============================================================ DATASET: SCHOOLS FROM WIKIPEDIA (FROM EXCEL) ============================================================ === SCHOOL_WIKI === ID: aec93ff9bf73 TITLE: Đại học Thái Nguyên SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%C3%A1i_Nguy%C3%AAn [CONTENT] Đại học Thái Nguyên ( tiếng Anh : Thai Nguyen University – TNU ) là một trong ba hệ thống đại học vùng của Việt Nam , được xếp vào nhóm đại học trọng điểm quốc gia , được đánh giá là một trong 17 trường/nhóm trường đại học tốt nhất tại Việt Nam [ 4 ] và là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam. [ 5 ] Trường được thành lập ngày 4 tháng 4 năm 1994 theo Nghị định số 31/CP của Chính phủ . Ngoài đào tạo, Đại học Thái Nguyên đồng thời là trung tâm nghiên cứu lớn nhất khu vực Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam trên các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật , công nghệ , kinh tế , khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, sư phạm , ngoại ngữ và y học . Ban Giám đốc Giám đốc Phó Giám đốc Các đơn vị giáo dục thành viên 1. Trường Đại học Sư phạm . Địa chỉ: Phường Quang Trung, Thành phố Thái Nguyên. Website: tnue.edu.vn Hiệu trưởng: PGS.TS Mai Xuân Trường. [ 6 ] 2. Trường Đại học Nông Lâm . Địa chỉ: Đường Mỏ Bạch, Thành phố Thái Nguyên. Website: tuaf.edu.vn . Hiệu trưởng: PGS. TS. Nguyễn Hưng Quang. 3. Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp . Địa chỉ: Đường 3 - 2, Phường Tích Lương, Thành phố Thái Nguyên. Website: tnut.edu.vn . Hiệu trưởng: PGS. TS. Đỗ Trung Hải. [ 7 ] 4. Trường Đại học Y - Dược . Địa chỉ: Số 284, Đường Lương Ngọc Quyến. Thành phố Thái Nguyên. Website: tump.edu.vn . Phụ trách trường: PGS. TS. Nguyễn Tiến Dũng. 5. Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh . Địa chỉ: Phường Tân Thịnh, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên. Website: tueba.edu.vn . Hiệu trưởng Nhà trường : PGS. TS. Đinh Hồng Linh. [ 8 ] 6. Trường Đại học Khoa học . Địa chỉ: Xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên. Website: tnus.edu.vn . Hiệu trưởng: PGS. TS. Nguyễn Văn Đăng. [ 9 ] 7. Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông . Địa chỉ: Xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên. Website: ictu.edu.vn . Hiệu trưởng: PGS. TS. Phùng Trung Nghĩa. [ 10 ] 8. Trường Ngoại ngữ. Địa chỉ: Xã Quyết Thắng, TP Thái Nguyên. Website: sfl.tnu.edu.vn . Hiệu trưởng: TS. Lê Hồng Thắng. [ 11 ] 9. Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật. Địa chỉ: Tổ 15, phường Thịnh Đán, TP Thái Nguyên. Website: tec.tnu.edu.vn. Hiệu trưởng: TS. Ngô Xuân Hoàng. 10. Khoa Quốc tế. 11. Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang . 12. Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai. Các đơn vị sự nghiệp phục vụ Tham khảo Liên kết Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: cfdd92458ea6 TITLE: Đại học Huế SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF [CONTENT] Đại học Huế ( tiếng Anh : Hue University ) là một trong ba hệ thống đại học vùng của Việt Nam, nằm trong nhóm đại học trọng điểm quốc gia , có trụ sở tại Huế , được đánh giá là một trong 10 trường/nhóm trường đại học tốt nhất tại Việt Nam , [ 4 ] là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam. [ 5 ] Tiền thân của Đại học Huế là Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957, là đại học đầu tiên và lâu đời nhất khu vực Miền Trung - Tây Nguyên. Có quy mô đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn nhất Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam . Đang hoàn thành đề án Đại học Quốc gia Huế theo Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ chính trị. [ 6 ] Lịch sử Tháng 3 năm 1957 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập Viện Đại học Huế gồm 5 Trường đại học : Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, Hán học, và Khoa học. Trong niên khóa đầu có 358 sinh viên. đến năm 1960 thì sĩ số tăng lên 1431 sinh viên. [ 7 ] Năm 1959 mở thêm chương trình dự bị y khoa. [ 7 ] Tháng 10 năm 1976 trên cơ sở các Trường đại học cũ, 3 trường đại học đã được thành lập ở Huế: Trường Đại học Sư phạm Huế , Trường Đại học Tổng hợp Huế (Hiện nay là Trường Đại học Khoa học Huế ) và Trường Đại học Y khoa Huế . Năm 1983 , ở Huế, Trường Đại học Nông Lâm Huế , nguyên là Trường Đại học Nông nghiệp II từ Hà Bắc chuyển vào. Tháng 4 năm 1994 , theo nghị định 30/CP của chính phủ, Đại học Huế ra đời trên cơ sở sáp nhập trường Đại học Sư phạm Huế - trường Đại học Tổng hợp Huế - trường Đại học Y khoa Huế - trường Đại học Nông Lâm Huế - trường Đại học Nghệ thuật Huế, đánh dấu giai đoạn mới của sự phát triển giáo dục đại học ở Huế. Từ đó đến nay, số lượng sinh viên và ngành nghề đào tạo liên tục phát triển. Đại học Huế đã được nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba (1998), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2002), Huân Chương Độc lập hạng Nhất (2012) và nhiều danh hiệu khác. Nhiệm vụ Chất lượng đào tạo Quy mô đào tạo Hệ thống Đại học Huế là một trong năm trung tâm đại học lớn nhất và đứng thứ hai cả nước về quy mô đào tạo, sau hệ thống đại học quốc gia. [ 10 ] Đại học Huế được thành lập cách đây 68 năm với 8 trường Đại học thành viên, gần 4000 giảng viên, nhân viên và đào đạo gần 90 nghìn sinh viên. Tính đa ngành, đa lĩnh vực trong đào tạo của Đại học Huế được đánh giá rõ nét nhất: 147 ngành đào tạo đại học, 102 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 55 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, nhiều ngành đào tạo song ngữ Việt - Anh, 75 chuyên ngành đào tạo chuyên khoa cấp I, cấp II và bác sĩ nội trú với đầy đủ các lĩnh vực và nhóm ngành: sư phạm, y dược, nghệ thuật, nông-lâm-ngư, ngoại ngữ, kinh tế, luật, du lịch, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, luật, kỹ thuật công nghệ... Hàng năm có trên 70.000 người dự thi vào Đại học Huế. Tuy nhiên, những năm gần đây một số ngành đào tạo truyền thống tuyển sinh không đủ chỉ tiêu như các ngành nông lâm, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật... [ 11 ] ... Để khắc phục tình trạng tuyển sinh, trong năm 2020, Đại học Huế mở nhiều ngành học mới theo xu thế phát triển của xã hội về kỹ thuật, công nghệ cao, y sinh, kinh tế, ngoại giao, Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, Kinh tế quốc tế, Quan hệ quốc tế Khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, Quản trị và phân tích dữ liệu, Hộ sinh, Quản trị du lịch và Công nghệ giải trí. Tái cấu trúc ngành nghề đáp ứng nhu cầu xã hội. Hiện nay, có gần 40.000 sinh viên hệ chính quy, khoảng 20.000 sinh viên hệ không chính quy và hàng chục ngàn sinh viên học theo hình thức đào tạo từ xa. Hàng năm có hơn 10.000 sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp. [ 11 ] Bảng xếp hạng đại học Đại học Huế lần đầu tiên có tên trong bảng xếp hạng đại học thế giới của Times Higher Education năm 2023 với thứ hạng 1501+ [ 12 ] Theo bảng xếp hạng khu vực của Quacquarelli Symonds (QS) năm 2023 thì Đại học Huế nằm trong nhóm 351 - 400 đại học tốt nhất châu Á và thứ 6 của Việt Nam. [ 13 ] Ở bảng xếp hạng Scimago Institutions Rankings năm 2022, Đại học Huế xếp thứ 727 thế giới và 17 Việt Nam [ 14 ] Còn theo bảng xếp hạng Webometrics tháng 7 năm 2022, Đại học Huế đứng thứ 13 tại Việt Nam. [ 15 ] Nghiên cứu khoa học & Bài báo quốc tế Liên tục trong các năm từ 2018 đến 2021, số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học thuộc danh mục WoS Core Collection của Đại học Huế luôn xếp thứ 2 trong các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhân sự Hiện nay, Đại học Huế có hơn 4000 giảng viên và nhân viên. Trong đó 3800 có biên chế và gần 1000 người có hợp đồng lao động; 3000 cán bộ giảng dạy, 328 giáo sư và phó giáo sư , 35 giáo sư danh dự nước ngoài, 900 tiến sĩ , 1.482 thạc sĩ , 1861 giảng viên cao cấp và giảng viên chính, và hơn 75 nhà giáo ưu tú và thầy thuốc ưu tú , 27 chuyên khoa 1,2. Đại học Huế có số lượng giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ hàng đầu khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam Lãnh đạo Hội đồng Đại học Chủ tịch Hội đồng Đại học Ban Giám đốc Phó Giám đốc Phụ trách: TS. Bùi Văn Lợi Phó Giám đốc: Đảng ủy Các đơn vị thành viên Trường đại học thành viên Khoa trực thuộc Đại học Huế Hiện tại, Đại học Huế có 3 khoa trực thuộc là: Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị Viện đào tạo, nghiên cứu trực thuộc Viện nghiên cứu thành viên và đào tạo sau Đại học Trung tâm Các đơn vị phục vụ đào tạo và nghiên cứu Kế hoạch và mục tiêu Xem thêm Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4f149b8414f0 TITLE: Đại học Đà Nẵng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng [CONTENT] Đại học Đà Nẵng ( tiếng Anh : The University of Da Nang – UDN ) [ a ] là một trong ba hệ thống đại học vùng của Việt Nam, có trụ sở chính được đặt tại Đà Nẵng , được thành lập vào ngày 4 tháng 4 năm 1994 theo Nghị định số 32/CP của Chính phủ , được xếp vào nhóm đại học trọng điểm quốc gia , là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam . [ 5 ] [ 6 ] Ngoài đào tạo, Đại học Đà Nẵng đồng thời là trung tâm nghiên cứu của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên trên các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật , công nghệ , kinh tế . Trong đó, các ngành về khoa học kỹ thuật , công nghệ , kinh tế được xem như thế mạnh của Đại học Đà Nẵng , đã có uy tín trong khu vực và cả nước. Theo Chính phủ Việt Nam , dự án quy hoạch Đại học Đà Nẵng là khu chức năng đặc thù, là trung tâm giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực cấp quốc gia và quốc tế. [ 7 ] Vì thế, Đại học Đà Nẵng được quan tâm đầu tư để trở thành Đại học Quốc gia Đà Nẵng, một trong ba trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu cả nước. Lịch sử Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 32/CP ngày 4 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất và tổ chức lại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng : [ 8 ] Trong những năm đầu thành lập, Đại học Đà Nẵng gồm các trường thành viên: Năm 1998, trường Đại học Đại cương giải thể theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam về thay đổi tổ chức các đại học quốc gia, đại học vùng. [ 10 ] Năm 2002, Trường Đại học Ngoại ngữ được thành lập trên cơ sở tách và tổ chức lại 5 khoa ngoại ngữ của Trường Đại học Sư phạm . [ 11 ] [ 12 ] Trong hai năm tiếp theo, Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin được thành lập; Trường Đại học Kỹ thuật và Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh lần lượt được đổi tên thành Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Kinh tế . Năm 2007 và 2008, Phân hiệu của Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum [ 13 ] và Khoa Y Dược trực thuộc Đại học Đà Nẵng được thành lập. [ 14 ] Năm 2014, Đại học Đà Nẵng phối hợp với Hội đồng Anh và Đại học Aston (Vương quốc Anh) tổ chức ra mắt Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt–Anh. [ 15 ] [ 16 ] Cùng năm, Khoa Giáo dục Thể chất và Trung tâm Thể thao được thành lập trên cơ sở Trung tâm Giáo dục Thể chất. Năm 2017, tiếp tục thành lập Khoa Công nghệ và Khoa Công nghệ thông tin và truyền thông. Tháng 12 cùng năm, thành lập Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghệ và Khoa Sư phạm Kỹ thuật thuộc Trường Đại học Bách khoa . [ 17 ] Tháng 1 năm 2020 , thành lập Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt – Hàn trên cơ sở sáp nhập và nâng cấp Khoa Công nghệ thông tin thuộc Đại học Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin thuộc Đại học Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin và Truyền thông Hữu nghị Việt – Hàn thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông và trở thành trường thành viên đầu tiên nằm trong quy hoạch Khu Đô thị Đại học Đà Nẵng. [ 18 ] [ 19 ] Tháng 11 cùng năm, thành lập Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh. Hội đồng Đại học–Ban Giám đốc Đại học Đà Nẵng Chủ tịch Hội đồng Giám đốc Phó Giám đốc Giám đốc Đại học Đà Nẵng qua các thời kỳ Các đơn vị trực thuộc Các trường đại học thành viên Hiện nay, Đại học Đà Nẵng bao gồm 6 trường đại học thành viên là các trường sau: Các trường Các khoa trực thuộc Phân viện Viện nghiên cứu Các trung tâm Các ban Chất lượng đào tạo Cơ sở vật chất Trụ sở Trung tâm điều hành Đại học Đà Nẵng tại số 41 đường Lê Duẩn, phường Hải Châu I , quận Hải Châu , thành phố Đà Nẵng . Các trường, phân hiệu thành viên của Đại học Đà Nẵng được xây dựng trên 7 khuôn viên tại thành phố Đà Nẵng và 1 khuôn viên tại thành phố Kon Tum (tỉnh Kon Tum ) với tổng diện tích mặt bằng hiện nay trên 80 ha, trong đó diện tích trường Đại học Bách khoa (52,96 ha) rộng nhất trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng . Giảng đường của các trường thành viên hiện đủ chỗ học cho hơn 45.000 sinh viên chính quy và hơn 15.000 sinh viên hệ vừa học vừa làm. Số sinh viên không chính quy còn lại học tại các trung tâm đào tạo thường xuyên của các tỉnh, thành phố và các đơn vị đào tạo liên kết. Ngoài ra, Đại học Đà Nẵng còn có trung tâm Y khoa được bố trí tại trung tâm thành phố Đà Nẵng phục vụ cho việc nghiên cứu, thực hành lâm sàng cho sinh viên ngành Y Dược và trung tâm Thể thao & Giáo dục thể chất với cơ sở giảng dạy thể dục – thể thao hiện đại và là nơi tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao. Hệ thống ký túc xá của Đại học Đà Nẵng hiện nay gồm 9 tòa nhà năm tầng, 2 tòa nhà bốn tầng và 3 tòa nhà hai tầng, khang trang và tiện nghi, phần lớn có khu vệ sinh khép kín,... đủ chỗ ở nội trú cho hơn 7.000 sinh viên. Tại các khu ký túc xá của các trường thành viên đều có bố trí các phòng tự học, phòng máy tính, câu lạc bộ, phòng tập, sân tập thể dục thể thao, nhà ăn, quầy giải khát...đáp ứng nhu cầu tự học, sinh hoạt, ăn uống và giải trí của sinh viên. Đội ngũ cán bộ Tính đến năm 2021 , Đại học Đà Nẵng hiện có khoảng 2.470 giảng viên và nhân viên, trong đó cán bộ giảng dạy là 1.545 người, bao gồm: 7 giáo sư và 106 phó giáo sư , 678 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ (trong đó có gần 400 tiến sĩ được đào tạo ở các nước công nghiệp phát triển), 1.142 thạc sĩ. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên chiếm hơn 42.28%, có trường chiếm tỷ lệ cao như Trường Đại học Bách khoa (67.33%), Trường Đại học Sư phạm (50.21%), Trường Đại học Kinh tế (42.96%). Để tăng cường đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ sức đảm đương nhiệm vụ trở thành đại học nghiên cứu trong tương lai, Đại học Đà Nẵng đã tuyển dụng thêm nhiều giảng viên mới và gửi các trường đại học danh tiếng nước ngoài đào tạo sau đại học bằng các nguồn kinh phí khác nhau. Quy mô đào tạo Đại học Đà Nẵng hiện đang đào tạo quy mô hơn 60.000 sinh viên (trong đó gần 55.000 sinh viên chính quy và hơn 1000 học viên cao học, nghiên cứu sinh) [ 37 ] đến từ khắp mọi miền đất nước và 800 lưu học sinh quốc tế theo học với 134 chuyên ngành đại học (kỹ thuật – công nghệ, công nghệ cao, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, kinh tế – quản trị kinh doanh, kinh tế số, thương mại – tài chính, sư phạm, ngoại ngữ, y dược, văn hóa – du lịch, luật, báo chí – truyền thông...) với 46 chương trình đào tạo thạc sĩ, 28 chương trình đào tạo tiến sĩ, trong đó có 40 chương trình đào tạo tiên tiến, chất lượng cao, giữ ổn định quy mô đào tạo 60.000 sinh viên qua các năm để nâng cao chất lượng đào tạo; liên tục tái cấu trúc ngành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội; thường xuyên mở các ngành, chuyên ngành mang tính liên ngành, xuyên ngành giữa các trường thành viên. Đại học Đà Nẵng có 28 chương trình đào tạo được công nhận đạt chuẩn quốc tế (25 chương trình theo tiêu chuẩn AUN–QA của Đông Nam Á và 3 chương trình theo tiêu chuẩn CTI của châu Âu ), xếp thứ ba Việt Nam . [ 38 ] Hàng năm, chỉ tiêu tuyển sinh mới của Đại học Đà Nẵng là trên 14.000 sinh viên hệ chính quy tập trung và trên 12.000 sinh viên thuộc các loại hình đào tạo khác. Trong những năm gần đây, tuyển sinh đầu vào Đại học Đà Nẵng từ nhiều phương thức khác nhau (xét tuyển dựa trên kết quả thi Trung học phổ thông , xét tuyển học bạ, xét tuyển dựa trên kết quả thi đánh giá năng lực...), luôn thuộc top đầu trong hệ thống các đại học lớn, đại học trọng điểm của Việt Nam , đứng đầu khu vực miền Trung– Tây Nguyên cả về số lượng, điểm chuẩn và chất lượng ở tất cả các ngành, lĩnh vực về khoa học kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, sư phạm ngoại ngữ... [ 39 ] Những sinh viên đạt thành tích cao trong học tập sẽ được nhận học bổng của nhà nước Việt Nam và của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế. Mỗi năm có hàng trăm sinh viên xuất sắc được gửi đi đào tạo ở các trường đại học nổi tiếng ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Số lượng thí sinh nhập học vào Đại học Đà Nẵng đa số là các tỉnh, thành miền Trung của Việt Nam , nhiều nhất là Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam , sau đó đến các tỉnh, thành lân cận như Huế , Quảng Trị , Quảng Ngãi , Nghệ An , Hà Tĩnh , Quảng Bình ... Số lượng thí sinh của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam chiếm hơn 50% trên tổng số thí sinh nhập học. [ 40 ] Trường Đại học Bách khoa có sinh viên chủ yếu đến từ thành phố Đà Nẵng , tỉnh Quảng Nam và thành phố Huế . Các trường đại học thành viên còn lại có sinh viên chủ yếu đến từ thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam . Đầu ra và tình hình việc làm Hợp tác đào tạo Đại học Đà Nẵng đã và đang liên kết đào tạo, bồi dưỡng với 40 cơ sở đào tạo trong cả nước, chủ yếu là các tỉnh, thành phố miền Trung , Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long như: trường Đại học Quảng Bình, trường đại học Phạm Văn Đồng, trường Đại học Quy Nhơn, trường Đại học Nha Trang, trường Đại học Đà Lạt, trường Đại học Trà Vinh... Ngoài ra, trường còn liên kết với: Trong khuôn khổ hợp tác song phương, Đại học Đà Nẵng đã và đang đào tạo chương trình đại học và sau đại học cho khoảng 1.000 sinh viên quốc tế của các nước Lào , Trung Quốc , Hàn Quốc , Nhật Bản , Nga , Đức ...và số lượng sinh viên quốc tế đến học tại trường ngày càng tăng nhanh. Công bố quốc tế Việc công bố các bài báo khoa học quốc tế và tăng nhanh số lượng bài báo cáo khoa học đã được Đại học Đà Nẵng chú trọng triển khai thực hiện. Số lượng trích dẫn thống kê đối với 20 tác giả hàng đầu trên Google Scholar của các đại học theo mô hình hai cấp Việt Nam cho thấy Đại học Đà Nẵng đứng thứ ba (8.925 bài) sau Đại học Quốc gia Hà Nội (24.174 bài) và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (13.399 bài). Ngoài ra, Đại học Đà Nẵng đã đưa vào hoạt động Tạp chí Khoa học và Công nghệ dùng để công bố các công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ mới, thông tin những tiến bộ về khoa học và công nghệ trong và ngoài nước phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên. Trong năm 2018, cán bộ Đại học Đà Nẵng đã công bố 134 bài báo thuộc danh mục WoS, 37 bài báo SCOPUS, 185 bài báo tạp chí quốc tế, 592 bài báo tạp chí trong nước và 368 bài báo kỷ yếu hội nghị trong và ngoài nước và có số lượng bài báo khoa học công bố quốc tế năm 2018 tăng nhanh nhất trong cả nước, tăng 35% so với năm 2017 và xếp thứ 4 toàn quốc về số lượng bài báo. Kế hoạch và mục tiêu Mục tiêu và định hướng chiến lược Trong hơn 25 năm qua của Đại học Đà Nẵng và trên 45 năm lịch sử của các trường thành viên, Đại học Đà Nẵng đã cung cấp cho các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên nhiều cử nhân, kỹ sư, cán bộ... và đang nỗ lực không ngừng xây dựng cho mình một học hiệu chất lượng để hướng tới mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu vào năm 2030 , đẩy mạnh tự chủ đại học, đổi mới quản trị đại học theo hướng hiện đại, xây dựng đại học thông minh, phấn đấu là một trong những đại học trọng điểm có uy tín hàng đầu ở Việt Nam , một trong ba trung tâm đại học của cả nước, được xếp hạng cao trong hệ thống giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới, sớm trở thành Đại học Quốc gia của Việt Nam. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2022 , kết luận số 79-KL/TW năm 2024 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , Quy hoạch Quốc gia, chương trình của Thành ủy Đà Nẵng khẳng định chính quyền thành phố Đà Nẵng sẽ tích cực phối hợp cùng với Đại học Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ, thủ tục đầu tư, xây dựng khu đô thị Đại học Đà Nẵng theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt; xúc tiến việc thành lập Trường Đại học Quốc tế thuộc Đại học Đà Nẵng từ Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt – Anh, nâng cấp Trường Y Dược thành Trường Đại học Y Dược thuộc Đại học Đà Nẵng và đề xuất thành lập Đại học Quốc gia Đà Nẵng trên cơ sở sắp xếp lại, đầu tư nâng cấp Đại học Đà Nẵng, các trường đại học trên địa bàn thành phố và địa phương lân cận. [ 41 ] , đưa nội dung này vào Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục Đại học và các cơ sở đào tạo Sư phạm. Hiện nay, đề án phát triển Đại học Đà Nẵng thành Đại học Quốc gia đã được trình lên Chính phủ Việt Nam . Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương thực hiện các chỉ đạo của Phó Thủ tướng để có căn cứ pháp lý xem xét việc chuyển đổi hoặc nâng cấp đại học thành Đại học Quốc gia. [ 42 ] Tự chủ đại học Nhà nước Việt Nam trong những năm qua đã liên tục ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy tự chủ đại học. Tự chủ là xu thế tất yếu, bắt buộc để thúc đẩy phát triển giáo dục đại học, là điều kiện cần thiết để thực hiện đổi mới phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo. Nội dung cốt lõi của tự chủ đại học xoay quanh 3 trụ cột chính đó là: tự chủ về tổ chức, tự chủ về tài chính và tự chủ về học thuật. Đại học Đà Nẵng luôn thúc đẩy tự chủ đại học ở các trường thành viên và các đơn vị trực thuộc. Năm 2017 , Trường Đại học Kinh tế là trường đại học đầu tiên tại thành phố Đà Nẵng , khu vực Miền Trung– Tây Nguyên và là một trong 23 trường đại học trên cả nước chuyển đổi theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong đó có tự chủ tài chính. Năm 2022 , Trường Đại học Bách khoa , Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt – Anh bắt đầu thực hiện tự chủ chi thường xuyên. Thành tích đạt được Khen thưởng Cựu sinh viên tiêu biểu Chú thích Ghi chú Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 099f939f58e6 TITLE: Đại học Cần Thơ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%E1%BA%A7n_Th%C6%A1 [CONTENT] Đại học Cần Thơ ( tiếng Anh : Can Tho University – CTU ) là đại học vùng, đa ngành, giữ vai trò trụ cột trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Trường là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đồng thời là thành viên cốt lõi của Mạng lưới Đại học ASEAN (AUN) với nhiều chương trình đạt chuẩn kiểm định quốc tế AUN-QA. Thành lập năm 1966, theo báo cáo cuối năm 2024, trường hiện có 39.220 người đang theo học tại các hệ đào tạo với 94 chương trình đại học, 56 chương trình thạc sĩ và nhiều chương trình tiến sĩ, tiếp tục đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển đất nước. Lịch sử Từ 1966 đến 1975 Viện Đại học Cần Thơ được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1966 . Trường được thiết kế bởi kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc, cựu Trưởng khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến Trúc . Đây là viện đại học thứ năm của Việt Nam Cộng hòa (bốn viện đại học kia là Viện Đại học Sài Gòn , Viện Đại học Huế , Viện Đại học Đà Lạt , và Viện Đại học Vạn Hạnh ). [ 10 ] Viện Đại học Cần Thơ có bốn phân khoa đại học : Khoa học, Luật khoa và Khoa học Xã hội, Văn khoa và Sư phạm. Sau đó viện đại học này mở thêm phân khoa Canh nông. Ngoài ra, Phân khoa Sư phạm có Trường Trung học Kiểu mẫu. Năm đầu tiên đó có 985 sinh viên ghi danh học với viện trưởng là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ . Viện đại học có ba khuôn viên: trụ sở chính ở Công trường Hòa Bình trong thành phố, một số phân khoa đặt ở Cái Răng và khuôn viên thứ ba ở Cái Khế. Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) cơ sở ở Công trường Hòa Bình gồm thư viện, giảng đường và phòng thí nghiệm khoa học trong thị xã bị quân Mặt trận Giải phóng tiến chiếm. Trong cuộc phản công hai bên đánh nhau gây thiệt hại nặng nề nhưng sau đó được tái thiết. [ 10 ] Từ 1975 đến nay Sau năm 1975: Viện Đại học Cần Thơ được đổi thành Trường Đại học Cần Thơ. Khoa Sư phạm được tách thành Khoa Sư phạm Tự nhiên và Khoa Sư phạm Xã hội đào tạo giáo viên phổ thông trung học gồm Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Văn học, Lịch sử, Địa lý, và Ngoại ngữ. Sau đó mở rộng thành 5 khoa: Toán - Lý (1980), Hóa - Sinh (1980), Sử - Địa (1982), Ngữ văn (1983) và Ngoại ngữ (1983). Trường Cao đẳng Nông nghiệp được đổi tên thành Khoa Nông nghiệp, đào tạo 2 ngành Trồng trọt và Chăn nuôi. Đến năm 1979, Khoa Nông nghiệp được mở rộng thành 7 khoa: Trồng trọt (1977), Chăn nuôi - Thú y (1978), Thủy nông và Cải tạo đất (1978), Cơ khí Nông nghiệp (1978), Chế biến và Bảo quản Nông sản (1978), Kinh tế Nông nghiệp (1979), và Thủy sản (1979). Năm 1978: Khoa đại học Tại chức được thành lập, có nhiệm vụ quản lý và thiết kế chương trình bồi dưỡng và đào tạo giáo viên phổ thông trung học và kỹ sư thực hành chỉ đạo sản xuất cho các tỉnh ĐBSCL. Thời gian đào tạo là 5 năm. Từ năm 1981 do yêu cầu của các địa phương, công tác đào tạo tại chức cần được mở rộng hơn và trường đã liên kết với các tỉnh mở các trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng đại học Tại chức mà tên gọi hiện nay là Trung tâm Giáo dục Thường xuyên: Tiền Giang - Long An - Bến Tre, Vĩnh Long - Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang và Minh Hải. Năm 1987: để phục vụ phát triển kinh tế thị trường phù hợp với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, Khoa Kinh tế Nông nghiệp đã liên kết với Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh mở thêm 4 ngành đào tạo Cử nhân Kinh tế: Kinh tế Tài chính - Tín dụng, Kinh tế Kế toán Tổng hợp, Kinh tế Ngoại thương và Quản trị Kinh doanh. Tương tự, năm 1988, Khoa Thủy nông đã mở thêm hai ngành đào tạo mới là Thủy công và Công thôn đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà cửa và cầu đường nông thôn ở ĐBSCL. Ngoài việc thành lập và phát triển các khoa, Đại học Cần Thơ còn tổ chức các Trung tâm nghiên cứu khoa học nhằm kết hợp có hiệu quả 3 nhiệm vụ Đào tạo - nghiên cứu khoa học - Lao động sản xuất. Từ năm 1985 đến năm 1992 có 7 Trung tâm được thành lập: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (1985), Năng lượng mới (1987), Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác ĐBSCL (1988), Điện tử - Tin học (1990), Nghiên cứu và Phát triển Tôm-Artemia (1991), Ngoại ngữ (1991), Thông tin Khoa học & Công nghệ (1992). Ngày 25/12/2002: Khoa Y- Nha - Dược được tách ra để thành lập Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trực thuộc Bộ Y Tế theo Quyết định số 184/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Phan Văn Khải , số lượng giảng viên lúc này là 167 người (bao gồm 5 Tiến sĩ). [ 11 ] Ngoài việc chú trọng vào đào tạo - giáo dục, Trường Đại học Cần Thơ còn thành lập các Trung tâm Nghiên cứu khoa học để thúc đẩy sự phát triển khoa học của vùng và đất nước, từ năm 1985 đến nay đã có 7 Trung tâm được thành lập: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (1985), Năng lượng mới (1987), Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác ĐBSCL (1988), Điện tử - Tin học (1990), Nghiên cứu và Phát triển Tôm-Artemia (1991), Ngoại ngữ (1991), Thông tin Khoa học & Công nghệ (1992). Tháng 4 năm 2003: Khoa Y- Nha - Dược được tách ra để thành lập Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trực thuộc Bộ Y tế . Tháng 7 năm 2011:thành lập Khoa Phát triển Nông thôn trực thuộc Trường Đại học Cần Thơ tại Khu Hòa An với chức năng quản lý, tổ chức đào tạo chuyên biệt cho vùng nông thôn và thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra góp phần phát triển nông thôn bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long . Tháng 10 năm 2022: trường thành lập Trường Kinh tế , Trường Nông nghiệp , Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông , Khoa Giáo dục thể chất trên cơ sở các khoa và bộ môn cùng tên (riêng trường Bách khoa từ khoa Công nghệ), thành lập Trường Bách khoa trên cơ sở khoa Công nghệ, thành lập Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm trên cơ sở sáp nhập Viện nghiên cứu và phát triển Công nghệ Sinh học và Bộ môn Công nghệ thực phẩm của khoa Nông nghiệp. [ 12 ] [ 13 ] [ 14 ] [ 15 ] [ 16 ] [ 17 ] [ 18 ] [ 19 ] [ 20 ] [ 21 ] [ 22 ] [ 23 ] Trường Thủy sản là trường tiếp theo được thành lập trên cơ sở nâng cấp khoa Thủy sản vào tháng 12 cùng năm. Hiện nay Đại học Cần Thơ có 7 trường (1 trường đào tạo chương trình phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12, 6 trường đào tạo chương trình đại học và sau đại học), 10 khoa và 3 viện. Ngày 15/07/2025: Trường Đại học Cần Thơ chính thức chuyển thành Đại học Cần Thơ theo Quyết định số 1531/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [ 24 ] Hiện nay, trường là thành viên của Hệ thống đại học ASEAN (AUN) Lãnh đạo Đảng ủy Hội đồng trường Ban giám hiệu Lãnh đạo qua các thời kỳ Đơn vị trực thuộc Trường có 7 trường đào tạo, 5 khoa, 2 viện nghiên cứu, 1 cơ sở đào tạo tại Hậu Giang và 1 trường Trung học phổ thông Thực hành sư phạm. Ngoài ra còn một số trung tâm và phòng ban chức năng khác phục vụ việc quản lý và đào tạo. Trong thời gian tới, dự kiến sẽ tiếp nhận quản lý Trường Cao đẳng Luật Miền Nam . Sáp nhập Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu và Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long thành . Tại khu II Đại học Cần Thơ, Ninh Kiều, Cần Thơ (cơ sở đào tạo chính) : Các Trường trực thuộc Các Khoa đào tạo Các Viện, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo Các Trung tâm khác Các đơn vị khác Phân hiệu Sóc Trăng Tại khu I Đại học Cần Thơ, Tân An , Cần Thơ : Tại khu III Đại học Cần Thơ, Ninh Kiều , Cần Thơ : Tại khu Hòa An Đại học Cần Thơ, Hòa An , Cần Thơ : Nghiên cứu khoa học - Hợp tác quốc tế Trường Đại học Cần Thơ đã chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Trường, mở rộng hợp đồng NCKH và chuyển giao tiến độ khoa học và kỹ thuật phục vụ kinh tế xã hội vùng ĐBSCL và trong cả nước, các chương trình nghiên cứu quốc gia có liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước được thực hiện trên nhiều địa bàn ở ĐBSCL và trong cả nước đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao. Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Cần Thơ thực hiện nhiều đề tài/nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hằng năm: [ 33 ] Tạp chí khoa học Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, mã số ISSN: 1859-2333, được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 101/GP-BTTTT, ngày 10 tháng 4 năm 2015, cho phép Tạp chí xuất bản 9 kỳ một năm, trong đó có 3 kỳ xuất bản bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Công bố khoa học Năm 2020, trường có 1.665 công trình nghiên cứu hoặc bài báo khoa học được xuất bản [ 33 ] với 721 công bố trên các tạp chí quốc tế (bao gồm ISI : 260, Scopus : hơn 500), 465 công bố trên các tạp chí trong nước, hơn 150 công bố trên các kỷ yếu hội thảo trong nước và quốc tế (83 công bố trong nước và 80 công bố quốc tế). Thông qua tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ , trường đã công bố hơn 300 công trình (bao gồm 288 công trình trên ấn phẩm tiếng Việt và 28 công trình trên ấn phẩm tiếng Anh). Hợp tác quốc tế Năm 2020, trường Đại học Cần Thơ thực hiện 14 dự án hợp tác quốc tế với nguồn kinh phí đạt xấp xỉ 9,7 tỷ đồng. [ 33 ] Khen thưởng Khuôn viên đào tạo, cơ sở vật chất, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ Tính đến năm 2024, cơ sở vật chất của trường bao gồm [ 33 ] 476 giảng đường, hội trường, phòng học có diện tích 65.672,81m², thư viện (tính cả Trung tâm học liệu) có diện tích 11.871m²., 11 phòng học ngoại ngữ, đa phương tiện, biên dịch với diện tích 650,94m², 183 phòng thí nghiệm, thực hành thí nghiệm, thực hành máy tính, xưởng, trại và bệnh xá thú y với diện tích 76.349,14m², 10.945m² diện tích các phòng làm việc của giáo sư, phó giáo sư và giảng viên cơ hữu. Trường có hơn 60.000m² không gian thể dục thể thao với nhà thể dục thể thao (4.965m²), sân vận động và sân thể dục thể thao (55.879m²). Sinh viên được sinh hoạt nội trú trong các khu ký túc xá của trường với 1.367 phòng có diện tích hơn 75.000m² cùng hệ thống nhà ăn rải rác khắp khuôn viên trường có tổng diện tích hơn 2.300m². Khuôn viên trường được phân tán tại nhiều địa điểm với cơ sở chính đặt tại khu II, đường 3 tháng 2, quận Ninh Kiều, Cần Thơ. Các cơ sở khác phục vụ cho một hoặc một số chức năng đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh hoặc chuyển giao công nghệ. Thành tích Năm 2025, Tổ chức Quacquarelli Symonds (QS) của Anh đã công bố bảng xếp hạng các đại học tốt nhất thế giới theo nhóm ngành (World University Rankings by Subject), trong đó Trường Đại học Cần Thơ tiếp tục khẳng định vị thế khi nằm trong tốp 351-400 thế giới nhóm ngành đào tạo Nông - Lâm nghiệp. [ 44 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: db352c0d5fbd TITLE: Đại học Bách khoa Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%C3%A1ch_khoa_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Đại học Bách khoa Hà Nội ( tiếng Anh : Hanoi University of Science and Technology , HUST ) là đại học theo lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ có trụ sở tại Hà Nội , Việt Nam . Tiền thân của Đại học Bách khoa Hà Nội vốn là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập vào ngày 6 tháng 3 năm 1956. Ngày 5 tháng 12 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1512/QĐ-TTg về việc chuyển Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành Đại học Bách khoa Hà Nội, đưa Bách khoa Hà Nội trở thành đại học đa thành viên thứ 6 của Việt Nam. Đại học Bách khoa Hà Nội là thành viên của Hiệp hội các đại học kỹ thuật hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương (AOTULE; Asia–Oceania Top University League on Engineering ). Trong quá trình hoạt động, đơn vị từng được truyền thông và công chúng chú ý qua một số sự việc tranh cãi liên quan đến công tác quản lý và vận hành bên cạnh những đóng góp trong giáo dục và nghiên cứu khoa học. Lịch sử Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 147/NĐ ngày 6-3-1956 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký. Đây là trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Việt Nam có nhiệm vụ đào tạo kỹ sư công nghiệp cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Việt Nam. Với 60 năm xây dựng và phát triển, Đại học Bách khoa Hà Nội đã trải qua các giai đoạn: 1956–2021: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Trong giai đoạn này các thế hệ cán bộ và sinh viên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trải qua chặng đường đầu tiên với muôn vàn khó khăn, thách thức. Trường đã bắt đầu gần như từ không đến có để trở thành một trường đại học kỹ thuật công nghiệp tương đối hoàn chỉnh. Ngày 15-10-1956 trường đã chính thức làm Lễ khai giảng khóa học chính quy đầu tiên cho gần 1000 sinh viên thuộc 14 chuyên ngành của 4 Liên khoa Cơ – Điện, Mỏ – Luyện kim, Hóa – Thực phẩm và Xây dựng.Trong giai đoạn này đã đào tạo khoảng 4000 kỹ sư công nghiệp hệ chính quy, thực hiện hơn 100 đề tài nghiên cứu khoa học và hợp đồng kinh tế, kỹ thuật. Trong giai đoạn này Trường đã không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng toàn diện để tham gia xây dựng CNXH trước mắt và lâu dài. Gắn nội dung giảng dạy và nghiên cứu khoa học với cuộc cách mạng kỹ thuật, đào tạo cán bộ thích ứng với yêu cầu về kinh tế, quốc phòng của Việt Nam. Trường đã nghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều đề tài vào sản xuất và phục vụ quốc phòng. Trường đã đào tạo được gần 7000 sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy và 2302 sinh viên hệ tại chức thuộc 58 chuyên ngành. Hưởng ứng phong trào "Ba sẵn sàng", gần 200 cán bộ và trên 2700 sinh viên lần lượt nhập ngũ bổ sung kịp thời một số đáng kể cán bộ kỹ thuật cho quân đội nhân dân Việt Nam. Trường đã triển khai và thực hiện kế hoạch đào tạo đáp ứng nhu cầu cán bộ kỹ thuật của Việt Nam về số lượng, chất lượng và đa dạng ngành nghề. Trường đã tiến hành cải tiến nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, kết hợp học với hành, kết hợp nghiên cứu tại trường với phục vụ sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu cán bộ khoa học, kỹ thuật trình độ cao, năm 1976 trường đã mở hệ đào tạo sau đại học và năm 1979 bắt đầu tuyển nghiên cứu sinh thuộc 9 chuyên ngành. Trong giai đoạn này được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ Việt Nam, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô, cơ sở vật chất và trang thiết bị đã được hiện đại hóa. Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn này đã tiến bộ vượt bậc, tính đến năm 1985 số cán bộ giáo dục và phục vụ giáo dục là 1467 người, trong đó có trên 33% cán bộ giảng dạy có trình độ sau đại học, đã đào tạo gần 9000 kỹ sư hệ chính quy, 2200 kỹ sư hệ tại chức và 26 tiến sĩ, phó tiến sĩ. Thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội không chỉ là trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, trình độ cao mà còn là trung tâm Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ tiên tiến của Việt Nam. Trường đã tăng cường quy mô đào tạo của cả hệ đại học và sau đại học, đa dạng hóa loại hình đào tạo, mở thêm ngành và chuyên ngành mới, đổi mới căn bản mục tiêu, nội dung chương trình và phương thức đào tạo. Đại học Bách khoa Hà Nội đang đào tạo trên 40.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh với 67 chuyên ngành đại học và 33 chuyên ngành cao học, 57 chuyên ngành tiến sĩ. Hiện nay đại học có quan hệ hợp tác trong đào tạo, Nghiên cứu khoa học với trên 200 trường đại học, trung tâm Nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu và tổ chức giáo dục của 32 quốc gia trên thế giới, là thành viên của 8 tổ chức mạng lưới đại học quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế, trường đã cử khoảng 500 cán bộ và sinh viên đi nước ngoài học tập, nghiên cứu, trao đổi,...Xây dựng hàng chục dự án quốc tế về đào tạo, trang bị, nghiên cứu khoa học để góp phần tăng cường cơ sở vật chất cho đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện bốn chương trình đào tạo tiên tiến là chương trình Cơ – Điện tử, Công nghệ Vật liệu, Điện – Điện tử và Kỹ thuật y sinh. Từ năm 1986 đến nay cơ sở vật chất của Trường đã được cải tạo và nâng cấp một cách cơ bản, cơ sở hạ tầng và cảnh quan đã khang trang sạch đẹp hơn nhiều, đã đầu tư nhiều phòng thí nghiệm hiện đại, xây dựng và đang thực hiện nhiều dự án lớn phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trình độ cao. Điều kiện làm việc và đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, sinh viên không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, tháng 9 năm 2006 trường đã đưa vào sử dụng Thư viện điện tử Tạ Quang Bửu với mức đầu tư 199 tỷ VNĐ. Năm 2006, trường đã xây dựng Đề án: Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển trường Đại học Bách khoa Hà Nội giai đoạn 2006-2030" . Ngày 01 tháng 2 năm 2007, Bộ trưởng Bộ GD–ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 668/QĐ-BGDĐT phê duyệt bản Đề án này. [ 8 ] Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thường được chọn làm nơi cố vấn, in sao đề thi đại học hằng năm. 2022–nay: Đại học Bách khoa Hà Nội Ngày 5 tháng 12 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1512/QĐ-TTg về việc chuyển Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành Đại học Bách khoa Hà Nội, đưa Bách khoa Hà Nội trở thành đại học đa ngành thứ 6 của Việt Nam, về lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ. [ 9 ] Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ tổ chức lại cơ cấu tổ chức và hoạt động trên cơ sở Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trước đây theo quy định của Luật Giáo dục Đại học năm 2012 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học năm 2018 cùng quy định pháp luật có liên quan. [ 10 ] [ 11 ] Tối 21 tháng 4 năm 2023, Đại học Bách khoa Hà Nội thành lập thêm Trường Hoá và Khoa học sự sống, Trường Vật liệu, nâng tổng số trường trực thuộc lên 5. [ 12 ] Tầm nhìn Theo định hướng phát triển được công bố, Đại học Bách khoa Hà Nội tự đặt mục tiêu trở thành một đại học nghiên cứu hàng đầu khu vực với nòng cốt là kỹ thuật và công nghệ, tác động quan trọng vào phát triển nền kinh tế tri thức và góp phần gìn giữ an ninh, hòa bình đất nước, tiên phong trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. [ a ] Cơ sở vật chất Đại học Bách khoa Hà Nội có tổng diện tích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hội họp rộng 22 hecta. Trường có hơn 200 giảng đường, phòng học, hội trường lớn và hệ thống phòng hội thảo; gần 200 phòng thí nghiệm, trong đó có 12 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và khoảng 20 xưởng thực tập, thực hành. Toàn bộ giảng đường được trang bị đầy đủ điều hòa và thiết bị giảng dạy cùng với hệ thống wifi miễn phí trong khuôn viên Trường. Thư viện điện tử Tạ Quang Bửu với diện tích 37.000 m2, có thể phục vụ đồng thời 2.000 sinh viên với 600.000 cuốn sách, 130.000 đầu sách điện tử. Sinh viên được truy cập miễn phí CSDL từ các nguồn như Science Direct, Scopus... Các hệ thống cơ sở vật chất phục vụ bộ môn giáo dục thể chất và phong trào thể thao của sinh viên đầy đủ và hiện đại với một sân bóng tiêu chuẩn quốc gia, một nhà thi đấu đa năng tiêu chuẩn Đông Nam Á , một bể bơi tiêu chuẩn quốc gia, sân tennis tiêu chuẩn quốc gia... Trường có một khu ký túc xá với 420 phòng, đủ khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng 4500 sinh viên. Tổng diện tích đất sử dụng của Trường: 252.857,8 m², nơi làm việc 15.252m², nơi học 78.846m², nơi vui chơi giải trí: 29.321 m², một nhà câu lạc bộ sinh viên với 350 chỗ được trang bị âm thanh hiện đại và một trung tâm Y tế hoạt động theo mô hình phòng khám đa khoa chăm sóc sức khỏe thường xuyên cho các cán bộ và sinh viên Trường. [ 2 ] Tổ chức và điều hành Đại học Bách khoa Hà Nội hiện có 6 trường, các viện đào tạo chuyên ngành, 3 khoa chuyên môn về Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và Lý luận chính trị, 8 viện nghiên cứu và 5 trung tâm nghiên cứu. Khoảng 25.000 sinh viên đại học hệ chính quy, 5.000 học viên cao học và nghiên cứu sinh hiện đang học tập tại trường dưới sự giảng dạy, hướng dẫn của 1250 giảng viên, trong đó hơn 600 giảng viên có trình độ tiến sĩ. Từ năm 2007, trường có 88 bộ môn, 15 trung tâm và phòng thí nghiệm thuộc 15 khoa và 6 viện; 1 bộ môn, 26 trung tâm và phòng thí nghiệm trọng điểm trực thuộc trường, 3 doanh nghiệp, 21 phòng, ban và nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội. Trường, khoa, viện đào tạo Trường (06): Viện, Trung tâm (8): Khoa chuyên ngành (04): Khoa đại cương (03): Trung tâm nghiên cứu (22) Hệ thống phòng thí nghiệm Các đơn vị thành viên khác Đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên Tính đến tháng 1 năm 2020, đội ngũ cán bộ của Trường có 1.748 cán bộ, giảng viên, trong đó 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên [ 13 ] Đây là đội ngũ cán bộ có uy tín, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo nghiệp vụ và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Các cấp đào tạo Đại học Bách khoa Hà Nội đang đào tạo trên 30.000 sinh viên (2020), học viên cao học và nghiên cứu sinh với: Số lượng tuyển sinh hàng năm Hệ đại học: Hệ sau đại học: Thành tích đào tạo Từ lúc lập trường đến năm 2024, trường đã đào tạo được: Mốc thời gian Danh hiệu Trong 60 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHBK Hà Nội đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới năm 2006, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2006, Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhất (2), hạng Nhì (2), hạng Ba (2)... Ngoài ra, có 3 tập thể là Bộ môn Thiết bị Điện, Bộ môn Hệ thống Điện, Viện Vật lý kỹ thuật đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh ; 3 cá nhân là PGS Trần Tuấn Thanh, GS.TSKH.NGƯT Trần Vĩnh Diệu, GS.TSKH.NGƯT Trần Đình Long đạt danh hiệu Anh hùng Lao động . Ngoài ra, trường còn được trao tặng nhiều huân chương các loại. Nhiều đơn vị, cá nhân được nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Danh hiệu và phần thưởng từ 2008 đến 2016 Danh sách giám đốc và hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1956–2021) Đại học Bách khoa Hà Nội (2022–nay) Thư viện Tạ Quang Bửu Ngày 7 tháng 10 năm 2006, thư viện Tạ Quang Bửu – công trình kỉ niệm 50 thành lập trường Đại học Bách khoa Hà Nội được khánh thành. Tổng vốn đầu tư cho xây dựng thư viện Tạ Quang Bửu là hơn 200 tỉ đồng . Thư viện Tạ Quang Bửu hiện là một trong những thư viện lớn nhất trong hệ thống thư viện đại học ở Việt Nam, bao gồm 1 toà nhà 10 tầng với tổng diện tích 37.000m². Từ tầng 1 tới tầng 5 là hệ thống phòng đọc mở (người đọc có thể tự tìm kiếm, tra cứu sách và tài liệu). Thư viện có hai phòng học đa phương tiện với quy mô mỗi phòng 150 máy tính được kết nối Internet giúp sinh viên truy cập miễn phí. Thư viện có khả năng phục vụ cùng một lúc hơn 2000 sinh viên. Tổng số máy tính của trường: 2.421. Dùng cho hệ thống văn phòng: 632. Dùng cho sinh viên học tập: 1.789. Mạng thông tin: Trang web của Thư viện với hơn 600 000 đầu sách và cung cấp các truy cập đến các cơ sở dữ liệu trực tuyến như Science Direct , IEEE , ACM . Trang web của Trung tâm Mạng thông tin cung cấp các thông tin cần thiết về các dịch vụ công nghệ của trường ĐH Bách khoa Hà Nội từ email, tài khoản truy cập Internet, kết nối mạng nội bộ... Nhà in Nhà in chịu trách nhiệm in các loại ấn phẩm cho Nhà xuất bản. Hợp đồng in các loại ấn phẩm trong phạm vi kinh doanh của Nhà xuất bản và các đối tác. Một số cựu sinh viên ưu tú Một số giảng viên và cựu giảng viên ưu tú Bê bối và tranh cãi Sự kiện sinh viên phải ăn cơm canh thừa Ngày 7 tháng 10 năm 2024, chương trình Chuyển động 24h (VTV24) phát sóng phóng sự phản ánh việc một số sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tố phải ăn cơm, canh thừa có lẫn dị vật trong thời gian học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại nhà ăn A15, thuộc khuôn viên trường. Theo nội dung phóng sự, cơm thừa được sinh viên thu gom, trộn lại rồi đưa cho nhà bếp đổ chung vào thùng đựng cơm, sau đó chia cho các nhóm ăn sau. [ 15 ] Một số sinh viên khác cũng kể lại trên VTV24 cũng cho biết về việc một sinh viên gặp trứng luộc bị "thối" hay trong thức ăn có cả ruồi, "cả vitamin chít chít" - phân chuột... [ 16 ] [ 17 ] [ 18 ] Trong đêm 7 tháng 10, Đại học Bách khoa Hà Nội đã có thông tin chính thức phản hồi nội dung này. Theo đó, đơn vị cho biết chiều cùng ngày, ngay sau khi làm việc với phóng viên của Chuyển động 24h về nội dung sinh viên của trường phản ánh bữa ăn của tân sinh viên học giáo dục quốc phòng và an ninh, ban lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội đã tiến hành kiểm tra toàn diện công tác tổ chức ăn, nghỉ tập trung của sinh viên tại khoa giáo dục quốc phòng và an ninh. Đồng thời triệu tập họp các bên liên quan để làm rõ thông tin. [ 19 ] [ 20 ] Qua kiểm tra, đoàn công tác ghi nhận một số thông tin báo chí đưa là đúng sự thực, mặc dù đơn vị cung cấp suất ăn có đưa ra các giải thích nhưng chưa đủ thuyết phục. Như chưa nhận được phản ảnh trực tiếp của các sinh viên đang học tập tại đây về vệ sinh thực phẩm cũng như chưa có ca ngộ độc thức ăn nào được ghi nhận qua Trung tâm y tế Bách khoa, nhân viên mới không nắm được quy định... [ 16 ] [ 21 ] [ 22 ] Ngày 8 tháng 10, trong bản tin phát sáng trên VTV24, khi trả lời phóng viên tại buổi kiểm tra nhà ăn A15, ông Dương Văn Thế, người quản lý nhà ăn cho rằng đây chỉ là do sơ sót của nhân viên. Cũng có mặt trong buổi kiểm tra này, PGS.TS Đinh Văn Hải đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, đây là “việc rất là nhỏ” so với những nỗ lực của nhà trường làm cho sinh viên, và “mình có thể làm tốt 100 ngày đấy, chỉ cần nửa ngày không chú ý thì nó rất dở”. [ 21 ] [ 23 ] Sau đó Đại học Bách khoa Hà Nội tuyên bố đã dừng ngay hợp đồng với đơn vị cung cấp suất ăn hiện tại cho tân sinh viên đang học giáo dục quốc phòng an ninh. [ 24 ] Chuyển đơn vị khác để cung cấp suất ăn đảm bảo đáp ứng đủ các tiêu chuẩn định lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; tiếp tục đề nghị các bên liên quan làm rõ và xử lý triệt để. [ 16 ] [ 25 ] Tờ Kinh tế Sài Gòn Online nhận định, cách lý giải rằng đây chỉ là “sơ sót” của Đại học Bách khoa Hà Nội là chưa thỏa đáng vì vụ việc vi phạm đến hàng chục khoản thuộc ba điều 28, 29 và 30 của Luật An toàn thực phẩm (ATTP). Theo tờ báo này nhà ăn A15 là cơ sở dịch vụ ăn uống có thu tiền, nên hoàn toàn chịu sự điều chỉnh của Luật An toàn thực phẩm. Đối chiếu với các điều 28, 29 và 30 của luật này, nhà ăn đã vi phạm nhiều quy định cơ bản cũng như trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm. Việc đổ lỗi cho nhân viên mới là “không biết quy trình” bị cho là né tránh trách nhiệm, bởi người phụ trách bếp ăn phải chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng và vệ sinh thực phẩm. [ 23 ] Tạp chí cũng đặt ra nghi vấn, nhà ăn A15 mỗi ngày phục vụ khoảng 2.000 suất ăn, với giá 85.000 đồng/ngày (gồm ba bữa). Nếu phần thức ăn “quay vòng” giúp giảm được 10% suất mua mới, thì mỗi tháng nhà ăn có thể tiết kiệm khoảng 500 triệu đồng. Khoản chênh lệch lớn như vậy khiến dư luận đặt nghi vấn ai là người được hưởng lợi từ việc cắt xén này, và vì sao quy trình kiểm tra lại không phát hiện sớm. [ 23 ] Sự kiện dán logo chồng lên logo nhà sản xuất gốc Ngày 13 tháng 10 năm 2025, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải thông tin phản ánh về việc Đại học Bách khoa Hà Nội trưng bày một mẫu robot hai chân tại gian hàng của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong Triển lãm thành tựu đất nước “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9. Theo phản ánh, mẫu robot này có logo và nhãn mác của nhà sản xuất nước ngoài bị che phủ hoàn toàn, thay thế bằng logo của Đại học Bách khoa Hà Nội. Theo tạp chí việc gắn logo như vậy có thể gây hiểu nhầm về nguồn gốc sản phẩm. [ 26 ] [ 27 ] Ngày 14 tháng 10, Tạp chí Giáo dục Việt Nam đăng bài viết “Dán logo chồng lên logo nhà sản xuất robot, Đại học Bách khoa Hà Nội cần có câu trả lời rõ ràng”, trong đó dẫn ý kiến của một số chuyên gia và đại biểu Quốc hội cho rằng nhà trường cần minh bạch thông tin, tránh gây hiểu nhầm về quyền sở hữu và nguồn gốc sản phẩm. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền nhận định việc dán logo chồng lên logo gốc có thể khiến công chúng hiểu sai về chủ thể phát triển, do đó người đứng đầu cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm giải trình. Một số chuyên gia công nghệ cho rằng nếu sản phẩm không thuộc loại OEM (sản xuất theo đơn đặt hàng và thương hiệu riêng), thì việc che logo gốc là không phù hợp với nguyên tắc nhận diện thương hiệu. [ 26 ] [ 26 ] Trong cùng bài viết, Luật sư Mai Thị Thảo, Phó Giám đốc Công ty Luật Trương Anh Tú (TAT Law Firm), phân tích rằng nếu hành vi dán đè logo xảy ra mà không có sự đồng ý bằng văn bản giữa hai bên thì có thể dẫn đến hiểu nhầm về nguồn gốc và chủ thể công nghệ, ảnh hưởng đến uy tín của nhà sản xuất. Theo bà, trong không gian học thuật, các hành vi trưng bày và giới thiệu sản phẩm có gắn logo cần bảo đảm tính minh bạch pháp lý, vì chúng có thể được công chúng hiểu như thông điệp quảng bá. [ 26 ] Ngày 15 tháng 10 năm 2025 tại bài viết trên Báo Đại biểu Nhân dân , ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhìn nhận, không riêng robot mà bất kỳ sản phẩm nào, của một cơ sở sản xuất hay đơn vị nào, đều phải có tên, nhãn mác, ngày sản xuất, năm sản xuất, nơi chịu trách nhiệm sản xuất,...về trường hợp của Đại học Bách khoa Hà Nội, ông Lê Như Tiến cho rằng cơ quan chức năng phải vào cuộc để khẳng định thông tin này có xác thực hay không. Trường hợp thông tin này là đúng sự thật, bên cạnh việc xử lý theo quy định, Đại học Bách khoa Hà Nội phải có lời xin lỗi trước dư luận; trường hợp không đúng thì Đại học cũng cần có thông tin cải chính. “Tôi cho rằng trong việc này, Đại học Bách khoa Hà Nội không thể im lặng được”. [ 28 ] Chiều cùng ngày, Đại học Bách khoa Hà Nội ban hành thông cáo báo chí chính thức về sự việc. Nhà trường cho biết phần cơ khí của robot hai chân được nhập khẩu hợp pháp từ Công ty Cổ phần Nghiên cứu Kỹ thuật Cơ khí Chính xác (RPMEC), doanh nghiệp trực thuộc trường, nhằm phục vụ nghiên cứu và đào tạo. Nhóm nghiên cứu của trường đã phát triển thuật toán điều khiển và phần mềm huấn luyện, giúp cải thiện khả năng di chuyển và điều chỉnh độ ổn định. [ 29 ] [ 30 ] Về việc dán tem có logo của trường lên robot, Đại học Bách khoa Hà Nội giải thích rằng đây là biện pháp quản lý hiện vật trong bối cảnh triển lãm kéo dài nhiều ngày, có đông khách tham quan, và việc dán tem để đánh dấu nhằm tránh thất lạc. Nhà trường thừa nhận có sơ suất khi tem được dán trùng vị trí logo gốc, dẫn đến hiểu nhầm. Lãnh đạo trường cho biết đã chỉ đạo rà soát, yêu cầu các cá nhân và đơn vị liên quan giải trình, đồng thời nghiêm khắc phê bình các bộ phận phụ trách. Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đã báo cáo vụ việc tới các cơ quan có thẩm quyền. [ 29 ] Trước câu hỏi của báo Thanh Niên về hành động dán đè logo của ĐH Bách khoa Hà Nội lên logo của nhà sản xuất dù vô tình nhưng liệu có phải là vi phạm nguyên tắc liêm chính của các cán bộ phục vụ triển lãm không, PGS-TS Huỳnh Đăng Chính, Phó giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội, trả lời nhà trường không nhận thấy dấu hiệu đó. [ 31 ] Ngày 16 tháng 10 năm 2025, Báo Đại biểu Nhân dân đăng tải bài viết “Vụ Đại học Bách khoa Hà Nội dán logo chồng lên robot nhà sản xuất nước ngoài: Sơ suất ‘khó chấp nhận’” , tiếp tục phản ánh những ý kiến từ giới lập pháp và học thuật liên quan đến vụ việc Đại học Bách khoa Hà Nội dán logo của mình lên mẫu robot hai chân có nguồn gốc nước ngoài trong triển lãm “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. [ 32 ] Theo bài báo, nhiều ý kiến cho rằng dù nhà trường đã giải thích việc dán logo là “sơ suất trong quá trình quản lý hiện vật”, thì đây vẫn là một lỗi “khó chấp nhận”, cần có biện pháp chấn chỉnh để tránh tái diễn. Đại biểu Quốc hội Trương Xuân Cừ (Đoàn Hà Nội) nhận định rằng việc một cơ sở giáo dục hàng đầu dán chồng logo của mình lên sản phẩm của nhà sản xuất khác có thể gây ảnh hưởng đến lòng tin của xã hội và làm dấy lên nghi ngờ về tính minh bạch, thậm chí có thể bị hiểu là hành vi chạy theo danh tiếng. [ 32 ] Ông Trương Xuân Cừ cho rằng vụ việc cần được xử lý công khai nhằm mang tính răn đe, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của minh bạch trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Cùng quan điểm, PGS.TS Bùi Thị An, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, nhận định đây là một “sơ suất vô cùng đáng tiếc”, nhấn mạnh rằng Đại học Bách khoa Hà Nội là một cơ sở có uy tín lâu đời, được xã hội tin tưởng. Bà cho rằng để duy trì niềm tin của công chúng, nhà trường cần thận trọng và không để xảy ra sai sót tương tự, vì “một sơ suất nhỏ trong môi trường học thuật có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín”. [ 32 ] Nghi vấn biến Trung tâm y tế Bách khoa thành nhà nghỉ Theo bài viết ngày 11 tháng 03 năm 2013 trên Báo Dân trí . Năm 1993, Công ty TNHH Bách Khoa (Poly Co., Ltd) được thành lập, đặt trụ sở trong khuôn viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Đến năm 1997, công ty mở rộng ngành nghề sang lĩnh vực kinh doanh nhà nghỉ. Năm 2004, Ban Giám hiệu trường cho phép công ty này sử dụng cơ sở vật chất của Trạm xá Bách khoa, nay là Trung tâm Y tế Bách khoa, số 1 ngõ 17 Tạ Quang Bửu – để làm cơ sở kinh doanh nhà khách. Cơ sở này vốn được xây dựng bằng ngân sách nhà nước phục vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ và sinh viên. Sau quyết định trên, trạm xá phải di dời sang địa điểm khác, chiếm dụng khu nhà của Đề tài lắp ráp điện tử, một đơn vị nghiên cứu nội bộ. [ 33 ] Theo văn bản giữa các bên, trạm xá có nghĩa vụ đền bù cho đơn vị đề tài một ngôi nhà hai tầng trị giá gần 800 triệu đồng, nhưng việc này không được thực hiện do Công ty TNHH Bách Khoa bên tiếp nhận cơ sở vật chất không hoàn trả kinh phí cho việc lấy cơ sở của trạm xá. Sau khi Chủ nhiệm đề tài nghỉ hưu năm 2009, Ban Giám hiệu Trường ĐH Bách khoa ra 2 văn bản gửi “các cá nhân đang sử dụng nhà B4” (cách cán bộ gọi đơn vị đề tài) phải chấm dứt hoạt động. [ 33 ] Theo báo cáo của báo Dân trí , trong giấy đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH Bách Khoa, vị cán bộ ra 2 văn bản gửi yêu cầu đơn vị đề phải chấm dứt hoạt động cũng được ghi là người đại diện cho Đại học Bách khoa Hà Nội trong công ty này. Việc một cán bộ quản lý sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn vào doanh nghiệp kinh doanh bị cho là không phù với quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Cán bộ, công chức và Luật Phòng, chống tham nhũng. Lý giải cho hành động này, ông Nguyễn Trọng Giảng Hiệu trưởng ĐH Bách khoa khi đó cho rằng, việc thu hồi cơ sở B4 là để đảm bảo quản lý tài sản của Nhà nước. Còn bà Phạm Thu Thuỷ Phó Hiệu trưởng phụ trách quản trị cơ sở hạ tầng, đất đai của Trường ĐH Bách khoa khẳng định “Đề tài lắp ráp kết thúc từ năm 1990, không thể nào nói đề tài là cơ sở cho họ làm việc ở đấy”. [ 33 ] Vụ việc học viên cao học “nhận tiền tiêu cực” Năm 2013, một số cơ quan báo chí Việt Nam phản ánh vụ việc ông Nguyễn Văn Thuận, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, bị buộc thôi việc năm 2009 vì “nhận tiền tiêu cực của sinh viên”, song vẫn được Đại học Bách khoa Hà Nội cho phép bảo vệ luận văn thạc sĩ. Theo phản ánh ban đầu ( Dân trí , tháng 6 năm 2013), dù Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên đã gửi công văn thông báo kỷ luật và đề nghị hủy quyết định cử đi học, Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn ra quyết định thành lập hội đồng chấm luận văn cho ông Thuận vào tháng 11 năm 2009. Luận văn của ông, đề tài “Mô hình hóa ứng xử siêu đàn hồi của dạng vật liệu composite cốt sợi” , được lưu tại Thư viện Tạ Quang Bửu, gây ra nhiều luồng ý kiến. [ 34 ] [ 35 ] Sau khi có đơn tố cáo, Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định xác minh nội dung vụ việc (số 75/QĐ-TTr ngày 29 tháng 5 năm 2013). Theo báo cáo số 344/KL-ĐHBK-HCTH do Phó Hiệu trưởng PGS.TS Trần Văn Tớp ký ngày 4 tháng 6 năm 2013, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết quy trình đào tạo và bảo vệ luận văn của ông Thuận được thực hiện đúng quy định. Nhà trường cho rằng chỉ đến tháng 4 năm 2010 mới nhận được thông tin kỷ luật từ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên và ngay sau đó đã gửi công văn xác minh đến cả Trường Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên và UBND xã Dân Tiến (Hưng Yên). Sau khi xác minh, Đại học Bách khoa Hà Nội quyết định không công nhận học vị và không cấp bằng thạc sĩ cho ông Thuận. [ 34 ] [ 35 ] Về việc luận văn vẫn được lưu trữ tại Thư viện Tạ Quang Bửu, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội lúc đó là GS Nguyễn Trọng Giảng giải thích rằng "Đó là một công trình khoa học đã được công nhận về mặt chuyên môn. Việc lưu trữ luận văn này nhằm làm tài liệu cho những học viên khác biết là đã có người nghiên cứu đề tài này. Mặt khác, nó hoàn toàn là tư liệu hữu ích cho những người quan tâm tham khảo”. Nhà trường cũng phủ nhận việc đã nhận được công văn số 339/ĐHSPKTHY-TCCB ngày 3 tháng 7 năm 2009 văn bản được cho là thông báo kỷ luật và đề nghị hủy quyết định cử đi học với lý do “không có trong sổ lưu công văn đến” của trường. [ 34 ] [ 35 ] Bên cạnh đó, người hướng dẫn luận văn của ông Thuận, tiến sĩ Trần Hữu Nam, cũng bị kỷ luật buộc thôi việc tại Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2010 do tự ý đi nước ngoài. Một tháng sau quyết định kỷ luật, ông Nam vẫn được nhà trường giao nhiệm vụ hướng dẫn luận văn thạc sĩ khác. Về sự việc này phía lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, rất nhiều học viên còn nhờ các tiến sĩ ở ngoài hướng dẫn. Vì vậy, khi TS Nam không còn là cán bộ của trường thì vẫn có thể hướng dẫn các học viên khi họ có nhu cầu. [ 34 ] [ 35 ] Báo Dân trí nhận định đây là sự "lộn xộn trong công tác đào tạo sau đại học của Trường ĐH Bách khoa". [ 34 ] Tranh cãi vụ làm khó “thầy già” Cuối tháng 10 năm 2012, một số cơ quan báo chí như đăng tải bài viết của GS.TSKH Lê Hùng Sơn, giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, phản ánh rằng quy định mới của nhà trường về công tác hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS) đã tước quyền đào tạo của những "thầy già” đầu ngành”. Theo bài viết, văn bản nội bộ của Đại học Bách khoa Hà Nội yêu cầu người hướng dẫn chính (NHD1) của NCS phải là cán bộ đương chức của trường, có tuổi không quá 57 đối với tiến sĩ hoặc tiến sĩ khoa học, và không quá 62 đối với giáo sư, phó giáo sư. Ngoài ra, nếu NCS chỉ có một người hướng dẫn không phải là cán bộ đương chức của trường thì phải bổ sung thêm một người hướng dẫn mới thuộc biên chế nhà trường. Một số giảng viên cao tuổi cho rằng quy định này đã hạn chế sự tham gia của các nhà khoa học đầu ngành đã nghỉ hưu hoặc sắp nghỉ hưu, khiến nghiên cứu sinh “không tìm được thầy hướng dẫn đạt chất lượng như họ mong muốn” và gây ra “lãng phí chất xám”. [ 36 ] [ 37 ] Ngày 31 tháng 10 năm 2012, lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức họp báo phản hồi. Hiệu trưởng GS.TS Nguyễn Trọng Giảng cho biết các văn bản bị nêu không phải là quyết định chính thức mà chỉ là thông báo mang tính hướng dẫn, nhằm chấn chỉnh việc quản lý nghiên cứu sinh. Lãnh đạo đơn vị cũng cho biết tuổi bình quân của giảng viên nhà trường chỉ 38 tuổi, vì vậy quy định về tuổi nhằm đảm bảo NHD không gặp “sự cố” về sức khỏe trong quá trình hướng dẫn. [ 36 ] [ 37 ] Buông lỏng quản lý, sử dụng đất Phần đất giáp ranh giữa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Xây dựng (nay là Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có nguồn gốc là khu đất được Nhà nước giao cho Đại học Bách khoa Hà Nội quản lý từ năm 1976. Đầu thập niên 1990, trường thành lập Trung tâm Hỗ trợ phát triển khoa học kỹ thuật, cho phép xây dựng một số công trình tạm phục vụ nghiên cứu thực nghiệm. Trong quá trình hoạt động, cán bộ của trung tâm đã tự ý cho san lấp một phần ao hoang giáp sông Sét và để nhiều hộ dân xây nhà, sinh sống ổn định tại khu vực này. [ 38 ] [ 39 ] [ 40 ] ngày 14/7/2010, Phó Giám đốc Sở TNMT TP. Hà Nội, ông Nguyễn Hữu Nghĩa đã ký văn bản số 688/BC-TNMT -TTr với nội dung báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh quá trình sử dụng đất của ông Trịnh Văn Tiến đối với phần diện tích đất giáp ranh nói trên. Nội dung văn bản số 688/BC-TNMT - TTr nêu rõ: “... Kiểm điểm trách nhiệm cá nhân và tập thể trong việc buông lỏng quản lý, sử dụng đất: Cụ thể, để tình trạng lấn chiếm đất xây dựng nhà ở trái phép trong khuôn viên đất được Nhà nước giao từ năm 1976 để xây dựng trường học, khi phát hiện việc chiếm đất và xây dựng trái phép từ năm 1992 không phát hiện kịp thời và có biện pháp xử lý dứt điểm dẫn đến những diễn biến phức tạp, gây dư luận xấu trên địa bàn. Sở yêu cầu nhà trường kiểm điểm trách nhiệm các cá nhân liên quan và lập phương án đền bù, hỗ trợ, tái định cư nếu muốn thu hồi đất. [ 38 ] [ 39 ] [ 40 ] Thông tin khác Xem thêm Chú thích Ghi chú Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f8daccbe2ade TITLE: Đại học Kinh tế Quốc dân SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_Qu%E1%BB%91c_d%C3%A2n [CONTENT] Đại học Kinh tế Quốc dân ( tiếng Anh : National Economics University [ a ] , NEU ) là một đại học đào tạo về kinh tế , quản lý và quản trị kinh doanh ở Việt Nam. Trường được xếp top 15 tại Việt Nam theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam VNUR . [ 1 ] Trong quá trình hoạt động, đơn vị từng được truyền thông và công chúng chú ý qua một số sự việc sai phạm, tranh cãi liên quan đến công tác quản lý và vận hành, tài chính bên cạnh những đóng góp trong giáo dục và nghiên cứu khoa học. Tiền thân của Đại học Kinh tế Quốc dân là Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2024, Chính phủ có quyết định chuyển trường thành đại học. Hiện đại học đang có ba trường trực thuộc. Lịch sử Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956 với tên gọi ban đầu là Trường Kinh tế Tài chính. [ 2 ] Lúc đó, Trường được đặt trong hệ thống Đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ Việt Nam . Ngày 22 tháng 5 năm 1958: Nghị định số 252-TTg của Thủ tướng Chính phủ đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục . [ 3 ] Tháng 1 năm 1965, trường đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch. [ 3 ] Ngày 22 tháng 10 năm 1985: Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Nguyễn Đình Tứ ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. [ 4 ] Năm 1989: trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Chính phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính là: Đầu năm 2024, Đại học Kinh tế Quốc dân thành lập 3 trường trực thuộc là Kinh tế và Quản lý công, Kinh doanh và Công nghệ. [ 5 ] Đến ngày 15 tháng 11 năm 2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 1386/QĐ-TTg ngày 15/11/2024 chuyển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành Đại học Kinh tế Quốc dân. Theo Quyết định trên, Đại học Kinh tế Quốc dân là đơn vị sự nghiệp công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện tổ chức lại cơ cấu tổ chức và hoạt động trên cơ sở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân theo quy định của Luật Giáo dục đại học và quy định pháp luật có liên quan; quá trình tổ chức lại phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên liên quan, hoạt động bình thường, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí tài chính, tài sản. Phó Thủ tướng yêu cầu Hội đồng trường, Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo các quy định hiện hành cho đến khi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập Hội đồng Đại học, công nhận Chủ tịch Hội đồng Đại học và công nhận Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân theo quy định của pháp luật. Quyết định số 1386/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2024. [ 6 ] Bê bối và tranh cãi Sai phạm 2008 - 2012 Tháng 12 năm 2012, Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố kết luận thanh tra hành chính đối với Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐHKTQD), chỉ ra hàng loạt sai phạm trong các lĩnh vực tổ chức cán bộ, đào tạo, tài chính và xây dựng cơ bản. [ 7 ] [ 8 ] [ 8 ] [ 9 ] Thanh tra xác định trường đã thu sai, thu vượt nhiều khoản với tổng số tiền hơn 51 tỷ đồng. Các khoản vi phạm bao gồm: thu phí đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ không có trong quy định (hơn 22 tỷ đồng); thu vượt học phí nâng điểm hệ chính quy (hơn 3 tỷ đồng); thu lệ phí tuyển sinh vượt quy định (gần 8 tỷ đồng); thu ngoài quy định (hơn 18 tỷ đồng) và thu phí trông giữ xe vượt quy định (gần 230 triệu đồng). Cục Thuế Hà Nội cũng xử phạt và truy thu của trường hơn 7 tỷ đồng vì sai phạm trong quản lý thu chi. [ 10 ] Mặt khác, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chưa đôn đốc, đối chiếu quyết toán học phí kịp thời với các đơn vị liên kết đào tạo; không có tài liệu kèm theo để kiểm soát tính đầy đủ khi phát sinh các khoản thu từ học viên, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý nguồn thu. [ 7 ] [ 10 ] Trường đã tự ý chuyển 54 sinh viên từ Trường Đại học Tây Bắc về học tại Hà Nội trái quy định, đồng thời cho phép chuyển ngành học không đúng quy trình. Ngoài ra, trường triển khai chương trình bồi dưỡng và cấp chứng chỉ sau đại học cho 787 người, sử dụng kết quả này thay thế nội dung bổ sung kiến thức thi cao học cho 83 người, không phù hợp với Luật Giáo dục và Quy chế đào tạo học vị thạc sỹ. [ 7 ] [ 10 ] Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cũng vi phạm quy định về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu tại một số công trình. Dự án nhà trung tâm sau hơn bốn năm Trường ĐH Kinh tế Quốc dân chưa thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Bộ GD-ĐT về xây dựng phương án khả thi huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện dự án. Từ năm 2008 đến nay (2012), trường chưa giải ngân được nguồn kinh phí nào cho Nhà trung tâm trong khi kinh phí thu sự nghiệp của trường rất lớn, thể hiện sự thiếu trách nhiệm của chủ đầu tư... [ 7 ] [ 10 ] Ngày 2/4/2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra hình thức xử lý kỷ luật đối với Hiệu trưởng Nguyễn Văn Nam về việc ông Nguyễn Văn Nam đã ban hành một số văn bản quản lý nhà trường không đúng quy định của pháp luật : Tổng hợp các hình thức kỉ luật, ông Nguyễn Văn Nam phải chịu hình thức kỉ luật nặng hơn mức cảnh cáo là Hạ bậc lương. [ 11 ] Sai phạm 2017 - 2019 Theo kết luận thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố năm 2020, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) đã để xảy ra nhiều vi phạm trong công tác tuyển sinh, đào tạo, quản lý tài chính và tổ chức cán bộ giai đoạn 2017–2019.. [ 12 ] Trong hai năm 2017 và 2018, trường không xác định chỉ tiêu tuyển sinh nhưng vẫn tuyển 42 chỉ tiêu văn bằng hai chính quy khối ngành VII và 58 chỉ tiêu ngành Ngôn ngữ Anh văn bằng hai chính quy năm 2019. Trường cũng tuyển vượt chỉ tiêu đại học hệ chính quy 2,1% năm 2018 và 4% năm 2019. Năm 2018, trường không xác định chỉ tiêu theo ngành, đồng thời tuyển vượt 7,7% chỉ tiêu thạc sĩ. Trường còn tổ chức thi tuyển cao học tại Đại học Hùng Vương (Phú Thọ) và Đại học Tây Bắc khi chưa có văn bản cho phép của Bộ GD&ĐT. Mặt khác, trường này thực hiện liên kết đào tạo trình độ đại học với Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Nghệ An, Trường Cao đẳng Than - Khoáng sản Việt Nam, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội (phân hiệu Lạng Sơn), Trường Trung cấp Luật Tây Bắc khi chưa có văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. [ 13 ] Một số lớp đào tạo thạc sĩ đặt tại Cao đẳng nghề Yên Bái chưa đúng quy định (lớp đào tạo thạc sĩ khóa 27 không có học phần tự chọn thuộc nhóm 1 của khối kiến thức ngành; lớp đào tạo thạc sĩ khóa 28 không có học phần tự chọn thuộc nhóm 3 của khối kiến thức ngành). Tuy nhiên, trường đã kịp thời điều chỉnh thời khóa biểu đối với khoá 28 và bổ sung 1 môn còn thiếu với khóa 27. Trường thực hiện chương trình đào tạo đối với 2 lớp thạc sĩ đặt tại trường Cao đẳng nghề Yên Bái Trường sử dụng giấy chứng nhận đạt trình độ tương đương B1/B2 của Trường để làm điều kiện được xét tuyển nghiên cứu sinh đợt 1 năm 2017 đối với 6 nghiên cứu sinh không đúng quy định. Ngoài ra, một số nghiên cứu sinh được học chuyên đề tiến sĩ trước khi chính thức trúng tuyển. [ 13 ] Đặc biệt, hồ sơ mở ngành Ngân hàng, Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp, Tài chính công trình độ đại học chưa đầy đủ, trong đó có một số ngành còn thiếu các giấy tờ minh chứng. [ 13 ] Thanh tra Bộ GD&ĐT phát hiện Sổ gốc cấp bằng thạc sĩ và bằng đại học của trường không đúng mẫu quy định; không có hồ sơ hủy phôi bằng. [ 12 ] [ 13 ] [ 14 ] Trong giai đoạn thanh tra, Đại học Kinh tế Quốc dân thu sai quy định hơn 4,6 tỷ đồng, bao gồm thu học phí vượt quy định hơn 1,6 tỷ đồng và thu các khoản không có trong quy định gần 3 tỷ đồng, như tiền chuyển điểm tiếng Anh, phí hỗ trợ hoạt động của lớp điều hành cao cấp EMBA và phí cải thiện điểm. Đại học Kinh tế Quốc dân cũng chưa chưa đảm bảo tỷ lệ chi học bổng sinh viên tối thiểu 8% như quy định, chi vượt giờ giảng, hỗ trợ chi phí học tập cho sinh viên chậm so với dự toán Bộ giao và trích lập Quỹ Dự phòng ổn định thu nhập hơn 55,6 tỷ đồng từ nguồn kinh phí chưa sử dụng của năm 2017 chuyển 2018 chưa phù hợp với quy định theo hướng dẫn tại Thông tư số 107/2017/TT-BTC. Ngoài ra, trường chi từ quỹ phúc lợi cho các đơn vị bên ngoài như UBND phường Đồng Tâm và các tổ chức đoàn thể địa phương, trái quy định. [ 12 ] [ 14 ] [ 15 ] Công tác tổ chức cán bộ của trường bị đánh giá thiếu chặt chẽ, chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản thay thế cho phù hợp với các quy định mới của Đảng, Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật; chưa kịp thời ban hành quyết định thay thế quyết định về quy chế bổ nhiệm, kéo dài thời gian giữ chức vụ, thôi giữ chức vụ, từ chức và miễn nhiệm viên chức quản lý, chưa trình Hội đồng trường xem xét phê duyệt biên chế, số lượng người làm việc của các năm 2017, 2018, 2019. [ 14 ] [ 15 ] Cùng đó, việc thành lập Hội đồng tuyển dụng trước khi thu nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển không đúng quy định và có trường hợp bổ nhiệm giảng viên không có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Hồ sơ của một số nhân sự còn thiếu thành phần như giấy khám sức khỏe, kê khai tài sản, lý lịch. Có 1 trường hợp bổ nhiệm chưa được quy hoạch là không đảm bảo quy định. [ 12 ] [ 15 ] Trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, trường chưa kịp thời rà soát cán bộ không còn đáp ứng các yêu cầu quy định về tuổi bổ nhiệm, chuyển công tác, đã được bổ nhiệm để đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; các nhân sự được bổ nhiệm sau ngày 28/2/2018 chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị. [ 15 ] Vụ kiện Dương Thế Hảo – Đại học Kinh tế Quốc dân Vụ kiện Dương Thế Hảo – Đại học Kinh tế Quốc dân là vụ tranh chấp dân sự tại Việt Nam liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa ông Dương Thế Hảo, cựu sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân và nhà trường. [ 16 ] [ 17 ] Ông Dương Thế Hảo (sinh năm 1959) từng là sinh viên Khoa Kinh tế công nghiệp, khóa 26–27 hệ chính quy của Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân). Trước đó, ông phục vụ trong quân đội từ năm 1977 đến 1981. Theo lời ông Hảo, năm 1989 ông đã hoàn thành toàn bộ chương trình học và kỳ thi tốt nghiệp, nhưng không được nhận bằng cử nhân cũng như các hồ sơ cá nhân gốc như giấy khai sinh, học bạ, quyết định xuất ngũ... Ông cho rằng việc nhà trường giữ các giấy tờ này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp, khiến ông không thể xin việc, đăng ký kết hôn hay làm giấy tờ tùy thân trong nhiều năm. [ 16 ] [ 17 ] [ 18 ] Trong nhiều năm, ông Hảo cho biết đã nhiều lần đến trường đề nghị cấp bằng tốt nghiệp nhưng không được giải quyết. Năm 2017, Đại học Kinh tế Quốc dân có văn bản trả lời rằng không tìm thấy hồ sơ cá nhân và tên ông trong sổ cấp bằng, chỉ có trong sổ điểm tổng hợp. Nhà trường đề nghị có thể cấp xác nhận ông là cựu sinh viên và kết quả học tập, song khẳng định “không đủ cơ sở để cấp bằng”. [ 18 ] Sau đó, ông Hảo khởi kiện Hiệu trưởng nhà trường tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Năm 2019, trong quá trình giải quyết, nhà trường giao lại bằng tốt nghiệp và hồ sơ gốc cho ông, dẫn đến việc ông rút đơn. Tuy nhiên, bằng ghi năm tốt nghiệp là 1994, trong khi ông Hảo khẳng định mình tốt nghiệp năm 1989. Không đồng ý, ông tiếp tục khởi kiện lần thứ hai vào năm 2024, yêu cầu bồi thường thiệt hại tổng cộng 46 tỷ đồng (ban đầu là 36 tỷ đồng, sau tăng lên). [ 17 ] [ 18 ] Ngày 18 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) mở phiên xử vụ án dân sự “yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Ông Hảo lập luận rằng việc nhà trường chậm cấp bằng và giữ hồ sơ cá nhân suốt ba thập kỷ là nguyên nhân khiến ông mất cơ hội việc làm, thu nhập, thăng tiến và bị thiệt hại tinh thần. Phía Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng hồ sơ của ông Hảo “được tìm thấy trong khe tủ của một bộ phận không liên quan” sau nhiều năm tìm kiếm; việc này là trở ngại khách quan do thay đổi cơ sở vật chất, nhân sự và thời gian quá lâu. Nhà trường khẳng định sinh viên có nghĩa vụ chủ động làm thủ tục nhận bằng và hồ sơ sau khi tốt nghiệp, và “ông Hảo không liên hệ với trường trong suốt thời gian dài từ 1989 đến 2017”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện vì nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại thực tế do lỗi của bị đơn gây ra [ 17 ] [ 18 ] Hội đồng xét xử xác định hồ sơ nhập học của ông Hảo không bao gồm sổ hộ khẩu, do đó không có căn cứ cho rằng trường giữ tài liệu này. Tòa cũng nhận định ông Hảo không cung cấp chứng cứ thể hiện đã liên hệ với trường để nhận bằng trong giai đoạn 1989–2017. Tòa cho rằng việc trường chậm trả bằng (từ 2017 đến 2019) là “chậm trễ nhưng có nguyên nhân khách quan”, đồng thời viện dẫn bản án hành chính trước đó của Tòa án nhân dân Cấp cao, khẳng định ông Hảo từng bị hoãn công nhận tốt nghiệp do vi phạm quy chế thi và chỉ được xét lại sau đó. Do nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại thực tế và lỗi của bị đơn, Tòa án quận Hai Bà Trưng tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện. [ 17 ] [ 18 ] Cơ cấu tổ chức Trường trực thuộc (03 trường) Trường Kinh doanh (04 khoa, 02 viện) Trường Công nghệ Viện (02) Các đơn vị chức năng Các đơn vị dịch vụ hỗ trợ đào tạo Viện nghiên cứu Các đơn vị giảng dạy chuyên biệt Hợp tác quốc tế Đại học Kinh tế Quốc dân có quan hệ trao đổi, hợp tác đào tạo – nghiên cứu với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của các nước Nga , Trung Quốc , Bulgaria , Ba Lan , Cộng hòa Séc và Slovakia , Anh , Pháp , Mỹ , Úc , Nhật , Thuỵ Điển , Hà Lan , Đức , Canada , Hàn Quốc , Thái Lan ,... Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước và các tổ chức quốc tế như tổ chức Sida ( Thụy Điển ), UNFPA , CIDA ( Canada ), JICA ( Nhật Bản ), Chính phủ Hà Lan, ODA ( Vương quốc Anh ), UNDP , Ngân hàng Thế giới , Quỹ Ford ( Mỹ ), Quỹ Hanns Seidel, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức ( Đức )... [ 19 ] để tổ chức nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và mở các khoá đào tạo thạc sĩ tại Trường về kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh và các lớp bồi dưỡng về kinh tế thị trường... Đồng thời, Trường cũng có quan hệ với nhiều công ty nước ngoài trong việc đào tạo, nghiên cứu và cấp học bổng cho sinh viên. Quy mô Danh sách hiệu trưởng và giám đốc Hiệu trưởng Giám đốc Những cán bộ, giảng viên nổi tiếng Khen thưởng Sinh viên ưu tú Đại học Kinh tế Quốc dân là nơi đào tạo ra nhiều lãnh đạo cấp cao nhất cho Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam , nhiều doanh nhân nổi tiếng, những người đẹp đoạt các danh hiệu tại các cuộc thi sắc đẹp cũng là sinh viên và nghiên cứu sinh của trường. Chú thích Ghi chú Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b4109846e81e TITLE: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (tên viết tắt: UEH , tiếng Anh : University of Economics Ho Chi Minh City ) [ a ] là đại học đa thành viên chuyên khối kinh tế hệ công lập, thuộc nhóm đại học trọng điểm quốc gia , dẫn đầu trong đào tạo khối ngành kinh tế, nổi tiếng đã đào tạo ra nhiều lãnh đạo cấp cao cho các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam. Ngoài đào tạo, UEH còn là trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế và quản lý cho Chính phủ và doanh nghiệp. Thành lập năm 1976 với tên gọi Trường Đại học Kinh tế trực thuộc Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, UEH đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Năm 2012, trường bắt đầu quá trình tự chủ. Năm 2021, trường tái cấu trúc theo hướng đại học đa ngành để đến tháng 10/2023, trường chính thức đổi tên thành Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. [ 10 ] Hiện nay trường đang hoạt động với 10 cơ sở giảng dạy chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, một phân hiệu tại Vĩnh Long , 3 ký túc xá sinh viên và một số khuôn viên trường khác. Trụ sở chính đặt tại 59C đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh . [ 1 ] Qua gần nửa thế kỷ hoạt động, UEH đã đào tạo hàng ngàn cán bộ, doanh nhân, nhà lãnh đạo, đóng góp vào sự phát triển đất nước. UEH được các tổ chức uy tín như QS, Eduniversal và U-Multirank xếp hạng là một trong những trường hàng đầu về kinh tế - kinh doanh trong khu vực và thế giới. Trường có môi trường học thuật năng động với nhiều hoạt động sinh viên nổi bật. Câu lạc bộ CYM Group của trường đã xác lập Kỷ lục Guinness Thế giới năm 2011. [ 11 ] [ 12 ] [ 13 ] Lịch sử Quá trình hình thành và phát triển Phiên hiệu của trường được thành lập theo Quyết định số 426/TTg ngày 27 tháng 10 năm 1976 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng , trên cơ sở sáp nhập Trường Đại học Luật khoa [ 14 ] (nay là Cơ sở A đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3 của trường) thuộc Viện Đại học Sài Gòn và các Trường Đại học Kinh tế khác của miền Nam trước 1975, trực thuộc Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 15 ] Ngày 23 tháng 11 năm 1976, khoá học đầu tiên của trường khai giảng. [ 16 ] Năm 1986, Khoa Triết - Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh được tách thành Khoa Triết và Khoa Kinh tế. Trong đó, Khoa Kinh tế có chức năng đào tạo đại học, sau đại học và tổ chức nghiên cứu khoa học về lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh , đặc biệt ở chuyên ngành Kinh tế chính trị và Kinh tế học . Từ năm 1990, khoa đào tạo bậc cử nhân theo các chuyên ngành: Kinh tế học, Kinh tế đối ngoại và Quản trị kinh doanh; đào tạo bậc sau đại học chuyên ngành Kinh tế học. Cơ sở II của Trường Đại học Kế toán Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào tháng 10 năm 1988. [ 18 ] Ngày 15 tháng 10 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 155/HĐBT công nhận chính thức việc thành lập Trường Đại học Tài chính - Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tài chính. [ 19 ] Ngày 27 tháng 1 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 16/CP về việc thành lập Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh , [ 20 ] Sau đó, ngày 9 tháng 7 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2819/GD-ĐT ngày 9 tháng 7 năm 1996 thành lập Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở hợp nhất 3 đơn vị gồm Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (cũ), Trường Đại học Tài chính – Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh . [ 21 ] Đến ngày 10 tháng 10 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 118/2000/QĐ-TTg, [ 22 ] thay đổi tổ chức của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó tách Trường Đại học Kinh tế ra khỏi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trở thành Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trọng điểm quốc gia trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 23 ] Thực hiện mục tiêu đào tạo, nghiên cứu và tư vấn của UEH tại Đồng bằng sông Cửu Long , ngày 4 tháng 12 năm 2019, Phân hiệu Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Vĩnh Long được thành lập theo Quyết định số 4650/QĐ-BGDĐT [ 24 ] của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long. Phân hiệu đi vào hoạt động từ tháng 1 năm 2020. Nâng cấp và mở rộng trường Tháng 10 năm 2015, UEH đã tổ chức khánh thành công trình cải tạo Cơ sở C tại số 91 Đường 3/2, Quận 10. Đây là cơ sở dành cho Trung tâm Pháp - Việt Đào tạo về Quản lý (CFVG) tại Thành phố Hồ Chí Minh. [ 25 ] Cuối năm 2019, Cơ sở B1 tại 279 Nguyễn Tri Phương của trường đã được hoàn tất xây dựng, mở rộng khu giảng đường và văn phòng làm việc. Dự án là một tòa nhà hiện đại với 15 tầng nổi, 2 tầng hầm, 5 thang máy và cầu đi bộ kết nối với tòa nhà B2, xây dựng trên khu đất có diện tích là 1.015 m 2 . Công trình chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1 năm 2020. [ 26 ] Tháng 1 năm 2021, dự án Cơ sở N - đường Nguyễn Văn Linh , huyện Bình Chánh chính thức đi vào hoạt động sau hơn 2 năm thi công. Cơ sở mới có diện tích quy hoạch 11.1 ha, với tòa nhà trung tâm cao 10 tầng, khu giảng đường 5 tầng và khu vực công viên, quảng trường lớn. Trong tương lai, dự án còn được xây thêm một khu ký túc xá cho sinh viên lưu trú. [ 27 ] [ 28 ] Trong năm 2021 và 2022, Nhà trường cũng đã mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất tại Cơ sở A 59C Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3; Cơ sở H 1A Hoàng Diệu, Quận Phú Nhuận; và khánh thành Cơ sở D của Viện ISB tại 196 Trần Quang Khải, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Những cải tiến này là một phần của quá trình tái cơ cấu và nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, nghiên cứu, cải tiến cơ sở vật chất của Nhà trường. [ 29 ] [ 30 ] Tái cấu trúc Ngày 27 tháng 10 năm 2021, như một phần của lộ trình tái cấu trúc của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhà trường đã công bố đổi tên trường thành Đại học UEH - Đa ngành và Bền vững với 3 trường thành viên là Trường Kinh doanh UEH ; Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước UEH ; và Trường Công nghệ và thiết kế UEH . [ 31 ] Các trường thành viên được thành lập trên cơ sở hợp nhất các khoa cùng lĩnh vực: Ngày 4 tháng 10 năm 2023, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định 1146/QĐ-TTg về việc chuyển đổi Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh thành Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, chính thức đưa trường trở thành cơ sở giáo dục đại học thứ 7 tại Việt Nam hoạt động theo mô hình "đại học đa ngành, đa lĩnh vực", đồng nhất và hội nhập với hệ thống các đại học tiên tiến trên thế giới. [ 34 ] [ 35 ] Các đời hiệu trưởng Khuôn viên trường và phân hiệu trực thuộc Các cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Đại học Kinh tế đang hoạt động với 10 cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh: [ 8 ] Khách sạn UEH tại Cơ sở V được thành lập năm 2020 trên cơ sở chuyển đổi từ Nhà khách UEH của trường, đạt tiêu chuẩn tương đương 3 sao, với mục đích học thuật là giúp sinh viên các ngành du lịch, khách sạn thực hành kiến thức nghề nghiệp. Khách sạn có 35 phòng ngủ, được xây dựng trên diện tích 500 m 2 , với 1 tầng trệt và 3 lầu. Khách sạn đủ điều kiện và tiêu chuẩn để thực hiện các hoạt động lễ tân, đón tiếp, phục vụ lưu trú cho các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế đến thăm, làm việc, nghiên cứu tại trường. [ 41 ] Để thuận tiện cho việc di chuyển của người học giữa các cơ sở, từ tháng 2 năm 2022, trường chính thức triển khai dịch vụ xe buýt nhanh mang tên UEH Shuttle Bus, chuyên phục vụ cho cả cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường. Dịch vụ hỗ trợ việc di chuyển giữa các cơ sở A, B, N và các ký túc xá, mỗi ngày 10 chuyến, vé xe được đặt trước thông qua ứng dụng trên thiết bị di động. Đây là trường đại học đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh mở dịch vụ này. [ 42 ] Phân hiệu trực thuộc Từ cuối năm 2019, UEH sáp nhập và quản lý Phân hiệu UEH tại Vĩnh Long, tại địa chỉ 1B Nguyễn Trung Trực, phường Tân Hạnh , tỉnh Vĩnh Long . [ 43 ] [ 44 ] Nhà trường cũng đang chuẩn bị khởi động dự án Phân hiệu UEH tại Nha Trang , tỉnh Khánh Hòa . [ 45 ] Thư viện Trường hiện đang có 2 thư viện, được đặt tại các Cơ sở B và N, với tổng sức chứa của phòng đọc là hơn 1000 chỗ ngồi. Thư viện thông minh UEH tại Cơ sở B gồm 15 phòng đọc với tổng diện tích là 1.315 m². Hiện nay, tổng số sách được lưu trữ tại Thư viện là 398.000 đầu sách thuộc các lĩnh vực kinh tế, trong đó có 600 đầu sách đến từ Harvard. Đồng thời thư viện kết nối cơ sở dữ liệu với hơn 90 nhà xuất bản các trường đại học như: Đại học Oxford , Đại học Cambridge , Đại học Harvard , v.v. Đây là một thư viện chuyển đổi số, được đầu tư hạ tầng hiện đại và tự động hóa trong tất cả các khâu. Người dùng có thể tìm sách, mượn sách đặt phòng với 1 chiếc điện thoại thông minh kết nối internet. [ 46 ] Không gian bên trong thư viện được thiết kế theo phong cách hiện đại, trang bị nhiều camera, cảm biến điện tử và thiết bị thu thập thông tin khác như bụi mịn, nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn và cường độ ánh sáng. Nhờ ứng dụng công nghệ IoT, các thông số như số lượng người đang tập trung ở trong thư viện, chất lượng không khí được hệ thống thu thập để đưa ra những điều chỉnh phù hợp. [ 47 ] Trường còn tòa 1 thư viện riêng đặt tại khuôn viên Cơ sở N đang trong quá trình chuẩn bị xây dựng. Ký túc xá Trường có 2 ký túc xá tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích là 6.376 m², gồm 227 phòng, sức chứa xấp xỉ 1.600 sinh viên (3,8 m²/sinh viên): [ 48 ] Phân hiệu UEH tại Vĩnh Long quản lý 1 ký túc xá tại địa chỉ 1B Nguyễn Trung Trực, phường Tân Hạnh, với tổng sức chứa 414 sinh viên. [ 48 ] Hệ thống quản lý và đào tạo Hội đồng Đại học, Giám đốc và Phó Giám đốc Đại học Đội ngũ giảng viên Năm 2022, UEH có gần 800 giảng viên. Trong đó, có 25 giáo sư, 53 phó giáo sư, 175 tiến sĩ, 335 thạc sĩ, 126 giảng viên cao cấp và 150 chuyên gia người nước ngoài. Trường có 7 cá nhân là nhà giáo nhân dân và 35 nhà giáo ưu tú. [ 52 ] Các đơn vị trực thuộc Hiện nay, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức thành các trường trực thuộc với 59 chương trình đào tạo đa dạng lĩnh vực, phân viện và phân hiệu sau: [ 53 ] Trường Kinh doanh Trường hiện đào tạo 13 ngành bậc Cử nhân: Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Marketing, Kinh doanh thương mại, Tài chính - Ngân hàng, Tài chính quốc tế, Bảo hiểm, Kế toán, Kiểm toán, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, Quản trị khách sạn, Logistics & Quản lý chuỗi cung ứng, Quản lý bệnh viện và 04 ngành bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ: Quản trị kinh doanh, Kinh doanh thương mại, Tài chính - Ngân hàng, Kế toán. Trường Kinh tế - Luật - Quản lý nhà nước Tổ chức: Hiệu trưởng là PGS. TS. Phạm Khánh Nam, Phó Hiệu trưởng là TS. Trần Thị Tuấn Anh Trường đào tạo 12 ngành bậc Cử nhân: Kinh tế, Kinh tế đầu tư, Kinh tế Chính trị, Bất động sản, Tài chính công, Quản lý Thuế, Quản trị Hải quan & Ngoại thương, Quản trị nhân lực, Quản lý công, Kinh doanh nông nghiệp, Luật, Luật Kinh tế; 08 ngành bậc Thạc sĩ: Quản trị nhân lực, Quản lý kinh tế, Kinh tế Chính trị, Tài chính công, Quản lý công, Chính sách công, Luật Hiến pháp & Luật Hành chính, Luật Kinh tế; và 04 ngành bậc Tiến sĩ: Kinh tế phát triển, Kinh tế Chính trị, Tài chính công, Luật Kinh tế. Trường Công nghệ và Thiết kế Tổ chức: Quyền Hiệu trưởng là GS. TS. Sử Đình Thành, Hiệu trưởng danh dự là TS. Park Young June (Hàn Quốc), Phó Hiệu trưởng là PGS. TS. Trịnh Thùy Anh và TS. Thái Kim Phụng. Trường đào tạo 08 ngành bậc Cử nhân: Toán Kinh tế, Thống kê Kinh tế, Hệ thống thông tin quản lý, Thương mại điện tử, Kỹ thuật phần mềm, Khoa học dữ liệu, Kiến trúc và thiết kế Đô thị thông minh, Công nghệ & Đổi mới sáng tạo; 05 ngành bậc Thạc sĩ: Toán Kinh tế, Thống kê Kinh tế, Hệ thống thông tin quản lý, Toán ứng dụng, Quản lý đô thị thông minh & sáng tạo; và 01 ngành bậc Tiến sĩ: Thống kê. Các đơn vị đào tạo khác Đơn vị tham gia quản lý và phục vụ đào tạo Đơn vị Khoa học công nghệ – Thông tin kinh tế Hội đồng tư vấn Phân hiệu UEH tại Vĩnh Long Tổ chức: Giám đốc là PGS. TS. Bùi Quang Hùng và Phó Giám đốc thường trực là ThS. Nguyễn Thị Thúy Liễu. Hoạt động Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh được biết đến không chỉ là nơi đào tạo các doanh nhân thành đạt, mà còn là môi trường mang lại cho sinh viên những kỹ năng sống , những hoạt động thiết thực, khẳng định bản thân và phát triển tài năng. UEH nổi tiếng là một trong những trường đại học có những phong trào hoạt động Đoàn – Hội mạnh nhất trong cả nước. Các hoạt động thường niên như Hội thao cấp trường, cấp ký túc xá, khoa, viện, Hội diễn văn nghệ, Hoạt động Nối vòng tay lớn , Sức trẻ Kinh tế , Phong trào Mùa hè xanh , và nhiều cuộc thi học thuật nổi tiếng trong cộng đồng sinh viên cả nước. [ 55 ] Hoạt động văn hóa Hằng năm, nhà trường tổ chức chương trình Nối vòng tay lớn để chào đón các tân sinh viên. Chương trình được chia hai phần Ngày hội và Đêm hội với các gian hàng của khoa/ký túc xá, Câu lạc bộ/Đội/Nhóm sinh viên trực thuộc tổ chức hoạt động giới thiệu truyền thống, lịch sử hoạt động của mình đến tân sinh viên thông qua các trò chơi và các tiết mục văn nghệ. Một sự kiện truyền thống thường niên khác nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là Sức trẻ kinh tế ( UEH Youth Festival ). [ 56 ] Đây là sự kiện văn hóa nổi bật của Trường, cung cấp môi trường học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các sinh viên. Các hoạt động bao gồm ngày hội và đêm hội với các trò chơi vận động, trò chơi dân gian và gian hàng ẩm thực. [ 57 ] [ 58 ] Ngày 24 và 25 tháng 2 năm 2022, Hội Sinh viên UEH đã tổ chức Ngày hội Sinh viên 5 tốt với mục đích tạo cơ hội cho sinh viên tìm hiểu và khám phá về danh hiệu "Sinh viên 5 tốt", góp phần thúc đẩy phong trào Sinh viên 5 tốt của Hội Sinh viên Việt Nam . [ 59 ] Hoạt động học thuật UEH tổ chức một số cuộc thi học thuật cho sinh viên trong và ngoài trường. Bên cạnh những cuộc thi thường niên, trường cũng thường xuyên tổ chức cuộc thi mới để đáp ứng nhu cầu hội nhập và sự biến động của nền kinh tế. Nhà trường đã được đánh giá rất cao cho những nỗ lực đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và tiên phong trong hội nhập. [ 60 ] Các cuộc thi nổi bật bao gồm Cuộc thi Olympic các môn khoa học Marx-Lenin , Tư tưởng Hồ Chí Minh , Cuộc thi CPA tiềm năng , [ 61 ] [ 62 ] Tìm kiếm CEO tương lai , [ 63 ] [ 64 ] Kiến thức thuế – Vận dụng trong kinh doanh , [ 65 ] [ 66 ] Bản lĩnh Giám đốc tài chính CFO , [ 67 ] [ 68 ] ... đã và đang thu hút rất nhiều thí sinh tham dự. Hoạt động tình nguyện Hằng năm, UEH triển khai các chương trình tình nguyện và công tác xã hội dưới sự chỉ đạo của Đoàn Thanh niên và Khoa, Viện. Chiến dịch Hiến máu tình nguyện được biết đến như là hoạt động thiện nguyện nổi bật nhất của trường. Hàng năm, Hội Sinh viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đều tổ chức Tuần lễ hiến máu tình nguyện thu hút được nhiều sinh viên tham gia, đồng thời gây quỹ học bổng Điểm sáng Tương lai của Hội Sinh viên trường dành cho các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. [ 69 ] [ 70 ] Hằng năm, Đoàn - Hội các Khoa thường tổ chức các chiến dịch tình nguyện như Vui hội trăng rằm , nằm trong chuỗi hoạt động Chiến dịch Tình nguyện Sinh viên Kinh tế diễn ra vào mùa hè, với mục tiêu mang đến cho trẻ em nhỏ tại các khu vực vùng sâu, vùng xa một mùa Tết Trung Thu trọn vẹn. [ 71 ] [ 72 ] Các hoạt động khác Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo , tọa đàm với những vị khách mời chuyên môn cao cho sinh viên tiếp cận kiến thức, kinh nghiệm thực tế từ những doanh nhân, nhà đầu tư thành công. [ 73 ] [ 74 ] Bên cạnh đó, các cuộc thi tài năng như Hoa khôi UEH , Miss and Mr UEH thu hút rất nhiều sinh viên tham dự. Một chương trình được thành lập năm 2016, bởi những cựu sinh viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, mang tên UEH Mentoring , với mục đích giúp đỡ cho hàng nghìn sinh viên trên khắp Việt Nam. UEH Mentoring thực hiện nhiệm vụ là tư vấn và hỗ trợ cho sinh viên các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp, cung cấp kinh nghiệm cần thiết để phát triển bản thân. Chương trình tạo ra một môi trường tích cực gồm các nhà cố vấn và người được cố vấn, với các hoạt động giúp cung cấp kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cần có đến các sinh viên. Đồng thời, các cựu sinh viên cũng có thể kết nối, giúp đỡ những người đang đi học hoặc mới ra trường. [ 75 ] [ 76 ] Từ năm 2022, Chương trình Vietnam Alumni Mentoring (VAM) hoạt động dưới sự bảo trợ của Cộng đồng Cựu sinh viên Kinh tế (UEH Alumni) và sự hỗ trợ của Your Study Support. [ 77 ] Ngày 17 tháng 11 năm 2022 , Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác với Sân khấu Kịch Hồng Vân, dưới sự dẫn dắt của NSND Hồng Vân ra mắt sân khấu kịch học đường UEH Theatre, với hoạt động đầu tiên là vở kịch "Quyền lực và tình yêu", đã diễn ra vào tối 20 tháng 11. [ 78 ] Với mục tiêu thúc đẩy hoạt động lan tỏa và truyền cảm hứng nghệ thuật trên cơ sở phát huy thế mạnh của hai bên. Dự án được NSND Hồng Vân ấp ủ với mong muốn học sinh, sinh viên có một mô hình sân khấu kịch học đường, nhằm tạo nên một thế hệ người trẻ văn minh, tri thức, biết thưởng thức và trân trọng các giá trị nghệ thuật. Theo Nghệ sĩ Hồng Vân, UEH Theatre ngoài trình việc diễn các vở diễn còn triển khai các khóa đào tạo nghệ thuật ngắn hạn. Đồng hành cùng trong dự án còn có Nghệ sĩ Hoàng Sơn, Ốc Thanh Vân , Ngọc Tưởng, Kim Huyền, Quốc Thuận, đạo diễn Thanh Hiệp,... Không chỉ tham gia diễn, họ còn hỗ trợ dìu dắt học trò trong các khóa dạy đài từ, hóa trang. [ 79 ] Nghiên cứu khoa học Đóng góp khoa học Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là đại học đầu ngành về khối kinh tế, kinh doanh và quản lý của Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng. Đây là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao và là trung tâm nghiên cứu các chính sách kinh tế, quản lý, đầu tư phát triển cho chính phủ và các doanh nghiệp lớn. Nhóm các nhà nghiên cứu của trường đã và đang nghiên cứu và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm triển khai hiệu quả ứng dụng công nghệ cao vào phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh thành phía Nam và đã đạt được những thành tựu nhất định. [ 80 ] Năm 2022, Tổ chức xếp hạng U-Multirank công bố kết quả đánh giá bao gồm tỉ lệ trích dẫn, số lượng công bố quốc tế cùng với đồng tác giả quốc tế của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đạt điểm A và trường được đánh giá là "Đại học Tốt nhất Việt Nam" và nằm trong top 66 đại học hàng đầu châu Á, trong số 467 trường được xếp hạng. [ 81 ] [ 82 ] Tạp chí JABES Tạp chí JABES, trước đây là tạp chí Phát triển Kinh tế với ấn phẩm tiếng Việt đầu tiên xuất bản năm 1990. Ấn phẩm tiếng Anh đầu tiên xuất bản năm 1994 với tên gọi Economic Development Review , sau đó đổi thành Journal of Economic Development từ năm 2012. Kể từ tháng 1 năm 2018, tạp chí chính thức đổi tên thành Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh châu Á ( Journal of Asian Business and Economic Studies - JABES), bao gồm hai phiên bản: tiếng Việt (JABES-V) và tiếng Anh (JABES-E). JABES-V xuất bản 12 số mỗi năm, được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm cao nhất trong các tạp chí xuất bản tại Việt Nam. JABES-E xuất bản 4 số mỗi năm trên hệ thống Nhà xuất bản Emerald từ tháng 5 năm 2018. Đây cũng là tạp chí khối kinh tế và khoa học xã hội - nhân văn đầu tiên của Việt Nam được liệt kê vào danh mục trích dẫn ESCI và Scopus . [ 83 ] [ 84 ] Câu lạc bộ, đội, nhóm sinh viên UEH được biết đến là một trường đại học có nhiều câu lạc bộ, đội, nhóm sinh viên và hoạt động tích cực trong thành phố. Hiện nay, UEH có khoảng 30 câu lạc bộ, đội, nhóm, từ các lĩnh vực chuyên ngành đào tạo, sở thích/năng khiếu, đến các câu lạc bộ học tập, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ sinh viên. [ 85 ] [ 86 ] Ngày 25 tháng 9 năm 2011, Câu lạc bộ Kỹ năng Tư duy ( CYM Group ) của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đầu bởi Tiến sĩ Đỗ Kiên Trung, [ 87 ] đã xác lập Kỷ lục Thế giới Guinness về "bức tranh ghép hình nhiều mảnh nhất thế giới". [ 11 ] [ 13 ] Bức tranh ghép mô tả một bông hoa sen với sáu cánh đại diện cho sáu lĩnh vực kiến thức, được thể hiện bằng phương pháp sơ đồ tư duy . Kích thước bức tranh là 14.85 x 23.20 m, diện tích phần ghép bằng tay là 345 m 2 , bao gồm 551.232 mảnh ghép, kích thước mỗi mảnh là 2,5x2,5 cm. Công trình được thực hiện bởi hơn 1.600 sinh viên trong 17 giờ và đã phá Kỷ lục Guinness trước đó là 212.323 mảnh, được lập bởi Singapore vào năm 2002. Đồng thời, bức tranh cũng phá kỷ lục về tổng diện tích của bức tranh bản đồ tư duy lớn nhất thế giới, với tổng diện tích là 660 m 2 , vượt qua kỷ lục của Trung Quốc thiết lập vào năm 2010 là 600 m 2 . [ 12 ] [ 88 ] [ 89 ] Các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế Các chương trình liên kết quốc tế, học tập tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, cấp bằng của trường đại học nước ngoài. [ 90 ] Thành tích và xếp hạng Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng nhà trường: [ 96 ] Vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế: [ 100 ] Sự cố Từ ngày 10 đến 25 tháng 6 năm 1989 xảy ra sự cố xô xát giữa tự vệ phường Nguyễn Cư Trinh với sinh viên ở Ký túc xá 135 Trần Hưng Đạo tại Quận 1 , xuất phát từ một vụ va quẹt xe. [ 105 ] Khi hay tin sinh viên cùng trường là người va quẹt xe bị tự vệ của phường đánh, 200 sinh viên trường đã kéo đến trụ sở phường, sau đó hai bên xảy ra xô xát. [ 106 ] Vào ngày hôm sau 11 tháng 6, sinh viên viết văn bản kiến nghị chính quyền giải quyết vụ đánh sinh viên. [ 107 ] Năm 2017, một giảng viên của trường đã đăng tải trên Facebook cá nhân và group Tư vấn tuyển sinh UEH-K43 những bài viết mang tính chất chê bai, hạ nhục các trường Đại học đào tạo về lĩnh vực Kinh tế lân cận (cụ thể là trường Đại học Ngoại thương và Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM cùng 1 số trường Đại học tư thục khác). Chuỗi bài viết và bình luận của giảng viên này đã gây ra sự phẫn nộ và kích động cho hàng ngàn sinh viên ở các trường Đại học được nhắc tên. Sau khi tiến hành điều tra, nhà trường xác nhận Facebook đăng tải các bài viết đúng là của giảng viên UEH và đăng tải thông cáo báo chí, yêu cầu giảng viên trực tiếp xin lỗi các đối tượng liên quan, đồng thời cho biết sẽ có các phương án kỷ luật nội bộ đối với giảng viên này về việc đăng tải các thông tin chưa được kiểm chứng với lời lẽ kích động, gây tranh cãi [ 108 ] Năm 2018, một giảng viên trẻ của nhà trường đã bị tố cáo có những hành vi không đứng đắn với sinh viên và bị nghi ngờ sửa điểm nhiều bài thi. Tuy nhiên, các điều tra sau đó chứng minh rằng giảng viên trên chấm sai cơ cấu điểm của bài thi. Nhà trường đã ra quyết định kỷ luật giảng viên này với hình thức kỷ luật là cảnh cáo 12 tháng vì vi phạm về tác phong, lời nói, hành động không phù hợp với môi trường giáo dục. [ 109 ] [ 110 ] Ngày 10 tháng 10 năm 2021, Ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh, Quận 5 đã xảy ra vụ cháy tại một phòng ở tầng 4. Vào thời điểm cháy, chỉ có 60 sinh viên ở tại đây, do trong thời gian giãn cách xã hội của Đại dịch COVID-19 . Đám cháy không gây thiệt hại về người nhưng có thiệt hại về một số tài sản trong phòng. [ 111 ] [ 112 ] Cựu sinh viên nổi bật Những nhân vật nổi bật từng học tập tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: [ 113 ] Xem thêm Ghi chú Tham khảo Chú thích Sách Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 07205bf9d247 TITLE: Đại học Công nghiệp Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Đại học Công nghiệp Hà Nội ( tiếng Anh : Hanoi University of Industry , viết tắt: HaUI ) là một đại học công lập, đa cấp, đa nghề, định hướng thực hành trực thuộc Bộ Công thương . Trường được nâng cấp lên đại học năm 2005 trên cơ sở Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội . Tiền thân của trường là hai trường do thực dân Pháp thành lập là Trường Chuyên nghiệp Hà Nội năm 1898 , và Trường Chuyên nghiệp Hải Phòng năm 1913. [ 1 ] Các mốc lịch sử Giai đoạn 1898 - 1945 - Ngày 10/8/1898 Trường Chuyên nghiệp Hà Nội được thành lập chiểu theo Quyết định của phòng Thương mại Hà Nội. Năm 1931 đổi tên thành Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội. - Ngày 29/8/1913 Trường Chuyên nghiệp Hải phòng được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1921 đổi tên thành Trường Kỹ nghệ Thực hành Hải Phòng. Giai đoạn 1955 - 1997 - Ngày 15/02/1955 khai giảng khoá I Trường Kỹ thuật Trung cấp I tại địa điểm Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội cũ (2F Quang Trung). - Năm 1956 khai giảng khoá I Trường Công Nhân Kỹ thuật I tại địa điểm trường Kỹ Nghệ thực Hành Hải Phòng cũ (Phố Máy Tơ Hải Phòng). Trong thời gian chiến tranh trường chuyển lên Bắc Giang. - Năm 1962 Trường Kỹ thuật Trung cấp I đổi tên thành Trung cao cấp cơ điện Hà Nội. Năm 1966 đổi tên thành Trường Trung học Cơ khí I, năm 1993 lấy lại tên cũ là Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội. Trong thời gian chiến tranh trường chuyển lên Vĩnh Phúc. - Năm 1986 Trường Công nhân Kỹ thuật I chuyển về xã Minh Khai , huyện Từ Liêm, Hà Nội. - Năm 1991 Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội chuyển về xã Tây Tựu , huyện Từ Liêm, Hà Nội. Giai đoạn 1997 - 2005 - Ngày 22/4/1997 Bộ Công nghiệp ra quyết định số 580/QĐ-TCCB sáp nhập 2 trường: Công nhân Kỹ thuật I và Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội lấy tên là Trường Trung học Công nghiệp I . - Ngày 28/5/1999 Quyết định số 126/ QĐ- TTG của Thủ tướng Chính phủ thành lập Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội trên cơ sở trường Trung học Công nghiệp I. Giai đoạn 2005 - hiện tại - Ngày 2/12/2005 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 315/2005 QĐ/TTG thành lập Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội . [ 2 ] - Ngày 21/1/2022 thành lập Trường Ngoại ngữ - Du lịch trực thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Ngày 2/8/2023 thành lập Trường Cơ khí - Ô tô trực thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Ngày 1/7/2024, thành lập Trường Kinh tế trực thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Ngày 8/1/2025 thành lập Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Trường Điện - Điện tử trực thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Ngày 20/11/2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 2536/QĐ-TTg về việc chuyển Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội thành Đại học Công nghiệp Hà Nội Thành tích Đội ngũ Cơ sở vật chất Hiện nay, Nhà trường có 2 cơ sở đào tạo ở Hà Nội và 1 cơ sở đào tạo ở Hà Nam với tổng diện tích gần 50 ha. Giải thưởng trong các kỳ thi Bê bối Thu tiền "chống trượt" đầu ra ngoại ngữ Xem thêm Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a61de9958c1c TITLE: Đại học Duy Tân SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Duy_T%C3%A2n [CONTENT] Đại học Duy Tân ( tiếng Anh : Duy Tan University ) là đại học tư thục đầu tiên và lớn nhất tại miền Trung Việt Nam , tiền thân là Trường Đại học Duy Tân, thành lập năm 1994. [ 4 ] Năm 2019, trường được trao Huân chương Lao động hạng Nhất. [ 5 ] Ngày 7 tháng 10 năm 2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 1115/QĐ-TTg chuyển Trường Đại học Duy Tân thành Đại học Duy Tân. Đại học Duy Tân trở thành Đại học thứ 8 tại Việt Nam sau Đại học Quốc gia Hà Nội , Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh , Đại học Thái Nguyên , Đại học Huế , Đại học Đà Nẵng , Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh . Đại học Duy Tân cũng là cơ sở giáo dục tư thục đầu tiên được chuyển đổi từ “ Trường Đại học ” lên thành “ Đại học ”. Trường hợp tác với nhiều Đại học quốc tế, có mặt trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế. Tuy nhiên, trường gây nhiều tranh cãi trong dư luận xung quanh sai phạm về liêm chính trong nghiên cứu khoa học, sa thải giảng viên vì bình luận về cách chính quyền xử lý đại dịch COVID-19 , sai phạm về tuyển sinh, sử dụng người lao động và tài chính. Lịch sử hình thành Trường Đại học Duy Tân được thành lập vào ngày 11/11/1994 theo Quyết định Số 666/TTg của Thủ tướng Chính phủ. [ 6 ] [ 7 ] Nhà giáo Ưu tú Lê Công Cơ là Hiệu trưởng đầu tiên. [ 8 ] Năm 2002, Cơ sở 254 Nguyễn Văn Linh được đưa vào vận hành. Năm 2018, Tiến sĩ Lê Nguyên Bảo tiếp nhận và trở thành Hiệu trưởng tiếp theo của Trường Đại học Duy Tân. [ 9 ] Ngày 07/10/2024 Trường Đại học Duy Tân được chuyển thành Đại học Duy Tân và là Đại học thứ 8 tại Việt Nam. Cơ cấu tổ chức Trường trực thuộc (08) Khối đào tạo (09) Khối Hành chính - Phục vụ (12) Khối nghiên cứu - ứng dụng (05) Đào tạo Hợp tác quốc tế Trường hợp tác, chuyển giao chương trình đào tạo với: [ 10 ] Trường triển khai đào tạo Du học Tại chỗ và Du học Nước ngoài qua các hợp tác với: Ngành nghề đào tạo Dưới đây là các khối ngành của trường: [ 15 ] Bê bối Thành tích ảo trong nghiên cứu khoa học, gian lận tác giả Năm 2021, trong vòng vài tháng, Đại học Duy Tân xuất hiện 7 lần trong loạt bài báo bị nhiều tạp chí gỡ bỏ vì gian lận tác giả. Kết quả phân tích danh sách đồng tác giả bằng phần mềm VOSviewer cho thấy Narjes Nabipour của ĐH Duy Tân, một tác giả không thể xác định danh tính. [ 16 ] Iskander Tlili, là người đang làm việc tại khoa Kỹ thuật cơ khí (Mechanical Engineering), Đại học Majmaah ở Ả Rập Xê-út. Từ 2018 đến 2021, Iskander Tlili đã đăng 171 bài báo ghi địa chỉ liên hệ là Đại học Tôn Đức Thắng , 49 bài khác lấy địa chỉ là Đại học Duy Tân. Chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2021, người này đã đăng 111 bài với địa chỉ liên hệ là Tôn Đức Thắng và 48 bài với Duy Tân. Iskander Tlili không có tên trong danh sách nhân sự của cả Đại học Tôn Đức Thắng lẫn Đại học Duy Tân. [ 17 ] Theo thông báo từ tạp chí Chemical Engineering and Processing: Process Intensification , bài báo của một tác giả tên Narjes Nabipour bị gỡ bỏ bởi ba lý do: quan ngại về danh tính tác giả “David Ross” (là tên một đồng tác giả trong bài mà Narjes Nabipour của Trường ĐH Duy Tân làm tác giả liên hệ) khi Đại học Texas tại Austin phủ nhận người này làm việc tại trường; tên của các đồng tác giả đã được thêm vào bản thảo chỉnh sửa mà không thông báo cho biên tập viên - một việc làm trái với chính sách của tạp chí về thay đổi tác giả; các tác giả không thể giải trình hợp lý đóng góp của họ trong bài báo. Theo thống kê của Retraction Watch, David Ross còn 3 bài báo nữa cũng đã bị các tạp chí gỡ bỏ. Ngoài ra, một số bài báo khác của nhân vật mạo danh này có đồng tác giả từ Trường ĐH Duy Tân. Một trường hợp khác là Narjes Nabipour, khi tiến hành tra cứu tên không kèm theo bất kỳ giới hạn nào, máy tìm kiếm Google chỉ hiển thị 36 kết quả, tất cả đều hướng về tác giả Narjes Nabipour của Trường ĐH Duy Tân và không hé lộ thêm điều gì về lý lịch khoa học của người này trước năm 2019. Ngoài ra một tác giả khác là Shahaboddin Shamshirband có lúc khai nơi làm việc là Trường ĐH Duy Tân, nhưng trong các bài báo đứng tên chung với Narjes Nabipour (sử dụng địa chỉ là Trường ĐH Duy Tân), ông này luôn lấy địa chỉ cơ quan là Trường ĐH Tôn Đức Thắng. [ 18 ] [ 19 ] Đại học Duy Tân thường đứng đầu Việt Nam trong nhiều bảng xếp hạng nhưng theo Nature Index, Trường ĐH Duy Tân chỉ có 2 bài nội lực trong tổng số 15 bài báo được thống kê, tỷ lệ nội lực chỉ đạt 13,3%. [ 20 ] Sa thải giảng viên vì phát ngôn về dịch COVID-19 Chiều ngày 9 tháng 8 năm 2021, ông Nguyễn Thành Dương, Chánh văn phòng Đại học Duy Tân cho biết, đơn vị vừa có quyết định sa thải đối với nữ giảng viên Trần Thị Thơ, khoa Ngoại ngữ, vì có phát ngôn sai về dịch COVID-19 . [ 21 ] [ 22 ] Trước đó, ngày 7 tháng 8, đại diện Phòng An ninh Chính trị nội bộ Công an thành phố Đà Nẵng cho biết, lực lượng nghiệp vụ đang vào cuộc xác minh, làm rõ các nội dung liên quan đến một video clip tranh luận giữa sinh viên và giảng viên Đại học Duy Tân Đà Nẵng về cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Việt Nam. [ 22 ] Clip về đoạn hội thoại này dài gần 4 phút ghi lại cảnh buổi học qua ứng dụng Zoom giữa giảng viên Đại học Duy Tân và sinh viên vào ngày 5/8/2021. Trong phần tranh luận về vấn đề phòng chống dịch COVID-19 tại Việt Nam, nữ giảng viên không đồng tình với cách chống dịch của chính quyền: " Cô cảm thấy nhục nhã khi thấy đồng bào của cô chạy xe máy một ngàn rưỡi cây số về quê. Cô cảm thấy rất nhục nhã về điều đó. Tại sao cũng là người mà khi mà dịch đến những quốc gia khác trên thế giới người ta được hỗ trợ rất nhiều kể cả cái việc tiếp cận vaccine. Còn chúng ta thì như thế nào. Đồng bào của chúng ta... Em lên chỗ đèo Hải Vân coi kìa, đó là một sự nhục nhã. Đó mới thật sự là nhục nhã. Khi em lên đèo Hải Vân em thấy những người chạy xe máy tả tơi mà họ phải đi về. Tại sao họ phải chịu cảnh đó, cô thấy điều đó là cực kì nhục nhã đối với chúng ta. Chúng ta [nên] cảm thấy cực kì nhục nhã với điều đó. Tại sao đến bây giờ mà người dân thành phố Hồ Chí Minh bị ép phải tiêm sinopharm, em có cảm thấy nhục nhã về điều đó không?" [ 23 ] Sau khi được sinh viên này phát tán, lan truyền trên mạng xã hội, clip này đã tạo ra nhiều luồng dư luận. [ 22 ] [ 24 ] Ngày 17 tháng 8 năm 2021, bộ Giáo dục và Đạo tạo ra văn bản đề nghị Trường ĐH Duy Tân có văn bản báo cáo đầy đủ, chi tiết về sự việc trước ngày 23 tháng 8 năm 2021. [ 25 ] Tuyển sinh Sai phạm trong sử dụng người lao động, giảng viên Sai phạm về thu chi, tài chính Sai phạm khác Hoạt động nghiên cứu khoa học Cơ sở nghiên cứu Đại học Duy Tân xây dựng hệ thống các viện, trung tâm để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học. Trong đó có Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ cao (Đà Nẵng), Viện Nghiên cứu Khoa học Cơ bản và Ứng dụng tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Khoa học Cơ bản và Ứng dụng tại Tp. Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu & Đào tạo Y-Sinh-Dược; Viện Sáng kiến Sức khỏe Toàn cầu; Trung tâm Công nghệ Phần mềm (CSE); Trung tâm Công nghệ Thông tin và Truyền thông (CIT); Trung tâm Điện-Điện tử (CEE),… [ 37 ] Sản phẩm nghiên cứu Hoạt động nghiên cứu của sinh viên Dưới đây là danh sách giải thưởng của sinh viên Đại học Duy Tân trong hoạt động nghiên cứu: Cơ sở vật chất Hiện tại Đại học Duy Tân có các cơ sở sau: Cơ sở vật chất Đại học Duy tân gồm 200 phòng học, giảng đường, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, [ 78 ] 3 thư viện với diện tích hơn 1.820 m 2 , [ 79 ] lưu trữ khoảng 58.000 bản sách in. Trường có 2 sân bóng đá, 4 sân cầu lông, 1 sân bóng rổ, và 1 sân tennis. [ 37 ] Trường có thư viện Điện tử (gồm cả VISTA, Springer,…), [ 37 ] 1 Xưởng phim Én bạc (Silver Swallows Studio - SSS), [ 80 ] [ 81 ] Trung tâm Mô phỏng Y khoa (MedSIM), [ 82 ] 2 phòng thu âm, ghi hình, hệ thống Data Center và hệ thống phần mềm phục vụ quản lí nhân sự, đào tạo tín chỉ,… [ 37 ] Quy mô đào tạo Trường đã tuyển sinh được 108.888 nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên, trong đó có: 7 khoá Tiến sĩ với 51 nghiên cứu sinh; 22 khóa Thạc sĩ với 2.569 học viên cao học; 26 khóa đại học, cao đẳng với 106.268 sinh viên; và 12 khóa Trung cấp Chuyên nghiệp với 12.400 học sinh. [ 15 ] Kiểm định giáo dục Đội ngũ giảng viên Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên gồm 1.238 người, trong đó có 843 giảng viên (có 234 giảng viên có trình độ là TS, PGS, GS). [ 92 ] [ 93 ] Thành tích Năm học 2019-2020, Đại học Duy Tân công bố 2.562 bài báo ISI, 115 bài báo trên tạp chí Scopus, 52 bài báo trên tạp chí Non - ISI, 46 bài báo tại Hội nghị quốc tế,... [ 93 ] Trường có mặt trong một số bảng xếp hạng đại học như: QS Rankings, CWUR, URAP, Nature Index, THE, SCImago, Webometrics, UNWTO TedQual. [ 94 ] Trường được trao nhiều danh hiệu, [ 95 ] [ 96 ] [ 97 ] trong số đó có Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2019). [ 5 ] Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết thành phố Đà Nẵng , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7e3a7be6ae29 TITLE: Học viện Quản lý giáo dục SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Qu%E1%BA%A3n_l%C3%BD_gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c [CONTENT] Học viện Quản lý giáo dục là một trường Đại học công lập được thành lập ngày 3/4/2006 theo Quyết định số 501/QĐ-TTg của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng , [ 1 ] trụ sở của Học viện được đặt tại số 31 phố Phan Đình Giót, phường Phương Liệt , thành phố Hà Nội . Trường hiện đang tập trung đào tạo 5 ngành: Quản lý giáo dục , Tâm lý học giáo dục , Kinh tế giáo dục, Giáo dục học và Ngôn ngữ Anh , đồng thời kết hợp công tác nghiên cứu các đề tài, đề án về khoa học giáo dục. Đây được coi là một trường đầu ngành về khoa học quản lý giáo dục trong hệ thống các trường đại học tại Việt Nam [ 2 ] Hiện Học viện Quản lý giáo dục đang đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục, thạc sĩ ngành tâm lý học lâm sàng và công nghệ thông tin. Lịch sử Học viện Quản lý giáo dục tiền thân là Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo được thành lập năm 1990, trên cơ sở hợp nhất 3 Trường: Trường Cán bộ quản lý giáo dục (thành lập năm 1976). Trường Cán bộ quản lý đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề và Trung tâm nghiên cứu tổ chức quản lý và kinh tế học giáo dục . [ 3 ] Ngày 3/4/2006, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Quyết định số 501/QĐ-TTg thành lập Học viện Quản lý giáo dục trên cơ sở nâng cấp Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo. Ban Giám đốc Giám đốc: Các Phó Giám đốc: Các khoa đào tạo Thành tích - Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 1986, hạng Nhì năm 1996, hạng Nhất năm 2011; - Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen năm 2006, Cờ thi đua năm học 2009 - 2010, Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác Hội nhập quốc tế giai đoạn 2003 - 2010; - Bộ GD&ĐT công nhận là Đơn vị lao động tiên tiến xuất sắc năm học 2007 - 2008, tặng Bằng khen năm học 2008 - 2009, Cờ thi đua năm học 2009 - 2010. Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 52d1a9d78650 TITLE: Trường Đại học Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Hà Nội ( tiếng Anh : Hanoi University , tên viết tắt: HANU ) là một cơ sở đào tạo và nghiên cứu ngoại ngữ ở trình độ đại học và sau đại học . [ 2 ] Quá trình hình thành và phát triển Trường được thành lập ngày 16/7/1959 theo quyết định số 376/NĐ-BGD với tên gọi Trường Ngoại ngữ . Trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Nhà trường đã có một số lần được đổi tên theo từng thời kỳ như: Trường Ngoại ngữ (1959-1960), Trường Bổ túc Ngoại ngữ (1960-1967), Trường Đại học Ngoại ngữ (1967-1978), Trường Cao đẳng Bổ túc Ngoại ngữ (1978-1984), Trường Đại học Ngoại ngữ (1984-2006) và từ ngày 15 tháng 9 năm 2006, theo quyết định số 190/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ , trường chính thức mang tên mới là Trường Đại học Hà Nội (tên giao dịch tiếng Anh là Hanoi University - HANU). Trường Đại học Hà Nội đã trải qua 04 giai đoạn chính: Giai đoạn 1959 - 1966 Ngày 01/11/1959, tại cơ sở của Tổng cục Hậu cần Bộ Quốc phòng dựng tạm bằng tre nứa ở xã Ngọc Thụy - huyện Gia Lâm - Hà Nội, khoá chuyên tu tiếng Nga và tiếng Trung Quốc đầu tiên được khai giảng, Trường Ngoại ngữ (ngày nay là Trường Đại học Hà Nội) được thành lập. Trong khoảng thời gian 07 năm đầu thành lập (1959-1966), Trường đã đổi tên 2 lần, từ Trường Ngoại ngữ thành Trường Bổ túc Ngoại ngữ. Đây là giai đoạn có biến động mạnh về số lượng cán bộ, giảng viên cũng như đối tượng và số lượng sinh viên cần đào tạo và bồi dưỡng. Giai đoạn 1966 - 2000 Các mốc lịch sử của Nhà trường giai đoạn này: - Năm 1967, Từ Trường Bổ túc ngoại ngữ, Nhà trường được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Quyết định số 126/CP thành lập Trường Đại học Ngoại ngữ. Từ thời điểm này, Nhà trường chính thức trở thành cơ sở giáo dục bậc đại học; - Năm 1977, trước những khó khăn của đất nước trong hoàn cảnh bắt đầu công cuộc tái thiết sau chiến tranh và tình hình đào tạo của Nhà trường, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã quyết định chuyển nhiệm vụ đào tạo cán bộ chuyên ngành ngoại ngữ (phiên dịch và giáo viên) mà Nhà trường đang thực hiện sang một cơ sở giáo dục đại học khác và đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành Trường Cao đẳng Bổ túc ngoại ngữ; - Năm 1984, đánh dấu 25 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba lần thứ hai và đổi tên Trường Cao đẳng Bổ túc Ngoại ngữ thành Trường Đại học Ngoại ngữ; - Năm 1989 và năm 1994, Nhà trường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Trường (1959-1989) và 35 năm thành lập Trường (1959 – 1994). Giai đoạn 2000 - 2009 Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 190/2006/QĐ-TTg ngày 17/8/2006 việc đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành Trường Đại học Hà Nội. Năm 2004, với những thành tích đã đạt được Trường Đại học Hà Nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Ba nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Trường (1959–2004). Giai đoạn từ 2009 đến nay Giai đoạn 2009-2019, Trường đã mở thêm 03 chương trình cử nhân chuyên ngành dạy-học bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, 03 chương trình ngôn ngữ chất lượng cao, 02 chương trình thạc sĩ và đặc biệt là 13 chương trình liên kết. Bên cạnh hợp tác quốc tế trong trao đổi sinh viên, giảng viên, chuyên viên thì Nhà trường còn đẩy mạnh hợp tác để xây dựng chương trình, giáo trình, hội thảo khoa học; hợp tác thực hiện dự án, đề tài nghiên cứu Chức năng và nhiệm vụ Nhiệm vụ cơ bản của trường là đào tạo cán bộ biên phiên dịch và giáo viên ngoại ngữ bậc đại học, đào tạo cử nhân một số ngành bằng ngoại ngữ, bồi dưỡng, bổ túc ngoại ngữ cho sinh viên và nghiên cứu sinh và thực tập sinh Việt Nam đi học ở nước ngoài . Trung tâm đào tạo, nghiên cứu Nhà trường có các trung tâm đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu của xã hội như: Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam cung cấp kiến thức về văn hóa, đào tạo tiếng Việt ngắn hạn cho người nước ngoài; Trung tâm tư liệu và tiếng Anh chuyên ngành cung cấp từ liệu, mở các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành (kinh tế, du lịch, thương mại, ngân hàng v.v...) cho mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Trung tâm đào tạo từ xa đào tạo cử nhân ngoại ngữ trên phạm vi cả nước có ứng dụng phần mềm dạy tiếng chuyên dụng; Trung tâm dịch thuật đáp ứng mọi nhu cầu về đào tạo nghiệp vụ và dịch vụ về ngoại ngữ; Trung tâm công nghệ-thông tin quản lý và triển khai các đề tài nghiên cứu ứng dụng, thực hiện các hợp đồng dịch vụ về phần mềm quản lý hành chính, chuyên môn cho các cơ sở đào tạo, quản lý giáo dục, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước. Lĩnh vực đào tạo Các ngành ngoại ngữ đào tạo chính quy Trường Đại học Hà Nội có khả năng giảng dạy hơn mười thứ tiếng thông dụng trên thế giới: tiếng Việt (dành cho người nước ngoài), tiếng Anh , tiếng Nga , tiếng Pháp , tiếng Trung , tiếng Đức , tiếng Nhật , tiếng Tây Ban Nha , tiếng Bồ Đào Nha , tiếng Ý , tiếng Hàn , tiếng Thái và tiếng Ba Lan . Trong số các ngoại ngữ nêu trên có 10 chuyên ngành tiếng đào tạo cử nhân ngoại ngữ với chương trình học 4 năm, có 4 chuyên ngành tiếng đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ 2 hoặc 3 năm. Trong quá trình học, hết năm thứ nhất, sinh viên có thể: dự thi vào lớp "Cử nhân tài năng" học theo chương trình tăng cường, chất lượng cao; hoặc đăng ký học song ngữ. Các ngành đào tạo chuyên ngành giảng dạy bằng ngoại ngữ Các ngành đào tạo chuyên ngành giảng dạy bằng ngoại ngữ là hệ đào tạo chính quy dạy bằng tiếng Anh, 4 năm, cấp bằng cử nhân. Trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cử nhân các chuyên ngành khác dạy bằng ngoại ngữ từ năm 2002: ngành Quản trị kinh doanh , Du lịch , Quốc tế học , CNTT , Tài chính - ngân hàng , Kế toán , Marketing , Nghiên cứu Phát triển , Truyền thông Đa phương tiện , Công nghệ Tài chính dạy bằng tiếng Anh, Truyền thông Doanh nghiệp dạy bằng tiếng Pháp. Ngoài ra, Trường còn đào tạo cử nhân ngành Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài. Trong tương lai sẽ mở thêm những chuyên ngành đào tạo khác bằng ngoại ngữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu cầu cao. Các ngành đạo tạo không chính quy Đây là dành cho các đối tượng không chuyên, hay các bạn sinh viên hay người đã đi làm có thể học thêm (gọi là hệ tại chức cũ). Thời gian học kéo dài trong 4 năm, được cấp bằng cử nhân hệ tại chức. Trường đào tạo các thứ tiếng: Anh, Trung, Nhật. Đào tạo ngành tiếng Anh, không tập trung. Bằng đại học thứ hai, hay còn gọi là "văn bằng 2", dành cho người đã có một bằng đại học ngoại ngữ hệ chính quy, cấp bằng cử nhân hệ chính quy. Hệ chuyên tu dành cho những người đã tốt nghiệp trường cao đẳng ngoại ngữ hệ chính quy; cấp bằng đại học hệ chuyên tu: tất cả các ngành đào tạo chính quy. Dành cho người có bằng cử nhân ngành tiếng Anh, hệ không chính quy (tại chức, mở rộng) đã qua lớp bổ túc kiến thức tương đương chính quy. Các lớp ngoại ngữ Các lớp ngoại ngữ mở rộng rãi cho mọi tầng lớp, gồm trình độ khởi đầu (A), trung cấp (B) và nâng cao (C). Đào tạo 18 ngoại ngữ: Anh, Ả rập, Pháp, Nga, Trung, Đức, Nhật, Hàn, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Rumani, Bungari, Hungari, Séc, Slovak, Ba Lan, Thái; Cấp chứng chỉ A, B, C theo chuẩn đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài Hợp tác quốc tế Trường Đại học Hà Nội có quan hệ đối ngoại với trên 300 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực tiếp với hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam; tham gia các hoạt động văn hóa đối ngoại, giao lưu ngôn ngữ-văn hóa với nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và quốc tế. Trường Đại học Hà Nội có thế mạnh đặc biệt về việc hợp tác với các trường Đại học Italia, cụ thể hiện nay trường đã và đang hợp tác chặt chẽ với 23 trường Đại học Công lập danh tiếng của Italia và thực hiện các chương trình trao đổi chuyển tiếp cho sinh viên và cán bộ giáo viên cũng như các chương trình ngành phụ, chương trình liên kết đào tạo tạo điều kiện cho sinh viên theo học lấy chứng chỉ hoặc lấy bằng Công lập của Italia. Khuynh hướng phát triển Với phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo, Trường Đại học Hà Nội từng bước tiếp cận công nghệ giáo dục tiên tiến của các nước phát triển, cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo nhằm tăng cường trang bị cho người học kỹ năng làm việc, kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường hoạt động nghề nghiệp trong tương lai. Chính vì vậy, mục tiêu đào tạo không chỉ nhằm trang bị cho người học kiến thức mà còn coi trọng định hướng phát triển năng lực làm việc cho sinh viên. Hiện tại có khoảng 22.000 sinh viên và trên 300 học viên sau đại học đang theo học tại trường. Tỉ lệ sinh viên đạt loại khá, giỏi hàng năm chiếm trên 70%, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp nhận được việc làm đạt 90% (theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới năm 2003-2004) [ cần dẫn nguồn ] . Giai đoạn 2004-2020, trường tập trung phát triển các ngành đào tạo chính quy, hoàn thành chương trình đào tạo đa ngành, tiếp tục bồi dưỡng ngoại ngữ cho lưu học sinh nước ngoài; mở rộng các loại hình đào tạo như tại chức, từ xa, ngoại ngữ chuyên ngành; phát triển đào tạo sau đại học gồm đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng và uy tín của Tạp chí khoa học ngoại ngữ; mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế thông qua các chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi giáo viên và sinh viên. Cựu sinh viên nổi bật Hình ảnh Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7d30162b1ca0 TITLE: Trường Đại học Giao thông Vận tải SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Giao_th%C3%B4ng_V%E1%BA%ADn_t%E1%BA%A3i [CONTENT] Trường Đại học Giao thông Vận tải (tiếng Anh: University of Transport and Communications , tên viết tắt: UTC ) là một trường đại học công lập đứng đầu ngành GTVT, theo định hướng nghiên cứu, có nhiệm vụ đào tạo các chuyên ngành thuộc lĩnh vực về kỹ thuật và kinh tế trong giao thông vận tải của Việt Nam . Trường Đại học Giao thông Vận tải có tiền thân là Trường Cao đẳng Công chính (bắt đầu đào tạo từ 1902 thời thuộc Pháp) được khai giảng lại dưới chính quyền cách mạng ngày 15 tháng 11 năm 1945 theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nghị định thư ngày 08 tháng 10 năm 1945 của Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe và ngày 14 tháng 11 năm 1945 của Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Đào Trọng Kim. Tháng 8 năm 1960, Ban Xây dựng Trường Đại học Giao thông vận tải được thành lập và tuyển sinh khóa 1 trình độ Đại học. Ngày 24 tháng 03 năm 1962, trường chính thức mang tên Trường Đại học Giao thông vận tải theo Quyết định số 42/CP ngày 24 tháng 03 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ. Trường Đại học Giao thông Vận tải là trường đại học đa ngành về kỹ thuật, công nghệ và kinh tế, có mục tiêu trở thành Đại học trọng điểm quốc gia . Các cơ sở đào tạo Lịch sử Năm 1902, Trường Công chính được thành lập với mục đích đào tạo người Việt Nam cho các cơ quan công chính. Sau khi đất nước giành được độc lập 2 tháng 9 năm 1945, ngày 15 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh khai giảng lại Nhà trường với tên gọi Trường Cao đẳng Công chính Việt Nam. [ 2 ] Ngày 15 tháng 11 hàng năm được lấy là ngày Truyền thống của Trường. Từ năm 1945 đến nay, trải qua nhiều đổi thay Trường đã lần lượt trải qua các cột mốc và mang các tên gọi sau: Cơ cấu tổ chức Đội ngũ cán bộ giảng viên Đội ngũ Nhà giáo và cán bộ quản lý của Nhà trường hiện có 1120 người; trong đó có 827 Giảng viên với 91 Giáo sư và Phó Giáo sư, 202 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 489 Thạc sỹ. Lãnh đạo Trường hiện nay Các Khoa, Bộ môn trực thuộc Các Bộ môn thuộc các khoa Năm 2020 Khoa Công trình tuyển sinh 910 chỉ tiêu theo hình thức xét tuyển kết quả thi THPT và xét học bạ. (1) Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông - Chuyên ngành Cầu - Đường bộ. Mã ngành 7580205-01, chỉ tiêu tuyển sinh 350 - Nhóm chuyên ngành: Đường bộ và Kỹ thuật giao thông đường bộ. Mã ngành 7580205-02, chỉ tiêu tuyển sinh 120; [ 3 ] Thành tích Trong hơn 70 năm hoạt động, Trường Đại học Giao thông Vận tải đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý. [ 2 ] Giải thưởng về khoa học công nghệ 02 giải nhất VIFOTEC trong hai năm liên tục 1996 , 1997 . Chú thích Xem thêm Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: aa2abd7289f7 TITLE: Trường Đại học Mỏ – Địa chất SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%8F_%E2%80%93_%C4%90%E1%BB%8Ba_ch%E1%BA%A5t [CONTENT] Trường Đại học Mỏ – Địa chất ( tiếng Anh : Hanoi University of Mining and Geology ) là một trường đại học đa ngành hàng đầu tại Việt Nam, thuộc nhóm 95 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á . [ 1 ] Trường được thành lập năm 1966, là trường đại học đa ngành, định hướng ứng dụng, đào tạo cán bộ Khoa học kỹ thuật trình độ đại học và trên đại học về các lĩnh vực: Dầu khí, Xây dựng, Công nghệ thông tin , Cơ khí, Tự động hóa , Khai thác tài nguyên khoáng sản, Bảo vệ môi trường, Đo đạc lãnh thổ lãnh hải, Quản lý đất đai, Kinh tế, Quản trị doanh nghiệp, Kế toán,... Hiện Nhà trường có 3 cơ sở đào tạo tại Hà Nội , Quảng Ninh và Vũng Tàu . Lịch sử Trường Đại học Mỏ – Địa chất được thành lập theo Quyết định số 147/QĐ-CP ngày 8 tháng 8 năm 1966 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Khoa Mỏ – Địa chất của trường Đại học Bách khoa Hà Nội . [ 2 ] Trường Đại học Mỏ – Địa chất đã trải qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1956 – 1966 Trong giai đoạn này, các thế hệ cán bộ và sinh viên Nhà trường đã trải qua nhiều khó khăn, thiếu thốn của chiến tranh để tiếp tục công việc giảng dạy và học tập. Đây cũng là giai đoạn từ một khoa chuyên môn trực thuộc Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Mỏ – Địa chất chính thức được thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 11 năm 1966 Trường Đại học Mỏ – Địa chất chính thức khai giảng khóa học đầu tiên. Kể từ thời điểm đó, ngày 15 tháng 11 hàng năm được lấy làm Ngày Truyền thống của Trường. Giai đoạn 1966 – 1976 Trong giai đoạn này, Trường đã bắt đầu từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy và cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục, đào tạo. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Nhà trường chủ trương đưa sinh viên xuống cơ sở sản xuất, gắn nội dung giảng dạy và nghiên cứu khoa học với cuộc cách mạng kỹ thuật, đào tạo cán bộ thích ứng với yêu cầu về kinh tế, quốc phòng của Việt Nam. Trường đã nghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều đề tài vào sản xuất và phục vụ quốc phòng. Năm 1974, Trường chuyển về địa điểm mới tại huyện Phổ Yên , Thái Nguyên mở đầu một thời kỳ mới trong quá trình xây dựng và phát triển của trường. Tại đây, thầy và trò Trường Đại học Mỏ – Địa chất đã cùng nhau vượt qua mọi khó khăn tiếp tục công tác giảng dạy và học tập phục vụ yêu cầu xây dựng CNXH trước mắt và lâu dài. Giai đoạn 1976 – 1986 Đất nước hoàn toàn thống nhất, Trường Đại học Mỏ – Địa chất tiếp tục không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đội ngũ cán bộ giảng viên có chất lượng dần dần được bổ sung, cán bộ được đào tạo ở nước ngoài (đa số ở các nước Đông Âu) về Trường ngày một đông. Quy mô phát triển lên trên 4000 sinh viên các hệ đào tạo. Các khoa mới được thành lập như Khoa Dầu khí, Khoa Cơ – Điện, số bộ môn cũng tăng lên gấp nhiều lần. Các chuyên ngành đào tạo cũng được hình thành và phát triển. Để đáp ứng nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao, năm 1976, Trường Đại học Mỏ – Địa chất là một trong những trường Đại học đầu tiên ở Việt được Chính phủ cho phép mở bậc đào tạo nghiên cứu sinh. Năm 1977, Nhà trường đã tổ chức thành công việc bảo vệ luận án PTS đầu tiên (nay gọi là Tiến sĩ) trong các Trường Đại học kỹ thuật của nước ta. Năm 1979 Trường được Chính phủ cho phép chuyển về vùng ngoại thành Hà Nội. Đến năm 1983, Nhà trường hoàn thành việc chuyển về cơ sở Hà Nội. Từ đó cơ sở vật chất được cải thiện rất nhiều, quy mô đào tạo tăng dần, đội ngũ cán bộ giảng dạy lớn mạnh, đảm đương được nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nhiều đề tài trọng điểm cấp Nhà nước được thực hiện có hiệu quả, bắt đầu hình thành các đơn vị nghiên cứu khoa học có uy tín đối với cơ sở sản xuất và các địa phương. Giai đoạn 1986 đến nay Đây là thời kỳ đổi mới và có những bước chuyển mình mạnh mẽ của cả nước nói chung và Trường Đại học Mỏ – Địa chất nói riêng. Thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng Trường Đại học Mỏ – Địa chất không chỉ là trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, trình độ cao mà còn là trung tâm Nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ tiên tiến của Việt Nam, Trường đã tăng cường quy mô đào tạo của cả hệ ĐH và sau ĐH, đa dạng hóa loại hình đào tạo, mở thêm ngành và chuyên ngành mới, đổi mới căn bản mục tiêu, nội dung chương trình và phương thức đào tạo. Trường Đại học Mỏ – Địa chất đang đào tạo trên 22.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh với 67 chuyên ngành đại học và 33 chuyên ngành cao học, 57 chuyên ngành tiến sĩ. Hiện nay Trường có quan hệ hợp tác trong đào tạo, Nghiên cứu khoa học với trên 200 trường đại học, trung tâm Nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu và tổ chức giáo dục của 32 quốc gia trên thế giới, là thành viên của 8 tổ chức mạng lưới đại học quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế, trường đã cử nhiều cán bộ và sinh viên đi nước ngoài học tập, nghiên cứu, trao đổi,...Xây dựng hàng chục dự án quốc tế về đào tạo, trang bị, Nghiên cứu khoa học để góp phần tăng cường cơ sở vật chất cho Trường. Bộ GD – ĐT Việt đã giao cho Trường thực hiện chương trình đào tạo tiên tiến là chương trình Lọc – Hóa dầu. Từ năm 1986 đến nay cơ sở vật chất của Trường đã được cải tạo và nâng cấp một cách cơ bản, cơ sở hạ tầng và cảnh quan ngày càng khang trang, sạch đẹp; nhiều phòng thí nghiệm hiện đại được xây dựng và đang triển khai thực hiện nhiều dự án lớn phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trình độ cao. Điều kiện làm việc và đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, sinh viên không ngừng được cải thiện. Năm 2006, Trường đã xây dựng Đề án: Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển trường Đại học Mỏ – Địa chất giai đoạn 2006–2030. Ngày 1 tháng 2 năm 2007, Bộ trưởng Bộ GD – ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 668/QĐ-BGDĐT phê duyệt bản Đề án này. Qua 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã đào tạo được gần 66.000 kỹ sư, gần 4000 cử nhân hệ CĐ; trên 5000 học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ; gần 400 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Các cựu sinh viên của Nhà trường đã có mặt trên khắp mọi miền của Tổ quốc, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng. Các nhà khoa học của Nhà trường đã thực hiện hàng trăm đề tài, chương trình các cấp nhà nước, cấp bộ và cấp cơ sở, Trường Đại học Mỏ – Địa chất đã hợp tác nghiên cứu khoa học với nhiều địa phương trong cả nước và nhiều nước trên thế giới về các lĩnh vực Mỏ, Địa chất, Trắc địa – Bản đồ, Dầu khí, Cơ – Điện, Kinh tế – Quản trị kinh doanh , Công nghệ thông tin, Xây dựng và Môi trường. Kết quả các đề tài không chỉ đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường mà còn được ứng dụng trực tiếp vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Đất nước. Thành tựu Đào tạo Ngày 4/4/2018, Đại học Mỏ địa chất được trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục bởi Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục. Số tiêu chí được đánh giá ĐẠT là 52/61 tiêu chí (tương ứng với tỷ lệ 85,25%) là kết quả rất đáng tự hào đối với Trường Đại học Mỏ – Địa chất, giúp Nhà trường khẳng định được vị thế và thương hiệu để tiếp tục có những cải tiến, đầu tư phù hợp, phát triển lên tầm cao mới trong xu thế hội nhập quốc tế. [ 3 ] Qua 50 năm, Nhà trường đã đào tạo được 38626 kỹ sư hệ chính quy, 27146 kỹ sư hình thức vừa làm vừa học, 3615 cử nhân hệ cao đẳng. Hiện nay, số sinh viên đang học tại Trường là 19924 SV đại học (trong đó: 16048 SV hệ chính quy, 3876 SV hình thức vừa làm vừa học) và 848 SV hệ cao đẳng. Nhà Trường thực hiện các chương trình đào tạo theo tín chỉ: 40 chương trình đào tạo đại học, 10 chương trình đào tạo cao đẳng và 12 chương trình đào tạo Liên thông cao đẳng lên đại học. Bên cạnh đó để nâng cao chất lượng đào tạo nhà Trường triển khai ký kết các thỏa thuận hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn kết với các Tập đoàn, Công ty, đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo và khai thác làm cơ sở thực hành, thực tập của đơn vị sản xuất cho sinh viên thực hành thực tập. [ 4 ] Từ năm 1966 đến tháng 8 năm 2016, Nhà trường đã đào tạo được 405 tiến sĩ và 5677 thạc sĩ. Hiện nay, có 150 nghiên cứu sinh và 1189 học viên cao học đang học tập và nghiên cứu tại Trường. Những năm gần đây quy mô đào tạo sau đại học của Nhà trường khá ổn định; chất lượng đào tạo được giữ vững và có bước nâng cao, đã tạo được nền nếp tốt trong công tác tuyển sinh cũng như tổ chức đào tạo. Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Mỏ – Địa chất được Nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước các loại, gồm: đề tài KHCN thuộc các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước; đề tài KHCN độc lập cấp Nhà nước; nhiệm vụ thuộc các chương trình trọng điểm do Bộ Công thương quản lý; nhiệm vụ theo Nghị định thư với nước ngoài; nhiệm vụ NCCB định hướng ứng dụng; đề án hợp tác nghiên cứu với nước ngoài; đề tài NCCB trong KHTN; đề tài KHCN tiềm năng. Cụ thể, Nhà trường đã thực hiện 315 đề tài NCKH cấp Nhà nước các loại. Trong 50 năm qua, Trường Đại học Mỏ – Địa chất đã thực hiện 714 đề tài cấp Bộ và tương đương. Đã thực hiện 1339 đề tài NCKH cấp cơ sở. Hoạt động NCKH – chuyển giao công nghệ là thế mạnh của Trường Đại học Mỏ – Địa chất trong nhiều năm qua. Thông qua việc thực hiện các hợp đồng KHCN với các địa phương doanh nghiệp, những nhiệm vụ cụ thể mà đời sống kinh tế xã hội đặt ra được giải quyết kịp thời và có hiệu quả. Kinh phí cho hoạt động này chủ yếu từ các nguồn vốn khác của các địa phương, của các công ty, các đơn vị sản xuất. Đã thực hiện 20.359 hợp đồng dịch vụ khoa học và chuyển giao công nghệ. Về lĩnh vực thông tin khoa học, trong 50 năm qua Nhà trường đã tổ chức thành công 20 hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế và 21 hội nghị khoa học Trường với tổng số trên 8400 Báo cáo khoa học. Xuất bản được 39 số ấn phẩm tuyển tập các công trình khoa học và 51 số Tạp chí Khoa học kỹ thuật Mỏ – Địa chất với trên 1800 bài báo khoa học. Tổ chức thành công 29 hội nghị khoa học của sinh viên Trường với tổng số 5200 Báo cáo khoa học. Đặc biệt, giai đoạn 2011–2015, qua kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được các nhà khoa học chuyển tải thành các bài báo, báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí, tài liệu khoa học trong và ngoài nước. Các công trình công bố, gồm: 135 bài đăng trên tạp chí khoa học quốc tế (tăng gần 200% so với giai đoạn trước); 623 bài báo đăng trong tạp chí khoa học trong nước và 945 báo cáo khoa học công bố tại các hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước. Hoạt động quảng bá sản phẩm sở hữu trí tuệ cũng đã được Nhà trường chú trọng, quan tâm. Đến nay, Nhà trường đã thực hiện được 02 bằng sở hữu trí tuệ về giải pháp hữu ích, tham gia nhiều hội chợ triển lãm sản phẩm khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ và địa phương tổ chức. Về xây dựng tiềm lực cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đến nay Nhà trường đã có 08 trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; 01 Công ty CODECO thực hiện vai trò ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn và chuyển giao công nghệ. Thực hiện chủ trương của Nhà nước về chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động của các đơn vị này, đến nay các đơn vị trên đã hoàn thành chuyển đổi theo Nghị định 115/NĐ-CP/2005 và Nghị định 80/NĐ-CP/2006. Được sự quan tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà trường được trang bị 06 phòng thí nghiệm tăng cường năng lực nghiên cứu, 01 phòng thí nghiệm trọng điểm về khoa học địa chất. Bên cạnh đó, Nhà trường còn được tài trợ 02 phòng thí nghiệm nghiên cứu hiện đại từ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và từ Công ty Astec. Hiện nay, Nhà trường đang thực hiện 6 đề tài KHCN các loại, cấp Nhà nước, thực hiện 01 chương trình (07 đề tài nhánh) và 18 đề tài KHCN cấp bộ; thực hiện 32 đề tài/ nhiệm vụ cấp cơ sở. [ 4 ] Hợp tác quốc tế Duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với rất nhiều đối tác trên 30 nước bao gồm các đối tác đã có truyền thống hợp tác lâu dài như Nga, Ba Lan, Trung Quốc, Đức, Pháp, Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển, Hà Lan,..., các đối tác tại các nước trong khu vực như Brunei, Lào, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,..., và các n­ước phát triển hàng đầu trên thế giới về khoa học kỹ thuật mới đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam trong thời gian gần đây như Anh, Mỹ, Thụy Sĩ. Trung bình hàng năm, Nhà trường đón tiếp chính thức khoảng 30 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc với Nhà trường và khoảng 08 đoàn ra nước ngoài công tác. Ngoài ra, hoạt động Hợp tác quốc tế cũng được các Khoa chuyên môn chủ động thực hiện như trao đổi học thuật, tổ chức các khóa học ngắn hạn, hội thảo chuyên đề với sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà trường. [ 5 ] [ 6 ] Công tác xã hội Nhà trường luôn bám sát các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu quả các Chỉ thị, Nghị quyết của các tỉnh thành nơi Nhà trường đóng quân. Hoạt động của các Tổ chức Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Hội Cựu chiến binh của Nhà trường luôn được cấp trên đánh giá cao và công nhận là đơn vị vững mạnh. Những thành tích trên đạt được là nhờ sự đoàn kết nhất trí của cán bộ công chức và sinh viên toàn trường, trước hết là sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ Nhà trường dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng uỷ, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là Công đoàn và Đoàn thanh niên. Đó là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của nhà trường. [ 7 ] [ 8 ] Nhân sự Với 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Mỏ – Địa chất đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao. Nhiều cán bộ của Nhà trường đã là những nhà khoa học đầu ngành của cả nước. Đội ngũ cán bộ, viên chức, nhà khoa học của Nhà trường có đầy đủ năng lực hoàn thành xuất sắc công tác đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ. Cơ cấu tổ chức của Nhà trường thực hiện ở 03 cấp: Trường, khoa, bộ môn. Hiện nay, Nhà trường có 12 khoa trong đó có 09 khoa chuyên môn và 03 khoa đại cương với 60 bộ môn; 18 phòng, ban, trung tâm chức năng; 01 Văn phòng Chương trình tiên tiến; 08 trung tâm nghiên cứu, 01 công ty. Hiện tại (đến tháng 8/2016) tổng số cán bộ viên chức toàn trường là 902 người, trong đó có 625 giảng viên, 64 trợ giảng, 213 cán bộ hành chính văn phòng. Nhìn chung, số lượng và chất lượng của cán bộ viên chức đã được nâng cao; đặc biệt, lực lượng cán bộ có trình độ cao tăng mạnh, được trẻ hóa, đáp ứng được yêu cầu đặt ra và thực hiện tốt nhiệm vụ của Nhà trường (có 02 GS.TS, 54 PGS.TS, 39 GVC.TS, 105 GV.TS, 02 TS là trợ giảng; số tiến sĩ ở độ tuổi từ 30 – 40 là 92, trong đó có 02 đồng chí đã được bổ nhiệm chức danh PGS). Cơ sở vật chất Trường Đại học Mỏ – Địa chất bao gồm Khu A (2,3 ha) ở phường Đức Thắng, Khu B (1,17 ha) ở phường Cổ Nhuế 2, Khu C (355m²) ở phường Cổ Nhuế 1, Khu M (90m²) ở phường Bách Khoa, cơ sở thực tập tại phường Phai Vệ – Thành phố Lạng Sơn và Nhà C, C5 (879m²) [ 9 ] Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội . Ngoài ra, Khu Đô thị đại học 23,6 ha mới được phê duyệt 190,4 tỷ kinh phí giải phóng mặt bằng và cấp 42 tỷ năm 2015. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện giải phóng mặt bằng còn gặp phải nhiều vướng mắc ở các thủ tục hành chính do hiện trạng sở hữu công tư đan xen trong khu đất. Đến thời điểm hiện tại, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số 6342-QĐ/UBND ngày 24 tháng 11 năm 2015 về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Các giảng đường, ký túc xá của Nhà trường được bố trí cả ở các Khu A, B và C. Tại khu A có các giảng đường thuộc khối nhà A, B và D, ký túc xá sinh viên Việt Nam thuộc khối nhà D1, D2 và ký túc xá sinh viên nước ngoài (nhà Lào); tại khu B có các giảng đường thuộc khối nhà G, một số giảng đường trong các nhà cấp 4 (Nhà A, B, C), khu giáo dục thể chất, khu giáo dục quốc phòng thuộc khối nhà H, ký túc xá 9 tầng (Nhà D3) và ký túc xá 5 tầng (Nhà D4); khu C được sử dụng cho công tác đào tạo sau đại học. [ 10 ] Các ngành đào tạo Cơ sở Hà Nội Cơ sở Quảng Ninh Cơ sở Vũng Tàu Các khoa đào tạo Ngoài ra, trường còn đào tạo ngành mỏ ở cơ sở Quảng Ninh và ngành dầu khí ở cơ sở Vũng Tàu . Các phòng, ban và trung tâm Thành tích và xếp hạng Thành tích Xếp hạng Cựu sinh viên nổi tiếng Các thông tin khác Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 114c0170e5b9 TITLE: Trường Đại học Mở Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%9F_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Mở Hà Nội ( tiếng Anh : Hanoi Open University, viết tắt: HOU ) là một cơ sở giáo dục đại học công lập, nhiều cấp độ, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Quy mô đào tạo của trường đại học này vào khoảng 35.000 sinh viên gồm các hệ chính quy, vừa làm vừa học và đào tạo từ xa, với 21 Ngành đào tạo ở trình độ đại học, 7 Ngành đào tạo trình độ Sau đại học (Thạc sỹ, tiến sĩ) Số giảng viên cơ hữu gồm 29 Giáo sư, 123 Phó Giáo sư, 322 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ, 487 Thạc sĩ Diện tích đất đai của Nhà trường gần 60.000 m2, với 354 phòng học, phòng máy tính, các phòng thực tập, thực hành, phòng thí nghiệm, phòng mỹ thuật,... Tổ chức đào tạo Được thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1993 theo quyết định số 535/TTg của Thủ tướng Chính phủ , trường Đại học Mở Hà Nội (trước đây là Viện Đại học Mở Hà Nội) là tổ chức do Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam trực tiếp quản lý, tự chủ về tài chính và được hưởng mọi quy chế của một trường đại học công lập. Theo Quyết định số 960/TTg ngày 6-8-2018 của Thủ tướng Chính phủ, Viện đại học Mở Hà Nội mang tên mới là Trường Đại học Mở Hà Nội [ 3 ] Ban Lãnh đạo Cơ sở vật chất - Tại Hà Nội: Trụ sở chính của Trường đặt tại nhà B101, phố Nguyễn Hiền, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. - Tại Long Hưng, Văn Giang, Hưng Yên: Trường có gần 60.000m2, hiện đang đào tạo Giáo dục Quốc phòng - An ninh và Giáo dục Thể chất - Tại Đà Nẵng: 295 đường Nguyễn Tất Thành, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng - Trường có 4 khu giảng đường và hơn 80 đơn vị liên kết, đơn vị phối hợp đào tạo từ xa, vừa làm vừa học tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Về cơ sở vật chất: + Có 25 phòng máy tính, 03 Trường quay với trang thiết bị hiện đại chuẩn Hàn Quốc + Có 354 phòng học, giảng đường từ 40 - 120 chỗ + Có 800 phòng học tại các trạm đào tạo địa phương + Hệ thống công nghệ đào tạo trực tuyến hiện đại cùng hệ sinh thái số giúp người học tiếp cận kiến thức thuận lợi, hiệu qua· Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c541d136f562 TITLE: Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p [CONTENT] Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp là trường đại học công lập chuyên đào tạo các ngành mỹ thuật công nghiệp tại thành phố Hà Nội , trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0590688733ba TITLE: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hay Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 ( tiếng Anh : Hanoi National University of Education [ a ] - viết tắt: ĐHSPHN hay HNUE ) là một trường đại học công lập tại Việt Nam thành lập từ sau 1967. Trường được xếp top 801-850 tại châu Á theo QS Rankings [ 2 ] và top 8 tại Việt Nam theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam VNUR . [ 3 ] Hiện nay trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện có hai trường trung học phổ thông trực thuộc là Trường Trung học phổ thông chuyên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường trung học phổ thông nguyễn tất thành dành cho các học sinh trên toàn quốc. Năm 1993, cùng với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, ba trường cùng được sắp xếp và trở thành những trường trực thuộc đầu tiên của Đại học Quốc gia Hà Nội mới được thành lập. [ 4 ] Tuy nhiên, vào năm 1999, Trường được tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội, và chính thức mang tên gọi như ngày nay. [ 5 ] Năm 2008, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là chủ nhà của Olympic Vật lý Quốc tế lần thứ 39. Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 được thành lập theo Quyết định số 128/CP, ngày 14/8/1967 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở chia tách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũ (trước 1967) thành 03 trường: Đại học Sư phạm Hà Nội 1 , Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội . Theo quyết định trên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 đảm nhiệm việc đào tạo các khoa: Văn, Sử, Địa, Tâm lí - Giáo dục, khoa đào tạo giáo viên cấp II về khoa học xã hội. [ 6 ] [ 7 ] Ngày 10 tháng 12 năm 1993 theo Nghị định 97/CP của Chính phủ , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 được sáp nhập và trở một trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với tên gọi Trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội . [ 8 ] Theo Quyết định 201/QĐTTg ngày 12 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, [ 9 ] Trường Đại học Sư phạm tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay (thường gọi là Sư phạm 1) hiện nay đôi khi gây nhầm lẫn với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (trước 1967) , do việc sử dụng lại tên gọi “Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”. Trên thực tế, trường chỉ là một trong ba hậu thân của cơ sở ban đầu. Tuy nhiên, theo quan điểm của đơn vị, trường đại học Sư phạm 1 xem mình là đơn vị kế thừa trực tiếp nhất. [ 10 ] Ngày 18 tháng 11 năm 2025, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ công bố nghị quyết thành lập 3 trường trực thuộc gồm: Trường Khoa học phát triển trẻ thơ; Trường Khoa học giáo dục và trường Toán học và Công nghệ thông tin. [ 11 ] Trường có cơ sở 2 đặt tại tỉnh Hà Nam (trên cơ sở sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam) vào ngày 30 tháng 12 năm 2015. Các tên gọi cũ: Ban Giám hiệu đương nhiệm Nhân sự Tổng số cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên là 1.227 (807 giảng viên trong đó có 609 giảng viên biên chế, 70 giảng viên hợp đồng dài hạn, 362 nữ giảng viên), trong đó có: Cơ sở vật chất, kỹ thuật: Giảng đường có tổng diện tích là 19.760 m² và 181 phòng; phòng máy tính có tổng diện tích là 2.812 m² và 36 phòng; thư viện có tổng diện tích là 6.334 m² và 31 phòng; phòng thí nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m² và 38 phòng. Cơ cấu tổ chức Hiện nay, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội gồm có 24 khoa trực thuộc, các đơn vị nghiên cứu khoa học như Viện Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Tự nhiên; ngoài ra còn có các trường phổ thông trực thuộc mà nổi tiếng nhất là Trường Trung học phổ thông chuyên . [ 12 ] Trường còn có Phân hiệu Hà Nam trực thuộc. Ngày 18/11/2025, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chính thức công bố Nghị quyết thành lập 3 trường trực thuộc: Trường Toán học và Công nghệ thông tin , Trường Khoa học Phát triển Trẻ thơ và Trường Khoa học Giáo dục Các khoa trực thuộc Các trường phổ thông - mầm non trực thuộc Các cơ sở khác Các cựu hiệu trưởng Các giáo sư danh tiếng Những cựu sinh viên nổi bật Tranh cãi Vụ tước bằng thạc sĩ Đỗ Thị Thoan Đỗ Thị Thoan (bút danh là Nhã Thuyên) vốn là sinh viên K53 Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Đại học, cô tiếp tục theo học khóa cao học K18 tại trường này (năm học 2009 – 2010). Luận văn thạc sĩ Vị trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine , của cô được hội đồng thẩm định của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đánh giá xuất sắc. Nhờ vậy, cô được ký hợp đồng ngắn hạn làm giảng viên giảng dạy môn Văn học Việt Nam hiện đại tại khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ tháng 9/2012. Cuối tháng 5/2013 khoa này cho biết có sức ép từ cơ quan an ninh nên họ không thể cho cô tiếp tục dạy. Đến đầu tháng 3 năm 2014, PGS TS Nguyễn Thị Bình, tổ trưởng Tổ Văn học Việt Nam hiện đại của Khoa Ngữ văn, người hướng dẫn Nhã Thuyên làm luận văn thạc sĩ, buộc phải về hưu sớm. Sau đó, ngày 27/3/2014, Nhã Thuyên thông báo, cô bị Phòng Sau Đại học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội mời đến để nhận các quyết định thu hồi bằng và hủy luận văn thạc sĩ của cô. Chú thích Ghi chú Tham khảo Xem thêm Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0cbd3a6b537b TITLE: Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_Ngh%E1%BB%87_thu%E1%BA%ADt_Trung_%C6%B0%C6%A1ng [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Văn hóa, Giáo dục nghệ thuật, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 1 ] Cơ sở của trường tọa lạc tại số 18 ngõ 55 đường Trần Phú, phường Thanh Liệt , thành phố Hà Nội . Chức năng Nhiệm vụ Cơ cấu tổ chức Các phòng ban Hội đồng trường; Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng; Hội đồng khoa học và đào tạo; Các phòng chức năng: Các khoa đào tạo Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 56ffc950f71e TITLE: Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_Th%E1%BB%83_d%E1%BB%A5c_Th%E1%BB%83_thao_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội được nâng cấp thành trường đại học từ năm 2003 , trụ sở của trường được đặt tại xã Phụng Châu , huyện Chương Mỹ , thành phố Hà Nội . Trường hoạt động theo cơ chế đại học công lập . Với 11 bộ môn như: Điền kinh , Bóng đá , Nghiệp vụ sư phạm, Lý luận Mác - Lênin,... Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho những giáo viên thể dục thể thao trình độ đại học và các trình độ thấp hơn, đồng thời tổ chức nghiên cứu và ứng dụng khoa học giáo dục thể chất. Các bộ môn đào tạo Hiện nay trường tổ chức đào tạo với 11 bộ môn như: Tham khảo Chú thích Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9e59d64808b9 TITLE: Trường Đại học Thương mại SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i [CONTENT] Trường Đại học Thương mại ( tiếng Anh : Thuongmai University hoặc Vietnam University of Commerce, tên viết tắt: TMU) là Trường Đại học công lập của Việt Nam về khối ngành Thương mại, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo , hoạt động theo cơ chế tự chủ. Lịch sử Chất lượng đào tạo Ngày 30/03/2018, Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục ( Đại học Quốc gia Hà Nội ) chứng nhận Trường Đại học Thương mại đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành với tỷ lệ các tiêu chí đạt yêu cầu là 85,2%. [ 4 ] Đội ngũ giảng viên Đội ngũ giảng viên đến 31/12/2019 gồm 610 người trong đó giảng viên cơ hữu của nhà trường hiện nay là 440 người [ 5 ] và giảng viên thỉnh giảng gồm 170 người. [ 5 ] Phần lớn cán bộ, giảng viên nhà trường đã và đang học tập, nghiên cứu tại các nước và vùng lãnh thổ: Nga, Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Thuỵ Điển, Úc, Thái Lan, Indonesia, Đài Loan. Hiệu trưởng nhà trường qua các giai đoạn: Đơn vị trực thuộc Các đơn vị trực thuộc được chỉ đạo điều hành bởi Đảng uỷ trường, Ban giám hiệu và Hội đồng trường . [ 6 ] Các Khoa và Viện Bao gồm 11 khoa và 4 viện: Các Phòng và Đơn vị trực thuộc Các Tổ chức Chính trị - Xã hội Thành tích Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã đào tạo cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn cử nhân kinh tế, hàng nghìn thạc sĩ, tiến sĩ kinh tế; bồi dưỡng nhiều cán bộ quản lý kinh tế cho ngành thương mại và các ngành khác, đã trực tiếp thực hiện và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và hàng chục hợp đồng nghiên cứu với các cơ quan, doanh nghiệp được Nhà nước, xã hội và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá ngày càng cao. Hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Thương mại đã đạt được nhiều danh hiệu cao quý: [ 7 ] Cựu sinh viên ưu tú, nổi bật Nhiều sinh viên của Trường Đại học Thương mại sau khi tốt nghiệp đã giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, trong các cơ quan, doanh nghiệp lớn, gặt hái được thành tích ở các đấu trường sắc đẹp trong nước và quốc tế: Thông tin khác Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 96e4ebefa8d2 TITLE: Trường Đại học Xây dựng Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_X%C3%A2y_d%E1%BB%B1ng_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (tiếng Anh: Hanoi University of Civil Engineering , viết tắt: HUCE ) là trường đại học chuyên ngành, tiên phong trong đào tạo và nghiên cứu các nhóm ngành kiến trúc , xây dựng và điện tử tại Việt Nam, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Tiền thân là Khoa Xây dựng của Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 1956. [ 1 ] Năm 1966, tách ra thành trường riêng. Năm 2017, HUCE trở thành một trong bốn trường đại học đầu tiên ở Việt Nam đạt chuẩn quốc tế về đào tạo và nghiên cứu do HCERES công nhận. Lịch sử Ngày 6 tháng 3 năm 1956, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập với 10 khoa trực thuộc, trong đó có Khoa Xây dựng . [ 2 ] Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Khoa Xây dựng được tách thành Trường Đại học Xây dựng . Do chiến tranh, năm 1970, trường di tản lên Hương Canh , Vĩnh Phú và một bộ phận nhỏ ở Mê Linh . Ngày 10 tháng 9 năm 1972, trường bị ném bom tại Hương Canh. [ 3 ] Sau hòa bình, năm 1983, trường tập trung về một địa điểm tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Năm 2014, xây dựng cơ sở mới tại Hà Nam (24 ha). Năm 2016, khởi công giảng đường H3 (13.000 m²), khánh thành năm 2018. [ 4 ] Năm 2021, theo Quyết định số 1396/QĐ-TTg, trường đổi tên thành Trường Đại học Xây dựng Hà Nội . [ 5 ] Thành tích Hệ thống đào tạo Khoa trực thuộc Viện nghiên cứu và trung tâm Quy mô đào tạo Trường hiện có 24 Giáo sư, 102 Phó Giáo sư, 137 giảng viên cao cấp, 239 Tiến sỹ, 409 Thạc sỹ, 9 Nhà giáo Nhân dân và 67 Nhà giáo Ưu tú. Đại học Sau đại học Hiệu trưởng qua các thời kỳ Phong trào sinh viên Phong trào học thuật, thể thao, văn hóa, nghệ thuật phát triển mạnh, với nhiều giải thưởng, CLB, hoạt động xã hội và thiện nguyện. Cựu sinh viên nổi tiếng Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 75e987e20853 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_H%C3%A0_N%E1%BB%99i_2 [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (tên tiếng Anh: Hanoi Pedagogical University 2 ) là trường đại học công lập được thành lập ngày 14 tháng 8 năm 1967 theo Quyết định số 128/CP của Hội đồng Chính phủ . [ 1 ] Trường có trụ sở chính tại tỉnh Vĩnh Phúc . Trường đang đào tạo 20 ngành cử nhân, 18 chuyên ngành thạc sĩ và 5 chuyên ngành tiến sĩ ... Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Trường đã đào tạo cho đất nước gần 70.000 giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhà khoa học. Nhiều cựu sinh viên của Trường đang giữ vai trò quan trọng của Đảng và Nhà nước, chính quyền, cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhiều địa phương. Hiện nay, với vai trò là trường đại học sư phạm chủ chốt của quốc gia, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đang có những đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo nước nhà và luôn là một trong các lá cờ đầu trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của cả nước. Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập theo Quyết định số 128/CP, ngày 14/8/1967 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở chia tách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành 03 trường: Đại học Sư phạm Hà Nội 1 , Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội . Theo quyết định trên, Trường Đại học Sư pham Hà Nội 2 đảm nhiệm việc đào tạo giáo viên các môn khoa học tự nhiên. Trụ sở ban đầu được đặt ở Cầu Giấy (Lúc đó thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội). Từ năm 1967, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng với các trường đại học sư phạm khác đã đóng vai trò to lớn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giáo dục cho cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc. Ngày 11/10/1975, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Quyết định số 872/QĐ về việc cải tổ xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 để mỗi trường đều có các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 xã hội và các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 tự nhiên. Cũng theo quyết định này, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chuyển lên Xuân Hoà, huyện Sóc Sơn , Vĩnh Phú (nay là Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên , Vĩnh Phúc ). Sau quyết định cải tổ, xây dựng hai trường Đại học Sư phạm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã điều động thầy Nguyễn Cảnh Toàn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 sang làm Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và đồng thời cử thầy Nguyễn Ngọc Quang và thầy Nguyễn Đức Tú vào Ban phụ trách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tại Xuân Hòa, cụ thể: - Thầy Nguyễn Ngọc Quang, Hiệu phó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 làm Quyền Hiệu trưởng thay thầy Nguyễn Cảnh Toàn đi làm nhiệm vụ mới. - Thầy Nguyễn Đức Tú, Phó Chủ nhiệm Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 làm Phó Ban phụ trách. Đội ngũ cán bộ đầu tiên lên Xuân Hòa xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 gồm 16 nhà giáo do thầy Nguyễn Ngọc Quang làm Hiệu trưởng. Bên cạnh đó, có gần 30 cán bộ giảng dạy vừa mới tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Các thầy cô giáo trẻ đầy nhiệt huyết, khắc phục mọi khó khăn xây dựng trường trong những ngày đầu gian khó. Bốn khoa được thành lập sớm nhất là: Ngữ văn, Toán, Vật lý, Địa lý. Giai đoạn 1975- 1985 là giai đoạn đầy thử thách nhưng cũng thật tự hào của mọi cán bộ và sinh viên. Trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đông đảo và một hệ thống tương đối hoàn chỉnh các khoa, phòng, ban và đơn vị trực thuộc, đáp ứng toàn diện những lĩnh vực hoạt động của trường. Trường lúc này gồm các khoa: Ngữ Văn, Toán, Vật lý, Hoá, Địa lý, Sinh - KTNN, Tại chức, Quân sự. Trường đào tạo đại học các ngành: Ngữ Văn, Toán, Vật lý, Địa lý và Sinh-KTNN với 4 hệ đào tạo: hệ chính quy, hệ chuyên tu, hệ tại chức và hệ đào tạo chuẩn hoá chương trình đại học sư phạm bốn năm. Trong giai đoạn 1986- 1995, hàng trăm cán bộ đã trưởng thành. Hàng ngàn sinh viên đã tốt nghiệp. Gần một ngàn giáo viên trung học phổ thông các tỉnh, thành phố được đào tạo đạt chuẩn trình độ đại học 4 năm. Hàng trăm cán bộ, công nhân viên các cơ quan, đơn vị đã đạt được bằng tốt nghiệp trung học bổ túc. Trường mở hệ đào tạo giáo viên cốt cán cấp hai, giáo viên cốt cán Tiểu học và chuyên ngành sau đại học: Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi; kiên trì xây dựng đội ngũ, từng bước mở rộng phạm vi tuyển sinh và hình thức đào tạo, giữ ổn định và tự khẳng định vươn lên. Thời kì này, Trường có 470 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 190 cán bộ giảng dạy. Cùng với các khoa hiện có, Trường mở Khoa Thiết bị dạy học, thành lập Bộ môn Tin học, Ban Quản lý ký túc xá, Ban Lao động sản xuất và Dịch vụ, Tổ Bảo vệ, Trường Trung học phổ thông Dân lập Châu Phong. Từ năm 1985, Trường mở các lớp đào tạo cử nhân khoa học: Giáo viên Vật lý - Thiết bị dạy học, Giáo viên cốt cán cấp 2 tại các tỉnh: Hà Bắc, Vĩnh Phú, các ngành Ngữ văn và Toán cho cán bộ của Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, các lớp đại học tại chức ở Thành phố Hải Phòng, Tỉnh Hà Nam Ninh và Tỉnh Hà Bắc. Thời gian này, Trường mở các ngành đào tạo cử nhân khoa học: Sinh - Hoá, Toán - Tin và Lý - KTCN. Từ năm 1988, Trường đào tạo sau đại học chuyên ngành Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi, Đến năm 1991 đào tạo cấp bằng Thạc sĩ khoa học cho chuyên ngành này; từ năm 1995, đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục. Từ năm 1991, Trường đào tạo cử nhân khoa học hệ cử tuyển các ngành Toán - Lý, Sinh - Hoá. Từ năm 1992, Trường đào tạo cử nhân cao đẳng gồm 4 ngành: Văn - Sử, Toán - Tin, Toán Lý, Sinh - Hoá tại Tỉnh Ninh Bình và đầo tạo các lớp cao đẳng Văn - Sử, Văn - Địa, Toán Lý, Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp cho tỉnh Vĩnh Phúc. Trong mười năm, số sinh viên đã tuyển gọi và đào tạo: hệ chính quy: 3000, hệ cử tuyển: 200, hệ chuyên tu: 1000, trong đó có 77 sinh viên của hai lớp cán bộ Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, 57 sinh viên của hai lớp Vật lý - Thiết bị và 400 sinh viên của 6 khoá giáo viên cốt cán cấp 2 đào tạo tại Trường. Giai đoạn 1996-nay, đây là giai đoạn Trường phát triển vững chắc, mở rộng quy mô, từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, chuẩn hoá đội ngũ, là một trong các trường đại học sư phạm chủ chốt của cả nước. Nhân sự Tính đến nay, tổng số viên chức, người lao động toàn trường là 516, trong đó có: - 316 Giảng viên và SQPB (trên 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ) - 29 Giảng viên cao cấp - 121 Chuyên viên chính và Giảng viên chính - 189 Tiến sĩ Các đơn vị đào tạo Hiện nay trường có 13 Khoa, 01 Viện, 01 Trung tâm đào tạo đại học và sau đại học, bao gồm: Thành tích Các Hiệu trưởng qua từng thời kỳ Tham khảo Bảng xếp hạng webometric https://giaoduc.net.vn/truong-dhsp-ha-noi-2-dung-thu-16-trong-top-100-tai-bang-xep-hang-dh-vn-nam-2025-post248551.gd Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f61917a791d2 TITLE: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Lu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ( Ho Chi Minh City University of Law , ULaw ) là trường đại học công lập đào tạo luật pháp hàng đầu của Việt Nam , trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh . Trường là một trong hai cơ sở giáo dục trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật tại Việt Nam theo định hướng của Thủ tướng Chính phủ. [ 1 ] Tranh cãi Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 732e25938f52 TITLE: Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%9F_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh ( Ho Chi Minh City Open University , viết tắt là HCMCOU hoặc OU ) là một trường đại học công lập đa ngành tại Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 2 ] Trường hoạt động theo cơ chế tự chủ việc thu chi học phí. Lịch sử Được thành lập vào năm 1990 và trở thành trường đại học công lập từ năm 2006 . Đến nay, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh luôn là lá cờ đầu trong lĩnh vực đào tạo từ xa khu vực phía Nam và là một trong những trường đại học tiên phong tại Việt Nam triển khai phương thức đào tạo trực tuyến. [ 3 ] Gần 3 thập kỷ qua, Nhà trường không ngừng cải cách và nâng cao chất lượng đào tạo bằng việc chủ động mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều đối tác chất lượng trên thế giới. Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác với nhiều Trường và tổ chức giáo dục danh tiếng như: [ 3 ] - Hội đồng Quốc tế về Đào tạo theo phương thức Mở và hình thức từ xa (ICDE) - Hiệp hội các Trường Đại học Mở Châu Á (AAOU) - Trung tâm đào tạo Mở khu vực trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Bộ Giáo dục các quốc gia Đông Nam Á (SEAMEO SEAMOLEC) - Trường HAMK University of Applied Science (Phần Lan) - Hệ thống Đại học ASEAN (The ASEAN University Network) (AUN) Lịch sử hình thành và ý nghĩa tên trường Lịch sử hình thành Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh thành lập và trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Ngày 15 tháng 6 năm 1990 , Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 451/TCCB về việc thành lập Viện Đào tạo mở rộng trực thuộc Trường Cán bộ Quản lý Đại học – THCN và Dạy nghề, là tiền thân của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. [ 4 ] Ngày 26 tháng 7 năm 1993 , Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Mở bán công TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở Viện Đào tạo mở rộng TP. Hồ Chí Minh, với chức năng là đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các điểm vệ tinh,... nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội , góp phần tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật cho đất nước. [ 4 ] Ngày 22 tháng 6 năm 2006 , Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 146/2006/QĐ-TTg chuyển loại hình một số trường đại học và cao đẳng bán công, dân lập. [ 5 ] Theo quyết định này, Trường Đại học Mở bán công TPHCM được chuyển thành trường đại học công lập và có tên gọi là Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh , là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 6 ] Ngày 12 tháng 6 năm 2015 , Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 850/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015–2017. [ 7 ] Theo đó, Trường Đại học Mở TP.Hồ Chí Minh được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nội dung: 1. Về việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. 2. Về tổ chức bộ máy, nhân sự. 3. Về tài chính. 4. Về chính sách học bổng, học phí. 5. Về đầu tư, mua sắm. 6. Về cơ chế giám sát. 7. Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017 và các văn bản khác có liên quan. [ 6 ] Thông qua các hình thức đào tạo chính quy, đào tạo từ xa, tại chỗ và các điểm vệ tinh thực hiện đào tạo theo các chương trình: Đào tạo sau Đại học (Cao học), Đào tạo đại học (cấp bằng kỹ sư, cử nhân đại học), Cao đẳng (cấp bằng cử nhân cao đẳng), Trung cấp chuyên nghiệp, Bồi dưỡng nâng cao trình độ và đổi mới kiến thức (cấp chứng chỉ). Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phổ biến thông tin khoa học – kỹ thuật, truyền bá và bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, Trường còn tổ chức các hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế. Các chương trình, nội dung đào tạo phong phú, đa cấp phù hợp với nhu cầu xã hội: người học có thể lấy văn bằng đại học - sau đại học, văn bằng nghề hoặc chứng chỉ cập nhật kiến thức. Phương châm gắn nhà trường với xã hội; học gắn liền với thực tiễn. Đặc biệt trường áp dụng đào tạo theo phương thức tín chỉ tạo cơ hội rút ngắn quá trình học tập cho sinh viên. Ý nghĩa tên trường Có người bảo cái tên "Mở" bắt nguồn từ lịch sử hình thành trường. Lúc đó, khi chỉ mới có các trường truyền thống "công lập" thì ngành Giáo dục quyết định thử nghiệm xây dựng trường đại học đào tạo mở, tự hạch toán. Có người lại nói rằng Đại học Mở TPHCM là lá cờ tiên phong trong lĩnh vực đào tạo từ xa, là một trong những trường đại học đầu tiên tại Việt Nam triển khai chương trình đào tạo trực tuyến. Vì vậy, nó có tên là "Mở". "Mở " ý là không gian học tập được rộng mở, bạn có thể theo học chương trình của trường bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Thành tích & khen thưởng Chất lượng giáo dục Thực hiện Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế công khai đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, [ 8 ] và công văn số 5901/BGDĐT-KHTC ngày 17 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn thực hiện quy chế công khai năm học 2014-2015. [ 9 ] Các khoa và ngành đào tạo Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 11 khoa với các hệ đào tạo: đại học chính quy, đại học chính quy chất lượng cao và sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). [ 10 ] Các cơ sở đào tạo Hiệu trưởng qua các thời kì Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: ebe92e2dd70b TITLE: Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_N%C3%B4ng_L%C3%A2m_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Agriculture and Forestry ( HCMUAF ) hoặc Nong Lam University , viết tắt NLU ) là một trường đại học đa ngành tại Việt Nam , chuyên đào tạo và nghiên cứu nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp . Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập trên cơ sở Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được thành lập từ năm 1955 . Trong quá trình phát triển, trường từng là thành viên trong hệ thống Đại học Quốc gia nhưng sau đó được tách ra cho đến ngày nay. [ 1 ] Lịch sử Năm 1954 , xây dựng Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc, tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm TPHCM. [ 2 ] Ngày 19 tháng 11 năm 1955 , thành lập Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc và tuyển sinh khóa đầu tiên, 60 sinh viên trúng tuyển trên 1200 thí sinh dự thi đại học . Năm 1963 , trường đổi tên thành Cao đẳng Nông Lâm Súc. Năm 1972 , trường đổi tên thành Học viện Nông nghiệp. Năm 1974 , trường đổi tên thành Đại học Nông nghiệp Sài Gòn thuộc Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức . Cuối năm 1975 , trường đổi tên thành Đại học Nông nghiệp 4. Năm 1985 , Trường Đại học Nông Lâm Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở sáp nhập trường Đại học Nông nghiệp 4 và Cao đẳng Lâm nghiệp (ở Trảng Bom , Đồng Nai ). Năm 1995 , theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ , Trường Đại học Nông Lâm nghiệp TPHCM là thành viên của Đại học Quốc gia TPHCM . Cuối năm 2000 , Trường Đại học Nông Lâm nghiệp TP.HCM được tách ra khỏi Đại học Quốc gia TP. HCM và trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo , đồng thời đổi tên trường thành Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh . Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến nay nhà trường có trên 824 cán bộ viên chức, trong đó 551 giảng viên: gồm 04 giáo sư, 31 phó giáo sư, 116 tiến sĩ, 341 thạc sĩ, 59 đại học. [ 3 ] Nhiệm vụ chính Tuyển sinh - Cơ khí bảo quản NSTP - Cơ khí nông lâm - Quản lý đất đai - Công nghệ địa chính - Địa chính và quản lý đô thị - Chế biến lâm sản - Công nghệ gỗ - giấy - Thiết kế đồ gỗ nội thất - Lâm sinh - Nông Lâm kết hợp - Hóa thực phẩm và hệ thống dược - Hóa sinh - Chuyển đổi sinh khối và tinh chế - Bảo quản chế biến nông sản thực phẩm - Bảo quản chế biến NSTP và dinh dưỡng người - Bảo quản chế biến NS và vi sinh thực phẩm - Công nghệ sản xuất động vật - Công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi - Bác sĩ thú y - Dược thú y - Công nghệ Sinh học - Công nghệ Sinh học môi trường - Nuôi trồng thủy sản - Ngư y (Bệnh học thủy sản) - Kinh tế - quản lý nuôi trồng thủy sản - Kinh tế nông lâm - Kinh tế tài nguyên Môi trường - Quản trị Kinh doanh (tổng hợp) - Quản trị Kinh doanh thương mại - Quản trị Tài chính Tuyển sinh sau đại học Bậc Thạc sĩ theo hai định hướng: định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng. Gồm các chuyên ngành: Quản lý Kinh tế, Công nghệ Sinh học, Kỹ thuật Cơ khí, Kỹ thuật Môi trường, Kỹ thuật Hóa học, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Chế biến Lâm sản, Chăn nuôi, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật, Kinh tế Nông nghiệp, Lâm học, Nuôi trồng Thủy sản, Thú y, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Quản lý Đất đai. Thời gian đào tạo trình độ Thạc sĩ là 1.5 năm (18 tháng), tối đa là 3 năm (36 tháng). Bậc Tiến sĩ gồm các chuyên ngành: Bảo vệ Thực vật, Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi, Chăn nuôi, Công nghệ Sinh học, Công nghệ Thực phẩm, Khoa học Cây trồng, Kinh tế Nông nghiệp, Kỹ thuật Chế biến Lâm sản, Kỹ thuật Cơ khí, Lâm sinh, Nuôi trồng Thủy sản, Quản lý Tài nguyên và Môi trường. Để lấy bằng Tiến sĩ, sinh viên phải học thêm 4 năm sau khi có bằng Thạc sĩ. Chương trình đào tạo của trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh mang tính liên ngành nhằm mục đích cung cấp kiến thức đa dạng, phong phú cho sinh viên. Hàng năm, học kỳ 1 bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 1, và học kỳ 2 từ tháng 1 đến tháng 7, học kì 3 bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 9. Mỗi học kỳ kéo dài 18 tuần. Chương trình học kéo dài trong 3 - 4 năm. Nghiên cứu khoa học Nông học - Tuyển chọn và phổ biến các giống lúa , ngô , sắn , khoai lang , lạc , đậu nành , đậu xanh , rau , hoa . - Tuyển chọn các giống cây công nghiệp mía , cà phê , ca cao . - Nghiên cứu sâu bệnh hại lúa, rau cải , thuốc lá , cà phê, cao su, cây ăn trái và các biện pháp phòng trừ. - Nghiên cứu quản lý nước và đất; Nghiên cứu các hệ thống canh tác tại miền Đông Nam Bộ. - Nghiên cứu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản và môi trường - Nghiên cứu các kỹ thuật tưới tiêu, kỹ thuật phân bón cho cây trồng - Thiết lập bản đồ nông hóa thổ nhưỡng, bản đồ quy hoạch và sử dụng đất. Chăn nuôi - Thú y - Nghiên cứu sự thích nghi của các giống gia súc nhập nội như heo , gà , bò sữa ,... ở miền Nam Việt Nam - Nghiên cứu dinh dưỡng cho bò sữa, heo và gia cầm. - Nghiên cứu dịch tễ học của vật nuôi. - Nghiên cứu các bệnh thường gặp ở trâu , bò, heo và gà. - Sử dụng chất thải trong chăn nuôi để tạo năng lượng. - Nghiên cứu dư lượng các chất kháng sinh , hormon ... trong thịt, sữa và trứng . Lâm nghiệp - Nghiên cứu trồng rừng trên các vùng đất hoang hóa, thuộc vùng cao và đất ướt; Nghiên cứu quản lý tài nguyên rừng. - Nghiên cứu các kỹ thuật bảo quản, chế biến lâm sản. - Nghiên cứu phổ biến các kỹ thuật nông lâm kết hợp. - Nghiên cứu lâm nghiệp xã hội và lâm nghiệp đô thị. Thủy sản - Thiết lập cơ sở dữ liệu cho việc phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản và quản lý tài nguyên thủy sản thiên nhiên. - Phát triển các mô hình quản lý bền vững tài nguyên thủy sản trong các thủy vực. - Phát triển kỹ thuật nuôi thủy sản quy mô nhỏ phù hợp cho các vùng sinh thái khác nhau. - Cải thiện chất lượng cá giống. Cơ khí Công nghệ - Nghiên cứu giảng dạy ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô. - Nghiên cứu giảng dạy ngành Kỹ thuật cơ khí (cơ khí nông lâm và cơ khí chế biến bảo quản nông sản) - Nghiên cứu giảng dạy ngành Cơ điện tử. - Nghiên cứu giảng dạy ngành Điều khiển tự động. - Nghiên cứu giảng dạy ngành Công nghệ kỹ thuật nhiệt. Kinh tế nông nghiệp - Nghiên cứu về kinh tế nông trại. - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các hệ thống canh tác khác nhau. - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất rau và gia súc, gia cầm vùng ngoại thành. - Ngành điều khiển tự động - Công nghệ ô tô - Cơ điện tử Công nghệ thực phẩm - Nghiên cứu và phát triển kỹ thuật chế biến các sản phẩm từ thịt, cá. - Nghiên cứu và phát triển kỹ thuật chế biến các loại rau và trái cây. - Nghiên cứu các kỹ thuật bảo quản nông sản. - Nghiên cứu kiểm tra chất lượng sản phẩm. Khoa học - Nghiên cứu ứng dụng máy tính để thiết kế cải tiến chương trình giảng dạy các môn cơ bản. - Nghiên cứu về nước. - Kết hợp với các khoa khác hướng dẫn sinh viên làm đề tài tốt nghiệp. Môi trường - Nghiên cứu đánh giá mức độ tạp nhiễm các chất có hại trong nông sản thực phẩm. - Nghiên cứu các biện pháp xử lý hóa, lý hoặc sinh học các chất thải Công và Nông nghiệp Ngoại ngữ - Đảm nhận nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp trường liên quan đến giáo dục, tốt nghiệp và đào tạo tiếng Anh. Khuyến nông Đại học Nông Lâm chuyển giao những kết quả nghiên cứu đã đạt được đến đối tượng sản xuất trong vùng và các vùng lân cận. Việc phổ biến chuyển giao kỹ thuật của nhà trường thông qua các chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí và tập san khoa học kỹ thuật của nhà trường, bên cạnh đó, nhà trường cũng hợp tác với địa phương để tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo ngắn và dài hạn. Ban lãnh đạo Ban lãnh đạo trường bao gồm: Hội đồng trường Ông Bùi Ngọc Hùng - Chủ Tịch Hội Đồng Trường Hội đồng Trường Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM nhiệm kỳ 2020 - 2025 Hiệu trưởng qua các thời kỳ Hợp tác trong nước Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh có quan hệ hợp tác chặt chẽ với hầu hết các Trường và các Viện trong ngành nông nghiệp Việt Nam như: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam , Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam , Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long , Viện Sinh học Nhiệt đới , Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam , Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam , Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam , Viện nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên , Trung tâm Dâu Tằm Tơ Bảo Lộc , các sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Khuyến nông của các tỉnh. Hợp tác Quốc tế A. Các Trường Đại học và Viện Nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới , như: B. Các Viện Nghiên cứu Quốc tế, Tổ chức Quốc tế và Tổ chức phi chính phủ: AAACU , ACIAR , AIT , AVDRC , AUPELF-UREF , BIOTROP , CIAT , CIDSE , CIP , CIRAD , CSIRO , CSI , ESCAP-CGPRT , FAO , FFTC , Ford Foundation , GTZ , HELVETAS , IDRC , IFS , IPGRI , IRRI , JDC , KWT , MCC , SAREC , SDC , SEARCA , SECID , SIDA , Tree Link ,.. Thành tích trường Sinh viên & cựu sinh viên nổi tiếng Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f301657eac61 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Technology and Education , viết tắt HCMUTE ) là một trường đại học đa ngành tại Việt Nam , với thế mạnh về đào tạo kỹ thuật, được đánh giá là trường hàng đầu về đào tạo khối ngành kỹ thuật tại miền Nam . [ 1 ] Trường là một trong 6 Đại học Sư phạm Kỹ thuật của cả nước – đào tạo kỹ thuật lấy ứng dụng làm trọng tâm để giảng dạy, có chức năng đào tạo kỹ sư công nghệ và giáo viên kỹ thuật. Đồng thời cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của miền Nam Việt Nam. [ 2 ] Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên cơ sở Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ thành lập ngày 05/10/1962 theo quyết định số 1082/GD của chính quyền Việt Nam Cộng hòa . Ngày 21/09/1972, theo công lệnh số 2826/GD/TTH/CL trường được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ - Thủ Đức. [ 3 ] Năm 1974, cùng với việc thành lập Viện đại học Bách khoa Thủ Đức , trường được đổi tên thành Đại học Giáo dục Thủ Đức là một trong 7 thành viên của Viện, gồm: Ngày 8/11/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập Viện đại học Sài Gòn (VĐHSG) gồm 11 trường Đại học trên địa bàn (Khoa học, Văn khoa, Luật khoa, Y khoa, Nha khoa, Dược khoa, Sư phạm, Kiến trúc, Kỹ thuật Phú Thọ, Giáo dục Thủ Đức, Nông nghiệp). Ngày 24/3/1976, Ban Dân chính Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập Đảng bộ Viện Đại học Sài Gòn. Viện Đại học Sài Gòn là sự sáp nhập Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức và Viện Đại học Sài Gòn cũ cho phù hợp với điều kiện mới. Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 426/TTg, tổ chức lại 11 trường đại học trực thuộc VĐHSG còn 8 trường. Hiệu trưởng – Lãnh đạo trường qua các thời kỳ Tổ chức Các khoa Hiện nay trường có 15 khoa và viện, đào tạo các ngành Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ, Mỹ thuật công nghiệp, Kinh tế, Giáo dục: [ 5 ] Các phòng ban Danh sách các phòng ban của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh: Danh sách các trung tâm của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh: Các ngành đào tạo trình độ đại học Đi cùng với sự vận động và phát triển của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh đã tiếp cận thực tế để mở rộng đào tạo gần 30 ngành đào tạo trình độ đại học: [ 6 ] Đào tạo Kỹ sư (4 năm) Đào tạo Cử nhân (4 năm) Đào tạo trình độ đại học, các ngành sư phạm kỹ thuật (4.5 năm) ( Học ngành sư phạm kỹ thuật được miễn học phí theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khi ra trường được cấp 1 bằng Kỹ sư đúng chuyên ngành và 1 chứng chỉ sư phạm bậc 2 ) [ 7 ] Sinh viên có thể đăng ký chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến cũng như chương trình liên kết Đại học Quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh hiện có diện tích khuôn viên đất cơ sở I (cơ sở chính) là 174.247 m², cơ sở II là 44.408 m². Tòa nhà trung tâm 12 tầng, có 1 tầng hầm. Trường có 16 phòng học máy tính với tổng diện tích 1.164 m². Hệ thống Phòng Thí nghiệm và xưởng Thực hành: 58 phòng thí nghiệm và 98 xưởng thực hành với tổng diện tích là 27.342 m². [ 9 ] Quan hệ đối ngoại Hiện nay, trường đang có mối quan hệ đối ngoại thân thiết với các trường đại học và các tổ chức quốc tế, như: Thành tích Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng cho những phần thưởng sau: Bê bối Liên quan giảng viên Ngày 17 tháng 9 năm 2021, mạng xã hội tại Việt Nam đã lan truyền một video học trực tuyến được cho là do một giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì. [ 14 ] [ 15 ] Nội dung chính của đoạn video cho thấy sự việc một thầy giáo "đuổi" một sinh viên ra khỏi lớp học trực tuyến ngay sau khi sinh viên đề nghị ông giảng lại nội dung bài học. Lý do của sinh viên đưa ra là "mưa to, chưa nghe rõ". Sau đó, ông còn nói nhiều lời không đúng mực trong tiết học. [ 16 ] [ 17 ] Video nhanh chóng được chia sẻ khắp các trang mạng xã hội và nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Ngày 19 tháng 9 năm 2021, đại diện nhà trường đã lên tiếng cho rằng đoạn video bị "cắt ghép" và "chưa phản ánh đúng toàn bộ bối cảnh sự việc" đồng thời đang trong quá trình xác minh, tìm hiểu vụ việc. [ 18 ] [ 19 ] Ngày 20 tháng 9 năm 2021, nhà trường tổ chức buổi họp liên quan tới vụ việc và đã lên tiếng xin lỗi cộng đồng. Giảng viên trong đoạn video, ông Lê Minh Thành, đã nhận lỗi vì "nóng tính và thiếu cẩn trọng"; ông xin lỗi sinh viên và những người xem video trên. [ 20 ] Trong quản lý Theo kết luận thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo , Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thiếu sót, sai phạm trong việc quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí cấp bù, miễn giảm học phí sư phạm do Bộ Giáo dục cấp lên đến hàng tỷ đồng. Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính trong sai phạm này. [ 21 ] [ 22 ] [ 23 ] [ 24 ] [ 25 ] [ 26 ] Bộ kết luận Trường chưa có văn bản quy định cụ thể trong một số quy trình quản lý. Một số văn bản, biên bản của Trường là không đúng quy định. Bên cạnh đó, còn tổ chức thu nhiều khoản tiền khác không đúng quy định. [ 27 ] [ 28 ] Thanh tra Bộ cũng kết luận Trường có sai sót trong quy trình tuyển dụng viên chức, bổ nhiệm trưởng khoa, trưởng bộ môn. Trường còn có sai phạm trong việc mua sắm trang thiết bị, cho thuê cơ sở vật chất, tiếp nhận tài trợ. [ 26 ] [ 29 ] Trường còn có liên quan tới sự việc Bộ Giáo dục và Đào tạo không công nhận Hiệu trưởng do trường đề nghị vì quy trình bầu Hiệu trưởng không đúng quy định [ 30 ] [ 31 ] [ 32 ] [ 33 ] [ 34 ] và yêu cầu rút lại văn bản thu hồi quyền Phó Hiệu trưởng Trương Thị Hiền. [ 35 ] [ 36 ] Vụ việc được cho khiến hơn 4000 sinh viên dù đã ra trường không thể nhận bằng vì không có hiệu trưởng để ký bằng tính đến năm 2022, dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu trường phải sắp xếp nhân sự phụ trách trường. [ 37 ] [ 38 ] Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 612150b59e77 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Education – HCMUE ) được thành lập ngày 27 tháng 10 năm 1976 theo Quyết định số 426/TTg của Thủ tướng Chính phủ , là một trường đại học chuyên ngành sư phạm và ngôn ngữ, được xếp vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam . [ 1 ] [ 2 ] Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Lịch sử Tiền thân của trường là Phân khoa Sư phạm ( Faculté de Pédagogie ) thuộc Viện Đại học Sài Gòn (còn gọi là Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn), được thành lập vào năm 1957 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa . Ngày 8 tháng 11 năm 1975 , Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập Viện Đại học Sài Gòn gồm 11 trường đại học trên địa bàn, trong đó có cả Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. [ 3 ] Sau khi Việt Nam thống nhất, ngày 27 tháng 10 năm 1976 , Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 426/TTg thành lập Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở của Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1995 , Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã được nhập vào làm một thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh . Tuy nhiên, vào năm 1999 , Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức lại trên cơ sở chia tách và thành lập mới. Theo đó, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh lại được Thủ tướng Chính phủ tách ra thành một trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam . Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là hiện là một trong 15 trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam và cũng là một trong hai trường đại học sư phạm lớn của Việt Nam (cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ). Hoạt động đào tạo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 43 chuyên ngành đào tạo ở trình độ đại học, trong đó có 22 ngành đào tạo giáo viên và 21 ngành khác; 26 chuyên ngành thạc sĩ, 10 chuyên ngành tiến sĩ. Tính đến tháng 7/2023, trường có 3 giáo sư và 33 phó giáo sư, 205 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học (đã bao gồm GS và PGS), 367 thạc sĩ trong tổng số 785 cán bộ, viên chức. [ 4 ] Đào tạo Đại học Năm 2023, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo trình độ cử nhân cho 43 ngành: [ 5 ] Năm 2021 – 2022, trường đang đào tạo 23.239 sinh viên tổng các hệ, trong đó có 14.553 sinh viên hệ chính quy, 7.537 sinh viên hệ vừa làm vừa học, 1.046 hệ thạc sĩ, và 103 hệ tiến sĩ. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 1 năm ra trường từ 78,94% tới 92,05%. [ 6 ] Phần lớn sinh viên tốt nghiệp đều được các cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp nhận. Trên 70% số sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp có việc làm đúng ngành nghề đào tạo. Các đội tuyển của Trường (Toán học, Tin học, Vật lý, Hóa học, các môn Khoa học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh ) dự thi các cuộc thi toàn quốc và khu vực đạt nhiều giải thưởng cao về đồng đội và cá nhân. Đào tạo Sau Đại học Trường liên kết đào tạo ở bậc thạc sĩ ngành Công nghệ đào tạo với Đại học Caen ( Cộng hòa Pháp ); liên kết đào tạo ngành Ngôn ngữ học với Đại học Rouen ( Pháp ); liên kết đào tạo với Đại học Joseph Fourier ngành Didactic Toán; liên kết đào tạo ngành Tiếng Trung và ngành Hán ngữ Quốc tế với Đại học Sư phạm Phúc Kiến ( Trung Quốc ), liên kết đào tạo ngành Lý luận và Phương pháp giảng dạy tiếng Anh với Đại học Victoria Wellington ( New Zealand ) và Đại học Houston ( bang Texas – Hoa Kỳ ). Toán Giải tích, Hình học và tô pô, Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán, Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài, Ngôn ngữ học, Lịch sử Việt Nam, Địa lý học, Quản lý Giáo dục, Tâm lý học, Hoá vô cơ. Thành tích, khen thưởng Thành tích của trường: Thành tích của tập thể và cá nhân thuộc trường Cơ sở vật chất Cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo Các khoa và tổ trực thuộc Trung tâm Viện nghiên cứu Giáo dục Trường Trung học Thực hành Nhà xuất bản Hợp tác quốc tế Nhiều chương trình hợp tác về đào tạo có hiệu quả đã được thực hiện từ nhiều năm nay giữa Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh với các trường đại học và các tổ chức quốc tế: hợp tác với Đại học Grenoble I đào tạo Tiến sĩ Didactique Toán, Thạc sĩ Didactique Toán, Vật lý, với Đại học Caen (Cộng hòa Pháp) Thạc sĩ Công nghệ đào tạo; mở rộng liên kết đào tạo trình độ Cử nhân , Thạc sĩ với các trường Đại học Canberra (Úc), Đại học Ostrava, Đại học Tomas Bata ( Cộng hòa Séc ), Đại học Bình Đông (Đài Loan) và 14 trường đại học ở Trung Quốc,... Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã cử nhiều giảng viên đến các trường đại học nước ngoài dạy tiếng Việt , Văn hóa Việt Nam , Toán , Vật lý . Có thời điểm, Trường mở được 18 lớp Tiếng Việt ở nước ngoài... Đồng thời, Trường cũng tiếp nhận nhiều giảng viên và sinh viên nước ngoài đến giảng dạy và học tập. Từ năm 2001 đến nay, Trường đã tiếp nhận 56 lượt giảng viên nước ngoài đến giảng dạy tại các khoa, viện, trung tâm của Trường và nhiều sinh viên nước ngoài đến học tập. Hiện đang có 100 sinh viên nước ngoài theo học tiếng Việt tại Trường. Cũng trong thời gian trên, đã có 463 lượt cán bộ của Trường được cử đi công tác và học tập ở 40 nước. Hiệu trưởng qua các thời kỳ Cựu sinh viên tiêu biểu Hình ảnh Chú thích Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: d18867a4c3d7 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_Th%E1%BB%83_d%E1%BB%A5c_Th%E1%BB%83_thao_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học nằm tại Thành phố Hồ Chí Minh , được thành lập từ những năm 1976 . Hiện nay trường đào tạo giáo viên thể dục cho miền nam Việt Nam Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh, trước đây là trường Sư phạm Thể dục Miền Nam trực thuộc Bộ Giáo dục, được thành lập theo quyết định số 17/QĐ/GD ngày 24/3/1976, sau đó đổi tên thành trường Sư phạm Thể dục TW2. Trường được công nhận là trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục TW2 theo quyết định số 34/HĐBT ngày 08/6/1984. Đến ngày 08/11/2005 Trường được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 285/2005/QĐ-TTg Thành lập Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục TW2 Chức năng - nhiệm vụ Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo giáo viên thể dục trình độ cử nhân Đại học cho các trường phổ thông từ Quảng Trị trở vào, là trung tâm nghiên cứu khoa học về giáo dục thể chất và đào tạo chuẩn hóa giáo viên thể dục theo định chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Các khoa Thành tích Với bề dày lịch sử phát triển như vậy, trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh vinh dự được Đảng và nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng sau: Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b1b0e3e9cc9c TITLE: Trường Đại học Đồng Tháp SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90%E1%BB%93ng_Th%C3%A1p [CONTENT] Trường Đại học Đồng Tháp (tiếng Anh: Dong Thap University, viết tắt: DThU ) là một trường đại học công lập đa ngành , tọa lạc tại phường Cao Lãnh ( thành phố Cao Lãnh trước đây), tỉnh Đồng Tháp . Với tiền thân là Trường Cao đẳng Sư phạm, đây là một trong những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục uy tín, đồng thời là một cơ sở nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long . Lịch sử hình thành Trường Đại học Đồng Tháp tiền thân là Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp, ngày 10 tháng 1 năm 2003 , Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ký Quyết định số 08/2003/QĐ – TTg, nâng cấp thành Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp. Đến ngày 4 tháng 9 năm 2008 , Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý cho phép đổi tên Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp thành Trường Đại học Đồng Tháp. [ 1 ] Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng đào tạo Đại học Đồng Tháp đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và chứng nhận về chất lượng đào tạo vào năm 2017. [ 2 ] Trở thành Đại học đầu tiên của vùng ĐBSCL đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục này. Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 12 năm 2020, Trường đang có 543 viên chức và nhân viên; trong đó có 414 viên chức giảng dạy (394 giảng viên và 20 giáo viên), với 11 phó giáo sư , 82 tiến sĩ , 51 nghiên cứu sinh và 301 thạc sĩ . Tỉ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 100%. Theo bảng thống kê đội ngũ giảng viên, viên chức quản lý và nhân viên tại Báo cáo thường niên năm 2024 của Trường Đại học Đồng Tháp, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của nhà trường trong năm 2024 đạt 25,93%, thấp hơn mức yêu cầu tối thiểu của một số chuẩn chất lượng giáo dục đại học hiện hành (Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo). [ 3 ] Năm 2025, Trường có nhà giáo đầu tiên đạt chuẩn giáo sư . [ 4 ] Các ngành đào tạo (2023) Nghiên cứu khoa học Theo Báo cáo thường niên năm 2024, tại phần 1, mục VI các chỉ số đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ cho thấy, tỷ trọng thu khoa học - công nghệ năm 2024 của Trường Đại học Đồng Tháp là 1,6%. Như vậy, tỷ trọng thu khoa học - công nghệ năm 2024 của Trường chưa đạt chuẩn (theo (Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo). [ 3 ] Tạp chí khoa học Tạp chí Khoa học Trường Đại học Đồng Tháp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động báo chí theo Giấy phép số 1794/GP-BTTTT ngày 01 tháng 10 năm 2012. Ngày 25 tháng 11 năm 2022, Tạp chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp lại Giấy phép hoạt động báo chí số 560/GP-BTTTT cho cả bản in và bản điện tử. Tạp chí đã được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia cấp mã số ISSN: ISSN 0866-7675 cho bản in và eISSN 2815-567X cho bản điện tử. Đây là tạp chí học thuật đa ngành, đóng vai trò là diễn đàn để các nhà khoa học, giảng viên, sinh viên và độc giả trong nước và quốc tế công bố kết quả nghiên cứu trong tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Từ năm 2023, Tạp chí được phép xuất bản 09 số thường kỳ, bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm: 06 số chuyên về Khoa học Xã hội và Nhân văn (04 số tiếng Việt và 02 số tiếng Anh) và 03 số chuyên về Khoa học Tự nhiên (02 số tiếng Việt và 01 số tiếng Anh). [ 5 ] Hợp tác quốc tế Hợp tác doanh nghiệp (CO-OP), hỗ trợ khởi nghiệp Các Phòng ban - Trung tâm Thành tích [ 6 ] Huân chương Cờ thi đua, bằng khen Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 8227bf1db1e3 TITLE: Trường Đại học Kiên Giang SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ki%C3%AAn_Giang [CONTENT] Trường Đại học Kiên Giang (tiếng Anh: Kien Giang University, viết tắt: KGU ) là một trường đại học công lập định hướng ứng dụng, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, tọa lạc tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Được thành lập vào năm 2014 theo Quyết định số 758/QĐ/TTg trên cơ sở Phân hiệu của Trường Đại học Nha Trang tại Kiên Giang, trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đa ngành, tập trung vào các lĩnh vực thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và kinh tế biển như nông nghiệp, thủy sản, công nghệ thực phẩm, du lịch và kinh tế. [ 1 ] Lịch sử Ngày 04 tháng 6 năm 2006, Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 1704/QĐ-BGDĐT thành lập Phân hiệu Kiên Giang của Trường Đại học Thủy sản mà nay là Trường Đại học Nha Trang . Ngày 21 tháng 5 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 758/QĐ/TTg thành lập trường Đại học Kiên Giang trên cơ sở Phân hiệu Trường Đại học Nha Trang tại Kiên Giang. [ 2 ] Tổ chức Năm 2021, Trường Đại học Kiên Giang có 09 khoa: Có 08 phòng: Có 05 trung tâm trực thuộc: Và 01 Ban Quản lý dự án. [ 3 ] Ngành đào tạo 1. Trường Đại học Kiên Giang tuyển sinh trình độ Đại học các ngành: 2. Trường Đại học Kiên Giang liên kết với Trường Đại học Nha Trang đào tạo Đại học bằng hai các ngành: 3. Đào tạo Đại học liên thông từ Cao đẳng các ngành: 4. Đào tạo Đại học liên thông từ Trung cấp ngành Kế toán. Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 81a79d43bda8 TITLE: Trường Đại học Nha Trang SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Nha_Trang [CONTENT] Trường Đại học Nha Trang ( tiếng Anh : Nha Trang University – NTU ) là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo , là một trong ba trường đại học đa ngành đứng đầu về đào tạo tại miền Trung Việt Nam. Tháng 7 năm 2023, Nhà trường đã được Trung tâm Kiểm định Chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh kiểm định và được cấp Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục. [ 1 ] Trường Đại học Nha Trang là trường đa ngành, đa lĩnh vực, có sứ mệnh nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực trình độ cao và chuyển giao tri thức đa lĩnh vực, chú trọng phát huy thế mạnh lĩnh vực khoa học – công nghệ biển và thủy sản, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Lịch sử Tiền thân của Trường Đại học Nha Trang là Khoa Thủy sản, được thành lập vào ngày 1 tháng 8 năm 1959 tại Học viện Nông lâm Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam ). Ngày 16 tháng 8 năm 1966, theo Quyết định số 155/CP của Thủ tướng Chính phủ, Khoa Thủy sản được tách thành Trường Thủy sản (thuộc quyền quản lý của Tổng cục Thủy sản). Ngày 4 tháng 10 năm 1976, trường chuyển trụ sở từ Hải Phòng vào Nha Trang và được đổi tên Trường Đại học Hải sản (thuộc Bộ Hải sản). Tháng 8 năm 1981, trường được đổi tên thành Trường Đại học Thủy sản (thuộc Bộ Thủy sản). Ngày 25 tháng 7 năm 2006, theo Quyết định số 172/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trường chính thức đổi tên thành Trường Đại học Nha Trang. Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng đào tạo Trường đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và chứng nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục vào ngày 31 tháng 1 năm 2018. [ 2 ] Bảng xếp hạng Theo bảng xếp hạng uniRank năm 2018, Trường Đại học Nha Trang đứng thứ 3 tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đứng thứ 8 tại miền Trung và đứng thứ 37 tại Việt Nam. [ 3 ] Còn theo bảng xếp hạng Webometrics năm 2018, Trường Đại học Nha Trang là trường đứng thứ 2 tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ , đứng thứ 21 Việt Nam. [ 4 ] Kiểm định chất lượng Trường hiện đang trong quá trình hoàn thiện chương trình kiểm định AUN-QA và PDCA của tổ chức ASEAN University Network . [ 5 ] Sau khi đạt chuẩn kiểm định, bằng cấp của trường sẽ có giá trị quốc tế. [ 6 ] Cơ cấu tổ chức Đảng ủy Hội đồng trường Ban giám hiệu Tôn vinh Trao cho tập thể Nhà trường Trao cho các đơn vị và cá nhân Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9c9e8a98d75b TITLE: Trường Đại học Quy Nhơn SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Quy_Nh%C6%A1n [CONTENT] Trường Đại học Quy Nhơn ( Quy Nhon University) là một trong ba trường đại học đa ngành đứng đầu về đào tạo tại Trung Bộ , [ 1 ] [ 2 ] là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam, đang phấn đấu vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam . Ngoài đào tạo, trường đồng thời còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và chính sách quản lý lớn của miền Trung Việt Nam. Lịch sử Tiền thân của trường Đại học Quy Nhơn là trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn được thành lập ngày 21 tháng 12 năm 1977 [ 3 ] với cơ sở vật chất tiếp quản từ trường Sư phạm Quy Nhơn của chính quyền cũ trước đó. [ 4 ] Ngày 30 tháng 10 năm 2003, trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn được đổi tên thành trường Đại học Quy Nhơn. [ 5 ] Trường Đại học Quy Nhơn ngày nay Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng đào tạo Trường đã được hệ thống Đại học Đà Nẵng kiểm định và chứng nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục vào 12 tháng 10 năm 2017. [ 7 ] Bảng xếp hạng Theo bảng xếp hạng uniRank năm 2018, Đại học Quy Nhơn là trường đứng thứ 5 tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, đứng thứ 11 tại miền Trung và đứng thứ 51 tại Việt Nam. [ 8 ] Còn theo bảng xếp hạng Webometrics năm 2018, Đại học Quy Nhơn đứng thứ 2 tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ, đứng thứ 18 tại Việt Nam. [ 9 ] * Lưu ý: Vì trường Đại học Quy Nhơn là một trường Đại học đào tạo đa ngành, không chuyên về đào tạo bởi một nhóm ngành cụ thể nên thứ hạng đã được kéo lên bởi những ngành thế mạnh được đầu tư trọng tâm của trường. Các Hiệu Trưởng qua các thời kỳ Ban Giám Hiệu Hiệu Trưởng: Các Phó Hiệu Trưởng: Các Khoa Các Phòng ban Các Trung tâm và Viện nghiên cứu Các ngành đào tạo Thạc sĩ Cựu Sinh viên Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0a659c432b1d TITLE: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_H%C6%B0ng_Y%C3%AAn [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên ( tiếng Anh : Hung Yen University of Technology and Education ) là một trong sáu Đại học Sư phạm Kỹ thuật của cả nước - đào tạo kỹ thuật lấy ứng dụng làm trọng tâm để giảng dạy, có chức năng đào tạo kỹ sư công nghệ và giáo viên kỹ thuật. Được đánh giá là một trong những trường đại học kỹ thuật đầu ngành tại vùng Đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Đồng thời cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng Lịch sử Ngày 21/12/1966, Trường Trung học Công nghiệp Hưng Yên thuộc Bộ Công nghiệp nặng được thành lập theo quyết định số 1265/BCNNg/KH của Bộ Công nghiệp nặng. Ngày 3/12/1970, Trường trực thuộc Tổng cục Đào tạo Công nhân Kỹ thuật, Bộ Lao động với tên gọi Trường Giáo viên nghề 1 , với nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề cho các trường Công nhân Kỹ thuật và các cơ sở đào tạo nghề. Ngày 5/3/1979, trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật I thuộc Tổng cục Dạy nghề theo quyết định số 80/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ 1/7/1987 trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Ngày 6/1/2003, trường được nâng cấp thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên thông qua quyết định số 04/2003/QĐ-TTg Cơ sở Ngành đào tạo Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên đào tạo 22 ngành trình độ Đại học (39 chuyên ngành), 8 ngành trình độ Thạc sỹ, 2 ngành trình độ Tiến sỹ , cụ thể: 1.Đào tạo Tiến sĩ 2.Đào tạo Thạc sĩ 3.Đào tạo Đại học Đội ngũ giảng viên Trường ĐHSPKT Hưng Yên là trường đại học giáo dục định hướng nghề nghiệp. Với phương châm: đội ngũ cán bộ giảng viên quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường nên công tác tác phát hiện, đào tạo đội ngũ cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng. Tổng số CBVC (tính đến năm 2022): 505 người. Trong đó đội ngũ Giảng viên gồm có 407 người, bao gồm 01 GS, 20 PGS, 123 TS, 257 ThS . [1] Giải thưởng Năm 2015, giải Robocon lần thứ 14 được tổ chức tại Yogyakarta , Indonesia đội Hungyen Techedu của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên đã đánh bại các đối tuyển trong nước để giành vé đại diện cho Việt Nam tham gia vòng chung kết và mang chức vô địch Robocon châu Á thứ 5 về cho Việt Nam khi đánh bại tất cả các đối thủ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khác. Năm 2019, Trường được xếp trong nhóm 30 trường đại học của Việt Nam có công bố quốc tế nhiều nhất. Xếp hạng webometrics tháng 1/2021 trường đứng thứ 21 trong số 178 trường đại học của Việt Nam. Trường đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học năm 2018. Năm 2024, sau khi toàn thắng tại Cuộc thi Sáng tạo Robot Việt Nam Robocon 2024, khi liên tiếp đem về ngôi vô địch, chức á quân, giải ba và giải công nghệ, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên là cái tên được cử đại diện cho Việt Nam tham dự Vòng Chung kết ABU Robocon Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Quảng Ninh . Tại đây, Đội VIETNAM 1 (tiền thân là SKH AUTOMATION ) đã xuất sắc giành chức Á quân, đội VIETNAM 2 (tiền thân là SKH CK1 ) giành giải ba và giải đặc biệt ABU Robocon về cho nước nhà. Các Khoa và Bộ môn Hiện nay Trường có 11 khoa, 1 bộ môn Các Trung tâm Phòng Ban chức năng Tổ chức Tham khảo 2. Thông tin tuyển sinh năm 2025 . 3. Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên đẩy mạnh hướng nghiệp, nâng chất lượng tuyển sinh 2025 . Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 462f31cc5227 TITLE: Trường Đại học Tây Bắc SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A2y_B%E1%BA%AFc [CONTENT] Trường Đại học Tây Bắc ( Tay Bac University ) là một trường đại học đa ngành cấp vùng Trung du và miền núi phía Bắc , là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học và cao học của cả vùng Trung du và miền núi phía Bắc . Ngoài đào tạo, trường đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học và chính sách quản lý lớn của Miền Bắc Việt Nam. Trường được thành lập dựa trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Giới thiệu chung Ngày 30/6/1960, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Văn Huyên đã kí Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo. Đến năm 1980 nhà trường đã đào tạo, bồi dưỡng được 2.271 giáo viên (thuộc các hệ 7+2, 7+3, 10+3 và Cao đẳng bồi dưỡng), trong đó có 490 giáo viên người dân tộc thiểu số. Đây là kết quả sự nỗ lực phấn đấu đầy tâm huyết của tập thể Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, cùng toàn thể cán bộ, giáo viên và giáo sinh Nhà trường. Đến năm 1981, đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ hành chính và phục vụ cũng được bổ sung đông đảo, nâng tổng số cán bộ, giáo viên, cán bộ Nhà trường lên 252 người. Ngày 06 tháng 04 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP, nâng cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc. Từ năm 1981 đến năm 2000 nhà trường đã đào tạo được 4.219 giáo viên có trình độ 10+3 và cao đẳng sư phạm cho sự nghiệp giáo dục các tỉnh Tây Bắc. Với những thành tựu của Nhà trường đạt được trong thời kỳ này đã góp phần tạo cơ sở, nền tảng để Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc vươn lên trở thành trường đại học đa ngành ở khu vực Tây Bắc. Tính đến năm 2000, Tây Bắc vẫn là địa phương nghèo nhất và có trình độ dân trí thấp nhất cả nước, trong bối cảnh lịch sử đó, ngày 23/3/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 39/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Tây Bắc trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc. Hội đồng trường Phụ trách HĐT: TS. Vũ Thị Tú Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thường xuyên, Bộ GDĐT Ban Giám hiệu Phó Hiệu trưởng, phụ trách Trường: TS. Đỗ Hồng Đức Phó Hiệu trưởng: TS. Hoàng Ngọc Anh Phòng, ban 1. Phòng Đào tạo 2. Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế 3. Phòng Công tác chính trị - Quản lý người học 4. Phòng Bảo đảm chất lượng và Thanh tra Pháp chế 5. Phòng Tổ chức - Hành chính 6. Phòng Kế toán - Tài chính 7. Phòng Quản trị Cơ sở vật chất 8. Ban Quản lý Khu nội trú 9. Trạm Y tế Các khoa trực thuộc 1. Khoa Khoa học Xã hội 2. Khoa Khoc học Tự nhiên - Công nghệ 3. Khoa Cơ sở 4. Khoa Tiểu học - Mầm non 5. Khoa Kinh tế 6. Khoa Nông - Lâm 7. Khoa Khoa học Sức khỏe Trung tâm 1. Trung tâm Thông tin - Thư viện 2. Trung tâm Thực hành - Thí nghiệm 3. Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Chuyển giao Công nghệ 4. Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa các dân tộc Tây Bắc 6. Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh 7. Trung tâm Đào tạo và dịch vụ Kinh tế 8. Trung tâm Tin học - Ngoại ngữ 9. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển các sản phẩm khoa học công nghệ 10. Trung tâm thúc đẩy khởi sự, khởi nghiệp kinh doanh và thu hút đầu tư vùng dân tộc thiểu số 11. Trung tâm Nông nghiệp bền vững 12. Trung tâm Phát triển Du lịch Tây Bắc 13. Trung tâm Nghiên cứu Đa dạng Sinh học và Môi trường Trường trực thuộc 1. Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Chu Văn An ( http://chuvanantaybac.edu.vn/ Lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại Wayback Machine ) Các thế hệ Hiệu trưởng ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9aa24596d7cd TITLE: Trường Đại học Tây Nguyên SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn [CONTENT] Trường Đại học Tây Nguyên ( Tay Nguyen University ) là một trong những trường đại học công lập đa ngành tại miền Trung Việt Nam. [ 1 ] Trường được đề cử vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam , đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của vùng Tây Nguyên. [ 2 ] Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Lịch sử Trường Đại học Tây Nguyên được thành lập theo Quyết định số 298/CP ngày 11/11/1977 của Hội đồng Chính phủ với nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ đại học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội toàn vùng Tây Nguyên. Từ xuất phát điểm chỉ có 6 chuyên ngành đào tạo của 4 khoa: Sư phạm, Y dược, Nông lâm và Lâm nghiệp. Đến nay, Trường đã trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho vùng Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và các nước Lào, Campuchia. [ 3 ] Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 5 năm 2018, trường có 215 giảng viên. Trong đó có 1 giáo sư , 20 phó giáo sư 15 tiến sĩ , 137 thạc sĩ và 42 giảng viên có trình độ đại học . [ 4 ] Tuyển sinh Hiệu trưởng qua các nhiệm kỳ Các khoa của trường Tham khảo Bài viết tỉnh Đắk Lắk , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 274d344eb9b1 TITLE: Trường Đại học Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Vinh [CONTENT] Trường Đại học Vinh ( tiếng Anh : Vinh University ) là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, cấp vùng Bắc Trung Bộ , trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo , [ 3 ] [ 4 ] là một trường đại học lớn có vị thế trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam. Hiện nay, Trường Đại học Vinh được xếp vào danh sách trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam , đang được đầu tư phát triển thành Đại học [ 5 ] gồm nhiều trường đại học thành viên. Trường Đại học Vinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn là 1 trong 8 cơ sở giáo dục đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục của cả nước; tham gia Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP)... khẳng định vị thế của Trường trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước. [ 6 ] Đại học Vinh còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách công cho tỉnh Nghệ An và các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam. Vị hiệu trưởng đầu tiên của trường là Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào . Sứ mệnh, Tầm nhìn, Mục tiêu Sứ mệnh Trường Đại học Vinh là cơ sở giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, dẫn dắt sự phát triển giáo dục và đào tạo của khu vực Bắc Trung Bộ; là trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và quốc tế. (Quyết nghị của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Nhà trường ngày 01 tháng 12 năm 2021) Tầm nhìn Mục tiêu tổng quát - Tạo dựng môi trường học thuật tốt để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới sự thành công. - Tạo dựng môi trường học thuật tốt để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới sự thành công, vươn tầm ra khu vực và quốc tế, được xếp hạng trong top 500 trường đại học hàng đầu châu Á. Giá trị cốt lõi Triết lý giáo dục Khoa học - Hợp tác - Sáng tạo Hội nhập và Quan hệ Quốc tế Đào tạo Tiềm lực Đội ngũ cán bộ, nhà khoa học, giảng viên, nhân viên Cơ sở vật chất kỹ thuật Tổ chức Đại học Vinh hiện có 03 Trường đào tạo, 04 Viện trực thuộc, 03 Khoa đào tạo, 12 Phòng ban, 11 Trung tâm, 2 văn phòng đại diện với 62 ngành đào tạo đại học; 37 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 17 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ với trên 40.000 sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Lãnh đạo Trường đào tạo Trường đào tạo là các cơ sở giáo dục có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng phụ trách nhiệm vụ đào tạo các ngành đào tạo; bồi dưỡng, phát triển các ngành học bao gồm: Viện trực thuộc Viện đào tạo Viện đào tạo là các cơ sở giáo dục có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, bao gồm: Trong bối cảnh thế giới đang đứng trước cơ hội cũng như thách thức to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và làn sóng Chuyển đổi số (Digital transformation) mạnh mẽ. Đặc biệt, kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, tất cả doanh nghiệp và tổ chức trên khắp toàn cầu đều nhận ra chuyển đổi số chính là chiếc "chìa khóa vàng" giúp tồn tại, thích ứng, thậm chí bứt tốc và tăng trưởng vượt bậc; trường Đại học Vinh đã nhận ra nhu cầu to lớn và vô cùng cấp bách về chuyển đổi số và kịp thời nắm bắt xu hướng này. Vì thế, vào tháng 9 năm 2021, Trường Đại học Vinh đã quyết định thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo trực tuyến. Viện có 04 đơn vị trực thuộc gồm: Viện có 01 Studio được trang bị hiện đại, tiện nghi phục vụ cho việc sản xuất học liệu, bài giảng e-Learning và các sản phẩm số khác. Khoa đào tạo Trường phổ thông Các trung tâm Các phòng, ban chức năng Văn phòng đại diện Các hội đồng, ban tư vấn Các tổ chức đoàn thể Lịch sử Tên gọi qua các thời kỳ Các trường, khoa, viện cũ Hiện các trường, khoa, viện dưới đây đã nâng cấp hoặc sáp nhập thành pháp nhân mới, trở thành các phòng, trung tâm hoặc viện, trường đào tạo trực thuộc: Tham khảo Liên kết ngoài Sư phạm · Xã hội và Nhân văn · Kinh tế Công nghệ Hóa, Sinh và Môi trường · Kỹ thuật và Công nghệ · Nông nghiệp và Tài nguyên · Nghiên cứu và Đào tạo trực tuyến Sư phạm Ngoại ngữ · Kỹ thuật Xây dựng Trường THPT Chuyên · Trường TH, THCS & THPT Thực hành Sư phạm · Trường Mầm non Thực hành ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 3aa4287bfc18 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Vinh [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh là một trong sáu Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo - định hướng khoa học ứng dụng và thực hành, có chức năng đào tạo kỹ sư công nghệ , cử nhân kinh tế và quản lý, giáo viên dạy nghề trình độ đại học, cao đẳng. Được đánh giá là một trong những trường đại học sư phạm kỹ thuật chất lượng cao, đồng thời, cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn tại Vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Lịch sử và Hiệu trưởng qua các thời kỳ Năm 1960, Trường Công nhân kỹ thuật Vinh được thành lập và là tiền thân của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh. Năm 1999, Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vinh thành lập dựa trên cơ sở Trường Công nhân kỹ thuật Vinh theo theo quyết định số: 129/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 28 tháng 5 năm 1999 . Trường chủ yếu là đào tạo giáo viên dạy nghề (GVDN) và kỹ thuật viên (KTV) trình độ cao đẳng. [ 1 ] Năm 2006, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh được thành lập dựa trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vinh theo quyết định số 78/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ngày 14 tháng 4 năm 2006 . [ 2 ] Trường đào tạo các ngành nghề trình độ đại học , cao đẳng , kỹ sư và kỹ thuật viên . Trường là cơ sở đào tạo trình độ cao ở khu vực miền Trung và cả Việt Nam ; thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ công tác đào tạo giáo viên dạy nghề với đào tạo nghề sản xuất. Hiệu trưởng qua các thời kỳ Đội ngũ cán bộ và giảng viên Đào tạo Các khoa, bộ môn 1. Khoa Điện Tử : Khoa Điện tử là một trong các Khoa đào tạo thế mạnh của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh . Hiện nay (01/2011), số lượng giảng viên trong Khoa là 20 người. Các ngành, nghề mà Khoa Điện tử đang đào tạo hiện có: - Trình độ Đại học: + Ngành Công nghệ kỹ thuật điện tử viễn thông + Ngành Công nghệ kỹ thuật máy tính - Trình độ Cao đẳng : + Công nghệ kỹ thuật máy tính + Công nghệ kỹ thuật điện tử viễn thông + Công nghệ kỹ thuật điện tử + Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí. - Bồi dưỡng nghề ngắn hạn : + Vi điều khiển ứng dụng + Sửa chữa máy lạnh + Thiết kế mạch bằng máy tính. Website: ☀ http://feevute.edu.vn/ 2. Khoa Cơ khí chế tạo : Khoa CKCT là một trong các Khoa đào tạo đầu tiên của trường ĐHSPKT Vinh. Hiện nay (01/2011), số lượng giảng viên trong Khoa xấp xỉ 50 người. Các ngành, nghề đào tạo hiện có: - Trình độ Cao học: Ngành Kỹ thuật cơ khí - Trình độ Đại học: Ngành Công nghệ chế tạo máy và Công nghệ Hàn. - Trình độ Cao đẳng (CĐSP, CĐKT ):Công nghệ chế tạo máy; Công nghệ Hàn và Công nghệ Cơ-điện tử. - Cao đẳng nghề : Nghề Cắt gọt kim loại; Nghề Hàn, Chế tạo thiết bị cơ khí - Bồi dưỡng nghề ngắn hạn : CAD/CAM/CNC, Hàn, Tiện, Phay. Website: ☀ http://fme-vute.edu.vn/ Lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2014 tại Wayback Machine 3. Khoa Cơ khí động lực : 4. Khoa Điện 5. Khoa Công nghệ thông tin 6. Khoa Sư phạm kỹ thuật 7. Khoa Đại cương và Ngoại ngữ 8. Khoa Kinh tế 9. Khoa Tại chức 10. Khoa Lý luận chính trị Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: cb39dd32d84e TITLE: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định là một trong sáu Đại học Sư phạm Kỹ thuật của cả nước - đào tạo kỹ thuật lấy ứng dụng làm trọng tâm để giảng dạy, có chức năng đào tạo kỹ sư công nghệ và giáo viên kỹ thuật. Được đánh giá là một trong những trường đại học kỹ thuật đầu ngành tại Vùng Đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Trường đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ lớn của miền Bắc Việt Nam. Tiền thân của trường là Trường Cao đẳng Sư phạm kỹ thuật Nam Định. Các khoa và Bộ môn Lịch sử phát triển ~ Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2011) ~Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1986) ~Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 1996) ~Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2000) ~Huân chương Lao động hạng Ba tặng cho ĐTNCSHCM (năm 2001) Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a18155b85ed4 TITLE: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_V%C4%A9nh_Long [CONTENT] Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long ( tiếng Anh : Vinh Long University of Technology and Education ) là một trong nhóm sáu trường Đại học Sư phạm kỹ thuật của cả nước – đào tạo kỹ thuật dạy nghề là trung tâm giảng dạy. Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và được giám sát về đào tạo bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo . Lịch sử Tiền thân là Trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long, được thành lập vào ngày 1 tháng 2 năm 1960 . Là một trong những trường kỹ thuật đầu tiên của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long , cũng là một trong hai trường nổi bật tại khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ. Sau thống nhất đất nước, Trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long được chuyển về Tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật thuộc Bộ Lao động quản lý. Ngày 31 tháng 5 năm 1976 , Bộ trưởng Bộ Lao động ký Quyết định số 144/QĐ-LĐ thành lập Trường Giáo viên dạy nghề Cửu Long, trên cơ sở Trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long. Ngày 21 tháng 8 năm 1978 , Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề ký Quyết định số 189/QĐ-DN về việc đổi tên Trường Giáo viên dạy nghề Cửu Long, trực thuộc Tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật – Bộ Lao động quản lý thành Trường Sư phạm Kỹ thuật IV, trực thuộc Tổng cục dạy nghề (cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ). Ngày 24 tháng 9 năm 1997 , Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 793/TTg nâng cấp Trường Sư phạm Kỹ thuật IV thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật IV, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo . Trường được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo nguồn giáo viên dạy nghề có trình độ cao đẳng cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long . Ngày 3 tháng 7 năm 1998 , Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ký quyết định số 650/1998/QĐ-LĐTBXH đổi tên Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật IV, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, do Tổng cục Dạy nghề – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý trực tiếp. Đến ngày 30 tháng 12 năm 2011 trường chuyển từ Tổng cục Dạy nghề về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý Nhà nước theo quyết định số 1757/QĐ-LĐTBXH. Ngày 11 tháng 11 năm 2013 , Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 2152/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. [ 3 ] Lãnh đạo trường qua các thời kỳ Danh sách Hiệu trưởng Danh sách Phó Hiệu trưởng Tổ chức Phòng ban Khoa Chuyên môn Trung tâm Ngành đào tạo Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long cung cấp các chương trình đào tạo ở ba bậc học: Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ. Hiện nay, trường có 30 ngành đào tạo Đại học , 7 ngành đào tạo Thạc sĩ và 2 ngành đào tạo Tiến sĩ . Các ngành học của trường được liệt kê cụ thể như sau: Đào tạo Tiến sĩ Đào tạo Thạc sĩ Đào tạo Đại học Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến năm 2023 , nhà trường có 7 Phó Giáo sư , 50 tiến sĩ và 300 thạc sĩ . Nhiều trong số đó đã theo học tại các trường đại học uy tín ở trong nước và quốc tế. Trường cũng đã đạt được các chứng nhận về chất lượng giáo dục đại học , bao gồm 2 chương trình đào tạo thạc sĩ và 12 chương trình đào tạo đại học theo các tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi. [ 6 ] Quan hệ đối ngoại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhiều trường đại học và tổ chức quốc tế uy tín, bao gồm: Thành tích Năm 2017 , Nguyễn Hoàng Anh, một sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, đã đại diện cho Việt Nam tham dự cuộc thi kỹ năng WorldSkills tại Abu Dhabi , Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất . [ 12 ] Năm 2018 , Nguyễn Tấn Toàn, cũng là sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, Khoa Công nghệ thông tin, đã tham gia cuộc thi tay nghề Asean . Trong phần thi nghề lắp cáp mạng thông tin, anh đã xuất sắc giành được huy chương vàng. [ 13 ] Năm 2019 , Nguyễn Tấn Toàn một lần nữa đã đại diện cho Việt Nam tham gia cuộc thi kỹ năng WorldSkills, lần này tại Kazan , Nga . Năm 2021 và 2022 , nhà trường đạt Huân chương Lao động hạng nhì . [ 14 ] [ 15 ] Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4cf32d124641 TITLE: Trường Đại học Dược Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_D%C6%B0%E1%BB%A3c_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Dược Hà Nội là một trường đại học công lập có trụ sở chính tại Hà Nội . Tiền thân là Khoa Dược thuộc Trường Y Dược khoa Đông Dương , năm 1961 trường được thành lập theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế . Bối cảnh Năm 1889, thực dân Pháp hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam, Lào và Campuchia ( Đông Dương ) .Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 nhà nước thuộc địa Pháp bắt đầu cho xây dựng các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học như lập viện Pasteur ở Sài Gòn, Nha Trang và Hà Nội, Trường Viễn Đông Bác cổ , nha khí tượng, viện nông nghiệp, sở địa lý, sở kiểm lâm,... và mở các trường luật, cao đẳng khoa học, cao dẳng mỹ thuật,... nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa. Lịch sử Ngày 8 tháng 1 năm 1902, Trường Y khoa Hà Nội được Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập. Ngày 26 tháng 7 năm 1909, chính phủ Pháp ra sắc lệnh quy định một số vấn đề về đào tạo dược. Năm 1914, Ban Dược được thành lập, việc đào tạo dược sỹ bắt đầu được thực hiện từ đó. [ 2 ] Chương trình học ba năm đối với khoa Dược. Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Dược sĩ Đông Dương (tương đương dược sĩ trung cấp ngày nay). Khóa tốt nghiệp đầu tiên năm 1917 chỉ có bốn người. Tiền thân Trường Y khoa Hà Nội ( École de Médecine de Hanoi ) được thành lập ngày 8 tháng 1 năm 1902 do bác sĩ Yersin - giám đốc Viện Pasteur Nha Trang giữ chức hiệu trưởng đầu tiên. Trường được đặt tại Ấp Thái Hà . Đội ngũ giáo viên do Trường Đại học Y khoa Paris phê duyệt. Năm học đầu tiên (1902) có 19 sinh viên được tuyển chọn trên toàn Đông Dương vào lớp dự bị sau 6 tháng, qua kỳ kiểm tra chỉ còn 15 học sinh. Vì là chương trình của Pháp nên các sinh viên học toàn bàng tiếng Pháp. Bên cạnh trường có một bệnh xá với 40 giường bệnh và một phòng mổ tử thi. Đến năm 1904, trường chuyển về địa chỉ số 13 Lê Thánh Tông. Bệnh viện thực hành nằm ở số 132 Lò Đúc. Phòng mổ tử thi đạt tại Lương Yên. Năm 1906, bệnh viên thực hành được xây dựng mang tên Nhà thương bảo hộ (nay là bệnh viện Việt Đức ) Ngày 20 tháng 7 năm 1914, trường mở thêm khoa Dược đào tạo dược sỹ bậc trung học (sau này gọi là dược sỹ Đông Dương) và đổi tên thành Trường Y Dược khoa Đông Dương . Chương trình học ba năm đối với khoa Dược. Ngày 15 tháng 7 năm 1917, khoá dược sỹ đầu tiên ra trường gồm 4 người Việt Nam. Ngày 22 tháng 4 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định quy định trường có nhiệm vụ đào tạo bác sĩ y khoa, dược sĩ hạng nhất ( Diplôme de Pharmacien 1ére classe - tương đương dược sĩ đại học ngày nay). Trước năm 1935, sinh viên năm thứ 5 thi và bảo vệ luận án tốt nghiệp tại Pháp. Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám , lấy tên là Trường Đại học Y Dược Hà Nội do Giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Ngày 15 tháng 11 năm 1946, Bộ Quốc gia Giáo dục tổ chức khai giảng khóa đầu tiên. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ , trường tản cư đến vùng tự do Chiêm Hóa , Tuyên Quang . Năm 1947, ban Dược khoa có các khóa trước năm 1945 và năm 1945, khóa 1946, khóa 1947. Tháng 7 năm 1948, Ban Dược khoa được chuyển cho Cục Quân y phụ trách được thành lập lại tại Thái Nguyên (lúc này nhà nước giao đào tạo Dược cho Cục Quân y). Trong thời gian kháng chiến 1947-1954, Trường Đại học Y Dược Hà Nội (tại Hà Nội bị chiếm đóng) đào tạo được 106 bác sĩ và dược sĩ. Ngày 28 tháng 1 năm 1955, nghị định 452/ZYO-ND-3 bổ nhiệm Giáo sư Hồ Đắc Di giữ chức giám đốc trường Đại học Y Dược khoa, Giáo sư Trương Công Quyền làm phó giám đốc phụ trách Khoa Dược. Hình thành Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Khoa Dược được tách khỏi Trường Đại học Y Dược, thành lập Trường Đại học Dược khoa Hà Nội do dược sĩ Vũ Công Thuyết làm hiệu trưởng. Ngày 11 tháng 9 năm 1985, Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số 1004/BYT-QĐ đổi tên Trường Đại học Dược khoa thành Trường Đại học Dược Hà Nội . Năm 2011, Trường Đại học Dược Hà Nội được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới . Sứ mệnh Trường Đại học Dược Hà Nội là trường đi tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ Dược cho ngành y tế Việt Nam, đặc biệt là đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ cao ngang tầm khu vực và thế giới. Trường có định hướng là một trong những trung tâm hàng đầu của cả nước về nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, là đầu mối giao lưu quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành dược. Xây dựng Trường Đại học Dược Hà Nội thành một trường trọng điểm quốc gia, một trung tâm đào tạo cán bộ và nghiên cứu về dược của cả nước, ngang tầm với các nước trong khu vực vào năm 2020 và thế giới vào năm 2030. Cơ cấu tổ chức Phòng chức năng (08) Khoa trực thuộc (08) Viện, trung tâm (03) Đội ngũ giảng viên Hiện nay, trường đã quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên phù hợp với quy mô đào tạo, tinh giản đội ngũ chuyên viên khối phòng ban theo Đề án vị trí việc làm được Bộ Y tế phê duyệt. Đội ngũ cán bộ và giảng viên gồm có 3 giáo sư , 22 phó giáo sư , 46 tiến sĩ và hơn 100 thạc sĩ . Trường đang hướng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học đặc biệt là trẻ hóa nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của tri thức thời đổi mới. Đào tạo Đại học (04) Thạc sĩ (01) Dược sĩ chuyên khoa I (02) Tiến sĩ (01) Dược sĩ chuyên khoa II (02) Đào tạo liên tục (04) Khóa đào tạo liên tục ngắn hạn theo chuyên đề, sau đó học viên sẽ được cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học Cơ sở vật chất Trường đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập, nghiên cứu của giảng viên và sinh viên. Theo báo công khai cơ sở vật chất năm 2016 – 2017, trường hiện có 22,01ha đất được cấp, đã xây dựng diện tích 1,89 ha. Trong đó có 24 phòng học với tổng diện tích lên đến 3.360 mét vuông luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu dạy và học tại trường. Bên cạnh đó, trường cũng chăm lo đời sống thể chất và tinh thần của sinh viên qua việc đầu tư căn tin và sân tập giáo dục thể chất rộng rãi thoáng mát. Ngoài ra, ta không thể không nhắc đến Kí túc xá Đại học Dược Hà Nội – nơi trở thành chỗ lưu trú, học tập và vui chơi lưu giữ bao kỉ niệm của thế hệ y sĩ. Ngày nay, trường cũng đã trang bị 1 phòng máy tính, 1 phòng ngoại ngữ và thư viện với diện tích lần lượt là 125, 65 và 669 mét vuông phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin và các môn tin học. Đặc biệt, trường đầu tư cho việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học chuyên ngành y dược nên đã xây dựng 65 phòng thí nghiệm và 1 xưởng thực tập, thực hành cùng với 750 mét vuông diện tích vườn thực vật. Hoạt động sinh viên Bên cạnh những giờ học và thực hành, sinh viên của trường có cơ hội tham gia những hoạt động do các câu lạc bộ, đội nhóm, Hội sinh viên tổ chức. Hiện nay Hội sinh viên của trường gồm có 7 câu lạc bộ (CLB) trực thuộc bao gồm: CLB Chung tay Phát triển Dược liệu Việt Nam, CLB Tiếng Anh, CLB kỹ năng mềm New visions, CLB Vovinam, CLB Báo chí và phát thanh I4U, CLB Gia sư, CLB Máu Dược. Hằng tuần các câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt định kỳ và hằng năm đều tổ chức những chương trình để các sinh viên giải trí, giao lưu, gặp gỡ. Một số hoạt động được sinh viên quan tâm có thể kể đến như: Rung Chuông Vàng, Tài hoa duyên dáng Dược, Vui – Khỏe – Khéo, Karaoke Stars, Thử thách cùng dược sĩ,...trải rộng từ thể thao, văn nghệ đến học thuật. Ngoài ra còn một số CLB học thuật, nghệ thuật khác như CLB Tiếng anh, CLB Bóng rổ , CLB Guitar, CLB Vovinam... tạo nên một cuộc sống tinh thần cho sinh viên trường. Huân chương, danh hiệu Giảng viên có nhiều cống hiến Nhà giáo Nhân dân Nhà giáo Ưu tú 1. Cô Đặng Hồng Vân 1988 (Gs., Vs) 2. Thầy Đỗ Tất Lợi 1990 (Gs., TsKh) 3. Thầy Đỗ Minh 1990 (PGs) 4. Thầy Hoàng Bá Long 1990 (PGs) 5. Thầy Lê Quang Toàn 1990 (Gs) 6. Thầy Mai Long 1990 (PGs) 7. Thầy Nguyễn Thành Đô (PGs., Ts) 8. Thầy Nguyễn Quang Đạt 1992 (PGs., Ts) 9. Thầy Phạm Gia Huệ 1994 (PGs) 10. Thầy Nguyễn Ngọc Bảng 1997 (PGs., Ts) 11. Thầy Trần Công Khánh 1997 (PGs., TsKh) 12. Thầy Mai Tất Tố 1998 (PGs., Ts) 13. Thầy Trần Tử An 2000 (PGs., Ts) 14. Thầy Phạm Xuân Sinh 2000 (PGs., Ts) 15. Thầy Từ Minh Koóng 2000 (PGs., Ts) 16. Thầy Võ Xuân Minh 2000 (Gs, Ts) 17. Thầy Phạm Quang Tùng 2002 (PGs., Ts) 18. Thầy Lê Thành Phước 2002 (PGs., TsKh) 19. Cô Hoàng Kim Huyền 2006 (PGs., Ts) 20. Thầy Hà Như Phú 2008 (PGs) 21. Thầy Nguyễn Nhật Trường 22. Thầy Vũ Văn Thanh 2008 (PGs) 23. Thầy Phạm Tiếp 2008 (DSCK II) 24. Bùi Xuân Đồng 2008 (PGs., Ts) 25. Thầy Cao Văn Thu 2008 (PGs., Ts) 26. Thầy Lê Viết Hùng 2008 (PGs., Ts) 27. Thầy Nguyễn Đăng Hòa 2010 (PGs., Ts) 28. Thầy Thái Nguyễn Hùng Thu 2010 (PGs., Ts) Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1945 cho đến tận ngày nay có bốn thầy được nhận học vị cao nhất Tiến sĩ Khoa học Y Dược 1. PGS. Trần Công Khánh: nghiên cứu về thực vật học tại Đông Đức 2. PGS. Lê Thành Phước: nghiên cứu về hóa học vô cơ tại Đông Đức 3. GS. Đỗ Tất Lợi: phong tặng không phải bảo vệ nhờ cuốn "Những Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" tại Liên Xô cũ 4. GV chính Trần Văn Thanh: nghiên cứu về hóa thực vật tại Liên Xô cũ [ 3 ] Cựu sinh viên nổi bật Với những thành tích mà trường đã đạt được cùng vị thế là trường hàng đầu về đào tạo dược tại Việt Nam , đã có rất nhiều y sĩ tốt nghiệp trường Đại học Dược Hà Nội và cống hiến cho sự phát triển y học đất nước. Một số cựu sinh viên tiêu biểu như: Giáo sư tiến sỹ Nguyễn Văn Đàn nguyên thứ trưởng BYT là cựu sinh viên trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, Phó giáo sư tiến sỹ Lê Văn Truyền nguyên thứ trưởng BYT cựu sinh viên khoa 14. Xem thêm Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: efed05b622a4 TITLE: Trường Đại học Y tế Công cộng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_t%E1%BA%BF_C%C3%B4ng_c%E1%BB%99ng [CONTENT] Trường Đại học Y tế Công cộng là một trường đại học được thành lập ngày 26 tháng 4 năm 2001 theo Quyết định số 65/2001 /QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ , [ 1 ] trụ sở cũ của trường được đặt tại số 138B đường Giảng Võ , phường Kim Mã , quận Ba Đình , thành phố Hà Nội . Trường Đại học Y tế công cộng có trụ sở mới tại số 1A đường Đức Thắng, phường Đức Thắng , quận Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội . Được thành lập từ năm 2001 tiền thân là trường Cán bộ quản lý y tế, Trường Đại học Y tế công cộng (ĐHYTCC) là trường đại học đầu tiên của cả nước đào tạo về lĩnh vực Y tế công cộng. Qua gần 20 năm hoạt động, trường hiện có cơ sở vật chất khang trang, giáo trình và chương trình học hiện đại, tiên tiến, đội ngũ giảng viên có chất lượng, giàu tâm huyết được đào tạo tại các trường danh tiếng trên thế giới. Đặc biệt, Trường ĐHYTCC là Trường đại học đầu tiên trong khối ngành Y, Dược có chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA), trường trực thuộc Bộ Y tế (Việt Nam) . Lịch sử Trường Đại học Y tế Công cộng tiền thân là Khoa Y tế công cộng được thành lập năm 1990 trên cơ sở sáp nhập thêm 3 trường: Trường Cán bộ quản lý Y tế , Bộ môn Vệ sinh dịch tễ Trường Đại học Y Hà Nội và Trung tâm Nhân lực Y tế . Trụ sở đầu tiên của Khoa đóng tại Trường cán bộ quản lý Y tế. Ngày 26 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải đã ra Quyết định số 65/2001/QĐ-TTg thành lập trường Đại học Y tế Công Cộng, trụ sở của Trường được chuyển về số 138B đường Giảng Võ, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngày 16 tháng 7 năm 2016, trường y tế công cộng được khánh thành trụ sở mới tại số 1A, đường Đức Thắng, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hợp đồng hợp tác chuyển giao BT theo hình thức đổi đất lấy hạ tầng. [ 2 ] Cơ cấu Trường có 11 phòng chức năng/đơn vị, 06 khoa, 01 bộ môn, 01 Viện Đào tạo, 06 trung tâm, 01 cơ sở thực hành với gần 200 cán bộ và giảng viên phần lớn được đào tạo ở nước ngoài. Phòng chức năng/đơn vị Khoa, Viện Đào tạo và bộ môn Trung tâm và cơ sở thực hành - Trung tâm Thông tin và Thư viện: Với hơn 19.000 tài liệu đa dạng, phong phú về loại hình, cập nhật và hoàn chỉnh về nội dung, bao quát đầy đủ các khía cạnh của Y tế công cộng, được quản lý chặt chẽ và khai thác hiệu quả thông qua hệ thống phần mềm chuyên ngành, Trung tâm Thông tin Thư viện là môi trường học tập thân thiện, không gian đọc lý tưởng, là giảng đường thứ hai hỗ trợ tích cực và hiệu quả cho bạn đọc cũng như cho các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phát triển chung của nhà trường. - Trung tâm Xét nghiệm: Trung tâm có chức năng thực hiện hoạt động đào tạo, đào tạo liên tục về lĩnh vực xét nghiệm y học + dự phòng; nghiên cứu khoa học và công nghệ. Với đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, chuyên môn được đào tạo trong nước và quốc tế, hệ thống máy móc, thiết bị tiên tiến và chất lượng Trung tâm tập trung cung cấp các lĩnh vực y tế và dự phòng như xét nghiệm dinh dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm, xét nghiệm môi trường, sức khỏe nghề nghiệp, xét nghiệm sinh y phục vụ công tác khám chữa bệnh,... - Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phòng chống chấn thương (CIPPR) : Là đơn vị đi tiên phong trong việc tổ chức đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực phòng chống chấn thương tại Việt Nam. - Trung tâm Nghiên cứu Y tế công cộng và hệ sinh thái (CENPHER): nghiên cứu các chính sách.... hệ thống mạng lưới One-health (tại Việt Nam và trên thế giới) - Trung tâm Đào tạo theo nhu cầu xã hội : Tổ chức các khóa học ngắn hạn theo nhu cầu của xã hội. - Trung tâm Nghiên cứu khoa học sức khỏe : Nghiên cứu phòng chống tác hại thuốc lá, bệnh không lây nhiễm và yếu tố nguy cơ, hệ thống y tế và kinh tế y tế... - Cơ sở thực hành kỹ năng : Phòng khám đa khoa, bệnh viện trường, Trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Trung tâm phục hồi chức năng và hỗ trợ người khuyết tật. Đào tạo Từ 2001 đến nay trường đã đào tạo 2535 cử nhân, 1258 thạc sĩ, 19 tiến sĩ cùng 1100 các khóa ngắn hạn. Hiện tại, nhà trường có hơn 2000 sinh viên theo học các hệ cùng 14 chương trình đào tạo từ đại học đến sau đại học: Đào tạo Đại Học + Cử nhân Y tế công cộng (hệ chính quy và vừa làm vừa học) + Cử nhân Kỹ thuật Xét nghiệm Y học (hệ chính quy và vừa làm vừa học) + Cử nhân Dinh dưỡng (hệ chính quy và vừa làm vừa học) + Cử nhân Công tác xã hội (trong ngành y tế) (hệ chính quy và vừa làm vừa học) + Cử nhân Phục hồi chức năng + Cử nhân Kỹ thuật Công nghệ Môi trường (từ khoá học 2024-2025 ngừng đào tạo) + Cử nhân Khoa học dữ liệu (trong ngành y tế) + Bác sĩ đa khoa (đề án) Đào tạo Sau Đại Học + Chuyên khoa cấp I Y tế công cộng + Thạc sĩ Y tế công cộng + Thạc sĩ Quản lý bệnh viện + Chuyên khoa cấp II Tổ chức và quản lý y tế + Tiến sĩ Quản lý bệnh viện + Tiến sĩ Y tế công cộng + Thạc sĩ Kỹ thuật xét nghiệm y học trình độ sau đại học. +Thạc Sĩ Dinh Dưỡng Đội ngũ giảng viên Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, Trường Đại học Y tế công cộng đã từng bước khẳng định vị thế của mình thông qua uy tín về chất lượng đào tạo, cam kết luôn theo sát nhu cầu thực tế của xã hội, đem đến đội ngũ nhân lực cao đáp ứng nhu cầu của ngành y tế, góp phần phát triển đất nước. Đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Y tế công cộng đa số là các giảng viên trẻ, năng động có trình độ và tâm huyết với nghề. Hầu hết, đội ngũ giảng viên của trường có trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ được đào tạo tại những trường đại học hàng đầu trên thế giới. Đã có trên 85% giảng viên có trình độ sau đại học với gần 20 giáo sư, phó giáo sư; gần 20 Tiến sĩ; 47 thạc sĩ. Như vậy, tỷ lệ giảng viên có trình độ Giáo sư, Phó Giáo sư chiếm 20%, tỷ lệ giảng viên có trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ trở lên chiếm 85% trong tổng số giảng viên của trường - một tỷ lệ rất ít trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay. Hợp tác quốc tế Cùng với hoạt động đào tạo, nghiên cứu, tư vấn, hoạt động Hợp tác quốc tế được Trường Đại học Y tế cộng cộng coi là một nhiệm vụ trọng tâm. Thông qua nhiều hoạt động, Trường Đại học Y tế công cộng mở rộng các quan hệ hợp tác với các trường đại học, các tổ chức quốc tế để trở thành một đối tác quan trọng và uy tín. Hàng năm, trường ĐHYTCC đều tiếp nhận một lượng sinh viên quốc tế khá lớn đến từ nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới như Johns Hopkin (Mỹ), Chapel Hill Simon Fraser (Canada), Leeds (Anh), Paris VI (Pháp), Hàn Quốc, Thái Lan, Campuchia... đến học tập và làm việc. Phần lớn sinh viên quốc tế hiện nay đến từ Hàn Quốc. Tham khảo Liên kết ngoài Website của Trường Đại học Y tế Công cộng Lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a273fbf7f48e TITLE: Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Y_%E2%80%93_D%C6%B0%E1%BB%A3c_h%E1%BB%8Dc_c%E1%BB%95_truy%E1%BB%81n_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam (tiếng Anh: VietNam University Of Traditional Medicine) là một trường đại học chuyên ngành y khoa tại Việt Nam. Có sứ mạng đào tạo bác sĩ, dược sĩ có trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ y dược, hỗ trợ phát triển hệ thống y tế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân khu vực Đồng bằng sông Hồng . Trường trực thuộc Bộ Y tế . Lịch sử hình thành Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là trường đại học y học cổ truyền đầu tiên ở Việt Nam , thành lập năm 2005 theo Quyết định số 30/2005/QĐ-TTg ngày 2-02-2005 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, trên cơ sở trường Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh thành lập vào năm 1969 Cơ cấu tổ chức [ 1 ] Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là cơ sở lớn nhất của Việt Nam đào tạo thầy thuốc y học cổ truyền. Khoa trực thuộc (04) Phòng chức năng (09) Đơn vị chức năng trực thuộc Lãnh đạo Học viện Giám đốc qua các nhiệm kỳ Đào tạo [ 3 ] Học viện đang đào tạo Bác sĩ Y khoa, dược sĩ đại học, bác sĩ y học cổ truyền , bác sĩ chuyên khoa I , bác sĩ chuyên khoa II , thạc sĩ , bác sĩ nội trú, tiến sĩ y học cổ truyền, thạc sĩ dược học cổ truyền. Hợp tác quốc tế Hiện Học viện đã tuyển sinh nhiều khóa liên kết đào tạo bác sĩ y học cổ truyền với Đại học Trung Y Dược Thiên Tân (Trung Quốc); liên kết đào tạo nghiên cứu khoa học và điều trị với nhiều nước như: Trung Quốc, Ukraina, Ấn Độ, Đài Loan , Hàn Quốc, Pháp, Tây Ban Nha, Cộng hòa Czech và Cộng hòa Liên bang Đức. Đội ngũ cán bộ Hiện Học viện có hơn 600 giảng viên, cán bộ, viên chức; trong đó có 11 giáo sư, phó giáo sư; 26 tiến sĩ/bác sĩ chuyên khoa II, 149 thạc sĩ/bác sĩ chuyên khoa I Tạp chí khoa học Học viện quản lý và xuất bản tạp chí chuyên ngành: Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam (ISSN 2354–1334) — đăng tải các nghiên cứu, bài báo khoa học về y dược cổ truyền, lý luận & ứng dụng, kể cả kết hợp y học hiện đại. Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam xuất bản 02 tháng/kỳ (mỗi số 80 trang). Tạp chí đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép số 432/GP-BTTTT ngày 21 tháng 10 năm 2013, cấp lại số 134/GP-BTTTT ngày 22 tháng 5 năm 2024. [ 4 ] Đây là tạp chí khoa học y học uy tín, Tạp chí đã được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước đánh giá cao. [ 4 ] Chú thích Liên kết ngoài Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c00bcc285f21 TITLE: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_D%C6%B0%E1%BB%A3c_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (UMP; tiếng Anh : University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City ) một trường đại học đầu ngành y khoa tại Việt Nam , có sứ mệnh đào tạo bác sĩ, dược sĩ có trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ y dược, hỗ trợ phát triển hệ thống y tế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân khu vực Đông Nam Bộ . Trường được xếp vào nhóm trường đại học trọng điểm top đầu quốc gia Việt Nam , bên cạnh Trường Đại học Y Hà Nội trực thuộc Bộ Y tế . Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh mang tên gọi chính thức từ năm 2003, nhưng trên thực tế thì Đại học Y Dược là trường đại học, không phải là đại học theo mô hình đa thành viên. Lịch sử Tiền thân của cơ sở giáo dục này là Trường Đại học Y khoa Sài Gòn . Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, thường gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn, được thành lập năm 1947, như một phân hiệu của trường Y khoa Hà Nội. GS. C.Massias được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng phân hiệu này. Cơ sở đầu tiên của trường Y khoa Sài Gòn tại 28 đường Testard Q3 (nay là đường Võ Văn Tần ) Ngày 31 tháng 8 năm 1961, Y Dược Đại học đường Sài Gòn được phân chia thành Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Dược khoa Đại học đường Sài Gòn . Ngày 12 tháng 8 năm 1962, Ban Nha khoa thuộc Y khoa Đại học đường Sài Gòn trở thành Nha khoa Đại học đường Sài Gòn . Cả 3 trường hoạt động độc lập trong Viện Đại học Sài Gòn . Khi mới thành lập, trụ sở chính được đặt tại số 28 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh), gồm một căn nhà 2 tầng dùng làm văn phòng, thư viện, phòng họp giảng viên, và 3 căn nhà ngang dùng làm nơi giảng dạy lý thuyết. Các phòng thực tập khoa học cơ bản và y học cơ sở nằm rải rác trong Sài Gòn như Cơ thể học Viện (dùng cho sinh viên thực tập giải phẫu học) ở đường Trần Hoàng Quân (nay là đường Nguyễn Chí Thanh ), bệnh viện Sài Gòn (dùng cho sinh viên thực tập hóa học), Viện Pasteur (dùng cho sinh viên thực tập vi sinh và ký sinh học). Một cơ sở riêng cạnh bên Cơ thể học Viện được dùng làm nơi thực tập cho các môn sinh lý , cơ thể bệnh lý ( giải phẫu bệnh ) và mô học . Sinh viên y khoa và dược khoa sử dụng chung trường tại số 28 Trần Quý Cáp cho tới năm 1961 khi Dược khoa Đại học đường được thành lập và đặt trụ sở tại nơi khác tại số 169 đường Công Lý (nay là trụ sở Cung văn hóa thiếu nhi TP Hồ Chí Minh, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Ngày 16 tháng 11 năm 1966, Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn chính thức chuyển về Trung tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng , Quận 5 . Trung tâm có cơ sở vật chất khá tiện nghi, hiện đại lúc bấy giờ, được sử dụng chung cho 2 trường: Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn, với 1 đại giảng đường 500 chỗ ngồi, 3 giảng đường với mỗi giảng đường có 300 chỗ ngồi, thư viện và đầy đủ các khu y học cơ sở cùng với các phòng thí nghiệm . Ngày 27 tháng 10 năm 1976, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 426/TTg về một số vấn đề cấp bách trong mạng lưới các trường đại học ở Nam Bộ , tổ chức lại các trường thuộc Viện Đại học Sài Gòn, tất cả gom lại còn 8 trường: Đại học tổng hợp (sáp nhập Văn khoa và Khoa học), Đại học Bách khoa (Kỹ thuật Phú Thọ), Đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức (Giáo dục Thủ Đức), Đại học Y Dược (sáp nhập Y khoa, Nha khoa, Dược khoa Đại học đường Sài Gòn), Đại học kinh tế (Luật khoa), Đại học Kiến trúc , Đại học Nông nghiệp , Đại học Sư phạm . Các trường được chuyển về Bộ chủ quản, Viện Đại học Sài Gòn không còn. Như vậy, đến năm 1976, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở hợp nhất Y khoa Đại học đường Sài Gòn, Dược khoa Đại học đường Sài Gòn, Nha khoa Đại học đường Sài Gòn và trường đào tạo Cán bộ Y tế miền Nam. Từ quyết định này Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được thành lập và trở thành tên gọi thân quen trong suốt nhiều năm vừa qua. Từ 3 trường riêng biệt nay với quyết định sáp nhập lại, mỗi trường trở thành một khoa. Đến năm 1990 lãnh đạo nhà trường đã bàn bạc và thống nhất với Bộ Y tế về việc xây dựng Viện đại học sức khỏe. Từ đó, ngoài 3 khoa Y, Dược, Răng hàm mặt, nhà trường đã xây dựng thêm 4 khoa mới và một bệnh viện đại học: - Năm 1994: xây dựng khoa khoa học cơ bản, trên cơ sở sáp nhập và tổ chức lại các bộ môn Toán, Lý, Hóa, Sinh học, Triết học Mác-Lênin, Ngoại ngữ, thể dục thể thao, Quân sự. - Năm 1998: xây dựng khoa Y học cổ truyền, trên cơ sở sáp nhập bộ môn Đông y và trường Trung học Tuệ Tĩnh 2. - Năm 1998: xây dựng khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học trên cơ sở sáp nhập trường Trung học Kỹ thuật Y tế TW3. - Năm 1999: xây dựng khoa Y tế công cộng trên cơ sở sáp nhập bộ môn Y tế công cộng với khoa Tổ chức – quản lý y tế của Viện vệ sinh Y tế công cộng. - Ngày 18/10/2000: Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở phát triển phòng khám đa khoa của trường. - Ngày 18/06/2003: Trường Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh được đổi tên thành Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD TP.HCM) theo Quyết định số 2223/QĐ-BYT ngày 18/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Y tế. [ 1 ] Nhưng hiện nay, theo Luật Giáo dục Đại học YD TPHCM thì chỉ là Trường Đại học. Lãnh đạo Trường Các lãnh đạo chủ chốt bao gồm: Các đơn vị thành viên Đào tạo đại học Đào tạo sau đại học Nghiên cứu khoa học Phòng Nghiên cứu Khoa học được thành lập ngày 26 tháng 8 năm 1978 theo quyết định số: 1004 BYT/QĐ của Hiệu trưởng trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. [ 2 ] Thành tựu Giai đoạn 1975 – 1985: Giai đoạn 1986 – 1995: Chế tạo ra thuốc phòng chống sốt rét phù hợp với loại bệnh sốt rét tại Việt Nam. Nghiên cứu thành công cách trị bệnh thương hàn. Giai đoạn 1996 đến nay: Trong giai đoạn này trường đã và đang thực hiện: 11 đề tài cấp Nhà nước, 62 đề tài cấp Bộ, 63 đề tài cấp thành phố và 5029 đề tài cấp cơ sở. [ 2 ] Dự án tương lai Bộ Y tế đang triển khai xây dựng đề án tham mưu thành lập Đại học Sức khỏe tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, với mô hình ba cấp bao gồm các trường đại học thành viên, với nền tảng nâng cấp từ Trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Việc phát triển này sẽ giúp phân cấp trách nhiệm, quản lý, đồng thời sẽ phát huy được nội lực của hai đơn vị đào tạo y khoa mạnh nhất cả nước. Hiện tại mỗi khoa của Đại học Y Dược có những cơ sở riêng, quy mô tương tương với nhiều cơ sở đang tiến hành đào tạo nhân lực cho ngành y, và sau sẽ được nâng cấp lên thành các trường đại học thành viên, trực thuộc một mô hình viện đại học tổng thể. Trong tương lai, Khoa Y, Khoa Dược,... sẽ được đổi thành Trường Đại học Y, Trường Đại học Dược - Đại học Khoa học Sức khỏe Thành phố Hồ Chí Minh. [ 4 ] [ 5 ] Chú thích Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 93e5a241bf7e TITLE: Trường Đại học Y Dược Hải Phòng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_D%C6%B0%E1%BB%A3c_H%E1%BA%A3i_Ph%C3%B2ng [CONTENT] Trường Đại học Y Dược Hải Phòng (tiếng Anh: Haiphong University Of Medicine and Pharmacy ) là một trường đại học chuyên ngành y khoa tại Việt Nam. Có sứ mạng Đào tạo nguồn nhân lực y tế uy tín, chất lượng; là trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chú trọng phát triển y dược biển đảo Việt Nam. Được xếp vào nhóm các trường đại học trọng điểm đào tạo nhân lực y tế của Việt Nam , trực thuộc Bộ Y tế . Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 6 năm 2019, trường có 600 cán bộ, giảng viên cơ hữu trong đó có 2 Giáo sư , 25 phó giáo sư , 50 tiến sĩ , 190 thạc sĩ và các trợ giảng có trình độ đại học, và 308 giảng viên kiêm nhiệm có trình độ sau đại học, tại các Bệnh viện thực hành . [ 1 ] Đến năm 2024, số lượng giảng viên đã lên tới 762 người. Lịch sử Trường Đại học Y Dược Hải Phòng có lịch sử gần 40 năm xây dựng phát triển và trưởng thành, bao gồm các mốc chính sau: Trước năm 1979: Các bệnh viện ở Hải Phòng là cơ sở thực hành của sinh viên Trường đại học Y Hà Nội. Năm 1979: Chính thức thành lập Cơ sở II của Trường Đại học Y Hà Nội tại Hải Phòng (từ tháng 9/1979 đến 8/1985). Ngày 17/8/1985, Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định (số 843/BYT-QĐ) thành lập Phân hiệu Đại học Y Hải Phòng trực thuộc Trường Đại học Y Hà Nội. Ngày 25/01/1999, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 06/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Y Hải Phòng trực thuộc Bộ Y tế, trên cơ sở Phân hiệu Đại học Y Hải Phòng. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ quyết định đổi tên Trường đại học Y Hải Phòng thành Trường Đại học Y Dược Hải Phòng với nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu và dịch vụ về lĩnh vực sức khỏe, đóng góp trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hiệu Trưởng qua các thời kỳ Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b9d22ba6368a TITLE: Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Y_t%E1%BA%BF_H%E1%BA%A3i_D%C6%B0%C6%A1ng [CONTENT] Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương được thành lập ngày 12/7/2007, trụ sở của trường tọa lạc tại thành phố Hải Dương , tỉnh Hải Dương . Trường hoạt động theo cơ chế đại học công lập . Trực thuộc Bộ Y tế Việt Nam. Với gần 15 chuyên ngành đào tạo như: Bác sĩ đa khoa , Kĩ thuật hình ảnh y học, Kĩ thuật xét nghiệm đa khoa, Điều dưỡng đa khoa, Phục hồi chức năng, Điều dưỡng sản phụ khoa, Nữ hộ sinh ...Trường là cơ sở đào tạo kỹ thuật viên y tế có trình độ đại học duy nhất ở miền Bắc, góp phần đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho các tỉnh, thành phố miền bắc cũng như cả nước. Lịch sử 1. Từ 1960 - 1977: Trường Y sỹ Hải Dương (Quyết định số 18/TCCB ngày 5/9/1960 của Ủy ban Hành chính tỉnh Hải Dương), Trường Cán bộ Y tế Hải Hưng, Trường Trung học Y tế Hải Hưng: đào tạo y sỹ, dược sỹ, y tá, nữ hộ sinh trung học 2. Từ 1978 - 2001: Trường Trung học Kỹ thuật Y tế 1- Bộ Y tế, đào tạo KTV Xét nghiệm, Xquang, Vật lý trị liệu/ Phục hồi chức năng, Gây mê hồi sức, Y sỹ Nha, Điều dưỡng đa khoa, hộ sinh trung cấp 3. Tháng 4/2001: Nâng cấp thành Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế 1 - Bộ Y tế (Quyết định số 1952 /QĐ-BGD&ĐT ngày 24/4/2001), đào tạo Điều dưỡng và Kỹ thuật y học 7 chuyên ngành Cao đẳng (KTV Xét nghiệm, Kỹ thuật hình ảnh, Vật lý trị liệu/ Phục hồi chức năng, Điều dưỡng Đa khoa, Điều dưỡng Nha khoa , Điều dưỡng Gây mê hồi sức, Hộ sinh) và 08 chuyên ngành hệ Trung cấp -Từ 2006: Đào tạo thêm 03 chuyên ngành Cao đẳng: Dinh dưỡng - Tiết chế, Kiểm nghiệm ATVSTP và Y học Dự phòng 4. Từ tháng 7/2007: - Nâng cấp thành Trường Đại học kỹ thuật Y tế Hải Dương (Quyết định 868/QĐ-TTg ngày 12/7/2007) -Từ năm học 2008 - 2009: Đào tạo trình độ Đại học các chuyên ngành: Điều dưỡng, Xét nghiệm, Kỹ thuật hình ảnh và VLTL Hệ đại học Sau đại học: - Chuyên khoa I: Phục hồi chức năng. - Chuyên khoa I: Điều dưỡng Thành tích Ngoài ra còn có nhiều cờ thi đua của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo , Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương trao tặng. [ 1 ] Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e226fc41ccea TITLE: Trường Đại học Y Dược Thái Bình SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_D%C6%B0%E1%BB%A3c_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh [CONTENT] Trường Đại học Y Dược Thái Bình ( ThaiBinh University of Medicine and Pharmacy ) là một trường đại học chuyên ngành Khoa học Sức khỏe tại Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế , được thành lập ngày 23/7/1968, có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực khối ngành khoa học sức khỏe, đa ngành, đa cấp có chất lượng; nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, cung cấp dịch vụ và sản phẩm; vì mục tiêu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Lịch sử Ngày 23/7/1968 Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 114/CP thành lập Phân hiệu Đại học Y khoa Thái Bình . Ngày 24/01/1979 Chính phủ đã ra quyết định số 34/CP chuyển Phân hiệu Đại học Y khoa Thái Bình thành Trường Đại học Y Thái Bình . Ngày 11 tháng 11 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 2154/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Y Thái Bình thành Trường Đại học Y Dược Thái Bình . Đào tạo Trường đào tạo đa ngành Y Dược với: - 07 mã ngành Đại học chính quy : Y khoa, Y học cổ truyền, Y học dự phòng (6 năm); Y tế công cộng (4 năm); Dược học (5 năm); Điều dưỡng (4 năm) và Kỹ thuật xét nghiệm y học (4 năm). - 03 mã ngành Đại học liên thông : Y đa khoa, Y học cổ truyền (4 năm); Dược học (4 năm), Điều dưỡng vừa học vừa làm. Trường đã đào tạo 13 mã ngành Bác sĩ chuyên khoa cấp I , đào tạo 6 mã ngành Bác sĩ chuyên khoa cấp II , đào tạo 03 mã ngành Thạc sĩ : Y tế công cộng, Ngoại khoa, Dinh dưỡng, đào tạo 1 mã ngành Tiến sĩ Y tế công cộng, 4 mã ngành Bác sĩ nội trú chuyên ngành Nội khoa, Ngoại khoa, Sản phụ khoa và Y học cổ truyền. Điểm chuẩn qua các năm với ngành Y khoa chính quy (7720101) Cơ sở vật chất Trường đã có khu giảng đường 15 tầng, giảng đường 9 tầng, đại giảng đường, khu nhà giải phẫu, giảng đường 4 tầng với gần 50 phòng học. Trường có 01 Labo trung tâm và đầy đủ các Labo thực hành. Mạng LAN của trường hiện có 03 máy chủ với gần 100 máy trạm, ngoài ra còn có gần 20 máy lẻ. Đáp ứng khá tốt nhu cầu truy cập Internet của Cán bộ và sinh viên. Trường đang xây dựng hoàn thiện Thư viện điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ công tác quản lý, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các đơn vị trực thuộc - Bộ môn Toán - Tin - Bộ môn Y vật lý - Bộ môn Hóa học - Bộ môn Y sinh học di truyền - Bộ môn Ngoại ngữ - Bộ môn Lý luận chính trị - Bộ môn Giáo dục thể chất - Bộ môn Giải phẫu - Bộ môn Giải phẫu bệnh - Bộ môn Sinh lý học - Bộ môn Sinh lý bệnh - Miễn dịch - Bộ môn Hóa sinh - Bộ môn Vi sinh - Bộ môn Ký sinh trùng - Bộ môn Huyết học truyền máu - Bộ môn Nội - Bộ môn Ngoại bao gồm cả Tổ Bộ môn Ung bướu, Tổ bộ môn Phẫu thuật thực hành - Bộ môn Phụ sản - Bộ môn Nhi - Bộ môn Chấn thương - Bộ môn Điều dưỡng - Bộ môn Phổi - Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh - Bộ môn Mắt - Bộ môn Răng hàm mặt - Bộ môn Tai mũi họng - Bộ môn Truyền nhiễm - Bộ môn Y học cổ truyền - Bộ môn Phục hồi chức năng - Bộ môn Tâm thần - Bộ môn Thần kinh - Bộ môn Da liễu - Bộ môn Y học gia đình - Bộ môn Dược lý, Dược lâm sàng, Độc chất - Bộ môn Quản lý kinh tế Dược - Bộ môn Dược liệu, Dược cổ truyền - Bộ môn Bào chế - Bộ môn Kiểm nghiệm dược - Bộ môn Dịch tễ học - Bộ môn Tổ chức và Quản lý y tế - Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm - Bộ môn Sức khỏe môi trường - Bộ môn Xã hội học sức khỏe - Phòng Quản lý đào tạo Đại học - Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học - Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - Phòng Tổ chức cán bộ - Phòng Hợp tác quốc tế - Phòng Quản lý khoa học - Phòng Hành chính và công tác chính trị - Phòng Vật tư, trang thiết bị - Phòng Quản trị Thành tích Năm 2015, Trường vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động . Trường được Nhà nước tặng 03 Huân chương Độc lập hạng Nhât, Nhì, Ba; 04 Huân chương Lao động (Hạng Nhất, Nhì và 2 lần Hạng Ba). Bên cạnh đó, hằng năm Trường cũng đã nhận được nhiều cờ, Bằng khen, Huy chương của các Bộ, Ngành và địa phương. [ 1 ] Trường cũng đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý của hai nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia do có nhiều thành tích trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực Y tế cho 2 nước trong suốt mấy chục năm qua. Đảng ủy, Hội Đồng trường, Ban Giám Hiệu Hiệu trưởng qua các thời kỳ Cá nhân, tập thể tiêu biểu Hợp tác đào tạo & nghiên cứu khoa học Trường có quan hệ hợp tác, liên kết trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với các Trường Đại học Y Dược trong cả nước, các viện khoa học Y học của Bộ Y tế. Trường đã mở rộng hợp tác với một số tổ chức Quốc tế như UNICEF, WHO, SIDA, IHCA (Thuỵ Điển), FHI (Hoa Kỳ), FFI (Pháp), CEI (Italia), SEAMIC, Greifswald (Đức), Pecs (Hungary), Inovation (Nhật Bản) và các trường Đại học: Thiên Tân (Trung Quốc, Copenhagen (Đan Mạch).... Mục tiêu phát triển Xây dựng Trường Đại học Y Dược Thái Bình trở thành cơ sở giáo dục đại học khoa học sức khỏe định hướng thực hành, đa ngành, đa cấp, luôn giữ vững thứ hạng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tiến tới hội nhập khu vực và quốc tế. Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: ad9235414df7 TITLE: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90i%E1%BB%81u_d%C6%B0%E1%BB%A1ng_Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh [CONTENT] Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là một trường đại học được thành lập ngày 26 tháng 2 năm 2004 theo Quyết định số 24/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ , [ 1 ] trụ sở của Trường được đặt tại số 257 Hàn Thuyên, phường Nam Định , tỉnh Ninh Bình . Trường là một trong những trung tâm đào tạo đa cấp nguồn nhân lực Điều dưỡng - Hộ sinh, đào tạo giáo viên điều dưỡng cho các trường trung học, cao đẳng và các trường ĐH Y tham gia đào tạo điều dưỡng ở Việt Nam , đồng thời cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. [ 2 ] Lịch sử hình thành [ 3 ] Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định tiền thân là Trường Y sỹ Nam Định được thành lập ngày 8/9/1960, sau đó được đổi tên thành Trường THYT Nam Hà . Ngày 12/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 65/HĐBT, nâng cấp Trường THYT Nam Hà thành Trường Cao đẳng Y tế Nam Định . Ngày 25/7/1988, Trường được hợp nhất với Đại học Y Thái Bình theo Quyết định số 624/BYT-QĐ của Bộ Y tế . Tuy nhiên, chỉ 3 năm sau đó, Bộ Y tế lại ra Quyết định số 797/BYT-QĐ ngày 13/8/1991, tách Trường ra khỏi Đại học Y Thái Bình. Đến ngày 26/2/2004, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ra Quyết định số 24/2004/QĐ-TTg, nâng cấp Trường Cao đẳng Y tế Nam Định thành Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Đào tạo Đào tạo Đại học Đào tạo Sau đại học Ban Giám Hiệu - Phòng chức năng Chủ tịch Hội đồng trường: Thầy thuốc nhân dân. PGS.TS. Lê Thanh Tùng (Bí thư Đảng ủy) Hiệu Trưởng: Thầy thuốc nhân dân. TS. Trương Tuấn Anh Các Phó Hiệu Trưởng: Các trưởng đơn vị: Hiệu Trưởng qua các thời kỳ Các khoa chuyên môn Thành tích [ 4 ] Và nhiều cán bộ giáo viên được tặng bằng khen, giấy khen, các danh hiệu thi đua khác. Tham khảo Liên kết ngoài Website của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7796e56f8542 TITLE: Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Y_D%C6%B0%E1%BB%A3c_%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng [CONTENT] Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng ( YDN; tiếng Anh : Da Nang University of Medical Technology and Pharmacy ) là một trường đại học chuyên ngành y khoa tại Việt Nam, có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Y Dược ở trình độ đại học, sau đại học và các trình độ khác, nghiên cứu và ứng dụng các thành quả vào đào tạo, khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế và công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân khu vực Miền Trung - Tây Nguyên . Trường trực thuộc Bộ Y tế Việt Nam , và là trường đại học đào tạo chuyên ngành y dược duy nhất khu vực Miền Trung - Tây Nguyên trực thuộc Bộ Y tế Việt Nam . [ 1 ] Lịch sử Trước năm 1975 Sau năm 1975 Lãnh đạo Trường Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Trường hiện có đội ngũ giảng viên cơ hữu với gần 250 cán bộ, công chức, trong đó có 1 Phó Giáo sư , 34 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ , 155 Thạc sĩ, 33 Giảng viên. Ngoài ra, có khoảng 30 giảng viên thỉnh giảng là các chuyên gia, cán bộ nghiên cứu đến từ trường đại học uy tín trong và ngoài nước. Cơ sở vật chất Tổng diện tích đất của trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng hiện nay khoảng 60.995,3m². Trong đó có hai cơ sở: cơ sở 1 tại 99 đường Hùng Vương, quận Hải Châu , thành phố Đà Nẵng có diện tích khoảng 11.847,3m², cơ sở 2 tại phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn , thành phố Đà Nẵng có diện tích khoảng 50.148m² . Tổ chức Hiện tại trường có 8 phòng chức năng, 7 khoa chuyên ngành, 1 trung tâm. Các phòng chức năng Các khoa đào tạo Các Bộ môn Các trung tâm Quy mô và Hệ thống đào tạo Quy mô đào tạo hơn 4500 sinh viên. Kể từ năm 1975 đến nay, trường đã đào tạo được 33.400 cán bộ y tế cho 55 tỉnh, thành trong cả nước. Hệ thống đào tạo của nhà trường bao gồm các cấp học: Đại học Đại học chính quy - đào tạo 10 chuyên ngành: [ 3 ] Tuyển sinh đại học - gồm 4 phương thức: Sau đại học Chuyên khoa cấp I - đào tạo 4 chuyên ngành: Hợp tác đào tạo Trường đã chủ động, năng động đẩy mạnh hợp tác quốc tế, trong đó, phải kể đến các mối quan hệ với hơn 10 tổ chức và các trường đại học từ các nước thuộc khối Scandinavian như: Trường Jonkoping ( Thụy Điển ), Đại học Tartu (Estonia), Đại học Gdansk ( Ba Lan ), Đại học Oslo ( Na Uy ); hợp tác với các trường đại học khác như: Đại học Sienna (Ý), Đại học Wake Forest ( Hoa Kỳ ), Đại học CCCU ( Anh ), Đại học Chubu Gakuin và Trường New Japan ( Nhật Bản ), Trường Đại học Trung Y Dược Quảng Tây ( Trung Quốc ), Trường Mahidol Thái Lan , v.v... và các tổ chức quốc tế như: USAID (Hoa Kỳ), MCNV (Hà Lan), JICA ( Nhật Bản ), Bộ Y tế Bang Nam Úc, Tổ chức Newborn Vietnam, Tập đoàn AOYAMA và Hội Senjukai ( Nhật Bản )... Xem thêm Chú thích Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f5a611b9e024 TITLE: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_h%C3%B3a_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1959 , trụ sở chính của Trường được đặt tại quận Đống Đa , thành phố Hà Nội , Trường trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch , do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý về đào tạo. Trường đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho lĩnh vực văn hóa với các bậc đại học (cử nhân), sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). [ 3 ] Tổ chức Các phòng Các khoa Các đơn vị khác Các ngành đào tạo Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ Các vị hiệu trưởng Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 14b1095eb1e3 TITLE: Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam là một trường đại học công lập của Việt Nam chuyên đào tạo nhóm ngành mỹ thuật, thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch , tiền thân theo đơn vị này là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương . Năm 2008, trường được đổi tên là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, trước đó là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. [ 1 ] Lịch sử Tiền thân theo đơn vị này tự nhận là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương , thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương do Martial Merlin ký vào ngày 27 tháng 10 năm 1924. Đến tháng 11 năm 1925 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khai giảng khóa đầu tiên, đánh dấu mốc son chính thức về khởi đầu hành trình phát triển của nhà trường. Họa sỹ Victor Tardieu, Giải thưởng Đông Dương (Prix de l'Indochine) năm 1920, trở thành vị Hiệu trưởng đầu tiên của trường từ 1925 đến khi ông qua đời tại Hà Nội năm 1937. Từ khi thành lập đến nay nhà trường đã trải qua các giai đoạn khác nhau và thay đổi tên trường như sau: Viện Mỹ thuật Thành lập năm 1962 Viện Mỹ thuật do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung làm Viện trưởng. Năm 1995 trường sáp nhập với trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam). Trong giai đoạn này Viện đã có nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản như: Cơ sở vật chất Trường nằm giữa khu phố và dân cư đông đúc của thành phố , có diện tích khá nhỏ, một phần diện tích của trường Cao đẳng xưa đã bị cắt bớt để xây dựng trụ sở một cơ quan của Bộ Công An nằm kế bên. Trường có 5 khối nhà chính, với khoảng 20 phòng học, một nhà bảo tàng , một nhà triển lãm , 2 xưởng sơn mài , 1 xưởng đồ họa , 2 phòng máy tính với khoảng 50 máy và một thư viện . Trường có một ký túc xá nằm trong khuôn viên với khoảng gần 30 phòng. Phòng dành cho sinh viên trong nước thì nhỏ, kê 3 giường đôi, có nhà vệ sinh riêng và có bình nước nóng. Phòng dành cho sinh viên nước ngoài rộng, đẹp và thuận tiện hơn, với trang thiết bị giống một phòng khách sạn nhỏ. Ở khu nhà học có một cửa sau nối ra khu tập thể Đại học Mỹ thuật Hà Nội (Ngõ 149 Lê Duẩn). Hiện nay, cửa đã không được sử dụng và bị đóng vĩnh viễn. Tuyển sinh Từ năm 2013, trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam lựa chọn phương thức tuyển sinh kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển (tổ chức các môn thi năng khiếu, xét tuyển môn Ngữ văn). Địa điểm thi tại trường. Các môn thi Các chương trình đào tạo Trường đã từng có các chương trình đào tạo hệ sơ cấp và cao đẳng , song giờ chỉ còn hệ Đại học và sau Đại học . Hệ đại học Hệ sau đại học Chương trình sau đại học được đào tạo không tập trung trong 3 năm, 2 năm đầu là 5 tháng năm cuối 8 tháng. Học phí và học bổng Cựu sinh viên tiêu biểu Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 28be799bc434 TITLE: Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_%E2%80%93_%C4%90i%E1%BB%87n_%E1%BA%A3nh_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội là một trường đại học được thành lập ngày 17 tháng 12 năm 1980 , trụ sở của trường được đặt tại phường Mai Dịch , quận Cầu Giấy , thành phố Hà Nội . Trường là một trong những đại học lâu đời ở Việt Nam, chịu trách nhiệm trong việc đào tạo và bồi dưỡng những học viên có năng khiếu trong các lĩnh vực như: Sáng tác (nhạc, văn học), Biểu diễn, Nghiên cứu, Lý luận - Phê bình, Kinh tế - Kỹ thuật và Công nghệ của các ngành nghệ thuật Sân khấu , Điện ảnh và Truyền hình . [ 1 ] Lịch sử Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội tiền thân là Trường Ca kịch Dân tộc được thành lập năm 1959 . Đến Ngày 17/12/1980, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 372/CP, [ 2 ] thành lập trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trên cơ sở sáp nhập 2 trường Trung cấp Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam và Trường Điện ảnh Việt Nam (đều thành lập năm 1959). [ 3 ] Các khoa Các ngành đào tạo Thành tích Với hơn 30 năm thành lập và phát triển, Trường đã đào tạo ra nhiều những cán bộ quản lý, những diễn viên tài năng, nhiều người trong số họ đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân , Nghệ sĩ ưu tú , đạt được thành tích cao trong các kỳ Hội diễn sân khấu, Liên hoan phim quốc gia và quốc tế... Trường đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều danh hiệu như: [ 4 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0fb2e9a8a3ef TITLE: Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_%E2%80%93_%C4%90i%E1%BB%87n_%E1%BA%A3nh_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học chuyên đào tạo nhóm ngành sân khấu , điện ảnh và nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh . Lịch sử Ngày 10/7/1998: Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trường Nghệ thuật Sân khấu II và Trường Điện ảnh Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1977 . Ngày 11/2/2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký đồng ý về mặt chủ trương đề xuất thành lập Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh TPHCM trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch , trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sân khấu – Điện ảnh TPHCM trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch . Ngày 13/10/2009, trường đã chính thức được Thủ tướng Chính phủ ký duyệt nâng cấp lên thành trường đại học . [ 1 ] Tháng 1/2010, nhà trường tổ chức lễ đón nhận quyết định chính thức thành lập trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh. Các khoa Các nhân vật nổi tiếng Xem thêm Liên kết ngoài Tham khảo Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1e7983622bc8 TITLE: Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%E1%BB%83_d%E1%BB%A5c_Th%E1%BB%83_thao_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh là một trường đại học với mô hình kết hợp giữa đào tạo và huấn luyện, Trường Đại học TDTT TP.HCM đã luôn gắn chặt, kết nối các nhiệm vụ với nhau để hoàn thành tốt các chỉ tiêu về đào tạo cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tổ chức triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học mang tính thức tiễn, ứng dụng trực tiếp cho công tác giảng dạy, huấn luyện. Trụ sở tại Khu phố 6, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức , Thành phố Hồ Chí Minh . Lịch sử Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH TDTT TP.HCM) tiền thân là trường Cán bộ Thể dục Thể thao Miền Nam được thành lập ngày 28/01/1976. Thời gian này tập luyện tại sân vận động Hoa Lư và ở ký túc xá tại 98 Trần Quang Khải Quận 1 – Tp Hồ Chí Minh. Ngày 26/10 năm 1977 trường được đổi tên thành Trường Trung học Thể dục Thể thao TW2 theo quyết định số 458/TC của Tổng cục Thể dục Thể dục Thể thao. Giai đoạn này trường đặt tại số 2 Lê Đại Hành-Q11 (1977–9/1990). Tháng 7/1977 trường Trung học TDTT TW2 liên kết với trường Đại học TDTT Từ Sơn – Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) mở khóa đào tạo Đại học TDTT đầu tiên. Trong thời gian đầu xây dựng nhà trường còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Sinh viên các khóa vừa phải đảm bảo việc học tập vừa phải tham gia lao động xây dựng nhà trường. Ngày 18/9/1985 theo quyết định số 234/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), Trường Trung học TDTT TW2 được chính thức đổi tên và nâng cấp thành trường Đại học TDTT II. Đến tháng 9/1990 trường Đại học TDTT II được chuyển địa điểm từ trường đua Phú Thọ cũ số 2 Lê Đại Hành (Q11) đến địa điểm chính thức mới khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh. Đến năm 2008 trường chính thức đổi tên như hiện nay: Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2011, Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng ba. Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 52450b659d47 TITLE: Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_h%C3%B3a_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tên gọi quốc tế: Ho Chi Minh City University of Culture , viết tắt: HCMUC ) là cơ sở giáo dục đại học công lập , trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch , do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý về đào tạo, đào tạo và nghiên cứu khoa học các lĩnh vực: văn hóa, nghệ thuật, thông tin, truyền thông và du lịch. Trường Đại học Văn hóa TP. HCM là trường Đại học đầu tiên thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Lịch sử Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh tiền thân là Trường Nghiệp vụ Văn hoá Thông tin (đào tạo bậc trung học) thành lập ngày 03/01/1976 theo quyết định của Bộ Văn hoá - Thông tin Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 30/08/1976, theo quyết định số 110/VH-QĐ của Bộ trưởng Bộ Văn hoá Trường đổi tên thành Trường Lý luận và Nghiệp vụ II. Ngày 19/09/1981, theo quyết định số 121/VH-QĐ của Bộ trưởng Bộ Văn hoá Trường được đổi tên thành Trường Văn hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/07/1998 theo Quyết định số 124/QĐ-TTg Chính phủ quyết định nâng cấp thành Trường Cao đẳng Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2005, trường Cao đẳng Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh được nâng cấp thành trường Đại học với tên gọi hiện nay. [ 3 ] Các vị hiệu trưởng của Nhà trường Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất của Trường Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh được đánh giá là khang trang, hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu học tập và sinh hoạt của sinh viên. Trường hiện tại có hai cơ sở đào tạo gồm: Thành tích Với những thành quả đóng góp quan trọng của trường, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh các phần thưởng cao quý: Các Khoa, Bộ môn Các ngành đào tạo Các trung tâm Các Phòng, Ban Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 03dbee68e4d5 TITLE: Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%E1%BB%83_d%E1%BB%A5c_Th%E1%BB%83_thao_B%E1%BA%AFc_Ninh [CONTENT] Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh (tiền thân là Trường Trung cấp TDTT Trung ương) được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 1959 , trụ sở của Trường được đặt tại phường Trang Hạ, thành phố Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh . Trường là cơ sở đào tạo các loại hình cán bộ Thể dục, Thể thao có trình độ Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ, đào tạo vận động viên các môn thể thao; là cơ sở nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế hàng đầu về Thể dục thể thao. [ 1 ] Lịch sử [ 2 ] Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh tiền thân là Trường Trung cấp TDTT Trung ương được thành lập ngày 25/9/1959. Đến ngày 31/1/1964, Trường được đổi tên là Trường cán bộ TDTT Trung ương . Ngày 25/10/1977, Tổng cục Thể dục Thể thao đã ra Quyết định số 446/QĐ-ĐT, nâng cấp Trường cán bộ TDTT Trung ương thành Trường Đại học Thể dục Thể thao Từ Sơn . Sau đó, lần lượt từ năm 1981 đến năm 1992, để phù hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ đào tạo mới, Trường tiếp tục được đổi tên thành Trường Đại học TDTT và sau đó là Trường Đại học TDTT I . Ngày 4 tháng 2 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 149/QĐ-TTg, đổi tên Trường thành Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh . [ 3 ] Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh được vinh dự đăng cai môn Bóng ném ở kì SEA Games 31 năm 2022 Các khoa và bộ môn đào tạo Khoa, trung tâm Bộ môn Thành tích [ 4 ] [ 5 ] Với 60 năm hình thành và phát triển, trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh đã đào tạo ra hàng chục ngàn cán bộ và vận động viên thể dục thể thao, nhiều người trong số họ đã nắm giữ các cương vị quan trọng trong ngành thể dục thể thao của địa phương cũng như cả nước, giành được nhiều thành tích cao trong các giải thi đấu quốc gia và quốc tế. Ngoài ra, Trường cũng được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Đội bóng đá trường Đại học TDTT Bắc Ninh Năm 2018, trường đại học TDTT Bắc Ninh thành lập đội bóng đá và đăng ký thi đấu tại giải bóng đá hạng ba quốc gia 2018 nhằm mục đích tạo sân chơi cho các cầu thủ trẻ có cơ hội cọ xát và học hỏi tại môi trường quốc gia. Tuy nhiên đội bóng thi đấu không thành công. Năm 2019, đội bóng tiếp tục đăng ký thi đấu tại giải bóng đá hạng ba quốc gia 2019 nhưng sau đó thông báo bỏ giải [ 6 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 463e84c78f8e TITLE: Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%E1%BB%83_d%E1%BB%A5c_Th%E1%BB%83_thao_%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng [CONTENT] Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng có trụ sở tại thành phố Đà Nẵng , được thành lập ngày 25 tháng 4 năm 2007 trên cơ sở trường Cao đẳng Thể dục Thể thao Đà Nẵng . Đây là một trong ba trường đại học chuyên ngành thể dục thể thao của Việt Nam và là trường đại học thể dục thể thao duy nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên . Trường đào tạo cán bộ thể dục thể thao có trình độ cao đẳng, đại học và tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thể dục thể thao. Lịch sử Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng tiền thân là trường Trung học Thể dục Thể thao Trung ương III, được thành lập ngày 13 tháng 12 năm 1977. Năm 1997, Trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Thể dục Thể thao Đà Nẵng, và được Thủ tướng chính phủ quyết định thành trường Đại học Thể dục Thể thao III Đà Nẵng ngày 25 tháng 4 năm 2007. Đến ngày 21 tháng 2 năm 2008, theo Quyết định số 720/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, trường được đổi tên thành trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng. [ 1 ] Cơ cấu tổ chức Hiện tại trường có 7 phòng chức năng, 6 khoa, 12 bộ môn, 1 viện và 3 trung tâm. Các phòng chức năng Các khoa đào tạo Bộ môn Các viện, trung tâm Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết thành phố Đà Nẵng , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7948a07e7099 TITLE: Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t-Hung [CONTENT] Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung ( tiếng Anh : Vietnam–Hungary Industrial University – VIU ) [ 1 ] là trường đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương , chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Lịch sử hình thành Năm 1977: trường Công nhân kỹ thuật Hữu nghị Việt Nam-Hungary được thành lập nhờ sự giúp đỡ to lớn và quý báu của Hungary. Trường có sứ mệnh đào tạo những lớp thanh niên mới trở thành những người lao động có kỹ thuật cao, có kỷ luật và tác phong công nghiệp để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Quy mô thiết kế ban đầu của trường là 1.000 học sinh, đào tạo các nhóm ngành Cơ khí và Điện. Năm 1988: Trường được nâng cấp và đổi tên thành trường Trung học Công nghiệp Việt-Hung, với nhiệm vụ đào tạo các kỹ thuật viên trung cấp tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Quy mô của trường được nâng lên 2.500 học sinh. Các ngành đào tạo được mở rộng đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhà trường đào tạo thêm các ngành Kế toán và Công nghệ thông tin. Năm 2005: Trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng với tên gọi mới Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt-Hung, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về chất của nhà trường. Trình độ đội ngũ giáo viên được nâng lên rõ rệt. Cơ sở vật chất được bổ sung đáp ứng quy mô đào tạo 4.500 học sinh, sinh viên. Nhà trường tiếp tục hoạch định chiến lược chuẩn bị các điều kiện để trở thành trường Đại học. Năm 2010: Trường được Nhà nước nâng cấp thành trường Đại học Công nghiệp Việt-Hung. Qua 3 lần nâng cấp từ công nhân lên trung cấp, từ trung cấp lên cao đẳng và từ cao đẳng lên Đại học nhà trường vẫn giữ tên gọi trường Việt-Hung. Cơ sở vật chất Cơ cấu tổ chức Ngành đào tạo Ngành đào tạo Chuyên ngành đào tạo Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử 2. Tự động hóa 3. Công nghệ kỹ thuật điện tử Công nghệ thông tin 5. Tin học – kế toán 6. Thương mại điện tử Công nghệ kỹ thuật cơ khí Công nghệ kỹ thuật Ô tô Công nghệ kỹ thuật Xây dựng 11. Tài chính kế toán 12. Kế toán doanh nghiệp 13. Kế toán ngân hàng Quản trị kinh doanh 15. Quản trị nhân sự 16. Quản trị Maketing 17. Quản trị du lịch và khách sạn 18. Quản trị kinh doanh thương mại Kinh tế 20. Kinh tế quản lý 21. Kinh tế tài nguyên môi trường 22. Kinh tế kế toán Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 81d9bc689c35 TITLE: Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_%E2%80%93_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p [CONTENT] Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công Nghiệp (tên tiếng Anh : University of Economics - Technology for Industries, tên viết tắt: UNETI), là trường đại học công lập định hướng nghề nghiệp ứng dụng, đào tạo cử nhân và kỹ sư hệ chính quy 4 năm, trực thuộc Bộ Công Thương Việt Nam , được thành lập năm 2007, [ 1 ] trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I , thành lập từ năm 1956, đào tạo đa cấp, đa ngành. Giới thiệu chung Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công Nghiệp được thành lập theo Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 11 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ , trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, tiền thân là Trường Trung cấp Kỹ thuật III, được thành lập năm 1956. Mục tiêu của Trường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sát với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu phát triển chung của vùng đồng bằng sông Hồng và đất nước thời kỳ hội nhập. [ 2 ] Ban Giám hiệu Hiệu trưởng Phó Hiệu trưởng Cơ cấu tổ chức Phòng, ban chức năng (09) Khoa đào tạo trực thuộc (14) Các tổ chức chính trị - xã hội (04) Khối trung tâm (04) Sứ mạng Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp là cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng hoạt động theo cơ chế tự chủ; thực hiện các chức năng giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng đáp ứng mục tiêu xã hội và yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Tầm nhìn Đến năm 2030 trở thành trường đại học định hướng ứng dụng uy tín, nằm trong nhóm các trường đại học ứng dụng hàng đầu của cả nước. Giá trị cốt lõi – Phát triển bền vững, coi trọng chất lượng, hiệu quả, luôn tự đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội. – Lấy mục tiêu phát triển bền vững là nền tảng; – Chất lượng, hiệu quả là mục tiêu hướng tới; – Đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội là phương châm hành động. Cơ sở vật chất Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công Nghiệp có 3 cơ sở, một cơ sở ở Nam Định , hai cơ sở tại Hà Nội . Tổng diện tích mặt bằng tại cả hai cơ sở Minh Khai và Nam Định là 30 ha, khu nhà làm việc 9 tầng và khu 15 tầng ở cơ sở Lĩnh Nam, Hoàng Mai tại Hà Nội , giảng đường 15 tầng tại Nam Định, khu thực hành và ký túc xá tại phường Mỹ Xá - Nam Định . Nhân lực Hiện nay, Trường có 550 giảng viên cơ hữu, trong đó có 45% giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Tính đến nay, Trường có 01 Nhà giáo Nhân dân, 09 Nhà giáo Ưu tú, 125 thầy cô giáo được tặng Huy chương " Vì sự nghiệp Giáo dục" và 172 cán bộ giáo viên được tặng Huy chương " Vì sự nghiệp phát triển Công nghiệp Việt Nam". với 2 PGS, 72 tiến sĩ và nghiên cứu sinh, 360 thạc sĩ và cao học, chiếm tỷ lệ gần 80% giáo viên cơ hữu. Ngoài ra, cũng có gần 300 PGS, TS, ThS và kỹ sư có kinh nghiệm của các trường đại học, các viện và doanh nghiệp tham gia thỉnh giảng.Tuy nhiên, song song với đó còn tồn tại một số giảng viên với năng lực nghiệp vụ còn yếu kém khiến cho công tác giảng dạy không đạt được yêu cầu chất lượng đề ra ban đầu .Cá biệt còn ghi nhận trường hợp một số lớp còn gom tiền ,mua quà biếu cho giảng viên để được qua môn.Làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của nhà trường .Thiết nghĩ các thầy cô cần phải nghiêm túc xem xét lại cách thức dạy học của mình. Vì mục tiêu đào tạo ra những lứa sinh viên chất lượng góp nhân lực chất lượng trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành Công Thương và của cả nước [ 2 ] Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công Nghiệp ngày càng đổi mới đi lên với cơ sở vật chất hiện đại, mục tiêu sánh ngang cùng các trường Đại học top đầu trên cả nước về chất lượng giảng dạy lẫn cơ sở học tập cho sinh viên của trường. [ 2 ] Thành tích Tham khảo Liên kết ngoài Xem thêm ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: dde1868d9953 TITLE: Trường Đại học Điện lực SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90i%E1%BB%87n_l%E1%BB%B1c [CONTENT] Trường Đại học Điện lực ( tiếng Anh : Electric Power University) trực thuộc Bộ Công thương Việt Nam , là trường đại học định hướng ứng dụng-thực hành, chuyên đào tạo cử nhân và kỹ sư hệ 4.5 năm, được thành lập ngày 19 tháng 5 năm 2006, trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Điện lực. Lịch sử Tiền thân của Trường Đại Học Điện Lực là Trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội do người Pháp thành lập năm 1898. Sau năm 1954 , Nhà nước Việt Nam đã tách Trường Kỹ nghệ thực hành thành trường Kỹ thuật I và trường Kỹ thuật II. Tháng 8/1962 Trường Kỹ thuật I được đổi tên thành Trường Trung cao Cơ Điện , ngày 8/2/1966 Trường Trung cao Cơ điện được tách ra thành Trường Trung hoc Điện (sau đó đổi tên là Trung học Điện I) và Trường Trung học Cơ khí (nay là trường Đại học Công nghiệp Hà Nội ).l Tháng 4 năm 2000, thực hiện chủ trương sắp xếp lại mạng lưới các trường thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ( EVN ), Bộ Công nghiệp quyết định hợp nhất Trường Bồi dưỡng tại chức với Trường Trung học Điện I và lấy tên là Trường Trung học Điện I trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ngày 26/10/2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định nâng cấp Trường Trung học Điện I thành Trường Cao đẳng Điện lực . Ngày 19/5/2006 với quyết định số 111/2006/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành lập Trường Đại học Điện lực trên cơ sở trường Cao đẳng Điện lực. Trường Đại học Điện lực là cơ sở đào tạo đại học, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Bộ Công nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng; trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội. [ 1 ] Thành tích Ngoài ra còn có 5 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. [ 3 ] Bê bối liên quan Nghi vấn đường dây nâng điểm Sai phạm đầu tư, thu chi tài chính Thu phí trái luật Kê khống thành tích giảng dạy Sinh viên không đủ tiêu chuẩn vẫn được cấp bằng tốt nghiệp Các Khoa chuyên ngành Các Trung tâm và Viện Các phòng chức năng Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a1070f1fa4d6 TITLE: Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM ( tiếng Anh : Industrial University of Ho Chi Minh City , thường được gọi tắt là IUH ) có tiền thân là Trường Huấn nghiệp Gò Vấp, được các tu sĩ dòng Don Bosco thành lập vào ngày 11/11/1956. Trải qua gần 70 năm xây dựng và phát triển, IUH đã khẳng định vị thế là một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu Việt Nam. Hiện tại, trường có hơn 60 ngành nghề đào tạo, trong đó hầu hết các chương trình đã được kiểm định theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế như ABET, AUN-QA, góp phần cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng hội nhập toàn cầu. IUH không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Lịch sử hình thành và phát triển Tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là Trường Huấn nghiệp Gò Vấp, [ 1 ] một trường dạy nghề tư thục do các tu sĩ Dòng Salêdiêng Don Bosco (Việt Nam) thành lập ngày 11 tháng 11 năm 1956 ở xã Hạnh Thông , quận Gò Vấp , tỉnh Gia Định , Việt Nam Cộng hòa . Đến năm 1968 , trường đổi tên thành Trường tư thục Trung học Kỹ thuật Đệ nhất cấp Don Bosco . [ 2 ] Điều hành cơ sở do Linh mục Phêrô Cuisset Quý giám đốc Dòng Salêdiêng Don Bosco - Gò Vấp và Linh mục Isiđôrô Lê Hướng hiệu trưởng Trường Huấn nghiệp Gò Vấp (1956 - 1973). Đầu năm 1970, nhà trường được nâng cấp từ bậc đệ nhất cấp thành bậc đệ nhị cấp, được gọi tắt là Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco. [ 3 ] Vào năm 1973 do cơ cấu tổ chức nhà dòng Salêdiêng Don Bosco, linh mục Gioan Nguyễn Văn Ty được tín nhiệm làm Giám đốc dòng Salêdiêng Don Bosco và kiêm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (1973 - 1975). Cuối 1975, chính quyền Việt Nam trưng dụng trường sở và ngày 19 tháng 12 năm 1975, bàn giao cho Tổng cục Cơ khí Luyện kim và Điện tử. Ngày 1 tháng 1 năm 1976, trường hoạt động trở lại với tên Trường kỹ thuật Don Bosco. [ 4 ] Năm 1978 , trường được đổi tên thành Trường Công nhân Kỹ thuật IV, thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim. Năm 1994 , trường hợp nhất với Trường Trung học Hóa chất 2 trú đóng tại Biên Hòa , tỉnh Đồng Nai thành Trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp IV, thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 3 năm 1999 , trường được nâng cấp lên thành Trường Cao đẳng Công nghiệp IV, vẫn trực thuộc Bộ Công nghiệp. Ngày 24 tháng 12 năm 2004, trường được nâng cấp thành Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Bộ Công Thương theo quyết định 214/2004/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ. [ 5 ] Các thế hệ Hiệu trưởng Thành tích Trường Cơ cấu tổ chức Trường Phòng chức năng Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Đào tạo; Phòng Tài chính - Kế toán; Phòng Công tác chính trị và hỗ trợ sinh viên; Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế; Viện Đào tạo Quốc tế và Sau Đại học; Phòng khảo thí và đảm bảo chất lượng; Phòng Quản trị; Phòng Dịch vụ, Phòng Kế hoạch - Vật tư; Phòng Quản lý Ký túc xá, Trung tâm Quản trị Hệ thống, Trung tâm Thông tin Truyền thông, Trung tâm Thông tin thư viện. [ 5 ] Các đơn vị đào tạo Các đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đào tạo bao gồm các khoa (viện) và bộ môn trực thuộc: Các trụ sở đào tạo hiện nay Triết lý giáo dục Nhà trường hướng đến đào tạo người học trở thành những người có đầy đủ phẩm chất CARE, phù hợp với tầm nhìn, sứ mạng và giá trị cốt lõi của Trường. Những phẩm chất của người học mà Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn người học đạt được trong quá trình tham gia học tập tại Trường. C ompassionate Leader - một nhà lãnh đạo nhạy bén A vid Lifelong Learner - một người không ngừng học tập tích cực R ational Thinker - một người có suy nghĩ thấu đáo, hợp lý E nterprising Innovator - một nhà cải cách trong hoạt động kinh doanh Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1237273dcc5c TITLE: Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_Th%C6%B0%C6%A1ng_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Industry and Trade ; HUIT ) là một là một cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Công Thương , đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, có thế mạnh trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, được thành lập ngày 9 tháng 9 năm 1982. Lịch sử phát triển Năm 1982: Trường được thành lập theo quyết định số 986/CNTP, ngày 9/9/1982 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Thực phẩm với tên gọi: Trường Cán bộ Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh; Năm 1987: Trường được đổi tên thành Trường Trung học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 25 CNTP/TCCB ngày 3/5/1987 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Thực phẩm; Năm 2001: Trường được nâng cấp lên Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 18/QĐ-BGD&ĐT -TCCB ngày 2/1/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo; Năm 2010: Trường chính thức trở thành Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 284/QĐ-TTg, thành lập Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 01 tháng 7 năm 2023, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký quyết định số 789/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. [ 1 ] Các Đơn vị trong Trường Các Khoa (16) Các Phòng ban, Viện (11) Các Trung tâm (10) Các Công ty (03) Đào tạo Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh là một cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo đa ngành. Trường có quy mô đào tạo trên 30.000 học sinh – sinh viên – học viên. Trường có 34 ngành đào tạo trình độ đại học, bao gồm Trường đào tạo 12 ngành trình độ thạc sĩ, bao gồm Trường đào tạo 7 ngành trình độ tiến sĩ, bao gồm Cơ sở vật chất Hiện tại ở Thành phố Hồ Chí Minh, trường có 7 cơ sở giáo dục, đào tạo và dịch vụ với tổng diện tích đất hơn 23 Ha, các cơ sở được đầu tư khang trang, hiện đại, đáp ứng điều kiện của một cơ sở giáo dục đại học. Trụ sở chính Trung tâm Thí nghiệm Thực hành (Cơ sở 2) Khoa Giáo dục thể chất và Quốc phòng an ninh (Cơ sở 3) Trung tâm Giáo dục phổ thông (Cơ sở 4) Cơ sở thực hành cơ khí, điện - điện tử, công nghệ dệt may, dinh dưỡng và ẩm thực (Cơ sở 5) Cơ sở đào tạo lý thuyết 263 Lê Trọng Tấn (Cơ sở 6) Trung tâm ký túc xá Cơ sở tại tỉnh Trà Vinh Thành tích Trường Liên kết ngoài Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7a2f1a9168ed TITLE: Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Qu%E1%BA%A3ng_Ninh [CONTENT] Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh (tên tiếng Anh : Quang Ninh University of Industry ) là trường Đại học công lập trực thuộc Bộ Công thương , trụ sở của Trường được đặt tại phường Yên Thọ, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh . Nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo nguồn nhân lực Đại học và sau đại học, cao đẳng... với các chuyên ngành như: Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện - điện tử, Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hoá, Cơ khí ôtô, Kế toán, Tài chính ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Du lịch - Lữ hành, Công nghệ khai thác khoáng sản rắn, Kỹ thuật môi trường, Điện tử , Trắc địa mỏ và công trình, Cơ khí... phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh và cả nước. [ 1 ] Cơ sở đào tạo thi cấp chứng chỉ HSK, HSKK duy nhất ở Quảng Ninh Thi chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản tại Quảng Ninh. Lịch sử Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh (tên tiếng Anh Quang Ninh University of Industry), tiền thân của trường là trường Kỹ thuật Trung cấp Mỏ, được thành lập ngày 25/11/1958 theo Quyết định số 1630 / BCN của Bộ Công nghiệp, địa điểm tại thị xã Hồng Gai (nay là thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Năm học 1990 – 1991, Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho nhiệm vụ đào tạo thí điểm Kỹ thuật viên cấp cao, tiếp sau Bộ Năng lượng (khi đó) giao nhiệm vụ đào tạo kỹ sư ngắn hạn hai chuyên ngành Khai thác mỏ và Cơ điện mỏ. Nhiều sinh viên tốt nghiệp các lớp Đại học này đang là những cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của các doanh nghiệp của Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam. Sau chặng đường dài kiên trì phấn đấu, ngày 24/7/1996, tại Quyết định số 479/ TTg, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định nâng cấp Trường thành Trường Cao đẳng Kỹ thuật Mỏ, đào tạo các ngành kỹ thuật- công nghệ từ bậc Cao đẳng trở xuống, và đặc biệt vinh dự cho CB, GV, NV của Nhà trường ngày 25/12/2007 được Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số: 1730/Qđ-TTg nâng cấp trường Cao đẳng Kỹ thuật Mỏ thành trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh. Các khoa, bộ môn Hiện Trường có 7 khoa đào tạo: Ngành nghề đào tạo + Mạng máy tính + Công nghệ phần mềm + Quản trị dịch vụ Du lịch - Khách sạn - Lữ hành + Công nghệ đo lường và điều khiển + Công nghệ kỹ thuật điện; + Công nghệ cơ điện; + Công nghệ điện lạnh; + Công nghệ cơ điện mỏ; + Công nghệ cơ điện tuyển khoáng; + Công nghệ thiết bị điện - điện tử; + Công nghệ kỹ thuạt điện tử - Tin học công nghiệp + Tự động hoá thiết kế Công nghệ cơ khí + Công nghệ Kỹ thuật cơ khí mỏ + Kỹ thuật mỏ lộ thiên + Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng hầm và cầu + Trắc địa mỏ + Địa chất mỏ Cơ sở vật chất Cơ sở 1 : Cơ sở 1 đặt tại Yên Thọ, Đông Triều, Quảng Ninh có diện tích đất sử dụng 10,27 ha, với hệ thống giao thông trong khu vực Trường thuận lợi và đã được đầu tư nâng cấp. Cơ sở 2: : Thành tích Với hơn 50 năm hoạt động đào tạo và kết hợp cả công tác thăm dò và sản xuất, Trường đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7cd4e85cfce2 TITLE: Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Tr%C3%AC [CONTENT] Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì (Tên tiếng anh: Viet Tri University Of Industry, VUI) là một trong những trường đại học có thương hiệu lâu đời về đào tạo và nghiên cứu nhóm ngành kinh tế công nghiệp và kỹ thuật công nghiệp tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc . Trường trực thuộc Bộ Công Thương và được giám sát về đào tạo bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 1 ] Lịch sử hình thành Năm 1954 , miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, chấm dứt sự đô hộ gần một thế kỷ của Chủ nghĩa thực dân, bắt đầu vào thời kỳ khôi phục lại nền kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nửa phần đất nước. Trước đòi hỏi cấp bách về đội ngũ cán bộ kỹ thuật phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày 25 tháng 6 năm 1956 , Bộ trưởng Lê Thanh Nghị đã ký Quyết định số 184/BCN thành lập trường Kỹ thuật trung cấp II và đặt địa điểm của Trường tại khu Thượng Đình , Hà Nội. Ngay từ những năm đầu thành lập, được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô , Trung Quốc , nhà trường đã biên dịch, soạn thảo được nhiều tài liệu và xây dựng được đội ngũ giáo viên cho các ngành học: Hoá Vô cơ , công nghiệp Thực phẩm , Hoá nhuộm, Khai khoáng , Địa chất , Giấy và đồ hộp. Ngày 29 tháng 01 năm 1962 , nhà trường đã được đổi tên thành trường Trung cấp Hoá chất. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, thì ngành Công nghiệp Hoá chất đã phát triển mạnh mẽ và đòi hỏi đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong ngành phải có trình độ chuyên môn cao hơn. Tổng cục Hoá chất đã giao cho trường đào tạo thí điểm đội ngũ kỹ thuật viên cấp cao. Với sự giúp đỡ tận tình của trường Đại học Bách khoa Hà Nội trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và xây dựng chương trình đào tạo, năm 1980 nhà trường đã đào tạo thí điểm khoá kỹ thuật viên cấp cao đầu tiên cho ngành Hoá Vô cơ và Cơ khí Hoá chất và sau đó là ngành Hoá Phân tích và Hoá Hữu cơ. Qua hơn 10 năm đào tạo, đội ngũ kỹ thuật viên cấp cao, những sinh viên tốt nghiệp ra trường đã được các doanh nghiệp trong và ngoài ngành đánh giá cao về năng lực chuyên môn đặc biệt là kỹ năng thực hành. Cũng từ thực tế đó, tháng 9 năm 1995 , Bộ Giáo dục- Đào tạo đã Quyết định cho trường được đào tạo trình độ Cao đẳng với 4 ngành đó là Kỹ thuật Hoá Vô cơ; Kỹ thuật Hoá Hữu cơ; Hoá Phân tích và Cơ khí Hoá chất. Xuất phát từ thực tế sản xuất và trình độ người lao động trong các nhà máy phải được nâng cao, thì nhà trường đã sớm xây dựng chiến lược phát triển ở giai đoạn mới. Được sự giúp đỡ của khoa Hoá của trường Đại học Tổng hợp (nay là khoa Hoá thuộc trường Đại học Khoa học tự nhiên của Đại học Quốc gia Hà Nội ) đã mở 2 lớp cao học cho cán bộ và giáo viên của trường cùng với sự đầu tư về cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu đào tạo ở trình độ cao hơn. Ngày 24 tháng 1 năm 1997 , Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 47/QĐ-TTg thành lập trường Cao đẳng Hoá chất trên cơ sở nâng cấp trường Trung học Hoá chất. [ 2 ] Tháng 2 năm 2006 , trường Cao đẳng Hoá chất được Bộ Công Thương và Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng để đưa vào quy hoạch xây dựng trở thành trường đại học và đáp ứng được tiêu chuẩn của một cơ sở đào tạo ở trình độ đại học, thì nhà trường đã xây dựng mục tiêu, chiến lược phát triển và kế hoạch với biện pháp thực hiện chiến lược đó mà tập trung vào 2 nhiệm vụ quan trọng mang tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển nhà trường đó là: Tập trung công tác đào tạo đội ngũ cán bộ và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo của nhà trường. Đến ngày 20 tháng 01 năm 2011 , Nhà trường chính thức được nâng cấp thành trường Đại học Công nghiệp Việt Trì theo quyết định số 126/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . [ 3 ] Các khoa 1. Khoa Công nghệ Hóa học và Môi trường (Trưởng khoa TS. Nguyễn Mạnh Tiến) - Ngành Công nghệ kỹ thuật hóa học + Chuyên ngành công nghệ vật liệu silicat + Chuyên ngành công nghệ vô cơ-điện hóa + Chuyên ngành công nghệ hữu cơ hóa dầu + Chuyên ngành công nghệ hóa dược. + Chuyên ngành máy thiết bị hóa chất - Ngành Công nghệ kỹ thuật môi trường + Chuyên ngành Công nghệ môi trường + Chuyên ngành Quản lý tài nguyên môi trường - Ngành Công nghệ sinh học + Chuyên ngành Công nghệ sinh học - Ngành Công nghệ thực phẩm + Chuyên ngành Công nghệ thực phẩm + Chuyên ngành Đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm 2. Khoa Kỹ thuật Phân tích (Trưởng khoa TS. Quản Cẩm Thúy) - Ngành Hóa học + Chuyên ngành Hóa phân tích 3. Khoa Cơ khí - Ô tô(Trưởng khoa TS. Vũ Quốc Hiến) - Ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí + Chuyên ngành Công nghệ chế tạo máy + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử + Chuyên ngành Cơ khí động lực - Ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật ôtô 4. Khoa Công nghệ Thông tin (Trưởng khoa TS. Nguyễn Quốc Khánh) - Ngành Công nghệ thông tin + Chuyên ngành Công nghệ thông tin + Chuyên ngành Mạng máy tính và truyền thông + Chuyên ngành An ninh mạng + Chuyên ngành Công nghệ phần mềm 5. Khoa Điện (Trưởng khoa TS. Nguyễn Đắc Nam) - Ngành Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử + Chuyên ngành Hệ thống điện + Chuyên ngành Điện tử công nghiệp + Chuyên ngành Điện công nghiệp + Chuyên ngành Điện tử viễn thông - Ngành Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa + Chuyên ngành Điều khiển tự động + Chuyên ngành Tự động hóa 6. Khoa Kinh tế (Trưởng khoa TS. Vũ Thị Phương Lan) - Ngành Kế toán + Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp + Chuyên ngành Kế toán kiểm toán - Ngành Quản trị kinh doanh + Chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp + Chuyên ngành Quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn 7. Khoa Ngoại ngữ (ThS. Nguyễn Xuân Long) - Ngành Ngôn ngữ Anh + Chuyên ngành Ngôn ngữ Anh 8. Khoa Khoa học Cơ bản (Trưởng khoa ThS. Hoàng Minh Văn) 9. Bộ môn Lý luận chính trị (TS. Bùi Ngọc Hà) Cơ sở Việt Trì: Số 9 Phường Tiên Cát - Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ Cơ sở Lâm Thao: Khu 10 - Xã Tiên Kiên - Huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 12 năm 2016, trường có 282 giảng viên. Trong đó có 32 tiến sĩ , 220 thạc sĩ và 30 giảng viên có trình độ đại học . [ 4 ] Chất lượng đầu ra thực tế % * Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp. [ 5 ] * Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này. Huân chương Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 6c79eb2f1f49 TITLE: Trường Đại học Sao Đỏ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Sao_%C4%90%E1%BB%8F [CONTENT] Trường Đại học Sao Đỏ (tên tiếng Anh: Red Star University) là trường Đại học công lập được thành lập năm 2010 trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ , có trụ sở chính tại thành phố Chí Linh , tỉnh Hải Dương . Trường trực thuộc Bộ Công thương , Trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học và các trình độ thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời là trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến trong hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Hiện nay, trường đào tạo các hệ Đại học, Đại học liên thông, Cao đẳng, Cao đẳng liên thông, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề,... trong nhiều lĩnh vực, chủ yếu là kinh tế, kỹ thuật công nghiệp. Thông tin chung Trường Đại học Sao Đỏ chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công thương; sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo, về dạy nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; chịu sự chỉ đạo về các lĩnh vực nghiệp vụ của các Bộ, ngành liên quan; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của UBND tỉnh Hải Dương - nơi trường đặt trụ sở chính. Trường Đại học Sao Đỏ hoạt động theo Điều lệ Trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 58/2000/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ. Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 2 năm 2017, trường có 284 giảng viên. Trong đó có 20 tiến sĩ , 248 thạc sĩ và 16 giảng viên có trình độ đại học . [ 1 ] Chất lượng đầu ra thực tế * Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp. [ 2 ] * Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này. Quá trình hình thành và phát triển Tiền thân của Trường là Trường Công nhân Cơ điện Mỏ , thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1969 , và Trường Công nhân Cơ khí Chí Linh thành lập ngày 8 tháng 4 năm 1975 thuộc Cục Đào tạo – Bộ Điện than. Năm 1979 chuyển về trực thuộc Công ty Than Uông Bí. Năm 1991, Bộ Năng lượng (nay là Bộ Công thương) quyết định sáp nhập 2 trường thành Trường Công nhân Cơ điện Chí Linh trực thuộc Công ty Cơ khí Mỏ. Năm 1995, Trường chuyển về trực thuộc Công ty Than Cẩm Phả . Năm 1997 trực thuộc Tổng Công ty Than Việt Nam. Từ năm 1999, Trường chuyển về trực thuộc Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) Ngày 13 tháng 3 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyết định số 13/2001/QĐ-BCN về việc thành lập Trường Trung học Công nghiệp Cơ điện trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo nghề Cơ điện. Ngày 4 tháng 10 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 5738/QĐ-BGD&ĐT-TCCB về việc thành lập Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Công nghiệp Cơ điện. Đến ngày 24 tháng 3 năm 2010 , Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 376/2010/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Sao Đỏ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ. Những thành tích đạt được Qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển Trường đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng: Lãnh đạo Nhà trường qua các thời kỳ Các ngành, nghề đào tạo đào tạo Trường Đại học Sao Đỏ đào tạo các hệ Đại học, Đại học liên thông, Cao đẳng, Cao đẳng liên thông, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề,...cụ thể như sau: Đại học & Đại học liên thông Cao đẳng & Cao đẳng liên thông Trung cấp chuyên nghiệp Cao đẳng nghề Trung cấp nghề Thông tin tuyển sinh Chỉ tiêu tuyển sinh Năm 2011 Năm 2012 Hệ chính quy Hệ liên thông Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Thông tin tuyển sinh năm 2015 Xét tuyển theo 2 phương thức Phương thức 1: Tổ chức xét tuyển đại học, cao đẳng hệ chính quy theo khối dựa trên kết quả của kỳ thi THPT quốc gia do các trường Đại học chủ trì. - Thí sinh đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương - Thí sinh phải đạt ngưỡng điểm xét tuyển tối thiểu do Bộ GD&ĐT quy định. Căn cứ vào kết quả của kỳ thi trung học phổ thông quốc gia nhà trường sử dụng các tổ hợp của 3 môn thi tương ứng với từng khối để xét tuyển cho tất cả các ngành đào tạo cụ thể xem tại đây: http://saodo.edu.vn/uploads/news/2015_04/noidung.jpg [ liên kết hỏng ] Khi thỏa mãn tất cả các điều kiện trên thí sinh sẽ được xét tuyển theo nguyên tắc tính điểm từ cao xuống thấp (đã cộng điểm ưu tiên) đến khi đủ chỉ tiêu. - Đối với Đại học hệ chính quy 50% tổng chỉ tiêu tương ứng 1900 SV. - Đối với Cao đẳng hệ chính quy 35% tổng chỉ tiêu tương ứng 350 SV. Phương thức 2: Tổ chức xét tuyển Đại học, Cao đẳng hệ chính quy dựa trên kết quả học tập tại THPT của thí sinh. - Thí sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương - Điểm trung bình các môn lớp 10,11,12: Đại học ≥ 6.0 điểm; Cao đẳng ≥ 5.5 điểm - Hạnh kiểm đạt loại khá trở lên Dựa trên kết quả học tập tại THPT của thí sinh để xét tuyển cho tất cả các ngành đào tạo đại học và cao đẳng theo công thức: Điểm xét tuyển = (M1+M2+M3) + Điểm ƯT. (M1, M2, M3: là điểm trung bình các môn lớp 10,11,12) Khi thỏa mãn tất cả các điều kiện trên, thí sinh sẽ được xét tuyển theo nguyên tắc tính điểm từ cao xuống thấp (đã cộng điểm ưu tiên) đến khi đủ chỉ tiêu. - Đối với Đại học hệ chính quy 50% tổng chỉ tiêu tương ứng 1900 SV. - Đối với Cao đẳng hệ chính quy 65% tổng chỉ tiêu tương ứng 650 SV. Thí sinh nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển trực tiếp tại trường, qua đường bưu điện, chuyển phát nhanh, chuyển phát ưu tiên hoặc đăng ký online tại địa chỉ website: www.saodo.edu.vn * Phương thức 1: Phiếu đăng ký xét tuyển (theo mẫu của Bộ Giáo dục và đào tạo); Giấy chứng nhận kết quả thi có dấu đỏ của trường chủ trì cụm thi và một phong bì ghi rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên lạc của thí sinh. * Phương thức 2: Phiếu đăng ký xét tuyển theo mẫu của trường (lấy trên website của trường); Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời hoặc bằng tốt nghiệp THPT; Học bạ THPT bản sao; Giấy chứng nhận ưu tiên (nếu có); 02 ảnh 3x4. * Phương thức 1: Xét tuyển nguyện vọng I: Từ ngày 01/8 đến 20/8/2015; Xét tuyển nguyện vọng bổ sung (NVBS): Đợt I từ 25/8 đến 15/9/2015; Đợt II từ 20/9 đến 05/10/2015; Đợt III từ 10/10 đến 25/10/2015; Đợt IV đối với cao đẳng: Từ ngày 31/10 đến 15/11/2015. * Phương thức 2: Đợt I: Từ 02/7 đến 30/8/2015; Đợt II: Từ 01/9 đến 31/10/2015 30.000 đồng/hồ sơ. Thông tin tuyển sinh từ 2011 - 2014 - Đại học: Thí sinh đã tham dự kỳ thi tuyển sinh Đại học, theo đề thi chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hồ sơ và thời gian dự thi theo quy định của Bộ GD&ĐT. - Cao đẳng: Thí sinh đã tham dự kỳ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng theo đề thi chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hồ sơ và thời gian dự thi theo quy định của Bộ GD&ĐT. - Trung cấp chuyên nghiệp: Thí sinh đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương. Hồ sơ xét tuyển bao gồm: Phiếu đăng ký tuyển sinh TCCN và bản sao hợp lệ học bạ THPT hoặc tương đương. - Cao đẳng nghề: Thí sinh đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương. Hồ sơ xét tuyển bao gồm: Phiếu đăng ký tuyển sinh; sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương, bản sao hợp lệ giấy khai sinh, học bạ, bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương, 02 ảnh 4x6. - Trung cấp nghề: Thí sinh đã tốt nghiệp THPT, THCS hoặc tương đương. Hồ sơ xét tuyển bao gồm: Sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương, bản sao hợp lệ giấy khai sinh, học bạ, bằng tốt nghiệp THCS, THPT hoặc tương đương, 02 ảnh 4x6. Điểm trúng tuyển hệ Đại học, Cao đẳng trường Đại học Sao Đỏ từ năm 2010 đến nay, cụ thể như sau: Hệ thống đào tạo Đội ngũ cán bộ Nhà trường có 472 giảng viên, giáo viên trên tổng số 588 cán bộ, công nhân viên. Trong đó có: 60% có trình độ trên Đại học; 45 người có trình độ Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nghiên cứu sinh (kể cả Giáo sư, Phó giáo sư thỉnh giảng); 14 thầy cô được Nhà nước phong tặng Danh hiệu Nhà giáo ưu tú ; 20 thầy cô giáo đạt Danh hiệu Giáo viên dạy giỏi toàn quốc,... Cơ sở vật chất Trường có 2 cơ sở đào tạo: Các Phòng chức năng Các Khoa đào tạo Hiện nay Trường có 10 khoa: Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể Các Đơn vị trực thuộc Các Câu lạc bộ, hội, nhóm Sinh viên Hợp tác Quốc tế Trường có quan hệ hợp tác, đào tạo, trao đổi với nhiều Trường Đại học, tổ chức, hiệp hội trên thế giới như: ... Liên kết ngoài Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7bb27f5f1b3d TITLE: Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_Giao_th%C3%B4ng_V%E1%BA%ADn_t%E1%BA%A3i [CONTENT] Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải ( tên tiếng Anh : University Of Transport Technology, tên viết tắt: UTT) là trường Đại học công lập được nâng cấp năm 2011 từ Trường Cao đẳng giao thông vận tải - trực thuộc Bộ Xây Dựng . [ 1 ] Trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực về công nghệ kỹ thuật giao thông , công nghệ kỹ thuật cơ khí , ô tô , kinh tế , vận tải , logistics , công nghệ thông tin , điện tử viễn thông , môi trường ... theo định hướng ứng dụng phục vụ ngành GTVT và các ngành kinh tế quốc dân. Năm 2016, Trường được Thủ tướng Chính phủ quy hoạch phát triển thành trường đại học trọng điểm Quốc gia; năm 2017 trường là 1 trong 15 trường đại học đầu tiên của Việt Nam được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học. Đội ngũ cán bộ giảng viên Cơ sở vật chất Các hệ đào tạo Các ngành đào tạo Thạc sĩ – Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông: + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật xây dựng đường ô tô. + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật xây dựng cầu – hầm. – Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp; + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật xây công trình dân dụng và công nghiệp. – Ngành Kỹ thuật cơ khí động lực: + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô. – Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy; + Chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật xây công trình thủy. – Ngành Quản trị kinh doanh; + Chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp. – Ngành Kế toán; + Chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp. – Ngành Tổ chức và quản lý vận tải; + Chuyên ngành Tổ chức và quản lý vận tải. – Ngành Quản lý xây dựng; + Chuyên ngành Quản lý xây dựng. – Ngành Quản lý kinh tế. + Chuyên ngành Quản lý kinh tế. Đại học Các khoa - bộ môn Lịch sử Trường Cao đẳng Công chính thành lập từ ngày 06 tháng 6 năm 1902 - tiền thân của Trường Cao đẳng Giao thông vận tải. Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải ngày nay có tiền thân là trường Cao đẳng Công chính trước khi đất nước giành được độc lập 2 tháng 9 năm 1945 và được khai giảng lại dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 15 tháng 11 năm 1945 theo Nghị định của Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè và Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Đào Trọng Kim [ 2 ] . Ngày thành lập trường là 15 tháng 11 . Ngày truyền thống của trường là 29 tháng 11 . Thành tích & Phần thưởng cao quý Chú thích Xem thêm Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 98446453fe7c TITLE: Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Giao_th%C3%B4ng_v%E1%BA%ADn_t%E1%BA%A3i_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : University of Transport Ho Chi Minh City – UTH ) là một đơn vị giáo dục công lập trực thuộc Bộ Xây Dựng . Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học đa ngành thuộc lĩnh vực giao thông vận tải lớn nhất phía Nam Việt Nam. Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực giao thông vận tải như hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sông, đường sắt. Năm 2023, Trường là một trong số các trường đứng đầu khu vực phía Nam và Việt Nam về đào tạo các ngành kỹ thuật ô tô, cơ khí, xây dựng, CNTT và logistics. [ 2 ] Trường đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và chứng nhận về chất lượng đào tạo của mình. [ 3 ] Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng đào tạo Trường đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và cấp chứng nhận kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục chu kỳ 2 năm 2022. [ 3 ] Bảng xếp hạng Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam, khối ngành Kỹ thuật - Công nghệ: Theo bảng xếp hạng Vietnam's University Rankings (VNUR) năm 2023, Đại học Giao thông Vận tải TP. HCM đứng thứ 30 trong số 191 trường được đánh giá xếp hạng tại Việt Nam. [ 4 ] Bảng xếp hạng tổng quát, không liệt kê theo nhóm ngành: Theo bảng xếp hạng Webometrics năm 2023, Đại học Giao thông Vận tải TP. HCM đứng thứ 30 trong bảng xếp hạng top 100 trường đại học tại Việt Nam. [ 5 ] Lịch sử hình thành Thành tích tiêu biểu [ 6 ] Hợp tác quốc tế Ngoài những dự án đã và đang được triển khai thành công trên, Trường đã có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với doanh nghiệp, nhiều trường và viện quốc tế: THACO , [ 7 ] VM Motor, Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga , Đại học Hàng hải Hà Lan , Úc ; Đại học cầu đường Đài Loan , Nhật Bản , Trung Quốc ... [ 8 ] Trường Đại học Giao thông Vận tải Tp. HCM là thành viên của các tổ chức sau: [ 8 ] Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9e07b2e382e5 TITLE: Trường Đại học Hàng hải Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%A0ng_h%E1%BA%A3i_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Trường Đại học Hàng hải Việt Nam ( tiếng Anh : Vietnam Maritime University – VMU ) hay còn được gọi bằng cái tên "Mái trường đại dương" là một đơn vị giáo dục trực thuộc Bộ Xây Dựng , chuyên đào tạo về kỹ thuật, với thế mạnh về đào tạo nhóm ngành hàng hải và logistics được xếp vào nhóm trường đại học trọng điểm quốc gia , có vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện đang là thành viên của Hiệp hội các trường Đại học Hàng hải châu Á - Thái Bình Dương (AMETIAP) và Hiệp hội các trường Đại học Hàng hải Quốc tế (AMU). Lịch sử hình thành Bộ máy tổ chức Ban Giám hiệu Hiệu trưởng: PGS . TS. Phạm Xuân Dương Phó Hiệu trưởng Đội ngũ cán bộ , giảng viên và công nhân viên Trường hiện có 683 giảng viên và 281 cán bộ quản lý. Trong đó: Các đơn vị và phòng ban trực thuộc Thành tích Chú thích Xem thêm Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e6ed4aa9a9f7 TITLE: Trường Đại học Xây dựng Miền Trung SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_X%C3%A2y_d%E1%BB%B1ng_Mi%E1%BB%81n_Trung [CONTENT] Trường Đại học Xây dựng Miền Trung ( tiếng Anh : Mien Trung University of Civil Engineering , tên viết tắt: MUCE ) là một trường đại học chuyên ngành về nhóm ngành xây dựng và thiết kế tại Việt Nam , được đánh giá là một trong những trường đại học đứng đầu về đạo tạo nhóm ngành xây dựng và kiến trúc tại miền Trung Việt Nam, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Trung, cũng như cả nước. Trường thuộc nhóm ba trường đại học chuyên ngành xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng cùng với Trường Đại học Xây dựng Miền Tây (riêng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ). Trường được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 có trụ sở tại thành phố Tuy Hòa , tỉnh Phú Yên . Lịch sử hình thành Ngày 14 tháng 2 năm 1976, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã Quyết định số 76/QĐ-BXD-TCCB thành lập Trường Trung học Xây dựng số 6 với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ bậc trung học kỹ thuật xây dựng và nghiệp vụ cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên . Lúc này trường chỉ là vài căn nhà tôn cấp bốn, với 27 cán bộ, giáo viên, công nhân viên. [ cần dẫn nguồn ] Ngày 23 tháng 5 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 3069/QĐ-BGD&ĐT-TCCB về việc thành lập Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Xây dựng số 6. [ cần dẫn nguồn ] [ 1 ] Ngày 24 tháng 7 năm 2009, Ban soạn thảo bắt đầu viết Đề án thành lập Trường Đại học Xây dựng MIền Trung trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3. Đề án được viết theo 02 giai đoạn: tiền khả thi và khả thi. [ cần dẫn nguồn ] Đến ngày 28 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ký thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung theo Quyết định số 1279/QĐ-TTg. Trang thiết bị gồm hệ thống nhà làm việc, nhà lớp học, phòng thí nghiệm, ký túc xá và hệ thống các xưởng với thiết bị máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy. [ cần dẫn nguồn ] Đào tạo Các ngành nhà trường đào tạo: Đào tạo đại học Gồm các hệ đào tạo gồm: chính quy, văn bằng hai và liên thông. Thời gian đào tạo của trường trung bình là 5 năm. Đào tạo thạc sĩ Danh hiệu Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 08cf0b1a80d2 TITLE: Trường Đại học Xây dựng Miền Tây SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_X%C3%A2y_d%E1%BB%B1ng_Mi%E1%BB%81n_T%C3%A2y [CONTENT] Trường Đại học Xây dựng Miền Tây ( tiếng Anh : MienTay Construction University ) là một trường đại học chuyên về nhóm ngành kiến trúc, xây dựng và quy hoạch tại Việt Nam. [ 1 ] Trường trực thuộc Bộ Xây dựng . [ 2 ] Tuyển sinh đại học Nhóm ngành Kiến trúc Đây là một trong hai nhóm ngành trọng điểm của trường. Nhóm ngành Xây dựng Đây là một trong hai nhóm ngành trọng điểm của trường. Nhóm ngành Môi trường Ngành Kế toán Sinh viên ra trường có khả năng thực hiện các nghiệp vụ về kế toán, phân tích dự báo tài chính trong các doanh nghiệp và tổ chức khác; nghiên cứu, giảng dạy về kế toán trong các cơ sở giáo dục đại học và các cơ sở nghiên cứu; có thể tiếp tục tự học, tham gia học tập ở bậc học cao hơn để trở thành các nhà lãnh đạo, các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán. Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng đào tạo Tháng 3 năm 2017 trường đã được kiểm định và chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục bởi trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trực thuộc hệ thống đại học Đại học Đà Nẵng . [ 3 ] Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 1 năm 2018, trường có 170 giảng viên. Trong đó có 2 phó giáo sư , 15 tiến sĩ , 146 thạc sĩ và 12 giảng viên có trình độ đại học . Giáo án giảng dạy Giáo án giảng dạy của trường được xây dựng từ nền giáo án của trường Đại học Kiến trúc , cũng thuộc Bộ Xây dựng . [ 4 ] Các khoa và phòng ban Các phòng chức năng: Các khoa, bộ môn trực thuộc trường: Các trung tâm nghiên cứu khoa học, dịch vụ Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 40cdf3c2ee13 TITLE: Học viện Tài chính (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_T%C3%A0i_ch%C3%ADnh_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Tài chính ( tiếng Anh : Academy of Finance , viết tắt AOF ) được thành lập ngày 17 tháng 8 năm 2001 theo Quyết định số 120/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Học viện trực thuộc Bộ Tài chính và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo , là một trong những trường đại học công lập thuộc khối kinh tế tại Việt Nam . Quá trình hình thành Tiền thân của trường là Trường cán bộ Tài chính - Kế toán Trung ương được thành lập Ngày 31 tháng 07 năm 1963 theo Quyết định 117/CP của Hội đồng Chính phủ. Địa điểm chính của trường đặt tại số 58 phố Lê Văn Hiến, phường Đức Thắng , quận Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội . Ngoài ra, trường còn cơ sở mới tại 69 Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội và tại 19C ngõ Hàng Cháo, phường Cát Linh , quận Đống Đa , Hà Nội. Sau khi thành lập, do yêu cầu của nền kinh tế cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh tiền tệ có trình độ đại học thuộc hệ thống ngân hàng, nên đến năm 1964 trường đã đổi tên thành trường Cán bộ Tài chính kế toán Ngân hàng Trung ương. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ngày càng được mở rộng trên phạm vi cả nước đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, ngày 27 tháng 10 năm 1976 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 226/CP đổi tên trường từ trường Cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng Trung ương, thành trường Đại học Tài chính - Kế toán trực thuộc Bộ Tài chính. Qua quá trình hoàn thiện và phát triển trường, đến năm 2001, để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đề ra, sau khi kết thúc năm học 2000-2002, ngày 17/8/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 120/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Tài chính trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị là Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội , Viện nghiên cứu Tài chính và Trung tâm Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính. Và Học viện Tài chính đã trở thành tên của trường từ đó đến nay. Hiện tại, Học viện hiện có 750 cán bộ, viên chức trong đó có 453 giảng viên, 54 nghiên cứu viên, 56 giáo sư và phó giáo sư , hơn 170 tiến sĩ , 221 thạc sĩ , 28 nhà giáo nhân dân và nhà giáo ưu tú , từng đào tạo hơn 20.000 sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Lãnh đạo Học viện NGƯT.PGS.TS. Nguyễn Đào Tùng, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện TS. Nguyễn Văn Bình, Chủ tịch Hội đồng trường. NGƯT.PGS.TS. Trương Thị Thủy, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện PGS.TS. Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Hiệu trưởng, Giám đốc Học viện qua các thời kỳ 1. Nhà Giáo Đỗ Trọng Kim, Hiệu trưởng trường giai đoạn 1963 - 1972 2. Nhà Giáo Nguyễn Quang Long, Hiệu trưởng trường giai đoạn 1973 - 1980 3. GS.TS. Võ Đình Hảo, Quyền Hiệu trưởng trường giai đoạn 1981 - 1982 4. GS.TSKH. Trương Mộc Lâm, Hiệu trưởng trường giai đoạn 1983 - 1986 và 1989 - 1990 5. TS. Mai Thiệu, Quyền Hiệu trưởng trường giai đoạn 1987 - 1988 6. GS.TS. Hồ Xuân Phương, Hiệu trưởng trường giai đoạn 1991 - 1998 7. NGND.GS.TS. Vũ Văn Hóa, Hiệu trưởng trường giai đoạn 1999 - 2001, Giám đốc Học viện giai đoạn 2002 - 2005 8. NGND.GS.TS. Ngô Thế Chi, Giám đốc Học viện giai đoạn 2005 - 2014 9. NGND.GS.TS. Nguyễn Trọng Cơ, Giám đốc Học viện giai đoạn 2014 - 2024 10. NGƯT.PGS.TS Nguyễn Đào Tùng, Giám đốc Học viện giai đoạn 2024 - nay Khối các Khoa Thành tích Cựu sinh viên ưu tú Danh sách một số cựu sinh viên nổi bật: [ 1 ] Các tạp chí, tập san và ấn phẩm do Học viện Tài chính xuất bản Các hoạt động Sinh viên tiêu biểu Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 414bcf1046f7 TITLE: Học viện Chính sách và Phát triển SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ch%C3%ADnh_s%C3%A1ch_v%C3%A0_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n [CONTENT] Học viện Chính sách và Phát triển ( tiếng Anh : Academy of Policy and Development - APD ) là trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Bộ Tài chính Học viện có trụ sở tại xã An Khánh , Thành phố Hà Nội và phân viện tại tỉnh Bắc Ninh . Lịch sử Học viện Chính sách và Phát triển được thành lập theo Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 4 tháng 1 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ , là học viện công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Về tổ chức, Học viện trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư - cơ quan của Chính phủ Việt Nam , thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế (bao gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình khu kinh tế khác); quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và viện trợ chi phí chính phủ nước ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp và khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã; thống kê; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật. Là cơ sở đào tạo trong lĩnh vực chính sách phát triển, kinh tế và quản lý, Học viện Chính sách và Phát triển định hướng trở thành trường đại học có uy tín trong hệ thống giáo dục quốc dân về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn và phản biện chính sách vĩ mô. Học viện đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo với 03 ngành đào tạo đại học đạt chuẩn kiểm định chất lượng. Đội ngũ cán bộ, giảng viên cơ hữu của Học viện bao gồm Nhà giáo ưu tú, các Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Thạc sỹ được đào tạo tại các trường Đại học uy tín ở Việt Nam và nước ngoài. Để nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo, Học viện đã mời các chuyên gia từ các Cơ quan quản lý Nhà nước, Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, giảng viên từ các Trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước tham gia giảng dạy. Bên cạnh đó, cơ sơ vật chất phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu được trang bị đầy đủ và hiện đại. Học viện bắt đầu đào tạo khóa I từ tháng 9 năm 2010. [ 1 ] Ban Giám đốc Giám đốc Phó Giám đốc Cơ cấu tổ chức Đơn vị đào tạo trực thuộc (11) Khối văn phòng (06) Khối trung tâm (03) Sứ mệnh - Tầm nhìn - Giá trị cốt lõi Sứ mệnh Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bậc đại học, thạc sỹ, tiến sỹ về chính sách công kinh tế và quản lý, có tư duy năng động sáng tạo, đủ năng lực làm việc trong nước và quốc tế, nghiên cứu bồi dưỡng tư vấn và phản biện chính sách. [ 2 ] Tầm nhìn Đến năm 2020, Học viện trở thành trường đại học theo định hướng nghiên cứu, đạt các chuẩn quốc gia về chất lượng, nằm trong nhóm các trường đại học có uy tín thuộc khối ngành kinh tế và quản lý ở Việt Nam. [ 2 ] Đến năm 2030, Học viện trở thành trường đại học theo định hướng nghiên cứu nằm trong nhóm các trường đại học hàng đầu về kinh tế và quản lý ở Việt Nam, có uy tín trong khu vực Đông Nam Á; trở thành trung tâm nghiên cứu có uy tín trong nước và trong khu vực. [ 2 ] Giá trị cốt lõi "Chất lượng, Phát triển bền vững và Hội nhập quốc tế" . [ 2 ] Kiểm định Học viện đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo và 03 ngành đào tạo đại học đạt chuẩn kiểm định chất lượng. Đào tạo Hệ đại trà Hiện tại, Học viện có 10 ngành và 19 chuyên ngành đào tạo hệ đại trà: Chương trình chuẩn quốc tế Có 2 ngành và 3 chuyên ngành đào tạo chuẩn quốc tế: Sau đại học Cơ sở vật chất Với cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại, hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông, học liệu và những điều kiện vật chất, thiết bị khác đảm bảo chất lượng sẽ thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về môi trường học tập, nghiên cứu, sinh hoạt của giảng viên và sinh viên. Hợp tác đào tạo Trong xu thế hội nhập quốc tế, Học viện đang triển khai nhiều chương trình hợp tác với các tổ chức quốc tế như: Đại học Indiana , Đại học Purdure , Đại học Portland, Đại học tổng hợp bang California (Hoa Kỳ), Đại học Middlesex, Đại học Loughborough, Học viện Ngoại giao London (Vương quốc Anh); Đại học Quốc tế Nhật Bản - IUJ , Viện Nghiên cứu chính sách công GRIPS (Nhật Bản); Đại học Nantes, Đại học Rennes 1 ; Đại học Rouen, Đại học Pantheon – Sorbonne , Trường ENA (Pháp); Đại học Southern Cross (Úc); Đại học tổng hợp Rome 2 (Ý), Học viện Anh ngữ EV (Philippines); Đại học Lausanse (Thụy Sỹ); Đại học Messi (Nga), Đại học UTA (Phần Lan); Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc); Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore)... các tổ chức quốc tế như: KOICA, USAID, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam , Ngân hàng Thế giới ,... Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: bbb17abdcfad TITLE: Trường Đại học Tài chính – Kế toán SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A0i_ch%C3%ADnh_-_K%E1%BA%BF_to%C3%A1n_(Qu%E1%BA%A3ng_Ng%C3%A3i) [CONTENT] Trường Đại học Tài chính – Kế toán (tiếng Anh: University of Finance and Accountancy ) là một trường đại học chuyên ngành về kinh tế với hai ngành trọng điểm là Tài chính - Ngân hàng và Kế toán. Trường trực thuộc Bộ Tài chính đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đã đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Tài chính cho hệ thống Ngành Tài chính và các Ngành kinh tế quốc dân, của các thành phần kinh tế của khu vực Miền Trung Trung bộ và Tây Nguyên. Tiền thân là Trường Trung học Tài chính Kế toán III (KT3 - năm 1976), Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi (1997), Trường Đại học Tài chính – Kế toán (2011). [ 1 ] Được thành lập từ 1976, sau quá trình hình thành và phát triển, đến năm 2012 trường chính thức bắt đầu đào tạo bậc Đại học và đến năm 2017 trường chính thức đào tạo Thạc sĩ. Chi nhánh Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 98be7d326bab TITLE: Trường Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A0i_ch%C3%ADnh_-_Qu%E1%BA%A3n_tr%E1%BB%8B_kinh_doanh [CONTENT] Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh là một trường đại học chuyên ngành kinh tế lâu đời có tiền thân là trường Trung học Tài chính Kế toán I được thành lập từ năm 1965. Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính . Lịch sử Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh được thành lập dựa trên cơ sở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh cũng trực thuộc Bộ Tài chính , được thành lập ngày 21 tháng 11 năm 2012 trên cơ sở tổ chức lại hai trường: Cao đẳng Tài chính Kế toán I và Cao đẳng Bán công Quản trị Kinh doanh thuộc Bộ Tài chính. [ 1 ] Trường Trung học Tài chính Kế toán I Năm 1965: Thành lập trường Trung học Tài chính Kế toán I. Ngày 03/07/2003: trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Tài chính Kế toán theo quyết định số 3539/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường Cao đẳng bán công Quản trị Kinh doanh Năm 1967: Thành lập Trường Vật giá Trung ương. Năm 1994: Đổi tên thành trường Trung học Quản trị Kinh doanh. Năm 1996: Trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng bán công Quản trị Kinh doanh. [ 2 ] Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4e221678fb18 TITLE: Học viện Nông nghiệp Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Học viện Nông nghiệp Việt Nam ( tiếng Anh : Vietnam National University of Agriculture , viết tắt là VNUA ), tiền thân là Trường Đại học Nông nghiệp 1 - Hà Nội, là học viện chuyên ngành đứng đầu về đào tạo nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp tại miền Bắc Việt Nam , thuộc nhóm ba mươi trường đại học đứng đầu Đông Nam Á , thuộc nhóm các trường đại học, học viện trọng điểm quốc gia Việt Nam . Trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường . [ 2 ] Lịch sử Tặng thưởng Hiệu trưởng qua các thời kỳ Hình ảnh Học viên, sinh viên ưu tú Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: aba23e71edff TITLE: Trường Đại học Lâm nghiệp SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_L%C3%A2m_nghi%E1%BB%87p [CONTENT] Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: Vietnam National University of Forestry, [ 1 ] viết tắt VNUF ) là một trường đào tạo đa ngành bậc đại học và sau đại học ở Việt Nam. [ 2 ] Trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường Vị trí địa lý Từ năm 1964 - 1984, Trường đặt tại khu sơ tán Đông Triều thuộc xã An Sinh, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh . Năm 1985, Trường chuyển về đặt tại Xuân Mai, Chương Mỹ , Hà Nội . Trường nằm gần ngã ba giao nhau của quốc lộ 6A và 21A, trên một vùng bán sơn địa. Tọa độ địa lý của trường là: 20°50′ Bắc và 105°30′ Đông. Trường gồm ba cơ sở: Lịch sử Cơ sở vật chất Cơ sở chính Trường quản lý khu vực diện tích hơn 500ha, bao gồm: Phân hiệu tại Đồng Nai Phân hiệu tại Gia Lai Logo của Nhà trường Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 5202534240e4 TITLE: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_v%C3%A0_M%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (Hanoi University of Natural Resources and Environment; viết tắt : HUNRE) , là một trường Đại học công lập tại Hà Nội , trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 1 ] Trường đạt chuẩn 4 sao theo định hướng ứng dụng trên hệ thống xếp hạng đối sánh chất lượng đại học UPM (University Performance Metrics) . Đây là trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao với trình độ đại học và sau đại học cho các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật, môi trường, khí hậu , biển - hải đảo, trắc địa - bản đồ, đất đai , địa chất, khí tượng , thủy văn ,... phục vụ cho lĩnh vực tài nguyên môi trường của đất nước. Trường đang tích cực xây dựng đề án phát triển trở thành trường đại học trọng điểm quốc gia . Lịch sử hình thành & phát triển Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 1583/QĐ-TTg ngày 23 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. [ 2 ] [ 3 ] Nhà trường có truyền thống đào tạo hơn 60 năm, tiền thân là Trường Sơ cấp Khí tượng. Đến nay, Trường là cơ sở đào tạo đa ngành với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quản lý Nhà nước về lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường ở trình độ đại học, sau đại học từ cấp Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp đến cộng đồng. Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, chịu sự quản lý quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Từ năm 1955 đến năm 2020, Nhà trường đã đào tạo trên 23.000 Kỹ sư, Cử nhân, Trung cấp chuyên nghiệp, Sơ cấp và Công nhân kỹ thuật các ngành: Khí tượng, Thủy văn, Đo đạc bản đồ, Quản lý đất đai, Kỹ thuật môi trường, Quản lý môi trường, Trắc địa – Bản đồ, Địa chính, Tin học...cho đất nước với: 14 khóa sơ cấp, 45 khóa trung cấp, 16 khóa cao đẳng, 27 khóa chuyên tu đại học, 8 khóa đại học liên thông, 9 khóa đại học chính quy, 4 khóa thạc sĩ sau đại học. Các mốc lịch sử quan trọng của quá trình hình thành và phát triển: Mục tiêu phát triển Cơ sở vật chất Tổng diện tích đất: 68.858 m² Trụ sở chính Số 41A, đường Phú Diễn, phường Phú Diễn , quận Bắc Từ Liêm , Thành phố Hà Nội . Cơ sở phụ : Số 38, đường 69, phường Đức Thắng , quận Bắc Từ Liêm , Thành phố Hà Nội . Phân hiệu Số 04, đường Trần Phú, phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn , tỉnh Thanh Hóa . Cơ sở II (Dự án) Khu đô thị dịch vụ Vĩnh Kiều, phường Đồng Nguyên , Thành phố Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh . [ 7 ] [ 8 ] Quy mô của trường rộng trên 13 ha, sẽ đào tạo hơn 15000 sinh viên và 600 cán bộ giảng viên. Tổng mức đầu tư của dự án là trên 800 tỷ đồng. Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường đã có chủ trương đầu tư được phê duyệt. [ 9 ] Thành tích Ngành đào tạo Đại học Liên thông Đại học Cao học - Thạc Sĩ Tiến sĩ Giải thưởng trong các kỳ thi Các Khoa, Bộ môn Các Trung tâm, Viện Lãnh đạo qua các thời kỳ Chủ tịch Hội đồng trường Hiệu trưởng Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a86490d9fd87 TITLE: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_v%C3%A0_M%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh University of Natural Resources and Environment ) là một trường đại học đa ngành tại Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường . Lịch sử Giai đoạn 1 Năm 1976, ngay sau khi giải phóng Miền Nam, trường Trung học Đo đạc Bản đồ 2 ra đời theo quyết định số 850/QĐ của Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước. [ 1 ] Lúc mới thành lập, trường đào tạo 2 chuyên ngành: Đo đạc Công trình và Biên vẽ Bản đồ. Khoảng những Năm 1976 trường Bồi dưỡng Cán bộ Khí tượng Thủy văn [ 2 ] được thành lập tại địa chỉ 236b Lê Văn Sỹ, P1 Q Tân Bình, Tp HCM- với nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng các cán bộ làm công tác khí tượng thủy văn khu vực miền Nam. Năm 1994, Tổng cục Địa chính được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Quản lý Ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước. Ngay sau đó, trường Trung học Đo đạc Bản đồ 2 được đổi tên thành trường Trung học Địa chính 3. Khi đó, bốn chuyên ngành đào tạo chủ yếu là Đo đạc địa hình, Đo đạc Địa chính, Đo đạc Công trình và Quản lý đất đai. Năm 2001, trường trung học Địa chính 3 được đổi tên thành trường Trung học Địa chính Trung ương 3. Lúc này trường có hai khoa chuyên ngành gồm Khoa Trắc địa bản đồ và Khoa Quản lý đất đai. Giai đoạn 2 Năm 2006, cùng với việc sáp nhập hai trường trung cấp là trung cấp bồi dưỡng cán bộ khí tượng thủy văn (địa chỉ tại 236b Lê Văn Sỹ, P1 ,Q Tân Bình TPHCM) và trung cấp địa chính trung ương 3 (địa chỉ Ấp Long Đức 3, Phùng Hưng, Tam Phước, Long Thành, Đồng Nai) thành trường Cao đẳng Tài Nguyên Và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này trường Cao đẳng Tài Nguyên Và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có 2 cơ sở - trụ sở trường là trường trung cấp bồi dưỡng cán bộ khí tượng thủy văn- cơ sở 2 là trường trung cấp địa chính trung ương 3. Giai đoạn 3 Ngày 19 tháng 8 năm 2011, Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh được nâng cấp thành trường đại học theo quyết định số 1430/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh. [ 3 ] Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh chính thức trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và được giám sát về chất lượng đào tạo bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ sở Trụ sở Trụ sở tại số 236B Lê Văn Sỹ, phường 1, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh. Cơ sở phụ Tại xã Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngành đào tạo Nghiên cứu khoa học Công tác nghiên cứu khoa học Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine là một nhiêm vụ quan trọng được nhà trường quan tâm bên cạnh nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Ngay từ khi mới thành lập, nhà trường đã áp dụng hàng loạt chế độ chính sách ưu đãi cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh viên như: khen thưởng hàng năm đối với những đề tài có chất lượng, ban hành các quy định nhằm tạo điều kiện tốt cho người tham gia nghiên cứu khoa học Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine . Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường tập trung đầu tư các trang thiết bị thực hành, thí nghiệm để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học trong tương lai. Các Phòng thí nghiệm hiện hữu hiện nay: Xem thêm Tham khảo Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1fa07af3efce TITLE: Học viện Ngân hàng (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Ngân hàng (tiếng Anh: Banking Academy of Vietnam – BAV , [ 4 ] được thành lập theo Quyết định số 30/1998/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ. Học viện Ngân hàng là trường đại học công lập đa ngành trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Giáo dục & Đào tạo , Học viện có trụ sở chính tại Hà Nội , phân viện Bắc Ninh , phân viện Phú Yên , phân viện Thành phố Hồ Chí Minh (tồn tại đến năm 2003) và cơ sở đào tạo Sơn Tây với hơn 16.000 sinh viên đang theo học. Trường được xếp top 1201-1300 tại châu Á theo QS Rankings [ 5 ] và top 14 tại Việt Nam theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam VNUR [ 6 ] Lịch sử hình thành và phát triển Giai đoạn 1961-1975 Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng được thành lập theo Quyết định số 3072-VG ngày 13/9/1961 của Thủ tướng Chính phủ với nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo học sinh phổ thông trở thành cán bộ trung cấp ngân hàng, bổ túc cán bộ sơ cấp, trung cấp nghiệp vụ thành cán bộ có trình độ Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng và trình độ đại học chuyên tu, tại chức cho đội ngũ cán bộ ngân hàng. Giai đoạn 1976-1992 Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký quyết định số 1229/NH-TCCB ngày 16/12/1976 về việc thành lập cơ sở II Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng mở cơ sở hai đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo hệ chuyên tu và tại chức cho cán bộ trong ngành ở các tỉnh phía Nam. Ngày 18/10/1978, Thủ tướng Chính phủ thay mặt Hội đồng Chính phủ ký Quyết định số 264/CP cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở hệ cao đẳng trong Trường chuyên tu cao cấp Ngân hàng, bắt đầu từ năm học 1978-1979, để đào tạo cán bộ đại học thực hành Ngân hàng phục vụ yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Ngày 03/5/1980, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 149/TTg cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mở một lớp Đại học nghiệp vụ Ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh, để đào tạo cán bộ nghiệp vụ Ngân hàng cho các tỉnh phía Nam. Giai đoạn 1993-1997 Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng được thành lập theo Quyết định số 112- TTg ngày 23/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Viện tiền tệ - Tín dụng, Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng Hà Nội, Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Trung học Ngân hàng I, Trường Trung học Ngân hàng II, Trường Trung học Ngân hàng III, Trường Trung học Ngân hàng IV. Ngày 8/3/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 143-TTg giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Khoa học Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước). Giai đoạn từ 1998 đến nay Học viện Ngân hàng (HVNH) được thành lập theo Quyết định số 30/1998/QĐ-TTg ngày 09/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học Ngân hàng. Theo đó, HVNH là tổ chức đào tạo và Nghiên cứu khoa học của Nhà nước về lĩnh vực ngân hàng. HVNH có nhiệm vụ: i) Đào tạo cán bộ ở bậc giáo dục chuyên nghiệp, bậc đại học và trên đại học về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và ngân hàng; ii) Bồi dưỡng nghiệp vụ và công nghệ ngân hàng; iii) Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ ngân hàng; iv) Thực hiện hợp tác về đào tạo và nghiên cứu khoa học ngân hàng với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định chung của Nhà nước ( Phân viện thành phố Hồ Chí Minh thuộc Học viện Ngân hàng được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 174/2003/QĐ-TTg ngày 20/8/2003 ). Tại Quyết định số 107/1998/QĐ-NHNN9 ngày 24/3/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của HVNH đã quy định HVNH là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội và các cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Phú yên, Bắc Ninh, Hà Tây. Học viện chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của NHNN theo chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành khác có liên quan; đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương nơi có cơ sở của Học viện. Ngày 12 /01/2004 Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 48/2004/QĐ-NHNN thay thế Quyết định số 107/1998/QĐ-NHNN9, HVNH là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và các Phân viện Bắc Ninh, Phú Yên (phân viện Thành phố Hồ Chí Minh chính thức tách khỏi và không còn liên quan gì, trở thành Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh ); HVNH chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của NHNN; chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của các Bộ, Ngành khác có liên quan; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của chính quyền địa phương nơi có cơ sở của Học viện theo các quy định của pháp luật. Ngày 29/4/2009, Thống đốc NHNH ban hành Quyết định số 1009/QĐ-NHNN quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HVNH thay thế Quyết định số 48/2004/QĐ-NHNN. Ngày 16/03/2012, Thống đốc NHNN ban hành quyết định số 433/QĐ-NHNN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức, cơ cấu của HVNH thay thế Quyết định số 1009/QĐ-NHNN ngày 29/4/2009. Ngày 26/02/2014, Thống đốc NHNN ban hành quyết định số 327/QĐ-NHNN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức, cơ cấu của HVNH thay thế Quyết định số 433/QĐ-NHNN nhằm kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của HVNH cho phù hợp điều kiện phát triển kinh tế trong ttình hình mới. Ngày 20/07/2017, Thống đốc NHNN ban hành quyết định số 1518/QĐ-NHNN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HVNH thay thế Quyết định số 327/QĐ-NHNN ngày 26/02/2014 nhằm kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của HVNH cho phù hợp điều kiện phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập. [ 7 ] Ngày 30/08/2018, Thống đốc NHNN ban hành quyết định số 1699/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung 1518/QĐ-NHNN ngày 20/07/2017 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HVNH. Ngày 20/12/2023, Thống đốc NHNN đã ký ban hành quyết định số 2394/QĐ-NHNN về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngân hàng thay thế Quyết định số 1518/QĐ-NHNN ngày 20/07/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngân hàng. Thành tích Nhà nước CHDCND Lào đã trao tặng: Huân chương Ixala (Huân chương Độc lập) Hạng Nhất cho Học viện Ngân hàng; Huân chương Ixala Hạng Nhất cho CSĐT Sơn Tây; Huân chương Ixala các hạng cho hơn 100 cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên của HVNH qua các thời kỳ công tác. Cựu sinh viên tiêu biểu Bà Nguyễn Thị Hồng - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ông Nguyễn Kim Anh - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ông Nguyễn Văn Thắng - Bộ trưởng - Bộ Tài chính Ông Lưu Trung Thái - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quân đội MBBank Ông Đào Quốc Tính - Tổng Giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Ông Dương Quyết Thắng - Tổng Giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Ông Đỗ Mạnh Hùng - Tổng Giám đốc Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam Ông Nguyễn Mạnh Tú - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV Bà Nguyễn Thị Phượng - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Agribank Ông Phạm Mạnh Thắng - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank Bà Phùng Nguyễn Hải Yến - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank Ông Quách Hùng Hiệp - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV Ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Tiên Phong TPBank Ông Đoàn Đức Minh - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đại chúng PVcombank Nguyễn Hoàng Bảo Châu - Top 10 Hoa hậu Việt Nam 2018 cùng giải phụ Người đẹp Biển , MC Ban Thể thao tại VTV Còn nhiều cựu sinh viên của Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng & Học viện Ngân hàng phân viện TP Hồ Chí Minh (tồn tại đến 2003) nắm những chức vụ quan trọng trong NHNN & các NHTM. Đào tạo Chính quy, tập trung Đào tạo Đại học chương trình Chất lượng cao: 8 ngành đào tạo Sau đại học Chương trình Thạc sỹ: Thời gian đào tạo 3 năm, 3 ngành đào tạo Chương trình Tiến sỹ: Chuyên ngành đào tạo Tài chính - Ngân hàng. Thời gian đào tạo 3 năm đối với học viên đã có học vị Thạc sỹ và 5 năm đối với học viên chưa qua đào tạo Thạc sỹ. Đào tạo liên thông Liên thông từ Cao đẳng lên Đại học Các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và cập nhật kiến thức Đối tượng là các cán bộ ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quan khác có nhu cầu nâng cao kỹ năng nghiệp vụ hoặc cập nhật kiến thức chuyên ngành (các chuyên đề về ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương, kế toán ngân hàng, kế toán doanh nghiệp, quản trị tài chính doanh nghiệp, thị trường chứng khoán..). Các khoá học này thường là ngắn hạn từ vài ngày đến vài tháng. Nội dung được thiết kế theo yêu cầu của người học. Các chương trình liên kết đào tạo Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 649721c175c4 TITLE: Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh ( Ho Chi Minh University of Banking ) là trường đại học công lập trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trường được thành lập năm 1957 trên cơ sở trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng cơ sở 2. Kể từ 2004, trường bắt đầu đào tạo sau đại học. Trường trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam . [ 1 ] Lịch sử Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh được nâng cấp từ Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng cơ sở II, thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở II của Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng, trong giai đoạn này, là địa chỉ đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính khác. [ 2 ] Ngày 16 tháng 12 năm 1976, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 1229/NH-TCCB về việc thành lập cơ sở II Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo hệ đại học chuyên tu và đại học tại chức. Ngày 03 tháng 05 năm 1980, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 149/TTg cho phép mở lớp đại học hệ chính quy tập trung về ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 29 tháng 11 năm 1986, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký quyết định 169/NH-QĐ quy định cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23 tháng 3 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 112/TTg thành lập Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , trong đó có Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở nhập hai trường: Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Trung học Ngân hàng III Trung ương (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 09 tháng 02 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 30/1998/QĐ-TTg thành lập Học viện Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng. Ngoài Học viện Ngân hàng tại Hà Nội còn có Học viện Ngân hàng Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20 tháng 08 năm 2003, một mốc lớn trong việc khai sinh trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 174/2003/QĐ-TTg về việc thành lập trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Học viện Ngân hàng. Từ đây, trường chính thức tách khỏi và không còn liên quan gì đến Học viện Ngân hàng . Ngày 19 tháng 01 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 12/2004/QĐ-TTg giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ cho trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. [ 2 ] Chất lượng đào tạo Đội ngũ nhân sự của HUB với gần 500 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó có 15 Phó Giáo sư, 93 Tiến sĩ và 250 Thạc sĩ, vừa là các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý giàu kinh nghiệm, vừa là những thầy cô tận tâm với sinh viên. Kiểm định chất lượng đào tạo Ngày 14 tháng 11 năm 2017 trường đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và chứng nhận về chất lượng đào tạo của trường. [ 3 ] Trường được tái kiểm định và nhận chứng nhận Đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo tháng 03/2023. Năm 2019 trường đã được kiểm định và đạt chứng nhận AUN-QA cho ngành Tài chính và ngành Ngân hàng của trường. Năm 2022 trường được kiểm định và đạt chứng nhận AUN-QA cho 4 ngành là chương trình Thạc s Tài chính Ngân hàng, Cử nhân Quản trị kinh doanh, Cử nhân Kế toán và Cử nhân Kinh tế Quốc tế Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu mối thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học của ngành ngân hàng ở các tỉnh phía Nam. Trong thời gian qua, cán bộ, giảng viên của trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia nhiều chương trình khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ, cấp thành phố, cấp trường. Hợp tác nghiên cứu khoa học với các viện nghiên cứu và các trường đại học khác. Trường còn là một đầu mối của các hội thảo, tọa đàm khoa học về tiền tệ - ngân hàng, đồng thời là nơi chuyển giao các công nghệ ngân hàng cho cán bộ, nhân viên các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Ban lãnh đạo Ban lãnh đạo trường bao gồm: Hội đồng trường Hội đồng trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2020 - 2025 (đã được Thống đốc NHNN ký quyết định công nhận), bao gồm 17 thành viên, gồm 3 thành viên đương nhiệm theo quy định, 2 thành viên do NHNN Việt Nam cử tham gia và 12 thành viên trong và ngoài trường được giới thiệu. Danh sách Hội đồng trường: - Ông Đoàn Thanh Hà – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường - Ông Nguyễn Đức Trung – Phó bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng - Bà Hạ Thị Thiều Dao – Phó Hiệu trưởng – Ủy viên Ban thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy - Ông Nguyễn Trần Phúc - Đảng ủy viên, Thành viên Hội đồng trường, Phó Hiệu trưởng - Ông Lê Ngọc Thắng - Đảng ủy viên, Ủy viên Ủy Ban Kiểm tra Đảng ủy, Thư ký Hội đồng trường, Chánh Văn phòng Hội đồng trường - Ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó Vụ trưởng – Vụ Tài chính Kế toán – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Ông Hồ Trần Hùng - Ủy viên Ban Thường vụ, Thành viên Hội đồng trường, Trưởng phòng - Bà Cung Thị Tuyết Mai - Đảng ủy viên, Thành viên Hội đồng trường, Trưởng khoa - Ông Nguyễn Thế Bính - Đảng ủy viên, Thành viên Hội đồng trường, Viện trưởng - Ông Đặng Đình Tân - Đảng ủy viên, Thành viên Hội đồng trường, Trưởng khoa - Ông Nguyễn Anh Vũ – Chi ủy Chi bộ Quản lý đào tạo, Ủy viên Hội đồng trường, Trưởng phòng Phòng Tư vấn tuyển sinh và Phát triển thương hiệu - Ông Trần Thiên Kỷ - Ủy viên Hội đồng trường, Ủy viên Ban Thường vụ Đoàn Trường, Giảng viên, Nghiên cứu sinh Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh - Ông Lê Anh Xuân, Ủy viên Hội đồng trường, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kế toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Ông Đặng Duy Cường – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Cơ quan Ngân hàng Trung ương, Ủy viên Hội đồng trường, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Ông Tiết Văn Thành, Ủy viên Hội đồng trường, Nguyên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Ông Trần Ngọc Tâm, Ủy viên Hội đồng trường, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Nam Á - Ông Trần Anh Tuấn, Ủy viên Hội đồng trường, Trưởng Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp TP.HCM - Ông Đỗ Thanh Sơn - Ủy viên Ban Chấp hàng Đảng bộ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ủy viên Hội đồng trường, Phó TGĐ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Cơ cấu tổ chức Các ngành đào tạo Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 11 khoa và bộ môn với 18 chuyên ngành đào tạo Các chuyên ngành đào tạo: Phòng [ 4 ] Trung tâm, tổ chức khác Bên cạnh các chuyên khoa đào tạo, trường có một Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á (trước đây là Tạp chí Công nghệ Ngân hàng) và một Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Ngân hàng. [ 5 ] Ngoài ra, trường có các trung tâm và các bộ phận phục vụ đào tạo, nghiên cứu như: Trung tâm Đào tạo Kinh tế Tài chính Ngân hàng, Trung tâm Ngoại ngữ Tin học, Viện Đào tạo quốc tế, Trung tâm Hỗ trợ sinh viên. Các chương trình liên kết đào tạo quốc tế Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã có 21 năm liên kết đào tạo với Đại học Bolton để đào tạo cử nhân Quản trị kinh doanh và thạc sĩ, tiến sĩ Quản trị kinh doanh. Bên cạnh đó Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh còn phối hợp với các Ngân hàng và tập đoàn Tài chính Quốc tế để đào chuyên sâu các kỹ năng quản trị Tài chính Ngân hàng. Thành tích trường Sinh viên & cựu sinh viên nổi tiếng Tham khảo Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f2e9e3729285 TITLE: Trường Đại học Công đoàn SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_%C4%91o%C3%A0n [CONTENT] Trường Đại học Công đoàn ( ĐHCĐ) - tên tiếng Anh : Trade Union University (TUU) là một Trường Đại học Công lập lâu đời, định hướng nghiên cứu, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và là Trường Đại học đầu ngành về Lao động - Xã hội, Kinh tế - Luật và Quản trị nhân lực của Việt Nam, trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam . Trường Đại học Công đoàn có sứ mệnh đào tạo đội ngũ Cán bộ cho tổ chức Công đoàn và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển Kinh tế - Xã hội; tham gia xây dựng các chính sách về người lao động. Đồng thời, Trường Đại học Công đoàn còn là Trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học có uy tín trong khu vực về Công đoàn; nghiên cứu, tư vấn, đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn và tham gia Hội đồng Tư vấn Giáo dục Đào tạo, Khoa học Công nghệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . Lịch sử Ngày 15 tháng 5 năm 1946, lớp đào tạo cán bộ công vận đầu tiên được khai giảng của Trường Công đoàn Việt Nam (tiền thân) tại đình Khuyến Lương, xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (nay là phường Trần Phú , quận Hoàng Mai , thành phố Hà Nội). Sự kiện này đã mở đầu cho lịch sử xây dựng và phát triển của Trường Đại học Công đoàn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 5 lần về thăm trường. Trường có ý nghĩa chính trị đặc biệt, khẳng định vị thế là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu lý luận của tổ chức Công đoàn Việt Nam và là thành viên của hệ thống giáo dục đào tạo quốc gia, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. [ 1 ] Ngày 19 tháng 5 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ban hành Quyết định số 174-CT, về việc đổi tên Trường Cao cấp Công đoàn thành Trường Đại học Công đoàn. Sứ mệnh Khẩu hiệu, mục tiêu và triết lý giáo dục Chức năng hoạt động Cơ cấu tổ chức Các đơn vị trực thuộc được chỉ đạo điều hành bởi Đảng uỷ, Hội đồng trường và Ban giám hiệu. Khoa Bao gồm 17 Khoa: Viện & Phòng ban Bao gồm 2 Viện và 9 Phòng ban: Trung tâm & Văn phòng Bao gồm 3 Trung tâm & 2 Văn phòng: Đoàn thể Bao gồm 4 Đoàn thể: Quy mô Cơ sở vật chất Trường sở hữu diện tích đất rộng 29,1 ha (291000 km²): Cơ sở 1 có diện tích 2,1 ha (21000 km²) tại Hà Nội , cơ sở 2 có diện tích 27 ha (270000 km²) tại Hưng Yên . [ 2 ] Trường có cơ sở chính ở vị trí đắc địa của Thủ đô Hà Nội, toạ lạc tại phố Tây Sơn , đối diện Gò Đống Đa . Cơ sở 2 ở tỉnh Hưng Yên không chỉ rộng rãi mà còn được Bộ Quốc phòng cấp phép xây dựng Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh dành cho sinh viên của trường và một số trường đại học khác đăng ký tham gia kỳ học Quân sự. [ 3 ] Nhà trường chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thêm các tòa giảng đường mới, các phòng học được trang bị thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu số lượng sinh viên, cao học viên và nghiên cứu sinh tăng lên qua từng giai đoạn. Nhân sự Trường Đại học Công đoàn có tổng số viên chức, người lao động là 430 người, trong đó có 337 giảng viên. Ngoài ra, nhà trường còn có sự tham gia giảng dạy của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng đến từ các Trường Đại học, Học viện trong và ngoài nước chuyên sâu về ngành, lĩnh vực mà nhà trường đang đào tạo. Người học Lưu lượng người học của trường là hơn 12.000 người, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [ 4 ] Chất lượng đào tạo Kiểm định chất lượng giáo dục Từ năm 2018, trường là một trong số ít các trường đã đi đầu, đăng ký tham gia kiểm định sớm nhất và đã hoàn thành việc kiểm định chất lượng tất cả các chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ bởi Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục của Đại học Quốc gia Hà Nội ; Đại học Vinh và Hiệp hội các Trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam . Năm 2021, Trường Đại học Công đoàn là cơ sở giáo dục đại học thứ hai toàn quốc hoàn thành kiểm định tất cả các chương trình giáo dục Đại học. [ 5 ] Năm 2022, nhà trường tiếp tục được nhận 9 giấy chứng nhận đạt kiểm định chất lượng 9 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành. Trường ĐH Công đoàn là một trong số ít các cơ sở giáo dục đạt giấy chứng nhận 100% các chương trình đào tạo hiện có. [ 6 ] Nghiên cứu khoa học Năm 2015, Trường Đại học Công đoàn được cấp phép xuất bản "Tạp chí Nghiên cứu khoa học Công đoàn" có chỉ số ISSN: 2354-1342. [ 7 ] Trường đã, đang tham gia, hoàn thành nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Tổng Liên đoàn, cấp Bộ, cấp tỉnh, thành phố và tương đương; hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và hàng ngàn đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên. Các đề tài khoa học do Trường tiến hành nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao. Trường còn tham gia nhiều dự án với các tổ chức quốc tế như Liên minh Châu Âu , kết quả nghiên cứu đã đóng góp rất lớn vào hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trường đã tham gia nghiên cứu đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng vào sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn; Tham gia hội đồng tư vấn giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngành/Lĩnh vực ưu thế Ngành Quản trị nhân lực là ngành đào tạo có ưu thế của Trường Đại học Công đoàn. Từ năm 1978, Trường đã thành lập Khoa Kinh tế lao động - tiền thân của Khoa Quản trị nhân lực sau này, ban đầu nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống tổ chức công đoàn và sau này là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. [ 8 ] Trường là cơ sở Đại học đầu tiên trên cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở ngành Bảo hộ lao động ; [ 9 ] là cơ sở Đại học đầu tiên ở miền Bắc đào tạo ngành Quan hệ lao động , [ 10 ] ngành Công tác xã hội ; [ 11 ] là cơ sở Đại học thứ 2 cả nước đào tạo ngành Truyền thông đại chúng (Ngoài Học viện Báo chí và Tuyên truyền ). [ 12 ] Chương trình đào tạo Trường Đại học Công đoàn là một Trường Đại học công lập lâu đời, có thế mạnh đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp (Cao đẳng, Đại học, Song bằng, Văn bằng 2, Liên thông, Vừa làm vừa học, Từ xa, Thạc sĩ, Tiến sĩ). (Chương trình đại trà; Chương trình Định hướng Chuyên sâu Nghề nghiệp Quốc tế - IPOP) Hợp tác quốc tế - 🇷🇺 Nga (Russia): Học viện Lao động và Quan hệ Xã hội Liên bang Nga. [ 13 ] - 🇨🇳 Trung Quốc (China): Học viện Quan hệ Lao động Trung Quốc; Đại học Sư phạm Bắc Kinh-Baptist Hồng Kông. [ 14 ] - 🇰🇷 Hàn Quốc (South Korea): Trường Đại học Gwangju; Trường Đại học Mokwon. [ 15 ] - 🇵🇭 Phi-líp-pin (Philippines): Trường Đại học Bách khoa Philippines; Đại học Batangas State; Trường Đại học Maniel S.Enverga. [ 16 ] - 🇱🇦 Lào (Laos): Đại sứ quán Lào tại Việt Nam; Trung ương Liên hiệp Công đoàn Lào. [ 17 ] - 🇮🇹 Ý (Italy): Trường Đại học Naples. - 🇦🇺 Úc (Australia): Đại sứ quán Úc tại Việt Nam, Học viện Công nghệ Melbourne; Đơn vị Tư vấn du học iae GLOBAL; Học viện Công nghệ và Thương mại Úc; Đại học Quốc gia Úc. [ 18 ] - 🇸🇬 Singapore: Trường Temasek Polytechnic; Trường Kinh doanh Châu Á Thái Bình Dương. [ 19 ] - 🇩🇪 Đức (Germany): Đại học Khoa học ứng dụng và Nghệ thuật Hannover; Trường Đại học Evangelische Hochschule Berlin; Viện Giáo dục Quốc tế DCG; Đại học Khoa học Ứng dụng Anhalt; Trường Đại học Evangelical Berlin. - 🇺🇸 Hoa Kỳ - Mỹ (USA): Nhà xuất bản National Geographic Learning. - 🇮🇩 In-đô-nê-xi-a (Indonexia): Tổ chức Tư vấn Giáo dục toàn cầu Noble Solutions. - 🇮🇳 Ấn Độ (India): Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội. - 🇯🇵 Nhật Bản (Japan): Trường Đại học Nagano; Trường Đại học Toyo. - 🇹🇭 Thái Lan (Thailand): Trường Đại học Phật giáo Mahachulalongkornrajavidyalaya. Khen thưởng Nhà trường được Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời quan tâm, đến thăm 5 lần (2 lần năm 1957, 1 lần năm 1958, 1 lần năm 1959 và 1 lần năm 1962), [ 20 ] được Đảng , Công đoàn , Nhà nước , Chính phủ và những tổ chức khác trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Ngoài ra, nhà trường còn nhận được nhiều danh hiệu và các giải thưởng có giá trị khác xuyên suốt lịch sử. Một số cựu sinh viên, học viên ưu tú Ngoài đào tạo ra đội ngũ Cán bộ làm việc trong Đảng , Công đoàn , Nhà nước , Chính phủ , với định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển Kinh tế - Xã hội, các cựu sinh viên, học viên của Trường có thể làm việc trong đa ngành, đa lĩnh vực. Thông tin khác Trường Đại học Công đoàn (Trade Union University - TUU) còn được gọi với biệt danh là "Oxford Tây Sơn" vì là trường lâu đời và có thế mạnh đào tạo về Lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn giống Đại học Oxford (University of Oxford) ở Vương Quốc Anh. Trường Đại học Công đoàn là "Trường hàng xóm" của Trường Đại học Thủy Lợi có biệt danh "Harvard Tây Sơn" và Học viện Ngân hàng có biệt danh "Cambridge Chùa Bộc", tạo nên bộ ba trường "Công - Thủy - Ngân". Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f19ac2484c73 TITLE: Trường Đại học Tôn Đức Thắng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%B4n_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%E1%BA%AFng [CONTENT] Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) là một trường đại học công lập của Việt Nam. Trường trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam . Trường hoạt động theo cơ chế tự chủ toàn diện. Trường hiện có các cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Lâm Đồng. Lịch sử Tiền thân của Trường Đại học Tôn Đức Thắng là Trường Đại học Công nghệ Dân lập Tôn Đức Thắng, được thành lập theo quyết định 787/TTg-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ . Trường do Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh sáng lập, đầu tư và lãnh đạo trực tiếp thông qua Hội đồng quản trị nhà trường do Chủ tịch Liên đoàn Lao động Thành phố đương nhiệm qua các thời kỳ là Chủ tịch. Với sự tăng trưởng ngày càng nhanh, để Trường có pháp nhân phù hợp bản chất thực của nó (là Trường của tổ chức công đoàn và hoàn toàn không có yếu tố tư nhân), ngày 28 tháng 1 năm 2003 , Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 18/2003/TTg-QĐ chuyển đổi pháp nhân của Trường thành Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh . Ngày 11 tháng 6 năm 2008, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 747/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Tôn Đức Thắng (công lập) và chuyển về trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam . Xếp hạng đại học Tháng 11 năm 2024, tổ chức Times Higher Education (THE) công bố bảng xếp hạng đại học nghiên cứu khoa học liên ngành tốt nhất thế giới năm 2025 (Interdisciplinary Science Rankings 2025). Trong lần đầu tiên THE công bố bảng xếp hạng này, TDTU xếp vị trí 95 trong tổng số 749 đại học được xếp hạng và 274 cơ sở giáo dục khác có tham gia nhưng chưa được xếp hạng (trạng thái Reporter). Tháng 10 năm 2023, hệ thống xếp hạng đại học thế giới (THE World University Rankings) xếp TDTU xếp thứ 601-800 trong kỳ xếp hạng 2024 của THE. Tháng 10/2022, TDTU xếp thứ 401-500 trong kỳ xếp hạng 2023 của THE. Tháng 9/2021, TDTU vào Top 500 đại học tốt nhất toàn cầu cho kỳ xếp hạng 2022. Tháng 5 năm 2024, bảng xếp hạng các đại học trẻ tốt nhất thế giới của Tổ chức xếp hạng đại học Times Higher Education công bố Trường Đại học Tôn Đức Thắng được xếp thứ 179 trong tổng số 1.171 đại học được đưa vào bảng xếp hạng. Tháng 6/2023, TDTU đã được xếp thứ 101 - 150 trong tổng số 963 đại học được đưa vào bảng xếp hạng. Tháng 2/2022, TDTU đã được xếp thứ 98 trong tổng số 790 đại học được đưa vào bảng xếp hạng. Tháng 6 năm 2024, tổ chức xếp hạng đại học thế giới Quacquarelli Symonds (QS) đã công bố kết quả xếp hạng đại học thế giới QS World University Rankings 2025. TDTU xếp vị trí 711-720 trong tổng số 1.503 các cơ sở giáo dục đại học tham gia xếp hạng. Tháng 12/2023, hệ thống xếp hạng đại học QS đã công bố kết quả xếp hạng các đại học bền vững năm 2024 TDTU đã được xếp vào nhóm 881-900 các đại học phát triển bền vững nhất thế giới. Tháng 10/2022, tổ chức này xếp TDTU vào nhóm 601+ các đại học phát triển bền vững nhất thế giới. Tháng 12 năm 2023, hệ thống xếp hạng đại học QS (Quacquarelli Symonds - Anh Quốc) đã công bố kết quả xếp hạng các đại học bền vững năm 2024 (QS Sustainability Rankings 2024) TDTU đã được xếp vào nhóm 881-900 các đại học phát triển bền vững nhất thế giới. Tháng 10/2022, tổ chức này xếp TDTU vào nhóm 601+ các đại học phát triển bền vững nhất thế giới. Tháng 4 năm 2025, bảng xếp hạng các đại học châu Á năm 2025 (Asia University Rankings 2025) của Tổ chức xếp hạng đại học THE (Times Higher Education) công bố Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) được xếp thứ 201-250 trong tổng số 1.213 cơ sở giáo dục đại học ở châu Á được xếp hạng. Tháng 11 năm 2023, tổ chức QS Asia University Rankings xếp TDTU thứ 138 trong tổng số 856 đại học tốt nhất Châu Á trong kỳ xếp hạng 2024. Như vậy, trong kỳ xếp hạng này, TDTU duy trì thứ hạng 138 so với kỳ xếp hạng 2023, trong bối cảnh số cơ sở giáo dục đại học tham gia xếp hạng tăng từ 760 lên 856 cơ sở. TDTU có mặt trong bảng xếp hạng này lần đầu trong kỳ xếp hạng năm 2019 với vị trí 291-300 Châu Á. Năm 2020, thứ hạng của TDTU là 207, năm 2021 là 163, năm 2022 là 142 và 2023 là 138. Tháng 12 năm 2024, tổ chức xếp hạng UI GreenMetric World University Ranking xếp TDTU thứ 87 trong tổng số 1.477 đại học tham gia xếp hạng. Tháng 12 năm 2023, tổ chức xếp hạng UI GreenMetric World University Ranking xếp TDTU thứ 91 trong tổng số 1182 đại học tham gia xếp hạng. TDTU có mặt trong TOP 100 của bảng xếp hạng này vào tháng 12 năm 2020 với vị trí 83 trong tổng số 911 đại học tham gia xếp hạng. Tháng 12/2021, thứ hạng của TDTU là 122 trong tổng số 956 đại học tham gia xếp hạng, tháng 12 năm 2022 là 114 trong tổng số 1.050 đại học tham gia xếp hạng. Tháng 12 năm 2023, tổ chức xếp hạng đại học thế giới theo thành tựu học thuật URAP (University Ranking by Academic Performance) xếp TDTU thứ 501 trong bảng xếp hạng đại học tốt nhất thế giới năm 2023-2024. TDTU xuất hiện lần đầu tiên trong bảng xếp hạng của URAP năm 2018-2019 với vị trí 1.422. Năm 2019-2020, thứ hạng của TDTU trong bảng này là 960. Năm 2020-2021, thứ hạng của TDTU là 639. Năm 2021-2022, thứ hạng của TDTU là 427. Năm 2022-2023, thứ hạng của TDTU là 435. Tháng 6 năm 2024, US News xếp TDTU thứ 253 trong tổng số 2.459 đại học được xếp hạng trong kỳ xếp hạng 2024-2025, duy trì hạng 1 tại Việt Nam. Tháng 10 năm 2022, US News xếp TDTU thứ 223 trong tổng số 2.165 đại học được xếp hạng trong kỳ xếp hạng 2023-2024. Tháng 10/2021, hệ thống xếp hạng đại học thế giới (US News & World Report Rankings) xếp TDTU thứ 387 trong tổng số 1.750 đại học được xếp hạng trong kỳ xếp hạng 2022-2023. Tháng 6 năm 2024, tổ chức xếp hạng THE công bố kết quả bảng xếp hạng Impact Rankings 2024, Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) được xếp vào nhóm 401-600 thế giới về mức độ ảnh hưởng đối với sự phát triển bền vững toàn cầu trong tổng số 1.963 cơ sở giáo dục tham gia xếp hạng. TDTU có mặt trong bảng xếp hạng này ngay từ kỳ xếp hạng đầu tiên năm 2019 ở vị trí 101-200 với 467 cơ sở giáo dục đại học toàn cầu tham gia xếp hạng. Trong bối cảnh số lượng cơ sở giáo dục tham gia xếp hạng liên tục tăng lên ở các năm sau, TDTU vẫn duy trì ở nhóm thứ hạng cao của thế giới và thuộc top đầu của Việt Nam. Tổ chức Trường có tổ chức theo các khối đơn vị như sau: [ 1 ] Khối giảng dạy Khối đào tạo, ứng dụng khoa học - kỹ thuật - công nghệ Khối quản lý, hành chính, phục vụ Lãnh đạo qua các thời kỳ Chủ tịch hội đồng trường Hiệu trưởng Chất lượng đào tạo Kiểm định cấp cơ sở giáo dục Kiểm định chương trình đào tạo Các chứng nhận khác Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b48479fb6f06 TITLE: Học viện Khoa học và Công nghệ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Khoa_h%E1%BB%8Dc_v%C3%A0_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87 [CONTENT] Học viện Khoa học và Công nghệ ( tiếng Anh : Graduate University of Sciences and Technology hay viết tắt là GUST ) là một học viện công lập trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam , nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam. [ 1 ] Lịch sử hình thành Ngày 22 tháng 9 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1691/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Khoa học và Công nghệ. [ 2 ] [ 3 ] Học viện Khoa học và Công nghệ là cơ sở giáo dục, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, có chức năng và nhiệm vụ chính. Cơ cấu tổ chức Ban Lãnh đạo Học viện Khoa học và Công nghệ gồm: Các phòng ban Các khoa, bộ môn Xem thêm Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1a760c8ef8dd TITLE: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_Qu%E1%BB%91c_gia_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ; là đơn vị tài chính cấp I; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, trung, cao cấp, công chức hành chính, công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, thành viên hội đồng quản trị , tổng giám đốc , phó tổng giám đốc, giám đốc , phó giám đốc doanh nghiệp nhà nước , cán bộ khoa học chính trị và hành chính của Đảng Cộng sản Việt Nam , Nhà nước Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Lý luận Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh , nghiên cứu đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghiên cứu về các khoa học chính trị . Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Ho Chi Minh National Academy of Politics (viết tắt là HCMA ). [ 1 ] Tên gọi qua các thời kỳ Tổ chức Ban Giám đốc Hội đồng Lý luận Trung ương Các Học viện và phân viện trực thuộc [ 5 ] Các Viện nghiên cứu và đơn vị thông tin - xuất bản [ 5 ] (Quyết định số 214-QĐ/TW ngày 28 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [ 6 ] ) Văn phòng, Ban và các Vụ [ 5 ] Giám đốc qua các thời kỳ Danh hiệu Tôn vinh Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 8f1076faf70e TITLE: Học viện Báo chí và Tuyên truyền SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_B%C3%A1o_ch%C3%AD_v%C3%A0_Tuy%C3%AAn_truy%E1%BB%81n [CONTENT] Học viện Báo chí và Tuyên truyền ( Academy of Journalism and Communication , AJC ) là một học viện thuộc nhóm Đại học, Học viện trọng điểm Quốc gia của Việt Nam , [ 1 ] được quản lý trực tiếp bởi Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh – một đơn vị trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội . Lịch sử Học viện Báo chí và Tuyên truyền được thành lập ngày 16/1/1962, theo Nghị quyết số 36 NQ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, trên cơ sở hợp nhất 3 trường: trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệu II, trường Tuyên huấn và trường Đại học Nhân dân. Trường tọa lạc trên khu vực vốn là lỵ sở phủ Hoài Đức . Năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tên gọi chức danh Thủ tướng Chính phủ lúc trước) đã ra quyết định số 406-HĐBT ngày 20/11/1990 công nhận Trường là trường đại học, kể từ đây Trường vừa là một trường Đảng trực thuộc Ban Bí thư Trung ương, đồng thời là trường đại học trong hệ thống giáo dục Việt Nam . Năm 1993, theo quyết định số 61 QĐ/TW ngày 10/03/1993 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , Trường trở thành Học viện trực thuộc cơ quan chủ quản là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh . Tên gọi qua các thời kỳ Trong suốt quãng thời gian hoạt động, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã nhiều lần thay đổi tên gọi như: Nhân sự Hiện nay, Học viện có 413 cán bộ, viên chức, người lao động, trong đó 242 cán bộ là giảng viên. Đội ngũ cán bộ giảng dạy có 01 giáo sư, 40 phó giáo sư, 82 tiến sĩ, 226 thạc sĩ, 42 cử nhân, 22 khác. Ngoài ra, Nhà trường cũng mời nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia đầu ngành về lý luận chính trị và báo chí, truyền thông tham gia giảng dạy, hướng dẫn viết luận án và luận văn, tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, luận văn cao học. Lãnh đạo Học viện Các khoa, chuyên ngành đào tạo - Kinh tế chính trị Mác - Lênin - Kinh tế và Quản lý - Giáo dục lý luận chính trị - Chính sách công - Quản lý Hành chính công - Văn hóa phát triển - Truyền thông chính sách - Ảnh báo chí - Truyền thông đại chúng - Truyền thông đa phương tiện - Quảng cáo - Truyền thông Marketing - Báo phát thanh - Báo mạng điện tử - Quay phim truyền hình - Thông tin đối ngoại - Truyền thông quốc tế - Quan hệ quốc tế và truyền thông toàn cầu Xuất bản điện tử - Công tác xã hội - Khoa học quản lý nhà nước Các đơn vị chức năng Cơ sở vật chất Học viện Báo chí và Tuyên truyền có tổng diện tích 57.310 m 2 trên địa bàn phường Cầu Giấy , thủ đô Hà Nội , nước Việt Nam trụ sở của trường bao gồm các khu nhà làm việc, nhà học tập, khu tập thể cán bộ, ký túc xá sinh viên và diện tích sân trường, vườn hoa, cây xanh... Diện tích đất sử dụng cho nơi làm việc: 1.963 m2 Diện tích đất sử dụng cho nơi học 6.842,1 m2 Diện tích sử dụng cho vui chơi giải trí: 22.641 m2 Nhà trường có: 01 Hội trường 800 chỗ, 01 Hội trường 200 chỗ, 06 phòng học trên 100 chỗ, 33 phòng học 70 chỗ, 43 phòng học nhỏ (38 phòng trên 40 chỗ, 5 phòng trên 30 chỗ). Tổng số phòng học là 82 phòng, Phòng được trang bị máy chiếu là 79, Phòng được trang bị hệ thống âm thanh là 82, Phòng được trang bị điều hòa là 79 trong đó 08 phòng học trên 100 chỗ, 35 phòng học 70 chỗ, 47 phòng học nhỏ (39 phòng trên 40 chỗ, 8 phòng trên 30 chỗ), 02 phòng Bảo vệ luận văn, luận án. Khu thực hành của sinh viên gồm: 02 Studio Truyền hình, 01 Studio Phát thanh, 01 Studio Dựng hình được trang bị đầy đủ các trang thiết bị đồng bộ chuyên dùng cho đào tạo các chuyên ngành Phát thanh, truyền hình; 01 phòng máy tính thực hành các môn học chuyên ngành Báo Mạng điện tử; 01 phòng máy tính thực hành Xuất bản báo in, 02 phòng máy tính thực hành truyền thông, 01 phòng thực hành đa năng và 01 phòng Ảnh báo chí chuyên dùng cho các chuyên ngành Báo chí - Truyền thông với trang thiết bị đồng bộ và hiện đại; 04 phòng LAB học Ngoại ngữ; 04 phòng thực hành tin học dành cho Khoa Giáo dục kiến thức đại cương; 01 phòng thực hành Xuất bản chuyên dùng cho Khoa Xuất bản). Trường có ký túc xá gồm 203 phòng, đáp ứng chỗ ở cho 980 sinh viên. Ban Giám đốc quy định tiêu chuẩn học viên được nội trú giao phòng Quản lý Ký túc xá triển khai. Ưu tiên sinh viên vùng sâu, vùng xa, đối tượng đặc biệt khó khăn con em gia đình có công với cách mạng. Hiện tại, đã khởi công xây dựng nhà Ký túc xá E5 với quy mô 1 tầng hầm và 12 tầng nổi, sau khi đưa vào sử dụng có thể đáp ứng cho 1200 sinh viên Thành tích Nhiều học viên sau khi ra trường đã nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong các cơ quan tư tưởng văn hoá, cơ quan báo chí, xuất bản... Hiện có nhiều cựu học viên đương nhiệm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , hai người là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , một người là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam . Bên cạnh đó nhà trường còn được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao thưởng nhiều danh hiệu và huân chương như: Nhiều cán bộ tham gia nghiên cứu và giảng dạy của Trường cũng được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Ngoài ra còn có hàng trăm lượt người được tặng các loại Kỷ niệm chương: "Vì sự nghiệp Bảo vệ Đảng", "Vì sự nghiệp Lịch sử Đảng", "Vì sự nghiệp Tổ chức xây dựng Đảng", "Vì sự nghiệp Truyền hình", "Vì sự nghiệp Phát thanh", "Vì sự nghiệp Thế hệ trẻ"... Hệ thống truyền thông nội bộ Ngoài Cổng thông tin điện tử chính thức, Học viện Báo chí và Tuyên truyền còn có hệ thống truyền thông nội bộ có tầm ảnh hưởng và có tính chuyên nghiệp cao, do sinh viên trực tiếp tham gia vận hành. Đây cũng là những phương tiện để sinh viên chuyên ngành rèn luyện, làm quen với các thao tác thực tế như: Truyền hình sinh viên - STV, Radio Sóng Trẻ (khoa Phát thanh - Truyền hình), Câu lạc bộ Báo chí Truyền thông - CJC (khoa Báo chí), AJC Times (Đoàn Thanh niên),... Đặc biệt, Học viện Báo chí - Tuyên truyền là một trong số ít những trường đại học công lập tại Việt Nam quan tâm đến truyền thông đại chúng trên mạng xã hội, tiêu biểu với việc hình thanh trang Facebook chính thức của Học viện với tên gọi Kênh 62. [ 3 ] Sinh viên, cựu sinh viên nổi bật Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 88d0a0f351e5 TITLE: Học viện Hành chính và Quản trị công SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_H%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_v%C3%A0_Qu%E1%BA%A3n_tr%E1%BB%8B_c%C3%B4ng [CONTENT] Học viện Hành chính và Quản trị công là đơn vị sự nghiệp công lập trọng điểm hạng đặc biệt thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh . Đây là Học viện hệ công lập thuộc nhóm các trường Đại học, Học viện trọng điểm của Quốc gia Việt Nam và có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước . Học viện là trung tâm quốc gia về thực hiện các chức năng đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ , công chức , viên chức của nhà nước về hành chính, lãnh đạo, quản lý của toàn bộ nền công vụ Việt Nam ; đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Bộ Nội vụ và Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực Hành chính công và Quản lý Nhà nước. Địa chỉ Học viện Hành chính và Quản trị công trụ sở chính tại thành phố Hà Nội : Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại thành phố Đà Nẵng : Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk : Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại thành phố Hồ Chí Minh : Lịch sử Học viện Hành chính và Quản trị công tiền thân là Trường Hành chính, được thành lập theo Nghị định số 214-NV ngày 29 - 5 - 1959, do Phó Thủ tướng Phan Kế Toại ký. Trường trực thuộc Bộ Nội vụ, với nhiệm vụ huấn luyện cán bộ chính quyền cấp huyện. Trường đặt tại thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 16 - 10 - 1959. Ngày 29 - 9 - 1961, Trường được đổi tên thành Trường Hành chính Trung ương theo Nghị định số 130-CP của Hội đồng Chính phủ, có trụ sở tại Láng Hạ, Hà Nội - nơi đặt trụ sở Học viện ngày nay. Ngày 30 - 3 - 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 81-CP, chuyển Trường Hành chính Trung ương trực thuộc Bộ Nội vụ sang trực thuộc Ban Tổ chức của Chính phủ. Ngày 12 - 5 - 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 142-CP sáp nhập Trường Hành chính Trung ương và Trường Kinh tế Trung ương thành Trường Hành chính - Kinh tế Trung ương. Ngày 08 - 6 - 1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 233-CP, tách Trường Hành chính - Kinh tế Trung ương thành 2 trường: Trường Hành chính Trung ương và Trường Quản lý Kinh tế Trung ương, trong đó Trường Hành chính Trung ương là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, hoạt động theo Quyết định số 91-HĐBT ngày 26 - 9 - 1981 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Hành chính Trung ương. Ngày 01 - 11 - 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 381-CT, đổi tên Trường Hành chính Trung ương thành Trường Hành chính Quốc gia; từ ngày 06 - 7 - 1992, được đổi tên thành Học viện Hành chính Quốc gia theo Nghị định số 253-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Theo Nghị định này, Học viện chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng Bộ trưởng, là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà nước và nghiên cứu khoa học hành chính nhà nước. Giai đoạn từ tháng 5 - 2007 đến tháng 12 - 2013, Học viện hợp nhất với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thành Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Giai đoạn này, Học viện mang tên Học viện Hành chính trực thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Đến năm 2013, theo Nghị quyết số 121/NQ-CP, Học viện trực thuộc Bộ Nội vụ, với tên là Học viện Hành chính Quốc gia. Năm 2017, Học viện tiếp nhận Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trực thuộc Bộ Nội vụ theo Quyết định số 949/QĐ -TTg ngày 05 - 07 - 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải thể Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trực thuộc Bộ Nội vụ. Năm 2022, theo Quyết định số 699/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ và Quyết định số 27/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội được sáp nhập vào Học viện, từ đó hoàn thiện mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ đào tạo từ đại học, thạc sĩ, đến tiến sĩ và thực hiện bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Ngày 28 - 12 - 2024, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 214-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Theo Quyết định này, Học viện Hành chính và Quản trị công là một trong 6 Học viện trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tiếp đó, ngày 08 - 01 - 2025, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 55-QĐ/HVCTQG quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Học viện Hành chính và Quản trị công. Theo các quyết định này, Học viện Hành chính và Quản trị công là cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, có chức năng đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; hợp tác quốc tế và cung ứng dịch vụ công về hành chính, quản lý nhà nước và quản trị công, pháp lý theo yêu cầu của Đảng, Nhà nước, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và nhu cầu xã hội. Việc sáp nhập Học viện Hành chính Quốc gia vào Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là một quyết định mang tính chiến lược, thể hiện sự quyết tâm và tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Quyết định này không chỉ nhằm tối ưu hóa các nguồn lực quốc gia mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. [ 1 ] Tên gọi qua các thời kỳ - Học viện Hành chính và Quản trị công đã từng trải qua nhiều tên gọi khác nhau: Lãnh đạo hiện nay Ban Giám đốc Học viện Ban Giám đốc các Phân hiệu Cơ cấu tổ chức Các khoa, ban, đơn vị trực thuộc Các tổ chức chính trị - xã hội Hiệu trưởng, giám đốc qua các thời kỳ quê quán tại nhiệm tỉnh Hưng Yên tỉnh Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh tỉnh Thái Bình tỉnh Quảng Trị tỉnh Thừa Thiên - Huế tỉnh Quảng Trị Hồ Chí Minh tỉnh Hải Dương thành phố Hà Nội tỉnh Long An tỉnh Thái Bình tỉnh Thái Bình thành phố Hà Nội Thành tích Học viện Hành chính và Quản trị công đã được Đảng & Nhà nước Việt Nam,... trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Liên kết ngoài Xem thêm Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 443e218b02ff TITLE: Học viện Dân tộc SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c [CONTENT] Học viện Dân tộc là cơ sở nghiên cứu khoa học, giáo dục công lập trực thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo , hoạt động theo Điều lệ trường đại học. Học viện Dân tộc có chức năng nghiên cứu về công tác dân tộc, chiến lược và các chính sách dân tộc, đào tạo trình độ đại học, sau đại học, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số và cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, bồi dưỡng kiến thức công tác dân tộc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Lịch sử Học viện Dân tộc được thành lập vào ngày 08 tháng 08 năm 2016 theo Quyết định số 1562/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trường Cán bộ Dân tộc. [ 1 ] Học viện Dân tộc tiền thân là Viện Dân tộc và Trường Cán bộ Dân tộc đã trải qua một chặng đường dài không ngừng phát triển và đổi mới. Hiện nay, Học viện đang tiến hành xây dựng và lập đề án đào tạo các hệ dự bị đại học, đại học và sau đại học; thực hiện các hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi Sứ mệnh Học viện Dân tộc là trung tâm khoa học, giáo dục công lập, nghiên cứu về các dân tộc, chiến lược, chính sách dân tộc; đào tạo trình độ đại học, sau đại học góp phần phát triển nguồn nhân lực trình độ cao; bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức trong nước và quốc tế. Tầm nhìn Đến năm 2030, Học viện Dân tộc là cơ sở giáo dục thuộc nhóm các trường Đại học, Học viện trọng điểm của Quốc gia Việt Nam về nghiên cứu chiến lược, chính sách dân tộc, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc trong nước và quốc tế. Giá trị cốt lõi "Sáng tạo, chất lượng, chuyên nghiệp và phát triển bền vững" . Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức của Học viện gồm: 05 khoa chuyên môn; 04 phòng chức năng; 02 tổ chức nghiên cứu phát triển và đơn vị sự nghiệp trực thuộc gồm có 01 Viện nghiên cứu và 01 Trung tâm. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Học viện do Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo quyết định thành lập. [ 2 ] Các khoa chuyên môn Các phòng chức năng Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, đơn vị sự nghiệp là đơn vị dự toán cấp III Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7a53ae4e7b09 TITLE: Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Chi%E1%BA%BFn_l%C6%B0%E1%BB%A3c_Khoa_h%E1%BB%8Dc_v%C3%A0_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87 [CONTENT] Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (tiếng Anh: Vietnam Insitute of Science and Technology Strategy, viết tắt là VISTS ) là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ , thực hiện chức năng: nghiên cứu khoa học và công nghệ; nghiên cứu, xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; thông tin tuyên truyền, lý luận chuyên ngành, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học; tư vấn, cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Lịch sử hình thành Ngày 02/3/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2025/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ . Theo đó, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. [ 1 ] Ngày 16/6/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 17/2025/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ. [ 2 ] Học viện được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị sau đây của 2 Bộ Khoa học và Công nghệ và Thông tin và Truyền thông (cũ): Cơ cấu tổ chức Xem thêm Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f9d1f5abb2d0 TITLE: Học viện Ngoại giao (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ngo%E1%BA%A1i_giao_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Ngoại giao (tiếng Anh là: Diplomatic Academy of Vietnam - DAV) là đơn vị sự nghiệp hệ công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đào tạo đại học, sau đại học và bồi dưỡng nghiệp vụ đối ngoại trực thuộc Bộ Ngoại giao tại Việt Nam . Tên gọi qua các thời kỳ Học viện đã từng trải qua các tên gọi khác nhau: Học viện Ngoại giao nằm trong danh sách 40 cơ quan học thuật hàng đầu do chính phủ bảo trợ tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương . [ 1 ] Lịch sử Năm 1959, Học viện Ngoại giao được thành lập với tên ban đầu là Trường Ngoại giao do Thường vụ Hội đồng Chính phủ ra quyết định thành lập. Đến năm 1960, Trường sáp nhập vào Trường Đại học Kinh tế – Tài chính (nay là Trường Đại học Kinh tế Quốc dân ) và trở thành Khoa Quan hệ Quốc tế. Tuy là khoa thuộc Trường Đại học Kinh tế - Tài chính, nhưng lại do Bộ Ngoại giao trực tiếp quản lý. Khoa Quan hệ quốc tế lúc đó có 2 bộ môn: bộ môn Ngoại giao và bộ môn Ngoại thương, Chủ nhiệm Khoa là cán bộ do Bộ Ngoại giao bổ nhiệm. Năm 1964 , Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định tách Khoa Quan hệ quốc tế ra khỏi Trường Đại học Kinh tế - Tài chính để tái thành lập Trường Cán bộ Ngoại giao - Ngoại thương trực thuộc Bộ Ngoại giao. Năm 1965 , Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chia Trường Cán bộ Ngoại giao – Ngoại thương thành hai trường: Trường Đại học Ngoại giao và Trường Đại học Ngoại thương . Ngày 19 tháng 5 năm 1987 , Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 78/HĐBT về việc sáp nhập Trường Đại học Ngoại giao với Viện Quan hệ quốc tế để thành lập Viện Quan hệ quốc tế Bộ Ngoại giao. Ngày 1 tháng 8 năm 1992 , Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 279/CT về việc đổi tên Viện Quan hệ quốc tế Bộ Ngoại giao thành Học viện Quan hệ quốc tế. [ 2 ] Ngày 23 tháng 6 năm 2008 , Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 82/2008/QĐ-TTg nâng cấp Học viện Quan hệ Quốc tế thành Học viện Ngoại giao, với cơ cấu tổ chức và chức năng của cơ quan cấp Tổng cục. [ 3 ] Ngày 12 tháng 7 năm 2012 , Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 29/2012/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định số 82/2008/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao, theo đó thành lập Viện Biển Đông trực thuộc Học viện Ngoại giao. [ 4 ] Ngày 24 tháng 12 năm 2014 , Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 75/2014/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao, theo đó thành lập Ban Đào tạo trực thuộc Học viện Ngoại giao. Theo Quyết định số 07/2019/QĐ-TTg ngày 15/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ, thay thế quyết định cũ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao: " Học viện Ngoại giao là tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Ngoại giao, thực hiện chức năng nghiên cứu chiến lược về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại; đào tạo đại học, sau đại học và bồi dưỡng nghiệp vụ đối ngoại". Ngày 28 tháng 6 năm 2024, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 08/2024/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao. [ 5 ] Cơ cấu tổ chức Theo Quyết định số 08/2024/QĐ-TTg ngày 28/06/2024 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao trực thuộc Bộ Ngoại giao , cơ cấu tổ chức của Học viện Ngoại giao bao gồm 11 Đơn vị trực thuộc, bao gồm: [ 5 ] Đơn vị đào tạo và nghiên cứu Các cơ quan chức năng Các ngành đào tạo Học viện Ngoại giao đào tạo các ngành rất đa dạng, nhưng nhìn chung những ngành này đều liên quan đến vấn đề ngoại giao. Danh sách các ngành đào tạo (trình độ cử nhân): Sứ mệnh, tầm nhìn và văn hóa Sứ mệnh: Học viện là cơ sở hàng đầu trong cả nước có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu chuyên sâu phục vụ công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện của đất nước. Tầm nhìn: Giữ vững vị trí số một tại Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu phục vụ công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, phấn đấu tới năm 2030 vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực. Văn hóa: Năng động - Sáng tạo - Tầm nhìn; Chất lượng - Toàn diện - Hội nhập. Các hoạt động đào tạo và hợp tác quốc tế Học viện chính thức đổi tên từ Học viện Quan hệ Quốc tế thành Học viện Ngoại giao từ cuối tháng 6 năm 2008. [1] Hiện nay Học viện Ngoại giao là thành viên tích cực trong Ban nội dung của các hội nghị quốc tế được tổ chức tại Việt Nam như: Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp , Hội nghị cấp cao APEC , Hội nghị cấp cao ASEAN , Hội nghị Liên minh Nghị viện thế giới IPU 132,... Về hợp tác quốc tế, Học viện là thành viên tổ chức các viện nghiên cứu chiến lược và quốc tế ASEAN-ISIS, thành viên Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á - Thái Bình Dương (CSCAP), điều phối viên của Việt Nam trong Mạng lưới nghiên cứu xung đột ở Đông Nam Á; có quan hệ hợp tác với hơn 80 Viện nghiên cứu và trường đại học nước ngoài; có quan hệ với nhiều đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội; hằng năm tiếp đón và làm việc với trên 40 đoàn khách quốc tế và cử trên 60 đoàn đi dự các hội nghị, hội thảo quốc tế. [ 7 ] Về Đào tạo, ngày 15 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 821/QĐ-TTg giao nhiệm vụ đào tạo trình độ Tiến sĩ cho Học viện Ngoại giao. Học viện được phép đào tạo Tiến sĩ ( Quan hệ quốc tế , Luật Quốc tế ), Thạc sĩ ( Quan hệ quốc tế , Luật quốc tế , Kinh tế quốc tế , liên kết đào tạo Pháp ngữ và Quan hệ quốc tế), Cử nhân (Quan hệ quốc tế, Luật quốc tế, Kinh tế quốc tế, Truyền thông quốc tế, Ngôn ngữ Anh). Thành tích Lãnh đạo hiện nay Lãnh đạo qua các thời kỳ Một số sinh viên, học viên tiêu biểu Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: daa12b290589 TITLE: Trường Đại học Luật Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Lu%E1%BA%ADt_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Luật Hà Nội là trường đại học công lập đào tạo luật pháp của Việt Nam , trực thuộc Bộ Tư pháp và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Trường được xếp top 40 toàn quốc tại Việt Nam theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam VNUR . [ 1 ] Trường được coi là cơ sở đào tạo luật pháp có tuổi đời lịch sử đứng thứ 2 sau Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội . Trường đang tổ chức đào tạo các bậc đại học, cao học, và nghiên cứu sinh. Ngoài ra với nhu cầu của xã hội, trường tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho nhiều đối tượng khác nhau. Thực hiện, tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học pháp lý và thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo giao. Trường có trụ sở chính tại số 87 đường Nguyễn Chí Thanh, phường Giảng Võ , thành phố Hà Nội . Cơ sở 2 tọa lạc tại phường Đồng Nguyên , tỉnh Bắc Ninh (dự kiến đi vào hoạt động năm 2025) và Phân hiệu tại tỉnh Đắk Lắk (thành lập 3/2019 trên cơ sở giải thể Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột). Lịch sử Trường Đại học Pháp lý Hà Nội được thành lập ngày 10 tháng 11 năm 1979 theo Quyết định số 405/CP [ 2 ] của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ), trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Pháp lý và Khoa Pháp lý của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ) (nay là tiền thân Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội ), trực thuộc sự quản lý của Ủy ban Pháp chế ( Bộ Tư pháp ) của Chính phủ. Trước đó, Khoa Pháp lý đã tuyển sinh và đang đào tạo 3 khoá sinh viên. Sau khi thành lập, Trường Đại học Pháp lý Hà Nội tiếp tục đào tạo các sinh viên này và bắt đầu tuyển sinh từ khoá thứ 4. Khi mới thành lập, trường có bốn khoa đào tạo chuyên ngành là: Khoa Hành chính - Nhà nước, Khoa Tư pháp, Khoa Luật Kinh tế và Khoa Luật Quốc tế. Trường đóng tại xã Duyên Thái , huyện Thường Tín , tỉnh Hà Tây (cũ). Trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của Trường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến tham dự và đặt ra mục tiêu cho trường trở thành "trung tâm đào tạo cán bộ pháp lý, trung tâm nghiên cứu khoa học pháp lý và trung tâm truyền bá pháp lý" của Việt Nam. Đến tháng 10 năm 1982 , Trường Cao đẳng Toà án được sáp nhập vào Trường Đại học Pháp lý Hà Nội. Ngày 6 tháng 7 năm 1993 , Bộ Tư pháp đã quyết định đổi tên trường thành Trường Đại học Luật Hà Nội . Khoảng năm 1993, trường được chuyển về địa điểm như hiện nay: Số 87 đường Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, Hà Nội. Đến năm 2003 , Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội đã quyết định tách Khoa Tư pháp thành hai khoa chuyên ngành là Khoa Luật Dân sự và Khoa Luật Hình sự. Ngày 12 tháng 2 năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 310/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk. Cơ cấu tổ chức Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Trường bao gồm: Đảng uỷ, Hội đồng trường; Ban Giám hiệu; 07 Khoa, 01 Bộ môn trực thuộc; 01 Viện; 02 Trung tâm; 10 Phòng chuyên môn và các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội. 1. Đảng ủy Trường Đại học Luật Hà Nội. - Bí thư Đảng ủy: TS. Chu Mạnh Hùng. - Phó Bí thư Đảng ủy: PGS.TS. Tô Văn Hòa. 2. Hội đồng Trường Đại học Luật Hà Nội. - Chủ tịch: TS. Chu Mạnh Hùng. - Phó Chủ tịch: PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến. 3. Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội. - Hiệu trưởng: PGS.TS. Tô Văn Hòa. - Các Phó Hiệu trưởng: PGS.TS. Nguyễn Bá Bình; TS. Hoàng Xuân Châu. 4. Các Khoa, bộ môn trực thuộc 5. Viện Luật So sánh. 6. Các Trung tâm 7. Các Phòng 8. Tạp chí Luật học 9. Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk. Nhân sự Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, tổng số giảng viên cơ hữu của Trường là 304 giảng viên. Trong đó, có 03 giáo sư , 31 phó giáo sư , 134 tiến sĩ, 166 thạc sĩ. Giảng viên thỉnh giảng có 204 giảng viên, trong đó, có 02 giáo sư, 17 phó giáo sư, 113 tiến sĩ, 199 thạc sĩ. Cấp bậc và quy mô đào tạo Hiện nay Trường Đại học Luật Hà Nội đã có tất cả các bậc đào tạo: Nghiên cứu sinh, Cao học, Đại học, các lớp bồi dưỡng hoàn thiện kiến thức, bồi dưỡng theo chuyên đề. Tổng quy mô đào tạo của Trường là hơn 15.108 sinh viên, học viên (Tính đến 31/12/2021). Trong đó có 117 Nghiên cứu sinh, 847 học viên cao học, 8.622 sinh viên đại học chính quy văn bằng 1, 2.130 sinh viên đại học chính quy văn bằng 2, 3.392 sinh viên vừa làm vừa học. [ 3 ] Cơ sở vật chất Trụ sở chính tọa lạc tại số 87 Nguyễn Chí Thanh, phường Giảng Võ, thành phố Hà Nội, với diện tích 10.000m² trong đó diện tích sàn xây dựng là: 30.800 m²; có 70 phòng học, giảng đường; 02 hội trường lớn 400 và 700 chỗ ngồi, 02 phòng học đa phương tiện, 02 phòng thực hành tin học, 05 phòng thư viện với 2.173m², 01 phòng đọc 389m². Khu ký túc xá 500 sinh viên của Trường. Thư viện đã tổ chức hệ thống phòng đọc, phòng mượn phục vụ cho các đối tượng bạn đọc. Diện tích phòng đọc dành cho sinh viên tự học/nghiên cứu/tra cứu tài liệu là 389 m². Thư viện Trường hiện có 103 đầu tạp chí, 16.327 đầu sách (191.569 cuốn), trong đó có: 178 đầu giáo trình; 10.697 đầu sách tham khảo; 5.062 luận văn, luận án; 203 đầu đề tài nghiên cứu khoa học; 187 đầu tài liệu hội thảo khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và người học. Trường đã ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của thư viện từ năm 1998. Toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ, tra cứu, quản lý lưu thông tài liệu, quản lý bạn đọc... của Thư viện được thực hiện thông qua phần mềm Libol. Hệ thống máy tính của Thư viện được kết nối internet, kết nối với hai cơ sở dữ liệu pháp luật trực tuyến là West Law và Hein online. Nhà trường đang triển khai xây dựng nguồn tài liệu điện tử bao gồm giáo trình; luận văn, luận án; các công trình nghiên cứu khoa học; Tạp chí luật học...; số hoá các tài liệu quý hiếm. [ 4 ] Cơ sở 2 của Trường được xây dựng tại phường Đồng Nguyên, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2019 trên diện tích khoảng 28ha, đáp ứng nhu cầu đào tạo cho 10.800 sinh viên. Đến nay, các hạng mục cơ bản hoàn thành và dự kiến đưa sinh viên về học tập từ năm học 2025-2026. Thành tựu Trong những năm qua Trường đã đào tạo được cho đất nước hơn 100.000 cán bộ pháp lý với các cấp bậc và trình độ khác nhau: Với những thành tích đạt được trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì (2014), Huân chương Độc lập hạng Ba (2004) Huân chương Lao động hạng Nhất (1994, 2019), Huân chương Lao động hạng Nhì (1989) và Huân chương Lao động hạng Ba (1980), nhiều năm được nhận cờ thi đua của ngành Tư pháp và nhiều phần thưởng cao quý khác. [ 6 ] Hiệu trưởng qua các thời kỳ Xem thêm Liên kết ngoài Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 6ea97110d54d TITLE: Trường Đại học Lao động – Xã hội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_%E2%80%93_X%C3%A3_h%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Lao động – Xã hội là trường đại học công lập được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng Lao động - Xã hội theo Quyết định số 26/2005/QĐ-TTg ngày 31/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ [ 1 ] chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Bộ Nội vụ và chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Trụ sở chính của trường được đặt tại số 43 đường Trần Duy Hưng, phường Yên Hoà , thành phố Hà Nội . Năm thành lập trường được chọn là năm 1961. Ngày truyền thống của Trường là ngày 27 tháng 5. Lịch sử Trường Đại học Lao động và Xã hội tiền thân là trường Trung học Lao động Tiền lương thuộc Bộ Lao động . Khởi nguồn từ tháng 3/1960, tại Miền Bắc lần đầu tiên hình thành Trường Cán bộ Lao động tại Cầu Diễn , Nam Từ Liêm , Hà Nội . Ngày 30/5/1961, Bộ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Tạo chính thức ký Quyết định thành lập Trường Lao động - Tiền lương trực thuộc Bộ Lao động cũng tại địa điểm trên, với nhiệm vụ ban đầu là đào tạo cán bộ lao động tiền lương cho toàn miền bắc . Ngày 04/6/1962, Trường khai giảng khóa chuyên tu lao động - tiền lương đầu tiên và Trường mang tên Trường trung học Lao động - Tiền lương. Ngày 27/2/1988, Bộ Lao động giao thêm cho Trường nhiệm vụ đào tạo ngành Bảo trợ xã hội và Trường được đổi tên thành Trường trung học Lao động - Tiền lương và Bảo trợ xã hội (gọi tắt là Trường Trung học Lao động và Xã hội I vì cùng thời điểm, Bộ cũng thành lập Trường Trung học Lao động và Xã hội II ở TP. Hồ Chí Minh) . Ngày 27/5/1991, Trường hợp nhất với Trường Quản lý Cán bộ Thương binh Xã hội, lấy tên là Trường Cán bộ Lao động và Xã hội, đóng tại địa bàn Trụ sở chính hiện nay tại xã Trung Hòa - huyện Từ Liêm - Hà Nội (nay là phố Trần Duy Hưng , phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy , Hà Nội ). Ngày 27/5 được chọn là ngày thành lập Trường (Trường Quản lý Cán bộ Thương binh Xã hội, tiền thân là Trường Cán bộ Thương binh Xã hội thuộc Bộ Nội vụ, được tách ra từ Trường Hành chính Trung ương). Tháng 1/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định nâng cấp Trường lên thành trường Cao đẳng Lao động và Xã hội. [ 2 ] Ngày 31/1/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 26/2005/QĐ-TTg, thành lập trường Đại học Lao động và Xã hội trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Lao động và Xã hội với các ngành đào tạo chính là Quản trị nhân sự , Công tác xã hội , Bảo hiểm và Kế toán . Tháng 12/2006, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ra Quyết định sáp nhập Trường trung học Lao động và Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Kỹ nghệ I tại thị xã Sơn Tây ( Hà Nội ) thành Cơ sở II và Cơ sở Sơn Tây của Trường Đại học Lao động và xã hội. Đào tạo Tháng 11/2011, Trường khai giảng khóa đào tạo thạc sỹ Quản trị nhân lực đầu tiên. Năm 2013, Trường mở thêm ngành Quản trị kinh doanh và bắt đầu đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Năm 2014, Trường được đào tạo thạc sỹ ngành Kế toán . Năm 2015, Trường được đào tạo thạc sỹ ngành Công tác xã hội . Năm 2016, Trường được đào tạo tiến sỹ ngành Quản trị nhân lực . Năm 2017, Trường mở thêm 3 ngành đào tạo mới ( Kinh tế lao động, Tâm lý học và Luật ). Năm 2018, Trường được trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục. Năm 2020, Trường mở thêm 4 ngành đào tạo mới là Tài chính - Ngân hàng , Công nghệ thông tin , Kiểm toán và Hệ thống thông tin quản lý . Cuối năm 2020, Trường được Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép đào tạo thạc sỹ ngành Bảo hiểm . Năm 2021, Trường mở thêm 2 ngành đào tạo mới hệ đại học là ngành Bảo hiểm - Tài chính và ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Năm 2022, Trường mở thêm 1 ngành đào tạo mới là ngành Ngôn ngữ Anh. Các ngành đào tạo bậc đại học Các ngành đào tạo bậc thạc sỹ Các ngành đào tạo bậc tiến sỹ Bê bối liên quan Vi phạm quy chế tuyển sinh Sai phạm về bằng cấp, trình độ của đội ngũ giảng viên nhà trường Khiếu nại, tố cáo liên quan Thành tích Cơ sở Trường Đại học Lao động và Xã hội hiện có trụ sở chính và 2 cơ sở: Các thời kỳ Chủ tịch Hội đồng trường và Hiệu trưởng Chủ tịch Hội đồng trường: PGS.TS. Lê Thanh Hà (nhiệm kỳ 2021-2026) Các thời kỳ Hiệu trưởng (Thời kỳ trước khi sáp nhập 2 trường, mỗi giai đoạn có cùng lúc 2 thầy Hiệu trưởng): Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 5b723e9029a1 TITLE: Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_v%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội (tiền thân là Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội) là trường đại học công lập định hướng ứng dụng, được thành lập theo Quyết định số 27/NT ngày 19/01/1967 của Bộ trưởng Bộ Nội thương (nay là Bộ Công thương). Trường đã chính thức được đổi tên thành Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội vào ngày 4 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định số 1485/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đào tạo Trình độ đại học Trình độ cao đẳng Thành tích Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a613ee6a61d5 TITLE: Học viện Tòa án SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_T%C3%B2a_%C3%A1n [CONTENT] Học viện Tòa án ( tiếng Anh là: Vietnam Court Academy - VCA) (tiền thân là: Trường Tư pháp Trung ương) là cơ sở giáo dục hàm Học viện hệ công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao , [ 1 ] Nhà trường hoạt động theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Điều lệ trường đại học . Học viện Tòa án có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật. Sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi - Sứ mệnh: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của công tác tư pháp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. - Tầm nhìn: Trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ pháp lý hàng đầu trong ngành Tòa án và khu vực, góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử, bảo đảm tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền con người và công dân, phục vụ sự nghiệp Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc. - Giá trị cốt lõi: Chất lượng, hiệu quả, sáng tạo, trách nhiệm, đoàn kết và phục vụ. Thông tin liên hệ Số điện thoại: 0432.693.693 Email: hvta@toaan.gov.vn Địa chỉ - Học viện Tòa án: + Trụ sở của nhà trường tại đường 282, xã Thuận An , thành phố Hà Nội , nước Việt Nam . Lịch sử Sơ lược sự hình thành và phát triển của Học viện Tòa án Ngay từ những ngày đầu giành chính quyền, sau khi các Toà án được thiết lập theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 13/9/1945, cùng với hoạt động của Toà án, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ Toà án cũng được hình thành và phát triển. Ban đầu việc đào tạo, bồi dưỡng thực hiện thông qua các hội nghị học tập hoặc các lớp huấn luyện ngắn hạn từ 3 đến 4 tháng được tổ chức trong cả nước. Năm 1960, Trường Tư pháp Trung ương được thành lập trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao (sau đổi tên thành Trường Cán bộ Tòa án, rồi Trường Cao đẳng Tòa án, có trụ sở tại Hà Nội, nay là trụ sở Trường Đại học Luật Hà Nội ). Sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Trường Cán bộ Tòa án cơ sở 2 được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh . Hai cơ sở này chủ yếu mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng có trình độ sơ cấp 6 tháng và trung cấp 12 tháng đồng thời, Trường mời các nhà chính trị, các chuyên gia pháp luật, chuyên gia về khoa học xã hội , chuyên gia các nước Liên Xô, Trung Quốc sang giảng bài cho một số khóa đào tạo. Từ năm 1972 đến năm 1979, thời gian đầu Trường mở hệ đào tạo trung cấp 14 tháng và những năm tiếp theo là 24 tháng. Năm 1979, Trường được nâng lên thành Trường Cao đẳng Tòa án và mở hệ đào tạo cao đẳng 36 tháng với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ xét xử chuyên ngành Tòa án làm nguồn bổ sung thẩm phán cho Toà án nhân dân các cấp. Những thế hệ cán bộ được đào tạo đã phát huy được năng lực công tác, sau khi được bổ nhiệm Thẩm phán đã thực hiện tốt công tác hòa giải, xét xử, đảm bảo đúng đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng và pháp luật quy định theo từng giai đoạn lịch sử và yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, hầu hết các chức danh tư pháp trong ngành Tòa án đều do các Trường Cán bộ Tòa án đào tạo, bồi dưỡng và thể hiện được phẩm chất chuyên môn, năng lực công tác; và rất nhiều các đồng chí lãnh đạo Tòa án các cấp và nhiều cơ quan tư pháp khác hiện nay, đều được đào tạo và trưởng thành từ những mái trường này. Năm 1982, do yêu cầu nhiệm vụ chung, Tóa án Nhân dân Tối cao đã chuyển giao công tác quản lý các Tòa án địa phương về tổ chức sang Bộ Tư pháp nên Trường Cao đẳng Tòa án cũng được sáp nhập với Trường Đại học Pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội ) trực thuộc Bộ Tư pháp . Chương trình đào tạo của Trường có thời gian là 48 tháng, người học được trang bị hệ thống kiến thức về pháp luật cơ bản chung nhất, sau khi tốt nghiệp các học viên được cấp bằng Cử nhân Luật và một số được tuyển dụng làm việc tại toà án, đây là nguồn để Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán toà án các cấp theo quy định của Luật Tổ chức Toà án Nhân dân năm 1992. Từ khi sáp nhập, tuy không còn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, nhưng trong giai đoạn này, việc tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm, kỹ năng xét xử xét xử vẫn được duy trì thường xuyên qua các Hội nghị chuyên đề. Năm 1994, sau khi tách ra khỏi Trường Đại học Pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội ) trực thuộc Bộ Tư pháp ; Trường Cán bộ Tòa án trực thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao được thành lập trở lại do Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn Nghị quyết số 210/UBTVQH khóa IX ngày 20-5-1994 và Quyết định thành lập số 100/TCCB ngày 23-8-1994 của Chánh án TANDTC. Ngày 30/7/2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1191/QĐ-TTg thành lập Học viện Tòa án trên cơ sở nâng cấp và đổi tên Trường Cán bộ Tòa án. Theo Quyết định này, Học viện Tòa án có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh. Học viện Tòa án là cơ sở giáo dục hàm Học viện hệ công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao . Thực trạng về cơ cấu, tổ chức và hoạt động của Học viện Tòa án từ khi được thành lập lại (1994) đến nay Giai đoạn từ 1994 đến 2002 Cơ cấu tổ chức của Trường, gồm có Ban giám hiệu và 02 phòng chức năng là Phòng Giáo vụ và Phòng Hành chính - Quản trị Trường Cán bộ Toà án có chức năng chủ yếu là tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho thẩm phán, cán bộ của ngành và thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ giảng viên, tài liệu bồi dưỡng Hội thẩm nhân dân cho Tòa án nhân dân các địa phương. Công tác tập huấn, bồi dưỡng cho Tòa án nhân dân các địa phương gặp nhiều khó khăn do Bộ Tư pháp quản lý về mặt tổ chức các Tòa án địa phương Giai đoạn từ 2002 đến 2012 Về cơ cấu, tổ chức không thay đổi nhưng do từ năm 2002 Tòa án nhân dân tối cao quản lý về mặt tổ chức các Tòa án địa phương, nên công tác tập huấn toàn ngành được quan tâm và thuận lợi hơn nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn. Về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của Trường vẫn chưa đuợc tăng cường củng cố đúng mức. Những năm đầu, Trường Cán bộ Toà án tập trung tập huấn cho thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, việc tập huấn cho thẩm phán, cán bộ Tòa án nhân dân cấp huyện chủ yếu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm. Những năm về sau,Trường mới có những khởi sắc và phát triển, công tác tập huấn, bồi dưỡng cho Thẩm phán bắt đầu được thực hiện cho Thẩm phán cấp tỉnh và cấp huyện toàn ngành. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho thư ký, thẩm tra viên chưa được tiến hành thường xuyên. Đội ngũ giảng viên của Trường chủ yếu là giảng viên kiêm nhiệm, Trường chưa có đội ngũ giảng viên cơ hữu và chuyên trách. Vì vậy, Trường Cán bộ Tòa án chủ yếu làm nhiệm vụ tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, chưa thực sự hoạt động như cơ sở giáo dục. Đối với đội ngũ giảng viên kiêm chức của Trường, chưa có quy chế làm việc rõ ràng, vì vậy, hoạt động của Trường còn bị động và hiệu quả chưa cao. Bên cạnh những khó khăn trên, việc chưa có quy chế bồi dưỡng bắt buộc đối với thẩm phán, cán bộ tòa án cũng tạo ra những bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Thẩm phán, cán bộ tòa án chưa nhận thức được tầm quan trọng của yêu cầu nâng cao nghiệp vụ cũng như chưa ý thức trách nhiệm trong việc học tập, nên hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả chưa cao, vị thế của Trường còn hạn chế, chậm đổi mới, chậm phát triển. Công tác đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao chưa được tổ chức và quản lý thống nhất. Hiện nay, có nhiều đơn vị cùng thực hiện nhiệm vụ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ làm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành trở nên chồng chéo, thiếu thống nhất về nội dung tài liệu và quan điểm nghiệp vụ gây khó khăn trong việc áp dụng thống nhất pháp luật. Cách tổ chức như hiện nay dẫn đến tình trạng sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng kém hiệu quả, đồng thời việc quản lý và đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không tập trung và thiếu chính xác. Giai đoạn từ 2012 đến 30/7/2015 Trước thực trạng nêu trên, Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo xây dựng Đề án "Nâng cao năng lực và mở rộng quy mô Trường Cán bộ Tòa án" nhằm chuẩn hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và cán bộ của ngành Tòa án nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ của ngành có chất lượng cao, đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu chung của phát triển của đất nước cũng như chiến lược Cải cách tư pháp đã được chỉ đạo trong Nghị quyết 49, Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị. Ngày 03/6/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Đề án nâng cao và mở rộng quy mô Trường Cán bộ Tòa án Đề án "Nâng cao năng lực và mở rộng quy mô Trường Cán bộ Tòa án" đã được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt năm 2011, là tổng thể những mục tiêu, nội dung cũng như các giải pháp, lộ trình thực hiện nhằm mở rộng và phát triển Trường Cán bộ Tòa án đến năm 2020 gồm 3 giai đoạn: giai đoạn 1: từ năm 2011 - 2012; giai đoạn 2: từ 2013 - 2015; giai đoạn 3: từ 2016 - 2020. Thực hiện các nội dung của giai đoạn 1 (từ 2011 - hết 2012), Trường Cán bộ Tòa án đã thực hiện một loạt các giải pháp mới, đồng bộ về từ cơ cấu tổ chức bộ máy trong quản lý và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường. Về cơ cấu, tổ chức Ngày 21/3/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định số 509/QĐ-TCCB về việc thành lập Hội đồng Trường Cán bộ Tòa án do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tịch hội đồng. Hội đồng Trường có chức năng hoạch định các chủ trương lớn về chương trình đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ dài hạn hoặc ngắn hạn cho từng chức danh công chức ngành Tòa án nhân dan và bảo đảm sự thống nhất giáo trình tài liệu giảng dạy, giảng viên, kế hoạch tổ chức thực hiện và các vấn đề quan trọng khác liên quan đến hoạt động của Trường. Ngày 03/4/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục ký quyết định số 559/QĐ-TCCB về cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ Tòa án. Cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ Tòa án nhân dân tối cao gồm có các đơn vụ chức năng sau: 1. Phòng Giáo vụ; 2. Phòng Tổ chức - Hành chính; 3. Phòng Quản trị - Tài vụ; 4. Phòng Hợp tác đào tạo; 5. Khoa Thẩm phán; 6. Khoa Công chức Tòa án. Về chức năng, nhiệm vụ Tại phiên họp ngày 21/12/2012 của Ban chấp hành trung ương, Bộ Chính trị đã có kết luận: Đồng ý để Tòa án nhân dân tối cao được đào tạo nghề Thẩm phán và đào tạo bậc đại học chuyên ngành, tiến tới thành lập Học viện Tòa án. (Thông báo số 116/TB/TW ngày 27/12/2012 của Bộ Chính trị). Như vậy, sau 18 năm, Trường đã có sự thay đổi và phát triển cả về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ. Từ chỗ Trường chỉ có Ban giám hiệu và 02 phòng chức năng là Phòng Giáo vụ và Phòng Hành chính - Quản trị khi được thành lập lại năm 1994, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ của ngành; Đến nay cơ cấu tổ chức của Trường đã bao gồm: Hội đồng Trường, Ban giám hiệu và 06 phòng, khoa chức năng. Trường Cán bộ Tòa án đã có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng theo quy định của Luật Giáo dục Giai đoạn từ 30/7/2015 đến nay Đang cập nhật... Tên gọi qua các thời kỳ Học viện Tòa án đã từng trải qua rất nhiều tên gọi khác nhau: - Trường Tư pháp Trung ương (1960 - 1979) - Trường Cao đẳng Tòa án (1979 - 1982) - Sáp nhập vào Trường Đại học Pháp lý Hà Nội (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội ) (1982 - 1994) - Trường Cán bộ Tòa án (1994 - 2015) - Học viện Tòa án (2015 - nay) Lãnh đạo hiện nay Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức của Học viện Tòa án được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 386/2016/QĐ-TANDTC ngày 25/3/2016 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Tòa án do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành, cụ thể như sau: a) Hội đồng Học viện Hội đồng Học viện là tổ chức quản trị đại diện quyền sở hữu của Học viện Tòa án, có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Điều lệ trường đại học, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các văn bản pháp luật có liên quan. Hội đồng Học viện gồm có Chủ tịch, Thư ký và các thành viên; được tổ chức và hoạt động theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện Tòa án và các quy định của pháp luật có liên quan. Quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện Tòa án do Giám đốc Học viện Tòa án ban hành theo Nghị quyết của Hội đồng Học viện. Danh sách thành viên Hội đồng Học viện do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Giám đốc Học viện Tòa án. b) Giám đốc và các Phó Giám đốc Giám đốc Học viện là người đại diện theo pháp luật của Học viện Tòa án, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của Học viện Tòa án. Giám đốc Học viện Tòa án do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao cho Học viện Tòa án. Phó Giám đốc Học viện giúp Giám đốc điều hành một số hoạt động của Học viện Tòa án, được Giám đốc phân công trực tiếp quản lý một số lĩnh vực, nhiệm vụ công tác. Phó Giám đốc Học viện Tòa án do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Học viện và trước pháp luật về những lĩnh vực, nhiệm vụ công tác được phân công, số lượng Phó Giám đốc Học viện Tòa án không quá 03 người. c) Các đơn vị thuộc Học viện Tòa án: - Khoa Đào tạo đại học; - Khoa Đào tạo sau đại học; - Khoa Đào tạo Thẩm phán; - Khoa Đào tạo Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; - Phòng Đào tạo và khảo thí; - Phòng Quản lý Học viên; - Phòng Tổ chức - Cán bộ; - Phòng Kế hoạch - Tài chính; - Phòng Nghiên cứu khoa học Tòa án; - Phòng Tư liệu và Thư viện; - Văn phòng Học viện; - Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ; - Phân viện Học viện Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh. Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Văn phòng, khoa, phòng, trung tâm, phân viện của Học viện Tòa án do Giám đốc Học viện Tòa án quy định trong Quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện Tòa án. Khoa đào tạo sau đại học thành lập khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Văn phòng và mỗi đơn vị khoa, phòng, trung tâm, phân viện của Học viện Tòa án có cấp trưởng và các cấp phó. Số lượng cấp phó không quá 02 người. Nhiệm vụ, quyền hạn Tại phiên họp ngày 21/12/2012 của Ban chấp hành trung ương, Bộ Chính trị đã có kết luận: Đồng ý để Tòa án nhân dân tối cao được đào tạo nghề Thẩm phán và đào tạo bậc đại học chuyên ngành, tiến tới thành lập Học viện Tòa án. (Thông báo số 116-TB/TW ngày 27/12/2012 của Bộ Chính trị). Như vậy, sau 18 năm, Trường đã có sự thay đổi và phát triển cả về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ. Từ chỗ Trường chỉ có Ban giám hiệu và 02 phòng chức năng là Phòng Giáo vụ và Phòng Hành chính - Quản trị khi được thành lập lại năm 1994, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ của ngành. Theo Quyết định số 386/2016/QĐ-TANDTC thì Học viện Toà án có những nhiệm vụ, quyền hành sau: 1. Xây dựng và trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Chiến lược công tác đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, 05 (năm) năm và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của Học viện. 2. Tổ chức các hoạt động đào tạo, bao gồm: a) Đào tạo đại học, sau đại học chuyên ngành luật; b) Đào tạo Nghiệp vụ xét xử để tạo nguồn Thẩm phán; c) Đào tạo nghiệp vụ phục vụ công tác thi nâng ngạch Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; d) Phối với cơ quan chức năng, đào tạo nghiệp vụ phục vụ công tác thi nâng ngạch công chức khác trong các Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn, bao gồm: a) Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý Tòa án nhân dân các cấp; b) Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và phối hợp với các đơn vị chức năng của Tòa án nhân dân tối cao phổ biến kiến thức pháp luật mới cho các chức danh tư pháp; c) Bồi dưỡng cập nhật kiến thức pháp luật cho Hội thẩm Tòa án nhân dân; d) Bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ tổ chức cán bộ, kế hoạch tài chính, văn phòng, văn thư lưu trữ, thống kê tổng hợp.... cho cán bộ, công chức Tòa án nhân dân các cấp. 4. Tổ chức biên soạn, thẩm định, phát hành giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo và các tài liệu khác phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. 5. Xây dựng các chương trình, kế hoạch và giải pháp bảo đảm chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng; thường xuyên tự đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật và các yêu cầu của Tòa án nhân dân. 6. Cấp văn bằng, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật. 7. Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển kết quả nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và phục vụ hoạt động của Tòa án nhân dân. 8. Hợp tác, liên kết với các cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học theo chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và các chương trình, kế hoạch của Học viện. 9. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học. 10. Thực hiện chế độ tài chính, kế toán theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. 11. Sử dụng, quản lý cơ sở vật chất, tài sản, trang thiết bị, phương tiện được trang bị theo quy định của pháp luật và Tòa án nhân dân tối cao. 12. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. 13. Tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. 14. Giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của Học viện Tòa án; thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật. 15. Thực hiện chế độ thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về các lĩnh vực, nhiệm vụ thuộc chức năng của Học viện Tòa án theo quy định của pháp luật và quy định của Tòa án nhân dân tối cao. 16. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng nếp sống văn hóa, tạo môi trường sư phạm trong Học viện Tòa án. 17. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao. Khen thưởng Tham khảo Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b64e71efbb78 TITLE: Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Thanh_thi%E1%BA%BFu_ni%C3%AAn_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam ( tiếng Anh : Vietnam Youth Academy ) là một Học viện hệ Công lập đào tạo với vai trò bồi dưỡng tư cách đạo đức, lý luận chính trị cho thanh niên Việt Nam. Trường có 2 cơ sở tại Miền Bắc (tại Thủ đô Hà Nội ) và Miền Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh ). Học viện trực thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh . [ 1 ] [ 2 ] Địa chỉ Trụ sở chính: - Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam (cơ sở Miền Bắc): + Số 58 đường Nguyễn Chí Thanh , phường Láng Thượng , quận Đống Đa , thành phố Hà Nội , nước Việt Nam . Phân viện: - Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam phân viện Miền Nam: + Số 261 đường Hoàng Hữu Nam , phường Tân Phú , thành phố Thủ Đức , thành phố Hồ Chí Minh , nước Việt Nam . Thông tin liên hệ - Số điện thoại: 024 3834 3837, 098 977 0066 - Số fax: 024 3834 3239 - Email: daotao@vya.edu.vn - Website: www.vya.edu.vn - Số điện thoại: 028 35357069, 028 54480712 - Số fax: 028 38966914 - Email: pvmn.edu@gmail.com - Website: www.pvmn.edu.vn Lịch sử hình thành Đúng vào ngày 15 tháng 10 năm 1956, lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên của Trung ương Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam khai mạc, trở thành cột mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển mới của Đoàn. Từ đây, Đoàn thanh niên chính thức có một hệ thống đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ chuyên trách, đáp ứng đòi hỏi của phong trào thanh thiếu nhi cả nước. Nhìn lại chặng đường phấn đấu, xây dựng và trưởng thành gắn liền với thăng trầm của lịch sử dân tộc và lịch sử công tác Đoàn, phong trào thanh thiếu nhi cả nước có thể thấy được những dấu mốc lịch sử đáng ghi nhớ về Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam. Ngày 15 tháng 10 năm 1956, khai mạc lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên của Trung ương đoàn, trở thành thời điểm lịch sử đánh dấu sự ra đời của hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tập huấn cán bộ Đoàn. Thời kỳ 1956 - 1970, trường mang tên Trường Huấn luyện Cán bộ trực thuộc BCH Trung ương Đoàn với nhiệm vụ chủ yếu là mở các lớp ngắn hạn (từ 3 tháng đến 9 tháng), bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đoàn, Đội cho các tỉnh thành, đoàn phía bắc. Những cán bộ trẻ được tiếp cận với phương pháp, nghiệp vụ công tác thanh thiếu nhi có tính khoa học và hệ thống. Trở về cơ sở, họ áp dụng vàp thực tế công tác tại địa phương, góp phần thúc đẩy công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi ngày càng phát triển sôi động và hiệu quả hơn. Đến năm 1970, Trường Đoàn Trung ương ra đời, được Ban tuyên huấn Trung ương Đảng giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ Đoàn có trình độ chính trị trung cấp. Cũng năm đó, Trung ương Đoàn quyết định mở thêm phân hiệu của Trường Đoàn Trung ương tại Bắc Thái để đáp ứng yêu cầu đặc thù công tác Đoàn miền núi. Khi hai miền Việt Nam thống nhất, Trường Đoàn Trung ương II ra đời đặt tại Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh với nhiệm vụ là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Đội cho các tỉnh phía Nam. Năm 1982, sau nhiều năm thực hiện chương trình đào tạo cán bộ Đoàn trình độ chính trị Trung cấp, được phép của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trường thí nghiệm đào tạo hệ cao cấp 4 năm với chuyên ngành là lịch sử. Từ đó trường đổi tên thành Trường Đoàn cao cấp. Năm 1991, Trường đổi tên thành trường Cán bộ thanh thiếu niên Trung ương trên cơ sở hợp nhất cơ sở đào tạo tại Hà Nội và cơ sở đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh để phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và mở rộng nhiệm vụ đào tạo. Từ thời điểm này trường có thêm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam , Hội sinh viên Việt Nam . Năm 1995, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ chức lại hệ thống đào tạo, nghiên cứu và thông tin khoa học của Trung ương Đoàn. Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam được tổ chức lại dựa trên cơ sở hợp nhất 3 thành viên là: Trường cao cấp thanh niên, Viện nghiên cứu thanh niên, Phân viện miền Nam. Trường có tên chính thức là Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam vào tháng 8 năm 1995. [ 3 ] Năm 2001, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã trình Bộ chính trị phê duyệt đề án hoàn thiện Bộ máy tổ chức của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam theo hướng thống nhất quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, thông tin khoa học về các vấn đề thanh thiếu nhi, phục vụ đắc lực hơn cho công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi cả nước. Từ năm 2001 đến nay, Trung ương Đoàn và Học viện đã tập trung đầu tư và nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng nhiên cứu và phục vụ, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện chương trình đào tạo, từng bước đưa Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam hoà nhập vào hệ thống giáo dục Đại học quốc dân. Sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị cốt lõi Sứ mệnh: Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn, cung cấp nguồn cán bộ có chất lượng cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và hệ thống chính trị; đào tạo đại học , sau đại học cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội; nghiên cứu, cung cấp các luận cứ về khoa học và thực tiễn cho Trung ương Đoàn quyết định các chủ trương về công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. Tầm nhìn: Đến năm 2045, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo đại học trong nhóm đầu, có uy tín ở Việt Nam; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn, lãnh đạo trẻ có chất lượng cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh , hệ thống chính trị và đáp ứng nguồn nhân lực của xã hội; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và tính ứng dụng trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng. Giá trị cốt lõi: Chất lượng - Tiên phong - Sáng tạo Đào tạo Các khoa Các ngành Thành tích Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 988b08dddd37 TITLE: Học viện Phụ nữ Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Học viện Phụ nữ Việt Nam là cơ sở giáo dục đại học công lập được thành lập theo Quyết định 1558/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ . [ 2 ] Kế thừa sự phát triển lịch sử 60 năm với tên gọi cũ là Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương , Học viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, cán bộ nữ cho hệ thống chính trị. [ 3 ] Lịch sử hình thành Ngày 8 tháng 3 năm 1960, Ban Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPNVN) ra Quyết nghị thành lập Trường Phụ vận Trung ương , với chức năng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ của Hội LHPNVN các cấp và cán bộ làm công tác Phụ vận ở các ngành. Nhiệm vụ của trường là nâng cao trình độ lý luận và nhận thức tư tưởng cho học viên về cách mạng xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội kịp thời đáp ứng tình hình nhiệm vụ trung tâm của Đảng và phong trào phụ nữ. [ 4 ] Ngay sau khi có nghị quyết thành lập, bộ máy tổ chức và cán bộ Trường cũng đã được thành lập với hơn 10 người, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn và Ban Thường trực Hội LHPNVN. Ban phụ trách, cán bộ, công nhân viên của Trường được điều động từ các Ban của Trung ương Hội và các địa phương. Trong khi chưa có địa điểm, Ban phụ trách trường đã mượn Trường Trung cấp Nông nghiệp Trung ương (tại thị trấn Văn Điển , Thanh Trì , Hà Nội ) làm địa điểm để tổ chức khóa học đầu tiên, khai giảng vào ngày 20 tháng 5 năm 1960 với tổng số 126 học viên. Đến cuối năm 1961, trường đã mở được 2 khóa học. Năm 1962, Trường được Nhà nước cho phép xây dựng địa điểm tại phường Láng Thượng , quận Đống Đa , Hà Nội . Sau khi hoàn thành việc xây dựng cơ sở vật chất, trường bắt đầu kiện toàn bộ máy tổ chức bao gồm Ban lãnh đạo, bộ phận nội dung và bộ phận phục vụ. Từ một tổ Đảng, trường đã thành lập một chi bộ Đảng trực thuộc Đảng uỷ cơ quan Trung ương Hội LHPNVN và thành lập tổ công đoàn trực thuộc Công đoàn cơ quan Trung ương Hội LHPNVN. Tháng 4 năm 1962, khóa học đầu tiên theo chương trình dài hạn với nội dung học là Lý luận chính trị và nghiệp vụ phụ vận dã được khai giảng. Năm 1964, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng và phong trào phụ nữ, Ban Thường trực Trung ương Hội LHPNVN quyết định đổi tên Trường Phụ vận Trung ương thành Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Hội các cấp. Việc điều hành và quản lý trường thời kỳ này do hai cán bộ lãnh đạo Hội LHPNVN phụ trách. Trường đã thành lập phòng Tổ chức cán bộ, hành chính quản trị, phân hiệu bổ túc văn hoá và bộ phận nội dung. Thời kỳ này, bộ phận nội dung đã thành lập được các tổ bộ môn gồm triết học , kinh tế chính trị , lịch sử Đảng, đường lối chính sách, quản lý kinh tế, phụ vận. Đây chính là tiền đề cho việc thành lập các khoa chuyên môn sau này. Từ năm 1960-1964, trường đã tổ chức được 4 khóa đào tạo, bồi dưỡng với tổng số học viên là 600 người, trong đó có 301 học viên lớp dài hạn. Giai đoạn từ năm 1964-1975 là thời kỳ củng cố và phát triển của trường. Năm 1965, bộ máy của trường được củng cố và kiện toàn. Ban giám đốc bao gồm 3 đồng chí, trong đó có 1 đồng chí giám đốc và 2 đồng chí phó giám đốc. Cùng với đó, các tổ bộ môn được hình thành, bao gồm tổ chính sách, tổ Triết học, tổ Kinh tế, tổ Phụ vận cùng với các phòng như Hành chính quản trị, thư viện. Cũng trong giai đoạn này, để đáp ứng tình hình cách mạng và nhu cầu đào tạo cán bộ miền Nam, trường Lê Thị Riêng đã được thành lập vào ngày 8 tháng 3 năm 1969. Đến năm 1971, bộ máy tổ chức ngày càng được hoàn thiện để thực hiện chương trình đào tạo lý luận trung cấp. Từ các tổ bộ môn, trường đã hình thành các khoa: Triết học, kinh tế chính trị và quản lý kinh tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng và xây dựng Đảng, nghiệp vụ phụ vận. Đội ngũ cán bộ giáo viên của trường ngày càng tăng cường về chất lượng khi cán bộ từ các trường lý luận chính trị của Bộ Giáo dục và Ban Tuyên huấn Trung ương được tăng cường bổ sung. Trong thời gian này, tình hình chiến tranh phá hoại của Mỹ diễn ra ác liệt, trường đã tổ chức đi sơ tán để bảo toàn lực lượng. Cán bộ, công nhân viên của trường đã khắc phục khó khăn, nguy hiểm thực hiện đào tạo tại chỗ, kịp thời đáp ứng nhu cầu huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ tại địa phương. Trường đã tổ chức 2 khóa huấn luyện ở Việt Bắc và một lớp bồi dưỡng ở Hòa Bình. Năm 1972, Ngoài việc đào tạo cán bộ Hội phụ nữ trong nước, trường đã tổ chức huấn luyện cho 133 cán bộ phụ nữ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào . Nhiều học viên của Lào tham dự các khóa bồi dưỡng tại trường sau này đã giữ cương vị chủ chốt lãnh đạo phong trào phụ nữ Lào từ Trung ương đến địa phương. Trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ và năng lực, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ giáo viên và công nhân viên của Trường cũng không ngừng được xây dựng, củng cố và phát triển. Trường đã thành lập thêm Phòng Tổ chức - Giáo vụ. Tổng số cán bộ giáo viên của trường lúc này lên đến 60 người. Năm 1984, trường Lê Thị Riêng được đổi tên thành Trường Cán bộ Phụ nữ Phân hiệu II với bộ máy tổ chức gồm Ban giám đốc và 2 bộ phận là Hành chính quản trị và Tổ chức cán bộ, với tổng số 29 cán bộ công nhân viên. Khoảng thời gian tiếp theo, trường tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức để nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ, hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng tinh gọn và hiệu quả Năm 2000, trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương và trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương II được sáp nhập thành Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương. Từ tháng 7 năm 2002, thực hiện Nghị quyết đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, với sự chỉ đạo trực tiếp của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội LHPNVN, trường đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Học viện Phụ nữ Việt Nam . Để đưa các hoạt động đào tạo đi vào nề nếp và mang tính chuyên nghiệp, phòng Đào tạo đã được thành lập. Nhằm chuẩn bị các điều kiện thành lập Học viện Phụ nữ Việt Nam, thống nhất hoạt động đào tạo và nghiên cứu, tháng 5 năm 2004, Trung ương Hội LHPNVN đã quyết định sáp nhập Ban Nghiên cứu thuộc Trung ương Hội LHPNVN về trường và thành lập Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ trực thuộc trường. Bộ máy tổ chức lúc này bao gồm Ban Giám đốc (gồm 1 đồng chí giám đốc, 1 phó giám đốc phụ trách hành chính - quản trị, 1 phó giám đốc phụ trách Nghiên cứu, 1 phó giám đốc phụ trách Đào tạo và 1 phó giám đốc phụ trách điều hành các hoạt động của Phân hiệu) và 8 đơn vị trực thuộc: khoa Lý luận Mác-Lê Nin, khoa Nghiệp vụ Phụ vận, khoa Quản trị kinh doanh; phòng Tổ chức - Hành chính, phòng Đào tạo, Phân hiệu trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương, Trung tâm Đào tạo & Nâng cao năng lực Phụ nữ và Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ. Trình độ của đội ngũ cán bộ, giảng viên trường đã nâng lên vượt trội so với trước. Ngày 3 tháng 3 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành công văn số 380/TTg-KGVX phê duyệt chủ trương thành lập Học viện Phụ nữ Việt Nam trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương . [ 5 ] Với nỗ lực không ngừng đổi mới, đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đào tạo, nghiên cứu, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó, từng bước đáp ứng yêu cầu của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập thì vào ngày 8 tháng 3 năm 2010, Trường Cán bộ Phụ nữ TW đã được đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì. Ngày 18/10/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1558-TTg về việc thành lập Học viện Phụ nữ Việt Nam trên cơ sở nâng cấp Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương. Ngày 27/3/2013, Bộ Giáo dục Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BGDĐT cho phép Học viện phụ nữ Việt Nam đào tạo các ngành có trình độ Đại học. Đến tháng 7/2013, Học viện phụ nữ Việt Nam có 3 khoa: Khoa Công tác Xã hội (tiền thân là Công tác Phụ nữ), Khoa Quản trị Kinh doanh, Khoa Khoa học Cơ bản; Viện Nghiên cứu Phụ nữ (Tiền thân là Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ); 3 trung tâm: Trung tâm Đào tạo nâng cao năng lực Phụ nữ (Cet-caw), Trung tâm bồi dưỡng cán bộ, Trung tâm Công nghệ - Thông tin và Thư viện; 3 phòng: Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Đào tạo, Phòng Hợp tác Quốc tế và 1 Phân hiệu Học viện Phụ nữ Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số cán bộ, giảng viên của Học viện phụ nữ Việt Nam là 92 người; trong đó đã có 10 Tiến sỹ; 4 nghiên cứu sinh; 28 Thạc sỹ, 50 Cử nhân... Sau 7 năm đào tạo đại học, hiện nay Học viện Phụ nữ Việt Nam đang đào tạo trên 2000 sinh viên đến từ mọi miền tổ quốc tham gia học tại 6 chuyên ngành: Công tác Xã hội, Quản trị Kinh doanh, Luật, Giới & phát triển, Quản trị du lịch và lữ hành, Truyền thông đa phương tiện. Năm 2019, Học viện Phụ nữ Việt Nam được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh và Công tác xã hội. Hiện nay, Học viện Phụ nữ Việt Nam đang tiếp tục tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ khóa 2. Năm 2019, Tổ chức quốc tế BVQA đã ký Quyết định cấp giấy chứng nhận Hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 cho Học viện Phụ nữ Việt Nam. Ngày 8/3/2020 Học viện Phụ nữ Việt Nam sẽ kỷ niệm 60 năm truyền thống vẻ vang của đơn vị tiền thân là Trường Phụ vận Trung ương. Năm 2020, Học viện Phụ nữ Việt Nam được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục (CSGD) của Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục (CSGD) của Việt Nam theo hướng tiếp cận Bộ tiêu chuẩn của AUN-QA - tương thích với bộ tiêu chuẩn của Mỹ và châu Âu - đã được các nước ASEAN chấp nhận để sử dụng thống nhất trong Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN). Ngày 18/10/2022, Học viện Phụ nữ Việt Nam kỉ niệm 10 năm thành lập Học viện với những phát triển vượt bậc về quy mô đào tạo (tăng từ 2 ngành đào tạo đại học ban đầu lên 10 ngành đào tạo; mở thêm hệ đào tạo Chất lượng cao và hệ Liên kết quốc tế đối với ngành QTKD; Đào tạo Thạc sĩ ngành CTXH và QTKD); Số lượng sinh viên đào tạo hàng năm tăng từ 300 (2013) lên đến gần 5000; Số lượng giảng viên từ hơn 100 tăng lên tren 200; Điều kiện cơ sở vật chất được đầu tư mở rộng thêm tại Huyện Gia Lâm... Năm 2025, Học viện Phụ nữ Việt Nam tuyển sinh 2.100 chỉ tiêu cho 12 ngành đại học chính quy bao gồm: Ngành Quản trị kinh doanh; Luật; Luật kinh tế; Công nghệ thông tin; Công tác xã hội; Giới và phát triển; Quản trị Dịch vụ Du lịch và lữ hành; Truyền thông đa phương tiện; Kinh tế; Tâm lý học; Kinh tế số; Marketing. Mục tiêu và đào tạo Mục tiêu Kế thừa sự phát triển hơn 60 năm của trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương, Học viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức: Chương trình đào tạo Hoạt động nghiên cứu Các hoạt động nghiên cứu của trường bao gồm: [ 6 ] Kết quả là, trường đã thực hiện được 58 công trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở.... Ngoài ra còn tham gia biên soạn trên 20 đầu sách về giới, phụ nữ, phong trào phụ nữ, gia đình và các vấn đề xã hội, tài liệu truyền thông Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ của Hội đồng Liên hợp quốc ... Các đơn vị hợp tác Cơ sở vật chất Trụ sở chính của trường Học viện Phụ nữ Việt Nam có địa chỉ tại Số 68 Nguyễn Chí Thanh - Hà Nội, có diện tích là 9.147 m2. Hiện nay, Trường đang tiến hành dự án nâng cấp, mở rộng cơ sở tại 68 Nguyễn Chí Thanh với công trình xây dựng khu ký túc xá và giảng đường cao 15 tầng trên khuôn viên 1.000 m2. Học viện đang bước vào giai đoạn 1 xây dựng cơ sở tại Gia Lâm, Hà Nội để mở rộng cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu Quyết định 07 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 15 tháng 1 năm 2009. Phân hiệu của Trường tại đường 9/10, phường Phước Bình, TP Hồ Chí Minh có diện tích gần 6.000m2. Vào cuối năm 2011, khu học tập và làm việc cao 4 tầng có tổng diện tích sàn gần 8.000m2 đã được đưa vào sử dụng. Trang thiết bị cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu tương đối đầy đủ với trên 250 máy tính, máy chiếu và hơn 1.700 đầu sách với tổng số khoảng 10.500 cuốn các loại. [ 6 ] Cơ cấu tổ chức Thành tích Xem thêm Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 28c8cb4bdb45 TITLE: Học viện Khoa học Xã hội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Khoa_h%E1%BB%8Dc_X%C3%A3_h%E1%BB%99i [CONTENT] Học viện Khoa học Xã hội (tên giao dịch quốc tế: Graduate Academy of Social Sciences , GASS) được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 10/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ . Học viện Khoa học xã hội là cơ sở giáo dục, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, có chức năng và nhiệm vụ chính sau đây: Học viện Khoa học xã hội hoạt động theo Quy chế tổ chức và hoạt động do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ban hành, phù hợp với Điều lệ trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ . Cơ cấu tổ chức Ban lãnh đạo Ban Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội gồm Giám đốc và các Phó Giám đốc : [ 1 ] Các phòng ban Học viện Khoa học xã hội bao gồm các Đơn vị chức năng; các Khoa và Bộ môn; các Trung tâm và các Cơ sở khác. Các Khoa Đào tạo [1] Tiến sĩ Các ngành, chuyên ngành đào tạo: Thạc sĩ Các ngành, chuyên ngành đào tạo: Các ấn phẩm tạp chí [ 2 ] Hợp tác trong nước và quốc tế Đào tạo Thạc sĩ Kinh tế quốc tế liên kết với Trường ĐH Paris - Dauphine (Pháp). Đào tạo Thạc sĩ Công Tác Xã hội liên kết với Học viện Xã hội Châu Á (ASI) (Chương trình liên kết với Phi-lip-pin). Học viện Khoa học xã hội đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Mở Hà Nội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Dân tộc , Học viện Tư pháp,.v.v. Học viện Khoa học xã hội đã ký thỏa thuận hợp tác với Đại học Angelo State, Texas, Mỹ; trao đổi Thỏa thuận hợp tác với Trường Đại học Nantes (Pháp); ký kết và trao đổi Thỏa thuận về hợp tác khoa học quốc tế với Trường Đại học Quốc gia Chelybinsk (Liên Bang Nga); ký kết Biên bản Thỏa thuận ghi nhớ giữa Học với Trường Đại học Quốc tế Nhật Bản (International University of Japan – IUJ); thỏa thuận hợp tác với Viện nhân quyền và Luật nhân đạo Wallenberg, Đại học Lund, Thụy Điển; thỏa thuận hợp tác với Trường Đại học Tampera, Phần Lan; thỏa thuận hợp tác với Trung tâm Nhân quyền Na Uy, Khoa luật, Đại học Oslo về Quyền con người và Phát triển bền vững; ký Biên bản Thoả thuận hợp tác với Trường Chang Jung Christian University (Đài Loan); ký thỏa thuận hợp tác mới Viện chủ nghĩa Mác, Đại học Sư phạm Quảng Tây (Trung Quốc).v.v. Xem thêm Chú thích Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 996d67b7cddb TITLE: Trường Đại học Kiểm sát SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ki%E1%BB%83m_s%C3%A1t [CONTENT] Trường Đại học Kiểm sát là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trực thuộc Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao . [ 1 ] Hiện tại, trường đào tạo hai ngành đại học là Luật học và Luật kinh tế, [ 2 ] hai ngành sau đại học là Luật và Luật hình sự và tố tụng hình sự. [ 3 ] Lịch sử Ngày 21/4/1970, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã ký Quyết định số 62/QĐ-TC về tổ chức bộ máy của VKSND tối cao, trong đó có Trường Bổ túc và đào tạo cán bộ kiểm sát (Ngày 12/10/1964 đồng chí Hoàng Quốc Việt đã ký Quyết định thành lập Trường Cán bộ kiểm sát trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao). [ 4 ] Quyết định này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 900/NQ-UBTVQH ngày 25/4/1970, ngày 25/4 hàng năm được coi là ngày truyền thống của Trường. Có thể chia quá trình xây dựng và phát triển của trường thành 4 giai đoạn: Ngày 24/04/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 614/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Ngày 07/02/2025, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Quyết định số 01 trong đó sáp nhập trường Đại học Kiểm sát Hà Nội với trường Bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát, lấy tên là trường Đại học Kiểm sát. [ 5 ] Cơ cấu tổ chức Bộ máy của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội gồm có: Thông tin liên hệ Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: cc37d648ba0f TITLE: Trường Đại học Dầu khí Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_D%E1%BA%A7u_kh%C3%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Trường Đại học Dầu khí Việt Nam ( tiếng Anh : PetroVietnam University , viết tắt: PVU ) là một trường đại học đào tạo chuyên ngành dầu khí tại Việt Nam, do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) làm chủ đầu tư. Trong năm 2025, Ban Thường vụ Đảng ủy Petrovietnam thống nhất phương án hợp nhất các đơn vị nghiên cứu khoa học và đào tạo của Tập đoàn (bao gồm: Viện Dầu khí Việt Nam-VPI, Trường Đại học Dầu khí Việt Nam-PVU, Trường Cao đẳng Dầu khí-PV College) thành Trường Đại học Công nghệ Năng lượng Quốc gia hoặc Học viện Công nghệ Năng lượng Quốc gia. [ 1 ] Giới thiệu về Trường Ngày 25 tháng 11 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 2157/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Dầu khí Việt Nam. [ 2 ] Theo quyết định này, PVU là trường đại học công lập đặc biệt, do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ( nay đổi tên là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam) làm chủ đầu tư và chi trả phần lớn chi phí duy trì hoạt động, không nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. . Ngày 06 tháng 04 năm 2020, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - Hiệp hội các Trường đại học, cao đẳng Việt Nam trao Chứng nhận Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục cho Trường Đại học Dầu khí Việt Nam chu kỳ 1. Tiếp đó, vào ngày 21 tháng 4 năm 2025, nhà trường được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục chu kỳ 2 , tiếp tục do Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Hiệp hội các Trường đại học, cao đẳng Việt Nam đánh giá và cấp chứng nhận. Ngày 30 tháng 08 năm 2022, 3 ngành đào tạo Kỹ sư: Kỹ thuật Địa chất , Kỹ thuật Dầu khí và Kỹ thuật Hóa học của PVU được tổ chức ABET (Hoa Kỳ) công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng ABET ( Xem kết quả trên website của ABET Lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2022 tại Wayback Machine . Nguồn tin khác: [ 3 ] Chương trình đào tạo Các ngành đào tạo Kỹ sư - Hệ đại học chính quy: Kỹ sư Kỹ thuật dầu khí ; Kỹ sư Kỹ thuật hóa học ; Kỹ sư Kỹ thuật địa chất (Địa chất & Địa vật lý dầu khí) - Hệ liên kết Du học với Học viện Mỏ và Công nghệ New Mexico (Hoa Kỳ): Kỹ thuật Hóa học; Kỹ thuật Dầu khí; Khoa học trái đất/Địa chất Dầu khí. Các ngành đào tạo Thạc sĩ - Ngành Công trình biển (Offshore Engineering) . - Ngành Kỹ thuật Địa chất (Địa chất – Địa vật lý dầu khí). - Ngành Kỹ thuật Dầu khí (Khoan – Khai thác dầu khí) . - Ngành Kỹ thuật Hóa học (Lọc – hóa dầu). Cơ sở vật chất Các phòng học đều được trang bị hệ thống âm thanh, máy chiếu, máy điều hòa nhiệt độ cùng hệ thống wifi phủ sóng toàn trường. Hiện nay, PVU đã đầu tư hệ thống Phòng thí nghiệm hiện đại, với hơn 20 PTN thuộc các khối đại cương, kỹ thuật cơ sở và chuyên ngành. Phục vụ cho việc học tập còn có phòng máy tính thực hành và thi trắc nghiệm, 02 phòng E-Learning, và 02 phòng mô phỏng được cài đặt các phần mềm chuyên ngành do các đối tác nước ngoài như Intergraph, Schlumberger, Baker Hughes... tài trợ. Trung tâm xử lý và minh giải địa chất với lượng lớn các máy trạm tốc độ cao và lưu trữ dữ liệu lớn phục vụ xử lý và tính toán dữ liệu. Thư viện của Trường cũng được trang bị bàn ghế chuyên dụng, máy tính có nối mạng internet, máy scan, máy photocopy để phục vụ nhu cầu tìm kiếm thông tin, sách và nhu cầu tự học của sinh viên. Nguồn tài nguyên học tập của Thư viện rất đa dạng, bao gồm sách, tạp chí, luận văn, luận án, kỷ yếu hội nghị, hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học, tài liệu điện tử...có nội dung phù hợp với các chuyên ngành đang được đào tạo tại Trường. Ngoài ra, Sinh viên Trường còn có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu điện tử của các nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới như Springer Link, ProQuest Central, Science Direct, ... và kết nối với nguồn học liệu miễn phí của các Trường Đại học khác trên thế giới thông qua Cổng thông tin thư viện của Trường. Ký túc xá PVU đáp ứng 100% nhu cầu ở của sinh viên, đặc biêt miễn phí hoàn toàn, với đầy đủ các khu vực phụ trợ như căn tin, phòng bóng bàn, sân thể thao, sân bóng chuyền, sân bóng đá, phòng tập gym, ... Các đơn vị liên kết Học viện Mỏ và Công nghệ New Mexico (NMT), Mỹ. [ 4 ] Đại học Công nghệ Delft (Hà Lan). [ 5 ] (đã hết thời hạn dự án tài trợ) Đại học Dầu khí Ploieşti (Rumani). [ 6 ] Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a6e0e1b43dbf TITLE: Trường Đại học Thủ đô Hà Nội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%E1%BB%A7_%C4%91%C3%B4_H%C3%A0_N%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Thủ đô Hà Nội ( tiếng Anh : Hanoi Metropolitan University ) là trường đại học công lập đầu tiên do UBND thành phố Hà Nội trực tiếp quản lý thành lập ngày 31 tháng 12 năm 2014. Lịch sử hình thành Ngày 31/12/2014 Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định thành lập Trường Đại học Thủ đô Hà Nội trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. [ 1 ] [ 2 ] Năm học đầu tiên của trường (1959-1960) có 05 lớp đào tạo giáo viên cấp I, hệ 7+1 và 05 lớp bồi dưỡng giáo viên cấp I toàn cấp, 02 lớp đào tạo giáo viên cấp II (01 lớp Tự nhiên, 01 lớp Xã hội), đầu vào là học sinh đã học xong lớp 10/10 phổ thông. Năm học 1962 – 1963, Bộ Giáo dục cho phép trường đào tạo thí điểm giáo viên cấp II hệ 10+1 với đầu vào là học sinh tốt nghiệp lớp 10 phổ thông (hệ phổ thông 10 năm). Số lượng đào tạo khóa đầu là 150 sinh viên được chia làm ba ban: Văn – Sử, Toán – Lí, Hóa – Sinh – Địa. Cùng với việc đào tạo chính quy, Trường mở hệ đào tạo giáo viên cấp II tại chức hệ 7+2 cho các giáo viên cấp I lên trình độ Sư phạm trung cấp. Ngoài ra, Trường mở 2 lớp bồi dưỡng Hiệu trưởng cấp I có trình độ tương đương giáo viên cấp II. Kết thúc năm học 1962 – 1963, Trường chấm dứt tuyển sinh cho hệ đào tạo 7+2, chuyển hoàn toàn sang hệ đào tạo 10+1. Ngày 26/12/2016, UBND Thành phố Hà Nội đã có quyết định sáp nhập Trường TC Kinh tế – Kĩ thuật đa ngành Sóc Sơn vào Trường ĐH Thủ đô Hà Nội. Trường ĐH Thủ đô Hà Nội trở thành trường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đa ngành, đa lĩnh vực có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học tổ chức các hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu xã hội và các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ công tác đào tạo phát triển Nhà trường theo mục tiêu xác định, đúng quy định của pháp luật. [ 3 ] Đào tạo Trình độ đại học Trình độ sau đại học Thành tích Một số hoạt động nổi bật Chậm chi trả trợ cấp sinh hoạt cho hàng trăm sinh viên sư phạm Tham khảo Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 3a5436d26e8d TITLE: Trường Đại học Sài Gòn SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C3%A0i_G%C3%B2n [CONTENT] Trường Đại học Sài Gòn là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh , được thành lập theo Quyết định số 478/QĐ-TTg [ 3 ] ngày 25/04/2007 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh . Với truyền thống đào tạo Sư phạm lâu đời, trường Đại học Sài Gòn được coi là một trong các trường đào tạo ngành Sư phạm tốt nhất, cung ứng nguồn nhân lực ngành giáo dục cho Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía nam. Lịch sử hình thành Ngày 09 tháng 2 năm 1972, Trường Sư phạm cấp II miền Nam Việt Nam được thành lập ở Chiến khu C , huyện Tân Biên , tỉnh Tây Ninh . [ 4 ] Tháng 5 năm 1975, Trường Sư phạm cấp II miền Nam Việt Nam được chuyển về Sài Gòn và tiếp quản Trường Sư phạm Sài Gòn. Tháng 10 năm 1975, trường tổ chức thi tuyển sinh khóa đầu tiên. Ngày 03 tháng 9 năm 1976, thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở Trường Sư phạm cấp II miền Nam Việt Nam theo quyết định số 1784/QĐ của Thủ tướng Chính phủ. [ 5 ] [ 6 ] Ngày 03 tháng 11 năm 1976, Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai được thành lập và trực thuộc Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 2317/QĐ của Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ngày 29 tháng 4 năm 1979, Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai được tách ra và chuyển về Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai quản lí theo công văn liên bộ Tài chính - Giáo dục số 97/TT-LB. Ngày nay trường này là Trường Đại học Đồng Nai . Năm 1992, Trường Sư phạm Kỹ thuật phổ thông được sáp nhập vào trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1999, sáp nhập trường Trung học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Năm 2007, sáp nhập thêm hai trường Trung học Sư phạm Mầm non và Quản lý giáo dục. [ 4 ] Từ cuối năm 2003, bắt đầu quá trình nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thành trường Đại học Sài Gòn. [ 7 ] Ngày 25 tháng 4 năm 2007 , Trường Đại học Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 478/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. [ 8 ] Các cơ sở đào tạo Cơ sở chính Cơ sở chính của trường tại địa chỉ số 273 An Dương Vương , Phường Chợ Quán, Thành phố Hồ Chí Minh , vốn là cơ sở cũ của Bác ái Học viện trước năm 1975 . Công trình này được xây dựng từ năm 1908 với sự pha trộn giữa kiến trúc Pháp và kiến trúc Trung Hoa . Đây được xem là ngôi trường đại học đẹp và cổ kính nhất Thành phố Hồ Chí Minh. [ 9 ] Ngày 18/3/2025, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng cơ sở này là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo Quyết định 1027/QĐ-UBND ban hành ngày 18/3/2025. Hiện nay, các đơn vị phòng, ban chức năng và trung tâm của Trường được đặt ở cơ sở này cùng với văn phòng các khoa: Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Khoa Khoa học Xã hội và Nghệ thuật, Khoa Luật, Khoa Toán - Ứng dụng, Khoa Ngoại ngữ, Khoa Văn hóa và Du lịch, Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa Giáo dục Chính trị, Khoa Giáo dục, Khoa Giáo dục Tiểu học. Cơ sở 1 Địa chỉ: 105 Bà Huyện Thanh Quan , Phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh . Gồm văn phòng các khoa: Khoa Tài chính - Kế toán, Khoa Quản trị Kinh doanh. Cơ sở 2 Địa chỉ: Số 4 Tôn Đức Thắng , Phường Sài Gòn , Thành phố Hồ Chí Minh. Gồm có văn phòng Khoa Giáo dục Mầm non. Trường Tiểu học Thực hành Đại học Sài Gòn: 18 - 20 Ngô Thời Nhiệm, Phường Xuân Hoà, TP. Hồ Chí Minh. Trường Trung học Thực hành Sài Gòn: 220 Trần Bình Trọng , Phường Chợ Quán (Trường THCS và THPT). Các ngành đào tạo Các ngành bậc đại học hệ chính quy Các ngành đào tạo sau đại học Liên kết ngoài Tham khảo Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c2508e4887e5 TITLE: Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_khoa_Ph%E1%BA%A1m_Ng%E1%BB%8Dc_Th%E1%BA%A1ch [CONTENT] Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch là một trường đại học chuyên ngành y khoa tại Việt Nam . Trường được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 24/QĐ-TTg ban hành ngày 7 tháng 1 năm 2008 . [ 1 ] Trường chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh , sự quản lý nghiệp vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sự quản lý chuyên môn của Bộ Y tế . Trường được thành lập trên cơ sở Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố Hồ Chí Minh . Người đặt nền móng và sáng lập trường là Viện sĩ, Tiến sĩ, Bác sĩ Dương Quang Trung . Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo các thế hệ bác sĩ y khoa thuộc các chuyên khoa và đa khoa, nhằm cung cấp nguồn nhân lực ngành y cho Thành phố Hồ Chí Minh . Hiện nay, trường tuyển sinh trong cả nước cũng như nhận sinh viên quốc tế từ Lào và Campuchia . Lịch sử Ngày 15 tháng 3 năm 1989, với Quyết định số 59/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố Hồ Chí Minh được phép thành lập. Trung tâm nằm trong hệ thống các trường đại học Việt Nam và đảm nhận công tác đào tạo điều dưỡng trung cấp, nữ hộ sinh và dược tá. Tháng 9 năm 1989, Trung tâm sáp nhập thêm cơ sở 520 Nguyễn Tri Phương (do Học viện Quân y chuyển giao), bắt đầu giảng dạy niên khóa đầu tiên. Ngày 7 tháng 1 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 24/QĐ-TTg đổi tên Trung tâm thành Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Đào tạo Từ tháng 12 năm 2025, Trường được phép đào tạo ngành Tổ chức quản lý dược trình độ thạc sĩ. [ 2 ] Truyền thống Lễ tri ân người hiến xác - Macchabée Hằng năm, trường tổ chức lễ tri ân người hiến xác, gọi là lễ Macchabée, là dịp để sinh viên năm nhất bày tỏ sự biết ơn với thân nhân người hiến xác. Các xác sau khi xử lý được sử dụng phục vụ nghiên cứu và thực hành phẫu tích, học giải phẫu. Thi hài được khâu lại, phủ khăn trắng, choàng hoa và xếp thẳng hàng. Sinh viên trang trí phòng học với đèn, hoa, tạo không gian trang nghiêm. Bộ môn Giải phẫu gửi thiệp mời thân nhân tham dự. Bài hát truyền thống Bài hát truyền thống của trường là " Hành khúc Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ": [ 3 ] Thành tích Quan hệ quốc tế Trường hợp tác quốc tế nổi bật: Ban Giám đốc & Ban Giám hiệu Trường đã trải qua hai giai đoạn: [ 6 ] Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế Thành phố Hồ Chí Minh (1989–2004) Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Phó giám đốc: ThS.BS Nguyễn Thế Dũng Phó Hiệu trưởng: ThS.BS Nguyễn Thế Dũng , PGS.TS.BS Phạm Đăng Diệu Phó Hiệu trưởng: PGS.TS.BS Phạm Đăng Diệu , PGS.TS.BS Ngô Minh Xuân , PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Hiệp Phó Hiệu trưởng: PGS.TS.BS Phạm Đăng Diệu , PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Hiệp Phó Hiệu trưởng: PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Hiệp , TS.BS Phan Nguyễn Thanh Vân Phó Hiệu trưởng: TS.BS Phan Nguyễn Thanh Vân Ngày 12 tháng 5 năm 2025, UBND TP.HCM công bố quyết định của chủ tịch UBND TP.HCM phân công PGS.TS.DS Nguyễn Đăng Thoại phụ trách lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động, thực hiện các giao dịch tài chính và thực hiện nhiệm vụ của hiệu trưởng Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đến khi có quyết định bổ nhiệm hiệu trưởng nhà trường theo quy định. [ 7 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9d79372ad79f TITLE: Trường Đại học Thủ Dầu Một SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%E1%BB%A7_D%E1%BA%A7u_M%E1%BB%99t [CONTENT] Trường Đại học Thủ Dầu Một ( tiếng Anh : Thu Dau Mot University) là một trường đại học đa ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh , Việt Nam được thành lập theo quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 24/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ. [ 1 ] Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c526339965d3 TITLE: Trường Đại học Hải Phòng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A3i_Ph%C3%B2ng [CONTENT] Trường Đại học Hải Phòng ( tiếng Anh : Haiphong University ), được thành lập tại Hải Phòng năm 1959 với tên cũ là Phân hiệu Trường Đại học Tại chức Hải Phòng. Năm 2000 , Trường Đại học Tại chức Hải Phòng sáp nhập với một số cơ sở đào tạo chuyên nghiệp khác của Hải Phòng thành Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng. Ngày 9 tháng 4 năm 2004 , Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 60/2004/QĐ-TTg, đổi tên Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng thành Trường Đại học Hải Phòng. Quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học Hải Phòng ngày nay là sự hợp thành từ nhiều trường trong hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng ở Hải Phòng mà đơn vị tiền thân đầu tiên là Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng được thành lập theo Nghị định số 359-NĐ, ngày 22 tháng 7 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về việc thành lập các trường sư phạm trung cấp ở các tỉnh, liên tỉnh. Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 cho các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Kiến An (nay là thành phố Hải Phòng), Hồng Quảng và Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh). Sau khi thành lập, nhà trường đã tập trung làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông, góp phần tích cực cho quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục ở các địa phương trong những năm đầu của công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Hải Phòng đã hình thành từ các trường đào tạo và bồi dưỡng sư phạm theo các cấp học từ bậc sơ cấp, trung cấp, 10+1, 10+2, 10+3 tới cao đẳng. Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường Đại học Sư phạm Hải Phòng trên cơ sở sáp nhập Trường Cao đẳng sư phạm Hải Phòng, Trường Đại học tại chức Hải Phòng, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và Bồi dưỡng giáo viên Hải Phòng và Trung tâm Ngoại ngữ Hải Phòng. Ngày 09 tháng 4 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 60/2004/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng thành Trường Đại học Hải Phòng. Các ngành đào tạo bậc Đại học, Cao đẳng Đại học Sư phạm Kỹ thuật Kinh tế - Quản trị kinh doanh Ngôn ngữ Văn hóa - Xã hội DU LỊCH - Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành Cao đẳng Sư phạm Ngoài sư phạm Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 10 năm 2017, trường có 462 giảng viên. Trong đó có 5 phó giáo sư ,68 tiến sĩ , 321 thạc sĩ và 70 giảng viên có trình độ đại học . [ 1 ] Chất lượng đầu ra thực tế * Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp. [ 2 ] * Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này. Cơ sở vật chất Trường Đại học Hải Phòng gồm có 3 cơ sở, cơ sở trung tâm đặt tại quận Kiến An, 2 cơ sở khác đặt tại quận Ngô Quyền. 1. Số 171 đường Phan Đăng Lưu, Quận Kiến An, Hải Phòng: Cơ sở trung tâm. Đây là khu vực gồm văn phòng nhà trường: Ban giám hiệu, các phòng, ban, trạm, văn phòng các khoa khoa học cơ bản, các khoa sư phạm, ngoại ngữ, giảng đường, thư viện trung tâm và ký túc xá sinh viên. Diện tích quy hoạch 28 ha. 2. Số 246A đường Đà Nẵng, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng: Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Trường Đại học Hải Phòng. 3. Số 49 đường Trần Phú, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng: Trung tâm đào tạo ngoại ngữ Trường Đại học Hải Phòng. Trường Đại học Hải Phòng có tổng diện tích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hội họp là hơn 28,76 ha. Trường có hơn 263 giảng đường, phòng học, hội trường lớn và hệ thống phòng hội thảo; gần 35 phòng thí nghiệm và phòng thực hành. Các hệ thống cơ sở vật chất phục vụ bộ môn giáo dục thể chất và phong trào thể thao của sinh viên đầy đủ và hiện đại với 1 sân bóng, 1 nhà thi đấu đa năng,... Trường có một khu ký túc xá với 150 phòng, đủ khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng trên 1500 sinh viên, và 1 trung tâm y tế. Các Khoa, Viện, Phòng ban, Trạm Danh sách hiệu trưởng 7/2018 -> 6/2020: Hiệu trưởng Trường Đại học Hải Phòng 6/2020 -> 4/2021: Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Hải Phòng 4/2021 -> 7/2023: Hiệu trưởng Trường Đại học Hải Phòng Hội đồng trường Chủ tịch: Ban Giám hiệu Hiệu trưởng: Các Phó Hiệu trưởng: Các lãnh đạo phòng ban Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 6cc1653f225b TITLE: Trường Đại học Quảng Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BA%A3ng_Nam [CONTENT] Trường Đại học Quảng Nam là một trường đại học công lập đa ngành tại Quảng Nam. Trường được nâng cấp thành trường đại học theo quyết định số 722/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ từ trường Trung học Sư phạm Quảng Nam lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam. [ 1 ] Lịch sử Trường Đại học Quảng Nam là một trường đại học đa ngành tại Quảng Nam có tiền thân là Trường Trung học Sư phạm Quảng Nam được thành lập vào năm 1997 theo quyết định số 1686/QĐ-UBND ngày 3/9/1997 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam. Năm 2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định số 4845/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 14/11/2000 nâng cấp từ trường Trung học Sư phạm Quảng Nam lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam. Đến năm 2007, Trường Đại học Quảng Nam được hình thành trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam theo Quyết định số 722/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ. [ 1 ] Khoa đào tạo Có 8 khoa và 2 bộ môn: Các phòng chức năng Các Trung tâm Liên kết và hợp tác Trường ĐH Quảng Nam cũng liên kết với Đại học Đà Nẵng , Huế, Vinh và ĐH Quốc gia Hà Nội để đào tạo một số chuyên ngành ĐH và sau ĐH. Các ngành cao học gồm: Quản lý Giáo dục (liên kết với ĐH Vinh), Ngôn ngữ Anh, Kinh tế phát triển, Khoa học máy tính (liên kết với ĐH Đà Nẵng). Bước đầu trường cũng đã mở rộng quan hệ quốc tế, có quan hệ với các trường ĐH Lille 3 (Pháp), ĐH Bách khoa Quế Lâm (Trung Quốc), ĐH Ubon Rathachani Rajabhat và ĐH Ubon Rathachani (tên khác: More Ubon) của Thái Lan . Trường cũng đang đào tạo 56 SV Lào. Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f1ef02cba322 TITLE: Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_%E2%80%93_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_C%E1%BA%A7n_Th%C6%A1 [CONTENT] Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ (CTUT - Can Tho University of Technology ) là trường đại học công lập chuyên đào tạo khối ngành kỹ thuật tại Thành phố Cần Thơ. Trường trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ , chịu sự giám sát về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 1 ] Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 12 năm 2019, trường có 196 viên chức, giảng viên, người lao động. Trong đó giảng viên cơ hữu 169 người, giảng viên cơ hữu kiêm cán bộ quản lý 15 người, nhân viên 11 người. Giảng viên cơ hữu có 01 Phó Giáo sư , 22 tiến sĩ , 125 thạc sĩ và 21 giảng viên có trình độ đại học . [ 2 ] Năm học 2024-2025, trường có 252 giảng viên cơ hữu, gồm 01 Giáo sư , 03 Phó Giáo sư, 52 tiến sĩ , 189 thạc sĩ và 07 giảng viên có trình độ đại học. [ 3 ] Cơ sở đào tạo Cơ sở 1: 256 Nguyễn Văn Cừ, phường Cái Khế (quận Ninh Kiều cũ), Thành phố Cần Thơ. Cơ sở 2: Chưa có Cơ cấu tổ chức Các Phòng Các Trung tâm Các Khoa Các ngành đào tạo Năm 2025, Trường có thêm 8 chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng (gồm các ngành: Luật, Ngôn ngữ Anh, Khoa học dữ liệu, Công nghệ thông tin, Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Logistics và quản lý chuỗi cung ứng), nâng tổng số lên 20 chương trình đào tạo của trường đạt kiểm định chất lượng, chiếm 90,9%. [ 4 ] Nghiên cứu khoa học Hợp tác quốc tế Hợp tác doanh nghiệp (CO-OP), hỗ trợ khởi nghiệp Các trường liên kết Tham khảo Trang tin điện tử ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 741370404e71 TITLE: Trường Đại học Bạc Liêu SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%E1%BA%A1c_Li%C3%AAu [CONTENT] Trường Đại học Bạc Liêu (tiếng Anh: Bac Lieu University, viết tắt: BLU ) là trường đại học công lập đa ngành trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau giữ vai trò là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trọng điểm của tỉnh. Trường được thành lập vào năm 2006 trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu và Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh, với định hướng đào tạo các lĩnh vực thế mạnh của vùng như nông nghiệp – thủy sản, kinh tế và sư phạm. Lịch sử Trường Đại học Bạc Liêu được thành lập theo Quyết định số 1558/QĐ-TT ngày 24/11/2006 [ 3 ] của Thủ tướng Chính phủ, nhằm mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội không chỉ của tỉnh Cà Mau mà còn cho cả khu vực Bán đảo Cà Mau với các nhiệm vụ chính là: Trường có 2 cơ sở tọa lạc trên địa bàn phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau với tổng diện tích vỏn vẹn 5 héc-ta. Cơ sở vật chất của trường không ngừng được đầu tư nâng cấp, trang thiết bị mới và đồng bộ với các giảng đường, phòng học khang trang, trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại, giáo trình, tài liệu tham khảo, Thư viện điện tử, các phòng máy tính, phòng thực hành, thí nghiệm đáp ứng được yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trường hiện có 18 đơn vị trực thuộc Ban giám hiệu. Trong đó gồm 8 phòng: Phòng Tổ chức - cán bộ, Phòng Hành chính - Quản trị, Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Đào tạo, Phòng Công tác Chính trị và Quản lý sinh viên, Phòng Quản lý Khoa học, Phòng Hợp tác quốc tế; Phòng Thanh tra - Pháp chế. Ngoài tuyển sinh hệ Đại học chính quy, trường có tuyển sinh hệ Đại học chính quy văn bằng 2. Tổ chức Tính đến tháng 1 năm 2017, trường có 215 giảng viên. Trong đó có 1 phó giáo sư , 15 tiến sĩ , 137 thạc sĩ và 62 giảng viên có trình độ đại học . [ 4 ] Ngoài ra, trường còn có Trung tâm thông tin thư viện, Trung tâm tin học - ngoại ngữ, Cơ sở thực hành sư phạm mầm non. Chất lượng đào tạo Theo bảng xếp hạng uniRank năm 2019, Đại học Bạc Liêu xếp hạng 63 trên tổng số 67 trường ở Việt Nam và xếp hạng 11128 toàn thế giới. [ 5 ] Còn theo bảng xếp hạng Webometrics, Đại học Bạc Liêu xếp hạng 125 trên tổng số 174 ở Việt Nam. [ 6 ] Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 5b01abd31b3a TITLE: Trường Đại học Đồng Nai SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90%E1%BB%93ng_Nai [CONTENT] Trường Đại học Đồng Nai là một trường đại học đa ngành tại tỉnh Đồng Nai , được thành lập từ năm 1976. [ 2 ] Trường trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai và được giám sát về đào tạo bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 3 ] Lịch sử Tiền thân của trường là trường Sư phạm cấp 2 Đồng Nai, thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1976 theo quyết định của theo Quyết định số 2317/QĐ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục từ việc tách cơ sở 4 của trường Cao đẳng Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. [ 1 ] Ngày 28 tháng 3 năm 1987, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định nâng cấp trường thành trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo. Ngày 15 tháng 9 năm 1997, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai quyết định hợp nhất 2 trường Sư phạm của tỉnh (Trung học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm). Ngày 20 tháng 8 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập trường Đại học Đồng Nai trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai. [ 4 ] Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4a6d18c024f6 TITLE: Trường Đại học Hà Tĩnh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%A0_T%C4%A9nh [CONTENT] Trường Đại học Hà Tĩnh (tên giao dịch quốc tế là Ha Tinh University ) là một trường đại học địa phương , một trư­ờng công lập, đa cấp, đa ngành, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nư­ớc nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng. Năm 2023, bắt đầu xây dựng đề án chuyển đổi cơ chế hoạt động Trường Đại học Hà Tĩnh trở thành trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. [ 1 ] Trường được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập vào ngày 19 tháng 3 năm 2007 , trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh tại thị xã Hà Tĩnh , tỉnh Hà Tĩnh . Đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường có 9 khoa và bộ môn trực thuộc và 16 phòng, ban, trung tâm, có tổng số 360 cán bộ, trong đó có 250 giảng viên, 90% có trình độ thạc sĩ, tiến sỹ, PGS, GS, tâm huyết, giàu kinh nghiệm và bề dày sư phạm được đào tạo tại Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và nhiều nước khác trên thế giới. Ban giám hiệu 1. TS Đoàn Hoài Sơn - Q. Hiệu trưởng 2. TS Trần Thị Ái Đức - Phó Hiệu trưởng 3. TS Hồ Thị Nga - Phó Hiệu trưởng (từ 19/11/2021) Các khoa, Bộ môn Các mốc lịch sử Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết tỉnh Hà Tĩnh , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: ed5100372071 TITLE: Trường Đại học Khánh Hòa SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kh%C3%A1nh_H%C3%B2a [CONTENT] Trường Đại học Khánh Hòa (University of Khanh Hoa) là một trường đại học thuộc các trường đại học, cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân, trực thuộc ủy ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa. Ngày 3 tháng 8 năm 2015 , Thủ tướng chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định Số 1234/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Khánh Hòa trên cơ sở sáp nhập 2 Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang và Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang. [ 1 ] Đội ngũ viên chức, giảng viên, người lao động của trường hiện tại: 270 người Trong đó có 03 PGS.TS, 30 tiến sĩ, 168 thạc sĩ (gồm 24 nghiên cứu sinh), 42 đại học và 27 trình độ khác. Riêng về đội ngũ giảng viên, Giảng viên: 192 người, tTrong đó: TS: 33 (gồm 3PGS); ThS: 154, ĐH: 5 (tính đến tháng 11/2025). Cơ sở vật chất Trường hiện quản lý 03 cơ sở chính với tổng diện tích gần 13 ha, bao gồm các khu giảng đường, thư viện, nhà thi đấu đa năng, ký túc xá, phòng thí nghiệm, thực hành được trang bị đầy đủ, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, thư viện của trường được đầu tư hệ thống tự động hóa, không gian mở, và các thiết bị số hiện đại, tạo môi trường học tập lý tưởng. Việc chú trọng xây dựng cơ sở vật chất khang trang, xanh - sạch - đẹp đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ cộng đồng.. Ký túc xá có trên 600 chỗ ở. Thư viện được đầu tư trên 20.000 tên sách/trên 80.000 bản sách thuộc các chuyên ngành đào tạo của Trường đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của giảng viên, sinh viên, học viên trong toàn trường. Hoạt động mượn, trả và gia hạn tài liệu được vận hành thông qua hệ thống tự mượn trả gia hạn tài liệu đặc biệt hệ thống trả sách 24/7. Thư viện được bố trí Phòng họp (Meeting Room) và không gian đa năng linh hoạt, phục vụ hiệu quả cho mọi nhu cầu học thuật và làm việc nhóm. Các phòng này là nơi lý tưởng để giảng viên, sinh viên tổ chức nghiệm thu đề tài, báo cáo chuyên đề, hoặc các lớp học quy mô nhỏ. Đồng thời, không gian cũng được tận dụng để tổ chức các hội nghị, hội thảo, talkshow và là địa điểm cho sinh viên tự học, học nhóm, ghi hình bài thuyết trình và các hoạt động sinh hoạt lớp. Đào tạo Thạc sỹ Đại học Từ năm học 2025 - 2026, trường bắt đầu tuyển sinh 18 ngành đào tạo trình độ ĐH gồm: Ngoài ra, trường tiếp tục duy trì đào tạo bậc Cao đẳng đối với các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật Cơ Cấu [ 2 ] Trường Đại học khánh hòa bao gồm 7 khoa chuyên môn, 5 phòng, 1 trung tâm, 1 thư viện Khoa: Trung tâm: Các phòng ban chức năng: Hợp tác đầu tư Tham khảo Liên kết ngoài Website của Đại Học Khánh Hòa Bài viết tỉnh Khánh Hòa , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 95013a039d95 TITLE: Trường Đại học Nghệ An SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_Ngh%E1%BB%87_An [CONTENT] Trường Đại học Nghệ An (tiếng Anh: Nghe An University, viết tắt: NAU ) là một trường đại học công lập đa ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường Đại học Nghệ An có trụ sở chính đặt tại số 51, đường Lý Tự Trọng, phường Vinh Phú, tỉnh Nghệ An. Bên cạnh đó, nhà trường hiện có 4 cơ sở đào tạo và làm việc được phân bố hợp lý. Hệ thống cơ sở của trường được đầu tư đồng bộ, thuận tiện cho sinh viên học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động học thuật – ngoại khóa, bao gồm: Chức năng, nhiệm vụ Trường thực hiện nhiệm vụ đào tạo các trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trên các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, công nghệ, giáo dục. Ngoài ra, trường còn là trung tâm nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ và phục vụ cộng đồng trong khu vực cả nước và quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2045, trở thành trường đại học định hướng ứng dụng có uy tín trong khu vực ASEAN, hội nhập với hệ thống đại học tiên tiến thế giới. Lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Nghệ An (Nghe An University – NAU) là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh Nghệ An, với quá trình hình thành và phát triển trải dài hơn 65 năm. Ngày 26/12/2024, Chính phủ đã chính thức ban hành quyết định quan trọng về việc sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An vào Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, đồng thời đổi tên Trường Đại học Kinh tế Nghệ An thành Trường Đại học Nghệ An, đánh dấu bước phát triển mới của Nhà trường. Đào tạo Đại học Các chuyên ngành đào tạo đại học: Thạc sĩ Các chuyên ngành đào tạo thạc sĩ: Cơ cấu tổ chức Trường có đầy đủ các tổ chức trong hệ thống quản lý giáo dục đại học, bao gồm: Đảng ủy, Hội đồng Trường, Ban Giám hiệu, các Hội đồng chuyên môn và tư vấn, cùng với 11 phòng chức năng và trung tâm; 10 khoa chuyên môn; 02 đơn vị trực thuộc Trường Mầm non Thực hành và Trường Tiểu học và THCS Thực hành . Tính đến tháng 4 năm 2025, trường có 315 cán bộ, giảng viên; trong đó có 02 Phó Giáo sư, 36 tiến sĩ và 215 thạc sĩ. Các Khoa đào tạo 1. Khoa Kế toán - Kiểm toán 2. Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh 3. Khoa Tài chính - Ngân hàng 4. Khoa Nông - Lâm - Ngư 5. Khoa Công nghệ thông tin 6. Khoa Ngoại ngữ 7. Khoa Tiểu học 8. Khoa Mầm non 9. Khoa Giáo dục 10. Khoa Khoa học cơ bản Các Phòng, Ban, Trung tâm 1. Phòng Tổ chức - Hành chính 2. Phòng Kế hoạch - Tài chính 3. Phòng Quản lý đào tạo 4. Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế 5. Phòng Thanh tra, Khảo thí và Đảm bảo chất lượng 6. Phòng Công tác Chính trị và Học sinh, Sinh viên 7. Phòng Quản lý cơ sở vật chất 8. Trung tâm Tuyển sinh và Truyển thông 9. Trung tâm hợp tác và Phát triển đào tạo 10. Trung tâm Số và Học liệu 11. Trung tâm Bồi dưỡng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết tỉnh Nghệ An , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e3f6a8f6dc61 TITLE: Trường Đại học Y khoa Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_khoa_Vinh [CONTENT] Đại học Y khoa Vinh là một trường đại học chuyên ngành y khoa tại Việt Nam. Trường có chức năng, nhiệm vụ: Đào tạo cán bộ có trình độ đại học, sau đại học trong lĩnh vực y học, dược học; tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ, đồng thời tham gia công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân theo quy định của Bộ Y tế. Đào tạo Đào tạo đại học Đào tạo sau đại học Các Khoa chuyên môn Khoa Khoa học Cơ bản Khoa KHCB là đơn vị quản lý hành chính cơ sở của trường. Cơ cấu của khoa bao gồm Ban chủ nhiệm khoa, các bộ môn trực thuộc. Khoa có chức năng dạy các môn thuộc khối kiến thức đại cương cho tất cả các ngành đào tạo trong nhà trường; nghiên cứu trong các lĩnh vực chuyên môn của khoa; quản lý, điều hành trực tiếp đội ngũ cán bộ, giảng viên. Bên cạnh đó còn có các tổ chức đảng, Công đoàn khoa; chi đoàn giáo viên. Trong những năm qua với sự đổi mới và phát triển của Trường Đại học Y khoa Vinh, sự quan tâm, ủng hộ của lãnh đạo nhà trường cùng sự sáng tạo, năng động, trách nhiệm, tận tâm, tận tình với công việc của Ban chủ nhiệm và cán bộ, giảng viên, Khoa KHCB đã từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình đối với quá trình hình thành và phát triển của nhà trường và trong nhiều năm hoc qua, Khoa luôn đạt danh hiệu là tập thể lao động xuất sắc. Trải qua quá trình hình thành đến nay Khoa gồm 5 bộ môn: Bộ môn Toán – Tin; Bộ môn Hóa – Sinh; Bồ môn Lý luận Chính trị; Bộ môn Giáo dục quốc phòng – Thể chất; Bộ môn Ngoại ngữ. Khoa Y học lâm sàng hệ Nội Khoa Y học lâm sàng được thành lập tháng 11/2005 trực thuộc BGH và gồm có 6 bộ môn trực thuộc khoa: Bộ môn Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Y học cổ truyền, Chuyên khoa. Từ khi thành lập đến nay Khoa Y học lâm sàng đã không ngừng vươn lên thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà trường trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh. Các giáo viên trong khoa đã tích cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học, biên soạn chương trình, giáo trình môn học cho các đối tượng đào tạo, khoa đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, cấp tỉnh với kết quả xuất sắc, kết quả của các công trình nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn trong đào tạo và điều trị bệnh nhân,. Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập, đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bố trí thiết bị dạy học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học. Sử dụng và khai thác hiệu quả các phương tiện dạy học tích cực như mô hình, máy chiếu, ứng dụng tin học trong giảng dạy. Với đội ngũ thầy thuốc giàu kinh nghiệm và trình dộ chuyên môn cao các giáo viên lâm sàng là lực lượng nòng cốt trong công tác giảng dạy lâm sàng tại phòng khám trường và các bệnh viện trên địa bàn thành phố: Hướng dẫn giảng dạy lâm sàng có hiệu quả, quản lý chương trình dạy học lâm sàng chặt chẽ như có lịch dạy học theo tuần, áp dụng phương pháp cầm tay chỉ việc, làm mẫu. Tổ chức đánh giá, kiểm tra học sinh chính xác và khách quan.Từ khi thành lập đến nay khoa y học lâm sàng đều đạt tập thể lao động xuất sắc và đã nhiều lần được chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen. Đội ngũ giáo viên khoa ngày một lớn mạnh về quy mô, vững vàng về chuyên môn và kiên định về tư tưởng. Sau mười năm xây dựng và phát triển, đến năm 2015 khoa được chia tách thành hai đơn vị độc lập là Khoa YHLS hệ nội và Khoa YHLS hệ ngoại. Khoa Dược Khoa Dược được thành lập năm 2003 với tiền thân là bộ môn Dược. Hiện tại khoa Dược có nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành về được cho các lớp khối cao đẳng Dược và Đại học dược cùng một số môn học cho đối tượng bác sĩ và điều dưỡng. Các giảng viên trong khoa luôn luôn phấn đấu nâng cao trình độ, tập trung chuyên môn đào tạo các kỹ năng cơ bản cho các dược sĩ để đáp ứng với nhu cầu của ngành. Định hướng trong vài năm tới, khoa Dược sẽ đào tạo đại học Dược nhằm cung cấp nguồn nhân sự chất lượng cao cho Nghệ An và cả nước. Bên cạnh hoạt động giảng dạy, giảng viên trong khoa còn tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, có nhiều đề tài tham gia các hội nghị ở trường và toàn quốc và có nhiều ứng dụng trong giảng dạy. Trong thời gian qua, khoa Dược đã đạt nhiều thành tích, 2 năm liền đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc của UBND tỉnh Nghệ An và nhiều bằng khen của hiệu trường trường Đại học y khoa Vinh . Khoa Y học lâm sàng hệ Ngoại Khoa Điều dưỡng Khoa Kỹ thuật Y Sinh học Khoa Y tế cộng đồng Khoa Y học cổ truyền Khoa Y học Cơ sở Khoa chẩn đoán hình ảnh Các Phòng chức năng Lịch sử hình thành Tiền thân của Trường ĐHYK Vinh ngày nay là Trường Y sỹ Nghệ An được thành lập năm 1960, do Bác sĩ Trần Ngọc Đăng, Phó Ty Y tế Nghệ An là Hiệu trưởng đầu tiên. Lúc bấy giờ, trường trực thuộc Bộ Y tế, đóng tại xã Hưng Đông - TP. Vinh . Giáo viên cơ hữu lúc này có 10 người do Bộ Y tế cử về. Giáo viên thính giảng là các Y, Bác sĩ của bệnh viện A1 (Bệnh viện Tỉnh Nghệ An lúc bấy giờ) và Bệnh viện Quân khu 4. Lưu lượng học sinh có khoảng 600 em. Học sinh tốt nghiệp ra trường do Bộ Y tế điều động phân công công tác cho cả vùng khu 4. Năm 1964, BS. Trần Ngọc Đăng được điều vào Trung ương cục Miền Nam công tác, Ông Nguyễn Văn Thanh - Phó Ty Lao động Nghệ An được cử về làm hiệu trưởng, trường được phân cấp về địa phương do Tỉnh quản lý, được đổi tên thành Trường Cán bộ Y tế Nghệ An. Do đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc, nhà trường phải sơ tán nhiều nơi như các xã miền núi Thanh Mai, Thanh Xuân huyện Thanh Chương, trước yêu cầu nhiệm vụ trường phải sơ tán thành hai cụm. Một cụm bám bệnh viện A1 ở các xã Thanh Trì, Thanh Luân, Thanh Chi và Thanh Khê huyện Thanh Chương. Cụm thứ 2 về xã Nghĩa Trung huyện Nghĩa Đàn và Lạt huyện Tân Kỳ. Các ngành nghề được đào tạo: Y sỹ chính quy, Y sỹ xã, Dược sĩ trung học, KTV xét nghiệm, Y tá sơ học, bổ túc văn hoá cấp 3 cho cán bộ học tiếp lên đại học, bổ túc văn hóa cấp 2 cho học sinh dân tộc ít người để học tiếp lên y sĩ. Lưu lượng lúc này trên 1000 HS. Những năm này các lớp học bám sát bệnh viện huyện, mỗi huyện có ít nhất 2 lớp, có chị nuôi đi theo, các thầy giáo mang ba lô đi dạy lưu động dưới mưa bom bão đạn hết huyện này đến huyện khác, khó khăn, ác liệt nhưng vẫn soạn đầy đủ giáo trình, giáo án, bám học sinh để hoàn thành nhiệm vụ chỉ tiêu tỉnh giao. Năm 1969 trên cơ sở 2 cụm sơ tán trường được chia thành hai trường: Cụm 1 là Trường Cán bộ Y tế Đồng bằng, do BS Nguyễn Thừa Duyệt - Phó Ty Y tế làm Hiệu trưởng. Quy mô đào tạo 800-1000 học sinh. Cụm 2 là Trường Cán bộ Y tế Miền Tây, do ông Nguyễn Văn Thanh làm hiệu trưởng. Quy mô đào tạo 300-400 học sinh. Trường Cán bộ Y tế Đồng Bằng, ngoài các đối tượng đào tạo do tỉnh giao còn đào tạo 01 lớp dược sĩ trung học khoá 12 cho Tỉnh Hà Tĩnh. Trường Miền Tây lúc này cũng đào tạo đa hệ Y sỹ chính quy (khoá 19,20), Y sỹ xã, Y tá sơ học, bổ túc văn hoá cấp 2. Học sinh hầu hết là con em dân tộc thiểu số. Trường đã đào tạo riêng cho dân tộc Mẹo một lớp 20 học sinh và đặc biệt là đào tạo cho Vĩnh Linh 1 lớp Y sỹ là con em người Vĩnh Linh để về phục vụ cho Tỉnh Vĩnh Linh lúc bấy giờ. Năm 1975 đất nước được hoà bình thống nhất, 2 trường sáp nhập đổi tên là Trường Trung học Y tế Nghệ An do Bác sĩ Trần Văn Thung làm hiệu trưởng. Đóng tại dăm Mụ Nuôi, xã Hưng Dũng, Thành phố Vinh (bây giờ là Khối Xuân Đông, Hưng Dũng, Thành phố Vinh). Cuối 1975, do nhập hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh, Trường THYT Nghệ An và trường THYT Hà Tĩnh được sáp nhập và đổi tên là Trường Trung học Y tế Nghệ Tĩnh, do BS Hoàng Kinh làm hiệu trưởng. Thời gian này, trường đào tạo cán bộ y tế cho tỉnh Nghệ Tĩnh, cho tỉnh Xiêng Khoảng - Lào một lớp Y sỹ. Ngoài ra còn có các lớp ngoại ngữ Anh, Nga, Pháp cho các bác sĩ, dược sĩ để đi học chuyên khoa cấp I, II và đi chuyên gia. Năm 1985, TS Phạm ỨNG, Phó giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Ba Lan tỉnh Nghệ An làm hiệu trưởng. Trường chuyển về … (Khu BV nhi tỉnh Nghệ An bây giờ). Năm 1990, BSCKII Nguyễn Huy Thông hiệu phó là hiệu trưởng. Trường chuyển về địa điểm hiện nay. Thời gian này, quy mô đào tạo khoảng 700-800 học sinh. Ngoài nhiệm vụ đào tạo trường còn là địa điểm đăng cai tổ chức đào tạo BSCKI các chuyên ngành Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Truyền Nhiễm, Tai mũi họng, Răng hàm mặt cho trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1991, do chia tách tỉnh trường được chia làm hai. Ở Nghệ An được mang tên Trường THYT Nghệ An, đến 12/1993 sáp nhập thêm trung tâm bổ túc cán bộ y tế Nghệ An và trường Y tá Kỳ Sơn. Năm 1999, BS Cao Trường Sinh là quyền hiệu trưởng. Tháng 1/2002, BSCKII Nguyễn Trọng Tài Phó Giám đốc, Kiêm trưởng khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Hữu nghị đa khoa Tỉnh Nghệ An, là hiệu trưởng. Tháng 2/2003, trường được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định nâng cấp lên Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An. Tháng 11/2005, trường trực thuộc UBND tỉnh, từ chỗ có 3 phòng chức năng và 11 bộ môn trực thuộc BGH nay có 4 phòng, 6 khoa trực thuộc BGH và 20 bộ môn trực thuộc khoa. Đến giai đoạn này, Trường đã được tặng thưởng 03 Huân chương lao động hạng 3 vào các năm 1963, 1969,1992. Một Huân chương Chiến công năm 1965. Ngoài ra nhà trường còn được nhận nhiều cờ, bằng khen, giấy khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Bộ Y tế, UBND Tỉnh… và nhiều phần thưởng cao quý khác. Tháng 7/2010, trường được Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân ký Quyết định nâng cấp thành trường Đại học Y khoa Vinh, trực thuộc UBND tỉnh Nghệ An, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ GD&ĐT, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng. Đội ngũ giáo viên của nhà trường này một lớn mạnh về quy mô, vững vàng về chuyên môn, kiên định về tư tưởng. Nhiều cán bộ và học sinh từng công tác và học tập tại trường đã trưởng thành như GS Lê Thành Uyên, BS Phạm Gia Tuệ là giảng viên của trường ĐH Y Hà Nội và Chuyên viên cao cấp của Bộ Y tế, TS Phạm ỨNG nguyên Giám đốc Sở Y tế Nghệ An, BS Trần Thị Thiện Phó Giám đốc Sở Y tế, BS Nguyễn Huy Thông nhà giáo ưu tú và nhiều đồng chí trưởng thành là giám đốc các bệnh viện tuyến tỉnh và các trung tâm y tế các huyện. Nhiều học sinh sau khi ra trường đã phấn đấu trở thành Bác sĩ, có người đã trở thành anh hùng như anh hùng lao động Trần Chữ. Các học sinh đã tốt nghiệp ra trường đều thành đạt, trưởng thành, phục vụ tốt cho đất nước và được đánh giá cao về nhiều mặt, góp phần làm đẹp truyền thống cho trường. (Nguồn: website http://vmu.edu.vn ) Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 76688e2ca88f TITLE: Trường Đại học Hoa Lư SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Hoa_L%C6%B0 [CONTENT] Trường Đại học Hoa Lư là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trường trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là một trường đại học vùng, tuyển sinh trong cả nước. Chức năng Trường Đại học Hoa Lư được thành lập ngày 09 /4/ 2007. Trường là trường Đại học đa ngành, là cơ sở đào tạo Đại học và nghiên cứu khoa học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có nhiệm vụ: Ban Giám Hiệu [ 1 ] Hiệu trưởng: Các Phó Hiệu trưởng: Quyền hạn và trách nhiệm Các đơn vị trực thuộc 1. Phòng Tổ chức - Thanh tra 2. Phòng Hành chính - Quản trị 3. Phòng Quản lý chất lượng 4. Phòng Đào tạo - Quản lý khoa học 5. Phòng Chính trị & Công tác học sinh, sinh viên 6. Phòng Kế hoạch - Tài chính 7. Khoa Sư phạm Trung học 8. Khoa Văn hóa - Du lịch 9. Khoa Ngoại ngữ - Công nghệ thông tin 10. Khoa Giáo dục thường xuyên 11. Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non 12.Khoa Kinh tế 13. Bộ môn Lý luận chính trị 14. Bộ môn Giáo dục thể chất - Tâm lý 15. Trung tâm Thư viện - Thiết bị 16. Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học 17. Ban Quản lý Nội trú và hoạt động ngoài giờ Các chuyên ngành - Trình độ đại học: - Trình độ cao đẳng: Cơ sở hạ tầng Năm 2010, trường Đại học Hoa Lư Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2011 tại Wayback Machine có 19 đơn vị trực thuộc (6 phòng chức năng, 7 khoa, 2 bộ môn, 3 trung tâm và 1 ban). Tổng số cán bộ, giảng viên và nhân viên của nhà trường là 280 người, trong đó, đội ngũ giảng viên cơ hữu là 200 người. Quy mô đào tạo của nhà trường khoảng 5.000 sinh viên, trong đó: hệ chính quy là 3.000 sinh viên; hệ vừa làm vừa học, liên kết đào tạo là 2.000 sinh viên. Trường đã và đang đào tạo 31 ngành thuộc các bậc Đại học và Cao đẳng. Các ngành đào tạo gồm: sư phạm, kinh tế, văn hóa du lịch và nông nghiệp. Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b825867a39ee TITLE: Trường Đại học Hùng Vương SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%B9ng_V%C6%B0%C6%A1ng [CONTENT] Trường Đại học Hùng Vương ( Tiếng Anh : Hung Vuong University, HVU) là trường đại học công lập tại tỉnh Phú Thọ được thành lập vào ngày 29 tháng 04 năm 2003 , trên cơ sở của Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ với bề dày truyền thống hơn 50 năm. Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 11 năm 2017 , trường có 315 giảng viên. Trong đó có 7 phó giáo sư , 48 tiến sĩ , 208 thạc sĩ và 52 giảng viên có trình độ đại học . [ 1 ] Chất lượng đầu ra thực tế * Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp. [ 2 ] * Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể dùng để nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này. Cơ sở Trường gồm hai khuôn viên: Lịch sử Trường Đại học Hùng Vương được thành lập vào ngày 29 tháng 04 năm 2003 theo Quyết định số 81/2003/QĐ-TTg [ 3 ] của Thủ tướng Chính phủ , trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ và có bề dày truyền thống hơn 46 năm. [ 4 ] Cơ cấu tổ chức [ 4 ] Khoa và bộ môn trực thuộc Phòng ban chức năng Các trung tâm và đơn vị phục vụ đào tạo Hiệu trưởng Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: cc3fc1b78f31 TITLE: Trường Đại học Phú Yên SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ph%C3%BA_Y%C3%AAn [CONTENT] Trường Đại học Phú Yên ( tiếng Anh : Phu Yen University ) là một trường đại học địa phương , đào tạo đa ngành của tỉnh Đắk Lắk . [ 1 ] Trường Đại học Phú Yên trực thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk và chịu sự quản lý nhà nước về đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 2 ] Trường có địa chỉ tại: số 01 Nguyễn Văn Huyên, phường Tuy Hòa , tỉnh Đắk Lắk. Lịch sử hình thành Được thành lập theo Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 24/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập và nâng cấp Trường CĐSP Phú Yên và Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Phú Yên. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ Cơ cấu tổ chức của trường gồm 13 đơn vị thuộc và trực thuộc Trường đó là: Tổng số cán bộ giảng viên toàn trường (2025) là 172 người (giảng viên 118; nhân viên 54). Trường Đại học Phú Yên đang triển khai chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên và định hướng đến năm 2025 có 60% thạc sĩ, 35% tiến sĩ trong tổng số giảng viên tương ứng với quy mô đào tạo khoảng 5.000 sinh viên. Cơ sở vật chất Trường Đại học Phú Yên có tổng diện tích 15 ha; đáp ứng quy mô đào tạo khoảng 5.000-10.000 sinh viên. Tổng diện tích sàn 11.250 m 2 ; trong đó, nhà học: 2.417 m 2 , thư viện: 1.236 m 2 , giảng đường (200 chỗ): 298 m 2 , nhà học đặc thù: 981 m 2 , nhà tập đa chức năng: 940 m 2 , ký túc xá (800 chỗ): 2.668 m 2 , nhà ăn: 1.038 m 2 , 2 phòng thí nghiệm vật lý: 145 m 2 , 2 phòng thí nghiệm hoá: 145 m 2 , 2 phòng thí nghiệm sinh học: 145 m 2 , 3 phòng thực hành nhạc: 184 m 2 , 4 phòng thực hành vi tính: 245 m 2 , 1 phòng LAB: 49 m 2 . [ 2 ] Chú thích Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 88cbd77f3e36 TITLE: Trường Đại học Quảng Bình SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh [CONTENT] Trường Đại học Quảng Bình ra đời ngày 24/10/2006 theo quyết định số 237/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình, mà tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập vào năm 1959. Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Trường đã có nhiều cống hiến cho tỉnh Quảng Trị và đất nước, đã đào tạo hơn 5 vạn cán bộ, giáo viên, cử nhân, kỹ sư, cung cấp nguồn nhân lực quan trọng cho các tỉnh Hà Tĩnh , Quảng Trị , Lịch sử Trường Đại học Quảng Bình được thành trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình mà tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập từ năm 1959. Đây là trường đại học duy nhất của tỉnh Quảng Bình , đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực. Với hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Quảng Bình đã trải qua 7 giai đoạn: [ 1 ] Giai đoạn từ 1959 đến 1965 Ngày 22/7/1959, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký Nghị định số 379/NĐ thành lập một số trường sư phạm, trong đó có trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 về khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ các tỉnh Hà Tĩnh , Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh . Cơ sở đầu tiên của Trường đóng tại Tam Tòa ( Đồng Hới ). Ngày 27/10/1959, tại thị xã Đồng Hới , Trường đã tổ chức Lễ khai giảng khóa học đầu tiên. Giai đoạn từ 1965 đến 1975 Do điều kiện chiến tranh, từ 1965 đến 1975, Trường đã phải 8 lần chuyển địa điểm, qua nhiều nơi, từ miền núi xuống đồng bằng, đủ các địa bàn Đông, Tây, Nam, Bắc của Quảng Bình . Với nhiều thành tích đạt được trong 10 năm chiến tranh gian khổ, Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình là một trong 9 trường sư phạm trên toàn miền Bắc được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc của ngành giáo dục; được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng III, huân chương kháng chiến hạng III; được Bộ Giáo dục và UBND tỉnh Quảng Bình tặng cờ thi đua và nhiều bằng khen, giấy khen. Năm 1970, tỉnh Quảng Bình quyết định nhập 4 trường: Trường Sư phạm Trung Cấp, Trường Sư phạm Sơ Cấp, Trường Sư phạm Mẫu giáo, Trường Sư phạm Bồi dưỡng thành Trường Sư phạm Quảng Bình. Cuối năm học 1973-1974, Trường Sư phạm Quảng Bình lại tách làm 3 trường: Trường Sư phạm Cấp 1; Trường Sư phạm 10+3 và Trường Sư phạm Mẫu giáo. Giai đoạn từ 1975 đến 1979 Năm 1976, ba tỉnh Quảng Bình , Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên , Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình có thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên tăng cường cho vùng mới giải phóng ở Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế . Thời kỳ này Trường chuyển về phía Tây Cộn, trên một khu đất rộng rãi với cơ sở vật chất để lại của một số cơ quan cấp tỉnh đã chuyển vào Huế . Từ 1976 đến 1979, Trường đã đào tạo được 2.479 giáo viên cấp 2 hệ 10+3, chi viện cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, kịp thời đáp ứng nhu cầu giáo dục của cả tỉnh. Cũng thời gian này, Trường đã quan tâm chuẩn hóa đội ngũ, động viên một số giáo viên đi học sau đại học khóa đầu tiên tại Hà Nội. Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, ngày 21/8/1978, Chính phủ quyết định nâng cấp Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình. Đây là thành quả của sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của thầy và trò, là mốc quan trọng trong lịch sử của trường. Ngày 20/3/1979, Trường vinh dự được Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3. Giai đoạn từ 1979 đến 1989 Năm 1979, để thuận tiện cho công tác quản lý, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Bình Trị Thiên quyết định nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình vừa được nâng cấp ở Quảng Bình với Trường Cao đẳng Sư phạm Huế thành Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Trị Thiên, cơ sở chính tại thành phố Huế , cơ sở 2 tại Cộn ( Đồng Hới , Quảng Bình ). Nhiệm vụ của cơ sở 2 chủ yếu là giải quyết các công việc còn tồn đọng ở thời điểm giao thời. Có 2156 giáo viên cấp 2 (hệ cao đẳng và 1 khóa hệ 10+3), 1070 giáo viên bồi dưỡng theo hình thức chuyên tu, tại chức tốt nghiệp tại cơ sở Cộn thời kỳ này. Kết thúc năm học 1982-1983, cơ sở 2 ngưng hoạt động để chuyển cán bộ giảng viên và một phần cơ sở vật chất vào thành phố Huế . Giai đoạn từ 1989 đến 1995 Ngày 30/6/1989 Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 quyết định tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh như cũ. Sau khi chia tỉnh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Trị Thiên trở thành Trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên – Huế. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo phát triển giáo dục, ngày 10/2/1990, UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 17/QĐ-UB về việc thành lập Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình, trực thuộc Sở Giáo dục Quảng Bình . Đến tháng 8/1990, Trường chính thức đi vào hoạt động. Địa điểm của Trường đóng tại Cộn. Những năm đầu, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình chỉ có 2 khoa: Tiểu học, Mầm non và 2 phòng: Giáo vụ, Hành chính. Ngày 16/9/1990, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình khai giảng khóa đầu tiên với 101 giáo sinh, hệ đào tạo giáo viên tiểu học. Ngày 27/9/1991, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình chuyển về địa điểm mới ở phường Bắc Lý , thị xã Đồng Hới , một phần của Trường Đại học Quảng Bình đóng bây giờ. Giai đoạn từ 1991 đến 1994, ngoài đào tạo giáo viên tiểu học trình độ THSP hệ 12+2, để đáp ứng nhu cầu cấp bách của ngành giáo dục, Trường được Sở Giáo dục giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên cắm bản cho vùng cao, đối tượng là học sinh tốt nghiệp THCS. Các loại hình đào tạo này rất linh hoạt, từ khóa đào tạo cấp tốc 1 tháng và học rải trong các hè, đến các hệ 12+1+1; 9+1+2. Giai đoạn từ 1995 đến 2005 Ngày 25/9/1995, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 602/QĐ-TTg về việc nâng cấp các Trường trung học sư phạm của các tỉnh Quảng Bình , Hòa Bình , Phú Yên thành các Trường cao đẳng sư phạm. Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình trực thuộc Sở Giáo dục Quảng Bình , có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên phổ thông của tỉnh Quảng Bình đạt trình độ cao đẳng, nghiên cứu khoa học giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông ở địa phương. Tháng 11 năm 1995, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình trở thành đơn vị trực thuộc UBND tỉnh Quảng Bình . Ghi nhận quá trình phấn đấu và tôn vinh thành tích của cán bộ, giảng viên và sinh viên của Trường, ngày 17/9/1999, Chủ tịch nước quyết định trao tặng Huân chương Lao động Hạng nhì cho Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình. Giai đoạn từ 2006 đến nay Ngày 24/10/2006 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Quảng Bình. Chức năng nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Bình và các vùng phụ cận, kể cả hợp tác, hỗ trợ giáo dục, đào tạo cho các tỉnh biên giới của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào . Năm 2007, Trường tuyển sinh đào tạo đại học hệ chính quy khóa đầu tiên với 421 sinh viên các ngành: Sư phạm Toán - Lý, Sư phạm Văn - Sử; Sư phạm Tiểu học, Tiếng Anh, Nuôi trồng thủy sản và Tin học. Năm 2011, Trường liên kết với Đại học Đà Nẵng đào tạo cao học các ngành Kinh tế phát triển và Khoa học máy tính. Việc chuyển đổi phương thức đào tạo theo niên chế sang hệ thống tín chỉ được triển khai từ năm học 2008-2009, đến năm 2010 cơ bản chuyển hẳn sang đào tạo theo tín chỉ. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý Trường Đại học từng bước được hoàn thiện. Từ chỗ chỉ có 9 khoa khi mới thành lập, đến nay, Trường có 24 đơn vị trực thuộc gồm 11 khoa, 7 phòng chức năng, 2 ban chức năng và 4 Trung tâm. Hiệu trưởng của trường qua các thời kỳ Đội ngũ giảng viên Hiện tại, Trường Đại học Quảng Bình có 195 giảng viên, trong đó có 3 Phó Giáo sư - Tiến sĩ , 35 Tiến sĩ , 117 Thạc sĩ và 52 giảng viên. Các giảng viên trong trường cũng luôn được khuyến khích, tạo điều kiện để đi học, nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ. Hiện nay, nhiều giảng viên của trường đang được cử đi học để lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ ở các trường trong và ngoài nước. Tổ chức Hiện tại, Trường Đại học Quảng Bình có 24 đơn vị trực thuộc gồm 11 khoa, 8 phòng chức năng, 1 ban chức năng và 4 Trung tâm. Danh sách 11 khoa gồm: Danh sách 8 phòng chức năng gồm: Danh sách 1 ban chức năng gồm: Danh sách 4 Trung tâm gồm: Các ngành đào tạo Hiện nay, Trường Đại học Quảng Bình đang tổ chức đào tạo chính quy 15 ngành trình độ đại học, và 14 ngành trình độ cao đẳng. [ 2 ] Đó là: Ngoài ra, Trường Đại học Quảng Bình còn tổ chức đào tạo liên thông với 11 ngành trình độ đại học và 5 ngành trình độ cao đẳng. Thành tích đã đạt được Ngoài ra, Trường đã được trao nhiều bằng khen, cờ thi đua của tỉnh Quảng Bình và Bộ Giáo dục - Đào tạo . Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 081fb32524fc TITLE: Trường Đại học Phạm Văn Đồng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ph%E1%BA%A1m_V%C4%83n_%C4%90%E1%BB%93ng [CONTENT] Trường Đại học Phạm Văn Đồng (tiếng Anh: Pham Van Dong University ) là một trường đại học công lập đa ngành tại phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi. Trường đã được hệ thống Đại học Đà Nẵng kiểm định và đảm bảo về chất lượng đào tạo của trường. [ 1 ] Trường hiện trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Trường Đại học Phạm Văn Đồng được thành lập theo quyết định số 1168/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 7 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng cộng đồng Quảng Ngãi. Tuyển sinh đại học Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f312000dd908 TITLE: Trường Đại học Hạ Long SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A1_Long [CONTENT] Trường Đại học Hạ Long (Ha Long University) là trường công lập, trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Trường Đại học Hạ Long đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao về khoa học, công nghệ, kinh tế, giáo dục và xã hội nhân văn; là trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh và khu vực đồng bằng Bắc Bộ. [ 1 ] [ 2 ] Thành lập Trường được thành lập theo Quyết định số 1869/QĐ-TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trường ĐH Hạ Long trên cơ sở 2 trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh và Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long . Trường Đại học Hạ Long có hai cơ sở: Cơ sở 1: số 258, Phường Nam Khê, Thành phố Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh (tại vị trí của Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh cũ). Cơ sở 2: số 58, Phường Hồng Hải, Thành phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh (tại vị trí của Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long cũ). Sứ mạng và tầm nhìn Đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và cả nước Ngày 12/6/2020 Trường Đại học Hạ Long đã sửa lại và công bố Quy chế tổ chức và hoạt động của trường, trong đó Sứ mạng và tầm nhìn đã được khẳng định và sửa đổi bổ sung theo Quy chế và tổ chức hoạt động của trường như sau:. Sứ mạng : Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề thực tiễn, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh và cả nước. Tầm nhìn : Đến năm 2030, Trường Đại học Hạ Long trở thành một trong những cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng có uy tín, thương hiệu quốc tế, có vị thế hàng đầu trong nước về đào tạo nhân lực thuộc lĩnh vực du lịch, nghệ thuật và ngôn ngữ. Giá trị cốt lõ i: Chất lượng – Sáng tạo – Nhân văn Triết lí giáo dục : Học đi đôi với hành, học để làm người, học để thành công Cơ cấu tổ chức Các khoa bao gồm: Các phòng ban bao gồm: Các đơn vị trực thuộc khác: Chương trình đào tạo [ 3 ] Thạc sĩ: Đại học chính quy: Cao đẳng sư phạm Cao đẳng ngoài sư phạm Trình độ trung cấp Kiểm định chương trình đào tạo trình độ đại học Năm học 2021 – 2022, Trường Đại học Hạ Long đã kiểm định thành công 03 chương trình đào tạo (CTĐT) trình độ đại học, gồm CTĐT Ngôn ngữ Anh, Khoa học máy tính, Quản trị du lịch và lữ hành. Năm học 2022 – 2023, Trường Đại học Hạ Long tiếp tục thực hiện kiểm định 07 CTĐT trình độ đại học gồm các ngành Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống, Ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ Nhật, Quản lý văn hóa, Quản lý tài nguyên và môi trường, Nuôi trồng thủy sản. Với việc kiểm định thành công 10/10 CTĐT đủ điều kiện kiểm định, Trường Đại học Hạ Long là một trong số ít trường trên toàn quốc hoàn thành kiểm định 100% CTĐT. Kết quả kiểm định này một mặt khẳng định cam kết về chất lượng đào tạo của Trường Đại học Hạ Long với toàn xã hội, mặt khác góp phần nâng cao thương hiệu của Trường, là tiền đề để Nhà trường thực hiện những bước phát triển đột phá trong thời gian tới. Thành tựu từ chiến lược phát triển nguồn nhân lực ( tháng 10/2023) Từ khi thành lập đến nay, Trường đại học Hạ Long ngày càng hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ cấu ngày một phù hợp với chiến lực phát triển của nhà trường, đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên, nhân viên được nâng cao về chất lượng, Sau một thời gian thành lập và phát triển tới nay, Trường Đại học Hạ Long có tổng số trên 300 cán bộ, giảng viên, nhân viên. Trong đó: Phó giáo sư : 01 người, tiến sĩ có 38 người (tăng 13 lần so với năm 2014); Thạc sĩ có 195 người (tăng 1,3 lần so với năm 2014). Nhà trường không ngừng lớn mạnh cả về quy mô và chất lượng, đang khẳng định uy tín, trở thành nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho tỉnh Quảng Ninh và cả nước. Để có được những thành tựu trên, Trường Đại học Hạ Long luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh với nhiều cơ chế, chính sách như: Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc; Ký hợp đồng thỉnh giảng với các giáo sư, phó giáo sư, các chuyên gia uy tín, tuyển dụng được các tiến sĩ và thạc sĩ đào tạo ở nước ngoài…. Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đã cử nhiều giảng viên đi học nghiên cứu sinh, cao học… Góp phần tạo nguồn giảng viên chất lượng cao, đảm bảo việc mở hơn chục mã ngành đào tạo hệ đại học. Đội ngũ giảng viên Nhà trường có trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy hiện đại đáp ứng nhu cầu học của sinh viên. Các chuyên ngành Ngôn ngữ Anh, Nhật, Hàn, Trung Quốc sinh viên được thực hành giao tiếp với giảng viên, chuyên gia người nước ngoài từ đó nâng cao được khả năng giao tiếp và tìm hiểu văn hóa bản địa. Bên cạnh việc sở hữu đội ngũ giảng viên có chất lượng là các nhà giáo, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia có kinh nghiệm làm việc thực tế nhiều năm tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp trong và ngoài nước, Nhà trường đã ký hợp đồng thỉnh giảng với các giáo sư, phó giáo sư, các chuyên gia uy tín, tiếp nhận tình nguyện viên nước ngoài (chủ yếu là Mỹ, các nước châu Âu, Nhật Bản , Hàn Quốc, Trung Quốc) qua các tổ chức văn hóa, giáo dục uy tín. Từ chiến lược phát triển đó, có thể thấy, đội ngũ giảng viên ngày càng phát triển theo hướng tinh gọn, năng lực chuyên môn ngày càng cao, có đạo đức, lối sống lành mạnh và có tâm với nghề, tất cả vì mục tiêu xây dựng Trường Đại học Hạ Long ngày càng vững mạnh, đoàn kết, nỗ lực, quán triệt quan điểm phát triển của Trường là: “Tự chủ – Ứng dụng – Đại học số – Thương hiệu”. Hệ thống giảng đường, phòng học Trường Đại học Hạ Long có 2 cơ sở: - Cơ sở 1: tại Uông Bí - Quảng Ninh - Cơ sở 2: tại trung tâm Hạ Long - Quảng Ninh. Cả hai cơ sở đều được trang bị các khu nhà làm việc và giảng đường hiện đại. Tại Cơ sở 1, Nhà trường hiện có trên 100 phòng học trong các nhà cao tầng (các khu nhà A, B, C, D, E) với diện tích gần 10.000 m2 đáp ứng hoàn hảo cho việc giảng dạy và học tập theo hệ thống tín chỉ. Các phòng học đều được trang bị máy chiếu cố định, điều hòa, các phòng học lớn được trang bị hệ thống âm thanh trợ giảng hiện đại. Nhà trường cũng xây dựng một số phòng học chuyên môn dành cho sinh viên các ngành Ngoại ngữ, Du lịch, Công nghệ thông tin, Ngoại ngữ… Trên tất cả các khu giảng đường đều có hệ thống kỹ thuật như quạt gió, ánh sáng, rèm che nắng, các công trình vệ sinh phục vụ cho công tác giảng dạy được trang bị đầy đủ và duy trì hoạt động với chất lượng cao. Tại Cơ sở 2, Nhà trường cũng đầu tư xây dựng 16 giảng đường (tại 2 cơ sở) trong đó có 1 giảng đường lớn với hơn 350 chỗ ngồi có hệ thống âm thanh, ánh sáng và trang thiết bị hiện đại phục vụ các sự kiện lớn của nhà trường hoặc các buổi học tập trung dành cho sinh viên. Tổ chức quản lý Hội đồng Trường Đại học Hạ Long đã được kiện toàn theo Quyết định số 3336/QĐ-UBND ngày 14/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh. Tổng số thành viên Hội đồng Trường Đại học Hạ Long hiện tại có 19 người. Tiến sĩ Đặng Hoàng Thông được bầu làm Chủ tịch hội đồng Trường. Ngày 20 tháng3 năm 2023, Quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh giao ông Nguyễn Đức Tiệp , nguyên phó chủ tịch thành phố Uông Bí, làm hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long. Nghị quyết số 41/NQ-HĐT ngày 19/4/2023 của Hội đồng Trường về việc bổ nhiệm lại chức vụ phó hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long đối với bà Hoàng Thị Thu Giang và bà Phan Thị Huệ . Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: eb078eedb5ef TITLE: Trường Đại học Thái Bình SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh [CONTENT] Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. Trường Đại học Thái Bình (tiếng Anh: Thai Binh University ) Là trường đại học công lập, đa ngành, đa lĩnh vực, theo định hướng ứng dụng, thuộc top đầu khu vực Đồng bằng Sông Hồng, được sự quan tâm đặc biệt của địa phương; các bộ, ban,ngành, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trường được thành lập theo Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình. [ 1 ] Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: fd87272b9f44 TITLE: Trường Đại học Hồng Đức SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%E1%BB%93ng_%C4%90%E1%BB%A9c [CONTENT] Đại học Hồng Đức (Hong Duc University, vt : HDU) là một trường đại học địa phương đa ngành, công lập, [ 1 ] trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa . Tháng 7, năm 2018, Webometrics xếp hạng trường HDU thứ 19 trong tổng số 235 các trường Đại học, Học viện của cả nước mặc dù đây là trường có tuổi đời trẻ chỉ trên 20 năm, thành lập sau rất nhiều trường khác. [ 2 ] HDU là một trong những trường Đại học có số chương trình đào tạo được kiểm định ngoài [ 3 ] đạt chuẩn nhiều nhất cả nước. Có những năm tuyển sinh Đại học, điểm trúng tuyển yêu cầu của trường cao thuộc hạng đầu bảng [ 4 ] cả nước. Năm 2023, nhà trường mở thêm hệ phổ thông liên cấp, [ 5 ] và trở thành Đại học "siêu trường" [ 6 ] đầu tiên và duy nhất cả nước có đào tạo đầy đủ các hệ từ Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ. [ 7 ] Quy mô trường, lớp, chất lượng đào tạo của nhà trường không ngừng được nâng cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước. Hình thành Trường được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1997 theo Quyết định số 797/1997/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Đại học này được mang tên niên hiệu Hồng Đức 洪德 của hoàng đế Lê Thánh Tông thịnh trị nhất toàn bộ lịch sử Việt Nam), trên cơ sở sáp nhập ba trường Cao đẳng: Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế Thanh Hoá. Đại học Hồng Đức là trường đại học đầu tiên [ 8 ] trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam được thành lập theo mô hình mới: Đại học công lập, đa ngành, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Đại học Hồng Đức có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực đa lĩnh vực có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa và đất nước. Đại học Hồng Đức là trường theo định hướng ứng dụng phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội, sản phẩm tiêu biểu: giống lúa Hồng Đức 9, lúa nếp hạt cau, bảo tồn gen (cây Khôi tía, vịt Cổ Lũng), chế biến cây Sachi, lọc sinh học xử lí Biogas, giống ngô lai QT55, Bơm thủy năng HĐBT, Công nghệ xử lí môi trường, chế biến cao Lan Kim Tuyến (Y-Dược), Bộ chế phẩm Tricho-HDU và Bokashi-HDU, Giường bệnh thông minh đa năng, gạch không nung có độ bền cao, hệ thống điều khiển nhà trạm viễn thông thông minh, nông nghiệp công nghệ cao (nuôi cấy Đông trùng hạ thảo, trồng nấm Linh chi, rau an toàn trong nhà lưới, máy tách vỏ trứng, sản xuất khoai tây theo công nghệ tưới nhỏ giọt), phần mềm nhận diện khuôn mặt, phần mềm xác định chữ ký, hệ thống rửa xe tự động, giải pháp camera giám sát thông minh... theo hướng phát triển thành điểm sáng về Đại học ứng dụng [ 9 ] ở khu vực Đông Nam Á . Mục tiêu chiến lược: Xây dựng Trường Đại học Hồng Đức [ 10 ] [ 11 ] trở thành Đại học thông minh [ 12 ] , là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; hội nhập sâu rộng với các trường Đại học tiên tiến trong khối ASEAN và quốc tế ; có vị thứ xứng đáng trong hệ thống Đại học của Việt Nam. Cơ sở vật chất Sau 3 giai đoạn đầu tư, xây dựng, đến nay, cơ vật chất phục vụ cho các hoạt động chuyên môn của Nhà trường đã khá hoàn thiện, hiện đại. Với tổng diện tích 478.000 m2, trong đó cơ sở chính là 384.000m2 và Trung tâm Giáo dục quốc phòng - An ninh 94.000m2, Trường Đại học Hồng Đức là một trong những cơ sở giáo dục đại học có khuôn viên rộng rãi, hiện đại, môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn nhất [ 13 ] trong khối các trường đại học trong cả nước. Ký túc xá, khu liên hợp thể thao, thư viện, giảng đường, phòng thí nghiệm, được đầu tư đồng bộ, hiện đại, trang thiết bị đảm bảo đáp ứng phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác. Đào tạo Tổ chức của Nhà trường hiện nay gồm có 33 đơn vị trực thuộc, gồm: - 12 Khoa đào tạo: Khoa Công nghệ Thông tin và truyền thông, khoa Khoa học Tự nhiên, khoa Khoa học Xã hội và Nhăn văn, khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, khoa Lý luận Chính trị - Luật, khoa Kỹ thuật - Công nghệ, khoa Giáo dục - Thể chất, khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, khoa Tại chức, khoa Sư phạm Mầm non, khoa Sư phạm Tiểu học, khoa Ngoại Ngữ và khoa Tâm lý Giáo Dục ; - 10 Phòng : phòng Công tác Học sinh Sinh viên, Đào tạo, Hành chính - Tổng hợp, Hợp tác Quốc tế, Kế hoạch - Tài chính, Quản lý Khoa học và Công nghệ, Thanh tra, Tổ chức - Cán bộ, Đảm bảo chất lượng và Khảo thí và phòng Quản trị, vật tư ,Thiết bị - 3 Ban: Ban Quản lý Nội trú, Ban Quản lý Dự án xây dựng, Ban Bảo vệ - 6 trung tâm: Trung tâm Thông tin – Thư viện, Giáo dục Quốc tế, Giáo dục Quốc phòng, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Nghiên cứu ứng dụng Khoa học Công nghệ và trung tâm Phát triển Đào tạo và hỗ trợ học tập và Trạm y tế. Nhà trường hiện có gần 740 cán bộ, giảng viên, trong đó giảng viên cơ hữu có 02 GS, 24 PGS, 175 Tiến sĩ - (tỷ lệ giảng viên có trình độ Tiến sĩ đạt 41,26%). Nhiều PhD hạng xuất sắc từ các nước tiên tiến. Đại học Hồng Đức là trường đầu tiên [ 14 ] trong cả nước đưa học phần Công nghệ số vào giảng dạy cho tất cả các chương trình đào tạo. Nhà trường đa dạng hóa các hình thức hợp tác với các trường, các viện và tổ chức có uy tín trên thế giới, mang đến những khởi sắc cho hoạt động hợp tác quốc tế. [ 15 ] Tiêu biểu như đã và đang có các Chương trình hợp tác với các trường đại học uy tín thế giới: Đại học Zielona Gora (Ba Lan), Đại học Greifswald và Đại học Anhalt (CHLB Đức), Đại học Soongsil (Hàn Quốc)... Triển khai hợp tác NCKH với các trường: Đại học Greifswald , Đại học Aix - Marseille , Polytech Tours ... Trong những năm qua, cán bộ, giảng viên Nhà trường đã thực hiện 02 dự án quốc tế, 08 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có 02 đề tài độc lập và 06 đề tài thuộc Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia ( NAFOSTED ); 38 đề tài cấp Bộ, 56 đề tài cấp tỉnh và 533 đề tài cấp cơ sở. Công bố 1.329 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế. Thực hiện 1.942 đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, trong đó có 328 đề tài đạt giải cấp trường và 32 đề tài đạt giải cấp Bộ, 06 giải thưởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam ( VIFOTEC ). Sinh viên Nhà trường tham gia Đoàn vận động viên của tỉnh tham dự Đại hội TDTT toàn quốc, Vô địch Đông Nam Á và thế giới đạt nhiều huy chương, [ 16 ] gồm 16 huy chương vàng, bạc, đồng các giải Taekwondo , Vovinam , Cầu mây , Wushu , Kickboxing , Muay . Thành tích Năm 2017, Nhà trường được công nhận Đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học [ 18 ] theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo . Hợp tác quốc tế Director President University and Technology President President limited company, Thanh Hoa Freiberg University Rector Power Engineering Institute" Moscow Technology Cựu sinh viên Cựu học viên của Trường Đại học Hồng Đức sau tốt nghiệp bước vào cuộc sống phát huy sự năng động, sáng tạo đã có những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Tham khảo Xem thêm Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c00bcf8edc7b TITLE: Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_h%C3%B3a,_Th%E1%BB%83_thao_v%C3%A0_Du_l%E1%BB%8Bch_Thanh_H%C3%B3a [CONTENT] Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (tiếng Anh: University of Culture, Sports and Tourism in Thanh Hóa ) là một trường đại học đa ngành. Trường có khởi nguồn từ Trường Sơ cấp Văn hóa Nghệ thuật, được thành lập từ tháng 3/ 1967 tại Thành phố Thanh Hóa . Trải qua nhiều năm phát triển và tạo dựng được uy tín trong lĩnh vực đào tạo nghệ thuật, ngày 22 tháng 7 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định nâng cấp lên thành Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. Trường trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch . Tổ chức phòng ban, đơn vị sự nghiệp Khoa, bộ môn, trung tâm nghiên cứu Các ngành đào tạo Các lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: bd78a50c240b TITLE: Trường Đại học Tiền Giang SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ti%E1%BB%81n_Giang [CONTENT] Trường Đại học Tiền Giang (tiếng Anh: Tien Giang University, viết tắt: TGU ) là một trường đại học công lập đa ngành, định hướng ứng dụng, tọa lạc tại xã Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Trường được thành lập vào năm 2005 trên cơ sở sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang và Trường Cao đẳng Cộng đồng Tiền Giang, đóng vai trò là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ quan trọng của tỉnh và các vùng lân cận. Lịch sử Trường Đại học Tiền Giang được thành lập theo quyết định số 132/2005/QĐ-TTg ngày 06/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang (thành lập 09/1997) và Trường Trung học sư phạm mà tiền thân là 4 trường Sư phạm của tỉnh được thành lập từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) và Trường Cao đẳng Cộng đồng Tiền Giang (thành lập 08/2000, trên cơ sở hợp nhất Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng tại chức liên tỉnh gồm Tiền Giang, Long An , Bến Tre mà tiền thân là Viện Đại học Cộng đồng Tiền Giang ra đời 1971 và Trường Công nhân Kỹ thuật Tiền Giang). [ 1 ] [ 2 ] Ý nghĩa logo và slogan [ 3 ] Chất lượng đào tạo Đại học Tiền Giang đã được hệ thống Đại học Quốc gia kiểm định và chứng nhận về chất lượng đào tạo vào năm 2017. [ 4 ] Các phòng ban Các khoa Các trung tâm và ban Các ngành đào tạo Hệ đại họcː Hệ cao đẳngː Hệ trung cấpː Cơ sở vật chất Trường hiện tồ chức đào tạo tại hai cơ sở: Tham khảo Liên kết ngoài Website chính thức của Trường Đại học Tiền Giang Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 731adb486488 TITLE: Trường Đại học Trà Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Tr%C3%A0_Vinh [CONTENT] Trường Đại học Trà Vinh (tiếng Anh: Tra Vinh University - TVU ) là một trường đại học công lập đa ngành, tọa lạc tại phường Hòa Thuận, tỉnh Vĩnh Long (Trà Vinh cũ), Việt Nam. Trường được thành lập vào năm 2006 trên cơ sở Trường Cao đẳng Cộng đồng Trà Vinh, hiện trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Lịch sử Lịch sử phát triển Trường Đại học Trà Vinh tiền thân trường "Trường Cao đẳng Cộng đồng Trà Vinh", được thành lập ngày 3 tháng 8 năm 2001, trên cơ sở triển khai Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam - Canada do Cơ quan Phát triển Quốc tế của Canada (CIDA), Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng của Canada (ACCC), một số Viện/trườ caong của Canada như Viện Khoa học và Kỹ thuật Ứng dụng tỉnh Saskatchewan (SIAST), Viện Hàng hải (MI), Viện Kỹ thuật Nông nghiệp tỉnh Québec (ITA) và trường Đại học - Cao đẳng Malaspina (MUC) và Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ về tài chính và kỹ thuật. Sau đó, trường sáp nhập thêm trường Dạy Nghề và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Trà Vinh. [ 3 ] Sau 5 năm triển khai thành công Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam – Canada do chính phủ Canada và Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ, cùng với nhu cầu cấp thiết về phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà cũng như nhu cầu về nguồn nhân lực thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 141/QĐ-TTg nâng cấp trường Cao đẳng Cộng đồng Trà Vinh thành trường Đại học Trà Vinh và trở thành một trong những trường đại học CÔNG LẬP trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Ngày 28 tháng 4 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 639/QĐ-TTg sáp nhập trường Cao đẳng Sư phạm Trà Vinh vào trường Đại học Trà Vinh. Ngày 13 tháng 04 năm 2017 - TVU là trường đại học đầu tiên trực thuộc tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của trường, với mục tiêu của đề án là phát triển trường Đại học Trà Vinh thành trường Đại học định hướng ứng dụng theo các chuẩn mực khu vực và quốc tế; hoạt động tự chủ gắn với trách nhiệm bảo đảm các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơ hội học tập, nghiên cứu tại trường. [ 3 ] Ngày 14 tháng 11 năm 2022, PGS.TS. Phạm Tiết Khánh, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Trà Vinh ký Quyết định số 31/QĐ-HĐT về việc thành lập Trường Kinh tế, Luật thuộc Trường Đại học Trà Vinh trên cơ sở Khoa Kinh tế, Luật và Khoa Quản lý nhà nước, Khoa Quản trị văn phòng. Ngày 27 tháng 01 năm 2023 Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn thuộc Trường Đại học Trà Vinh được thành lập theo Quyết định số 03/QĐ-HĐT, của Hội đồng trường Trường Đại học Trà Vinh trên cơ sở hợp nhất ba đơn vị: Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ, Khoa Ngoại ngữ và Khoa Sư phạm. Ngày 29 tháng 12 năm 2023, GS.TS. Phạm Tiết Khánh, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Trà Vinh ký Quyết định số 13/QĐ-HĐT về việc thành lập Trường Y-Dược thuộc Trường Đại học Trà Vinh trên cơ sở Khoa Y-Dược và Khoa Răng hàm mặt. [ 4 ] Cơ sở vật chất Với tổng diện tích gần 53 ha, Đại học Trà Vinh gồm các công trình: khối các phòng, khoa, viện, trung tâm, Trường Thực hành Sư phạm, Ký túc xá, Thư viện, Giảng đường, Khu thực hành – thí nghiệm, nhà học…, đã được lãnh đạo trung ương cùng với lãnh đạo địa phương chủ trương phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng, một số đã hoàn thành và chính thức đưa vào sử dụng cùng với việc mua sắm trang thiết bị đồng bộ và một số công trình đang được xúc tiến. Nhìn chung, cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ bản đã đáp ứng tốt được yêu cầu cho công tác đào tạo của nhà trường. Khuôn viên trường được phân tán tại nhiều địa điểm với nhiều cơ sở phục vụ cho một hoặc một số chức năng đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh hoặc chuyển giao công nghệ tọa lạc tại Trà Vinh. Khu I : Số 126 Nguyễn Thiện Thành – Khóm 4, Phường Hòa Thuận, Tỉnh Vĩnh Long Khu II : Số 105 Kiên Thị Nhẫn, Phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long Khu IV: Số 227, Đường Phạm Ngũ Lão, Khóm 4, Phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long Chương trình đào tạo Đại học Trà Vinh là trường đại học công lập, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép tuyển sinh toàn quốc với 41 ngành sau đại học (10 ngành bậc tiến sĩ, 27 ngành bậc thạc sĩ, và 9 ngành đào tạo chuyên khoa cấp I, 01 ngành đào tạo chuyên khoa cấp II ), 54 ngành bậc đại học và 01 ngành bậc cao đẳng (Cao đẳng Giáo dục mầm non), Trong đó, các ngành nghề tuyển sinh đại học thuộc 13 nhóm ngành: - Nhóm ngành Nông nghiệp – Thủy sản - Nhóm ngành Kỹ thuật & Công nghệ - Nhóm ngành Khoa học sức khỏe - Nhóm ngành Ngoại ngữ - Nhóm ngành Sư phạm - Nhóm ngành Lý luận chính trị - Nhóm ngành Kinh tế - Luật - Nhóm ngành Du lịch - Nhà hàng - Khách sạn - Nhóm ngành Quản lý nhà nước, Quản trị văn phòng - Nhóm ngành Ngôn ngữ - Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam Bộ - Nhóm ngành Hóa học - Nhóm ngành công tác xã hội, thể dục thể thao và khoa học ứng dụng - Nhóm ngành môi trường Chất lượng đào tạo Bảng xếp hạng Trường Đại học Trà Vinh xếp hạng 71 trong Top 100 của WURI Ranking 2021 trường có ảnh hưởng và đóng góp tích cực cho xã hội. Đồng thời, xếp thứ 17 (tăng 7 bậc so với trước đây) lọt vào trong Top 50 về giá trị của khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hạng 48 trong Top 50 về mở rộng hợp tác và chương trình trao đổi sinh viên quốc tế, cơ hội giao lưu học tập sinh viên giữa các cơ sở giáo dục ngoài nước. [ 5 ] Năm 2022, tại hội nghị trực tuyến do Liên minh các trường đại học thế giới, World’s Universities with Real Impacts (WURI) vừa công bố Trường Đại học Trà Vinh xếp hạng 62 trong Top 100 của WURI Ranking 2022 trường có ảnh hưởng và đóng góp tích cực cho xã hội. Đồng thời, xếp thứ 15 trong Top 50 về giá trị của khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, hạng 47 trong Top 50 về mở rộng hợp tác và trao đổi sinh viên quốc tế, cơ hội giao lưu học tập sinh viên giữa các cơ sở giáo dục ngoài nước và xếp hạng 22 trong Top 50 về kết nối mở, chuyển đổi số và các ứng dụng tích hợp. [ 6 ] Ngày 15-17 tháng 5 năm 2023, Tại hội nghị trực tuyến do Liên minh các trường đại học thế giới, World’s Universities with Real Impacts (WURI) vừa công bố Trường Đại học Trà Vinh xếp hạng 43 trong Top 100 của WURI Ranking 2023 trường có ảnh hưởng và đóng góp tích cực cho xã hội. Đồng thời, xếp thứ 11 trong Top 50 về giá trị của khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo (Entrepreneurial Spirit); xếp thứ 34 trong Top 50 về mở rộng hợp tác và trao đổi sinh viên quốc tế, cơ hội giao lưu học tập sinh viên giữa các cơ sở giáo dục ngoài nước (Student Mobility and Openness), xếp thứ 18 trong Top 50 về kết nối mở, chuyển đổi số và các ứng dụng tích hợp (Fourth Industrial Revolution), xếp thứ 29 trong top 50 về quản lý các giá trị phát triển bền vững (Crisis Management), xếp thứ 49 trong top 50 về giá trị đạo đức (Ethical Value) và xếp thứ 45 trong top 50 về ứng dụng khoa học, công nghệ (Industrial Application). [ 7 ] Theo kết quả của AD Scientific Index 2023 - một trong những hệ thống xếp hạng danh giá nhất thế giới về chỉ số khoa học và xếp hạng các trường đại học trên thế giới, với 20.444 viện, trường đại học đến từ 217 quốc gia tham gia xếp hạng. Trường Đại học Trà Vinh (TVU) xếp hạng 37 trong hơn 120 trường đại học tại Việt Nam. Điều này là một thành tích đáng chú ý cho TVU, một trường đại học trẻ được thành lập từ năm 2006. [ 8 ] Ngày 19 tháng 1 năm 2024, nhóm nghiên cứu độc lập do GS Nguyễn Lộc và 5 cộng sự đã công bố xếp hạng đại học Việt Nam lần thứ 2. Lần đầu tiên bảng xếp hạng ra mắt vào năm 2023. Theo đó Trường Đại Học Trà Vinh được xếp hạng 88 trong Top 100, với tổng số điểm là 41.51 Kiểm định chất lượng Từ rất sớm, năm 2006, Trường là đơn vị đầu tiên trong tỉnh sử dụng hệ thống kiểm định chất lượng ISO 9001-2000 như một công cụ để quản lí chất lượng, đến nay đã trải qua các phiên bản ISO 9001-2008, ISO 9001-2015 Trường đã đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục cấp cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn mới của Bộ GD&ĐT, và đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế. Hiện tại, Trường ĐH Trà Vinh là trường ĐH tốp đầu ở ĐBSCL có nhiều chương trình đạt kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế theo chuẩn chất lượng AUN-QA, FIBAA, ABET với 13 chương trình đã kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế, trong đó 05 chương trình đào tạo đạt chuẩn chất lượng giáo dục quốc tế AUN-QA là: Nông nghiệp, Thủy sản, Thú y thuộc Khoa Nông nghiệp Thủy sản; Điều dưỡng thuộc Khoa Y Dược; Ngôn ngữ Khmer thuộc Khoa Ngôn ngữ, Văn hóa, Nghệ thuật Khmer Nam Bộ. 07 chương trình đạt kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế FIBAA: Quản trị kinh doanh; Kinh tế; Luật, Kế toán và Tài chính ngân hàng, Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Thạc sĩ quản lý kinh tế thuộc Khoa Kinh tế – Luật; ngành công nghệ thông tin thuộc Khoa Kỹ thuật và Công nghệ đã kiểm định chất lượng ABET và đang tiếp tục mở rộng kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế AUN, ABET, FIBAA cho các ngành học còn lại của Nhà trường. [ 9 ] Đội ngũ giảng viên Trường ĐHTV có lực lượng cán bộ quản lý và giảng viên đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Cụ thể: - Về số lượng: đến tháng 3 năm 2018, đội ngũ công chức, viên chức, giảng viên, người lao động của Trường ĐHTV, gồm có 1.308 người. Trong đó: + Giáo sư: 5 người, tỉ lệ: 0.38%, + Phó Giáo sư: 19 người, tỉ lệ: 1.45% + Tiến sĩ: 423 người, tỉ lệ: 32.34% + Thạc sĩ: 410 người tỉ lệ: 31.35% + Chuyên khoa I, II: 68 người, tỉ lệ: 5.20% + Đại học: 260 người, tỉ lệ: 19.88% + Cao đẳng: 54 người, tỉ lệ: 4.13% + Trình độ khác: 69 người, tỉ lệ: 5.28% - Về chất lượng: Đảm nhận được khối lượng công việc hiện tại, nhưng cần phải được tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng trong thời gian ngắn nhằm kịp thời đáp ứng được tiến độ phát triển chung của Nhà trường. Cụ thể: Lực lượng cán bộ chủ chốt (Trưởng/Phó các 17 Chiến lược phát triển Trường ĐHTV giai đoạn 2018 – 2025, tầm nhìn 2030 đơn vị trực thuộc Trường) có kinh nghiệm quản lý được kế thừa từ Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam – Canada và thường xuyên được cập nhật nghiệp vụ thông qua các chương trình bồi dưỡng, tập huấn. Tuy nhiên, về kinh nghiệm NCKH, lực lượng giảng viên có học vị tiến sĩ trở lên và giảng viên là nhà khoa học đầu ngành của Trường còn thiếu so với yêu cầu về hoạt động của Trường. [ 10 ] Cơ cấu tổ chức Các hội đồng trường Hội đồng trường Hội đồng cấp trường Các khoa - viện Hiện nay, TVU có các trường trực thuộc, khoa - viện đào tạo từ cao đẳng đến đại học và sau đại học: Các phòng - ban Các phòng ban với nhiệm vụ chức năng khác nhau: Các trung tâm và các đơn vị khác thuộc trường Đảng, đoàn thể Nghiên cứu khoa học Công tác nghiên cứu khoa học được nhà trường đặc biệt chú trọng. Trong 5 năm trở lại đây, công tác nghiên cứu khoa học chuyển biến tích cực, trường đã triển khai thực hiện gần 100 đề tài ở các cấp thuộc các lĩnh vực nghiên cứu. Trong đó, có một số đề tài ứng dụng được chuyển giao khoa học công nghệ vào thực tiễn, tiêu biểu như: Mô hình sản xuất lúa chuẩn VietGap, mô hình Nuôi cấy phôi dừa sáp, mô hình sản xuất rau an toàn, mô hình sinh viên trồng dưa tự quản, mô hình trồng nấm bào ngư, mô hình nuôi cua biển tại Duyên Hải…, đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế nhất định trong sản xuất trên địa bàn Tỉnh. Đặc biệt việc biên soạn và đưa vào sử dụng bộ Từ điển song ngữ Việt – Khmer và Khmer – Việt với 84.000 từ, là bộ Từ điển song ngữ Việt – Khmer và Khmer – Việt đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam được đánh giá cao và có ý nghĩa đặc biệt trong mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Campuchia. Có hàng trăm bài báo khoa học của cán bộ giảng viên đăng trên các tạp chí trong nước và quốc tế. Từ năm 2011, trường được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép xuất bản Tạp chí khoa học với chỉ số ISSN:1859-4816. Đến nay, Tạp chí khoa học của trường đã được Hội đồng Chức danh giáo sư ngành công nhận là một trong những tạp chí khoa học được tính điểm công trình cho ngành Văn hóa học và Văn học. Hợp tác quốc tế Trên cơ sở kế thừa thành quả từ Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam – Canada, cùng với định hướng phát triển đào tạo theo xu thế hội nhập quốc tế, xác định hợp tác quốc tế là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển của nhà trường, nhà trường chủ động, tích cực trong việc thiết lập các mối quan hệ và đã chính thức ký kết, giao lưu hợp tác với gần 100 đối tác nước ngoài thuộc 18 quốc gia trên thế giới, hợp tác ở các lĩnh vực cụ thể như: Liên kết đào tạo; nghiên cứu khoa học, tổ chức diễn đàn, hội thảo khoa học; tiếp nhận và đưa giảng viên, sinh viên học tập, nghiên cứu; tiếp nhận tình nguyện viên; tiếp nhận các dự án tài trợ từ một số tổ chức giáo dục quốc tế. TVU là thành viên của tổ chức CDIO – tổ chức đề xướng khuôn khổ giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học khối các ngành kỹ thuật trên toàn thế giới Ngoài ra, TVU còn là thành viên thứ 151 – thành viên quốc tế duy nhất của Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Canada (ACCC), nay là Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Canada (CICan). Là thành viên chính thức của UMAP (University Mobility in Asia and the Pacific) – Mạng lưới trao đổi sinh viên Châu Á Thái Bình Dương. Hợp tác doanh nghiệp (CO-OP), hỗ trợ khởi nghiệp Sinh viên tham gia chương trình được cung cấp kinh nghiệm “nghề nghiệp”, mở rộng việc học ra khỏi phạm vi lớp học; được hưởng lương khi tham gia học kỳ CO-OP; học được cách tìm việc làm, các kỹ năng nghề nghiệp thực tế. TVU là nơi kết nối SV với doanh nghiệp, tạo cơ hội việc làm cho SV, chú trọng phát triển mạnh không gian sáng chế trong SV, giảng viên – khu makerspace, phát triển các nhóm SV nghiên cứu – IEEE Student Chapter tại TVU, các mô hình hợp tác xã SV, chi hội nông dân là SV, cùng các chính sách khuyến khích ươm mầm ý tưởng khởi nghiệp, nghiên cứu khoa học ứng dụng, chuyển giao công nghệ cùng các dịch vụ phục vụ, chia sẻ hướng về cộng đồng. TVU có Trung tâm Dịch vụ việc làm kết nối sinh viên với doanh nghiệp, tổ chức Ngày hội việc làm hằng năm nhằm giới thiệu việc làm cho 100% sinh viên sau khi tốt nghiệp và các việc làm thêm cho sinh viên đang theo học. TVU sớm mở rộng quỹ khởi nghiệp, quỹ nghiên cứu khoa học sinh viên cùng giảng viên phát triển các ý tưởng, nghiên cứu tạo ra các sản phẩm tốt hướng về cộng đồng như: nuôi thành công tôm sú bố mẹ sạch bệnh, nuôi cấy phôi dừa sáp thành công – đang tiếp tục nghiên cứu nuôi cấy mô dừa sáp, nuôi cấy thành công đông trùng hạ thảo, tạo ra các giống lúa chịu hạn mặn, chế tạo thiết bị xác định tỉ lệ sáp trong trái dừa, chế tạo máy đo thân nhiệt tự động, máy in 3D, xe máy điện, máy phay CNC; ứng dụng công nghệ IoT vào ruộng lúa, biên soạn và xuất bản thành công Bộ từ điển song ngữ Việt – Khmer, Khmer – Việt 84. 000 từ,.. cùng nhiều ý tưởng “khởi nghiệp xanh” độc đáo từ sinh viên tạo ra những sản phẩm thân thiện, an toàn, phục vụ cuộc sống. Học phí và học bổng TVU có nhiều chính sách tốt hướng về người học như: chính sách miễn giảm học phí khi sinh viên theo học các ngành hệ chính quy: Sư phạm ngữ văn, Sư phạm tiếng Khmer, Giáo dục mầm non, Giáo dục tiểu học, Biểu diễn nhạc cụ truyền thống. Trường thường xuyên cấp học bổng khuyến khích đặc biệt dành cho sinh viên nữ (tương đương 50% học phí toàn khóa học) là sinh viên nữ theo học các nhóm ngành kỹ thuật công nghệ. Học bổng từ các nhà tài trợ dành cho sinh viên vượt khó, học bổng khuyến khích học tập tốt, học bổng vượt khó. Hỗ trợ sinh viên vay vốn khởi nghiệp và thực hiện các chính sách sinh viên nghèo, sinh viên người dân tộc, sinh viên chính sách và sinh viên thuộc nhóm yếu thế… Đặc biệt, Sinh viên là nữ học các ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật điện – điện tử, Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Kỹ thuật cơ khí động lực, Công nghệ kỹ thuật ô tô, Khoa học vật liệu được cấp học bổng hàng năm tương đương 50% học phí; Công nghệ kỹ thuật hóa học được cấp học bổng hàng năm tương đương 30% học phí. Hệ sinh thái TVU Phát triển mô hình Trường thực hành sư phạm với 4 cấp học từ Mầm non, Tiểu học, THCS và THPT trong một trường đại học, đào tạo đầy đủ các hệ từ Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ. Khoa Ngôn ngữ, Văn hóa, nghệ thuật Khmer Nam bộ thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển cộng đồng người dân tộc với nhiều chính sách hướng về người học. Trung tâm Học liệu được nhà trường bố trí với không gian rộng rãi, sạch sẽ, thoáng mát, hệ thống máy lạnh và nguồn sách phong phú hơn 100.000 đầu sách. Bên cạnh đó, Nhà trường trang bị hệ thống máy tính với 150 máy kết nối Internet dành cho các bạn sinh viên sử dụng hoàn toàn miễn phí để hỗ trợ việc học tâp, thư viện điện tử và số hóa các tài liệu học tập, sách, tạp chí … phục vụ sinh viên. Ký túc xá trường Đại học Trà Vinh với sức chứa 3.500 chỗ được xây trong khuôn viên trường, xanh, sạch, đẹp, tiện nghi, an toàn cho sinh viên. Đây là điều kiện giúp sinh viên an tâm trong việc ăn, ở đi lại, đến lớp, tham gia học nhóm, đến thư viện, tham gia hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí của Nhà trường, giảm bớt lo lắng về khoản chi phí nhà ở, giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Thực hiện tốt mô hình đào tạo nhân lực y tế từ trường học – bệnh viện và đã đầu tư bệnh viện với khu điều trị nội trú 50 giường, phòng khám đa khoa, khu khám & điều trị răng hàm mặt, phòng khám nhi,… được đầu tư trang thiết bị hiện đại, để khám, điều trị bệnh theo nhu cầu và cũng là nơi nghiên cứu khoa học về y học, đào tạo cán bộ y tế và là cơ sở thực hành cho sinh viên thực tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình đào tạo tại Trường ĐH Trà Vinh đảm bảo kết hợp giữa “giảng dạy – thực hành – nghiên cứu và y đức”, đồng thời chăm sóc sức khỏe tốt cho sinh viên và cộng đồng. Khen thưởng Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2e7c71754c4b TITLE: Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - HUTECH là một đại học tư thục . Trường chính thức chuyển từ loại hình dân lập sang tư thục theo quyết định số 702/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ kể từ ngày 19 tháng 05 năm 2010. Hiện tại, hệ thống giáo dục HUTECH (HUTECH Education) bao gồm 2 trường đại học thành viên là Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH) và Trường Đại học Kinh tế - Tài chính (UEF) , bên cạnh đó, còn có Trường liên cấp song ngữ Hoàng Gia - Royal Bilingual International School - Royal School. [ 1 ] Lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 26 tháng 4 năm 1995 theo quyết định số 235/TTg của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động theo quyết định số 2128/GD-ĐT ngày 24 tháng 06 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo . Trường chính thức chuyển từ loại hình dân lập sang tư thục theo quyết định số 702/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ kể từ ngày 19 tháng 05 năm 2010. Đại học HUTECH sở hữu 4 khu học xá tại khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh với tổng diện tích trên 100.000 m². HUTECH đã đưa vào sử dụng Trung tâm Đào tạo nhân lực chất lượng cao HUTECH và Viện Công nghệ cao HUTECH vào năm 2016. [ 2 ] Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 1 năm 2015, trường có 723 giảng viên. Trong đó có 9 Giáo sư , 21 Phó giáo sư , 95 T iến sĩ , 416 Thạc sĩ và 182 giảng viên có trình độ Đại học . [ 3 ] Năm học 2017 - 2018, [ 4 ] trường có 1109 giảng viên. Trong đó có 9 Giáo sư, 32 Phó giáo sư, 181 Tiến sĩ, 707 Thạc sĩ và 191 giảng viên có trình độ Đại học. Năm học 2022 - 2023, trường có 1875 giảng viên cơ hữu gồm 15 Giáo sư, 45 Phó Giáo sư, 249 Tiến sĩ khoa học - Tiến sĩ, 1226 Thạc sĩ. Cơ sở vật chất Năm học 2015 - 2016: Năm học 2017 - 2018: [ 4 ] Hệ thống đào tạo Trình độ tiến sĩ Trình độ thạc sĩ Trình độ Đại học Các khoa và ngành đào tạo Viện âm nhạc và nghệ thuật Viện Kỹ thuật Khoa Công nghệ Thông tin Khoa Dược Khoa Quản trị Kinh doanh Khoa Marketing - Kinh doanh quốc tế Khoa Tài chính - Thương mại Viện Khoa học ứng dụng Khoa Kiến trúc - Mỹ thuật Khoa Xây dựng Khoa Hệ thống thông tin quản lý Khoa Tiếng Anh Khoa Nhật Bản học Khoa Trung Quốc học Khoa Hàn Quốc học Viện Khoa học xã hội và Nhân văn Khoa quản trị du lịch - nhà hàng - khách sạn Khoa luật Khoa Cao đẳng thực hành Khoa Truyền thông - Thiết Kế Các viện đào tạo trực thuộc trường Viện Đào tạo Quốc tế HUTECH Viện Đào tạo Quốc tế HUTECH điều hành các chương trình đào tạo Quốc tế, đồng thời chủ trì các hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ với các công ty, viện trường trên thế giới. Hiện tại, HUTECH có quan hệ hợp tác đào tạo với Đại học mở Malaysia, Đại học Lincoln - Hoa Kỳ, Đại học Seokyeong - Hàn Quốc, Đại học VIA - Đan Mạch, Cao đẳng Marie Victorin - Canada. Các chương trình hợp tác đào tạo thực hiện từ bậc Cao đẳng đến thạc sĩ. Viện Đào tạo Nghề nghiệp HUTECH Viện Công nghệ Việt - Nhật (VJIT) Viện Công nghệ Việt – Nhật (VJIT) là chương trình liên kết với các đại học hàng đầu của Nhật Bản, hiện đang triển khai đào tạo 20 chuyên ngành đại học chuẩn Nhật Bản. Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 43be13299c36 TITLE: Trường Đại học Gia Định SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Gia_%C4%90%E1%BB%8Bnh [CONTENT] Trường Đại học Gia Định ( tiếng Anh : Gia Dinh University – GDU ) là một đại học tư thục tại Việt Nam thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nguyễn Hoàng , được thành lập theo Quyết định số 959/QĐ-TTg ngày 31 tháng 07 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ . Các Nhiệm kỳ Hiệu trưởng: TS. Trần Hiếu Hạnh (7/2007-11/2008) TS. Nguyễn Văn Quang (11/2008-12/2009) TS. Nguyễn Đăng Liêm (12/2009-2018) TS. Hà Hữu Phúc (12/2018 - 09/2020) PGS.TS Võ Trí Hảo (10/2020 - 02/2023) ThS. Trịnh Hữu Chung (02/2023 - 09/2023) - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường PGS.TS Thái Bá Cần (10/2023 - nay) Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết về Thành phố Hồ Chí Minh này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: cd171c292bd5 TITLE: Trường Đại học Hoa Sen SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Hoa_Sen [CONTENT] Trường Đại học Hoa Sen ( HSU ) là một trường đại học của Việt Nam đào tạo các ngành kinh tế, kinh doanh và quản lý, du lịch, công nghệ, thiết kế nghệ thuật và ngôn ngữ. Lịch sử Trường được thành lập năm 1991 với tên gọi Trường Nghiệp vụ Tin học và Quản lý Hoa Sen. Năm 1994, trường Hoa Sen trở thành trường bán công. [ 1 ] Năm 1996, trường đã chuyển trụ sở đến tòa nhà số 8 Nguyễn Văn Tráng. [ 2 ] Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận thành lập Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen. Ngày 30 tháng 11 năm 2006, trường được nâng cấp thành Trường Đại học Hoa Sen. [ 1 ] Năm 2016, Trường Đại học Hoa Sen được cấp phép đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh. [ 3 ] Năm 2018, Tập đoàn giáo dục Nguyễn Hoàng mua lại Trường Đại học Hoa Sen. [ 4 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 06b9d6214624 TITLE: Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%B9ng_V%C6%B0%C6%A1ng_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh (DHV) là một đại học dân lập được thành lập năm 1995 bởi cố Giáo sư Tiến sĩ Ngô Gia Hy hiện do Ông Đặng Thành Tâm đứng ở cương vị Chủ tịch Hội đồng trường. Với định hướng trở thành một trường đại học thông minh, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp , DHV tạo dựng môi trường học tập hiện đại - nơi công nghệ, sáng tạo và thực tiễn được kết nối chặt chẽ. Với sự lãnh đạo của TS. Trần Việt Anh (Phó Hiệu trưởng Phụ trách trường), trường tập trung xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện, truyền cảm hứng và hỗ trợ sinh viên hiện thực hóa những ý tưởng đột phá, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời đại số. Cơ cấu tổ chức Hội đồng trường Hội đồng Trường của Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh gồm 09 thành viên: Ban Giám hiệu Hiệu trưởng qua các thời kỳ Lịch sử Ngày 14 tháng 1 năm 1993, một nhóm trí thức do cố GS. ThS Y khoa Ngô Gia Hy đứng đầu đã dự định thành lập một trường đại học dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.[2] Tháng 11 năm 1993, hội đồng sáng lập Trường Đại học Dân lập Hùng Vương được công nhận theo quyết định số 2395/QĐ-TCCB ngày 3 tháng 11 năm 1993 của Bộ Giáo dục và Đào Tạo . Hội đồng gồm 9 thành viên: Cố GS. ThS Ngô Gia Hy làm chủ tịch, Cố PGS. BS Trương Công Cán là phó chủ tịch và các ông Trần Quốc Huy , Nguyễn Nhã, Nguyễn Chung Tú, Diệp Vĩ Nam (đại diện ông Trần Tuấn Tài), Hà Bính Thân, Phan Tấn Chức, Vũ Đức Thắng làm thành viên. Ngày 26 tháng 10 năm 1994 GS. ThS Y khoa Ngô Gia Hy gửi tờ trình Bộ Giáo dục và Đào Tạo . Tiếp sau đó, tờ trình số 2568/TCCB, ngày 31 tháng 7 năm 1995, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi Thủ tướng Chính phủ , đề nghị thành lập Đại học Dân lập Hùng Vương tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14 tháng 5 năm 1995 trường được thành lập theo quyết định số 470/TTg, ngày 14 tháng 5 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ . Trường Đại học dân lập Hùng Vương được đổi tên thành Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh và hoạt động theo mô hình trường Đại học Tư thục theo công văn số 4167/BGDĐT-PC ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở cột mốc 30 năm hình thành và phát triển, Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh đã đào tạo hơn 22.000 sinh viên đại học , cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp chính quy. Tên gọi chính xác Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh (DHV) là cơ sở giáo dục đại học tư thục , được thành lập theo Quyết định số 2395/QĐ-TTCB ngày 03 tháng 11 năm 1993 của Bộ Giáo dục và Đào tạo . Tên gọi chính thức Ngành nghề đào tạo Năm 2017, Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh được phép tuyển sinh 6 ngành (Kế toán, Quản lý bệnh viện, Công nghệ sau thu hoạch, Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh, Tài chính - ngân hàng). [ 1 ] Đến năm 2024, trường tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo, tổ chức tuyển sinh và đào tạo các trình độ đại học và sau đại học với các ngành đào tạo như: Các cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Trường hiện tại có 4 cơ sở: Quy mô Khối Phòng ban Khối Khoa Các Trung tâm và Viện Ghi chú: Sơ đồ tổ chức có thể được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển của nhà trường. CLB - Đội nhóm CLB Tourism Câu lạc bộ Tourism là sân chơi dành cho sinh viên đam mê du lịch, được thành lập với mục tiêu tạo môi trường giúp thành viên rèn luyện kỹ năng sống, làm việc và phát triển các kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực du lịch. CLB tổ chức các hoạt động học thuật, ngoại khóa, đồng thời hỗ trợ định hướng nghề nghiệp và khám phá tiềm năng bản thân. CLB Thực hành nghề Luật CLB Thực hành nghề Luật mang đến cơ hội rèn luyện các kỹ năng cần thiết thông qua các hoạt động như tổ chức phiên tòa giả định, tham gia phiên tòa thực tế, giao lưu chuyên gia và xây dựng mạng lưới quan hệ. CLB hướng đến trang bị kiến thức thực tiễn, hỗ trợ sinh viên phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực pháp luật. CLB Truyền thông và Sự kiện (ACE) ACE Club là nơi kết nối các sinh viên đam mê tổ chức sự kiện và truyền thông. Với tinh thần "Chạy sự kiện là 9, chạy deadline là 10", ACE là môi trường năng động để học hỏi, đồng hành và phát triển kỹ năng thực tế trong lĩnh vực sáng tạo nội dung và tổ chức chương trình. CLB Karatedo CLB Karatedo được thành lập với tinh thần "Nhân - Lễ - Nghĩa", mang đến cơ hội rèn luyện ý chí kiên cường và phát triển kỹ năng võ thuật. Đây là nơi quy tụ những sinh viên yêu thích Karatedo, cùng học hỏi và phát triển trong một môi trường gắn kết. CLB De Cuisine “Ăn uống là con đường nhanh nhất đến trái tim!” CLB De Cuisine là nơi sinh viên có thể học hỏi và sáng tạo những món ăn ngon, chia sẻ niềm đam mê ẩm thực và tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau. CLB Cầu Lông Với slogan “Thách thức bản thân, vượt mọi giới hạn,” CLB Cầu Lông là nơi dành cho những ai yêu thích thể thao và không ngại tập luyện để đạt được thành tích. Hãy tham gia để cùng chúng mình vượt qua mọi thử thách trên sân cầu! CLB E-Sports Được thành lập nhằm đón đầu xu hướng thể thao điện tử trong thời đại công nghệ số, CLB E-Sports là nơi hội tụ những game thủ tài năng. Nếu bạn muốn tỏa sáng trong các giải đấu và xây dựng cộng đồng e-sports mạnh mẽ, đừng ngần ngại tham gia cùng chúng mình! Cựu sinh viên nổi bật Huỳnh Phúc Vinh Cựu sinh viên ngành Công nghệ thông tin (CTO - Giám đốc công nghệ công ty VinHMS - Thành viên tập đoàn VinGroup) Cựu sinh viên Công nghệ thông tin khóa 2002. Hiện tại Huỳnh Phúc Vinh là CTO - Giám đốc công nghệ công ty VinHMS - thành viên tập đoàn VinGroup. Nguyễn Mỹ Linh Cựu sinh viên ngành Quản lý Bệnh viện (Trưởng Phòng Công tác Xã hội, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương) “Tôi đã vận dụng rất nhiều kiến thức trong quá trình học tập tại trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh cho công việc của mình.Ở trường, tôi vừa học lý thuyết vừa đi thực tập thực tế. Đó là cơ hội cho tôi được tiếp cận với công việc một cách nhanh chóng. Ngoài ra, tôi được đào tạo cả những kỹ năng mềm như thuyết trình, giao tiếp…tạo nền tảng cho tôi tự tin hơn khi nói chuyện trước đám đông, tự tin trình bày những chính kiến của mình.” Đoàn Lâm Quang Minh Founder Minh team SJC - Công ty Team Building, sự kiện và du lịch (cựu sinh viên ngành du lịch) “Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh là ngôi nhà thứ 2 của Minh, nơi đó Minh cảm nhận được sự chân thành, nhiệt huyết từ các thầy cô, những người có chuyên môn cao rộng với sự kinh nghiệm thực tế tại các đơn vị hàng đầu trong ngành du lịch. Trường có môi trường học tập tốt với những hoạt động phong trào giúp Minh thỏa sức đam mê, sáng tạo trong chính ngành học, từ đó mang lại những giá trị rất thực tế.” Xem thêm Chú thích Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1b16872dbce6 TITLE: Trường Đại học Kinh tế – Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_-_T%C3%A0i_ch%C3%ADnh_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Economics and Finance , viết tắt: UEF ) là một đại học tư thục tại Việt Nam , được thành lập theo quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 24 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng . Vào năm 2014, sau 8 năm hoạt động gắng gượng, các nhà đầu tư của trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh đã bán lại trường cho chủ thương hiệu Đại học HUTECH Kiều Xuân Hùng với giá gần 200 tỷ đồng. Lịch sử Trường Đại học Kinh tế – Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 2007 theo quyết định số 1272/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng . [ 1 ] [ 2 ] Trường được hoạt động với phương châm "Chất lượng - Hiệu quả - Hội nhập". [ 1 ] Năm 2014, sau 8 năm gắng gượng trường đã được bán cho Công ty cổ phần Đầu tư phát triển giáo dục HUTECH, Kiều Xuân Hùng, [ 3 ] với giá gần 200 tỷ đồng. [ 4 ] Bấy giờ, giá học phí của trường lên tới gần 80 triệu đồng / một năm nên trước khi thay tên đổi chủ, việc tuyển sinh của trường lúc nào cũng chưa đạt múc 50% chỉ tiêu. [ 4 ] Quy mô Khuôn viên chính của Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại 141 - 145 đường Điện Biên Phủ, phường Gia Định (trước đây là phường 15, quận Bình Thạnh ) và trường chuyển đổi cơ sở chính trước đó ở số 276 - 282 đường Điện Biên Phủ, phường Gia Định (trước đây là phường 17, quận Bình Thạnh ), Thành phố Hồ Chí Minh về làm cơ sở phụ. [ 1 ] Ngoài ra, trường còn đang triển khai dự án tại khu Nam Sài Gòn với diện tích 5,5 ha. [ 1 ] Dự án đã được chính thức khởi công vào sáng ngày 20 tháng 3 năm 2021. [ 5 ] Cơ sở chính hiện tại của trường có diện tích sàn xây dựng vào khoảng 24.000 m² với 23 tầng nổi và 3 tầng hầm. [ 5 ] Cơ cấu tổ chức Ban giám hiệu Hội đồng trường Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 9 năm 2017, trường có 135 giảng viên. Trong đó có 1 giáo sư , 4 phó giáo sư , 31 tiến sĩ , 90 giảng viên có trình độ thạc sĩ và 9 giảng viên có trình độ đại học . [ 8 ] Hệ thống đào tạo Trình độ Đại học Chính quy Trình độ Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh Tài chính - Ngân hàng Kế toán Ngôn ngữ Anh Công nghệ Thông tin (IT) Đào tạo Quốc tế Sinh viên UEF có cơ hội lựa chọn học 1 hoặc 2 năm cuối theo chương trình hợp tác với những trường Đại học Quốc tế uy tin tại nước ngoài và nhận bằng cấp quốc tế từ các nền giáo dục tiên tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc... Chương trình Chuyển tiếp (2 năm đầu UEF - 2 năm cuối tạo các trường Quốc tế khác) Chương trình đạo tạo Song ngữ Chương trình Quốc tế (Du học tại chỗ - Sinh viên được đào tạo theo chương trình nước ngoài ngay tại Việt Nam). Hệ thống Khoa - Ngành Gồm 7 khoa đào tạo Ngành đào tạo Quản tri kinh doanh là hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa hóa "hiệu suất", "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý. Tài chính – Ngân hàng là kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ thông qua ngân hàng và các công cụ tài chính được ngân hàng phát hành nhằm bảo lãnh, thanh toán, chi trả trong nội địa và quốc tế. Kế toán là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động tài chính của một tổ chức , một doanh nghiệp , một cơ quan nhà nước, một cơ sở kinh doanh tư nhân. Công nghệ thông tin (IT – Information Technology) là một thuật ngữ bao gồm phần mềm , mạng lưới internet , hệ thống máy tính sử dụng cho việc phân phối và xử lý dữ liệu, trao đổi, lưu trữ và sử dụng thông tin dưới hình thức khác nhau. Ngôn ngữ Anh là ngành học nghiên cứu về các phương pháp học tập loại ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh, đồng thời đây còn là ngành học nghiên cứu về lịch sử , con người , văn hóa của các quốc gia, dân tộc sử dụng tiếng Anh trên thế giới. Luật Kinh tế là một bộ phận của pháp luật về kinh tế , là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau Marketing là một hình thức không thể thiếu trong kinh doanh, bao gồm tất cả các hoạt động hướng tới khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ thông qua quá trình tiếp thị sản phẩm, phát triển thương hiệu. Kinh doanh Quốc tế là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia. Thương mại điện tử là quá trình tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại thông qua những phương tiện điện tử hiện đại. Về bản chất, thương mại điện tử không thay đổi so với các hoạt động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, bằng các phương tiện điện tử mới, các hoạt động giao dịch, mua bán, quảng bá được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng phạm vi kinh doanh. Quản trị khách sạn là các hoạt động quản lý và tổ chức các hoạt động của khách sạn một cách hiệu quả và hợp lý bao gồm các công việc: lên kế hoạch làm việc cụ thể, khoa học cho từng bộ phận và phân công, đôn đốc nhân viên thực hiện đúng kế hoạch; lập các báo cáo kết quả tài chính, lập ra quy tắc trong việc quản lý nhân sự, quản lý tỷ lệ phòng bán ra và phòng còn trống, quản lý việc chế biến thực phẩm Quan hệ công chúng (PR) được hiểu là việc thực hiện các công việc, chiến lược cụ thể nhằm thiết lập cầu nối giữa tổ chức, doanh nghiệp với cộng đồng, khách hàng (hiện tại và tiềm năng), nhà đầu tư, giới truyền thông... nhằm định hình, khẳng định tên tuổi, thương hiệu sản phẩm hoặc đơn vị trong toàn bộ hoạt động và tiến trình phát triển. Quản trị nhân lực là nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt tới mức tối đa có thể được Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành gồm các hoạt động thiết kế, xây dựng chiến lược phát triển du lịch, quản lý và điều hành du lịch, tổ chức sự kiện du lịch, phân công công việc cho các hướng dẫn viên du lịch, tiếp nhận thông tin để phối hợp với các bộ phận, cơ quan chức năng giải quyết phát sinh trong lĩnh vực du lịch Quan hệ quốc tế được hiểu là ngành học nghiên cứu về ngoại giao và các vấn đề toàn cầu giữa các nước thông qua những hệ thống quốc tế, bao gồm các quốc gia, tổ chức đa chính phủ, tổ chức phi chính phủ, và các công ty đa quốc gia. Bên cạnh chính trị học, quan hệ quốc tế còn quan tâm đến những lĩnh vực khác nhau như kinh tế, lịch sử, luật, địa lý, xã hội học, nhân loại học, tâm lý học, và văn hóa học... Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e68551f3fdd1 TITLE: Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Thành phố Hồ Chí Minh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ngo%E1%BA%A1i_ng%E1%BB%AF_%E2%80%93_Tin_h%E1%BB%8Dc_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh [CONTENT] Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Thành phố Hồ Chí Minh ( tiếng Anh : Ho Chi Minh City University of Foreign Languages – Information Technology , tên viết tắt: HUFLIT ) là một đại học tư thục tại Việt Nam , được thành lập theo quyết định số 616/TTg ngày 26 tháng 10 năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt . Đến năm 2015, trường đã chuyển đổi từ loại hình trường Đại học dân lập sang loại hình trường Đại học tư thục . Trường hiện nằm ở số 828 Sư Vạn Hạnh, phường Hòa Hưng , thành phố Hồ Chí Minh . Chủ sở hữu Trường xuất phát điểm từ trường đại học dân lập, trường được thành lập và thuộc quyền sở hữu của ông Huỳnh Thế Cuộc. [ 1 ] Lịch sử Trường Đại học Dân lập Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 26 tháng 10 năm 1992 theo quyết định số 616/TTg của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt . Tiền thân của Trường là Trường Ngoại ngữ và Tin học Sài Gòn (1992). [ 2 ] Tại Quyết định số 1757/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển đổi loại hình trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh từ loại hình trường Đại học dân lập sang loại hình trường Đại học tư thục . [ 3 ] Tính đến năm 2003 – 2004, gần bốn ngàn cử nhân khoa học, chuyên viên các ngành Ngoại ngữ (chuyên ngành sư phạm, biên – phiên dịch, hành chính văn phòng), Công nghệ thông tin (chuyên ngành hệ thống thông tin, mạng viễn thông), Đông Phương học ( Trung Quốc học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học và Việt Nam học dành cho người nước ngoài), Du lịch – Khách sạn, Quản trị kinh doanh. Từ năm học 2004 trở đi, trường mở hệ đào tạo ngành Quan hệ quốc tế và tiếng Anh (theo kiểu song ngành), đồng thời tiến tới mở chuyên ngành Thái Lan học. Ngày 22 tháng 11 năm 2016, trường đã tổ chức tọa đàm quốc tế "Sự chuẩn bị và đón đầu xu thế của giáo dục đại học khi Việt Nam gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN " có sự tham gia của các Tổng Lãnh sự, Lãnh sự,... [ 3 ] Năm 2019, trường thành lập thêm Khoa Luật dựa trên nền tảng Bộ Môn Luật. Các khoa Trường có 09 Khoa, 02 Bộ môn, 04 Phòng, 03 Ban, 02 Thư viện và 03 Trung tâm trực thuộc với số lượng CBNV và giảng viên thay đổi và đáp ứng theo nhu cầu thực tế. [ 3 ] Cơ sở vật chất Đội ngũ giảng viên Kết quả xếp hạng theo VNUR 2023, Trường có tổng số 410 giảng viên, trong đó tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 11,0%. [ 4 ] Giải thưởng quốc gia Bê bối Vào tối ngày 11 tháng 1 năm 2023, trên mạng xã hội đã lan truyền thông tin sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (HUFLIT) trong lúc học quân sự tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh, Trường Quân sự Quân khu 7 thì đã có hai nữ sinh bị xâm hại tình dục . [ 5 ] [ 6 ] [ 7 ] Sau đó, hai nữ sinh này được cho là đã tự tử và một người chết, một người bị liệt. [ 6 ] Ngay sau đó, phía Trường Quân sự Quân khu 7 đã gửi công văn đến HUFLIT và xác nhận đây là thông tin sai sự thật. Trường giải thích thực chất chỉ có xảy ra tranh cãi nội bộ giữa hai sinh viên nữ và đã được can ngăn, không xảy ra hậu quả gì. [ 5 ] [ 7 ] Hiện tại, HUFLIT và Trường Quân sự Quân khu 7 đều đã lên tiếng xác nhận sẽ nhờ cơ quan chức năng điều tra làm rõ. [ 6 ] [ 8 ] Đến sáng ngày 12 tháng 1, Đại tá Nguyễn Tiến Sơn đại diện Quân khu 7 đã trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ , "những hình ảnh, clip đang lan truyền là cắt ghép và xuyên tạc sự thật". [ 9 ] Một trường Đại học khác là trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã bị liên lụy đánh giá 1 sao trên Google Maps do tên viết tắt của trường là HUFI gần giống với HUFLIT. Cho đến nay, cơ quan chức năng xác nhận rằng đây là thông tin sai sự thật. [ 10 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết liên quan đến đại học , cao đẳng và học viện ở Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7bdeb8c03941 TITLE: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Nguy%E1%BB%85n_T%E1%BA%A5t_Th%C3%A0nh [CONTENT] Trường Đại học Nguyễn Tất Thành là một đại học tư thục tại Việt Nam. Được thành lập vào 5 tháng 6 năm 1999 thuộc quản lý của bộ GD&ĐT . Trước đây là trường công lập sau được sáp nhập thành trường tư nhưng vẫn được điều hành bởi nhà nước Việt Nam [ 1 ] [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ] Trường hiện có 14 khoa, 54 chương trình đào tạo các bậc thuộc các khối ngành: Sức khỏe, Kinh tế, Xã hội – Nhân văn, Kỹ thuật – Công nghệ, Nghệ thuật – Mỹ thuật. Lịch sử hình thành Ra đời năm 1999, trường Đại học Nguyễn Tất Thành khi đó lấy tên gọi là Trung tâm đào tạo Công nhân may thuộc Công ty Dệt may Sài Gòn. Đến năm 2002, trường đổi tên thành Trường Kinh tế Kỹ thuật nghiệp vụ Bán công Nguyễn Tất Thành cho phù hợp hơn với các lĩnh vực đào tạo và nhiệm vụ. [ 5 ] Năm 2005, Đại học Nguyễn Tất Thành có nhiều bước tiến và những phát triển nổi bật, đổi tên thành Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật nghiệp vụ Bán công Nguyễn Tất Thành . Sang năm 2006, trường lấy tên gọi là trường Cao đẳng Nguyễn Tất Thành và từ năm 2011, trường nổi danh với tên gọi Đại học Nguyễn Tất Thành cho đến ngày nay. [ 5 ] Khối giảng dạy Cơ sở vật chất Chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có 1211 giảng viên. Trong đó có 8 giáo sư , 17 phó giáo sư , 83 tiến sĩ , 565 thạc sĩ và 538 giảng viên có trình độ đại học . [ 6 ] Năm 2025, trường có 1296 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động. Trong đó có 2 giáo sư, 28 phó giáo sư, 343 tiến sĩ, 923 thạc sĩ. Đội ngũ giảng viên toàn thời gian của trường có 1430 người, trong đó có 14 giáo sư, 70 phó giáo sư, 377 tiến sĩ, 969 thạc sĩ. [ 7 ] Cơ sở đào tạo Hiện tại trường có 1 trường chính và có thêm 5 cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh : Xem thêm Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: d501311dedf6 TITLE: Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_H%E1%BB%93ng_B%C3%A0ng [CONTENT] Đại học Quốc tế Hồng Bàng (viết tắt: HIU - Hong Bang International University ) là một đại học tư thục tại Việt Nam, do ông Nguyễn Mạnh Hùng thành lập năm 1997, [ 2 ] [ 3 ] hiện đã nhượng quyền sở hữu cho Tập đoàn Nguyễn Hoàng . Hiện trường đang có 2 cơ sở là: Theo UniRank, HIU xếp thứ 46 tại Việt Nam. [ 4 ] Mới đây, theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, [ 5 ] trường đại học nằm trong danh sách được khuyến khích vì nền giáo dục cấp cao, môi trường quốc tế và khuôn viên chất lượng cao. Mũi nhọn phát triển của trường hiện nay là các đào tạo ngành Y tế và kiến trúc. Quá trình hình thành Năm 1997, Trường Đại học Dân lập Hồng Bàng (Hong Bang University, viết tắt HBU) được thành lập theo QĐ số 518/TTG, PSG. TS. Nguyễn Mạnh Hùng là Hiệu trưởng đầu tiên của trường. Năm 2009, Nhà trường được đổi tên thành Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (Hong Bang International University) theo QĐ số 666/QĐ-TTg Năm 2015, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng được đầu tư mạnh bởi Tập đoàn Nguyễn Hoàng . [ 6 ] Ngày 10/08/2017, Tòa nhà Con tàu Tri thức (Ship of Knowledge) được khánh thành. Tòa nhà trở thành 1 trong những ký túc xá chính của HIU. Tuyển sinh HIU tuyển sinh theo nhiều đợt trong năm, với sinh viên Việt Nam chủ yếu đến từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long An và Bình Thuận. HIU cũng có các sinh viên quốc tế đến từ Cuba, Campuchia, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản và Ý. Tham gia cả cấp độ đại học và sau đại học. Thành tích Ban Giám hiệu Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài 1. https://tuoitre.vn/truong-dh-quoc-te-hong-bang.html 2. https://thanhnien.vn/giao-duc/khai-niem-kien-truc-dai-hoc-moi-me-tai-dai-hoc-hiu-864546.html 3. https://thanhnien.vn/hong-bang-international-university/tag.html 5. http://viettimes.vn/dinh-huong-sinh-vien-su-dung-internet-mang-xa-hoi-vao-hoc-tap-nghien-cuu-khoa-hoc-145370.html 6. http://cungbanchontruong.vn/dai-hoc-quoc-te-hong-bang/ ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4b38d4573009 TITLE: Trường Đại học Văn Hiến SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_Hi%E1%BA%BFn [CONTENT] Đại học Văn Hiến là một đại học tư thục tại Việt Nam , được thành lập theo quyết định số 517/QĐ-TTg ngày 11/7/1997 và quyết định 58/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ . Chủ sở hữu Trường hiện thuộc sở hữu của HungHau Holdings được Ông Trần Văn Hậu, là Cựu Sinh viên Trường Đại học Văn Hiến sáng lập. Giảng viên Tổng quan Trường Đại học Văn Hiến được thành lập theo quyết định số 517/QĐ-TTg ngày 11/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 58/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hơn 25 năm tham gia hoạt động đào tạo. Trường Đại học Văn Hiến đã và đang đào tạo hơn 45.000 sinh viên và học viên. Hội đồng Trường Ban giám hiệu Hiệu trưởng: Phó Chủ tịch Điều hành: Giám đốc Điều hành Thường trực: Phó Hiệu trưởng Thường trực: Giám đốc Điều hành: Giám đốc Điều hành: Hiệu trưởng qua các thời kì: Phòng, Trung tâm Khoa, Trung tâm đào tạo Ngành đào tạo Trường Đại học Văn Hiến đào tạo từ Đại học hệ chính quy, Cao học và sau Đại học Nhà trường hiện tại đào tạo 39 ngành thuộc 11 lĩnh vực chính như: Thành tích Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 80f276d3b93a TITLE: Trường Đại học Văn Lang SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_Lang [CONTENT] Trường Đại học Văn Lang ( English: Van Lang University , Latin: Universitas Vanlangensis , thường được gọi tắt là VLU ) là một trường đại học tư thục đa ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh , Việt Nam . Thành lập năm 1995 và được đặt theo tên của nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Văn Lang . VLU nổi tiếng nhờ đạt vị trí cao trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế, cũng như trong hoạt động nghiên cứu và giáo dục các ngành nghệ thuật , thiết kế , xã hội nhân văn và truyền thông . [ 1 ] Năm 2025, VLU đứng thứ 51-100 thế giới về lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn (Performing Arts) [ 4 ] và top 101-150 thế giới lĩnh vực Thiết kế (Art & Design) trong bảng xếp hạng các trường đại học danh tiếng nhất trên thế giới theo bảng xếp hạng đại học QS World University Ranking . VLU được đánh giá là một trong những trường đào tạo về thiết kế hàng đầu thế giới. [ 5 ] Lịch sử Đại học Văn Lang được thành lập theo Quyết định số 71/TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 27 tháng 01 năm 1995 , với loại hình dân lập . Vào ngày 17 tháng 09 năm 1995 , Văn Lang khai giảng khóa đầu tiên với 4.569 sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia . T háng 11 năm 1995 , Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trường Đại học Dân lập Văn Lang được thành lập. Tháng 4 năm 1997 , Đảng ủy Trường Đại học Văn Lang thành lập. Tháng 9 năm 1999 , Văn Lang tổ chức Lễ Tốt nghiệp Khóa đầu tiên cho 103 sinh viên đầu tiên tại Nhà hát Hòa Bình . Cùng năm, ngày 18 tháng 11 năm 1999 , Văn Lang sở hữu cơ sở đào tạo đầu tiên tại số 45 Nguyễn Khắc Nhu, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh . Đến tháng 7 năm 2000 , Văn Lang mua và cải tạo khu nhà 233A Phan Văn Trị, Quận Bình Thạnh, trở thành Cơ sở 2. Ngày 19 tháng 01 năm 2002 , Hội Sinh viên Trường Đại học Dân lập Văn Lang được thành lập, đánh dấu sự phát triển của các hoạt động sinh viên. Đáng chú ý, vào năm 2008 , Đại học Văn Lang đã ký hợp tác với Đại học Carnegie Mellon (CMU, Hoa Kỳ) để phát triển chương trình Kỹ thuật phần mềm . Ngày 14 tháng 10 năm 2015 , Đại học Văn Lang chuyển đổi loại hình sang tư thục theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ , đánh dấu một bước ngoặt trong mô hình quản lý và phát triển của trường. Từ năm 2016, Đại học Văn Lang tiến hành hiện đại hóa cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục. N gày 24 tháng 02 năm 2017 , Văn Lang khởi công xây dựng Cơ sở 3 quy mô lớn tại Quận Gò Vấp. Năm 2018 , Văn Lang là một trong hai trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận được bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thành tích xuất sắc trong phong trào "Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học". Tháng 11 năm 2020 , Đại học Văn Lang kỷ niệm 25 năm thành lập và được trao Huân chương Lao động hạng Ba . Văn Lang cũng đạt được Chứng nhận Kiểm định Quốc gia cho các ngành Kế toán, Ngôn ngữ Anh và Quản trị Khách sạn. Hiện nay , Đại học Văn Lang không ngừng nâng cao vị thế trên các bảng xếp hạng quốc tế. Trường được xếp hạng trong Top 1001-1200 các trường đại học hàng đầu thế giới theo QS World University Rankings 2026 và Top 601-800 theo THE Impact Rankings 2025 , đồng thời nằm trong Top 51-100 thế giới theo QS WUR Ranking By Subject và Top 86 khu vực Đông Nam Á . Với hơn 120 chương trình đào tạo đại học và sau đại học, cùng cộng đồng học thuật hơn 80.000 người. [ 6 ] Học thuật Dạy và học Văn Lang là một trường đại học đa ngành, gồm 7 lĩnh vực đào tạo, cung cấp 60 chuyên ngành đại học, 16 chương trình đặc biệt, 30 chương trình liên kết quốc tế, 16 chương trình đào tạo trình độ Thạc sĩ và 1 chương trình đào tạo trình độ Tiến sĩ . Tính đến 2025, Văn Lang đã cấp hơn 65.000 bằng đại học và sau đại học. Chương trình tiêu chuẩn kéo dài 4 đến 6 năm. Để tốt nghiệp theo đúng lộ trình, sinh viên thường học 3 học kỳ trong 1 năm. Trong hầu hết các chuyên ngành, chương trình đặc biệt (chương trình danh dự; English: Honors Programs ) yêu cầu các môn học nâng cao và trình độ tiếng Anh cao cấp. [ 7 ] Khoa và viện đào tạo Đại học Văn Lang gồm 26 khoa, 10 viện cùng nhiều phòng ban, bao gồm: Nghiên cứu Các trọng tâm nghiên cứu chính tại Văn Lang tập trung đào sâu vào các lĩnh vực như khoa học tính toán, công nghệ AI, môi trường, y tế, kinh doanh và nhân văn. Từ năm 1999 đến nay, Văn Lang đã ký kết hợp tác (MOU/MOA) giảng dạy và nghiên cứu với hơn 400 đối tác trong và ngoài nước, với riêng trong năm 2021-2022 có đến 100 MOU/MOA được ký kết. Danh tiếng và thứ hạng Khuôn viên Đại học Văn Lang có một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại và được đầu tư mạnh mẽ, bao gồm 3 cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh , được thiết kế để phục vụ đa dạng nhu cầu học tập, nghiên cứu và sinh hoạt của sinh viên và giảng viên. Cơ sở chính Đây là trung tâm hoạt động học thuật và hành chính lớn nhất của Đại học Văn Lang . Có diện tích 11,2 ha theo mô hình khu phức hợp đại học quốc tế . Khuôn viên này bao gồm nhiều tòa nhà hiện đại, được thiết kế để phục vụ đa dạng các ngành học và hoạt động. Các giảng đường rộng rãi, phòng học được trang bị công nghệ tiên tiến, cùng với các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành chuyên biệt cho các ngành kỹ thuật , công nghệ , kiến trúc , mỹ thuật và khoa học sức khỏe . Điểm nhấn của khuôn viên chính còn nằm ở Thư viện hiện đại, một trung tâm tri thức với không gian đọc đa dạng và nguồn tài liệu phong phú, hệ thống thư viện đồ sộ. Hội trường Trịnh Công Sơn với kiến trúc độc đáo là nơi diễn ra các sự kiện lớn của trường. Khuôn viên tích hợp nhà thi đấu đa năng , ký túc xá , các khu vực sinh hoạt chung , kết hợp giữa không gian học thuật và sinh hoạt tạo nên một môi trường học tập và sinh sống toàn diện. Cơ sở 1 Địa chỉ: 45 Nguyễn Khắc Nhu, phường Cầu Ông Lãnh, TP.HCM Đây là cơ sở có lịch sử lâu đời của trường, là một trong những cơ sở đầu tiên của Đại học Văn Lang. Vị trí trung tâm của nó mang lại sự thuận tiện trong việc tiếp cận các tiện ích đô thị và giao thông. Mặc dù có quy mô nhỏ hơn so với Cơ sở chính, Cơ sở 1 vẫn đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động đào tạo và hành chính của trường. Các tòa nhà tại đây có thể bao gồm các phòng học, văn phòng khoa, và các đơn vị chức năng khác. Cơ sở 1 mang trong mình dấu ấn lịch sử những giai đoạn đầu phát triển của Văn Lang. Cơ sở 2 Địa chỉ: 233A Phan Văn Trị, phường Bình Lợi Trung, TP.HCM Là một cơ sở khác của Đại học Văn Lang tại quận Bình Thạnh, gần với khuôn viên chính. Cơ sở này hỗ trợ thêm không gian cho các hoạt động đào tạo và học tập của trường, góp phần mở rộng năng lực đào tạo của Văn Lang. Đồng thời tập trung vào việc phát triển mô hình trường học - bệnh viện. Bệnh viện Quốc tế, Phòng khám Đa khoa Văn Lang Healthcare. [ 8 ] Ký túc xá Hệ thống ký túc xá hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập và sinh hoạt, đặc biệt là các sinh viên đến từ các khu vực xa. Ký túc xá chính của trường được đặt tại Cơ sở 3, Được xây dựng với các tiêu chuẩn nhằm đảm bảo điều kiện sống cơ bản và tiện nghi cho sinh viên. Các phòng ở được bố trí giường tầng, tủ cá nhân, bàn học và ghế. Hệ thống phòng vệ sinh và phòng tắm được tích hợp hoặc bố trí tại các khu vực chung, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh. Ngoài ra, còn có một Ký túc xá phụ với 6 tầng và 82 phòng, tại 160/63A Phan Huy Ích, P. An Hội Tây, Thành phố Hồ Chí Minh. [ 9 ] Tổ chức và điều hành Đại học Văn Lang được tổ chức và điều hành theo mô hình hiện đại của một trường đại học tư thục , đảm bảo tính tự chủ cao trong hoạt động học thuật và quản lý, đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về giáo dục đại học. Hội đồng Trường Hội đồng Trường là cơ quan quyền lực cao nhất của Đại học Văn Lang, bao gồm các nhà giáo dục tâm huyết, những người luôn cống hiến, cam kết duy trì tầm nhìn và giá trị của Trường Đại học Văn Lang khi trường mở rộng hơn và phát triển về quy mô và sức ảnh hưởng. Hội đồng Trường chịu trách nhiệm quyết định các vấn đề chiến lược quan trọng của nhà trường bao gồm: Ban Giám hiệu Ban Giám hiệu là cơ quan điều hành trực tiếp mọi hoạt động của nhà trường, do Hiệu trưởng đứng đầu và có các Phó Hiệu trưởng hỗ trợ. Các Đơn vị Chức năng và Chuyên môn Đại học Văn Lang có một hệ thống các đơn vị chức năng và chuyên môn được tổ chức khoa học để đảm bảo hoạt động hiệu quả: Hội đồng Sáng lập Cựu sinh viên đáng chú ý Kể từ khi thành lập vào năm 1995, VLU đã có nhiều cựu sinh viên xuất sắc, những người đã và đang có những đóng góp đáng kể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội, bao gồm nhiều giám đốc điều hành doanh nghiệp, nhà giáo dục, tư pháp và những người nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực. Nhân văn, âm nhạc, nghệ thuật và thiết kế Kinh doanh và Khởi nghiệp Học thuật Các ngành khoa học cơ bản và khoa học ứng ụng Công nghệ Thể thao Hoạt động cộng đồng và xã hội Bê bối và tranh cãi Vụ việc thu hồi bằng tốt nghiệp do sai quy định về người ký bằng Năm 2016 , nhiều sinh viên của trường phản ánh với Báo Tuổi Trẻ về việc văn bằng tốt nghiệp được ký bởi TS. Nguyễn Đắc Tâm, Hiệu trưởng tạm quyền của trường. [ 14 ] Theo đó, sau khi được công nhận chuyển đổi mô hình từ "Đại học dân lập" sang "Đại học Tư thục" vào tháng 10/2015, Hội đồng Trường và Hội đồng Quản trị đã bầu ông Nguyễn Đắc Tâm, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng nhà trường, giữ chức vụ Hiệu trưởng vào tháng 2/2016. Trong thời gian chờ đợi Quyết định công nhận chức vụ Hiệu trưởng của các cấp có thẩm quyền, Hội đồng Quản trị ra quyết định giao TS. Nguyễn Đắc Tâm giữ chức vụ "Quyền Hiệu trưởng" để thực hiện các nghĩa vụ với người học, bao gồm thẩm quyền ký tên văn bằng. Theo lý giải của lãnh đạo nhà trường, việc TS. Nguyễn Đắc Tâm ký tên văn bằng là hoàn toàn hợp lệ do ông Tâm hiện đang giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng nhà trường, việc ghi chức danh "Q.Hiệu trưởng" trên văn bằng chỉ mang tính chất tượng trưng trong thời gian chờ đợi quyết định công nhận Hiệu trưởng. Tuy nhiên, phản hồi từ Vụ Pháp chế - Bộ GD&ĐT cho biết khi chưa có quyết định công nhận chức danh Hiệu trưởng/Quyền Hiệu trưởng từ các cấp có thẩm quyền, trong trường hợp của Trường ĐH Văn Lang là UBND TP.HCM và Bộ GD&ĐT, Phó Hiệu trưởng có thẩm quyền ký tên văn bằng với chức danh "KT.Hiệu trưởng - Phó Hiệu trưởng". Ngay sau đó, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu trường phải có nghĩa vụ cấp lại văn bằng đúng với chức danh thực tế của TS. Nguyễn Đắc Tâm nhằm đảm bảo quyền lợi cho người học. [ 15 ] Vụ việc Chủ tịch Hội đồng trường bị tạm giam và khởi tố Ngày 15/1/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam ông Nguyễn Cao Trí, Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Văn Lang, về tội lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản. Nguyễn Cao Trí là Chủ tịch Tập đoàn Capella Holdings, đồng thời là Chủ tịch Tập đoàn Đầu tư & Quản lý Giáo dục Văn Lang, đơn vị chủ quản trường Đại học Văn Lang. Theo kết luận của Bộ Công an, ông Trí có liên quan đến vụ việc chiếm đoạn hơn 40 triệu USD của bà Trương Mỹ Lan , cựu Chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát . [ 16 ] Ngoài ra, ông Nguyễn Cao Trí cũng nhận các cáo buộc hối lộ các quan chức cấp cao, Thanh tra Chính phủ liên quan đến việc khởi động, vận hành và mua bán trái phép dự án Sài Gòn - Đại Ninh tại Lâm Đồng. [ 17 ] [ 18 ] Sau khi có Quyết định Khởi tố từ Bộ Công an, đại diện trường Đại học Văn Lang cho biết Hội đồng trường đã tiến hành xem xét và ra quyết định miễn nhiệm tư cách Chủ tịch Hội đồng trường của ông Nguyễn Cao Trí, đồng thời tiến hành biểu quyết và thống nhất bầu bà Bùi Thị Vân Anh giữ chức vụ này. Đáng chú ý, bà Vân Anh cũng chính là vợ hợp pháp của ông Trí, là đồng sở hữu Công ty Cổ phần Đầu tư & Quản lý Giáo dục Văn Lang. [ 19 ] Vụ việc miễn nhiệm Trưởng khoa Du lịch Ngày 14/9/2023, Báo Tuổi Trẻ đưa tin Trường Đại học Văn Lang vừa ra quyết định miễn nhiệm chức vụ trưởng khoa Du lịch của ông Lê Minh Thành, Tiến sĩ. [ 20 ] Quyết định này được đưa ra dựa trên đơn xin từ nhiệm chức vụ trưởng khoa của ông Thành, gửi đến Ban Giám hiệu trường vào ngày 31 tháng 8. Trước đó, trong nhóm Liêm Chính Khoa Học trên nền tảng Facebook xuất hiện thông tin tố TS. Lê Minh Thành, trưởng khoa Du lịch trường Đại học Văn Lang, sử dụng bằng Tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp nhưng chưa được công nhận tại Việt Nam. Trong thông tin giảng viên, ông Thành kê khai mình được cấp bằng Thạc sĩ tại Đại học Melbourne (Úc) năm 2010 và bằng Tiến sĩ Quản trị tại trường SMC (Thuỵ Sĩ) vào năm 2017. Theo lý giải của ông Thành, đây là chương trình đào tạo thí điểm kết hợp cả trực tuyến và trực tiếp tại Mỹ hoặc Thuỵ Sĩ. Tuy nhiên, các thông tin trong cộng đồng Liêm Chính Khoa Học cho biết trường SMC là 1 trung tâm phân phối các khoá học đào tạo trực tuyến, các văn bằng của trường này cấp hầu như không được công nhận ở khu vực Châu Âu. Ngoài ra, nếu chiếu theo quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT Việt Nam, các bằng được cấp do hình thức học từ xa, học trực tuyến sẽ không được công nhận. Mặc dù chưa thực hiện việc công nhận văn bằng do các cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo quy định của Việt Nam, tháng 8/2019, ông Thành về công tác tại Trường Đại học Văn Lang và được phân công giữ chức vụ Trưởng khoa Du lịch. Đồng thời, ông cũng đảm nhận 1 số học phần trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Du lịch tại trường này. Thông tin từ lãnh đạo nhà trường cho biết, trường đã có công văn yêu cầu ông Thành thực hiện công nhận văn bằng nhưng được ông phản hồi là "đang tiến hành thủ tục công nhận". Tuy nhiên, theo phản hồi từ bà Trần Thị Ngọc Bích - giám đốc Trung tâm Công nhận văn bằng (Cục Quản lý chất lượng), ông Thành chưa từng gửi hồ sơ hoặc trao đổi với trung tâm về đề nghị công nhận văn bằng của trường Thuỵ Sĩ cấp cho ông. Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 34fc19787748 TITLE: Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%C3%A0_R%E1%BB%8Ba_%E2%80%93_V%C5%A9ng_T%C3%A0u [CONTENT] Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu ( tiếng Anh : Baria-Vungtau University ) là trường đại học tư thục, đa ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trường được thành lập năm 2006 và hiện là thành viên Tập đoàn Nguyễn Hoàng . Đây từng là trường đại học duy nhất ở thành phố Vũng Tàu trước đợt sáp nhập năm 2025 . [ 1 ] Lịch sử Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập vào năm 2006 theo Quyết định của Thủ tướng. [ 2 ] Ban đầu trường có hai cơ sở đào tạo. Năm 2009, trường mở cơ sở đào tạo thứ ba tại 951 Bình Giã, phường 10, thành phố Vũng Tàu. [ 3 ] Từ tháng 5 năm 2016, Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành thành viên của Tập đoàn Nguyễn Hoàng . [ 4 ] Ban Giám hiệu HIỆU TRƯỞNG, PHÓ HIỆU TRƯỞNG QUA CÁC NĂM Cơ sở đào tạo Nghiên cứu khoa học Hợp tác quốc tế Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu hợp tác với nhiều doanh nghiệp, đối tác, trao đổi giảng viên viên với nhiều trường đại học nổi tiếng tại Hàn Quốc, Nhật Bản... tạo môi trường tốt nhất cho sinh viên thực hành, nghiên cứu khoa học: Công ty cổ phần Airport Hotel Management Planning, Công ty Kyodai (Nhật Bản); S.C.M và nhiều trường đại học nổi tiếng tại các quốc gia phát triển: Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc)... tạo nhiều cơ hội hợp tác quốc tế và thực tập cho sinh viên [ 12 ] [ 13 ] Thành tích Năm 2016, Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu (BVU) nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước. [ 14 ] Trường từng được Quacquarelli Symonds đánh giá 3 sao vào năm 2019 [ 15 ] và 4 sao vào năm 2021. [ 16 ] Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2616969ccb08 TITLE: Trường Đại học Bình Dương SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng [CONTENT] Trường Đại học Bình Dương là một trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh (tỉnh Bình Dương trước đây), Việt Nam , hoạt động theo cơ chế trường đại học tư thục . Trường được thành lập theo quyết định số 122/2006/QĐ-TTg của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm . [ 1 ] Trường đào tạo chính quy tập trung; đào tạo không chính quy, gồm: vừa học vừa làm, văn bằng 2, đào tạo từ xa qua internet, phát thanh truyền hình... Các cấp đào tạo, gồm: Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, Đại học liên thông, sau Đại học (Thạc sĩ Quản trị kinh doanh) , Chương trình MBA do Đại học Benedictine (Hoa Kỳ) cấp. Các chuyên ngành đào tạo chính: Quản trị kinh doanh , Tài chính ngân hàng, Kế toán, Điện - Điện tử, Công nghệ thông tin , Công nghệ sinh học , Xây dựng, Xã hội học, Việt Nam học , Ngữ văn. Lịch sử Trường Đại học Bình Dương với tên gọi ban đầu là Trường Đại học Dân lập Bình Dương, được thành lập theo quyết định số 791/TTg ngày 24 tháng 09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ . [ 2 ] Ngày 29 tháng 5 năm 2006, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ký quyết định số 122/2006/QĐ-TTg, cho phép Trường Đại học Dân lập Bình Dương chuyển sang loại hình trường đại học tư thục và hoạt động theo quy chế trường đại học tư thục. [ 3 ] Ngày 20 tháng 6 năm 2018, sau hơn 20 năm hoạt động, trường đã nhận được giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Đại học Đà Nẵng cấp. [ 4 ] Các khoa Hiện nay, trường đào tạo 13 ngành hệ đại học và 23 ngành hệ sau đại học, với hàng chục ngàn sinh viên tại 2 cơ sở Bình Dương và Cà Mau, và là cơ sở duy nhất ở Bình Dương được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo trình độ tiến sĩ. [ 5 ] Danh sách các chuyên ngành: Các Phân hiệu Ngày 12 tháng 3 năm 2013, phân hiệu Trường Đại học Bình Dương tại Cà Mau được thành lập theo quyết định 898/QĐ-BGDĐT, được ký bởi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận . Cơ sở của phân hiệu này, với diện tích 6000 m 2 , đã được khởi công xây dựng và hoàn thiện trước đó vào tháng 11 năm 2011 tại khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc của thành phố Cà Mau. Tính đến cuối năm 2015, phân hiệu Cà Mau đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học của 8 chuyên ngành (Quản trị kinh doanh, Kế toán, Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin, Xây dựng, Giáo dục thể chất, Ngôn ngữ Anh và Luật kinh tế) với hơn 2600 sinh viên theo học. Đặc biệt phân hiệu này còn đào tạo thêm hệ cao học chuyên ngành quản trị kinh doanh. [ 6 ] Hội đồng trường Chủ tịch hội đồng Trường VS.TSKH. Cao Văn Phường Ban Giám hiệu Hiệu trưởng Phó Hiệu trưởng Tôn chỉ mục đích - Cổ vũ tinh thần ham học hỏi - Đề cao khả năng tự đào tạo - Dấn thân vì sự nghiệp nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài - Vì xã hội Việt Nam phát triển. Triết lý giáo dục Tạo hóa sinh ra con người và cho họ quyền bình đẳng tồn tại và phát triển bền vững trên hành tinh tạo bởi năng lượng, vật chất và thông tin. Vì vậy, xây dựng nền kinh tế sinh thái trong đó con người là vừa trung tâm vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là động lực lao động sáng tạo của loài người. Để có được quyền bình đẳng tồn tại và phát triển, mỗi người phải tự thân lao động sáng tạo, lao động có hiệu quả để tạo ra những sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng đảm bảo nhu cầu của bản thân, của gia đình, của cộng đồng xã hội và góp phần bảo vệ thiên nhiên. Nói cách khác đó là trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với cộng đồng xã hội, trách nhiệm với thiên nhiên mà xã hội giao phó, đó là thước đo giá trị, là phẩm chất đạo đức, là nhân cách của mỗi người, mỗi người có nghĩa vụ phải thực hiện thì mới có quyền được bình đẳng tồn tại. Tinh thần trách nhiệm đó phải được giáo dục ngay từ khi con người mới ra đời đến lúc mất đi. Vì vậy, xây dựng nền giáo dục mở đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người để họ hoàn thiện tâm lực, trí lực, thể lực là nhu cầu bức xúc, là quyền mưu cầu hạnh phúc, là quyền con người để có được quyền bình đẳng tồn tại và phát triển. Với mục tiêu, triết lý vừa nêu trên. “Giáo dục là của mọi người, vì mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng thụ thành quả của giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp, xây dựng, phát triển giáo dục”. Giáo dục là quá trình tiến hóa, không phải là cuộc cách mạng lật đổ. Quá trình tiến hóa có kế thừa chọn lọc, những gì phù hợp với quy luật, chân lý sẽ tồn tại và phát triển. Quy luật chân lý bao giờ cũng đơn giản, tuy nhiên để nhận ra được nó, thấu hiểu đúng, bảo vệ và đưa nó vào cuộc sống là cả quá trình lâu dài gian khó, đôi khi phải trả giá bởi vì quy luật chân lý là vấn đề khoa học, vấn đề học thức, trí tuệ, mà trí tuệ không thể giơ tay biểu quyết. Để học tập có hiệu quả, các chương trình mục tiêu giáo dục mở được thực hiện thông qua phương pháp “Cộng học” giữa thầy và trò, giữa trò với trò, giữa người học với đối tác, với cộng đồng xã hội, qua tài liệu sách vở, qua truyền thông, qua mạng internet. Phương pháp “Cộng học” được xây dựng trên nguyên tắc 4 chữ “H”: Học – Hỏi – Hiểu – Hành: Học là để biết cách học như thế nào Học là để biết cách Hỏi Hỏi để học Hỏi để hiểu (để tập hợp thông tin, xử lý thông tin, khai thác thông tin để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra.) Hiểu phải hiểu đúng Hiểu đúng thì hành mới đúng Hành đúng mới có hiệu quả Hành có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng, mới đáp ứng được nhu cầu của bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ thiên nhiên, mới hoàn thành được trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội giao phó. Phương pháp “Cộng học” là phương pháp học tập đối thoại trực tiếp, là phương pháp chủ động. Thực hiện tốt Phương pháp “Cộng học” sẽ tạo nên một xã hội học tập, tạo nên một nền giáo dục mở. Phương pháp “Cộng học” là phương pháp giáo dục tích cực, chủ động. Người dạy giúp người học và ngược lại, thực hiện dân chủ trong giáo dục, tạo ra động lực cho người dạy và người học. Phương pháp “Cộng học” giúp cho người học “Tự đánh giá mình”, tự nhận biết đúng chính mình – Đây là mục tiêu mà nền giáo dục cần đạt đến. Vì vậy, Học – Hỏi – Hiểu – Hành là nền tảng để mỗi người hoàn thiện trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với cộng đồng xã hội, trách nhiệm với thiên nhiên thông qua hoàn thiện Tâm lực, Trí lực, Thể lực. Vừa là Triết lý, vừa là nội dung, vừa là phương pháp xây dựng nền giáo dục mở. Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2d25c0501fed TITLE: Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_B%E1%BA%AFc_H%C3%A0 [CONTENT] Trường Đại học quốc tế Bắc Hà là một trường đại học có trụ sở chính tại thị trấn Lim - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh . Trường được thành lập năm 2007. Điểm học hiện tại Khu văn hóa nghệ thuật, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội. Đây là trường Đại học Quốc tế chất lượng cao ngoài công lập của Việt Nam. Trường đào tạo hai cấp là đại học (cử nhân, kỹ sư) và cao đẳng, bao gồm những lĩnh vực sau: Điện tử - Tin học - Viễn thông, Tài chính-Ngân hàng, Kế toán, Quản trị kinh doanh; ngoài ra Trường còn có Chương trình đào tạo liên kết du học chuyển tiếp với các trường đại học uy tín trên thế giới ở Anh, Úc và Pháp. [ 1 ] Cơ sở chính của Trường đang được xây dựng tại Làng Đại học thuộc thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, bên cạnh Quốc lộ 1, cách trung tâm thành phố Hà Nội 28 km. Điểm học hiện tại ở số 36 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Lịch sử Dự án xây dựng Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà do một số nhà khoa học đã và đang công tác trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học khởi xướng, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội Hữu nghị Việt - Nga bảo trợ, được trình lên Chính phủ năm 2003. Ngày 25 tháng 11 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý về nguyên tắc Ngày 10 tháng 10 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1369/QĐ – TTg cho phép chính thức thành lập Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà. Ngày 4 tháng 4 năm 2011, tại Hà Nội, Trường Đại học Bắc Hà tổ chức Lễ Công bố thành lập Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà. [ 2 ] Chương trình đào tạo Hiện trường có các khoa và bộ môn sau: Chương trình liên kết cấp bằng cử nhân Đại học Griffith, Úc Tuyển sinh Năm học 2011 Trường Đại học Quốc tế tuyển sinh 600 chỉ tiêu cho các hệ đại học và cao đẳng theo các Chương trình đào tạo nói trên. Riêng đối với Chương trình đào tạo liên kết du học chuyển tiếp, Trường tổ chức xét tuyển hồ sơ dựa trên học bạ (không dựa trên điểm sàn đại học). Trường ĐHQT Bắc Hà không tổ chức thi mà chỉ tổ chức xét tuyển sinh viên vào học hệ đại học và cao đẳng dựa trên điểm thi đại học, cao đẳng theo đề thi chung khối A và D1-6 Bộ GD & ĐT. (Những thí sinh đạt điểm sàn đại học, cao đẳng trở lên mới đủ yêu cầu xét tuyển) Nghiên cứu khoa học Các chương trình nghiên cứu khoa học đang được thực hiện tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà Dự án " Truy nhập Internet băng rộng tiên tiến cho các vùng nông thôn của Việt Nam sử dụng công nghệ Wimax trên cơ sở hạ tầng truyền hình " (Innovative broadband Internet access for rural areas of Vietnam using WiMAX technology via television broadcasting infrastructure [ 3 ] ) do ISIF tài trợ năm 2009 có kinh phí 28.500USD. Dự án " Hệ thống Cứu hộ, cứu nạn trên biển dựa trên mạng Adhoc vô tuyến GPS " do ISIF tài trợ năm 2010 có kinh phí 40.000AUD. Hội nghị-Hội thảo Các hội nghị, hội thảo do Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà tổ chức trong thời gian vừa qua: Hội đồng Trường 1. PGS. TS. Trần thị Tâm Đan - Chủ tịch Hội đồng Trường 2. Ngô Đình Loan - Phó Chủ tịch Hội đồng Trường 3. PGS. TS. Nguyễn Quốc Trung - Hiệu trưởng 4. Ths. Phạm Văn Hiệp - Phó Hiệu trưởng, Bí thư chi bộ 5. Ths. Nguyễn Minh Huyên - Phó Hiệu trưởng 6. Phạm Thị Kim Tân - Chánh Văn phòng 7. Phạm Thúy Hà - Phó phòng Đào tạo và Công tác sinh viên 8. Nguyễn Thị Huyền - Phó phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng 9. Đào Quốc Tiến - Trưởng Ban Thanh tra và Giám sát 10. TS. Nguyễn Đình Nam - Trưởng phòng nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế 11. Nguyễn Thị Hằng - Phó Giám đốc Trung tâm ngoại ngữ tin học BHIU, Thư ký 12. Đặng Đình Việt - Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Trưởng phòng Lưu Trữ và Truyền thông 13. Ths. Lê Thanh Trường - Phó khoa Xây dựng 14. Ths. Vũ Thị Ngọc Anh - Giảng viên khoa Công nghệ Thông tin 15. Hoàng Thị Tuyến - Ủy viên Công đoàn Trường 16. GS. TSKH. Phan Anh - Đại diện nhà khoa học 17. Nguyễn Minh Cường - Giám đốc Công ty Jakma 18. Ngô Tùng Lâm - Đại diện cựu sinh viên 19. Trần Hữu Thiện - Đại diện sinh viên Ban Giám Hiệu Hiệu Trưởng: Các Phó Hiệu Trưởng: Danh sách Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 60/QĐ-ĐHQTBH ngày 12 tháng 6 năm 2013) Đối tác hợp tác Đại học Quốc tế Bắc Hà thực hiện hợp tác với nhiều trường đại học tiên tiến, các tổ chức quốc tế và trong nước để thực hiện mục tiêu đào tạo và nghiên cứu phát triển theo tiêu chuẩn quốc tế. Trường hầu hết sử dụng đội ngũ giáo viên trẻ (mới tốt nghiệp đại học) rất đông đảo, đầy nhiệt huyết. Các phong trào như Bóng đá, Cầu lông luôn được chú trọng đặc biệt. Đối tác trong nước Đối tác nước ngoài Liên kết ngoài Xem thêm Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Bắc Ninh Chú thích Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 00bff50ad1e9 TITLE: Trường Đại học Quang Trung SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Quang_Trung [CONTENT] Trường Đại học Quang Trung (QTU) được thành lập theo Quyết định số 62/2006/QĐ-TTg ngày 17 tháng 03 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ. Trường Đại học Quang Trung là trường đại học tư thục được Tập đoàn Hoàn Cầu đầu tư và phát triển mạnh mẽ. Trường đào tạo đa ngành – đa lĩnh vực và hoạt động theo Điều lệ Trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ -TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ. Các khoa đào tạo và nghiên cứu Tham khảo Liên kết ngoài Website của Trường Đại học Quang Trung Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7e4cd42fadf4 TITLE: Trường Đại học Phan Thiết SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Phan_Thi%E1%BA%BFt [CONTENT] Trường Đại học Phan Thiết ( University of Phan Thiet ) là trường Đại học tư thục duy nhất tại tỉnh Bình Thuận , Việt Nam đào tạo đại học và sau đại học. Trường được thành lập theo theo quyết định số 394/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam , ký ngày 5 tháng 3 năm 2009 . Chuyên ngành đào tạo - Quản trị du lịch khách sạn - Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành - Tài chính ngân hàng - Tiếng Anh - Quản trị kinh doanh - Ngoại thương - Kế toán - Công nghệ thông tin - Luật kinh tế Lịch sử hình thành Trường Đại học Phan Thiết được thành lập theo Quyết định số 394/2009/QĐ -TTg, ngày 25 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ. Trụ sở chính của Trường nằm trong khuôn viên rộng gần 4ha tại 268 Nguyễn Thông , Thành phố Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận và đang khởi công xây dựng cơ sở 2 gần 5ha tại đường 706B, phường Phú Hài , TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Trường Đại học Phan Thiết là cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Những thành tựu đã đạt được Trong hơn 06 năm qua, Trường Đại học Phan Thiết đã có những bước phát triển về số lượng và chất lượng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà nhà nước giao cho. Trong giai đầu khi mới thành lập cũng có một số khó khăn nhất định và trong bối cảnh đó, được sự quan tâm lãnh đạoTỉnh ủy Tỉnh Bình Thuận, sự ủng hộ và giúp đỡ của các Sở Ban ngành cộng với sự nỗ lực cố gắng vượt bậc của tập thể quý Thầy Cô, Cán bộ và Nhân viên ban đầu, khó khăn từng bước được khắc phục.Khóa cao đẳng 2009 đã tốt nghiệp 197 sinh viên. Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0078d46bb9db TITLE: Trường Đại học Tây Đô SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A2y_%C4%90%C3%B4 [CONTENT] Trường Đại học Tây Đô (tiếng Anh: Tay Do University) là một trường đại học tư thục được thành lập theo quyết định số 54/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ký ngày 9 tháng 3 năm 2006. [ 3 ] Giới thiệu Đầu năm 2004, một số người có tâm huyết về sự nghiệp giáo dục đến từ Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên là cán bộ lãnh đạo Cần Thơ đã cùng bàn bạc kế hoạch thành lập một trường đại học tại thành phố Cần Thơ nhằm góp phần đào tạo nhân lực cho khu vực và địa phương. Sau khi phân tích, đánh giá nhu cầu đào tạo nhân lực hiện tại và tương lai của Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Cần Thơ, hội nghị đã nhất trí thành lập một trường đại học và lấy tên là Trường Đại học Tây Đô và đã đề cử Hội đồng sáng lập gồm có tám người. Trong đó, Ông Lư Văn Điền làm Chủ tịch, ông Nguyễn Tiến Dũng, ông Nguyễn Tấn Lập làm Phó Chủ tịch và ông Nguyễn Phước Quý Quang phụ trách Thư ký Hội đồng. [ 4 ] Sau hơn hai năm khẩn trương xúc tiến các thủ tục, Trường Đại học Tây Đô chính thức được thành lập vào ngày 9/03/2006 theo Quyết định số 54/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Tây Đô trở thành trường đại học tư thục đầu tiên của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, thành phố Cần Thơ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp theo hướng công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và du lịch. Trường Đại học Tây Đô được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao những ngành đào tạo trọng điểm của vùng theo yêu cầu chuyển dịch kinh tế nói trên và những ngành xã hội có nhu cầu, những ngành thuộc các lĩnh vực ưu tiên chẳng hạn như: Du lịch, Xây dựng công trình, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện – điện tử, Nuôi trồng thủy sản, Ngoại ngữ, Việt Nam học, Tài chính – Ngân hàng, Kế toán, Quản trị kinh doanh – Marketing... phần nào đã đáp ứng được mục tiêu "Đào tạo nguồn nhân lực cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng; Đào tạo theo nhu cầu xã hội" mà Nhà trường đã và đang nỗ lực để đạt được những kết quả ngày càng cao hơn. Chất lượng đào tạo Trường được Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, ĐH Quốc gia Hà Nội đã ký ban hành giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục vào ngày 30 tháng 3 năm 2018. [ 5 ] Kết quả khảo sát, thẩm định cho thấy, trường Đại học Tây Đô có 82% tiêu chí đạt yêu cầu. [ 6 ] Năm 2024, Trường được chấp nhận trở thành thành viên liên kết của mạng lưới đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network ‐ Quality Assurance – AUN-QA). [ 7 ] Đội ngũ giảng viên Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có 612 giảng viên. Trong đó có 3 giáo sư , 9 phó giáo sư , 25 tiến sĩ , 259 thạc sĩ và 176 giảng viên có trình độ đại học . [ 8 ] Năm học 2025-2026, Trường có 340 cán bộ, giảng viên, chuyên viên, nhân viên; trong đó có 5 giáo sư, 9 phó giáo sư, 71 tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa II, 200 thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I. [ 9 ] Cơ sở vật chất Hiệu phó và hiệu trưởng Hiệu trưởng GS.TS.TTƯT. Trần Công Luận. [ 10 ] Hiệu phó LS.TS. Nguyễn Tiến Dũng. NGƯT.PGS.TS. Võ Khắc Thường. TS. Nguyễn Phước Quý Quang. TS. Nguyễn Ngọc Minh. Đào tạo Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Toán - Hóa học - Sinh học (B00) Toán - Hóa học - Tiếng Anh (D07) Ngữ Văn - Toán - Hóa học (C02) Toán - Sinh học - Tiếng Anh (D08) Toán - Vật lí - Sinh học (A02) Toán - Hóa học - Sinh học (B00) Toán - Sinh học - Tiếng Anh (D08) Toán - Sinh học - Ngữ văn (B03) Toán - Vật lí - Hóa học (A00) Toán - Hóa học - Sinh học (B00) Toán - Hóa học - Tiếng Anh (D07) Toán - Sinh học - Tiếng Anh (D08) Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh (D14) Toán - Giáo dục công dân - Tiếng Anh (D84) Ngữ văn - Giáo dục công dân - Tiếng Anh (D66) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán- Giáo dục kinh tế và pháp luật - Tiếng Anh (X25) Ngữ văn - Giáo dục kinh tế và pháp luật - Tiếng Anh (X78) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán -Tiếng Anh (D01) Ngữ văn - Toán - Vật lí (C01) Toán - Tin học - Tiếng Anh (X26) Toán - Ngữ văn - Tin học (X02) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán -Tiếng Anh (D01) Ngữ văn - Toán - Địa lí (C04) Toán - Tin học - Tiếng Anh (X26) Toán - Ngữ văn - Tin học (X02) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Ngữ văn - Toán - Địa lí (C04) Ngữ văn - Lịch sử - Địa lí (C00) Toán - Hóa - Tiếng Anh (D07) Toán - Lịch sử - Địa lí (A07) Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh (D14) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Toán - Địa lí - Giáo dục kinh tế và pháp luật (X21) Toán - Ngữ văn - Giáo dục kinh tế và pháp luật (X01) Toán - Giáo dục kinh tế và pháp luật - Tiếng Anh (X25) Ngữ văn - Toán - Địa lí (C04) Ngữ văn - Lịch sử - Địa lí (C00) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Toán - Lịch sử - Địa lí (A07) Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh (D14) Ngữ văn - Giáo dục kinh tế và pháp luật - Tiếng Anh (X78) Ngữ văn - Địa lí - Giáo dục kinh tế và pháp luật (X74) Ngữ văn - Lịch sử - Giáo dục kinh tế và pháp luật (X70) Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh (D14) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Ngữ văn - Giáo dục công dân - Tiếng Anh (D66) Ngữ văn - Giáo dục kinh tế và pháp luật - Tiếng Anh (X78) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Toán - Hóa học - Sinh học (B00) Toán - Hóa học - Tiếng Anh (D07) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Hóa học - Tin học (X10) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Toán - Hóa học - Sinh học (B00) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Hóa học - Tin học (X10) Toán - Vật lí - Sinh học (A02) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán - Vật lí (C01) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Hóa học - Địa lí (A06) Toán - Sinh học - Địa lí (B02) Ngữ văn - Toán - Hóa học (C02) Toán - Hóa học - Tin học (X10) Toán - Sinh học - Tin học (X14) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Vật lí - Sinh học (A02) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán - Vật lí (C01) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Vật lí - Công nghệ công nghiệp (X07) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Vật lí - Sinh học (A02) Toán - Vật lí - Tiếng Anh (A01) Ngữ văn - Toán - Vật lí (C01) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Vật lí - Công nghệ công nghiệp (X07) Toán - Tin học - Công nghệ công nghiệp (X56) Toán - Hóa học - Tin học (X10) Toán - Sinh học - Tin học (X14) Toán - Tin học - Tiếng Anh (X26) Toán - Ngữ văn - Tin học (X02) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Ngữ văn - Lịch sử - Địa lí (C00) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Toán - Vật lí - Hóa học (A00) Toán - Ngữ văn - Tin học (X02) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Toán - Địa lí - Tiếng Anh (D10) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Toán - Vật lí - Hóa học (A00) Toán - Ngữ văn - Tin học (X02) Toán - Vật lí - Tin học (X06) Toán - Vật lí - Công nghệ công nghiệp (X07) Ngữ văn - Lịch sử - Địa lí (C00) Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh (D14) Ngữ văn - Địa lí - Tiếng Anh (D15) Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh (D01) Văn bằng 2 Liên thông Cao đẳng lên Đại học Đào tạo từ xa Tạp chí khoa học Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 204/GP-BTTTT ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và đã được Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia cấp mã số ISSN 2588-1221. Tạp xuất bản định kỳ 3 kỳ/năm. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô được chia thành các phần Khoa học tự nhiên, Dược, Công nghệ, Nông nghiệp, Thuỷ sản, Môi trường, Kinh tế, Pháp luật, Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục. [ 11 ] Thành tựu và công nhận Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 8b1d73172603 TITLE: Trường Đại học Võ Trường Toản SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C3%B5_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_To%E1%BA%A3n [CONTENT] Trường Đại học Võ Trường Toản là một đại học tư thục tại thành phố Cần Thơ , Việt Nam, được thành lập ngày 18 tháng 2 năm 2008 . [ 1 ] [ 2 ] Trường đào tạo đa ngành - đa lĩnh vực, tập trung vào các ngành phục vụ cho kinh tế mũi nhọn của tỉnh Hậu Giang là công nghiệp , nông nghiệp và dịch vụ du lịch . Đây là trường đại học đầu tiên được thành lập tại tỉnh Hậu Giang (cũ). Trường được xây dựng theo mô hình “Thành phố đại học” mang phong cách châu Âu trên diện tích 20 hecta và được ví như cung điện châu Âu độc nhất vô nhị ở Việt Nam. [ 3 ] Lịch sử hình thành Được thành lập ngày 18 tháng 02 năm 2008 theo quyết định số 196/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Võ Trường Toản (tiền thân là Trường Đại học tư thục Miền Tây) thuộc Bộ Giáo dục và Đào Tạo, nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo đa hệ, đa ngành và đa trình độ nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trí tuệ, bản lĩnh, sáng tạo cho vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung. Trường Đại học Võ Trường Toản hướng đến xây dựng mẫu hình trường Đại học hiện đại, mang tầm vóc quốc tế về quy mô và chất lượng. Được xây dựng theo mô hình "Thành phố đại học" mang phong cách châu Âu trên diện tích 20 hecta, đến năm 2015, Trường Đại học Võ Trường Toản sẽ trở thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực uy tín trong hệ thống giáo dục đại học tiên tiến; góp phần nâng cao trình độ dân trí và trình độ lực lượng lao động sản xuất trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế; hỗ trợ tích cực cho công tác quản lý và đặc biệt là xây dựng đội ngũ những người lao động trẻ có trình độ, dễ dàng tiếp thu sự chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, các đối tác mang tầm quốc tế. Năm 2011, Trường được Bộ GD&ĐT cấp phép đào tạo ngành Y khoa và Dược học. Năm 2017, Trường vinh được chuyên trang World Directory of Medical Schools cập nhật trong danh bạ các trường đào tạo y khoa được công nhận trên toàn thế giới. Năm 2021, Trường đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục theo bộ tiêu chuẩn mới của Bộ GD&ĐT. Năm 2024, Trường bắt đầu đào tạo ngành Răng - Hàm - Mặt Đơn vị đào tạo Trường Đại học Võ Trường Toản hiện có 07 khoa: Khoa Y, Khoa Răng-Hàm-Mặt, Khoa Dược, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Kinh tế Luật, Khoa Sau Đại học và Khoa GDQP&AN; 03 trung tâm đào tạo: Trung tâm Nghiên cứu và Hợp tác quốc tế, Trung tâm đào tạo theo nhu cầu xã hội, Trung tâm Công nghệ phần mềm và các đơn vị khác. Hiệu trưởng qua các thời kỳ : Chất lượng đào tạo Theo báo cáo thống kê khảo sát việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp, Trường Đại học Võ Trường Toản có trên 95% sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp. Các ngành đào tạo Đại học hệ chính quy : Ngày 10 tháng 8 năm 2024, Trường có Quyết định số 263/QĐ-ĐHVTT chấm dứt hoạt động tuyển sinh đào tạo 3 ngành trình độ đại học: Thương mại Điện tử, Kinh doanh quốc tế, Quản lý nhà nước. [ 4 ] Hiện trường đang tổ chức đào tạo với 8 chuyên ngành: Đào tạo sau đại học : Mức học phí Học phí Trường Đại học Võ Trường Toản năm học 2025-2026: [ 5 ] Cơ sở vật chất Bên cạnh các khu chức năng chính của đại học như Khu văn phòng làm việc, Hệ thống giảng đường lý thuyết, Khu nhà thực hành thí nghiệm, Hệ thống khối Thư viện, Khu Ký túc xá, Khu nhà ở cán bộ giảng viên, trên diện tích 20 hecta của Thành phố Đại học Võ Trường Toản còn có Khu khám chữa bệnh, Khu thể dục thể thao, Nhà thi đấu đa năng, Trung tâm thương mại và dịch vụ... [ 6 ] Trường vận hành Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản (Bệnh viện trực thuộc/ liên kết) và có các bệnh viện, cơ sở y tế làm đối tác thực hành cho sinh viên khối sức khỏe; có đăng thông báo tiếp nhận học viên thực hành (chương trình, chi phí) — đây là tài sản quan trọng cho đào tạo y-dược và răng-hàm-mặt. Nghiên cứu khoa học Hợp tác quốc tế Hợp tác doanh nghiệp (CO-OP), hỗ trợ khởi nghiệp Thành tích, uy tín và đánh giá Theo bảng thống kê đội ngũ giảng viên toàn thời gian theo các lĩnh vực đào tạo của Trường Đại học Võ Trường Toản (do Hiệu trưởng Dương Đăng Khoa ký ngày 23 tháng 6 năm 2025), nhà trường có tổng cộng 315 giảng viên toàn thời gian. Tuy nhiên, trường chưa có giáo sư nào, nhiều ngành cũng chưa có phó giáo sư . Báo cáo thường niên năm 2024 của Trường cũng cho thấy, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của nhà trường trong năm 2024 đạt 46,2%, (tăng 2,2% so với năm 2023), dù vậy tỷ trọng thu khoa học - công nghệ trong 2 năm liên tiếp của trường đều bằng 0. [ 7 ] Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c706d45c229a TITLE: Trường Đại học Đông Á SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_%C4%90%C3%B4ng_%C3%81 [CONTENT] Đại học Đông Á [ 1 ] được thành lập theo Quyết định 644/QĐ-TTg ngày 21/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ, có chức năng đào tạo và cung ứng cho xã hội nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Hiện nay, Nhà trường thực hiện đào tạo thạc sĩ, cử nhân, kỹ sư các ngành: Quản trị kinh doanh , Luật Kinh tế, Công nghệ thực phẩm, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ Nhật Bản , Ngôn ngữ Hàn Quốc ,Quản trị nhân lực, Quản trị văn phòng, Công nghệ Thông tin, Kỹ thuật máy tính, Kế toán, Tài chính ngân hàng, Công nghệ kỹ thuật Ô tô , Công nghệ Kỹ thuật điện–Điện tử, Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa , Công nghệ kỹ thuật xây dựng, Quản trị Khách sạn - Nhà hàng, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Dược, Điều dưỡng, Dinh dưỡng, Tâm lý học, Giáo dục mầm non, Giáo dục Tiểu học, Nông nghiệp, Luật,Logistic và quản lý chuỗi cung ứng, quản lý văn hóa, dinh dưỡng, ... Tổng quan Trụ sở 33 Xô Viết Nghệ Tĩnh - Phường Hòa Cường Nam - Quận Hải Châu - TP. Đà Nẵng có tổng diện tích sàn 18.600m², 10 tầng với 140 phòng chức năng. Trong đó có: 10 phòng thực hành CNTT, 15 phòng thực hành ngoại ngữ, 24 phòng thực hành nghề nghiệp, thư viện điện tử, hội trường và 7 giảng đường lớn. Khu tiện ích dành cho SV bao gồm: thư viện sách ngoài trời (công viên văn hóa đọc), thư viện điện tử, vườn trạng nguyên, khu tự học dành cho SV, khu cà phê – sách, khu liên hợp thể thao gồm sân bóng đá , sân bóng chuyền, sân bóng rổ,… Phân hiệu Trường đại học Đông Á tại Đắk Lắk Tọa lạc ở thủ phủ vùng Tây Nguyên – Phân hiệu Trường đại học Đông Á tại Đắk Lắk quy tụ đầy đủ các điều kiện cho việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong hệ thống cơ sở đào tạo và thực hành hiện đại, không gian học tập hứng khởi, khai phá việc làm tại chỗ phục vụ phát triển kinh tế địa phương và hội nhập quốc tế cho sinh viên. Phân hiệu Trường đại học Đông Á tại Đắk Lắk có tổng diện tích mặt bằng 9,99ha, tại 3 block A, B, C đang vận hành với công năng 115 phòng học lý thuyết, 27 phòng thực hành chuyên môn, hội trường lớn cùng khu hiệu bộ và đầy đủ các phòng chức năng. Ưu thế về đào tạo và đào tạo sau đại học, đặc biệt là việc làm trong nước và quốc tế cho SV ở các ngành tại mạng lưới hơn 110 công ty, tập đoàn nước ngoài ở Nhật Bản, Singapore, Cộng hoà Liên bang Đức, Đài Loan…; hơn 350 công ty, tập đoàn trong nước, nhất là các tập đoàn, công ty nước ngoài tại Việt Nam FDI đang là đối tác chiến lược, Phân hiệu Trường đại học Đông Á tại Đắk Lắk không chỉ phù hợp trong quy hoạch mạng lưới giáo dục đại học tại tỉnh ĐL mà còn góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn giỏi cùng năng lực số hóa và hội nhập cao, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh sinh viên và nhu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cũng như giải quyết vấn đề việc làm trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên một cách bài bản trong dài hạn. Lịch sử hình thành và phát triển Ngôi trường được thành lập bắt đầu từ ý tưởng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho cộng đồng doanh nghiệp. Suốt chặng đường xây dựng và phát triển, tập thể sư phạm Nhà trường luôn nỗ lực phấn đấu xây dựng Nhà trường với sứ mạng “Đầu tư kiến thức phát triển năng lực cá nhân, chuyên môn nghề nghiệp để tạo dựng con đường thành công và đóng góp vào sự phát triển cộng đồng xã hội” phù hợp và gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Đà Nẵng, khu vực miền Trung–Tây Nguyên và cả nước và là kim chỉ nam xuyên suốt trong toàn bộ các hoạt động của Thầy và Trò Nhà trường. Phương châm hoạt động của trường là: "thành công của học trò là hạnh phúc của người thầy, thành công của doanh nghiệp là hạnh phúc của nhà trường". Tầm nhìn [ 2 ] Trường đại học Đông Á là trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực; phấn đấu đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 trở thành một trường uy tín ở việt nam và châu Á về giá trị khoa học và đào tạo, đóng góp xuất sắc vào sự phát triển cộng đồng. Ngành đào tạo Đại học Giáo dục mầm non Giáo dục tiểu học Tâm lý học Dược Dinh dưỡng Công nghệ kỹ thuật Ô tô Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa Luật Luật kinh tế Công nghệ thực phẩm Nông nghiệp Công nghệ thông tin Công nghệ kỹ thuật điện - điện tử: Công nghệ kỹ thuật xây dựng Kế toán Tài chính ngân hàng Quản trị kinh doanh Quản trị Marketing Quản trị truyền thông tích hợp Logistics và quản lý chuỗi cung ứng Quản trị khách sạn Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống Điều dưỡng Quản trị nhân lực Quản trị văn phòng Ngôn ngữ Trung Quốc Ngôn ngữ Hàn Quốc Ngôn ngữ Nhật Bản Ngôn ngữ Anh Quản lý văn hóa Kinh doanh thời trang và dệt may Thạc sĩ Hợp tác quốc tế Đại học Đông Á đã ký kết hợp tác với 128 đơn vị là đối tác tại các nước: Hoa Kỳ, Nhật Bản, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ, Singapore , Hàn Quốc, Thái Lan , Đài Loan ... trên nhiều lĩnh vực nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng đào tạo cho sinh viên, đặc biệt là mở rộng cánh cửa việc làm cho sinh viên tại các thị trường nhân lực sôi động toàn cầu. Với chiến lược hướng việc làm cho sinh viên ra thị trường quốc tế, từ năm 2015, Đại học Đông Á đã mở rộng thị trường việc làm ra thế giới gồm Nhật Bản, Đức và Singapore; hợp tác sâu với các tập đoàn đa quốc gia. Các tập đoàn đã đặt hàng tuyển dụng sinh viên Đại học Đông Á hàng năm, đến nay lên đến 4.050 vị trí việc làm dành cho sinh viên các khối ngành Kinh tế, Kỹ thuật, Sức khỏe và Sư phạm. Trong đó có các tập đoàn hàng đầu ở Nhật Bản như 7-Eleven, Zensho, Route-Inn, Dormy-Inn, LEOC, Global Design IT, Tập đoàn y tế Kameda, Aoyama Medical, Nozomi, Japan Material Engineering Services, JBMA, Asean Car Business Career-Japan, Eikoh Seisakusho, Care Partner, IFECE, Asrapport, Hiệp hội CNTT Chiba; các học viện điều dưỡng lớn Kouseikai, Nanakamado; Đại học quốc tế Kibi, thành phố Yokohama, Nagasaki, Beppu, Fukuoka; Tập đoàn Empire Inc Holdings (Singapore); Tập đoàn Leonardis, WBS AG, Azurit (Đức)... CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP NHẬT BẢN (Dành cho các ngành Điều dưỡng, CNKT Ô tô, Du lịch, CNKT Xây dựng, Thực phẩm) Phần 1: Chuyên môn nghề nghiệp - Chương trình đào tạo định hướng chuyên môn nghề nghiệp được thiết kế theo nhu cầu tiếp nhận tại Nhật Bản - Chương trình đào tạo tích hợp các kỹ năng để đáp ứng yêu cầu làm việc chuyên nghiệp tại Nhật Bản Phần 2: Ngoại ngữ: Chương trình đào tạo tiếng Nhật đạt trình độ N4 hoặc tương đương N3 trước khi tham gia chương trình Internship tại Nhật hoặc làm việc sau khi tốt nghiệp. Phần 3: Kỹ năng Tập trung đào tạo các kỹ năng giúp sinh viên đáp ứng những yêu cầu, văn hóa làm việc chuyên nghiệp của các doanh nghiệp Nhật Bản Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 9bae3405f79a TITLE: Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ki%E1%BA%BFn_tr%C3%BAc_%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng [CONTENT] Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng (Danang Architecture University) là một trường đại học tư thục đào tạo đa ngành theo định hướng ứng dụng nằm trong hệ thống giáo dục đại học của Nước CHXHCN Việt Nam. Các ngành nghề đào tạo Hiện nay, Trường đang đào tạo các ngành nghề có TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC - HỆ CHÍNH QUY như sau: Ban Giám hiệu Hiệu trưởng Các Phó hiệu trưởng Hội đồng trường Chủ tịch Hội đồng trường Các thành viên Hiệu trưởng qua các thời kỳ Các khoa đào tạo 1. Khoa Kiến trúc: 2. Khoa Xây dựng: 3. Khoa Cầu đường: 4. Khoa Kinh tế: 5. Ngoại ngữ: 6. Khoa Công nghệ thông tin: 7. Khoa Điện: 8. Khoa Du lịch: Thông tin về sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp Theo thống kê năm 2018 về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng có việc làm sau khi tốt nghiệp, có 92,93% cựu sinh viên của trường có việc làm đúng ngành sau 6 tháng tốt nghiệp. Đây là tỷ lệ sinh viên có việc làm cao so với mặt bằng chung của cả nước. Trường đã và đang tăng cường xúc tiến các mối quan hệ với các doanh nghiệp Nhật Bản để tạo cơ hội việc làm tại nước ngoài cho sinh viên của trường. Hiện nay, có rất nhiều công ty Nhật Bản đến làm việc và đặt vấn đề tuyển dụng sinh viên của trường để sang Nhật Bản làm việc lâu dài. Việc tuyển dụng này là trực tiếp, không thông qua bất kỳ công ty môi giới việc làm nào và sinh viên của trường được bồi dưỡng MIỄN PHÍ kiến thức chuyên môn và tiếng Nhật trước khi sang Nhật Bản làm việc. Các ngành nghề sẽ có số lượng tuyển dụng lớn bởi các công ty Nhật Bản trong thời gian tới là: Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông (Xây dựng cầu đường), Kỹ thuật Cơ sở Hạ tầng, Quản lý xây dựng (Quản lý dự án), Kỹ thuật xây dựng (Xây dựng dân dụng và công nghiệp), Công nghệ thông tin, Kỹ thuật Điện, điện tử, Thiết kế Đồ họa và Thiết kế Nội thất. Năm 2018, có 65 sinh viên của trường được các công ty của Nhật Bản là đối tác của trường tuyển dụng và đưa sang Nhật Bản làm việc. Số sinh viên đang học tại trường được các công ty Nhật Bản đào tạo thêm về kỹ năng làm việc và tiếng Nhật trước khi sang Nhật Bản làm việc là hơn 100 sinh viên. Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: aaa0e720f2b5 TITLE: Trường Đại học Phan Châu Trinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Phan_Ch%C3%A2u_Trinh [CONTENT] Đại học Phan Châu Trinh là một trường Đại học Y khoa chỉ đào tạo khối ngành sức khỏe tại trung tâm TP. Đà Nẵng (cách sân bay Quốc tế Đà nẵng khoảng 9km) và có một chuỗi hệ thống bệnh viện riêng. Đây là một lợi thế rất lớn cho sinh viên theo học tại đây. Do đó, việc đi lại và sinh hoạt sẽ rất thuận lợi cho sinh viên cả 03 miền hội tụ về đây học tập và nghiên cứu. Đại học Phan Châu Trinh được thành lập ngày 6 tháng 8 năm 2007, theo quyết định số 989/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ . [ 1 ] Ngày 12.08.2017, Bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng tiếp quản và điều hành Trường Đại học Phan Châu Trinh theo một chiến lược mới đó là chỉ tập trung vào khối ngành Y. Và, Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo , Bộ Y tế chấp thuận cho phép đào tạo ngành Y khoa (bác sĩ đa khoa) hệ chính quy khóa đầu tiên từ năm 2018. Đến nay, Trường đào tạo 07 ngành gồm Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Điều dưỡng đa khoa, Điều dưỡng Nha khoa, Kỹ thuật xét nghiệm, Tâm lý học và Quản trị bệnh viện. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng là nhà sáng lập Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ - Hệ thống bệnh viện tư nhân đầu tiên và lớn nhất Việt Nam. [ 2 ] Sau đó, ông tiếp tục sáng lập và điều hành Tập đoàn Y khoa Tâm Trí với chuỗi hệ thống bệnh viện đa khoa Tâm Trí trên toàn quốc. Hiện tại ông cũng là nhà đầu tư duy nhất và là Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Phan Châu Trinh. Đào tạo ra một thế hệ thầy thuốc chuẩn mực nhằm cải thiện vị trí và hình ảnh của người thầy thuốc tương lai trong lòng người bệnh và cộng đồng xã hội là mục tiêu bất biến được ông ấp ủ từ những năm đầu điều hành hệ thống bệnh viện Hoàn Mỹ. Bằng tâm huyết của mình và tầm nhìn đi trước thời đại, ông đã gây dựng một Đại học Phan Châu Trinh non trẻ dần trở thành một đại học y khoa uy tín trên bản đồ Việt Nam cũng như Thế giới. Sứ mệnh và Tầm nhìn Đào tạo ra một thế hệ bác sĩ, nhân viên y tế chuẩn mực, vừa giỏi kiến thức và kỹ năng lâm sàng, vừa có năng lực nghiên cứu khoa học, có đạo đức nghề nghiệp, có kỹ năng lãnh đạo, là hạt nhân y tế trong tương lai. Đại học Phan Châu Trinh đã tiếp nối triết lý giáo dục khai phóng của cụ "Phan", đề cao sự tự do học thuật của người học, chú trọng vào kỹ năng thực hành. Sinh viên được thực tập bệnh viện ngay từ năm nhất, có cơ hội trải nghiệm 70% thời gian học và thực hành tại chuỗi bệnh viện riêng trên toàn quốc . Hội đồng cố vấn Hội đồng Cố vấn Khoa học (Advisory committee of faculty senate) của trường Đại học Phan Châu Trinh gồm những Giáo sư, Tiến sĩ, những chuyên gia làm việc trong lĩnh vực y tế có nhiều năm giảng dạy y khoa cũng như lĩnh vực quản trị y tế, và giáo dục. Những thành viên của Hội đồng có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy y khoa kiệt xuất trong nước và ngoài nước. Hội đồng cố vấn cho trường trong lĩnh vực học thuật, chiến lược đào tạo, chương trình đạo tạo sao cho đúng với mục tiêu đào tạo chất lượng. Hội đồng giúp xây dựng và thẩm định chiến lược nâng cao khả năng giảng dạy giảng viên và đào tạo giảng viên nhất là những giảng viên trẻ. Góp ý kiến trong xây dựng kế hoạch đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng của trường học, xây dựng định hướng phát triển các khoa, kế hoạch nghiên cứu khoa học và thẩm định các để tài nghiên cứu, các vấn đề khác mà nhà trường cần tham khảo. Sau đây là thành viên Hội đồng Cố vấn Khoa học: Nguyên trưởng khoa Y Đại học Y khoa Huế Nguyên trưởng khoa Y Viện Đại học Minh Đức Trưởng khoa Y Đại học Phan Châu Trinh Nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Y dược TPHCM Viện trưởng viện di truyền Y học TPHCM Nguyên trưởng khoa Y Đại học Y dược TPHCM Nguyên chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu bệnh Đại học Y dược TPHCM Nguyên trưởng bộ môn Giải phẫu trường Đại học Y dược TPHCM Giám đốc Trung tâm MEDIC – Hòa Hảo TPHCM Nguyên trưởng khoa Ngoại Nhi Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng Cố vấn chuyên môn Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Đà Nẵng Professor of Surgery and Pediatrics Chief of Clinical Transplantation Chief of Pediatric Kidney Transplantation Former Chair, Stanford School of Medicine Faculty Senate Division of Transplantation Stanford University School of Medicine Assistant Clinical Professor — Department of Dermatology University of San Francisco, San Francisco, California Forensic Psychiatry, Private Consulting Assistant Professor, Oregon Health & Science University Correctional Telemedicine, Department of Public Psychiatry AIDS Clinic, Department of Internal Medicine Consultant, North Country Community Mental Health Program Director, Doctor of Health Science Program (retired 2016) Professor of Health Science Nova Southeastern University Professor & Canada Research Chair, University of British Columbia Founder & President, www.NextGenU.org Principal Investigator, Healthy Doc = Healthy Patient Research Director, Annenberg Physician Training Program Senior Adviser of American Pacific International Capital Inc. Assistant Professor, Division of General Internal Medicine and Geriatrics Division of Infectious Diseases-Special Focus on HIV Oregon Health Sciences University Bệnh viện thực hành Đại học Phan Châu Trinh có hệ thống bệnh viện thực hành gồm 07 bệnh viện đa khoa và 01 phòng khám đa khoa: Mô hình viện - trường là mô hình mà các trường đại học y khoa nổi tiếng thế giới áp dụng. Nhờ đó, bác sĩ, cử nhân y tế của PCTU khi ra trường sẽ có kỹ năng tay nghề vượt trội. Các ngành và loại hình đào tạo Đại học hệ chính quy Hợp tác quốc tế Đại học Phan Châu Trinh có mối quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học y khoa danh tiếng trong việc trao đổi học thuật, giảng viên và sinh viên như: Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: fddb7e4e3348 TITLE: Trường Đại học Lạc Hồng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_L%E1%BA%A1c_H%E1%BB%93ng [CONTENT] Trường Đại học Lạc Hồng là trường đại học tư thục đầu tiên tại tỉnh Đồng Nai . Trường có trụ sở tại Số 10 Huỳnh Văn Nghệ, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa (nay là phường Trấn Biên , tỉnh Đồng Nai. Trường được thành lập theo quyết định số 790/TTg Thủ tướng thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1997. Trường đào tạo đa ngành, đa cấp bật bao gồm nhiều khối ngành như ngành Kỹ thuật, Xã hội, Kinh tế và Sức khỏe, cạnh đó còn xây dựng chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Hàng năm, trường tuyển hơn 2.000 sinh viên. Hiện trường có tổng cộng 13 khoa với 22 chuyên ngành và có gần 20.000 sinh viên theo học. Lịch sử hình thành Từ những năm 1993 – 1994, từ nhu cầu cung ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa của Đồng Nai nói riêng và khu vực kinh tế trọng điểm phía nam nói chung, là cơ sở thuận lợi cho việc sớm ra đời một trường đại học tại Đồng Nai. Ngày 29 tháng 9 năm 1995, UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định công nhận Hội đồng sáng lập Trường. Cũng vào ngày này, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Minh Hoàng có tờ trình gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục Đào tạo xin thành lập trường Đại học Lạc Hồng. Trong thời gian chờ đợi quyết định của Thủ tướng Chính phủ, một Ban thường trực Hội đồng sáng lập trường do PGS-TS.Đoàn Văn Điện làm trưởng ban ra đời với nhiệm vụ hoàn tất các công việc chuẩn bị cần thiết cho một trường đại học, có thể bắt tay vào hoạt động một khi có quyết định chính thức của Thủ tướng. Ngày 2 tháng 6 năm 1997, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo GS-TS.Trần Hồng Quân ký quyết định công nhận Hội đồng sáng lập trường Đại học Lạc Hồng do PGS. TS. Nguyễn Trùng Phương - Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm chủ tịch. Ngày 19 tháng 9 năm 1997, Bộ trưởng lập tờ trình số 8140/TCCB về việc thành lập trường Đại học Lạc Hồng trình Chính phủ. Ngày 24 tháng 9 năm 1997, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định số 790/TTg chính thức cho ra đời trường Đại học Lạc Hồng đặt tại Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 17 tháng 10 năm 1997, Bộ trưởng GS.TS Nguyễn Minh Hiển ký quyết định số 3261/GD-ĐT công nhận Hội đồng Quản trị trường do ông PGS.TS. Nguyễn Trùng Phương làm Chủ tịch. Ngày 31 tháng 10 năm 1997, Bộ trưởng cũng đã ký quyết định số 3463/GD-ĐT bổ nhiệm PGS.TS. Đoàn Văn Điện làm Hiệu trưởng Nhà trường. Trải qua nhiều thay đổi về nhân sự điều hành. Hiện nay PGS.TS. Đỗ Thị Lan Đài đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Hiệu trưởng nhà trường. Lãnh đạo qua các thời kỳ Chủ tịch Hội đồng quản trị [ 1 ] Các cấp và ngành đào tạo [ 3 ] Hoạt động chuyên môn Trường Đại học Lạc Hồng đào tạo dựa trên lý thuyết: "Đào tạo nhân lực chất lượng cao, có ý thức chính trị phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ hội nhập và hợp tác quốc tế; Bồi dưỡng nhân tài, có khả năng học lên sau đại học có năng lực nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng cao; Sinh viên tốt nghiệp làm việc hiệu quả, từng bước tự đào tạo thành nhà quản lý đáp ứng nhu cầu của các tổ chức trong xã hội". Số lượng khoa, ngành đào tạo (Hệ thống thông tin, Mạng và truyền thông, Kỹ thuật máy tính, Kỹ thuật phần mềm, Điện tử Viễn thông, Tự động hóa, Điện - Điện tử, Cơ Điện tử, Điện Công nghiệp, Xây dựng dân dụng & Công nghiệp, Xây dựng Cầu đường, Công nghệ Hoá học, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Môi trường, Công nghệ Sinh học, Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh (Quản trị Doanh nghiệp, Quản trị Nhà hàng Khách sạn, Quản trị Luật Kinh tế), Kinh tế học (Ngoại thương), Kế toán – Kiểm toán, Đông Phương học (Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Trung Quốc học, Việt Nam học), Ngữ văn anh. Đào tạo mở rộng hợp tác quốc tế Đổi mới giảng dạy Phương pháp giảng dạy Hoạt động công nghệ thông tin Công tác tổ chức thi Đồng hành cùng doanh nghiệp Chất lượng đào tạo Năm 2024, Trường Đại học Lạc Hồng đã đạt Chứng nhận Đảm bảo Chất lượng Cấp Cơ sở Giáo dục AUN-QA, Phiên bản 3.0. [ 4 ] Phong trào Robocon Thành tích thi đấu Cho đến nay, Đại học Lạc Hồng là ngôi trường giàu thành tích nhất của Robocon Việt Nam, với 9 lần vô địch trong nước và 3 chức vô địch châu Á - Thái Bình Dương. Đầu tư phát triển Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 75fd16c21c1d TITLE: Trường Đại học Hà Hoa Tiên SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%A0_Hoa_Ti%C3%AAn [CONTENT] Trường Đại học Hà Hoa Tiên là trường Đại học Tư thục có chất lượng đầu ra kém và có tỉ lệ xin việc thấp (dưới 70%) tại tỉnh, được đầu tư bởi Công ty Cổ phần Hà Hoa Tiên, Tập đoàn Đặng Lê Hoa. Trường đặt tại tỉnh Hà Nam . Trường Đại học Hà Hoa Tiên do hoạt động không hiệu quả nên đã được chuyển giao cho Bộ Công an để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành vào ngày 17/01/ 2016 . Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: d85d844ded3a TITLE: Trường Đại học Lương Thế Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_L%C6%B0%C6%A1ng_Th%E1%BA%BF_Vinh [CONTENT] Trường Đại học Lương Thế Vinh là một trường đại học được thành lập ngày 5 tháng 12 năm 2003 theo Quyết định số 259/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải [ 1 ] Trước đây trường còn có tên là Trường Đại học Dân lập Lương Thế Vinh , ngày 29/5/2006, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ký Quyết định số 122/2006/QĐ-TTg, cho phép đổi tên Trường thành Trường Đại học Lương Thế Vinh theo tên một nhà toán học Việt Nam thời Hậu Lê , đang chuyển sang loại hình trường đại học tư thục và sẽ hoạt động theo quy chế trường đại học tư thục [ 2 ] Trường đào tạo đa ngành - đa lĩnh vực, từ bậc trung cấp, cao đẳng đến đại học, bao gồm các chuyên ngành như: Tin học , Cơ khí , Xây dựng , Kế toán , Du lịch , Nuôi trồng thủy sản ,... [ 3 ] Địa chỉ: Đường Cầu Đông, Phường Lộc Vượng, Thành phố Nam Định Điện thoại tư vấn tuyển sinh: 03.8259.8259 Hiệu Trưởng qua các nhiệm kỳ Các khoa đào tạo Hiện trường có 8 khoa: Chú thích Bài viết tỉnh Ninh Bình , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f38150270dad TITLE: Trường Đại học Thái Bình Dương SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng [CONTENT] Trường Đại học Thái Bình Dương ( tiếng Anh : Thai Binh Duong University – TBD ) được thành lập theo quyết định số 1929/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân . Trụ sở của trường được đặt tại Số 79, đường Mai Thị Dõng, phường Tây Nha Trang (trước đây là phường Vĩnh Ngọc , thành phố Nha Trang ), tỉnh Khánh Hòa . Trường là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo bậc đại học các ngành thuộc khối Kỹ thuật , Công nghệ , Kinh tế , Ngoại ngữ , Du lịch, Luật... Các ngành đào tạo Hỗ trợ tài chính và học bổng Năm 2024, Nhà trường dành 300 suất học bổng (HB) với giá trị lên đến 100# học phí toàn khoá học cho nhiều đối tượng thí sinh khác nhau. Học bổng phát triển tài năng Dành cho thí sinh xét tuyển vào Trường Đại học Thái Bình Dương có hạnh kiểm xếp loại tốt và thỏa mãn một trong các điều kiện sau: Học bổng khuyến học Dành cho thí sinh xét tuyển vào Trường Đại học Thái Bình Dương, có hạnh kiểm xếp loại tốt, gia đình thuộc hộ nghèo/cận nghèo/gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng có ý chí phấn đấu vươn lên trong học tập, và thỏa mãn một trong các điều kiện sau đây: Học bổng Doanh nghiệp Cơ sở Đào tạo Cơ sở chính tại địa chỉ 79 Mai Thị Dõng, phường Tây Nha Trang, Khánh Hòa. Ký túc xá (KTX) trường Đại học Thái Bình Dương đáp ứng đa dạng nhu cầu của sinh viên đang học tại trường, có hai loại phòng gồm: 16 phòng chất lượng cao (từ 1-2 sinh viên/phòng) đáp ứng tối đa 32 sinh viên và 67 phòng phổ thông (6 sinh viên/phòng) đáp ứng tối đa 402 sinh viên. Thư viện trường Đại học Thái Bình Dương với diện tích sử dụng 700 m 2 . Hiện nay, tổng số sách được lưu trữ tại Thư viện lên đến hơn 10.000 đầu sách thuộc lĩnh vực kinh tế, luật, ngôn ngữ và du lịch. Nghiên cứu khoa học Hợp tác quốc tế Hợp tác doanh nghiệp (CO-OP), hỗ trợ khởi nghiệp Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết tỉnh Khánh Hòa , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1e668a332c6b TITLE: Trường Đại học Yersin Đà Lạt SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Yersin_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t [CONTENT] Trường Đại học Yersin Đà Lạt là một trường đại học được thành lập ngày 27/12/2004 theo Quyết định số 175/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ , [ 1 ] trụ sở của Trường được đặt tại Thành phố Đà Lạt , Tỉnh Lâm Đồng . Hiện nay, trường là thành viên của Tập đoàn TTC (trước đây là Hệ thống Giáo dục TTC). [ 2 ] Quyết định chọn tên là trường Đại học Yersin Đà Lạt, những nhà sáng lập tỏ lòng tôn vinh một nhà bác học người Pháp mà tên tuổi, sự nghiệp đã gắn liền với vùng đất Đông Dương và Việt Nam đó là Alexandre John Emile Yersin - Người đầu tiên tìm ra thành phố Đà Lạt - Thành phố Festival hoa. Nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao cho các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật , công nghệ và một số ngành khoa học xã hội và nhân văn khác, góp phần đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng, Tây Nguyên , Nam Trung Bộ và miền Đông Nam bộ . [ 3 ] Trường Đại học Yersin Đà Lạt xác định sứ mệnh: Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những "Công dân toàn cầu", có khả năng phát huy năng lực sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp và có trách nhiệm với xã hội. Chúng tôi kiến tạo môi trường để sinh viên được trải nghiệm môi trường học tập năng động, thực tiễn, gắn liền với nhu cầu của doanh nghiệp; sinh viên tốt nghiệp từ Trường Đại học Yersin Đà Lạt sẵn sàng gặt hái thành công và thay đổi tương lai. Các ngành đào tạo Tính đến năm 2023, Trường Đại học Yersin Đà Lạt đào tạo 23 chuyên ngành : - Ngành Quan hệ Công chúng - Ngành Tâm lý học (dự kiến mở năm 2023) - Ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô - Khối ngành Công nghệ thông tin: - Khối ngành Du lịch: - Khối ngành Kiến trúc - Thiết kế nội thất: - Khối ngành Kinh tế - Luật: - Khối ngành Ngoại ngữ và Đông phương học: - Khối ngành Nông nghiệp - Sinh học - Thực phẩm: Khối ngành Y - Dược - Điều Dưỡng: Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 04aa94819310 TITLE: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Kinh_t%E1%BA%BF_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Long_An [CONTENT] Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An được thành lập tại Quyết định số 542/QĐ-TTg ngày 4/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An được thành lập theo quyết định 542/QĐ-TTg ngày 4/5/2007 của Thủ Tướng Chính phủ, mã trường DLA, tên giao dịch tiếng Anh "Long An University of Economics and Industry". Văn phòng và trụ sở chính tại Long An (số 938, Quốc lộ 1, phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An); Văn phòng đại diện tại Tp. Hồ Chí Minh (số 13, đường số 8, Lý Phục Man, KP 3, phường Bình Thuận, Quận 7, TP. HCM). Là một Trường Đại học đa ngành gồm nhiều bậc hệ đào tạo đa dạng, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An với nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo, phát triển, cung ứng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật chất lượng cao phục vụ cho công cuộc hội nhập kinh tế - xã hội của tỉnh Long An, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung, vì mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Chất lượng đào tạo là điều được Ban giám hiệu trường quan tâm hàng đầu. Mục tiêu của trường là đào tạo một đội ngũ những người lao động có kỹ thuật, có kiến thức khoa học công nghệ hiện đại và có khả năng làm việc độc lập và sáng tạo, không những có đủ khả năng làm chủ về kiến thức thuộc chuyên ngành được đào tạo mà còn nắm bắt và đuổi kịp sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thời đại, đáp ứng với những biến đổi toàn diện và sâu sắc trong một nền kinh tế hiện đại – nền kinh tế tri thức. Đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường là những giảng viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, trong đó, có nhiều giảng viên được đào tạo từ nước ngoài và cả người nước ngoài. Qua chặng đường hình thành và phát triển, Các cử nhân và kỹ sư đào tạo tại trường là nguồn nhân lực góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nói chung và tỉnh Long An nói riêng – một thành quả rất đáng tự hào của trường Đại học KTCN Long An trên con đường "Tri hành – Đạt nhân" . Năm 2007: Ngày 4/5/2007: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An được thành lập theo quyết định 542/QĐ-TTg do Thủ Tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký. Năm 2009: Trường tiếp tục được Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam trao giải Doanh nghiệp tri thức ưu tú thời kỳ hội nhập. Năm 2010: Ngày 17/01/2010: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An Vinh dự nhận cúp vàng ISO lần thứ V, do Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam trao tặng tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Ngày 26/02/2010: Trường được Viện Tiêu chuẩn Anh (British Standards Institution – BSI) cấp giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý chất lượng ISO 9001: 2008Trường được Viện Tiêu chuẩn Anh (British Standards Institution – BSI) cấp giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý chất lượng ISO 9001: 2008. Năm 2011: TS Lê Đình Viên - Hiệu trưởng nhà trường được trao tặng giải thưởng "Nhà lãnh đạo xuất sắc 2012". Năm 2012: Trường tổ chức Lễ Tốt nghiệp cho sinh viên khóa 1. 28/5/2012: UBND tỉnh Long An đã có văn bản số 1735/UBND-VX do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Hữu Phước ký, đồng ý cho Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An hợp tác với Đại học Vinh đào tạo thạc sĩ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, ngành giáo dục đào tạo tỉnh nhà và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2013: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An tham dự Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc lần thứ 12 (2012-2013) và xuất sắc đạt giải nhì với giải pháp "Xây dựng và triển khai mạng cảm biến không dây phục vụ nông nghiệp chính xác". Giải pháp này nằm trong lĩnh vực Công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông của tác giả TS. Lê Đình Tuấn (P.HT-Chủ nhiệm) và ThS. Thái Doãn Ngọc (thành viên). Ngày 16/7/2013: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An ra mắt Tạp chí Kinh tế- Công nghiệp theo giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 230/GP-BTTTT, ngày 19 tháng 6 năm 2013. Năm 2014: Ngày 16/10/2014: Bộ Giáo dục & Đào tạo ra Quyết định số 4565/QĐ-BGDĐT giao nhiệm vụ cho Trường đào tạo Thạc sĩ ngành Kỹ thuật-Xây dựng. Ngày 11/6/2014: Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 2050/QĐ-BGDĐT cho phép Trường tuyển sinh và đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học. Năm 2015: Ngày 12/10/2015: Bộ Giáo dục & Đào tạo ra Quyết định số 4327/QĐ-BGDĐT giao nhiệm vụ cho Trường đào tạo Thạc sĩ ngành Tài chính ngân hàng. Tháng 12/ 2015: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đạt giải ba Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Long An với đề tài: "Nghiên cứu và xây dựng hệ thống điều khiển hệ thống chiếu sáng đèn thông minh đô thị, tiết kiệm năng lượng sử dụng mạng cảm biến không dây" do TS.Lê Đình Tuấn làm chủ nhiệm. Năm 2016: Ngày 10/8/2016: Bộ Giáo dục & Đào tạo ra Quyết định số 2751/QĐ-BGDĐT giao nhiệm vụ cho Trường đào tạo Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh. Ngày 30-01-2016, Chi bộ Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An chính thức nhận quyết định thành lập Đảng bộ cơ sở và ra mắt Ban chấp hành Đảng bộ. Năm 2017: Ngày 18/1/2017: Bộ Giáo dục và Đào tạo trao Quyết định số 214/QĐ – BGDĐT cho phép Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đào tạo và tuyển sinh ngành Luật Kinh tế. Ngày 6/5/2017: Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm Xây dựng và Phát triển nhằm ghi nhận những thành quả đạt được của chặng đường xây dựng và phát triển 2007-2017, qua đó định hướng phát triển cho những chặng đường tiếp theo vì sự nghiệp trồng người và nhận Quyết định về việc Khen thưởng thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2016-2017 của UBND Tỉnh Long An. Năm 2018: Bộ Giáo dục và Đào tạo trao Quyết định số 1197/QĐ-BGDĐ cho phép Trường DLA đào tạo ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành. Năm 2019: Tháng 3-2019, Trường DLA tổ chức Hội thảo "Đổi mới phương pháp dạy và học trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0". Năm 2020: Vào tháng 1 năm 2020 nhà trường đã được công nhận là cơ sở giáo dục Đại học đại chuẩn chất lượng theo Bộ tiêu chuẩn chất lượng mới của Bộ GD&ĐT, khẳng định thương hiệu nhà trường đối với xã hội và hệ thống giáo dục Đại học trong cả nước. Theo thông tin của Bộ giáo dục và Đào tạo [1], tính đến ngày 30/08/2020, chỉ có 148 trên tổng số 254 trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng, trong đó chỉ có khoảng 15 trường Đại học và 8 trường cao đẳng đạt tiêu chuẩn chất lượng theo Bộ tiêu chuẩn chất lượng mới này khẳng định thương hiệu nhà trường đối với toàn xã hội và hệ thống giáo dục đại học trong cả nước. Tôn chỉ. "Tri hành- Đạt nhân" Sứ mạng. Là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng; bồi dưỡng nhân tài; truyền bá tri thức, nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao các sản phẩm khoa học- công nghệ, góp phần phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa của tỉnh Long An và các tỉnh/thành trong khu vực Miền Nam. Phát triển theo định hướng ứng dụng, trở thành trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín trong nước và khu vực. Tầm nhìn. Đào tạo và hợp tác đào tạo đại học, sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) theo hướng ứng dụng có uy tín, đạt tiêu chuẩn chất lượng trong nước và khu vực; tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên, học thuật và giao lưu văn hóa với các cơ sở giáo dục đại học trong và ngoài nước Đến năm 2023 Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An phấn đấu đứng vào top 100 các trường đại học trong nước; đến năm 2030 đứng vào tóp 300 các trường đại học tốt nhất khu vực, người học có năng lự làm việc ở trong và ngoài nước Giá trị văn hóa cốt lõi Đổi mới và Sáng tạo; Trung thực và trách nhiệm; Nhiệt huyết và năng động; Tư duy độc lập và phản biện; Thích ứng môi trường làm việc quốc tế; Ước mơ, khát vọng vươn tới đỉnh cao trí thức. Đội ngũ giảng viên của nhà trường có hơn 250 người là những giảng viên kinh nghiệm lâu năm và tâm huyết với nghề gồm 2 Giáo sư , [ 1 ] 2 Phó Giáo sư , 2 Tiến sĩ khoa học , 31 Tiến sĩ và trên 70 Thạc sĩ . Đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường là những giảng viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, trong đó, có nhiều giảng viên được đào tạo từ nước ngoài và cả người nước ngoài. Ngoài ra, sinh viên DLA còn được học tập kinh nghiệm thực tế từ đội ngũ giảng viên doanh nghiệp, những người có thâm niên trong lĩnh vực ngành nghề mà sinh viên đang học. Đây cũng là điểm nổi bật của DLA trong quá trình đào tạo bám sát yêu cầu và thực tiễn công tác. Đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và theo sát từng sinh viên trong suốt quá trình học với chương trình đào tạo tiên tiến, cập nhật kiến thức mới nhất đáp ứng chuẩn đầu ra và nhu cầu của xã hội. Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An hiện nay có 2 cơ sở: [ 2 ] Cơ sở vật chất của trường được đầu tư từ cơ bản đến hiện đại giúp cho sinh viên dễ dàng tiếp thu bài trên lớp, ứng dụng lý thuyết đã học vào thực tế, phát huy tất cả khả năng, tư duy sáng tạo. Bên cạnh những phương pháp học truyền thống: tại lớp, phòng thực hành, thư viện, nhà trường còn trang bị cho sinh viên những phương pháp học hiện đại như thư viện điện tử tại trường và học mọi lúc mọi nơi qua hệ thống E-learning . Cơ sở chính Hiện nay trường đào tạo 2 hệ bao gồm: đại học , [ 7 ] cao học Hệ cao học có 3 ngành đào tạo Hệ đại học có 11 ngành đào tạo Luật kinh tế [ 8 ] Luật kinh tế là một bộ phận của pháp luật về kinh tế, là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau. Cử nhân luật: đào tạo sinh viên nắm vững kiến thức chung về nhà nước và pháp luật; các kiến thức chuyên ngành luật kinh tế,pháp luật về thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại; pháp luật về thương mại quốc tế; pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; pháp luật về đầu tư; pháp luật về cạnh tranh; pháp luật về tài chính, ngân hàng; pháp luật về kinh doanh bất động sản. Có khả năng tiếp tục học tập và nghiên cứu ở bậc sau đại học trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Sinh viên học ngành luật Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An có năng lực lập kế hoạch điều phối, phát huy trí tuệ; có năng lực đánh giá và cải tiến các hoạt động chuyên môn, có năng lực dẫn dắt về chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo; có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; có khả năng tự định hướng, thích nghi với môi trường làm việc khác nhau. Ngoài các kiến thức nên tảng, tổng quan sinh viên học ngành luật kinh tế còn được trang bị kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản lý thời gian... Các môn chuyên ngành quan trọng: Pháp luật đại cương; Luật doanh nghiệp; Luật thương mại; Luật cạnh tranh; Luật sở hữu trí tuệ; Luật đầu tư; Thủ tục đăng ký doanh nghiệp và thủ tục đầu tư; Pháp luật kinh doanh bất động sản; Pháp luật đầu tư xây dựng. Kiến trúc [ 9 ] Kiến trúc là một ngành nghệ thuật và khoa học về tổ chức sắp xếp không gian, lập hồ sơ thiết kế các công trình kiến trúc. Người thực hiện các công việc đó được gọi là Kiến trúc sư, sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình thiết kế mặt bằng, không gian, cấu trúc của một công trình và cung cấp những giải pháp về kiến trúc thuộc các lĩnh vực xây dựng khác nhau xuất phát từ nhu cầu thực tế của con người như nơi ăn ở, làm việc, vui chơi, đi lại... Một kiến trúc sư giỏi là người biết cách dung hòa hai yếu tố nghệ thuật và khoa học để kiến tạo ra những sáng tạo nghệ thuật độc đáo trên cơ sở kỹ thuật chính xác. Sinh viên đến với ngành Kiến trúc sẽ được trang bị đầy đủ các kiến thức và kỹ năng về kiến trúc mỹ thuật như công tác quy hoạch, thiết kế đô thị, nguyên lý thiết kế, kỹ thuật mô hình, cấu tạo, kết cấu công trình... sinh viên sẽ được kết hợp học lý thuyết với làm đồ án theo từng môn học, qua đó có thể dễ dàng vận dụng các kiến thức đã học vào việc thiết kế các thể loại công trình cụ thể. Các môn chuyên ngành quan trọng: Vật lý kiến thức; Tin học ứng dụng; Kỹ thuật thể hiện mô hình - vật liệu; Nguyên lý kiến trúc; Kết cấu công trình và vật liệu xây dựng; Phương pháp luận sáng tạo; Phương pháp sáng tác kiến trúc. Quản trị kinh doanh [ 10 ] Quản trị kinh doanh là việc thực hiện các hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa hóa "hiệu suất", "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý. Sinh viên quản trị kinh doanh sẽ được trang bị những kiến thức và kỹ năng chuyên sâu để lãnh đạo, quản lý, điều hành một doanh nghiệp như quản trị dự án, quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính, quản trị Marketing...có nghiệp vụ về thống kê, kế toán, kiểm toán, điều hành văn phòng. Ngoài các kiến thức nên tảng, tổng quan sinh viên học ngành quản trị kinh doanh còn được trang bị kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản lý thời gian... Chương trình đào tạo gồm các chuyên ngành: [ 11 ] Quản trị doanh nghiệp; Quản trị Marketing; Quản trị rủi ro; Quản trị dự án; Nghệ thuật lãnh đạo; Quản trị tài chính; Quản trị vận hành ; Quản trị Logistic; Thống kê kinh doanh; Thương mại quốc tế. Tài chính ngân hàng [ 12 ] Tài chính ngân hàng là kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ thông qua ngân hàng và các công cụ tài chính được ngân hàng phát hành nhằm bảo lãnh, thanh toán, chi trả trong nội địa và quốc tế. Sinh viên ngành Tài chính ngân hàng được cung cấp kiến thức về lĩnh vực phân tích tài chính và đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong quá trình toàn cầu hóa; Nắm bắt kiến thức vững chắc về thực hành các nghiệp vụ trong ngân hàng thương mại hiện đại; có chuyên môn sâu về phân tích, dự báo liên quan đến tài chính, tiền tệ nhằm đưa ra quyết định trong quản trị tài chính. Bên cạnh đó, người học còn được rèn luyện về bản lĩnh và khả năng tự nghiên cứu khi gặp vấn đề mới, đối đầu và ứng biến nhạy bén khi có rủi ro phát sinh liên quan đến tài chính, tiền tệ. Gồm các chuyên ngành: [ 13 ] Tài chính doanh nghiệp; Tài chính quốc tế; Thị trường chứng khoán; Thẩm định tín dụng; Kinh doanh ngoại hối; Quản trị ngân hàng thương mại; Quản trị rủi ro tài chính; Luật kinh tế; Thẩm định dự án đầu tư. Kế toán - Kiểm toán [ 14 ] Kế toán là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động tài chính của một tổ chức, một doanh nghiệp, một cơ quan nhà nước, một cơ sở kinh doanh tư nhân...Đây là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Từ quản lý ở phạm vi từng đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp cho đến quản lý ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Sinh viên Kế toán sẽ được cung cấp kiến thức về khung pháp lý của kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế; các quy định về đạo đức nghề nghiệp của kế toán; kiến thức về thu thập, xử lý, kiểm tra và cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ của kế toán: tính phí, làm dự toán, phân bổ ngân sách, quản lý doanh thu theo sát các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài các kiến thức nên tảng, tổng quan sinh viên học ngành kế toán còn được trang bị kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản lý thời gian... Kỹ năng tiếng Anh liên quan đến lĩnh vực kế toán , kiểm toán . [ 15 ] Các môn chuyên ngành quan trọng: Nguyên lý kế toán; Kế toán doanh nghiệp; Kế toán quản trị; Kiểm toán; Thanh toán quốc tế; hệ thống thông tin kế toán; Phân tích báo cáo tài chính; Kế toán ngân hàng thương mại; Kế toán công trình. Công nghệ kỹ thuật xây dựng: [ 16 ] Ngành xây dựng là ngành chuyên về lĩnh vực tư vấn, thiết kế, tổ chức thi công, quản lý giám sát và nghiệm thu các công trình xây dựng dân dụng, công trình xây dựng công nghiệp phục vụ đời sống con người như: nhà cao tầng, bệnh viện, trường học, nhà xưởng, trung tâm thương mại,... Sinh viên ngành xây dựng được trang bị các kỹ năng mềm, làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, sáng tạo và được trang bị kiến thức cơ sở cần thiết để có thể tiếp tục tham gia các công việc nghiên cứu khoa học và tiếp thu học tập ở các cấp độ đào tạo cao hơn. [ 17 ] Các môn chuyên ngành quan trọng: Sức bền vật liệu; Vật liệu xây dựng; Kiến trúc xây dựng; Nền và móng; Kết cấu thép; Kết cấu bê tông; Cấp thoát nước; Máy xây dựng; Tổ chức thi công; An toàn lao động. Công nghệ thông tin [ 18 ] Chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản để phát triển toàn diện; Nắm vững lý thuyết, thành thạo các kỹ năng cơ bản của ngành CNTT, có thể giải quyết được các vấn đề chuyên môn thuộc lĩnh vực CNTT. Có khả năng đọc hiểu tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh, đồng thời có thể thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ . Các môn chuyên ngành quan trọng: Các ngôn ngữ lập trình; Kiểu thử phần mềm; Mạng máy tính và truyền thông; Thiết kế đồ họa; Thương mại điện tử; Hệ thống thông tin; An toàn thông tin; Kỹ thuật truyền số liệu; Mạng máy tính nâng cao. Ngôn ngữ Anh [ 19 ] Đào tạo Cử nhân Anh văn , là ngành học nghiên cứu về các phương pháp học tập loại ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh, đồng thời đây còn là ngành học nghiên cứu về lịch sử, con người, văn hóa của các quốc gia, dân tộc sử dụng tiếng Anh trên thế giới. Ngôn ngữ Anh là ngôn ngữ chung của toàn cầu, hiện có 50 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính, gần 80 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2. Là ngôn ngữ thông dụng trên toàn thế giới nên việc sở hữu trong tay ngôn ngữ toàn cầu này được coi là chìa khóa vàng thời hội nhập cho mỗi cá nhân muốn thành công trong công việc. Sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh sẽ được đào tạo kiến thức nền tảng về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử.... nước Anh và các nước sử dụng tiếng Anh. Sở hữu kiến thức này, sinh viên sẽ làm chủ và sử dụng tiếng Anh thành thạo; đồng thời trang bị thêm các kiến thức bổ trợ về kinh tế, tài chính ngân hàng, nhà hàng khách sạn, xuất nhập khẩu, quan hệ quốc tế,... để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trên bước đường hội nhập quốc tế. Các môn chuyên ngành quan trọng: Văn học Anh - Mỹ; Văn hóa Anh - Mỹ; Biên dịch Anh - Việt; Biên dịch Việt - Anh; Tiếng Anh giao tiếp kinh doanh; Phiên dịch thương mại; Tiếng anh Tài chính - Ngân hàng; Tiếng Anh du lịch. Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành là ngành học năng động, bao gồm quá trình quản lý và điều hành du lịch, chịu trách nhiệm phân công công việc cho các hướng dẫn viên du lịch; nhận thông tin để phối hợp với các bộ phận, cơ quan chức năng giải quyết những phát sinh, thiết kế các chương trình du lịch, sự kiện liên quan đến du lịch... Bên cạnh đó, ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành được xem là ngành "công nghiệp không khói", một ngành kinh tế mũi nhọn và giàu tiềm năng nhất của thế kỷ trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Học ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, các bạn sinh viên sẽ được cung cấp kiến thức tổng quan về du lịch như: địa lý du lịch, văn hóa, khoa học quản lý, quản trị kinh doanh, tâm lý và tập quán của du khách trong nước và quốc tế, các kỹ năng nghiệp vụ về hướng dẫn du lịch, thiết kế tour, quản lý và điều hành tour, thiết kế và quản trị sự kiện du lịch. Các môn chuyên ngành quan trọng: Văn hóa tổ chức; Kinh tế du lịch; Marketing du lịch; Du lịch tôn giáo và tín ngưỡng; PR và truyền thông sự kiện; Phong tục - Tập quán - Lễ hội - Truyền thống; Quản trị lữ hành; Địa lý du lịch; Quản trị sự kiện, hướng dẫn du lịch. Quản trị Công nghệ truyền thông Quản trị công nghệ truyền thông là ngành học nghiên cứu về quá trình sản xuất truyền thông thông qua các công nghệ hiện đại. Cụ thể là sản xuất phim điện ảnh, chương trình truyền hình, phim quảng cáo, phim ngắn, tiểu phẩm... và quá trình kinh doanh truyền thông như kinh doanh và marketing phim ảnh, chương trình, nội dung, quảng cáo... Ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực về truyền thông. Mục tiêu đào tạo của ngành là trang bị giúp sinh viên vận dụng các kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin, kỹ năng về sản xuất, phát triển, quản trị và kinh doanh các sản phẩm truyền thông phục vụ cho nhu cầu công việc tại các cơ quan báo chí, đài phát thanh, truyền hình, công ty quảng cáo, tổ chức sự kiện, giải trí đa phương tiện... Một số môn học tiêu biểu các bạn sinh viên sẽ được trải nghiệm khi tham gia học ngành Quản trị Công nghệ truyền thông như: Phương pháp quảng cáo; Tổ chức sự kiện truyền thông; Kỹ năng phỏng vấn; Kỹ năng dẫn chương trình; Kỹ thuật dựng hình và ghi hình,... Marketing Marketing là hình thức không thể thiếu trong kinh doanh, bao gồm tất cả các hoạt động hướng đến khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của họ thông qua quá trình giới thiệu sản phẩm, phát triển thương hiệu. Mục tiêu của Marketing đó chính là trở thành chiếc cầu nối vững chắc giữa doanh nghiệp và khách hàng. Sinh viên học ngành Marketing tại Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An được chú trọng phát triển các kỹ năng chuyên môn như: phân tích, dự báo nhu cầu thị trường, tổ chức thực hiện và quản lý các hoạt động nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược phát triển và quản trị thương hiệu, nghiên cứu hành vi tiêu dùng và nhu cầu khách hàng, xây dựng kế hoạch truyền thông marketing,... Một số học phần chuyên ngành tiêu biểu như sau: Digital Marketing; Nghiên cứu Marketing; Marketing quốc tế; Marketing kinh doanh; Marketing dịch vụ; Internet marketing; Mô phỏng marketing; Quản trị lực lượng bán hàng; Quản trị thương hiệu; Quản trị và phát triển sản phẩm mới; Quản trị kênh phân phối; Chiến lược định giá. Các trung tâm Các phòng ban chức năng Các khoa ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 48c478cc236d TITLE: Trường Đại học Tân Tạo SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_T%C3%A2n_T%E1%BA%A1o [CONTENT] Trường Đại học Tân Tạo (tên giao dịch tiếng Anh: Tan Tao University, viết tắt TTU ) là một trường đại học tư thục của Việt Nam giảng dạy bằng tiếng Anh và Tiếng Việt theo chương trình của Viện Đại học Duke của Hoa Kỳ , đặt tại Long An . Trường được sáng lập bởi bà Đặng Thị Hoàng Yến - Chủ tịch hội đồng quản trị của Tập đoàn Tân Tạo . Giới thiệu Trường Đại học Tân Tạo là trường đại học tư thục phi lợi nhuận được thành lập vào ngày 25 tháng 11 năm 2010 theo Quyết định 2154/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [ 1 ] với trụ sở chính của Trường đặt tại khu đô thị ECity Tân Đức , huyện Đức Hòa , Long An , trường Đại học Tân Tạo được xây dựng trên diện tích khoảng 103ha và được khởi công xây dựng từ năm 2008. Ban lãnh đạo Người sáng lập Trường Đại học Tân Tạo được sáng lập bởi bà Đặng Thị Hoàng Yến - Chủ tịch hội đồng quản trị của Tập đoàn Tân Tạo , đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị và là hiệu trưởng của Trường Đại học Tân Tạo. Hội đồng Trường Chủ tịch: TS. Đặng Thị Hoàng Yến Phó Chủ tịch: Đặng Quang Hạnh Các ủy viên Ban giám hiệu Ban giám hiệu hiện nay của Trường Đại học Tân Tạo gồm: Hiệu trưởng: TS. Đặng Thị Hoàng Yến Quyền Hiệu trưởng: TS. Nguyễn Mai Lâm Hiệu phó Đào tạo - NCKH và HTQT: GS. BS. Thạch Nguyễn [ 2 ] Các khoa, ngành Khoa Công nghệ thông tin Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Khoa Công nghệ sinh học Khoa Y Khoa Ngôn ngữ và Nhân văn Chú thích Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 66f047f61ea7 TITLE: Trường Đại học Công nghiệp Vinh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vinh [CONTENT] Trường Đại học Công nghiệp Vinh được thành lập ngày 12 tháng 6 năm 2013, theo Quyết định số 920 của Chính phủ QĐ-TTg, có trụ sở chính đặt tại Thành phố Vinh . Mục tiêu của Trường ĐH Công nghiệp Vinh là trở thành trung tâm giáo dục, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ , đào tạo nguồn nhân lực cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Bắc Trung Bộ và trong cả nước. Địa chỉ Địa chỉ: Số 26 Nguyễn Thái Học - Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An. Tiềm lực Đào tạo Tổ chức Ban giám hiệu Hiệu Trưởng: TS. Nguyễn Thanh Tùng Phó hiệu trưởng: TS. Trần Mạnh Hà Các Khoa/Viện/ Trung tâm đào tạo Các Phòng chức năng Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b7513d1b1ecc TITLE: Trường Đại học Phú Xuân SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ph%C3%BA_Xu%C3%A2n [CONTENT] Trường Đại học Phú Xuân được thành lập bởi Hội Khuyến học Thừa Thiên – Huế ngày 11/7/2003, theo Quyết định số 140/2003/QĐ-TTg [ 1 ] của Thủ tướng Chính phủ. [ 2 ] Năm 2018, Trường Đại học Phú Xuân được nhận đầu tư của Tập đoàn Giáo dục EQuest và trở thành thành viên của tổ chức này, đồng thời có sự thay đổi về chủ sở hữu và hiệu trưởng. Kể từ năm 2018, TS. Đàm Quang Minh trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Hiệu trưởng của Trường Đại học Phú Xuân. [ 3 ] Bước chuyển đổi Sau khi tiếp nhận trường đã bỏ gần hết các khoa và các ngành học cũ để chuyển sang hệ thống khoa và ngành học mới phù hợp với nhu cầu xã hội hơn. Ngành Ngôn ngữ Anh là một trong những ngành đã hình thành qua quá trình chuyển đổi này. [ 4 ] Các ngành học được sinh viên quan tâm hiện có Công nghệ Thông tin, Quản trị Kinh doanh – Marketing, Việt Nam học – Du lịch, Ngôn ngữ Anh, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành... Vào ngày 31/12/2023, Trường Đại Học Phú Xuân thông báo dừng hoạt động tuyển sinh và đào tạo đối với 04 ngành đào tạo trình độ đại học như sau: Việt Nam học ; Công nghệ thực phẩm ; Truyền thông đa phuơng tiện và Quan hệ công chúng từ ngày 1/1/2024. [ 5 ] Đơn vị trực thuộc Trường Đại học Phú Xuân gồm các đơn vị thành viên như sau: Các ngành cử nhân đào tạo Các khóa học ngắn hạn Các ngành văn bằng đại học thứ 2 đào tạo Đối tác Campus Trường Đại học Phú Xuân đang có 3 cơ sở tại TP. Huế: Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 7ccc740f4dd5 TITLE: Trường Đại học Cửu Long SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%E1%BB%ADu_Long [CONTENT] Trường Đại học Cửu Long là một trường đại học tư thục của Việt Nam ở tỉnh Vĩnh Long . Trường được thành lập vào ngày 05 tháng 01 năm 2000 và là trường đại học dân lập (nay đã chuyển sang loại hình tư thục) đầu tiên ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long . [ 1 ] Giảng Viên Đến năm 2025, Trường Đại học Cửu Long đã phát triển đội ngũ với hơn 900 cán bộ, giảng viên, trong đó bao gồm 5 giáo sư, 39 phó giáo sư, 184 tiến sĩ và hơn 100 bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa. Mỗi ngành đào tạo đều có giảng viên đạt trình độ tiến sĩ và thạc sĩ theo quy định, đáp ứng giảng dạy cho quy mô từ 25 đến 30 nghìn người học. [ 1 ] Nghiên cứu khoa học Các lĩnh vực nghiến cứu của trường bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu khoa học giáo dục, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. [ 2 ] Tạp chí khoa học Trường Đại học Cửu Long đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp phép cho Tạp chí Khoa học Đại học Cửu Long theo Giấy phép số 84/GP-BVHTTDL ngày 30 tháng 7 năm 2025. [ 3 ] Thành tích, uy tín và đánh giá Năm 2023, Trường đã đạt chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục chu kỳ 2. [ 4 ] Trường được vinh danh “Top 10 trường đại học tốt nhất Việt Nam năm 2024”. [ 5 ] Trường Đại học Cửu Long đã nhận Huân chương Lao động hạng Nhì vào ngày 18 tháng 10 năm 2025 trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập trường. Quyết định này được trao tặng bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để ghi nhận những thành tích xuất sắc của nhà trường trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e9fd8898bb45 TITLE: Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BA%A3n_l%C3%BD_v%C3%A0_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_H%E1%BA%A3i_Ph%C3%B2ng [CONTENT] Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (Trước đây có tên là Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) là một trong 20 trường Đại học ngoài công lập được thành lập đầu tiên trên cả nước (1997). Trường được đầu tư đồng bộ với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại với khu giảng đường giám sát bằng Camera, khu liên hợp thể thao với nhà tập đa năng, sân bóng và bể bơi ngoài trời hiện đại. Đây cũng là trường đầu tiên ở Việt Nam xây dựng Khách sạn Sinh viên. Các mốc lịch sử Tổ chức, điều hành Ban lãnh đạo Các hệ, ngành đào tạo A01 A10 D84 Toán-Lý-Anh Toán-Lý-Giáo dục công dân Toán-Anh-Giáo dục công dân A02 A10 D84 Toán-Lý-Sinh Toán-Lý-Giáo dục công dân Toán-Anh-Giáo dục công dân D84 A02 C14 Toán-Anh-Giáo dục công dân Toán-Lý-Sinh Toán-Văn-Giáo dục công dân A00 C14 D01 Toán-Lý-Hoá Toán-Văn-Giáo dục công dân Toán-Văn-Anh D01 D14 D66 Văn-Toán-Anh Văn-Sử-Anh Văn-Giáo dục công dân-Anh D66 D14 D15 Văn-Giáo dục công dân-Anh Văn-Sử-Anh Văn-Địa-Anh Các phòng, ban Các khoa, bộ môn đào tạo Liên thông từ Trung cấp và Cao đẳng lên Đại học chính quy Hình thức đào tạo: Chính quy Hình thức tuyển sinh: Xét tuyển Liên thông từ trung cấp và từ cao đẳng lên đại học chính quy gồm các ngành: Chương trình Dự bị đại học Quốc tế Trường liên kết đào tạo hệ chính quy dài hạn tập trung với các trường Đại học danh tiếng tại Anh, Úc, Mỹ, Trung Quốc, và Malaysia . Thời gian đào tạo là 4 năm (1 năm Dự bị tại Đại học Quản lý và Công nghệ Hải phòng và 3 năm tại trường cấp bằng). Các trung tâm phụ trợ Cơ hội việc làm Là một trong 25 tr­ường dẫn đầu cả n­ước về tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm cao với 93,46% [ cần dẫn nguồn ] . Cơ sở vật chất Hiện tại, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng có Khách sạn sinh viên, ký túc xá hiện đại bậc nhất trong số các khu nội trú sinh viên ở Việt Nam hiện nay. Ngoài hệ thống nhà ăn, thư viện hiện đại, khách sạn còn có sân vận động, nhà tập đa năng, bể bơi. Khu vực giảng đường và khu Khách sạn sinh viên được phủ sóng Wifi . [ 3 ] Khu giảng đường có 60 phòng học có camera, 800 máy tính nối mạng nội bộ, mạng internet đến tận khách sạn sinh viên, các phòng thí nghiệm chuyên ngành, các phòng học đều được trang bị máy chiếu, điều hòa nhiệt độ để phục vụ cho học tập, phòng học tiếng sony, DLL, khu trung tâm thư viện mới được đưa vào sử dụng từ năm 2008 có hơn 60.000 bản sách. [ 4 ] Tham khảo Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 133d727dbb10 TITLE: Học viện Biên phòng (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_ph%C3%B2ng_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Biên phòng (BPH) trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng của Bộ Quốc phòng là một trường đại học quân sự đào tạo sĩ quan và nhân viên các chuyên ngành Biên phòng của Việt Nam. Lịch sử Ban giám đốc Tổ chức Các cơ quan, đơn vị trực thuộc gồm 2 hệ, 05 phòng, 11 khoa, 04 tiểu đoàn, 1 trung tâm huấn luyện thực hành: Các Phòng, Ban chức năng Các khoa đào tạo và nghiên cứu Đội ngũ cán bộ Đội ngũ cán bộ giảng viên hiện tại có: 1 giáo sư , 16 phó giáo sư , 27 tiến sĩ , 139 thạc sĩ . Đào tạo Giám đốc qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Chú thích Bài viết liên quan đến Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 24aaf3f0f88f TITLE: Học viện Chính trị (Quân đội nhân dân Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_(Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Chính trị [ 1 ] trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là một học viện quân sự cấp trung, là trung tâm đào tạo cán bộ chính trị cấp trung, sư đoàn, cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch. Ngoài ra, Học viện còn đảm nhiệm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ cấp cục, vụ, viện của Bộ, ban, ngành Trung ương (lớp đối tượng 2). Trụ sở chính đặt tại 124 phố Ngô Quyền , phường Quang Trung , quận Hà Đông , thành phố Hà Nội . Lịch sử hình thành Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng Đào tạo Bồi dưỡng Cơ cấu tổ chức Ban Lãnh đạo hiện nay Các đơn vị trực thuộc (67 năm, 240 ngày) (62 năm, 115 ngày) (38 năm, 268 ngày) (74 năm, 144 ngày) (74 năm, 244 ngày) (64 năm, 162 ngày) (48 năm, 353 ngày) (70 năm, 152 ngày) (15 năm, 348 ngày) (12 năm, 166 ngày) (69 năm, 166 ngày) (64 năm, 162 ngày) (74 năm, 92 ngày) (60 năm, 46 ngày) (68 năm, 62 ngày) (26 năm, 130 ngày) (53 năm, 271 ngày) (42 năm, 95 ngày) (33 năm, 115 ngày) (42 năm, 173 ngày) (48 năm, 353 ngày) (54 năm, 276 ngày) (31 năm, 67 ngày) (31 năm, 67 ngày) (44 năm, 109 ngày) (69 năm, 179 ngày) (48 năm, 353 ngày) (49 năm, 80 ngày) (32 năm, 91 ngày) giáo dục quốc phòng - an ninh (H6) (15 năm, 348 ngày) (26 năm, 226 ngày) (41 năm, 348 ngày) Khen thưởng Lãnh đạo qua các thời kỳ Giám đốc Chính ủy/Phó Giám đốc về Chính trị Phó Giám đốc Phó Chính ủy Xem thêm Chú thích Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 781b34be7b80 TITLE: Học viện Hậu cần (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_H%E1%BA%ADu_c%E1%BA%A7n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Hậu cần [ 1 ] ( tiếng Anh là: Military Academy of Logistics ) là học viện quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam , có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan và nhân viên ngành hậu cần cho Quân đội nhân dân Việt Nam .Ngày 7 tháng 2 năm 1993 , Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận trình độ đào tạo đại học quân sự cho Học viện Hậu cần. Lịch sử hình thành và phát triển Trước yêu cầu của cách mạng và nhiệm vụ quân đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu năm 1951, Tổng cục Cung cấp mở: Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Đảng Đảng bộ trong Học viện Hậu cần bao gồm: Tổ chức chính quyền Các cơ quan trực thuộc Các khoa giáo viên Các đơn vị quản lý học viên Thành tích Hiệu trưởng, Giám đốc qua các thời kỳ 1955 – 1958 Trung tướng (2007) Chính ủy qua các thời kỳ Phó Giám đốc qua các thời kỳ Phó Chính ủy qua các thời kỳ Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 23f45e7236eb TITLE: Học viện Khoa học Quân sự SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Khoa_h%E1%BB%8Dc_Qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1 [CONTENT] Học viện Khoa học Quân sự (NQH) ( tiếng Anh là: Military Science Academy - MSA ) là một học viện quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam chuyên đào tạo sĩ quan các ngành: tình báo, ngoại ngữ , đối ngoại quân sự, trinh sát kỹ thuật. Bên cạnh đào tạo sĩ quan ngoại ngữ, học viện còn đào tạo cử nhân ngoại ngữ phục vụ toàn dân trong hệ thống giáo dục của bộ giáo dục ban hành. Lịch sử Ngày 10-6-1957, Học viện Khoa học Quân sự (tiền thân là Phòng Huấn luyện 77) được thành lập. Học viện được thành lập năm 1957 trên cơ sở sáp nhập 3 trường chính: Trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Học viện Khoa học Quân sự đã trở thành trung tâm hàng đầu đào tạo ngoại ngữ và quan hệ quốc tế về quốc phòng trong Quân đội. Hiện nay, Học viện được giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Khoa học Quân sự; cử nhân ngoại ngữ quân sự các chuyên ngành tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp; thạc sĩ ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Trung Quốc; cử nhân Quan hệ quốc tế về quốc phòng; cử nhân Việt Nam học; cử nhân ngoại ngữ dân sự; bồi dưỡng kiến thức quân sự, quốc phòng; liên kết với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo ngắn hạn cán bộ chính trị cấp trung đoàn; liên kết với Học viện Quốc phòng đào tạo Chỉ huy Tham mưu cao cấp; đào tạo ngoại ngữ cho các học viện, nhà trường trong toàn quân; tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh trình độ B1, B2 theo khung tham chiếu châu Âu cho các cơ sở đào tạo sau đại học trong và ngoài quân đội. Đào tạo học viên quân sự nước ngoài cho 22 nước theo hiệp định và quan hệ đối đẳng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với bộ quốc phòng các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, Học viện còn tham gia tích cực các hoạt động đối ngoại quốc phòng, góp phần xây dựng mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với các trên thế giới. Từ năm 1988 đến nay, Học viện đã đào tạo 753 khóa, 863 lớp, với 18.307 học viên, trong đó có 3.898 cử nhân, 457 thạc sĩ đã ra trường và đang đào tạo 8 khóa với 33 nghiên cứu sinh, 6 khóa với 83 học viên cao học. Hơn 40 học viên được đào tạo tại trường đã trở thành tướng lĩnh trong quân đội. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đã trưởng thành, phát triển về mọi mặt: 100% cán bộ, giảng viên có trình độ từ đại học trở lên, 2 giáo sư, 12 phó giáo sư, 7 nhà giáo ưu tú, 37 tiến sĩ, 218 thạc sĩ (đạt tỷ lệ 63,27% cán bộ, giáo viên có trình độ sau đại học). Từ 2007 đến nay, Học viện có 28 giảng viên đạt danh hiệu Nhà giáo giỏi cấp Bộ Quốc phòng; 433 giảng viên đạt danh hiệu Giảng viên giỏi cấp Học viện...Ngày 14 tháng 3 năm 2017, Bộ Quốc phòng đã có Quyết định số 725/QĐ-BQP về việc phê duyệt Đề án "Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ và quan hệ quốc tế tại Học viện Khoa học Quân sự giai đoạn 2016-2020". Từ đây sẽ mở ra cơ hội mới, nhiệm vụ mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều thử thách đối với Học viện. Trải qua bao năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học viên, chiến sĩ của Học viện đã lập nhiều thành tích xuất sắc, được Đảng, Nhà nước, Quân đội tặng nhiều phần thưởng cao quý. Kỷ niệm Ngày truyền thống Nhà trường củalà dịp ôn lại lịch sử hình thành phát triển của Học viện, các cán bộ, giáo viên, nhân viên, học viên, chiến sĩ Học viện Khoa học Quân sự trong niềm vui, phấn khởi, tự hào với những thành tích đã đạt được, nguyện cùng nhau đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn, ra sức thi đua, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Học viện vững mạnh toàn diện, viết tiếp truyền thống Anh hùng "Chủ động sáng tạo, đoàn kết kỷ luật, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ" Nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới, tiếp thu điển hình khoa học giáo dục hiện đại, đồng thời kế thừa, lĩnh hội kinh nghiệm trong công tác huấn luyện, đào tạo trong quân đội ngành tình báo quốc phòng trong các đơn vị toàn quân. Tập trung đổi mới nội dung trong chương trình bảo đảm tính hiệu quả xác thực nhất là công tác giảng dạy, kết hợp chặt chẽ dạy học đi đôi với nghề, giữa đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm học viên tốt nghiệp là học viên đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong thời gian qua, nhà trường đã luôn tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cả về phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Triển khai kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, có chính sách phát triển, trọng dụng, tôn vinh với các nhà giáo. Tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, giảng viên say mê giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Tăng cường mở rộng hợp tác với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội, hợp tác quốc tế để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo trong thời gian tới. Nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh. Triển khai thực hiện hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua quyết thắng cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Đẩy mạnh việc dân chủ, tăng cường quản lý, duy trì nghiêm kỷ luật quân đội quy định của ngành, bảo đảm bí mật, an ninh an toàn, thực hiện nền nếp chính quy, kết hợp chặt chẽ xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, quan tâm chăm lo đời sống cho cán bộ, tăng cường đoàn kết quân dân trên địa bàn đóng quân. Với bề dày lịch sử truyền thống được đúc kết trong xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, Quân ủy Trung ương , Bộ Quốc phòng tin tưởng rằng: "Trong thời gian tới Học viện Khoa học Quân sự sẽ phát huy tốt, đoàn kết nỗ lực phấn đấu lập được nhiều thành tích mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và sự tin yêu của Đảng , Nhà nước , lực lượng Quân đội và Nhân dân ( Việt Nam )." Địa chỉ Đội ngũ cán bộ, giảng viên Các ngành đào tạo Đại học quân sự Đại học dân sự (Đào tạo lại từ 2025) Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Khối cơ quan Khối Khoa giáo viên Nhân vật nổi tiếng của Học viện Lãnh đạo qua các thời kỳ Giám đốc Chính ủy Phó Chính ủy Chú thích Liên kết ngoài Bài viết liên quan đến Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 83602792082d TITLE: Học viện Kỹ thuật Mật mã (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_M%E1%BA%ADt_m%C3%A3_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Kỹ thuật Mật mã (KMA) ( tiếng Anh là: Vietnam Academy of Cryptography Techniques ) là một trường đại học công lập trực thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ của Bộ Quốc phòng , được thành lập ngày 17 tháng 2 năm 1995 có chức năng đào tạo cán bộ có trình độ đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học kỹ thuật mật mã của ngành Cơ yếu Việt Nam. Học viện cũng được chính phủ Việt Nam lựa chọn là một trong tám cơ sở trọng điểm đào tạo nhân lực an toàn thông tin Việt Nam theo Đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn, an ninh thông tin đến năm 2025. Sơ lược về Học viện Kỹ thuật Mật mã Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Các phòng, ban chức năng Các khoa đào tạo Các trung tâm Các hệ quản lý học viên Các phân viện nghiên cứu Các cơ sở khác Khen thưởng Giám đốc Học viện qua các thời kỳ Xem thêm Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 4b1f6a4edbda TITLE: Học viện Kỹ thuật Quân sự SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1 [CONTENT] Học viện Kỹ thuật quân sự ( tiếng Anh : Military Technical Academy – MTA) là Đại học đầu ngành kỹ thuật, công nghệ quân sự và công nghiệp quốc phòng nằm trong Nhóm các Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương , Bộ Quốc phòng , sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ giáo dục và Đào tạo . Học viện có nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nghệ quân sự , chỉ huy tham mưu kỹ thuật có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho quân đội. Đồng thời, Học viện có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ quân sự , kết hợp nghiên cứu với triển khai ứng dụng, chuyển giao công nghệ với sản xuất và thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. [ 1 ] Địa chỉ trụ sở chính và các chi nhánh Tổng quan Học viện Kỹ thuật quân sự là trường đại học nghiên cứu (research university), được tổ chức theo mô hình trường đại học kỹ thuật tổng hợp, vừa đào tạo và nghiên cứu ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào thiết kế, chế tạo, sản xuất và khai thác sử dụng vũ khí, khí tài, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật quân sự trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật quân sự đang phát triển nhanh chóng trên thế giới, cũng như phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học Hơn 1300 cán bộ với hơn 900 giảng viên, trong đó: Cơ sở vật chất Tổng diện tích mặt bằng của Trụ sở chính tại 236, Hoàng Quốc Việt và các chi nhánh khác: hơn 50 hecta. Hệ thống các giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm,khu giáo dục thể chất, ký túc xá...; các trang thiết bị nghiên cứu và giảng dạy hiện đại, đồng bộ phù hợp với chương trình đào tạo Học viện đang áp dụng, cụ thể: hơn 200 giảng đường, phòng đào tạo từ xa, phòng thí nghiệm, sân vận động, bể bơi... Thư viện với trên 2000 m2 sử dụng với 76.000 đầu sách, cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng thông tin trang bị đồng bộ, có hệ thống phòng đọc, phòng tra cứu Internet. Hệ thống thư viện điện tử với nhiều cơ sở dữ liệu giáo trình,tài liệu, máy chủ và máy trạm khai thác dữ liệu trực tuyến trên Internet... Hợp tác Trường đã tổ chức đào tạo liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước: Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman , Đại học Bách khoa Saint Petersburg , Đại học Công nghê Thông tin Cơ khí và Quang học Saint Petersburg , Đại học Hàng không Moskva (Liên bang Nga); Học viện Phòng vệ Nhật Bản , Trường Đại học Điện tử Truyền thông Tokyo (Nhật Bản); Đại học Quốc dân Hàn Quốc ; (Hàn Quốc); Đại học Quốc phòng Brno (Cộng hòa Séc); Đại học New South Wales/ Học viện Quốc phòng Australia (UNSW@ADFA); Học viện Kỹ thuật Quân sự Munich (Đức) và một số Học viện Quân sự của Liên bang Nga, Pháp, Đức, Bulgari, Ba Lan... Đại học Thanh Hoa , Đại học Khoa học và công nghệ Nam Kinh (Trung Quốc), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội , Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh , Đại học Bách khoa Hà Nội ... đồng thời Trường còn gửi cán bộ đi đào tạo tại Anh, Úc, Nhật Bản, Séc, Đức... [ 3 ] Tính đến năm 2015, Học viện có quan hệ hợp tác với trên 50 trường đại học trên thế giới. Lịch sử Ngày 08/08/1966 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146-CP thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa. Ngày 28/10/1966, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1 tại Thủ đô Hà Nội. Từ đó tới nay, ngày 28/10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Nhà trường. Ngày 18/6/1968, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 88-CP chuyển "Phân hiệu II Đại học Bách khoa" thuộc Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp thành "Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự" thuộc Bộ Quốc phòng. [ 4 ] Ngày 15/12/1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Kỹ thuật quân sự trên cơ sở trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Ngày 06/5/1991: Thủ tướng Chính phủ quyết định cho Học viện Kỹ thuật quân sự được sử dụng tên dân sự Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự. [ 5 ] Ngày 31/1/2008, Học viện Kỹ thuật quân sự được Chính phủ quyết định đưa vào danh sách 15 trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam . Lãnh đạo hiện nay Nguồn: [ 6 ] ( GS , TS ) ( ThS ) ( GS , TS ) (Phụ trách KHCN, Thông tin KHQS, Kỹ thuật) ( PGS , TS ) (Phụ trách Hậu cần, Quân sự) Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Học viện Kỹ thuật quân sự bao gồm: Đào tạo Đại học Thời gian đào tạo là 5 năm, mỗi năm 2 học kỳ. Đào tạo về Các môn học khối kiến thức cơ bản, Các môn học khối cơ sở ngành và chuyên ngành, Các môn học khối kiến thức chuyên ngành theo hướng đào tạo, Khối kiến thức về Khoa học xã hội – Nhân văn và Giáo dục quốc phòng. Hệ quân sự: Hiện nay, Học viện đào tạo 45 chuyên ngành quân sự thuộc các ngành/lĩnh vực: Điện tử truyền thông; Điện-Điện tử; Điều khiển và Tự động hóa; Kỹ thuật máy tính ; Khoa học máy tính ; Khoa học dữ liệu; Trí tuệ nhân tạo; Hệ thống thông tin; Mạng máy tính; Công nghệ phần mềm; An ninh, An toàn thông tin ; Công nghệ thông tin; Toán-Tin học; Địa-Tin học; Trắc địa và Bản đồ; Hàng không vũ trụ; Cơ khí; Vũ khí; Động lực; Xây dựng; Đường và Sân bay; Cầu và các phương tiện vượt sông; Hóa học; Vật liệu; Môi trường; Cơ điện tử và Robot; Kỹ thuật hàng không vũ trụ; Thiết kế chế tạo tên lửa; Các hệ thống không người lái; Hệ thống sản xuất tự động hóa; Quang học và Quang điện tử;... Hệ dân sự: Hiện nay, Học viện đào tạo 21 chuyên ngành dân sự: công nghệ thông tin; khoa học máy tính; trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; hệ thống thông tin; công nghệ phần mềm; truyền thông và mạng máy tính; an toàn thông tin; công nghệ hóa học, kỹ thuật môi trường; kỹ thuật điện – điện tử; điều khiển công nghiệp; tự động hóa; vi điện tử bán dẫn; điện tử viễn thông; điện tử y sinh; cơ-điện tử; kỹ thuật hàng không; kỹ thuật hệ thống sản xuất; cơ kỹ thuật; kỹ thuật thủy khí; kỹ thuật nhiệt lạnh; kỹ thuật thiết kế; chế tạo máy; gia công áp lực; kỹ thuật ô tô; máy xây dựng; xây dựng dân dụng và công nghiệp; cầu đường bộ;... Đến năm 2019, theo đề án chủ trương mới của Bộ Quốc phòng, Học viện dừng tuyển sinh và đào tạo khối dân sự. Thạc sĩ Danh sách ngành đào tạo trình độ thạc sĩ: 18 ngành [ 7 ] Tiến sĩ Danh sách ngành đào tạo trình độ tiến sĩ: 15 ngành [ 8 ] Cơ cấu tổ chức Khối Khoa, Viện, Trung tâm Nguồn: [ 9 ] Các Phòng, Ban chức năng Nguồn: [ 10 ] Đơn vị quản lý học viên Nguồn: [ 11 ] Các đơn vị khác Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu Ngày 27/02/2014, Học viện KTQS phối hợp với Cục Đối ngoại đã long trọng tiếp đón và làm việc với GS. Ryosei Kokubun – Hiệu trưởng Trường Đại học Phòng vệ Nhật Bản . Ngày 06/03/2014 Giáo sư Chang Nien Yin thuộc Trường Đại học Colorado (Hoa Kỳ), đến giảng dạy, trao đổi chuyên môn trong lĩnh vực địa kỹ thuật công trình và đề xuất mô hình đào tạo sau đại học đồng hướng dẫn của Học viện Kỹ thuật Quân sự và Trường Đại học Colorado (University of Colorado Denver). Tháng 9/2013, Học viện Kỹ thuật sự đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo 02 chương trình tiên tiến (CTTT): " Hệ thống điều khiển các thiết bị bay " hợp tác với trường Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman và " Điều khiển và Tin học trong các hệ thống kỹ thuật " hợp tác với trường Đại học Bách khoa Saint Petersburg [ 12 ] Khen thưởng Hiệu trưởng, Giám đốc qua các thời kỳ (1967) Chính ủy qua các thời kỳ Một số giảng viên Cựu Học viên tiêu biểu Cựu Sinh viên tiêu biểu Xem thêm Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: ea0a4455928c TITLE: Học viện Phòng không – Không quân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ph%C3%B2ng_kh%C3%B4ng_%E2%80%93_Kh%C3%B4ng_qu%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Phòng không - Không quân Việt Nam [ 1 ] là một học viện quân sự trực thuộc Quân chủng Phòng không- Không quân - Bộ Quốc phòng Việt Nam , chuyên đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu phòng không - không quân trình độ đại học, cao đẳng, kỹ sư hàng không và đào tạo sau đại học. Đội ngũ giảng viên và các ngành đào tạo Giảng viên Các ngành đào tạo Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Các Phòng, Ban chức năng Các khoa đào tạo Các đơn vị quản lý học viên Lịch sử hình thành [ 2 ] Học viện Phòng không Học viện Không quân Học viện Phòng không- Không quân Giám đốc qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Liên kết ngoài Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 83af7a5ba994 TITLE: Học viện Quân y (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Qu%C3%A2n_y_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Quân y ( tiếng Anh : Vietnam Military Medical University – VMMU ), tên dân sự là Trường Đại học Y Dược Lê Hữu Trác . Nhà trường thuộc nhóm các trường Học viện, Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam . Nhà trường là Học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng nghiên cứu và đào tạo bác sĩ , dược sĩ , điều dưỡng cho Quân đội nhân dân Việt Nam , hỗ trợ đào tạo bác sĩ Công an nhân dân Việt Nam và bác sĩ, dược sĩ cho Quân đội, Công an của hai nước bạn Lào và Campuchia theo diện liên kết. Trong giai đoạn 2002 – 2018, trường cũng tuyển sinh và đào tạo các bác sĩ y khoa, dược sĩ hệ dân sự phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. [ 1 ] Tháng 8 năm 2024, Học viện đã tổ chức lễ tốt nghiệp cho khoá Bác sĩ y khoa hệ dân sự cuối cùng. [ 2 ] Hiện nay, trường chỉ tuyển sinh đại học các ngành quân đội, bao gồm: Bác sĩ Y khoa ; Bác sĩ Y học dự phòng , Dược sĩ . [ 3 ] Tên gọi qua các thời kỳ Lịch sử Học viện Quân y (tiền thân là Trường Quân y sĩ Việt Nam) được thành lập theo Sắc lệnh số 234/SL ngày 20/8/1948 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Nghị định số 187/NĐ ngày 4/10/1948 của liên Bộ Quốc phòng - Y tế - Giáo dục. Ngày 10 tháng 3 năm 1949, Nhà trường tổ chức lễ khai giảng khóa đào tạo quân y sĩ đầu tiên tại Đồi Trám, thôn Tuần Lũng, xã Hoàng Hoa , huyện Tam Dương , tỉnh Vĩnh Phúc . Từ đó, ngày 10 tháng 3 hàng năm được lấy làm ngày truyền thống của Học viện. Học viện đã trải qua 5 lần đổi tên gọi: Trường Quân y sĩ Việt Nam (1949 - 1957); Trường Sĩ quan Quân y (1957 - 1962); Viện Nghiên cứu y học quân sự (1962 - 1966); Trường Đại học Sĩ quan Quân y (1966 - 1981) và Học viện Quân y (từ năm 1981 đến nay). Trải qua bao năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà Nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, được sự đùm bọc, giúp đỡ của đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương nơi đóng quân, đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của các thế hệ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên, sinh viên, chiến sĩ, Học viện đã không ngừng lớn mạnh, cống hiến và trưởng thành, phát triển, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là trung tâm đào tạo cán bộ quân y và dân y, nghiên cứu y học quân sự, điều trị chất lượng cao của quân đội và đất nước. Học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng, có 2 bệnh viện thực hành lâm sàng ( Bệnh viện Quân y 103 , Bệnh viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác ); 3 viện (Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội, Viện Đào tạo Dược, Viện Nghiên cứu y dược học quân sự); 1 trường cao đẳng (Trường Cao đẳng Quân y); 1 phân hiệu phía Nam; 11 phòng, ban trực thuộc; 5 trung tâm (Độc học và phóng xạ, Nghiên cứu ứng dụng sản xuất thuốc, Ngoại ngữ, Huấn luyện và đào tạo y học quân sự; Tế bào gốc và y học tái tạo); 57 bộ môn, khoa (trong đó có 37 bộ môn lâm sàng) và 5 hệ quản lý học viên. Đảng bộ Học viện trực thuộc Quân ủy Trung ương , gồm 1 đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở, 11 đảng bộ cơ sở (trong đó có 1 đảng bộ 3 cấp, 10 đảng bộ 2 cấp), 119 chi bộ (có 81 chi bộ cơ sở). Hiện nay, 100% giảng viên của Học viện có trình độ sau đại học, trong đó có 18 giáo sư, 128 phó giáo sư, 91 tiến sĩ, 191 thạc sĩ, 28 bác sĩ chuyên khoa cấp 1 và chuyên khoa cấp 2, 5 nhà giáo nhân dân, 29 nhà giáo ưu tú, 3 thầy thuốc nhân dân, 64 thầy thuốc ưu tú, 10 chuyên viên đầu ngành và nhiều chuyên viên kĩ thuật của ngành quân y. Trong 70 năm qua, Học viện đã có 47 giáo sư, 210 phó giáo sư, 15 nhà giáo nhân dân , 35 nhà giáo ưu tú , 20 thầy thuốc nhân dân , 179 thầy thuốc ưu tú . Danh hiệu Các cán bộ tiêu biểu Khoá học tiêu biểu Khoá 9 - Học viện Quân y (1974 - 1981): Khoá học có 7 vị tướng [ cần dẫn nguồn ] Bê bối vụ Việt Á Kết quả kiểm tra dấu hiệu vi phạm Tại kỳ họp thứ 12 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 2-4 tháng 3 năm 2022, cơ quan này đã xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y các nhiệm kỳ 2015 - 2020, 2020 - 2025 và kết luận: Nguồn: ubkttw.vn Loạt quân nhân bị xử lý hình sự Ngày 7 tháng 3 năm 2022, cơ quan điều tra đã bắt giữ đại tá Nguyễn Văn Hiệu , Trưởng phòng Trang bị, Vật tư để điều tra về những sai phạm trong việc nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm xét nghiệm COVID-19 phục vụ công tác phòng chống dịch và việc mua sắm vật tư, kit test xét nghiệm từ Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á . Trước đó, cơ quan điều tra cũng đã bắt giữ Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm xét nghiệm COVID-19 là thượng tá Hồ Anh Sơn , Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Y Dược học quân sự. [ 9 ] Lãnh đạo qua các thời kỳ Giám đốc Ghi chú [ note 1 ] Chính ủy Phó Giám đốc Ghi chú [ note 2 ] Phó Chính ủy Xem thêm Ghi chú Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 6e307e34abed TITLE: Học viện Quốc phòng (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_ph%C3%B2ng_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam , là Học viện huấn luyện và đào tạo tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cán bộ khoa học nghệ thuật quân sự đầu ngành của Quân đội nhân dân Việt Nam ; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể. Hầu hết các tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam đều phải qua học viện này. Học viện được thành lập ngày 21 tháng 2 năm 1976 theo quyết định số 38/QP của Bộ Quốc phòng Việt Nam . Từ năm 1994 trực thuộc Chính phủ và Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. [ 1 ] Lịch sử Ngày 25 tháng 7 năm 1975, Quân ủy Trung ương họp tại Đà Lạt đã ra nghị quyết về việc thành lập Học viện Quân sự Cao cấp. Chấp hành Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ngày 21 tháng 2 năm 1976, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 38/QĐ–BQP thành lập Học viện Quân sự Cao cấp do Thượng tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng ký. [ 2 ] Ngày 25 tháng 2 năm 1976, Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 28/QĐ–TM lâm thời quy định về cơ cấu tổ chức, biên chế Học viện Quân sự Cao cấp gồm 6 cơ quan và 16 khoa giảng viên với quân số 234 người. Ngày 24 tháng 5 năm 1976, Liên chi ủy cơ quan đã họp ra nghị quyết lãnh đạo việc kiện toàn biên chế tổ chức của Học viện. Ngày 25 tháng 6 năm 1976, Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 146/QĐ–TM ban hành biên chế chính thức cho Học viện Quân sự Cao cấp gồm Ban Giám đốc, 6 cơ quan, 16 khoa giảng viên, bổ sung các khung Học viên, tổng biên chế 400 người. [ 3 ] Để hoàn chỉnh hệ thống tổ chức đảng ngang tầm với nhiệm vụ, ngày 16 tháng 10 năm 1976, Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 55/QĐ–QUTW thành lập Đảng ủy Học viện Quân sự Cao cấp đặt dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương. Ngày 20 tháng 10 năm 1976, Đảng ủy Học viện tiến hành hội nghị đầu tiên dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Trọng Tấn, Bí thư Đảng ủy, ra nghị quyết lãnh đạo xây dựng Học viện và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho khóa học đầu tiên theo quyết định của Bộ Quốc phòng. Ngày 3 tháng 1 năm 1977, Học viện Quân sự Cao cấp đã tổ chức trọng thể Lễ khai giảng khóa đầu tiên gồm 94 học viên. Đây là khóa học bổ túc cán bộ cao cấp toàn quân đầu tiên trong 10 tháng. Ngày 20 tháng 10 năm 1977, Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp ra quyết định thành lập lớp nghiên cứu sinh tại Học viện và tổ chức thành nhiều đợt. [ 4 ] Ngày 20 tháng 2 năm 1978, Học viện tổ chức trọng thể Lễ Khai giảng khóa 2, có 121 học viên trong đó có 9 đồng chí là Thiếu tướng.Tháng 8 năm 1978, để tiếp tục kiện toàn tổ chức các học viện, viện nghiên cứu, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 297/QĐ–QUTW hợp nhất Học viện Quân sự Cao cấp và Viện Khoa học quân sự. [ 5 ] Ngày 15 tháng 9 năm 1978, Học viện tổ chức trọng thể Lễ Khai giảng khóa 1, với mục tiêu đào tạo Sư đoàn trưởng binh chủng hợp thành, khóa học có 90 học viên, thời gian 2 năm. Ngày 4 tháng 12 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra Quyết định điều động Cục Điều lệnh thuộc Học viện Quân sự Cao cấp về trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. [ 6 ] Năm 1980, thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương, Học viện đã xây dựng đề án cải cách giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu từ 10 đến 15 năm. Được sự ủy quyền của Bộ, ngày 18 tháng 10 năm 1980, Học viện tổ chức Hội nghị khoa học kỹ thuật quân sự toàn quân lần thứ nhất. Ngày 28 tháng 5 năm 1981, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 172/QĐ–BQP thành lập Viện Lịch sử quân sự Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng, trên cơ sở Ban Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và Phân viện Lịch sử thuộc Học viện Quân sự Cao cấp. Tổ chức của Học viện thường xuyên thay đổiː Năm 1978, hợp nhất với Viện Khoa học quân sự; cuối năm 1979 điều Cục Điều lệnh về Bộ Tổng Tham mưu và thành lập thêm Khoa Chiến lược, Khoa Lịch sử chiến tranh nghệ thuật quân sự, Ban nghiên cứu quân sự nước ngoài. [ 7 ] Từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 7 năm 1981, Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện tổ chức lần thứ 2. Ngày 26 tháng 12 năm 1981, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định đổi tên Học viện Quân sự Cao cấp thành Học viện Quân sự Cấp cao trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ngày 16 tháng 2 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ký tên gọi và bậc học thuộc hệ thống các học viện, trường sĩ quan, trường đại học, cao đẳng quân sự trong quân đội; nhiệm vụ của Học viện Quân sự Cấp cao là đào tạo sĩ quan chỉ huy – tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược. [ 8 ] Cũng từ thời gian này trở đi, tổ chức của Học viện có biến động lớn, Học viện được nâng cấp ngang hàng tương đương với Quân khu, Tổng cục; các cơ quan, các Khoa trực thuộc Học viện được nâng thành cấp Cục trực thuộc Học viện. Ngày 9 tháng 4 năm 1982, Học viện bàn giao Phân viện Thông tin khoa học quân sự thuộc Học viện về Trung tâm Thông tin khoa học và kỹ thuật quân sự trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu và ngày 29 tháng 6 năm 1982, Học viện bàn giao Phòng Thuật ngữ quân sự về Cục Khoa học quân sự thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Cùng thời gian này, Học viện gửi logo mẫu biểu trưng phù hiệu của Học viện lên Bộ Quốc phòng và được phê duyệt vào ngày 26 tháng 6 năm 1982. [ 9 ] Ngày 1 tháng 3 năm 1983, Học viện khai giảng lớp Đào tạo Chỉ huy – tham mưu chiến dịch chiến lược Khóa 5, thời gian 2 năm rưỡi. Ngày 30 tháng 8 năm 1983, Học viện đã báo cáo lên Bộ thực hiện việc rút gọn biên chế tổ chức của Học viện từ 18 khoa xuống còn 12 khoa, các Cục rút xuống còn cấp Phòng. Ngày 10 tháng 11 năm 1983, Viện trưởng Học viện quyết định thành lập bộ phận biên soạn tài liệu Chiến dịch phòng ngự chiến lược và Chiến dịch phản công chiến lược. [ 10 ] Ngày 1 tháng 8 năm 1985, Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định điều chỉnh cơ cấu tổ chức của Học viện Quân sự Cấp cao. Tách Khoa Quân chủng thành 3 khoa (gồm Khoa Không quân, Khoa Phòng không, Khoa Hải quân); tách Khoa Binh chủng thành 4 khoa (gồm Khoa Pháo binh, Khoa Công binh, Khoa Hóa học, Khoa Thông tin); tách Khoa Nghệ thuật Chiến dịch thành 3 khoa (gồm Khoa Nghệ thuật Chiến dịch, Khoa Chiến thuật, Khoa TTG). Như vậy, cơ cấu của Học viện có 19 Khoa và Bộ môn. Ngày 26 tháng 8 năm 1985, thành lập Đảng ủy Học viện Quân sự Cấp cao và chỉ định 11 đồng chí vào Đảng ủy Học viện. [ 11 ] Tháng 3 năm 1987, Học viện mở lớp đào tạo nghiên cứu sinh khoa học quân sự. Ngày 23 tháng 1 năm 1990, Viện trưởng quyết định thành lập Hội đồng xét đề nghị Nhà nước tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Hội đồng gồm 13 thành viên. Đến ngày 7 tháng 12 năm 1990, Học viện cũng thành lập Hội đồng xét chức danh khoa học giáo sư, Phó Giáo sư của Học viện gồm 23 thành viên. [ 12 ] Ngày 15 tháng 5 năm 1992, tổ chức Học viện cụ thể gồmː Ban Giám đốc, 5 phòng, 3 ban, 18 khoa, 3 hệ học viên, tổng quân số là 555 người. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định về việc thành lập Học viện Quốc phòng trên cơ sở Học viện Quân sự Cấp cao . Ngày 7 tháng 11 năm 1995, Thủ trưởng Võ Văn Kiệt ký và ban hành Quyết định về Quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện Quốc phòng. [ 13 ] Quy chế gồm 6 chương, 18 điều. Ngày 19 tháng 10 năm 1999, Bộ Tổng Tham mưu ký quyết định về việc giải thể Khoa Phương pháp Tâm lý, Bộ môn Tâm lý thuộc Khoa Công tác đảng, Bộ môn Phương phấp thuộc Viện Khoa học; sáp nhập Khoa Chiến thuật vào Khoa Nghệ thuật chiến dịch thành Khoa Nghệ thuật chiến dịch; hợp nhất Khoa Phòng không và Khoa Không quân thành Khoa Phòng không – Không quân; thành lập Khoa Chỉ huy – Tham mưu, Khoa Tin học Ngoại ngữ. [ 14 ] Ngày 18 tháng 7 năm 2003, Tổng Tham mưu trưởng Phùng Quang Thanh ký Quyết định về tổ chức biên chế của Học viện Quốc phòng. Như vậy tổ chức Học viện gồmː Ban Giám đốc, 9 cơ quan trực thuộc, 10 khoa giảng viên, 4 hệ quản lý. [ 15 ] Chức năng, nhiệm vụ Tên gọi qua các thời kỳ Ban Giám đốc Tổ chức chính quyền Khen thưởng Giám đốc qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Phó Giám đốc qua các thời kỳ Giám đốc Học viện Quốc phòng (2016–nay) Phó tham mưu trưởng Quân khu 5 (2014 – 2015) Phó Chính ủy qua các thời kỳ Các tướng lĩnh khác Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: b3613770291d TITLE: Trường Sĩ quan Chính trị - Đại học Chính trị SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B [CONTENT] Trường Sĩ quan Chính trị (LCH) còn có tên gọi khác là Trường Đại học Chính trị [ 1 ] trực thuộc Bộ Quốc phòng , là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự; cung cấp đội ngũ cán bộ chính trị, giáo viên khoa học xã hội và nhân văn, góp phần xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hợp tác quốc tế. [ 2 ] Sứ mạng Nhà trường có sứ mạng "đào tạo đại học, sau đại học, hợp tác đào tạo quốc tế, cung cấp đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội, giáo viên khoa học xã hội và nhân văn, cán bộ khoa học trình độ đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, góp phần xây dựng Quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [ 3 ] Lịch sử hình thành [ 4 ] Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Khối cơ quan Các khoa Đơn vị trực thuộc Hoạt động giáo dục đào tạo Đối tượng Hình thức Chuyên ngành Mô hình đào tạo Thành tích [ 6 ] Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Xem thêm Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Bắc Ninh Tham khảo Liên kết ngoài Trang web chính thức của Đại học Chính trị ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: d0482740253a TITLE: Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Đại học Trần Quốc Tuấn SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_Tu%E1%BA%A5n [CONTENT] Trường Đại học Trần Quốc Tuấn ( tiếng Anh : Tran Quoc Tuan University - First Army Academy) hay Trường Sĩ quan Lục quân 1 là trường đào tạo sĩ quan chỉ huy lục quân sơ cấp phía bắc Việt Nam , trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam , là nhà trường đầu tiên trong hệ thống nhà trường quân đội đào tạo sĩ quan lục quân chiến thuật cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) trình độ cử nhân khoa học quân sự (đại học và cao đẳng) các chuyên ngành: bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát lục quân. Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam công nhận đại học và cho phép đào tạo cử nhân quân sự bậc đại học năm 1998. Trường được coi như là "anh cả" trong hệ thống các trường quân đội đào tạo cấp phân đội, được Bác Hồ 9 lần về thăm, trao sáu chữ vàng: "Trung với nước, hiếu với dân" sau này trở thành khẩu hiệu của toàn quân. Rất nhiều các thế hệ tướng lĩnh , lãnh đạo xuất sắc của quân đội là học viên, cán bộ Nhà trường. Lịch sử hình thành Trường Đại học Trần Quốc Tuấn ban đầu có tên là Trường Quân chính kháng Nhật được thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1945. [ 1 ] Ngày 7 tháng 9 năm 1945, trường được đổi tên thành Trường Quân chính Việt Nam . Ngày 15 tháng 10 năm 1945, trường được đổi tên thành Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam . Ngày 15 tháng 4 năm 1946, trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn , và bắt đầu khai giảng khóa 1 tại thị xã Sơn Tây với mục tiêu đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội có kiến thức cơ bản về quân sự để chuẩn bị cho ngày toàn quốc kháng chiến . Tháng 2 năm 1948, trường được đổi tên thành Trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn . Tháng 12 năm 1950, trường được đổi tên thành Trường Lục quân Việt Nam . Tháng 1 năm 1956, trường được đổi tên thành Trường Đại học Sĩ quan Lục quân . Năm 1976, trường được đổi tên thành Trường Đại học Sĩ quan Lục quân 1 . Ngày 28 tháng 10 năm 2010, trường được đổi tên thành Trường Đại học Trần Quốc Tuấn . [ 2 ] Tên gọi qua các thời kỳ Ban Giám hiệu Tổ chức Đảng Tổ chức chung Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Trường Sĩ quan Lục quân 1 bao gồm: Tổ chức chính quyền Cơ quan chức năng - Phòng Tham mưu - Hành chính Trưởng phòng: Đại tá, ThS Vũ Văn Côn - Phòng Chính trị Chủ nhiệm Chính trị: Đại tá, PGS, TS Nguyễn Quang Chung - Phòng Khoa học quân sự Trưởng phòng: Đại tá, TS Nguyễn Mạnh Hồng - Phòng Hậu cần - Kỹ thuật Trưởng phòng: Đại tá, ThS Dương Minh Dũng - Ban Tài Chính Trưởng ban: Thượng tá, ThS Lê Tiến Long - Ban Khảo thí & Bảo đảm chất lượng GD - ĐT Trưởng ban: Đại tá, ThS Phạm Hồng Quân - Ban Sau đại học Trưởng ban: Đại tá, TS Đào Đức Kiên - Trung tâm Huấn luyện, dã ngoại Chỉ huy trưởng: Thượng tá, ThS Nguyễn Tiến Bắc Các khoa đào tạo - Khoa Chiến thuật Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Mạnh Hưng - Khoa Binh chủng Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Hùng Chính - Khoa Kỹ thuật chiến đấu bộ binh Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Anh Tú - Khoa Quân sự chung Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Văn Phúc - Khoa Trinh sát Chủ nhiệm khoa: Đại tá, PGS, TS Đỗ Văn Khuyến - Khoa Sư phạm Quân sự Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Đức Sao - Khoa Quân sự Địa phương Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Đặng Đức Giang - Khoa Công tác đảng, Công tác chính trị Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Nguyễn Quang Đông - Khoa Lý luận Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Đỗ Văn Lừng - Khoa Thể thao Chủ nhiệm khoa: Đại tá, ThS Vũ Xuân Phương - Khoa Khoa học Tự nhiên Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Lê Ngọc Anh - Khoa Ngoại ngữ - Tiếng Việt Chủ nhiệm khoa: Đại tá, ThS Nguyễn Đức Hậu - Trung tâm Giáo dục Quốc phòng an ninh – ĐHQGHN Phó Giám đốc Trung tâm: Đại tá, ThS Dương Văn Chiến - Khoa Giáo dục Quốc phòng – ĐHSPHN Chủ nhiệm khoa: Đại tá, TS Trần Nhất Anh Khối đơn vị quản lí học viên: - Hệ 1 Hệ trưởng: Đại tá, ThS Đặng Đức Dũng - Hệ 2 Hệ trưởng: Thượng tá, ThS Lê Tiến Vinh - Hệ 3 Hệ trưởng: Đại tá, ThS Nguyễn Hiệp Vỵ - Tiểu đoàn 1 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Đỗ Văn Luật - Tiểu đoàn 2 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Vũ Phúc Trang - Tiểu đoàn 3 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Cao Đăng Nam - Tiểu đoàn 4 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Đào Thanh Thảo - Tiểu đoàn 5 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá Ths Nguyễn Văn Tuân - Tiểu đoàn 6 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá Lê Mạnh Quân - Tiểu đoàn 7 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Nguyễn Việt Du - Tiểu đoàn 8 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Nguyễn Hữu Quyết - Tiểu đoàn 9 Tiểu đoàn trưởng: Đại tá, ThS Phan Thế Cường - Tiểu đoàn 10 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Cù Việt Khanh - Tiểu đoàn 11 Tiểu đoàn trưởng: Thượng tá, ThS Đinh Ngọc Thắng - Tiểu đoàn 12 Tiểu đoàn trưởng: Trung tá, ThS Đào Minh Tân Thành tích và Tặng thưởng Hiệu trưởng qua các thời kỳ (truy tặng 2007) (1956-) (1953-) Chính ủy qua các thời kỳ (1951-) (1956-) (1966-) Phó Hiệu trưởng qua các thời kỳ Phó Chính ủy qua các thời kỳ Khóa học Khóa học Sĩ quan Chỉ huy Tham mưu cấp phân đội Cựu học viên thành đạt tiêu biểu Xem thêm Tham khảo Bài viết chủ đề quân sự này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2eedba082763 TITLE: Trường Đại học Thông tin liên lạc SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Th%C3%B4ng_tin_li%C3%AAn_l%E1%BA%A1c [CONTENT] Trường Sĩ quan Thông tin (TTH) ( Signal officers collage ) (tên khác: Trường Đại học Thông tin liên lạc) là một trường đại học, trực thuộc Binh chủng Thông tin Liên lạc của Bộ Quốc phòng , là trường đào tạo sĩ quan, trình độ cử nhân quân sự chuyên ngành chỉ huy tham mưu thông tin liên lạc và tác chiến không gian mạng. Lịch sử • Ngày 11 tháng 11 năm 1951 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 132/QĐ về việc thành lập Trường Thông tin . Trường đóng quân tại bản Piềng , xã Thanh Định , huyện Định Hóa , tỉnh Thái Nguyên . Từ đó ngày 11 tháng 11 hằng năm là ngày truyền thống của trường. • Tháng 7 năm 1958 , Bộ Tổng tham mưu ra quyết định sáp nhập Trường Thông tin vào Trường Đại học Sĩ quan Lục quân 1 . • Ngày 21 tháng 5 năm 1965 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 69/QĐ thành lập Trường Sĩ quan Thông tin trên cơ sở tách Khoa Thông tin từ Trường Đại học Sĩ quan Lục quân 1 . • Tháng 9 năm 1978 , Nhà trường khai giảng khoá thí điểm đào tạo sĩ quan thông tin cao đẳng chỉ huy và kỹ sư khai thác đầu tiên. • Tháng 9 năm 1979 , Nhà trường chuyển trụ sở đóng quân từ tỉnh Hà Bắc cũ vào thành phố Nha Trang , tỉnh Khánh Hòa . Từ đó, trường đóng quân cho đến ngày nay. • Ngày 15 tháng 12 năm 1981 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 414 - QĐ/QP đổi tên Trường Sĩ quan Thông tin thành Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin. • Ngày 14 tháng 10 năm 1997 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 137/QĐQP về việc sáp nhập Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin vào Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin. • Ngày 21 tháng 9 năm 1998 , Chính phủ ra Quyết định số 480/1998-QĐ-TTg giao nhiệm vụ đào tạo đại học cho Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin . • Ngày 12 tháng 4 năm 2002 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 53/QĐ-BQP giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin. • Ngày 31 tháng 8 năm 2009 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 2999/QĐ-BQP thành lập Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh tại khu vực thôn Dục Mỹ, xã Ninh Sim , Ninh Hòa , Khánh Hòa thuộc Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin. • Ngày 08 tháng 11 năm 2011 , Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 2999/QĐ-TM đổi tên Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin thành Trường Sĩ quan Thông tin cho đến ngày nay. Cùng với đó, Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin lại được tách ra khỏi trường và chuyển về đóng quân tại Thị xã Sơn Tây , Hà Nội . • Ngày 13 tháng 8 năm 2013 , Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1386/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Thông tin liên lạc trên cơ sở Trường Sĩ quan Thông tin , giao cho trường đào tạo nguồn lực cử nhân dân sự công nghệ thông tin và điện tử viễn thông bậc đại học cho đến năm 2019 thì dừng tuyển sinh. Thành tích Ban Giám hiệu Sứ mệnh, tầm nhìn Trường Sĩ quan Thông tin cam kết là đơn vị giáo dục uy tín cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; trang bị cho thế hệ trẻ Việt Nam tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, sự năng động, sáng tạo, thích ứng tốt với công việc, thăng tiến vững chắc trong nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế trí thức trong giai đoạn mới, tự tin hội nhập với cộng đồng quốc tế. Xây dựng Trường Sĩ quan Thông tin thành Trung tâm đào tạo đa ngành, đa bậc học chất lượng cao, gắn liền với tôn chỉ Tri thức - Đạo đức - Sáng tạo - Năng động - Hội nhập. Đại học Sĩ quan Thông tin liên lạc là Trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu giáo dục đào tạo, sản xuất, kinh doanh và chuyển giao công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Khẳng định Đại học Sĩ quan Thông tin liên lạc là trường đại học có uy tín trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Cơ sở vật chất Đào tạo Đào tạo cho quân đội Đào tạo cho dân sự Danh sách cựu học viên tiêu biểu Hiệu trưởng qua các thời kỳ Các Khoa chuyên môn Các cơ quan chức năng Các đơn vị trực thuộc Tham khảo Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 3a02c6039601 TITLE: Trường Sĩ quan Pháo binh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C4%A9_quan_Ph%C3%A1o_binh [CONTENT] Trường Sĩ quan Pháo binh (PBH) là một trường đào tạo sĩ quan chỉ huy chiến thuật cấp phân đội chuyên ngành pháo binh trực thuộc Binh chủng Pháo binh của Bộ Quốc phòng . Lịch sử Trường Đại học Sĩ quan Pháo binh tiền thân là Phân khoa Pháo binh thuộc Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Đại học Trần Quốc Tuấn . Ngày 1/5/1949, Phân khoa đã khai giảng lớp học viên đầu tiên và trong 8 năm (1949 - 1957), đã hoàn thành 5 khóa huấn luyện, đào tạo ra trường 1.714 cán bộ pháo binh. Đây là những đồng chí cán bộ sau này trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng Binh chủng Pháo binh và xây dựng quân đội. Thực hiện Nghị quyết của Tổng Quân ủy Trung ương, lực lượng Pháo binh có bước phát triển mới, bao gồm pháo mặt đất, pháo cao xạ với quy mô tương đối hiện đại. Những đơn vị pháo binh dự bị chiến lược, pháo binh biên chế của các quân khu, quân đoàn, sư đoàn lần lượt ra đời. Một đội ngũ cán bộ từ trung đội đến sư đoàn được lựa chọn từ các đơn vị trong toàn quân, thực tế đó đòi hỏi phải có một cơ sở đào tạo cán bộ Pháo binh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trước tình hình đó, ngày 18/2/1957, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã ra Nghị định số 32/NĐA tách Phân khoa Pháo binh thuộc Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Đại học Trần Quốc Tuấn thành Trường Đại học Sĩ quan Pháo binh Việt Nam. Những năm qua, nhà trường đã hoàn thành hàng trăm khóa đào tạo, bồi dưỡng cho ra trường gần 5 vạn cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị cấp phân đội, hàng ngàn cán bộ chỉ huy tham mưu cấp trung, lữ đoàn pháo binh và sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan, khẩu, tiểu đội trưởng, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hàng trăm giáo viên quân sự, đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng và chiến đấu của bộ đội pháo binh qua các thời kỳ của cách mạng và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Hầu hết cán bộ do trường giáo dục, đào tạo đều có phẩm chất chính trị tốt, kiên định vững vàng; có trình độ kỹ chiến thuật và năng lực quản lý, chỉ huy bộ đội tốt. Trong số đó có nhiều đồng chí trưởng thành là tướng lĩnh, cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách trong quân đội, cơ quan Đảng, Nhà nước; một số đồng chí lập công xuất sắc trở thành anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều đồng chí đã trở thành giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ đang công tác tại các cơ quan nghiên cứu khoa học, các học viện, nhà trường trong quân đội. Nhà trường có một đồng chí được phong tặng danh hiệu nhà giáo nhân dân, 7 đồng chí là nhà giáo ưu tú, hàng trăm đồng chí được tặng Huy chương, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”. Năm 1998, Trường Đại học Sĩ quan Pháo binh được Bộ Giáo dục và Đào tạo được công nhận là đơn vị sự nghiệp trọng điểm đào tạo quân sự trong lĩnh vực chuyên ngành pháo binh. Năm 2008, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho trường đào tạo trình độ cao học Pháo binh. Trong thời kỳ đổi mới, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ XIX, năm học 2010 - 2011, nhà trường có bước chuyển biến tiến bộ toàn diện, cơ bản và vững chắc hơn trên tất cả các mặt công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Nhà trường đã đào tạo 18 đối tượng, 32 khóa với gần 2.000 học viên, tổ chức thi tốt nghiệp ra trường và thi tốt nghiệp quốc gia cho 15 khóa (100% khá); triển khai biên soạn 6 giáo trình, tài liệu cấp bộ và binh chủng; 4 đề tài khoa học cấp binh chủng, 3 đề tài cấp ngành; hồi cố 10.000 đầu tài liệu, số hóa 40.000 trang tài liệu. Phát huy truyền thống “Tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, dạy tốt, học tốt, công tác tốt”, nhà trường sẽ tập trung vào những khâu đột phá trong thời gian tới. Thường xuyên quán triệt sâu sắc và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ XIX; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh (TSVM), nhà trường vững mạnh toàn diện (VMTD) góp phần xây dựng quân đội, binh chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Không ngừng nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học, tập trung mọi nỗ lực, triển khai tích cực, toàn diện và đồng bộ những nội dung, biện pháp nâng cao chất lượng dạy học, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chỉ tiêu đào tạo các đối tượng, đột phá vào dạy học thực hành, phương pháp dạy học tích cực, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học hiện đại. Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, tài liệu, tích cực chuẩn bị các điều kiện, yếu tố để sớm được cấp trên công nhận là trường đại học và được đào tạo sau đại học chuyên ngành Pháo binh. Nâng cao chất lượng xây dựng nhà trường VMTD, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, tập trung giáo dục, rèn luyện cho mọi cán bộ, học viên, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh đột phá làm chuyển biến vững chắc về xây dựng chính quy, quản lý rèn luyện kỷ luật. Nâng cao chất lượng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, chú trọng nâng cao đời sống sinh hoạt cho đội ngũ cán bộ, học viên, chiến sĩ, nâng cao hiệu quả công tác tăng gia sản xuất, giữ vững và cải thiện từng bước đời sống vật chất tinh thần của bộ đội; tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông”, tạo sự chuyển biến tiến bộ hơn về chất lượng xây dựng đơn vị, nhà trường VMTD. Nâng cao chất lượng xây dựng Đảng bộ nhà trường vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng TSVM đột phá làm chuyển biến về năng lực lãnh đạo nhiệm vụ chính trị và sức chiến đấu của các cấp ủy, chi bộ; tăng cường củng cố đoàn kết thống nhất; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Luôn phấn khởi, tự hào Trường Đại học Sĩ quan Pháo binh quyết tâm thực hiện tốt phương châm “Tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, dạy tốt, học tốt, công tác tốt”, góp phần tô thắm thêm truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” của Binh chủng Pháo binh anh hùng và truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng. Lãnh đạo hiện nay Tuyển sinh Đội ngũ giảng viên Hiệu trưởng qua các thời kỳ Khen thưởng - Trường sĩ quan Pháo binh đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta và các nước bạn tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như: + Anh hùng LLVT nhân dân; + Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì; + Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; + Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì; + Huân chương Lao động hạng Ba; + Huân chương “Tự do” hạng Nhất của Nhà nước CHDCND Lào; + Huân chương “Bảo vệ Tổ quốc” hạng Nhất của Nhà nước Campuchia; + Nhiều phần thưởng cao quý khác... Chú thích [ 1 ] Tham khảo Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e2ce68260d07 TITLE: Trường Sĩ quan Phòng hóa SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C4%A9_quan_Ph%C3%B2ng_h%C3%B3a [CONTENT] Trường Sĩ quan Phòng hóa (HGH) trực thuộc Binh chủng Hóa học của Bộ Quốc phòng đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật hóa học trình độ đại học quân sự, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp. Lịch sử Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới, ngày 21 tháng 9 năm 1976, Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng , Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam , ký Quyết định số 213/QĐ - TM thành lập Trường Sĩ quan Hoá học (nay là Trường Đại học Sĩ quan Phòng hoá). Nhà trường có nhiệm vụ: Đào tạo cán bộ sơ cấp hoá học; đào tạo hạ sĩ quan và nhân viên CMKT Hoá học; tập huấn bổ túc cán bộ trung, sơ cấp hoá học; đào tạo cán bộ hoá học cho Quân đội Nhân dân Lào và Quân đội Hoàng gia Campuchia ... Ngày 14 tháng 10 năm 1994 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định 2954/GD- ĐT công nhận Trường Đại học Sĩ quan Phòng hoá chuyển lên đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Phòng hoá bậc cao đẳng. Ngày 21 tháng 9 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 180/QĐ - TT giao Trường Đại học Sĩ quan Phòng hoá nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Phòng hoá bậc đại học. Về cơ cấu tổ chức Đảng, để kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Nhà trường, ngày 08 tháng 01 năm 1977, Đảng ủy Binh chủng Hóa học ra Quyết nghị số 23/QN, chuyển Đảng bộ Đoàn huấn luyện 902, thành Đảng bộ TSQ Hoá học trực thuộc Đảng ủy Binh chủng, chuyển cấp ủy cũ của Đoàn huấn luyện 902 thành Đảng ủy TSQ Hoá học cho đến khi tổ chức đại hội; Đảng ủy gồm 5 đồng chí; Đồng chí Bùi Vinh, Phó Chính ủy, giữ chức Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ I, tiến hành từ ngày 03 đến ngày 04 tháng 8 năm 1977, dự Đại hội có 41 đại biểu. Đại hội đã bầu Đảng ủy gồm 5 đồng chí; Đồng chí Bùi Vinh, Phó Chính ủy, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ II, tiến hành từ ngày 25 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979, dự đại hội có 65 đại biểu thay mặt cho 290 đảng viên. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí, Đồng chí Ngô Văn Quyền, Chính ủy, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III, tiến hành từ ngày 14 đến ngày 15 tháng 6 năm 1981, dự Đại hội có 78 đại biểu, thay mặt cho 309 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí, Đồng chí Lý Mộng Hồng, Phó Chính ủy, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IV, tiến hành vào ngày 07, 08 tháng 9 năm 1986, dự Đại hội có 89 đại biểu, thay mặt cho 307 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết, Đồng chí Hoàng Thạch, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ V, tiến hành vào ngày 20, 21 tháng 4 năm 1989, dự Đại hội có 113 đại biểu, thay mặt cho 358 đảng viên. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới, gồm 8 ủy viên chính thức và 01 ủy viên dự khuyết, Đồng chí Hoàng Thạch, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VI, tiến hành từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 10 năm 1991; dự Đại hội có 88 đại biểu, thay mặt cho 232 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí; Đồng chí Nguyễn Tất Thể, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VII, tiến hành từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 02 năm 1996; dự Đại hội có 87 đại biểu, thay mặt cho 223 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí; Đồng chí Nguyễn Tất Thể, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VIII được tiến hành từ ngày 24 đến ngày 25 tháng 10 năm 2000; dự Đại hội có 99 đại biểu thay mặt cho 284 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí; Đồng chí Nguyễn Đức Vỹ, Hiệu trưởng, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IX, tiến hành từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 9 năm 2005, dự Đại hội có 78 đại biểu thay mặt cho hơn 300 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí; Đồng chí Hoàng Trung Thành, Phó Hiệu trưởng về Chính trị, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ X, tiến hành từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 7 năm 2010, dự Đại hội có 96 đại biểu, đại diện cho 304 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 13 đồng chí; Đồng chí Phùng Quốc Dụng, Chính ủy, đ­ược bầu giữ chức Bí thư­ Đảng ủy. Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Đại học Sĩ quan Phòng hóa lần thứ XI, tiến hành từ ngày 21 đến 23 tháng 7 năm 2015, dự Đại hội có 119 đại biểu đại diện cho 325 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Nhà trường nhiệm kỳ mới gồm 13 đồng chí; Đồng chí Nguyễn Đức Thành, Chính ủy, được bầu làm Bí thư Đảng ủy. Trong những năm xây dựng, phát triển, trưởng thành với truyền thống “Trung thành, kiên định, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, quyết thắng” Nhà trường đã tổ chức được 272 khoá huấn luyện, với 9.921 học viên đã tốt nghiệp với các chức danh chuyên ngành khác nhau; Nhà trường đã mở nhiều lớp tập huấn cán bộ, nhân viên kỹ thuật hóa học, cùng 24 khoá đào tạo cán bộ hoá học cho Quân đội Nhân dân Lào , 13 khoá đào tạo cán bộ hoá học cho Quân đội Hoàng gia Campuchia . Tính đến thời điểm hiện tại, Nhà trường đã có 100% giảng viên đạt trình độ đại học và sau đại học ( trong đó trình độ tiến sỹ 6,10%, trình độ thạc sỹ 43,9%), 02 Nhà giáo Ưu tú, 147 lượt đồng chí giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp, trong đó có 133 lượt đồng chí đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, 14 lượt đồng chí đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp toàn quân, 47 học viên đạt "Học viên giỏi"; 01 đồng chí đạt danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân . Với những thành tích đã đạt được trong suốt thời gian qua, Nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công , 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 3 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc (hạng Nhất, Nhì, Ba) và nhiều bằng khen, cờ thi đua của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục - đào tạo, UBND thành phố Hà Nội, UBND Tỉnh Hà Tây , Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ; 58 lượt đơn vị được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị quyết thắng; 3375 lượt cán bộ, học viên, chiến sĩ, công nhân viên được tặng Bằng khen, Giấy khen, danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ tiên tiến, Lao động tiên tiến... Ban giám hiệu Đội ngũ giảng viên Mục tiêu Mục tiêu phát triển của Trường Đại học Sĩ quan Phòng hóa là xây dựng, phát triển nguồn nhân lực hóa học quân sự, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và tham gia có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững của Quân đội Nhân dân Việt Nam . Đào tạo Đào tạo đại học Đào tạo trung học chuyên nghiệp Các phòng, ban chức năng Các khoa Các tiểu đoàn quản lý học viên Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2b889d89c8a8 TITLE: Trường Sĩ quan Đặc công SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C4%A9_quan_%C4%90%E1%BA%B7c_c%C3%B4ng [CONTENT] Trường Sĩ quan Đặc công (DCH) là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Binh chủng Đặc công của Bộ Quốc phòng có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan và nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho binh chủng đặc công và các đơn vị trong toàn quân. Lịch sử Cùng với sự phát triển, trưởng thành về quy mô lực lượng của toàn Binh chủng trong cuộc chống Mỹ cứu nước và trước nhu cầu đội ngũ cán bộ trong xây dựng, phát triển lực lượng Đặc công, ngày 20 tháng 7 năm 1967, Tổng Tham mưu trưởng ra quyết định thành lập Trường Bổ túc cán bộ Đặc công trực thuộc Bộ Tư lệnh Binh chủng. Tiếp đến ngày 12 tháng 2 năm 1974, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 13 chuyển Trường bổ túc cán bộ Đặc công thành Trường Đại học Sĩ quan Đặc công. Từ năm 1993 Nhà trường đào tạo sĩ quan chỉ huy có trình độ cao đẳng. Đến tháng 9 năm 1998 cùng với các trường sĩ quan trong toàn quân thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nhà trường đào tạo sĩ quan Đặc công có trình độ đại học theo ba chuyên ngành: Đặc công Nước, Đặc công Bộ và Đặc công Biệt động. Hiện nay Nhà trường đứng chân trên địa bàn xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, thủ đô Hà Nội. - Chức năng của Nhà trường là: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hạ sĩ quan chỉ huy, nhân viên chuyên môn kỹ thuật Đặc công theo yêu cầu, nhiệm vụ cấp trên giao và nghiên cứu, ứng dụng, phát triển Khoa học Nghệ thuật Quân sự Đặc công, các lĩnh vực liên quan đến tác chiến Đặc công và Khoa học giáo dục - đào tạo quân sự. - Nhiệm vụ của Nhà trường được giao là: + Tuyển sinh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; hạ sĩ quan chỉ huy, nhân viên chuyên môn kỹ thuật Đặc công Việt Nam và Quốc tế. + Tổ chức nghiên cứu Khoa học Nghệ thuật Quân sự Đặc công. + Xây dựng nhà trường cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có môi trường văn hoá lành mạnh. + Sẵn sàng chiến đấu, phòng chống “DBHB”- BLLĐ và chống khủng bố; phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. + Trình diễn kỹ, chiến thuật Đặc công phục vụ các phái đoàn trong nước và quốc tế nghiên cứu, học tập. + Huấn luyện dự bị động viên. + Trong những năm gần đây Nhà trường được giao thêm nhiệm vụ đào tạo lực lượng Đặc công chống khủng bố và liên kết đào tạo trình độ cao đẳng cho Bộ Công an . - Trải qua gần 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Nhà trường luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao đặc biệt là: + Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhà trường đã bổ túc, đào tạo được hàng vạn cán bộ Đặc công cho Binh chủng, cho các chiến trường, cho toàn quân và bạn bè quốc tế. Bổ túc, đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy tham mưu, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trực tiếp tham gia chiến đấu trong nhiều chiến dịch lớn như: Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Đường 9 Nam Lào 1971, cuộc Tiến công Chiến lư­ợc năm 1972, cuộc Tổng tiến công, nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 2 cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. + Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sau năm 1975 đến năm 1986, Nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ, đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, góp phần cùng quân, dân cả nước bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc. Đồng thời làm tròn nhiệm vụ quốc tế vẻ vang của Đảng và Quân đội ta, góp phần xây đắp truyền thống “Đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn” của Binh chủng Đặc công anh hùng. + Trong thời kỳ đổi mới, nhất là trong những năm gần đây xuất phát từ đặc điểm tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, nhiệm vụ chính trị của Nhà trường thường xuyên có sự bổ sung, phát triển mới, nhất là nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, trình diễn phục vụ các phái đoàn trong nước và quốc tế theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng giao. Với yêu cầu nhiệm vụ được giao, Trường Đại học Sĩ quan Đặc công đã phát huy tốt tinh thần chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo, xây dựng Nhà trường từng bước trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và Binh chủng giao cho, có nhiều đóng góp vào sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. + Cùng với thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị được giao, là cụm trưởng Cụm an ninh trong khu vực, Nhà trường đã cùng với cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương làm tốt công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, góp phần thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới. Các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia sản xuất trong đơn vị được duy trì và thực hiện có hiệu quả góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho cán bộ, giáo viên, học viên, QNCN, CNV, HSQ-CS Nhà trường. Tổ chức nhà trường Chỉ huy: Các Phòng: Các Ban: Các khoa: Các tiểu đoàn học viên: Đào tạo - Đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu đặc công cấp phân đội trình độ đại học các chuyên ngành: - Đào tạo hoàn thiện đại học Đào tạo bậc cao đẳng: - Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp - Đào tạo bậc sơ cấp - Đào tạo văn bằng hai (hiện nay không còn tuyển sinh, đào tạo theo hình thức này). - Trường cũng tổ chức đào tạo cho học viên quốc tế từ Cuba , Lào , Campuchia , Triều Tiên tổ chức đào tạo liên kết sinh viên trình độ Cao đẳng cho Bộ Công An . Hiệu trưởng qua các thời kỳ Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e844ec429c4f TITLE: Trường Đại học Văn hóa – Nghệ thuật Quân đội SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_V%C4%83n_h%C3%B3a_-_Ngh%E1%BB%87_thu%E1%BA%ADt_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i [CONTENT] Trường Đại học Văn hoá - Nghệ thuật Quân đội (ZNH) trực thuộc Tổng cục Chính trị - Quân đội Nhân dân Việt Nam của Bộ Quốc phòng là trường đại học chuyên đào tạo các văn nghệ sĩ biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác, biên đạo múa chuyên nghiệp, cán bộ quản lý văn hoá, nhà văn, sân khấu, điện ảnh cho quân đội và quốc gia. [ 1 ] Cơ sở của trường tọa lạc tại số 101 đường Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ , quận Đống Đa , thành phố Hà Nội . Lịch sử Trường Đại học Văn hoá - Nghệ thuật Quân đội (tiền thân là Trường Nghệ thuật Quân đội) được thành lập từ năm 1955 là trường đào tạo sĩ quan văn hóa nghệ thuật trong Quân đội đầu tiên trên cả nước. Cuối năm 1992 Trường được giao thêm nhiệm vụ đào tạo cán bộ văn hóa cho các đơn vị cơ sở trong toàn quân bên cạnh nhiệm vụ đào tạo cán bộ, diễn viên cho các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Từ sau năm 1995 , Nhà trường mở rộng ngành nghề và loại hình đào tạo, đối tượng đào tạo. Từ chỗ chỉ đào tạo đối tượng là quân nhân, Nhà trường mở rộng đào tạo ra các đối tượng khác, đặc biệt là con em các dân tộc vùng sâu, vùng xa như Tây Nguyên , các tỉnh miền núi phía Bắc. Ngày 3/1/2006, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký quyết định thành lập Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật quân đội trên cơ sở Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật quân đội. [ 2 ] [ 3 ] Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, hoạt động theo Điều lệ trường Đại học. Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Khối Cơ quan Các Khoa Khối Đơn vị và đơn vị trực thuộc Thành tích Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Sinh viên ưu tú Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c7eb71d90cf5 TITLE: Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Qu%E1%BB%91c_ph%C3%B2ng [CONTENT] Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng là một trường cao đẳng công nghệ trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam . [ 1 ] chuyên đào tạo kỹ thuật viên, cử nhân kế toán, tài chính doanh nghiệp, công nhân kỹ thuật và thợ lành nghề trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp cho các cơ quan, đơn vị, tập đoàn, công ty, nhà máy, xí nghiệp của Bộ Quốc phòng Việt Nam . Sứ mệnh, mục tiêu Lợi ích và chất lượng tốt nhất cho xã hội và cộng đồng từ chức năng và nhiệm vụ giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học chính là sứ mệnh của trường Cao đẳng CNQP, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo dục Đại học - Cao đẳng Việt Nam. Xây dựng Nhà trường trở thành trường Cao đẳng định hướng ứng dụng- nghề nghiệp, đào tạo kỹ thuật viên, công nhân, thợ lành nghề có uy tín, chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, một trung tâm nghiên cứu công nghệ và công nghiệp hàng đầu Tổng cục. Chức năng, nhiệm vụ Lịch sử Đào tạo Cao đẳng Công nghệ Kỹ thuật Thời gian đào tạo: 3 năm Sau khi tốt nghiệp sinh viên được học tiếp liên thông lên Đại học chính quy cùng ngành đào tạo (Cơ hội liên thông lên các trường lớn của Việt Nam như: Học viện Kỹ thuật Quân sự , Đại học Kinh tế Quốc dân , Học viện Tài chính ,...). Trung cấp chuyên nghiệp Thời gian đào tạo 1.5 năm: Trung cấp nghề Thời gian đào tạo: 1 đến 2 năm; 20 nghề gồm: Đào tạo Sơ cấp nghề 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng -> Tuyển sinh thường xuyên Tổ chức Các cơ quan Các khoa Quản lý sinh viên Địa chỉ Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a8102af27e2f TITLE: Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_v%C3%A0_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_%C3%94_t%C3%B4 [CONTENT] Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô [ 1 ] , [ 2 ] [ 3 ] trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam là trường cao đẳng kỹ thuật đào tạo cử nhân kỹ thuật quân sự trình độ cao đẳng, trung cấp cho Quân đội nhân dân Việt Nam . [ 4 ] [ 5 ] Lịch sử phát triển Đào tạo Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Đảng Tổ chức chung Từ năm 2006 thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Tổ chức Đảng bộ trong Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô theo phân cấp như sau: Thành phần Về thành phần của Đảng ủy Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô thường bao gồm như sau: Ban Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ Tổ chức chính quyền Các Phòng, Ban chức năng Các Khoa đào tạo Các Tiểu đoàn quản lý sinh viên Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c39515020859 TITLE: Trường Sĩ quan Tăng – Thiết giáp SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C4%A9_quan_T%C4%83ng_%E2%80%93_Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p [CONTENT] Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp (TGH) trực thuộc Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp của Bộ Quốc phòng , là trường đào tạo sĩ quan chỉ huy chiến thuật tăng và thiết giáp cấp phân đội, trình độ cử nhân quân sự, bậc đại học và cao đẳng. Thông tin liên hệ - Tel: 0211 3539 021 - Email: info@tsqttg@gmail.com - Website: http://siquantangthietgiap.vn/ - Facebook: www.facebook.com/SiQuanTangThietGiap Địa điểm Lãnh đạo hiện nay Lịch sử Ngày 05 tháng 10 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 499/NĐ thành lập Trung đoàn xe tăng 202, trung đoàn xe tăng đầu tiên của Quân đội Nhận dân Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu thành lập ngoài các tiểu đoàn xe tăng, pháo tự hành, các phân đội phục vụ bảo đảm có trong biên chế, trung đoàn còn có một đại đội có nhiệm vụ huấn luyện tập trung về xe tăng cho bộ đội mang phiên hiệu Đại đội 15. Ngày 22 tháng 06 năm 1965, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng ra Quyết định số 101/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp. Lực lượng trực thuộc Bộ Tư lệnh gồm 2 trung đoàn xe tăng 202, 203; ba cơ quan ( Tham mưu, Chính trị, Hậu cần kỹ thuật) và đặt biệt là một Tiểu đoàn huấn luyện mang phiên hiệu Tiểu đoàn 10 đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Về biên chế, Tiểu đoàn 10 có 3 Đại đội huấn luyện, cán bộ đại đội, trung đội vừa quản lý bộ đội vừa quản lý cơ sở vật chất đồng thời kiêm nghiệm giáo viên huấn luyện. Địa bàn đóng quân của nhà trường thuộc địa phận xã Kim Long , huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 22 tháng 06 năm 1965 trở thành dấu mốc khởi đầu trong chặng đường xây dựng, trưởng thành của Trường Đại học Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, đồng thời trở thành ngày hội truyền thống hàng năm của Nhà trường. Ngày 08 tháng 03 năm 1969, Thường vụ Đảng ủy Binh chủng đã đề nghị lên Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cho phép Binh chủng tổ chức một Nhà trường có quy mô phù hợp hơn để đào tạo, bổ túc cán bộ, chiến sĩ xe tăng thiết giáp, kịp thời bổ sung cho các đơn vị. Trong thời gian chờ cấp trên chuẩn y, ngày 09 tháng 01 năm 1970, Đảng ủy Binh chủng đã ra Nghị quyết chuyên đề về tăng cường biên chế, tổ chức cho Tiểu đoàn 10 thành Đoàn Huấn luyện. Ngày 07 tháng 01 năm 1972, Bộ Quốc phòng chính thước ra quyết định thành lập Đoàn 10 mang mật danh T600. Đoàn 10 được thành lập có nhiệm vụ: Bổ túc,đào tạo cán bộ chỉ huy sơ cấp; Bổ túc,đào tạo cán bộ kỹ thuật bậc trung học; Đào tạo chính trị viên phó đại đội; Mở các lớp tập huấn cán bộ tiểu đoàn bậc phó theo yêu cầu nhiệm vụ trên giao; Giúp đỡ nước bạn Lào bổ túc, đào tạo cán bộ, chiến sĩ, xe tăng, thiết giáp. Ngày 10 tháng 04 năm 1973, căn cứ vào Sắc lệnh số 1121/SL ngày 11 tháng 07 năm 1959 quy định tổ chức của Bộ Quốc Phòng, theo đề nghị của Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 56/QD-QP thành lập Trường Sĩ quan Thiết giáp thuộc Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Trường Sĩ quan Thiết giáp có nhiệm vụ: Đào tạo, bổ túc cán bộ sơ cấp và trung cấp xe tăng, thiết giáp; Nghiên cứu, biên soạn tài liệu về xe tăng, thiết giáp; Đào tạo, bổ túc bán bộ xe tăng, thiết giáp cho nước bạn. Cuối tháng 8 năm 1977, được sự giúp đỡ, chỉ đạo trược tiếp của Bộ Tư lệnh Thiết giáp, Nhà trường tổ chức thi tốt nghiệp cho số học viên khóa 1, đào tạo sĩ quan sơ cấp ( chỉ huy và kỹ thuật) hệ 3 năm (1974 – 1977). Đây là kỳ thi tốt nghiệp khóa học đào tạo dài hạn theo hướng chính quy, cơ bản đầu tiên của Nhà trường nên công tác chuẩn bị bảo đảm, tổ chức chỉ đạo đề được tiến hành chu đáo, chặt chẽ. Ngày 23 tháng 10 năm 1980, thể theo nhu cầu xây dựng, chiến đấu và phát triển của Binh chủng và Nhà trường, Bộ Quốc phòng ký quyết định đổi tên Trường Sĩ quan Thiết giáp thành Trường Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật Tăng. Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu bước trưởng thành mới của Binh chủng và Nhà trường. Với chức năng nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo được xác định rõ, nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, đào tạo theo hướng chính quy, từng bước hiện địa của Trường Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật Tăng tiếp tục được đẩy mạnh. Cuối năm 1911, căn cứ vào khả năng hiện có, Nhà trường đã quyết định đăng ký với Bộ Quốc phòng nâng cấp đào tạo lên bậc cao đẳng. Từ năm học 1991 – 1992, Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Ngày 01 tháng 04 năm 1997, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tăng thành Trường Đại học Sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Năm 1998, Trường Đại học Sĩ quan Tăng - Thiết giáp được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là trường đại học quân sự trọng điểm trong lĩnh vực đào tạo chuyên ngành chỉ huy tăng - thiết giáp cho toàn quốc. Từ khóa 20, (năm học 1997 – 1998) Nhà trường chính thức bước vào đào tạo sĩ quan tăng - thiết giáp cấp phân đội bậc đại học theo Quyết định số 180/QĐ-TTg của Chính phủ, bằng tốt nghiệp đại học thuộc hệ thống văn bằng Quốc gia. Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo do Bộ Quốc phòng thống nhất với Bộ Giáo dục và Đào tạo . Năm 1998, Trường Đại học Sĩ quan Tăng - Thiết giáp được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là đại học quân sự chuyên ngành chỉ huy tăng - thiết giáp. Được sự nhất trí của Đảng ủy Quân sự Trung ương ( nay là QUTW) Bộ Tư Lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp (đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng ) ra Quyết định số 930/QL – 2003, ngày 30 tháng 11 năm 2003 về việc ban hành biểu tổ chức biên chế của Nhà trường giai đoạn 2004 – 2010, Quyết định thành lập, tái thành lập mốt số đơn vị mới và Quyết định số 158/QĐ-CT-2004 về việc lấy ngày 22/6/1965 – Ngày thành lập Tiểu đoàn 10 là Ngày truyền thống của Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp. Biên chế Nhà trường gồm 5 Phòng chức năng, 3 Ban trực thuộc, 9 Khoa giáo viên, 5 Tiểu đoàn. Phòng Huấn luyện đổi tên thành Phòng Đào tạo, Phòng Hành chính đổi tên thành Phòng Tham Mưu – Hành chính; Khoa xe máy trước đây nay gọi là Khao Kỹ thuật chuyên ngành Xe máy; Khoa Cơ bản – Cơ sở tách ra thành hai Khoa: Khoa Cơ bản và Khoa Kỹ thật Cơ sở. Thành lập Khoa tham mưu phương pháp, Tiểu đoàn 3 quản lý học viên sĩ quan. Ban Khoa học công nghệ môi trường ( nay là Ban Khoa học Quân sự), Ban Thanh tra ( nay là Ban Khảo thí) trực thuộc Ban Giám hiệu; Ban Bảo vệ an ninh trực thuộc Phòng Trính trị. Ngày 30 tháng 5 năm 2009, Trường Đại học Sĩ quan Tăng Thiết giáp được đón nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân thời kỳ đổi mới theo Quyết định số 790/QĐ-CTN của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lịch sử xây dựng và trưởng thành của Trường Đại học Sĩ quan Tăng thiết giáp gắn liền với tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, sáng tạo chủ động vượt khó, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của tầng tầng lớp lớp cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân chuyên nghiệp, CNVQP, HSQ-BS trong Nhà trường. Chặng đường có nhiều khó khăn, thách thức, song với bản lĩnh chính trị vững vàng, với những bước đi cơ bản, vững chắc, vừa có kế thừa, vừa phát triển, Nhà trường đã lớn mạnh không ngừng, thực sự góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng, rend luyện, cung cấp cho Binh chủng và toàn quân hàng vạn cán bộ chỉ huy, lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật tăng thiết giáp có phẩm chất, năng lực tốt làm nòng cốt trong xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp với quy mô, phạm vi ngày một được mở rộng, chất lượng ngày một nâng cao, đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Nhà trường có quyền tự hào với truyền thống vẻ vang của mình và có trách nhiệm viết tiếp những trang sử vẻ vang mới bằng những cống hiến và thành tựu mới. Toàn trường tiếp tục thi đùa giữ vững và phát huy truyền thống: “Đoàn kết, tự lực, sáng tạo, chủ động vượt khó, dạy tốt, chính quy, mẫu mực và đã ra quân là đánh thắng” góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Binh chủng, xây dựng Quân đội và công cuộc xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đội ngũ giảng viên Các khoa Danh hiệu Cựu học viên Tham khảo Liên kết ngoài Bài viết tỉnh Phú Thọ , Việt Nam này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 3911ff341d8f TITLE: Trường Sĩ quan Lục quân 2 - Đại học Nguyễn Huệ SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Nguy%E1%BB%85n_Hu%E1%BB%87 [CONTENT] Đại học Nguyễn Huệ [ 1 ] [ 2 ] ( tiếng Anh : Nguyen Hue University - Army Officer College No.2) hay Trường Sĩ quan Lục quân 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng là một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy lục quân cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) ở khu vực phía Nam Việt Nam . Bắt đầu từ năm 1998, Nhà trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo bậc đại học quân sự. Các chuyên ngành đào tạo đại học và cao đẳng quân sự gồm: Binh chủng hợp thành; Trinh sát bộ binh; Trinh sát đặc nhiệm. Lịch sử hình thành Tên gọi qua các thời kỳ Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Đảng bộ Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Trường Sĩ quan Lục quân 2 bao gồm: Tổ chức chính quyền Các Phòng, Ban chức năng Các Khoa Các đơn vị quản lý học viên Tặng thưởng Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Phó Hiệu trưởng qua các thời kỳ Phó Chính ủy qua các thời kỳ Tham khảo Liên kết ngoài Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: fe4766ff19c7 TITLE: Học viện Lục quân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_L%E1%BB%A5c_qu%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Lục quân trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là nơi chuyên đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp trung đoàn , sư đoàn lục quân và chiến dịch quân sự cho các binh chủng, cơ quan và đơn vị thuộc quân chủng lục quân . Học viện được thành lập ngày 7 tháng 7 năm 1946. Trụ sở chính của Học viện đóng quân tại phường Lâm Viên - Đà Lạt , tỉnh Lâm Đồng . Lịch sử hình thành Nhân sự và cơ sở vật chất Học viện Lục quân là nơi có khuôn viên khang trang, cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ cán bộ, giảng viên mạnh, hầu hết đã qua thực tế, được đào tạo cơ bản ở các nhà trường trong và ngoài nước, nhiều người có học hàm, học vị (Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ), có 02 người được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân là Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ và Thiếu tướng Nguyễn Đức Quý ; 12 người được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nhà giáo ưu tú". Năm 2008, đội ngũ cán bộ có trình độ sau đại học của học viện là 236/493 người, chiếm 47,65%, trong đó có gồm 54 Tiến sĩ . [ 1 ] Chức năng, nhiệm vụ Tên gọi qua các thời kỳ Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Đảng Tổ chức chung Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Học viện Lục quân bao gồm: Đảng ủy Học viện Tổ chức chính quyền Cơ quan trực thuộc Các khoa đào tạo Các đơn vị quản lý học viên Doanh nghiệp Thành tích và tặng thưởng Hiệu trưởng, Giám đốc, Viện trưởng qua các thời kỳ Trường Bổ túc Quân chính Học viện Quân chính Học viện Quân sự Học viện Lục quân Chính ủy qua các thời kỳ Phó Giám đốc qua các thời kỳ Phó Chính ủy qua các thời kỳ Xem thêm Liên kết ngoài Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 1800477a6948 TITLE: Học viện Hải quân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện Hải quân (HQH) là một học viện quân sự trực thuộc quân chủng Hải quân của Bộ Quốc phòng chuyên đào tạo sĩ quan chỉ huy hải quân & cảnh sát biển cấp phân đội và chỉ huy tham mưu hải quân & cảnh sát biển cấp chiến thuật - chiến dịch trình độ đại học quân sự , sau đại học. Nhiệm vụ Lãnh đạo hiện nay Cơ quan chức năng Các khoa đào tạo Đơn vị trực thuộc Cơ sở vật chất Quy mô và các ngành đào tạo Lịch sử hình thành Thành tích Danh hiệu Học viện đã được Nhà nước tặng thưởng: Tham gia chiến đấu Trường Sa 1988 Giữa năm 1987, tình hình quần đảo Trường Sa ngày càng căng thẳng. Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc tăng cường thăm dò, xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam mặc dù chính phủ Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Trước tình hình đó, nhà trường đã giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa với tinh thần sẵn sàng đi làm nhiệm vụ khi có lệnh. Đầu năm 1988, nhà trường được lệnh chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Ngày mùng 3 Tết Mậu Thìn, 4 sĩ quan Phạm Hồng Thuận. Nguyễn Lương Trí , Phạm Phúc Lộc và Hồ Ngọc Lĩnh được điều về tăng cường cho Sở Chỉ huy Chiến dịch CQ-88 tại Cam Ranh . Ngày mùng 5 Tết Mậu Thìn tàu HQ-652 của nhà trường lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ đảo. Ngày 25 tháng 2 năm 1988, hai bác sĩ Trần Quang Vinh và Nguyễn Ngọc Thạch được điều về tăng cường cho Lữ đoàn 146 . Ngày 3 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân ra quyết định số 12/QĐ điều 800 cán bộ, học viên chiến sĩ của nhà trường sẵn sàng đi làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhà trường được giao thêm nhiệm vụ chính trị là chuyển tải hàng ra đảo xây dựng trận địa và tăng cường lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Các sĩ quan Hồ Sĩ Đác , Nguyễn Văn Trí , Trần Quang Khuê được điều về tăng cường cho đơn vị chiến đấu. Tàu HQ-653 được lệnh đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo. Một số cán bộ chủ trì như Hiệu trưởng Trần Doãn Oánh , phó chủ nhiệm chính trị Lê Thiết Thực , trưởng khoa hàng hải Lê Đình Tường đã xuống tàu đi những chuyến đầu tiên để rút kinh nghiệm chỉ đạo. Ngày 21 tháng 3 năm 1988, đội chuyển tải tàu Thuận An 02 do Đại úy Dương Kim Tịnh là đội trưởng, Đại úy Lê Văn Định làm đội phó cùng học viên hai lớp H 31 và KH 5 chở hàng đi đảo Tiên Nữ đã xuất phát mở màn cho chiến dịch CQ-88. "Tất cả cho Trường Sa, tất cả vì Trường Sa" đã trở thành khẩu hiệu hành động của mọi cán bộ, học viên. Nội dung, chỉ tiêu thi đua "giải phóng hàng nhanh, quay vòng tăng chuyến", "người chờ tàu, không để tàu chờ người" đã tạo nên không khí thi đua giữa người đi chuyển tải và người phục vụ, năng xuất chuyển tải ngày càng cao, có chuyến đạt 3,5 tấn/người/ngày. Nhiều cán bộ, học viên đã xung phong tham gia 3 đến 4 chuyến chuyển hàng ra đảo. Đến tháng 8 năm 1988 đã có 1157 lượt cán bộ, giáo viên, học viên, chiến sĩ tham gia 31 đội chuyển tải. Năm 1988 nhà trường đã chuyển được 23.087 tấn vật tư hàng hóa từ tàu lên 7 đảo an toàn. Cán bộ, giáo viên Khoa Hàng Hải (đ/c Trần Ngọc Thuynh, Hoàng Quan phú...), Khoa Chiến Thuật (đ/c Nguyễn Xuân Thủy, Vũ Ngọc Dương)đã tham gia làm hoa tiêu cho tàu của các địa phương chở hàng đi Trường Sa an toàn. Trong trận chiến đấu vào rạng sáng 14 tháng 3 năm 1988, tại đảo Gạc Ma , 2 học viên thực tập lớp KH4 của trường là Kiều Hồng Lập và Nguyễn Bá Cường đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trên tàu HQ - 604. Tháng 2 năm 1989, mạn Nam quân cảng Nha Trang đã được sửa chữa xong và đưa vào sử dụng bốc xếp hàng ra đảo trong chiến dịch CQ-89. Bảo vệ chủ quyền biên giới Tây Nam Tháng 1 năm 1979, xảy ra sự kiện biên giới Tây-Nam, nhà trường cử 176 học viên khóa 20 đến Lữ đoàn 171 vừa thực tập vừa tham gia chiến đấu. Học viên khóa 20 trong đội hình lữ đoàn 171 đã chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ; các học viên đã hy sinh trong trận này là: Nguyễn Duy Tiến, Trần Anh Linh, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Huy Hoàng,... Giám đốc qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c32d5b404603 TITLE: Trường Sĩ quan không quân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C4%A9_quan_kh%C3%B4ng_qu%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Trường Sĩ quan Không quân ( KGH ) là trường đại học quân sự trực thuộc Quân chủng Phòng không- Không quân - Bộ Quốc phòng Việt Nam , chuyên đào tạo phi công quân sự, nhân viên kỹ thuật hàng không trình độ cao đẳng và trung cấp kỹ thuật cho Quân đội nhân dân Việt Nam . Lịch sử hình thành Ban Giám hiệu Chức năng, Nhiệm vụ Khối cơ quan: Gồm 6 phòng và 4 ban trực thuộc Tổ chức các khoa, bộ môn Gồm có 10 khoa và 1 Trung tâm huấn luyện thực hành Khối các đơn vị huấn luyện bay Khối các đơn vị quản lý học viên Ngành đào tạo + Kỹ thuật cơ khí: Phục vụ khai thác sửa chữa máy bay, động cơ + Kỹ thuật điện: Phục vụ khai thác, sửa chữa thiết bị điện máy bay + Kỹ thuật điện tử: Phục vụ khai thác, sửa chữa vô tuyến-ra đa máy bay + Kỹ thuật điện - cơ: Phục vụ khai thác sửa chữa thiết bị vũ khí hàng không Thành tích Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: e38d5c8559a6 TITLE: Trường Sĩ quan Công binh - Đại học Ngô Quyền SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ng%C3%B4_Quy%E1%BB%81n [CONTENT] Trường Sĩ quan Công binh (SNH) (tên dân sự: Trường Đại học Ngô Quyền ) là một trường đại học quân sự có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh , trực thuộc Binh chủng Công binh của Bộ Quốc phòng . Đào tạo cử nhân quân sự trình độ đại học các chuyên ngành chỉ huy kỹ thuật công binh và đào tạo cử nhân kỹ thuật hệ dân sự. Trường Đại học Sĩ quan Công binh là đơn vị sự nghiệp hệ công lập có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Lịch sử hình thành Đào tạo Đào tạo cho quân đội Đào tạo cho dân sự Tổ chức Ban Giám hiệu Các khoa đào tạo Các Phòng, ban chức năng Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chính ủy qua các thời kỳ Tham khảo Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c493bc68408f TITLE: Trường Đại học Trần Đại Nghĩa SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Tr%E1%BA%A7n_%C4%90%E1%BA%A1i_Ngh%C4%A9a [CONTENT] Trường Đại học Trần Đại Nghĩa [ 1 ] trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam là một trường đại học kỹ thuật được thành lập ngày 12 tháng 5 năm 1975 trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự. Trường đào tạo Sĩ quan kỹ thuật trình độ đại học (Kỹ sư công nghệ kỹ thuật quân sự ) cho Quân đội nhân dân Việt Nam . Từ năm 2020, Trường dừng tuyển sinh bậc đại học và các chỉ tiêu tuyển sinh chuyển sang cho Học viện Kỹ thuật quân sự. Lịch sử hình thành [ 2 ] Chức năng, nhiệm vụ Đào tạo Sĩ quan kỹ thuật trình độ Đại học (Kỹ sư quân sự - Hệ quân sự): Ban Giám hiệu Cơ cấu - Tổ chức Các phòng ban chức năng Các khoa Các đơn vị Hiệu trưởng qua các thời kì Chính ủy qua các thời kì Liên kết ngoài Tham khảo ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: f3fe49990241 TITLE: Học viện An ninh nhân dân SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_An_ninh_nh%C3%A2n_d%C3%A2n [CONTENT] Học viện An ninh nhân dân (T01/C500) [ 1 ] trực thuộc Bộ Công an có trách nhiệm đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ An ninh; nghiên cứu khoa học về An ninh nhân dân phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ] Mã trường: ANH. Lịch sử hình thành Ngày 25 tháng 6 năm 1946, Trường Huấn luyện Công an được thành lập (Theo Nghị định số 215/NĐ-P2 của Bộ Nội vụ). [ 5 ] Tên gọi qua các thời kỳ: Tổ chức Các cơ quan chức năng Các khoa, bộ môn Thành tích Lãnh đạo hiện nay Lãnh đạo qua các thời kì Giám đốc Phó Giám đốc Học viên Đại học chính quy (Hệ D) tiêu biểu Chú thích Công an các tỉnh (28 tỉnh) ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: a360b8f00c61 TITLE: Học viện Cảnh sát nhân dân SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_C%E1%BA%A3nh_s%C3%A1t_nh%C3%A2n_d%C3%A2n [CONTENT] Học viện Cảnh sát nhân dân còn được gọi là T02 , T18 hoặc T32 ( tiếng Anh : the Vietnam People's Police Academy - VPPA ) là cơ sở đào tạo đại học , sau đại học hệ công lập hàng đầu phục vụ cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trực thuộc Bộ Công an tại Việt Nam , đào tạo những sĩ quan cảnh sát có trình độ đại học và sau đại học cho lực lượng cảnh sát . Mã trường: CSH . Học viện Cảnh sát nhân dân (cùng với Học viện An ninh nhân dân ) là trường trọng điểm, đầu ngành của lực lượng Công an nhân dân, mục tiêu đến năm 2018 Học viện trở thành khối trường học viện, đại học trọng điểm quốc gia . Viết tắt: HVCSND / VPPA . Lịch sử Tiền thân của Học viện Cảnh sát nhân dân là Khoa Cảnh sát của Trường Công an Trung ương. Ngày 15 tháng 5 năm 1968, Bộ Công an ra Quyết định 514/CA/QĐ "tách phân hiệu Cảnh sát nhân dân ra khỏi trường Công an Trung ương, thành lập trường riêng, có nhiệm vụ đào tạo bậc trung học cho lực lượng Cảnh sát nhân dân" , chính thức thành lập Trường Cảnh sát nhân dân . Về sau, ngày này được lấy làm ngày truyền thống của Học viện Cảnh sát nhân dân. Trường lấy mật hiệu là T18 , trường sở ban đầu tại thôn Phong Vân, Ba Vì , Hà Tây , với 153 cán bộ giáo viên, công nhân viên và 1.789 học viên của 20 lớp học (trong đó có 6 lớp sơ học), đào tạo các hạ sĩ quan Cảnh sát. Ngày 27 tháng 11 năm 1976, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 231/CP "công nhận Trường sĩ quan Cảnh sát nhân dân của Bộ Nội vụ thuộc hệ thống giáo dục Đại học quốc gia" . Trường đổi tên thành Trường Đại học Cảnh sát nhân dân cơ sở phía Bắc và bắt đầu đào tạo sĩ quan Cảnh sát bậc đại học. Ngày 15 tháng 5 năm 1992, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định 998/QĐ/SĐH, giao nhiệm vụ cho trường Đại học Cảnh sát nhân dân đào tạo hệ cao học (chuyên ngành Điều tra tội phạm). Ngày 24 tháng 5 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 315/TTg giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho trường Đại học Cảnh sát. Ngày 15 tháng 11 năm 2001, Quyết định 969/2001/BCA(X13) của Bộ trưởng Bộ Công an nâng cấp từ trường Đại học Cảnh sát nhân dân lên Học viện Cảnh sát nhân dân . Tên gọi qua các thời kỳ 10/1962 - 12/1965: Khoa Cảnh sát nhân dân (Khoa Nghiệp vụ II) của Trường Công an Trung ương 30/12/1965 - 1968: Phân hiệu Trường Cảnh sát nhân dân 15/5/1968 - 1976: Trường Sĩ quan Cảnh sát nhân dân 27/11/1976 - 2001: Trường Đại học Cảnh sát nhân dân cơ sở phía Bắc 15/11/2001 - nay: Học viện Cảnh sát nhân dân Nhiệm vụ Cơ cấu tổ chức Các phòng, ban chức năng Các Trung tâm nghiên cứu và thực hành Các khoa giảng dạy và các khoa chuyên ngành Loại hình và nội dung đào tạo Loại hình đào tạo Đào tạo đại học chính quy đào tạo theo hình thức tín chỉ kéo dài 4 năm. Có các khoa ngành: Đào tạo đại học liên thông kéo dài 2,5 năm. Có các chuyên ngành: Đào tạo đại học tại chức gồm 3 chuyên ngành như chuyên tu. Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010, Học viện đào tạo 4 ngành: Quản lý hành chính, Điều tra trinh sát cảnh sát, Điều tra hình sự, Cảnh sát trại giam. Đào tạo dân sự bắt đầu từ 2014 với chuyên ngành Luật: Để vào học hệ dân sự các thí sinh đã sơ tuyển dự thi vào các trường Công an nhưng không đỗ và có nguyện vọng học tại trường. Học viện dừng tuyển sinh hệ dân sự từ năm 2018. Đào tạo sau đại học gồm 2 bậc tiến sĩ và thạc sĩ. Nội dung đào tạo Cũng giống như các trường Đại học khác, Học viện cảnh sát đào tạo theo chương trình chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và chương trình riêng của Bộ Công an kéo dài trong 05 năm. Học viên ăn ở nội trú tập trung trong doanh trại. Có chế độ nghỉ phép theo Quy định của Bộ Công an. Học viên sẽ học 5 kỹ năng: Theo tiến trình đổi mới trong năm học 2013 - 2014 sẽ đào tạo theo tín chỉ và rút ngắn thời gian đào tạo xuống 4 năm. Thành tích Sứ mệnh, giá trị, phương châm Sứ mệnh Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực trong hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Bộ Công an; có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ cho lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Bộ Công an; bồi dưỡng giáo viên cho các trường Cảnh sát nhân dân; tham gia giáo dục quốc phòng an ninh; thực hiện công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ trưởng Bộ Công an ; là trung tâm nghiên cứu khoa học trong toàn lực lượng; giữ vai trò nòng cốt cho sự phát triển của các trường Công an Nhân dân. Giá trị cốt lõi Phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa và định hướng phát triển, Học viện Cảnh sát nhân dân đã được định hình với một hệ giá trị cốt lõi: “ Chất lượng cao - Tiên phong - Hội nhập - Phát triển bền vững ”. Phương châm hành động " Chủ động - Nêu gương - Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu quả " Nhiệm vụ quyền hạn, chức năng 1. Nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, chủ trương, định hướng, chiến lược. chương trình, đề án, kế hoạch phát triển Học viện Cảnh sát nhân dân trình cho cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định và tổ chức thực hiện. 2. Đào tạo cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an. 3. Tổ chức bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ Cảnh sát cho lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ của lực lượng Công an nhân dân và bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát cho giảng viên, giáo viên các trường Công an nhân dân theo quy định. 4. Tham gia thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh cho lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ trong Công an nhân dân và đối tượng khác theo quy định và theo phân công của cấp có thẩm quyền. 5. Tham gia nghiên cứu, xây dựng chương trình khung đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định. Chủ trì nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học của các ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ của Học viện cho lực lượng Cảnh sát nhân dân theo chương trình khung của Bộ Công an; phối hợp đề xuất chủ trương, định hướng nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học của các ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ trung cấp Cảnh sát nhân dân đảm bảo liên thông trong quá trình đào tạo. 6. Chủ trì nghiên cứu xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, biện pháp tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ, công tác chiến đấu và xây dựng lực lượng Công an Nhân dân báo cáo cấp có thẩm quyền trình Bộ trưởng quyết định và tổ chức thực hiện. 7. Nghiên cứu xây dựng, ban hành chuẩn đầu ra đối với tất cả các ngành, chuyên ngành đào tạo của Học viện. Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền; thường xuyên tổ chức thực hiện cải tiến chất lượng sau kiểm định. 8. Tổng kết thực tiễn công tác giảng dạy, học tập, quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện, đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, gắn quá trình đào tạo của Học viện với thực tiễn công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an Nhân dân. 9. Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện các nhiệm vụ khoa học về lý luận nghiệp vụ cảnh sát và lĩnh vực khác có liên quan đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm theo quy định. 10. Thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức công tác tuyển sinh, chiêu sinh theo quy định; tổ chức quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo theo mục tiêu và chỉ tiêu đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an quy định; tổ chức thi, công nhận và cấp bằng, chứng chỉ tốt nghiệp cho học viên theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an. 11. Quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư và chức danh giảng dạy, huấn luyện, các chức danh khác theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an. 12. Tổ chức in ấn, xuất bản: Giáo trình, sách, tài liệu dạy học khác; Tạp chí Cảnh sát nhân dân. Quản lý tư liệu giáo khoa và tổ chức công tác thông tin khoa học phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của giảng viên, cán bộ và học viên theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an. 13. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị phát triểnHọc viện và thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an. 14. Thực hiện công tác đảng, công tác xây dựng lực lượng của Học viện theo quy định. 15. Thực hiện các mặt công tác tài chính, hậu cần, y tế, trực ban, bảo vệ cơ quan và các mặt công tác khác của Học viện theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an. 16. Nghiên cứu, đề xuất kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế, hợp tác với các trường, các cơ quan, tổ chức ngoài ngành Công an về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên và nghiên cứu khoa học theo quy định của Bộ Công an. 17. Thực hiện nhiệm vụ của đơn vị dự bị chiến đấu theo quy định của Bộ Công an. 18. Tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ Công an về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham mưu với Bộ trưởng những vấn đề về lý luận, khoa học, chủ trương, chiến lược, giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm. 19. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan có thẩm quyền theo quy định. 20. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc chức năng của Học viện Cảnh sát nhân dân do Bộ Công an giao phó. Lãnh đạo hiện nay Lãnh đạo Học viện qua các nhiệm kỳ Các giáo sư và học viên nổi bật Liên kết ngoài ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: c009b625eef6 TITLE: Học viện Chính trị Công an nhân dân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_C%C3%B4ng_an_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Học viện chính trị Công an nhân dân [ 1 ] [ 2 ] [ 3 ] là cơ sở giáo dục đào tạo bậc đại học và trên đại học trực thuộc Bộ Công An [ 4 ] có chức năng đào tạo trình độ và bồi dưỡng phẩm chất cán bộ cán bộ có trình độ đại học, sau đại học, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng tham mưu, xây dựng lực lượng CAND; đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ Công an; đào tạo, bồi dưỡng các hệ chức danh lãnh đạo, chỉ huy khác và hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo kế hoạch của Bộ Công an; là trung tâm nghiên cứu khoa học của lực lượng CAND Lịch sử hình thành Ngày 29/10/1971, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn ban hành Quyết định số 1250/QĐ-CA thành lập Trường Đào tạo cán bộ An ninh miền Nam đóng tại thôn Tĩnh Luyện, xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Hồi đó, đồng chí Thứ trưởng Trần Quyết là Hiệu trưởng danh dự của trường. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trường đã đào tạo, bồi dưỡng và tiễn 2.580 học viên lên đường vào miền Nam Việt Nam chiến đấu. Nhiều học viên học tập, rèn luyện trở về miền Nam chiến đấu, công tác và đã trưởng thành, có đồng chí là Anh hùng LLVTND như chị Nguyễn Thị Minh Hiền, học viên lớp E52; đồng chí Ksor Phước, học viên lớp E52, nay là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao... Sau khi miền hoàn toàn giải phóng, Trường E1171 tiếp tục đào tạo các lớp trực tiếp phục vụ cho nhiệm vụ cấp bách của các tỉnh phía như bảo vệ chính trị, cơ yếu, sưu tập. Ngày 28/9/1978, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ra Quyết định số 161/QĐ-BNV chuyển Trường Đào tạo cán bộ An ninh miền Nam thành Trường Hậu cần CAND. Ngày 21/11/1988, Trường Hậu cần CAND chuyển từ Vĩnh Phúc về Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội, tạo ra một cơ hội mới cho sự phát triển toàn diện của trường. Nhiều đồng chí học viên của Trường đã trưởng thành là cán bộ lãnh đạo của nhiều Vụ, Cục ở Bộ và địa phương, có đồng chí là Anh hùng lực lượng vũ trang như liệt sĩ Đặng Văn Khoan, học viên lớp ĐT1. Đến tháng 1/1996, Bộ Nội vụ quyết định đổi tên Trường Hậu cần CAND thành Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ CAND. Trường có nhiệm vụ bồi dưỡng chức danh, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng và tập huấn các chuyên ngành nghiệp vụ trong toàn lực lượng CAND. Trường đã coi trọng xây dựng đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm trong ngành và ngoài ngành... Học viện Chính trị Công an nhân dân được thành lập trên cơ sở Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ Công an (T41). (Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ Công an nguyên là Trường Đào tạo cán bộ An ninh miền Nam E1171 và Trường Hậu cần Công an nhân dân) [ 5 ] Ngày 1/3/2014, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Chính trị CAND. Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Các phòng, ban chức năng Các khoa chuyên môn Giám đốc qua các thời kỳ Chú thích Công an các tỉnh (28 tỉnh) ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 6d6e4f856144 TITLE: Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ph%C3%B2ng_ch%C3%A1y_ch%E1%BB%AFa_ch%C3%A1y_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy (T06) [ 1 ] Trực thuộc Bộ Công an có trách nhiệm đào tạo cán bộ phòng cháy, chữa cháy trình độ Đại Học, Thạc sĩ, Tiến sĩ và các trình độ thấp hơn về lĩnh vực phòng cháy chữa cháy; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; nghiên cứu khoa học về phòng cháy và chữa cháy phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay trường có quy mô đào tạo hơn 6000 học viên. Là trường Đại học kỹ thuật (định hướng nâng cấp lên Học viện PCCC) duy nhất của Bộ Công An và ở Đông Dương đào tạo hệ đại học, sau đại học lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy với chuẩn đầu ra cho các học viên là Cử nhân/thạc sĩ/tiến sĩ PCCC và CNCH. Lịch sử hình thành Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 53/LCT ngày 4/10/1961, công bố “Pháp lệnh Quy định việc quản lý của nhà nước đối với công tác Phòng cháy chữa cháy”. Từ cuối năm 1961 đến tháng 9/1963 Bộ Công an giao Trường Công an Trung ương (Nay là Học viện An ninh nhân dân) tổ chức bồi dưỡng được 3 khóa nghiệp vụ chuyên ngành Phòng cháy chữa cháy. Tổng số 179 cán bộ, thuộc Phòng Cảnh sát Phòng chữa cháy Công an các tỉnh phía Bắc. Tháng 9/1963 Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 1226/CA-QĐ “Về việc thành lập Tổ Giáo dục Phòng cháy chữa cháy” trực thuộc Khoa Cảnh sát (Khoa Nghiệp vụ II) – Trường Công an Trung ương. [ 2 ] Ngày 30/12/1965 Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 154/CA-QĐ “Về việc thành lập Phân hiệu Cảnh sát nhân dân”, trong đó có “Khoa Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy” (Phiên hiệu là Khoa 56). [ 2 ] Ngày 20/7/1971 Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 1099/CA-QĐ, “Về việc thành lập Phân hiệu Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy”. [ 2 ] Ngày 2/9/1976 Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký Quyết định số 5062 - NV/QĐ “Về việc tách Phân hiệu Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và thành lập Trường Hạ sĩ quan Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy”. Tổ chức bộ máy của trường Hạ sĩ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy gồm có 09 đơn vị (6 khoa, 3 phòng). Ban Giám hiệu có 3 đồng chí, 01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng giúp việc. Nhiệm vụ: Căn cứ vào đường lối phương châm giáo dục của Đảng, mục tiêu, kế hoạch đào tạo của Ngành, nghiên cứu tổ chức thực hiện việc đào tạo Hạ sĩ quan cảnh sát PCCC và bổ túc sĩ quan PCCC đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cảnh sát PCCC của Ngành. Địa điểm tại xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội. [ 2 ] Ngày 25/9/1976 nhà trường tổ chức chiêu sinh Khóa K1 – Hệ Trung cấp Phòng cháy chữa cháy đầu tiên. Tổng số 144 học viên. Thời gian học 3 năm. [ 2 ] Ngày 19/6/1984 Chủ tịch Hội đông Bộ trưởng ký Quyết định số 90 QĐ/HĐBT “Về việc thành lập 9 trường Cao đẳng” trực thuộc Bộ Nội vụ, trong đó có Trường Cao đẳng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy. Ngày 6/11/1984 Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng ký Quyết định số 2825/QĐ-BNV về việc nâng trường Hạ sĩ quan Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy thành trường Cao đẳng Phòng cháy chữa cháy trực thuộc Tổng cục Cảnh sát nhân dân. Tổ chức bộ máy: Gồm Ban Giám hiệu do Hiệu trưởng phụ trách và 2 Phó Hiệu trưởng giúp việc trực thuộc Ban Giám hiệu có 09 đơn vị: 04 Bộ môn, 1 Khoa, 3 Phòng và 1 Tổ. Nhiệm vụ: Đào tạo bồi dưỡng cán bộ thực hành có trình độ đại học và tiếp tục đào tạo Hệ trung học PCCC với quy mô 600 học viên. Địa điểm tại xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội. [ 2 ] Ngày 25/9/1984 nhà trường tổ chức chiêu sinh Khóa D1 – Hệ Cao đẳng Phòng cháy chữa cháy đầu tiên. Tổng số 27 học viên. Thời gian học 4 năm. [ 2 ] Ngày 14/10/1999 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 203/1999/QĐ-TTg “Về việc thành lập Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” trên cơ sở Trường Cao đẳng Phòng cháy chữa cháy. [ 3 ] Ngày 25/2/2000 Bộ trưởng Bộ Công an Lê Minh Hương ký Quyết định số 171/2000/QĐ-BCA (X13) về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Đại học PCCC. Trường Đại học PCCC có quy mô đào tạo 1000 học viên. Địa điểm tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Tổ chức bộ máy gồm 12 đơn vị (6 bộ môn, 5 phòng, 1 trung tâm). Nhiệm vụ: Đào tạo cán bộ có trình độ đại học và các trình độ thấp hơn về PCCC; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng làm công tác PCCC trong công an và các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội theo quy chế văn bằng của Nhà nước; Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu các đề tài khoa học kỹ thuật về PCCC tham gia chữa cháy khi được Bộ trưng dụng; Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dưỡng cán bộ Nghiên cứu khoa học công nghệ về PCCC [ 2 ] Ngày 25/9/2000 nhà trường tổ chức chiêu sinh và đào tạo Khóa Đại học Phòng cháy chữa cháy đầu tiên tổng số 93 học viên. Thời gian học 5 năm. Ngày 19/12/2007 Thủ tướng Chính phủ ký Văn bản số 1959/TTg-KG giao cho Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy tuyển sinh đào tạo trình độ Đại học đối với các đối tượng người học ngoài ngành Công an và Quân đội. Ngày 14/11/2008 nhà trường tổ chức chiêu sinh khóa Đại học Phòng cháy chữa cháy hệ ngoài ngành Công an đầu tiên. Tổng số 34 học viên. Thời gian đào tạo 5 năm. [ 2 ] Ngày 27/10/2010 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 4854/2010/QĐ-BGD&ĐT cho phép nhà trường đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành PCCC&CNCH. Từ năm học 2014-2015, Trường đào tạo Hệ đại học chính quy CAND với thời gian 4 năm với đầu ra đạt trình độ kỹ sư PCCC, học viên sau khi tốt nghiệp được thăng cấp bậc hàm CAND theo quy định của Bộ Công an. Từ năm 2017 nhà trường được Bộ Giáo Dục cho phép đào tạo trình độ Tiến sĩ về lĩnh vực PCCC&CNCH. Hiện nay Nhà trường có 22 đơn vị (gồm có 10 khoa, 7 đơn vị phòng, 4 trung tâm, 1 tạp chí). [ 2 ] Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Các phòng chức năng: Các khoa, trung tâm: Mỗi khoa, phòng, trung tâm do Trưởng khoa, Trưởng phòng; Giám đốc trung tâm, có từ 02 đến 03 Phó Trưởng khoa, Phó Trưởng phòng; Phó Giám đốc trung tâm; Thành tích Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chú thích Công an các tỉnh (28 tỉnh) ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 944832377f23 TITLE: Học viện Kỹ thuật và Công nghệ An ninh SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_%E2%80%93_H%E1%BA%ADu_c%E1%BA%A7n_C%C3%B4ng_an_nh%C3%A2n_d%C3%A2n [CONTENT] Học viện Kỹ thuật và Công nghệ An ninh (T07) [ 1 ] trực thuộc Bộ Công an có trách nhiệm đào tạo cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần có trình độ sau đại học , đại học và các trình độ thấp hơn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ làm công tác kỹ thuật nghiệp vụ, hậu cần trong Công an nhân dân, nghiên cứu khoa học về nghiệp vụ và hậu cần CAND, phục vụ yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ] [ 5 ] [ 6 ] [ 7 ] Lịch sử hình thành Ngày 13 tháng 11 năm 1984, thành lập Trường Trung cấp Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân . [ 2 ] Ngày 21 tháng 10 năm 2010, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 1945/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân trên cơ sở nâng cấp Trường Trung cấp Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân và sắp xếp lại các cơ sở đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần của ngành Công an. [ 4 ] Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 2288/QĐ-TTg ngày 17/10/2025 về việc đổi tên Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân thành Học viện Kỹ thuật và Công nghệ An ninh . Học viện Kỹ thuật và Công nghệ An ninh đóng quân tại phường Thuận Thành , tỉnh Bắc Ninh . Học viện có chức năng đào tạo cán bộ ngành kỹ thuật nghiệp vụ, hậu cần cho ngành công an. Học viện Kỹ thuật và Công nghệ An ninh là cơ sở giáo dục đại học công lập, trực thuộc Bộ Công an, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; hoạt động của trường tuân thủ Điều lệ trường đại học. [ 8 ] Bên cạnh việc đảm nhận nhiệm vụ đào tạo thường xuyên hơn 1.500 học viên Việt Nam, Học viện còn đảm nhận nhiệm vụ đào tạo cán bộ hậu cần, kỹ thuật cho nước bạn Lào và Campuchia . [ 9 ] Các ngành đào tạo Bậc đại học Bậc trung cấp Lãnh đạo hiện nay Tổ chức Khen thưởng Giám đốc, Hiệu trưởng, Quyền Hiệu trưởng qua các thời kỳ Xem thêm Chú thích ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: ca69d94c4eb9 TITLE: Trường Đại học An ninh nhân dân (Thành phố Hồ Chí Minh) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_An_ninh_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_(Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh) [CONTENT] Trường Đại học An ninh nhân dân là một trường đại học chuyên ngành an ninh hệ công lập tại Việt Nam. Trường được nâng cấp và đổi tên vào tháng 7 năm 2003, có trụ sở tại Km18 Xa lộ Hà Nội, phường Linh Trung , thành phố Thủ Đức , Thành phố Hồ Chí Minh . Trường đào tạo đại học, sau đại học, và là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học của ngành công an nhân dân Việt Nam . Lịch sử Trường trải qua nhiều tên gọi khác nhau: [ 1 ] Lãnh đạo Hiện nay Khen thưởng Xem thêm Liên kết ngoài Tham khảo Công an các tỉnh (28 tỉnh) Bài viết này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 0b7e89e867a9 TITLE: Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (Việt Nam) SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_C%E1%BA%A3nh_s%C3%A1t_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_(Vi%E1%BB%87t_Nam) [CONTENT] Trường Đại học Cảnh sát nhân dân ( tiếng Anh : Vietnam People's Police University , thường được gọi tắt là VPPU, hoặc T48, T05 ) là một trường đại học chuyên ngành an ninh hệ công lập trực thuộc Bộ Công an tại Việt Nam . Được thành lập ngày 24/04/1976, trường có nhiệm vụ chính là đào tạo cán bộ Cảnh sát nhân dân trình độ đại học và sau đại học, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo, và là trung tâm nghiên cứu khoa học của ngành. Trụ sở chính của trường đặt tại số 36 đường Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. [ 1 ] [ 2 ] [ 3 ] Lịch sử hình thành Ngày 24 tháng 4 năm 1976 , Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ra Quyết định số 13/QĐ-BNV thành lập Trường Hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân II tại Miền Nam . Trường có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan và bổ túc sĩ quan Cảnh sát nhân dân theo chương trình do Bộ Nội vụ quy định và được coi tương đương như trường Trung học chuyên nghiệp của Nhà nước. Quy mô đào tạo của trường là 2.000 học sinh. Tổ chức bộ máy của trường có 12 phòng - khoa. Đồng chí Bùi Hoán và đồng chí Nguyễn Văn Tấn được Bộ chỉ định giữ chức vụ Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng Nhà trường. [ 4 ] Ngày 1 tháng 4 năm 1985 , Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Nghị định số 99/HĐBT về việc thành lập trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II , địa điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh , nhằm tiếp tục nâng cao trình độ cho Công an nhân dân, nhất là lực lượng Cảnh sát nhân dân đủ sức đảm đương nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm. [ 4 ] Thực hiện nghị định 99/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 19 tháng 10 năm 1985 , Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ra Quyết định số 124/BNV chuyển Trường Trung học cảnh sát nhân dân II thành Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, địa điểm đóng tại huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ thực hành có trình độ đại học và tiếp tục đào tạo một số chuyên ngành thuộc hệ Trung học Cảnh sát nhân dân cho Công an các tỉnh thành phía Nam. Quy mô đào tạo là 1.500 học viên. Về tổ chức bộ máy: Trường có 01 Hiệu trưởng, 02 phó Hiệu trưởng, 5 bộ môn, 06 khoa nghiệp vụ, 07 phòng. Trường nằm trong hệ thống các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp của Nhà nước, là đơn vị dự toán cấp II. [ 4 ] Thực hiện Nghị định số 57/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 27 tháng 7 năm 1989 , Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định số 53/QĐ-BNV chuyển trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II thành trường Đại học Cảnh sát nhân dân cơ sở phía Nam. Cơ cấu của Phân hiệu gồm có 12 Bộ môn và 5 phòng. [ 4 ] Đầu năm 2001 , Bộ Công an có chủ trương kiện toàn lại hệ thống các trường trong lực lượng Công an nhân dân, thành lập các Học viện An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân theo đó Phân hiệu Đại học Cảnh sát nhân dân tại phía Nam được chuyển thành Phân viện Học viện Cảnh sát nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 2/10/2001 Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 970/2001/QĐ-BCA (X13) quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phân hiệu Học viện Cảnh sát nhân dân tại phía Nam. Quyết định chỉ rõ: "Phân viện Học viện Cảnh sát nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Học viện Cảnh sát nhân dân là cơ sở đào tạo cán bộ Cảnh sát nhân dân có trình độ đại học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lực lượng cảnh sát nhân dân; và là cơ sở nghiên cứu khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân; Quy mô đào tạo: 2.500 học viên; Địa điểm được đặt tại phường Linh Tây , quận Thủ Đức , thành phố Hồ Chí Minh . Phân viện Học viện do 1 Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân làm Phân Hiệu trưởng phụ trách, có 3 Phó Phân hiệu trưởng giúp việc; Tổ chức bộ máy của Phân viện Học viện Cảnh sát nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh gồm có 7 Bộ môn, 7 Khoa nghiệp vụ, 8 Phòng và 1 Trung tâm. Phân viện Học viện Cảnh sát nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị dự toán kinh phí cấp II và có con dấu riêng. [ 4 ] Để có điều kiện đảm nhận chỉ tiêu đào tạo trong những năm tới với lưu lượng 3.500 sinh viên, nhà trường đề xuất Bộ Công an cho liên hệ xin đất để xây dựng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân tại địa điểm mới. Với sự nỗ lực tích cực và tinh thần trách nhiệm cao, các đồng chí cán bộ được Ban Giám hiệu giao nhiệm vụ đã làm việc có hiệu quả với cơ quan hữu quan. Ngày 24/2/2003 Ban quản lý khu Nam đã ký Văn bản số 71/CV-BQL chấp thuận địa điểm xây dựng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân với diện tích 18 ha ở khu đại học phía Đông (khu số 3) thuộc phường Tân Phong, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. căn cứ Thông báo số 2622/H11(H16) của Tổng cục Hậu cần Công An Nhân Dân về ý kiến của Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Tính , đồng chí Hiệu trưởng ký Quyết định số 734/QĐ-ĐHCS (HC) ngày 14/10/2003 thành lập Ban quản lý dự án xây dựng trường tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. [ 4 ] Ngày 25/12/2006 Bộ trưởng bộ Công an đã có quyết định số 2008/2006/QĐ-BCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký thay thế quyết định số 830/2003/QĐ-BCA(X13) là một dấu mốc quan trọng trên bước đường xây dựng và trưởng thành của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân. [ 4 ] Lãnh đạo hiện nay Hiệu trưởng qua các thời kỳ Chú thích Công an các tỉnh (28 tỉnh) ------------------------------------------------------------ === SCHOOL_WIKI === ID: 2b547def69fa TITLE: Trường Đại học Fulbright Việt Nam SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Fulbright_Vi%E1%BB%87t_Nam [CONTENT] Trường Đại học Fulbright Việt Nam ( tiếng Anh : Fulbright University Vietnam ) là một trường đại học độc lập với 100% vốn đầu tư nước ngoài dưới sự tài trợ của Chính phủ Hoa Kỳ, hoạt động không vì lợi nhuận. [ 1 ] [ 2 ] Trường được chính thức thành lập vào tháng 5 năm 2016. [ 1 ] Trụ sở chính của trường được đặt tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh . Lịch sử hình thành Ngay từ trước khi Bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ vào năm 1995, từ năm 1994 với sự hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Harvard Kennedy (thuộc Đại học Harvard ) Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã ra đời (FETP, nay là Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright) của Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard. [ 3 ] [ 4 ] Sau 20 năm tồn tại, trường Fulbright được nâng cấp lên thành Đại học Fulbright, thể hiện sự phát triển sâu rộng của mối quan hệ Việt-Mỹ. [ 5 ] [ 6 ] Lần đầu tiên khái niệm trường Đại học Fulbright Việt Nam được đề cập là trong Tuyên bố chung của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 25 tháng 7 năm 2013. [ 7 ] Năm 2014, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua khoản ngân sách sáng lập một trường đại học Việt Nam theo mô hình giáo dục khai phóng của Mỹ. [ 8 ] Tháng 6 năm 2014, chủ trương thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam được Chính phủ Việt Nam chấp thuận. [ 4 ] Vào tháng 7 năm 2015 trong chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng , trường Đại học Fulbright đã nhận được chứng nhận đầu tư của Thành phố Hồ Chí Minh để được xây dựng trên 15 hecta đất tại khu công nghệ cao TP HCM . [ 7 ] Ngày 16 tháng 5 năm 2016, giấy phép thành lập trường chính thức được ký. [ 9 ] Chủ tịch Đại học Fulbright, cựu thượng nghị sĩ bang Nebraska Bob Kerrey, cho biết, những người tham gia thành lập trường đã cố gắng để thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ cung cấp ngân khoản cho trường. Cuối cùng Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng ý với điều kiện Việt Nam góp vốn tương ứng mà trong trường hợp này bằng việc cấp đất cho trường ở thành phố Hồ Chí Minh. [ 10 ] Năm 2016, Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép thành lập Đại học Fulbright. Ngày 25/5/2016 Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ là ông John Kerry , theo phái đoàn của tổng thống Obama tới Việt Nam , đã tới chủ tọa lễ khởi công Đại học Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh. [ 11 ] Năm 2017, Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép hoạt động giáo dục cho Đại học Fulbright. Trong năm học Đồng kiến tạo (Co-design) 2018-2019, trường tuyển 54 sinh viên. [ 2 ] [ 12 ] Trường được tài trợ bởi quỹ tín thác Sáng kiến đại học Việt Nam (Trust for University Innovation in Vietnam). [ 11 ] Ngày 6 tháng 6 năm 2019, chính phủ Mỹ trao tặng cho Đại học Fulbright 2 khoản tài trợ với tổng giá trị là 15,5 triệu Đô la Mỹ. Khoản thứ nhất do Cơ quan Viện trợ Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ có trị giá 7,2 triệu USD giúp đỡ trường đại học Fulbright xây dựng các chính sách thu hút sinh viên theo học và hỗ trợ các thủ tục tài chính, học bổng. Khoản tài trợ thứ hai do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (CEA) sẽ được rót thông qua Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) trị giá 8,3 triệu USD giúp đỡ trường Đại học Fulbright xây dựng và phát triển. [ 13 ] [ 14 ] [ 15 ] [ 16 ] Các ngành đào tạo Theo kế hoạch, trong 5 năm đầu sau khi thành lập, trường sẽ mở các cơ sở đào tạo tích hợp: [ 1 ] Tổng vốn đầu tư của Đại học Fulbright trong giai đoạn xây dựng ban đầu dự kiến khoảng 70 triệu USD. [ 7 ] Trong giai đoạn đầu, kinh phí hoạt động của trường chủ yếu dựa vào khoản viện trợ 17 triệu USD của chính phủ Hoa Kỳ . [ 2 ] Trường lấy tên của J. William Fulbright - một chính khách, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ , người đã khởi xướng hàng loạt các chương trình trao đổi về giáo dục và văn hoá quốc tế. [ 17 ] Tranh cãi Bob Kerrey Năm 2016, báo mạng Zing đặt câu hỏi về việc lựa chọn cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey , người từng "tham gia một vụ thảm sát" trong chiến tranh Việt Nam, làm chủ tịch Trường Đại học Fulbright vừa được mở tại Việt Nam. Gregory L. Vistica viết cho The New York Times hồi năm 2001 rằng: "Trong chiến tranh Việt Nam, Kerrey là một đại úy hải quân và từng tham gia vào một trong những vụ thảm sát đẫm máu ở xã Thạnh Phong của Bến Tre vào năm 1969, giết hại nhiều phụ nữ và trẻ em". Zing sau đó đã đăng lời xin lỗi của Thượng nghị sĩ Kerrey gửi tới họ qua email: "Tôi đã xin lỗi người Việt về những gì tôi gây ra trong chiến tranh. Tôi xin lỗi một cách chân thành một lần nữa và cùng những nỗi đau của ký ức mãi mãi ám ảnh, tôi xin lỗi những người mà tôi đã gây hại". [ 18 ] Bob Kerrey nói ông đã vận động để thành lập trường này từ đầu thập niên 1990 nhưng nay ông "sẵn sàng rút lui". [ 10 ] Tham khảo ------------------------------------------------------------