diff --git "a/law.json" "b/law.json" new file mode 100644--- /dev/null +++ "b/law.json" @@ -0,0 +1,1298 @@ +[ + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh. Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Văn Quán. 2. Ông Trần Tấn Quốc. " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Nguyên đơn: Bà Đinh Mỹ B, sinh năm 1979. Địa chỉ: 397, ấp Thạnh Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": " Bị đơn: Ông Cao Văn A, sinh năm 1955. Địa chỉ: 138B, ấp Bình Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung – Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đinh Mỹ B trình bày: Ngày 02/02/2021, bà và ông Cao Văn A có ký kết hợp đồng xây dựng với nội dung là ông A thầu xây dựng công trình nhà ở của bà theo bản thiết kế đã có sẵn, phần bên trong có sự thay đổi theo ý thích của chủ nhà và làm thêm phần nhà sau, bó hè, cán sân trước; giá trị tiền công thợ trọn gói là 320.000.000 đồng cho đến khi hoàn thiện xây dựng và giao nhà. Bà đã giao cho ông A đủ số tiền 320.000.000 đồng và trong quá trình xây dựng ông A đã ứng thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng là 370.000.000 đồng. Trong đó, số tiền 100.000.000 đồng bà B đưa cho con của ông A là Cao Khánh Thiện nhận, ông Thiện nhận số tiền này sử dụng vào mục đích gì bà không biết. Sau này, ông A nói với bà là trừ số tiền 100.000.000 đồng này vào tiền công thợ. Từ ngày 30/10/2021 ông A yêu cầu ứng thêm tiền công thợ mỗi tuần, bà không đồng ý nên ông A thi công kéo dài, một tuần chỉ thi công từ 01 đến 02 ngày và chỉ có 03 người làm mỗi ngày. Vì ông A làm chậm tiến độ xây dựng nên ảnh hưởng đến chất lượng vật tư: ximăng bị chết, sắt bị gỉ sét và vật tư tăng giá. Ngày 04/01/2022, ông A tự ý cho nhân công về và thu dọn trang thiết bị máy móc khỏi công trình xây dựng. Tại thời điểm ông A dọn đồ đi thì công trình nhà của bà vẫn còn đang dang dở: chưa lợp ngói, chưa đổ hoàn thiện 03 cái vòm, chưa chạy điện nước, chưa tô, chưa sơn, chưa lát gạch, chưa dán gạch, chưa trán bó hè, chưa cán sân. Vợ chồng bà nhiều lần gọi điện thoại cho ông A để năn nỉ ông A tiếp tục thi công cho kịp ngày dọn vô nhà ở nhưng ông A không chịu tiếp tục thi công nữa, bỏ công trình nhà của bà dang dở. Ngày 09/01/2022, vợ chồng bà đã đến nhà ông A gặp ông A để bàn chuyện tiếp tục thi công nhưng ông A trả lời không làm nữa. Hoàn toàn không có việc ông A gọi điện thoại cho bà và bà nói với ông A là đã thuê thợ mới. Vì đến ngày 21/01/2022 thầu mới bắt đầu thi công tiếp tục công trình, ngày 26/01/2022, vợ chồng bà B mới ký kết hợp đồng xây dựng mới với chủ thầu Trần Minh Mẫn. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng xây dựng xác lập ngày 02/02/2021 giữa bà và ông Cao Văn A, 3 yêu cầu ông Cao Văn A bồi thường số tiền 200.000.000 đồng, gồm số tiền 50.000.000 đồng ông A đã nhận dư và 150.000.000 đồng là bồi thường do ông A làm chậm tiến độ xây dựng gây thiệt hại cho bà. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2022, nguyên đơn bà Đinh Mỹ B thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà không yêu cầu ông A trả lại số tiền 50.000.000 đồng ông A đã ứng dư. Vì ông A tự ý chấm dứt thực hiện hợp đồng đã ký kết, vợ chồng bà B phải tốn chi phí để thuê thầu mới tiếp tục thi công trình đến khi hoàn tất với tiền công thợ thi công phần nhà chính là 235.000.000 đồng, thi công phần nhà phụ là 50.000.000 đồng, tổng cộng là 285.000.000 đồng. Bà yêu cầu ông Cao Văn A bồi thường cho bà số tiền 200.000.000 đồng là số tiền thiệt hại do ông A ngừng thi công công trình nhà, bà phải bỏ tiền ra để thuê thợ mới tiếp tục thi công đến hoàn thiện công trình." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "Bị đơn ông Cao Văn A trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau: Ngày 02/02/2021, ông và bà Đinh Mỹ B có ký kết hợp đồng xây dựng với nội dung như bà B trình bày. Mặc dù người ký kết hợp đồng là bà Đinh Mỹ B nhưng thực tế người thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi với ông là Út Ba (tức là ông Võ Thanh D – chồng của bà Đinh Mỹ B). Trong suốt quá trình thi công công trình thì ông D trực tiếp ở công trình để giám sát, không ngày nào ông D vắng mặt. Trong quá trình thi công công trình đã phát sinh thêm ngoài hợp đồng, cụ thể như sau: + Bên hông ngang 3,48m; dài 15,40m là 53,59m2; phần này mặt trước có đổ vòm; + Phía sau: ngang 4,10m; dài 10,68m là 43,79m2. + Tam cấp: ngang 1,20m; dài 3,48m là 4,42m2. Tổng diện tích phát sinh là 101,80m2. Phần diện tích chính làm theo bản vẽ thiết kế đã có, phần phía sau phát sinh đã được thỏa thuận trong hợp đồng nên phần thêm phía sau đã được chuyển đến sau cuối của công trình. Trong thời gian thi công vì đã phát sinh thêm nhiều hơn so với bản vẽ thiết kế nên ông có thỏa thuận với ông D về tiền công thợ của công trình là 570.000.000 đồng, ông D đồng ý nên ông A mới đồng ý làm tiếp. Ngoài ra, trong quá trình thi công ông còn thi công công trình khác cùng lúc, việc này vợ chồng ông D cũng biết và đồng ý. Về tiền công thợ thì ông trả công cho thợ chính là 400.000 đồng - 500.000 đồng/ngày, thợ phụ từ 330.000 - 380.000 đồng/ngày. Tổng số tiền ông đã ứng của bà B và ông D tính đến ngày 30/10/2021 là 364.355.000 đồng. Trong đó, có số tiền 100.000.000 đồng do con của ông là Cao Khánh Thiện nhận thay ông và cũng đã đưa lại số tiền này cho ông. Trong thời gian thi công công trình nhà ở của bà B có thời gian gián đoạn do nghỉ dịch Covid-19, đến ngày 08/11/2021 ông vẫn cho thợ tiếp tục thi công đến ngày 01/01/2022, là ngày đổ bê tông sàn mái nhà chính xong, ông ứng tiền công thợ nhưng ông D nói để hỏi lại vợ, sau đó cũng không ứng được tiền. Đến ngày 04/01/2022, giữa thợ và ông D xảy ra cự cãi, lúc này ông A không có mặt, sau khi xảy ra cự cãi thì ông D không cho thợ làm nữa. Ngày hôm sau là ngày 05/01/2022, ông A có chở máy trộn hồ đi cho em của ông cũng là thầu xây dựng mượn. Đến ngày 09/01/2022, ông có gặp vợ chồng ông D để bàn bạc thống nhất tiếp tục thi công. Sau đó, ông có liên lạc với vợ chồng ông D để báo là ngày mai ông cho thợ đến công trình tiếp tục thi công, thì bà B nói với ông là đã kêu thợ khác thi công, ông A nói với bà B “như vậy là vợ chồng em hủy hợp đồng trước, chứ anh không hủy hợp đồng trước”. Đến ngày 16/01/2022, ông gọi điện thoại báo cho vợ chồng ông D ngày mai sẽ dọn đồ đi, thời gian ông A dọn đồ đi từ ngày 16 đến ngày 18/01/2022, chỉ có mặt bà B, không có mặt ông D. Nay bà B khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng xây dựng ký kết ngày 02/02/2021, ông A cũng đồng ý hủy hợp đồng nhưng do phía bà B hoàn toàn có lỗi khi tự ý chấm dứt hợp đồng trước, ông hoàn toàn không có lỗi. Sau ngày 30/10/2021 thì bà B không trả tiền công thợ cho ông nữa nên ông phải tự bỏ ra số tiền 68.000.000 đồng để trả tiền công thợ. Vì vậy, ông không đồng ý bồi thường thiệt hại như yêu cầu khởi kiện của bà B." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 293, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông Cao Văn A. Cải sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 21-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 94, 97, 147, 148, 156, 157, 158, 177, 235, 244, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 402, 410, 419, 422, 423, 427, 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 138, 140, 145 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 6, 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Mỹ B về “tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” đối với ông Cao Văn A. [2] Buộc ông Cao Văn A có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đinh Mỹ B số tiền 34.516.265 đồng (ba mươi bốn triệu, năm trăm mười sáu nghìn, hai trăm sáu mươi lăm đồng). [3] Về chi phí tố tụng: [3.1] Buộc ông Cao Văn A phải chịu số tiền 11.500.000 đồng (đã nộp xong). [3.2] Buộc bà Đinh Mỹ B và ông Võ Thanh D liên đới chịu 11.500.000 đồng để hoàn trả lại cho ông Cao Văn A đã tạm ứng trước. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với [1] Chấm dứt Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 ký kết giữa bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A. 11 các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. [4] Về án phí sơ thẩm: [4.1] Bà Đinh Mỹ B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà B số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007132 ngày 17/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Long An. [4.2] Ông Cao Văn A được miễn nộp tiền án phí. [5] Về án phí phúc thẩm: Miễn cho ông Cao Văn A. [6] Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: 1. Về thủ tục tố tụng: [1.1 Ông Cao Văn A kháng cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ, đúng thủ tục tố tụng nên được chấp nhận xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. [1.2] Bị đơn Cao Văn Tỷ có nơi cư trú tại huyện Y nên Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung tranh chấp: [2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, tất cả các đương sự đều thống nhất với nhau các nội dung sau: - Bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A xác lập Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 (nhầm ngày 21/12/2020 âm lịch), theo đó ông A có trách nhiệm “xây nhà làm theo bản vẽ đã có và phần bên trong có sự thay đổi theo sở thích của chủ nhà và có làm thêm khúc nhà bên sau + bó hè + cán sân phía trước theo sự bàn bạc và thống nhất. Tổng giá trị tiền công khi hoàn thiện giao nhà là 320.000.000 đồng giá trị thanh toán tiền thợ lấy tiền vào ngày thứ bảy mỗi tuần...”. - Bản vẽ nhà khi ký kết hợp đồng nêu trên do ông D, bà B cung cấp có kích thước 7,2m, chiều dài là 15,4m nhưng thực tế thi công nhà có kích thước ngang 10,7m, chiều dài là 23,3m. - Ông Cao Văn A thừa nhận đã nhận 364.355.000 đồng (lần cuối vào ngày 30/10/2021) và ngừng thi công vào ngày 04/01/2022 khi chỉ mới hoàn thành phần thô căn nhà thỏa thuận xây cho bà B. - Vào ngày 04/01/2022, ông Võ Thanh D (chồng bà B) có cự cải với ông Lê Văn Lực (thợ làm công cho ông Cao Văn A) đang xây dựng nhà cho bà B, ông D tại thời điểm đó. Trên đây là các tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2.2] Từ sự thừa nhận, thống nhất như trên của các đương sự có cơ sở khẳng định có sự tăng thêm khối lượng thi công căn nhà cho ông D và bà B nhưng không được ông D và bà B thừa nhận có việc thoả thuận giá thi công căn nhà lên tới 570.000.000 đồng. Sau đó, các bên mâu thuẫn dẫn đến chấm dứt thi công công trình nhà ở của ông D và bà B. Do đó, lập Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 không còn hiệu lực ràng buộc các bên do các bên không thực hiện đúng thoả thuận được ghi trong hợp đồng (mặc dù trong hợp đồng không ghi bản vẽ nhưng hai bên thừa nhận có bản vẽ ban đầu do ông D cung cấp). Do vậy, cần căn cứ vào thực tế khối lượng mà ông A đã thi công cho công trình nhà ở của ông D, bà B và số lượng tiền mà ông A tạm ứng của ông D, bà B để giải quyết. [2.3] Tại phiên toà phúc thẩm, hai bên đương sự thống nhất với Báo cáo dự toán thiết kế của Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng Minh Long lập năm 2023 thì chi phí nhân công và chi phí máy là 239.688.553+90.150.182 = 329.838.735 đồng tính tới thời gian ông A chấm dứt thi công công trình. Tuy nhiên, ông A đã nhận tạm ứng của ông D, bà B số tiền 364.355.000 đồng. Do đó. Ông A phải hoàn trả lại cho ông D, bà B số tiền 34.516.265 đồng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là có căn cứ. [2.4] Việc ông D, bà B tự thuê thợ khác thi công hoàn thành công trình không có sự thống nhất với ông A nên không thể lấy giá thuê do ông D, bà B thoả thuận để buộc ông A phải chịu; đồng thời chấm dứt thi công công trình hai bên cũng không có biên bản thanh lý hợp đồng và nhiệm thu khối lượng công việc. Từ đó, kháng cáo của ông Cao Văn A là không có cơ sở chấp nhận một phần; lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận. [3] Về chi phí tố tụng: Khi chấm dứt thực hiện hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 khi ngừng thi công các bên cũng không nhiệm thu khối lượng công việc dẫn đến phải tiến hành kiểm định là lỗi của hai bên nên mỗi bên chịu một phần hai chi phí kiểm định. [4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần, đồng thời ông Cao Văn A trên 60 tuổi là người cao tuổi nên được miễn theo Đi��u 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. [5] Các khoản khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên," + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 293, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông Cao Văn A. Cải sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 21-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 94, 97, 147, 148, 156, 157, 158, 177, 235, 244, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 402, 410, 419, 422, 423, 427, 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 138, 140, 145 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 6, 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Mỹ B về “tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” đối với ông Cao Văn A. [2] Buộc ông Cao Văn A có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đinh Mỹ B số tiền 34.516.265 đồng (ba mươi bốn triệu, năm trăm mười sáu nghìn, hai trăm sáu mươi lăm đồng). [3] Về chi phí tố tụng: [3.1] Buộc ông Cao Văn A phải chịu số tiền 11.500.000 đồng (đã nộp xong). [3.2] Buộc bà Đinh Mỹ B và ông Võ Thanh D liên đới chịu 11.500.000 đồng để hoàn trả lại cho ông Cao Văn A đã tạm ứng trước. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với [1] Chấm dứt Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 ký kết giữa bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A. 11 các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. [4] Về án phí sơ thẩm: [4.1] Bà Đinh Mỹ B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà B số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007132 ngày 17/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Long An. [4.2] Ông Cao Văn A được miễn nộp tiền án phí. [5] Về án phí phúc thẩm: Miễn cho ông Cao Văn A. [6] Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thu Các Thẩm phán: Ông Dương Ngọc Thành Ông Đặng Văn Những " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962; 2. Bà Thi Thị Q, sinh năm 1960; Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện hợp P của ông K và bà Q: Bà Trần Thị Kim G, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 25-4-2022)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Bị đơn: 1. Bà Thi Thị M1, sinh năm 1962; 2. Bà Thi Thị T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp P của bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T và ông Nguyễn Văn P: Luật sư Phạm Thanh Đ, Văn phòng Luật sư Thanh Đ, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. - Người kháng cáo: Bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T - Bị đơn; ông Nguyễn Văn P - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K và bà Thi Thị Q do bà Trần Thị Kim G đại diện hợp P trình bày: Nhu cầu tưới tiêu của ông K và bà Q là cần thiết. Công văn số 2812/UBND- TNMT ngày 22-9-2021 của Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ và Công văn số 566/UBND ngày 08-7-2021 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quý Đông đều xác định ngoài đường kênh tưới nước, tiêu nước tiếp giáp với các thửa đất 1494, 1495, 1482, 1483, 1484, 1485 tờ bàn đồ số 6, xã Mỹ Quý Đông, hiện nay không còn đường tưới nước, tiêu nước nào khác dẫn nước từ kênh Biên Phòng đến các thửa đất của ông K, bà Q. Ông K và bà Q xin đặt cống không ảnh hưởng đến việc canh tác của bà T và bà M1. Ngoài ra, ông K đã tự nguyện bồi thường, chịu chi phí tố tụng và án phí. Trước đây đã có đường nước công cộng, ông K nạo vét đúng quy định nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. - Toàn bộ chi phí liên quan đến việc đặt đường ống cống tưới nước, tiêu nước và nạo vét kênh, dọn vệ sinh sau khi nạo vét kênh do ông K, bà Q chịu. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp P của bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T và ông Nguyễn Văn P trình bày: Nguyên đơn không có nhu cầu mở lối thoát nước vì đã có mua đất khác để làm đường nước. Việc nguyên đơn cho rằng vị trí đất đã mua không thể sử dụng để dẫn nước vào ruộng được do đất của ông K cao nhưng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên chỉ có tính chất tham khảo. Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ và Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quý Đông xác nhận ông K không có đường thoát nước nào khác là không đúng. Đào sâu 2m để ông K đặt cống là vi phạm bảo vệ hành lang kênh Biên Phòng. Nguyên đơn yêu cầu được nạo vét theo lòng kênh cũ khoảng 4m sẽ lấn chiếm vào đất hai bên nên đất bị chuyển đổi mục đích phục vụ lợi ích công cộng. Cho nạo vét kênh cũ thì đất vận chuyển đường nào, khu A và B theo Mảnh trích đo nếu đào đặt cống phải bằng cơ giới thì không có đường đi. Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà T, bà M1 và ông P, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi K của nguyên đơn." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "Bị đơn bà Thi Thị M1 trình bày: Có đường kênh cũ tiếp giáp một bên là các thửa đất 1495, 1482, 1483 thuộc quyền sử dụng đất của bà M1 và bên còn lại là thửa 1484 thuộc quyền sử dụng của bà T. Năm 2000, bà M1 và bà T cho cha ruột là ông Thi Văn L (chết 2018) mượn để làm đường dẫn nước. Khu A, B của Mảnh trích đo 462-2021 là đoạn kênh mới hình thành từ năm 2002 sau khi hoán đổi và lấp một đoạn kênh cũ với mục đích để ông L thuận tiện trong canh tác. Sau khi ông L chết, ông K bà Q tự ý nạo vét đường kênh mà không hỏi ý kiến của bà T, bà M1 nên bà T, bà M1 lấy đất lại và không cho ông K, bà Q nạo vét đường kênh đoạn qua các thửa 1483, 1482, 1495 tờ bản đồ số 6 xã Mỹ Quý Đông do bà M1 đứng tên quyền sử dụng và đoạn qua các thửa đất 1485, 1484 tờ bản đồ số 6 xã Mỹ Quý Đông do bà T đứng tên quyền sử dụng. Bà M1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K, bà Q vì đường kênh thuộc quyền sử dụng đất của bà M1 và bà T; ông K, bà Q nạo vét đường kênh để dẫn nước sẽ ảnh hưởng đến việc canh tác của bà M1 và bà T trên các thửa đất. Bị đơn bà Thi Thị T trình bày: Bà đồng ý toàn bộ phần trình bày của bà M1, không đồng ý cho ông K, bà Q nạo vét đoạn kênh tại khu A, B của Mảnh trích đo và đoạn kênh cũ còn lại tiếp giáp với các thửa 1484, 1482, 1495 vì sẽ bị ảnh hưởng đến canh tác. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P trình bày: Diện tích đất đường kênh ông K, bà Q đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của vợ chồng ông và bà T. Ông thống nhất toàn bộ phần trình bày của bà T, không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K, bà Q. " + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": " Tại phiên tòa sơ thẩm: Người đại diện hợp P của ông K, bà Q trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nhưng đối với đoạn kênh mới hình thành (Khu A, B của Mảnh trích đo 462- 2021) thì ông K, bà Q đặt 02 đường cống bằng nhựa song song liền kề nhau, đường kính mỗi cống 50cm, chiều sâu từ đáy mỗi cống đến mặt đất của thửa 1483, 1485 (mặt ruộng) là 1,5m đến 1,8m; chiều dài hết khu A, B của Mảnh trích đo số 462-2021 theo cạnh hướng Tây là 10,7m + 3,8m. Sau khi đặt cống thì lấp đất lên phía trên các ống cống cho bằng mặt ruộng của thửa 1483, 1485 để không ảnh hưởng đến việc sản xuất của bà T, bà M1. Đối với đoạn kênh cũ thì yêu cầu được nạo vét theo hiện trạng kênh cũ, chiều sâu 02m, đáy kênh 02m, mặt cắt phía trên 04m, không lấn vào các thửa đất 1482, 1483, 1484, 1485, 1495. Ông K, bà Q tự nguyện trả cho bà M1 và bà T 7.400.000 đồng tương ứng với giá trị 148m2 đất mà ông K, bà Q sẽ đặt đường ống cống nhựa dẫn nước phía dưới lòng đất qua các thửa 1483, 1485. Ông K, bà Q tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá và án phí trong vụ án." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua ông Nguyễn Văn P được làm đúng theo quy định tại các điều 272, 273 và 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2]. Ông K, bà Q và bà M1, bà T, ông P đều thừa nhận có 01 đường kênh dẫn nước theo hướng từ Nam đến Bắc tiếp giáp giữa một bên là các thửa 1495, 1482, 1483, 1485 và một bên là các thửa 1494, 1492, 1484 tờ bản đồ số 6, xã Mỹ Quý Đông tồn tại trước năm 1996. Đến năm 2002 thì được lấp lại đoạn tiếp giáp giữa 02 thửa 1484 và 1485 để mở một đoạn khác (khu A diện tích 32m2 thuộc 01 phần thửa 1485 và khu B diện tích 116m2 thuộc 01 phần thửa 1483) để nối với đoạn kênh cũ dẫn nước từ kênh Biên phòng vào tưới tiêu diện tích đất canh tác phía trong. Đoạn kênh mới hoán đổi để mở (khu A, B của Mảnh trích đo số 462- 2021) được ông Thi Văn L (cha bà M1, bà T) cùng ông K bà Q sử dụng từ năm 2002 đến năm 2019 thì ph��t sinh tranh chấp vì bà M1, bà T lấp lại đoạn đầu kênh (khu A, B của Mảnh trích đo số 462-2021) và không cho ông K, bà Q nạo vét đoạn kênh cũ để dẫn nước canh tác là phù hợp với nội dung Công văn số 2812/UBND-TNMT ngày 22-9-2021 của UBND huyện Đức Huệ về nguồn gốc đường kênh đang tranh chấp và quá trình các bên sử dụng đường kênh đang tranh chấp để tưới nước, tiêu nước trong canh tác. [3] Ông K, bà Q canh tác các thửa đất số 1688, 1714, 1716, 1721, 1500, 1502, 1687, 1685 tờ bản đố số 6, tọa lạc tại ấp 5, xã Mỹ Quý Đông, đã sử dụng đường tưới nước, tiêu nước bằng đường kênh do nhà nước quản lý từ trước năm 1997 đến năm 2002. Từ năm 2002, các bên tự hoán đổi vị trí để tự hình thành một đoạn kênh mới (khu A, B của của Mảnh trích đo số 462-2021) và tiếp tục sử dụng đến năm 2019. Công văn số 2812/UBND-TNMT ngày 22-9-2021 của Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ và Công văn số 566/UBND ngày 08-7-2021 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quý Đông đều xác định ngoài đường kênh tưới nước, tiêu nước tiếp giáp với các thửa đất 1494, 1495, 1482, 1483, 1484, 1485 tờ bàn đồ số 6, xã Mỹ Quý Đông, hiện nay không còn đường tưới nước, tiêu nước nào khác dẫn nước từ kênh Biên phòng đến các thửa đất của ông K, bà Q. [4] Đồng thời các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1482 của bà M1 và thửa 1485 của bà T đều thể hiện rõ có tiếp giáp với kênh và đường mương nước nên bà M1, bà T cho rằng đường kênh dẫn nước thuộc quyền sử dụng của bà M1, bà T là không đúng, không có căn cứ chấp nhận. Chiều ngang đoạn kênh cũ đoạn hẹp nhất là 4m, rộng nhất là 6,8m. Ông K, bà Q yêu cầu nạo vét đường kênh tưới tiêu nước với chiều sâu 02m, đáy kênh 02m, mặt cắt phía trên 04m là trong phạm vi đường kênh cũ, không lấn sang các thửa đất 1482, 1483 của bà M1 và thửa 1484 của bà T và đảm bảo về các thông số theo Công văn số 225/NNPTNT ngày 15-9-2022 của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đức Huệ. Việc ông K đặt cống tại khu A và B theo Mảnh trích đo có chiều sâu từ 1,5m đến 1,8m không làm ảnh hưởng đến bảo vệ hành lang kênh Biên Phòng. [5] Ông K, bà Q tự nguyện bồi thường cho bà M1 và bà T 7.400.000 đồng tương đương với giá trị đất đoạn kênh A, B theo kết quả định giá ngày 15-7-2020 cụ thể trả cho bà M1 5.800.000 đồng (116m2 x 50.000 đồng/m2) và trả cho bà T 1.600.000 đồng (32m2 x 50.000 đồng/m2) là phù hợp với Điều 253 Bộ luật Dân sự và đảm bảo quyền lợi cho bà M1, bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp. [6] Bà M1, bà T và ông P kháng cáo cho rằng các thửa ruộng của ông K cách bờ kênh lớn 30m (theo hướng Tây), ông K đã mua phần đất ngang 2m, dài 30m để dẫn nước thông ra kênh. Ông K trình bày, ông mua đường nước này chỉ để tiêu nước vì thấp hơn đất của ông, không tưới nước được do ruộng của ông cao hơn. Ông Nguyễn Văn M trình bày, ông có chuyển nhượng phần đất trũng cho ông K nhưng chỉ để thoát nước, vì đất của ông K nằm trên gò cao. [7] Thấy rằng, như đã nhận định ở trên, đường kênh cũ đã tồn tại trước năm 1996, đến năm 2002 thì được lấp lại đoạn tiếp giáp giữa 02 thửa 1484 và 1485 để mở một đoạn khác là khu A và khu B theo Mảnh trích đo, được ông Thi Văn L (cha bà M1, bà T) cùng ông K bà Q đã sử dụng từ năm 2002 đến năm 2019 thì bị lấp lại. Như vậy, ông K bà Q chỉ yêu cầu được tiếp tục sử dụng đường nước đã tồn tại, đây là lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu của ông K (không phải xin mở đường tưới tiêu mới). Hơn nữa, tại khu A và khu B theo Mảnh trích đo, ông K, bà Q phải đặt đường ống cống với chiều sâu cách mặt ruộng từ 1,5 đến 1,8m để làm đường tưới nước, tiêu nước trong canh tác nên việc bà M1, bà T và ông P cho rằng ông K đã mua phần đất ngang 2m, dài 30m để dẫn nước thông ra kênh để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K và bà Q là không có cơ sở. [8] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 253 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T, ông Nguyễn Văn P kháng cáo yêu c���u xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. [9] Như đã nhận định trên, xét thấy lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp P của bà Thi Thị M1, bà Thi Thị T và ông Nguyễn Văn P đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. [10] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà M1, bà T và ông P là có căn cứ. [11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà T và ông P mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà M1 thuộc trường hợp người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 107/2023/DS-PT Ngày: 23-3-2023 V/v “Tranh chấp quyền tưới nước, tiêu nước trong canh tác”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trịnh Thị Phúc Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Kim Nga Bà Phùng Thị Cẩm Hồng" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Nguyên đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959; Đăng ký hộ khẩu: 495/36 Dương Bá T, Phường Q, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: 769/2A Phạm Thế H2, Phường Y, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp 3, xã Long A, huyện Cần Đ, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 19/11/2021." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bị đơn: 1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1963; 2. Bà Lê Thị H3, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: ấp 4, xã Hựu T1, huyện Đức H, tỉnh Long A. Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H3: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp 2, xã Thạnh H4, huyện Bến L1, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 20/6/2022." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Nguyên đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959; Đăng ký hộ khẩu: 495/36 Dương Bá T, Phường Q, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: 769/2A Phạm Thế H2, Phường Y, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp 3, xã Long A, huyện Cần Đ, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 19/11/2021." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bị đơn: 1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1963; 2. Bà Lê Thị H3, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: ấp 4, xã Hựu T1, huyện Đức H, tỉnh Long A. Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H3: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp 2, xã Thạnh H4, huyện Bến L1, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 20/6/2022." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": " [1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. [3] Các đương sự trình bày thống nhất về việc ông L, bà H3 bán cho bà H1 01 nền tái định cư ở dự án Tân Tạo với giá 60.000.000đồng, việc mua bán nền tái định cư chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Hai bên thống nhất thời gian bà H1 đã giao cho vợ chồng ông L, bà H3 số tiền 60.000.000đồng là ngày 01/02/2008. [4] bà H1 và ông L bà H3 xác định tại thời điểm hai bên thỏa thuận mua bán lô nền tái định cư thì lúc đó bên ông L, bà H3 chưa được cấp lô nền tái định cư. bà H1 là bên mua cũng không tìm hiểu kỹ lô nền cần mua, do đó hai bên đều có lỗi ngang nhau. Bên ông L, bà H3 trình bày hiện nay vẫn chưa được cấp lô nền tái định cư. Do đó, hợp đồng mua bán lô nền tái định cư giữa bà H1 với bên ông L, bà H3 vô hiệu về hình thức và nội dung. bà H1 cho rằng ông L đồng ý trả cho bà 200.000.000đồng theo biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 của Ủy ban nhân xã Hựu T1 xã Hựu T1. Xét thấy, tại Biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 của Ủy ban nhân xã Hựu T1 thể hiện nội dung ông L đồng ý trả cho bà H1 số tiền 200.000.000đồng nếu không đồng ý thì đề nghị chuyển về trên xem xét giải quyết, bà H3 chỉ đồng ý trả lại cho bà H1 số tiền 60.000.000đồng. Tuy nhiên, cả ông L và bà H3 đều không ký tên xác nhận trong biên bản này. Do đó, không có cơ sở xác định ông L đồng ý trả cho bà H1 200.000.000đồng. Mặc dù, ông L, bà H3 thừa nhận có nhận của bà H1 60.000.000đồng vào ngày 01/02/2008, nhưng đây không phải là tiền vay, các bên đều xác định đây là tiền mua bán lô nền tái định cư. Như đã nhận định tại phần trên, việc chuyển nhượng đất (lô nền tái định cư) bị vô hiệu về hình thức và nội dung nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết. ông L, bà H3 thừa nhận có nhận của bà H1 60.000.000đồng nên phải hoàn trả lại cho bà H1. Do đó, án sơ thẩm buộc ông L và bà H3 phải hoàn trả cho bà H1 60.000.000đồng là có căn cứ. Do ông L và bà H3 không được cấp lô nền tái định cư nên không thể định giá đất để tính thiệt hại. [5] bà H1 trình bày đã nhiều lần yêu cầu ông L bà H3 trả tiền nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thời gian bà yêu câu trả tiền là ngày nào. Căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 thể hiện bà H1 có yêu cầu ông L bà H3 trả tiền nhưng đến nay ông L bà H3 không trả. Như vậy, ngày 02/7/2019 được xác định là ngày bà H1 yêu cầu nhưng ông L bà H3 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Do đó, tiền lãi chậm trả được tính từ ngày 02/7/2019 theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là 0,83%/tháng. Từ ngày 02/7/2019 đến ngày Tòa án xét xử phúc thẩm là 05/12/2022 là 3 năm 5 tháng 3 ngày. Tiền lãi được tính như sau: 60.000.000đ x 0,83% x 3 năm 5 tháng 3 ngày = 20.716.800đồng. Tổng cộng buộc ông L bà H3 phải trả cho bà H1 số tiền: 60.000.000đồng + 20.716.800đồng = 80.716.800đồng. [6] Từ những nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H1, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L bà H3, chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A, sửa một phần bản án sơ thẩm. [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà H1, ông L và bà H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bà H1 được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà NTMH Các Thẩm phán: Ông TVQ Bà HTHV" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Nguyên đơn: Bà PTKY, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 203/42C, quốc lộ 62, phường 0 thành phố T, tỉnh L Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông LVL, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp Bình Hòa A, xã BT, huyện CT, tỉnh TG (văn bản ủy quyền ngày 11 tháng 8 năm 2022)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Bị đơn: Bà NTT, sinh năm 1947. Địa chỉ: Số 280/20/6, quốc lộ 62, phường O, thành phố T, tỉnh L. - Người kháng cáo: Bà NTT." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông HPK - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà NTMP - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh L" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": " " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": " Bị đơn bà NTT trình bày: Trước đây bà có vay của bà Yến số tiền 5.000.000 đồng và có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Yến giữ để làm tin. Sau đó bà tiếp tục vay của bà Yến nhiều lần với tổng số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên không có thỏa thuận thời hạn trả, lãi suất là 5%/tháng, sau khi vay tiền thì hằng ngày bà phải trả lãi cho bà Yến tiền lãi bằng 05 tờ vé số. Sau đó con bà biết sự việc bà cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền bà Yến nên đến gặp bà Yến và trả bà Yến số tiền 20.000.000 đồng và chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại. Số tiền còn lại mà bà nợ bà Yến là 30.000.000 đồng, sau đó bà tiếp tục vay bà Yến 02 lần, mỗi lần 3.000.000 đồng. Hiện tại bà xác định còn nợ bà Yến số tiền 36.000.000 đồng, mỗi ngày bà vẫn đóng lãi 05 tờ vé số cho bà Yến, đến khi dịch Covid xảy ra thì bà ngưng không đóng lãi cho bà Yến cho đến nay. Bà thừa nhận chữ viết và chữ ký trong giấy nợ ngày 19/4/2021 là của bà. Lý do viết giấy nợ ngày 19/4/2021 là do bà Yến yêu cầu bà viết và bà Yến nói số tiền 180.000.000 đồng là tiền nợ gốc và tiền lãi. Nay bà Yến yêu cầu bà trả số tiền 180.000.000 đồng bà không đồng ý. Bà chỉ đồng ý trả số tiền 36.000.000 đồng tiền gốc và đồng ý trả 14.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 50.000.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn, gia đình hiện tại là hộ nghèo nên bà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L đã căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà NTT thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố t��ng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Xét kháng cáo của bà NTT, thấy rằng: [2.1] Bà Yến khởi kiện yêu cầu bà Tuyết trả số tiền vay 180.000.000 đồng, bà Tuyết chỉ thừa nhận vay của bà Yến số tiền 36.000.000 đồng, bà Tuyết đồng ý trả số tiền vay 36.000.000 đồng và số tiền lãi 14.000.000 đồng. [2.2] Căn cứ “giấy mượn tiền” ngày 19/4/2021 có nội dung: “...tôi tên Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1947... Tôi có mượn của cô Phan Thị Kim Yến ...số tiền 180.000.000đ...”. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Tuyết thừa nhận chữ ký và chữ viết tại giấy mượn tiền là do bà viết và ký tên nhưng bà Tuyết chỉ thừa nhận vay của bà Yến số tiền 36.000.000 đồng, không có vay số tiền 180.000.000 đồng, số tiền 180.000.000 đồng là do bà Yến cộng tiền vốn và tiền lãi. Tuy nhiên bà Tuyết không có chứng cứ gì chứng minh nên lời trình bày của bà Tuyết không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ nội dung của “giấy mượn tiền” ngày 19/4/2021, có đủ cơ sơ xác định bà NTT có vay của bà PTKY số tiền 180.000.000 đồng. [2.3] Bà NTT chỉ đồng ý trả cho bà Yến số tiền vay 36.000.000 đồng và 14.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 50.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà Tuyết không được bà Yến đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận. [3] Theo đơn khởi kiện, bà Yến yêu cầu bà Tuyết trả số tiền lãi là 48.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn Lâm đã rút lại yêu cầu này, chỉ yêu cầu bà bà Tuyết trả tiền vốn vay 180.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà Yến là phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim Yến buộc bà Nguyễn Thị Tuyết phải có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay là 180.000.000 đồng là có căn cứ. [5] Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà NTT không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà NTT là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà NTT là người cao tuổi (trên 60 tuổi) thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà NTT là người cao tuổi nên miễn cho bà Tuyết án phí dân sự phúc thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà NTT thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Xét kháng cáo của bà NTT, thấy rằng: [2.1] Bà Yến khởi kiện yêu cầu bà Tuyết trả số tiền vay 180.000.000 đồng, bà Tuyết chỉ thừa nhận vay của bà Yến số tiền 36.000.000 đồng, bà Tuyết đồng ý trả số tiền vay 36.000.000 đồng và số tiền lãi 14.000.000 đồng. [2.2] Căn cứ “giấy mượn tiền” ngày 19/4/2021 có nội dung: “...tôi tên Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1947... Tôi có mượn của cô Phan Thị Kim Yến ...số tiền 180.000.000đ...”. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Tuyết thừa nhận chữ ký và chữ viết tại giấy mượn tiền là do bà viết và ký tên nhưng bà Tuyết chỉ thừa nhận vay của bà Yến số tiền 36.000.000 đồng, không có vay số tiền 180.000.000 đồng, số tiền 180.000.000 đồng là do bà Yến cộng tiền vốn và tiền lãi. Tuy nhiên bà Tuyết không có chứng cứ gì chứng minh nên lời trình bày của bà Tuyết không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ nội dung của “giấy mượn tiền” ngày 19/4/2021, có đủ cơ sơ xác định bà NTT có vay của bà PTKY số tiền 180.000.000 đồng. [2.3] Bà NTT chỉ đồng ý trả cho bà Yến số tiền vay 36.000.000 đồng và 14.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 50.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà Tuyết không được bà Yến đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận. [3] Theo đơn khởi kiện, bà Yến yêu cầu bà Tuyết trả số tiền lãi là 48.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn Lâm đã rút lại yêu cầu này, chỉ yêu cầu bà bà Tuyết trả tiền vốn vay 180.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà Yến là phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim Yến buộc bà Nguyễn Thị Tuyết phải có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay là 180.000.000 đồng là có căn cứ. [5] Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà NTT không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà NTT là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà NTT là người cao tuổi (trên 60 tuổi) thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà NTT là người cao tuổi nên miễn cho bà Tuyết án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;" + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 85/2023/DS-PT Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà NTT. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh L Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 244, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà PTKY đối với bà Nguyễn Thị Tuyết về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà NTT phải có nghĩa vụ trả cho bà PTKY số tiền vốn vay 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà PTKIY về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết trả số tiền lãi là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng). 3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà PTKY không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Yến số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.700.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001856 ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An. Miễn cho bà NTT án phí dân sự sơ thẩm. 4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà NTT án phí dân sự phúc thẩm. 5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t�� ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà NTMH Các Thẩm phán: Ông DVN Bà PTCH" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Nguyên đơn: Ông NPDT, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khối 15, phường HHT, thành phố V, tỉnh NA. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà LTC, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số nhà 16F1, đường NTH, phường 0, thành phố T, tỉnh L (văn bản ủy quyền ngày 18/9/2018)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bị đơn: Ông BVBB, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp Bình Tây, xã T, huyện TT, tỉnh L. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông DHC, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số nhà 141/8, đường NTB, phường 0, thành phố TA, tỉnh L (văn bản ủy quyền ngày 17/7/2019)." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông LNH – Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà NTMP - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": " 1. Nguyên đơn: Ông NPDT, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khối 15, phường HHT, thành phố V, tỉnh NA. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà LTC, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số nhà 16F1, đường NTH, phường 0, thành phố T, tỉnh L (văn bản ủy quyền ngày 18/9/2018). " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bị đơn: Ông BVBB, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp Bình Tây, xã T, huyện TT, tỉnh L. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông DHC, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số nhà 141/8, đường NTB, phường 0, thành phố TA, tỉnh L (văn bản ủy quyền ngày 17/7/2019)." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư TVH- Đoàn Luật sư tỉnh L. " + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": " NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông NPDT thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông LHH, ông NTP đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắn mặt không có lý do. Ông NVT, bà PTT, Văn phòng công chứng Bến Lức, Văn phòng công chứng Thủ Thừa, Văn phòng công chứng PTH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này. [3] Xét kháng cáo của ông NPDT, thấy rằng: [3.1] Vào ngày 19/01/2017 ông BVBB, bà NTB và ông NTPcó ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 127, loại đất ở tại nông thôn, tờ bản đồ số 11, diện tích 530,5m2 đất tọa lạc ấp Bình Tây, xã Mỹ Bình (nay là xã TB), huyện Tân Trụ, tỉnh LA, đến ngày 21/3/2017 các bên lập hợp đồng hủy bỏ hợp đồng trên. Vào ngày 09/5/2017 ông Bé Ba, bà Bồng tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 127 cho ông NVT. Ngày 22/8/2017 ông Thiện chuyển nhượng thửa đất trên cho ông LHH. Ngày 13/3/2018, ông Hạnh tiếp tục chuyển nhượng thửa đất trên cho ông NPDT, ông Tú đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/5/2018. [3.2] Theo đơn khởi kiện ông Tú yêu cầu ông Bé Ba cùng những người sống trên thửa đất gồm bà NTB, ông BTC, bà LTHM và ông BQT tháo dỡ nhà để giao thửa đất số 127, tờ bản đồ số 11, diện tích đo đạc thực tế là 574,0m2, loại đất ONT, tọa lạc ấp Bình Tây, xã Tân Bình, huyện TT, tỉnh LA. Ông Bé Ba và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Bồng, ông Cường, bà Mai, ông Thịnh không đồng ý giao thửa đất số 127 cho ông Tú, yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bé Ba, bà Bồng với ông Ngô Văn Thiện, giữa ông NVT với ông LHH và giữa ông LHH với ông NPDT đối với thửa đất số 127. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tú, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bé Ba, tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bé Ba, bà Bồng với ông NVT; giữa ông NVT với ông LHH và giữa ông LHH với ông NPDT vô hiệu. Buộc ông NPDT trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 993807 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 26/10/2015 và được điều chỉnh ngày 12/5/2017, ngày 30/8/2017, ngày 04/5/2018 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ 11, loại đất ONT, diện tích đo đạc thực tế 574,0m2, tọa lạc ấp Bình Tây, xã Mỹ Bình (nay là xã Tân Bình), huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cho ông Bùi Văn Bé Ba và bà Nguyễn Thị Bồng. [3.3] Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày sau khi được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 24/6/2018 ông Tú đã vay tiền của ông TVH (sinh năm 1989, địa chỉ cư trú: Số 1135/90 đường Huỳnh Tấn Phát, Phường PN, Quận 0, Thành phố HCM) số tiền 300.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huy. Tại phiên tòa ông Huy không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tú, khi nào ông Tú trả xong tiền cho ông Huy thì ông Huy mới đồng ý. Thấy rằng trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, phía nguyên đơn không trình bày vấn đề này tại phiên tòa phúc thẩm mới trình bày. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông NPDT trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ba và bà Bồng nhưng hiện nay ông TVH đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên xét thấy cần thiết phải đưa ông TVH vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, do đó cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên hủy bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả đất, trường hợp Tòa án không buộc bị đơn trả đất cho ông Tú, tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì bị đơn phải trả lại cho ông Tú số tiền 300.000.000 đồng tiền mua đất và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Xét thấy, trong quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, yêu cầu này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết nên cấp phúc thẩm không thể xem xét yêu cầu này của nguyên đơn. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xem xét yêu cầu của nguyên đơn trong cùng vụ án mới giải quyết triệt để được vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ để giải quyết theo quy định của pháp luật. [4] Xét kháng cáo của ông NPDT là có căn cứ nên chấp nhận. [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [6] Xét đề nghị của Luật sư không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được quyết định khi vụ án được giải quyết lại. [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông NPDT không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 98/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": " QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông NPDT. 1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện tt, tỉnh LA. 2. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được quyết định khi vụ án được giải quyết lại. 4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông NPDYT không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông NPDT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007404 ngày 13/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT, tỉnh LA. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà H Các Thẩm phán: Ông N Bà H" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Nguyên đơn: Ông T, sinh năm 1952. Bà T, sinh năm 1953. Cùng địa chỉ: Số 86, đường Võ Văn Môn, T Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Khắc Điệp, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 396, đường Nguyễn Đình Chiểu, LA(văn bản ủy quyền ngày 16/3/2023)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bị đơn: 2.1. Ông NVN, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số 88/4A, đường Võ Văn Môn, P Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà NTTN, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 88/4A, đường Võ Văn Môn, phường 4, L (văn bản ủy quyền ngày 04/4/2019). 2.2. Bà LTT, sinh năm 1963 (đã chết) Địa chỉ: Số 88/4A, đường Võ Văn Môn, T, tỉnh Long An. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Tuyết: Ông m, sinh năm 1965. Bà n, sinh năm 1989. Bà n, sinh năm 1998. Ông n, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Số 88/4A, đường Võ Văn Môn, P" + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân L tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh PhạmKhánh -Kiểmsátviên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà P - Thư ký Tòa án nhân dân L " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 12 năm 2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Toàn trình bày: Năm 2011, bà Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh thỏa thuận là bà chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh quyền sử dụng đất tại m��t phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 2-7, diện tích 212m2, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị Kim Toàn là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y352458, cấp ngày 24/11/2003 với giá là 380.000.000 đồng. Hai bên có lập “Giấy mua bán đất” bằng giấy tay, không có công chứng. Khi thỏa thuận chuyển nhượng bà Trinh đã biết là quyền sử dụng đất của bà đang thế chấp tại Ngân hàng. Bà Trinh đưa trước cho bà số tiền 30.000.000 đồng. Bà có đưa số tiền này cho con bà là bà Trúc trả vào Ngân hàng. Bà thỏa thuận, khi nào bà trả nợ Ngân hàng xong, lấy giấy chứng nhận ra thì bà Trinh sẽ trả toàn bộ số tiền còn lại để bà làm thủ tục tách thửa, sang tên cho bà Trinh. Lúc này, bà Trinh nói không có chỗ ở nên bà mới giao đất cho gia đình bà Trinh cất nhà ở. Tuy nhiên, do bà không có đủ tiền trả nợ Ngân hàng nên có yêu cầu bà Tuyết và bà Trinh thanh toán cho bà số tiền còn lại là 350.000.000 đồng và bà mượn thêm số tiền 120.000.000 đồng để đủ tiền trả vào Ngân hàng rút sổ ra, nhưng bà Trinh và bà Tuyết không đồng ý. Từ đó, thủ tục kéo dài không thực hiện được. Năm 2014, bà Trinh chết. Đến năm 2017, bà đã tự trả tiền vào Ngân hàng xong và có báo cho ông Năm biết. Ông Thông và bà có gặp và thỏa thuận với ông Năm là bà sẽ trả lại 30.000.000 đồng và bồi thường công trình xây đựng trên đất là 300.000.000 đồng. Ông Năm hứa về bàn lại với gia đình qua Tết sẽ trả lời nhưng sau đó thì ông Năm né tránh không trả lời. Bà xác định quyền sử dụng thửa đất số 38, tờ bản đồ 2-7, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An là tài sản chung của hộ gia đình gồm bà, ông Thông và các ông, bà gồm: bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, ông Nguyễn Toàn Thiện, bà Lê Thị Trà My, bà Nguyễn Thị Thu Trúc, ông Nguyễn Trí Thức, bà Nguyễn Thị Thiên Thanh, bà Nguyễn Thị Diệu Linh, ông Nguyễn Trọng Trí và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình năm 2003. Lúc đó, do con bà thiếu tiền trả Ngân hàng nên bà tự ý quyết định mà không thông báo cho các thành viên trong hộ biết. Nay bà khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa bà và bà Trinh là vô hiệu. Yêu cầu người thừa kế của bà Trinh là ông Năm và những người đang sinh sống trên đất là ông Hải, bà Nhung, bà Ngân phải giao trả quyền sử dụng 212,8 m2 đất cho hộ gia đình. Các thành viên trong hộ đồng ý trả lại số tiền đưa trước 30.000.000 đồng cho ông Năm, ông Hải, bà Nhung, bà Ngân. Các thành viên trong hộ đồng ý bồi thường công trình xây dựng trên đất và cây trồng trên đất cho ông Năm, ông Hải, bà Nhung, bà Ngân theo chứng thư thẩm định giá là 728.000.000 đồng. * Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Thông trình bày: Ông Thông xác định quyền sử dụng thửa đất số 38, tờ bản đồ 2-7, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An là tài sản chung của hộ gia đình và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình năm 2003. Việc bà Toàn thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông hoàn toàn không biết. Ông không đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. Đến năm 2017, ông mới biết và có thỏa thuận với ông Năm là ông và bà Toàn sẽ trả lại 30.000.000 đồng và bồi thường công trình xây đựng trên đất là 300.000.000 đồng. Ông Năm hứa về bàn lại với gia đình qua Tết sẽ trả lời nhưng sau đó thì ông Năm né tránh không trả lời. Ông Năm và bà Tuyết cho rằng nhiều lần qua gặp ông và bà Toàn để yêu cầu tiến hành thủ tục sang tên là không đúng sự thật. Ông thống nhất với yêu cầu của bà Toàn. Ông hoàn toàn không đồng ý với việc tự ý thỏa thuận chuyển nhượng của bà Toàn nên ông xác định không có đến chỉ ranh giới để phía ông Năm, bà Tuyết xây dựng. Việc ông Năm, bà Tuyết xây dựng công trình trên đất ông không biết do thời gian đó ông đi làm xa, khi về công trình đã xây dựng xong. Ông xác định ông Năm và bà Tuyết cất nhà trên đất không được sự đồng ý của thành viên trong hộ gia đình nên việc họ quản lý, sử dụng đất này là không hợp pháp. Vì vậy, ông và bà Toàn yêu cầu ông Năm và các con di dời trả lại quyền sử dụng đất trên cho hộ gia đình của ông. * Lời trình bày bà Lê Thị Tuyết Nhung, đại diện bị đơn, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có nội dung như sau: Ông Năm và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Tuyết thống nhất với lời trình bày của bà Toàn, ông Thông là bà Toàn, ông Thông và bà Trinh thỏa thuận là bà Toàn và ông Thông chuyển nhượng cho bà Trinh quyền sử dụng đất tại một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 2-7, diện tích 212m2, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An với giá là 380.000.000 đồng. Bà Tuyết và bà Trinh có đến xem đất nhưng không biết quyền sử dụng đất bà Toàn và ông Thông đang thế chấp tại Ngân hàng. Bà Trinh đưa trước cho bà Toàn và ông Thông số tiền 30.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, bà Tuyết và bà Trinh có đến gặp bà Toàn và ông Thông để giao số tiền còn lại và yêu cầu làm thủ tục tách thửa, lúc này bà Toàn và ông Thông mới thông báo là quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng. Lúc này, bà Toàn và bà Trinh mới lập giấy bán đất, theo đó bà Toàn hứa sẽ thanh toán vào Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận ra làm thủ tục tách thửa. Chính vì vậy, bà Toàn và ông Thông đã tự nguyện giao quyền sử dụng đất cho bà Trinh và ông Năm, bà Tuyết quản lý, sử dụng và xây dựng nhà ở. Ông Năm và bà Tuyết là người xây dựng căn nhà số 88/4A Võ Văn Môn, phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Việc xây dựng công trình hoàn tất trong năm 2011, bà Toàn và ông Thông không có tranh chấp hay khiếu nại gì. Sau khi ký giấy mua đất, bà Toàn và ông Thông không đến Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định. Ông Năm, bà Tuyết nhiều lần đề nghị bà Toàn và ông Thông làm thủ tục chuyển nhượng nhưng bà Toàn và ông Thông không hợp tác với lý do không có tiền trả Ngân hàng. Bà Toàn có hỏi mượn tiền ông Năm và bà Tuyết với số tiền gấp đôi khoản tiền đất còn lại nhưng ông Năm và bà Tuyết không đồng ý làm giấy nợ, nên ông Năm và bà Tuyết không đồng ý. Sau đó ông Năm và bà Tuyết có nhiều lần yêu cầu bà Toàn làm thủ tục sang tên nhưng bà Toàn nói đã giao đất cho ở thì yên tâm mà ở. Đến năm 2014, bà Trinh chết. Bà Trinh khi còn sống có tổ chức đám cưới với ông TEESHING HWA nhưng không có đăng ký kết hôn và cũng không có con chung. Cha bà Trinh là ông Năm, mẹ bà Trinh là bà Tuyết. Bà Tuyết chết ngày 21/7/2021. Cha mẹ bà Tuyết đã chết trước khi bà Tuyết chết, bà Tuyết có chồng là ông Năm và 03 người con là bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải. Ông Năm và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Tuyết không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Năm và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Tuyết yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Ông Năm và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Tuyết sẽ thanh toán số tiền còn lại là 350.0000.000 đồng cho bà Toàn và ông Thông. Trường hợp ông Thông, bà Toàn không đồng ý theo giá ban đầu thì đề nghị Tòa án áp dụng giá theo Quyết định Ủy ban nhân dân tỉnh Long An quy định về giá ở thời điểm hiện tại để bồi thường. Hiện nay, ông Năm và 03 người con là bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải đang sinh sống trên đất. Ông Năm, bà Ngân, ông Hải và bà không đồng ý di dời trả lại quyền quản lý, sử dụng vì khi ông Năm và bà Tuyết cất nhà là được sự đồng ý của ông Thông và bà Toàn. Khi bà Trinh và bà Tuyết đến nhà bà Toàn thỏa thuận làm giấy chuyển nhượng thì có ông Thiện, bà Thảo, bà Thanh cũng ở đó. Khi bà Tuyết và ông Năm cất nhà thì ông Thông có qua chỉ ranh giới cho bà Tuyết và ông Năm. Do hợp đồng các bên không thỏa thuận thời gian kết thúc hợp đồng, chỉ thỏa thuận khi nào bà Toàn lấy giấy chứng nhận ra thì tiếp tục thực hiện hợp đồng nên hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Hiện nay, ông Năm và bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung chỉ có 01 nơi ở duy nhất là quyền sử dụng đất đang tranh chấp nên yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất này cho gia đình bà. * Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, ông Nguyễn Toàn Thiện, bà Lê Thị Trà My, bà Nguyễn Thị Thu Trúc, ông Nguyễn Trí Thức, bà Nguyễn Thị Thiên Thanh, bà Nguyễn Thị Diệu Linh, ông Nguyễn Trọng Trí thống nhất trình bày: Các ông, bà xác định thống nhất với bà Toàn và ông Thông xác định quyền sử dụng thửa đất số 38, tờ bản đồ 2-7, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An là tài sản chung của hộ gia đình và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình năm 2003. Việc bà Toàn thỏa thuận chuyển nhượng một phần thửa đất này cho bà Trinh, các ông, bà hoàn toàn không biết. Các ông, bà có đăng ký hộ khẩu tại số 86, đường Võ Văn Môn, phường 4, thành phố Tân An nhưng một số thành viên đi làm xa, không về thường xuyên, số còn lại không để ý nên khi gia đình bà Trinh, ông Năm, bà Tuyết cất nhà trên đất các ông, bà không biết cho đến công trình hoàn thiện mới biết. Các ông, bà thống nhất với yêu cầu của bà Toàn và ông Thông yêu cầu người thừa kế của bà Trinh là ông Năm, bà Tuyết và những người đang sinh sống trên đất là ông Hải, bà Nhung, bà Ngân phải giao trả quyền sử dụng 212,8 m2 thuộc một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ 2-7, tọa lạc tại phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An cho hộ gia đình. Các thành viên trong hộ đồng ý trả lại số tiền đưa trước 30.000.000 đồng cho ông Năm và bà Tuyết. Các ông, bà đồng ý bồi thường công trình xây dựng trên đất và cây trồng trên đất cho ông Năm, bà Tuyết theo chứng thư thẩm định giá là 728.000.000 đồng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2022/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã áp dụng các Điều 26, 35, 39, 40, 147, 157, 165, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 109, 122, 127, 128, 134, 137, 411, 689, 692, 697, 698 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 127 Luật Đất đai năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Thông, bà Nguyễn Thị Kim Toàn, ông Nguyễn Văn Năm thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, ông Nguyễn Toàn Thiện, bà Lê Thị Trà My, bà NguyễnThịThuTrúc, ôngNguyễnTríThức,bàNguyễnThịThiênThanh,bà Nguyễn Thị Diệu Linh, ông Nguyễn Trọng Trí đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này. [3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Thông, bà Nguyễn Thị Kim Toàn, ông Nguyễn Văn Năm, thấy rằng: [3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày thồng nhất: Vào năm 2011, bà Nguyễn Thị Kim Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh có thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thửa số 38, tờ bản đồ 2-7, diện tích 212 m2, tọa lạc phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An (diện tích thực tế là 212,8m2 theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 1710-2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố Tân An duyệt ngày 23/06/2022 và bản phân khu của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú lập) do bà Nguyễn Thị Kim Toàn là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y352458, cấp 10 ngày 24/11/2003 với giá chuyển nhượng là 380.000.000 đồng. Hai bên có lập “Giấy mua bán đất” bằng giấy viết tay, không có công chứng. Bà Trinh có đưa trước cho bà Toàn số tiền là 30.000.000 đồng. Theo “giấy mua bán đất” thì số tiền còn lại là 350.000.000 đồng các bên thỏa thuận khi bà Toàn “nộp Ngân hàng chuộc chủ quyền thì bên mua phải chồng đủ tại Ngân hàng để lấy chủ quyền cắt đất ra”. Tuy nhiên, sau đó các bên không thực hiện được thỏa thuận nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa thực hiện xong. [3.2] Giao dịch giữa bà Nguyễn Thị Kim Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh được ký vào năm 2011. Tuy nhiên hợp đồng chưa được thực hiện xong. Theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này” nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. [3.3] Về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên chỉ làm giấy viết tay không có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại các Điều 117 của Bộ luật Dân sự 2015, có cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Toàn và bà Trinh không tuân thủ về hình thức. [3.4] Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y352458, cấp ngày 24/11/2003 đối với quyền sử dụng đất thửa số 38, tờ bản đồ số 2-7, tọa lạc Phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An và lời trình bày của bà Toàn và các thành viên trong hộ gia đình thì quyền sử dụng đất nêu trên được cấp cho hộ gia đình, do bà Nguyễn Thị Kim Toàn đại diện chủ hộ đứng tên. Hộ gia đình bà Toàn gồm có: Bà Toàn, ông Thông, bà Thảo, ông Thiện, bà My, bà Trúc, ông Thức, bà Thanh, bà Linh, ông Trí. [3.5] Xét thấy, sau khi ký “giấy mua bán đất” giữa bà Toàn với bà Trinh ký kết năm 2011 thì bà Toàn thỏa thuận “đồng ý giao cho bên mua nhận đất trước để thi công cất nhà”. Thực tế, bà Toàn cũng đã giao quyền sử dụng đất theo hợp đồng cho bà Trinh, ông Năm và bà Tuyết quản lý, sử dụng từ thời điểm giao kết hợp đồng năm 2011. Ông Năm và bà Tuyết đã cất nhà và cùng các con là bà Ngân, ông Hải, bà Nhung sinh sống ổn định trên thửa đất này từ năm 2011 đến nay. Các thành viên trong hộ gia đình bà Toàn gồm ông Thông, bà Thảo, ông Thiện, bà My, bà Trúc, ông Thức, bà Thanh, bà Linh, ông Trí đều không tham gia thỏa thuận và giao kết hợp đồng chuyển nhượng nhưng khi ông Năm và bà Tuyết xây dựng công trình nhà ở và sinh sống trên quyền sử dụng đất tranh chấp, các thành viên trong hộ gia đình cũng không phản đối hay ngăn cản và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định thửa đất 38 là do ông Thông và bà Toàn tạo ra, những người con ông Thông và bà Toàn chỉ đứng tên trong hộ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Toàn nhưng không có đóng góp gì. [3.6] Theo quy định tại tiểu mục b.3 mục 2.3 Nghị quyết 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều ki��n được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này (vi phạm điều kiện về mặt hình thức, hợp đồng không có công chứng, chứng thực), nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”. Và theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. 2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Xét thấy tại thời điểm bà Toàn và bà Trinh ký hợp đồng chuyển nhượng hai bên không tuân thủ về mặc hình thức, bà Trinh mới thanh toán số tiền 30.000.000 đồng (tương ứng 7,89% giá trị đất) nhưng nguyên đơn đồng ý giao đất cho bị đơn và bị đơn đã xây nhà kiên cố trên phần đất nhận chuyển nhượng và sinh sống từ năm 2011 cho đến nay, phía nguyên đơn đồng ý và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thảo, ông Thiện, bà My, bà Trúc, ông Thức, bà Thanh, bà Linh, ông Trí không có phản đối ngoài ra tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án thửa đất số 38 đã không còn thế chấp tại Ngân hàng, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng nên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Toàn và bà Trinh có hiệu lực. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn yều cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu bị đơn phải giao trả đất là không có cơ sở nên không chấp nhận, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Kim Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh vào năm 2011 đối với nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước và cũng không bị cơ quan nhà về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, phần đất có diện tích 212,8 m2, thuộc một phần thửa đất 38, tờ bản đồ 2-7; tọa lạc tại P có hiệu lực. [4] Về thanh toán số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất: [4.1] Giá trị phần đất tranh chấp có diện tích 212,8 m2, thuộc một phần thửa đất 38, tờ bản đồ 2-7; tọa lạc phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá nhà nước ngày 15/3/2023, quyền sử dụng đất có giá trị như sau: 9.595.000 đồng/m x 212,8 m = 2.041.816.000 đồng. Xét thấy khi giao kết hợp đồng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền 380.000.000 đồng, bà Trinh đã đưa cho bà Toàn số tiền 30.000.000 đồng, tương ứng với 7,89% giá trị quyền sử dụng đất. Như vậy bị đơn còn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn 92,1% giá trị đất theo kết quả định giá hiện nay: 2.041.816.000 đồng x 92,1% = 1.880.512.536 đồng. [4.2] Đối với số tiền 30.000.000 đồng bà Trinh đã thanh toán cho bà Toàn: Xét thấy, tại thời điểm giao kết hợp đồng chuyển nhượng, bà Toàn biết rõ quyền sử d��ng đất trên đang thế chấp tại Ngân hàng nhưng vẫn thỏa thuận để chuyển nhượng là có lỗi. Bà Nhung cho rằng, khi thỏa thuận chuyển nhượng bà Trinh không biết quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng đến hơn 01 tuần sau, khi lập “giấy mua bán đất” bà Trinh mới biết. Tuy nhiên, lời trình bày này của bà Nhung không có chứng cứ để chứng minh. Căn cứ vào “giấy mua bán đất” do hai bên lập thể hiện rõ nội dung quyền sử dụng đất trên đang thế chấp tại Ngân hàng. Vì vậy, bà Trinh cũng có lỗi trong việc thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khi quyền sử dụng đất trên đang bảo đảm cho một giao dịch khác. Bà Toàn và bà Trinh tự nguyện thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng bằng giấy tay, không có công chứng, chứng thực là không đúng quy định của pháp luật dẫn đến các bên không thể tiến hành được các bước tiếp theo của trình tự, thủ tục chuyển nhượng, đây cũng là lỗi của cả 02 bên. Ngoài ra, bà Toàn còn có lỗi do tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình trong khi chưa có sự thống nhất của họ. Bà Trinh có lỗi vì đã không tìm hiểu về chủ sử dụng đối với quyền sử dụng đất mà mình nhận chuyển nhượng. Như vậy, cả bà Trinh và bà Toàn đều có lỗi khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, mỗi bên đều phải chịu 1⁄2 giá trị chênh lệch đối với số tiền 30.000.000 đồng, tương ứng với 7,89% giá trị chuyển nhượng. Theo kết quả định giá hiện nay được tính như sau: 2.041.816.000 đồng x 7,89% =161.099.282 đồng – 30.000.000 đồng = 131.099.282 đồng : 2 = 65.549.641 đồng. Nguyên đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn số tiền 65.549.641 đồng. Như vậy, ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải phải tiếp tục thanh toán cho cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn, bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, ông Nguyễn Toàn Thiện, bà Lê Thị Trà My, bà Nguyễn Thị Thu Trúc, ông Nguyễn Trí Thức, bà Nguyễn Thị Thiên Thanh, bà Nguyễn Thị Diệu Linh, ông Nguyễn Trọng Trí số tiền: 1.880.512.536 đồng - 65.549.641 đồng = 1.814.962.895 đồng. [4.3] Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng giá theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An quy định về giá ở thời điểm hiện tại để bồi thường và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.600.000.000 đồng nhưng không được nguyên đơn đồng ý, nnguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả đất nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị đơn. [5] Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng giao quyền sử dụng đất cho bị đơn là mâu thuẫn, không phù hợp với quy định của pháp luật nên cần sửa bản án dân sự sơ thẩm. [6] Xét thấy kháng cáo của ông Nguyễn Văn Thông, bà Nguyễn Thị Kim Toàn yêu cầu bị đơn trả đất không phù hợp nên không chấp nhận, kháng cáo của ông Nguyễn Văn Năm có phần phù hợp nên chấp nhận một phần. [7] Xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Long An không phù hợp nên không chấp nhận. [8] Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm là 44.500.000 đồng: Nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu 1⁄2 chi phí tố tụng là: 44.500.000đ : 2 = 22.250.000 đồng. Ông Thông và bà Toàn đã tạm nộp. Ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải phải nộp 22.250.000 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) để hoàn lại cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn. [9] Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Bị đơn tự nguyện chịu chi phí định giá là 3.000.000 đồng (đã nộp xong). Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí bản vẽ phân khu là 2.000.000 đồng (đã nộp xong). [10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu không được Tòa án chấp nhận, án phí dân sự là 300.000 đồng nhưng ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Năm, bà Ngân, ông Hải, bà Nhung phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn, cụ thể: 1.814.962.895 đồng = 36.000.000 đồng + (3% x 1.014.962.895 đồng) = 66.448.886 đồng [11] Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn Thông, bà Nguyễn Thị Kim Toàn do ông Thông và bà Toàn là người cao tuổi. Ông Nguyễn Văn Năm không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 112/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn Năm. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2022/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân T Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 40, 147, 157, 165, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 117, 119, 129, 288, 688 Bộ luật Dân sự 2015. Áp dụng Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Kim Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh lập năm 2011 bằng “giấy mua bán đất” là vô hiệu. 2. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Kim Toàn và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh vào năm 2011 đối với phần đất có diện tích 212,8 m2, thuộc một phần thửa đất 38, tờ bản đồ 2-7; tọa lạc tại T có hiệu lực. 3. Giao quyền sử dụng phần đất có diện tích 212,8 m2, thuộc một phần thửa đất 38, tờ bản đồ 2-7; tọa lạc T (theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 1710-2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố Tân An duyệt ngày 23/06/2022 và bản phân khu của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú lập ngày 21/3/2023) và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải. Các đương sự có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. 15 Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 4. Buộc ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn, bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, ông Nguyễn Toàn Thiện, bà Lê Thị Trà My, bà Nguyễn Thị Thu Trúc, ông Nguyễn Trí Thức, bà Nguyễn Thị Thiên Thanh, bà Nguyễn Thị Diệu Linh, ông Nguyễn Trọng Trí số ti���n 1.814.962.895 đồng (Một tỷ, tám trăm mười bốn triệu, chín trăm sáu mươi hai ngàn, tám trăm chín mươi lăm đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 5. Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn phải nộp 22.250.000 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng), đã nộp xong. Ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải phải nộp 22.250.000 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) để hoàn lại cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn. 6. Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Bị đơn tự nguyện chịu chi phí định giá là 3.000.000 đồng (đã nộp xong). Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí bản vẽ phân khu là 2.000.000 đồng (đã nộp xong). 7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân, ông Nguyễn Thanh Hải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 66.448.886 đồng. 8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Thị Kim Toàn án phí dân sự phúc thẩm Ông Nguyễn Văn Năm không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Năm số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số T ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TT 9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "hành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà NTMH Các Thẩm phán: Ông DVN Ông TVQ" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Nguyên đơn: 1.1. Bà BNN, sinh năm 1970. 1.2. Ông NVH, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: Số 150A, ấp 4, xã Bình Đức, BLLA. Người đại diện hợp pháp của bà Nhánh, ông Hôn: Ông NVT, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 49 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, BLLA (theo văn bản ủy quyền ngày 03/01/2020). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nhánh: Luật sư Nguyễn Hòa Bình - Đoàn Luật sư TLA" + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Bị đơn: 2.1. Ông VVA, sinh năm 1972. 2.2. Bà LTL, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã Phước Lợi, BLLA Người đại diện hợp pháp của ông Ẩn, bà Lynh: Ông Võ Hòa Thuận, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp 6, xã Nhựt Chánh, BLLA (theo văn bản ủy quyền ngày 07/10/2020). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1. Bà HTMH, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 42/8/2, đường Trần Đại Nghĩa, khu phố 6, phường Tân Tạo A, HCM 3.2. Bà PTTT, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp 1, xã Mỹ Yên, BLLA 3.3. Văn ph��ng công chứng Phạm Văn Tuấn. Địa chỉ: Số 07A, ấp 4, xã Phước Lợi, BBBLA Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Tuấn - Trưởng Văn phòng. 3.4. Công chứng viên ông PVT Địa chỉ: Số 07A, ấp 4, xã Phước Lợi, BLLA - Người kháng cáo: Ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh. (Các đương sự có mặt; Bà Hồng, bà Thúy, Văn phòng công chứng Phạm Văn Tuấn, ông Tuấn vắng mặt) " + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TLA tham gia phiên tòa: Ông LNH - Kiểm sát viên. " + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà NTMP - Thư ký Tòa án nhân dân TLA" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh do người đại diện hợp pháp ông Võ Hòa Thuận trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Ông Ẩn, bà Lynh là chủ sử dụng thửa đất số 29, tờ bản đồ số 3-1, diện tích 1.753,8m2, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp 5, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Bà Phạm Thị Thanh Thuý, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp 1, xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An là phụ huynh của học sinh ông Ẩn, bà Lynh. Bà Thúy có con học tại Trung tâm dạy thêm do vợ chồng ông Ẩn, bà Lynh giảng dạy (tại nhà) và bà Thúy là người làm ăn mua bán đất và làm cò đất. Qua thời gian dài dạy con bà Thúy và tiếp xúc biết được bà Thúy cũng đàng hoàng. Khoảng giữa năm 2017, bà Thúy đề nghị ông Ẩn, bà Lynh hùn với mình mua đất sau đó bán lại kiếm lời. Ông Ẩn, bà Lynh từ chối với lý do không rành về đất đai, bà Thúy đề nghị ông Ẩn, bà Lynh có tiền tiết kiệm thì rút ra cho bà Thúy mượn, bà Thúy mua đất sau này bà Thúy bán đất được lời thì sẽ đền ơn cho ông Ẩn, bà Lynh. Ông Ẩn, bà Lynh đồng ý và đã rút tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Agribank số tiền là 1.500.000.000 đồng cho bà Thúy mượn và có nói sau này khi bán đất được thì trả lãi theo lãi Ngân hàng, còn có cho bao nhiêu thì cho chứ không lấy lãi cao của bà Thúy. Đến đầu năm 2018, bà Thúy trình bày do làm ăn khó khăn bà Thúy mua đất mà ra không được nên kẹt tiền và có đề nghị ông Ẩn, bà Lynh vay giúp Ngân hàng để trả lãi thấp và vay thêm một khoản tiền đền ơn cho ông Ẩn, bà Lynh sau. Ông Ẩn, bà Lynh cũng tin tưởng, hơn nữa vì đã lỡ cho mượn số tiền 1.500.000.000 đồng trước đó nếu không giúp thì không biết khi nào bà Thúy trả lại tiền được. Chính vì vậy, ông Ẩn, bà Lynh thống nhất sẽ vay Ngân hàng để bà Thúy nhận tiền đó thanh toán tiền đất bà Thúy đã mua mà chưa thanh toán cho người ta. Ngày 18/6/2018, ông Ẩn, bà Lynh đã mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình là thửa đất số 29 vay thế chấp tại Quỹ tín dụng Gò Đen với số tiền vay là 1.700.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng. Sau khi vay tiền xong tại Quỹ tín dụng nhân dân Gò Đen (gọi tắt Quỹ tín dụng Gò Đen), ông Ẩn, bà Lynh giao cho bà Thúy toàn bộ số tiền nêu trên bà Thúy quen với Ngân hàng và thực hiện việc thanh toán tiền lãi vay cho Ngân hàng đúng kỳ thanh toán lãi không để trễ hạn. Đến tháng 4/2019, bà Thuý có trình bày với ông Ẩn, bà Lynh là mình có dự án đất đai tại thành phố Tân An và sẽ có tiền để xử lý hết các khoản 4 nợ trước đó đã vay của ông Ẩn, bà Lynh đồng thời đề nghị ông Ẩn, bà Lynh giúp thêm một lần nữa để chuộc giấy ở Ngân hàng ra và ký vay bên ngoài cho người khác để lấy tiền nhiều hơn để thanh toán tiền nợ cho Ngân hàng. Ngày 02/5/2019, bà Thúy dẫn bà Huỳnh Thị Mỹ Hồng là người ở thành phố Hồ Chí Minh xuống giới thiệu là người đồng ý cho bà Thúy vay tiền trong thời gian ngắn để bà Thuý xoay vốn. Ông Ẩn, bà Lynh cùng với người của bà Hồng, bà Thúy đến trả tiền Quỹ tín dụng Gò Đen và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay của bà Hồng với số tiền 5.000.000.000 tỷ đồng, thời hạn vay là 02 (hai) tháng nhưng bên cho vay tiền bắt buộc phải ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký tên thì ông Ẩn, bà Lynh ra về, còn giao nhận tiền bạc là giữa bà Thúy và bà Hồng tự giao nhận với nhau, ông Ẩn, bà Lynh không biết. Đến hạn phải trả tiền vay cho bà Hồng, bà Thúy trình bày là đất bà Thúy mua kêu bán nhưng bán không được bà Hồng đòi dữ quá nên bà Thúy đề nghị vay của người khác để trả cho bà Hồng. Bà Thúy hẹn ông Ẩn, bà Lynh ra Văn phòng công chứng và ký tên chuyển nhượng để bà Thúy vay tiền lấy tiền trả cho bà Hồng. Ngày 03/7/2019, bà Thúy, bà Hồng cùng vợ chồng ông Ẩn có mặt tại Văn phòng công chứng, khi đó ông Ẩn, bà Lynh ký hủy bỏ hợp đồng với bà Hồng và ký hợp đồng chuyển nhượng lại cho bà Nhánh để vay số tiền 6.000.000.000 đồng. Sau khi ký tên xong vợ chồng ông Ẩn, bà Lynh ra về còn tiền bạc là giữa bà Thúy và bà Hồng cùng bà Nhánh giao nhận ra sao thì ông Ẩn, bà Lynh không chứng kiến, không biết cụ thể và phía bà Nhánh, bà Hồng cũng không yêu cầu gì đối với ông Ẩn, bà Lynh. Đến ngày 22/7/2019, bà Thúy điện thoại kêu ông Ẩn đi ký giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ vay tiền của bà Nhánh vì khi lập hợp đồng chuyển nhượng không có giao kết rõ ràng, sợ sao này vướng pháp luật và cũng tránh việc đòi tiền kiểu bà Hồng trước đó nên ông Ẩn đã đi theo bà Thúy đến gặp ông Diệu, bà Nhánh và các bên có ký hợp đồng thuê nhà, giấy thế chấp, biên bản bàn giao nhà. Trong nội dung ký này có nội dung ghi là đã nhận 12.000.000.000 tỷ đồng, ông Ẩn có hỏi thì được giải thích là giá trị bên bà Nhánh ước tính tài sản đem thế chấp cho bà Nhánh vì khi cho vay không ai cho vay vượt qua giá trị tài sản cả. Khi ký chỉ có ông Ẩn ký tên chứ không có bà Lynh, sau khi ký xong không có sự việc giao nhận tiền gì. Sau khi ký thì ông Ẩn và bà Thúy ra về, giấy tờ đó phía bà Nhánh giữ. Đến ngày 21/9/2019, bà Thúy liên hệ với ông Ẩn, bà Lynh báo rằng bà Thúy đã bán được vài lô đất và đã trả tiền vay cho bà Nhánh chỉ còn thiếu lại 1.000.000.000 tỷ đồng và đề nghị ông Ẩn, bà Lynh ra ký lại hồ sơ là chỉ còn nợ 1.000.000.000 tỷ đồng. Ông Ẩn, bà Lynh đến Văn phòng công chứng thì có bà Nhánh và ông Hôn có mặt tại Phòng công chứng. Theo đó, ông Ẩn, bà Lynh ký hủy hợp đồng giao kết với bà Nhánh và ký tiếp hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hôn, giá trị chuyển nhượng là 1.000.000.000 tỷ đồng. Khi thấy ký lại hợp đồng cho ông Hôn, ông Ẩn có hỏi sao không ký hợp đồng cho bà Nhánh lại thì bà Thúy cùng bà Nhánh cho biết ông Hôn là chồng bà Nhánh nên không sao. Phía người của Văn phòng công chứng giải thích không thể hủy hợp đồng chuyển nhượng giá 6.000.000.000 tỷ với bà Nhánh rồi ký lại hợp đồng với bà Nhánh giá 1.000.000.000 tỷ được, vì việc giao dịch là cùng 01 thửa đất, hợp đồng đã được công chứng sẽ lưu vào hệ thống máy tính nên không ký như vậy được. Trước khi ký tên, ông Ẩn, bà Lynh có kiểm tra nội dung trong các giấy tờ mình ký thì thấy mình ký hủy hợp đồng 6.000.000.000 tỷ đồng trước, trong đó có 5 nội dung phía bà Nhánh nhận lại 6.000.000.000 tỷ đồng và thanh lý trách nhiệm đối với hợp đồng này. Rồi xem nội dung hợp đồng với ông Hôn giá là 1.000.000.000 tỷ đồng, nội dung ký kết giống như nội dung trao đổi thỏa thuận nên ông Ẩn, bà Lynh đã ký tên vào các hợp đồng trên. Sau khi ký tên thì mọi người ra về không có sự giao nhận tiền hay gì cả không giống như các lần trước. Thấy vậy ông Ẩn, bà Lynh càng tin tưởng hơn. Vào giữa tháng 11/2019 bà Thúy có mâu thuẫn gia đình có uống thuốc tự vẫn đưa vô Bệnh viện rồi phía bên bà Nhánh không nhận tiền lãi đúng hạn của bà Thúy, bà Nhánh đi tìm bà Thúy và tìm không được bà Thúy nên cho người xuống nhà ông Ẩn, bà Lynh yêu cầu trả tiền lãi. Thực chất, không có việc ông Ẩn, bà Lynh chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 cho ông vợ chồng bà Nhánh, ông Hôn mà bản chất của hợp đồng trên chỉ là hợp đồng vay tài sản. Ông Ẩn, bà Lynh ký các Hợp đồng trên nhằm bảo lãnh số tiền vay của bà Phạm Thị Thanh Thuý. Trước yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn cũng đồng ý tuyên bố vô hiệu đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 được xác lập vào ngày 21/9/2019 giữa ông Ẩn, bà Lynh với ông Hôn. Ông Ẩn, bà Lynh chỉ đồng ý trả cho ông Hôn, bà Nhánh số tiền 1.000.000.000 tỷ đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 21/9/2019. Ngoài ra, ông Ẩn, bà Lynh không có ý kiến và yêu cầu gì khác." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn ", + "answer": "" + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 42/2023/DS-PT Ngày: V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Mỹ Hồng và bà Phạm Thị Thanh Thúy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Văn phòng công chứng Phạm Văn Tuấn, Công chứng viên ông Phạm Văn Tuấn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này. [3] Xét kháng cáo của ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh, thấy rằng: [3.1] Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Tâm là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 mà ông Ẩn, bà Lynh đã ký với ông Hôn ngày 21/9/2019 và yêu cầu ông Ẩn, bà Lynh phải liên đới trả cho ông Hôn, bà Nhánh số tiền vay là 12.000.000.000 tỷ đồng. Ông Võ Hòa Thuận là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng ý tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 mà ông Ẩn, bà Lynh đã ký với ông Hôn ngày 21/9/2019 vô hiệu, nhưng chỉ đồng ý trả số tiền vay còn nợ là 1.000.000.000 tỷ đồng. [3.2] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy nguyên đơn và bị đơn trình bày thống nhất việc vợ chồng ông Ẩn, bà Lynh ký các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 03/7/2019, Hợp đồng thế chấp thửa đất số 29 và căn nhà trên thửa đất này cho bà Nhánh, Hợp đồng thuê nhà và Biên bản giao và nhận nhà cùng ngày 22/7/2019 thực chất là để đảm bảo cho việc ông Ẩn, bà Lynh vay tiền của bà Nhánh. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Tâm trình bày do vợ chồng ông Ẩn, bà Lynh không có tiền trả nên vào ngày 21/9/2019 các bên đã thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 29 với giá là 12.000.000.000 tỷ đồng cùng với số tiền lãi vay. Bị đơn không thừa nhận có việc chuyển nhượng đất với số tiền như ông Tâm trình bày, ông Thuận cho rằng thửa đất 29 mà ông Ẩn, bà Lynh thế chấp cho bà Nhánh, ông Hôn là để đảm bảo cho khoản vay của bà Thúy, do chỉ còn nợ lại số tiền 1.000.000.000 tỷ đồng nên hai bên ký lại hợp đồng chuyển nhượng ngày 21/9/2019 với giá 1.000.000.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, các bên đồng ý vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/9/2019 vì đó là Hợp đồng giả tạo để nhằm che dấu Hợp đồng vay tài sản nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 21/9/2019 vô hiệu theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hợp đồng vay tài sản xác lập giữa các đương sự có hiệu lực. [3.3] Đối với số tiền vay: Nguyên đơn xác định số tiền cho bị đơn vay là 12.000.000.000 tỷ đồng, bị đơn thừa nhận chỉ có vay 6.000.000.000 tỷ đồng, sau đó đã trả 5.000.000.000 tỷ đồng, nên chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ là 1.000.000.000 tỷ đồng. Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 29 và tài sản trên đất được xác lập giữa ông Ẩn, bà Lynh với bà Nhánh ngày 22/7/2019, thấy rằng sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 03/7/2019 để đảm bảo cho khoản vay 12.000.000.000 tỷ đồng, do hai bên không có lập biên bản giao nhận tiền nên ngày 22/7/2019 ông Ẩn đã ký Hợp đồng thế chấp thửa số 29 và căn nhà trên thửa đất này cho bà Nhánh với thời hạn 06 tháng để đảm bảo cho số tiền vay 12.000.000.000 tỷ đồng và trong Hợp đồng thế chấp đã ghi rõ: bên A (ông Ẩn và bà Lynh) có nhận của bên B (bà Nhánh) số tiền 12.000.000.000 đồng” nên có căn cứ xác định bà Nhánh đã giao cho ông Ẩn số tiền vay 12.000.000.000 tỷ đồng. Người đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng bị đơn không có vay của nguyên đơn số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng, bà Nhánh không có chứng cứ gì chứng minh cho bị đơn vay số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng, tại hợp đồng thế chấp ghi số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng là do phía bà Nhánh tự ghi để xác định giá trị tài sản mà phía bị đơn thế chấp cho nguyên đơn cao hơn số tiền cho vay chứ trên thực tế bị đơn không có nhận số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng, bị đơn xác định ông Ẩn, bà Lynh chỉ đứng ra ký các hợp đồng giao dịch để đảm bảo cho việc bà Thúy vay số tiền 6.000.000.000 tỷ đồng của bà Nhánh để trả cho bà Hồng ngay sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 03/7/2019, thực chất bà Thuý là người trực tiếp đứng ra giao nhận tiền với bà Nhánh và đóng lãi cho bà Nhánh. Sau đó bà Thúy báo đã bán được vài lô đất và đã trả tiền vay cho bà Nhánh chỉ còn thiếu lại 1.000.000.000 tỷ đồng và đề nghị ông Ẩn, bà Lynh ra ký lại hồ sơ là chỉ còn nợ 1.000.000.000 tỷ đồng. Ngày 21/9/2019 tại Văn phòng công chứng Phạm Văn Tuấn, ông Ẩn, bà Lynh với bà Nhánh đã ký Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 03/7/2019. Tại khoản 2 Điều 1 của Hợp đồng huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này có thể hiện nội dung: “...Kể từ ngày hủy bỏ Hợp đồng này, Bên A (tức bên ông Ẩn và bà Lynh) sẽ nhận lại đầy đủ số tiền là 6.000.0000 đồng (Sáu tỷ đồng) và xem như quyền lợi, nghĩa vụ hai bên đã được giải quyết xong. Hai bên cam kết không tranh chấp hay khiếu nại bất cứ điều gì về sau...”. Hai bên ký kết lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 29 ngày 21/9/2019 với giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 tỷ đồng. Sau khi ký kết Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này thì phía bị đơn ông Ẩn, bà Lynh cũng không thanh toán bất kỳ số tiền nào cho nguyên đơn. Bị đơn cũng trình bày ngày 21/9/2019 sau khi ký kết hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Ẩn, bà Lynh với bà Nhánh thì việc trả tiền do bà Thúy trực tiếp trả tiền cho bà Nhánh, nhưng phía bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh cho việc đã trả số tiền 5.000.000.000 tỷ đồng cho bà Nhánh nên lời trình bày của bị đơn không có căn cứ chấp nhận. [3.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã đưa bà Huỳnh Thị Mỹ Hồng, bà Phạm Thị Thanh Thuý vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Tuy nhiên, ông Tâm đại diện nguyên đơn không thừa nh��n có việc cho bà Thúy vay tiền như phía bị đơn trình bày cũng không có việc bà Thuý đóng tiền lãi cho nguyên đơn, số tiền lãi 720.000.000 đồng là do bà Nhánh nhận trực tiếp từ ông Ẩn, đồng thời theo các giấy tờ giao dịch của các bên thể hiện thì bà Thúy chỉ ký tên với tư cách là người làm chứng, không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện bà Thúy đã vay và nhận tiền của bà Nhánh. 12 để triệu tập bà Hồng, bà Thuý đến Toà án để làm rõ các thông tin có liên quan đến vụ án nhưng bà Hồng, bà Thuý đều vắng mặt nên Toà án không thể tiến hành làm việc, đối chất, hoà giải giữa các bên. Đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án, việc giao nhận tiền do bà Thuý là người trực tiếp đứng ra nhận. bà Thuý chỉ là người làm chứng đi cùng ông Ẩn, bà Lynh, nguyên đơn không có bất kỳ giao dịch hay quan hệ vay vốn gì với bà Thuý, Bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh bà Thuý là người trực tiếp nhận các số tiền nêu trên và cũng không cung cấp được bất kỳ văn bản thoả thuận nào thể hiện việc bà Thuý nhờ ông Ẩn, bà Lynh đứng ra vay tiền dùm và bà Thúy đã trả cho nguyên đơn số tiền 5.000.000.000 tỷ đồng. [4.5] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Tâm xác định số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng là tài sản chung của ông Hôn, bà Nhánh. Đối với bị đơn, tuy trong Hợp đồng thế chấp bà Lynh không ký tên vào, nhưng tất cả các hợp đồng chuyển nhượng cũng như Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng bà Lynh đều có ký tên, điều đó chứng minh bà Lynh biết được số tiền mà ông Ẩn đã nhận từ ông Hôn, bà Nhánh. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hôn, bà Nhánh buộc ông Ẩn, bà Lynh phải liên đới trả cho ông Hôn, bà Nhánh số tiền 12.000.000.000 tỷ đồng là phù hợp. Từ phân tích trên thấy rằng kháng cáo của ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh không có căn cứ nên không chấp nhận. [5] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận. [6] Xét đề nghị của Luật sư Nguyễn Hòa Bình là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có căn cứ nên chấp nhận. [7] Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, xác minh, thu thập chứng cứ tổng cộng là 8.000.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ (đã nộp và chi xong). [8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thuỳ Lynh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với các yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, cụ thể: ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Hôn, bà Bùi Thị Ngọc Nhánh (12.000.000.000 tỷ đồng = 112.000.000 đồng + 0,1 % x 8.000.000.000 tỷ đồng = 120.000.000 đồng). [9] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Văn Ẩn, bà Lê Thùy Lynh phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thu Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm Bà Đinh Thị Ngọc Yến" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Nguyên đơn: Ông Trần Công Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Bị đơn: Ông Võ Hoàng P, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Võ Hoàng P: Luật sư Nguyễn Thanh T, Văn phòng Luật sư Cao Minh T, Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Ngọc M, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Người kháng cáo: Ông Võ Hoàng P – Bị đơn; bà Trần Ngọc M - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 11 năm 2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Công Đ trình bày: Ngày 04-8-2021 (âm lịch) tức ngày 10-9-2021 dương lịch, ông Đ có cho ông P vay 100.000.000 đồng, không tính lãi, hẹn đến khi cân lúa bán xong sẽ trả. Việc giao nhận tiền không làm giấy tờ nhưng có camera nhà ông Đ ghi hình lại. Ngày 08-8-2021 âm lịch, ông P bán lúa cho ông Đ với tổng số tiền 307.950.000 đồng, trừ lại số tiền ông Đ đã đặt cọc trước đó 03 lần là 66.000.000 đồng, còn lại 241.950.000 đồng thì ông Đ đã trả cho ông P xong mà không trừ lại số tiền 100.000.000 đồng ông P nhận ngày 10-9-2021. Khi ông Đ gọi điện thì ông P xác nhận số tiền 100.000.000 đồng đã nhận trước đó nhưng không đồng ý trả. Ông Đ khởi kiện yêu cầu ông P trả 100.000.000 đồng tiền gốc, cộng lãi tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 1.520.000 đồng, cách tính: lãi suất 0,8%/tháng từ ngày 08-8-2021 âm lịch đến 05-10-2021 âm lịch (ngày nộp đơn khởi kiện) là 01 tháng 27 ngày) và yêu cầu tính lãi đến ngày giải quyết xong vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện đối với ông P, yêu cầu ông P và bà M trả tổng cộng 109.146.666 đồng gồm 100.000.000 đồng tiền gốc và 9.146.666 đồng tiền lãi (cách tính: lãi suất 0,8%/tháng từ ngày 10-9-2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 23-8-2022 là 11 tháng 13 ngày, thành tiền 9.146.666 đồng)." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "Bị đơn ông Võ Hoàng P trình bày: Ông P không vay tiền của ông Đ. Ngày 04-8-2021 (âm lịch) ông P có nhận 100.000.000 đồng tại nhà của ông Đ theo camera mà ông Đ cung cấp cho Tòa án nhưng đó là tiền ông Đ giao ông P đi trả tiền lúa đã mua cho ông Đ. Sau đó ông Đ đã thanh toán và trừ lại số tiền 100.000.000 đồng xong. Ông P không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc M trình bày: Bà M là vợ ông P nhưng không liên quan gì đến việc mua bán của ông P và ông Đ. Ông P nhận tiền từ ông Đ là để trả tiền mua lúa cho ông Đ để ăn huê hồng trên đầu tấn. Việc ông P làm ăn chung với ông Đ cũng tạo nguồn thu nhập cho gia đình. Ông P hoàn toàn không vay tiền của ông Đ nên bà M không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ Huệ quyết định: Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Võ Hoàng P với số tiền 101.999.999 đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Võ Hoàng P về số tiền lãi 7.146.667 đồng. Buộc ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M phải trả cho ông Trần Công Đ tổng cộng 101.999.999 đồng (một trăm lẻ một triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi chín đồng) gồm 100.000.000 đồng tiền gốc và 1.999.999 đồng tiền lãi. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 31-8-2022, bị đơn ông Võ Hoàng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc M kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông P và bà M không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Võ Hoàng P trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Ông Đ là người mua lúa, ông P là môi giới. Các bên thống nhất số lúa, tiền đặt cọc, tiền thanh toán cho các nhà vườn. Ông P không thừa nhận có vay tiền của ông Đ, ông Đ không chứng minh được việc cho ông P vay tiền. Khi ông Đ trình báo Công an là ông P chiếm đoạt tiền đưa nhầm. Ông Đ không chứng minh được đã giao ông P 241.943.000 đồng. Bà B là người làm chứng do ông Đ cung cấp, có lời khai ban đầu mâu thuẫn với các lời khai hiện nay. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông P có nhận của ông Đ 100.000.000 đồng nên phải trả là chưa xem xét toàn diện vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông P. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông P, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến: - Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đơn kháng cáo của ông P và bà M trong thời hạn luật quy định và hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm. - Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Ông Đ có giao cho ông P 100.000.000 đồng, ông P cũng thừa nhận nên bản án sơ thẩm buộc ông P trả cho ông Đ là có căn cứ nên kháng cáo của ông P không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": " NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Đơn kháng cáo của ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M được làm đúng theo quy định tại các điều 272, 273 và 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu ông P và bà M trả tổng cộng 109.146.666 đồng gồm 100.000.000 đồng tiền gốc và 9.146.666 đồng tiền lãi, thấy rằng: [3] Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định như sau: Ông Đ là người mua lúa của các hộ dân, ông P là người được ông Đ giao tiền đặt cọc và tiền để trả cho các hộ dân bán lúa. Ông P là người trực tiếp thanh toán tiền mua lúa với các hộ dân và được hưởng tiền huê hồng trên đầu tấn từ ông Đ (20.000 đồng/1tấn lúa), thỏa thuận này đã được ông Đ và ông P thực hiện trong một thời gian dài khoảng 6 đến 7 năm. [4] Tại Biên bản ghi lời khai ngày 05-10-2021 (bút lục số 113) ông Đ trình báo về việc bị ông P chiếm đoạt tài sản với số tiền 100.000.000 đồng tiền mua lúa do ông Đ giao nhầm cho ông P. Nhưng khi khởi kiện vụ án dân sự, ông Đ cho rằng có cho ông P vay 100.000.000 đồng, ông P không thừa nhận và ông Đ không có chứng cứ gì chứng minh đây là số tiền cho vay. Từ các tài liệu, chứng cứ trên, có cơ sở xác định việc ông Đ giao cho ông P 100.000.000 đồng là số tiền để trả tiền mua lúa nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Quyền đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xác định và giải quyết quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” là không đúng. [5] Ông Đ và ông P đều thống nhất số lúa đã mua là 68.129kg, giá 4.520 đồng/kg, thành tiền 307.943.080 đồng. Trước đó ông Đ có giao cho ông P 66.000.000 đồng tiền đặt cọc và ngày 10-9-2021, ông P có nhận 100.000.000 đồng tại nhà ông Đ. [6] Phần không thống nhất: ông Đ cho rằng tại chốt cầu Đ Huệ khi giao tiền cho ông P, ông có giao cho P số tiền 241.943.080 đồng và biên nhận có ghi số tiền 307.943.080 đồng trừ 66.000.000 đồng tiền cọc. Ông Đ không có trừ số tiền 100.000.000 đồng. Ông P cho rằng có trừ tổng cộng 166.000.000 đồng nên ông chỉ nhận 141.943.080 đồng, biên nhận thì đã thất lạc. [7] Thấy rằng, việc ông Đ giao tiền và biên nhận cho ông P tại chốt cầu Đức Huệ là việc tất toán quá trình mua lúa giữa ông Đ và ông P. Ông Đ cho rằng đã giao cho ông P số tiền 241.943.080 đồng (chưa trừ 100.000.000 đồng) nhưng ông P không thừa nhận, ông P chỉ thừa nhận có nhận của ông Đ 141.943.080 đồng. Ông Đ không có chứng cứ gì để chứng minh ông P có nhận 241.943.080 đồng nên yêu cầu khởi kiện của ông Đ đòi ông P trả 100.000.000 đồng và tiền lãi là không có căn cứ chấp nhận. [8] Ông Đ có cung cấp người làm chứng là bà Nguyễn Thị B nhưng bà B cũng là người mua lúa làm ăn chung với ông Đ và lời khai của bà B tại Công an xã Mỹ Thạnh Đông trước đây mâu thuẫn với các lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm nên không đáng tin cậy. Các chứng cứ do ông Đ cung cấp như trích xuất camera và đoạn ghi âm cũng chỉ chứng minh được việc ông P có nhận 100.000.000 đồng, không có thể hiện việc ông P thừa nhận số tiền 100.000.000 đồng chưa khấu trừ khi tất toán quá trình mua lúa. [9] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là chưa xem xét toàn diện vụ án dẫn đến xác định không đúng quan hệ pháp luật cần giải quyết. Với các nhận định nêu trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Kháng cáo của ông P và bà M là có cơ sở chấp nhận, cần sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của ông P và bà M, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ. [10] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông P, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có căn cứ. [11] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M là chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. [12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa toàn bộ bản án sơ thẩm nên ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 09-02-2023 V/v “Tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”", + "answer": " QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Chấp nhận kháng cáo của ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M; Sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ; Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công Đ về việc yêu cầu ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M trả số tiền 109.146.666 đồng, gồm 100.000.000 đồng tiền vay và 9.146.666 đồng tiền lãi. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Công Đ phải chịu 5.458.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 2.538.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005172 ngày 13-5-2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Huệ để thi hành án phí, ông Đ còn phải chịu 2.920.000 án phí dân sự sơ thẩm. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả số tiền 600.000 đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số 0005294, số 0005295 cùng ngày 31-8-2022 của của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Huệ cho ông Võ Hoàng P và bà Trần Ngọc M. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trịnh Thị Phúc Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Kim Nga Bà Phùng Thị Cẩm Hồng" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Nguyên đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959; Đăng ký hộ khẩu: 495/36 Dương Bá T, Phường Q, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: 769/2A Phạm Thế H2, Phường Y, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp 3, xã Long A, huyện Cần Đ, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 19/11/2021." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bị đơn: 1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1963; 2. Bà Lê Thị H3, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: ấp 4, xã Hựu T1, huyện Đức H, tỉnh Long A. Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H3: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp 2, xã Thạnh H4, huyện Bến L1, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 20/6/2022." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Nguyên đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959; Đăng ký hộ khẩu: 495/36 Dương Bá T, Phường Q, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: 769/2A Phạm Thế H2, Phường Y, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp 3, xã Long A, huyện Cần Đ, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 19/11/2021." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Bị đơn: 1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1963; 2. Bà Lê Thị H3, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: ấp 4, xã H��u T1, huyện Đức H, tỉnh Long A. Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H3: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp 2, xã Thạnh H4, huyện Bến L1, tỉnh Long A. Giấy ủy quyền ngày 20/6/2022." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh��i kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": " [1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. [3] Các đương sự trình bày thống nhất về việc ông L, bà H3 bán cho bà H1 01 nền tái định cư ở dự án Tân Tạo với giá 60.000.000đồng, việc mua bán nền tái định cư chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Hai bên thống nhất thời gian bà H1 đã giao cho vợ chồng ông L, bà H3 số tiền 60.000.000đồng là ngày 01/02/2008. [4] bà H1 và ông L bà H3 xác định tại thời điểm hai bên thỏa thuận mua bán lô nền tái định cư thì lúc đó bên ông L, bà H3 chưa được cấp lô nền tái định cư. bà H1 là bên mua cũng không tìm hiểu kỹ lô nền cần mua, do đó hai bên đều có lỗi ngang nhau. Bên ông L, bà H3 trình bày hiện nay vẫn chưa được cấp lô nền tái định cư. Do đó, hợp đồng mua bán lô nền tái định cư giữa bà H1 với bên ông L, bà H3 vô hiệu về hình thức và nội dung. bà H1 cho rằng ông L đồng ý trả cho bà 200.000.000đồng theo biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 của Ủy ban nhân xã Hựu T1 xã Hựu T1. Xét thấy, tại Biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 của Ủy ban nhân xã Hựu T1 thể hiện nội dung ông L đồng ý trả cho bà H1 số tiền 200.000.000đồng nếu không đồng ý thì đề nghị chuyển về trên xem xét giải quyết, bà H3 chỉ đồng ý trả lại cho bà H1 số tiền 60.000.000đồng. Tuy nhiên, cả ông L và bà H3 đều không ký tên xác nhận trong biên bản này. Do đó, không có cơ sở xác định ông L đồng ý trả cho bà H1 200.000.000đồng. Mặc dù, ông L, bà H3 thừa nhận có nhận của bà H1 60.000.000đồng vào ngày 01/02/2008, nhưng đây không phải là tiền vay, các bên đều xác định đây là tiền mua bán lô nền tái định cư. Như đã nhận định tại phần trên, việc chuyển nhượng đất (lô nền tái định cư) bị vô hiệu về hình thức và nội dung nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết. ông L, bà H3 thừa nhận có nhận của bà H1 60.000.000đồng nên phải hoàn tr��� lại cho bà H1. Do đó, án sơ thẩm buộc ông L và bà H3 phải hoàn trả cho bà H1 60.000.000đồng là có căn cứ. Do ông L và bà H3 không được cấp lô nền tái định cư nên không thể định giá đất để tính thiệt hại. [5] bà H1 trình bày đã nhiều lần yêu cầu ông L bà H3 trả tiền nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thời gian bà yêu câu trả tiền là ngày nào. Căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 02/7/2019 thể hiện bà H1 có yêu cầu ông L bà H3 trả tiền nhưng đến nay ông L bà H3 không trả. Như vậy, ngày 02/7/2019 được xác định là ngày bà H1 yêu cầu nhưng ông L bà H3 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Do đó, tiền lãi chậm trả được tính từ ngày 02/7/2019 theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là 0,83%/tháng. Từ ngày 02/7/2019 đến ngày Tòa án xét xử phúc thẩm là 05/12/2022 là 3 năm 5 tháng 3 ngày. Tiền lãi được tính như sau: 60.000.000đ x 0,83% x 3 năm 5 tháng 3 ngày = 20.716.800đồng. Tổng cộng buộc ông L bà H3 phải trả cho bà H1 số tiền: 60.000.000đồng + 20.716.800đồng = 80.716.800đồng. [6] Từ những nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H1, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L bà H3, chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A, sửa một phần bản án sơ thẩm. [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà H1, ông L và bà H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bà H1 được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 403/2022/DS-PT Ngày: 19-12-2022 V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H1; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3; Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 126/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long A. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức H, tỉnh Long A. Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các điều 166, 275, 280, 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc đòi tài sản đối với ông Mai Văn L và Lê Thị H3. 2. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 80.716.800đồng. 3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1 về việc buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 119.283.200đồng. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H1 được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Buộc ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 phải liên đới chịu 4.035.800đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Mai Văn L và bà Lê Thị H3 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà H3 nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0011611, ngày 16/8/2022 và biên lai thu số 0007086 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh Long A. 7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết đ���nh được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm Các Thẩm phán: Ông Cao Xuân Long Ông Trịnh Hoàng Anh" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Nguyên đơn: Ông T.H.L, sinh năm 1952, địa chỉ: Số 336 đường H.V, tổ 1, khu phố 1, phường L.T, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Bị đơn: Ông B.V.T, sinh năm 1956; hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp Bắc 1, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam C.B, tỉnh Bến Tre – Bộ Công an. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Bà Thành Thị Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa" + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông T.H.L trình bày: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2014/HSST ngày 28/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Bản án hình sự phúc thẩm số 649/2015/HSPT ngày 25/11/2015 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 134/QĐ-CTHA ngày 18/01/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ông T.H.L là người được thi hành án, theo đó, ông B.V.T có nghĩa vụ bồi thường cho ông L số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và tiền lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên đến nay ông T vẫn chưa thực hiện bồi thường cho ông L." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông B.V.T trình bày: Tại bản tự khai ngày 03/11/2020, ông T trình bày: Ông và bà V.T.Th chung sống với nhau từ trước năm 1987 đến năm 2010 thì đồng tình ly hôn và có 02 (hai) người con chung là B.V.T.N, sinh năm 1979, B.V.M.T, sinh năm 1985. Tài sản chung để phân chia trong thời kỳ hôn nhân ông bà đã tự thỏa thuận, cụ thể ông bà có một mảnh đất diện tích khoảng 28.000m2 , tại xã S.R, huyện C.Đ nhưng sau đó đã thống nhất bán được 03 (ba) tỷ đồng và phần của ông T là 1,4 tỷ đồng. Số tiền này ông đã xài hết. Ngoài ra, ông bà không có tài sản chung nào khác. Còn mảnh đất 750,3m2 và hai căn nhà trên đất là do tiền cá nhân của em gái bà Th đang định cư tại Mỹ gửi về cho để xây dựng. Bản thân ông không có đóng góp gì trên mảnh đất và nhà nêu trên. Bởi lẽ đó nên vào ngày 28/02/2011, ông có viết một tờ giấy tay với nội 3 dung là căn nhà và đất ở H.L là ông không liên quan gì, ông để lại cho con trai là B.V.M.T và bà V.T.Th. Tờ giấy có tựa “Bản thỏa thuận” được ông tự nguyện viết và ký tên vào ngày 28/02/2011. Việc thỏa thuận và tự nguyện cho tài sản này, hai bên không ra công chứng vì nghĩ không cần thiết. Tại bản tự khai ngày 22/6/2021, ông T trình bày: Trong thời kỳ hôn nhân, đến khi ly hôn vào tháng 10/2010, số tài sản chung của ông bà gồm có: 02 (hai) căn nhà được xây dựng trên diện tích 750,3m2 tại xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; 01 (một) trang trại chăn nuôi trên diện tích 28.000m2 tại xã S.R, huyện C.Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; 01 (một) xe ô tô hiệu Suzuki – Vitara và một số vật chất khác (bút lục số 61). Tại thời điểm ly hôn, ông, bà đã tự thỏa thuận phân chia tài sản, cụ thể: Ông T được hưởng 1,4 tỷ đồng là tiền bán trang trại ở xã S.R, huyện C.Đ và 01 xe ô tô; còn bà Th được hưởng những tài sản còn lại trong đó có nhà đất tại xã H.L. Sau đó, ông có viết một tờ giấy tự nguyện cho tài sản và đã ký tên vào ngày 28/02/2011. Văn bản này là chứng cứ thể hiện số tài sản mà bà Th và con trai đang đứng chủ sở hữu là tài sản riêng, bản thân ông không có liên quan gì đến tài sản đó. Việc tại sao ông có tên trong hồ sơ cấp giấy là do thủ tục hành chính yêu cầu theo đúng quy định thời điểm lúc bấy giờ." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ 10, xã H.L, thành phố B.R, diện tích 750,3m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X540788 cấp ngày 16/4/2004 là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông T và bà Th. Căn cứ quy định điểm b, khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “khi chia tài sản chung nguyên tắc là chia đôi, nhưng có T đến các yếu tố sau: công sức đóng góp của vợ (chồng) vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung”. Theo lời khai của bà Th và được ông T, bà N, ông M.T thừa nhận từ việc tạo lập, phát triển khối tài sản là thửa đất số 48, tờ bản đồ 10, xã H.L và tài sản gắn liền với đất thì bà Th có công sức đóng góp nhiều hơn vào khối tài sản chung so với ông T. Do đó, khi chia tài sản chung, bà 5 Th được hưởng 60% giá trị tài sản; ông T được hưởng 40% giá trị tài sản. Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà Th. Giữ nguyên bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: [1] Xét kháng cáo của ông B.V.T và bà V.T.Th: [1.1] Diện tích đất 4.790m2 thửa 42, tờ bản đồ số 31, xã H.L, thành phố B.R có nguồn gốc của bà B.T.B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số B 541096 ngày 10/12/1992. Sau đó, bà B chiết một phần đất diện tích 712m2 thuộc thửa 631/42, tờ bản đồ số 31, chuyển nhượng cho bà V.T.Th và ông B.V.T thể hiện tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận của UBND xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa và xác nhận của phòng địa chính thị xã Bà Rịa ngày 29/4/1997. Năm 2002, bà Th lập thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên và được UBND thị xã Bà Rịa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 ngày 16/4/2004, thửa đất đổi thành thửa 48, tờ bản đồ số 10, diện tích 750,3m2. Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, đất được công nhận quyền sử dụng cho “hộ ông (bà) V.T.Th”. Công văn số 668/TN-MT ngày 28/11/2019 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bà Rịa xác định “diện tích đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã Hòa Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 ngày 16/4/2004 được cấp có nguồn gốc là do ông B.V.T và bà V.T.Th nhận chuyển nhượng của bà B.T.B. Do đó, “hộ ông (bà) V.T.Th” tại Giấy chứng nhận nêu trên được xác định bao gồm ông B.V.T và bà V.T.Th”. Qua đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Bà Rịa lập, duyệt ngày 20/01/2021, diện tích đất còn lại là 616,8m2. Qua xác minh, thể hiện vào năm 2004, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã thu hồi một phần diện tích đất để “Mở rộng Hương lộ 2 tại xã H.L, thành phố B.R”. Bà Th xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường, không khiếu nại gì nhưng chưa làm thủ tục chỉnh lý diện tích đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Th cho rằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản riêng của bà Th, thời điểm bà nhận chuyển nhượng đất của bà B khoảng năm 1993 - 1994, hai bên không lập giấy chuyển nhượng. Ny sau khi nhận chuyển nhượng, bà Th xây căn nhà diện tích khoảng 120m2 để ở, đến năm 2008 bà Th xây thêm căn nhà phía sau diện tích khoảng 30m2 và giữ nguyên hiện trạng từ đó đến nay, toàn bộ nguồn tiền để mua đất, xây nhà đều do gia đình bà Th hỗ trợ, chồng bà Th khi đó là ông B.V.T và con bà Th là chị B.V.T.N và anh B.V.M.T không đóng góp công sức gì vào khối tài sản này, nhưng bà Th không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung này mà chỉ được ông T, chị N và anh M.T xác nhận. Việc xây dựng nhà cũng không được chính quyền địa phương cấp giấy phép nên địa phương không nắm được thời gian xây dựng. 6 Bà Th và ông T cho rằng ông T có tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do thủ tục hành chính thời điểm đó yêu cầu và do mẫu của cơ quan Nhà nước quy định nên bà Th, ông T phải chấp hành. Lời trình bày này của bà Th và ông T là không hợp lý, vì nếu ông T thừa nhận là tài sản riêng của bà Th thì bà Th có quyền không đưa ông T vào tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hai bên có quyền lập thủ tục xác định nhà và đất này là tài sản riêng của bà Th khi thực hiện giao dịch, nhưng ông T cùng đứng tên trong hợp đồng. Tại biên bản lời khai ngày 08/12/2020, bà Th trình bày khi biết giấy chứng nhận quyên sử dụng đất mới cấp cho hộ gia đình, bà đã có ý kiến với Ủy ban cấp giấy về hai vấn đề: Thứ nhất là giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình là không đúng, thứ hai là diện tích đất có sự chênh lệch, nhưng bà Th không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về nội dung trình bày này; còn ông T cho rằng đây là mẫu chung của giấy chứng nhận, tuy nhiên, trong suốt quá trình từ năm 2004 (thời điểm được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đến nay, bà Th không liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện chỉnh lý về quyền sử dụng đất. Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ (chồng) tạo lập trong thời kì hôn nhân”; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 “Tài sản chung thuộc sở hữu chung của vợ chồng là tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng kí quyền sở hữu thì giấy đăng ký phải ghi tên cả hai vợ chồng”; các Điều 44, 46 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về tài sản riêng của mình “Có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung”, “Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận”. Như vậy, căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông B.V.T có tên bên nhận chuyển nhượng, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ bà V.T.Th gồm cả ông B.V.T, và thực tế từ năm 2004 bà Th biết quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình trong đó có ông T nhưng bà Th không có ý kiến, không khiếu nại, như vậy đã thể hiện bà Th và ông T mặc nhiên thừa nhận nhà và đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà Th. Chị B.V.T.N và anh B.V.M.T xác nhận không liên quan gì đến tài sản này nên không xét. Ông T và bà Th cho rằng tài sản này đã được phân chia năm 2011 thể hiện tại “Bản thỏa thuận”, thấy: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 108/2010/QĐST-HNGĐ ngày 25/11/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa, ông T và bà Th tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau đó, ông T và bà Th đã lập “Bản thỏa thuận” viết tay đề ngày 28/02/2011 nội dung: “Ông T tự nguyện không chia căn nhà tại Ô2, ấp Bắc, xã H.L, Bà Rịa Vũng Tàu ...” và “Tôi B.V.T tự nguyện không tranh chấp tài sản với vợ + con trai tôi, những tài sản mà họ đã đứng tên chủ quyền độc lập là của họ vĩnh viễn, không liên quan tới tôi.” Bản thỏa thuận không được cơ quan nhà nước xác nhận và sau khi hai bên thỏa thuận, ông T và bà Th cũng không thực hiện thủ tục chỉnh lý về quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 46 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất 7" + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Không chấp nhận kháng cáo của ông B.V.T và bà V.T.Th. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu như sau: Căn cứ các Điều 227, 228, 147, 157, 165, 166, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 102, 212, 213 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; các Điều 27, 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 33, 44, 46, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 46 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.H.L về yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng để thi hành án đối với ông B.V.T. Xác định phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của ông B.V.T như sau: Ông B.V.T có quyền hưởng 30% giá trị quyền sử dụng đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 do Ủy ban nhân dân thị xã B.R cấp ngày 16/4/2004 cho hộ ông (bà) V.T.Th; ông B.V.T có quyền sở hữu 30% giá trị tài sản gắn liền với đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 do Ủy ban nhân dân thị xã B.R cấp ngày 16/4/2004 cho hộ ông (bà) V.T.Th nêu trên. 2. Chi phí định giá, đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và sao lục hồ sơ là 10.000.000 (mười triệu) đồng: Ông T.H.L tự nguyện chịu. Đã nộp xong. 3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông B.V.T phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông B.V.T và bà V.T.Th mỗi người phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm Các Thẩm phán: Ông Cao Xuân Long Ông Trịnh Hoàng Anh" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Nguyên đơn: Ông T.H.L, sinh năm 1952, địa chỉ: Số 336 đường H.V, tổ 1, khu phố 1, phường L.T, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Bị đơn: Ông B.V.T, sinh năm 1956; hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp Bắc 1, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam C.B, tỉnh Bến Tre – Bộ Công an. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Bà Thành Thị Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa" + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông T.H.L trình bày: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2014/HSST ngày 28/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Bản án hình sự phúc thẩm số 649/2015/HSPT ngày 25/11/2015 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 134/QĐ-CTHA ngày 18/01/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ông T.H.L là người được thi hành án, theo đó, ông B.V.T có nghĩa vụ bồi thường cho ông L số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và tiền lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên đến nay ông T vẫn chưa thực hiện bồi thường cho ông L." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông B.V.T trình bày: Tại bản tự khai ngày 03/11/2020, ông T trình bày: Ông và bà V.T.Th chung sống với nhau từ trước năm 1987 đến năm 2010 thì đồng tình ly hôn và có 02 (hai) người con chung là B.V.T.N, sinh năm 1979, B.V.M.T, sinh năm 1985. Tài sản chung để phân chia trong thời kỳ hôn nhân ông bà đã tự thỏa thuận, cụ thể ông bà có một mảnh đất diện tích khoảng 28.000m2 , tại xã S.R, huyện C.Đ nhưng sau đó đã thống nhất bán được 03 (ba) tỷ đồng và phần của ông T là 1,4 tỷ đồng. Số tiền này ông đã xài hết. Ngoài ra, ông bà không có tài sản chung nào khác. Còn mảnh đất 750,3m2 và hai căn nhà trên đất là do tiền cá nhân của em gái bà Th đang định cư tại Mỹ gửi về cho để xây dựng. Bản thân ông không có đóng góp gì trên mảnh đất và nhà nêu trên. Bởi lẽ đó nên vào ngày 28/02/2011, ông có viết một tờ giấy tay với nội 3 dung là căn nhà và đất ở H.L là ông không liên quan gì, ông để lại cho con trai là B.V.M.T và bà V.T.Th. Tờ giấy có tựa “Bản thỏa thuận” được ông tự nguyện viết và ký tên vào ngày 28/02/2011. Việc thỏa thuận và tự nguyện cho tài sản này, hai bên không ra công chứng vì nghĩ không cần thiết. Tại bản tự khai ngày 22/6/2021, ông T trình bày: Trong thời kỳ hôn nhân, đến khi ly hôn vào tháng 10/2010, số tài sản chung của ông bà gồm có: 02 (hai) căn nhà được xây dựng trên diện tích 750,3m2 tại xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; 01 (một) trang trại chăn nuôi trên diện tích 28.000m2 tại xã S.R, huyện C.Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; 01 (một) xe ô tô hiệu Suzuki – Vitara và một số vật chất khác (bút lục số 61). Tại thời điểm ly hôn, ông, bà đã tự thỏa thuận phân chia tài sản, cụ thể: Ông T được hưởng 1,4 tỷ đồng là tiền bán trang trại ở xã S.R, huyện C.Đ và 01 xe ô tô; còn bà Th được hưởng những tài sản còn lại trong đó có nhà đất tại xã H.L. Sau đó, ông có viết một tờ giấy tự nguyện cho tài sản và đã ký tên vào ngày 28/02/2011. Văn bản này là chứng cứ thể hiện số tài sản mà bà Th và con trai đang đứng chủ sở hữu là tài sản riêng, bản thân ông không có liên quan gì đến tài sản đó. Việc tại sao ông có tên trong hồ sơ cấp giấy là do thủ tục hành chính yêu cầu theo đúng quy định thời điểm lúc bấy giờ." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ 10, xã H.L, thành phố B.R, diện tích 750,3m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X540788 cấp ngày 16/4/2004 là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông T và bà Th. Căn cứ quy định điểm b, khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “khi chia tài sản chung nguyên tắc là chia đôi, nhưng có T đến các yếu tố sau: công sức đóng góp của vợ (chồng) vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung”. Theo lời khai của bà Th và được ông T, bà N, ông M.T thừa nhận từ việc tạo lập, phát triển khối tài sản là thửa đất số 48, tờ bản đồ 10, xã H.L và tài sản gắn liền với đất thì bà Th có công sức đóng góp nhiều hơn vào khối tài sản chung so với ông T. Do đó, khi chia tài sản chung, bà 5 Th được hưởng 60% giá trị tài sản; ông T được hưởng 40% giá trị tài sản. Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà Th. Giữ nguyên bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: [1] Xét kháng cáo của ông B.V.T và bà V.T.Th: [1.1] Diện tích đất 4.790m2 thửa 42, tờ bản đồ số 31, xã H.L, thành phố B.R có nguồn gốc của bà B.T.B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số B 541096 ngày 10/12/1992. Sau đó, bà B chiết một phần đất diện tích 712m2 thuộc thửa 631/42, tờ bản đồ số 31, chuyển nhượng cho bà V.T.Th và ông B.V.T thể hiện tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận của UBND xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa và xác nhận của phòng địa chính thị xã Bà Rịa ngày 29/4/1997. Năm 2002, bà Th lập thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên và được UBND thị xã Bà Rịa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 ngày 16/4/2004, thửa đất đổi thành thửa 48, tờ bản đồ số 10, diện tích 750,3m2. Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, đất được công nhận quyền sử dụng cho “hộ ông (bà) V.T.Th”. Công văn số 668/TN-MT ngày 28/11/2019 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bà Rịa xác định “diện tích đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã Hòa Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 ngày 16/4/2004 được cấp có nguồn gốc là do ông B.V.T và bà V.T.Th nhận chuyển nhượng của bà B.T.B. Do đó, “hộ ông (bà) V.T.Th” tại Giấy chứng nhận nêu trên được xác định bao gồm ông B.V.T và bà V.T.Th”. Qua đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Bà Rịa lập, duyệt ngày 20/01/2021, diện tích đất còn lại là 616,8m2. Qua xác minh, thể hiện vào năm 2004, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã thu hồi một phần diện tích đất để “Mở rộng Hương lộ 2 tại xã H.L, thành phố B.R”. Bà Th xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường, không khiếu nại gì nhưng chưa làm thủ tục chỉnh lý diện tích đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Th cho rằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản riêng của bà Th, thời điểm bà nhận chuyển nhượng đất của bà B khoảng năm 1993 - 1994, hai bên không lập giấy chuyển nhượng. Ny sau khi nhận chuyển nhượng, bà Th xây căn nhà diện tích khoảng 120m2 để ở, đến năm 2008 bà Th xây thêm căn nhà phía sau diện tích khoảng 30m2 và giữ nguyên hiện trạng từ đó đến nay, toàn bộ nguồn tiền để mua đất, xây nhà đều do gia đình bà Th hỗ trợ, chồng bà Th khi đó là ông B.V.T và con bà Th là chị B.V.T.N và anh B.V.M.T không đóng góp công sức gì vào khối tài sản này, nhưng bà Th không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung này mà chỉ được ông T, chị N và anh M.T xác nhận. Việc xây dựng nhà cũng không được chính quyền địa phương cấp giấy phép nên địa phương không nắm được thời gian xây dựng. 6 Bà Th và ông T cho rằng ông T có tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do thủ tục hành chính thời điểm đó yêu cầu và do mẫu của cơ quan Nhà nước quy định nên bà Th, ông T phải chấp hành. Lời trình bày này của bà Th và ông T là không hợp lý, vì nếu ông T thừa nhận là tài sản riêng của bà Th thì bà Th có quyền không đưa ông T vào tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hai bên có quyền lập thủ tục xác định nhà và đất này là tài sản riêng của bà Th khi thực hiện giao dịch, nhưng ông T cùng đứng tên trong hợp đồng. Tại biên bản lời khai ngày 08/12/2020, bà Th trình bày khi biết giấy chứng nhận quyên sử dụng đất mới cấp cho hộ gia đình, bà đã có ý kiến với Ủy ban cấp giấy về hai vấn đề: Thứ nhất là giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình là kh��ng đúng, thứ hai là diện tích đất có sự chênh lệch, nhưng bà Th không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về nội dung trình bày này; còn ông T cho rằng đây là mẫu chung của giấy chứng nhận, tuy nhiên, trong suốt quá trình từ năm 2004 (thời điểm được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đến nay, bà Th không liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện chỉnh lý về quyền sử dụng đất. Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ (chồng) tạo lập trong thời kì hôn nhân”; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 “Tài sản chung thuộc sở hữu chung của vợ chồng là tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng kí quyền sở hữu thì giấy đăng ký phải ghi tên cả hai vợ chồng”; các Điều 44, 46 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về tài sản riêng của mình “Có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung”, “Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận”. Như vậy, căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông B.V.T có tên bên nhận chuyển nhượng, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ bà V.T.Th gồm cả ông B.V.T, và thực tế từ năm 2004 bà Th biết quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình trong đó có ông T nhưng bà Th không có ý kiến, không khiếu nại, như vậy đã thể hiện bà Th và ông T mặc nhiên thừa nhận nhà và đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà Th. Chị B.V.T.N và anh B.V.M.T xác nhận không liên quan gì đến tài sản này nên không xét. Ông T và bà Th cho rằng tài sản này đã được phân chia năm 2011 thể hiện tại “Bản thỏa thuận”, thấy: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 108/2010/QĐST-HNGĐ ngày 25/11/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa, ông T và bà Th tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau đó, ông T và bà Th đã lập “Bản thỏa thuận” viết tay đề ngày 28/02/2011 nội dung: “Ông T tự nguyện không chia căn nhà tại Ô2, ấp Bắc, xã H.L, Bà Rịa Vũng Tàu ...” và “Tôi B.V.T tự nguyện không tranh chấp tài sản với vợ + con trai tôi, những tài sản mà họ đã đứng tên chủ quyền độc lập là của họ vĩnh viễn, không liên quan tới tôi.” Bản thỏa thuận không được cơ quan nhà nước xác nhận và sau khi hai bên thỏa thuận, ông T và bà Th cũng không thực hiện thủ tục chỉnh lý về quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 46 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất 7" + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 120/2022/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2022 V/v: Tranh chấp xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Không chấp nhận kháng cáo của ông B.V.T và bà V.T.Th. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu như sau: Căn cứ các Điều 227, 228, 147, 157, 165, 166, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 102, 212, 213 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; các Điều 27, 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 33, 44, 46, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 46 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.H.L về yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng để thi hành án đối với ông B.V.T. Xác định phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của ông B.V.T như sau: Ông B.V.T có quyền hưởng 30% giá trị quyền sử dụng đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 do Ủy ban nhân dân thị xã B.R cấp ngày 16/4/2004 cho hộ ông (bà) V.T.Th; ông B.V.T có quyền sở hữu 30% giá trị tài sản gắn liền với đất thửa số 48, tờ bản đồ số 10, xã H.L, thành phố B.R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 540789 do Ủy ban nhân dân thị xã B.R cấp ngày 16/4/2004 cho hộ ông (bà) V.T.Th nêu trên. 2. Chi phí định giá, đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và sao lục hồ sơ là 10.000.000 (mười triệu) đồng: Ông T.H.L tự nguyện chịu. Đã nộp xong. 3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông B.V.T phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông B.V.T và bà V.T.Th mỗi người phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": " Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ Ông Đặng Đức Hào" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Nguyên đơn: Bà V.T.T.H, sinh năm 1960; địa chỉ: 459/25 T.C.Đ, phường 7, thành phố V.T, tỉnh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà L.H.T, sinh năm 1987; địa chỉ: 154/21A T.C.Đ, phường 7, thành phố V.T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đ.T.T – Công ty Luật TNHH MTV Đ.T – Đoàn luật sư tỉnh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bị đơn: Ông T.V.T, sinh năm 1973; địa chỉ: 447 T.C.Đ, phường 7, thành phố V.T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt). 2 Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông N.V.N, sinh năm 1985; bà N.T.Tr, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: 427/3 N.A.N, phường 9, thành phố V.T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- V.T: Bà Thành Thị Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V.T.T.H và người đại diện hợp pháp của bà T.H trình bày: Năm 1991, bà T.H và chồng là ông L.Q.Đ nhận chuyển nhượng c���a ông K.T.C một mảnh đất diện tích 1174m2 thuộc thửa đất số 49 (cũ 177), tờ bản đồ số 36 (cũ 07) tại địa chỉ số 459/25 T.C.Đ, phường 7, thành phố V.T (gọi tắt là thửa đất số 49). Khi nhận chuyển nhượng hai bên lập đơn xin chuyển nhượng thành quả lao động, kết quả đầu tư có gắn liền việc sử dụng đất; có đo đạc, cắm mốc bằng cọc tre và được Sở Thủy sản xác nhận đơn, cấp sơ đồ vị trí cùng ngày 04-10-1991. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình bà T.H chưa có nhu cầu sử dụng đất nên đến năm 1993 mới xây dựng tường rào, nhà và ở trên đất cho đến nay. Khi xây dựng tường rào, bà không đo lại diện tích đất. Ngày 18-9-1997, phần đất trên được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 22-11-1999, bị thu hồi giấy chứng nhận và được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 898427 cho hộ ông L.Q.Đ với cùng diện tích 1.174m2 đất gồm 230m2 đất ở và 944m2 đất nông nghiệp (gọi tắt là giấy chứng nhận số O 898427). Năm 2004, bà T.H và ông Đ chuyển nhượng 171,8m2 đất gồm 40m2 đất ở và 131,8m2 đất nông nghiệp cho ông L.V.H, bà N.T.L. Sau khi chuyển nhượng, bà T.H và ông Đ làm thủ tục chuyển mục đích 40m2 đất nông nghiệp sang đất xây dựng nhà ở nên diện tích đất còn lại hiện nay của bà T.H và ông Đ là 1002,2m2 gồm 230m2 đất ở và 772,2m2 đất nông nghiệp. Năm 2019, ông T.V.T, bà P.T.H1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 50 cũ, tờ bản đồ số 36 (gọi tắt là thửa 50 cũ) của ông N.T.Th, bà Đ.T.K.V thì bà T.H được bà Thanh H1 cho biết chiều ngang thửa đất số 50 cũ là 15m, trong khi bà T.H biết thửa " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông T.V.T và người đại diện hợp pháp của ông T.V.T trình bày: Ngày 19-3-2019, ông T và vợ là bà P.T.H1 nhận chuyển nhượng 577,2m2 đất thuộc thửa đất số 50 cũ theo giấy chứng nhận số CP 931896, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V.T điều chỉnh qua tên chủ sử dụng vợ chồng ông T, bà Thanh H1 ngày 25-3-2019. Đất có nguồn gốc và thay đổi diện tích như bà T.H trình bày, tuy nhiên việc bà T.H cho rằng diện tích đất bà T.H thiếu nằm trong thửa đất số 50 là không đúng bởi vì khi bà T.H, ông Đ nhận chuyển nhượng đất từ ông C thì không thể hiện rõ kích thước các cạnh, đường hẻm lúc đó rộng 3,2m. Khi ông Đ, bà T.H làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng 40m2 đất thì đường hẻm 459 tiếp giáp thửa đất số 49 của ông Đ bà T.H rộng 4,5m và chiều ngang thửa đất số 49 vẫn là 24,40m như hiện nay. Mặt khác, tường rào ranh giới giữa " + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L.Q.Đ trình bày: Ông đồng ý với toàn bộ ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà T.H, ông Đ không có yêu cầu nào khác." + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Tại bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố V.T đã quyết định như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.T.T.H về việc buộc ông T.V.T trả lại cho bà T.H diện tích 36,9m2 đất, gồm: 21,7m2 , thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 36 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR949339 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 19-7-2019 cho ông T.V.T, bà P.T.H1 và 15,2m2 đất thuộc thửa đất số 463, tờ bản đồ số 36 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 801127 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 10-9-2019 cho ông T.V.T, bà P.T.H1; hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR949339, số CS 801127 tương ứng với diện tích 36,9m2 đất nói trên. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí sao lục hồ sơ, thẩm định, định giá Tài sản, án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo. - Ngày 11/7/2022 bà V.T.T.H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Buộc gia đình ông T.V.T trả lại cho gia đình bà T.H 30,2m2 đất mà gia đình ông T đã chiếm của bà T.H" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Có căn cứ xác định tường rào nguyên đơn xây dựng từ năm 1993 là xây đúng ranh giới và các bên đã sử dụng đất ổn định ranh giới từ năm 1993 đến nay. Phần diện tích đất thiếu của thửa 49, tờ bản đồ số 36 không nằm trong thửa 50 (nay là một phần thửa 454, 463, tờ bản đồ số 36). Do đó, yêu cầu của bà V.T.T.H buộc ông T.V.T trả lại diện tích đất 36,9m2 theo sơ đồ vị trí ngày 29/3/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CR949339 cấp ngày 19/7/2019, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS801127 cấp ngày 10/9/2019 cho ông T.V.T, bà P.T.H1 là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 6 NHẬN ĐỊNH" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: [1] Xét kháng cáo của bà V.T.T.H: [1.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất thửa số 49 (cũ 177), tờ bản đồ số 36 (cũ 07), phường 7, thành phố V.T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Theo sự xác nhận của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Năm 1991, bà V.T.T.H và ông L.Q.Đ nhận chuyển nhượng của ông K.T.C diện tích đất 1174m2 theo “đơn xin chuyển nhượng thành quả lao động, kết quả đầu tư có gắn liền việc sử dụng đất” (BL 128). Ngày 18-9-1997 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 099304 (gọi tắt là giấy chứng nhận H 099304) diện tích 1.174m2 cho ông L.Q.Đ (BL137). Khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ không nộp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, đất nên ngày 22-11-1999, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 6019/QĐ-UB thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận H 099304 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 898427 (gọi tắt là giấy chứng nhận O898427) cho hộ ông L.Q.Đ với diện tích 1.174m2, gồm 230m2 đất ở và 944m2 đất nông nghiệp (BL 56, 57). Năm 2003, bà T.H và ông Đ chuyển nhượng 171,8m2 đất, gồm 40m2 đất ở và 131,8m2 đất nông nghiệp cho ông L.V.H, bà N.T.L được Ủy ban nhân dân thành phố V.T xác nhận ngày 10-3-2004 tại trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 898427, diện tích đất còn lại 1002,2m2, gồm 190m2 đất ở và 812,2m2 đất nông nghiệp (BL 56). Sơ đồ vị trí do Trung tâm kỹ thuật T nguyên môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 10-5-2004 (viết tắt là Sơ đồ ngày 10-5-2004) (BL 143) kèm biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất ngày 23-4-2004 thể hiện phần đất thực tế còn lại của ông Đ, bà T.H là 972m2. Ngày 30-6-2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 4457/QĐ-UB kèm sơ đồ vị trí đất cùng ngày của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cho phép ông (bà) L.Q.Đ được chuyển mục đích 40m2 đất nông nghiệp sang xây dựng nhà ở, được điều chỉnh tại trang 4 giấy chứng nhận số O 898427 (BL 56). Diện tích đất còn lại theo giấy chứng nhận số O 898427 là 1002,2m2, gồm 230m2 đất ở và 772,2m2 đất nông nghiệp; Sơ đồ ngày 30-6-2004 kèm Quyết định trên được can vẽ theo sơ đồ ngày 10-5-2004. Tòa án đã yêu cầu Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh đo vẽ thửa đất số 49 đồng thời lồng ghép giấy chứng nhận O 898427 vào Sơ đồ ngày 04- 10-1991 với sơ đồ vị trí sử dụng hiện nay nhưng Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh không thực hiện được do không có tọa độ nền nên không có cơ sở lồng ghép (BL 114). Sơ đồ ngày 04-10-1991 thể hiện phần đất nguyên đơn có đặc điểm: Cạnh giáp tường rào khu 5 tầng gồm 02 đoạn ngang là 17,5m và 11,9m; 01 đoạn gấp khúc dài 06m; cạnh giáp đường hẻm gồm một đoạn thẳng và một đoạn lồi lõm không có so liệu; cạnh giáp đất ông C (thửa đất số 50 cũ) dài 40,8m; cạnh giáp đất ông Tr không có số liệu độ dài; đường đi chung (nay là hẻm 459) đoạn giáp thửa đất số 49 rộng 3,2m. So sánh các đoạn (17,5m; 6,0m) vị trí cạnh giáp khu 5 tầng tại sơ đồ ngày 04- 10-1991 với các đoạn gồm điểm 9, 10, 11, 12 (9,89m; 7,62m; 6,03m) sơ đồ ngày 16- 6-2022 và các đoạn gồm điểm 285, 292, 269, 291 (9,88; 7,62m; 6,03m) sơ đồ ngày 10-5-2004 thì hình thể giống nhau và độ dài cạnh thực tế sử dụng hiện nay dài hơn cạnh tương ứng tại sơ đồ ngày 04-10-1991 khoảng 0,01m đến 0,03m (9,89m + 7,62m so với 17,5 và 6,03m so với 6,0m). Do đó, xác định kích thước vị trí đất của nguyên đơn phần giáp khu 5 tầng giữa sơ đồ ngày 16-6-2022 và sơ đồ ngày 04-10-1991 là không thay đổi. So sánh đoạn giáp đất ông Cỏn tại sơ đồ ngày 04-10-1991 là 40,8m và đoạn 7, 8 và 9 sơ đồ ngày 16-6-2022 là 39,66m. Như vậy cạnh này hiện nay ngắn hơn cạnh theo sơ đồ ngày 04-01-1991 là 1,14m. Sơ đồ ngày 04-10-1991 có 02 cạnh không thể hiện kích thước. Tòa án đã yêu cầu cơ quan chuyên môn tiến hành phục dựng sơ đồ này nhưng không thực hiện được vì không đủ cơ sở kỹ thuật (BL 559). Tại sơ họa mốc ranh giới thửa đất trong biên bản xác định ranh giới mốc thửa đất ngày 23-4-2004 xác định ranh giới thửa đất ở thực địa theo sự chỉ ranh và mốc ranh giới của ông Đ, do Trung tâm kỹ thuật cung cấp (BL 558), biên bản này là cơ sở cấp sơ đồ ngày 10-5-2004. So sánh số liệu này với Sơ đồ ngày 16-6-2022 thì độ dài cạnh giáp đường hẻm 459 (điểm 6, 7) không đổi là 24,46m, độ dài cạnh giáp thửa 50 cũ (điểm 9, 8, 7) dài hơn 0,09m (22,81m + 16,85m - 39,57m); độ dài cạnh giáp nhà ông H (điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6) ngắn hơn 0,037m (7,8m + 7,8m + 7,8m + 12,78m + 0,47m - 36,687m). Như vậy các cạnh nêu trên có độ dài chênh lệch rất nhỏ hoặc không đổi. Tại bản kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ ngày 09-9-1992 (BL 123, 150), chiều dài các cạnh của thửa đất ông Đ đăng ký là: Bắc giáp đất ông C dài 40,8m; Nam giáp L.H.Tr dài 32m; Đông giáp đất bà S.C dài 29,5m; Tây giáp bờ rào 5 tầng dài 29,5m. So sánh kích thước các cạnh thửa đất theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ ngày 09-9-1992 với kích thước đất hiện nay theo sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022, thể hiện: - Đoạn phía Đông giáp bà S.C là 29,5m theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992, tương ứng với đoạn giáp đường hẻm hiện nay có kích thước 29,58m (gồm đoạn từ điểm 7 đến điểm 6 và phần đất đã chuyển nhượng cho ông H, bà L có chiều ngang là 5,12m theo sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022), chênh lệch rất nhỏ là 0,08m. - Đoạn phía Bắc giáp đất ông C là 40,8m theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992 (phù hợp sơ đồ ngày 04-01-1991 thể hiện đoạn này là 40,8m) và đoạn 7, 8 và 9 theo sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022 là 39,66m, đoạn này hiện nay ngắn hơn đoạn theo bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992 là 1,14m. - Đoạn phía Nam giáp L.H.Tr là 32m theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992, tương ứng hiện nay là đoạn 8,97m + 7,80m + 7,80m + 5,23m = 29,8m theo sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022. Đoạn này hiện nay ngắn hơn so với bản kê khai đăng ký của ông Đ ngày 09-9-1992 là 2,2m . - Đoạn phía Tây giáp bờ rào 5 tầng là 29,5m theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992, tương ứng hiện nay là đoạn 9,10,11,12 và 1 (sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022) là 29,32m. Đoạn này hiện nay ngắn hơn theo Bản kê khai đăng ký cấp giấy của ông Đ ngày 09-9-1992 là 0,18m. Qua việc so sánh trên cho thấy diện tích đất thửa 49 cũ của nguyên đơn giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn trước đây là do biến động giảm kích thước chiều dài của thửa đất đoạn từ đường hẻm hiện nay đến giáp khu 5 tầng như nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T.H, ông Đ xác nhận kích thước thửa đất của bà T.H, ông Đ phía giáp khu 5 tầng hiện nay không thay đổi so với Sơ đồ ngày 04-10- 1991, bị đơn chỉ lấn phần đất phía trước; bà T.H kháng cáo yêu cầu bị đơn trả lại cho bà T.H 30,2m2 đất trong phần đất tranh chấp 36,9m2. Bà T.H và ông Đ cũng xác nhận tường rào do bà T.H và ông Đ xây dựng năm 1993 là để xác định ranh giới sử dụng đất của mình, từ trước đến nay bà T.H, ông Đ không sử dụng phần đất tranh chấp. [1.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất thửa số 50 cũ, tờ bản đồ số 36, phường 7, thành phố V.T: Ông T.V.K, bà P.T.Q nhận chuyển nhượng diện tích đất 549m2 của ông K.T.C (BL 200), được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 099301 (gọi tắt là giấy chứng nhận H 099301) ngày 18-9-1997. Ngày 20-01-1998 được điều chỉnh diện tích là 596m2 theo thực tế sử dụng được Sở địa chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận tại trang 4 giấy chứng nhận H 099301 (BL 187). Ông K, bà Q chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông N.T.Th, bà Đ.T.K.V, được Sở Địa chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K, bà Q với ông Th, bà V kèm sơ đồ vị trí và xác nhận tại trang 4 giấy chứng nhận H 099301 cùng ngày 21-01-1998 (BL 187, 194, 197). Ngày 12-3-2019, ông Th, bà V được Sở T nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp lại giấy chứng nhận số CP 931896, diện tích 577,2m2 đất, gồm 150m2 đất ở và 427,2m2 đất trồng cây lâu năm. Ngày 19-3-2019, ông Th, bà V chuyển nhượng toàn bộ 577,2m2 đất trên cho ông T.V.T và bà P.T.H1 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V.T điều chỉnh sang tên ông T và bà Thanh H1 ngày 25-3-2019 tại trang 4 giấy chứng nhận số CP 931896 (BL 180). Ngày 10-4-2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hợp 03 thửa đất số 449, 450, 50 thành thửa đất số 451, tiếp theo tách thửa 451 thành 4 thửa 452, 453, 454, 455; ngày 19-7-2019 cấp lại giấy chứng nhận đất thửa số 454, 455 do xác định lại diện tích đất ở; ngày 10-9-2019, tách thửa đất số 455 thành 02 thửa 463, 464 và cấp 02 giấy chứng nhận cho chủ sử dụng đất là ông T.V.T và bà P.T.H1. Như vậy, thửa đất số 50 mà ông T, bà Thanh H1 nhận chuyển nhượng của ông Th, bà V nay được điều chỉnh thành thửa 453/1 diện tích 37,9m2 nằm trong thửa đất số 453 diện tích 144,6m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 685434 cấp ngày 10-4-2019; thửa 454 diện tích 385,9m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339 cấp ngày 19-7-2019; thửa 463 diện tích 76,3m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 801127 và thửa đất 464, diện tích 77,3m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 801128 cấp cùng ngày 10-9-2019. Đối chiếu với hồ sơ Tòa án thu thập và ý kiến của Sở T nguyên và môi trường tỉnh cho thấy việc ông T, bà Thanh H1 nhận chuyển nhượng, tách, hợp thửa đất 50 cũ được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh thực hiện đúng quy định pháp luật. Đối với việc biến động diện tích đất thửa 50 cũ: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh xác nhận tại thời điểm điều chỉnh tăng diện tích từ 549m2 sang 596m2 thì ông K sử dụng hợp pháp, ổn định về ranh giới, không tranh chấp. Bản đồ địa chính trước năm 2002 đo vẽ bằng phương pháp thủ công, không có độ chính xác cao nên dẫn đến việc diện tích đã cấp giấy chênh lệch so với diện tích thực tế sử dụng và không xác định được diện tích tăng tại vị trí nào của thửa đất. Việc xác nhận điều chỉnh tăng diện tích theo Hướng dẫn số 777/HD-ĐC ngày 03-10-1997 của Sở Địa chính đối với trường hợp có diện tích chênh lệch nhỏ hơn 10% đ��t nông nghiệp sử dụng ổn định (không phải đất do Nhà nước giao) (BL 340, 470). Việc cấp lại giấy chứng nhận số CP 931896 là do ông Th, bà V có đơn đề nghị cấp lại vì mất giấy chứng nhận được quy định tại Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính Phủ (BL 497). Diện tích đất giảm 18,8m2 từ 596m2 xuống 577,2m2 được xác định theo thực tế sử dụng, thửa đất được xây dựng tường rào cố định, có ranh giới rõ ràng. Việc điều chỉnh giảm 18,8m2 đất trồng cây lâu năm do có đơn ngày 28-02-2019 của bà V cam kết giảm diện tích, chấp nhận diện tích theo số liệu đo đạc thực tế và không ghi nhận tài sản trên đất, được căn cứ tại điểm k khoản 1 Điều 99, khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 (BL 246). Qua xem xét thẩm định tại chỗ và sự thừa nhận của các bên đương sự, xác định ranh giới giữa thửa đất số 50 cũ và 49 cũ có chung tường rào do bà T.H xây dựng khoảng năm 1993 và các bên căn cứ ranh giới này sử dụng từ đó cho đến nay. Tại thời điểm tăng diện tích đất thửa 50 cũ thì chủ sử dụng các thửa đất số 49 và 50 cũ không có tranh chấp. Việc điều chỉnh tăng diện tích đất có đơn “xem xét lại diện tích đất đang sử dụng” của bà Q, được Ủy ban nhân dân phường 7 xác nhận, được Sở Địa chính xác nhận trang 4 giấy chứng nhận H 099301. Điều này phù hợp với ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh về việc thời điểm điều chỉnh tăng diện tích từ 549m2 sang 596m2 thì ông K, Q sử dụng hợp pháp, ổn định về ranh giới, không tranh chấp. Về việc điều chỉnh giảm diện tích từ 596m2 thành 577,2m2 do cấp lại giấy chứng nhận do giấy chứng nhận số H 099301 bị mất bản chính và đơn cam kết giảm diện tích và không ghi nhận tài sản trên đất của bà V ngày 28-02-2019 (BL 204, 209, 210). Như vậy việc tăng, giảm diện tích thửa đất số 50 cũ được thực hiện đúng quy định pháp luật. Ranh giới giữa thửa đất số 49, 50 cũ không thay đổi trong các lần điều chỉnh tăng, giảm diện tích thửa đất số 50 cũ cho đến nay. Diện tích đất tranh chấp 36,9m2 thuộc lô B diện tích 21,7m2 và lô D diện tích 15,2m2 thửa 454 và 463, tờ bản đồ số 36 (theo sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông T.V.T, bà P.T.H1, hiện do ông T, bà Thanh H1 đang quản lý sử dụng. [1.3] Sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là sơ đồ vị trí ngày 29-3-2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhưng có chỉnh sửa nội dung ghi chú và bảng kê tọa độ do bị nhầm lẫn, do vậy căn cứ sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022 để giải quyết. [1.4] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông T.V.K, bà P.T.Q xác nhận ông, bà mua nhà và đất khoảng năm 1991 – 1992, đất đã được cắm mốc từ trước, có ranh giới rõ ràng với tứ cận. Trong suốt quá trình ông K, bà Q sử dụng ổn định theo ranh giới có sẵn không tranh chấp với ai. Khoảng năm 1997 ông K, bà Q bán lại nhà và đất cho ông Th và bà V. Từ khi mua đến khi bán hiện trạng đất không thay đổi, ông K, bà Q đã bàn giao nhà và đất đúng khuôn viên ranh giới đã nhận từ ông Cỏn. Việc mua bán đã xong, hiện nay ông K, bà Q không còn quyền lợi gì và không liên quan gì đến đất tranh chấp. [1.5] Bà V.T.T.H cho rằng thửa đất số 50 cũ có nguồn gốc do ông K.T.C chuyển nhượng cho ông T.V.K, bà P.T.Q, khi chuyển nhượng, mặt tiếp giáp đường hẻm và mặt tiếp giáp khu 5 tầng đều có chiều ngang đất dài 14m, phía bị đơn không thừa nhận nội dung trình bày này của bà T.H, bà T.H không có chứng cứ chứng minh về nội dung trình bày này của mình nên không có căn cứ chấp nhận. [1.6] Ông P.X.Đg là người làm chứng theo đề nghị của nguyên đơn xác nhận đường hẻm giáp đất bà T.H rộng ra do các hộ đối diện đất bà T.H sử dụng lùi vào và không ảnh hưởng diện tích đất của bà T.H. Nhận thấy: Sự biến động của đường hẻm không là căn cứ để giải quyết vụ án như nhận định ở phần trên nên không xét nội dung trình bày này của ông Đg. [1.7] Từ phân tích và nhận định trên, có căn cứ xác định bà T.H xây dựng tường rào ranh giới giữa thửa đất số 49, 50 cũ là đúng ranh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà T.H. Không có căn cứ xác định phần diện tích đất của bà T.H và ông Đ thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 898427 cấp cho ông Đ, bà T.H là thuộc phần đất lô B sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022 thuộc thửa số 454, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339 cấp ngày 19-7-2019 và lô D sơ đồ vị trí ngày 16-6-2022 thuộc thửa đất số 463, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS801127 cấp ngày 10-9-2019 cấp cho ông T, bà Thanh H1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339 và số CS 801127 cấp cho ông T, bà Thanh H1 đúng quy định pháp luật. Việc bà T.H yêu cầu ông T.V.T trả lại cho bà diện tích 36,9m2 đất thuộc thửa số 454, 463, tờ bản đồ số 36 và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339, số CS 801127 tương ứng với diện tích đất 36,9m2 nêu trên là không có căn cứ chấp nhận. Không chấp nhận kháng cáo của bà V.T.T.H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. [2] Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, sao lục hồ sơ là 15.169.000 đồng: Bà V.T.T.H phải chịu. Đã nộp xong. [3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà V.T.T.H phải chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi; Ông T.V.T không phải chịu. [4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà V.T.T.H phải chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi. Vì các lẽ trên," + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày: 05 - 01 - 2023. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Không chấp nhận kháng cáo của bà V.T.T.H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố V.T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu như sau: Căn cứ vào các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 229, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 166, 167, 170 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.T.T.H về việc: Buộc ông T.V.T trả lại cho bà V.T.T.H diện tích đất 36,9m2, gồm: 21,7m2 đất thuộc thửa số 454, tờ bản đồ số 36, phường 7, thành phố V.T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 19-7- 2019 cho ông T.V.T, bà P.T.H1 và 15,2m2 đất thuộc thửa số 463, tờ bản đồ số 36, phường 7, thành phố V.T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 801127 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 10-9-2019 cho ông T.V.T, bà P.T.H1, và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.T.T.H về hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 949339 và số CS 801127 tương ứng với diện tích 36,9m2 đất nêu trên. 2. Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, sao lục hồ sơ là 15.169.000 đồng (mười lăm triệu một trăm sáu mươi chín nghìn đồng): Bà V.T.T.H phải chịu. Đã nộp xong. 3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà V.T.T.H phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà V.T.T.H phải chịu 300.000 đồng nhưng được miễn do là người cao tuổi. 5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi 11 hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. 6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Long Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Châu Ông Đặng Đức Hào " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1945; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1971; địa chỉ số X, khu phố Y, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt). " + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Bị đơn: - Ông Lê Văn L, sinh năm 1929 và bà Ngô Thị C, sinh năm 1933; HKTT: số X, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ông L, bà C đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L, bà C: Ông Lê Duy H, sinh năm 1975 (vắng mặt) và Lê Thị Thu B, sinh năm 1960 (vắng mặt); cùng trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên" + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Tại Đơn khởi kiện ngày 31-7-2018; ngày 03-5-2019 và quá trình tố tụng tại Tòa ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Hữu Đ đều trình bày: Nguyên từ năm 1972, ông B có nhận chuyển nhượng của ông H (nay đã chết) phần đất đùng ước tính diện tích khoảng 1,5ha để nuôi thủy sản (tôm, cá) và cũng để chứa nước làm ruộng muối. Trong quá trình sử dụng ông B có cải tạo mở rộng thêm phần diện tích khoảng 01 ha nữa, tổng cộng 2,5ha. Đến năm 1998 Nhà nước thu hồi 2.082m2 đất để làm công trình nhà máy sản xuất muối công nghiệp và bồi thường cho ông B số tiền 52.618.000 đồng. Phần diện tích còn lại hiện nay là thửa số 112, tờ bản đồ số 35, diện tích 23.902,4m2 tọa lạc tại phường Long Toàn thành phố B. Trong quá trình canh tác, sử dụng hơn 40 năm chỉ có gia đình ông B bỏ công sức, tiền của để nạo vét, làm bờ đùng nhưng xét thấy bà con xóm giềng 5 làm muối gần nhau nên ông B có cho 05 hộ như: ông Lê Văn L, Trần Văn L6, Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn L1 lấy nước từ đùng của ông B để dẫn vào ruộng muối của họ. Nhưng khi UBND thành phố B thu hồi 1.046m2 (thuộc một phần thửa 112, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại phường Long Toàn) và bồi thường số tiền 1.173.179.000 đồng để đầu tư xây dựng trụ sở làm việc Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì 05 hộ trên và các hộ nữa (nhưng ông B không biết họ là ai) xin đăng ký nhận tiền bồi thường và xảy ra tranh chấp. Việc mua đất của ông B và ông H có lập giấy tờ tay nhưng nay đã thất lạc. Tuy nhiên, ông B còn lưu giữ những giấy tờ khác để chứng minh ông B là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất này như:" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Đơn xin vay kiêm khế ước ngày 10-9-1976 (tại đơn vay thể hiện rõ là ông B vay vốn để thuê 250 công lao động và làm đùng và sửa ruộng muối; - Biên bản giao nhận tiền đền bù ngày 25-5-1998 (ông B được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đền bù 52.618.000 đồng khi thu hồi 2.082m2 đất đùng để xây dựng nhà máy sản xuất muối công nghiệp phường Long Toàn); - Tại biên bản hòa giải ngày 23-8-2017 của UBND phường Long Toàn thì chính các hộ dân tranh chấp đùng với ông B thừa nhận ông B đắp bờ, canh tác, sử dụng và hưởng sản lượng tôm, cá trên đùng này. Tại phiên tòa, ông Đ yêu cầu tuyên công nhận cho các ông (bà) Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thu T8, Nguyễn Thị Thu V, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Thị S, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị L5, Nguyễn Thị Thu N5 (là con ruột của ông Nguyễn Văn B và bà Hồ Thị S1 đều đã chết) được nhận số tiền bồi thường 1.173.179.000 đồng đối với phần đất 1.046,5m2 bị thu hồi trong quyết định số 2880/QĐ-UBND ngày 29-6-2017 và việc bồi thường, hỗ trợ trong quyết định số 2887/QĐ-UBND ngày 29-6-2017 của UBND thành phố B. Ngoài yêu cầu trên nguyên đơn không yêu cầu nào khác. Tại bản tự khai ngày 29-9-2018 và quá trình tố tụng tại tòa ông Lý Mộng K1 - đại diện theo ủy quyền của các bị đơn đều xác nhận: Ngày 18-6-2018, Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thụ lý hồ sơ dân sự số 167/2018/TLST-DS, về tranh chấp “Đòi tài sản”theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với 22 bị đơn bị thu hồi 1.046,5m2 đất tọa lạc tại phường Long Toàn, thành phố B để đầu tư dự án: trụ sở làm việc Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo Quyết định số 2880/QĐUBND ngày 29-6-2017. Nay ông K1 được nhận ủy quyền của những bị đơn nêu trên có ý kiến như sau: - Diện tích 23.904,2m2 do tập thể bà con Diêm dân khai phá trước năm 1975 để lấy nước làm muối thuộc thửa 112, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại phường Long Toàn, thành phố B và hàng năm đều sử dụng lấy nước mặn để làm muối. - Ngày 15-3-2017, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B ra Thông báo số 435/TB-TTPTQĐ công khai phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư đối " + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Các ông(bà) Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thu T8, Nguyễn Thị Thu V, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Thị S, Nguyễn Hữu P đều trình bày: Nguyên từ năm 1972, ông B có nhận chuyển nhượng của ông H (nay đã chết) phần đất đùng ước tính diện tích khoảng 1,5ha để nuôi thủy sản (tôm, cá) và cũng để chứa nước làm ruộng muối. Trong quá trình sử dụng ông B có cải tạo mở rộng thêm phần diện tích khoảng 01 ha nữa, tổng cộng 2,5ha. Đến năm 1998 Nhà nước thu hồi 2.082m2 đất để làm công trình nhà máy sản xuất muối công nghiệp và bồi thường cho ông B số tiền 52.618.000 đồng. Phần diện tích còn lại hiện nay là thửa số 112, tờ bản đồ số 35, diện tích 2.3902,4m2 tọa lạc tại phường Long Toàn thành phố B. " + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Đối với bà Nguyễn Thị Thu N5, sinh ngày 06-6-1977, có đăng ký lại giấy khai sinh tại UBND phường Long Toàn ngày 02-11-2000. Theo đơn cung cấp địa chỉ của ông Nguyễn Hữu Đ ngày 14-8-2020, thì bà Nguyệt đang sinh sống tại địa chỉ: 5 Floor, Room No 5, 5 Alley, 531 lane, quarter 2, Thong Shan Street, 10 Commue, Then Xing Waed, Ban Town, Xin Bei City, Taiwan. Ngày 19-9-2020, Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã gửi các tài liệu giấy tờ đồng thời hướng dẫn ghi ý kiến(theo phiếu chuyển phát số 794600 ngày 19-9-2020) nhưng đến nay đã quá 4 tháng bà N5 không phản hồi nên không ghi nhận được lời khai của bà N5. Theo giấy ủy quyền ngày 04-6-2021, bà Nguyễn Thị Thu N5 ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu Đ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà trong vụ án. Tại các phiên tòa, ông Đ đều trình bày ý kiến thay bà N5 là bà N5 có cùng yêu cầu với các ông bà như: Đ, P, T7, T8, và V “Yêu cầu được nhận chung toàn bộ số tiền bồi thường 1.173.179.000 đồng, do đất bị thu hồi đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. " + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B) đối với các bị đơn: Ông Lê Văn L, ông Nguyễn Văn L1, ông Nguyễn Thành N, ông Bùi Văn N1, ông Thái Văn T1, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn B1, ông Nguyễn Văn H2, ông Châu Ngọc M1, bà Nguyễn Thị Ánh T2, ông Nguyễn Tấn T3, ông Bùi Văn L2, ông Phạm Quốc T4, bà Võ Thị T5, ông Trần Văn L6, ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị Thu T5, ông Trần Thế H5, bà Đặng Thị Mai H6, ông Võ Phúc K và bà Lê Thị T7, về việc: “Đòi nhận tiền bồi thường do đất bị thu hồi”." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 54/2022/DS-PT Ngày 01 - 8 - 2022 V/v: “Tranh chấp khoản tiền bồi thường do quyền sử dụng đất bị thu hồi”", + "answer": "Tại công văn số: 3957 ngày 25-5-2020, của UBND thành phố B như sau: UBND thành phố B nhận được công văn số 60/CV-TA ngày 11-3-2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án ông Nguyễn Văn B khởi kiện. Qua rà sót hồ sơ về các nội dung mà Tòa án yêu cầu, UBND thành phố B có ý kiến như sau: Khi thực hiện công trình trụ sở làm việc Cục Hải quan tỉnh, phường Long Toàn, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; UBND thành phố đã ban hành quyết định số 2880/QĐ-UBND ngày 29-6-2017 và quyết định số 2887/QĐ-UBND ngày 29-6-2017 v/v thu hồi đất và bồi thường cho tập thể 22 hộ tại phường Long Toàn. Trong danh sách đối tượng bồi thường của công trình không có tên ông Nguyễn Văn B. Ngày 23-8-2017, UBND phường Long Toàn có mời ông B và 22 hộ dân lên làm việc hòa giải, kết quả hòa giải không thành (có biên bản hòa giải). Sau buổi hòa giải, ông B không có đơn khiếu nại gửi UBND phường Long Toàn, UBND thành phố B. UBND thành phố chỉ nhận được đơn khiếu nại ngày 10-8-2018 của ông Nguyễn Văn L1 là 1 trong 22 hộ dân thuộc công trình trụ sở làm việc Cục Hải quan Tỉnh. Qua quá trình làm việc giải quyết khiếu nại ngày 11-12-2018, ông Lịnh có đơn xin rút khiếu nại và đã được UBND thành phố ban hành Thông báo không thụ lý giải quyết đơn số 04/TB-UBND ngày 03-01-2019. Về số tiền bồi thường: " + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử ", + "answer": "" + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu Ông Cao Xuân Long" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1962; địa chỉ: 70 T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Bị đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q; địa chỉ: 21 C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Ông Lê Văn Thiên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. " + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Minh M trình bày: Ông và bà Lê Thị Z là vợ chồng. Ông và bà Z có tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 1.829m2 thửa số 115 tờ bản đồ 38 xã Kim Long (nay là xã Bàu Chinh), huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Bà Z đã ủy quyền cho ông thửa đất nêu trên để vay vốn làm ăn nhưng bà Z lại ký hợp đồng thế chấp tài sản bảo lãnh cho Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ Phượng Lvay vốn của Ngân hàng TMCP Q. Ông không biết số tiền vay là bao nhiêu, không rõ vì sao Ngân hàng và Văn phòng công chứng Vì Dân lại chấp nhận cho bà Z đơn phương ký hợp đồng. Sau đó Ngân hàng ký hợp đồng bán đấu giá tài sản và hiện nay tài sản này đã chuyển sang tên người mua là ông Tô Hoài Đức. Ông đã liên hệ Ngân hàng TMCP Q để yêu cầu giải quyết nhưng không được giải quyết. Nay ông yêu cầu giải quyết nội dung sau:" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": " Ngân hàng TMCP Q có yêu cầu như sau: + Ngân hàng TMCP Q cho vay và nhận thế chấp tài sản theo quy định, được công chứng và đăng ký. Do khách hàng vay vốn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP Q xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ. Việc xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện đúng theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và 4 quy định của pháp luật, tài sản đã sang tên cho người mua được tài sản đấu giá, đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; + Nếu toà án xác định việc ký kết hợp đồng thế chấp có sai sót do thiếu chủ thể Bên thế chấp thì yêu cầu Toà án xác định phần giá trị tài sản thuộc quyền của bà Z và công nhận hiệu lực hợp đồng với phần tài sản đó, đồng thời công nhận hợp đồng mua bán tài sản đấu giá có hiệu lực, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại tài sản, bà Z có trách nhiệm trả cho ông M phần giá trị thuộc quyền sở hữu của ông trong khối tài sản chung nếu ông M có yêu cầu; + Trường hợp Toà án tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu (một phần hoặc toàn bộ) mà dẫn đến Ngân hàng TMCP Q phải trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đã thu thì buộc công ty TNHH Sản xuất Thương Mại Dịch vụ Phượng Lphải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tương ứng; buộc Văn phòng Công chứng đã chứng nhận hợp đồng phải bồi thường toàn bộ các chi phí xử lý nợ, bán đấu giá tài sản và bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng TMCP Q." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": " - Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Z trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Minh M, kết hôn năm 1986. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà mua được diện tích đất 1829m2 , thửa số 115, tờ bản đồ 38, xã Kim Long (nay là xã Bàu chinh), huyện Châu Đức. Ngày 18/4/2011, bà ký ủy quyền cho ông M thửa đất để tiện việc làm ăn. Khi ký ủy quyền tại văn phòng công chứng Vì Dân, bà không đọc nội dung, cán bộ văn phòng đưa giấy tờ thì bà ký tên, không biết là đã ký thế chấp tài sản cho công ty TNHH Sản xuất Thương Mại Dịch vụ Phượng L vay vốn. Khi ông M biết việc đã giận bà và bỏ đi Đăknông. Năm 2017 bà mới đi theo ông M đến Đăknông. Năm 2018 bà biết được đất của gia đình bà bị Ngân hàng bán cho ông Tô Hoài Đức. Ông M đã làm đơn khởi kiện, bà cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho gia đình bà được giữ lại thửa đất của gia đình. - Văn phòng công chứng Nguyễn Duy Thành, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu trình bày: Ngày 18/4/2011, công chứng viên Trần Văn Phúc, Văn phòng công chứng Vì Dân (nay là văn phòng công chứng Nguyễn Duy Thành) có tiếp nhận yêu cầu và xử lý hồ sơ công chứng của bà Lê Thị Z cùng chồng là ông Nguyễn Minh M và công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phượng Ldo ông Nguyễn Trí Phượng làm đại diện, cùng Ngân hàng TMCP Q – phòng giao dịch Cái Mép do ông Nguyễn Hữu Tuấn làm đại diện. Nội dung yêu cầu:" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Tô Hoài Đức do ông Đỗ Hoài P là người đại diện trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 115, tờ bản đồ số 38, xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có diện tích 1.829m2 là của hộ bà Lê Thị Z, được Ủy ban nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 027997 ngày 30/11/2014." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Ngày 03/12/2019 Ngân hàng TMCP Q kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa một phần bản án sơ thẩm. Công nhận một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 86.11.553.836227.DB ký ngày 18/4/2011 đối với quyền sử dụng đất 1.829m2 thửa 115 tờ bản đồ số 38 xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giữa bà Lê Thị Z là bên thế chấp và Công ty TNHH SX TMDV Phượng Llà bên vay với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Q. Yêu cầu Công ty TNHH SX TMDV Phượng Lphải thanh toán 2.605.375.000" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": " Quyền sử dụng đất diện tích 1.829m2 thửa số 115, tờ bản đồ số 38, xã Kim Long (nay là xã Bàu Chinh), huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là tài sản chung của ông Nguyễn Minh M và bà Lê Thị Z. Ngày 18/4/2011 bà Lê Thị Z ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên để bảo đảm cho Công ty TNHH SX TMDV Phượng Lvay vốn Ngân hàng TMCP Q. Ông Nguyễn Minh M không ký hợp đồng thế chấp và không ủy quyền cho bà Lê Thị Z thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên, cũng không có căn cứ xác định tại thời điểm bà Lê Thị Z ký hợp đồng thế chấp nêu trên thì ông Nguyễn Minh M có biết việc bà Z ký hợp đồng thế chấp này. Do vậy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 1.829m2 thửa số 115 tờ bản đồ 38 xã Kim Long (nay là xã Bàu Chinh), huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giữa bà Lê Thị Z với Ngân hàng TMCP Q ngày 18/4/2011 là vô hiệu và cần tuyên hủy hợp đồng thế chấp này. Tuy nhiên, tài sản thế chấp đã bán đấu giá hợp pháp cho ông Tô Hoài Đức nên Công nhận hợp đồng mua tài sản đấu giá của ông Tô Hoài Đức để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự. Án sơ thẩm Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 1.829m2 thửa số 115, tờ bản đồ 38, xã Kim Long (nay là xã Bàu Chinh), huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giữa bà Lê Thị Z với Ngân hàng TMCP Q, đồng thời không chấp nhận yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản là có căn cứ." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày: 14 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất", + "answer": "Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Q không phải chịu. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Q 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003134 ngày 09/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Th��nh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Hoàng Anh Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương Bắc Ông Trương Văn Tâm" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Nguyên đơn: Tổng công ty B; Địa chỉ trụ sở: Số 5, đường P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. +Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Quang H – Chức vụ: Tổng giám đốc (Vắng mặt). +Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Minh C – Chức vụ: Phó giám đốc B tỉnh B. (Văn bản ủy quyền ngày 20/6/2019). Có mặt + Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Lê Thị G, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 557, đường P, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Văn bản ủy quyền ngày 24/6/2019). Có mặt" + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Bị đơn: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp 3, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt). 2 +Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc H, Luật sư – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt)." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và tại các bản khai nguyên đơn ông Dương Minh C trình bày:Nhà đất của B Văn hóa xã T (sau đây gọi tắt là B T), cụ thể ở thửa đất số 161B, tờ bản đồ số 14, diện tích khoảng 700m2 tọa lạc tại ấp 3, xã T, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là của Tổng Công ty B Việt Nam (sau đây gọi tắt là B Việt Nam) giao cho B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (sau đây gọi tắt là B tỉnh) quản lý, sử dụng để sản xuất kinh doanh, cung cấp các dịch vụ công ích và phục vụ nhiệm vụ C trị và kinh tế xã hội tại địa phương. Thời gian từ năm 2009 đến tháng 3/2018, B tỉnh đã ủy quyền cho B huyện Tân Thành (sau đây gọi tắt là B huyện) ký các hợp đồng đại lý cung cấp dịch vụ Bưu C viễn thông và các hợp đồng thuê khoán với bà Đoàn Thị L để thực hiện công việc bưu C chuyển phát, tài C bưu C, phân phối truyền thông, phục vụ hoạt động văn hóa xã tại B T. Theo nội dung hợp đồng: Bà L được giao sử dụng, bảo quản tài sản tại trụ sở B T bao gồm Nhà B văn hóa xã T và các tài sản khác phục vụ cho hoạt động cung cấp các dịch vụ Bưu C, Viễn thông và phục vụ hoạt động văn hóa xã. Đồng thời do bà L có hoàn cảnh khó khăn, không có nơi ở ổn định nên B đã cho bà L sinh sống ở tại trụ sở B T. B xác định các hợp đồng đã ký với bà L đều là Hợp đồng dân sự, không phải hợp đồng lao động, không có mức tiền lương mà căn cứ vào hiệu quả công việc của bà L để chi trả thù lao hoa hồng. Hợp đồng cuối cùng B ký kết với bà L là hợp đồng Đại lý số 49/HĐTK-2017 ngày 01/9/2017 (gọi tắt là hợp đồng 49) với thời hạn từ 01/9/2017 đến hết 31/12/2017. Từ ngày 01/01/2018, B không tiếp tục ký hợp đồng với bà L nữa, với lý do: Bà L không có trình độ tin học để cập nhật dữ liệu và làm việc trên máy tính, đồng thời trong thời gian 3 tháng đảm nhiệm Trưởng B T, b�� L đã không hoàn thành các chỉ tiêu doanh thu hàng tháng của ngành B. Căn cứ điểm b, Khoản 10.1 và 10.3 Điều 10 Hợp đồng 49 quy định Hợp đồng hết hạn mà không gia hạn đồng; B không còn nhu cầu thuê bà L nữa và trong trường hợp bà L không hoàn thành nhiệm vụ thì B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là đúng theo nội dung các bên đã thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên do bà L không có công việc và đợi giải quyết chế độ cho bà L nên từ tháng 01/2018 đến tháng 3/2018, B vẫn để cho bà L được tiếp tục làm việc. Đến ngày 31/3/2018, B đã gặp trực tiếp bà L thông báo chấm dứt hợp đồng yêu cầu bà L bàn giao công việc và trụ sở B T vào ngày 01/4/2018 nhưng bà L không đồng ý. Sau đó B cũng như UBND xã T có nhiều thông báo yêu cầu bà L di dời nhà tạm và tài sản riêng của bà L trả lại trụ sở cho B nhưng bà L không chấp hành. Do đó để bảo đảm cho việc hoạt động của B T, Nay, B khởi kiện yêu cầu Tòa án: +Buộc bà L di dời tài sản và trả lại trụ sở B T cho B Việt Nam. Trường hợp bà L di dời thì B Việt Nam sẽ hỗ trợ cho bà L số tiền 42.000.000 đồng để tìm nơi ở mới. 3 Buộc bà L phải bàn giao sổ sách, tài sản liên quan đến công việc B. Buộc bà L thanh toán số tiền 10.913.168 đồng, từ việc bán hàng BTCOM cho B. Buộc bà L bồi thường thiệt hại số tiền 56.808.000 đồng, là tiền mất doanh thu trong thời gian B ngừng hoạt động. Đối với yêu cầu của bà L, thì B có ý kiến như sau: Đối với yêu cầu trả tiền thưởng tết và tiền lương tháng 2, 3/2018: B đã tính toán số tiền chưa thanh toán cho bà L bao gồm tiền thưởng tết và tiền lương tháng 2, 3/2018 là 5.643.510 đồng nhưng bà L từ chối không nhận, vì cho rằng đây chỉ là tiền Thù lao tháng 2, 3/2018 và chưa có tiền thưởng tết năm 2018. Nay B đồng ý thanh toán số tiền 5.643.510 đồng cho bà L. Đối với yêu cầu tiếp tục ký hợp đồng đại lý dịch vụ B với bà L; yêu cầu bổ nhiệm bà L Làm trưởng B điểm B văn hóa xã T: B không đồng ý vì bà L không có trình độ tin học nên không đáp ứng được nhu cầu công việc của B hiện nay. Đối với yêu cầu bổ nhiệm lại chức vụ trưởng B điểm B văn hóa xã T thì: B không đồng ý vì Năm 2017 đã bổ nhiệm nhưng bà L không hoàn thành nhiệm vụ trưởng B T đã không bổ nhiệm lại. Đối với việc bà L yêu cầu tiền sửa chữa trụ sở B văn hóa xã T là 309.000.000 đồng: B không đồng ý, vì bà L tự ý sửa chữa, không được phép của B và việc sửa chữa trụ sở là để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân của gia đình bà L. Đối với việc bà L yêu cầu bồi thường do không được làm việc trong thời gian 19 tháng từ tháng 4/2018 đến nay (tháng 10/2019) theo mức lương tối thiểu vùng: 3.670.000 đồng x 19 tháng = 69.730.000 đồng thì B không đồng ý, vì hợp đồng B ký kết với bà L được xác định đây là hợp đồng dân sự, việc chấm dứt hợp đồng đã thực hiện đúng quy định. */ Tại các bản khai bị đơn bà Đoàn Thị L và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Ngày 01/3/2009 bà L và B Tân Thành ký kết hợp đồng làm đại lý cung cấp dịch vụ Bưu C viễn thông và phục vụ hoạt động văn hóa tại địa điểm B – văn hóa xã T; sau đó mỗi năm các bên sẽ ký lại hợp đồng mới. Đồng thời do bà L không có chỗ ở, nên đã được B tạo điều kiện cho ở tại trụ sở B T. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã hoàn thành tốt các công việc được giao và không tranh chấp gì." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Tại phiên tòa phúc thẩm: +Một số đương sự vắng mặt, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ. +Nguyên đơn B giữ nguyên nội dung rút một phần yêu cầu khởi kiện là không buộc bà L phải bồi thường thiệt hại số tiền 56.808.000 đồng do mất doanh thu trong thời gian B ngừng hoạt động. Còn các yêu cầu khởi kiện khác vẫn giữ nguyên. Bị đơn bà L giữ nguyên yêu cầu phản tố và kháng cáo. +Các bên đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét xử công khai tại phiên tòa, nhận thấy: Nội dung kháng cáo của bà L có căn cứ để chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định: [1]Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị L trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà pháp luật quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm. [2] Xét việc B rút một phần yêu cầu khởi kiện là không buộc bà L phải bồi thường thiệt hại số tiền 56.808.000 đồng do mất doanh thu trong thời gian B ngừng hoạt động. Việc rút yêu cầu này là tự nguyện. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút này. [3]Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy: [3.1] Về thủ tục tố tụng: Bà L cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm nhập vụ án và xác định bà L là bị đơn là không đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét xử công khai tại phiên tòa, nhận thấy: Nội dung kháng cáo của bà L có căn cứ để chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định: [1]Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị L trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà pháp luật quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm. [2] Xét việc B rút một phần yêu cầu khởi kiện là không buộc bà L phải bồi thường thiệt hại số tiền 56.808.000 đồng do mất doanh thu trong thời gian B ngừng hoạt động. Việc rút yêu cầu này là tự nguyện. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút này. [3]Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy: [3.1] Về thủ tục tố tụng: Bà L cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm nhập vụ án và xác định bà L là bị đơn là không đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 15/7/2019 Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 85/2019/TLST-DS, giữa nguyên đơn là bà Đoàn Thị L với bị đơn là Tổng công ty B việt Nam, về việc Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ. Ngày 16/7/2019 Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 87/2019/TLST-DS, giữa nguyên đơn Tổng công ty B việt Nam với bị đơn là bà Đoàn Thị L, về việc Tranh chấp Đòi lại tài sản. Cả 2 vụ án có cùng đương sự và có các quan hệ tranh chấp liên quan đến nhau. Căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã ra quyết định số 01/2019/QĐST-DS ngày 15/10/2019 nhập vụ án thụ lý số 85/TLST-DS vào vụ án thụ lý số 87/2019/TLST-DS. Thành một vụ án số 87/2019/TLST-DS ngày 16/7/2019, về tranh chấp “ Hợp đồng cung ứng dịch vụ; Đòi lại tài sản và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Giữa: nguyên đơn Tổng công ty B việt Nam với bị đơn là bà Đoàn Thị L. Các yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ, đảm bảo đúng pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm nhập 2 vụ án thành 1 vụ án và xác định tư cách của các đương sự trong vụ án là đúng quy định của pháp luật. [3.2] Về nội dung kháng cáo của bà L: Yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho bà L. Bà L yêu cầu Quyền lợi: + Buộc B phải trả cho bà L: Tiền Thù lao tháng 2 và tháng 3 năm 2018 với số tiền là 5.643.510 đồng; Tiền tết năm 2018 số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng); +Tiếp tục thực hiện, ký kết hợp đồng số 49 và bổ nhiệm bà L giữ chức vụ Trưởng B xã T tính từ tháng 01/2018 cho đến nay. +Yêu cầu B thanh toán các khoản tiền mà bà L đã bỏ ra để sửa chữa trụ sở B (Bao gồm tiền thay các tấm kính, tiền làm nhà tạm, tiền thay trần nhà, tiền thay ống nước, tiền thay dây điện, tiền bảo trì, gia trát nhà khỏi dột vào mùa mưa) với tổng số tiền 309.000.000 đồng. 6 +Trường hợp, B không đồng ý tiếp tục ký hợp đồng và nhận bà L trở lại làm việc thì bà L yêu cầu B phải thanh toán các khoản tiền lương trong thời gian B đơn phương chấm dứt hợp đồng với bà L (tạm tính từ tháng 4/2018 đến nay theo mức lương tối thiểu vùng là 3.670.000đ x 19 tháng = 69.730.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ năm 2009 đến năm 2017 B và bà L ký kết các hợp đồng dân sự về việc thuê khoán, làm đại lý cung ứng dịch vụ bưu C chuyển phát, tài C bưu C, phân phối truyền thông, phục vụ hoạt động văn hóa tại B văn hóa xã T. Sau mỗi lần hết thời hạn thì ký kết hợp đồng khác và Hợp đồng cuối cùng ký kết là hợp đồng số 49/HĐKT-2017 vào ngày 1/9/2017, thời hạn kết thúc là ngày 31/12/2017. Đến ngày 27/3/2018, B báo cho bà L biết đến ngày 1/4/2018 bà L phải bàn giao công việc và chấm dứt hợp đồng, không ký lại hợp đồng với bà L nữa, vì bà L không đáp ứng được công việc hiện nay. Do vậy: + Bà L yêu cầu B trả tiền thù lao tháng 2 và tháng 3 năm 2018 với số tiền 5.643.510 đồng và tiền thù lao chưa trả cho ông Đinh Văn Thêm (chồng bà L) là 5.600.000 đồng. Tổng cộng là 11.244.218 đồng, B thừa nhận đúng nên đồng ý trả số tiền này cho bà L. Đối với yêu cầu trả tiền thưởng tết năm 2018 với số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng): Căn cứ thông báo số 76 /TB- BĐBRVT ngày 5/2/2018 của B tỉnh thì tiền thưởng tết cho đối tượng lao động hợp đồng thuê khoán thì mỗi người là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do đó yêu cầu của bà L yêu cầu B trả tiền thưởng tết năm 2018 số tiền 14.000.000 đồng là không có căn cứ, nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu là tiền thưởng tết 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) (BL106 ); Số tiền B phải trả cho bà L là 12.244.218 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L đã xác nhận bà L đã nhận tiền Thù lao của ông Thêm là 5.600.000 đồng và tiền thưởng tết 1.000.000 đồng = 6.600.000 đồng. Tổng số tiền B còn nợ bà L là 5.644.218 đồng (12.244.218 đồng - 6.600.000 đồng = 5.644.218 đồng). Tổng số tiền bán hàng bà L chưa nộp cho B là 10.913.168 đồng và ông Thêm chưa nộp là 1.466.000 đồng = 12.379.168 đồng. (BL 109-110) Khấu trừ 12.379.168 đồng - 5.644.218 đồng = 6.734.950 đồng (Bà L có nghĩa vụ trả cho B) + Về việc bà L yêu cầu được tiếp tục thực hiện hoặc ký kết hợp đồng mới nội dung ký như hợp đồng 49 và bổ nhiệm bà L giữ chức vụ Trưởng B T tính từ tháng 01/2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng số 49 là hợp đồng dân sự, Bà L với B đã ký kết các điều khoản quy định rõ ràng về thời hạn và việc hai bên chấm dứt hợp đồng được thể hiện tại Điều 10, 11 Hợp đồng 49: “Có thời hạn từ ngày 01/9/2017 đến hết ngày 31/12/2017”. Chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp, tại điểm a, mục 10.1; điểm g, e mục 10.3, quy định: Hợp đồng hết hạn mà không được gia hạn; Bên B không hoàn thành nhiệm vụ; Bên A không còn nhu cầu thuê bên B” Như vậy, Hợp đồng 49 đã chấm dứt từ thời gian hết ngày 31/12/2017. Do bà L không có trình độ cơ bản tin học, không biết sử dụng máy vi tính nên không đáp ứng 7 được công việc của B (được thể hiện bà L không có chứng chỉ hoặc bằng cấp tin học), không hoàn thành nhiệm vụ. Bà L đã tự đóng cửa, cho ngừng hoạt động công việc của B T từ tháng 4/2018 cho đến nay; B không có nhu cầu ký kết thuê bà L làm đại lý nữa nên không thực hiện hoặc tiếp tục ký kết hợp đồng như nội dung hợp đồng số 49 với bà L nữa. Do đó B chấm dứt hợp đồng số 49 với bà L là có căn cứ. Nên không chấp nhận yêu cầu này của bà L. Tuy nhiên về thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng: Theo Bộ luật dân sự, quy định “Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại”; Theo Điều 8.6, Điều 10 của Hợp đồng 49 quy định “Hai bên có quyền đơn Khoản 1 Điều 520 phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày” Nhận thấy thời điểm B thông báo chấm dứt hợp đồng với bà L vào ngày 27/3/2018 sẽ chấm dứt hợp đồng với bà L từ ngày 01/4/2018 được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng; Như vậy thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng chưa đủ 30 ngày là chưa đúng thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên. Do đó xét việc B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng thông báo không đúng về thời hạn, đã gây thiệt hại làm ảnh hưởng công việc của bà L trong tháng 4/2018, nên buộc B phải bồi thường thiệt hại 01 tháng thu nhập cho bà L. B và bà L đều xác nhận bà L có mức thu nhập bình quân khi ký hợp đồng làm Đại lý với B là từ 3.000.000đồng đến 6.000.000 đồng/tháng, do đó cần buộc B bồi thường cho bà L 1 tháng tiền thù lao tương đương số tiền 5.000.000 đồng. Khấu trừ 6.734.950 đồng - 5.000.000 đồng = 1.734.950 đồng (Bà L có nghĩa vụ trả cho B). + Về việc bà L yêu cầu B bổ nhiệm bà L tiếp tục giữ chức vụ Trưởng B xã tính từ tháng 01/2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Năm 2017 bà L được giao nhiệm vụ giữ chức Trưởng B T, với thời gian là 3 tháng (Quyết định số 327/QĐ-BĐBRVT ngày 24/7/2017 từ ngày 1/7/2017 đến ngày 1/10/2017). Trong 3 tháng này bà L làm trưởng B xã nhưng không hoàn thành nhiệm vụ, không đạt chỉ tiêu doanh thu mà ngành đề ra (Theo quy định của ngành B tại văn bản số 2861/BĐVN ngày 12/7/2017 thì doanh thu năm 2017 tối thiểu là 20.00.000 đồng/ tháng, nhưng bà L doanh thu tháng 7 đạt 20.178.297 đồng; Tháng 8: 8.487.538 đồng; Tháng 9: 16.593.242 đồng; Nên khi hết hạn 3 tháng B đã không tiếp tục ký quyết định giao nhiệm vụ lại cho bà L làm trưởng B xã T nữa. Do đó đương nhiên bà L không còn là Trưởng B T nữa và hiện nay B không còn nhu cầu ký hợp đồng hợp tác làm đại lý dịch vụ với bà L nữa do bà L không đáp ứng được công việc. Nên yêu cầu này của bà L là không có cơ sở nên không được chấp nhận. +Về việc bà L yêu cầu B thanh toán các khoản tiền mà bà L đã bỏ ra để sửa chữa trụ sở B (Bao gồm tiền thay các tấm kính, tiền làm nhà tạm, tiền thay trần nhà, tiền thay ống nư���c, tiền thay dây điện, tiền bảo trì, gia trát nhà khỏi dột vào mùa mưa) với tổng số tiền 309.000.000 đồng. 8 Hội đồng xét xử thấy: Đối với yêu cầu này thì bà L không đưa ra được tài liệu chứng cứ việc sửa chữa là do yêu cầu của B và bà L cũng thừa nhận bà L tự sửa chữa do trụ sở bị hư hỏng. Việc bà L tự sửa chữa trụ sở, làm nhà tạm không được phép của B mà bà L sửa chữa để sử dụng riêng; Nên yêu cầu này không được chấp nhận. + Về yêu cầu của bà L: Trường hợp, B không đồng ý tiếp tục ký hợp đồng và nhận bà L trở lại làm việc thì bà L yêu cầu B phải thanh toán các khoản tiền lương trong thời gian B đơn phương chấm dứt hợp đồng với bà L tạm tính từ tháng 4/2018 đến nay (tháng 10/2019) theo mức lương tối thiểu vùng là 3.670.000đ x 19 tháng = 69.730.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Việc bà L ký hợp đồng số 49 với B là hợp đồng làm đại lý cung ứng dịch vụ B là hợp đồng dân sự, nên khi chấm dứt hợp đồng không phải trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc như chấm dứt hợp đồng lao động. Mà tại phiên tòa B tự nguyện hỗ trợ một khoản tiền cho bà L tìm công việc khác là 2 tháng lương tương đương với số tiền 10.000.000 đồng, nên hội đồng xét xử ghi nhận. [3.3] Về yêu cầu khởi kiện của B: Buộc bà L di dời tài sản và trả lại trụ sở B T cho B Việt Nam. B Việt Nam sẽ hỗ trợ cho bà L số tiền 42.000.000 đồng để di dời và tìm nơi ở mới. Buộc bà L phải bàn giao sổ sách, tài sản liên quan đến công việc B. Buộc bà L thanh toán số tiền 10.913.168 đồng, từ việc bán hàng BTCOM cho B. Hội đồng xét xử thấy: + Xét việc B cho phép bà L ở tại trụ sở B T thì thấy: Theo Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Dân sự, quy định “ xác định mục đích Nhà nước giao thửa đất số 4 (cũ161B) cho B tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu để làm địa điểm kinh doanh phục vụ cho công tác C trị, kinh tế, văn hóa xã hội tại địa phương và B tỉnh có trách nhiệm quản lý, sử dụng cơ sở nhà đất đúng mục đích sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định pháp luật. Do đó có căn cứ xác định việc B cho bà L ở nhờ tại trụ sở B là không đúng quy định. Để bảo đảm cho hoạt động của B T, buộc bà L có nghĩa vụ di dời tài sản riêng và trả lại trụ sở B T, thuộc thửa số 04 (Thửa cũ 161B), tờ bản đồ số 10 (tờ bản đồ cũ là 14), tọa lạc tại Ấp 3, xã T, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; và toàn bộ thiết bị tài sản của B mà bà L đang quản lý theo biên bản thẩm định tài sản ngày 04/9/2019, cho B. - xã hội, tổ chức C trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp thực hiện việc quản lý, sử dụng tài sản được Nhà nước giao đúng mục đích, phạm vi, theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ.”. Theo Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 1531/QĐ – BTTTT ngày 20/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông, Tổ chức C trị, tổ chức C trị Điều 2 Quyết định 199/QĐ – BĐVN-HĐTV ngày 11/10/2018, Điều lệ, Căn cứ khoản 1 Điều 166, 202 Bộ luật dân sự, việc B khởi kiện đòi bà L phải di dời tài sản riêng của bà L ra khỏi trụ sở B và trả lại trụ sở B T cho B Việt Nam là có căn cứ. 9 + Về việc B buộc bà L phải thanh toán số tiền 10.913.168 đồng, từ việc bán hàng BTCOM cho B. Như đã phân tích ở trên: Tổng số tiền bán hàng bà L chưa nộp cho B là 10.913.168 đồng và ông Thêm (chồng bà L) chưa nộp tiền phát COD cho B là 1.466.000 đồng = 12.379.168 đồng. (BL 109- 110). Sau khi đã khấu trừ các khoản tiền mà B có nghĩa vụ trả cho bà L và bà L có nghĩa vụ trả cho B thì bà L còn phải trả lại cho B số tiền là 1.734.950 đồng {12.379.168 đồng (Số tiền bà L phải cho B) – 10.644.218 đồng (Số tiền B phải trả cho bà L) = 1.734.950 đồng} [4] Xét việc B hỗ trợ tiền cho bà L: B tự nguyện hỗ trợ cho bà L số tiền 42.000.000 đồng để di dời nhà, tài sản riêng của bà L ra khỏi trụ sở B T và để bà L tìm nơi ở mới, đồng thời hỗ trợ 10.000.000 đồng để tìm công việc mới. Đây hoàn toàn là sự tự nguyện của B, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [6] Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Căn cứ Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Đoàn Thị L thuộc trường hợp hộ nghèo được miễn án phí dân sự nên không phải chịu án phí và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng nộp theo Biên lai thu tiền số 0010094 ngày 15/7/2019 và 1.551.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001684 ngày 15/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tổng công ty B Việt Nam được hoàn trả 1.551.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng). [5] Về chi phí thẩm định, định giá: Căn cứ Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Chi phí hết 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) Các đương sự tự nguyện nộp và đã nộp đủ. B nộp 3.000.000 đồng; bà L nộp 2.000.000 đồng. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đoàn Thị L, sửa bản án sơ thẩm. Vì các lẽ trên," + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 88/2020/DS-PT Ngày 3 tháng 7 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Đòi lại tài sản; Hợp đồng cung ứng dịch vụ và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”", + "answer": " Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; QUYẾT ĐỊNH: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đoàn Thị L. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, như sau: Áp dụng: Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a, c Khoản 1 Điều 39, Điều 273, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 202, Điều 203; Điều 513, Điều 514, Điều 520, Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí. Tuyên xử: 10 1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty B Việt Nam về việc buộc bà Đoàn Thị L phải bồi thường số tiền 56.808.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, tám trăm lẻ tám ngàn đồng). 2.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty B Việt Nam và Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đoàn Thị L. +Tuyên bố hợp đồng số 49/HĐKT-2017 ngày 1/9/2017 về việc làm Đại lý cung cấp dịch vụ Bưu C chuyển phát, Tài C bưu C, phân phối truyền thông, phục vụ hoạt động văn hóa tại B văn hóa xã, giữa B huyện Tân Thành – B tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (bên A) và bà Đoàn Thị L (bên B) chấm dứt kể từ ngày 31/3/2018. +Buộc bà Đoàn Thị L phải tháo dỡ di dời nhà tạm, tài sản riêng của bà Đoàn Thị L trên đất trả lại diện tích đất 446 m2 thuộc thửa 04, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp 3, xã T, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Diện tích đất 446 m2 có các điểm góc cạnh tọa độ 1, 2, 3, 4 theo Sơ đồ vị trí đất lập ngày 28/10/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Phú Mỹ. Và Bà Đoàn Thị L phải trả lại trụ sở B xã T và toàn bộ sổ sách, tài sản thiết bị của B mà bà L đang quản lý cho Tổng công ty B Việt Nam. + Bà Đoàn Thị L có nghĩa vụ trả số tiền 1.734.950đ (Một triệu, bảy trăm ba mươi bốn ngàn, chín trăm năm mươi đồng) cho Tổng công ty B Việt Nam. +Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ của Tổng công ty B Việt Nam: Tổng công ty B Việt Nam hỗ trợ cho bà Đoàn Thị L số tiền 52.000.000 đồng (Năm mươi hai triệu đồng). {Trong đó tiền chi phí di dời tài sản và thuê nơi ở mới là 42.000.000 đồng và tiền sắp xếp tìm công việc mới với số tiền 10.000.000 đồng} 3. Chi phí tố tụng thẩm định, định giá tài sản: Chi phí hết số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Các đương sự đã nộp đủ. 4. Về án phí dân sự sơ, phúc thẩm: + Về án phí sơ thẩm: Bà Đoàn Thị L được hoàn trả số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn) theo biên lai thu tiền số 0010085 ngày 10/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thi xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tổng công ty B Việt Nam được hoàn trả 1.551.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001684 ngày 15/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. + Về án phí phúc thẩm: Bà L không phải nộp. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật Thi 11 hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 5.Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 3/7/2020." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "V/v Tranh chấp quyền sở hữu, tài sản, tranh chấp thừa kế" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc, Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh, Bà Hồ Thị Thanh Thúy" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Nguyên đơn: Ông LBP, sinh năm 1947 (có mặt) Địa chỉ: Số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "2.1 Ông LVB, sinh năm 1959 (có mặt) Địa chỉ: Số 635 Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của ông Bạch: Ông Nguyễn Hồng Hải, sinh năm 1961, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 004902 ngày 19/4/2017 tại Văn phòng Công chứng Chợ Lớn); địa chỉ: số 820 Nguyễn Trãi, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). 2.2 Ông Lê Thanh Dũng, sinh năm 1964 Địa chỉ: Số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện ủy quyền: Ông LVB, sinh năm 1959, Văn bản ủy quyền số 008673 ngày 08/12/2017 2 Địa chỉ: Số 635 Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). 2.3 Bà LTL, sinh năm 1949 Đại diện ủy quyền: ông NHC, Hợp đồng ủy quyền ngày 24/5/2022. Cùng địa chỉ: Số 371/4/5 Nguyễn Văn Quá, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. 2.4 Bà Lê Thị Nga, sinh năm 1956 Địa chỉ: 16/3 Trung Chánh 2, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện ủy quyền: Ông LVB, sinh năm 1959, Văn bản ủy quyền số 008673 ngày 08/12/2017 Địa chỉ: 635 Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Luật sư Đỗ Khắc Dũng- thuộc Văn phòng Luật sư Phạm Quang Bình, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩ a vụ liên quan: 3.1 Ông VHT, sinh năm 1965 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 637C Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. 3.2 Bà PTH, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện ủy quyền: bà Lê Thị Phương Dung, Giấy Ủy quyền ngày 06/10/2022 3.3 Bà Lê Thị Đặng, sinh năm 1943 (chết ngày 27/8/2021) Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Đặng: 3.3.1 Ông VHT Địa chỉ: Số 637C Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). 3.3.2 Ông VHN Địa chỉ: 637C Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). 3.3.3 Bà VTT Tr Địa chỉ: 172/194/2B An Dương Vương, phường 16, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). 3.3.4. Ông VTTh Địa chỉ: 637C Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). 3.4 Bà Nguyễn L T H, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: 183 ấp Hưng Thọ, xã Hưng Thịnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. 3.5 Ông Nguyễn Lê Tùng, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 168/2 khu phố Thạnh Hòa B, phường An Thạnh, Thuận An, tỉnh Bình Dương. 3 3.6 Ông Nguyễn L T2, sinh năm 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt) 3.7 Bà Nguyễn LT Th, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Cùng địa chỉ: Bình Hòa, Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. 3.8 Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ: Số 12 Phan Đăng Lưu, Phường 7, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện hợp pháp: Bà Phạm NTT3 (xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Số 70A Thoại Ngọc Hầu, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. 3.9 Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 08/GUQ-UBND ngày 19/4/2021) - Bà Trần Thị Thanh Thảo - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường quận Tân Phú (xin xét xử vắng mặt) Cùng địa chỉ: Số 70A Thoại Ngọc Hầu, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh" + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Ông Đỗ Thành Đạt, Kiểm sát viên" + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": " Thư ký phiên toà: Bà Đinh Hồng Vân -Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình tố tụng, thì: Nguồn gốc nhà đất số 637A Âu Cơ (số cũ 239) phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú (thuộc một phần thửa 15, 20 tờ bản đồ số 5, BĐĐC năm 2005) là của ông Lê Văn Chọi (mất năm 1992) và bà Nguyễn Thị Cớ (mất năm 1988) tạo lập từ trước năm 1975. Ông Chọi và bà Cớ chết không để lại di chúc. Ngày 21/9/1992, các anh chị em của nguyên đơn đã ký giấy cam kết nhất trí nhường cho nguyên đơn hưởng trọn căn nhà 239 Âu Cơ này. Nguyên đơn đã quản lý, sử dụng nhà đất ổn định và có kê khai đăng ký sử dụng đất năm 1999 với diện tích ước lượng là 712m2. Tuy nhiên vào năm 2016, khi nguyên đơn nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, thì phía bị đơn đã gửi đơn ngăn cản và từ đó xảy ra tranh chấp giữa 2 bên. Nay nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất nêu trên, theo Bản vẽ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 28/6/2018 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập theo yêu cầu của Tòa án, với diện tích đất là 788,6m2. Ngoài ra, theo đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn còn yêu cầu hủy bỏ phần nội dung “lối đi chung” thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 12822/2002 ngày 02/5/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Vương Hữu Thành, bà Lê Thị Đặng, đã được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú cập nhật thay đổi sang tên ông VHT ngày 21/8/2017, vì ông cho rằng phần lối đi này thuộc quyền sử dụng 3 của ông. Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn chỉ yêu cầu điều chỉnh “lối đi chung” thành “lối đi nhờ”. - Các bị đơn: Ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL, bà Lê Thị Nga không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời họ có đơn yêu cầu phản tố: yêu cầu công nhận toàn bộ nhà đất tranh chấp là di sản của ông Lê Văn Chọi và bà Nguyễn Thị Cớ. Ngoài ra, bị đơn còn yêu cầu phản tố bổ sung: chia thừa kế đối với căn nhà 633/7 Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú (nguyên đơn đã bán). Tuy nhiên tại buổi hòa giải ngày 27/02/2020, đại diện bị đơn đã rút lại yêu cầu phản tố bổ sung. Bị đơn cũng thống nhất với diện tích đất thể hiện theo B���n vẽ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 28/6/2018 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập, tự nguyện giao cho nguyên đơn quản lý, sử dụng căn nhà số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú với diện tích 128m2 theo như Giấy cam kết ngày 21/9/1992 và Giấy phép sửa chữa nhà ngày 28/01/1957. Như vậy, tổng diện tích đất tranh chấp còn lại là 660,6m2, bị đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, cho 07 người con gồm: Ông LBP, LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL, bà Lê Thị Nga, Lê Thị Đặng, Lê Thị Huệ (bà Huệ chết sau ông Chọi, bà Cớ. Bà Huệ có 04 con là Nguyễn Lê Tùng, Nguyễn L T H, Nguyễn L T2, Nguyễn LT Th), chia bằng giá trị quyền sử dụng đất dựa theo kết quả định giá của Hội đồng định giá do Tòa án lập ngày 13/5/2019 - mỗi thừa kế được hưởng 1/7 giá trị quyền sử dụng đất. - Theo lời trình bày của ông VHT, hiện nay ông là chủ sở hữu căn nhà 637C Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú. Trước đây nhà này dùng lối đi chung với nhà 637B của bà LTL, nhưng từ khi bà Lan bán nhà cho người khác (năm 2018), họ đã bít lối đi chung, nên gia đình ông đã sử dụng lối đi bên phần đất do nguyên đơn đang quản lý, sử dụng. Ông đã được Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận vào năm 2002 và xác nhận đây là lối đi duy nhất vào nhà của ông, vì vậy ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn. - Bà Lê Thị Đặng do ông VHT đại diện theo ủy quyền cũng thống nhất với yêu cầu phản tố của bị đơn. - Bà Nguyễn L T H, Nguyễn LT Th, ông Nguyễn Lê Tùng và Nguyễn L T2 là con của bà Lê Thị Huệ có lời khai thừa nhận việc cho nhà đất theo Giấy cam kết ngày 21/9/1992 và không tranh chấp gì trong vụ án này, đồng thời xin xét xử vắng mặt. - Bà PTH (vợ nguyên đơn) cũng thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin xét xử vắng mặt. - Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân quận Tân Phú đều xác định Giấy chứng nhận số hồ sơ gốc 12822/2002 ngày 4" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Nguyễn Hồng Hải đại diện cho ông LVB trình bày: Đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. 5 Ông LVB là bị đơn, đồng thời đại diện cho ông Lê Thanh Dũng, và bà Lê Thị Nga trình bày: Nguồn gốc nhà đất số 637A Âu Cơ (số cũ 239) phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú (thuộc một phần thửa 15, 20 tờ bản đồ số 5, BĐĐC năm 2005) với diện tích 128m2 và diện tích đất khuôn viên là 788,6m2 của ông Lê Văn Chọi (mất năm 1992) và bà Nguyễn Thị Cớ (mất năm 1988) tạo lập từ trước năm 1975. Ông Chọi và bà Cớ chết không để lại di chúc. Ông Chọi, bà Cớ có bảy người con gồm: ÔngLBP, ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga, bà Lê Thị Đặng, bà Lê Thị Huệ. Giấy cam kết ngày 21/9/1992 có nội dung chỉ để lại căn nhà diện tích 128m2. Vì vậy nay các ông bà đồng ý cho ông Phương hưởng căn nhà diện tích 128m2 dùng vào mục đích thờ cúng, không được mua bán sang nhượng. Phần diện tích đất 660,6m2 phải chia cho các đồng thừa kế. Ông thừa nhận các con ông Chọi bà Cớ đều được cha mẹ chia đất nhà. Tuy nhiên phần nhà đất các anh chị em khác được hưởng có diện tích nhỏ hơn nhiều so với phần ông LBP được hưởng. Đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ông NHC, đại diện cho bà LTL trình bày: Giấy ủy quyền ngày 26/4/2022 của các anh chị em ông Phương có mục đích để ông Phương được trọn quyền giải quyết về việc nhà và đất của cha mẹ để lại trong vụ án mà ông Phương đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị Kim Phụng tại Tòa án Tân Phú. Bản kê khai nhà và đất năm 1999 là ông Phương lén lút kê khai không anh chị em nào biết và không có các hộ liền kề cùng sinh sống trên cùng thửa đất và trong cùng khuôn viên nhà đất ký giáp ranh." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "02/5/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Vương Hữu Thành, bà Lê Thị Đặng là đúng thực tế, “lối đi chung” thể hiện trên Giấy chứng nhận này là lối đi duy nhất để kết nối căn nhà với đường giao thông hiện hữu, nếu hủy lối đi này, sẽ không còn lối đi ra đường giao thông hiện hữu. Các bên đương sự thống nhất diện tích đất tranh chấp là 788,6m2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ ngày 28/6/2018 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập, thuộc MPT (15, 20), tờ bản đồ số 5 phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, đồng thời thống nhất với kết quả định giá tài sản tranh chấp tại biên bản ngày 13/5/2019." + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Tại Bản án dân sự sơ thẩm Bản án dân sự sơ thẩm số 854/2021/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã quyết định: 1. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn- ông LBP, về việc yêu cầu điều chỉnh “lối đi chung” trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 12822/2002 ngày 02/5/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Vương Hữu Thành, bà Lê Thị Đặng, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú cập nhật sang tên ông VHT ngày 21/8/2017. 2. Chấp một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 2.1 Công nhận căn nhà số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú và phần đất khuôn viên có diện tích 788,6m2 thuộc MPT (15, 20), tờ bản đồ số 5 phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ ngày 28/6/2018 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập, là tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của ông LBP. 2.2 Ông LBP được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 3. Không chấp nhận yêu cầu của các bị đơn: ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL, bà Lê Thị Nga về việc yêu cầu chia thừa kế (chia tài sản chung) mỗi người 1/7 giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất 660,6m2, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 28/6/2018. Ngoài ra án còn tuyên trách nhiệm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 23/6/2021 ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga kháng cáo bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đồng bị đơn: Nhà và đất diện tích 788,6 m2 đất tại địa chỉ: Số 637A Âu Cơ, Phường Hòa Thạnh, Quận Tân Phú là di sản thửa kế hợp pháp của ông Lê Văn Chọi và bà Nguyễn Thị Cớ để lại cho các đồng thừa kế. Giữa các đồng thừa kế đã có văn bản cam kết hưởng nhà của nhà của cha mẹ để lại ký vào 21/9/1992; trong đó ghi rõ: “ ...Cho anh LBP được hưởng trọn nhà và số đồ đạc cùng vật dụng trong nhà”. Tuy vậy, cái “nhà” được đề cập trong văn bản cam kết 21/9/1992 chỉ là ngôi nhà có diện tích đất xây dựng 128m2, không bao gồm diện tích đất xung quanh. Chính bởi lẽ đó, phần diện tích đất 660,6m2 xung quanh cần được xem là di sản thửa kế chưa chia. Mặc dù văn bản cam kết không có đề cập đến nội dung giới hạn quyền của người nhận trong việc “hưởng nhà” này nhưng tại văn bản “Đơn khởi kiện” ngày 28/9/2017, chính nguyên đơn là ông Phương đã tự xác nhận rằng: “Năm 1992, cha tôi mất, các anh chị em trong gia đình cùng họp lại và thống nhất với nhau để cho tôi được hưởng nhà đất và tất cả vật dụng trong căn nhà tại địa chỉ 6 số 637a Âu Cơ, phường Hoà Thạnh, quận Tân Phú (số cũ: Số 239 Âu Cơ, phường 19, quận Tân Bình) mục đích là để làm nhà thờ cúng ông bà và cha mẹ. Giấy ủy quyền ngày 26/4/2002; theo tường trình của bị đơn nội dung uỷ quyền đó là để ông Phương làm người đại diện cho anh chị em “Được trọn quyền giải quyết về việc nhà và đất của cha mẹ để lại”; Giấy uỷ quyền này cũng nêu rõ là “giải quyết theo đơn khiếu nại” mà cụ thể là giải quyết Tranh chấp giữa các anh em ông Phương, ông Bạch ... với bà Nguyễn Thị Kim Phụng là người thuê căn nhà số: 1359 đường Âu Cơ (nay là số: 631 Âu Cơ, Phường Hòa Thạnh, Quận Tân Phú), vụ án này do UBND quận Tân Phú thụ lý; nội dung tờ ủy quyền này không liên quan tới nhà và 788,6 m2 đất đang được giải quyết tại vụ án này. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn theo đó không công nhận căn nhà số 637a Âu Cơ, phường Hoà Thạnh, quận Tân Phú là tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Công nhận căn nhà số 637a Âu Cơ, phường Hoà Thạnh, quận Tân Phú (số cũ: 239 Âu Cơ, phường 19, quận Tân Bình, Tp.HCM) và QSDĐ với diện tích là 788,6m2 đất tại số 637a Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú là di sản để lại cho các đồng thừa kế." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: 8 [1]. Về hình thức: đơn kháng cáo của ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về nguồn gốc tài sản nhà đất số 637A Âu Cơ (số cũ 239) phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú (thuộc một phần thửa 15, 20 tờ bản đồ số 5, BĐĐC năm 2005) các bên đương sự đều thông nhất nguyên là của ông Lê Văn Chọi (mất năm 1992) và bà Nguyễn Thị Cớ (mất năm 1988) tạo lập từ trước năm 1975. Ông Chọi và bà Cớ chết không để lại di chúc. Theo “Giấy cam kết hưởng nhà do cha mẹ để lại” ngày 21/9/1992 được lập với chữ ký thỏa thuận của các ông, bà: LVB, Lê Thanh Dũng, LTL, Lê Thị Nga, Lê Thị Đặng, Lê Thị Huệ với nội dung “Tất cả anh chị em cùng nhất trí nhường nhà số 239 Âu Cơ, P19, quận Tân Bình (nay là số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú) cho anh LBP được hưởng trọn nhà và số đồ đạt cùng vật dụng trong nhà” Ngày 26/4/2002, thì các anh chị em của ông Phương gồm: ông Bạch, bà Nga, bà Đặng, bà Lan, bà Huệ và ông Dũng tiếp tục lập giấy đồng ý cho ông Phương trọn quyền giải quyết về việc nhà đất của cha, mẹ chết để lại, có xác nhận chữ ký tại Ủy ban nhân dân Phường 19, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy ý chí của các đương sự đều là không tranh chấp, nhường toàn bộ di sản thừa kế tại căn nhà nói trên cho ông LBP. Theo xác nhận của các đương sự tại phiên tòa thì ngoài phần nhà đất tranh chấp trên, ông Lê Văn Chọi và bà Nguyễn Thị Cớ còn các tài sản đất đai, nhà cửa khác, đã chia cho các anh chị em gồm LVB, Lê Thanh Dũng, LTL, Lê Thị Nga, Lê Thị Đặng, Lê Thị Huệ. Ông LBP đã sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1992 trên phần diện tích đất đang tranh chấp có đăng ký kê khai, đóng thuế. Về ý kiến của ông NHC, đại diện cho bà Lê Thị Nga và luật sư: theo Quyết định số 3376/QĐ-UB-QLĐT ngay 11/6/1999 của Uỷ ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh về việc kê khai đăng ký nhà, đất, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đô thị thì tất cả các cá nhân, tổ chức sở hữu nhà, sử dụng đất đều phải đăng ký kê khai. Quyết định 3376/QĐ-UB-QLĐT được phổ biến đến tất cả người dân, trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện bà Lê Thị Đặng có đăng ký kê khai đối với căn nhà số 239 Âu Cơ. Như vậy năm 1999 các anh chị em ông Phương không đi đăng ký kê khai đối với phần diện tích đất đang tranh chấp mà để ông Phương đăng ký kê khai một mình cũng thể hiện ý chí từ bỏ quyền thừa kế. Việc kê khai theo Quyết định 3376/QĐ-UB-QLĐT cũng không có quy định về việc ký giáp ranh. Luật sư và ông Châu cho rằng tờ ủy 9 quyền ngày 26/4/2002 là giấy ủy quyền tham gia tố tụng trong một vụ án tại Tòa Tân Phú nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh có một vụ án nào giữa ông Phương và bà Phụng như đã trình bày. Ngoài ra bà Lê Thị Đặng ngày 27/12/2011 có bản tường trình xác nhận nội dung “cam kết đồng ý cho em tôi là LBP được hưởng tất cả đất đai và tài sản cha mẹ để lại tại số 637 A Âu cơ. Các con bà Lê Thị Huệ gồm bà Nguyễn LT Th, Nguyễn L T2, Nguyễn Lê Tùng, Nguyễn Lê Hiền đều có bản tự khai nội dung: “...đồng ý giữ nguyên nội dung mà mẹ tôi đã ký đồng ý cho ông LBP được quản lý sử dụng căn nhà số 239 Âu Cơ phường 19 quận Tân Bình, TPHCM cũ nay là 637 Âu Cơ phường Hòa Thạnh quận Tân Phú Tp HCM và tất cả các vật dụng của cha mẹ để lại và không khiếu nại và tranh chấp gi. Ngoài ra theo lời trình bày của các đương sự, theo bản vẽ hiện trạng vị trí thì căn nhà số 637 Âu Cơ phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú có diện tích xây dựng 320m², trên cùng một thửa đất theo các tài liệu trước năm 1975 và tài liệu 2005, không thể tách rời nhà và đất khuôn viên. Các đồng bị đơn không xác định được phần diện tích nào là phần diện tích khuôn viên căn nhà. Tại cấp phúc thẩm các ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga, không nêu được tình tiết, chứng cứ và lý lẽ gì mới so với cấp sơ thẩm Kháng cáo của bà ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga không có cơ sở để chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội dồng xét xử không xem xét. Về án phí: ông LVB, bà LTL và bà Lê Thị Nga là người cao tuổi, được miễn án phí phúc thẩm. ông Lê Thanh Dũng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 52/2023/DS-PT, Ngày: 17/02/2023, TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO\nTẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH", + "answer": "Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bác kháng cáo của ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL và bà Lê Thị Nga, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên xử: 1. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn ông LBP, về việc yêu cầu điều chỉnh “lối đi chung” trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 12822/2002 ngày 02/5/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Vương Hữu Thành, bà Lê Thị Đặng, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú cập nhật sang tên ông VHT ngày 21/8/2017. 2. Chấp một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 10 2.1. Công nhận căn nhà số 637A Âu Cơ, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú và phần đất khuôn viên có diện tích 788,6m2 thuộc MPT (15, 20), tờ bản đồ số 5 phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ ngày 28/6/2018 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập, là tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của ông LBP. 2.2. Ông LBP được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 3. Không chấp nhận yêu cầu của các bị đơn: ông LVB, ông Lê Thanh Dũng, bà LTL, bà Lê Thị Nga về việc yêu cầu chia thừa kế (chia tài sản chung) mỗi người 1/7 giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất 660,6m2, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 125512/TTĐĐBĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 28/6/2018. 4. Về án phí - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh Dũng phải chịu án phí 116.493.429 đồng (Một trăm mười sáu triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn, bốn trăm hai mươi chín) đồng. - Bà LTL, bà Lê Thị Nga, ông LVB được miễn án phí. Hoàn lại cho ông LVB và ông Lê Thanh Dũng số tiền tạm ứng án phí 26.840.000 (hai mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng, theo các Biên lai số AA/2017/0011470 và số AA/2017/0011471 cùng ngày 26/7/2018 của Chi cục Thi hành án quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả lại cho ông LBP số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng, theo Biên lai thu số AA/2017/010002 ngày 23/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh Dũng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0094857 ngày 08/7/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Bà LTL, bà Lê Thị Nga, ông LVB. 5. Về chí phí tố tụng khác: Chi phí xem xét tại chỗ và chi phí định giá tài sản, nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2022", + "answer": "Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2022" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2023", + "answer": "V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất." + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2024", + "answer": "* Nguyên đơn: Bà Lường Thị K, sinh năm 1948; địa chỉ: Khu phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân Đ; địa chỉ: Số nhà X, ngõ Y, đường N, phường D, quận G, thành phố Hà Nội; Có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị O, Luật sư Công ty Luật TNHH L thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ: Số nhà X, ngõ Y, đường N, phường D, quận G, thành phố Hà Nội; Vắng mặt. 1" + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2025", + "answer": "* Bị đơn: Ông Ngô Hữu C, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Quốc H, ông Nguyễn Thanh H, bà Trịnh Thị T – Luật sư Văn phòng luật sư Lê Quốc H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ: Số Z đường A, phường B, thành phố E, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt Luật sư Lê Quốc H." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2026", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2027", + "answer": " Thư ký phiên toà: Bà Đinh Hồng Vân -Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2028", + "answer": "Theo nguyên đơn đã trình bày về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, tài liệu không cung cấp thông tin chi tiết về nội dung này." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2029", + "answer": "Năm 1992, vợ chồng ông Trần Trí U và bà Lường Thị K đã đồng ý chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất cho ông Ngô Hữu C tại thửa số 801, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.500m2 theo bản đồ 299 ở thôn C, xã Q, thị xã S; trên đất có một ngôi nhà rộng 15m2, một sân phơi rộng 10m2, một bếp nấu, một giếng xây và cây cối... Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản có xác nhận của UBND xã Q, thị xã S và được UBND xã Q lập đoàn đo đạc thực địa giao nhà đất thể hiện rõ về ranh giới, tứ cận lô đất với giá là 4.000.000 đồng, ông C đã trả đủ tiền và nhận nhà đất, đồng thời nộp phí sau khi chuyển nhượng để đảm bảo việc sử dụng đất, tránh phát sinh tranh chấp giữa các bên. Cụ thể gồm có Đơn xin chuyển nhượng nhà và nhượng đất và tài sản bất động ngày 05/11/1992 do ông Trần Trí Ư và bà Lường Thị K ký tên, được UBND xã Q xác nhận ngày 14/12/1992; Biên bản bàn giao quyền sử dụng về tài sản và đất theo 299 do UBND xã Q lập hồi 15h ngày 15/11/1992 tại gia đình ông Trần Trí Ư, có Hội đồng kiểm tra thực địa là các thành viên của UBND xã và có ông Trần Trí Ư ký xác nhận; Biên bản kiểm tra nhà ở, đất ở nông thôn ngày 27/8/2008 có xác nhận của cấp có thẩm quyền; Phiếu thu tiền thuế chuyển quyền sử dụng tài sản nhà đất số 193/12 nộp vào ngân sách xã Q ngày 09/12/1993; Đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ ngày 27/8/2008 có xác nhận đầy đủ của thôn, chính quyền và Phòng TNMT thị xã S. Từ năm 1992 đến năm 2014 (khi có quyết định thu hồi đất) gia đình ông C sử dụng nhà đất ổn định, là người thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất 801 và không có tranh chấp với các hộ giáp ranh, gia đình ông C đã trồng và chặt bán cây bạch đàn nhiều đợt. Năm 2008, UBND Q đã lập danh sách đề nghị UBND thị xã S cấp Giấy CNQSDĐ cho các hộ trong xã theo quy định của pháp luật, UBND xã đã thông báo rộng rãi, công khai đến tất cả các hộ trong xã. Gia đình ông Ư ở cùng xã, biết rõ gia đình ông C sử dụng đất và được cấp Giấy CNQSDĐ nhưng không có ý kiến thắc mắc hay tranh chấp. Việc bà K khởi kiện được Tòa án nhân dân tỉnh giải quyết tại Bản án hành chính sơ thẩm số 35 ngày 17/7/2017 đã có hiệu lực pháp luật và Tòa án chỉ dành cho bà K quyền yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp số tiền mà hộ ông C được phê duyệt bồi thường trong vụ án dân sự nếu có căn cứ. Bà K không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới so với tài liệu chứng cứ đã được đánh giá tại Bản án số 35 là không đủ điều kiện khởi kiện. Vì vậy, ông C đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lường Thị K về việc xác định diện tích đất 1.941m2 thửa số 801, tờ bản đồ số 02, tại thôn C, xã Q (nay là Phường Q) thuộc quyền của gia đình bà K. Công nhận Quyết định số 1682 là hợp pháp và có hiệu 4 lực; ông C được nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất theo Quyết định 1682." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2030", + "answer": "Theo luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã không chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tài liệu không cung cấp thông tin chi tiết về lập luận của luật sư này." + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2031", + "answer": "Theo bản án dân sự sơ thẩm số 24/2021/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã được kháng cáo bởi nguyên đơn là bà Lường Thị K tại phiên tòa phúc thẩm. " + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2032", + "answer": "Theo quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2033", + "answer": "Hội đồng xét xử đã nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, và nhận định rằng nguyên đơn là bà Lường Thị K có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2021/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa là trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, theo , Hội đồng xét xử cũng đã chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát. " + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Bản án số: 278/2022/DS-PT Ngày: 22/9/2034", + "answer": "Hội đồng xét xử đã nhận định rằng nguyên đơn là bà Lường Thị K có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2021/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa là trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Thu Hương - Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh, Ông Nguyễn Văn Minh - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa ." + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "- Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1968 (có mặt); Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "- Bị đơn: Anh Trần Văn R, sinh năm 1983 (vắng mặt); Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. " + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. " + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Bà Phan Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 06 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị D, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn T, ông Trần Văn V2, bà Trần Thị T3, bà Lê Thị N2, bà Đỗ Thị D1, anh Lê Văn L1, chị Lê Thị D2, anh Lê Văn B2, chị Lê Thị Bé T4, chị Lê Thị M3, ông Quảng Văn D3 và anh Quãng Việt Đ trình bày: Cha mẹ bà là cụ Lê Văn T7 và cụ Nguyễn Thị T8 có 09 người con gồm: Ông Lê Văn T, bà Trần Thị T3, ông Lê Văn C2, ông Trần Văn V2, ông Trần Văn N3, bà Lê Thị N2, bà Trần Thị N1, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị D. Cụ T7 và cụ T8 không có con riêng hay con nuôi nào khác. Năm 1994 cụ Lê Văn T7 chết, năm 1998 cụ Nguyễn Thị T8 chết. Tài sản của cha mẹ để lại gồm: 17 công đất ruộng tầm cấy và 02 công đất tầm cấy đất vườn. Đối với 17 công tầm cấy đất ruộng thì đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu giải quyết bằng Bản án số 39/DS-PT ngày 15/5/1999, riêng phần đất vườn 02 công thì chưa được chia. Sau khi cha mẹ bà chết thì ông N3 quản lý phần đất này. Ông N3 đã bán cho bà Trần Thị X1 01 công đất vườn, còn lại 01 công. Năm 2002, ông N3 cho bà về ở trên căn nhà của cha mẹ để lại và quản lý phần đất vườn 01 công và nuôi anh Trần Văn R, ông N3 thì đi nơi khác sinh sống. Nay bà X1êu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 1.228,7m2, thuộc thửa số 51 và 85, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Phần đất diện tích 1.002,2m2 do bà Trần Thị X1 đang quản lý, sử dụng và phần đất nền mộ diện tích 12,6m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 26 thì bà D không yêu cầu chia thừa kế. Bà D yêu cầu được nhận đất để cất nhà ở. Đối với các cây trồng trên đất thì bà không yêu cầu. Đối với căn nhà của bà D và căn nhà của anh R trên đất thì khi chia thừa kế nếu giao cho bà và các anh em thì nhà của ai nằm trên phần đất của người khác thì bà sẽ tháo dỡ nhà trên đất, bà X1êu cầu anh R phải tháo dỡ nhà nếu phần nhà của anh R nằm trên phần đất được chia thừa kế cho người khác. Yêu cầu hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608937 cấp cho anh Trần Văn R diện tích 299,3m2 và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608936 đối với diện tích 929,4m2 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho anh Trần Văn R vào ngày 28/11/2018. Đồng thời yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 186,4m2 thuộc một phần thửa 51, thửa 85, tờ bản đồ 26 đất tọa lạc tại Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, anh R đã bán cho ông D4, bà X1." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Anh R, bà X1, ông D4 đề nghị sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa hôm nay, chị N đại diện cho anh R giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa án, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đơn kháng cáo hợp lệ về hình thức. Các đương sự thừa nhận cụ T7, cụ T8 có 09 người con. Ông Trần Văn V2, bà Trần Thị T3, bà Lê Thị N2, bà Trần Thị N1, người thừa kế thế vị của ông Lê Văn C2 gồm bà Đỗ Thị D1, anh Lê Văn L1, chị Lê Thị D2, anh Lê Văn B2, chị Lê Thị Bé T4, chị Lê Thị M3, ông Quảng Văn D3 và anh Quãng Việt Đ cùng yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế và đồng ý giao lại cho bà Trần Thị D được hưởng, do đó bà D được hưởng tổng cộng 06 kỷ phần. Ông Lê Văn T yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Bà Trần Thị X1 yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế và đồng ý giao lại cho anh R nên anh R được nhận tổng cộng 02 kỷ phần. Phần đất tranh chấp có nhà và đất. Án sơ thẩm giao đất cho bà D và Anh R. Bà Trần Thị D được giao phần đất 131.14m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26 và đất vườn tạp diện tích 688m2. Anh Trần Văn R được giao phần đất 409,56m2 (trong đó 241,4m2 thuộc thửa 51 và 168,16m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26); đất vườn tạp diện tích 241,4m2. Anh Trần Văn R có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị D số tiền 6.155.000 đồng, hoàn trả cho ông Lê Văn T số tiền 13.914.777 đồng là phù hợp. Anh R, bà X1 và ông D4 kháng cáo yêu cầu sửa án không cung cấp chứng cứ gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh R, bà X1 và ông D4, giữ nguyên án sơ thẩm. " + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng xin vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng xin vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật. [2] Xét kháng cáo của anh Trần Văn R là bị đơn; ông Nguyễn Văn D4 và bà Trần Thị X1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử nhận thấy: [2.1] Các bên đương sự thống nhất xác định cụ Lê Văn T7 và cụ Nguyễn Thị T8 chết để lại di sản là phần đất 17 công đất ruộng đã được chia thừa kế tại Bản án dân sự phúc thẩm số 39/PTDS ngày 15/5/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Bà D xác định còn lại diện tích đất vườn chưa chia là 2.243,5m2. Trong đó, phần đất diện tích 1.002,2m2 bà Trần Thị X1 đang quản lý, sử dụng do ông N3 đã chuyển nhượng và phần đất nền mộ diện tích 12,6m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 26 thì bà D và các đồng thừa kế không yêu cầu chia thừa kế. Bà D chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất qua đo đạc thựctếlà1228,7m2 thuộcthửađấtsố51vàsố85,tờbảnđồsố26tọalạcẤpM, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. [2.2] Các đương sự thống nhất cha mẹ của cụ T7 và cụ T8 chết trước cụ T7 và cụ T8. Cụ Lê Văn T7 và cụ Nguyễn Thị T8 có 09 người con gồm: ông Lê Văn T, bà Trần Thị T3, ông Lê Văn C2, ông Trần Văn V2, ông Trần Văn N3, bà Lê Thị N2, bà Trần Thị N1, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị D; cụ T7, cụ T8 không có con riêng hay con nuôi nào khác. Ông C2 chết nên vợ và các con ông C2 là người thừa kế thế vị gồm: Bà Đỗ Thị D1, anh Lê Văn L1, chị Lê Thị D2, chị Lê Thị M3, anh Lê Văn B2, chị Lê Thị Bé T4. Ông N3 chết năm 2008 nên vợ và các con ông N3 là người thừa kế thế vị gồm: Bà Huỳnh Thị H1, chị Trần Thị K và anh Trần Văn R. [2.3] Bản án dân sự phúc thẩm số 39/PTDS ngày 15/05/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thể hiện các con của cụ T7 và cụ T8 chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất 17 công tầm cấy đất trồng lúa. Đối với phần đất thổ cư và vườn thì các đương sự chưa yêu cầu và Bản án dân sự phúc thẩm số 39/PTDS ngày 15/05/1999 chưa xem xét giải quyết. Tại Biên bản lời khai ngày 12/4/1999 (bút lục 276, 277), ông Trần Văn N3 xác định lý do ông đăng ký kê khai quyền sử dụng đất: “Khi có chủ trương của Nhà nước để quản lý lại đất đai, má tôi (bà T8) kêu tôi đi làm chứng nhận quyền sử dụng đất, khi má tôi lên Phòng Địa chính gặp anh Lê Thanh Cường cán bộ địa chính của huyện, nói với má tôi là để lại cho con đứng tên đi bà lớn tuổi rồi, nên má tôi mới để cho tôi đứng tên, ngoài ra không có giấy tờ gì của má tôi để toàn bộ lại cho tôi”. Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2019, bà Huỳnh Thị H1 cũng xác định phần đất vườn và thổ cư chưa được chia thừa kế. [2.4] Do đó, phần đất diện tích 929,4m2 thuộc thửa 51 và 299,3m2 thuộc thửa 85, tờ bản đồ 26, tọa lạc tại Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu là di sản của cụ T7 và cụ T8 để lại chưa được phân chia, trước khi chết cụ T7 và cụ T8 không để lại di chúc cho ai nên di sản được chia thừa kế theo pháp luật. [2.5] Di sản của cụ T7 và cụ T8 được chia làm 09 phần. Qua đo đạc thực tế phần đất có diện tích 1.228,7m2 trong đó có 929,4m2 đất vườn, 299,3m2 đất thổ cư. Theo kết quả định giá diện tích đất có giá trị là (299,3m2 x 170.000 đồng) + (929,4m2 x 80.000 đồng) = 125.233.000 đồng nên một kỷ phần di sản thừa kế là 13.914.777 đồng. Ông Trần Văn V2, bà Trần Thị T3, bà Lê Thị N2, bà Trần Thị N1, người thừa kế thế vị của ông Lê Văn C2 gồm bà Đỗ Thị D1, anh Lê Văn L1, chị Lê Thị D2, anh Lê Văn B2, chị Lê Thị Bé T4, chị Lê Thị M3, ông Quảng Văn D3 và anh Quãng Việt Đ cùng yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế và đồng ý giao lại cho bà Trần Thị D được hưởng, do đó bà D được hưởng tổng cộng 06 kỷ phần tương đương với số tiền 83.489.000 đồng. Ông Lê Văn T yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Tuy nhiên, hiện nay ông Lê Văn T đã có nhà, đất trên một phần khác, diện tích một kỷ phần ông T được nhận cũng không đảm bảo việc tách thửa cũng như công năng khai thác sử dụng di sản nên giao phần đất là kỷ phần của ông T cho anh R sử dụng để đảm bảo diện tích sử dụng, anh R có trách nhiệm hoàn trả lại giá trị kỷ phần cho ông Lê Văn T với số tiền 13.914.777 đồng. Bà Trần Thị X1 yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế và đồng ý giao lại cho anh R nên anh R được nhận tổng cộng 03 kỷ phần tương đương với số tiền 41.744.000 đồng. [2.6] Bà Trần Thị D và anh Trần Văn R yêu cầu được nhận di sản thừa kế là hiện vật. Bà D và anh R cũng đang sử dụng đất và hiện có nhà trên đất Tòa án cấp sơ thẩm giao đất cho bà Trần Thị D và anh Trần Văn R tiếp tục quản lý, sử dụng là có căn cứ, cụ thể bà Trần Thị D được giao phần đất 819,14m2 (trong đó 131,14m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26) tương ứng với giá trị đất bằng số tiền (131,14m2 x 170.000 đồng/m2 = 22.294.000 đồng; đất vườn tạp diện tích 688m2 x 80.000 đồng = 55.040.000 đồng, tổng cộng 77.334.000 đồng). Anh Trần Văn R được giao phần đất 409,56m2 (trong đó 241,4m2 thuộc thửa 51 và 168,16m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26), tương ứng với giá trị đất bằng số tiền (168,16m2 x 170.000 đồng/m2 = 28.587.000 đồng; đất vườn tạp diện tích 241,4m2 x 80.000 đồng = 19.312.000 đồng, tổng cộng 47.899.000 đồng). Do đó, anh Trần Văn R có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị D số tiền 6.155.000 đồng, hoàn trả cho ông Lê Văn T số tiền 13.914.777 đồng. Căn cứ biên bản về việc khảo sát vị trí nhà của bà Trần Thị D và anh Trần Văn R ngày 23/9/2022, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/9/2019. Tòa án cấp sơ thẩm phân chia hợp lý và buộc anh R tháo dỡ phần nhà có chiều ngang 2,9m, chiều dài 07m, kết cấu mái thiếc, vách thiếc, khung sườn cây gỗ địa phương, nền đất để giao trả lại đất cho bà Trần Thị D. [2.7] Do phần đất vườn và đất thổ cư là di sản của cụ T7 và cụ T8 để lại chưa chia thừa kế nhưng năm 2007 ông N3 làm đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 51, tờ bản đồ số 26, diện tích 2.190,9m2 đất vườn và thửa 85, tờ bản đồ số 26, diện tích 299,3m2 đất thổ cư. Đến ngày 14/7/2009 ông Trần Văn N3 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 thửa đất nêu trên. Sau khi ông Trần Văn N3 chết, bà Huỳnh Thị H1, chị Trần Thị K lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, giao 02 phần đất diện tích 2.190,9m2 và diện tích 299,3m2 cho anh Trần Văn R đứng tên quyền sử dụng. Đến ngày 28/11/2018, anh Trần Văn R được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 diện tích đất nêu trên. Diện tích đất 1.228,7m2 là di sản của cụ T7 và cụ T8 để lại, việc ông N3 được sử dụng và quản lý phần đất nêu trên với tư cách hộ gia đình của ông N3 là không đúng, dẫn đến việc anh Trần Văn R làm thủ tục nhận thừa kế từ ông N3 là chưa đúng quy định, nên việc Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân anh Trần Văn R là không đúng pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 929,4m2 thuộc thửa 51 và 299,3m2 thuộc thửa 85, tờ bản đồ 26 tọa lạc tại Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ. [2.8] Đối với phần đất nền mộ diện tích 12,6m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 26 thì các đương sự không yêu cầu chia thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định rõ việc này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là vượt quá yêu cầu của các đương sự. [2.9] Phần đất anh R chuyển nhượng cho bà X1 và ông D4 thuộc di sản thừa kế nên anh R không có quyền lấy phần đất trên chuyển nhượng cho bà X1 và ông D4. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh R với ông Nguyễn Văn D4 và bà Trần Thị X1 là vô hiệu. Do anh R, ông D4 và bà X1 không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ. [2.10] Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản tranh chấp, án phí dân sự sơ thẩm: giữ nguyên. [3] Từ nhận định phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với phần đất nền mộ diện tích 12,6m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 26 khi các đương sự không yêu cầu là vượt quá yêu cầu của các đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị N đại diện cho anh R kháng cáo phần này là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các đương sự, sửa án sơ thẩm về phần này, điều chỉnh lại số liệu cho chính xác phần của bà D được hưởng là 819,14m2, không phải 819,24m2. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên anh Trần Văn R, ông Nguyễn Văn D4 và bà Trần Thị X1 không phải chịu án phí." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số 175/2023/DS-PT Ngày 10 - 4 - 2023 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; 11 Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 91, 157, 164, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 612, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 668 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Trần Văn R là bị đơn; ông Nguyễn Văn D4 và bà Trần Thị X1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2022/DS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về phần đất nền mộ diện tích 12,6m2 thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 26: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D đối với anh Trần Văn R. 1.1. Bà Trần Thị D được toàn quyền sử dụng và sở hữu phần đất diện tích 819,14m2 (trong đó 688m2 thuộc thửa 51 và 131.14m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26) tọa lạc Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo cụ thể như sau: Hướng Đông giáp phần đất chia cho anh Trần Văn R có số đo 7.0m + 21,4m + 19,9m + 5,0m + 23,9m; Hướng Tây giáp phần đất ông Quyền có số đo 72,6m; Hướng Nam giáp lộ kênh Thầy Thép có số đo 9,1m; Hướng Bắc giáp phần đất của bà Trần Thị X1sử dụng có số đo 15,6m; 1.2. Anh Trần Văn R được toàn quyền sử dụng và sở hữu phần đất diện tích 409,56m2 (trong đó 241,4m2 thuộc thửa 51 và 168,16m2 thuộc thửa 85, cùng tờ bản đồ số 26), tọa lạc Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo cụ thể như sau: Hướng Đông giáp phần đất bà Bảy đang sử dụng có số đo 6,9m + 21,3m + 24,9m + 2,3m + 18,9m; Hướng Tây giáp phần đất chia cho bà D có số đo 7,0m + 21,4m + 19,9m + 5,0m + 23,9m; Hướng Nam giáp lộ kênh Thầy Thép có số đo 7,9m; Hướng Bắc giáp phần đất của bà Trần Thị X1sử dụng có số đo 01m; 1.3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608937 cấp cho anh Trần Văn R đối với diện tích 299,3m2 thuộc thửa 85, tờ bản đồ 26 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608936 đối với diện tích 929,4m2 thuộc thửa 51, tờ bản đồ 26 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho anh Trần Văn R vào ngày 28/11/2018. Các đương sự có quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 1.4. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Trần Văn R với bà Trần Thị X1và ông Nguyễn Văn D4 đối với diện tích đất 186,4m2 thuộc một phần thửa 51, thửa 85, tờ bản đồ 26 tọa lạc Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu là vô hiệu. 2. Buộc anh Trần Văn R tháo dỡ, di dời phần nhà ngang 2,9 m, dài 07m, kết cấu mái thiếc, vách thiếc khung sườn cây gỗ địa phương, nền đất để giao trả đất cho bà Trần Thị D. Buộc anh Trần Văn R có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị D số tiền 6.155.000 đồng. Buộc anh Trần Văn R có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế cho ông Lê Văn T số tiền 13.914.777 đồng. 3. Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản tranh chấp tổng số tiền 3.007.485 đồng, bà Trần Thị D phải chịu 2.004.990 đồng, anh Trần Văn R phải chịu 668.330 đồng, ông Lê Văn T phải chịu 334.165 đồng. Bà Trần Thị D đã nộp đủ số tiền 3.007.485 đồng và chi hết, nên buộc anh R phải hoàn trả lại cho bà Trần Thị D số tiền 668.330 đồng, ông Lê Văn T phải hoàn trả lại cho bà Trần Thị D số tiền 334.165 đồng. 4. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Trần Thị D phải chịu 4.174.450 đồng, bà Trần Thị D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014135 ngày 14/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bạc Liêu được đối trừ, bà Trần Thị D còn phải nộp tiếp số tiền 3.824.450 đồng. Anh Trần Văn R phải chịu án phí số tiền 2.087.200 đồng. Ông Lê Văn T phải chịu án phí số tiền 695.739 đồng. 4. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu. Hoàn lại cho anh Trần Văn R số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do Nguyễn Quốc Vương (nộp thay Trần Văn R) theo Biên lai thu số 0000248 ngày 07/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. Hoàn lại cho ông Nguyễn Văn D4 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do Nguyễn Quốc Vương (nộp thay Nguyễn Văn D4) theo Biên lai thu số 0000249 ngày 07/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. Hoàn lại cho bà Trần Thị X1số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do Nguyễn Quốc Vương (nộp thay Trần Thị Y) theo Biên lai thu số 0000354 ngày 13/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. 5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. 6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng. Các thẩm phán: Ông Lê Hoàng Tấn Bà Trần Thị Hòa Hiệp" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Nguyên đơn: 1.1. Bà Trần Thị Mười H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Lốc A2.2, hộ 3.03, KDC VL B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số 24/34 hẻm 199, Phường 7, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. 1.2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp M, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. 1.3. Ông Trần Văn Mười B, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp H, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Bị đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp S B, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Người đại diện hợp pháp của bị đơn có: Ông Đặng Công C, sinh năm 1960. Địa chỉ: 719B NP, HN 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/3/2023), có mặt." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hiển - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Nguyên đơn bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B và bà Trần Thị Đ trình bày: Cụ Trần Văn C, tên gọi khác là Trần Văn N hoặc NC (chết năm 1963) và cụ Trần Thị Đ1 (chết năm 1969) có 11 người con, trong đó có 02 người đã chết lúc còn nhỏ không rõ họ, tên, còn lại 09 người con gồm: Ông Trần Văn X, chết năm 1968, bà Trần Thị B, chết năm 1999, ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, chết năm 1965, bà Trần Thị C, chết lúc nhỏ, không có chồng, con; bà Trần Thị S; bà Trần Thị Đ; bà Trần Thị Mười H; ông Trần Văn Mười B. Phần đất 5.720m2 tại các thửa 1536, 1537, 1789, tờ bản đồ số 1, loại đất thổ, vườn và chuyên trồng lúa nước tọa lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang có nguồn gốc của vợ chồng cụ Trần Văn C, cụ Trần Thị Đ1 tạo lập lúc còn sống, do cụ Trần Văn C (tên thường gọi là N) đứng tên chủ sử dụng trong Sổ mục kê ruộng đất năm 1983 của xã T. Sau khi cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết, các nguyên đơn thay nhau canh tác sau đó giao cho ông Trần Văn L quản lý, sử dụng để thờ cúng ông bà. Năm 1998, bà Trần Thị Thùy L (con ruột ông Trần Văn L) tự ý kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có sự đồng ý của các con của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 nên không có tranh chấp hay khiếu nại về việc bà Trần Thị Thùy L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2005, bà Trần Thị S từ nước ngoài gửi tiền về và ông Mười B, bà Mười H, bà Trần Thị Đ cùng bỏ tiền ra để xây dựng 01 căn nhà cấp 4 trên thửa đất 1537, để cho ông Trần Văn L, bà Hồ Thị H và anh Trần Văn L1 (con của ông Trần Văn L và bà Hồ Thị H) ở thờ cúng ông, bà. Sau khi ông Trần Văn L chết, năm 2014 các nguyên đơn phát hiện bà Trần Thị Thùy L có ý định bán đất nên phát sinh tranh chấp. Nay bà Mười H, ông Mười B và bà Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện GCĐ và Ủy ban nhân dân thị xã G cấp cho hộ bà Trần Thị Thùy L. Công nhận phần đất có diện tích 5.720m2 thuộc các thửa số 1536, 1537 và thửa 1789, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp MX, xã T, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang là di sản của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết để lại chưa chia. Yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Trần Thị S, bà Trần Thị Đ, ông Trần Văn Mười B, ông Trần Văn L và bà Trần Thị Mười H. Giao kỷ phần thừa kế của bà Trần Thị S, bà Trần Thị Đ, bà Mười H và ông Mười B cho bà Mười H quản lý, sử dụng, sau này giữa các đồng thừa kế có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác. Công nhận căn nhà cấp 4 xây dựng trên thửa đất 1537, tờ bản đồ số 1 là tài sản thuộc sở hữu chung của bà Trần Thị S, bà Trần Thị Đ, ông Trần Văn Mười B và bà Trần Thị Mười H. Nhưng các nguyên đơn không yêu cầu bà Hồ Thị H, anh Trần Văn L1 di dời để giao trả nhà mà tiếp tục cho bà Hồ Thị H và anh Trần Văn L1 tiếp tục ở căn nhà gắn trên thửa đất 1537." + }, + { + "question": " Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Bị đơn Trần Thị Thùy L trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Trần Văn C (chết năm 1963) và cụ Trần Thị Đ1 (chết năm 1969) để lại cho cha ruột của bà Trần Thị Thùy L là ông Trần Văn L canh tác trước năm 1975. Năm 1980, thực hiện chính sách nhường cơm xẻ áo, nhà nước đã giao 6000m2 đất (thuộc thửa 1789) cho 06 hộ dân ở ấp MX, xã T, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang canh tác. Năm 1997, bà Trần Thị Thùy L làm đơn xin lại đất và được 06 hộ dân trả lại 3000m2, bà Trần Thị Thùy L kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất và hộ gia đình bà Trần Thị Thùy L đã được Ủy ban nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407/MX ngày 14/5/1998 đối với thửa 1789 tờ bản đồ số 1 diện tích 3.000m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Đến ngày 24/11/2014, Ủy ban nhân dân thị xã G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị Thùy L đối với thửa đất 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.579,0m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, toạ lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Đến ngày 30/6/2015, Ủy ban nhân dân thị xã G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị Thùy L đối với thửa đất 155, tờ bản đồ số 4, diện tích 886,9m2, loại đất ở nông thôn + cây lâu năm, tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Khi bà Trần Thị Thùy L kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất thì các cô chú của bà Trần Thị Thùy L không ai tranh chấp, khiếu nại. Tại thời điểm được cấp giấy đất thì hộ gia đình của bà Trần Thị Thùy L gồm có bà Trần Thị Thùy L, Phạm Thị Ngọc P, Trần Thị Yến N. Sau khi hộ bà Trần Thị Thùy L được cấp giấy đất, bà Trần Thị Thùy L cho ông Huỳnh Văn N và bà Trần Thị C thuê đất canh tác nhưng không làm hợp đồng thuê mà chỉ thỏa thuận miệng. Do các thửa đất nêu trên không còn là di sản của cụ Trần Văn C, cụ Trần Thị Đ1 nên bà Trần Thị Thùy L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu chia di sản là quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 1789, 155,156 toạ lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Đối với căn nhà cấp 4 xây dựng trên thửa đất 1537 (nay là thửa 155), bà Trần Thị Thùy L thừa nhận là tài sản của bà Trần Thị S, bà Trần Thị Đ, ông Mười B và bà Mười H xây dựng vào khoảng năm 2005 cho ông Trần Văn L ở, sau khi ông Trần Văn L chết bà Hồ Thị H và anh Trần Văn L1 đang ở trong căn nhà trên. Bà Trần Thị Thùy L yêu cầu được sở hữu căn nhà và tự nguyện hoàn giá trị căn nhà cho các nguyên đơn theo giá trị nhà đã định giá." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Luật sư Nguyễn Đình Đ bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn Trần Thị Thuỳ Linh có ý kiến: Các thửa đất 155,156 mặc dù có nguồn gốc của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 nhưng đã cho ông Trần Văn L sử dụng từ trước năm 1975 nên không còn là di sản của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. Quá trình sử dụng, ông Trần Văn L đã đứng tên kê khai trong sổ mục kê ruộng đất năm 1983, đến năm 1998 bà Trần Thị Thùy L là con của ông Trần Văn L tiếp tục kê khai đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất. Do đó đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thùy L, sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Mười H, ông Mười B và bà Trần Thị Đ về việc yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 155, tờ bản đồ số 4, diện tích 886,9m2 (đo thực tế 842,9m2 trong đó có 300m2 đất ở nông thôn và 542,9m2 đất trồng cây lâu năm); thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 1579,0m2 (đo thực tế 1623,5m2), loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. - Bà Vũ Thảo L là người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn bà Mười H, ông Mười B, bà Trần Thị Đ có ý kiến: Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất 155, 156 là của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 để lại. Do đó các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa 155, 156 là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó đề nghị bác kháng cáo của bà Trần Thị Thùy L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luật sư Nguyễn Hoài B bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. Sau đó cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết giao lại cho ông Trần Văn L quản lý sử dụng như vậy ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn là chưa phù hợp. Về Sổ mục kê ruộng đất và năm 1983 có thể hiện nguồn gốc đất của ông N. Tại bản án sơ thẩm có nêu rõ: “chủ sử dụng của các thửa đất nêu trên là “N” được viết bằng viết chì, nên không rõ “N” có phải là cụ Trần Văn C, tên gọi khác là Trần Văn N hoặc NC hay không, nhưng các đương sự đều thừa nhận các thửa đất này là của vợ chồng cụ Trần Văn C, cụ Trần Thị Đ1 tạo lập”. Trên thực tế có việc cụ Trần Văn C có tên là N hay còn gọi là NC. Trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện ông Trần Văn L có tên là Năm Lu Li như phía bị đơn trình bày. Trong hồ sơ kê khai quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Thùy L vào năm 1998 có nội dung “nguồn gốc đất của cha Trần Văn L bệnh tâm thần để lại cho con chung khẩu CCQ” tình tiết này là không phù hợp vì thứ nhất Sổ mục kê năm 1983 thể hiện chủ sử dụng của các thửa đất nêu trên là “N” tên còn gọi là NC không liên quan đến ông Trần Văn L và trong giai đoạn đó tương tự trong bản án sơ thẩm cũng thể hiện là đối với 3000m2 mã đã đưa vào hợp tác xã các đương sự thống nhất đất này là do các hộ dân trả lại cho gia đình cụ Trần Văn C. Vì vậy, việc bà Trần Thị Thùy L tự ý đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có sự đồng ý của các đồng thừa kế là không phù hợp pháp luật. Đối với căn nhà xây trên thửa đất 1537 (nay là thửa 155), các đương sự thống nhất trình bày căn nhà là tài sản chung của các nguyên đơn và bà Trần Thị S nhận định này của bản án sơ thẩm là phù hợp vì các nguyên đơn bỏ tiền xây dựng vào năm 2005 để cho ông Trần Văn L, bà Hồ Thị H, anh Trần Văn L1 cùng ở và thờ cúng ông bà. Phía bị đơn không chứng minh được ông Trần Văn L là người xây nhà. Bị đơn cũng có yêu cầu được sở hữu nhà và tự nguyện hoàn trả giá trị cho các nguyên đơn. Việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 155, 156 là phù hợp với quy định của pháp luật và bản án sơ thẩm cũng đã xác định hàng thừa kế theo quy định tại điều 651, 652 Bộ luật dân sự và trên tinh thần của Nghị quyết 02 năm 2004 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án sơ thẩm đã xét xử chính xác và đúng với quy định của pháp luật. Đề nghị bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. - Ông Phạm Công G là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất với ý kiến của bị đơn bà Trần Thị Thùy L. - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đơn kháng cáo của bị đơn Trần Thị Thùy L hợp lệ đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung kháng cáo: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Thùy L là chưa có căn cứ để chấp nhận bởi vì việc bà Trần Thị Thùy L kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất thửa 1536,1537 (nay thửa là 155,156) không có sự đồng ý của các đồng thừa kế của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. Do đó án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn, chia di sản của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 để lại gồm các thửa đất nêu trên là có căn cứ. Đối với căn nhà trên đất không phải là di sản của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 để lại nên ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn giao căn nhà cho bà Hồ Thị H và anh Trần Văn L1 tiếp tục quản lý để ở. Vì vậy đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thùy L, giữ nguyên bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án l�� \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Các quyết định khác của án sơ thẩm về việc đình chỉ xét xử đối với phần rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Mười H và bà Trần Thị Đ về việc tranh chấp thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 cấp ngày 14/5/1998 cho hộ bà Trần Thị Thùy L; về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn Mười B yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 cấp ngày 14/5/1998 do Ủy ban nhân dân huyện GCĐ cấp cho hộ bà Trần Thị Thùy L, xác định di sản thừa kế và chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; về việc giao cho hộ bà Trần Thị Thùy L tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2 (đo đạc thực tế 3.103,1m2) loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; về hoàn trả tạm ứng án phí cho bà Trần Thị Yến N không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thùy L làm trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, nên tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Tài nguyên và Môi trường INCOM (Bút lục 734, 737) đã xác định phần đất tranh chấp gồm: Thửa đất số 155 tờ bản đồ số 4 theo Giấy chúng nhận số CH06037 cấp ngày 30/6/2015 diện tích 886,9m2 loại đất ONT + CLN, kết quả đo đạc thực tế 842,9m2 đất tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận số CH03197 cấp ngày 24/11/2014, diện tích 1.579,0m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, kết quả đo đạc thực tế 1.623,5m2 đất tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/7/2022 (Bút lục 728) đã xác định: Thửa đất cũ 1536 tờ bản đồ số 01 thành thửa mới 156 tờ bản đồ số 04; thửa đất 1537 tờ bản đồ số 01 loại đất lúa thành thửa mới 155 tờ bản đồ số 04. Trên thửa đất số 155 có căn nhà cấp 4 cột BTCT, vách tường, mái tonle phi rô xi măng, lót gạch xeramic; nhà phụ nền đất vách lá, trụ BTCT, mái tol phiro xi măng; hồ nước hiện do bà Hồ Thị H và anh Trần Văn L1 đang quản lý sử dụng để ở. [3] Nguyên đơn bà Mười H, ông Mười B, bà Trần Thị Đ khai rằng thửa đất 155, 156 đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ Trần Văn C (chết năm 1963), cụ Trần Thị Đ1 (chết năm 1969) để lại. Sau khi cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết, các nguyên đơn thống nhất giao cho ông Trần Văn Lợi quản lý sử dụng nhưng sau đó bà Trần Thị Thùy L là con gái của ông Trần Văn L tự ý kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất mà không được sự đồng ý của các con của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. Đến năm 2014 khi các ông bà biết được bà Trần Thị Thùy L có ý định sang nhượng đất nên mới phát sinh tranh chấp. Do đó các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất gồm thửa đất nêu trên. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thì cho rằng mặc dù thửa đất 1536 (thửa mới là 156) và thửa 1537 (thửa mới là 155) và thửa 1789 có nguồn gốc của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. Nhưng sau khi cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết, cha của bà Trần Thị Thùy L là ông Trần Văn L trực tiếp quản lý sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1980, thực hiện chính sách về đất đai, chính quyền địa phương đã lấy 6.000m2 đất ruộng thuộc thửa 1789 chia cho 06 hộ dân ở ấp MX, xã T, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang canh tác. Năm 1997, bà Trần Thị Thùy L làm đơn xin lại đất và được 06 hộ dân trả lại 3000m2. Do ông Trần Văn L bị bệnh nên bà Trần Thị Thùy L làm đơn kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất diện tích 5.720m2 đất (trong đó có 3.000m2 được các hộ dân trả lại) thuộc các thửa 1537, 1536, 1789 tạo lạc tại ấp MX, xã T, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang. Xét thấy tại Công văn số 461/TL-VPĐK ngày 08/02/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang đã xác định: - Theo sổ mục kê ruộng đất được UBND xã ký năm 1983 (Sổ bộ ruộng đất) có thông tin tên chủ sử dụng ruộng đất thửa số 780, 781, 783, 784 - sơ đồ giải thửa đất ruộng - tờ số 01 là Năm và được viết bằng viết chì; Thửa đất 1536, 1537 - tờ bản đồ số 01 tương ứng thửa đất số 781, 780 - sơ đồ giải thửa đất ruộng - tờ số 01; Thửa đất 1789 - tờ bản đồ số 01 thuộc 01 phần thửa đất 783 + 01 phần thửa đất số 784 - sơ đồ giải thửa đất ruộng - tờ số 01. - Tại sổ mục kê đất đai của xã T thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang lập ngày 31/12/2009 thể hiện bà Trần Thị Thùy L đứng tên kê khai người quản lý, sử dụng đất tại các thửa 1536 diện tích 1.500m2 loại đất LUA; thửa 1537 diện tích 1.220m2 loại đất ONT-CLN; thửa 1789 diện tích 3.000m2 loại đất LUA (Bút lục 194-196). Như vậy theo sổ mục kê (còn gọi là sổ bộ ruộng đất) do Ủy ban nhân dân xã T lập năm 1983 chủ sử dụng ruộng đất đứng tên kê khai là người tên N gồm các thửa đất số 1536, 1537, 1789 (thửa cũ 781, 780, 783 và một phần thửa 784). Các nguyên đơn bà Mười H, ông Mười B và bà Trần Thị Đ cho rằng do cụ Trần Văn C (tên thường gọi là Trần Văn N hoặc NC) đứng tên chủ sử dụng trong Sổ mục kê ruộng đất năm 1983 của xã T. Nhưng các nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cụ Trần Văn C tự là Trần Văn N (NC) như nguyên đơn đã khai. Còn bị đơn bà Trần Thị Thùy L thì khai cha bà là Trần Văn L tên thường gọi là N Lu Li đứng tên kê khai trong sổ mục kê năm 1983. Xét thấy lời khai của bà Trần Thị Thùy L là có căn cứ phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Huỳnh Văn H đã khai: “...Ông H làm chủ tịch xã T từ năm 1991- 2004, bà Trần Thị Thùy L là con của ông Trần Văn L (tức là ông N lu li) tôi được biết ông Trần Văn L thần kinh không được bình thường” (Bút lục 331). Trong khi Ủy ban nhân dân xã T lập sổ ruộng đất vào năm 1983 còn cụ Trần Văn C chết năm 1963 và cụ Trần Thị Đ1 chết năm 1969. Các nguyên đơn cũng thừa nhận sau khi cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1 chết thì phần đất trên do ông Trần Văn L quản lý canh tác. Vì vậy có căn cứ xác định cụ Trần Văn C không phải là người đứng tên chủ sử dụng ruộng đất trong sổ ruộng đất năm 1883 mà do ông Trần Văn L (tự là ông N - N lu li) đứng tên kê khai trong sổ mục kê ruộng đất đối với các thửa số 780, 781, 783, 784 -1 sơ đồ giải thửa đất ruộng - tờ số 01 tương ứng các thửa đất 1536, 1537 - tờ bản đồ số 01 theo sổ mục kê ruộng đất năm 2009 do bà Trần Thị Thùy L đứng tên kê khai người quản lý, sử dụng đất. Đồng thời, tại biên bản hòa giải ngày 28/11/1997 UBND xã T giải quyết về việc tranh chấp đất theo yêu cầu của ông Trần Văn L và bà Trần Thị Thùy L thì 06 hộ dân gồm Nguyễn Thành L, Lê Thanh H, Trừ Văn Đ, Trần Văn M, Huỳnh Văn K đồng ý mỗi người trả 1⁄2 diện tích đất cho ông Trần Văn L, tổng cộng chung diện tích được trả lại cho ông Trần Văn L là 3.000m2 đất lúa (Bút lục 02-05). Ngày 18/3/1998 bà Trần Thị Thùy L làm đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 5.720m2 đất gồm các thửa 1537: 1220m2 TV; thửa 1536: 1500m2 2L; thửa 1789: 3000m2 2L. Nội dung kê khai nguồn gốc đất cha Trần Văn L sử dụng trước năm 1975 hiện nay bị bệnh tâm thần để lại cho con chung hộ khẩu. Tại đơn xin đăng ký cấp quyền sử dụng đất, bà Trần Thị Thùy L khai do cha của bà là ông Trần Văn L bị bệnh tâm thần nên bà kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất. mặc dù trong Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cung cấp không có hồ sơ bệnh án của ông Trần Văn L, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của những người làm chứng: Ông H làm chủ tịch xã T từ năm 1991 - 2004 có lời khai “bà Trần Thị Thùy L là con của ông Trần Văn L (tức là ông N lu li) tôi được biết ông Trần Văn L thần kinh không được bình thường” (Bút lục 331) và tại biên bản ghi lời khai ngày 10/01/2022 ông Trần Văn Mười B cũng có lời khai: “ Theo tôi biết, ông Trần Văn L có vấn đề về thần kinh nhưng không có giấy tờ xác nhận” (Bút lục 637-638). Do đó xét thấy việc bà Trần Thị Thùy L làm đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 5.720m2 đất gồm các thửa 1537: 1.220m2 TV; thửa 1536: 1.500m2 2L; thửa 1789: 3.000m2 2L và ghi nội dung kê khai nguồn gốc đất cha Trần Văn L sử dụng trước năm 1975 hiện nay bị bệnh tâm thần để lại cho con chung hộ khẩu là phù hợp." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 247/2023/DS-PT Ngày 08 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất”", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Thị Thùy L. 1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 39/2020/DS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang: 1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B, Trần Thị Đ về việc yêu cầu hủy : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06037 do Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/6/2015 cho hộ bà Trần Thị Thùy L đối với thửa đất số 155, tờ bản đồ số 4, diện tích 886,9m2 loại đất ONT + CLN, tọa lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03197 do Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 24/11/2014 cho hộ bà Trần Thị Thùy L đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.579,0m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. 1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B, bà Trần Thị Đ về việc xác định thửa đất số 155, tờ bản đồ số 4, diện tích 886,9m2 loại đất ONT + CLN và thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.579,0m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang là di sản thừa kế của cụ Trần Văn C và cụ Trần Thị Đ1. 1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B, Trần Thị Đ về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất gồm thửa đất số 155, tờ bản đồ số 4, diện tích 886,9m2 loại đất ONT + CLN và thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.579,0m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. 2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: - Về chi phí tố tụng: Các nguyên đơn bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B, bà Trần Thị Đ phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng 31.981.000 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi mốt ngàn đồng). Được khấu trừ vào số tiền do nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Đương sự đã nộp ��ủ. - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Mười H, ông Trần Văn Mười B, bà Trần Thị Đ được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Mười H, bà Trần Thị Đ, ông Trần Văn Mười B mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo các biên lai thu số 42030, 42028, 42028 ngày 23/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. 3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Trần Thị Thùy L không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thùy L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000276 ngày 05/9/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang. 4. Các quyết định khác của án sơ thẩm về việc đình chỉ xét xử đối với phần rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Mười H và bà Trần Thị Đ về việc tranh chấp thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 cấp ngày 14/5/1998 cho hộ bà Trần Thị Thùy L; về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn Mười B yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 cấp ngày 14/5/1998 do Ủy ban nhân dân huyện GCĐ cấp cho hộ bà Trần Thị Thùy L, xác định di sản thừa kế và chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; về việc giao cho hộ bà Trần Thị Thùy L tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 1789, tờ bản đồ số 1, diện tích 3000m2 (đo đạc thực tế 3.103,1m2) loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp MX, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; về hoàn trả tạm ứng án phí cho bà Trần Thị Yến N không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. 5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương. Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên. Ông Nguyễn Văn Tửu. " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "1. Bà Dương Thị H, sinh năm 1944 (vắng mặt). 2. Bà Dương Thị B, sinh năm 1948 (có mặt). Cùng địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh T. Người đại diện hợp pháp của bà Dương Thị H: Bà Dương Thị L, sinh năm 1963 (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/9/2022 - có mặt). 3. Bà Dương Thị L, sinh năm 1963 (có mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã L, thị xã D, tỉnh T. Tạm trú: Ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh T. 4. Bà Dương Thị Ph, sinh năm 1964 (có mặt). Địa chỉ: Số 150, đường 19/5, Khóm 2, Phường 1, thị xã D, tỉnh T." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1952 (có mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã L, thị xã D, tỉnh T. Ng��ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ: Luật sư Nguyễn Văn N, Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt). " + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Cụ Dương Văn Đ1 (chết 1997) và cụ Phan Thị L2 (chết 2016) có quyền sử dụng diện tích 40.000m2, loại đất nuôi trồng thủy sản và diện tích 6.104,3m2, loại đất ở và cây lâu năm, cùng tọa lạc tại ấp B, xã L, thị xã D, tỉnh T. Nguồn gốc đất do cụ Dương Văn Nh (cha cụ Đ1) để lại. Cụ Đ1 và cụ L2 có 5 người con, gồm các ông/bà Dương Văn Đ, Dương Thị H, Dương Thị B, Dương Thị L, Dương Thị Ph. Cụ Đ1 và cụ L2 chết không để lại di chúc. Trước khi chết thì cụ Đ1 có căn dặn cụ L2 và các con để diện tích 40.000m2 cho ông Đ quản lý, sử dụng và có nhiệm vụ thờ cúng tổ tiên, vì ông Đ là con trai duy nhất, còn diện tích 6.104,3m2 thì chia đều cho 05 chị em. Thực hiện ý nguyện của cụ Đ1, các bà đã thống nhất giao cho ông Đ diện tích 40.000m2. Sau khi cụ L2 chết thì các nguyên đơn yêu cầu chia diện tích 6.104,3m2, nhưng ông Đ chỉ đồng ý chia cho 04 chị em, mỗi người 240m2 (ngang 08m x dài 30m). Vì vậy, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia diện tích đất còn lại sau khi trừ diện tích đất có mộ là 5.104,3m2 cho 04 người, mỗi người được hưởng bằng 1.020,86m2." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Nguồn gốc diện tích 6.104,3m2 là của ông nội (Dương Văn Nh) để lại cho cha là ông Đ1 như các nguyên đơn trình bày là đúng. Trước năm 1975, do chiến tranh nên đất bị bỏ hoang. Sau năm 1975, cụ Đ1 cất một cái chòi nhỏ để ở và trồng hoa màu trên một phần đất này. Đến năm 1980, do sức khỏe yếu, hơn nữa chỉ một mình ông là con trai nên cụ Đ1 mới cho vợ chồng ông san lấp động cát và cất nhà ở trên thửa đất này và ông có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Khi Nhà nước có chủ trương cấp quyền sử dụng đất thì cụ Đ1 cho ông đứng kê khai, đăng ký đất và ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) vào năm 1995. Trong suốt quá trình ông sử dụng, kê khai, đăng ký và được cấp giấy CNQSDĐ thì không có ai tranh chấp. Đến năm 2004, ông có cho người em ruột là bà L mượn một phần đất để cất nhà ở tạm, đến khi nào ông có nhu cầu sử dụng đất thì ông lấy lại. Do đó, ông không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất 5.104,3m2. Vì bà H, bà B và bà L đã được hưởng di sản của cha mẹ để lại là căn nhà gắn liền với diện tích đất 1.420m2, thửa số 164, tờ bản đồ số 09 và diện tích đất 2.460,2m2, thửa số 125, loại đất trồng lúa, tờ bản đồ số 08, cùng tọa lạc tại ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh T. Ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L, ông Ph1 và chị Q có nghĩa vụ di dời căn nhà và tài sản có trên đất đi nơi khác để trả lại diện tích 446,9m2, thuộc một phần thửa số 82 cho ông sử dụng." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Đất có nguồn gốc của cụ Đ1, ông Đ cùng khai phá. Thời điểm năm 1995, ông Đ được cấp giấy CNQSDĐ nhưng cụ Đ1 và cụ L2 không phản đối. Đất cấp cho hộ ông Đ. Tại thời điểm cấp giấy thì hộ ông Đ có 7 người, gồm: Cụ Đ1, ông Đ, bà T (vợ ông Đ) và các con ông Đ. Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 thì những người nêu trên có quyền sử dụng đất nên diện tích đất ông Đ đứng tên được chia làm 2 phần, trong đó cụ Đ1 và ông Đ mỗi người 1 phần. Cụ Đ1 chết không để lại di chúc nên chia phần của cụ Đ1 cho các con theo pháp luật, có tính công sức của ông Đ. Trong sơ đồ chia thừa kế có phần ký hiệu O nhưng chưa xác minh làm rõ phần đất này thuộc thửa nào? Không thẩm định đo đạc xác định lại là vi phạm tố tụng, gây khó khăn cho việc thi hành án. Bản án sơ thẩm chia cho ông Đ 2.205m2 là phần đất sau khu mộ, có giá trị thấp hơn nhưng lại buộc ông Đ trả giá trị theo kết quả định giá cho người thừa kế khác là thiệt thòi cho ông Đ. Tổng chiều dài phần đất giáp đường đất là 48,64m nhưng Tòa án lại chia cho các đương sự (bà L, bà H, bà B, bà Ph) tổng cộng là 49,7m là không chính xác; Đồng thời cơ quan chuyên môn cũng không tách ra từng phần đất được chia, xác định vị trí cụ thể thửa đất nên việc thi hành án là không thể thực hiện được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của ông Đ, chấp nhận kháng nghị của Viện trường Viện kiểm sat nhân dân tỉnh T, hủy bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 5 và khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đ kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh kháng nghị đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung: [1] Các đương sự thống nhất xác nhận: Cụ Đ1 và cụ L2 là vợ chồng, có 5 người con, gồm: Ông Đ, bà L, bà H, bà B, bà Ph. Cụ Đ1 và cụ L2 chết không để lại di chúc. Đất tranh chấp là thửa 508, diện tích 3.250m2 và thửa 509, diện tích 3.250m2, cùng tờ bản đồ số 10, tại ấp B, xã L, huyện D, được UBND huyện D cấp giấy CNQSDĐ cho ông Đấu ngày 17/8/1995. Nguồn gốc các thửa đất trên là của cụ Đ1. [2] Quá trình tố tụng, ông Đ cho rằng đã được cụ Đ1 cho phần đất trên nhưng không có căn cứ chứng minh, không được người thừa kế của cụ Đ1 thừa nhận. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa 508 và thửa 509 là di sản thừa kế của cụ Đ1 và chia thừa kế theo pháp luật cho ông Đ, bà L, bà H, bà B, bà Ph là có căn cứ. [3] Hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Đ được UBND huyện D cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 508, mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm và thửa 509, mục đích sử dụng là đất ở và đất trồng cây lâu năm. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục định giá tài sản và đo đạc diện tích các thửa đất làm căn cứ chia thừa kế là đúng. [4] Tuy nhiên, tại Biên bản định giá ngày 30/7/2020, Hội đồng định giá chỉ xác định giá trị quyền sử dụng đất của thửa 508, 509 là 300.000 đồng/m2, mà không xác định giá trị quyền sử dụng đất ở, đất trồng cây lâu năm là không đúng quy định. [5] Tại Sơ đồ khu đất ban hành kèm theo Công văn số 382/VPĐKĐĐ- KTĐC ngày 19/8/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (bút lục 373), thể hiện tổng diện tích đất tranh chấp là 5.163,6m2, nhưng sơ đồ này không thể hiện tọa độ cụ thể và không thể hiện diện tích nhà, vật kiến trúc trên đất. Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ sơ đồ này để chia cho các đồng thừa kế là không thể thi hành án. Đồng thời, tại sơ đồ khu đất thể hiện chiều dài giáp đường đất là 48,64m nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chia cho bà L, bà H, bà B, bà Ph diện tích đất có chiều dài tổng cộng 49,7m là không phù hợp. [6] Đất của bà L được chia 215,6m2, bà H, bà B, bà Ph mỗi người được chia 392m2. Tại điểm b, Điều 4 Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND ngày 18/11/2021 của UBND tỉnh T Quy định điều kiện tách thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh T, có nội dung: Diện tích tối thiểu của thửa đất mới hình thành đối với đất nông nghiệp của các phường, trị trấn, xã là 500m2. Đối chiếu quy định trên thì việc chia thừa kế cho các đương sự với diện tích trên là trái quy định. [7] Ngoài ra, việc định giá tài sản tranh chấp là ngày 30/7/2020 nhưng đến ngày 23/3/2022, Tòa án mới xét xử sơ thẩm là quá thời hạn quy định nhưng hồ sơ vụ án không thể hiện ý chí của các đương sự về việc đồng ý với kết quả định giá ngày 30/7/2020 này và không yêu cầu định giá lại. [8] Ông Đ và bà T là người trực tiếp quản lý di sản nên phải được hưởng phần công sức quản lý, tôn tạo di sản. Do không xác định được cụ thể công sức là bao nhiêu thì ông Đ, bà Tốt phải cùng được hưởng bằng một kỷ phần thừa kế. Việc Tòa án không chia cho ông Đ, bà T hưởng phần công sức nêu trên là không đúng pháp luật. [9] Từ những nội dung nêu trên, thấy rằng việc Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của ông Đ, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T, hủy bản án sơ thẩm. [10] Tạm ứng chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm do các đương sự nộp sẽ được xem xét khi Tòa án giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. [11] Án phí phúc thẩm: Ông Đ không phải chịu." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 692/2022/DS-PT Ngày 27-9-2022 V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản”.", + "answer": "Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn Đ. 2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T. 3. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2020/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh T. 4. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. thu thập chứng cứ chưa 5. Án phí phúc thẩm: Ông Dương Văn Đ không phải chịu. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”" + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Trọng; Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Nam; Bà Vũ Thị Thu Hà." + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn Q, xã V, thành phố T, tỉnh T; có mặt." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Ông Nguyễn Xuân M1, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Thôn T1, xã V, thành phố T, tỉnh T; có mặt." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Ông Phạm Đức Thắng - Kiểm sát viên cao cấp." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": " Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau: Bố bà là cụ Nguyễn Xuân K1 (chết năm 1987) có hai vợ. Cụ K1 và cụ D1 (chết năm 1974) kết hôn năm 1935, có 09 người con là bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H4 (chết năm 2021, có 04 con: Nông Văn H2, Nông Văn B1, Nông Văn C và Nông Thị L6), bà Nguyễn Thị T6, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Nguyễn Xuân X (chết 1996, có vợ bà Lại Thị M2 và 04 con Nguyễn Thị T9, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Thị L2), ông Nguyễn Xuân M1 và bà Nguyễn Thị U. Năm 1953, Cụ K1 kết hôn với cụ Trần Thị N2 (chết năm 2009) có 02 con là bà Nguyễn Thị N3 và bà Nguyễn Thị M; (Bà N3 chết năm 2019, chồng là ông Nguyễn Hữu T8 và 02 con là Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Hữu L3). Cụ K1 trước đây là địa chủ, có nhiều đất đai nên sau khi kết hôn đã cho cụ N2 mảnh đất đang tranh chấp (thửa 196, tờ bản đồ 06) tại thôn Q, xã V, còn cụ K1 sống cùng bà cả và các anh chị con bà cả ở thôn T5, xã V. Cụ N2 làm một căn nhà nhỏ tường đất lợp rạ để 03 mẹ con sinh sống. Đến năm 1978, bà N3 đi lấy chồng và ở nhà chồng, còn bà vẫn ở cùng cụ N2, mẹ con chăm lo cho nhau. Cụ N2 nói đất này cho bà, bà toàn quyền định đoạt. Năm 1980, khi Ủy ban nhân dân xã tiến hành đo đạc đất đai, bà đứng ra kê khai diện tích đất. Năm 1995, bão làm đổ hết cả nhà cửa bà phải vay mượn và buôn bán lấy tiền xây nhà, tôn sân, đào tre xây tường bao xung quanh thì mới có được mảnh đất như ngày hôm nay. Mảnh đất trên bà sử dụng ổn định, đóng thuế đầy đủ, lâu dài không có tranh chấp với ai. Bà được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG068888 ngày 11/12/2006, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00003/VC-TP/1152/QĐ-UB tên Nguyễn Thị M. Quá trình kê khai, đo đạc đất đai và Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai có ý kiến gì. Năm 2011, ông M1 và bà N3 đến nhà bà đòi 01 sào ruộng của mẹ con bà về cho ông T14 làm, các anh chị không có ý kiến gì về diện tích đất ở của bà. Năm 2019 bà N3 mất, khi còn sống bà N3 không đòi hỏi quyền lợi gì về mảnh đất này, chưa bao giờ UBND xã phải hòa giải tranh chấp đất đai giữa chị em bà. Nay do sức khỏe yếu, điều kiện kinh tế khó khăn nên bà muốn nhượng một phần mảnh đất để lấy tiền thuốc men, sinh sống và sửa lại gian nhà cho đỡ dột nát. Tuy nhiên, khi liên hệ làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương thì bà được UBND xã thông báo ông M1 có đơn cho rằng đất trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân K1 nên UBND xã V không cho bà chuyển nhượng đất, địa phương đã gọi các bên hòa giải nhiều lần nhưng ông M1 đều vắng mặt nên không hòa giải được. Nay bà M cho rằng ông M1 cản trở bà thực hiện quyền của người có quyền sử dụng đất hợp pháp, đề nghị Tòa án giải quyết công nhận quyền sử dụng đất của bà và yêu cầu ông M1 chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền sử dụng đất của bà. Đối với yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Xuân M1 về chia di sản thừa kế của cụ K1 thửa số 196, tờ bản đồ số 06 tại thôn Q, xã V và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà có quan điểm là cụ K1 trước đây đã cho cụ N2 diện tích đất trên để mẹ con bà ở, cụ K1 không sinh sống trên đất, không có công sức tôn tạo đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính và không kê khai đứng tên người sử dụng đất nên không có quyền sử dụng đất. Cụ N2 đã cho bà mảnh đất trên từ trước nên bà đã đứng tên, nộp thuế, sử dụng ổn định, năm 2006 bà được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai có ý kiến gì. Bà là người sử dụng đất ổn định lâu dài được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất; diện tích đất trên không phải là di sản thừa kế của cụ K1 để lại nên bà không chấp nhận yêu cầu của ông M1 về chia di sản thừa kế đất này và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Ông đồng ý với phần trình bày về quan hệ huyết thống bố mẹ và các anh chị em trong gia đình như bà M trình bày. Năm 1953, bố ông là cụ K1 lấy vợ hai là cụ Trần Thị N2 (chết năm 2009) sau cải cách ruộng đất thì cụ K1 mua nhà ở thôn T5, xã V sống cùng mẹ ông là cụ D1 và anh chị em ông, cụ N2 vẫn ở cùng ông bà nội tại Thôn Q, xã V. Sau một thời gian bà N2 phát sinh mâu thuẫn với em dâu nên ông bà nội cho bố ông mảnh vườn tại Thôn Q, xã V (đất đang có tranh chấp) để cụ N2 làm nhà ở riêng. Bố ông chết năm 1987 không để lại di chúc, di sản để lại là mảnh đất 154m2 tại thửa số 196, tờ bản đồ số 06, ở thôn Q, xã V, thành phố T, tỉnh T hiện bà Nguyễn Thị M quản lý đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị M. Ông không chấp nhận yêu cầu của bà M. Ngày 18/3/2021, ông M1 có đơn yêu cầu phản tố, cho rằng thửa số 196, tờ bản đồ số 06 ở thôn Q, xã V, thành phố T, tỉnh T là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân K1 chưa chia, việc bà M tự ý làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) không thông báo nên ông không biết. Ông M1 đề nghị hủy GCNQSDĐ số AG068888 ngày 11/12/2006 vào sổ số H00003/VC-TP/1152/QĐ-UB mang tên Nguyễn Thị M và phân chia thừa kế đối với thửa đất trên. Cụ thể hàng thừa kế của bố ông có 11 người con nên mỗi người được hưởng 14m2 đất và đề nghị giao cho 10 người (trừ bà M) được nhận kỷ phần bằng hiện vật." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng cụ Nguyễn Xuân K1 chết năm 1987, trước khi Pháp lệnh Thừa kế công bố ngày 10/9/1990. Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành pháp lệnh thì thời hiệu mở thừa kế tính từ ngày công bố pháp lệnh. Do vậy thời điểm mở thừa kế của cụ K1 được tính từ ngày 10/9/1990, đến ngày 12/3/2021 bị đơn ông Nguyễn Xuân M1 nộp đơn kiện tại Tòa án đã quá 30 năm, các đương sự thừa nhận cụ K1 cho cụ N2 mảnh đất để làm nhà tạm mẹ con ra ở, sau này bà M xây nhà, công trình phụ, tường bao, làm sân... trên đất. Ông M1 khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ K1 là quyền sử dụng đất (bất động sản), không phải di sản là nhà và do ông M1 chỉ yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ K1 là quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia nhà, cũng như ngày 10/9/2021 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của bị đơn nên đã hết thời hiệu khởi kiện. Nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng, bởi: + Theo lời khai của một số đương sự có trong hồ sơ vụ án thì thời điểm cụ N2 về ở trên đất cùng cụ K1 đã có nhà ở. Lời trình bày của bà Nguyễn Thị N3 tại Bút lục 64: “Sau khi sinh được 2 chị em tôi là Nguyễn Thị N3 và Nguyễn Thị M... bố tôi đã làm nhà cho mẹ con tôi ở.”. Bút lục 62 lời trình bày của ông Nguyễn Xuân M1 “Bố tôi tách 2 bà ở riêng nhà. Bố tôi làm nhà cho bà kế tại đất của cụ tôi để lại cho bố tôi...”. Cũng tại Bút lục số 42 lời trình bày của ông Nguyễn Xuân M1 có sự xác nhận của các ông bà là cô chú ruột, thím dâu, xác nhận lời trình bày của ông. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị M cũng xác nhận lời khai trên là đúng nhưng bà cho rằng ngôi nhà cụ K1 làm chỉ là nhà tre vách đất đã bị hỏng, ngôi nhà hiện nay là do bà mới làm lại. Như vậy đủ căn cứ để xác định di sản do cụ K1 để lại đã có nhà ở trên đất. Phía bị đơn có yêu cầu phân chia di sản của cụ K1,vậynhàởđâycũngđượcxácđịnhlàdisảncủacụK1đểlại. - Xem xét các quy định tại Phần I về dân sự tại Giải đáp số 01/GĐ- TANDTC ngày 05/01/2018 thì thấy: “Khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia”. - Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 và khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì “Thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không được tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991”. Ngoài ra, Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Phần I mục 2.2 A có quy định: “Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.” Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng do bị đơn chỉ có yêu cầu chia di sản của cụ K1 là quyền sử dụng đất, không có yêu cầu chia nhà nên không có cơ sở áp dụng quy định về thời hiệu như trên là không đúng. Không có quy định về việc áp dụng quy định về thời hiệu này thì phải phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu hay không yêu cầu chia. Từ đó dẫn đến việc nhận định đối với phần di sản của cụ K1 để căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hiện nay bà M đang quản lý di sản nên phần di sản của cụ K1 là 1/2 diện tích đất đang tranh chấp thuộc về bà M như vậy là không đúng. Cũng tại phiên tòa hôm nay bà M trình bày hiện tại bà cũng không ở ngôi nhà trên kể từ khi đi xây dựng gia đình, hiện ngôi nhà này bà đang cho cháu họ thuê để ở. Như vậy, trên thực tế hiện nay bà M cũng không ở và không phải là người trực tiếp sử dụng, quản lý, chiếm hữu phần di sản này. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân M1 về yêu cầu chia di sản thừa kế do hết thời hiệu khởi kiện là không đúng với quy định pháp luật. [4]. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 về chia di sản thừa kế của cụ N2: - Cụ N2 chết ngày 18/4/2009, chị H1 gửi đơn khởi kiện chia thừa kế ngày 01/3/2022. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N2 vẫn còn. - Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N2 gồm bà M và bà N3. Sau đó đến năm 2019 bà N3 chết (bà N3 có chồng là ông Nguyễn Hữu T8 và 02 con là chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Hữu L3). Như vậy, trường hợp chia di sản thừa kế của cụ N2 thì ông T8, chị H1 và anh L3 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N3 đối với di sản bà N3 được chia. - Tài sản tranh chấp trong vụ án này là diện tích đất tại thửa đất số 196, tờ bản đồ số 06, thôn Q, xã V, thành phố T đã được UBND thành phố T cấp GCNQSDĐ mang tên bà M. Như đã phân tích trên, đất có nguồn gốc của cụ K1 cho cụ N2 từ năm 1967 - 1968 để cụ N2 làm nhà 03 mẹ con ở riêng, khi bà N3 đi lấy chồng thì nhà đất này cụ N2 và bà M sinh sống mẹ con nuôi nhau. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà M kê khai đứng tên và thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất, đồng thời bà M đã tôn tạo xây dựng nhà, công trình phụ, tường bao, làm sân trên đất cụ N2 và anh chị em đều biết nhưng không ai có ý kiến gì, khi làm thủ tục đến khi bà M được cấp GCNQSDĐ xã không nhận được đơn từ, ý kiến khiếu nại gì liên quan đến cấp GCNQSDĐ cho bà M, đồng thời cho rằng ý chí của cụ N2 khi còn sống đã cho bà M diện tích đất này là không đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M cũng không có tài liệu gì chứng minh diện tích đất trên đã được cụ N2 cho riêng bà còn việc bị đơn có biết việc này hay không thì bà không nắm được, ý kiến này cũng trùng khớp với lời trình bày của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn không biết bà Nguyễn Thị M được cấp GCNQSDĐ số AG068888 ngày 11/12/2006. Từ những phân tích trên thấy tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị H1 về việc chia di sản thừa kế của cụ N2 là không đúng, làm ảnh hưởng đến những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N3 đối với di sản mà bà N3 để lại. [5]. Xét yêu cầu về hủy GCNQSDĐ số AG068888 ngày 11/12/2006 vào sổ số H00003/VC-TP/1152/QĐ-UB mang tên Nguyễn Thị M thấy: Bản án sơ thẩm nhận định nguồn gốc đất trước đây của cụ K1 cho cụ N2, năm 1987 cụ K1 chết không để lại di chúc, còn 2 mẹ con bà M và cụ N2 ở trên đất này. Thời điểm bà M làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cụ N2 vẫn còn sống nhưng hồ sơ không có tài liệu tặng cho là chưa phù hợp quy định. Tuy nhiên qua xác minh thời điểm này cụ N2 còn minh mẫn nên xác định cụ N2 biết và cho bà M phần tài sản của mình, sau khi bà M được cấp GCNQSDĐ đã sử dụng đất ổn định, không ai có ý kiến gì. Nay bà M là người duy nhất có quyền sử dụng đất trên nên không cần thiết phải hủy GCNQSDĐ. Việc nhận định như trên là hoàn toàn không có cơ sở và trái với quy định pháp luật, bởi lẽ: Sau khi cụ K1 mất đi, hồ sơ tài liệu lưu giữ tại chính quyền địa phương (Bút lục 197) thể hiện tại tờ bản đồ số 06, thửa 196, diện tích 154m2 thuộc thôn Q, xã V người sử dụng đất mang tên cụ Trần Thị N4. Tuy nhiên toàn bộ hồ sơ kê khai và xem xét cấp GCNQSDĐ của bà M (từ Bút lục 170 đến 174) đều ghi tên bà Nguyễn Thị M là chủ sử dụng đất, trong khi thời điểm này cụ Trần Thị N2 vẫn đang còn sống và vẫn đứng tên chủ sử dụng thửa đất. Như vậy việc kê khai như trên là không đúng. Việc cấp GCNQSDĐ cho bà M là đã cấp sai đối tượng. Bên cạnh đó, nguồn gốc di sản này đã được cấp sơ thẩm xác định là của cụ Nguyễn Xuân K1 và cụ Trần Thị N2. Cụ K1 mất đi không để lại di chúc, tuy nhiên trong toàn bộ hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu nào thể hiện trước và tại thời điểm thực hiện việc kê khai cấp GCNQSDĐ nguyên đơn đã thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kế đối với di sản này. Và cũng không có bất cứ tài liệu nào thể hiện những người thuộc hàng thừa k�� của cụ K1 có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế trên. Như vậy di sản có nguồn gốc của cụ K1, chưa thực hiện việc kê khai di sản thừa kế mà đã thực hiện cấp GCNQSDĐ cho bà M là hoàn toàn trái với quy định pháp luật chứ không phải là có sai sót như nhận định của Bản án sơ thẩm. Trong quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa phúc thẩm và căn cứ đơn trình bày của bà N3, ông M1 và chị H1 thì tại thời điểm bà M được cấp GCNQSDĐ thì cụ N2 đã bị khuyết tật về thị giác và thính giác. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng vì cụ vẫn còn minh mẫn nên cụ buộc phải biết việc bà M làm thủ tục cấp GCNQSDĐ và cụ đồng ý cho bà M làm GCNQSDĐ phần tài sản này là không chính xác. Từ những phân tích trên và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các Đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị N3, ông Nguyễn Xuân M1, lời khai của ông M1, chị H1 thể hiện việc bà M được cấp GCNQSDĐ không ai được biết để có ý kiến phản đối. Chỉ đến năm 2014, khi bà M có ý định chuyển nhượng phần đất cho người khác thì tất cả các người con của cụ K1, cụ N2 và cụ D1 mới biết đất đã được cấp tên của bà Nguyễn Thị M. Và ngay khi biết được thông tin, ông M1 và bà N3 đã có đơn ngăn chặn gửi đến UBND xã V để đề nghị giải quyết theo quy định. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng không ai có ý kiến phản đối việc cấp GCNQSDĐ của bà M là không đúng. Bản án cấp sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Xuân M1 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định pháp luật." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "[III]. Hội đồng xét xử thấy Bản án sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh T đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, những sai sót này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó Hội đồng xét xử đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định. Do Bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm sẽ quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khi giải quyết lại vụ án." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 37/2023/DS-PT Ngày: 08/02/2023 V/v “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”", + "answer": "Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Xuân M1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hữu T8, anh Nguyễn Hữu L3, chị Nguyễn Thị H1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh T về về việc “Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn trở quyền sử dụng đất, tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M với Bị đơn ông Nguyễn Xuân M1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác. 2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T giải quyết, xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.. 3. Về án phí: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; ho��n trả anh Nguyễn Hữu L3 và chị Nguyễn Thị H1, mỗi người 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tương ứng số 0005351 và 0005352 ngày 29/4/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh T. Án phí, tạm ứng án phí và chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Ngọc Tường 2. Bà Đỗ Thị Hòa" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "1. Bà Trần Thị Ngọc Tr, sinh năm 1963 2. Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1956 Địa chỉ: 53 đường số FE, khu phố S, phường HBC, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "1. Bà Lê Thị K, sinh năm 1965 2. Ông Lê Văn E, sinh năm 1948 Địa chỉ: 363 KVC, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1993 Địa chỉ: 91 NQ, Phường 11, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Ông Nguyễn Văn Hoàng – Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bà An Phương Trang – Thư ký Tòa án" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch có người đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Trọng Q trình bày: Nguồn gốc phần đất có diện tích 411,9m2 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức (tài liệu năm 2005) - theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022 là của ông Lê Văn L5, sinh năm 1923 chết năm 2008 cho vợ chồng bà Tr, ông Ch vào năm 1987; ngay sau khi được cho đất vợ chồng bà Tr, ông Ch đã cất nhà tạm bằng vách ván, mái ngói để cả gia đình ở (việc cho đất được thể hiện thông qua đơn xin phép cất nhà ngày 11/01/1987) có xác nhận chữ ký của ông Lê Văn L5 và được chính quyền địa phương chấp thuận cho phép ngày 09/3/1987). Trong quá trình sử dụng đến năm 1996 bà Tr, ông Ch sửa chữa nhà và ở ổn định cho đến nay; thực hiện việc đăng ký kê khai và nộp thuế đầy đủ theo quy định. Năm 2013 bà Tr, ông Ch nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, trong thời gian chờ Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức (cũ) cấp giấy, thì bà K, ông E tranh chấp với bà Tr, ông Ch; sự việc đã được Ủy ban nhân dân phường C hòa giải ngày 31/12/2020 và ngày 07/01/2021 nhưng không thành; vì vậy bà Tr, ông Ch khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 411,9m2 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức (tài liệu năm 2005) – theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022, là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Trần Thị Ngọc Tr, ông Nguyễn Văn Ch." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Theo đơn phản tố, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị K và ông Lê Văn E có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đăng Q trình bày: Nguồn gốc phần đất có diện tích khoảng 405,2 m2 thuộc thửa đất số 365, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48) tọa lạc tại số 53 đường 48, khu phố S, phường C – theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022 là của cha mẹ bà K, ông E (tên là Lê Văn L5 và Cao Thị L6) được thừa hưởng từ gia tộc để lại. Vào năm 1987 bà Tr, ông Ch (ông Ch là cháu họ gọi cha mẹ bà K, ông E là cậu) gặp nhiều khó khăn về chỗ ở nên cha mẹ của bà K, ông E đã đồng ý cho ông Ch, bà Tr ở nhờ trên phần đất của gia đình. Cụ thể ông L5, bà L6 đã đồng ý cho bà Tr, ông Ch xây cất một căn nhà tạm có diện tích 4 x 5 = 20 m2, phần đất xây dựng nhà nêu trên trước đây là nền nhà cũ của bà ngoại ông Ch do ông L5, bà L6 cho ở nhờ trước đó để lại, diện tích khu đất thực tế hiện tại khoảng 405,2 m2. Năm 2007 và năm 2008 cha mẹ của bà K, ông E là ông L5, bà L6 chết (không để lại di chúc). Trong thời kỳ hôn nhân cha mẹ bà K, ông E có với nhau tất cả 11 người con chung gồm: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1942; bà Lê Thị B1, sinh năm 1944 (chết năm 2021, có chồng là: Ông Huỳnh Văn Ng sinh năm 1941 và các con là: Ông Huỳnh Anh T2, sinh năm 1970; Huỳnh Thị Anh T3, sinh năm 1974; ông Huỳnh Anh Th, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Lê Anh Đ, sinh năm 1972); ông Lê Văn E, sinh năm 1948; ông Lê Văn B, sinh năm 1954; bà Lê Thị C, sinh năm 1956; ông Lê Văn L, sinh năm 1960; ông Lê Văn N, sinh năm 1961; bà Lê Thị M, sinh năm 1963; bà Lê Thị K, sinh năm 1965; bà Lê Thị Th2, sinh năm 1950, chết năm 2010 (độc thân, không có chồng con) và ông Lê Văn T4, sinh năm 1946, chết năm 1967 (độc thân, không có vợ con). Sau khi cha mẹ của bà K, ông E (chết) thấy gia đình bà Tr, ông Ch còn gặp nhiều khó khăn về nơi ở và cũng là chỗ anh em họ hàng nên gia đình bà K, ông E đồng ý để cho gia đình bà Tr, ông Ch được tiếp tục ở nhờ trên thửa đất mà cha mẹ bà K, ông E để lại. Vào khoảng giữa năm 2013 bà K, ông E và các đồng thừa kế khác biết được việc bà Tr, ông Ch đã lén lút đi kê khai nhà đất trước đó và thực hiện các thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất, đối với phần đất được cha mẹ bà K, ông E cho bà Tr, ông Ch ở nhờ vào năm 1987. Biết được sự việc bà K, ông E đã làm đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn việc làm bất hợp pháp nêu trên của bà Tr, ông Ch. Đồng thời bà K, ông E đã nhiều lần yêu cầu bà Tr, ông Ch giao trả lại phần đất nêu trên nhưng bà Tr, ông Ch không thực hiện. Do đó bà K, ông E không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có đơn phản tố đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Công nhận toàn bộ phần đất diện tích 405,2 m2 thuộc thửa đất số 129, 130, tờ bản đồ số 48, 43 – tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức theo Bản đồ hiện trạng vi trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022, là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L5 và bà Cao Thị L6 gồm: Bà Lê Thị T1; ông Lê Văn E ; ông Lê Văn B; bà Lê Thị C; ông Lê Văn L; ông Lê Văn N; bà Lê Thị M; bà Lê Thị K; ông Huỳnh Văn Ng3; ông Huỳnh Anh T2; bà Huỳnh Lê Anh Đ; bà Huỳnh Thị Anh T3 và ông Huỳnh Anh Th. Và buộc ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr phải có trách nhiệm giao trả ngay lại cho gia đình bà K, ông E phần đất được cha mẹ (bà K, ông E) cho bà Tr, ông Ch ở nhờ năm 1987 với diện tích thực tế hiện nay là 405,2 m2 thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48 – tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức; theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Tòa sơ thẩm đã áp dụng luật đất đai năm 1987 để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nguyên tắc áp dụng pháp luật theo Điều 156 Luật áp dụng các văn bản pháp luật. Vì theo quy định tại Điều 5 Luật đất đai chỉ nghiêm cấm mua bán, chuyển nhượng... chứ không cấm tặng cho. - Phía bị đơn không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc cho nguyên đơn ở nhờ trên phần đất đang tranh chấp. - Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 tại khu phố không có giá trị pháp lý. - Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là đã vi phạm nguyên tắc về chứng cứ và chứng minh quy định tại Chương 7 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn bà Lê Thị K và ông Lê Văn E có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Đăng Q yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: - Về thủ tục tố tụng: + Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm. + Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc thửa số 130, tờ bản đồ 48, tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn có phản tố yêu cầu công nhận phần đất nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L5, bà Cao Thị L6 và yêu cầu nguyên đơn phải trả lại phần đất nêu trên. Cả nguyên đơn và bị đơn đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Theo Điều 4 Luật đất đai năm 2013 thì cần phải xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” là không đúng và trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải sửa lại cho phù hợp. - Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa thấy rằng: + Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn: Theo Công văn số 2858/UBND-TNMT ngày 13/5/2022 của Ủy Ban nhân dân thành phố Thủ Đức thì nguồn gốc đất do ông Lê Văn L5 sử dụng từ trước và sau năm 1975. Năm 1987, ông L5 cho cháu là ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr sử dụng (Đơn xin phép cất nhà với diện tích 20m2 (4m x 5m) có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã ngày 09/3/1987). Năm 1995 ông Ch, bà Tr tự sửa chữa lại nhà (không phép, diện tích xây dựng 70m2 theo hồ sơ kê khai năm 1999). Năm 2004, bà Trần Thị Ngọc Tr được Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) cấp số nhà số 53 (số nhà cũ: 19/2B) đường số 48, khu phố S, phường C (Quyết định số 11329/QĐ-UB ngày 10/7/2004). Quá trình sử dụng phần đất được tặng cho, ông Ch và bà Tr đã thực hiện đầy đủ việc đăng ký kê khai sử dụng đất qua các thời kỳ (1991, 1999, 2005) và nghĩa vụ thuế với Nhà nước. - Trong suốt quá trình ông Ch và bà Tr sử dụng đất, phía gia đình ông Lê Văn L5, bà Cao Thị L6 (ông L5 chết năm 2008, bà L6 chết năm 2007) không phản đối việc ông Ch và bà Tr xây dựng, sữa chữa nhà; đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và Công văn số 2858/UBND-TNMT ngày 13/5/2022 của Ủy Ban nhân dân thành phố Thủ Đức có cơ sở xác định ông Ch và bà Tr đã sử dụng 354m2 đất thuộc một phần thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48 (tài liệu năm 2005), tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức ổn định, lâu dài từ trước ngày 01/7/2004 và có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu được công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 411,9m2 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức (phần đất tranh chấp) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn với nhận định cho rằng ông Ch bà Tr không thực hiện theo Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 của Ban điều hành khu phố S, phường C về việc đã đồng ý chia đôi phần đất tranh chấp nhưng không thực hiện là không trung thực trong việc kê khai đất và đã áp dụng Điều 5 Luật đất đai năm 1987 quy định “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai” để cho rằng việc tặng cho đất giữa ông L5, ông Ch và bà Tr không hợp pháp là không đúng, vi phạm quy định tại Chương 7 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về chứng cứ và chứng minh bởi lẽ: - Phía bị đơn không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. - Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 không mang tính ràng buộc và các bên có quyền thay đổi ý kiến; mặt khác tại Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 cũng không có nội dung nào thể hiện ông Ch, bà Tr thừa nhận phần đất tranh chấp được ông L5, bà L6 cho ở nhờ chứ không phải được tặng cho. - Điều 5 Luật đất đai năm 1987 không nghiêm cấm việc tặng cho đất. + Về án phí dân sự sơ thẩm: Bản án sơ thẩm ghi nhận bị đơn tự nguyện hỗ trợ giá trị phần công trình xây dựng trên đất của nguyên đơn nhưng lại buộc bị đơn phải chịu án phí đối với phần tự nguyện hỗ trợ là vi phạm quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm như nhận định trên." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 09 tháng 12 năm 2022 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 4426/2022/DS-ST. Ngày 15 tháng 12 năm 2022, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Ngày 20 tháng 12 năm 2022 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận. [2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Nguyễn Trần Nhật T vắng mặt không có lý do, ông Huỳnh Văn Ng3 và ông Nguyễn Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trần Nhật T, ông Huỳnh Văn Ng3 và ông Nguyễn Thanh P theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Về nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr, và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [3.1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn có phản tố yêu cầu công nhận phần đất nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L5, bà Cao Thị L6 và yêu cầu nguyên đơn phải trả lại phần đất nêu trên. Cả nguyên đơn và bị đơn đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Theo Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.” Do vậy, cần phải xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” là không đúng và trái với quy định của pháp luật đã viện dẫn trên nên cần sửa lại cho phù hợp. [3.2] Về nội dung: - Về nguồn gốc nhà, đất có diện tích 354m2 thuộc một phần thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48 (tài liệu năm 2005) tọa lạc tại địa chỉ số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào Công văn số 2858/UBND-TNMT ngày 13/5/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, thì phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Lê Văn L5 sử dụng từ trước và sau năm 1975. Năm 1987, ông L5 cho cháu là ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr sử dụng (Đơn xin phép cất nhà có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã ngày 09/3/1987). Nhà do ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr xây dựng năm 1987 với diện tích 20m2 (4m x 5m) có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã trên đơn xin phép cất nhà ngày 09/3/1987. Năm 1995 ông Ch, bà Tr tự sửa chữa lại nhà (không phép, diện tích xây dựng 70m2 theo hồ sơ kê khai năm 1999). Năm 2004, bà Trần Thị Ngọc Tr được Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) cấp số nhà số 53 (số nhà cũ: 19/2B) đường số 48, khu phố S, phường C (Quyết định số 11329/QĐ-UB ngày 10/7/2004). Xét, việc tặng cho đất để xây dựng nhà ở giữa ông Lê Văn L5 với ông Nguyễn Văn Ch, bà Trần Thị Ngọc Tr mặc dù không được lập thành hợp đồng, nhưng đã được lập thành văn bản là “Đơn xin phép cất nhà”, ông L5 đã ký xác nhận vào đơn với nội dung “Tôi Lê Văn L5 có cho cháu tôi một khu đất để cất nhà” (BL 60) và văn bản này đã được Ủy ban nhân dân xã C xác nhận ngày 09/3/1987. Như vậy, có cơ sở khẳng định ông L5 đã cho cháu là ông Nguyễn Văn Ch, bà Trần Thị Ngọc Tr phần đất này, nên sau khi nhận tặng cho đất, ông Ch và bà Tr đã xây cất nhà tạm bằng vách ván, mái ngói để cả gia đình ở. Năm 1996, ông Ch, bà Tr sửa chữa lại nhà, nhưng phía gia đình ông Lê Văn L5 (chết năm 2008), bà Cao Thị L6 (chết năm 2007) cũng như các con của họ đều không phản đối việc ông Ch và bà Tr xây dựng, sữa chữa nhà. Ngày 10/7/2004 Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) có Quyết định số 11329/QĐ-UB về việc cấp đổi số nhà 53 số nhà cũ 19/2B đường số 48, khu phố S, phường C, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức)..., cho thấy phần đất này đã thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng bà Tr ông Ch và họ đã ở ổn định cho đến nay. - Về Quá trình đăng ký kê khai qua các thời kỳ và làm nghĩa vụ thuế theo quy định: Theo Tài liệu đo năm 1991: Thửa đất số 365 tờ bản đồ số 3 do bà Trần Thị Ngọc Tr đăng ký, diện tích 449m2, loại đất Thổ. Theo hồ sơ kê khai năm 1999: Do ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr đăng ký, diện tích 70m2, diện tích xây dựng 70m2, số tầng 01. Theo Tài liệu năm 2005: Một phần thửa số 130 tờ bản đồ số 48 do bà Trần Thị Ngọc Tr đăng ký, có thể hiện công trình xây dựng. - Về việc thực hiện nghĩa vụ thuế: Bà Trần Thị Ngọc Tr đăng ký nộp thuế từ năm 2012 đến năm 2021 với diện tích 348,2m2. - Về điều kiện cấp giấy chứng nhận: Trong trường hợp không có tranh chấp và căn cứ vào thời điểm tạo lập, sử dụng, đối chiếu với quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quy định của pháp luật đất đai, việc xem xét cấp giấy chứng nhận đối với khu đất trên được xem xét theo quy định tại Điều 20 và Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Xét, việc ông L5 cho đất là hợp pháp, trong quá trình sử dụng phần đất được tặng cho, ông Ch và bà Tr đã thực hiện đầy đủ việc đăng ký kê khai sử dụng đất qua các thời kỳ (1991, 1999, 2005) và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước và đã có quá trình sử dụng ổn định, lâu dài. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và Công văn số 2858/UBND-TNMT ngày 13/5/2022 của Ủy Ban nhân dân thành phố Thủ Đức có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn Ch và bà Trần Thị Ngọc Tr đã sử dụng 354m2 đất thuộc một phần thửa đất số 130, tờ bản đồ số 48 (tài liệu năm 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022, tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức ổn định, lâu dài từ trước ngày 01/7/2004 và có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu được công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 411.9m2 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức (theo tài liệu năm 2005) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. [3.3] Xét, Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 của Ban điều hành khu phố S, phường C để nhận định: “ ... phía gia đình bị đơn có đại diện là ông Lê Văn E và phía gia đình bà Tr đã thỏa thuận thống nhất là phần đất tranh chấp nêu trên sẽ được chia đôi cho ông Ch, bà Tr một nửa và các con của ông Lê Văn L5 một nửa”. Tuy nhiên, theo biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 của Ban điều hành khu phố S, phường C hòa giải thành tranh chấp đất đai của hai bên (đều được các bên thừa nhận), nhưng bà Tr, ông Ch không thực hiện mà lại xin cấp giấy cho toàn bộ phần đất tranh chấp vào năm 2020 là không trung thực trong việc kê khai đăng ký đất đai và áp dụng Điều 5 Luật đất đai năm 1987 để cho rằng việc tặng cho đất giữa ông L5, ông Ch và bà Tr không hợp pháp và từ đó chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ, bởi lẽ: - Phía bị đơn không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. - Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 (BL 134) không mang tính ràng buộc và các bên có quyền thay đổi ý kiến, cụ thể sau khi phía bị đơn đề nghị phần đất của bà Tr nằm về một phía để khu đất của bên gia đình bị đơn được liền lạc, thì bà Tr đã có ý kiến là không đồng ý vì sợ mở đường mất nhà và đất; Theo biên bản làm việc ngày 04/10/2013 (BL 133) của tổ hòa giải khu phố về việc ông Lê Văn E có đơn khiếu nại gia đình bà Tr không thực hiện theo biên bản hòa giải ở khu phố ngày 06/9/2013, nhưng do gia đình bà Tr không tới tham dự, nên tổ hòa giải đã thống nhất làm biên bản và ký tên kèm theo biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 để ông Lê Văn E mang đến Ủy ban nhân dân phường C giải quyết. Tuy nhiên, trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện tại thời điểm năm 2013, 2014 Ủy ban nhân dân phường C có giải quyết vấn đề tranh chấp này. Mãi đến ngày 31/12/2020 và ngày 07/01/2021, Ủy ban nhân dân phường C mới tổ chức hòa giải theo đơn của bà Trần Thị Ngọc Tr nhưng không thành, nên tổ hòa giải của phường đã hướng dẫn các đương sự khởi kiện ra Tòa. Mặt khác, tại Biên bản tiếp xúc ngày 06/9/2013 cũng không có nội dung nào thể hiện ông Ch, bà Tr thừa nhận phần đất tranh chấp được ông L5, bà L6 cho ở nhờ chứ không phải được tặng cho. - Điều 5 Luật đất đai năm 1987 quy định “Nghiêm cấm việc không nghiêm cấm việc tặng cho đất. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với yêu cầu công nhận quyền quyền sử dụng đất có diện tích 411.9m2 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức cho bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch là có căn cứ, nên được chấp nhận. Xét kháng nghị đối với phần án phí, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm ghi nhận bị đơn tự nguyện hỗ trợ giá trị phần công trình xây dựng trên đất của nguyên đơn, nhưng lại buộc bị đơn phải chịu án phí đối với phần tự nguyện hỗ trợ là vi phạm quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về nội dung này là có cơ sở. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, sửa bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận và sửa án, nên các đương sự không phải chịu." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 431/2023/DS-PT Ngày: 12/4/2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.", + "answer": "Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 4; khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013. Căn cứ Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Văn Ch; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 4426/2022/DS-ST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Tr, ông Nguyễn Văn Ch. Công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 411.9m2 (theo hướng dẫn ranh của nguyên đơn) thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã C, thành phố Thủ Đức (theo tài liệu năm 2005); theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Tp. Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Trần Thị Ngọc Tr, ông Nguyễn Văn Ch. 2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị K, ông Lê Văn E về việc công nhận toàn bộ phần đất diện tích 405.2 m2 (theo hướng dẫn ranh của bị đơn) thuộc thửa đất số 129, 130, tờ bản đồ số 48, (thửa 43, tờ bản đồ số 54) – tọa lạc tại số 53 đường số 48, khu phố S, phường C, thành phố Thủ Đức; theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 31/3/2022 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L5 và bà Cao Thị L6 gồm: Bà Lê Thị T1; ông Lê Văn E; ông Lê Văn B; bà Lê Thị C; ông Lê Văn L; ông Lê Văn N; bà Lê Thị M; bà Lê Thị K; ông Huỳnh Văn Ng3; ông Huỳnh Anh T2; bà Huỳnh Lê Anh Đ; bà Huỳnh Thị Anh T3 và ông Huỳnh Anh Th. 3. Về các chi phí tố tụng: - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bà Trần Thị Ngọc Tr, ông Nguyễn Văn Ch tự nguyện chịu; đã thực hiện việc nộp và chi xong. - Về chi phí thẩm định giá số tiền là 30.000.000 đồng và chi phí đo vẽ số tiền là 8.635.162 đồng; tổng cộng số tiền là 38.635.162 đồng bà Lê Thị K, ông Lê Văn E phải chịu. 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Lê Thị K, ông Lê Văn E mỗi người phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Tuy nhiên, ông Lê Văn E là người trên 60 tuổi và có đơn xin miễn, nên theo quy định ông E không phải nộp. Hoàn trả cho bà Trần Thị Ngọc Tr số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0058726 ngày 25/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. 5 . Án phí dân sự phúc thẩm các đương sự không phải chịu. Hoàn trả cho bà Trần Thị Ngọc Tr số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0007420 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Bản án phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Thực 2. Ông Nguyễn Thành Thông " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Bà Nguyễn Thị Ái Tr, sinh năm 1955 (vắng mặt). Địa chỉ: Số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H; Địa chỉ liên lạc: Số 411/67/18D đường T, Phường M1, quận G, Thành phố H." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Bà Nguyễn Thị Ái V, sinh năm 1956 (có mặt). Địa chỉ: Số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Vũ Xuân Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Theo đơn khởi kiện các ngày 25/6/2020, 09/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Th trình bày: Nhà, đất số 100/54 (số cũ là 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H là tài sản chung của ông Nguyễn Văn V2 (chết ngày 23/5/1980) và bà Dương Thị S (chết ngày 10/05/2005), là cha mẹ của nguyên đơn bà Tr. Ông V2 và bà S có 07 người con chung là: Bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X, bà Nguyễn Thị A, ông Nguyễn Văn Th2 (sinh năm 1947, ông Th2 đã chết không có vợ, con). Bà Tr cam kết, rằng ông Nguyễn Văn V2 và bà Dương Thị S không có người con nào khác, ông V2 và bà S không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ gì đối với bất cứ ai. Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị Ái V, cho rằng ông V2 và bà S có thêm một người con là Nguyễn Thị S1, chết năm 2006. Chồng bà S1 là ông Trần Văn L1 chết năm 2016, bà S1 có 6 người con gồm: Ông Trần Nguyễn Đại V1, ông Trần Nguyễn Q, ông Trần Quốc Đ, bà Tr��n Thị Mai L, ông Trần Nguyễn Đại Tr1 và bà Trần Thị Kim A1. Nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Số 100/57 (số mới 100/62) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H, hiện nay ở Hoa Kỳ (không rõ địa chỉ), phía nguyên đơn đồng ý với ý kiến này. Gần đây, vì nhận thấy tuổi của các chị em đã lớn, bà Tr có đề nghị thỏa thuận phân chia di sản của cha mẹ để lại để dễ quản lý. Tất cả chị em trong nhà đều đồng ý, nhưng bà Nguyễn Thị Ái V không đồng ý việc phân chia, nên nguyên đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn V2 và bà Dương Thị S theo quy định của pháp luật đối với nhà, đất số 100/54 (số cũ 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H cho bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X, bà Nguyễn Thị A. Riêng bà Nguyễn Thị S1 đủ điều kiện thì chia cho các con bà S1 được hưởng phần của bà S1. Nguyên đơn đồng ý với Bản vẽ hiện trạng nhà đất do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 28/12/2021 và đồng ý với giá trị nhà đất theo Chứng thư thẩm định giá số 040622/CT-TNV ngày 27/6/2022 của Công ty Cổ phần đầu tư và Thẩm định giá T là 9.271.038.002 đồng. Giá trị kỷ phần thừa kế mà bà Nguyễn Thị Ái Tr được nhận tạm tính là 1.545.173.000 (một tỷ năm trăm bốn mươi lăm triệu một trăm bảy mươi ba nghìn) đồng. Bà Nguyễn Thị Ái Tr muốn nhận giá trị nhà, đất. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng tổng số tiền: 21.200.000 đồng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng; Ủy thác tư pháp: 200.000 đồng; Chi phí thẩm định giá: 18.000.000 đồng). Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Bị đơn bà Nguyễn Thị Ái V trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980), bà Dương Thị S (chết năm 2005). Cha mẹ bà chết không để lại di chúc. Ông bà nội và ông bà ngoại đã chết trước cha mẹ bà. Cha mẹ bà có tất cả 08 người con chung, gồm: Bà Nguyễn Thị S1 (sinh năm 1939, chết năm 2006; chồng bà S1 là ông Trần Văn L1 sinh năm 1935 và chết năm 2016; bà S1 có 06 người con gồm: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1 hiện đang sống tại Hoa Kỳ), ông Nguyễn Văn Th2 (sinh năm 1947, chết năm 1975, khi còn sống ông Th2 không kết hôn với ai), bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X. Trước khi chết, cha mẹ bà có để lại di sản là nhà, đất số 100/54 (số cũ là 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H. Cha mẹ bà chết không để lại nghĩa vụ gì đối với bất cứ ai. Nguồn gốc nhà, đất do cha mẹ bà tạo lập từ lâu. Khi đó bà còn nhỏ, các anh, chị, em bà không ai đóng góp gì vào việc tạo lập tài sản này. Năm 1996, do nhà hư hỏng nên bà Nguyễn Thị S1 có về Việt Nam thuê người đến sửa lại nhà cũ. Việc thuê người sửa nhà có hợp đồng hay không, bao nhiêu tiền, bà S1 là người trực tiếp đưa tiền cho thợ xây. Người thợ xây họ và tên là gì, ở đâu, bà không biết. Trước đây cả gia đình bà sống tại căn nhà này, mẹ của bà chết chỉ còn bà, ông X sống tại nhà này. Hiện nay, những người sau đây đang sống tại nhà: Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X, con ông X tên là Nguyễn Hải D và vợ Hải D là Trần Kiều Ph1. Nhà đất nói trên đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4947/2004 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho ông Nguyễn Văn V2 và bà Dương Thị S ngày 15/11/2014. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà không đồng ý vì bà muốn ở căn nhà này cho đến khi bà chết, bà không muốn ra ngoài sống vì bà độc thân, ở đây là chỗ ở duy nhất của bà từ lúc mới sinh ra cho đến nay, nếu chia rồi thì không có nhà nào để ở. Tòa án đã giải thích các quy định của pháp luật cho bà biết, trong trường hợp Tòa án phải chia thừa kế theo quy định của pháp luật thì bà được quyền yêu cầu nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và trả giá trị lại cho các đồng thừa kế khác, nhưng bà không yêu cầu vì không có khả năng thanh toán tiền lại cho những người khác. Bà cũng không có yêu cầu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và không yêu cầu xem xét đối với chi phí sửa chữa, chi phí chăm sóc, ma chay cho người để lại di sản, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà và ông Nguyễn Công X đã ở tại căn nhà này từ khi sinh ra cho đến nay, có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế, bảo quản làm tăng giá trị nhà. Bà đề nghị Tòa án áp dụng Án lệ số 05 ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét về công sức đóng góp của bà và ông X trong việc quản lý, tôn tạo di sản. Bà không xác định được công sức cụ thể là bao nhiêu, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét, đảm bảo quyền lợi cho bà và ông X. Bà đồng ý với Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 28/12/2021 và đồng ý với giá trị nhà đất theo Chứng thư thẩm định giá số 040622/CT-TNV ngày 27/6/2022 của Công ty Cổ phần đầu tư và Thẩm định giá T là 9.271.038.002 đồng. Về chi phí tố tụng: Bà không nộp, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ. * Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr (có ông Nguyễn Ngọc Th đại diện) trình bày: Nhà, đất số 100/54 (số cũ 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H là di sản của cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S (chết năm 2005). Cụ V2 và cụ S chết không để lại di chúc. Cha mẹ của cụ V2 và cụ S đã chết trước hai cụ. Cụ V2 và cụ S có tất cả 08 người con chung gồm: - Bà Nguyễn Thị S1 (sinh năm 1939, chết năm 2006). Chồng bà S1 là ông Trần Văn L1 chết năm 2016. Bà S1 có 06 người con gồm: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1 hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Bà S1 chết không để lại di chúc; - Bà Nguyễn Thị A; - Ông Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1947, chết độc thân ngày 21/6/1973; - Bà Nguyễn Thị Ái Ph; - Bà Nguyễn Thị Ái Th1; - Bà Nguyễn Thị Ái Tr; - Bà Nguyễn Thị Ái V; - Ông Nguyễn Công X. Cụ V2 và cụ S không có con riêng, không có con nuôi và không để lại nghĩa vụ tài sản đối với người khác. Nay, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ V2 và cụ S là nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H, chia làm 08 phần bằng nhau, 07 đồng thừa kế mỗi người được nhận 01 phần, phần còn lại chia cho bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X vì họ đã có công sức gìn giữ, bảo quản di sản thừa kế. Nguyên đơn không nhận hiện vật, yêu cầu chia giá trị tại thời điểm thi hành án. Nguyên đơn cho bị đơn và gia đình ông Nguyễn Công X lưu cư tại nhà trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời gian này bà V, gia đình ông X và những người đang cư trú trong nhà phải giao nhà, đất; bà V và ông X phải giao bản chính giấy tờ nhà, đất để thi hành án theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thống nhất với bản vẽ và chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu thẩm định giá lại. Chi phí tố tụng nguyên đơn đã nộp tạm ứng gồm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 3.000.000 đồng và chi phí thẩm định giá là 18.000.000 đồng, tổng cộng là 21.000.000 đồng, yêu cầu giải quyết theo quy định. Nguyên đơn không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X phải trả chi phí tố tụng cho nguyên đơn. Các chi phí tố tụng khác mà nguyên đơn đã nộp tạm ��ng, nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về chi phí chăm sóc, tiền thuốc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S. * Bị đơn bà Nguyễn Thị Ái V trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế làm 08 phần như nguyên đơn yêu cầu. Bà không nhận di sản bằng hiện vật vì không có điều kiện để hoàn trả lại tiền cho các đồng thừa kế khác, yêu cầu nhận giá trị di sản tại thời điểm thi hành án. Bị đơn thống nhất với bản vẽ và chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu thẩm định giá lại. Bị đơn không yêu cầu giải quyết về chi phí chăm sóc, tiền thuốc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S vì đó là nghĩa vụ của con đối với cha mẹ. Bị đơn không nộp chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định. * Bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có bà Bùi Thị Ánh T đại diện) trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng ý chia di sản thừa kế làm 08 phần như yêu cầu của nguyên đơn. Bà Ph và bà Th1 xin nhận di sản bằng giá trị tại thời điểm thi hành án. Bà thống nhất với bản vẽ và chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu thẩm định giá lại. Bà không yêu cầu giải quyết về chi phí chăm sóc, tiền thuốc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương ThịS.Bàkhôngnộpchiphítốtụng,đề nghịgiảiquyếttheoquyđịnh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên trung cấp phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4947/2004 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H cấp ngày 15/11/2004, thì nhà đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H là tài sản của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S. Theo lời khai của các đương sự và người đại diện đương sự thì cụ V2 và cụ S chết không để lại di chúc. Nay nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ V2 và cụ S theo quy định của pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ, là có căn cứ chấp nhận. Về hàng thừa kế thứ nhất của cụ V2 và cụ S hiện nay chỉ còn 07 người con là: Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X và bà Nguyễn Thị S1 (bà S1 chết năm 2006, chồng bà S1 đã chết. Bà S1 có 06 người con gồm: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1). Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn (có ông Nguyễn Ngọc Th đại diện) yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và Dương Thị S làm 08 phần bằng nhau, 07 đồng thừa kế mỗi người nhận một phần, phần còn lại giao cho bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X nhận vì họ đã có công gìn giữ, bảo quản đối với di sản thừa kế. Xét, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, bà V và ông X là người sinh sống tại nhà đất tranh chấp từ khi sinh ra cho đến nay, có công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; Bị đơn bà Nguyễn Thị Ái V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1 (có bà Bùi Thị Ánh T đại diện) đồng ý với ý kiến này của nguyên đơn, nên có căn cứ chấp nhận. Về chi phí tố tụng và án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ các phân tích trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về kỷ phần thừa kế mà bà Nguyễn Thị S1 được nhận, do không xác định được địa chỉ của các con của bà S1 ở nước ngoài, nên đề nghị giao cho bị đơn quản lý và bị đơn có nghĩa vụ giao lại cho các con của bà S1." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, người đại diện của đương sự và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng. [1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S là nhà đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H; Vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cư trú ở nước ngoài. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: “Tranh chấp thừa kế tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.2] Về tư cách đương sự, việc đại diện và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc Th đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ái Ph và bà Nguyễn Thị Ái Th1 cùng ủy quyền cho bà Bùi Thị Ánh T đại diện, các văn bản ủy quyền hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công X có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Hải D và bà Trần Kiều Ph1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn xin vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho bà Nguyễn Thị A ở Hoa Kỳ để thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo ngày Tòa án mở phiên tòa lần thứ nhất và lần thứ hai, nhưng bà Nguyễn Thị A không có văn bản trình bày lời khai của bà nộp cho Tòa án, không cung cấp chứng cứ và cũng không có đơn xin vắng mặt. Các đương sự trong vụ án cho rằng các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đang cư trú tại Hoa Kỳ, nhưng không cung cấp được nơi cư trú của họ để Tòa án tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp. Tòa án đã ban hành Thông báo số 10470/TB-TA ngày 09/8/2022, thông báo cho nguyên đơn liên hệ cơ quan báo chí, đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương để thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo ngày Tòa án mở phiên tòa lần thứ nhất và lần thứ hai cho các đương sự nói trên. Nguyên đơn đã thực hiện thủ tục thông báo triệu tập đương sự trên phương tiện thông tin đại chúng theo thông báo của Tòa án tại Đài Tiếng nói Việt Nam (phát sóng trong 03 ngày liên tiếp từ ngày 11 đến ngày 13/8/2022), Báo Thanh niên (đăng 03 ngày liên tiếp từ ngày 15 đến ngày 17/8/2022). Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho họ tại nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam, nhưng các ông/bà: V1, Q, Đ, L, Tr1, A1 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng theo thông báo, không cung cấp lời khai, chứng cứ và cũng không có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. [1.3] Về thời hiệu: Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét về thời hiệu khởi kiện. [2] Về nội dung. [2.1] Về nguồn gốc nhà, đất. Căn cứ công văn số 1030/UBND-TNMT ngày 05/4/2021 của Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H, thì nhà đất số 100/54 (số cũ 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H có nguồn gốc do cụ Dương Thị S nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn T1 và bà Tô Thị R năm 1957 bằng giấy tay. Nhà đất xây dựng lại năm 1968. Năm 1977 và năm 1999, cụ Dương Thị S đứng tên kê khai nhà đất. Ngày 01/11/2004, cụ Dương Thị S có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, được Ủy ban nhân dân Phường M, quận B xác nhận ngày 10/11/2004 với nội dung: Nhà không có trong danh sách Nhà nước quản lý, không có trong danh sách diện 2/IV, hiện nay không có tranh chấp. Ngày 15/11/2004, Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4947/2004 đối với nhà đất nói trên cho cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S; Tổng diện tích sử dụng nhà là 84.3m2, kết cấu: vách gạch, mái tôn, số tầng: 01 tọa lạc trên diện tích đất 84.3m2, thửa đất số 4, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính). Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh và Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập và phát hành ngày 28/12/2021 (theo hợp đồng số: 129859/TTĐĐBĐ-VPTT) thì nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H có diện tích như sau: Diện tích theo hiện trạng là 92,2m2 (diện tích phạm lộ giới là 7,5m2, không phạm lộ giới là 84,7m2), thuộc thửa số 4 và một phần thửa số 7 (diện tích 0,6m2), Tờ bản đồ số 18, Bộ địa chính Phường M, quận B (theo tài liệu năm 2002); Diện tích xây dựng là 84,8m2 (trong đó 1,4m2 phạm lộ giới, 83,4m2 không phạm lộ giới), kết cấu tường gạch, mái tôn, sân. Theo lời khai của các đương sự, thì khi cụ V2 và cụ S tạo lập tài sản các con của hai cụ còn nhỏ, không ai đóng góp gì. Các đương sự cùng xác nhận tài sản tranh chấp nói trên là di sản thừa kế của vợ chồng cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S. Cụ V2 chết ngày 23/5/1980, cụ S chết ngày 10/5/2005, hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của hai cụ được chia thừa kế theo pháp luật. [2.2] Những người được hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S. [2.2.1] Căn cứ kết quả xác minh tại Công văn số 114/UBND ngày 04/5/2021 của Ủy ban nhân dân Phường M, quận B, Thành phố H, thì cơ quan này không có thông tin về những người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2, cụ Dương Thị S và ông Nguyễn Văn Th2. Tại phường, qua kiểm tra thực tế hồ sơ di chúc từ năm 1997 đến năm 2005 không tìm thấy di chúc của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S. [2.2.2] Tại Công văn số 951/STP- HT ngày 16/3/2022 của Sở Tư pháp Thành phố H trả lời Công văn số 317/TATP-TDS ngày 18/01/2022 của Tòa án như sau: Cụ Dương Thị S, sinh năm 1918 và cụ Nguyễn Văn V2, sinh năm 1917 không có thông tin về việc đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp. Bà Nguyễn Thị S1 (X1), sinh năm 1939 không có thông tin đăng ký khai sinh tại Sở Tư pháp. Tại Sở Tư pháp có thông tin khai sinh về những người có cha là Nguyễn Văn V2 và mẹ là Dương Thị S như sau: Án thế vì khai sinh của Tòa Sơ thẩm Sài Gòn, số 10438/NĐ ngày 11/6/1966 đã tuyên: “Nguyễn Thị Ái Ph sinh năm 1949, Nguyễn Thị Ái Th1 sinh năm 1952, Nguyễn Thị Ái Tr sinh năm 1955, Nguyễn Thị Ái V sinh năm 1956 tại Thạnh Mỹ Tây, Gia Định là con của Nguyễn Văn V2 và Dương Thị S”. [2.2.3] Căn cứ Tờ khai gia đình ngày 12/9/1974, Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu trong hộ ngày 01/10/1976, bản sao các giấy khai sinh của bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, ông Nguyễn Công X, bà Nguyễn Thị ÁI Ph và lời thừa nhận của các đương sự, thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S gồm có 08 người con chung sau đây: - Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1939; chết năm 2006 tại Hoa Kỳ nhưng các đương sự không cung cấp được giấy khai sinh, giấy khai tử của bà S1. Theo lời khai của các đương sự, thì chồng bà S1 là ông Trần Văn L1 (chết năm 2016, đương sự không cung cấp được giấy đăng ký kết hôn của bà S1 và ông Lâu cũng như giấy khai tử của ông Lâu); bà S1 có 06 người con gồm: + Ông Trần Nguyễn Đại V1, sinh năm 1959; + Ông Trần Nguyễn Q, sinh năm 1963; + Ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1965; + Bà Trần Thị Mai L, sinh năm 1968; + Ông Trần Nguyễn Đại Tr1, sinh năm 1970; + Bà Trần Thị Kim A1, sinh năm 1973. - Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1945; - Ông Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1947, chết ngày 21/6/1973 theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 2215/2019/QĐST-DS ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H (trích lục khai tử số 02/TLKT ngày 20/01/2020 của Ủy ban nhân dân Phường M, quận B). Các đương sự cùng khai nhận, ông Th2 chết độc thân (không có vợ, không có con); ông Th2 không để lại di chúc. - Bà Nguyễn Thị Ái Ph, sinh năm 1949; - Bà Nguyễn Thị Ái Th1, sinh năm 1952; - Bà Nguyễn Thị Ái Tr, sinh năm 1955; - Bà Nguyễn Thị Ái V, sinh năm 1956; - Ông Nguyễn Công X, sinh năm 1961. Các đương sự cùng xác nhận, ngoài 08 người con chung nói trên thì cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S không có con riêng, không có con nuôi, cha mẹ của Cụ V2 và cụ S đã chết trước hai cụ, hai cụ không để lại di chúc và không để lại nghĩa vụ tài sản đối với ai. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ Nguyễn Văn V2 chết ngày 23/5/1980, nên những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Cụ V2 gồm có: Cụ Dương Thị S (vợ) và 07 người con của cụ V2 là: Bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006), bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X. Như vậy, 1⁄2 giá trị nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H là di sản thừa kế của cụ V2 chưa chia, các đương sự không tranh chấp về hàng thừa kế, nên di sản thừa kế của cụ V2 trở thành tài sản chung của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ V2. Cụ Dương Thị S chết ngày 10/5/2005, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ S gồm có có 07 người là: Bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006, có con là các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1), bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X. Di sản của cụ S là 1⁄2 nhà đất tranh chấp được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ S. Như vậy, những người được hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S có 07 người gồm: Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X và bà Nguyễn Thị S1. Căn cứ khoản 2 Điều 679 của Bộ luật Dân sự năm 1995 thì: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”. Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X là người sinh sống tại nhà đất tranh chấp từ khi sinh ra cho đến nay, là đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và đã có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế, họ không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ. được hưởng vì đã có công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. Vì vậy, có đủ điều kiện để áp dụng Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội chia làm 08 phần, trong đó 07 phần chia cho 07 người thừa kế theo luật mỗi [2.3] Xét yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị Ái V về việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công sức đóng góp của bà và ông Nguyễn Công X trong việc gìn giữ, quản lý di sản thừa kế, nhận thấy: Mặt khác, các đồng thừa kế khác là bà Nguyễn Thị Ái Tr (nguyên đơn), bà Nguyễn Thị Ái Th1 và bà Nguyễn Thị Ái Ph (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) cũng đồng ý chia di sản thừa kế thành 08 phần bằng nhau, trong đó 07 đồng thừa kế mỗi người được nhận một phần, phần còn lại giao cho bà V và ông X đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X được nhận số tiền tương đương 01 kỷ phần thừa kế theo pháp luật (mỗi người được nhận 1⁄2 kỷ phần thừa kế) đối với công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. Như vậy, di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S được người được nhận một phần bằng nhau, (mỗi người nhận 1/2). Riêng phần di phần còn lại chia cho bà V và ông X sản mà bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006) được nhận (tương đương 1/8 giá trị nhà đất), Tòa án không xác định được chính xác họ và tên của các con bà S1, theo lời khai của các đương sự tại hồ sơ vụ án, thì bà S1 có 06 người con là các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1; Các đương sự không cung cấp được địa chỉ của các con bà S1 ở nước ngoài. Vì bếp; sửa nhà vệ sinh. Ngoài lời khai này, bà V không cung cấp được chứng cứ về việc sửa chữa, không biết số tiền bà S1 đã sửa chữa nhà là bao nhiêu. Nguyên đơn của Công ty Cổ phần đầu tư và Thẩm định giá T, thì nhà đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H có tổng giá trị là: 9.271.038.002 đồng, trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 9.009.117.902 đồng và giá trị công trình xây dựng là 261.920.100 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 1995, thì: “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật, thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được, thì hiện vật được bán để chia”. Xét, nhà đất nói trên không đủ diện tích để chia thừa kế bằng hiện vật cho 07 người con của cụ V2 và cụ S, những người thừa kế không ai có yêu cầu được nhận hiện vật và hoàn trả tiền cho các đồng thừa kế khác, nên di sản thừa kế của X được lưu cư tại nhà, đất tranh chấp trong thời gian 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực, hết thời hạn này phải giao nhà đất để thi hành án. Bị đơn và bà Th1, bà Ph đồng ý với yêu cầu này của nguyên đơn. Xét, nhằm tạo điều kiện cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ái V và gia đình ông Nguyễn Công X có thời gian tìm nơi ở mới, cần thiết phải cho họ có thời gian lưu cư như ý kiến của nguyên đơn. Vì vậy, hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X, ông Nguyễn Hải D, bà Trần Kiều Ph1 và những người đang cư trú tại nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H tại thời điểm thi hành án phải giao nhà, đất này cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để thi hành theo quy định của pháp luật; Đồng thời, bà Nguyễn Thị vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 06/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tạm giao kỷ phần thừa kế mà các con của bà Nguyễn Thị S1 được nhận cho bà Nguyễn Thị Ái V quản lý, sau này bà Nguyễn Thị Ái V có nghĩa vụ giao lại cho các con của bà S1. Xét ý kiến của bà V cho rằng, năm 1996 bà Nguyễn Thị S1 có bỏ chi phí sửa nhà, sửa các hạng mục: Lát gạch Ceramic phòng khách, phòng ngủ số 3 và phòng và bà Ph, bà Th1 không thừa nhận việc bà Nguyễn Thị S1 có sửa chữa nhà, không đồng ý hoàn trả giá trị sửa chữa cho bà S1. Các con của bà Nguyễn Thị S1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc sửa chữa này của bà S1, không có yêu cầu gì trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét. [2.4] Theo Chứng thư thẩm định giá số 040622/CT-TNV ngày 27/6/2022 cụ V2 và cụ S được bán để chia. Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý cho bị đơn và gia đình ông Nguyễn Công Ái V và ông Nguyễn Công X có nghĩa quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng vụ giao bản chính Giấy chứng nhận đất ở số 4947/2004 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và bà Dương Thị S ngày 15/11/2004 cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để thi Thành phố H sau khi trừ các chi phí liên quan đến việc bán tài sản, sẽ được chia, nhận một kỷ phần bằng nhau tương đương 1/8 giá trị còn lại của di sản; Các con A1) được nhận một kỷ phần tương đương 1/8 giá trị còn lại của di sản; Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X được nhận số tiền tương đương 1/8 giá trị còn lại của di sản (mỗi người nhận 1/2) đối với công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. [3] Về chi phí tố tụng. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr đã nộp tạm ứng các chi phí tố tụng, trong đó có: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng; Chi phí thẩm định giá: 18.000.000 đồng, tổng cộng là 21.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật, nhưng không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X phải trả. Căn cứ khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đồng thừa kế được hưởng phần di sản như nhau nên mỗi đồng thừa kế phải chịu chi phí tố tụng như nhau, cụ thể: Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ái Tr số tiền là: 21.000.000 đồng : 7 = 3.000.000 đồng. Các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị S1 gồm các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1) có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị A Tr số tiền là: 3.000.000 đồng. Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị A V và ông Nguyễn Công X phải hoàn trả chi phí tố tụng. Các chi phí tố tụng khác mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng, nguyên đơn tự nguyện nộp và không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. [4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 040622/CT-TNV ngày 27/6/2022 của Công ty Cổ phần đầu tư và Thẩm định giá T, thì nhà đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H có tổng giá trị là: 9.271.038.002 đồng. Giá trị tài sản tranh chấp được chia làm 08 phần bằng nhau, 07 đồng thừa kế mỗi người nhận 01 kỷ phần, 01 kỷ phần còn lại là công sức đóng góp, tôn tạo di sản mà bà V và ông X được nhận. Trị giá của mỗi kỷ phần thừa kế là: 9.271.038.002 đồng : 8 = 1.158.879.750 đồng. hành theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được từ việc bán nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B như sau: - Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X mỗi người được của bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006 là các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim - Bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr mỗi người phải nộp án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 358.879.750 đồng) = 46.766.392 đồng. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức đóng góp trong việc chăm sóc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S, nên không xem xét. - Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế + 1⁄2 của một kỷ phần thừa kế là công sức đóng góp tương đương với số tiền là: 1.158.879.750 đồng + 579.439.875 đồng = 1.738.319.625 đồng; án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 938.319.625 đồng) = 64.149.588 đồng. Bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X là người cao tuổi, có đơn yêu cầu được miễn nộp án phí, nên được miễn toàn bộ án phí phải nộp nêu trên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Điều 2 Luật Người cao tuổi. - Bà Nguyễn Thị A phải nộp án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 358.879.750 đồng) = 46.766.392 đồng. - Các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006) gồm các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1 phải nộp án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 358.879.750 đồng) = 46.766.392 đồng. Từ các phân tích nói trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc đề nghị áp dụng Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tính công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của bị đơn và ông Nguyễn Công X. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu và đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, áp dụng án lệ để tính công sức đóng góp cho bị đơn và ông Nguyễn Công X, là có căn cứ nên chấp nhận." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 825/2023/DS-ST Ngày: 30-5-2023 Vv: Tranh chấp thừa kế tài sản.", + "answer": "Áp dụng khoản 5 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 165, khoản 2 Điều 184, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 677, điểm a khoản 1 Điều 678, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 679, khoản 2 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Áp dụng Điều 2 của Luật Người cao tuổi; Áp dụng điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối [5] Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức đóng góp trong việc chăm sóc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S, nên không xem xét. cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng Án lệ số 05/2016/AL và Án lệ số 06/2016/AL cùng ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S (chết năm 2005) là nhà, đất số 100/54 (số cũ là 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H theo quy định của pháp luật. 1. Xác định nhà, đất số 100/54 (số cũ là 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4947/2004 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H cấp cho cho cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S ngày 15/11/2004 (hiện trạng nhà đất hiện nay theo Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh và Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập và phát hành ngày 28/12/2021 theo hợp đồng số: 129859/TTĐĐBĐ- VPTT), là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S (chết năm 2005). 2. Những người được hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S gồm có: Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X và bà Nguyễn Thị S1 (bà S1 chết năm 2006, bà S1 có 06 người con là: Ông Trần Nguyễn Đại V1, ông Trần Nguyễn Q, ông Trần Quốc Đ, ông Trần Thị Mai L, ông Trần Nguyễn Đại Tr1 và bà Trần Thị Kim A1). Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X và bà Nguyễn Thị S1 (bà S1 chết năm 2006, có các con bà S1 là: Ông Trần Nguyễn Đại V1, ông Trần Nguyễn Q, ông Trần Quốc Đ, ông Trần Thị Mai L, ông Trần Nguyễn Đại Tr1 và bà Trần Thị Kim A1 nhận) mỗi người thừa kế được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau tương đương với 1/8 giá trị di sản thừa kế tại thời điểm thi hành án; - Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X được nhận số tiền tương đương 1/8 giá trị di sản thừa kế tại thời điểm thi hành án (mỗi người nhận 1/2) đối với công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. 4. Hết thời hạn 03 (ba) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được quyền thỏa thuận với nhau về việc bán di sản thừa kế hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền bán di sản thừa kế là nhà, đất số 3. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S là nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H được chia làm 08 (tám) phần bằng nhau, cụ thể: - Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà 100/54 (số cũ là 100/49) đường L, Phường M, quận B, Thành phố H để thi hành án theo quy định của pháp luật. trú trong nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H tại thời Số tiền thu được từ việc bán di sản thừa kế nói trên sau khi trừ các chi phí giá trị còn lại của di sản. Tạm giao kỷ phần thừa kế mà các con của bà Nguyễn Thị S1 được nhận cho bà Nguyễn Thị Ái V quản lý để sau này bà Nguyễn Thị Ái đương 1/8 giá trị còn lại của di sản (mỗi người nhận 1/2) đối với công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. 5. Các đương sự không ai yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức đóng góp trong việc chăm sóc, phụng dưỡng, đám tang, mộ phần, đám giỗ cho cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S, nên không xem xét. 6. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ái Tr đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng và chi phí thẩm định giá: 18.000.000 đồng). Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ái Tr số tiền là: 3.000.000 (ba triệu) đồng. Các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị S1 gồm các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1) có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ái Tr số tiền là: 3.000.000 (ba triệu) đồng. Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ái Tr về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X phải hoàn trả chi phí tố tụng. Các chi phí tố tụng khác mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng, nguyên đơn tự nguyện nộp và không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X có nghĩa vụ giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 4947/2004 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố H cấp ngày 15/11/2004 cho cụ Nguyễn Văn V2 (chết năm 1980) và cụ Dương Thị S để thi hành án. Bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X, ông Nguyễn Hải D, bà Trần Kiều Ph1 và những người đang cư điểm thi hành án phải giao nhà, đất này cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để thi hành án theo quy định của pháp luật. liên quan đến việc bán tài sản, sẽ được chia như sau: - Bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Công X mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế tương đương 1/8 giá trị còn lại của di sản; - Các con của bà Nguyễn Thị S1 (chết năm 2006) là các ông/bà: Trần Nguyễn Đại V1, Trần Nguyễn Q, Trần Quốc Đ, Trần Thị Mai L, Trần Nguyễn Đại Tr1 và Trần Thị Kim A1 được nhận một kỷ phần thừa kế tương đương 1/8 V có nghĩa vụ phải giao lại cho họ theo hướng dẫn tại Án lệ số 06/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. - Bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X được nhận số tiền tương 7. Án phí dân sự sơ thẩm: - Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Ái Ph, bà Nguyễn Thị Ái Th1, bà Nguyễn Thị Ái Tr, bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X do các đương sự là người cao tuổi, có đơn yêu cầu được miễn nộp án phí. - Bà Nguyễn Thị A phải nộp án phí là: 46.766.392 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi hai) đồng. - Ông Trần Nguyễn Đại V1, ông Trần Nguyễn Q, ông Trần Quốc Đ, bà Trần Thị Mai L, ông Trần Nguyễn Đại Tr1 và bà Trần Thị Kim A1 phải nộp án phí là: 46.766.392 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi hai) đồng. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự (hoặc người đại diện đương sự) có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai 2. Ông Nguyễn Thành Thông" + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962 (có mặt). Địa chỉ: Số 56/13/34 đường H (căn số 16), Khu phố B, phường T, Quận M, Thành phố H." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "1/ Ông Nguyễn Vn Ph, sinh năm 1969; 2/ Bà Trần Thị Tr, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Số 5/90 ấp N, xã Th, huyện H, Thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 325/16/9 đường B, Phường M, quận B1, Thành phố H (Giấy ủy quyền lập ngày 15/6/2018 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn C, Thành phố H, Số: 005165, Quyển số 06TP/C-SCC/HĐ" + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Ông Đỗ Văn Hiếu – Kiểm sát viên." + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2018, các đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày: Phần đất tranh chấp diện tích 1893m2, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H có nguồn gốc của ông nội ông Nguyễn Thanh S là cụ Nguyễn Văn L để lại cho con là cụ Nguyễn Văn C. Cụ Nguyễn Văn C (chết năm 1983) và vợ là cụ Trần Thị L1 (chết năm 2017) có 05 người con gồm: Nguyễn Thanh S, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Văn Ph. Cụ C và cụ L1 không có con riêng, không có con nuôi. Cha mẹ của cụ C và cụ L1 đã chết từ lâu, không có giấy chứng tử để cung cấp. Trước năm 1975, cụ C và cụ L1 có quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cụ C mất, cụ L1 và 05 (năm) người con thỏa thuận tạm giao đất cho mẹ là cụ L1 quản lý và giao cho ông Nguyễn Văn Ph đại diện xin cấp giấy chứng nhận, đứng tên thửa đất; ông Ph không được quyền mua bán khi chưa có sự đồng ý của tất cả anh em trong gia đình.Việc thỏa thuận này chỉ bằng lời nói không lập thành văn bản. Ngày 29/6/1998, Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 947415, số vào sổ: 117/1998 QSDĐ/Quyển 2 cho ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr (vợ ông Ph). Ngày 11/10/1999, cụ Trần Thị L1 và các con đã lập “Tờ thỏa thuận” xác định phần đất diện tích 1893m2, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H là tài sản chung của anh em do được thừa kế từ cha để lại, không ai được quyền mua bán; nếu muốn bán thì phải có sự đồng ý của tất cả các anh chị em trong gia đình; giao cho ông Nguyễn Văn Ph giữ gìn, quản lý. Ngày 15/6/2001, Ủy ban nhân dân xã Th có lập Biên bản về việc giải quyết theo đơn của cụ Trần Thị L1 đối với phần đất 1893m2, thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H xác định đây là tài sản chung của 05 (năm) người con gồm: Nguyễn Thanh S, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Văn Ph. Giao cho cụ L1 quản lý và tạm giao ông Ph canh tác; ông Ph không được mua bán nếu không có sự đồng ý của các anh chị em. Quá trình canh tác, ngày 02/3/2016 ông Ph chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm. Ngày 11/5/2015, ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Ngọc Q để chuyển nhượng phần đất diện tích 1.893m2 thuộc thửa đất số 83, Tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H với giá chuyển nhượng là 4.500.000.000 đồng. Ngày 11/4/2016, tại Văn phòng Công chứng Đ (Thành phố H) ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần đất diện tích 1.893m2 nói trên cho ông Nguyễn Ngọc Q, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 50.000.000 đồng. Sau khi phát hiện ông Ph, bà Tr đã tự ý chuyển nhượng phần đất trên, ông Nguyễn Thanh S đã khiếu nại sự việc. Ngày 24/8/2017, Ủy ban nhân dân xã Th, huyện H có Công văn số 1460/UBND hướng dẫn ông khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền; đồng thời có văn bản số 1405/UBND ngày 15/8/2017 gửi cơ quan chức năng đề xuất hủy đăng ký biến động quyền sử dụng đất, xác minh xử lý hành vi trốn thuế và tạm ngưng giải quyết hồ sơ liên quan đến thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995). Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998/QSDĐ, Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph. - Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003569, quyển 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/4/2016 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q lập tại Văn ph��ng Công chứng Đ. - Hủy cập nhật đăng ký biến động quyền sử dụng đất (do chuyển nhượng quyền sử dụng đất) sang tên ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016 tại trang số 4 Giấy chứng nhận số 117/1998 QSDĐ ngày 29/6/1998 nêu trên. - Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 đối với phần đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995), xã Th, huyện H, Thành phố H. - Yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Mạnh Đ1 giao lại phần đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995), xã Th, huyện H, Thành phố H cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 bao gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph. - Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Văn C và chia tài sản thừa kế của cụ Trần Thị L1 cho các đồng thừa kế đối với phần đất thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 28 (TL 1995), diện tích 1.893m2 (đã được cấp Giấy chứng nhận cho Ông Ph năm 1998) tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H cho các người con chung của cụ C và cụ L1 gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph. Nguyên đơn yêu cầu được chia 1/5 giá trị tài sản tại thời điểm thi hành án. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các chi phí như viện phí, tiền thuốc, tang lễ, cúng giỗ,... của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 vì đây là nhiệm vụ của con cái với cha mẹ. Nguyên đơn đồng ý với Bản vẽ hiện trạng phần đất tranh chấp do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/5/2020 và Chứng thư Thẩm định giá số 190220.CTPHCM ngày 08/5/2020 của Công ty Cổ phần Thẩm định giá Thành Đô. Về chi phí tố tụng: Ông đã nộp tạm ứng tổng số tiền: 62.939.092 đồng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng; Chi phí đo vẽ 22.939.092 đồng; Chi phí thẩm định giá: 35.000.000 đồng). Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 31/7/2018, nguyên đơn có yêu cầu Tòa án ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” là phần đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL 1995) tại ấp T, xã Th, huyện H thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998 QSDĐ quyển 02 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998, đã được cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Ngọc Q ngày 07/6/2016. Tòa án đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 197/2018/QĐ-BPKCTT ngày 01/8/2018, về việc: “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” theo yêu cầu của nguyên đơn. Nay ông yêu cầu giữ nguyên quyết định này cho đến khi thi hành án xong." + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Bị đơn ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Hoàng Xuân Đ trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về quan hệ nhân thân: Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 giống như nguyên đơn trình bày. Cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 chết không để lại di chúc liên quan đến thửa đất đang tranh chấp trong vụ án này, trước khi chết cụ C và cụ L1 không để lại nghĩa vụ tài sản với ai. Về tài sản tranh chấp: Diện tích đất 1.893m2 thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H có nguồn gốc là tài sản của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Sau khi cụ C chết, cụ L1 đã phân chia tài sản cho các con. Ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr kết hôn năm 1996, được cụ L1 cho phần đất 1.893m2 này và đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: 117/1998 QSDĐ/Quyển 2 ngày 29/6/1998. Các anh em còn lại gồm: ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H đã được cụ L1 phân chia cho các thửa đất khác nhau nhưng sau đó họ đã bán cho người khác. Năm 1999, các ông bà Nguyễn Thanh S, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Thị Thúy H gây áp lực buộc cụ Trần Thị L1 tiếp tục chia đất. Ông Ph vì thương mẹ phải ký vào Tờ thỏa thuận ngày 11/10/1999 trái với ý chí của mình, vì thời điểm này ông Ph đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2001, các ông/bà S, Ph1, H2, H tiếp tục gây áp lực buộc cụ L1 phải làm đơn ra Ủy ban xã Th yêu cầu tương phân lại thửa đất số 83. Ông Ph và bà Tr vì thương mẹ nên bắt buộc phải ký vào biên bản này. Sau đó, do nhu cầu trả nợ và lo thuốc men cho cụ L1 cũng như do bệnh tật của bản thân mình, ông Ph đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông Nguyễn Ngọc Q vào ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ. Nay, bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, thì yêu cầu xem xét giải quyết công sức đóng góp của bị đơn trong việc làm tăng giá trị quyền sử dụng đất từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Bị đơn đồng ý với toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q, yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q. Bị đơn đồng ý với Bản vẽ hiện trạng do Trung tâm Đo đạc bản đồ lập ngày 07/5/2020 và Chứng thư Thẩm định giá số 190220.CTHCM ngày 08/5/2020 của Công ty Thẩm định giá T lập; không yêu cầu định giá/thẩm định giá lại. Ông Nguyễn Văn Ph là con trai út trong nhà nên sống cùng với mẹ là cụ Trần Thị L1 (chết ngày 24/11/2017). Bị đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các chi phí như viện phí, tiền thuốc, tang lễ, cúng giỗ,... của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 vì đây là nhiệm vụ của con cái với cha mẹ. Về chi phí tố tụng: Bị đơn không nộp, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn không bổ sung, cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ gì khác và cũng không yêu cầu triệu tập người làm chứng." + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Tại phiên tòa sơ thẩm: * Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày: Ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc xin hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998/QSDĐ, Quyển số 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph. Đồng thời, thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về diện tích đất tranh chấp, ông xác định diện tích đất tranh chấp là 1.890,3m2, thuộc một phần thửa 83 (thửa 83-1), Tờ bản đồ số 28 (TL1995), tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H theo Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ lập; Phần diện tích 2,7m2 (số thứ tự thứ 4 Bảng thống kê diện tích trên bản đồ đang bị người khác sử dụng, ông không tranh chấp). Các yêu cầu khởi kiện cụ thể của ông là: - Công nhận diện tích đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng là đất lúa màu), thuộc một phần thửa 83 nói trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Văn C và chia tài sản thừa kế của cụ Trần Thị L1 cho các đồng thừa kế là các con của 02 cụ bao gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph. Nguyên đơn yêu cầu được chia 1/5 giá trị di sản tại thời điểm thi hành án; - Hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003569, Quyển 2TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/4/2016 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q lập tại Văn phòng Công chứng Đ. - Hủy phần cập nhật đăng ký biến động quyền sử dụng đất (do chuyển nhượng quyền sử dụng đất) sang tên ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016 tại trang số 4 Giấy chứng nhận số 117/1998 QSDĐ ngày 29/6/1998; - Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 đối với phần đất thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995), xã Th, huyện H, Thành phố H; - Yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Mạnh Đ1 giao lại phần đất thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995), xã Th, huyện H, Thành phố H cho các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị L1 bao gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph để thi hành án. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các chi phí như viện phí, tiền thuốc, tang lễ, cúng giỗ,... của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Đối với ý kiến của bị đơn, về việc trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì đề nghị cho bị đơn được nhận giá trị chênh lệch giữa đất trồng lúa màu và đất trồng cây lâu năm, do bị đơn đã có công sức đóng góp làm tăng giá trị, nguyên đơn đồng ý với ý kiến này của bị đơn. Ông không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Q. Nguyên đơn đồng ý với bản vẽ và kết quả thẩm định giá, không yêu cầu định giá hay thẩm định giá lại. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng các chi phí tố tụng sau: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng; Chi phí đo vẽ: 22.939.092 đồng; Chi phí thẩm định giá: 35.000.000 đồng. Tổng cộng là: 62.939.092 đồng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 197/2018/QĐ-BPKCTT ngày 01/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H. * Luật sư Nguyễn Trọng A là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự trong vụ án đều xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Việc ông Nguyễn Văn Ph đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do gia đình có thỏa thuận cho ông Ph đứng đại diện, vì thời điểm này nếu tất cả mọi người trong gia đình cùng đứng tên thì thủ tục cấp giấy chứng nhận sẽ rất khó khăn. Ngày 11/10/1999, bà Trần Thị L1 và các con cùng lập “Tờ thỏa thuận” để xác nhận lại diện tích đất tranh chấp là tài sản chung, giao cho ông Ph quản lý, nếu muốn bán phải được sự đồng ý của anh em. Năm 2001, bà Trần Thị L1 nộp đơn tranh chấp và được Ủy ban nhân dân xã Th lập biên bản giải quyết, tại biên bản này cũng thống nhất phần đất nói trên giao cho ông Nguyễn Văn Ph quản lý, nến bán phải được sự đồng ý của anh chị em trong gia đình. Ông Nguyễn Văn Ph cho rằng cha mẹ đã cho ông Ph phần đất này nhưng ông Ph không cung cấp được chứng cứ. Nếu là đất của ông Ph thì vì sao phải có sự đồng ý của các anh em trong trong đình ông Ph mới được bán và khi bán thì phải chia cho các anh em trong gia đình. Quyết định số 30/QĐ-UB ngày 04/4/1998 của Ủy ban nhân dân huyện H ghi nội dung cấp đất là cấp cho hộ gia đình, các văn bản trả lời của cơ quan chức năng lại xác định là đất cấp cho cá nhân ông Nguyễn Văn Ph. Tuy nhiên, đất này là tài sản của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1, chính Ủy ban nhân dân xã Th trong biên bản giải quyết tranh chấp cũng thừa nhận cấp đất không đúng đối tượng, nhưng thời điểm này anh em trong gia đình hòa thuận nên không ai yêu cầu hủy giấy chứng nhận. Nay, nguyên đơn yêu cầu công nhận đất này là di sản của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1, yêu cầu chia tài sản chung di sản của cụ C, chia thừa kế di sản của cụ L1 cho 05 người con của hai cụ. Ông đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vào tháng 4 năm 2016, ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Ngọc Q, nhưng trước đó (tháng 03/2016) nguyên đơn và các anh chị em đã nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã Th tranh chấp đất. Việc chuyển nhượng đất khi có tranh chấp là không đúng theo quy định của Luật Đất đai. Mặt khác, số tiền chuyển nhượng thực tế hai bên thừa nhận là 4.500.000.000 đồng, nhưng hợp đồng công chứng chỉ ghi giá 50.000.000 đồng, là giả tạo về giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q là đúng quy định. Ngày 27/3/2017, ông Nguyễn Ngọc Q lập hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Mạnh Đ1 để chuyển nhượng cho ông Đ1 diện tích đất nói trên, giá chuyển nhượng là 28.500.000.000 đồng, đặt cọc 25.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, với số tiền lớn như vậy nhưng hai bên chỉ lập hợp đồng bằng giấy tay, việc giao nhận tiền không có biên nhận, hợp đồng đặt cọc không xác định ngày hai bên ký công chứng, số tiền lớn nhưng ông Đ1 cũng không tranh chấp gì trong vụ án này. Như vậy, thực chất hợp đồng cọc chỉ là chứng cứ giả tạo do ông Q lập ra để bảo vệ hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Q với bị đơn và yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. * Luật sư Hồ Hoài Nh1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu: Sau khi ông Nguyễn Văn Ph được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1999 và 2001 gia đình đã có các biên bản thỏa thuận, biên bản làm việc với chính quyền địa phương xác định phần đất tranh chấp là tài sản chung. Như nguyên đơn đã trình bày tại phiên tòa, do ông Nguyễn Văn Ph được nuông chiều từ nhỏ, nên sau khi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Ph đã nhiều lần thế chấp cho ngân hàng để vay tiền, gia đình phải chuộc về, nên mới có biên bản thỏa thuận năm 1999 để phòng khi ông Ph bán đất. Ông Ph muốn chuyển nhượng phải có sự đồng ý của anh chị em trong nhà, đó là ý nguyện của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Khi Văn phòng Công chứng Đ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q cũng không xác minh tình trạng đất, vì nếu xác minh sẽ biết đất cấp cho hộ gia đình và đang có tranh chấp không được chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai. Ông đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q, đối với yêu cầu của ông Q về việc yêu cầu bị đơn bồi thường thì đề nghị giải quyết theo quy định. * Ông Hoàng Xuân Đ là người đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr trình bày: Bị đơn thống nhất với nguyên đơn về hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Mặc dù đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1, nhưng ông Nguyễn Văn Ph là người đăng ký kê khai, nộp thuế và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Trước và sau khi được cấp giấy chứng nhận, gia đình không có phản đối gì về việc này. Đối với “Tờ thỏa thuận” ngày 11/10/1999 và biên bản năm 2001, nếu xét kỹ thì đây là sự tái xác nhận của tất cả các thành viên trong gia đình về việc cha mẹ đã cho các con đất và những người con khác đã được cấp giấy chứng nhận đất thổ cư vào năm 1998. Tờ thỏa thuận năm 1999 có dòng rất quan trọng, đó là: “Kể từ nay về sau, tất cả đều đồng ý phần đất thổ cư chỉ để dành cho con cháu ở, không được quyền mua bán. Phần ruộng để hương quả ông bà, nếu muốn bán anh em phải thỏa thuận lại”. Thời điểm này, ý chí của cụ Trần Thị L1 và các anh em trong gia đình đã thống nhất, sau đó nguyên đơn và những người khác đã bán phần đất thổ cư, không làm theo di nguyện và sự thống nhất nói trên. Nội dung biên bản năm 2001 là việc cụ Trần Thị L1 xin con mình sang lại một phần đất thổ cư cho bà Nguyễn Ngọc H2 để làm nhà; còn thửa 83 “thống nhất cụ Trần Thị L1 quản lý, tạm giao cho ông Nguyễn Văn Ph canh tác”. Đây là cách nói trong gia đình, không phải quy định của pháp luật, vì về mặt pháp lý thì thời điểm này đất đã được cấp cho ông Nguyễn Văn Ph. Dù chứng cứ ông Ph bị anh em ép buộc ký thỏa thuận là không có, nhưng một người con có hiếu thì phải nghe theo lời mẹ, mà thời điểm này cụ L1 cũng bị nhiều sức ép từ gia đình nên phải lập nhiều di chúc. Nếu ông Ph không hiếu thuận thì làm sao cụ Trần Thị L1 lại lập di chúc để lại căn nhà thờ cho ông Ph. Quyết định số 36/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân huyện H mặc dù có đính kèm danh sách ghi cấp đất cho hộ gia đình, nhưng văn bản trả lời xác minh của các cơ quan có thẩm quyền đều xác định thửa đất số 83 cấp cho ông Nguyễn Văn Ph. Vì vậy, thửa đất số 83 được cấp cho cá nhân ông Nguyễn Văn Ph, không phải cấp cho hộ gia đình. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, thì bị đơn yêu cầu xem xét giải quyết công sức đóng góp nhằm tăng giá trị quyền sử dụng đất từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm của bị đơn. Yêu cầu Tòa án chấp nhận 03 yêu cầu đầu tiên của ông Nguyễn Ngọc Q, riêng yêu cầu về việc buộc bị đơn hoàn trả toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thi hành án thì ông không đồng ý, vì hợp đồng đã thực hiện xong. Bị đơn không yêu cầu về công sức đóng góp, tu bổ, sửa chữa, gìn giữ tài sản; tiền đóng thuế nhà, đất các năm cũng như chi phí phụng dưỡng, chăm sóc, ma chay, đám giỗ của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Bị đơn đồng ý với bản vẽ và kết quả thẩm định giá, không yêu cầu định giá hay thẩm định giá lại. Bị đơn không nộp tạm ứng các chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định. Bị đơn không có ý kiến gì về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, cũng như việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng ý với diện tích đất tranh chấp thực tế là 1.890,3m2, không tranh chấp diện tích 2,7m2 đang bị người khác sử dụng. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Ông Nguyễn Ngọc Q trình bày: “Tờ thỏa thuận” ngày 11/10/1999 có sau thời điểm ông Nguyễn Văn Ph đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không phù hợp. Tờ tương phân năm 2001 cũng không đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn khai rằng, hai bên có tranh chấp từ năm 2001, thì tại sao Ủy ban nhân dân xã Th vẫn không biết việc này, họ vẫn xác nhận đất không có tranh chấp để ông được cập nhật tên trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm năm 2016 nếu có tranh chấp thì làm sao cơ quan có thẩm quyền chấp nhận cho ông Nguyễn Văn Ph chuyển mục đích sử dụng đất từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Khi nhận chuyển nhượng, bị đơn cũng không thông báo cho ông biết về những thỏa thuận trong gia đình bị đơn, giấy chứng nhận đứng tên cá nhân ông Nguyễn Văn Ph. Việc ông nhận chuyển nhượng đất từ bị đơn là hợp pháp, hai bên đã thực hiện xong hợp đồng và không tranh chấp với nhau. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông sau đây: + Công nhận việc cấp Giấy chứng nhận số 117/1998/QSDĐ, Quyển số 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph là đúng; + Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003569, Quyển số 2 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q đối với thửa đất số 83, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H; + Giữ nguyên phần cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G947415 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận 117/1998 – QSDĐ/Quyển 2) do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, thì đề nghị Tòa án tuyên ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải bồi thường cho ông giá trị quyền sử dụng toàn bộ phần đất tranh chấp tại thời điểm thi hành án. Ông đã lập hợp đồng đặt cọc (giấy tay) để chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 83 cho ông Nguyễn Mạnh Đ1 với giá 28.500.000.000 đồng, đã nhận 25.000.000.000 đồng, giao bằng tiền mặt nhưng không lập văn bản. Số tiền còn lại 3.500.000.000 đồng ông Đ1 sẽ thanh toán hết khi bên bán hoàn thành việc chuyển mục đích sử dụng sang đất ở và lập hợp đồng công chứng đúng quy định. Khi đặt cọc, ông đã giao đất cho ông Đ1 nhưng không lập văn bản, nhưng do chưa chuyển mục đích sử dụng đất nên ông Đ1 giao lại đất cho ông quản lý, khi giao lại hai bên cũng không lập văn bản. Ông đồng ý với bản vẽ và kết quả thẩm định giá, không yêu cầu định giá hay thẩm định giá lại. Đề nghị lấy diện tích đất thực tế là 1.890,3m2 làm căn cứ giải quyết vụ án, diện tích 2,7m2 đang bị người khác sử dụng không yêu cầu giải quyết. Ông không có ý kiến đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Không tranh chấp với bị đơn về tiền thuế, lệ phí, phí công chứng hợp đồng. Ông không nộp chi phí tố tụng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Diện tích đất nói trên là tài sản riêng của ông, không phải là tài sản chung của ông và vợ là bà Cao Thị H4. - Bà Nguyễn Thị Thúy H (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2) và ông Nguyễn Hữu Ph1 (có bà Nguyễn Hữu Mai V đại diện theo ủy quyền) trình bày: Các bà có cùng ý kiến với nguyên đơn và đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về công sức đóng góp, tu bổ, sửa chữa, gìn giữ tài sản; tiền đóng thuế nhà, đất các năm cũng như chi phí phụng dưỡng, chăm sóc, ma chay, đám giỗ cha mẹ; Không có yêu cầu độc lập trong vụ án và đồng ý lấy diện tích đất thực tế là 1.890,3m2 làm căn cứ giải quyết vụ án như trình bày của nguyên đơn. Các bà đồng ý với bản vẽ và kết quả thẩm định giá, không yêu cầu định giá, thẩm định giá lại. Các bà không nộp chi phí tố tụng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H ông Đỗ Văn Hiếu – Kiểm sát viên trung cấp phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, nhưng xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp tài sản chung” là chưa đầy đủ, cần bổ sung thêm. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát phát biểu và đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận ý kiến của bị đơn về việc cho bị đơn được hưởng giá trị chênh lệch giữa đất lúa màu và đất trồng cây lâu năm; không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q, giữ nguyên phần cập nhật tên ông Q trên giấy chứng nhận, chấp nhận các yêu cầu độc lập còn lại của ông Nguyễn Ngọc Q. Về các chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, trình bày của Luật sư và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng. [1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp chia tài sản chung của cụ Nguyễn Văn C và chia thừa kế đối với di sản của cụ Trần Thị L1; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận và hủy nội dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy các hợp đồng có liên quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Q có yêu cầu độc lập công nhận việc cấp đất cho bị đơn là đúng, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q, công nhận nội dung cập nhật. Vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2) cư trú tại Australia. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: “Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.2] Về tư cách đương sự, việc đại diện và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự. Đồng bị đơn ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr ủy quyền cho ông Hoàng Xuân Đ đại diện; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: ông Nguyễn Hữu Ph1 ủy quyền cho bà Nguyễn Hữu Mai V, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2) ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Mạnh Đ1 ủy quyền cho bà Đinh Thị Th, Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T, Ủy ban nhân dân huyện H ủy quyền cho ông Lê Ưu T1 đại diện, các văn bản ủy quyền hợp lệ. Người đại diện của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố, Ủy ban nhân dân huyện H và Văn phòng Công chứng Đ, bà Đinh Thị Th, bà Cao Thị H4 cùng có đơn xin vắng mặt. Ông Lê Kim H3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. [1.3] Về thời hiệu: Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét về thời hiệu khởi kiện. [1.4] Việc nguyên đơn rút và thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. [1.4.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc xin hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998/QSDĐ, Quyển số 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph. Xét, việc nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút. [1.4.2] Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về diện tích đất tranh chấp, xác định diện tích đất tranh chấp là 1.890,3m2, một phần thửa 83, Tờ bản đồ số 28 (TL 1995), tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H theo Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ lập ngày 07/5/2019. Phần diện tích 2,7m2 (số thứ tự thứ 4 Bảng thống kê diện tích trên bản đồ) đang bị người khác sử dụng, ông không tranh chấp, xin rút yêu cầu về diện tích này. Nguyên đơn bổ sung yêu cầu công nhận diện tích đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng là đất lúa màu), thuộc một phần thửa 83 nói trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. Đây không phải yêu cầu mới, mà yêu cầu này đã nằm trong yêu cầu chia tài sản chung của cụ Nguyễn Văn C và chia tài sản thừa kế của cụ Trần Thị L1 đối với thửa đất số 83 nói trên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Q thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc: Trong trường hợp yêu của của nguyên đơn được chấp nhận, thì ông yêu cầu đồng bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho ông giá trị quyền sử dụng đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm), thuộc một phần thửa 83 nói trên theo giá tại thời điểm thi hành án. Xét, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; việc thay đồi yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q không vượt quá phạm vi khởi kiện và yêu cầu độc lập ban đầu, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận. Việc nguyên đơn rút yêu cầu về diện tích đất 2,7m2 là tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn. [2] Về nội dung. [2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: [2.1.1] Đối với yêu cầu công nhận diện tích đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng đất lúa màu), thuộc thửa 83-1, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1; Chia tài sản chung là di sản của cụ C và chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ L1. [2.1.1.1] Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 947415 (số vào sổ: 117/1998 QSDĐ/Quyển 2) do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp ngày 29/6/1998, thì ông Nguyễn Văn Ph được cấp diện tích đất 1.893m2, mục đích sử dụng đất: Lm (lúa, màu), thời hạn sử dụng: 20 năm, thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H. Ngày 02/3/2016, chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm. Ngày 11/4/2016 vợ chồng ông Ph, bà Tr chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Ngọc Q. Ngày 06/7/2016, ông Nguyễn Ngọc Q được Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H cập nhật tên trên trang 4 giấy chứng nhận. Lời khai của đương sự và người đại diện của đương sự trong vụ án, cùng xác nhận diện tích đất 1.893m2 này có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. [2.1.1.2] Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập và phát hành ngày 07/5/2019, thì diện tích đất thửa 83, Tờ bản đồ số 28 còn lại là: 1.890,3m2, thuộc thửa 83-1 (Bảng chỉ dẫn diện tích theo tài liệu năm 1995). Diện tích còn lại 2,7m2 (số thứ tự thứ 4 trong Bảng thống kê diện tích) hiện do người khác sử dụng. Các đương sự trong vụ án thống nhất chỉ tranh chấp diện tích đất 1.890,3m2, không tranh chấp diện tích 2,7m2. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu nói trên của đương sự. [2.1.1.3] Tại Công văn số 10766/VPĐK-LT ngày 10/7/2018 Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố, trả lời Tòa án là cơ quan này không lưu trữ hồ sơ của thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL 1995), xã Th, huyện H, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 117/1998 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp ngày 29/6/1998. Căn cứ tài liệu, chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H, Thành phố H cung cấp cho Tòa án, thì: Theo Quyết định số 36/QĐ-UB ngày 04/4/1998 của Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H, về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 194 hộ gia đình có tên trong danh sách đính kèm, trong đó có hộ gia đình ông Nguyễn Văn Ph (số thứ tự 11) được cấp diện tích 1893m2 (đất LM), thửa 83, tờ bản đồ 28. Hồ sơ gửi đính kèm không có tờ đăng ký kê khai nhà đất, không có biên lai thuế và các giấy tờ liên quan về nguồn gốc đất cấp cho ông Ph. Căn cứ Sổ hộ khẩu gia đình số: 140004768 do Công an huyện H cấp ngày 15/5/1994, thì hộ gia đình cụ Trần Thị L1 tại địa chỉ: 5/90 đường N2, xã Th, huyện H, Thành phố H gồm có các thành viên: Cụ Trần Thị L1 (chủ hộ), các con là bà Nguyễn Ngọc H2, ông Nguyễn Văn Ph, bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Hữu Ph1 và cháu là ông Lê Văn O, ông Lê Kim H3. Theo công văn số 667/UBND ngày 19/4/2022, thì ông Lê Văn O, sinh năm 1932 đã chết ngày 03/01/2006 theo Trích lục khai tử số 29 do Ủy ban nhân dân xã Th cấp ngày 08/3/2006. Qua rà soát về sổ bộ kết hôn hiện đang lưu trữ tại xã, không tìm thấy thông tin của ông Lê Văn O. Theo nguyên đơn thì ông Lê Văn O chỉ có một người con là ông Lê Kim H3, không biết vợ ông On là ai. Các đương sự trong vụ án không cung cấp được họ tên, địa chỉ của vợ và những người con khác của ông Lê Văn O, nên không có căn cứ để triệu tập những người này tham gia tố tụng trong vụ án. Xét, Quyết định số 36/QĐ-UB ngày 04/4/1998 của Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H có ghi nội dung danh sách 194 hộ gia đình được cấp đất, trong đó có ông Nguyễn Văn Ph (sinh năm 1969), là phù hợp quy định của Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, theo bản tự khai ngày 28/12/2020 của ông Lê Ưu T1 đại diện Ủy ban nhân dân huyện H, trình bày của ông Nguyễn Thanh T là đại diện Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố tại bản tự khai ngày 10/3/2020 và các Công văn số: 3358/CNHM ngày 24/7/2018, số 5669/CNHM ngày 05/3/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H, thì thửa đất số 83, Tờ bản đồ 28 tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H được cấp cho ông Nguyễn Văn Ph. Mặt khác, thời điểm này ông Nguyễn Văn Ph cũng không phải chủ hộ gia đình, nên có căn cứ xác định việc cấp đất thửa 83 là cấp cho cá nhân ông Nguyễn Văn Ph. [2.1.1.4] Tại phiên tòa, các đương sự khai nhận khi cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 còn sống, hai cụ cùng các con canh tác, sử dụng đất; sau này các con cụ C và cụ L1 lần lượt có gia đình sống riêng, chỉ còn ông Nguyễn Văn Ph sống cùng cụ L1. Nguyên đơn và bị đơn cùng cho rằng họ là người trực tiếp canh tác đất, nhưng các đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ông Nguyễn Ngọc Q cung cấp “Tờ đăng ký nhà – đất” đề ngày 04/9/1999 mang tên ông Nguyễn Văn Ph, có Ủy ban nhân dân xã xác nhận nhưng không ghi ngày, tháng, năm. Tuy nhiên, tờ đăng ký nhà đất này chỉ ghi diện tích đăng ký là 1.893m2, mục đích sử dụng là đất ở, không ghi số thửa, tờ bản đồ, không ghi nguồn gốc đất, nên cũng không có căn cứ xác định phần đất ông Nguyễn Văn Ph kê khai này chính là thửa đất số 83 (đất lúa màu) mà các đương sự đang tranh chấp trong vụ án. [2.1.1.5] Theo các Công văn số 415/CCT, 429/CCT-TBạ cùng ngày 23/3/2020 của Chi cục Thuế huyện H, Thành phố H thì: - Về thuế nhà đất: Tại phần đất thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 28, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 947415, diện tích 1.893m2 từ quý 4/1992 đến năm 2001 các ông, bà gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr không có kê khai và nộp thuế nhà đất theo quy định. - Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ năm 2002 cho đến nay, tại phần đất thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 28, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 947415, diện tích 1.893m2 từ quý 4/1992 đến năm 2001 các ông, bà: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr cũng không có thực hiện việc kê khai và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định. - Ông Nguyễn Văn Ph là người nộp thuế chuyển mục đích sử dụng 1.893m2, thửa 83, tờ bản đồ số 28, xã Th đất từ đất trồng lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Như vậy, ông Nguyễn Văn Ph không đăng ký kê khai, không nộp thuế sử dụng đất cho nhà nước đối với thửa đất được cấp. [2.1.1.5] Thỏa thuận của các đương sự. Ngày 11/10/1999, bà Trần Thị L1 và các con 05 người con gồm: Nguyễn Hữu Ph1, Nguyễn Thanh S, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Văn Ph và Nguyễn Thị Thúy H lập “Tờ thỏa thuận” với nội dung: “Sau khi tôi cùng các con bàn bạc đi đến thỏa thuận phần đất hương quả của ông bà để lại bao gồm: + Ruộng 1.900m2 và phần đất thổ cư 1.100m2 tôi đã tương phân chia cho các con đứng tên toàn bộ phần đất thổ cư. Và riêng phần ruộng để cho trai út là Nguyễn Văn Ph gìn giữ để hương quả ông bà. Kể từ nay về sau, tất cả đều đồng ý phần đất thổ cư chỉ để dành cho con cháu ở, không được quyền mua bán. Phần ruộng để hương quả ông bà, nếu muốn bán anh em phải thỏa thuận lại..”. Tại “Biên bản về việc giải quyết theo đơn của bà Trần Thị L1” do Ủy ban xã Th lập ngày 15/6/2001, bà Trần Thị L1, ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn Ph và bà Nguyễn Ngọc H2 có mặt, cùng trình bày và thống nhất nội dung sau: “....2. Phần ruộng thửa 83, tờ 28 diện tích 1.893m2 thống nhất bà Trần Thị L1 quản lý, tạm giao cho Nguyễn Văn Ph canh tác. Nguyễn Văn Ph không được mua bán, sang nhượng nếu không có sự đồng ý của anh chị trong gia đình”. Tại “Biên bản làm việc” ngày 12/4/2017 của Ủy ban nhân dân xã Th, ông Nguyễn Văn Ph có ý kiến: Phần đất thửa 83, tờ 28, diện tích 1.893m2, loại đất LM do ông đứng tên trên Giấy chứng nhận số 117/1998 ngày 29/6/1998 đã chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm khác được cập nhật trên trang 4 giấy chứng nhận ngày 02/3/2016, ông đã chuyển nhượng hết với số tiền 4.500.000.000 đồng. Trước khi bán, ông có thông báo cho anh em về để chia phần đất thửa 83 này làm 06 phần, riêng ông 02 phần nhưng các anh em ông không đồng ý và ông tự quyết định bán luôn vì ông đứng tên trên giấy chứng nhận. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn Ph thừa nhận nội dung và chữ ký của ông trong các văn bản nói trên, nên các văn bản này được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án. Xét, thửa đất số 83 mặc dù được cấp cho ông Nguyễn Văn Ph, nhưng căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của các đương sự, thì nguồn gốc đất là do cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi cụ Nguyễn Văn C chết năm 1983 (không có di chúc), thì 1⁄2 quyền sử dụng đất thửa 83 trở thành di sản của cụ Nguyễn Văn C và 1⁄2 quyền sử dụng đất còn lại là tài sản của cụ L1. Năm 1998, ông Nguyễn Văn Ph lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 83, cụ L1 và các anh em trong gia đình đều biết nhưng không ai phản đối hay có tranh chấp gì. Tuy nhiên, ngay sau khi được cấp đất, ngày 11/10/1999 ông Nguyễn Văn Ph cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất khác của cụ Nguyễn Văn C gồm: Cụ Trần Thị L1 và các ông/bà Sơn, Hoa, Phước, Hạnh lập “Tờ thỏa thuận” thống nhất thửa đất số 83 là tài sản chung của cụ L1 và các con của hai cụ là các ông/bà S, Ph, Ph1, H, H2; do cụ L1 quản lý, tạm giao cho ông Nguyễn Văn Ph canh tác. Ông Nguyễn Văn Ph không được mua bán, sang nhượng nếu không có sự đồng ý của anh chị em trong gia đình. Bị đơn cho rằng tại thời điểm lập “Tờ thỏa thuận”, vì bị ép buộc của các anh em trong gia đình và thương mẹ nên ông Nguyễn Văn Ph đã ký văn bản thỏa thuận trên trái với ý muốn của mình, nhưng bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời khai này. Tại phiên tòa, nguyên đơn khai nhận rằng sau khi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn Ph nhiều lần thế chấp cho ngân hàng để vay tiền sinh hoạt riêng, cụ Trần Thị L1 là người đưa tiền để giải chấp cho ngân hàng, nên cụ L1 đã nộp đơn đến Ủy ban nhân dân xã Th để tranh chấp với Ông Ph. Mặc dù nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời khai nói trên, nhưng lời khai này phù hợp với các tình tiết có tại hồ sơ vụ án. Theo đó, Ủy ban xã Th đã lập “Biên bản về việc giải quyết theo đơn của bà Trần Thị L1” ngày 15/6/2001. Tại biên bản bày, một lần nữa ông Nguyễn Văn Ph lại thỏa thuận thửa đất số 83 cụ L1 quản lý, tạm giao cho ông Ph canh tác, ông Ph không được mua bán, sang nhượng nếu không có sự đồng ý của anh chị trong gia đình. Hơn nữa, nếu không có nội dung thỏa thuận nói trên, thì trước khi chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc Q, ông Ph không cần phải thông báo cho các anh em trong gia đình và cũng không cần phải chia số tiền nhận chuyển nhượng cho họ như ��ng Ph đã trình bày tại “Biên bản làm việc” ngày 12/4/2017 của Ủy ban nhân dân xã Th như đã trích dẫn nói trên. Theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”. Căn cứ quy định nói trên, thì di sản của cụ C đã được những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C thỏa thuận và trở thành tài sản chung của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C gồm: Cụ Trần Thị L1 và 05 người con của cụ C là các ông, bà Nguyễn Hữu Ph1, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Ngọc H2 (Nguyen Ngoc H2), Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Thị Thúy H. Mỗi người thừa kế được hưởng 1/12 đối với phần di sản do cụ C để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng cụ C và cụ L1 là quyền sử dụng đất diện tích đất 1.890,3m2, mục đích sử dụng đất: Lm (lúa, màu), thuộc thửa 83-1, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H. Các đương sự cùng xác nhận, cha mẹ của cụ C đã chết trước cụ C, cụ C không có con riêng, không có con nuôi và không để lại nghĩa vụ tài sản với ai. Ngày 24/11/2017, cụ Trần Thị L1 chết và không để lại di chúc định đoạt đối với di sản của cụ L1 là 1⁄2 quyền sử dụng đất diện tích 1.890,3m2, mục đích sử dụng đất: lúa, màu, thuộc thửa 83-1 nói trên. Các đương sự cùng xác nhận, cha mẹ của cụ L1 đã chết trước cụ L1, cụ L1 không có con riêng, không có con nuôi và không để lại nghĩa vụ tài sản với ai. Vì vậy, di sản này của cụ L1 được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ L1 gồm các ông, bà: S, Ph, H, Ph1, H2 theo quy định tại các điều 649, 650, 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Di sản của cụ L1 là 7/12 giá trị đất (6/12 giá trị đất là tài sản của cụ L1 và 1/12 giá trị đất cụ L1 được hưởng từ di sản của cụ C) được chia cho 05 người con của cụ L1, mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau. Như vậy, các ông, bà: S, Ph, H, Ph1, H2 mỗi người được nhận 1/5 giá trị quyền sử dụng diện tích đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng đất lúa màu), thuộc thửa 83-1, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H. [2.1.1.6] Về giá trị quyền sử dụng đất. Các bên đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng thống nhất theo giá đã thẩm định tại Chứng thư thẩm định giá số: 190220.CTHCM ngày 08/5/2020 của của Công ty Cổ phần Thẩm định giá T. Theo đó tổng giá trị quyền sử dụng đất 1.893m2, thửa 83, tờ bản đồ 28 (TL1995) có giá trị là: - Giá trị quyền sử dụng đất lúa màu là: 6.929.000.000 đồng. Trong đó, quyền sử dụng đất không vi phạm lộ giới là: 1.608,5m2 có đơn giá 4.272.306 đồng/m2, thành tiền là: 6.872.003.498 đồng; Quyền sử dụng đất vi phạm lộ giới được công nhận là: 284,5m2 có đơn giá 200.000 đồng m2, thành tiền là: 56.900.000 đồng - Giá trị quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm là: 8.052.000.000 đồng. Trong đó, quyền sử dụng đất không vi phạm lộ giới là: 1.608,5m2 có đơn giá 4.963.583 đồng/m2, thành tiền là: 7.983.923.936 đồng; Quyền sử dụng đất vi phạm lộ giới được công nhận là: 284,5m2 có đơn giá 240.000 đồng m2, thành tiền là: 68.280.000 đồng. Theo Bảng thống kê diện tích của Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh ngày 07/5/2019, thì diện tích đất vi phạm lộ giới được công nhận 284,5m2 thuộc vị trí số 2 trên hiện trạng tỷ lệ 1/500; Phần đất 2,7m2 thuộc vị trí số 4 trên hiện trạng tỷ lệ 1/500, diện tích này không vi phạm lộ giới. Các đương sự chỉ tranh chấp diện tích đất 1.890,3m2, không tranh chấp diện tích 2,7m2. Như vậy, trong diện tích 1.890,3m2 có 284,5m2 vi phạm lộ giới được công nhận và 1.605,8m2 không vi phạm lộ giới. Căn cứ đơn giá tại chứng thư thẩm định nói trên, thì giá trị quyền sử dụng đất được xác định lại là: - Giá trị quyền sử dụng đất lúa màu là: 6.917.368.974 đồng, trong đó: Quyền sử dụng đất không vi phạm lộ giới: 1.605,8m2 x 4.272.306 đồng/m2 = 6.860.468.974 đồng; Quyền sử dụng đất vi phạm lộ giới được công nhận: 284,5m2 x 200.000 đồng m2 = 56.900.000 đồng - Giá trị quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm là: 8.038.801.581 đồng, trong đó: Quyền sử dụng đất không vi phạm lộ giới: 1.605,8m2 x 4.963.583 đồng/m2 = 7.970.521.581 đồng; Quyền sử dụng đất vi phạm lộ giới được công nhận: 284,5m2 x 240.000 đồng/m2 = 68.280.000 đồng. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 là diện tích đất 1.890,3m2 (đất lúa màu), có trị giá là: 6.917.368.974 đồng, các ông/bà: S, Ph, Ph1, H, H2 mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau tương đương với 1/5 giá trị di sản, thành tiền là: 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Tuy nhiên, các đương sự không ai yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật, di sản thừa kế cũng không thể chia đều bằng hiện vật, nên di sản được bán để chia theo quy định tại khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, sau khi bán đấu giá tài sản, số tiền thu được trừ các chi phí bán đấu giá và các chi phí liên quan khác sẽ được chia cho 05 người thừa kế, mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau tương ứng với 1/5 số tiền còn lại. Từ các phân tích nói trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận diện tích đất 1.890,3m2 (mục đích sử dụng đất lúa màu) nói trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1; Chia tài sản chung di sản của cụ C và chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ L1, mỗi người thừa kế được nhận 1/5 giá trị di sản tại thời điểm thi hành án. [2.1.2] Đối với yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q về việc chuyển nhượng thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H; Hủy bỏ nội dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016 trên trang số 4 Giấy chứng nhận số 117/1998QSDĐ ngày 29/6/1998. Ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ (Thành phố H), ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (số công chứng 003569, Quyển số 02) để chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc Q thửa đất số số 83 (đất trồng cây lâu năm), tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H. Xét, tại thời điểm ký kết hợp đồng, ông Nguyễn Văn Ph đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký kết hợp đồng; hợp đồng đã được Văn phòng Công chứng Đ công chứng ngày 11/4/2016. Văn phòng Công chứng Đ có văn bản trình bày và xác định việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng giao dịch, đã tận tình giải thích lại toàn bộ nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật các bên khi tham gia ký kết hợp đồng. Các bên tham gia đã ký vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên, việc ký kết của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối hay giả tạo. Hồ sơ gửi đính kèm cũng thể hiện Văn phòng Công chứng Đ đã tra cứu trên cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp, nhưng không tìm thấy thông tin ngăn chặn của thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, xã Th, huyện H, Thành phố H. Tại phiên tòa, Luật sư của nguyên đơn cho rằng, việc bị đơn chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Ngọc Q khi đang có tranh chấp là không có căn cứ, bởi lẽ: Tại Công văn số 1405/UBND ngày 15/8/2017 của Ủy ban nhân dân xã Th, thể hiện ngày 08/3/2016 Ủy ban nhân dân xã này có nhận đơn của ông S, bà H, ông Ph1 đề nghị ngăn chặn việc ông Ph chuyển nhượng thửa đất số 83. Công chức tư pháp – hộ tịch xã không nhận đơn do không thuộc thẩm quyền và đã giải thích, hướng dẫn cho đương sự khởi kiện đến Tòa án, nhưng ông S, bà H và ông Ph1 đã không khởi kiện. Tuy nhiên, như đã phân tích ở mục [2.1.1], thì quyền sử dụng đất này đứng tên ông Nguyễn Văn Ph, nhưng có nguồn gốc do cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 tạo lập. Sau khi cụ Nguyễn Văn C chết, cụ L1 và các con đã lập “Tờ thỏa thuận” ngày 11/10/1999 thống nhất giao đất cho ông Nguyễn Văn Ph gìn giữ để hương quả ông bà, nếu muốn bán anh em phải thỏa thuận lại. Thỏa thuận này đã được nhắc lại tại “Biên bản về việc giải quyết theo đơn của bà Trần Thị L1” do Ủy ban nhân dân xã Th lập ngày 15/6/2001. Như vậy, các đồng thừa kế đã xác định thửa đất số 83 (đất lúa màu) là tài sản của cụ C và cụ L1, cụ C chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ C là 1⁄2 giá trị quyền sử dụng đất thửa số 83 trở thành tài sản chung của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Tại phiên tòa, bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q cùng xác định, khi chuyển nhượng đất bị đơn không báo cho ông Q biết về các thỏa thuận nói trên giữa ông Nguyễn Văn Ph và các đồng thừa kế khác của cụ Nguyễn Văn C. Hơn nữa, theo sự thừa nhận của bị đơn và ông Nguyễn Ngọc Q cùng các chứng cứ ông Q cung cấp, thì bị đơn chuyển nhượng thửa đất số 83 cho ông Q với giá 4.500.000.000 đồng, nhưng hợp đồng công chứng ghi giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng, nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và hủy phần cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên trang 4 giấy chứng nhận là có căn cứ chấp nhận. [2.1.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1, thấy rằng: Ngày 27/03/2017, ông Nguyễn Ngọc Q lập “Hợp đồng đặt cọc đất” (giấy tay, không có công chứng, không có chứng thực) với nội dung: Ông Nguyễn Ngọc Q chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh Đ1 thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28, xã Th, Hóc Môn, diện tích 1.893m2 với giá 28.500.000.000 đồng. Nay ông Q nhận tiền đặt cọc của ông Đ1 số tiền là 25.000.000.000 đồng, phần còn lại 3.500.000.000 đồng ông Đ1 sẽ thanh toán hết khi ông Q hoàn thành việc chuyển mục đích sang đất ở và lập hợp đồng công chứng đúng quy định. Ông Q cam kết phần đất này do ông sử dụng hợp pháp, không tranh chấp, ranh thửa đúng thực tế. Nếu ông Q không thực hiện đúng việc chuyển mục đích sử dụng sang đất ở được, đất có tranh chấp, ranh thửa không đúng với giấy chưng nhận thì ông tôi phải bồi thường gấp đôi số tiền tôi đã đặt cọc là 50.000.000.000 đồng. Ông Đ1 cam kết giao đủ tiền khi ông tôi khi hoàn thành việc chuyển mục đích sang đất ở và lập hợp đồng công chứng theo quy định. Nếu ông Đ1 không thực hiện đúng thì xem như mất cọc 25.000.000.000 đồng. Xét, như đã phân tích tại mục [2.1.2], Hội đồng xét xử có căn cứ hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q, hủy phần cập nhật tên ông Q trên giấy chứng nhận. Vì vậy, cần thiết phải hủy hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q với ông Nguyễn Mạnh Đ1. Mặt khác, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 ký hợp đồng với số tiền đặt cọc lớn (25.000.000.000 đồng), nhưng hợp đồng được lập sơ sài, không rõ quyền và trách nhiệm của từng bên trong hợp đồng, không có biên nhận nhận tiền đặt cọc. Tòa án đã nhiều lần lập biên bản giải thích cho ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 biết về việc làm đơn yêu cầu độc lập để giải quyết đối với hợp đồng đặt cọc giữa hai bên, nhưng các đương sự vẫn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét hậu quả pháp lý là số tiền đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q với ông Nguyễn Mạnh Đ1; Các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án khác theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc Q khai rằng trước đây ông đã giao đất cho ông Nguyễn Mạnh Đ1, nhưng do chưa chuyển được đích sang đất thổ cư nên ông Đ1 đã giao lại đất cho ông quản lý, nhưng ông Q không cung cấp được biên nhận về việc giao nhận đất giữa hai bên. Vì vậy, ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao đất lại cho các đồng thừa kế của cụ C và cụ L1 để thi hành án theo quy định của pháp luật. [2.2] Xét ý kiến của bị đơn về việc, trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, thì bị đơn yêu cầu xem xét giải quyết công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Ý kiến này của bị đơn có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ: Theo Quyết định số 1083/QĐ-UBND ngày 29/02/2016 của Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H, thì ông Nguyễn Văn Ph được chuyển mục đích sử dụng đất thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 28 (tài liệu năm 1995) xã Th, diện tích 1.893m2, mục đích sử dụng đất trồng lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Ông Nguyễn Văn Ph đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế chuyển mục đích sử dụng đất theo Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số 3648/2016/TB-CCT ngày 08/3/2016 của Chi cục Thuế huyện H. Căn cứ công văn số 429/CCT-TBạ ngày 23/3/2020 của Chi cục Thuế huyện H, thì ông Nguyễn Văn Ph là người nộp thuế chuyển mục đích sử dụng 1.893m2 đất, thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 xã Th từ đất trồng lúa màu sang đất trồng cây lâu năm. Như vậy, việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất trồng cây lâu năm là do ông Nguyễn Văn Ph thực hiện; công sức của ông Ph trong việc làm tăng giá trị đất được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S và các ông bà Nguyễn Hữu Ph1, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Thị Thúy H chỉ yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng đất với mục đích sử dụng là đất lúa màu; đồng thời đồng ý giá trị chênh lệch giữa đất lúa màu và đất trồng cây lâu năm là công sức đóng góp của ông Nguyễn Văn Ph, nên ghi nhận. Vì vậy, số tiền thu được từ việc bán di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 sau khi trừ các chi phí liên quan, thì số tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất giữa đất trồng lúa màu và đất trồng cây lâu năm, ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr được nhận. [2.3] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Q. [2.3.1] Yêu cầu công nhận việc cấp Giấy chứng nhận số 117/1998/QSDĐ, Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph là đúng. Như đã phân tích tại mục [2.1], thì thửa đất số 83 được cấp cho ông Nguyễn Văn Ph. Ủy ban nhân dân huyện H trình bày và xác nhận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Ph và chuyển mục đích sử dụng đất sang đất trồng cây lâu năm là đúng trình tự thủ tục quy định. Vì vậy, yêu cầu này của ông Nguyễn Ngọc Q là có căn cứ chấp nhận. [2.3.2] Yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003569, Quyển 2 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q đối với thửa đất số 83 (đất trồng cây lâu năm), tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H; Giữ nguyên phần cập nhật tên ông Q trên giấy chứng nhận. Như đã nêu tại mục [2.1.2], quyền sử dụng đất này đứng tên ông Nguyễn Văn Ph, nhưng các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C đã thỏa thuận di sản của cụ C là 1⁄2 giá trị quyền sử dụng đất thửa số 83 trở thành tài sản chung của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Khi chuyển nhượng, bị đơn không thông báo thỏa thuận này cho ông Nguyễn Ngọc Q, hai bên ghi giá chuyển nhượng trong hợp đồng công chứng không đúng với giá chuyển nhượng thực tế nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu nói trên của ông Nguyễn Ngọc Q. Xét, bị đơn ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr không thông báo cho ông Nguyễn Ngọc Q biết về “Tờ thỏa thuận” ngày 11/10/1999 của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C gồm: Cụ Trần Thị L1 và các ông bà: S, Ph, Ph1, H, H2, về di sản thừa kế của cụ C trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Lỗi làm cho hợp đồng bị hủy bỏ là của bị đơn ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr. Vì vậy, ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải trả cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền chuyển nhượng đã nhận là 4.500.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá giữa giá chuyển nhượng ban đầu (là 4.500.000.000 đồng) so với giá trị đất (đất trồng cây lâu năm) tại thời điểm thi hành án. Do đó, ông Q yêu cầu bị đơn phải trả lại và bồi thường cho ông giá trị quyền sử dụng đất (đất trồng cây lâu năm) đối với diện tích đất 1.890,3m2 thuộc thửa 83-1, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H theo giá trị tại thời điểm thi hành án, là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Ngọc Q phải giao đất lại cho các đồng thừa kế của cụ C và cụ L1 để thi hành án theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr (có ông Hoàng Xuân Đ đại diện) và ông Nguyễn Ngọc Q không yêu cầu Tòa án giải quyết tiền đóng thuế chuyển mục đích sử dụng đất, phí công chứng, thuế trước bạ và các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên, nên không xem xét. Các ông bà Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các chi phí như viện phí, tiền thuốc, tang lễ, cúng giỗ,... của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1, nên không xem xét. [3] Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Ngày 31/7/2018, ông Nguyễn Thanh S có yêu cầu Tòa án ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” là phần đất thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL 1995) tại ấp T, xã Th, huyện H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998 QSDĐ Quyển 02 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998, đã được cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Ngọc Q ngày 07/6/2016. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này cho đến khi thi hành án xong; Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 192/2018/QĐ- BPBĐ ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H. Ông Nguyễn Thanh S được nhận lại số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng đã nộp theo quyết định này và Văn bản số 68/DAB-Q01 ngày 31/7/2018 của Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quận 1, Thành phố H ngay sau khi bản án có hiệu lực. [4] Về chi phí tố tụng. Ông Nguyễn Thanh S đã nộp tạm ứng tổng số tiền: 62.939.092 đồng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng; Chi phí đo vẽ 22.939.092 đồng; Chi phí thẩm định giá: 35.000.000 đồng). Các đương sự yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 được chia cho những người thừa kế, mỗi người nhận một kỷ phần bằng nhau, nên mỗi người phải chịu 1/5 chi phí tố tụng. Ông Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Thị Thúy H mỗi người có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Ph số tiền (được làm tròn) là: 12.587.000 đồng. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí tính trên diện tích đất tranh chấp là 1.890,3m2, đơn giá đất theo Chứng thư Thẩm định giá số 190220.CTPHCM ngày 08/5/2020 của Công ty Cổ phần Thẩm định giá Thành Đô, cụ thể: - Giá trị quyền sử dụng đất lúa màu là: 6.917.368.974 đồng; - Giá trị quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm là: 8.038.801.581đồng 5.1. Ông Nguyễn Thanh S phải nộp tổng cộng: 53.804.213 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc yêu cầu công nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Ph là đúng; - Án phí phải nộp tính trên kỷ phần thừa kế mà ông S được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí được tính: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. Do ông Nguyễn Thanh S (sinh năm 1962) là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông S. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 12.000.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2017/0044567 ngày 17/5/2018 và 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0045661 ngày 17/02/2020 cùng của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H. 5.2. Ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải nộp tổng cộng là: 162.281.779 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy bỏ nộp dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chấp nhận; - Số tiền được nhận do có công sức làm tăng giá trị đất, chênh lệch giá từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm: 8.038.801.581đồng-6.917.368.974 đồng = 1.121.432.607 đồng. Án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 321.432.607 đồng) = 45.642.978 đồng. - Án phí tính trên số tiền phải trả cho ông Nguyễn Ngọc Q là 8.038.801.581 đồng. Án phí được tính: 112.000.000 đồng + (0,1% x 4.038.801.581 đồng) = 116.038.801 đồng. 5.3. Ông Nguyễn Văn Ph phải nộp tổng cộng: 53.804.213 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao đất tranh chấp cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 để thi hành án, được chấp nhận; - Án phí phải nộp tính trên kỷ phần thừa kế mà ông Ph được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí được tính: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. 5.4. Bà Nguyễn Thị Thúy H, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2) và ông Nguyễn Hữu Ph1 mỗi người phải nộp án phí tính trên kỷ phần thừa kế mà Ông Ph được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. Ông Nguyễn Hữu Ph1 (sinh năm 1959) là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ph1. 5.5. Ông Nguyễn Ngọc Q phải nộp tổng cộng 1.200.000 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1, được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao đất tranh chấp cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 để thi hành án, được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q không được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập về việc giữ nguyên nội dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0045044 ngày 27/11/2019 và 58.326.000 đồng Biên lai thu số: AA/2021/0001564 ngày 20/01/2022 cùng của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu và đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận ý kiến của bị đơn về việc đề nghị được hưởng chênh lệch giá giữa đất lúa màu và đất trồng cây l��u năm, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc công nhận việc cấp đất cho ông Ph là đúng, yêu cầu bị đơn trả giá trị đất tại thời điểm thi hành án; không chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Q và bị đơn, giữ nguyên nội dung cập nhật; Duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ông Nguyễn Thanh S được nhận lại số tiền bản đảm đã nộp. Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật như đã phân tích nên chấp nhận." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số: 398/2023/DS-ST Ngày: 30/3/2023 Vv: Tranh chấp thừa kế, chia tài sản chung; Yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ/công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy bỏ/công nhận nội dung cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.", + "answer": "Áp dụng khoản 1 Điều 5, Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 273 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Khoản 4 Điều 424 và Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Áp dụng Điều 328, 357, Khoản 2 Điều 468 và các điều 649, 650, 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Luật Đất đai năm 1993; Áp dụng Điều 2 của Luật Người cao tuổi; Áp dụng điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; 29 Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 và khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S về việc: Xin hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998/QSDĐ, Quyển số 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph; Phần diện tích đất 2,7m2 (số thứ tự thứ 4 Bảng thống kê diện tích trên Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ lập ngày 07/5/2019), thuộc một phần thửa 83, Tờ bản đồ số 28 (TL 1995), tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H. 2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S. 2.1. Hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số 003569 quyển 2 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ (Thành phố H) giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q đối với thửa đất số 83, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H. 2.2. Hủy nội dung cập nhật đăng ký biến động quyền sử dụng đất (do chuyển nhượng quyền sử dụng đất) tên ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016 tại trang số 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp ngày 29/6/1998; 2.3. Hủy bỏ “Hợp đồng đặt cọc đất” (giấy tay, không có công chứng, không có chứng thực) giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 lập ngày 27/03/2017, về việc đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 83, tờ bản đồ số 28 (TL1995), xã Th, huyện H, Thành phố H. Ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 có quyền khởi kiện tranh chấp số tiền đặt cọc tại “Hợp đồng đặt cọc đất” ngày 27/03/2017 giữa hai bên trong vụ án khác theo quy định của pháp luật. 2.3. Công nhận diện tích đất theo hiện trạng 1.890,3m2 (với mục đích sử dụng là đất lúa màu), thuộc một phần thửa đất số 83 (thửa phân chiết 83-1), tờ bản đồ số 28 (tài liệu năm 1995) tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H (Bản đồ hiện trạng vị trí - Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/5/2019) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998 QSDĐ/Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998 (cập nhật chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm ngày 02/3/2016, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Q ngày 06/7/2016), là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1; Mỗi cụ có quyền sử dụng 1⁄2 diện tích đất 1.890,3m2 nói trên. 2.3.1. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C gồm có: Cụ Trần Thị L1 (vợ) và các con của cụ C gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, 30 bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Thị L1 gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph. 2.3.2. Chia tài sản chung di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ Trần Thị L1 là diện tích đất theo hiện trạng 1.890,3m2 (với mục đích sử dụng là đất lúa màu), thuộc một phần thửa đất số 83 (thửa phân chiết 83-1), tờ bản đồ số 28 (tài liệu năm 1995) tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H nêu tại Mục [1.5] cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph; Mỗi người thừa kế được nhận một kỷ phần thừa kế tương đương 1/5 giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thi hành án. 2.3.3. Xác định phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất diện tích 1.890,3m2 nêu tại Mục [2.3] giữa đất lúa màu và đất trồng cây lâu năm là công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr. 2.3.4. Buộc ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng 1.890,3m2 nêu tại Mục [2.3] và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998 QSDĐ/Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998 (cập nhật chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm ngày 02/3/2016, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Q ngày 06/7/2016) cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph để thi hành án theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được từ việc bán di sản thừa kế, sau khi trừ chi phí liên quan sẽ được chia như sau: Chia giá trị quyền sử dụng đất với mục đích sử dụng là đất lúa màu cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 gồm: Ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn Ph; Mỗi người thừa kế được nhận một kỷ phần thừa kế tương đương 1/5 giá trị quyền sử dụng đất; Ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr được nhận số tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất giữa đất lúa màu và đất trồng cây lâu năm. 3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), cụ thể: 3.1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc công nhận việc cấp Giấy chứng nhận số 117/1998/QSDĐ, Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Ph, là đúng; 3.2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q (người có quyền, nghĩa vụ liên quan) về việc: 31 - Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003569, Quyển 2 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 11/4/2016 tại Văn phòng Công chứng Đ giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc Q đối với thửa đất số 83, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã Th, huyện H, Thành phố H; - Giữ nguyên phần cập nhật trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G947415 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận 117/1998 – QSDĐ/Quyển 2) do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998, đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Ngọc Q ngày 06/7/2016. 3.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc: Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì ông yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải trả cho ông giá trị quyền sử dụng đất theo hiện trạng diện tích 1.890,3m2 (với mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm), thuộc một phần thửa đất số 83 (thửa phân chiết 83-1), tờ bản đồ số 28 (tài liệu năm 1995) tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H (Bản đồ hiện trạng vị trí - Áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/5/2019) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 117/1998 QSDĐ/Quyển 2 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Ph ngày 29/6/1998 (cập nhật chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm ngày 02/3/2016, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Q ngày 06/7/2016), tại thời điểm thi hành án. Buộc ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải trả cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền chuyển nhượng đã nhận là 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng và bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá giữa giá chuyển nhượng ban đầu (là 4.500.000.000 đồng) so với giá trị đất (đất trồng cây lâu năm) tại thời điểm thi hành án tính trên diện tích đất 1.890,3m2 thuộc một phần thửa đất số 83 (thửa phân chiết 83-1), tờ bản đồ số 28 (tài liệu năm 1995) tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện H, Thành phố H. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (riêng khoản tiền bồi thường thiệt hại, thời hạn tính lãi chậm trả nêu trên được tính kể từ ngày xác định được giá trị chênh lệch giữa giá chuyển nhượng ban đầu (là 4.500.000.000 đồng) với giá trị đất (đất trồng cây lâu năm) tại thời điểm thi hành án). 4. Ghi nhận sự tự nguyện của các ông, bà: Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu Ph1, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các chi phí như phụng dưỡng, chăm sóc, viện phí, tiền thuốc, tang lễ, cúng giỗ,... cho cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1. 5. Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 197/2018/QĐ-BPKCTT ngày 01/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H cho 32 đến khi thi hành án xong. Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 192/2018/QĐ- BPBĐ ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H. Ông Nguyễn Thanh S được nhận lại số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng đã nộp theo quyết định này và Văn bản số 68/DAB-Q01 ngày 31/7/2018 của Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quận 1, Thành phố H ngay sau khi bản án có hiệu lực. 6. Về chi phí tố tụng. Ông Nguyễn Thanh S đã nộp tạm ứng tổng số tiền: 62.939.092 đồng. Ông Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Hữu Ph1, Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2), Nguyễn Thị Thúy H mỗi người có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Ph số tiền (được làm tròn) là: 12.587.000 đồng. 7. Về án phí dân sự sơ thẩm: 7.1. Ông Nguyễn Thanh S phải nộp tổng cộng: 53.804.213 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc Q về việc yêu cầu công nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Ph là đúng; - Án phí phải nộp tính trên kỷ phần thừa kế mà ông S được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí được tính: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. Do ông Nguyễn Thanh S (sinh năm 1962) là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông S. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 12.000.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2017/0044567 ngày 17/5/2018 và 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0045661 ngày 17/02/2020 cùng của Cục Thi hành án d��n sự Thành phố H. 7.2. Ông Nguyễn Văn Ph và bà Trần Thị Tr phải nộp tổng cộng là: 162.281.779 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy bỏ nộp dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chấp nhận; - Số tiền được nhận do có công sức làm tăng giá trị đất, chênh lệch giá từ đất lúa màu sang đất trồng cây lâu năm: 8.038.801.581đồng-6.917.368.974 đồng = 1.121.432.607 đồng. Án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 321.432.607 đồng) = 45.642.978 đồng. - Án phí tính trên số tiền phải trả cho ông Nguyễn Ngọc Q là 8.038.801.581 đồng. Án phí được tính: 112.000.000 đồng + (0,1% x 33 4.038.801.581 đồng) = 116.038.801 đồng. 7.3. Ông Nguyễn Văn Ph phải nộp tổng cộng: 53.804.213 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao đất tranh chấp cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 để thi hành án, được chấp nhận; - Án phí phải nộp tính trên kỷ phần thừa kế mà ông Ph được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí được tính: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. 7.4. Bà Nguyễn Thị Thúy H, bà Nguyen Ngoc H2 (Nguyễn Ngọc H2) và ông Nguyễn Hữu Ph1 mỗi người phải nộp án phí tính trên kỷ phần thừa kế mà ông Ph được nhận (1/5 giá trị quyền sử dụng đất lúa màu), tương đương số tiền 6.917.368.974 đồng : 5 = 1.383.473.794 đồng. Án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 583.473.794) = 53.504.213 đồng. Ông Nguyễn Hữu Ph1 (sinh năm 1959) là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ph1. 7.5. Ông Nguyễn Ngọc Q phải nộp tổng cộng 1.200.000 đồng, cụ thể: - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1, được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Ph, ông Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải giao đất tranh chấp cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị L1 để thi hành án, được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Ph, bà Trần Thị Tr với ông Nguyễn Ngọc Q không được chấp nhận; - Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do yêu cầu độc lập về việc giữ nguyên nội dung cập nhật tên ông Nguyễn Ngọc Q trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 300.000 đồng theo Biên lai thu số: AA/2019/0045044 ngày 27/11/2019 và 58.326.000 đồng Biên lai thu số: AA/2021/0001564 ngày 20/01/2022 cùng của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H. 7.6. Ông Nguyễn Mạnh Đ1 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Các đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 8. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự (hoặc người đại diện đương sự) có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)." + }, + { + "question": "Tên bản án là gì Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\"." + }, + { + "question": "Hội đồng xét xử gồm những ai Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Hội đồng xét xử phúc thẩm trong vụ án này gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu, Ông Mai Xuân Thành - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. " + }, + { + "question": "Ai là nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Thông tin về nguyên đơn không được cung cấp trong các đoạn văn trích xuất. Do đó, tôi không thể cung cấp thông tin về nguyên đơn trong vụ án này." + }, + { + "question": "Ai là bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Theo đó, bị đơn trong vụ án này là ông K." + }, + { + "question": "Ai là đại diện Viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Theo đoạn văn trích xuất , đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm giải quyết vụ án là Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên. " + }, + { + "question": "Ai là thư ký toà Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Ông Nguyễn Tấn Duy Minh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh" + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của nguyên đơn Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn A trình bày: Cụ Dương Văn R (chết năm 1985) và cụ Phạm Thị C12 (chết năm 2008) có 08 người con gồm các ông, bà: Dương Thị Trúc L, Dương Công K, Dương Thị K2, Dương Thị V1 (bà V1 chết năm 2015, có các con gồm: Nguyễn Thị Tuyết M1, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Chí H, Nguyễn Thiện T5, Nguyễn Thanh Tân), Dương Văn T2, Dương Ngọc T3, Dương Văn K13 (ông K13 chết năm 1981, có 02 người con gồm Dương Thanh T và Dương Thị Thúy V), Dương Thị Ngọc N4. Sau khi cụ R và cụ C12 qua đời, không để lại di chúc, có để lại 03 thửa đất tọa lạc tại Khu vực T, phường T1, quận T2, thành phố Cần Thơ, hiện nay 03 thửa đất này do ông Dương Công K tự ý kê khai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể như sau: - Thửa đất 1016 diện tích 5.622m2 đất 2L, ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005; - Thửa đất 1017 diện tích 2.840m2, ông K được được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 03614 ngày 16/12/2008; - Thửa đất 2021 diện tích 354m2, tờ bản đồ số 02, ông Dương Công K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00075 ngày 28/01/2005. 3 Theo bà L, trên thửa đất 2021 trước đây có 02 căn nhà, 01 căn do bà K2 xây dụng năm 1993 diện tích khoảng 32m2. Đến năm 2007, vợ chồng bà K2 định cư sang Mỹ nên bà L dọn đến ở căn nhà này theo ý nguyện của mẹ và các anh em, trong đó có bà K2. Do căn nhà nhỏ hẹp và xuống cấp, bà L đã sửa chữa toàn bộ và cơi nới thêm phần phía trước. Năm 2012, do căn nhà nằm trên phần đất của ông K đứng tên nên ông K đã lập thỏa thuận tặng cho bà L toàn bộ nhà và đất để thuận tiện trong việc nhận tiền đề bù (do mở rộng lộ). Việc thỏa thuận có làm Bản thỏa thuận có công chứng tại Văn phòng Công chứng T ngày 31/7/2012. Nay nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, đồng thời đề nghị Tòa án hủy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L yêu cầu chia thừa kế đối với 02 thửa đất 1016 và 1017, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005 và “H” 03614 ngày 16/12/2008; Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 31/7/2012; Không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00075 ngày 28/01/2005. " + }, + { + "question": "Nội dung vụ án theo trình bày của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Bị đơn ông Dương Công K trình bày: Ông thống nhất trình bày của bà L về hàng thừa kế và hiện nay ông đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03 thửa đất như bà L trình bày, cụ thể từng thửa đất như sau: Sau khi cha ông chết, năm 2004 thì cụ C12 và các anh chị em trong gia đình lập thủ tục cho ông được hưởng diện tích 5.776m2 đất. Đối với thửa đất 2021 diện tích 354m2 thì khi cha mẹ ông còn sống đã nói cho ông T một phần, ông T cất nhà ở. Còn diện tích 177,6m2 đất mà bà L đang quản lý, sử dụng thì cha mẹ đã cho bà Dương Thị K2. Năm 2007 khi chuẩn bị đi định cư tại Hoa Kỳ, bà K2 và ông T6 có lập văn bản ủy quyền cho bà L giữ giùm nhà đất, nếu Nhà nước có thu hồi nhà, đất thì bà L nhận tiền bồi hoàn thay, văn bản này có ông K và ông Dương Văn T2 ký tên chứng kiến. Sau đó do không hiểu biết pháp luật nên ông K đã lập Biên bản thỏa thuận ngày 31/7/2012 tặng cho nhà, đất của bà K2 cho bà L. Nay do thái độ cư xử không đúng với anh chị em của bà L nên ông K yêu cầu bà L cùng gia đình giao trả cho ông K phần đất đo đạc thực tế là 177,6m2 đất thuộc thửa 2021, khu vực T 1, phường Thới Thuận, quận Nốt Nốt. Yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy văn bản thỏa thuận ngày 31/7/2012 giữa ông Dương Công K, bà Lê Thị Mỹ D1 với bà Dương Thị Trúc L và ông Dương Thanh T, do có sự nhầm lẫn. Ông Lưu Ngọc T7 đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị K2 và ông Lê Tân Tài trình bày: Vợ chồng bà K2 đi định cư tại Mỹ từ năm 2007, trước khi đi ông bà có quyền sử dụng đất và quyền sử hữu nhà diện tích đất khoảng 175m2 thuộc thửa 2021, tờ bản đồ số 02, khu vực T, phường T, quận T, đất này hiện ông K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đi xuất cảnh, có thông tin nhà đất 4 của ông bà nằm trong quy hoạch để thực hiện dự án mở rộng khu công nghiệp quận T giai đoạn 3, nên ông bà làm giấy ủy quyền ngày 10/01/2007 giao lại cho em gái là Dương Thị Trúc L quản lý giùm đất đai, nhà cửa và vật dụng trong nhà, đồng thời đại diện cho ông bà nhận tiền bồi hoàn của nhà nước. Văn bản ủy quyền có ông Dương Văn T2 và ông Dương Công K làm chứng. Bà Dương Thị V1 trình bày: Lúc cha mẹ bà còn sống khỏe mạnh, trong từng thời điểm khác nhau có chia phần đất ruộng cho tất cả anh chị em mỗi người một phần (sau này đều cải tạo thành đất thổ cư) tại khu vực T, quận T. Riêng ông Dương Văn K13, bà Dương Thị K2 và ông Dương Văn T2 mỗi người một cái nền nhà, cũng tại khu vực T. Năm 1983, bà K2 cất nhà trên mãnh đất này bằng tre lá, đến năm 1995 mới xây nhà tường hoàn chỉnh. Năm 2007 bà K2 đi định cư tại Mỹ cùng chồng. Trước khi đi, bà K2 có làm giấy ủy quyền cho em gái là Dương Thị Trúc L giữ nhà và trông coi tài sản giùm. Bà V1 chết năm 2015, có các con gồm: Nguyễn Thị Tuyết M1, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Chí H, Nguyễn Thiện T5, Nguyễn Thanh Tân. Ông Tâm, bà Mai cho rằng nếu di sản phải chia thừa kế theo pháp luật thì yêu cầu được hưởng một phân. Ông Dương Văn T2 trình bày: Trong vụ kiện này nếu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, phần của ông, ông không nhận, nhường lại cho các đồng thừa kế khác. Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 17/8/2019, ông Dương Ngọc T3 trình bày: Ông yêu cầu được chia di sản thừa kế theo pháp luật là 1/8 giá trị 02 thửa đất 1017 và 1016, có tổng diện tích là 8.816m2 đất. Đối với thửa đất 2021 hiện nay có 02 hộ đang sinh sống là Dương Thanh T và hộ Dương Thị Trúc L, ông nhường quyền thừa kế 1/8 cho 02 hộ, mỗi hộ 1⁄2. Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 17/8/2019, bà Dương Thị Ngọc N4 trình bày: Bà yêu cầu được chia di sản thừa kế theo pháp luật là 1/8 giá trị 02 thửa đất 1017 và 1016, có tổng diện tích là 8.816m2 đất. Đối với thửa đất 2021 hiện nay có 02 hộ đang sinh sống là Dương Thanh T và hộ Dương Thị Trúc L, bà nhường quyền thừa kế 1/8 cho 02 hộ, mỗi hộ 1⁄2. Ông Dương Thanh T trình bày: Ông Dương Văn K13 là cha ông (ông K13 chết năm 1981, có 02 người con gồm Dương Thanh T và Dương Thị Thúy V). Hiện nay ông đang sử dụng diện tích 175m2 đất thuộc thửa 2021, phần đất này có nguồn gốc là của bà nội ông chia cho gia đình ông, có làm “Đơn xác nhận” được Uỷ ban nhân dân xã chứng ngày 16/12/2002. Ông T không yêu câu chia thêm thừa kế bất cứ thửa đất nào, nêu phải chia ông từ chối nhận. Bà Dương Thị Thúy V cho rằng gia đình bà và gia đình các đồng thừa kế khác đã được ông bà nội chia phần nên bà không yêu cầu chia tài sản lần thứ hai. 5" + }, + { + "question": "Lập luận của luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "" + }, + { + "question": "Quyết định của toà sơ thẩm Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2022/DS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Trúc L, ông Dương Ngọc T3, bà Dương Thị Ngọc N4 về việc yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất các thửa đất: - Thửa đất 1016 diện tích 5.622m2 đất LUA, ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005. - Thửa đất 1017 diện tích 2.840m2 đất trồng cây hằng năm, ông K được được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 03614 ngày 16/12/2008. Không chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị Trúc L về việc yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005. Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00075 28/01/2005 của bà Dương Thị Trúc L, vì rút yêu cầu. 2. Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Công K: Buộc bà Dương Thị Trúc L, ông Võ Văn T8 cùng gia đình giao trả cho ông Dương Công K phần đất có diện tích đo đạc thực tế 160,1m2 đất thuộc thửa 2021 tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khu vực T, phường T1, quận T2, thành phố Cần Thơ theo Bản trích do địa chính số 168/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ lập ngày 22/9/2022. Bà Dương Thị Trúc L, ông Võ Văn T8 và gia đình có trách nhiệm bàn giao toàn bộ nhà chính, nhà trước, nhà sau, nhà tiền chế phía trước, nhà tạm phía sau cho ông Dương Công K (loại nhà xác định theo biên bản thâm định tại cho ngày 10/5/2019). Ông Dương Công K có trách nhiệm hoàn trả bà Dương Thị Trúc L số tiền sửa chữa nhà, giá trị nhà bà L xây cất và công sức gìn giữ tài sản, tổng cộng chung là 74.226.964 đồng. Tuyên bố hủy Văn bản thỏa thuận ngày 31/7/2012 giữa ông Dương Công K, bà Lê Thị Mỹ D1 với bà Dương Thị Trúc L và ông Dương Thanh T. Không chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị Trúc L về việc yêu cầu công nhận Văn bản thỏa thuận ngày 31/7/2012. 3. Ông Dương Công K và ông Dương Thanh T được quyền liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận T để nhận 93.400.000 đồng tiền do Nhà nước bồi thưởng, hỗ trợ khi thu hồi một phần thửa đất 2021. 4. Đình chỉ yêu cầu của bà Dương Thị K2, ông Lê Tấn T6, vì rút yêu cầu. 8 Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/10/2022 nguyên đơn bà Dương Thị Trúc L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Ngọc T3 và bà Dương Thị Ngọc N4 kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo, chỉ đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho bà quyền sử dụng đối với diện tích đất 160,1m2 tại thửa 2021. Ông T3 và bà N4 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung đã nêu trong đơn kháng cáo. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Quan điểm của viện kiểm sát Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm giải quyết vụ án: - Về tố tụng: Vụ án từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. - Về nội dung: Các phần đất này không phải di sản của cụ R, cụ C12. Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm." + }, + { + "question": "Nhận định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án. [2] Phần đất tại 03 thửa 1016, 1017, 2021 tọa lạc tại Khu vực T, phường T1, quận T2, thành phố Cần Thơ đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Công K. Nguyên đơn bà Dương Trúc L cho rằng 03 phần đất trên là di sản thừa kế của cha mẹ là cụ Dương Văn R (chết năm 1985) và cụ Phạm Thị C12 (chết năm 2008) để lại, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản trên. [3] Bị đơn ông Dương Công K không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và trình bày: Đối với thửa 2021 có diện tích 354m2 thì khi còn sống cụ R và cụ C12 có cho ông Dương Thanh T và bà Dương Thị K2 để xây dựng nhà ở. Năm 2007 vợ chồng bà K2, ông T6 định cư ở nước ngoài nên đã có văn bản ủy quyền cho bà L quản lý, sử dụng nhà đất nêu trên và nhận tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Ngày 31/7/2012 ông K đã lập biên bản thỏa thuận tặng cho phần nhà, đất của bà K2 cho bà L, nên có yêu cầu phản tố đề nghị hủy biên bản này. [4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Ngọc T3 và bà Dương Thị Ngọc N4 có yêu cầu độc lập đề nghị được nhận giá trị kỷ phần thừa kế đối với thửa 1016 và 1017, đối với thửa 2021 thì ông, bà nhường kỷ phần thừa kế cho ông T và bà L. [5] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: [5.1] Tất cả đương sự trình bày thống nhất về hàng thừa kế của Cụ Dương Văn R (chết năm 1985) và cụ Phạm Thị C12 (chết năm 2008) gồm các ông, bà: Dương Thị Trúc L, Dương Công K, Dương Thị K2, Dương Thị V1 (bà V1 chết năm 2015, có các con gồm: Nguyễn Thị Tuyết M1, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Chí H, Nguyễn Thiện T5, Nguyễn Thanh Tân), Dương Văn T2, Dương Ngọc T3, Dương Văn K13 (ông K13 chết năm 1981 có 02 người con gồm Dương Thanh T và Dương Thị Thúy V), Dương Thị Ngọc N4. [5.2] Về tài sản đang tranh chấp: - Thửa 1017: Theo tờ trình của Uỷ ban nhân dân xã T thì: Trước năm 1975, cụ Phạm Thị C12 (mẹ của ông K) có sử dụng phần đất trồng lúa diện tích 2.840m2 (diện tích đo đạc thực tế là 3.086,3m2). Đến khi thực hiện Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cho nhóm và người lao động nên phần đất của cụ C12 được cắt cấp cho ông Nguyễn Ngọc T14 sử dụng, năm 1990 ông T14 kê khai đứng tên trong số mục kê. Đến năm 1993 ông T14 giao lại cho ông Dương Công K và từ năm 1993 đến nay ông K sử dụng ổn định, không tranh chấp. Vậy, mặc dù nguồn gốc đất là của cụ C12, nhưng cụ C12 đã giao cho Nhà nước theo chính sách đất đai, để Nhà nước giao lại cho người khác. Theo quy định của pháp luật đất đai thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao trong trường hợp này, nên phần đất thửa 1017 không còn thuộc quyền sử dụng của cụ C12. Căn cứ vào quá trình ông K quản lý sử dụng đất từ thời điểm năm 1993 (do ông T14 giao lại) phù hợp với quy định pháp luật, nên Uỷ ban nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K đối với thửa 1017 là có căn cứ. Yêu cầu của bà L, ông T3, bà N4 về việc chia thừa kế đối với thửa đất này là không được chấp nhận. - Thửa 1016: Theo hồ sơ địa chính thể hiện, phần đất tại thửa 1016 được Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000284 ngày 22/8/1996 cho hộ cụ Phạm Thị C12 diện tích 5.622m2, đất 2L, theo đó thì đây là tài sản chung của hộ gia đình cụ C12. Xét, cụ R chết năm 1985, như vậy tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trong thành viên hộ gia đình cụ C12 không có cụ R. Do vậy, phần đất tại thửa 1016 không phải là di sản thừa kế của cụ R. Ngày 15/8/2004, cụ C12, bà Dương Thị V1, bà Dương Thị K2, bà Dương Thị Trúc L, ông Dương Công K, ông Dương Thanh T lập tờ thuận phân chia di sản giao cho ông K hưởng toàn bộ phần đất của cha mẹ và được Uỷ ban nhân dân xã T chứng thực ngày 22/9/2004, trong đó có thửa 1016. Theo nội dung tờ thuận phân chia di sản trên thì cụ C12 đã trao phần tài sản (trong đó có thửa 1016) của cụ cho ông K. Do vậy, Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K đối với thửa đất này là đúng quy định pháp luật. Yêu cầu của bà L, ông T3, bà N4 về việc chia thừa kế đối với thửa 1016 là không có căn cứ chấp nhận vì thửa đất này không phải là di sản của cụ R, còn phần tài sản của cụ C12 đã được cụ định đoạt cho ông K thể hiện trong tờ thuận phân chia di sản năm 2004. - Thửa 2021: Ngày 09/02/2001 Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000832 tại thửa đất số 2021 cho hộ cụ C12. Ngày 28/01/2005 ông K được Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00075 đối với thửa 2021 diện tích 354m2 đất T (diện tích 200m2 nằm trong hành lang ATGT). Xét, như nhận định đối với thửa 1016 thì phần đất này cũng không phải là di sản thừa kế của cụ R. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông K trình bày đối với phần đất tại thửa 2021 thì khi còn sống cụ R và cụ C12 đã cho ông T và bà K2; Ông T2, bà N4 và ông T3 không ký tên vào tờ thuận phân chia di sản năm 2004 nhưng các đương sự không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất này; Theo xác nhận của Công an phường Thới Thuận, quận T thì tại thời điểm hộ cụ C12 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong hộ cụ C12 có các nhân khẩu gồm: cụ Phạm Thị C12, ông Dương Công K, bà Lê Thị Mỹ D1, ông Dương Thanh T, bà Dương Thị Thúy V, bà Lê Hồng Đ sinh năm 1935, anh Dương Nhật Minh sinh năm 1991, chị Dương Nhật Phương - sinh năm 1995 (bà D1, anh Minh và chị Phượng là vợ và 02 con của ông K); Trong đó, bà V và ông T không khiếu nại việc ông K đúng tên giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, chỉ yêu cầu ổn định đất cho ông T; Bà Lê Hồng Đ cho rằng chỉ là người ở nhờ, không có yêu cầu và không có liên quan gì đến phần đất tranh chấp. Từ các chứng cứ trên có cơ sở xác định phần đất tại thửa 2021 đã được thành viên trong hộ cụ C12 và những người thừa kế của cụ C12 công nhận quyền sử dụng cho ông T và bà K2, không T3ộc quyền sử dụng của ông K. Do đó, bản chất của việc ông K kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này là việc đứng tên giùm cho ông T và bà K2. Hiện nay, trên phần đất tại thửa 2021 ông T quản lý sử dụng phần diện tích 175m2, bà L quản lý, sử dụng diện tích đo đạc thực tế là 160,1m2 và tài sản trên đất. Ngày 31/7/2012 ông K lập Văn bản thỏa thuận tặng cho phần nhà, đất trên cho ông T và bà L là không đúng quy định pháp luật. Vì ông K không có quyền sử dụng đất, và tài sản trên đất không phải do ông K tạo lập. Do vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đề nghị hủy Văn bản thỏa thuận này là có căn cứ chấp nhận. Đối với phần nhà, đất mà ông T đang quản lý, sử dụng: Tất cả các bên đương sự đều công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của ông T đối với tài sản trên. Do vậy, ông T có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K đối với thửa 2021 tương ứng với phần diện tích được công nhận khi có yêu cầu. Đối với phần nhà, đất mà bà L đang quản lý sử dụng: Tất cả các đương sự đều trình bày thống nhất phần tài sản này là của bà K2. Năm 2007, trước khi đi định cư tại nước ngoài, vợ chồng bà K2 ông T6 đã lập giấy ủy quyền ngày 10/01/2007 với nội dung: Giao lại cho em gái là Dương Thị Trúc L quản lý giùm đất đai, nhà cửa và vật dụng trong nhà, đồng thời đại diện cho ông bà nhận tiền bồi hoàn của Nhà nước. Văn bản ủy quyền có ông Dương Văn T2 và ông Dương Công K làm chứng. Xét, hiện nay vợ chồng bà K2 đang định cư ở nước ngoài, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng bà K2 đã xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bà L, ông K liên quan đến phần đất trên. Do vậy, căn cứ vào văn bản ủy quyền ngày 10/01/2007 đang có hiệu lực thì bà L được tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất trên. Trường hợp có yêu cầu, thì bà K2 có quyền yêu cầu bà L giao trả lại phần tài sản này và liên hệ cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K đối với thửa 2021 tương ứng với phần diện tích được công nhận. Do ông K được xác định là không có quyền sử dụng đối với thửa đất 2021, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc gia đình bà L phải giao trả nhà, đất cho ông K và ông K có nghĩa vụ hoàn trả giá trị sửa chữa và công sức đóng góp xây dựng nhà cho bà L là không có căn cứ pháp luật. Đối với số tiền bồi thường 93.400.000 đồng do Nhà nước thu hồi một phần thửa 2021, thì ông K được liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận T để nhận (do ông K đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bà K2 và ông T có quyền yêu cầu ông K trả lại số tiền này tương ứng với diện tích mà bà K2, ông T đang quản lý, sử dụng nằm trong diện tích bị thu hồi. [5.3] Hiện nay ông K đang thế chấp 03 thửa đất trên để vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B3, do bên vay chưa vi phạm nghĩa vụ, Ngân hàng không có yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định pháp luật. [6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Sửa một phần bản án sơ thẩm theo nội dung nhận định trên. Lập luận này cũng là cơ sở để không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. [7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [8] Án phí: - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà L yêu cầu chia thừa kế nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí không giá ngạch. Ông T3 sinh năm 1950, bà N4 sinh năm 1957 nên được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. - Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu." + }, + { + "question": "Quyết định của hội đồng xét xử Tên bản án là \"Bản án số 321/2023/DS-PT về tranh chấp thừa kế tài sản\".", + "answer": "QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, I. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị Trúc L; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Ngọc N4 và ông Dương Ngọc T3. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 04/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Áp dụng Điều 166, 220 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 226, 256, 467, 633 636, 688, 692 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 2 Luật đất đai năm 1993, Điều 10 của Luật đất đai 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Trúc L và yêu cầu độc lập của ông Dương Ngọc T3, bà Dương Thị Ngọc N4 về việc: - Chia thừa kế quyền sử dụng đất các thửa đất 1016, 1017 tọa lạc tại Khu vực T, phường T1, quận T2, thành phố Cần Thơ. - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00074 ngày 28/01/2005 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 03614 ngày 16/12/2008 do Uỷ ban nhân dân huyện T đã cấp cho ông Dương Công K. 2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Dương Công K về việc: - Buộc bà Dương Thị Trúc L, ông Võ Văn T8 cùng gia đình giao trả cho ông Dương Công K phần đất có diện tích đo đạc thực tế 160,1m2 đất thuộc thửa 2021 tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khu vực T, phường T1, quận T2, thành phố Cần Thơ theo Bản trích do địa chính số 168/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ lập ngày 22/9/2022. - Buộc bà Dương Thị Trúc L, ông Võ Văn T8 và gia đình có trách nhiệm bàn giao toàn bộ nhà chính, nhà trước, nhà sau, nhà tiền chế phía trước, nhà tạm phía sau cho ông Dương Công K (loại nhà xác định theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2019). 3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Dương Công K: Hủy Văn bản thỏa thuận ngày 31/7/2012 giữa ông Dương Công K, bà Lê Thị Mỹ D1 với bà Dương Thị Trúc L và ông Dương Thanh T được công chứng tại Văn phòng công chứng T (nay là Văn phòng công chứng Đ4). 4. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Dương Thị Trúc L về việc đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00075 ngày 28/11/2005 do Uỷ ban nhân dân huyện T đã cấp cho ông Dương Công K (do đương sự rút yêu cầu). Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Dương Thị K2 và ông Lê Tấn T6 (do đương sự rút yêu cầu). 5. Ông Dương Công K được quyền liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận T để nhận 93.400.000 đồng tiền do Nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi một phần thửa đất 2021 (do là người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bà Dương Thị K2 và ông Dương Thanh T có quyền yêu cầu ông Dương Công K giao lại do Nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi một phần thửa đất 2021 tương ứng với diện tích mà bà K2, ông T đang quản lý, sử dụng nằm trong diện tích đất bị thu hồi. 8. Về án phí dân sự sơ thẩm: - Bà Dương Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000706 ngày 14/8/2014 và 2.500.000 đồng đã nộp số 000984 ngày 11/5/2016 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ; Bà L được nhận lại 10.950.000 đồng tạm ứng án phí còn thừa. - Ông Dương Ngọc T3 được miễn, hoàn trả 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000266 ngày 16/4/2021 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ - Bà Dương Thị Ngọc N4 được miễn, hoàn trả 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000265 ngày 16/4/2021 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. - Ông Dương Công K không phải chịu, hoàn trả 8.750.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000659 ngày 19/5/2014 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. - Ông Lê Tấn T6, bà Dương Thị K2 được nhận lại 8.750.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000611 ngày 27/12/2013 Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. 9. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. II. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị Trúc L, ông Dương Ngọc T3 và bà Dương Thị Ngọc N4 không phải chịu, hoàn trả mỗi đương sự 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0000425, 0000426, 0000427 cùng ngày 31/10/2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. B��n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án." + } +]