text stringlengths 1 55.3k |
|---|
[8] Như vậy, xét những khoản đầu công này trong tổng cầu của nền kinh tế, nếu được |
có âm mưu của Satan mà chúng ta sẽ là những nạn nhân? |
- Không. |
Chỉ có nỗi sợ hãi của con người và nhân cách thức kỳ dị của họ nhằm xua đuổi nó. |
- Vậy thì tại sao Kinh Thánh và các thánh thần thường nhắc đến Satan? - Đó là một ẩn dụ, một cách thức có tính hình tượng nhằm khuyên con người quay về Thiên Chúa nếu họ muốn cảm thấy an toàn, thay vì thoả mãn những xu hướng bi thảm và những thói xấu của việc quy mọi cái ác của trần gian cho một thế lực bên ngoài có th... |
Chúng ta né tránh mọi trách nhiệm, vì những hành vi đáng chê trách của chúng ta, chúng ta có xhướng sử dụng ý tưởng về Satan hầu phóng chiếu ra bên ngoài cái ước muốn rằng có mộ số người phải là xấu xa một cách thực chất, như thể chúng ta có thể ma quỉ hoá những người mà chúng ta không ưa, và loại trừ họ. Đã đến lúc để... |
Những kẻ sợ hãi muốn kiếm soát những người khác. Chính vì thế mà một số nhóm tìm cách thu hút cậu vào mạng lưới của họ, thuyết phục cậu theo họ và tuân theo quyền lực của họ. Và họ sẽ hung dữ chống lại cậu nếu cậu tìm cách rời xa họ. |
- Khi tôi bị lôi kéo vào thành phố ảo ảnh, tôi đã nghĩ rằng mình bị ám bởi một sức mạnh của quỷ. - Không, sở dĩ cậu bị thu hút vào cõi đó là vì cậu đã phạm cùng một lỗi lầm như trước kia: cậu đã không cởi mở đối với các linh hồn và không lắng nghe họ. Cậu đã phó mặc cho họ, như thế họ tự động nắm giữ mọi giải đáp, mà k... |
Sau khi im lặng và suy nghĩ một lúc, Wil tiếp: - Chúng tôi đã khám phá những khía cạnh mới của mặc khải thứ mười, vì thế chúng tôi có thế thấy những cảnh tượng đó. Sự liên lạc giữa hai chiều kích càng tăng, thì chúng tôi càng thường gặp những linh hồn ở cõi bên kia. Điều cần thiết là phải biết phân biệt những linh hồn ... |
- Đúng. |
Những cơ chế thống trị mãnh liệt, |
Màng-p, 54-55, 125-127, 129. |
Xem thêm Mô hình thế giới màng. Mật độ Năng lượng, 46, 47, 144-146 Vật chất, 96-99 Vô hạn, 36 Mật độ vô hạn, 36 Mặt trời, 103, 111 Maxwell, James Clerk, 43 Máy gia tốc hạt, 54, 57, 199-200 Máy siêu va chạm siêu hấp dẫn, 199 Máy tính, 165-169 Máy va chạm Hadron lớn, Geneva, 54, 57, 199-200 Meson, 78 Michell, John, 110, ... |
của hầu hết giống chim này đều có hình dạng chèn bẹt, sơ sài và ở tuốt trên ngọn cây. Trên những cái tổ như vậy, chim mái đẻ trứng có sọc và lốm đốm. Chim thiên đường rất dễ ăn: gặp sâu bọ ăn sâu bọ. Nếu không có sâu bọ, gặp hột bắp hột lúa cũng được. Thậm chí, ốc sên, càng hay! |
Đến mùa sinh nở, những con chim trống tập trung khoe mã trước bầy chim mái. Thường thì giống chim này rất nhút nhát. Nhưng qua mùa sinh nở, chúng tập trung đông và tỏ ra dạn dĩ đến nỗi các tay săn lại gần để bắn cũng được. Người thổ dân bắn giống chim này bằng tên không nhọn (tà đầu) để khỏi làm hỏng bộ lông của chúng.... |
Bằng cách nào chim bồ câu tìm được đường trở về nhà? Một trong những điều kỳ lạ nhất trong thiên nhiên là khả năng của một số giống chim bay đi đến một nơi 106 107 162 xa rồi lại biết tìm đường trở về đúng nơi xuất phát. Bạn có biết không, từ cách nay 2.000 năm trước, người La Mã cổ đã biết sử dụng chim bồ câu để đưa t... |
thu đẹp thay. |
Một ca sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. |
Câu nói trong Khổng Tử ngữ lục, có nghĩa là thứ không hợp lễ thì không nhìn, điều không hợp lễ thì không nghe. Ý nói bệnh đến bất ngờ, đột ngột nhưng lúc bình phục thì từ từ mới khỏi. |
Trúc ngoại đào hoa tam lưỡng chi. Đây là câu thơ đầu trong bài Huệ Sùng xuân giang vãn cảnh của tác giả Tô Thức thời Bắc Tống. |
Thành ngữ, ý chỉ sự việc đã trải qua, rắc rối phức tạp nhưng cuối cùng đã có được kết quả. Câu này xuất xứ từ Quyết biệt thư của Trác Văn Quân gửi cho Tư Mã Tương Như. Viết tắt của cụm từ tiếng Anh: “Oh my God!”, nghĩa là: “Lạy Chúa tôi!” Trường trung học số một của Thanh Châu, tỉnh Sơn Đông. 傅: Chữ này có hai âm đọc l... |
SOHO: tức Small office home office, làm việc ở nhà, phần lớn là chỉ những người làm việc tự do. |
Kế vườn không nhà trống. |
Cờ đỏ trong nhà là chỉ vợ, cờ màu bên ngoài là chỉ tình nhân. Câu này ám chỉ quan hệ với vợ và tình nhân được xử lý hài hòa. |
Trường trung học xếp thứ 6. |
2. |
Andrew William Mellon: bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ giai đoạn 1921 ‒ 1932. |
3. |
Franklin Delano Roosevelt: tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ, đắc cử bốn lần giai đoạn 1933-1945. |
4. |
George M. Humphrey: Bộ trưởng Bộ tài chính Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 1953 - 1957 5. Dwight David “Ike” Eisenhower: tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 1953–1961. |
6. |
Trái phiếu đô thị: trái phiếu do các chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn cho các công trình phúc lợi, thu nhập từ trái phiếu loại này được miễn thuế. |
1. |
Uncle Sam (US): Tên lóng của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. |
2. |
Nguyên văn: “E Pluribus Unum” ‒ Khẩu hiệu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được in trên đồng đôla từ 1776-1956. |
1. |
Adelphia Communications Corporation: được xếp hạng là công ty cáp lớn thứ 5 của Mỹ trước khi bị phá sản năm 2002 do tham nhũng nội bộ. |
2. |
Nội chiến Mỹ: nổ ra ngày 12/4/1861 và kết thúc ngày 9/4/1865 giữa Liên bang miền Bắc và Liên minh miền Nam, địa điểm: phía Nam nước Mỹ. Nguyên nhân: do quân miền Nam phá đồn Sumter. |
Kết quả: quân miền Bắc chiến thắng, kết thúc chính sách nô lệ và xây dựng lại nước Mỹ. |
3. |
Rhett Buttler: Tên nhân vật nam chính nổi tiếng trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Cuốn theo chiều gió, Rhett Buttler là kẻ giàu lên nhanh chóng nhờ vào những mánh khóe gian thương, đầu cơ tích trữ. |
4. |
Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud; 1856-1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo. Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học. Chính ông là người phát hiện ra công dụng tuyệt vời của cocain trong chữa bệnh. |
5. |
Caramel là đường nấu chảy (không nên nhầm với loại kẹo màu nâu có cùng tên) được sử dụng rộng rãi làm chất tạo |
chưa có mặt. |
Cháu sẽ phải đứng vào hàng nào đây, nếu cháu không có mười bốn đứa em mà mười ba trong số đó là những đứa hư đốn ạ?” Bà Rosenblom nhìn Pippi đầy vẻ khiển trách. “Tạm thời cháu cứ đứng nguyên đó,” bà nói. “Nhưng ta gần như tin rằng cháu sẽ mau chóng đi vào hàng với những đứa trẻ phải đứng trong góc kia mà xấu hổ.” Hai c... |
“Cháu sẽ không được ăn súp,” bà Rosenblom nghiêm khắc nói. |
“Đôi lúc cháu mới may mắn làm sao,” Pippi nói. “Bây giờ chỉ phải lo sao thoát nốt đống bánh kẹo và áo lót nữa là có thể thở phào được rồi.” Bà Rosenblom không để tai nghe nó. Bà tìm trong sách chính tả một từ khó để bắt Pippi đánh vần từng chữ cái. “Nào, cháu thân mến,” rốt cuộc bà bảo, “cháu có thể nói ta nghe say són... |
“Thật là quá buồn khi giờ đây bao nhiêu người phải lên thiên đàng. |
Mà cháu thì tin chắc điều đó lẽ ra không khi nào xảy ra, nếu ông ấy luôn biết giữ cho chân mình được khô ráo.” “Cô hãy ghi lại đi,” bà Rosenblom bảo cô thư ký bằng một giọng lạnh như băng. “Vâng, cô cứ việc ghi ạ,” Pippi nói. “Cô cũng ghi luôn lại là cho đỉa bu lên người là điều rất tốt. Rồi uống một chút dầu hoả hâm n... |
Sẽ giải nhiệt!” Bà Rosenblom lắc đầu. “Tại sao ngựa lại có những chiếc răng hàm xẻ rãnh?” Bà hỏi. “Dạ, bà có chắc là nó có không ạ?” Pippi hỏi lại vẻ nghĩ ngợi. “Hơn nữa bà có thể tự hỏi con ngựa. Nó đang đứng đằng kia kìa.” Pippi vừa nói vừa chỉ vào con ngựa mà nó đã buộc vào một gốc cây và cười thích thú. “May làm sa... |
Nếu không bà sẽ chẳng bao giờ biết được tại sao nó lại có những chiếc răng hàm xẻ rãnh. Vì, thật thà mà nói, cháu không hề biết tại sao. Mà cháu cũng chẳng hỏi điều đó.” Lúc này miệng bà Rosenblom chỉ còn là một đường chỉ mỏng dính. “Thật quá đáng, quá đáng lắm!” Bà lẩm bẩm. |
“Vâng, cháu cũng thấy thế,” Pippi hài lòng nói. “Nếu cháu cứ tiếp tục giỏi giang thế này, chắc cháu sẽ không rời khỏi đây mà không phải cắp theo một đôi quần len màu hồng.” “Các cô hãy ghi lại,” bà Rosenblom bảo hai cô thư ký. |
“Đừng, việc này đâu có quan trọng đến thế,” Pippi nói. |
“Thật tình cháu cũng không thích quần len màu hồng cho lắm. Ý cháu không phải thế. |
Nhưng các cô có thể ghi vào sổ là cháu đáng được nhận một túi kẹo to. |
“Ta muốn hỏi cháu câu cuối cùng,” bà Rosenblom nói, giọng bà kìm nén nghe là lạ. “Vâng, bà cứ hỏi,” Pippi đáp. “Cháu thích trò chơi vấn đáp này.” “Cháu trả lời được câu hỏi này chăng?” Bà Rosenblom hỏi. |
“Peter và Paul phải chia nhau một chiếc bánh gatô. Nếu Peter nhận được một phần tư chiếc bánh, thì Paul nhận được gì?” “Những cơn đau bụng ạ,” Pippi đáp. |
Nó quay sang các cô thư ký. |
“Các cô hãy ghi lại là Paul sẽ nhận được những cơn đau bụng.” Nhưng lúc này bà Rosenblom đã hết chịu nổi Pippi. |
“Cháu là đứa trẻ dốt nát nhất và hư đốn nhất mà ta từng gặp. Hãy đứng ngay vào hàng đằng kia và tự xấu hổ đi.” Pippi ngoan ngoãn bước đi, nhưng nó bực tức lẩm bẩm: “Bất công! Trong khi mình trả lời được từng câu hỏi một!” Đi được vài bước, nó chợt nhớ ra điều gì, bèn dùng khuỷu tay rẽ đám trẻ con phăm phăm quay lại chỗ... |
Thân), 13 tháng 1 năm 1968. |
Những ngày tiếp theo các vụ đánh bom này, người Israel đã thông báo cho CIA một danh sách 13 người mà họ cáo giác là đã chuẩn bị những chiếc xe tải cảm tử. Danh sách này bao gồm các nhân viên của Tình báo Syrie, Iran ở Damas và nhân vật Chiite Mohammad Fadllah Hussein. |
Tại Tổng hành dinh của Mossad, người ta đã trút hơi thở nhẹ nhõm, trong khi biết rằng binh lính Israel không phải là mục tiêu bị nhòm ngó. Điều đó được xem như một vụ tai nạn nhỏ mà Mossad không có liên quan. Mệt giải thích chính thức khắng định là chúng ta đã phát hiện một cách tình cờ một tin tầm thường mà chúng ta đ... |
Tình cảm chung đối với người Mỹ là như sau: “A ha, họ muốn chõ mũi của họ vào trong đó, vậy thì việc đó sẽ dạy cho họ bài học!” . |
Đối với tôi, việc này là một dịp chịu đựng những lỗi quở trách đầu tiên của thượng cấp tôi ở Mossad, viên sĩ quan liên lạc Amy Yaar. Vì tôi đã khẳng định rằng chúng tôi có lẽ có thấy cái chết của binh lính Mỹ trong thâm tâm, bởi vì, sau hết họ đến đây chỉ để giúp đỡ chúng tôi thoát ra khỏi tình thế lúng túng, rắc rối m... |
Amy vặn lại tôi: — Anh câm ngay, anh không biết anh nói cái gì ư? |
Chúng ta đã cho người Mỹ nhiều hơn cái họ đem lại cho ta. |
Điều đó là sai. |
Một phần lớn các trang thiết bị quân sự của Israel đã được chế tạo ở Mỹ và Mossad còn mang nợ họ rất nhiều. |
Trong cùng thời kỳ này, nhiều người phương Tây đã bị các phe phái khác nhau bắt giữ làm con tin. |
Cuối tháng 3 năm 1984, viên chỉ huy ăng ten của CIA, William Buckley, giữ cương vị tham tán chính trị tại Đại sứ quán Mỹ đã bị 3 lính Chiite bắt đi, khi ông ta vừa rời khỏi chỗ ở tại Tây Beyrouth. William Buckley bị bắt giữ làm tù nhân trong 18 tháng, bị tra tấn một cách man rợ và bị giết chết một cách tàn bạo. |
Ông ta lẽ ra có thể được cứu sống. |
Nhờ vào mạng lưới thông tin của mình Mossad có một ý niệm khá chính xác những nơi mà con tin bị tạm giam giữ, và biết rõ kẻ bắt họ, thậm chí nếu những chỗ giấu bí mật còn chưa được biết thì việc quan trọng là biết ai đã cầm giữ ai, để không bị dẫn tới việc thương lượng với các phe khác, trong khi các phe này không bắt ... |
— Con tin của ngài là người nước nào? |
- Người trợ lý hỏi? |
— Hãy kiếm cho tôi một nước nào mà họ muốn tìm con tin. |
Những con người có cương vị cao như William Buckley, có một tầm quan trọng không thể đánh giá hết đối với các thông tin mà họ nắm giữ. |
Nhỡ họ nói ra, họ sẽ đặt mạng sống của nhiều điệp viên vào mối nguy hiểm. |
Tổ chức Hồi giáo Jihad đã nhận lấy trách nhiệm bắt Buckley. Với mong muốn cứu lấy Bukley, Giám đốc CIA, William Casey đã nhanh chóng gửi tới Beyrouth một đội chuyên gia của FBI, đã được huấn luyện về khu vực bắt cóc, nhưng sau một tháng, họ đã không tìm kiếm được gì. Chính sách chính của Hoa Kỳ là cấm mọi hình thức buô... |
CIA đã sớm nhờ đến sự giúp đỡ của Mossad. CIA đã giao phó cho điệp viên phụ trách quan hệ ở Tel Aviv cố gắng có được mọi thông tin từ Mossad đang nắm giữ về Buckley cũng như những con tin khác. |
Lúc 11 giờ 30 của một buổi sáng, người ta đã yêu cầu mọi người trong Tổng hành dinh di chuyển khỏi tầng nhà chính và ra khỏi cầu thang trong vòng một giờ, bởi vì các vị khách yêu cầu. |
Hai đại diện chính thức của CIA đã được cảnh vệ dẫn tới. |
Văn phòng Admony nằm trên tầng 9. |
Viên chỉ huy Mossad bảo đảm với họ rằng ông ta sẽ chuyển giao cho họ những gì mà ông ta biết với điều kiện họ phải gửi yêu cầu tới Thủ tướng dưới chiêu bài (cái cớ) là chính quyết định được đưa ra ở đó. Trên thực tế Admony muốn rằng bản yêu cầu phải đúng thể thức và hình thức để có trường hợp xảy ra, người Mỹ sẽ làm vi... |
Về mặt chính trị, đó là xuất phát từ tính năng động. |
Chính quyền Reagan đã ghi lại trong ký ức của mình những lỗi lầm không có thể nào sửa chữa được và một sự trừng phạt nhục nhã đối với Jimmy Carter về các con tin bị cầm giữ ở Iran sau khi Shah sụp đổ. |
Admony cam đoan với Perés rằng ông ta sẽ làm hết sức mình để giúp đỡ những người Mỹ. — Tôi hi vọng khả dĩ - Admony khẳng định. |
Chúng tôi đang nắm giữ những thông tin có ích đối với họ. |
Trên thực tế Admony chả có ý định nào để giúp đỡ họ. |
Hai sĩ quan CIA được triệu tới Midrasha (Viện Hàn lâm) để gặp những người Saifanin (hay còn gọi là những con cá đỏ), là các chuyên viên về PLO. |
PLO lại được xem là kẻ thù tồi tệ nhất. |
Mossad có khuynh hướng cho rằng phàm những ai đã mất uy tín của Palestine đều có thể lôi kéo, mua chuộc. Vì thế những Saifanin (những con cá đỏ) gợi ý rằng những kẻ đi bắt cóc là các thành viên của PLO, lúc đó thậm chí phần lớn con tin trong đó gồm cả Buckley, không hề có một mối liên hệ nào đối với Liên đoàn Palestine... |
Về bề ngoài, những người Saifanin cho đóng lên tường các bản đồ và tìm cách làm thỏa mãn người Mỹ về các dữ liệu địa lý trên khu vực được xác định coi như có con tin. Mặc dù, người ta thuyên chuyển một cách đáng kể các con tin, Mossad đã có một ý nghĩ tương đối khả dĩ đối với những địa điểm giam giữ. Mossad giấu đi nhi... |
Một sự mua bán ngấm ngầm bằng tiền bạc. |
Tôi đưa ra cho anh nhưng anh nợ lại tôi. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.