version stringclasses 1 value | data dict |
|---|---|
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác phù hợp với luận án. Việc này yêu cầu người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định, và phải được thực hiện trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35901",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết các nghiên cứu sinh có được phép thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo hay không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết các nghiên cứu sinh có được phép thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo hay không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong chương trình đào tạo tiến sĩ, chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu, cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án. Tiểu luận tổng quan đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết."
}
],
"id": "35902",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo tiến sĩ yêu cầu những gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo tiến sĩ yêu cầu những gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nanĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh bắt buộc phải tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo."
}
],
"id": "35903",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có bắt buộc phải tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn và trợ giảng không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có bắt buộc phải tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn và trợ giảng không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Luận án tiến sĩ chiếm tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo và phải chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực chuyên môn."
}
],
"id": "35904",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết luận án tiến sĩ chiếm bao nhiêu phần trăm thời lượng của chương trình đào tạo và yêu cầu những đóng góp gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết luận án tiến sĩ chiếm bao nhiêu phần trăm thời lượng của chương trình đào tạo và yêu cầu những đóng góp gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ bằng các học phần khác cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh. Thời hạn tối đa để thực hiện đề xuất này là 6 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35905",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết liệu người hướng dẫn có thể quyết định thay đổi các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ không, và nếu có thì thời gian cho phép là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết liệu người hướng dẫn có thể quyết định thay đổi các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ không, và nếu có thì thời gian cho phép là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 16. Cấu trúc của chương trình đào tạo tiến sĩ Phần 1: Các học phần bổ sung (dành cho nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ) Các học phần bổ sung là các học phần giúp nghiên cứu sinh có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ của nghiên cứu sinh; Nghiên cứu sinh chưa có bằng thạc sĩ phải tích lũy tối thiểu 30 tín chỉ các học phần bổ sung bắt buộc và tự chọn. Các học phần bổ sung bao gồm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ tương ứng, trừ học phần ngoại ngữ và luận văn. Phần 2: Các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ với tổng số tối đa 16 tín chỉ. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khả năng ứng dụng các phương pháp nghiên cứu. Các học phần thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ bao gồm những học phần bắt buộc và những học phần tự chọn, trong đó học phần bắt buộc là những học phần cơ bản, liên quan đến những kiến thức cốt lõi/phương pháp nền tảng ở mức độ cao của ngành và chuyên ngành; học phần tự chọn có nội dung chuyên sâu phù hợp với đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh hoặc hỗ trợ rèn luyện các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Nghiên cứu sinh chọn học phần tự chọn phải có ý kiến đồng ý của người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập; Người hướng dẫn chính hoặc người hướng dẫn độc lập có thể đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định thay thế một số học phần trong chương trình đào tạo bằng các học phần khác, cần thiết cho luận án của nghiên cứu sinh trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Phần 3: Các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan và nghiên cứu khoa học với tổng số tối đa 10 tín chỉ, bao gồm: Các chuyên đề tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tự nghiên cứu cập nhật kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; Bài tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án đòi hỏi nghiên cứu sinh thể hiện khả năng phân tích, đánh giá về nội dung, phương pháp, kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết; Nghiên cứu khoa học (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) là yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án. Nghiên cứu sinh phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, tính mới của kết quả nghiên cứu khoa học của mình, chấp hành các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế. Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp. đ) Phần 5: Luận án tiến sĩ (sau đây gọi tắt là luận án) Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, trong đó chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn - có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, các luận điểm và kết quả nghiên cứu cần bảo vệ. Luận án được tính tối thiểu 80% thời lượng của chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo có trách nhiệm tạo điều kiện về cơ sở vật chất để nghiên cứu sinh tiến hành các nghiên cứu cần thiết cho luận án."
}
],
"id": "35906",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc đảm bảo điều kiện cho nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu khoa học cho luận án tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc đảm bảo điều kiện cho nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu khoa học cho luận án tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Phần 4: Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo (không tính số tín chỉ trong chương trình đào tạo) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, công tác trợ giảng và hỗ trợ đào tạo là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu sinh. Đơn vị chuyên môn phải lên lịch sinh hoạt chuyên môn và lịch cho từng nghiên cứu sinh báo cáo, trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/ tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề (seminar) do đơn vị chuyên môn tổ chức trong từng năm học. Nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các seminar khoa học hoặc các hội nghị, hội thảo do đơn vị chuyên môn tổ chức, quy định; Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí cho nghiên cứu sinh trong quá trình làm luận án tham gia các hoạt động sau: Trợ giảng bậc đại học, thạc sĩ hoặc hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hành, thực tập; hoặc hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc tham gia giảng dạy, trợ giảng các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn do đơn vị tổ chức. Tất cả các hoạt động trên phải có xác nhận kèm theo minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị đào tạo phối hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm bố trí nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động trợ giảng (bậc đại học, thạc sĩ), hướng dẫn sinh viên/học viên cao học thực hành, thực tập, hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp hoặc tham gia giảng dạy/trợ giảng các khóa đào tạo ngắn hạn. Các hoạt động này cần có xác nhận và minh chứng của đơn vị đào tạo hoặc đơn vị phối hợp. Ngoài ra, đơn vị chuyên môn có trách nhiệm lên lịch sinh hoạt chuyên môn để nghiên cứu sinh báo cáo và trình bày kết quả hoạt động chuyên môn của mình tại hội thảo/tọa đàm/sinh hoạt chuyên đề do đơn vị tổ chức trong từng năm học."
}
],
"id": "35907",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc bố trí nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động trợ giảng và sinh hoạt chuyên môn?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc bố trí nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động trợ giảng và sinh hoạt chuyên môn?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh phải công bố kết quả nghiên cứu với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định. Đồng thời, các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, và các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm. Cụ thể, nghiên cứu sinh phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus; hoặc có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế (gồm chương sách/sách chuyên khảo do NXB quốc tế có uy tín phát hành, báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, hoặc bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện); hoặc có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế (tương tự như trên)."
}
],
"id": "35908",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu gì về việc công bố kết quả nghiên cứu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu gì về việc công bố kết quả nghiên cứu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đáp ứng chuẩn đầu ra, nghiên cứu sinh cần có các yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng bổ trợ, trách nhiệm công dân, đạo đức nghề nghiệp và khả năng tự chủ trong công việc."
}
],
"id": "35909",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết các kỹ năng và phẩm chất mà nghiên cứu sinh cần có để đáp ứng chuẩn đầu ra là gì?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết các kỹ năng và phẩm chất mà nghiên cứu sinh cần có để đáp ứng chuẩn đầu ra là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh phải có kiến thức chuyên môn và năng lực nghiên cứu."
}
],
"id": "35910",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ có yêu cầu gì về kiến thức chuyên môn và năng lực nghiên cứu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ có yêu cầu gì về kiến thức chuyên môn và năng lực nghiên cứu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ cần được Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chi tiết, định lượng cho từng chương trình. Sau đó, Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp từ các bên liên quan như nhà quản lý, nhà khoa học, giảng viên, cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp và cựu nghiên cứu sinh. Sau khi hoàn thiện dựa trên các ý kiến góp ý, chuẩn đầu ra phải được công bố công khai với xã hội và nghiên cứu sinh, đảm bảo không thấp hơn các yêu cầu quy định trong Quy chế."
}
],
"id": "35911",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ cần được xây dựng và công bố như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ cần được xây dựng và công bố như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải đáp ứng một trong các yêu cầu về kết quả công bố quốc tế sau: có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS) hoặc Scopus; hoặc có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp kết hợp với tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế (chương sách tham khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, sách chuyên khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện có mã số ISBN, hoặc bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện có mã số ISSN); hoặc có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm tương tự như đã nêu."
}
],
"id": "35912",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết yêu cầu về kết quả công bố quốc tế của nghiên cứu sinh trong chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết yêu cầu về kết quả công bố quốc tế của nghiên cứu sinh trong chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh bắt buộc phải công bố các kết quả nghiên cứu quốc tế bằng tiếng nước ngoài."
}
],
"id": "35913",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có phải công bố kết quả nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có phải công bố kết quả nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Yêu cầu về chất lượng luận án trong chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ là luận án phải thể hiện việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đồng thời có những đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn."
}
],
"id": "35914",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết các yêu cầu về chất lượng luận án trong chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết các yêu cầu về chất lượng luận án trong chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu nghiên cứu sinh không có phát minh sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh phải đáp ứng một trong các điều kiện sau: công bố tối thiểu 01 bài báo trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus; hoặc công bố tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc các ấn phẩm như chương sách tham khảo, sách chuyên khảo do nhà xuất bản quốc tế uy tín phát hành, báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện và mã số ISBN, hoặc bài báo trên tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín của nước ngoài có phản biện và mã số ISSN."
}
],
"id": "35915",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu bao nhiêu bài báo quốc tế nếu không có phát minh sáng chế?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết chuẩn đầu ra của luận án tiến sĩ yêu cầu bao nhiêu bài báo quốc tế nếu không có phát minh sáng chế?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo tiến sĩ, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo."
}
],
"id": "35916",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 18. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra quy định về chất lượng luận án, nội dung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của nghiên cứu sinh và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Xây dựng và ban hành chuẩn đầu ra là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chương trình đào tạo để công khai với xã hội và nghiên cứu sinh về chuẩn mực phẩm chất, năng lực, các kiến thức, kỹ năng được trang bị và lấy đó làm cơ sở xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp kiểm tra - đánh giá; tạo cơ hội và tăng cường hợp tác, gắn kết trong đào tạo và sử dụng nhân lực giữa đơn vị đào tạo với cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra bao gồm các nội dung sau: Yêu cầu về chất lượng luận án thể hiện qua việc phát hiện và giải quyết những vấn đề mới, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu của luận án trên tạp chí khoa học chuyên ngành với vai trò là tác giả chính (tác giả tên đầu/tác giả liên hệ) có tổng điểm đạt từ 2,0 trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (là tác giả chính, không chia điểm khi có đồng tác giả). Các công bố quốc tế phải được viết bằng tiếng nước ngoài, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước phải thuộc danh mục được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá tối thiểu 0,75 điểm và phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Có tối thiểu 01 bài đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (sau đây gọi chung là danh mục WoS/Scopus); Có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích đã được cấp và tối thiểu 01 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN; Có tối thiểu 02 bài báo/báo cáo quốc tế thuộc một trong các ấn phẩm sau: (i) chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc (ii) sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín quốc tế phát hành, hoặc (iii) báo cáo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện, có mã số ISBN, hoặc (iv) bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài có phản biện, có mã số ISSN. Yêu cầu về kiến thức chuyên môn; Yêu cầu về năng lực nghiên cứu; Yêu cầu về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp; Kỹ năng bổ trợ; đ) Yêu cầu về mức độ tự chủ và trách nhiệm: Trách nhiệm công dân; Trách nhiệm, đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ; Vị trí làm việc của nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp; Các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín của quốc tế mà đơn vị đào tạo tham khảo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra chi tiết và định lượng cho từng chương trình đào tạo, tổ chức hội thảo rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của các bên liên quan như các nhà quản lý, các nhà khoa học, giảng viên, các cơ sở sử dụng nghiên cứu sinh sau tốt nghiệp, cựu nghiên cứu sinh…, hoàn thiện và công bố chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo, nhưng không thấp hơn các yêu cầu được quy định trong Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo phải tham khảo các chương trình, tài liệu của các cơ sở đào tạo tiến sĩ có uy tín quốc tế khi xây dựng chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo tiến sĩ."
}
],
"id": "35917",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có phải tham khảo chương trình của các cơ sở đào tạo tiến sĩ quốc tế khi xây dựng chuẩn đầu ra không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có phải tham khảo chương trình của các cơ sở đào tạo tiến sĩ quốc tế khi xây dựng chuẩn đầu ra không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 17. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo Chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào) của một chương trình đào tạo là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo phải xác định rõ những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo mà người học cần đáp ứng để có thể học tập thành công và hoàn thành tốt chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ: Người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ, người học cần đáp ứng các điều kiện sau: tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp, HOẶC tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); và có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu. Như vậy, nếu chỉ có bằng đại học, bạn vẫn có thể tham gia nếu tốt nghiệp đại học hạng Giỏi trở lên ngành phù hợp và đáp ứng các yêu cầu về ngoại ngữ, kinh nghiệm nghiên cứu."
}
],
"id": "35918",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết điều kiện chuẩn đầu vào cho chương trình đào tạo tiến sĩ là gì, và em có thể tham gia nếu chỉ có bằng đại học không?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết điều kiện chuẩn đầu vào cho chương trình đào tạo tiến sĩ là gì, và em có thể tham gia nếu chỉ có bằng đại học không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 17. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo Chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào) của một chương trình đào tạo là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo phải xác định rõ những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo mà người học cần đáp ứng để có thể học tập thành công và hoàn thành tốt chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ: Người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ xác định các tiêu chí tối thiểu về trình độ, năng lực và kinh nghiệm mà người học cần có để theo học. Cụ thể, các tiêu chí này bao gồm việc tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); và có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu. Những tiêu chí này có thay đổi tùy thuộc vào từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo."
}
],
"id": "35919",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết những tiêu chí nào được xác định trong chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ và chúng có thay đổi theo từng ngành/chuyên ngành không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết những tiêu chí nào được xác định trong chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ và chúng có thay đổi theo từng ngành/chuyên ngành không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 17. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo Chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào) của một chương trình đào tạo là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo phải xác định rõ những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo mà người học cần đáp ứng để có thể học tập thành công và hoàn thành tốt chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ: Người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Yêu cầu về ngoại ngữ trong chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ là người học phải có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc trình độ tương đương trở lên."
}
],
"id": "35920",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết yêu cầu về ngoại ngữ trong chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết yêu cầu về ngoại ngữ trong chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 17. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo Chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào) của một chương trình đào tạo là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo phải xác định rõ những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo mà người học cần đáp ứng để có thể học tập thành công và hoàn thành tốt chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ: Người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Người học cần có năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu để tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ."
}
],
"id": "35921",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết liệu người học cần có kinh nghiệm nghiên cứu trước khi tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết liệu người học cần có kinh nghiệm nghiên cứu trước khi tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 17. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo Chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào) của một chương trình đào tạo là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo phải xác định rõ những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng trình độ, ngành/chuyên ngành và định hướng đào tạo mà người học cần đáp ứng để có thể học tập thành công và hoàn thành tốt chương trình đào tạo. Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ: Người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi (hoặc trình độ tương đương trở lên) ngành phù hợp; có trình độ ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (hoặc trình độ tương đương trở lên); có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ được xây dựng dựa trên các tiêu chí về trình độ chuyên môn (tốt nghiệp thạc sĩ, hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7 ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi trở lên ngành phù hợp), trình độ ngoại ngữ (bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương), và năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu. Tuy nhiên, thông tin về việc đơn vị đào tạo có quyền điều chỉnh các tiêu chí này hay không không được đề cập trong tài liệu tham khảo."
}
],
"id": "35922",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ được xây dựng dựa trên những tiêu chí nào và đơn vị đào tạo có quyền điều chỉnh các tiêu chí này không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo tiến sĩ được xây dựng dựa trên những tiêu chí nào và đơn vị đào tạo có quyền điều chỉnh các tiêu chí này không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể được kéo dài thời gian đào tạo nếu có lý do chính đáng, nhưng tổng thời gian đào tạo không được vượt quá 06 năm tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực."
}
],
"id": "35923",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết nếu thời gian đào tạo chuẩn là 3 năm, em có thể xin kéo dài thêm nếu gặp khó khăn không?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết nếu thời gian đào tạo chuẩn là 3 năm, em có thể xin kéo dài thêm nếu gặp khó khăn không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong quá trình đào tạo tiến sĩ là tiếng Việt. Về việc đào tạo bằng ngôn ngữ khác, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội có thể đưa ra quyết định dựa trên chương trình đào tạo đã được phê duyệt và các quy định hiện hành."
}
],
"id": "35924",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết ngôn ngữ nào được sử dụng chính thức trong quá trình đào tạo tiến sĩ và có thể đào tạo bằng ngôn ngữ khác không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết ngôn ngữ nào được sử dụng chính thức trong quá trình đào tạo tiến sĩ và có thể đào tạo bằng ngôn ngữ khác không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể bảo vệ luận án sớm hơn thời hạn đào tạo chuẩn nếu có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo. Tuy nhiên, thời gian bảo vệ sớm không được quá 01 năm (12 tháng) so với thời hạn đào tạo chuẩn."
}
],
"id": "35925",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết có thể bảo vệ luận án sớm hơn thời gian quy định không, nếu tôi có kết quả nghiên cứu tốt?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết có thể bảo vệ luận án sớm hơn thời gian quy định không, nếu tôi có kết quả nghiên cứu tốt?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt, và việc đăng ký, hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian."
}
],
"id": "35926",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết có yêu cầu nào về việc nghiên cứu sinh phải dành thời gian tập trung toàn thời gian tại đơn vị đào tạo không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết có yêu cầu nào về việc nghiên cứu sinh phải dành thời gian tập trung toàn thời gian tại đơn vị đào tạo không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ là 03 năm đối với nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ và 04 năm đối với người chưa có bằng thạc sĩ. Tổng thời gian đào tạo kéo dài không được vượt quá 06 năm."
}
],
"id": "35927",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết quy định về thời gian đào tạo chuẩn và việc kéo dài thời gian đào tạo cho nghiên cứu sinh tiến sĩ như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết quy định về thời gian đào tạo chuẩn và việc kéo dài thời gian đào tạo cho nghiên cứu sinh tiến sĩ như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập, chương trình đào tạo toàn khóa, đề cương chi tiết các học phần, kế hoạch kiểm tra, đánh giá, quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan, điểm yêu cầu tối thiểu, quy trình, thủ tục bảo vệ luận án, cũng như các quy định liên quan đến khóa học trước khi bắt đầu."
}
],
"id": "35928",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết liệu đơn vị đào tạo có thông báo kế hoạch học tập và các quy định liên quan đến chương trình tiến sĩ trước khi bắt đầu khóa học không?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết liệu đơn vị đào tạo có thông báo kế hoạch học tập và các quy định liên quan đến chương trình tiến sĩ trước khi bắt đầu khóa học không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc giảng dạy cho nghiên cứu sinh tiến sĩ có thể được tổ chức theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp trực tuyến và trực tiếp, với điều kiện đơn vị đào tạo phải đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng, đồng thời có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học trực tuyến không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp."
}
],
"id": "35929",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc giảng dạy cho nghiên cứu sinh tiến sĩ có được tổ chức trực tuyến không, và nếu có thì có yêu cầu gì về đảm bảo chất lượng?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc giảng dạy cho nghiên cứu sinh tiến sĩ có được tổ chức trực tuyến không, và nếu có thì có yêu cầu gì về đảm bảo chất lượng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu, đồng thời coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35930",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc tổ chức giảng dạy cho nghiên cứu sinh tiến sĩ cần phải kết hợp giữa giảng dạy trên lớp và tự nghiên cứu như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc tổ chức giảng dạy cho nghiên cứu sinh tiến sĩ cần phải kết hợp giữa giảng dạy trên lớp và tự nghiên cứu như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35931",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc đơn vị đào tạo có phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện nghiên cứu cho nghiên cứu sinh không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc đơn vị đào tạo có phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện nghiên cứu cho nghiên cứu sinh không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội nếu các học phần đó có trong chương trình đào tạo hoặc tương đương."
}
],
"id": "35932",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh đến học tại các đơn vị khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh đến học tại các đơn vị khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh phải hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35933",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết thời hạn tối đa để em hoàn thành các học phần bổ sung trong chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết thời hạn tối đa để em hoàn thành các học phần bổ sung trong chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh phải hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35934",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết thời hạn tối đa để nghiên cứu sinh hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết thời hạn tối đa để nghiên cứu sinh hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu không đạt điểm một học phần tự chọn trong chương trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác trong cùng khối kiến thức để thay thế."
}
],
"id": "35935",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu tôi không đạt điểm một học phần tự chọn trong chương trình đào tạo tiến sĩ, tôi có thể đăng ký lại học phần đó hay phải chọn học phần khác không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu tôi không đạt điểm một học phần tự chọn trong chương trình đào tạo tiến sĩ, tôi có thể đăng ký lại học phần đó hay phải chọn học phần khác không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị, căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Sau đó, Thủ trưởng đơn vị đào tạo sẽ ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án, kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh, chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học."
}
],
"id": "35936",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được công nhận như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được công nhận như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký và thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo, đồng thời phải hoàn thành các hoạt động này trước khi bảo vệ luận án. Thù lao cho hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo chi trả theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị."
}
],
"id": "35937",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có phải tham gia hoạt động trợ giảng và nếu có thì được trả thù lao như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có phải tham gia hoạt động trợ giảng và nếu có thì được trả thù lao như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh phải hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35938",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết thời hạn tối đa để em hoàn thành các học phần bổ sung trong chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết thời hạn tối đa để em hoàn thành các học phần bổ sung trong chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thời hạn tối đa để nghiên cứu sinh hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35939",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết thời hạn tối đa để nghiên cứu sinh hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết thời hạn tối đa để nghiên cứu sinh hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu nghiên cứu sinh không đạt học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế."
}
],
"id": "35940",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu tôi không đạt điểm một học phần tự chọn trong chương trình đào tạo tiến sĩ, tôi có thể đăng ký lại học phần đó hay phải chọn học phần khác không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu tôi không đạt điểm một học phần tự chọn trong chương trình đào tạo tiến sĩ, tôi có thể đăng ký lại học phần đó hay phải chọn học phần khác không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị, dựa trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Sau đó, Thủ trưởng đơn vị đào tạo sẽ ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh, kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa. Quyết định này phải được thực hiện chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học."
}
],
"id": "35941",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được công nhận như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh được công nhận như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký và phải hoàn thành các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo trước khi bảo vệ luận án. Nếu tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị, nghiên cứu sinh sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo trả thù lao theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đó."
}
],
"id": "35942",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có phải tham gia hoạt động trợ giảng và nếu có thì được trả thù lao như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh có phải tham gia hoạt động trợ giảng và nếu có thì được trả thù lao như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thang điểm tối thiểu để đạt yêu cầu đối với các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ là từ điểm C trở lên."
}
],
"id": "35943",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết thang điểm tối thiểu để đạt yêu cầu đối với các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ là bao nhiêu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết thang điểm tối thiểu để đạt yêu cầu đối với các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ là bao nhiêu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá. Tiểu ban này do Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường thành lập, gồm ba thành viên có học vị từ tiến sĩ trở lên và hiểu biết sâu về chuyên đề, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án. Điểm đánh giá là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban, được làm tròn một chữ số thập phân và chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu tối thiểu là C+ trở lên."
}
],
"id": "35944",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh được thực hiện như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh được thực hiện như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thành viên tiểu ban đánh giá chuyên đề tiến sĩ của nghiên cứu sinh cần có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên, có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày được công nhận học vị tiến sĩ, và có hiểu biết sâu về chuyên đề cũng như lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35945",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết tiêu chí nào để thành viên tiểu ban đánh giá chuyên đề tiến sĩ của nghiên cứu sinh được chọn?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết tiêu chí nào để thành viên tiểu ban đánh giá chuyên đề tiến sĩ của nghiên cứu sinh được chọn?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Điểm đạt yêu cầu đối với chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là từ C+ trở lên. Điểm đánh giá được tính bằng trung bình cộng điểm của các thành viên tiểu ban đánh giá, làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển đổi thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học."
}
],
"id": "35946",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết điểm đạt yêu cầu cho chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao nhiêu, và thang điểm được tính như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết điểm đạt yêu cầu cho chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là bao nhiêu, và thang điểm được tính như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu và tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung trong chương trình đào tạo tiến sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội."
}
],
"id": "35947",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc kiểm tra và đánh giá các học phần bổ sung trong chương trình đào tạo tiến sĩ được thực hiện như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc kiểm tra và đánh giá các học phần bổ sung trong chương trình đào tạo tiến sĩ được thực hiện như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể thay đổi đề tài luận án nếu đề xuất với đơn vị đào tạo, đồng thời phải điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và đảm bảo thời gian đào tạo tuân thủ quy định."
}
],
"id": "35948",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết nếu trong quá trình đào tạo, em muốn thay đổi đề tài luận án thì có được không, và điều kiện để thay đổi là gì?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết nếu trong quá trình đào tạo, em muốn thay đổi đề tài luận án thì có được không, và điều kiện để thay đổi là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể chuyển đơn vị đào tạo. Điều kiện để chuyển đơn vị bao gồm: ngành hoặc chuyên ngành đang học phải đúng với ngành hoặc chuyên ngành muốn chuyển đến, có lý do chính đáng và được sự đồng ý của thủ trưởng đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "35949",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có thể chuyển đơn vị đào tạo không, và nếu có thì điều kiện để chuyển đơn vị là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có thể chuyển đơn vị đào tạo không, và nếu có thì điều kiện để chuyển đơn vị là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dựa trên tài liệu tham khảo được cung cấp, không có thông tin quy định về việc nghiên cứu sinh có thể xin kéo dài thời gian đào tạo nếu không hoàn thành chương trình đúng hạn, cũng như các điều kiện để thực hiện việc này."
}
],
"id": "35950",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong trường hợp không hoàn thành chương trình đào tạo đúng thời hạn, nghiên cứu sinh có thể xin kéo dài thời gian đào tạo được không, và điều kiện là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong trường hợp không hoàn thành chương trình đào tạo đúng thời hạn, nghiên cứu sinh có thể xin kéo dài thời gian đào tạo được không, và điều kiện là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể được phép nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả học tập nếu đã học ít nhất một học kỳ, không bị kỷ luật và tổng thời gian nghỉ học cùng thời gian kéo dài không vượt quá thời gian đào tạo tối đa."
}
],
"id": "35951",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có thể được phép nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả học tập không, và điều kiện để xin nghỉ là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có thể được phép nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả học tập không, và điều kiện để xin nghỉ là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo tài liệu tham khảo được cung cấp, không có thông tin chi tiết về trách nhiệm của đơn vị đào tạo khi nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo hoặc hết thời gian đào tạo. Tài liệu này chủ yếu đề cập đến các quy định liên quan đến việc thay đổi đề tài luận án, người hướng dẫn, hoặc đơn vị đào tạo trong quá trình học tập."
}
],
"id": "35952",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì khi nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo hoặc hết thời gian đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì khi nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo hoặc hết thời gian đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu bạn thôi học chương trình tiến sĩ và có nguyện vọng tiếp tục theo học chương trình thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng, kết quả học tập đã tích lũy sẽ được bảo lưu nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo thạc sĩ hiện hành."
}
],
"id": "35953",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết nếu em thôi học chương trình tiến sĩ thì có được bảo lưu kết quả đã học để chuyển sang học thạc sĩ không?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết nếu em thôi học chương trình tiến sĩ thì có được bảo lưu kết quả đã học để chuyển sang học thạc sĩ không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Kết quả học tập và nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh có thể được bảo lưu, xem xét công nhận và chuyển đổi khi nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc chuyển đơn vị đào tạo. Tuy nhiên, việc công nhận và chuyển đổi này phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo mới và được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Đặc biệt, nếu chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, khối lượng học tập được công nhận tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo."
}
],
"id": "35954",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo thì kết quả học tập có được bảo lưu không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo thì kết quả học tập có được bảo lưu không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi nghiên cứu sinh chuyển đơn vị đào tạo, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập đã tích lũy được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Kết quả này phải phù hợp với nội dung và yêu cầu của chương trình đào tạo mới. Đồng thời, tổng khối lượng học tập được công nhận và chuyển đổi tối đa không được vượt quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo sẽ quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn và quy trình thực hiện việc công nhận, chuyển đổi này."
}
],
"id": "35955",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập đã tích lũy của nghiên cứu sinh được thực hiện như thế nào khi chuyển đơn vị đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập đã tích lũy của nghiên cứu sinh được thực hiện như thế nào khi chuyển đơn vị đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn và quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35956",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong trường hợp nghiên cứu sinh đã thôi học và đăng ký dự tuyển lại chương trình tiến sĩ, kết quả học tập trước đó có thể được công nhận và chuyển đổi nếu nghiên cứu sinh được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận này phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo và được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Tuy nhiên, khối lượng công nhận và chuyển đổi tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo."
}
],
"id": "35957",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trong trường hợp nghiên cứu sinh đăng ký dự tuyển lại chương trình tiến sĩ, kết quả học tập trước đó có được công nhận không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trong trường hợp nghiên cứu sinh đăng ký dự tuyển lại chương trình tiến sĩ, kết quả học tập trước đó có được công nhận không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 19. Hình thức, ngôn ngữ và thời gian đào tạo Đào tạo trình độ tiến sĩ được tổ chức theo hình thức chính quy, tập trung; nghiên cứu sinh phải dành đủ thời gian học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch đã được phê duyệt; trong đó khi đăng ký và hoàn thành 30 tín chỉ trong một năm học được xác định là tập trung toàn thời gian. Ngôn ngữ chính thức dùng trong đào tạo trình độ tiến sĩ là tiếng Việt. Việc đào tạo tiến sĩ bằng ngôn ngữ nước ngoài do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định trên cơ sở chương trình đào tạo được phê duyệt và những quy định hiện hành. Thời gian đào tạo chuẩn trình độ tiến sĩ (tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực tới thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn) đối với người có bằng thạc sĩ là 03 năm; đối với người chưa có bằng thạc sĩ là 04 năm. Nghiên cứu sinh được kéo dài thời gian đào tạo khi có lý do chính đáng nhưng tổng thời gian đào tạo không vượt quá 06 năm (72 tháng) tính từ ngày quyết định công nhận nghiên cứu sinh có hiệu lực đến thời điểm luận án được thông qua tại đơn vị chuyên môn. Trường hợp nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc và đã hoàn thành các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan trong chương trình đào tạo có thể được tổ chức bảo vệ luận án sớm hơn so với thời hạn đào tạo chuẩn không quá 01 năm (12 tháng).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ là 06 năm, và nghiên cứu sinh có thể kéo dài thời gian đào tạo nếu có lý do chính đáng."
}
],
"id": "35958",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ là bao lâu, và nếu em cần kéo dài thời gian đào tạo thì có được không?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ là bao lâu, và nếu em cần kéo dài thời gian đào tạo thì có được không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 9. Điều kiện dự tuyển Thí sinh dự tuyển vào chương trình đào tạo tiến sĩ phải đáp ứng những điều kiện sau đây: Lý lịch bản thân rõ ràng, không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Có đủ sức khỏe để học tập. Đã tốt nghiệp thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học chính quy hạng Giỏi trở lên ngành/chuyên ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp trình độ tương đương bậc 7 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam ở một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù phù hợp với ngành/chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Trường hợp thí sinh phải học bổ sung kiến thức thì cần hoàn thành trước khi đăng ký dự tuyển. Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp phải thực hiện thủ tục công nhận theo quy định hiện hành. Đáp ứng yêu cầu đầu vào theo chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và của chương trình đào tạo tiến sĩ đăng ký dự tuyển. Có kinh nghiệm nghiên cứu thể hiện qua luận văn thạc sĩ của chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu và các công trình công bố theo quy định của đơn vị đào tạo (nếu có). Riêng các thí sinh có bằng thạc sĩ định hướng ứng dụng hoặc có bằng thạc sĩ ngành/chuyên ngành phù hợp nhưng phải học bổ sung kiến thức hoặc thí sinh dự tuyển từ cử nhân thì phải là tác giả hoặc đồng tác giả của tối thiểu 01 công bố khoa học. Công bố khoa học có thể là bài báo thuộc tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc báo cáo khoa học đăng tại kỷ yếu của các hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia hoặc quốc tế có phản biện, có mã số xuất bản ISBN liên quan đến lĩnh vực hoặc đề tài nghiên cứu, được hội đồng chức danh giáo sư, phó giáo sư của ngành/liên ngành công nhận. Có đề cương nghiên cứu, trong đó nêu rõ tên đề tài dự kiến, lĩnh vực nghiên cứu; lý do lựa chọn lĩnh vực, đề tài nghiên cứu; giản lược về tình hình nghiên cứu lĩnh vực đó trong và ngoài nước; mục tiêu nghiên cứu; một số nội dung nghiên cứu chủ yếu; phương pháp nghiên cứu và dự kiến kết quả đạt được; lý do lựa chọn đơn vị đào tạo; kế hoạch thực hiện trong thời gian đào tạo; những kinh nghiệm, kiến thức, sự hiểu biết cũng như những chuẩn bị của thí sinh cho việc thực hiện luận án tiến sĩ. Trong đề cương có thể đề xuất cán bộ hướng dẫn. Có thư giới thiệu của ít nhất 01 nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ đã tham gia hoạt động chuyên môn với người dự tuyển và am hiểu lĩnh vực chuyên môn mà người dự tuyển dự định nghiên cứu. Thư giới thiệu phải có những nhận xét, đánh giá người dự tuyển về: Phẩm chất đạo đức, năng lực và thái độ nghiên cứu khoa học, trình độ chuyên môn của người dự tuyển; Đối với nhà khoa học đáp ứng các tiêu chí của người hướng dẫn nghiên cứu sinh và đồng ý nhận làm cán bộ hướng dẫn luận án, cần bổ sung thêm nhận xét về tính cấp thiết, khả thi của đề tài, nội dung nghiên cứu; và nói rõ khả năng huy động nghiên cứu sinh vào các đề tài, dự án nghiên cứu cũng như nguồn kinh phí có thể chi cho hoạt động nghiên cứu của nghiên cứu sinh (nếu có); Những nhận xét khác và mức độ ủng hộ, giới thiệu thí sinh làm nghiên cứu sinh. Người dự tuyển là công dân Việt Nam phải đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ phù hợp với chuẩn đầu ra về ngoại ngữ của chương trình đào tạo được minh chứng bằng một trong những văn bằng, chứng chỉ sau: Bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên do một cơ sở đào tạo nước ngoài, phân hiệu của cơ sở đào tạo nước ngoài ở Việt Nam hoặc cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp cho người học toàn thời gian bằng tiếng nước ngoài; Bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ nước ngoài hoặc sư phạm tiếng nước ngoài do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp; Có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ tương đương trình độ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam trong thời hạn 2 năm kể từ ngày thi chứng chỉ ngoại ngữ đến ngày đăng ký dự tuyển được cấp bởi các cơ sở được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội chấp nhận; Người dự tuyển ngành ngôn ngữ tiếng nước ngoài hoặc sư phạm tiếng nước ngoài phải có năng lực về ngôn ngữ tiếng nước ngoài khác ở trình độ tương đương như quy định tại điểm a, b, c nêu trên. Người dự tuyển là công dân nước ngoài nếu đăng ký theo học chương trình đào tạo tiến sĩ bằng tiếng Việt phải có chứng chỉ tiếng Việt tối thiểu từ bậc 4 trở lên theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài hoặc đã tốt nghiệp đại học (hoặc trình độ tương đương trở lên) mà chương trình đào tạo được giảng dạy bằng tiếng Việt và phải đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ thứ hai theo quy định của chương trình đào tạo (nếu có), trừ trường hợp là người bản ngữ của ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ. Đạt đủ điều kiện về kinh nghiệm chuyên môn và thâm niên công tác theo yêu cầu cụ thể của từng ngành/chuyên ngành đào tạo. Cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong quá trình đào tạo theo quy định của đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Điều 9 của quy định, người dự tuyển vào chương trình đào tạo tiến sĩ là công dân Việt Nam phải đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ tương đương bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, được minh chứng bằng văn bằng hoặc chứng chỉ hợp lệ. Do đó, bạn không thể đăng ký dự tuyển chương trình tiến sĩ nếu chưa đủ điều kiện ngoại ngữ này. Thông tin về thời gian cụ thể để bổ sung các học phần ngoại ngữ sau khi được công nhận nghiên cứu sinh không được đề cập trong tài liệu tham chiếu."
}
],
"id": "35959",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết nếu em chưa có đủ điều kiện ngoại ngữ thì có thể đăng ký học chương trình tiến sĩ không, và thời gian để bổ sung các học phần ngoại ngữ là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết nếu em chưa có đủ điều kiện ngoại ngữ thì có thể đăng ký học chương trình tiến sĩ không, và thời gian để bổ sung các học phần ngoại ngữ là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 22. Thi, kiểm tra, đánh giá Thi, kiểm tra, đánh giá học phần Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá bộ phận và kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần đảm nhiệm theo quy định của đơn vị đào tạo. Việc đánh giá và tính điểm học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ được áp dụng quy định về đánh giá và tính điểm học phần theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Học phần ở trình độ tiến sĩ đạt yêu cầu (học phần tích lũy) khi đạt từ điểm C trở lên; Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, thang điểm, điểm đạt yêu cầu tối thiểu, tính điểm trung bình chung tích lũy đối với các học phần bổ sung được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan Việc đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan được thực hiện bằng cách chấm điểm bài trình bày của nghiên cứu sinh trước tiểu ban đánh giá; Thủ trưởng đơn vị đào tạo hoặc khoa chuyên môn của trường quyết định thành lập tiểu ban đánh giá cho từng chuyên đề, tiểu luận tổng quan của nghiên cứu sinh, gồm ba thành viên có học vị tối thiểu từ tiến sĩ trở lên (có đủ thâm niên 36 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận học vị tiến sĩ) và hiểu biết sâu về chuyên đề và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, trong đó có một cán bộ hướng dẫn luận án của nghiên cứu sinh. Riêng đối với chuyên đề nghiên cứu sinh phải bảo vệ bằng ngoại ngữ, các thành viên tiểu ban đánh giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn và phải thành thạo ngoại ngữ, do đơn vị chuyên môn thuộc đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh giới thiệu; Điểm đánh giá chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là trung bình cộng điểm chấm của các thành viên tiểu ban đánh giá được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ theo quy chế đào tạo trình độ đại học. Điểm đạt yêu cầu của chuyên đề tiến sĩ và tiểu luận tổng quan là điểm C+ trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Điểm đạt yêu cầu tối thiểu để tích lũy học phần tự chọn trong chương trình tiến sĩ là từ điểm C trở lên. Thông tin về việc có thể học lại hoặc chọn học phần khác thay thế khi không đạt học phần tự chọn không được đề cập trong quy định này."
}
],
"id": "35960",
"is_impossible": false,
"question": "Em muốn biết nếu không đạt một học phần tự chọn trong chương trình tiến sĩ, em có thể làm lại không, và điểm đạt tối thiểu để tích lũy học phần là bao nhiêu?"
}
]
}
],
"title": "Em muốn biết nếu không đạt một học phần tự chọn trong chương trình tiến sĩ, em có thể làm lại không, và điểm đạt tối thiểu để tích lũy học phần là bao nhiêu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\\nĐiều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể tham gia học tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội nếu học phần tương đương với chương trình đào tạo của họ. Đối với việc tổ chức dạy học trực tuyến hoặc kết hợp trực tuyến và trực tiếp, đơn vị đào tạo được phép thực hiện khi đáp ứng các quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng, đồng thời phải đảm bảo chất lượng của các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp."
}
],
"id": "35961",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết liệu nghiên cứu sinh có thể tham gia học tại các đơn vị khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội không, và nếu cần tổ chức dạy học trực tuyến, có quy định gì về việc này không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết liệu nghiên cứu sinh có thể tham gia học tại các đơn vị khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội không, và nếu cần tổ chức dạy học trực tuyến, có quy định gì về việc này không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Tài liệu tham khảo được cung cấp không chứa thông tin về việc giảng viên hướng dẫn có thể đề xuất thay đổi đề tài luận án và học phần cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35962",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu tôi là giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh, tôi có thể đề xuất thay đổi đề tài luận án và học phần cho nghiên cứu sinh được không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu tôi là giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh, tôi có thể đề xuất thay đổi đề tài luận án và học phần cho nghiên cứu sinh được không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu nghiên cứu sinh không đạt các chuyên đề tiến sĩ, họ phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề đó hoặc đăng ký học lại học phần. Nếu không đạt tiểu luận tổng quan, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá. Thông tin về điểm tối thiểu để đạt các chuyên đề tiến sĩ hoặc tiểu luận tổng quan không được tìm thấy trong văn bản cung cấp."
}
],
"id": "35963",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không đạt các chuyên đề tiến sĩ hoặc tiểu luận tổng quan, họ có phải thực hiện lại không, và điểm tối thiểu để đạt là bao nhiêu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không đạt các chuyên đề tiến sĩ hoặc tiểu luận tổng quan, họ có phải thực hiện lại không, và điểm tối thiểu để đạt là bao nhiêu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có thể xin chuyển đơn vị đào tạo nếu ngành/chuyên ngành đang học đúng với ngành/chuyên ngành muốn chuyển đến và có sự đồng ý của thủ trưởng hai bên. Kết quả học tập đã tích lũy sẽ được công nhận nếu phù hợp với chương trình đào tạo mới, nhưng không vượt quá 50% tổng khối lượng chương trình."
}
],
"id": "35964",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu tôi muốn xin chuyển đơn vị đào tạo trong quá trình học tiến sĩ, tôi cần phải đáp ứng điều kiện gì, và kết quả học tập của tôi có được công nhận không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu tôi muốn xin chuyển đơn vị đào tạo trong quá trình học tiến sĩ, tôi cần phải đáp ứng điều kiện gì, và kết quả học tập của tôi có được công nhận không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn luận án có thể đề xuất thay đổi người hướng dẫn trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, việc thay đổi này phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và đảm bảo thời gian đào tạo tuân thủ quy định. Thông tin về thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ không được cung cấp trong tài liệu tham khảo hiện tại."
}
],
"id": "35965",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu tôi muốn thay đổi người hướng dẫn luận án trong quá trình đào tạo, có được không, và thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu tôi muốn thay đổi người hướng dẫn luận án trong quá trình đào tạo, có được không, và thời gian đào tạo tối đa của chương trình tiến sĩ là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 24. Công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu Kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã tích lũy trong chương trình đào tạo tiến sĩ được bảo lưu, xem xét công nhận, chuyển đổi trong những trường hợp sau: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng những quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học. Việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu đã tích lũy của nghiên cứu sinh phải phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn. Trường hợp chuyển đơn vị đào tạo hoặc là nghiên cứu sinh mới, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi nghiên cứu sinh chuyển đơn vị đào tạo, việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập phải phù hợp với nội dung và yêu cầu của chương trình đào tạo mới, được thực hiện trên cơ sở đề xuất của hội đồng chuyên môn và tổng khối lượng được công nhận tối đa không quá 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm quy định chi tiết về thành phần hội đồng chuyên môn và quy trình thực hiện việc công nhận, chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35966",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của nghiên cứu sinh khi chuyển đơn vị đào tạo được thực hiện như thế nào, và thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc này?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của nghiên cứu sinh khi chuyển đơn vị đào tạo được thực hiện như thế nào, và thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh muốn chuyển đơn vị đào tạo có thể bảo lưu kết quả học tập và tín chỉ của học phần đã tích lũy theo quy định. Việc chuyển đơn vị đào tạo cũng là một trong các trường hợp mà nghiên cứu sinh được bảo lưu kết quả học tập. Các trường hợp nghiên cứu sinh có thể bảo lưu kết quả học tập bao gồm: Nghiên cứu sinh bị thôi học và có nguyện vọng được tiếp tục theo học chương trình đào tạo thạc sĩ ngành/chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng các quy định của quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ hiện hành; Nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo; Nghiên cứu sinh đã thôi học, đăng ký dự tuyển lại và được công nhận là nghiên cứu sinh mới của đơn vị đào tạo đã theo học."
}
],
"id": "35967",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh muốn chuyển đơn vị đào tạo, họ có thể bảo lưu kết quả học tập không, và điều kiện bảo lưu là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh muốn chuyển đơn vị đào tạo, họ có thể bảo lưu kết quả học tập không, và điều kiện bảo lưu là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin về việc nghiên cứu sinh có thể xin phép kéo dài thời gian đào tạo nếu không hoàn thành chương trình trong thời gian quy định, cũng như thời gian kéo dài tối đa, không có trong tài liệu tham khảo được cung cấp."
}
],
"id": "35968",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ trong thời gian quy định, họ có thể xin phép kéo dài thời gian đào tạo không, và thời gian kéo dài tối đa là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ trong thời gian quy định, họ có thể xin phép kéo dài thời gian đào tạo không, và thời gian kéo dài tối đa là bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo, đơn vị đào tạo có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận kết quả học tập đã tích lũy. Đồng thời, nghiên cứu sinh được bảo lưu kết quả học tập đã tích lũy."
}
],
"id": "35969",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết trách nhiệm của đơn vị đào tạo khi nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo là gì, và nghiên cứu sinh có được bảo lưu kết quả học tập không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết trách nhiệm của đơn vị đào tạo khi nghiên cứu sinh chuyển ngành/chuyên ngành đào tạo hoặc đơn vị đào tạo là gì, và nghiên cứu sinh có được bảo lưu kết quả học tập không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 20. Tổ chức đào tạo Thời gian hoạt động giảng dạy trình độ tiến sĩ do đơn vị đào tạo quy định, có sự phục vụ của thư viện và các đơn vị liên quan. Đào tạo trình độ tiến sĩ được triển khai theo hình thức chính quy quy định tại khoản 1, Điều 19 của Quy chế này tại đơn vị đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học, trừ một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thí nghiệm hoặc đào tạo trực tuyến có thể được thực hiện ở ngoài đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo có thể gửi nghiên cứu sinh theo học ở các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội có học phần trong chương trình đào tạo hoặc tương đương. Tổ chức giảng dạy các nội dung trong chương trình đào tạo tiến sĩ phải được thực hiện bằng cách phối hợp học tập ở trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực ngành, chuyên ngành đào tạo và năng lực độc lập nghiên cứu khoa học, xử lý các vấn đề thực tiễn của nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo được tổ chức giảng dạy, đánh giá các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp khi đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; có giải pháp bảo đảm chất lượng các lớp học này không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo phải thông báo cho nghiên cứu sinh về kế hoạch học tập; chương trình đào tạo toàn khóa; đề cương chi tiết các học phần trong chương trình; kế hoạch kiểm tra, đánh giá; quy định về nội dung, hình thức và cách đánh giá học phần, chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan; điểm yêu cầu tối thiểu; quy trình, thủ tục bảo vệ luận án,… và các quy định của đơn vị đào tạo có liên quan đến khóa học. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế… để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh phù hợp với yêu cầu của ngành, chuyên ngành và loại chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành hoặc hợp đồng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế để đảm bảo điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, thực hành, ứng dụng thực tế cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo có thể tổ chức giảng dạy các học phần theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp trực tuyến và trực tiếp, với điều kiện phải đáp ứng quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin và có giải pháp đảm bảo chất lượng lớp học không thấp hơn chất lượng lớp học trực tiếp."
}
],
"id": "35970",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo tiến sĩ và đơn vị đào tạo có thể tổ chức giảng dạy trực tuyến không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm gì trong việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo tiến sĩ và đơn vị đào tạo có thể tổ chức giảng dạy trực tuyến không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 21. Đăng ký học tập Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập và hoàn thành các học phần bổ sung trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đối với các học phần bổ sung, nghiên cứu sinh có thể đăng ký học cùng với các lớp học phần thạc sĩ tương ứng tại đơn vị đào tạo hoặc tại các đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu sinh phải đăng ký học tập, thực hiện và hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. Đề tài luận án và cán bộ hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh được đơn vị chuyên môn đề nghị căn cứ trên đề tài đã được đánh giá trong quá trình xét tuyển. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định công nhận tên đề tài luận án và người hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh kèm theo kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh chậm nhất là 06 tháng sau khi nghiên cứu sinh nhập học. Nghiên cứu sinh có trách nhiệm đăng ký với đơn vị chuyên môn thực hiện các hoạt động trợ giảng, hỗ trợ đào tạo và phải hoàn thành (có minh chứng) trước khi làm thủ tục bảo vệ luận án. Trong trường hợp nghiên cứu sinh tham gia trợ giảng và hỗ trợ đào tạo tại đơn vị đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo có trách nhiệm trả thù lao cho nghiên cứu sinh theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị đào tạo. Đăng ký học lại các học phần và thực hiện lại các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan: Đối với các chuyên đề hoặc học phần bắt buộc ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa lại và bảo vệ lại chuyên đề hoặc đăng ký học lại học phần đó. Đối với học phần tự chọn ở trình độ tiến sĩ, nếu không đạt, nghiên cứu sinh đăng ký học lại học phần đó hoặc đăng ký học học phần tự chọn khác cùng khối kiến thức để thay thế; Đối với tiểu luận tổng quan nếu không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại tiểu luận tổng quan trước tiểu ban đánh giá; Việc đăng ký học lại hoặc cải thiện điểm đối với các học phần bổ sung có trong chương trình thạc sĩ được thực hiện theo Quy chế đào tạo thạc sĩ ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Thời hạn bảo lưu, quy trình thực hiện việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh do đơn vị đào tạo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu tiểu luận tổng quan không đạt, nghiên cứu sinh phải thực hiện lại tổng quan và bảo vệ lại trước tiểu ban đánh giá. Thông tin về điểm tối thiểu để đạt yêu cầu của tiểu luận tổng quan không được tìm thấy trong tài liệu tham khảo đã cung cấp."
}
],
"id": "35971",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không đạt tiểu luận tổng quan, họ có thể thực hiện lại không, và điểm tối thiểu để đạt yêu cầu của tiểu luận tổng quan là bao nhiêu?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nếu nghiên cứu sinh không đạt tiểu luận tổng quan, họ có thể thực hiện lại không, và điểm tối thiểu để đạt yêu cầu của tiểu luận tổng quan là bao nhiêu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Bạn không được phép tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Quá trình phản biện độc lập luận án được bảo mật và tổ chức độc lập."
}
],
"id": "35972",
"is_impossible": false,
"question": "Em có cần phải tham gia vào quá trình phản biện độc lập của luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Em có cần phải tham gia vào quá trình phản biện độc lập của luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quy chế không nêu cụ thể thời điểm nghiên cứu sinh được thông báo kết quả phản biện độc lập. Tuy nhiên, nếu phản biện độc lập yêu cầu sửa chữa, bổ sung luận án, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và hoàn thiện luận án. Trong trường hợp bảo lưu quan điểm, nghiên cứu sinh phải giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án để Hội đồng xem xét nội dung đó."
}
],
"id": "35973",
"is_impossible": false,
"question": "Khi nào em biết được kết quả phản biện độc lập và phải làm gì nếu có yêu cầu sửa chữa luận án?"
}
]
}
],
"title": "Khi nào em biết được kết quả phản biện độc lập và phải làm gì nếu có yêu cầu sửa chữa luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, nghiên cứu sinh có thể được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập nếu là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS, hoặc là tác giả của 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích kèm theo 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án. Trong trường hợp được đặc cách, nghiên cứu sinh sẽ thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án."
}
],
"id": "35974",
"is_impossible": false,
"question": "Em có thể được miễn quy trình phản biện độc lập không, và nếu có thì trong trường hợp nào?"
}
]
}
],
"title": "Em có thể được miễn quy trình phản biện độc lập không, và nếu có thì trong trường hợp nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án sẽ được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án sẽ được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án."
}
],
"id": "35975",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu có 1 trong 2 phản biện độc lập không đồng ý với luận án, quá trình sẽ tiếp tục như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Nếu có 1 trong 2 phản biện độc lập không đồng ý với luận án, quá trình sẽ tiếp tục như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi tham gia làm phản biện độc lập cho luận án của nghiên cứu sinh, giảng viên cần tuân thủ các quy định bao gồm: không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình liên quan đến đề tài luận án; không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh hoặc cán bộ hướng dẫn; không có quan hệ gia đình (cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột) với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đồng thời, giảng viên phải bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn."
}
],
"id": "35976",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần tuân thủ những quy định nào khi tham gia làm phản biện độc lập cho luận án của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần tuân thủ những quy định nào khi tham gia làm phản biện độc lập cho luận án của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án và các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh. Sau đó, họ cần đưa ra ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành, những điểm đúng/sai hoặc cần sửa chữa, sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành, tính không trùng lặp của đề tài/số liệu/kết quả nghiên cứu, tính trung thực/rõ ràng/đầy đủ trong trích dẫn, sự phản ánh kết quả luận án trong các công trình đã công bố, cũng như nhận định về nội dung và chất lượng các công trình này. Ngoài ra, phản biện độc lập còn có thể yêu cầu nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn chỉnh luận án nếu cần."
}
],
"id": "35977",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu tôi làm phản biện độc lập, tôi có nhiệm vụ gì trong việc đánh giá luận án của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Nếu tôi làm phản biện độc lập, tôi có nhiệm vụ gì trong việc đánh giá luận án của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu phản biện độc lập yêu cầu sửa chữa luận án, nghiên cứu sinh không cần gửi lại luận án cho người phản biện. Thay vào đó, nghiên cứu sinh phải giải trình bằng văn bản và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án."
}
],
"id": "35978",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu tôi yêu cầu sửa chữa luận án, nghiên cứu sinh có cần phải trình lại cho tôi không?"
}
]
}
],
"title": "Nếu tôi yêu cầu sửa chữa luận án, nghiên cứu sinh có cần phải trình lại cho tôi không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Không, giảng viên tham gia phản biện không thể trực tiếp đề xuất miễn phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh. Việc đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Để được đặc cách, nghiên cứu sinh phải là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc có 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích kèm theo 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS, với kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án. Sau đó, đơn vị đào tạo sẽ báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội để xem xét và phê duyệt."
}
],
"id": "35979",
"is_impossible": false,
"question": "Là một giảng viên tham gia phản biện, tôi có thể đề xuất miễn phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh không?"
}
]
}
],
"title": "Là một giảng viên tham gia phản biện, tôi có thể đề xuất miễn phản biện độc lập cho nghiên cứu sinh không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, quá trình phản biện độc lập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập sẽ đánh giá toàn diện giá trị khoa học, những đóng góp mới, chỉ ra những điểm cần sửa chữa hoặc bổ sung, đồng thời kiểm tra tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn của luận án."
}
],
"id": "35980",
"is_impossible": false,
"question": "Quá trình phản biện độc lập có giúp gì trong việc nâng cao chất lượng luận án của nghiên cứu sinh không?"
}
]
}
],
"title": "Quá trình phản biện độc lập có giúp gì trong việc nâng cao chất lượng luận án của nghiên cứu sinh không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lâp dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quá trình phản biện độc lập không được kéo dài quá 3 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án. Nếu sau thời gian này đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, họ có thể mời phản biện khác thay thế."
}
],
"id": "35981",
"is_impossible": false,
"question": "Quá trình phản biện độc lập có thể kéo dài bao lâu và cần tuân theo quy định nào?"
}
]
}
],
"title": "Quá trình phản biện độc lập có thể kéo dài bao lâu và cần tuân theo quy định nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ, luận án sẽ được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trong trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án sẽ được đưa ra bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án. Tuy nhiên, nếu phản biện độc lập thứ ba cũng không tán thành, luận án sẽ bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa."
}
],
"id": "35982",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu tôi là người phản biện độc lập và không đồng ý với luận án, quy trình sẽ tiếp diễn ra sao?"
}
]
}
],
"title": "Nếu tôi là người phản biện độc lập và không đồng ý với luận án, quy trình sẽ tiếp diễn ra sao?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lận do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Điều 28 của quy chế quy định về vai trò của phản biện độc lập trong việc đưa ra đề xuất sửa chữa luận án, và trách nhiệm của nghiên cứu sinh cùng cán bộ hướng dẫn trong việc tiếp thu, hoàn thiện luận án. Tuy nhiên, quy định này không đề cập đến vai trò hay khả năng đóng góp của \"nghiên cứu viên\" trong quá trình cải thiện luận án sau khi phản biện."
}
],
"id": "35983",
"is_impossible": false,
"question": "Là một nghiên cứu viên, tôi có thể đóng góp vào quá trình cải thiện luận án sau khi phản biện không?"
}
]
}
],
"title": "Là một nghiên cứu viên, tôi có thể đóng góp vào quá trình cải thiện luận án sau khi phản biện không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Phản biện độc lập thực sự đảm bảo tính công bằng và trung thực trong quá trình đánh giá luận án thông qua các tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Cụ thể, phản biện viên không được là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình liên quan đến đề tài luận án; không cùng cơ quan công tác hoặc có quan hệ gia đình (cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột) với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn; đồng thời phải bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Danh sách phản biện độc lập cũng là tài liệu mật của đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "35984",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết liệu phản biện độc lập có thực sự đảm bảo tính công bằng và trung thực trong quá trình đánh giá luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết liệu phản biện độc lập có thực sự đảm bảo tính công bằng và trung thực trong quá trình đánh giá luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để tham gia phản biện độc lập cho một luận án mà không vi phạm quy định bảo mật, chuyên gia phản biện cần bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không được tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu hoặc trao đổi liên quan đến quá trình phản biện và giải trình của nghiên cứu sinh đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35985",
"is_impossible": false,
"question": "Làm thế nào để tôi có thể tham gia phản biện độc lập cho một luận án mà không vi phạm quy định bảo mật?"
}
]
}
],
"title": "Làm thế nào để tôi có thể tham gia phản biện độc lập cho một luận án mà không vi phạm quy định bảo mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Kết quả phản biện độc lập có ảnh hưởng quyết định đến việc luận án có được đưa ra bảo vệ trước Hội đồng hay không. Cụ thể, nếu cả hai phản biện độc lập tán thành, luận án sẽ được đưa ra bảo vệ. Trường hợp một trong hai phản biện không đồng ý, luận án phải gửi đến phản biện độc lập thứ ba; nếu phản biện thứ ba tán thành, luận án vẫn được bảo vệ. Ngược lại, nếu cả hai phản biện độc lập ban đầu không tán thành, hoặc phản biện độc lập thứ ba không tán thành (trong trường hợp cần ý kiến thứ ba), luận án sẽ bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và phải thực hiện lại quy trình phản biện độc lập (lần thứ hai) sau ít nhất 03 tháng và muộn nhất 06 tháng. Ngoài ra, nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo WoS hoặc 01 bằng sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo WoS phù hợp đề tài có thể được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập."
}
],
"id": "35986",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình phản biện độc lập có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định cuối cùng về luận án?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình phản biện độc lập có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định cuối cùng về luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nanĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ý kiến của phản biện độc lập đối với luận án được giữ bí mật hoàn toàn. Đơn vị đào tạo có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập, danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo, và nhận xét của phản biện độc lập được gửi mà không có tên người phản biện."
}
],
"id": "35987",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu tôi là phản biện độc lập cho luận án, liệu ý kiến của tôi có được giữ bí mật hoàn toàn không?"
}
]
}
],
"title": "Nếu tôi là phản biện độc lập cho luận án, liệu ý kiến của tôi có được giữ bí mật hoàn toàn không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo quá trình phản biện độc lập diễn ra suôn sẻ, cán bộ quản lý đào tạo có trách nhiệm gửi hồ sơ luận án đến phản biện độc lập, bảo mật thông tin về danh sách phản biện, và đảm bảo nghiên cứu sinh không tiếp xúc trực tiếp với phản biện, mà mọi yêu cầu và giải trình đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ."
}
],
"id": "35988",
"is_impossible": false,
"question": "Với vai trò là cán bộ quản lý đào tạo, tôi cần làm gì để đảm bảo quá trình phản biện độc lập diễn ra suôn sẻ?"
}
]
}
],
"title": "Với vai trò là cán bộ quản lý đào tạo, tôi cần làm gì để đảm bảo quá trình phản biện độc lập diễn ra suôn sẻ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu phản biện độc lập không gửi nhận xét luận án sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời một phản biện độc lập khác thay thế."
}
],
"id": "35989",
"is_impossible": false,
"question": "Trong trường hợp một phản biện không gửi kết quả phản biện trong thời gian quy định, tôi cần làm gì?"
}
]
}
],
"title": "Trong trường hợp một phản biện không gửi kết quả phản biện trong thời gian quy định, tôi cần làm gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo có trách nhiệm nhận nhận xét của từng phản biện độc lập và yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học sẽ làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35990",
"is_impossible": false,
"question": "Là cán bộ quản lý đào tạo, tôi có thể làm gì để hỗ trợ nghiên cứu sinh trong quá trình tiếp thu và sửa chữa luận án sau phản biện?"
}
]
}
],
"title": "Là cán bộ quản lý đào tạo, tôi có thể làm gì để hỗ trợ nghiên cứu sinh trong quá trình tiếp thu và sửa chữa luận án sau phản biện?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu một trong hai phản biện độc lập không tán thành luận án, luận án sẽ được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trong trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án sẽ được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án."
}
],
"id": "35991",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần làm gì nếu có một phản biện không tán thành luận án nhưng các phản biện khác tán thành?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần làm gì nếu có một phản biện không tán thành luận án nhưng các phản biện khác tán thành?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau: a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. 2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này; b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập; c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận; d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo; đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án; e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội; g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo; h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng; i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính; k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người; b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án. Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau: - Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội; - Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; - Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; - Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng. d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này. 4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án; b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh; c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này; d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau: - Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên; - Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng; - Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án; - Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên; - Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; - Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án. 5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án; b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá; c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”; d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc); đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng; g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba. 6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án. 7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai; d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quy trình đánh giá luận án tiến sĩ được thực hiện qua các giai đoạn chính sau: 1. Chuẩn bị và Điều kiện: Nghiên cứu sinh cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về luận án, kết quả học tập, đã hoàn thành quy trình phản biện độc lập (hoặc được đặc cách), có đề nghị bảo vệ luận án từ cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn, đã cập nhật đầy đủ kết quả học phần, và hoàn thành nghĩa vụ tài chính. 2. Thành lập Hội đồng: Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ được thành lập gồm 07 thành viên, với các tiêu chuẩn cụ thể về chức danh, học vị, kinh nghiệm và tính độc lập của các phản biện. 3. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng: Trước khi họp, luận án, tóm tắt, nhận xét của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc. Thành viên Hội đồng phải có nhận xét bằng văn bản chậm nhất 15 ngày làm việc trước buổi họp. Thông tin về buổi bảo vệ phải được công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày. 4. Tổ chức đánh giá (Bảo vệ luận án): Đơn vị đào tạo trực tiếp tổ chức buổi bảo vệ công khai. Tại buổi bảo vệ, ý kiến của các phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh sẽ được trình bày. Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín với hai mức “Đạt” hoặc “Không đạt”. Hội đồng sẽ thông qua quyết nghị về luận án. 5. Xử lý sau đánh giá: Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành đánh giá. Trong trường hợp luận án không được thông qua nhưng được Hội đồng kiến nghị, nghiên cứu sinh có thể sửa chữa để bảo vệ lại lần thứ hai, sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ lần bảo vệ đầu tiên."
}
],
"id": "35992",
"is_impossible": false,
"question": "Là một người đã tốt nghiệp, tôi muốn biết quy trình đánh giá luận án diễn ra như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Là một người đã tốt nghiệp, tôi muốn biết quy trình đánh giá luận án diễn ra như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận ánh) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận ánh) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận ánh) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận ánh) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ bao gồm 07 thành viên. Các thành viên này gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Ủy viên. Trong đó, số thành viên thuộc cùng đơn vị đào tạo không quá 03 người, số phản biện độc lập không quá 01 người, và tối thiểu 05 thành viên phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học. Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "35993",
"is_impossible": false,
"question": "Hội đồng đánh giá luận án của tôi sẽ gồm những ai và có bao nhiêu thành viên trong hội đồng?"
}
]
}
],
"title": "Hội đồng đánh giá luận án của tôi sẽ gồm những ai và có bao nhiêu thành viên trong hội đồng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau: a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. 2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này; b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập; c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận; d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo; đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án; e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội; g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo; h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng; i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính; k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người; b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án. Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau: - Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội; - Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; - Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; - Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng. d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này. 4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án; b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh; c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này; d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau: - Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên; - Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng; - Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án; - Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên; - Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; - Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án. 5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án; b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá; c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”; d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc); đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng; g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba. 6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án. 7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai; d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để bảo vệ luận án trước Hội đồng, nghiên cứu sinh cần chuẩn bị toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh. Các tài liệu này phải được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án."
}
],
"id": "35994",
"is_impossible": false,
"question": "Là một nghiên cứu sinh, tôi cần phải chuẩn bị gì trước khi bảo vệ luận án trước Hội đồng?"
}
]
}
],
"title": "Là một nghiên cứu sinh, tôi cần phải chuẩn bị gì trước khi bảo vệ luận án trước Hội đồng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n\n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n\n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \n\ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \n\nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Kết quả buổi bảo vệ luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín với hai mức: \"Đạt\" hoặc \"Không đạt\". Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu \"Không đạt\"."
}
],
"id": "35995",
"is_impossible": false,
"question": "Kết quả buổi bảo vệ luận án sẽ được đánh giá như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Kết quả buổi bảo vệ luận án sẽ được đánh giá như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận ána) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận ána) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận ána) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án có trách nhiệm cao trong việc đánh giá chất lượng khoa học của luận án."
}
],
"id": "35996",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết vai trò của các phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết vai trò của các phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận ána) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận ána) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận ána) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có thể tham gia Hội đồng đánh giá luận án với các vai trò là Chủ tịch, Thư ký hoặc Ủy viên. Đặc biệt, nếu giảng viên là người hướng dẫn nghiên cứu sinh, họ có thể tham gia với tư cách là Ủy viên của Hội đồng."
}
],
"id": "35997",
"is_impossible": false,
"question": "Là giảng viên, tôi có thể tham gia Hội đồng đánh giá luận án với vai trò gì?"
}
]
}
],
"title": "Là giảng viên, tôi có thể tham gia Hội đồng đánh giá luận án với vai trò gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hội đồng có thể quyết nghị về các vấn đề bao gồm: ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hoặc không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; và đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc)."
}
],
"id": "35998",
"is_impossible": false,
"question": "Hội đồng có thể quyết nghị những vấn đề gì về luận án của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Hội đồng có thể quyết nghị những vấn đề gì về luận án của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo luận án của sinh viên được thông qua trước Hội đồng, giảng viên hướng dẫn cần thực hiện các công việc sau: xác nhận luận án đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo các ý kiến phản biện độc lập; chuẩn bị đầy đủ các tài liệu cần thiết kèm theo luận án hoàn chỉnh; nộp văn bản đề nghị cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án; và hỗ trợ sinh viên chuẩn bị kỹ lưỡng cho buổi bảo vệ chính thức."
}
],
"id": "35999",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần làm gì để đảm bảo luận án của sinh viên tôi hướng dẫn được thông qua trước Hội đồng?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần làm gì để đảm bảo luận án của sinh viên tôi hướng dẫn được thông qua trước Hội đồng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ phải có 07 thành viên. Trong số đó, tối thiểu 05 thành viên phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học. Số lượng thành viên thuộc đơn vị đào tạo không được quá 03 người."
}
],
"id": "36000",
"is_impossible": false,
"question": "Hội đồng đánh giá luận án có yêu cầu về thành phần và số lượng thành viên như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Hội đồng đánh giá luận án có yêu cầu về thành phần và số lượng thành viên như thế nào?"
} |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.