Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
Vietnamese
stringlengths
7
437
Jarai
stringlengths
6
590
Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất.
Blŭng hlâo, Ơi Adai hrih pơjing adai laih anŭn lŏn tơnah.
Đất không có hình dạng và trống không, bóng tối bao trùm mặt vực, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
Lŏn tơnah ƀu hmâo rup hơbŏ laih anŭn hông hang, tơlơi mơmŏt gom ƀơi hlŭng dlam, laih anŭn Yang Bơngăt Ơi Adai mă bruă ƀơi ngŏ jơlah ia.
Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng,” thì có ánh sáng.
Ơi Adai laĭ: “Brơi hmâo tơlơi bơngač”; tui anŭn hmâo tơlơi bơngač mơtam.
Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt đẹp. Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối.
Ơi adai ƀuh tơlơi bơngač anŭn jing hiam. Ơi Adai pơkah tơlơi bơngač mơ̆ng tơlơi mơmŏt.
Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là “ngày,” và bóng tối là “đêm.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ nhất.
Ơi Adai pơanăn tơlơi bơngač jing “hrơi,” laih anŭn Ñu pơanăn tơlơi mơmŏt jing “mlam”. Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal sa.
Đức Chúa Trời lại phán: “Phải có một cái vòm giữa khối nước để phân cách nước với nước.”
Ơi Adai laĭ dơ̆ng: “Brơi hmâo anih rơhông ƀơi tơ̆ng krah khul ia, kiăng pơklah hĭ ia hăng ia.”
Đức Chúa Trời làm nên vòm trời và phân cách nước ở dưới vòm với nước ở trên vòm, thì có như vậy.
Ơi Adai pơjing rai anih rơhông laih anŭn pơklah ia gah yŭ kơ anih rơhông hăng ia gah ngŏ kơ anih rơhông, hmâo tơlơi anŭn mơtam.
Đức Chúa Trời gọi cái vòm là “bầu trời.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ hai.
Ơi Adai iâu anih rơhông jing “adai.” Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal dua.
Đức Chúa Trời phán: “Nước dưới bầu trời phải tụ lại một nơi và phải có chỗ khô cạn xuất hiện,” thì có như vậy.
Ơi Adai laĭ: “Brơi ia dŏ gah yŭ kơ adai khŏm pơƀŭt glaĭ amăng sa anih laih anŭn brơi anih thu pơrơđah tơbiă,” hmâo tui anŭn mơtam.
Đức Chúa Trời gọi chỗ khô cạn là “đất,” còn khối nước tụ lại là “biển.” Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Ơi Adai pơanăn anih thu jing “lŏn tơnah”, laih anŭn Ñu pơanăn anih ia pơƀŭt glaĭ jing “ia rơsĭ.” Ơi Adai ƀuh tơlơi anŭn jing hiam.
Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh cây cỏ: cỏ kết hạt giống, cây trên đất tùy theo loại mà ra trái và kết hạt,” thì có như vậy.
Ơi Adai laĭ: “Brơi lŏn khŏm čăt đĭ kơyâo pơtâo: rơ̆k hmâo pơjeh, phŭn kơyâo mơboh hmâo pơjeh tui hăng djuai gơñu ƀơi lŏn tơnah,” hmâo tui anŭn mơtam.
Đất sinh cây cỏ: cỏ kết hạt tùy theo loại, cây ra trái và trong trái có hạt, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Lŏn čăt đĭ kơyâo pơtâo: rơ̆k hmâo pơjeh tui hăng djuai ñu, kơyâo hmâo boh laih anŭn amăng lăm boh ñu hmâo pơjeh tui hăng djuai ñu. Ơi Adai ƀuh tơlơi anŭn jing hiam.
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ ba.
Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal klâo.
Đức Chúa Trời phán: “Phải có các vì sáng trên vòm trời để phân biệt ngày với đêm, để làm dấu hiệu xác định các mùa, ngày và năm
Ơi Adai laĭ: “Brơi hmâo khul boh bơngač amăng anih rơhông pơ adai, kiăng pơklah hrơi hăng mlam, kiăng ngă gru kơnăl khul bơyan, hrơi laih anŭn thŭn
và để làm các vì sáng trên vòm trời soi sáng quả đất,” thì có như vậy.
laih anŭn kiăng ngă khul boh bơngač amăng anih rơhông adai pơčrang rơđah lŏn tơnah,” hmâo tui anŭn mơtam.
Đức Chúa Trời tạo nên hai vì sáng lớn: vì sáng lớn hơn để cai quản ban ngày, vì sáng nhỏ hơn để cai quản ban đêm. Ngài cũng tạo nên các ngôi sao.
Ơi Adai pơjing dua boh tơlơi bơngač prŏng: Boh tơlơi bơngač prŏng hloh či wai lăng hlăk tơhrơi, boh tơlơi bơngač anĕt ƀiă či wai lăng hlăk mlam. Ñu ăt pơjing rai khul pơtŭ mơ̆n.
Đức Chúa Trời đặt các vì sáng đó trên vòm trời để soi sáng quả đất
Ơi Adai dưm khul boh tơlơi bơngač anŭn ƀơi anih rơhông adai kiăng kơ gơñu pơčrang lŏn tơnah
cai quản ban ngày và ban đêm, và phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
wai lăng hlăk tơhrơi laih anŭn hlăk mlam, laih anŭn pơkah tơlơi bơngač mơ̆ng tơlơi mơmŏt. Ơi Adai ƀuh tơlơi anŭn jing hiam.
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ tư.
Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal pă.
Đức Chúa Trời phán: “Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.”
Ơi Adai laĭ: “Brơi ia khŏm pơbŏ hăng lu djuai hlô mơnơ̆ng hơdip, laih anŭn brơi hmâo khul djuai čĭm pơr ƀơi ngŏ rŏng lŏn tơnah gah yŭ kơ anih rơhông adai.”
Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mọi loài động vật thủy sinh, tùy theo loại mà sinh sôi nẩy nở trong nước, và mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Ơi Adai pơjing khul akan prŏng krin, lu djuai hlô mơnơ̆ng hơdip amăng ia, gơñu či čeh lar amăng ia tui hluai hăng djuai gơñu, laih anŭn lu khul čĭm hmâo čăng tui hluai hăng djuai gơñu. Ơi Adai ƀuh tơlơi anŭn jing hiam.
Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.”
Ơi Adai tuh tơlơi mơyun hiam brơi kơ rĭm djuai anŭn laih anŭn laĭ: “Brơi tơkeng, čeh lar lu hloh dơ̆ng, ngă pơbŏ hĭ ia rơsĭ; bơ kơ khul čĭm brơi đĭ tui lu jai ƀơi lŏn tơnah.”
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm.
Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal rơma.
Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh các động vật tùy theo loại: gia súc, các loài bò sát và thú rừng tùy theo loại,” thì có như vậy.
Ơi Adai laĭ: “Brơi lŏn tơnah hmâo mơnơ̆ng hơdip tui hăng djuai gơñu: hlô mơnơ̆ng rong, mơnơ̆ng hro rui laih anŭn hlô glai tui hluai hăng djuai gơñu,” hmâo tui anŭn mơtam.
Đức Chúa Trời tạo nên các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, và mọi loài bò sát trên đất tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Ơi Adai hrih pơjing khul hlô glai tui hluai djuai, hlô mơnơ̆ng rong tui hluai djuai, laih anŭn abih hlô hro rui tui hluai djuai. Ơi Adai ƀuh tơlơi anŭn jing hiam.
Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.”
Ơi Adai laĭ: “Brơi Ƀing Ta hrih pơjing ană mơnuih tui hăng rup Ƀing Ta laih anŭn hrup hăng Ƀing Ta, kiăng kơ wai lăng khul akan amăng ia rơsĭ, khul čĭm amăng adai, khul hlô mơnơ̆ng rong, laih anŭn djŏp djang lŏn tơnah, hăng abih bang hlô hro rui ƀơi lŏn tơnah.”
Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ.
Ơi Adai hrih pơjing ană mơnuih tui hăng rup Ñu Pô. Ñu hrih pơjing ană mơnuih tui hăng rup Ơi Adai. Ñu hrih pơjing đah rơkơi hăng đah kơmơi.
Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi loài bò sát trên mặt đất.”
Ơi Adai brơi tơlơi mơyun hiam kơ ană mơnuih laih anŭn laĭ: “Brơi ƀing gih hmâo lu ană, đĭ tui lu hloh dơ̆ng laih anŭn ngă brơi bă blai lŏn tơnah; brơi ngă kơ lŏn tơnah khŏm đup gưt, brơi gih wai lăng akan amăng ia rơsĭ, khul čĭm amăng adai laih anŭn abih khul mơnơ̆ng hơdip ƀơi lŏn tơnah.”
Đức Chúa Trời lại phán: “Nầy, Ta sẽ ban cho các con mọi thứ cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, cùng mọi loài cây ra trái có hạt. Đó sẽ là thức ăn cho các con.
Ơi Adai laĭ dơ̆ng: “Anai nê, Kâo či brơi kơ ƀing gih djŏp mơta rơ̆k hmâo pơjeh čăt djŏp djang lŏn tơnah, hăng abih bang phŭn kơyâo mơboh hmâo pơjeh. Anŭn či jing mơnơ̆ng ƀơ̆ng huă ƀing gih.
Còn các loài thú rừng, loài chim trên trời, loài vật bò sát trên mặt đất, và bất cứ loài nào có sự sống thì Ta ban mọi thứ cỏ xanh dùng làm thức ăn,” thì có như vậy.
Bơ kơ khul hlô glai, khul čĭm amăng adai, khul hlô hro rui ƀơi lŏn tơnah, laih anŭn abih bang mơnơ̆ng hơgĕt hmâo tơlơi hơdip, Kâo či brơi djŏp mơta rơ̆k mơtah ngă mơnơ̆ng brơi kơ ƀing gơñu ƀơ̆ng,” hmâo tui anŭn mơtam.
Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng; kìa, thật rất tốt đẹp! Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ sáu.
Ơi Adai ƀuh abih bang bruă Ñu hmâo hrih pơjing sĭt hiam biă mă. Tui anŭn, hmâo mlam laih anŭn hmâo mơguah. Anŭn jing hrơi tal năm.
Như vậy, trời đất và muôn vật đã được sáng tạo xong.
Tui anŭn, adai lŏn laih anŭn abih bang mơnơ̆ng hmâo pơjing rai giơ̆ng laih.
Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc.
Hrơi tal tơjuh, Ơi Adai pơgiơ̆ng hĭ abih bang bruă Ñu hmâo ngă laih. Yua kơ anŭn, amăng hrơi tơjuh Ñu pơdơi. Ñu hmâo ngă giơ̆ng laih abih bang bruă.
Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó, vì vào ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo.
Ơi Adai brơi tơlơi mơyun hiam kơ hrơi tal tơjuh laih anŭn pơrơgoh hĭ hrơi anŭn, yua kơ amăng hrơi anŭn Ơi Adai pơdơi giơ̆ng kơ Ñu hmâo ngă pơgiơ̆ng laih abih bruă hrih pơjing.
Đó là gốc tích sáng tạo trời và đất. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm nên trời và đất
Anŭn jing phŭn atur kơ tơlơi hrih pơjing adai hăng lŏn tơnah. Tơ Yêhôwa Ơi Adai pơjing rai adai laih anŭn lŏn tơnah
thì trên đất chưa có bụi cây nào mọc ngoài đồng và cũng chưa có ngọn cỏ nào mọc trong ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất, và cũng chưa có người cày xới đất đai.
aka hmâo pum kơyâo hơgĕt čăt ƀơi lŏn tơnah ôh, kŏn hmâo lơi ania rơ̆k čăt đĭ amăng đang hmua, yua kơ Yêhôwa Ơi Adai aka brơi hơjan trŭn pơ lŏn tơnah ôh, laih anŭn ăt aka hmâo mơ̆n mơnuih čuar lŏn.
Nhưng có hơi nước từ dưới đất bốc lên, tưới khắp mặt đất.
Samơ̆ hmâo ayuh ia mơ̆ng gah yŭ kơ lŏn bluh đĭ, pruih djŏp djang lŏn tơnah.
Bấy giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một sinh linh.
Hlăk anŭn, Yêhôwa Ơi Adai mă ƀruih lŏn man hĭ rup mơnuih, bluh ayuh mŭt ƀơi drŏng adŭng, tui anŭn ană mơnuih jing hĭ sa mơnơ̆ng hơdip yơh.
Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một khu vườn tại Ê-đen, ở hướng đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.
Giơ̆ng anŭn, Yêhôwa Ơi Adai pơjing sa boh war ƀơi Êđen, pơ gah ngŏ, laih anŭn pioh mơnuih Ñu phrâo hrih pơjing rai anŭn amăng war anŭn.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có cây sự sống và cây biết điều thiện, điều ác.
Yêhôwa Ơi Adai ngă brơi lŏn tơnah čăt đĭ khul phŭn kơyâo lăng hiam laih anŭn ƀơ̆ng jơman. Tơ̆ng krah war anŭn hmâo kơyâo tơlơi hơdip laih anŭn phŭn kơyâo thâo krăn tơlơi hiam, tơlơi sat.
Một dòng sông từ Ê-đen chảy ra để tưới vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh.
Hmâo sa roh ia krong ro mơ̆ng Êđen kiăng tuh pơsah war, laih anŭn mơ̆ng anŭn ñu pơpha hĭ jing pă roh ia krong.
Nhánh thứ nhất là Bi-sôn, nhánh nầy chảy quanh vùng đất Ha-vi-la, là nơi có vàng.
Ia krong tal sa jing Pisôn, hnoh anai ro jum dar čar Hawila, jing anih hmâo mah.
Vàng ở vùng nầy rất tốt; ở đó còn có nhũ hương và bích ngọc.
Mah amăng čar anai hiam biă mă; pơ anŭn ăt dŏ hmâo dơ̆ng mơ̆n ia ƀâu mơngưi laih anŭn boh pơtâo ônik.
Nhánh sông thứ nhì tên là Ghi-hôn, chảy quanh vùng đất Cút.
Ia krong tal dua anăn ñu jing Gihôn, ro jum dar čar Kus.
Nhánh sông thứ ba tên là Ti-gơ-rít, chảy về phía đông lãnh thổ A-si-ri. Còn nhánh sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.
Ia krong tal klâo anăn ñu jing Tigris; ro trŭn pơ gah yŭ čar Asiri. Ia krong tal pă jing Ơphrat.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn.
Yêhôwa Ơi Adai pioh ană mơnuih amăng war Êđen kiăng kơ gơñu pla laih anŭn wai lăng war anŭn.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn
Yêhôwa Ơi Adai pơtă kơ ană mơnuih tui anai: “Ih dưi ƀơ̆ng djŏp mơta boh kơyâo amăng đang
nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”
samơ̆ kơ boh kơyâo thâo krăn tơlơi hiam tơlơi sat, ih ƀu dưi ƀơ̆ng ôh, yua kơ hrơi pă ih ƀơ̆ng boh kơyâo anŭn, sĭt biă mă ih či djai yơh.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp với nó.”
Yêhôwa Ơi Adai laĭ: “Ană mơnuih dŏ hơjăn păn ƀu hiam ôh. Kâo či pơjing sa čô pô djru lăp djơ̆ kơ ñu.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên mọi loài thú đồng và chim trời, rồi đưa đến trước mặt con người để xem con người đặt tên chúng là gì, và bất cứ tên nào con người đặt cho mỗi sinh vật đều thành tên riêng của nó.
Yêhôwa Ơi Adai mă lŏn man hĭ abih bang hlô mơnơ̆ng amăng hmua laih anŭn čĭm amăng adai, laih anŭn ba rai ƀơi anăp ană mơnuih kiăng lăng lăng ană mơnuih pơanăn gơñu jing hơgĕt, laih anŭn rĭm anăn ană mơnuih hmâo pơanăn laih brơi kơ rĭm hlô hơdip leng kơ jing hĭ anăn gơñu pô soh sel.
A-đam đặt tên cho mọi loài gia súc và chim trời cùng mọi loài thú rừng; nhưng phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ thích hợp với mình.
Ađam pơanăn brơi kơ abih hlô mơnơ̆ng rong laih anŭn čĭm amăng adai hăng abih bang hlô glai; gah kơ Ađam, ñu ƀuh ƀu hmâo hlơi djru lăp djơ̆ kơ ñu ôh.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến cho A-đam ngủ mê, và lấy đi một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào.
Yêhôwa Ơi Adai ngă brơi Ađam pĭt wơr, laih anŭn mă hĭ sa ƀĕ klang sŭ, giơ̆ng anŭn pơbŏ hĭ ñu hăng asar.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng chiếc xương sườn đã lấy từ A-đam dựng nên một người nữ và đưa đến cho A-đam.
Yêhôwa Ơi Adai mă klang sŭ Ñu hmâo mă laih mơ̆ng Ađam pơjing rai sa čô đah kơmơi laih anŭn ba rai pơ Ađam.
A-đam nói: “Bây giờ mới có người nầy, Là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ, Vì từ người nam mà có.”
Ađam laĭ: “Ră anai hmâo laih mơnuih anai, Klang mơ̆ng klang kâo, asar mơ̆ng asar kâo. Arăng či iâu ñu jing đah kơmơi, Yua kơ ñu dưi hmâo rai yua mơ̆ng đah rơkơi.”
Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt.
Yua kơ anŭn yơh, đah rơkơi či čơlah hĭ mơ̆ng amĭ ama ñu laih anŭn dŏ klep hĭ hăng bơnai ñu, laih anŭn dua gơñu jing hĭ sa asar.
A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không thấy ngượng ngùng.
Ađam hăng bơnai ñu, abih dua gơñu leng kơ dŏ mơhlŭn samơ̆ ƀu hmâo tơlơi mlâo hañ ôh.
Trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã tạo nên, rắn là loài quỷ quyệt hơn cả. Rắn nói với người nữ: “Có thật Đức Chúa Trời đã dặn các người không được ăn trái các cây trong vườn sao?”
Amăng abih bang khul hlô mơnơ̆ng Yêhôwa Ơi Adai hmâo hrih pơjing laih, ala jing hlô mơnơ̆ng mơneč hloh kơ abih bang. Ala laĭ kơ đah kơmơi: “Djơ̆ mơ̆ Ơi Adai hmâo pơtă laih kơ ƀing gih ƀu dưi ƀơ̆ng khul boh kơyâo amăng đang ôh hă?”
Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi được ăn trái của các cây trong vườn
Đah kơmơi laĭ glaĭ kơ ala: “Gơmơi dưi ƀơ̆ng boh mơ̆ng abih bang phŭn kơyâo amăng war
nhưng về trái của cây trồng giữa vườn, Đức Chúa Trời đã phán: ‘Các con không được ăn, cũng đừng đụng chạm đến trái cây ấy, kẻo các con sẽ chết’”.
samơ̆ boh kơ phŭn kơyâo pla tơ̆ng krah war, Ơi Adai hmâo laĭ laih: ‘Ƀing gih ƀu dưi ƀơ̆ng ôh, ăt kŏn dưi ruaih djơ̆ boh kơyâo anŭn mơ̆n, hwĭ dah ƀing gih či djai’ ”.
Con rắn nói với người nữ: “Các người chắc chắn không chết đâu!
Ala laĭ kơ đah kơmơi: “Huaĭ ôh, sĭt ƀing gih ƀu djai ôh!
Vì Đức Chúa Trời biết rằng khi nào các người ăn trái cây đó thì mắt mở ra, và các người sẽ giống Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”
Yua kơ Ơi Adai thâo klă hơbin pă ƀing gih ƀơ̆ng boh kơyâo anŭn, mơta ƀing gih či pŏk, laih anŭn ƀing gih či jing kar hăng Ơi Adai, thâo krăn tơlơi hiam laih anŭn tơlơi sat.”
Khi người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì làm cho mình khôn ngoan, thì hái và ăn, rồi trao cho chồng đang đứng bên cạnh; chồng cũng ăn nữa.
Tơ đah kơmơi ƀuh boh phŭn kơyâo anŭn rŏ dah ƀơ̆ng jơman, lăng hiam mơta laih anŭn yom yua kơ ngă brơi ñu jing rơgơi kơhnâo, tui anŭn ñu pĕ laih anŭn ƀơ̆ng, giơ̆ng anŭn ñu brơi kơ rơkơi ñu hlăk dŏ giăm ñu; rơkơi ñu ăt ƀơ̆ng mơ̆n.
Bấy giờ mắt cả hai người đều mở ra và nhận biết mình trần truồng. Họ kết lá cây vả làm khố che thân.
Hlăk anŭn mơta dua gơñu leng kơ pŏk hĭ laih anŭn gơñu thâo krăn gơñu dŏ mơhlŭn. Gơñu sĭt hla kơyâo hra ngă mơnơ̆ng gom drơi jan gơñu.
Khi nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi trong vườn lúc chiều mát, A-đam và vợ ẩn mình giữa các lùm cây trong vườn để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Tơ gơñu hmư̆ dơnai Yêhôwa Ơi Adai rơbat amăng war hlăk klam rơơ̆, Ađam hăng bơnai ñu đuaĭ kơdŏp mơ̆ng ƀô̆ mơta Yêhôwa Ơi Adai amăng pum kơyâo amăng đang.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam và hỏi: “Con ở đâu?”
Yêhôwa Ơi Adai iâu Ađam laih anŭn tơña kơ ñu: “Pơpă ih?”
A-đam thưa: “Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ nên đi trốn, vì con trần truồng.”
Ađam laĭ glaĭ: “Hmư̆ dơnai Ih amăng war, kâo hwĭ hnŭn yơh kâo đuaĭ kơdŏp hĭ, yua kơ kâo dŏ mơhlŭn.”
Đức Chúa Trời hỏi: “Ai đã chỉ cho con biết mình trần truồng? Có phải con đã ăn trái cây mà Ta ra lệnh cấm ăn đó không?”
Ơi Adai tơña: “Hlơi laĭ brơi ih thâo ih dŏ mơhlŭn? Djơ̆ mơ̆ ih hmâo ƀơ̆ng laih boh kơyâo Kâo hmâo khă găn ƀu brơi ƀơ̆ng anŭn?”
A-đam thưa: “Người nữ mà Chúa đặt bên con đã cho con trái cây đó và con đã ăn rồi.”
Ađam laĭ glaĭ: “Đah kơmơi, pô Ih hmâo pioh jĕ kâo hmâo brơi laih kâo boh kơyâo anŭn laih anŭn kâo hmâo ƀơ̆ng laih.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời hỏi người nữ: “Con đã làm gì vậy?” Người nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối con và con đã ăn rồi.”
Yêhôwa Ơi Adai tơña kơ đah kơmơi: “Hơgĕt ih hmâo ngă laih?” Đah kơmơi laĭ glaĭ: “Ala hmâo pleč ƀlor kâo laih anŭn kâo hmâo ƀơ̆ng laih.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời quở trách con rắn: “Vì mầy đã làm điều đó Nên trong tất cả các loài gia súc và thú đồng, Chỉ có mầy bị nguyền rủa; Mầy sẽ bò bằng bụng Và ăn bụi đất trọn đời.
Yêhôwa Ơi Adai ƀuah kơ ala: “Yua kơ ŏng hmâo ngă laih tơlơi anŭn Hnŭn yơh amăng abih bang hlô mơnơ̆ng rong laih anŭn hlô glai, Kơnơ̆ng ŏng đôč mă tŭ tơlơi hơtơ̆m pah; Ŏng či rui hăng hlŭng Laih anŭn ƀơ̆ng ƀruih lŏn amăng abih hrơi ŏng hơdip.
Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, Dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, Còn mầy sẽ cắn gót chân người.”
Kâo či ngă brơi ŏng hăng đah kơmơi, Kơnŭng djuai ŏng hăng kơnŭng djuai đah kơmơi či pơkơdơ̆ng hăng tơdruă. Ñu či juă akŏ ŏng, Ŏng či čoh hĭ kơđôl ñu.”
Ngài phán với người nữ: “Ta sẽ gia tăng nhiều nỗi nhọc nhằn khi con mang thai, Và thêm nhiều đau đớn mỗi khi con sinh đẻ. Tuy nhiên, con vẫn ước muốn sống bên chồng, Và chồng sẽ cai trị con.”
Ñu laĭ kơ pô đah kơmơi: “Kâo či brơi kơ ih lu tơlơi gleh tơnap hloh dơ̆ng tơdang ih pi kian, Laih anŭn thim lu tơlơi ruă nuă rĭm wơ̆t ih tơkeng. Wơ̆t dah tui anŭn, ih ăt dŏ kiăng hơdip hăng rơkơi ih, Laih anŭn rơkơi ih či jing khua ih.”
Ngài phán với A-đam: “Vì con đã nghe theo lời vợ, Ăn trái cây mà Ta đã ra lệnh cấm ăn, Nên đất đai sẽ vì con mà bị nguyền rủa; Con phải khổ nhọc suốt đời mới có miếng ăn từ đất sinh ra.
Ñu laĭ hăng Ađam: “Yua kơ ih hmâo gưt laih hiăp bơnai ih, Hmâo ƀơ̆ng laih boh kơyâo Kâo ƀu brơi ƀơ̆ng, Yua kơ anŭn yơh lŏn tơnah či tŭ tơlơi hơtơ̆m pah yua kơ ih; Ih khŏm tŭ tơlơi tơnap tap amăng abih hrơi ih dŏ hơdip kiăng kơ ih dưi hmâo mơnơ̆ng ƀơ̆ng huă tơbiă rai mơ̆ng lŏn tơnah.
Đất sẽ sinh gai góc và cây tật lê, Và con sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng ruộng.
Lŏn či čăt kơyâo drơi laih anŭn hrĕ drơi, Laih anŭn ih či ƀơ̆ng añăm rơ̆k amăng hmua.
Con phải làm đổ mồ hôi trán Mới có miếng ăn Cho đến ngày con trở về đất, Là nơi con từ đó mà ra. Vì con là cát bụi, Con sẽ trở về với cát bụi.”
Ih khŏm mă bruă tuh ia hô̆ ƀơi athơi Kiăng kơ dưi hmâo mơnơ̆ng ƀơ̆ng huă Tơl truh hrơi ih wơ̆t glaĭ pơ lŏn, Jing anih ih hmâo tơbiă rai. Yua kơ ih jing ƀruih lŏn, Ih či wơ̆t glaĭ hăng ƀruih lŏn.”
A-đam gọi vợ là Ê-va vì bà là mẹ của cả loài người.
Ađam pơanăn bơnai ñu jing Êwa yua kơ ñu jing amĭ kơ abih bang mơnuih.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành chiếc áo dài cho vợ chồng A-đam rồi mặc vào cho họ.
Yêhôwa Ơi Adai mă klĭ hlô mơnơ̆ng ngă jing ao phyung brơi kơ Ađam hăng bơnai ñu, laih anŭn Ñu buh brơi gơñu.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời nghĩ: “Nầy, loài người đã trở nên một bậc như Chúng Ta, biết phân biệt điều thiện và điều ác. Vậy bây giờ hãy coi chừng, kẻo loài người đưa tay hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng.”
Yêhôwa Ơi Adai laĭ: “Anai nê, ană mơnuih jing laih kar hăng Ƀing Ta, thâo krăn tơlơi hiam laih anŭn tơlơi sat. Tui anŭn ră anai brơi răng bĕ, hwĭ dah ană mơnuih či yơr tơngan pĕ boh kơyâo tơlơi hơdip hăng ƀơ̆ng hĭ laih anŭn dưi dŏ hơdip hlŏng lar.”
Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra.
Yua kơ anŭn, Yêhôwa Ơi Adai puh pơđuaĭ hĭ ană mơnuih mơ̆ng war Êđen kiăng kơ jêk jah lŏn tơnah, jing anih mơ̆ng anŭn yơh ană mơnuih hmâo tơbiă rai.
Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.
Ñu puh pơđuaĭ hĭ ană mơnuih mơ̆ng war. Ƀơi anih gah ngŏ kơ war Êđen, Ñu dưm khul čêrubim djă đao gưm kơmlă, dar wir nanao, kiăng pơgang wai jơlan nao pơ phŭn kơyâo tơlơi hơdip.
A-đam ăn ở với Ê-va, vợ mình. Bà thụ thai và sinh Ca-in. Bà nói: “Nhờ Đức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi đã sinh được một người.”
Ađam dŏ hăng Êwa, bơnai ñu. Ñu pi kian laih anŭn tơkeng rai Kain. Ñu laĭ: “Yua mơ̆ng tơlơi Yêhôwa djru, kâo hmâo tơkeng laih sa čô ană.”
Bà lại sinh A-bên, em Ca-in. A-bên chăn chiên, còn Ca-in làm ruộng.
Ñu tơkeng dơ̆ng mơ̆n Abel, adơi kơ Kain. Abel jing pô wai triu, samơ̆ Kain jing pô mă bruă đang hmua.
Sau một thời gian, Ca-in dùng thổ sản làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
Tơdơi kơ anŭn ƀiă, Kain yua boh troh mơ̆ng đang hmua ñu kiăng pơyơr đĭ kơ Yêhôwa kar hăng sa gơnam pơyơr.
Còn A-bên dâng phần ngon nhất của chiên đầu lòng trong bầy mình. Đức Giê-hô-va đoái đến A-bên và lễ vật của ông
Bơ kơ Abel pơyơr črăn hiam hloh amăng ană triu blŭng hlâo amăng khul triu ñu. Yêhôwa mơak hăng Abel laih anŭn hăng mơnơ̆ng ñu pơyơr
nhưng Ngài không đoái đến Ca-in và lễ vật của ông. Vì thế, Ca-in giận lắm và sa sầm nét mặt.
samơ̆ Ñu ƀu mơak ôh hăng Kain laih anŭn hăng mơnơ̆ng ngă yang Kain pơyơr. Yua kơ anŭn, Kain hil biă mă hăng kơtraŏ ƀô̆ mơta amăng tơlơi hil.
Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “Tại sao con giận? Sao con sa sầm nét mặt?
Yêhôwa tơña Kain: “Yua hơgĕt ih hil? Yua hơgĕt ih kơtraŏ ƀô̆ mơta amăng tơlơi hil?
Nếu con làm điều tốt thì lẽ nào con không được chấp nhận? Còn nếu con không làm điều tốt thì tội lỗi rình rập trước cửa, nó thèm con lắm; nhưng con phải quản trị nó.”
Tơdah ih ngă tơlơi hiam, hyư̆m ngă ih ƀu dưi hmâo tơlơi tŭ ư ôh hă? Samơ̆ tơdah ih ƀu ngă tơlơi hiam, tơlơi soh či dŏ krăp ƀơi bah amăng ih yơh, ñu mơhao ih biă mă; samơ̆ ih khŏm dưi hĭ hăng ñu.”
Ca-in nói chuyện với A-bên, em mình. Khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến A-bên và giết đi.
Kain pơhiăp hăng Abel, adơi ñu. Tơdang dua gơñu hlăk dŏ amăng đang hmua, Kain blŭng nao pơ Abel laih anŭn pơdjai hĭ gơ̆.
Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “A-bên, em con ở đâu?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con sao?”
Yêhôwa tơña kơ Kain: “Abel, adơi ih pơpă lĕ?” Kain laĭ glaĭ: “Kâo ƀu thâo ôh. Kâo jing pô wai adơi kâo hă?”
Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đã làm điều gì vậy? Tiếng của máu em con từ dưới đất đã kêu thấu đến Ta.
Yêhôwa tơña: “Hơgĕt tơlơi ih hmâo ngă laih? Săp pơhiăp kơ drah adơi ih mơ̆ng lŏn tơnah hmâo iâu đĭ truh pơ Kâo.
Bây giờ, con bị nguyền rủa phải rời khỏi mảnh đất nầy, là đất đã hả miệng hút máu em con đổ ra bởi tay con.
Ră anai, tơlơi hơtơ̆m pah truh kơ ih, ih khŏm tơbiă đuaĭ mơ̆ng đang hmua anai, jing lŏn hmâo ha amăng bah hrip mă drah adơi ih hŏk yua mơ̆ng tơngan ih ngă.
Khi con canh tác, đất sẽ chẳng sinh hoa lợi cho con nữa. Con sẽ lẩn trốn và phiêu bạt trên đất.”
Tơdah ih jŭ pla, lŏn ƀu či mơboh rai hơgĕt gĕt kơ ih dơ̆ng tah. Ih či đuaĭ kơdŏp laih anŭn hyu rưng ƀơi lŏn tơnah.”
Ca-in thưa với Đức Giê-hô-va: “Hình phạt nầy quá sức chịu đựng của con.
Kain laĭ hăng Yêhôwa: “Tơlơi pơkơhmal anai jing prŏng hloh kơ tơlơi kâo dưi tŭ.
Nầy, ngày nay Chúa đuổi con ra khỏi đất nầy, con sẽ bị che khuất khỏi mặt Chúa và lẩn trốn, phiêu bạt trên đất; và rồi, có ai đó gặp con, họ sẽ giết con.”
Anai nê, hrơi anai Ih hmâo puh pơđuaĭ kâo mơ̆ng lŏn čar anai, pơdŏp kâo mơ̆ng ƀô̆ mơta Ih laih anŭn kâo đuaĭ kơdŏp, hyu rưng ƀơi lŏn tơnah; laih anŭn hlơi pô bưp kâo, gơñu či pơdjai hĭ kâo.”
Đức Giê-hô-va phán: “Không đâu! Nhưng nếu ai giết Ca-in, người ấy sẽ bị báo thù gấp bảy lần.” Đức Giê-hô-va đánh dấu trên người Ca-in để ai gặp Ca-in thì không giết.
Yêhôwa laĭ: “Huaĭ ôh! Samơ̆ tơdah hlơi pô pơdjai ih, pô anŭn či mă tŭ tơlơi rŭ nua tơjuh wơ̆t lu hloh.” Yêhôwa ngă gru kơnăl ƀơi drơi jan Kain kiăng kơ hlơi pô bưp Kain ƀu pơdjai hĭ ñu ôh.
Ca-in lui ra khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và ở trong đất Nốt, về phía đông của Ê-đen.
Kain đuaĭ hĭ mơ̆ng ƀô̆ mơta Yêhôwa laih anŭn nao dŏ amăng čar Nôt, anih gah ngŏ kơ Êđen.
Ca-in ăn ở với vợ, nàng thụ thai và sinh Hê-nóc. Ca-in xây một cái thành và đặt tên là Hê-nóc, theo tên con trai mình.
Kain dŏ hăng bơnai ñu, bơnai ñu pi kian laih anŭn tơkeng rai Ênok. Kain man pơdơ̆ng sa boh plei laih anŭn pơanăn gơ̆ Ênok, tui hăng anăn ană đah rơkơi ñu.
Hê-nóc sinh Y-rát; Y-rát sinh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sinh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sinh Lê-méc.
Ênok jing ama kơ Irat; Irat jing ama kơ Mêhujaêl, Mêhujaêl jing ama kơ Mêthusaêl; Mêthusaêl jing ama kơ Lamek.
Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.
Lamek dŏ dua čô bơnai; sa čô anăn ñu HʼAda, sa čô anăn ñu HʼSila.
A-đa sinh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân sống trong lều trại và nuôi gia súc.
HʼAda tơkeng kơ Jabal; Jabal jing ơi adon kơ ƀing mơnuih dŏ amăng sang khăn laih anŭn rong hlô mơnơ̆ng.
End of preview. Expand in Data Studio

No dataset card yet

Downloads last month
4