhưng cũng không vì thế không vì tuổi tác mà quên đi khát khao trong chính bản thân tác giả. Theo tác giả việc đời dù có mênh mông bao nhiêu nhưng còn cống hiến được thì cần dốc hết sức để hoàn thành “ Thế sự du du nại lão hà”. Trong hai câu thơ đầu tiên này ta có thể thấy sự tài tình của tác giả khi đã đưa vào hai câu thơ trên thủ pháp tương phản, để làm đối lập những hình ảnh sự việc được nói đến cho thấy sự đối lập theo con mắt của tác giả. Trong câu thơ đầu tiên là sự đối lập giữa việc đời dằng dặc đối với hiện thực ta đã già rồi, ở câu thơ thứ hai là sự đối lập giữa trời đất mênh mông và cuộc rượu hát ca. Qua những hình ảnh đối lập này ta có thể thấy giới hạn của tự nhiên, sự mênh mông của trời đất “ vô cùng thiên tận” và “thế sự” là không bao giờ kết thúc chỉ có đời người và cuộc vui thì rồi cũng sẽ đến lúc tàn. Đó là sự đối lập giữa cái vô cùng của cuộc đời với cái hữu hạn của đời người. Cả hai câu thơ như lắng lại chút xót xa trong lòng người đọc như cũng đang xót xa cho chính mình. Từ đó ta có thể thấy được tâm trạng buồn bã và đau đớn của tác về nhân thế. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.” Biết chăng có mấy anh hung thời xưa gặp thời gặp thế? Nói đến thời thế khi gặp thời gặp thế thì kể cả những người bình thường cũng làm lên cơ nghiệp lớn. Còn bậc đấng anh hùng, nếu không gặp thời gặp thế thì cũng chẳng khác kẻ phàm nhân. Ở đây tác giả đã mượn chuyện Phàn Khoái bán thịt, Hàn Tín câu cá sau giúp hán Cao Tổ làm nên nghiệp lớn. Ở đây tác giả không muốn chê họ là những kẻ tầm thường, bất tài mà chỉ chủ yếu để nhấn mạnh rằng người anh hùng mà không gặp thời vận thì cũng chỉ biết ôm hận người bình thương nhưng gặp thời vận lại có thể làm nên nghiệp lớn. Tuy là một đấng anh hùng nhưng ở chính hai câu thơ này tác giả lại tự chế giễu mỉa mai chính mình đã hết vận số dù có mong mỏi cũng không thể làm được gì để có thể cống hiến cho dân cho nước. Đi từ những hạn định được chính ông xác định về mặt nhân thế, tác giả chuyển sang nhấn mạnh về tầm quan trong của thời thế trong việc giúp dân giúp nước. Ở hai câu thơ tiếp theo tác giả lại nói lên khát vọng lớn trong suốt cuộc đời minh. “ Trí chúa hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.” Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.” Đến hai câu thơ cuối bài nhà thơ lại trở về với nỗi trân trở, buồn bã của bản thân,đó là sự mâu thuẫn giữa khát vọng được dâng hiến với giới hạn của đời người. Hai câu thơ thể hiện tráng trí của nhà thơ đó là hình ảnh của “ đầu tiên bạch” và “ Kỉ độ Long Tuyền”. Đây đều là những hình ảnh mang tính ước lệ tương trưng. Câu thơ đầu tiên ý muốn nói đến khát khao dân hiến còn thể hiện ở hành động quyết tâm “ Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”, tức là bao phen đội trăng để mài gươm báu Long Tuyền. Hai câu thơ cuối vừa khắc họa được tâm trạng đau buồn của một kẻ lỡ vận ngậm ngùi nhìn cuộc đời trôi đi bao nhiêu hoài bão vẫn còn dang dở. Tuy nhiên điều làm cho bài thơ không mang tính bi quan là sự xuất hiện của hình ảnh bao phen mài gươm dưới nguyệt. Hình anh này tô đậm khí chất của đấng anh hùng hay cũng chính là tác giả. Bài thơ là chuỗi dòng cảm xúc bộc lộ nỗi niềm của một con người nhập thế, hết lòng với dân với nước. Ông không chỉ nguyện đem hết tài trí sức lực của mình cho dân cho nước, cho sự nghiệp lớn mà còn thể hiện khát vọng cho nhân dân có được một cuộc sống thanh bình không có sự đau thương. Bài thơ mang âm hưởng bi tráng, triết lí sâu sắc, uất hận ngút trời, chí lớn không nguôi cùng với tấm lòng cao cả. Bài thơ không chỉ là bức chân dung về con người khí phách của tác giả mà còn thể hiện sự hào hùng của hào khí Đông A.
Phân tích Cảm hoài của Đặng Dung
1,145
Phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng Hướng dẫn Phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng Quang Dũng là một trong những nhà thơ xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong thơ hiện đại. Quang dũng còn luôn nổi tiếng với hồn thơ lãng mạn, bay bổng tài hoa đậm chất bi tráng và Tây Tiến là một trong những bài thơ tiêu biểu như thế. Trước tiên, cảm hứng lãng mạn Tây Tiến được nuôi dưỡng bằng “nỗi nhớ” tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng thật chơi vơi như sự diễn tả của Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” Nối nhớ được sống dậy trong cảm hứng lãng mạn của tác giả, nỗi nhớ ấy rất khó để định hình, gọi tên. Cũng từ nỗi nhớ ấy mà cả một cuộc sống gian khổ chiến đấu với chiến trừng, người lính giống như đang đắm chìm trong một thế giới phi thường có gì bí ẩn nhưng cũng thật hào hùng, tha thiết và gần gũi xiết bao. Chiến trường trong bài thơ gian khổ, khắc nghiệt nhưng đồng thời cũng là thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ và ấm áp vô cùng. Trên cái nền của thiên nhiên ấy lại nổi bật lên đoàn quân Tây Tiến với dáng vẻ khí phách anh hùng và hào hoa. Hình ảnh về người lính thật sự rất kì dị và khác thường “da xanh màu lá”, “đầu trụi tóc” do thiếu thốn, bệnh tật. NHững hình ảnh rất thực đó vừa mang ý nghĩa trượng trưng lại rất có khí phách: Quân xanh màu lá giữ oai hùm” Hoặc “cái chết” cũng vậy, những cái chết hàng loạt hay những cái chết đau thương cũng đều thật hào hùng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Có thể thấy rằng, nét độc đáo trong thơ của Quang dũng miêu tả hiện thực đến dữ dội và lãng mạn đến mộng mơ. Điều này thể hiện rất rõ khi miêu tả về thiên nhiên Tây Bắc. Những Câu thơ hầu hết là vần bằng được nằm xen kẽ cùng với những xâu chắc khỏe tạo nên sự đối lập trong âm hưởng: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Nói về cái hiểm trở, tác giả đã dùng những hình ảnh thật độc đáo: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Tác giả dùng“súng ngửi trời” thay cho “súng chạm trời”. Đây chính là thủ pháp cường điệu hóa – là đặc trưng của bút pháp lãng mạn, ngoài ra, còn thể hiện được chất hóm hỉnh nghịch ngợm của người lính. Hơn thế nữa, khi miêu tả về độ cao tác giả lại dùng từ để chỉ độ sâu “heo hút cồn mây súng ngửi trời” và có những câu thơ như bẻ gãy làm đôi: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Bút pháp lãng mạn cùa bài thơ không chỉ được thể hiện ở việc miêu tả thiên nhiên mà còn được thể hiện rõ nhất trong việc miêu tả về phong thái sống của người chiến sĩ Tây Tiến. Đọc hai câu thơ: Quân xanh màu lá giữ oai hùm” Qua đây thấy rõ được sự gian lan khốc liệt.Quang Dũng không hề che dấu đi sự khốc liệt gian khổ trong chiến trận, chỉ có điều ông nhìn họ dưới một cái nhìn không ốm yếu mà lại hết sức phi thường. Vì thế dáng vẻ người lính mang phong thái rất riêng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Không những thế, tác giả còn khắc họa cả thế giới tâm hồn bên trong con người họ: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Những người lính Tây tiến gân guốc, rắn rỏi lại là những chàng trai rất đỗi hào hoa phong nhã đầy thơ mộng. “Mộng” và “mơ” của người linh được gửi về hai phương trời: biên cương – nơi còn đầy bóng giặc và Hà Nội – quê hương yêu dấu nơi có những bóng dáng thân yêu. Đã hơn một lần, tác giả nói về cái chết: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Người ta tránh nói về cái chết nhưng ngược lại Quang Dũng lại không như thế, ông cho rằng chiến thắng nào rồi cũng phải trả giá bằng máu và nước mắt. Nét đặc sắc của Tây Tiến đó là nói tới chiến tranh mà không có một dòng thơ nào nói về bom đạn cùng tiếng súng, mọi thứ đều xuất phát từ sự lạc quan, tinh thần anh dũng. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
814
Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến- văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến- văn lớp 12 Bài làm Bài thơ Tây Tiến là bài thơ hay thể hiện tinh thần người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hình ảnh người lính vừa mang tính chân thật, mộc mạc, vừa mang tính chất lãng mạn trữ tình, bi tráng. Quang Dũng là một nhà thơ tài hoa với cái tôi trữ tình, bay bổng, lãng mạn. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một họa sĩ, nhạc sĩ, một nhà biên kịch nên trong thơ của ông đều hội tụ đầy đủ các yếu tố vừa có chất nhạc, chất họa, khiến cho bài thơ trầm bổng, sâu sắc làm say đắm lòng yêu. Trong bài thơ Tây Tiến cảm hứng lãng mạn và trữ tình bi tráng được tác giả thể hiện vô cùng sâu sắc, với những lời thơ nhẹ nhàng, trầm bổng nhưng không kém phần hào hùng. Hình ảnh người lính giống như một tượng đài bi tráng đậm chất trữ tình lãng mạn. Bài thơ phát huy nghệ thuật đối lập lấy cái thiên nhiên khắc nghiệt để làm nổi bật cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho con người và thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt mĩ. Cảm hứng xuyên suốt bài thơ đó chính là cảm hứng lãng mạn thể hiện tâm hồn thăng hoa, bay bổng của người lính trong những cuộc hành quân gian khổ nhưng không bao giờ nao núng, và hình tượng bi tráng, thể hiện hình ảnh người lính kiên cường bất khuất trước gian nguy, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Trong những câu thơ này thể hiện tiếng lòng, nỗi nhớ mênh mông, chơi vơi vô tận của tác giả với mảnh đất gắn bó thân thuộc trong những ngày kháng chiến cứu nước. Một nỗi nhớ chơi vơi khiến cho câu thơ trở nên mênh mang, lắng đọng nhiều cảm xúc khó diễn tả thành lời. Thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc hiện lên vừa hoang sơ, vừa hùng vĩ thể hiện qua những câu thơ vô cùng mộc mạc những lãng mạn. Thiên nhiên vào con người dường như hòa vào làm một làm cho nỗi nhớ của tác giả càng thêm da diết. Một nỗi nhớ chẳng thể nói thành lời gọi thành tên. Từ bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đó tác giả Quang Dũng đã khắc họa lên chân dung người lính bộ đội cụ Hồ vừa lãng mạn, vừa bi tráng: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Với vài nét vẽ giản dị tác giả Quang Dũng đã vẽ lên cho người đọc một bức tranh thiên nhiên nhiên nhiều hiểm nguy, gian khổ, núi non trùng đẹp, trùng trùng, lớp lớp khiến cho cuộc hành quân của người lính không dễ dàng gì mà vượt qua rất nhiều thử thách. Tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “lên xuống” thể hiện một nghệ thuật đối lập làm tăng lên sự hoang vu, hiểm trở của những cánh rừng Tây Bắc với sự lãng mạn, trữ tình trong tâm hồn của mỗi người lính bộ đội cụ Hồ. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người Điệp từ chiều chiều, đêm đêm thể hiện sự luân chuyển của thời gian lặp đi lặp lại nhiều lần giữa núi rừng hùng vĩ, hiểm trở người lính gặp nhiều hiểm nguy rình rập. Trong những cánh rừng già nguyên thủy có rất nhiều những loài động vật hoang dã còn sinh sống, và chúng thường tìm tới bắt nạt những người lính của chúng ta. Nhưng với những người lính không có gì làm họ sợ cả, tất cả chỉ như một trò nghịch ngợm trêu đùa của mấy chú hổ báo mà thôi. Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Hai câu thơ này thể hiện bức tranh thiên nhiên con người giản dị, với những nếp nhà thơm mùi khói bếp gợi lên cảm giác thân thương cho người lính khi nhớ về quê hương của mình cũng có những nếp nhà gắn bó thân thiết. Đêm trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Câu thơ này tất cả không gian bốn bề đều trở nên bừng sáng lan tỏa và ngọt lành như tình cảm của quân và dân thắm thiết như người thân trong cùng một nhà. Hình ảnh hội đuốc hoa thể hiện cuộc sống ấm áp giao lưu của những người lính với bà con vùng dân tộc. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ hà nội dáng kiều thơm Cuộc sống người lính gặp vô vàn khó khăn gian khổ nhưng với tinh thần quả cảm, lòng yêu nước của mình những người lính không cống hiến hết mình cho quê hương đất nước không ngại gì hy sinh. Chỉ với bốn câu thơ giản dị nhưng nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện được nội tâm tình cảm bên trong của người lính, luôn tràn ngập cảm xúc lãng mạn sự bay bổng của một tâm hồn đang tuổi hai mươi xuân xanh phơi phới. Bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng đã phác họa thành công hình ảnh người lính vừa anh hùng, vừa đậm chất trữ tình lãng mạn. Đó là hình ảnh vô cùng đẹp trở thành tượng đài bi tráng về chiến sĩ bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. Thông qua bài thơ thể hiện tinh thần yêu quê hương, đất nước, của tác giả Quang Dũng.
Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến- văn lớp 12
997