id stringlengths 6 7 | text stringlengths 37 2.63k |
|---|---|
10_1_1 | Chương
XÃ HỘI NGUYÊN THUỶ
Bài 1
1
SỰ XUẤT HIỆN LOÀI NGƯỜI
VÀ BẦY NGƯỜI NGUYÊN THUỶ
Lịch sử loài người cho ta biết những sự việc diễn ra trong
đời sống con người kể từ khi xuất hiện trên Trái Đất.
Khoa học, đặc biệt là Khảo cổ học và Cổ sinh học, đã tìm
được nhiều bằng cứ nói lên sự phát triển lâu dài từ động
vật cấp thấp lên động vật cấp cao. Đỉnh cao của quá trình
này là sự chuyển biến từ vượn thành người.
1. Sự xuất hiện loài người và đời sống bầy người nguyên thuỷ
4
Ở chặng đầu của quá trình hình thành loài người, có một loài vượn cổ, sống
khoảng 6 triệu năm trước đây, đã có thể đứng và đi bằng hai chân, dùng tay để
cầm nắm, ăn hoa quả, củ, lá và cả động vật nhỏ. Xương hoá thạch của chúng
được tìm thấy ở Đông Phi, Tây Á và cả ở Việt Nam.
Trên đà tiến triển, vượn cổ chuyển biến thành Người tối cổ, bắt đầu từ khoảng
4 triệu năm trước đây. Di cốt Người tối cổ được tìm thấy ở Đông Phi, Gia-va
(In-đô-nê-xi-a), Bắc Kinh (Trung Quốc) v.v... Ở Thanh Hoá (Việt Nam), tuy chưa
tìm thấy di cốt nhưng lại phát hiện được công cụ bằng đá của Người tối cổ. |
10_1_2 | Người tối cổ hầu như đã hoàn toàn đi, đứng bằng hai chân. Đôi tay được tự
do để sử dụng công cụ, kiếm thức ăn. Cơ thể của họ đã có nhiều biến đổi : tuy
trán còn thấp và bợt ra sau, u mày còn nổi cao, nhưng hộp sọ đã lớn hơn so với
loài vượn cổ và đã hình thành trung tâm phát tiếng nói trong não.
Hình 1 – Người tối cổ
Tuy chưa loại bỏ hết dấu tích vượn trên cơ thể mình nhưng Người tối cổ đã
là người. Đây là hình thức tiến triển nhảy vọt từ vượn thành người, là thời kì đầu
tiên của lịch sử loài người.
Từ chỗ sử dụng những mảnh đá có sẵn để làm công cụ, Người tối cổ đã biết
lấy những mảnh đá hay hòn cuội lớn, đem ghè một mặt cho sắc và vừa tay cầm.
Như thế, họ đã bắt đầu biết chế tác công cụ. Công cụ thô kệch này được gọi là
đồ đá cũ (sơ kì). Với những chiếc rìu đá kiểu đó, người ta chặt cây làm gậy hoặc
dùng trực tiếp làm vũ khí, tự vệ hay tấn công các con thú, để kiếm thức ăn.
Từ chỗ giữ lửa, lấy trong tự nhiên năm này qua năm khác để sưởi ấm, đuổi
dã thú, nướng chín thức ăn, con người đã biết ghè hai mảnh đá với nhau để lấy
lửa. Đây là một phát minh lớn mà nhờ nó, con người có thể sử dụng một thứ
năng lượng quan trọng bậc nhất, cải thiện căn bản đời sống của mình.
Qua lao động, chế tạo công cụ và sử dụng công cụ, bàn tay con người khéo
léo dần. Cơ thể cũng do đó biến đổi theo để có tư thế lao động thích hợp. Tiếng
nói thuần thục hơn do nhu cầu trao đổi với nhau. Con người tự cải biến, hoàn
thiện mình từng bước nhờ lao động.
5 |
10_1_3 | Ở một số loài động vật đã hình thành một cách tự nhiên quan hệ hợp đoàn,
có đôi, có đàn và con đầu đàn. Người tối cổ đã có quan hệ hợp quần xã hội : có
người đứng đầu, có phân công lao động giữa nam và nữ, cùng chăm sóc con cái.
Họ sống trong hang động, mái đá hoặc cũng có thể dựng lều bằng cành cây, da
thú, sống quây quần theo quan hệ ruột thịt với nhau, gồm 5 – 7 gia đình. Mỗi
gia đình có đôi vợ chồng và con nhỏ chiếm một góc lều hay góc hang. Bấy giờ
chưa có những quy định xã hội nên người ta gọi những hợp quần xã hội đầu tiên
này là bầy người nguyên thuỷ.
Bầy người nguyên thuỷ vẫn còn sống trong tình trạng “ăn lông ở lỗ” – một
cuộc sống tự nhiên, bấp bênh, triền miên hàng triệu năm.
– Thế nào là Người tối cổ ?
– Thế nào là bầy người nguyên thuỷ?
2. Người tinh khôn và óc sáng tạo
Đến cuối thời đá cũ, khoảng 4 vạn năm trước đây, con người hoàn thành quá
trình tự cải biến mình, đã loại bỏ hết dấu tích vượn trên người, trở thành Người
tinh khôn hay còn gọi là Người hiện đại .
Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể như người ngày nay : xương cốt nhỏ
hơn Người tối cổ ; bàn tay nhỏ, khéo léo, các ngón tay linh hoạt ; hộp sọ
và thể tích não phát triển, trán cao, mặt phẳng ; cơ thể gọn và linh hoạt,
tạo nên tư thế thích hợp với các hoạt động phức tạp của con người.
Di cốt Người tinh khôn được tìm thấy ở khắp các châu lục.
Đây là bước nhảy vọt thứ hai, sau bước nhảy vọt từ Vượn cổ thành Người tối
cổ. Cũng từ đấy, khi lớp lông mỏng trên người không còn nữa, ở Người hiện đại
lại xuất hiện những màu da khác nhau, chia thành da vàng, đen và trắng. Đó là
ba chủng tộc lớn.
Sự khác nhau đó là kết quả của sự thích ứng lâu dài của con người với những
hoàn cảnh tự nhiên khác nhau, chứ không phải sự khác nhau về trình độ
hiểu biết.
Trong việc chế tạo công cụ, Người tinh khôn đã biết ghè hai rìa của một
mảnh đá, làm cho nó gọn và sắc cạnh hơn, dùng làm rìu, dao, nạo. Họ còn lấy
xương cá, cành cây đem mài hoặc đẽo nhọn đầu để làm lao. |
10_1_4 | Từ đó, con người tiến tới biết chế tạo cung tên. Đây là một thành tựu lớn
trong quá trình chế tạo công cụ và vũ khí. Với cung tên, con người mới săn bắn
có hiệu quả và an toàn.
Thức ăn của con người đã tăng lên đáng kể, nhất là thức ăn động vật, từ khi
kĩ thuật thời đá cũ được hoàn thiện và đặc biệt là từ khi có cung tên.
Người ta cũng có thể rời hang động ra dựng lều, định cư ở những địa điểm
thuận tiện hơn. Cư trú “nhà cửa” phổ biến ở Người tinh khôn từ cuối thời đá cũ.
Đến khoảng 1 vạn năm trước đây, loài người tiến vào thời đá mới.
Điểm nổi bật của công cụ đá mới là người ta có thể ghè đẽo những
mảnh đá thành hình dạng gọn và chính xác, thích hợp với từng công
việc, với nhiều kiểu loại theo những yêu cầu khác nhau (dao, rìu,
đục...), được mài nhẵn ở rìa lưỡi hay toàn thân, được khoan lỗ hay có
nấc để tra cán.
Có thể nói rằng, công cụ thời đá cũ vẫn là những mảnh đá được ghè đẽo
thô sơ, còn công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc
và mài nhẵn thành hình công cụ.
Cũng thời gian này, người ta biết đan lưới đánh cá bằng sợi vỏ cây và làm chì
lưới bằng đất nung, biết làm đồ gốm để đựng và đun nấu (nồi, bát, vò...).
– Hãy nêu những tiến bộ kĩ thuật khi Người tinh khôn xuất hiện.
– Hãy cho biết những tiến bộ kĩ thuật của thời đá mới.
3. Cuộc cách mạng thời đã mới
Các nhà khảo cổ coi thời đá mới là một cuộc cách mạng, khi con người từ
săn bắn, lượm hái, đánh cá đã tiến tới biết trồng trọt và chăn nuôi. Việc lượm
hái năm này qua năm khác đã đem lại kinh nghiệm trồng và thu hoạch theo thời
vụ một số cây lương thực và thực phẩm như khoai, củ, bầu, bí, lúa... Đi săn, bắt
được thú nhỏ, người ta giữ lại để nuôi và thuần dưỡng thành gia súc, trước tiên
là chó rồi đến cừu, lợn (heo), bò v.v...
Con người có óc sáng tạo, và ở thời đá mới này, họ bắt đầu biết khai thác từ
thiên nhiên cái cần thiết cho cuộc sống của mình, chứ không chỉ thu lượm những
cái có sẵn trong thiên nhiên.
Người ta cũng bắt đầu làm sạch những tấm
“có văn hoá”. Những chiếc cúc (khuy) và kim
các di chỉ văn hoá đã nói lên điều đó.
da thú để che thân cho ấm và cho
làm bằng xương tìm thấy trong
7 |
10_1_5 | Ngoài ra, người ta đã biết dùng đồ trang sức, như vòng cổ bằng vỏ ốc và
chuỗi hạt xương (bằng cách đem khoan lỗ rồi lấy dây xấu lại), vòng tay, vòng
cổ chân, hoa tai... bằng đá màu.
Các nhà khảo cổ học còn tìm thấy chiếc sáo bằng xương dùi lỗ, đàn đá và có
lẽ còn có cả trống bịt da.
Như thế, từng bước, con người không ngừng sáng tạo, kiếm được thức ăn
nhiều hơn, sống tốt hơn và vui hơn. Tuy nhiên, quá trình đó rất dài (4 – 5 vạn
năm), trong đó cuộc sống còn thấp kém và bấp bênh. Đời sống con người chỉ
tiến bộ với tốc độ nhanh hơn và ổn định hơn từ thời đá mới, khoảng 1 vạn năm
trước đây.
– Trình bày những tiến bộ trong đời sống con người thời đá mới.
CÂU HỎI
1. Tại sao lại gọi là “cuộc cách mạng thời đá mới” ?
2. Hãy cho biết những bước tiến trong lao động và đời sống
của người nguyên thuỷ.
8 |
10_2_1 | Bài 2
XÃ HỘI NGUYÊN THUỶ
1. Thị tộc và bộ lạc
Từ khi Người tinh khôn xuất hiện, thị tộc hình thành
cũng là bước đầu tiên của tổ chức xã hội loài người.
Đến giai đoạn Người tinh khôn, số dân đã tăng lên. Từng nhóm người cũng
đông đúc hơn, gồm 2 – 3 thế hệ già trẻ cùng có chung dòng máu, được gọi là
thị tộc – những người “cùng họ”.
Trong thị tộc, con cháu có thói quen tôn kính lớp ông bà, cha mẹ. Ngược lại,
ông bà, cha mẹ đều chăm lo, bảo đảm nuôi dạy tất cả con cháu của thị tộc.
Trên một vùng sinh sống thuận lợi như ven sông, suối... thường không chỉ có
thị tộc mà còn có bộ lạc.
Bộ lạc là tập hợp một số thị tộc, sống cạnh nhau, có họ hàng với nhau và cùng
có một nguồn gốc tổ tiên xa xôi. Giữa các thị tộc trong một bộ lạc thường có
quan hệ gắn bó với nhau, giúp đỡ nhau.
Đương nhiên, công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc là kiếm thức
ăn để nuôi sống thị tộc.
Những công việc như thế, nhất là việc săn đuổi, săn bẫy các con thú lớn, thú
chạy nhanh, luôn đòi hỏi sự phân công hợp lí, sự “chung lưng đấu cật”, mỗi
người mỗi việc, phối hợp ăn ý với nhau.
Yêu cầu của công việc và trình độ lao động thời nguyên thuỷ đòi hỏi sự hợp
tác lao động của nhiều người, của cả thị tộc.
Thức ăn kiếm được chưa nhiều, chưa có đều đặn. Mọi người còn phải cùng
làm, cùng cố gắng đến mức cao nhất để kiếm sống nên tự nhiên người ta thấy
cần phải công bằng, phải được hưởng thụ bằng nhau.
9 |
10_2_2 | Như thế, trong thị tộc không chỉ có sự hợp tác mà mọi của cải, mọi sinh hoạt
được coi là của chung, việc chung, làm chung, ăn chung.
Tổ chức xã hội của Người tinh khôn là gì ?
– Thế nào là thị tộc, bộ lạc ?
2. Buổi đầu của thời đại kim khí
Từ chỗ dùng những công cụ bằng đá, bằng xương, tre, gỗ, người ta bắt đầu
biết chế tạo đồ dùng và công cụ bằng đồng.
Cư dân Tây Á và Ai Cập biết sử dụng đồng sớm nhất, thoạt tiên là đồng đỏ
vào khoảng 5500 năm trước đây. Cách ngày nay khoảng 4000 năm, nhiều cư dân
trên Trái Đất đã biết dùng đồng thau.
Khoảng 3000 năm trước đây, cư dân ở Tây Á và Nam Âu là những người đầu
tiên biết đúc và sử dụng đồ sắt.
Công cụ kim khí đã mở ra một thời đại mới mà tác dụng và năng suất lao
động của nó vượt xa thời đại đồ đá. Đặc biệt là công cụ bằng sắt thì không có
một công cụ đá nào có thể so sánh được. Nhờ có đồ kim khí, nhất là sắt, người
ta có thể khai phá những vùng đất đai mà trước kia chưa khai phá nổi, có thể
cày sâu cuốc bẫm, có thể xẻ gỗ đóng thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài và bản
thân việc đúc sắt cũng là một ngành sản xuất quan trọng bậc nhất.
Đây thực sự là một cuộc cách mạng trong sản xuất. Lần đầu tiên trên chặng
đường dài của lịch sử loài người, con người có thể làm ra một lượng sản
phẩm thừa.
Suốt thời đồ đá, con người từ chỗ sống bấp bênh tiến tới đủ sống. Vào buổi đầu
của thời đại kim khí, con người sản xuất không những đủ sống ở mức còn thấp
của hàng nghìn năm trước, mà còn tạo ra được một lượng sản phẩm thừa
thường xuyên.
- Sự xuất hiện công cụ bằng kim loại có ý nghĩa như thế nào ?
3. Sự xuất hiện tư hữu và xã hội có giai cấp
Trong xã hội nguyên thuỷ, sự công bằng và bình đẳng là “nguyên tắc vàng”.
Bởi lúc ấy người ta sống trong cộng đồng, dựa vào nhau vì tình trạng đời sống
còn quá thấp, nhưng khi bắt đầu có sản phẩm thừa thì lại không thể đem chia đều
cho mọi người.
10 |
10_2_3 | Trong xã hội, mỗi thành viên có những chức phận khác nhau. Ban đầu, một
số người được cử chỉ huy dân binh, chuyên trách về lễ nghi hoặc điều hành các
công việc chung của thị tộc, bộ lạc (xây đền, làm nhà, làm đường, đắp đê...).
Những người này lợi dụng chức phận để chiếm một phần sản phẩm xã hội cho
riêng mình khi chi dùng các công việc chung. Chẳng bao lâu, họ có nhiều của
cải hơn người khác. Thế là của tư hữu bắt đầu xuất hiện. Quan hệ cộng đồng bắt
đầu bị phá vỡ. Gia đình cũng thay đổi theo. Đàn ông làm các việc nặng nhọc
như cày bừa, làm thuỷ lợi, làm dân binh, nên đã có vai trò trụ cột và giành lấy
quyền quyết định trong gia đình. Con cái lấy theo họ cha. Gia đình phụ hệ xuất
hiện trong lòng thị tộc bình đẳng thời nguyên thuỷ.
Khả năng lao động của các gia đình khác nhau đã thúc đẩy thêm sự phân biệt
giàu – nghèo.
Xã hội nguyên thuỷ, hay còn gọi là xã hội thị tộc bộ lạc, bị rạn vỡ. Con người
đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại xã hội có giai cấp đầu tiên – xã hội
cổ đại .
-
- Do đâu mà có sự xuất hiện tư hữu ?
CÂU HỎI
1. Hãy giải thích tính cộng đồng của thị tộc.
2. Tư hữu xuất hiện đã dẫn tới sự thay đổi trong xã hội
nguyên thuỷ như thế nào ? |
10_3_1 | Chương
XÃ HỘI CỔ ĐẠI
Bài 3
CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI
PHƯƠNG ĐÔNG
Trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á, châu Phi từ
khoảng thiên niên kỉ IV trước Công nguyên (TCN),
cư dân phương Đông đã biết tới nghề luyện kim, làm
nông nghiệp và chăn nuôi gia súc. Họ đã xây dựng nên
những quốc gia đầu tiên của mình, đó là xã hội có giai
cấp đầu tiên mà trong đó thiểu số người có của thống trị
đa số thành viên công xã và nô lệ. Quá trình hình thành
và phát triển của nhà nước ở các quốc gia cổ đại phương
Đông không giống nhau, nhưng thể chế chung là chế độ
quân chủ chuyên chế, trong đó vua là người nắm mọi
quyền hành và được cha truyền, con nối.
Phương Đông cũng là cái nôi của văn minh nhân loại,
nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ
viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác.
1. Điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế
12
Sự xuất hiện công cụ bằng kim loại đã báo hiệu sự tan vỡ hoàn toàn của chế
độ công xã thị tộc và là khởi đầu của thời đại văn minh – thời đại con người |
10_3_2 | sản xuất ra ngày càng nhiều của cải, biết xây dựng những công trình kiến trúc
đồ sộ, có chữ viết, nghệ thuật, khoa học và văn chương.
Bước chuyển mình vĩ đại đó đã diễn ra đầu tiên ở phương Đông, trên
lưu vực của các dòng sông lớn như sông Nin ở Ai Cập ; Ơ-phơ-rát và
Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà ; sông Ấn, sông Hằng ở Ấn Độ ; Hoàng Hà ở Trung
Quốc v.v... Ở đây có những điều kiện thiên nhiên hết sức thuận lợi cho
đời sống của con người. Những đồng bằng ven sông rộng, đất đai phì
nhiêu và mềm xốp, dễ canh tác, lượng mưa đều đặn phân bố theo mùa,
có khí hậu ấm nóng (trừ Trung Quốc). Vào mùa mưa hằng năm, nước
sông dâng cao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp đất phù sa màu
mỡ, thích hợp cho việc gieo trồng các loại cây lương thực.
Do có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên khoảng 3500 – 2000 năm TCN,
cư dân đã tập trung khá đông theo từng bộ lạc trên các thềm đất cao gần sông.
Đầu tiên là cư dân cổ ở Tây Á và Ai Cập, rồi đến lượt cư dân trên các lưu vực
sông còn lại. Lúc này, họ đã biết sử dụng đồng thau cùng với những công cụ
bằng đá, tre và gỗ.
Cư dân trên lưu vực những dòng sông lớn ở châu Á và châu Phi sống chủ yếu
bằng nghề nông. Họ đã biết trồng mỗi năm 2 vụ lúa.
Nhưng để đạt được điều đó, trước tiên người dân ở đây phải lo xây dựng hệ
thống thuỷ lợi, đắp đê ngăn lũ, đào kênh máng dẫn nước... Công việc trị thuỷ
khiến mọi người liên kết, gắn bó với nhau trong tổ chức công xã. Ngoài việc
“lấy nghề nông làm gốc”, các cư dân nông nghiệp cổ này còn kết hợp nuôi gia
súc, làm đồ gốm và dệt vải để đáp ứng nhu cầu hằng ngày của mình. Họ tiến
hành trao đổi sản phẩm giữa vùng này với vùng khác. Đó là những ngành kinh
tế bổ trợ cho nghề nông.
– Tại sao xã hội có giai cấp và nhà nước lại phát triển sớm ở lưu
vực các con sông lớn thuộc châu Á và châu Phi ?
– Hãy nêu các ngành kinh tế chính ở khu vực này.
2. Sự hình thành các quốc gia cổ đại
Sản xuất phát triển tất yếu dẫn đến sự phân hoá xã hội, xuất hiện kẻ giàu,
người nghèo, quý tộc và bình dân ; trên cơ sở đó, giai cấp và nhà nước đã ra đời.
13 |
10_3_3 | 14
Các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành từ rất sớm. Trên lưu vực
sông Nin, vào khoảng giữa thiên niên kỉ IV TCN, cư dân Ai Cập cổ đại đã khá
đông đúc, sống tập trung theo từng công xã.
Để huy động được nhiều nhân công làm thuỷ lợi, các công xã đã tự kết
hợp lại thành các liên minh công xã, gọi là các “Nôm”. Khoảng 3200
năm TCN, một quý tộc có thể lực đã chinh phục được tất cả các Nôm
và thành lập nhà nước Ai Cập thống nhất.
Hình 2 – Tranh khắc trên tường hầm mộ ở Te-bơ (Ai Cập) thế kỉ XV TCN
Ở lưu vực Lưỡng Hà, vào khoảng thiên niên kỉ IV TCN, hàng chục nước nhỏ
của người Su-me đã được hình thành. Ở Ấn Độ, những quốc gia cổ đại đầu tiên
đã ra đời trên lưu vực sông Ấn từ khoảng giữa thiên niên kỉ III TCN.
Chế độ công xã nguyên thuỷ ở Trung Quốc tan rã vào khoảng cuối thiên niên
kỉ III TCN. Vương triều nhà Hạ được hình thành vào khoảng thế kỉ XXI TCN
đã mở đầu cho xã hội có giai cấp và nhà nước ở Trung Quốc.
Như thế, các quốc gia cổ đại phương Đông đều đã được hình thành từ khoảng
thiên niên kỉ I – III TCN. Đây là những nhà nước ra đời vào loại sớm nhất
thế giới.
-
- Các quốc gia cổ đại phương Đông đã được hình thành ở đâu
và từ bao giờ ? |
10_3_4 | 3. Xã hội cổ đại phương Đông
Nhu cầu của công tác trị thuỷ các dòng sông và xây dựng các công trình thuỷ
lợi đã khiến những người nông dân ở những vùng này gắn bó và ràng buộc với
nhau trong khuôn khổ của công xã nông thôn. Các thành viên của công xã được
gọi là nông dân công xã.
Nông dân công xã là bộ phận đông đảo nhất, có vai trò to lớn trong sản xuất.
Họ nhận ruộng đất của công xã để canh tác, song phải nộp một phần sản phẩm
thu hoạch được và làm không công cho quý tộc.
Trong quá trình phân hoá xã hội, đứng đầu giai cấp thống trị là những ông
vua chuyên chế và đội ngũ đông đảo quý tộc, quan lại, chủ ruộng đất và tầng
lớp tăng lữ. Đó là tầng lớp có nhiều của cải và quyền thế, giữ chức vụ tôn giáo
hoặc quản lí bộ máy nhà nước, địa phương... Họ sống giàu sang bằng sự bóc lột,
bổng lộc do nhà nước cấp và do chức vụ đem lại.
Nô lệ là tầng lớp thấp nhất trong xã hội. Họ có nguồn gốc là những tù binh
bị bắt trong chiến tranh hay những nông dân nghèo không trả được nợ. Họ
chuyên làm các việc nặng nhọc và hầu hạ tầng lớp quý tộc.
– Hãy trình bày vai trò của nông dân công xã trong xã hội cổ đại
phương Đông.
4. Chế độ chuyên chế cổ đại
Nhờ sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, các cư dân phương Đông đã
sớm bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước ngay từ buổi đầu của thời đại đồ
đồng. Từ thiên niên kỉ IV đến thiên niên kỉ III TCN, xã hội có giai cấp và nhà
nước đều đã được hình thành ở lưu vực sông Nin, sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát, sông
Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà.
Xã hội có giai cấp và nhà nước được hình thành từ liên minh bộ lạc, tức là
nhiều bộ lạc có quan hệ thân thuộc với nhau, liên kết với nhau do nhu cầu trị
thuỷ và xây dựng các công trình thuỷ lợi. Nhà nước được lập ra để điều hành và
quản lí xã hội. Cơ cấu bộ máy nhà nước đó mang tính chất của một nhà nước
chuyên chế trung ương tập quyền. Đứng đầu nhà nước là vua.
15 |
10_3_5 | Để cai trị nông dân công xã và
nô lệ, vua đã dựa vào quý tộc
và tôn giáo, bắt mọi người phải
phục tùng. Vua tự coi mình là
người đại diện của thần thánh
ở dưới trần gian, người chủ tối
cao của đất nước, tự quyết
định mọi chính sách và công
việc. Vua trở thành vua chuyên
chế mà người Ai Cập gọi là
Pharaôn (cái nhà lớn), người
Lưỡng Hà gọi là Enxi (người
đứng đầu), Trung Quốc gọi là
Thiên tử (con Trời)...
Hình 3 –
Quách vàng tạc hình vua Ai Cập
Tu-tan-kha-môn (1361-1352 TCN)
Giúp việc cho nhà vua là một bộ máy hành chính quan liêu gồm toàn quý tộc,
đứng đầu là Vidia (Ai Cập) hoặc Thừa tướng (Trung Quốc). Bộ máy này làm các
việc thu thuế, xây dựng các công trình công cộng như đền tháp, cung điện,
đường sá và chỉ huy quân đội. Như thế, chế độ nhà nước của xã hội có giai cấp
đầu tiên ở phương Đông, trong đó vua là người đứng đầu, có quyền lực tối cao,
gọi là chế độ chuyên chế cổ đại.
– Ở các nước phương Đông, vua có những quyền gì ?
– Tại sao gọi chế độ nhà nước phương Đông là chế độ chuyên
chế cổ đại ?
5. Văn hoá cổ đại phương Đông
Sự xuất hiện xã hội có giai cấp và nhà nước không chỉ dẫn đến áp bức, bóc
lột, đấu tranh... mà còn là một biểu hiện của thời đại văn minh, trong đó
con người sản xuất được của cải dồi dào hơn trước và sáng tạo trong đời sống
văn hoá tinh thần.
16 |
10_3_6 | a) Sự ra đời của Lịch pháp và Thiên văn học
Những tri thức Thiên văn học và Lịch pháp học ra đời vào loại sớm nhất ở
các quốc gia cổ đại phương Đông. Nó gắn liền với nhu cầu sản xuất nông
nghiệp. Để cày cấy đúng thời vụ, những người nông dân luôn phải “trông trời,
trông đất”. Dần dần, họ biết đến sự chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Đó
là những tri thức đầu tiên về thiên văn. Từ tri thức đó, người phương Đông sáng
tạo ra lịch. Vì vậy, lịch của họ là nông lịch, một năm có 365 ngày được chia
thành 12 tháng.
Đây cũng là cơ sở để người ta tính chu kì thời gian và mùa. Thời gian được
tính bằng năm, tháng, tuần, ngày. Năm lại có mùa ; mùa mưa là mùa nước lên,
mùa khô là mùa nước xuống, mùa gieo trồng đất bãi. Thời đó, con người còn
biết đo thời gian bằng ánh sáng mặt trời và tính được mỗi ngày có 24 giờ.
Thiên văn học sơ khai và lịch đã ra đời như thế.
b) Chữ viết
Sự phát triển của đời sống làm cho quan hệ của xã hội loài người trở nên phong
phú và đa dạng ; người ta cần ghi chép và lưu giữ những gì đã diễn ra. Chữ viết ra
đời bắt nguồn từ nhu cầu đó. Chữ viết là một phát minh lớn của loài người.
Các cư dân phương Đông là người đầu tiên phát minh ra chữ viết. Vào
khoảng thiên niên kỉ IV TCN, chữ viết đã xuất hiện ở Ai Cập và
Lưỡng Hà.
Lúc đầu, chữ viết chỉ là hình vẽ những gì mà họ muốn nói, sau đó họ
sáng tạo thêm những kí hiệu biểu hiện khái niệm trừu tượng. Chữ viết
theo cách đó gọi là chữ tượng hình. Người Trung Hoa xưa vẽ Ít để
chỉ ruộng, vẽ đt để chỉ cây và vẽ đt để chỉ rừng.
Người Ai Cập xưa vẽ — để chỉ nhà, vẽ O chỉ mồm, vẽ ( chỉ
Mặt Trời....
Sau này, người ta cách điệu hoá chữ tượng hình thành nét và ghép các
nét theo quy ước để phản ánh ý nghĩ của con người một cách phong
phú hơn gọi là chữ tượng ý. Chữ tượng ý chưa tách khỏi chữ tượng hình
mà thường được ghép với một thanh để phản ánh tiếng nói, tiếng gọi
có âm sắc, thanh điệu của con người.
Nguyên liệu được dùng để viết của người Ai Cập là giấy làm bằng vỏ cây
papirút. Người Su-me ở Lưỡng Hà dùng một loại cây sậy vót nhọn làm bút viết
lên trên những tấm đất sét còn ướt rồi đem phơi nắng hoặc nung khô. Người
Trung Quốc lúc đầu khắc chữ trên xương thú hoặc mai rùa, về sau họ đã biết kết
hợp một số nét thành chữ và viết trên thẻ tre hay trên lụa.
17 |
10_3_7 | 18
c) Toán học
Do nhu cầu tính toán lại diện tích ruộng đất sau khi ngập nước, tính toán
trong xây dựng, nên Toán học xuất hiện rất sớm ở phương Đông.
Lúc đầu, cư dân phương Đông biết viết chữ số từ 1 đến 1 triệu bằng
những kí hiệu đơn giản. Người Ai Cập cổ đại rất giỏi về hình học. Họ tính
được số Pi (TT) bằng 3,16 ; tính được diện tích hình tròn, hình tam giác,
thể tích hình cầu v.v... Còn người Lưỡng Hà giỏi về số học. Họ có thể
làm các phép cộng, trừ, nhân, chia cho tới một triệu. Chữ số mà ta dùng
ngày nay, quen gọi là chữ số A-rập, kể cả số 0, là thành tựu lớn do
người Ấn Độ tạo nên.
Những hiểu biết về toán học của người xưa đã để lại nhiều kinh nghiệm quý,
chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn ở thời sau.
d) Kiến trúc
Trong nền văn minh cổ đại
phương Đông, nghệ thuật kiến
trúc phát triển rất phong phú.
Nhiều di tích kiến trúc cách đây
hàng nghìn năm vẫn còn lưu lại
như Kim tự tháp ở Ai Cập,
những khu đền tháp ở Ấn Độ,
thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà
Những công trình cổ xưa
này là những kì tích về sức lao
động và tài năng sáng tạo của
con người.
Hình 4 – Cổng I-sơ-ta thành Ba-bi-lon
ở Lưỡng Hà |
10_3_8 | Hình 5 – Kim tự tháp ở Ai Cập
– Hãy cho biết những thành tựu văn hoá lớn của các quốc gia
cổ đại phương Đông.
CÂU HỎI
1. Tại sao cư dân trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á,
châu Phi có thể sớm phát triển thành xã hội có giai cấp và
nhà nước ? Đặc điểm kinh tế của các vùng này là gì ?
2. Xã hội cổ đại phương Đông gồm những tầng lớp nào ? Hãy
giải thích vì sao ở đây lại hình thành các tầng lớp xã hội đó.
3. Em hiểu thế nào là chế độ chuyên chế cổ đại phương Đông ?
4. Cư dân phương Đông thời cổ đại đã có những đóng góp gì
về mặt văn hoá cho nhân loại ?
19 |
10_4_1 | Bài 4
CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI
PHƯƠNG TÂY – HI LẠP VÀ RÔ-MA
Nằm trên bờ Bắc Địa Trung Hải, Hi Lạp và Rô-ma bao
gồm bán đảo và nhiều đảo nhỏ. Địa Trung Hải giống như
một cái hồ rất lớn, tạo nên sự giao thông thuận lợi giữa
các nước với nhau ; do đó, từ rất sớm đã có những hoạt
động hàng hải, ngư nghiệp và thương nghiệp biển. Trên
cơ sở đó, Hi Lạp và Rô-ma đã phát triển cao về kinh tế
và xã hội, làm cơ sở cho một nền văn hoá rất rực rỡ.
1. Thiên nhiên và đời sống của con người
20
20
Cảnh sông, núi, biển ở vùng Địa Trung Hải đẹp đẽ, muôn màu. Khí hậu
ấm áp, trong lành. Ban đầu, các bộ lạc đều sống trong các thung lũng. Ở đấy,
những dãy núi cao từ lục địa chạy ra biển đã ngăn cách thung lũng này với
thung lũng khác, tạo thành những đồng bằng nhỏ hẹp. Phần lớn lãnh thổ là núi
và cao nguyên. Đất canh tác đã ít lại không màu mỡ lắm, chủ yếu là đất ven đồi,
khô và rắn. Do đó, lưỡi cuốc, lưỡi cày bằng đồng không có tác dụng.
Khoảng đầu thiên niên kỉ I TCN, cư dân vùng Địa Trung Hải bắt đầu biết chế
tạo công cụ bằng sắt.
Nhờ công cụ bằng sắt, diện tích canh tác tăng hơn, việc trồng trọt đã có kết
quả. Thực ra, chỉ ở những vùng đất mềm và tốt mới có thể trồng lúa (lúa mì,
lúa mạch). Đất đai ở đây thuận tiện hơn cho việc trồng các loại cây lưu niên, có
giá trị cao như : nho, ô liu, cam, chanh... Con người phải gian khổ khai phá từng
mảnh đất, phải lao động khó nhọc mới bảo đảm được một phần lương thực.
Vì thế, các nước này vẫn phải mua lúa mì, lúa mạch của người Ai Cập, Tây Á...
Nhiều thợ giỏi, khéo tay đã xuất hiện. Họ làm ra những sản phẩm nổi tiếng
như đồ gốm, với đủ các loại bình, chum, bát bằng gốm tráng men trang trí hoa
văn có màu sắc và hình vẽ đẹp. |
10_4_2 | Đã có nhiều xưởng thủ công chuyên sản xuất một mặt hàng có chất
lượng cao. Nhiều xưởng thủ công có quy mô khá lớn : có xưởng từ 10 –
15 người làm, lại có xưởng lớn sử dụng từ 10 đến 100 nhân công,
đặc biệt mỏ bạc ở Át-tích có tới 2000 lao động.
Sự phát triển của thủ công nghiệp làm cho sản xuất hàng hoá tăng nhanh,
quan hệ thương mại được mở rộng. Người Hi Lạp và Rô-ma đem các sản phẩm
của mình như rượu nho, dầu ô liu, đồ mĩ nghệ, đồ dùng kim loại, đồ gốm...
đi bán ở mọi miền ven Địa Trung Hải. Sản phẩm mua về là lúa mì, súc vật,
lông thú từ vùng Hắc Hải, Ai Cập..., tơ lụa, hương liệu, xa xỉ phẩm từ các nước
phương Đông. Trong xã hội chiếm nô ở vùng này, nô lệ là thứ hàng hoá quan
trọng bậc nhất. Nhiều nơi như Đê-lốt, Pi-rê... trở thành trung tâm buôn bán nô
lệ lớn của thế giới cổ đại.
Hàng hoá được chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có buồm và
nhiều mái chèo của các nhà buôn giàu. Một chiếc tàu chở rượu nho
của Rô-ma dài tới 40m, chứa được 7000 đến 8000 vò (tức trọng tải từ
350 đến 400 tấn) bị đắm từ thời ấy đã được các nhà khảo cổ học tìm
thấy vào năm 1967 ở vùng biển phía nam nước Pháp.
Hình 6 – Xưởng chế biến dầu ô liu ở Nam I-ta-li-a (kho chum đựng dầu
được phát hiện, có khoảng 40 chum chứa gần 6000 lít dầu ăn)
Hoạt động thương mại phát đạt đã thúc đẩy việc mở rộng lưu thông tiền tệ.
Các thị quốc đều có đồng tiền riêng của mình. Đồng tiền Đenariuxơ của Rô-ma,
đồng tiền có hình chim cú của A-ten là những đồng tiền thuộc loại cổ nhất trên
thế giới.
21 |
10_4_3 | Như thế, nền kinh tế của các nhà nước ở vùng Địa Trung Hải phát triển
mau lẹ. Hi Lạp và Rô-ma sớm trở thành các quốc gia giàu mạnh.
– Trình bày ý nghĩa của việc xuất hiện công cụ bằng sắt đối với
vùng Địa Trung Hải.
2. Thị quốc Địa Trung Hải
Ven bờ Bắc Địa Trung Hải có nhiều đồi núi chia cắt đất đai thành nhiều vùng
nhỏ, không có điều kiện tập trung đông dân cư ở một nơi.
Mặt khác, khi dân cư sống thiên về nghề buôn và nghề thủ công thì sự tập
trung đông đúc lại không cần thiết. Mỗi vùng, mỗi mỏm bán đảo là giang sơn
của một bộ lạc. Khi xã hội có giai cấp hình thành thì đây cũng là một nước. Mỗi
thành viên là công dân của nước mình. Nước thì nhỏ, nghề buôn lại phát triển
nên dân cư sống tập trung ở thành thị. Phần chủ yếu của một nước là thành thị
với một vùng đất đai trồng trọt ở xung quanh. Thành thị có phố xá, lâu đài, đền
thờ, sân vận động, nhà hát và quan trọng hơn cả là có bến cảng. Cho nên, người
ta còn gọi nước đó là thị quốc(1) (thành thị là quốc gia).
Chẳng hạn, Attích là một mũi đất nhỏ ở Đông Nam Hi Lạp ngày nay,
xưa kia là một thị quốc, có diện tích hơn 2000 km2, dân số khoảng
400000 người, phần lớn sống ở thành thị A-ten (nay là thủ đô của Hi Lạp),
có 3 hải cảng, trong đó lớn nhất là cảng Pi-rê. Người ta gọi A-ten là
thị quốc, đại diện cho cả At-tích.
Hơn 30000 người là công dân A-ten, có tư cách và có quyền công dân(2).
Khoảng 15000 kiều dân (dân nơi khác đến ngụ cư) được tự do sinh sống, buôn
bán, làm ăn, nhưng không có quyền công dân. Chừng hơn 300 000 nô lệ lao
động, phục dịch và không có quyền gì cả, là tài sản riêng của mỗi chủ nô.
Uy thế của quý tộc xuất thân là bô lão của thị tộc đã bị đánh bạt. Quyền lực
xã hội chuyển vào tay các chủ nô, chủ xưởng và nhà buôn. Đây là kết quả của
một quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt.
Thắng lợi quyết định cuộc đấu tranh này là sự hình thành một thể chế dân
chủ. Hơn 30 000 công dân họp thành Đại hội công dân, bầu và cử ra các cơ quan
nhà nước, quyết định mọi công việc nhà nước.
(1) Trước đây gọi là thành bang.
(2) Với khoảng hơn 100 000 người nữa, gồm phụ nữ và trẻ em thuộc các gia đình công dân.
22 |
10_4_4 | Người ta không chấp nhận có vua. Có
50 phường, mỗi phường cử 10 người, làm
thành một Hội đồng 500, có vai trò như
“quốc hội”, thay mặt dân quyết định công
việc trong nhiệm kì 1 năm. Ở đây, người ta
bầu 10 viên chức điều hành công việc (như
kiểu một chính phủ) và cũng có nhiệm kì
1 năm. Viên chức có thể tái cử nếu được
bầu. Hằng năm, mọi công dân họp một lần
ở quảng trường, nơi ai cũng được phát biểu
và biểu quyết những việc lớn của quốc gia.
Thể chế dân chủ như thế đã phát triển
cao nhất ở A-ten. Nơi nào không có kiểu tổ
chức trên thì cũng có hình thức đại hội
nhân dân.
Hình 7 – Pê-ri-clét
(495? 429 TCN)
Thị quốc cổ đại là đô thị buôn bán, làm
nghề thủ công và sinh hoạt dân chủ. Mỗi
thành thị là một nước riêng. Ở đó, người ta bàn và quyết định nên buôn bán với
nước nào và loại hàng gì, dùng ngân quỹ vào việc gì, nên trợ cấp cho dân nghèo
bao nhiêu ; có biện pháp gì để duy trì thể chế dân chủ và đặc biệt là có chấp
nhận tiến hành chiến tranh hay không.
Lãnh thổ của thị quốc không rộng, nhưng số dân lại đông. Đất trồng trọt ở
đây đã ít, mà người ta lại càng ít trồng lúa, nhưng nơi đây có điều kiện tự nhiên
thuận lợi để phát triển buôn bán. Do đó, các thị quốc luôn luôn giữ quan hệ buôn
bán với nhau và với các vùng xa. Nhờ đó, các thị quốc trở nên rất giàu có.
Đặc biệt là A-ten, sau cuộc chiến tranh với Ba Tư, trở thành minh chủ
của các quốc gia Hi Lạp, lại nắm ưu thế trên biển, quản lí một ngân quỹ
rất lớn, có thu nhập hằng năm rất cao. A-ten đã miễn thuế cho mọi công
dân và trợ cấp cho các công dân nghèo đủ sống.
Sự giàu có của Hi Lạp dựa trên nền kinh tế công thương nghiệp, sử dụng lao
động nô lệ, làm các việc trồng, hái nho, khai mỏ, chèo thuyền và khuân vác...
khiến cho sự cách biệt giữa giàu và nghèo, giữa chủ nô và nô lệ ngày càng lớn.
Ở Rô-ma, sự cách biệt này còn lớn hơn.
Nô lệ bị bóc lột và bị khinh rẻ nên thường phản kháng chủ nô. Ở Hi Lạp, hình
thức phản kháng chủ yếu là trễ nải trong lao động và bỏ trốn, nhất là khi có
chiến tranh. Ở Rô-ma thì họ nổi dậy khởi nghĩa chống đối thực sự.
23 |
10_4_5 | DIA
TRUNG
HẢI
Lãnh thổ của đế quốc
Vùng ảnh hưởng
Dija gidi finh
Hình 8 – Lược đồ đế quốc Rô-ma thời cổ đại
Chữ khắc trên đầu cổng Khải
hoàn môn Trai-an :
IMP (eratori) CAESARI DIVI
NERVAE FILIO NERVAE TRA-
IANO OPTIMO AVG (usto) GER-
MANICO DACICO PONTIF (ici)
MAX (imo) TRIB (uniciae)
POTEST (atis) XVIII IMP (eratori) VII
COS (consuli) VIP (atri) P (atriae)
FORTISSIMO PRINCIPI SENATVS
P.Q.R.
(Thượng viện và dân chúng Rô-ma
dâng tặng Khải hoàn môn [này
cho Hoàng đế Xê-da, [và] con
của Ne-rva thần thánh [là] Nerva
Trai-an, đức độ và cao cả, người
Hình 9 – Khải hoàn môn Trai-an
(Bê-nê-ven-tô, Nam I-ta-li-a)
chiến thắng Giéc-man và Đa-xi-a, Đại Tư tế, Hộ dân 18 kì, Tổng chỉ huy
7 trận, Chấp chính 6 kì, Quốc phụ, Nguyên thủ anh dũng nhất).
14
24
Thị quốc là gì ?
- Thể chế dân chủ cổ đại biểu hiện ở chỗ nào ? |
10_4_6 | 3. Văn hoá cổ đại Hi Lạp và Rô-ma
Việc sử dụng công cụ bằng sắt và sự tiếp xúc với biển đã mở ra cho cư dân
Địa Trung Hải một chân trời mới, nâng họ lên một trình độ cao hơn về sản xuất
và buôn bán trên biển. Đó cũng là cơ sở để họ đạt tới trình độ sáng tạo văn hoá
cao hơn thời trước.
a) Lịch và chữ viết
Người Hi Lạp đã có hiểu biết chính xác hơn về Trái Đất và hệ Mặt Trời. Nhờ
đi biển, họ đã thấy Trái Đất không phải như cái đĩa mà như hình quả cầu tròn,
nhưng họ vẫn tưởng Mặt Trời chuyển động quanh Trái Đất. Tuy nhiên, họ đã
biết nếu tính mỗi vòng như thế là 360 ngày thì không chính xác. Về sau, người
Rô-ma đã tính được 1 năm có 365 ngày và 1/4 nên họ định một tháng lần lượt
có 30 và 31 ngày, riêng tháng hai có 28 ngày. Song, như thế so với thực tế vẫn
bị chậm một ít. Dù sao, phép tính lịch của người Rô-ma cổ đại đã rất gần với
những hiểu biết ngày nay.
Người Ai Cập, Lưỡng Hà và một số cư dân khác đã có chữ viết cổ. Nhưng
chữ của họ có quá nhiều hình, nét, kí hiệu ; khả năng phổ biến bị hạn chế. Cuộc
sống “bôn ba” trên biển, trình độ phát triển của nền kinh tế đã đặt ra cho cư dân
Địa Trung Hải nhu cầu sáng tạo ra một thứ chữ viết gồm các kí hiệu đơn giản,
nhưng phải có khả năng ghép chữ rất linh hoạt thành từ để thể hiện ý nghĩ của
con người.
Hệ thống chữ cái của người Hi Lạp và người Rô-ma đã ra đời từ đó. Hệ chữ
cái Rô-ma, tức là hệ A, B, C... ban đầu gồm 20 chữ, sau thêm 6, làm thành hệ
thống chữ cái hoàn chỉnh như ngày nay.
Họ cũng có hệ chữ số mà ngày nay ta thường dùng để đánh số các đề mục
lớn, gọi là “số La Mã”.
Sự ra đời của hệ thống chữ cái là một phát minh và cống hiến lớn lao của cư
dân Địa Trung Hải cho nền văn minh nhân loại.
b) Sự ra đời của khoa học
Những hiểu biết khoa học thực ra đã có từ hàng nghìn năm trước, từ thời cổ
đại phương Đông. Nhưng phải đến thời cổ đại Hi Lạp và Rô-ma, những hiểu biết
đó mới thực sự trở thành khoa học.
Với người Hi Lạp, Toán học đã vượt lên trên việc ghi chép và giải các bài
riêng biệt. Những nhà toán học mà tên tuổi vẫn còn lại đến nay, đã để lại những
định lí, định đề có giá trị khái quát hoá cao.
25 |
10_4_7 | 26
Định lí nổi tiếng trong Hình học của Ta-lét, những cống hiến của trường phái
Pi-ta-go về tính chất của các số nguyên và định lí về các cạnh của tam giác
vuông cùng với tiên đề về đường thẳng song song của Ơ-clít,... sau nhiều thế kỉ
vẫn là những kiến thức cơ sở của Toán học.
c) Văn học
Trước người Hi Lạp cổ đại, ở Ai Cập và Lưỡng Hà mới chỉ có văn học
dân gian. Đó là những bài thơ, truyện huyền thoại được truyền miệng
từ người này qua người khác rồi mới ghi lại.
Ở Hi Lạp, sau các anh hùng ca nổi tiếng của Hô-me là I-li-át và Ô-đi-xê, đã
xuất hiện những nhà văn có tên tuổi mà những tác phẩm của họ để lại vẫn còn
nguyên giá trị độc đáo cho đến ngày nay. Các nhà văn đó chủ yếu là những nhà
biên kịch và các tác phẩm của họ là những kịch bản ; bởi vì thời ấy, kịch (có kèm
theo hát) là hình thức nghệ thuật dễ phổ biến nhất và được ưa chuộng nhất.
Người Rô-ma tự nhận là học trò và người thừa kế của văn học – nghệ thuật
Hi Lạp. Tuy nhiên, dựa trên một nền kinh tế phát triển cao, ở thời hưng thịnh của
Rô-ma cũng đã xuất hiện những nhà văn hoá, nhà thơ nổi tiếng như Lu-cre-xơ,
Viếc-gin v.v...
Hình 10 – Đền Pác-tê-nông (Hi Lạp) |
10_4_8 | d) Nghệ thuật
Người Hi Lạp cổ đại đã để lại rất nhiều tượng và đền đài đạt tới trình độ
tuyệt mĩ.
Đó là những tượng nhỏ, tượng bán thân vốn được dựng ở các quảng
trường. Lại có những tượng thần lớn dựng ở đền, như tượng nữ thần
A-tê-na đội mũ chiến binh, hoặc các tác phẩm điêu khắc như Người lực sĩ
ném đĩa, thần Vệ nữ Mi-lô v.v...
Rô-ma có nhiều công trình kiến trúc như đền đài, cầu máng dẫn nước, trường
đấu... oai nghiêm, đồ sộ, hoành tráng và thiết thực, nhưng không tinh tế, tươi
tắn, mềm mại, gần gũi như những công trình ở Hi Lạp.
Hình II – Đấu trường ở Rô-ma
Giá trị nghệ thuật Hi Lạp được thể hiện như thế nào ?
CÂU HỎI
1. Hãy trình bày vai trò của thủ công nghiệp trong nền kinh tế
của các quốc gia cổ đại Hi Lạp và Rô-ma.
2. Bản chất của nền dân chủ cổ đại là gì ?
3. Văn hoá cổ đại Hi Lạp và Rô-ma đã phát triển như thế nào ?
Tại sao nói các hiểu biết khoa học đến đây mới trở thành
khoa học ?
27 |
10_5_1 | Chương
TRUNG QUỐC THỜI PHONG KIẾN
Bài 5 TRUNG QUỐC THỜI PHONG KIẾN
Ở Trung Quốc vào những thế kỉ cuối trước Công nguyên,
do sự phát triển sản xuất, xã hội phân hoá giai cấp, nên
chế độ phong kiến được hình thành sớm. Nhà Tần đã khởi
đầu xây dựng bộ máy chính quyền phong kiến. Hoàng đế
có quyền tuyệt đối. Thời phong kiến, kinh tế Trung Quốc
phát triển, nhất là nông nghiệp, nhưng nền kinh tế này trải
qua thăng trầm theo sự hưng thịnh của các vương triều.
Cuối thời Minh, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa được hình thành nhưng không phát triển được. Trên
cơ sở những điều kiện kinh tế xã hội mới, kế thừa những
truyền thống của nền văn hoá cổ, nhân dân Trung Quốc
đạt được nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ.
1. Trung Quốc thời Tần, Hán
Từ thời cổ đại, trên lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều quốc gia nhỏ
của người Trung Quốc. Giữa các nước này thường xuyên xảy ra các cuộc chiến tranh
nhằm xâu xé và thôn tính lẫn nhau, làm thành cục diện Xuân Thu – Chiến Quốc.
Đến thế kỉ IV TCN, Tần trở thành nước có tiềm lực về kinh tế và quân sự mạnh
hơn cả. Dựa vào ưu thế đó, nhà Tần đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ, chấm dứt tình
trạng chia cắt lãnh thổ.
28 |
10_5_2 | Năm 221 TCN, Tần đã
thống nhất được Trung Quốc.
Thời Tần, các giai cấp mới
được hình thành. Quan lại là
người có nhiều ruộng đất tư trở
thành địa chủ. Nông dân cũng
bị phân hoá. Một bộ phận giàu
có trở thành giai cấp bóc lột.
Một số khác vẫn giữ được
ruộng đất để cày cấy trở thành
nông dân tự canh. Số nông dân
công xã còn lại là những người
rất nghèo, không có ruộng,
phải nhận ruộng của địa chủ để
cày cấy – gọi là nông dân lĩnh
canh. Khi nhận ruộng, họ phải
nộp một phần hoa lợi cho địa
chủ, gọi là tô ruộng đất. Đến
đây, quan hệ bóc lột địa tô của
địa chủ đã thay thế cho quan
hệ bóc lột của quý tộc đối với
nông dân công xã. Chế độ
phong kiến được xác lập.
Tần Thuỷ Hoàng là vị vua
khởi đầu việc xây dựng bộ
máy chính quyền phong kiến
Hình 12 – Tượng người bằng đất nung
trong khu lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng
tập quyền. Vua Tần xưng là Hoàng đế, tự coi mình là đấng tối cao, có quyền
hành tuyệt đối, quyết định mọi vấn đề của đất nước. Dưới vua có hệ thống quan
văn, quan võ. Thừa tướng đứng đầu các quan văn, Thái uý đứng đầu các quan
võ. Đây là hai chức quan cao nhất của triều đình để giúp Hoàng đế trị nước
ngoài ra còn có các quan coi giữ tài chính, lương thực...
Hoàng đế còn có một lực lượng quân sự lớn để duy trì trật tự xã hội, trấn áp
các cuộc nổi dậy trong nước, tiến hành chiến tranh xâm lược với bên ngoài.
Hoàng đế chia đất nước thành các quận, huyện ; đặt các chức quan Thái thú
(ở quận) và Huyện lệnh (ở huyện). Các quan lại phải hoàn toàn tuân theo mệnh
lệnh của Hoàng đế và luật pháp của nhà nước.
Nhà Tần tồn tại được 15 năm, rồi bị cuộc khởi nghĩa nông dân do Trần Thắng,
Ngô Quảng lãnh đạo làm cho suy sụp. Lưu Bang, một địa chủ phong kiến
lên ngôi, lập ra nhà Hán (206 TCN – 220).
29
29 |
10_5_3 | Các hoàng đế triều Hán tiếp tục củng cố bộ máy cai trị, mở rộng hình thức
tiến cử cả con em gia đình địa chủ tham gia vào chính quyền.
Từ đất gốc của Trung Hoa ở vùng trung lưu sông Hoàng, nhà Tần và nhà Hán
đã lần lượt đoạt lấy vùng thượng lưu sông Hoàng (Cam Túc), thôn tính vùng
Trường Giang cho đến lưu vực sông Châu, lấn dần phía đông Thiên Sơn, xâm
lược Triều Tiên và đất đai của người Việt cổ.
Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Tần.
2. Sự phát triển chế độ phong kiến dưới thời Đường
Các cuộc chiến tranh liên miên hao người tốn của làm cho mâu thuẫn
giai cấp ngày càng gay gắt. Nông dân khắp nơi vùng dậy khởi nghĩa,
các thế lực cát cứ cũng tranh giành lẫn nhau, nhà Hán lung lay rồi sụp
đổ. Trung Quốc lại bước vào thời kì loạn lạc kéo dài.
Sau mấy thế kỉ rối ren, Lý Uyên dẹp tan được phe đối lập, đàn áp khởi nghĩa
nông dân, lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Đường (618 – 907).
Chế độ phong kiến Trung Quốc dưới thời Đường đã đạt đến đỉnh cao của nó.
So với các triều đại trước, kinh tế phát triển tương đối toàn diện. Cùng với các
biện pháp giảm tô thuế, bớt sưu dịch, nhà Đường lấy đất công và ruộng bỏ
hoang chia cho nông dân gọi là chế độ quân điền. Khi nhận ruộng, nông dân
phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước theo chế độ tô, dung, điệu(1). Người
ta cũng áp dụng những kĩ thuật canh tác mới vào sản xuất như chọn giống, xác
định thời vụ. Nhờ vậy, sản lượng tăng nhiều hơn trước. Thủ công nghiệp và
thương nghiệp bước vào giai đoạn thịnh đạt. Xưởng thủ công (gọi là tác phường)
luyện sắt, đóng thuyền có hàng chục người làm việc.
Vào thời Đường, từ các tuyến đường giao thông đã được hình thành trong các
thế kỉ trước, hai “con đường tơ lụa” trên đất liền và trên biển cũng được thiết
lập, mở rộng.
Về chính trị, nhà Đường tiếp tục củng cố chính quyền trung ương, làm cho
bộ máy cai trị phong kiến được hoàn chỉnh. Các hoàng đế nhà Đường cử người
thân tín cai quản các địa phương, đặc biệt giao cho các công thần hoặc người
thân tộc giữ chức Tiết độ sứ, trấn ải các miền biên cương. Đồng thời, nhà Đường
mở các khoa thi để tuyển chọn (không chỉ trong giới quý tộc mà cả con em địa
chủ) những người đỗ đạt ra làm quan. Như thế, chế độ phong kiến đã tạo
điều kiện cho quý tộc, địa chủ được tham gia vào bộ máy cai trị từ trung ương
đến địa phương. Chính quyền phong kiến thời Đường được tăng cường nhằm
nâng cao quyền lực tuyệt đối của Hoàng đế.
(1) Tô : thuế ruộng (bằng lúa) ; dung : thuế thân (bằng lao dịch) ; điệu : thuế hộ khẩu (bằng vải lụa).
30 |
10_5_4 | Các hoàng đế nhà Đường tiếp tục chính sách xâm lược mở rộng lãnh thổ. Nhà
Đường đem quân lấn chiếm vùng Nội Mông, chinh phục Tây Vực, xâm lược bán
đảo Triều Tiên, củng cố chế độ đô hộ ở An Nam (lãnh thổ Việt Nam hồi đó), ép
Tây Tạng phải thần phục. Nhờ vậy, Trung Quốc dưới thời Đường trở thành một
đế quốc phong kiến phát triển nhất.
Đến cuối thời Đường, mâu thuẫn xã hội trở nên sâu sắc, nông dân sống
trong cảnh cùng cực do tô thuế quá nặng nề, sưu dịch liên miên. Nạn
đói thường xuyên diễn ra. Nông dân lại nổi dậy chống chính quyền, tiêu
biểu là cuộc khởi nghĩa do Hoàng Sào lãnh đạo nổ ra vào năm 874.
Nhà Đường bị lật đổ, Trung Quốc rơi vào thời kì Ngũ đại – Thập quốc
nhưng Triệu Khuông Dẫn lại tiêu diệt được các thế lực phong kiến khác,
lập ra nhà Tống vào năm 960. Sau đó, miền Bắc Tống lại bị nước Kim
đánh chiếm. Đến cuối thế kỉ XIII, cả hai nước Kim và Nam Tống lần lượt
bị Mông Cổ tiêu diệt.
Những biểu hiện sự thịnh trị về kinh tế, chính trị của xã hội
phong kiến Trung Quốc dưới thời Đường là gì ?
3. Trung Quốc thời Minh, Thanh
Đầu thế kỉ XIII, trên thảo nguyên Mông Cổ hình thành nhà nước phong
kiến chuyên chế quân sự do Gien-gít Khan (Thành Cát Tư Hãn) làm
vua. Năm 1271, vua Mông Cổ là Khu-bi-lai (Hốt Tất Liệt) lên ngôi
Hoàng đế, thiết lập triều Nguyên ở Trung Quốc (1271 – 1368). Dưới sự
thống trị của nhà Nguyên, nhân dân Trung Quốc liên tiếp đứng lên đấu
tranh. Năm 1368, khởi nghĩa nông dân lật đổ được nhà Nguyên. Chu
Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế ở Nam Kinh(1), lập ra nhà Minh
(1368-1644).
Các vua triều Minh đã thi hành nhiều biện pháp nhằm khôi phục và phát
triển kinh tế. Đến đầu thế kỉ XVI, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
đã xuất hiện ở Trung Quốc.
Ở
Một số nghề đã có những xưởng thủ công tương đối lớn. Ở Giang Tây có
những trung tâm làm đồ gốm lớn như Cảnh Đức có tới 3000 lò sứ. Có
những chủ xưởng dệt nắm trong tay hàng vạn lạng bạc tiền vốn, hàng
chục khung cửi và hàng chục thợ. Những người thợ này làm thuê để lấy
tiền công. Bấy giờ, các nhà buôn lớn cũng xuất hiện. Họ có nhiều vốn và
nguyên liệu, đem giao cho các hộ thủ công làm để thu thành phẩm. Các
thương nhân bao mua, đem hàng đi trao đổi khắp trong và ngoài nước.
Hoạt động của họ thâm nhập vào cả lĩnh vực nông nghiệp như mùa xuân
họ xuất vốn cho nông dân trồng mía, mùa đông thu lại bằng đường.
(I) Đời Minh Thành Tổ (1403 – 1424), kinh đô dời lên Bắc Kinh.
31 |
10_5_5 | Các thành thị ở thời Minh mọc lên nhiều và rất phồn thịnh. Bắc Kinh, Nam
Kinh không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế lớn.
Minh Thái Tổ rất quan tâm đến việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế tập
quyền nhằm chấm dứt tình trạng hỗn chiến và mưu phản. Năm 1380, ông quyết
định bỏ các chức Thừa tướng, Thái uý và thay vào đó là các Thượng thư phụ trách
các bộ. Nhà Minh đã lập ra 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), hoàn chỉnh bộ
máy quan lại. Các quan ở tỉnh chịu sự chỉ đạo của các bộ ở triều đình. Hoàng đế
tập trung mọi quyền hành trong tay, trực tiếp nắm quân đội. Hoàng đế còn tăng
cường phong tước và ban cấp đất đai cho con cháu trong hoàng tộc, công thần thân
tín để làm chỗ dựa cho triều đình.
mênh mông. Địa chủ
Cuối thời Minh, việc bao chiếm và tập trung ruộng đất vào tay giai cấp quý tộc,
địa chủ diễn ra nghiêm trọng. Các vương công có nhiều “hoàng trang”, ruộng đất
ở địa phương có tới hàng nghìn mẫu ruộng. Ngược lại,
nông dân đói nghèo vì ít ruộng, sưu dịch và tô thuế nặng nề. Nhiều người phải cầm
ruộng, bán vợ đợ con, hoặc bỏ quê hương đi tha phương cầu thực. Khởi nghĩa nông
dân lại nổ ra. Cuộc nổi dậy của Lý Tự Thành làm cho triều Minh sụp đổ.
32
Hình 13 – Toàn cảnh Cố cung Bắc Kinh
Giữa lúc đó, một bộ tộc ở Đông Bắc Trung Quốc là Mãn Thanh đã đánh bại
Lý Tự Thành, lập ra nhà Thanh (1644 – 1911). Giống như triều Nguyên trước
đây, nhà Thanh thi hành chính sách áp bức dân tộc. Giai cấp thống trị Thanh
buộc người Trung Quốc phải theo phong tục của người Mãn từ y phục đến đầu
tóc. Mặc dù các hoàng đế Thanh dùng các biện pháp vỗ về, mua chuộc giai cấp
địa chủ người Hán, giảm nhẹ tô thuế cho nông dân, khuyến khích khẩn hoang,
nhưng không thể làm cho mâu thuẫn dân tộc dịu đi. Các cuộc khởi nghĩa nông
dân nổ ra ở khắp nơi đã làm cho chính quyền nhà Thanh suy yếu dần. |
10_5_6 | Lợi dụng cơ hội trên, tư bản phương Tây đua nhau nhòm ngó, xâm lược
Trung Quốc. Chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Thanh không những không
hạn chế được việc thương nhân châu Âu đưa nhiều hàng lậu vào Trung Quốc mà
còn gây nên cuộc xung đột kịch liệt, dẫn đến sự suy sụp của chế độ phong kiến
Trung Quốc.
- Những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
dưới thời Minh đã xuất hiện như thế nào ?
- Ảnh hưởng của chính sách áp bức dân tộc của triều Thanh đối
với sự phát triển của lịch sử Trung Quốc như thế nào ?
4. Văn hoá Trung Quốc thời phong kiến
Dưới thời phong kiến, nhân dân Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu văn
hoá rực rỡ, độc đáo.
Trong lĩnh vực tư tưởng, Nho giáo giữ vai trò quan trọng. Người đầu tiên khởi
xướng Nho học là Khổng Tử. Thời Hán Vũ Đế, Nho giáo trở thành công cụ sắc
bén phục vụ cho nhà nước phong kiến tập quyền, trở thành cơ sở lí luận và tư
tưởng của chế độ phong kiến Trung Quốc.
Các quan niệm về quan hệ giữa vua – tôi, cha – con, chồng – vợ là
giường mối, kỉ cương của đạo đức phong kiến. Nho giáo, mặc dù sau
này có ít nhiều thay đổi qua các thời đại, nhưng vẫn là công cụ tinh thần
để bảo vệ chế độ phong kiến. Nho giáo một mặt đề xướng con người
phải tu thân, rèn luyện đạo đức phẩm chất ; mặt khác giáo dục con
người phải thực hiện đúng bổn phận đối với quốc gia là tôn quân (trung
thành với nhà vua) ; đối với gia đình, con phải giữ chữ hiếu và phục tùng
cha. Nhưng về sau, cùng với sự suy đồi của giai cấp địa chủ phong
kiến, Nho giáo càng tỏ ra bảo thủ, lỗi thời và kìm hãm sự phát triển của
xã hội.
Phật giáo ở Trung Quốc cũng thịnh hành, nhất là vào thời Đường. Các nhà sư
như Huyền Trang, Nghĩa Tĩnh đã tìm đường sang Ấn Độ để tìm hiểu giáo lí của
đạo Phật. Ngược lại, nhiều nhà sư của các nước Ấn Độ, Phù Nam cũng đến
Trung Quốc truyền đạo. Kinh Phật được dịch ra chữ Hán ngày một nhiều. Khi
Bắc Tống mới thành lập, nhà vua cũng tôn sùng Phật giáo, cho xây chùa, tạc
tượng, in kinh và tiếp tục cử các nhà sư đi tìm hiểu thêm về đạo Phật tại Ấn Độ.
33 |
10_5_7 | 34
=4
Sử học bắt đầu từ thời Tây Hán đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu độc lập, mà
người đặt nền móng là Tư Mã Thiên. Bộ Sử kí do ông soạn thảo là một tác phẩm
nổi tiếng, có giá trị cao về mặt tư liệu và tư tưởng. Đến thời Đường, cơ quan biên
soạn lịch sử của nhà nước, gọi là Sử quán, được thành lập.
Văn học là một trong những lĩnh vực nổi bật nhất của nền văn hoá
Trung Quốc dưới thời phong kiến. Thơ Đường phản ánh toàn diện bộ mặt xã hội
bấy giờ và đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Tên tuổi nhiều nhà thơ còn
sáng mãi đến ngày nay, tiêu biểu nhất là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị...
Tiểu thuyết là một hình thức văn học mới phát triển ở thời Minh, Thanh.
Ở Trung Quốc, tại các thành phố lớn thường có những người chuyên làm
nghề kể chuyện về sự tích lịch sử. Dựa vào đó, các nhà văn đã viết thành tiểu
thuyết. Nhiều tác phẩm lớn, nổi tiếng đã ra đời trong giai đoạn này như
Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí
của Ngô Thừa Ân, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần...
La Quán Trung viết Tam quốc diễn nghĩa dựa vào câu chuyện được lưu
truyền trong dân gian về ba người Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi kết
nghĩa ở vườn đào. Nội dung cơ bản của tác phẩm miêu tả cuộc đấu
tranh về quân sự, chính trị phức tạp giữa ba nước Nguỵ, Thục, Ngô.
Tác phẩm Thuỷ hử của Thi Nại Am tường thuật lại diễn biến của cuộc
khởi nghĩa nông dân do Tống Giang làm thủ lĩnh tại vùng Lương Sơn Bạc.
Tác phẩm đã ca ngợi tài mưu lược, lòng quả cảm của những anh hùng
áo vải nên đã bị chính quyền đương thời cấm lưu truyền. Nhưng hình
ảnh của các anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc vẫn ăn sâu vào lòng
dân và đã tạo thêm nguồn sức mạnh tinh thần cổ vũ cuộc đấu tranh
chống phong kiến của nông dân Trung Quốc.
Ngô Thừa Ân kể chuyện sư Huyền Trang và các đồ đệ tìm đường sang
Ấn Độ lấy kinh Phật trong các tập Tây du kí nổi tiếng. Tính cách của
các nhân vật được biểu hiện trên suốt dọc đường đầy nguy nan trắc trở.
Cuối cùng thầy trò Huyền Trang đã đạt được mục đích.
Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần viết về câu chuyện hưng suy của
một gia đình quý tộc phong kiến và tình yêu của một đôi trai gái -
Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc. Qua đó, tác giả đã vẽ lên bộ mặt của
xã hội phong kiến trong giai đoạn suy tàn. |
10_5_8 | Hình 14 – Một đoạn Vạn lí trường thành
Các lĩnh vực Toán học, Thiên văn học, Y dược... của Trung Quốc cũng đạt
được nhiều thành tựu quan trọng.
Quyển Cửu chương toán thuật thời Hán nêu các phương pháp tính diện
tích và khối lượng khác nhau... Tổ Xung Chi (thời Nam – Bắc triều) đã
tìm ra số Pi đến 7 số lẻ.
Thời Tần, Hán, Trung Quốc phát minh ra nông lịch, chia 1 năm thành
24 tiết để nông dân có thể dựa vào đó mà biết thời vụ sản xuất. Trương
Hành còn làm được một dụng cụ để đo động đất gọi là địa động nghi...
Từ rất sớm, Trung Quốc đã có nhiều thầy thuốc giỏi. Nổi tiếng nhất là
Hoa Đà (thời Hán), người đầu tiên của Trung Quốc đã biết dùng phẫu
thuật để chữa bệnh. Tác phẩm Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân
là một quyển sách thuốc rất có giá trị.
Về mặt kĩ thuật, Trung Quốc có 4 phát minh quan trọng : giấy, kĩ thuật in,
la bàn và thuốc súng. Đó là những cống hiến rất lớn của nhân dân Trung Quốc
với nền văn minh thế giới.
Trung Quốc có nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc : Vạn lí trường
thành, những cung điện cổ kính, những bức tượng Phật sinh động... còn được
lưu giữ đến ngày nay.
35
55 |
10_5_9 | 36
-
Hình 15 – Tượng Phật bằng ngọc thạch trong cung
điện được tạc từ một khối ngọc thạch trắng và được
khảm đá quý
– Hãy tìm hiểu thêm về 4 phát minh lớn của Trung Quốc thời
phong kiến.
CÂU HỎI
1. Chế độ phong kiến Trung Quốc được hình thành như thế nào ?
2. Sự thịnh trị của chế độ phong kiến dưới thời Đường được biểu
hiện như thế nào ?
3. Hãy nêu những thành tựu văn hoá chủ yếu của Trung Quốc
thời phong kiến. |
10_6_1 | Chương V
ẤN ĐỘ THỜI PHONG KIẾN
Bài 6
CÁC QUỐC GIA ẤN VÀ VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG ẤN ĐỘ
Lãnh thổ Ấn Độ như hình “tam giác ngược”, hai bên giáp
biển, cạnh phía bắc nối với châu Á, nhưng lại ngăn cách
bởi dãy núi cao nhất thế giới – dãy Hi-ma-lay-a, nên còn
được gọi là tiểu lục địa Nam Á. Diện tích Ấn Độ khá
rộng lớn, hơn 3 triệu kmẻ, gấp khoảng 10 lần Việt Nam
và gần 15 lần nước Anh. Hai bờ biển lại có hai dãy núi
Đông Gát và Tây Gát, ngăn cách bởi cao nguyên Đề-can.
Do toàn núi cao, rừng rậm, rừng nguyên sinh nên lãnh
thổ Ấn Độ bị ngăn cách nhau đáng kể giữa Đông và Tây,
Bắc và Nam. Chỉ có miền Bắc là bằng phẳng, bởi lưu vực
của hai con sông lớn. Xưa kia phải kể cả con sông ở
Tây Bắc Ấn Độ, gọi là sông Ấn (Indus). Nhờ nó mà có
tên gọi Ấn Độ và lãnh thổ Ấn Độ (Hindustan), nơi khởi
nguồn của nền văn hoá Ấn Độ. Còn ở Đông Bắc bán đảo
là lưu vực sông Hằng (Ganga) rộng lớn và màu mỡ, là
quê hương, nơi sinh trưởng nền văn hoá truyền thống của
văn minh Ấn Độ.
37 |
10_6_2 | 1. Thời kì các quốc gia đầu tiên
Khoảng 1500 năm trước Công nguyên, vùng sông Hằng ở Đông Bắc có điều
kiện thuận lợi, mưa thuận gió hoà nên đã tiến bộ vượt lên, có vai trò nổi trội trên
cả miền Bắc Ấn Độ.
Từ các bộ lạc trồng lúa và chăn nuôi trên bờ sông Hằng, bắt đầu hình thành
một số nhà nước đầu tiên, đứng đầu là các tiểu vương, thường xuyên phát triển
kinh tế, xây dựng đất nước lớn mạnh và tranh giành ảnh hưởng với nhau.
Đến khoảng 500 năm trước Công nguyên, nước Ma-ga-đa lớn mạnh hơn cả,
được nhiều nước khác tôn phục.
Người Hi Lạp đã từng đến thăm kinh đô của Ma-ga-đa là Pa-ta-li-pu-tra,
kể lại : có phố dài 2 km, trên bến dưới thuyền, dọc hữu ngạn sông
Hằng. Vua mở đầu nước này, Bim-bi-sara, được coi là cùng thời và là
bạn của Phật tổ.
Hình 16 –
Lược đồ Ấn Độ
Lam-pa-ca
GAN-DHA-RA
Top-ra
De-li
Me-thu-ra
Bai-rat Ag
S. Hang
⚫ San-chi
■ Se-re-va-xti
Pa-te-i-pu-tra
MA-GADA
Tam-ra-l-pd
PA-LA
Pala
S.Go-da-va-ri
KA-LIN-GA
PA-LA-VA
Pa-le-va
BIỂN A-RÁP
Ma-xki
Gia-tin-ga
Ra-met-xva
Sa-ra-va-na
Ben-go-la
Cột Ast-ca
Kan-chili-pu-ram
PAN-DY-A
XRI LAN CA
38
thời cổ đại
Thành thị cổ
Trải qua hơn 10 đời vua, đến thế kỉ III TCN, xuất hiện ông vua kiệt xuất nhất
của nước này và nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Ấn Độ – vua A-sô-ca. |
10_6_3 | A-sô-ca xây dựng đất nước hùng cường, rồi đem quân đi đánh các nước
nhỏ, nhằm mục đích phát triển, thâu tóm quyền lực và thống nhất
Ấn Độ. Sau khi đánh thắng nhiều đối thủ, ông đã thống nhất được gần
hết bán đảo Ấn Độ, chỉ trừ một vùng đất ở cực Nam xa xôi (sau là nước
Pan-dy-a).
Chán cảnh binh đao, tàn sát, ông trở về một lòng theo đạo Phật và
tạo điều kiện để Phật giáo truyền bá rộng khắp đất nước Ấn Độ.
Ở nhiều nơi, ông còn cho dựng nhiều cột đá, khắc chữ, gọi là “chỉ dụ
A-sô-ca” nói về lòng sùng tín của mình và việc cai quản đất nước.
A-sô-ca qua đời cuối thế kỉ III TCN. Ấn Độ bước vào một thời kì chia rẽ,
khủng hoảng kéo dài mấy thế kỉ cho đến đầu Công nguyên.
Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước Ma-ga-đa
diễn ra như thế nào ?
2. Thời kì Vương triều Gúp-ta và sự phát triển văn hoá
truyền thống Ấn Độ
Đến đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ đã được thống nhất lại, bước vào
một thời kì mới phát triển cao và rất đặc sắc của lịch sử Ấn Độ – thời Vương
triều Gúp-ta.
Vương triều này do vua Gúp-ta lập, có vai trò tổ chức kháng cự, không cho
các tộc ở Trung Á xâm lấn từ phía tây bắc, thống nhất miền Bắc Ấn Độ ; tiếp
đó, tấn công chiếm cao nguyên Đê-can, làm chủ gần như toàn bộ miền Trung
Ấn Độ.
Vương triều Cúp-ta có 9 đời vua, qua gần 150 năm (319 – 467), vẫn giữ được
sự phát triển và nét đặc sắc cả dưới thời Hậu Gúp-ta (467 – 606) và Vương triều
Hác-sa tiếp theo (606 – 647), tức là từ thế kỉ IV đến thế kỉ VII. Nét đặc sắc nổi
bật của thời kì này là sự định hình và phát triển của văn hoá truyền thống Ấn Độ.
Ở Bắc Ấn Độ, thành phố Ka-pi-la-va-xtu là quê hương của nhà hiền triết
Sít-đác-ta, sau trở thành Phật tổ, hiệu là Sa-ky-a Mu-ni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật được truyền bá mạnh mẽ dưới thời vua A-sô-ca, tiếp tục dưới các triều
đại Gúp-ta và Hác-sa, đến thế kỉ VII.
Cùng với sự truyền bá Phật giáo, lòng tôn sùng đối với Phật, người ta đã làm
hàng chục ngôi chùa hang (đục đẽo hang đá thành chùa). Đây là những công
trình kiến trúc bằng đá rất đẹp và rất lớn. Cùng với chùa là những pho tượng
Phật được điêu khắc bằng đá hoặc trên đá.
39 |
10_6_4 | Cùng với Phật giáo, Ấn Độ giáo
(hay Hinđu giáo) cũng ra đời và phát
triển. Đây là tôn giáo bắt nguồn từ tín
ngưỡng cổ xưa của người Ấn. Ấn Độ
giáo thờ rất nhiều thần, chủ yếu là bốn
thần : bộ ba Brama (thần Sáng tạo thế
giới), Siva (thần Huỷ diệt), Visnu
(thần Bảo hộ), và Inđra (thần Sấm
sét). Đó là những lực lượng siêu nhiên
mà con người sợ hãi. Người ta xây
dựng nhiều ngôi đền bằng đá rất đồ
sộ, hình chóp núi, là nơi ngự trị của
thần thánh và cũng tạc bằng đá, hoặc
đúc bằng đồng rất nhiều pho tượng
thần thánh để thờ, với những phong
cách nghệ thuật rất độc đáo.
Người Ấn Độ sớm có chữ viết, như
chữ cổ vùng sông Ấn từ 3000 năm TCN,
Hình 17 – Lễ đường trong chùa hang
A-gian-ta (Ấn Độ)
chữ cổ vùng sông Hằng có thể có từ 1000 năm TCN. Ban đầu là kiểu chữ đơn sơ
Brahmi, được dùng để khắc trên cột A-sô-ca, rồi được nâng lên sáng tạo thành
hệ chữ Phạn (Sanskrit) được hoàn thiện từ thời A-sô-ca cả chữ viết và ngữ pháp.
Ngôn ngữ Phạn dùng phổ biến dưới thời Gúp-ta trong việc viết văn bia.
Ngôn ngữ và văn tự phát triển là điều kiện để chuyển tải, truyền bá văn học,
văn hoá Ấn Độ.
Thời Gúp-ta đã có những công trình kiến trúc, điêu khắc, những tác phẩm
văn học tuyệt vời, làm nền cho văn hoá truyền thống Ấn Độ, có giá trị vĩnh cửu,
xuyên suốt thời gian lịch sử của loài người.
Người Ấn Độ đã mang văn hoá, đặc biệt là văn học truyền thống của mình,
truyền bá ra bên ngoài. Đông Nam Á là nơi chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của văn
hoá Ấn Độ.
- Trình bày sự phát triển của văn hoá truyền thống Ấn Độ.
CÂU HỎI
1. Tại sao nói thời Gúp-ta là thời kì định hình và phát triển của
văn hoá truyền thống Ấn Độ ?
2. Những yếu tố văn hoá truyền thống nào của Ấn Độ có ảnh
hưởng ra bên ngoài và ảnh hưởng đến những nơi nào ?
40
40 |
10_7_1 | 7
Bài 7
SỰ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ
VÀ NỀN VĂN HOÁ ĐA DẠNG
CỦA ẤN ĐỘ
Ấn Độ thời Cúp-ta bắt đầu phát triển trên lưu vực sông
Hằng ở phía bắc, làm cơ sở hình thành nền văn hoá
truyền thống Ấn Độ – văn hoá Hinđu. Nền văn hoá đó
tiếp tục phát triển ở thời Hậu Cúp-ta và Hác-sa (thế kỉ
V – VII), được mở rộng trên toàn lãnh thổ Ấn Độ, và
tiếp tục duy trì ở các thời kì sau cùng với những nền
văn hoá khác.
1. Sự phát triển của lịch sử và văn hoá truyền thống trên toàn
lãnh thổ Ấn Độ
Đến thế kỉ VII, Ấn Độ lại bị rơi vào tình trạng chia rẽ, phân tán. Nguyên nhân
của nó một phần là do chính quyền trung ương suy yếu ; mặt khác do trải qua
6 – 7 thế kỉ, trên đất nước rộng lớn và ngăn cách nhau, mỗi vùng lãnh thổ lại có
những điều kiện và sắc thái riêng của mình, nên đất nước chia thành hai miền, Bắc
và Nam ; mỗi miền lại tách thành ba nước riêng, thành sáu nước, trong đó, nước
Pa-la ở vùng Đông Bắc và nước Pa-la-va ở miền Nam có vai trò nổi trội hơn.
Trong trường hợp này, sự phân liệt không nói lên tình trạng khủng hoảng, suy
thoái mà lại phản ánh sự phát triển tự cường của các vùng địa phương. Mỗi nước
lại tiếp tục phát triển sâu rộng nền văn hoá của mình, trên cơ sở văn hoá truyền
thống Ấn Độ – chữ viết, văn học và nghệ thuật Hinđu, đặc biệt là văn học và
nghệ thuật thời Gúp-ta.
Nước Pa-la-va ở miền Nam, thuận tiện về bến cảng và đường biển, đã có vai
trò tích cực trong việc phổ biến văn hoá Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á.
Như thế, ngay từ đầu Công nguyên và trong 5 thế kỉ tiếp theo (thế kỉ VII – XII),
văn hoá truyền thống của Ấn Độ phát triển rộng trên toàn lãnh thổ và có ảnh
hưởng ra bên ngoài.
- Sự phát triển văn hoá thời Gúp-ta đưa đến điều gì ?
41 |
10_7_2 | 2. Vương triều Hồi giáo Đê-li
Ấn Độ đã trải qua một thời kì phát triển, nhất là về văn hoá truyền thống,
nhưng sự phân tán không đem lại sức mạnh thống nhất để người Ấn Độ có thể
chống cự được cuộc tấn công từ bên ngoài của người Hồi giáo gốc Thổ (Tuốc).
Năm 1055, thủ lĩnh của người Thổ dẫn quân đánh chiếm Bát-đa, rồi cải theo
Hồi giáo, lập nên một vương quốc Hồi giáo ở đây – vùng Lưỡng Hà. Đạo Hồi
(Ixlam) bắt đầu được truyền bá đến I-ran và Trung Á, lập nên một vương quốc
Hồi giáo nữa trên vùng giáp Tây Bắc Ấn Độ. Người Hồi giáo gốc Trung Á bắt
đầu tiến hành một cuộc chinh chiến vào đất Ấn Độ, từng bước chinh phục các
tiểu quốc Ẩn rồi lập nên Vương quốc Hồi giáo Ấn Độ, gọi tên là Đê-li (do vua
đóng đô ở Đê-li, một thành phố Bắc Ấn).
Trong hơn 300 năm tồn tại và phát triển, Vương triều Hồi giáo Đê-li (1206 –
1526) đã truyền bá, áp đặt Hồi giáo vào những cư dân theo Phật giáo và Hinđu
giáo, tự dành cho mình những ưu tiên về ruộng đất, địa vị trong bộ máy quan
lại. Ví như ngoài thuế ruộng đất (1/5 thu hoạch), những người không theo đạo
Hồi phải nộp thêm một khoản, gọi là “thuế ngoại đạo” – jaziah.
Mặc dù các ông vua đã cố gắng thực thi nhiều chính sách mềm mỏng để giữ
yên đất nước, nhưng sự phân biệt sắc tộc và tôn giáo không thể làm tan đi nỗi
bất bình của nhân dân.
Mặt khác, một yếu tố văn hoá mới – văn hoá Hồi giáo – cũng được du
nhập vào Ấn Độ, vốn đã có một nền văn hoá rất phong phú và đa dạng.
Có một số công trình kiến trúc do chính quyền Hồi giáo xây dựng, mang đậm
dấu ấn kiến trúc Hồi giáo. Trải qua 6 đời vua, chinh chiến nhiều hơn xây dựng,
nhưng kinh đô Đê-li cũng đã trở thành “một trong những thành phố lớn nhất thế
giới” ở thế kỉ XIV, như một người đương thời nhận xét sau khi đã đi rất
nhiều nơi.
Điều quan trọng ở đây là sự phát hiện nhau giữa hai nền văn minh đặc sắc
là Ấn Độ Hindu giáo và A-rập Hồi giáo. Sự giao lưu văn hoá Đông – Tây cũng
được thúc đẩy hơn(1).
Điều không kém quan trọng nữa là thời Vương triều Hồi giáo Đê-li cũng là
thời mà các thương nhân Ấn Độ mang đạo Hồi đến một số nơi, một số nước ở
Đông Nam Á, nơi mà một vài cộng đồng nhỏ Hồi giáo A-rập mang đến từ trước
đã được gia tăng sâu đậm hơn với thương nhân Ấn Độ theo đạo Hồi.
- Những nét chính về Vương triều Hồi giáo Đê-li.
(1) Người A-rập Hồi giáo tấn công vào lưu vực sông Ấn năm 710, châu Âu năm 732, sau đó lập quốc
gia Coóc-đô-ba ở Tây Ban Nha. Các từ như hoá học (Chimi), rượu (Alcool), đại số (Algebra) v.v...
có gốc từ A-rập.
42 |
10_7_3 | 3. Vương triều Mô-gôn
Thế kỉ XV, Vương triều Hồi giáo Đê-li bắt đầu suy yếu, thì cũng là lúc mà
một bộ phận dân Trung Á khác do thủ lĩnh vua là Ti-mua Leng chỉ huy,
cũng theo đạo Hồi nhưng lại tự nhận là dòng dõi Mông Cổ, bắt đầu tấn công
Ấn Độ từ năm 1398. Tuy thế, phải đến cháu nội của ông là Ba-bua mới thực hiện
được việc đánh chiếm Đê-li, lập ra một vương triều mới, gọi là Vương triều
Mô-gôn (gốc Mông Cổ).
Vương triều Mô-gôn (1526 – 1707) là thời kì cuối cùng của chế độ phong
kiến Ấn Độ. Tuy là thời kì cuối cùng, nhưng không phải chỉ có khủng hoảng,
suy thoái và tan rã. Thật vậy, các vị vua thời kì đầu đã ra sức củng cố vương triều
theo hướng “Ấn Độ hoá” và xây dựng đất nước. Đến thời trị vì của vị vua thứ tư
là A-cơ-ba, Ấn Độ đạt được bước phát triển mới.
Trong nửa thế kỉ trị vì, A-cơ-ba (1556 – 1605) đã thi hành một số chính sách
tích cực :
-
– Xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, dựa trên sự liên kết tầng lớp quý
tộc, không phân biệt nguồn gốc, số quan lại gốc Mông Cổ (thực ra là gốc
Trung Á Hồi giáo), gốc Ấn Độ Hồi giáo và cả gốc Ấn Độ Ấn giáo, có tỉ lệ
gần như bằng nhau ;
– Xây dựng khối hoà hợp dân tộc trên cơ sở hạn chế sự phân biệt sắc tộc, tôn
giáo và cũng có biện pháp hạn chế sự bóc lột quá đáng của chủ đất, quý tộc ;
– Tiến hành đo đạc lại ruộng đất để định ra mức thuế đúng và hợp lí, thống
nhất các hệ thống cân đong và đo lường ;
– Khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật.
Hình 18 – Cổng lăng A-cơ-ba ở Xi-can-đra (đầu thế kỉ XVII)
Những chính sách đó làm cho xã hội Ấn Độ ổn định, kinh tế phát triển, văn
hoá có nhiều thành tựu mới, đất nước thịnh vượng. A-cơ-ba được coi như là
43 |
10_7_4 | 44
một vị anh hùng dân tộc ; ngày nay tên
ông được đặt cho nhiều đường phố,
công trình, xứng với danh hiệu của
ông là Đấng Chí tôn A-cơ-ba.
Tuy nhiên, hầu hết các vua của
vương triều này đều dùng quyền
chuyên chế, độc đoán để cai trị một
đất nước rộng lớn nhưng rất đa dạng,
phân tán. Một số vị vua đã dùng biện
pháp đàn áp quyết liệt, hình phạt khắc
nghiệt để bắt dân chúng phục tùng,
đóng thuế và lao dịch nặng nề, bắt các
quý tộc có ý chống đối phải vâng lời.
Con và cháu của A-cơ-ba là Gia-han-
ghi-a (1605 – 1627) và Sa Gia-han
(1627 – 1658) đã chiếm đoạt rất nhiều
của cải. Để chứng tỏ quyền lực, ý
muốn của mình, các ông đã cho khởi
công xây dựng nhiều công trình kiến
Hình 19 – Lăng Ta-giơ Ma-han
(ở A-gra, thế kỉ XVII)
trúc, đặc biệt là lăng mộ Ta-giơ Ma-han và lâu đài Thành Đỏ (La Ki-la), dưới
thời Sa Gia-han, trên hai bờ sông Y-a-mu-na ở Bắc Ấn Độ.
Những công trình đó đã trở thành di sản văn hoá bất hủ, niềm tự hào vĩnh cửu
về sự sáng tạo, niềm xúc động sâu sắc và tình cảm cao quý của con người.
Nhưng Gia-han-ghi-a và Sa Gia-han đã làm cho sự đối kháng của nhân dân tăng
thêm, do lạm dụng quyền lực, công quỹ cùng sức lao động của dân. Hai ông vua
này hầu như đã đốt cháy tất cả thành quả của vua A-cơ-ba.
Ít lâu sau, tình trạng chia rẽ và khủng hoảng xuất hiện trở lại.
Trong lúc đó, thực dân Bồ Đào Nha đến từ thời kì đầu vương triều và ngày
càng nhiều, nhất là dưới thời Sa Gia-han. Họ đã lập các điểm buôn bán như
Địu, Đa-man... Vua cuối của Vương triều là Ao-reng-dép đã phải đối diện với
thực dân Anh và bước đầu để mất Ma-đrát, Bom-bay.
- Những nét chính về Vương triều Mô-gôn.
CÂU HỎI
1. Trình bày những chính sách của A-cơ-ba và ý nghĩa của nó.
2. Hãy cho biết vị trí của Vương triều Hồi giáo Đê-li và
Vương triều Mô-gôn trong lịch sử Ấn Độ. |
10_8_1 | Chương V
ĐÔNG NAM Á THỜI PHONG KIẾN
Bài 8
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CÁC VƯƠNG QUỐC CHÍNH
Ở ĐÔNG NAM Á
Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là một khu vực địa lí –
lịch sử – văn hoá riêng biệt và còn được gọi là khu vực
châu Á gió mùa. Gió mùa kèm theo mưa rất thuận lợi
cho việc phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Trên cơ sở
phát triển của đồ sắt và nền kinh tế nông nghiệp lúa
nước, từ những thế kỉ đầu của Công nguyên, các vương
quốc cổ đầu tiên đã được hình thành ở Đông Nam Á ;
tiếp đó đến khoảng thế kỉ IX − X, các quốc gia phong
kiến Đông Nam Á được xác lập và phát triển thịnh đạt
cho tới nửa đầu thế kỉ XVIII.
1. Sự ra đời của các vương quốc cổ ở Đông Nam Á
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng, bị chia cắt bởi những dãy núi, rừng
nhiệt đới và biển. Vì thế, ở đây không có những đồng bằng rộng lớn để trồng
lúa, những thảo nguyên mênh mông để chăn nuôi đàn gia súc lớn. Nhưng thiên
nhiên đã “ưu đãi” cho vùng này một điều kiện hết sức thuận lợi – đó là gió mùa.
Gió mùa kèm theo mưa rất thích hợp cho sự phát triển của cây lúa nước. Vì thế,
45 |
10_8_2 | cư dân Đông Nam Á từ rất xa xưa đã biết trồng lúa và nhiều loại cây ăn củ,
ăn quả khác.
Ngay từ thời đại đồ đá, người ta đã tìm thấy dấu vết cư trú của con người
ở hầu khắp các nước Đông Nam Á. Đến những thế kỉ đầu Công
nguyên, cư dân Đông Nam Á đã biết sử dụng đồ sắt. Nông nghiệp vẫn
là ngành sản xuất chính, nhưng ở mỗi nước đã hình thành một số ngành
thủ công truyền thống như dệt, làm đồ gốm, nghề đúc đồng và sắt...
Do nhu cầu trao đổi sản phẩm, việc buôn bán theo đường ven biển rất
phát đạt. Một số thành thị – hải cảng đã ra đời và hoạt động nhộn nhịp
như Óc Eo (An Giang – Việt Nam), Ta-kô-la (bán đảo Mã Lai) v.v...
-
Sự phát triển của các ngành kinh tế là cơ sở cho sự ra đời của hàng loạt quốc
gia nhỏ ở Đông Nam Á. Sự ra đời của các vương quốc cổ Đông Nam Á còn gắn
liền với tác động về mặt kinh tế của các thương nhân Ấn và ảnh hưởng của văn
hoá Ấn Độ. Các nước Đông Nam Á đã tiếp thu và vận dụng văn hoá Ấn Độ để
phát triển sáng tạo văn hoá của dân tộc mình.
Trong khoảng 10 thế kỉ đầu sau Công nguyên, hàng loạt quốc gia nhỏ đã
được hình thành và phát triển ở khu vực phía nam Đông Nam Á như Vương quốc
Cham-pa ở vùng Trung Bộ Việt Nam, Vương quốc Phù Nam ở hạ lưu sông
Mê Công, các vương quốc ở hạ lưu sông Mê Nam và trên các đảo của In-đô-nê-xi-a.
Thời ấy, các quốc gia này còn nhỏ bé, phân tán trên các địa bàn hẹp, sống riêng
rẽ và nhiều khi tranh chấp lẫn nhau. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn tới sự
sụp đổ của các vương quốc cổ, để rồi, trên cơ sở đó hình thành nên các quốc gia
phong kiến dân tộc hùng mạnh sau này.
- Điều kiện hình thành các vương quốc cổ ở Đông Nam Á là gì ?
2. Sự hình thành và phát triển của các quốc gia phong kiến
Đông Nam Á
46
Trong khoảng từ thế kỉ VII đến X, ở khu vực Đông Nam Á đã hình thành một
số quốc gia, lấy một bộ tộc đông và phát triển nhất làm nòng cốt, thường được
gọi là các quốc gia phong kiến “dân tộc” như Vương quốc Cam-pu-chia của
người Khơ-me, các vương quốc của người Môn và người Miến ở vùng hạ lưu
sông Mê Nam, của người In-đô-nê-xi-a ở Xu-ma-tơ-ra và Gia-va v.v...
Từ khoảng nửa sau thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII là thời kì phát triển của
các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á. |
10_8_3 | PA-GAN
Sri Kep-bre
TON-GU PO-M
Tha-ton
Au Lac
ĐẠI VIỆT
LAN ANG
Ha-ri-pun-glay-a
SU-KHO-THAY
MỘT THAY
Eva-sa-va-
She-va-pu-re
ANGCO
Chan Lep
| Phủ Nam
Chem-pa
CHAM PA
BIẾN
AN-DA-MAN
Taum-bra-fin-ge
Ke-da
AN DO DUONG
Me-kay-u
Tu-me-alc
SRI VI-GAY
Q. HOANG SA
..
BIEN
QHD. TRUNES SA
DONG
Ta-ru-ma
BIỂN GIA - VÀ
Cen-10-MO-GIO-PA-HIT
Ka--MA-TA-RAN
DONG
THÁI
BÌNH
DƯƠNG
| P50 Nam : Tên vương quốc cổ MÔI- GIÔ-PAHIT: Tên quốc gia phong kiến
-.-.-.; Biên giới quốc gia ngày nay
Hình 20 – Lược đồ các quốc gia Đông Nam Á cổ đại và phong kiến
Ở In-đô-nê-xi-a, đến cuối thế kỉ XIII dòng vua Gia-va mạnh lên, đã
chinh phục được Xu-ma-tơ-ra, thống nhất In-đô-nê-xi-a dưới Vương
triều Mô-gic-pa-hít hùng mạnh trong 3 thế kỉ (1213 – 1527), bao gồm
hơn 10 nước nhỏ và đảo phụ thuộc, có “sản phẩm quý, đứng hàng thứ hai
sau A-rập”. Trên bán đảo Đông Dương, ngoài các quốc gia Đại Việt và
Cham-pa, Vương quốc Cam-pu-chia từ thế kỉ IX cũng bước vào thời kì
Ăng-co huy hoàng. Trên lưu vực sông Ira-oa-đi, từ giữa thế kỉ XI,
47 |
10_8_4 | 48
quốc gia Pa-gan ở miền Trung đã mạnh lên, chinh phục các tiểu quốc
gia khác, thống nhất lãnh thổ, mở đầu cho quá trình hình thành và phát
triển của Vương quốc Mi-an-ma.
Cũng trong thế kỉ XIII, do sự tấn công của người Mông Cổ, một bộ phận
người Thái, vốn sinh sống ở thượng nguồn sông Mê Công đã di cư ồ ạt xuống
phía nam, định cư ở lưu vực sông Mê Nam và lập nên Vương quốc Su-khô-thay –
tiền thân của nước Thái Lan sau này. Một bộ phận khác định cư ở vùng trung
lưu sông Mê Công, lập nên Vương quốc Lan Xang (Lào) vào giữa thế kỉ XIV.
Hình 21 – Toàn cảnh đô thị cổ Pa-gan (Mi-an-ma)
Thế kỉ X− XVIII còn là giai đoạn phát triển thịnh vượng của nền kinh tế
khu vực, hình thành những vùng kinh tế quan trọng, có khả năng cung
cấp một khối lượng lớn lúa gạo, cá, sản phẩm thủ công (vải, hàng sơn,
đồ sứ, thuốc nhuộm, chế phẩm kim khí v.v...) và nhất là những sản vật
thiên nhiên (các loại gỗ quý, hương liệu, gia vị, đá quý, ngọc trai, cánh
kiến v.v...). Đã có một thời lái buôn của nhiều nước trên thế giới đến đây
buôn bán, mang sản vật của Đông Nam Á về nước họ, hay đến những
nơi khác xa xôi hơn.
Cùng với sự phát triển kinh tế và với quá trình xác lập các quốc gia “dân tộc”,
văn hoá dân tộc cũng dần được hình thành. Sau một thời gian tiếp thu và chọn
lọc, các dân tộc Đông Nam Á đã xây dựng được một nền văn hoá riêng của
mình và đóng góp vào kho tàng văn hoá chung của loài người những giá trị tinh
thần độc đáo. |
10_8_5 | Từ nửa sau thế kỉ XVIII, các quốc gia Đông Nam Á bước vào giai đoạn suy
thoái, mặc dù xã hội phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại cho tới khi trở thành thuộc
địa của các nước tư bản phương Tây vào giữa thế kỉ XIX.
Hình 22 – Toàn cảnh khu đền tháp Bô-rô-bu-đua (In-đô-nê-xi-a)
- Hãy kể tên và chỉ trên lược đồ các quốc gia phong kiến ở
Đông Nam Á.
CÂU HỎI
1. Điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á có những thuận lợi và khó
khăn gì đối với sự phát triển kinh tế và lịch sử của khu vực ?
2. Sự phát triển thịnh đạt của các quốc gia phong kiến Đông
Nam Á thế kỉ X − XVIII được biểu hiện như thế nào ?
3. Lập bảng tóm tắt các giai đoạn lịch sử trong sự phát triển
của khu vực Đông Nam Á đến giữa thế kỉ XIX.
49
49 |
10_9_1 | Bài 9
VƯƠNG QUỐC CAM-PU-CHIA
VÀ VƯƠNG QUỐC LÀO
Cam-pu-chia và Lào – hai quốc gia láng giềng gần gũi
của Việt Nam, đã có một truyền thống lịch sử lâu đời và
một nền văn hoá đặc sắc.
1. Vương quốc Cam-pu-chia
Đất nước Cam-pu-chia như một lòng chảo khổng lồ, xung quanh là rừng và
cao nguyên bao bọc, còn đáy chảo là Biển Hồ và vùng phụ cận với những cánh
đồng phì nhiêu, màu mỡ.
Ở Cam-pu-chia, tộc người chiếm đa số là Khơ-me. Địa bàn sinh tụ đầu tiên
của người Khơ-me ở phía bắc nước Cam-pu-chia ngày nay, trên cao nguyên
Cò Rạt và mạn trung lưu sông Mê Công. Người Khơ-me giỏi săn bắn, quen đào
ao, đắp hồ trữ nước. Họ đã sớm tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ, biết khắc bia bằng
chữ Phạn. Đến thế kỉ VI, vương quốc của người Khơ-me được hình thành mà sử
sách Trung Quốc gọi là nước Chân Lạp ; còn người Khơ-me tự gọi tên nước
mình là Cam-pu-chia.
Thời kì Ăng-co (802–1432) là thời kì phát triển của Vương quốc Cam-pu-chia.
Ăng-co là tên kinh đô, được xây dựng ở Tây Bắc Biển Hồ (nay thuộc tỉnh
Xiêm Riệp). Sau này, người ta lấy Ăng-co đặt tên cho thời kì dài nhất và phát
triển nhất của nước Cam-pu-chia phong kiến.
Dưới thời Ăng-co, người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Người ta
đào nhiều hồ, kênh, máng để trữ và điều phối nước tưới. Hồ Ba-ray Tây
có diện tích rộng 14000 ha, chứa được 47,7 triệu m3 nước. Ngoài nông
nghiệp, cư dân còn đánh bắt cá ở Biển Hồ, khai thác lâm sản quý và
săn bắt thú trên rừng. Thủ công nghiệp ở Cam-pu-chia đã có nhiều thợ
khéo tay, đặc biệt là các nghề làm đồ trang sức và chạm khắc trên đá,
trên các bức phù điêu của các đền tháp.
Nhờ sự ổn định vững chắc về kinh tế, xã hội, các vua Cam-pu-chia thời
Ăng-co đã không ngừng mở rộng quyền lực của mình ra bên ngoài. Trong các
50
50 |
10_9_2 | thế kỉ X − XII, Cam-pu-chia trở thành một trong những vương quốc mạnh và
ham chiến trận nhất Đông Nam Á.
Dưới thời Giay-a-vác-man VII (1181 – 1201), quân Cam-pu-chia đã tiến
đánh Cham-pa (1190) và biến vương quốc này thành một tỉnh của
Ăng-co, sau đó lại tiến hành thu phục vùng trung và hạ lưu Mê Nam,
tiến đến tận Say Phong (gần Viêng Chăn). Ở thượng lưu sông Mê Nam,
vua Giay-a-vác-man VII đã tiến đánh và thu phục địa bàn của Vương
quốc Môn Ha-ri-pun-giay-a, tiến tới sát biên giới Mi-an-ma. Về phía
nam, lãnh thổ Cam-pu-chia được mở rộng tới miền Bắc bán đảo Mã Lai.
Nhưng từ cuối thế kỉ XIII, Cam-pu-chia bắt đầu suy yếu. Thêm vào đó,
Vương quốc Thái thành lập vào thế kỉ XIV đã nhiều lần gây chiến với Cam-pu-chia,
tàn phá kinh thành Ăng-co. Sau 5 lần bị người Thái xâm chiếm, năm 1432 người
Khơ-me phải bỏ kinh đô Ăng-co, lui về phía nam Biển Hồ, tức là khu vực
Phnôm Pênh ngày nay. Từ đó, chính quyền phong kiến Cam-pu-chia luôn phải
đối phó với những cuộc tấn công từ bên ngoài và lao vào những vụ mưu sát,
tranh giành địa vị lẫn nhau. Tình hình diễn biến rất phức tạp, khiến đất nước
Cam-pu-chia hầu như suy kiệt khi thực dân Pháp đến xâm lược (1863).
Trong hơn một nghìn năm dưới chế độ phong kiến, người Cam-pu-chia đã
xây dựng nên một nền văn hoá riêng, hết sức độc đáo.
Từ những thế kỉ đầu Công nguyên, người Khơ-me đã học chữ Phạn của người
Ấn. Trên cơ sở đó, từ thế kỉ VII, người Khơ-me đã sáng tạo nên hệ thống chữ
viết riêng của mình. Từ đó về sau, các bài văn bia, ngoài phần mở đầu theo thói
quen viết bằng chữ Phạn, còn phần lớn đều được viết bằng chữ Khơ-me cổ.
Hình 23 – Ăng-co Vát (Cam-pu-chia)
51 |
10_9_3 | Dòng văn học dân gian và văn học viết với những truyện thần thoại, truyện
cười, truyện trạng, truyện thơ v.v... đều phản ánh những tình cảm của con người
đối với thiên nhiên, đất nước, tình cảm giữa những con người cùng sống chung
trong một cộng đồng.
Nghệ thuật kiến trúc Cam-pu-chia gắn chặt với những tôn giáo đã truyền bá
ở đây. Thời kì đầu, Cam-pu-chia tiếp thu văn hoá Hindu giáo. Thế kỉ XII,
Phật giáo Đại thừa lại có ảnh hưởng lớn ở Cam-pu-chia. Những công trình kiến
trúc Hinđu giáo và Phật giáo đã xuất hiện. Nổi tiếng nhất là quần thể kiến trúc
Ăng-co Vát và Ăng-co Thom.
Sự phát triển của Cam-pu-chia thời Ăng-co được biểu hiện
như thế nào ?
2. Vương quốc Lào
52
Đất nước Lào ngày nay gắn liền với dòng sông Mê Công. Sông Mê Công vừa
là nguồn tài nguyên thuỷ văn dồi dào, trục giao thông của đất nước, vừa là yếu
tố của sự thống nhất Lào về mặt địa lí. Đồng bằng ven sông tuy hẹp nhưng màu
mỡ là vựa lúa của Lào. Nơi đây đã có con người sinh sống từ lâu đời, mà chủ
nhân đầu tiên là người Lào Thong.
Người Lào Thơng có thể là chủ nhân của các nền văn hoá đồ đá, đồ đồng có
từ hàng nghìn năm trước và đã sáng tạo ra những chum đá khổng lồ còn nằm rải
rác hiện nay trên cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng). Mãi đến thế kỉ XIII mới có
một nhóm người nói tiếng Thái di cư đến đây, sinh sống hoà hợp với người
Lào Thơng, gọi là người Lào Lùm (người Lào ở thấp, để phân biệt với người
Lào Thong ở vùng đồi núi).
Tổ chức xã hội sơ khai của người Lào là các mường cổ.
Cư dân trong các mường chủ yếu trồng lúa nương, săn bắn và làm một
số nghề thủ công. Quan hệ kinh tế – xã hội dần dần phát triển. Theo
truyền thuyết, vị vua đầu tiên của Lào là Khún Bo-lom đã lên ngôi và
thực hiện cha truyền con nối. Có 15 vua kế tiếp nhau trị vì đất nước
trong vòng 500 năm. Vua Lào lúc đầu gọi là Khún, sau là Thào, rồi là
Phía (Phìa).
Pha Ngừm là người đã có công thống nhất các mường Lào, lên ngôi vua
năm 1353 và đặt tên nước là Lan Xang (nghĩa là Triệu Voi).
Vương quốc Lan Xang bước vào giai đoạn thịnh vượng ở các thế kỉ XV -
XVII. Các vua Lan Xang chia đất nước thành các mường, đặt quan cai trị, xây
dựng quân đội do nhà vua chỉ huy. Nhiều người châu Âu đến buôn bán thời kì |
10_9_4 | này đã miêu tả cuộc sống thanh bình, trù phú của người Lào và cho biết đất nước
có nhiều sản vật quý như thổ cẩm, cánh kiến, ngà voi... Trong quan hệ đối ngoại,
Lan Xang luôn chú ý giữ quan hệ hoà hiếu với các nước láng giềng, đồng thời
cũng cương quyết chiến đấu chống quân xâm lược Mi-an-ma vào nửa sau thế kỉ
XVI để bảo vệ lãnh thổ và nền độc lập của mình.
Dưới thời Xu-li-nha Vông-xa, đất nước được chia thành 7 tỉnh. Dưới vua
có một phó vương và 7 quan đại thần kiêm tổng đốc 7 tỉnh. Quân đội
được chia làm hai loại : quân thường trực của nhà vua và quân địa
phương. Nhà vua còn mua thêm một số vũ khí của thương nhân châu
Âu để trang bị cho quân đội.
Đến thế kỉ XVIII, Lan Xang suy yếu dần vì những cuộc tranh chấp ngôi báu
trong hoàng tộc. Sau khi Xu-li-nha Vông-xa chết, nước Lan Xang bị phân liệt
thành 3 tiểu quốc đối địch nhau : Luông Pha-bang, Viêng Chăn và Chăm-pa-xắc.
Nhân cơ hội đó, Xiêm đã xâm chiếm và cai trị Lào. Năm 1827, Chậu A Nụ đã
phất cờ khởi nghĩa, chống lại ách thống trị của Xiêm, nhưng đã bị thất bại.
Lào tiếp tục là thuộc quốc của Xiêm. Tình trạng đó kéo dài đến khi thực dân
Pháp xâm lược và biến Lào thành thuộc địa (năm 1893).
Cũng như các nhóm người Thái khác, người Lào có hệ thống chữ viết riêng,
được xây dựng một cách sáng tạo trên cơ sở vận dụng các nét chữ cong của
Cam-pu-chia và Mi-an-ma.
Hình 24 – Tháp Thạt Luổng (Viêng Chăn – Lào)
53 |
10_9_5 | 54
Người Lào thích ca nhạc và ưa múa hát, sống hồn nhiên nên các điệu múa
của họ thật cởi mở, vui tươi.
Từ thế kỉ XIII, đạo Phật truyền bá vào Lào theo một dòng mới. Ở Lào đã xuất
hiện một số công trình kiến trúc Phật giáo mà điển hình nhất là Thạt Luổng ở
Viêng Chăn. Thạt Luổng là một công trình kiến trúc Phật giáo, nhưng lại chịu
ảnh hưởng của các tháp Ấn Độ, đồng thời cũng có một dáng vẻ riêng của Lào.
Hình tượng quả bầu trên đỉnh Thạt Luổng tạo cho kiến trúc một dáng vẻ độc
đáo, riêng biệt của người Lào.
-Nêu những chính sách đối nội và đối ngoại của các vua
Lan Xang.
CÂU HỎI
1. Lập bảng biểu thị các giai đoạn lịch sử lớn của Cam-pu-chia.
2. Lập bảng biểu thị các giai đoạn lịch sử lớn của Lào.
3. Hãy nêu những nét tiêu biểu của văn hoá Cam-pu-chia và
văn hoá Lào. |
10_10_1 | Chương VI
TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI
THỜI KÌ HÌNH THÀNH
Bài 10 VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ
PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU
(Từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV)
Từ thế kỉ V, trên lãnh thổ của đế quốc Rô-ma rộng lớn
trước kia, dần hình thành các quốc gia của người Giéc-man,
quan hệ sản xuất phong kiến cũng dần dần được thiết lập
và củng cố. Sự xuất hiện của các thành thị trung đại vào
thế kỉ XI – XII đã có một vai trò hết sức to lớn đối với
sự phát triển của xã hội châu Âu thời trung đại.
1. Sự hình thành các vương quốc phong kiến ở Tây Âu
Từ thế kỉ III, đế quốc Rô-ma dần dần lâm vào tình trạng khủng hoảng. Hình
thức bóc lột chiếm hữu nô lệ không còn phù hợp. Cuộc đấu tranh của nô lệ dẫn
đến tình trạng sản xuất bị sút kém, xã hội rối ren. Trong tình hình đó, đến cuối
thế kỉ V, đế quốc Rô-ma bị người Giéc-man từ phương Bắc tràn xuống xâm
chiếm. Năm 476, đế quốc Rô-ma bị diệt vong. Chế độ chiếm nô kết thúc ở khu
vực Địa Trung Hải, thời đại phong kiến bắt đầu ở châu Âu.
55
55 |
10_10_2 | 50
56
Khi vào lãnh thổ của Rô-ma, người Giéc-man đã thủ tiêu bộ máy nhà
nước cũ, thành lập nhiều vương quốc mới của họ như vương quốc của
người Ăng-glô Xắc-xông, Vương quốc Phơ-răng, Vương quốc Tây Gốt,
Đông Gốt...
Người Giéc-man còn chiếm ruộng đất của chủ nô Rô-ma cũ rồi chia cho
nhau, trong đó các tướng lĩnh quân sự và quý tộc được phần nhiều hơn. Đồng
thời, các thủ lĩnh bộ lạc, các quý tộc thị tộc người Giéc-man cũng tự xưng vua,
phong các tước vị như công tước, bá tước, nam tước v.v... tạo nên hệ thống đẳng
cấp quý tộc vũ sĩ.
thuỷ của mình và tiếp thu
Người Giéc-man cũng từ bỏ các tôn giáo nguyên
Kitô giáo. Họ xây dựng nhà thờ và tìm cách chiếm ruộng đất của nông dân.
Đồng thời, nhà vua cũng phong tặng đất đai theo tước vị cho các quý tộc và
nhà thờ.
Tầng lớp quý tộc tăng lữ được hình thành. Thế là cùng với các quý tộc vũ sĩ
và quan lại, quý tộc tăng lữ cũng dần trở thành tầng lớp riêng, vừa có đặc quyền
vừa rất giàu có. Họ trở thành các lãnh chúa phong kiến, còn nô lệ và nông dân
thì biến thành nông nô, phụ thuộc vào các lãnh chúa. Quan hệ sản xuất phong
kiến ở châu Âu đã được hình thành. Quá trình này diễn ra rõ nét và mạnh mẽ
nhất ở Vương quốc Phơ-răng.
- Khi tràn vào lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã làm gì ?
Những việc làm đó có tác động như thế nào đến quá trình hình
thành quan hệ sản xuất phong kiến ở châu Âu ?
2. Xã hội phong kiến Tây Âu
Đến giữa thế kỉ IX, phần lớn đất đai đã được các quý tộc và nhà thờ chia nhau
chiếm đoạt xong. Những vùng đất đai rộng lớn đó đã nhanh chóng bị họ biến
thành khu đất riêng của mình – gọi là lãnh địa phong kiến . Đây là đơn vị chính
trị và kinh tế cơ bản trong thời kì phong kiến phân quyền ở Tây Âu.
Mỗi lãnh chúa phong kiến đều có một lãnh địa riêng. Mỗi lãnh địa là
một khu đất rộng lớn bao gồm đất của lãnh chúa và đất khẩu phần.
Trong khu đất của lãnh chúa có những lâu đài, dinh thự, nhà thờ và có
cả nhà kho, chuồng trại v.v..., có hào sâu, tường cao bao quanh, tạo
thành những pháo đài kiên cố. Đất khẩu phần ở xung quanh pháo đài
được lãnh chúa giao cho nông nô cày cấy và thu tô thuế. |
10_10_3 | Nông nô là những người sản xuất chính trong các lãnh địa. Họ bị gắn chặt
với ruộng đất và lệ thuộc vào lãnh chúa. Ai bỏ trốn sẽ bị trừng phạt rất nặng. Họ
nhận ruộng đất để cày cấy và phải nộp tô cho lãnh chúa. Mức tổ thường rất nặng,
có khi tới 1/2 số sản phẩm thu được. Ngoài ra, nông nô còn phải nộp nhiều thứ
thuế khác như thuế thân, thuế cưới xin, thuế thừa kế tài sản v.v... Tuy vậy, nông
nô vẫn được tự do trong quá trình sản xuất, có gia đình riêng, có túp lều để ở,
có nông cụ và gia súc... nên họ đã quan tâm đến sản xuất.
Kĩ thuật sản xuất đã có những tiến bộ đáng kể : biết dùng phân bón, gieo
trồng theo thời vụ, biết dùng cày và bừa cải tiến do hai ngựa kéo v.v... Mọi thứ
cần dùng trong lãnh địa từ lương thực, thực phẩm cho đến quần áo, giày dép...
đều do nông nô sản xuất. Người ta chỉ mua muối và sắt, hai thứ mà họ chưa tự
làm ra được ; ngoài ra không có sự trao đổi, buôn bán với bên ngoài. Như thế,
lãnh địa là một cơ sở kinh tế đóng kín, mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc.
Trên cơ sở của nền kinh tế tự nhiên, đóng kín, mỗi lãnh địa cũng là một đơn
vị chính trị độc lập. Các lãnh chúa có quyền cai trị lãnh địa của mình như một
ông vua, có quân đội, toà án, luật pháp riêng, có chế độ thuế khoá, tiền tệ, cân
đong, đo lường riêng. Một số lãnh chúa lớn còn buộc nhà vua ban cho mình
quyền “miễn trừ” không can thiệp vào lãnh địa của lãnh chúa. Như vậy, nhà vua
thực chất cũng là một lãnh chúa lớn. Đây là những biểu hiện của chế độ phong
kiến phân quyền ở Tây Âu thời trung đại.
Hình 25 – Lâu đài và thành quách kiên cố của lãnh chúa
Trong các lãnh địa, các lãnh chúa sống cuộc đời nhàn rỗi, xa hoa. Thời bình,
họ luyện tập cung, kiếm, cưỡi ngựa hoặc tổ chức những buổi tiệc tùng, hội hè
57 |
10_10_4 | trong những lâu đài nguy nga, tráng lệ. Họ sống sung sướng trên sự bóc lột tô
thuế và sức lao động của nông nô. Không những thế, họ còn đối xử với nông nô
hết sức tàn nhẫn. Vì vậy, nông nô đã nhiều lần nổi dậy chống lại các lãnh chúa,
điển hình là cuộc khởi nghĩa Giắc-cơ-ri nổ ra ở Pháp năm 1358 và Oát Tay-lơ
nổ ra ở Anh năm 1381.
- Hãy miêu tả lãnh địa phong kiến và cuộc sống của lãnh chúa
trong lãnh địa.
3. Sự xuất hiện các thành thị trung đại
Do sản xuất phát triển, từ
thế kỉ XI, ở Tây Âu đã xuất
hiện những tiền đề của nền
kinh tế hàng hoá. Giờ đây, sản
phẩm được bán ra thị trường
một cách tự do, không bị đóng
kín trong lãnh địa. Trong các
ngành thủ công nghiệp đã diễn
ra quá trình chuyên môn hoá
tương đối mạnh mẽ. Một số
thợ giỏi chỉ làm một nghề thủ
công riêng biệt như rèn, mộc,
làm đồ da, đồ gốm v.v... và
sống bằng việc trao đổi sản
phẩm thủ công của mình với
những nông nô khác.
Dần dần, để có điều kiện
thuận lợi nhất cho hoạt động
sản xuất, trao đổi sản phẩm,
một số thợ thủ công đã tìm
cách thoát khỏi lãnh địa bằng
Hình 26 – Hội chợ ở Đức
cách bỏ trốn hoặc dùng tiền chuộc lại thân phận. Họ đến những nơi có đông
người qua lại như ngã ba đường, bến sông v.v... để lập các xưởng sản xuất và
buôn bán hàng hoá. Từ đó, các thành thị ra đời. Ngoài ra còn có những thành
thị do các lãnh chúa lập ra hoặc được phục hồi từ những thành thị cổ đại.
58 |
10_10_5 | Trong các thành thị, cư dân chủ yếu gồm những thợ thủ công và thương
nhân. Họ tập hợp trong các tổ chức gọi là phường hội, thương hội và
đặt ra những quy chế riêng (gọi là phường quy), nhằm giữ độc quyền
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, bảo vệ quyền lợi cho những người cùng
ngành nghề và đấu tranh chống sự áp bức, sách nhiễu của các lãnh
chúa địa phương. Các thương nhân châu Âu hằng năm còn tổ chức
những hội chợ lớn hoặc cao hơn là thành lập các thương đoàn để trao
đổi, buôn bán.
Sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp và thương nghiệp trong các
thành thị đã góp phần phá vỡ nền kinh tế tự nhiên của các lãnh địa, tạo điều kiện
cho kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển. Thành thị còn góp phần tích cực xoá
bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, thống
nhất quốc gia, dân tộc. Đặc biệt, nó mang không khí tự do và mở mang tri thức
cho mọi người, tạo tiền đề cho việc hình thành các trường đại học lớn ở
châu Âu như Bô-lô-nha (I-ta-li-a), O-xphớt (Anh), Xoóc-bon (Pháp) v.v...
– Thành thị trung đại đã được hình thành như thế nào ? Cư dân
sống ở đó làm những nghề gì ?
CÂU HỎI
1. Các tầng lớp lãnh chúa và nông nô đã được hình thành như
thế nào ?
2. Thế nào là lãnh địa phong kiến ? Đời sống kinh tế và chính
trị trong các lãnh địa đó như thế nào ?
3. Trình bày nguồn gốc và vai trò của các thành thị trung đại
châu Âu.
59 |
10_11_1 | Bài 11 TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI
Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất đã làm cho nhu
cầu về hương liệu, vàng bạc, thị trường ngày một tăng.
Việc tìm con đường đi sang phương Đông đã thúc đẩy
các cuộc phát kiến lớn về địa lí. Nó mang lại nguồn của
cải lớn về châu Âu cũng như những hiểu biết mới về Trái
Đất. Trên cơ sở đó, công cuộc tích luỹ tư bản ban đầu
được tiến hành. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hình
thành. Hai giai cấp mới – tư sản và vô sản đã ra đời.
Giai cấp tư sản đang lên, có địa vị kinh tế, nhưng lại bị
chế độ phong kiến và Giáo hội cản trở. Họ đã đứng lên
đấu tranh, xây dựng một nền văn hoá mới trong phong
trào Văn hoá Phục hưng, tiến hành Cải cách tôn giáo.
Phong trào đấu tranh của nông dân đã diễn ra sôi nổi
ở nước Đức, báo hiệu cho sự suy vong của chế độ
phong kiến.
1. Những cuộc phát kiến địa lí
Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đã làm cho nhu cầu về
hương liệu, vàng bạc, thị trường ngày một tăng. Nhưng từ thế kỉ XV, con đường
giao lưu buôn bán qua Tây Á và Địa Trung Hải lại do người A-rập độc chiếm.
Vấn đề cấp thiết đang được đặt ra là phải tìm con đường thương mại giữa
phương Đông và châu Âu.
Vào thời điểm đó, khoa học
-
kĩ thuật có những bước tiến quan trọng.
Đây chính là tiền đề cho các cuộc phát kiến địa lí.
Các nhà hàng hải hiểu biết nhiều về đại dương, có quan niệm đúng đắn
về hình dạng Trái Đất. Người ta đã vẽ được nhiều bản đồ, hải đồ ghi rõ
các vùng đất, các hòn đảo có cư dân. Máy đo góc thiên văn, la bàn
được sử dụng trong việc định hướng giữa đại dương bao la. Kĩ thuật
đóng tàu có những tiến bộ mới, đóng được tàu có bánh lái và hệ thống
buồm lớn như loại tàu Ca-ra-ven.
60
60 |
10_11_2 | Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những nước tiên phong trong các cuộc thám
hiểm, khám phá ra những miền đất mới.
Năm 1487, B. Đi-a-xơ (1450 – 1500) là hiệp sĩ “Hoàng gia” đã dẫn đầu đoàn
thám hiểm đi vòng qua cực Nam của châu Phi. Điểm đó được ông đặt tên là mũi
Bão Tổ, sau gọi là mũi Hảo Vọng.
Tháng 8 – 1492, C. Cô-lôm-bô (1451 ? – 1506) đã dẫn đầu đoàn thuỷ thủ
Tây Ban Nha đi về hướng Tây. Sau hơn 2 tháng lênh đênh trên Đại Tây Dương,
ông đã đến một số đảo thuộc vùng biển Ca-ri-bê ngày nay, nhưng ông tưởng đây
là miền “Đông Ân Độ”. Cô-lôm-bộ được coi là người phát hiện ra châu Mĩ.
Ấn
Tháng 7 – 1497, Va-xcô đơ Ga-ma (1469 ? – 1524) chỉ huy đoàn thuyền
Bồ Đào Nha rời cảng Li-xbon, đi tìm xứ sở huyền thoại của hương liệu và vàng
ở phương Đông. Tháng 5 – 1498, ông đã đến Ca-li-cút thuộc bờ Tây Nam Ấn Độ.
Trở về Li-xbon, Va-xcô đơ Ga-ma được phong làm Phó vương Ấn Độ.
Ph. Ma-gien-lan (1480 – 1521) là người đã thực hiện chuyến đi đầu tiên vòng
quanh thế giới bằng đường biển từ năm 1519 đến năm 1522. Đoàn tàu của ông đi
vòng qua điểm cực Nam của Nam Mĩ (sau này được gọi là eo biển Ma-gien-lan)
tiến vào đại dương, mà ông đặt tên là Thái Bình Dương. Tại Phi-líp-pin, ông bị
thiệt mạng trong lúc giao tranh với thổ dân. Cuối cùng, đoàn thám hiểm chỉ còn
1 thuyền và 18 thuỷ thủ đã về đến bờ biển Tây Ban Nha.
BẮC HỮ
ĐẠI TÂY
ĐƯƠNG
CHÂU ÂU
CHÂU Á
THÁI
Li-bon Palot
THÁI
be-vin
Con bộ
BÌNH
CHÂU PHI
BÌNH
DƯƠNG
PhHip-pin
DƯƠNG
Ma-glen-lan
NAM M
Ma-glen-lan
Voxco do Ga-ma
Hình 27 – Lược đồ những cuộc phát kiến địa lí
ẤN ĐỘ
DƯƠNG
Ma-glentan
CHÂU
ĐẠI DƯƠNG
61 |
10_11_3 | Phát kiến địa lí đã mở ra một trang mới trong tiến trình phát triển của lịch sử
loài người. Nó đã khẳng định Trái Đất hình cầu, mở ra những con đường mới,
những vùng đất mới, những dân tộc mới, những kiến thức mới, tăng cường giao
lưu văn hoá giữa các châu lục. Thị trường thế giới được mở rộng, hàng hải quốc
tế phát triển. Đồng thời, nó cũng thúc đẩy quá trình khủng hoảng, tan rã của
quan hệ phong kiến và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu. Tuy nhiên cùng
với những yếu tố tích cực, các cuộc phát kiến địa lí đã nảy sinh quá trình cướp
bóc thuộc địa và buôn bán nô lệ.
– Hãy cho biết nguyên nhân của các cuộc phát kiến địa lí.
– Hãy chỉ trên lược đồ những cuộc phát kiến về địa lí.
2. Sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu
Sau các cuộc phát kiến địa lí, kinh tế ở châu Âu phát triển nhanh. Tầng lớp
quý tộc, thương nhân Tây Âu ra sức cướp bóc của cải, tài nguyên của các nước
ở châu Mĩ, châu Phi và châu Á. Giai cấp tư sản tích luỹ được số vốn ban đầu
bằng sự cướp bóc thực dân. Đồng thời, họ còn dùng bạo lực để cướp đoạt ruộng
đất của nông dân.
Ở Anh diễn ra phong trào “rào đất cướp ruộng”, biến ruộng đất thành
đồng cỏ nuôi cừu. Hàng vạn gia đình nông dân mất đất, đi lang thang,
buộc phải làm thuê trong các xí nghiệp của giai cấp tư sản. Ngay ở
thành thị, thợ thủ công cũng bị tước đoạt tư liệu sản xuất, trở thành
người đi làm thuê.
Đến đầu thế kỉ XVI, ở Tây Âu bắt đầu xuất hiện hình thức kinh doanh tư bản
chủ nghĩa.
Công trường thủ công thay thế các phường hội. Quy mô của các công xưởng
thủ công lên tới hơn 100 người. Nhờ áp dụng kĩ thuật mới vào quy trình sản
xuất, năng suất lao động tăng, sản phẩm nhiều hơn, giá cả hạ. Chủ xưởng tiến
hành bóc lột những người lao động làm thuê, quan hệ giữa họ là quan hệ của
chủ với thợ. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được hình thành trong các
công trường thủ công.
Nhiều nơi ở nông thôn, sản xuất nhỏ của nông dân dần dần bị xoá bỏ và được
thay thế bằng hình thức đồn điền hay trang trại. Người lao động biến thành công
nhân nông nghiệp theo chế độ làm công ăn lương. Chủ ruộng đất trở thành tư
sản nông thôn hay quý tộc mới.
62
62 |
10_11_4 | Trong ngành thương nghiệp cũng xuất hiện các công ti thương mại thay cho
các thương hội trung đại.
Từ những thay đổi nói trên, xã hội Tây Âu đã biến đổi, các giai cấp mới được
hình thành. Những chủ xưởng, chủ ngân hàng, chủ đồn điền hợp thành giai cấp
tư sản. Những người làm thuê, bị bóc lột trở thành giai cấp vô sản.
Những biểu hiện của sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở châu Âu
là gì ?
3. Phong trào Văn hoa Phục hưng
Bước sang giai đoạn hậu kì trung đại,
giai cấp tư sản mới ra đời, tuy có thế lực về
kinh tế, song lại chưa có địa vị xã hội
tương ứng. Cùng với việc con người bước
đầu nhận thức được bản chất của thế giới,
giai cấp tư sản đã đứng lên đấu tranh,
chống lại giáo lí Kitô mang nặng những
quan điểm lỗi thời của xã hội phong kiến.
Cuộc đấu tranh trước hết thể hiện qua
phong trào Văn hoá Phục hưng.
Giai cấp tư sản, một mặt muốn khôi
phục lại tinh hoa văn hoá xán lạn của các
quốc gia cổ đại Hi Lạp và Rô-ma, mặt
khác cũng góp phần xây dựng một nền văn
hoá mới, đề cao giá trị con người, đòi
quyền tự do cá nhân, coi trọng khoa học
kĩ thuật. Trào lưu văn hóa này được gọi là
phong trào Văn hoá Phục hưng.
Hình 28 – Bức hoạ “La Giô-công”
của Lê-ô-na đơ Vanh-xi
Quê hương của phong trào Văn hoá Phục hưng là I-ta-li-a. Từ đây, phong trào
Văn hoá Phục hưng đã lan nhanh sang các nước Tây Âu và trở thành một trào
lưu rộng lớn.
Thời đại Văn hoá Phục hưng chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của khoa học –
kĩ thuật, sự phát triển phong phú về văn học và sự nở rộ các tài năng.
Những con người “khổng lồ” đã xuất hiện, toả ánh hào quang trong
lịch sử : Ra bơ-le vừa là nhà văn, vừa là nhà y học ; Đê các tơ vừa là
nhà toán học xuất sắc, vừa là nhà triết học lớn ; Lê-ô-na đó Vanh-xi vừa
là hoạ sĩ thiên tài, vừa là kĩ sư nổi tiếng ; Sếch-xpia là nhà soạn kịch
vĩ đại v.v...
63
63 |
10_11_5 | Văn hoá thời Phục hưng đã lên án nghiêm khắc Giáo hội Kitô, tấn công vào
trật tự xã hội phong kiến, đề cao giá trị nhân bản và tự do cá nhân, xây dựng thế
giới quan tiến bộ. Đây là cuộc đấu tranh công khai đầu tiên trên lĩnh vực văn
hoá, tư tưởng của giai cấp tư sản chống lại giai cấp phong kiến lỗi thời. Nó đã
cổ vũ và mở đường cho văn hoá châu Âu phát triển hơn.
Vì sao có sự xuất hiện của phong trào Văn hoá Phục hưng ?
4. Cải cách tôn giáo và chiến tranh nông dân
64
a) Cải cách tôn giáo
Trong thời trung đại, giáo hội Kitô là chỗ dựa vững chắc nhất của chế độ
phong kiến châu Âu. Nó chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Đến
hậu kì trung đại, Giáo hội ngày càng có xu hướng ngăn cản, chống lại các phong
trào của giai cấp tư sản đang lên. Cuộc đấu tranh chống phong kiến đã làm bùng
lên ngọn lửa của phong trào Cải cách tôn giáo.
Đi đầu trong phong trào cải cách là các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa nhân
văn. Họ đề ra những tư tưởng tiến bộ.
Phong trào Cải cách tôn giáo diễn ra ở khắp các nước Tây Âu. Đi đầu là Đức,
Thuỵ Sĩ, sau đó sang Bỉ, Hà Lan, Pháp, Anh. Nổi tiếng nhất là cuộc cải cách tôn
giáo của M. Lu-thơ (1483 – 1546) ở Đức và của G. Can-vanh (1509 – 1564,
người Pháp) ở Thụy Sĩ.
Các nhà cải cách Lu-thơ và Can-vanh thực chất đều không có ý định thủ tiêu
tôn giáo, mà chỉ dùng biện pháp ôn hoà để tiến hành cải cách, bãi bỏ các thủ
tục và lễ nghi phiền toái. Cải cách tôn giáo đã được đông đảo nhân dân ủng hộ
và lan rộng khắp châu Âu ở thế kỉ XVI. Giáo hội đã phản ứng dẫn đến sự phân
hoá trong xã hội Tây Âu thành Tân giáo và Cựu giáo.
Các phong trào Cải cách tôn giáo và Văn hoá Phục hưng là những cuộc đấu
tranh công khai đầu tiên trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng của giai cấp tư sản chống
lại giai cấp phong kiến đã suy tàn. Nó cổ vũ và mở đường cho nền văn hoá châu
Âu phát triển cao hơn.
b) Chiến tranh nông dân Đức
Ở Đức, trong và sau Cải cách tôn giáo, nền kinh tế thấp kém, chế độ phong
kiến bảo thủ đã cản trở việc vươn lên của giai cấp tư sản. Người nông dân cũng
bị áp bức bóc lột nặng nề nên đã tiếp thu cải cách tôn giáo, tiếp thu tư tưởng của |
10_11_6 | Lu-thơ. Từ mùa xuân 1524, cuộc đấu tranh đã có tính chất quyết liệt, mở đầu
cho cuộc chiến tranh nông dân thật sự. Người lãnh tụ kiệt xuất của phong trào
là Tô-mát Muyn-xe.
Tô-mát Muyn-xe xuất thân từ một gia đình thợ mỏ ở Xton-béc. Thuở
nhỏ, ông rất chăm học ; 15 tuổi đã lập trong trường ông học một hội kín
chống Giám mục Ma-đơ-bua và nhà thờ La Mã. Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông
trở thành Linh mục. Năm 1521, ông ra nước ngoài, sau đó trở về Đức
vận động cách mạng. Ông rất đồng cảm với nhân dân, lên án gay gắt
sự hủ bại của Giáo hội, lên án chế độ bóc lột phong kiến. Ông kêu gọi
nông dân nổi dậy chống áp bức ; tuyên truyền và mở cuộc xây dựng
một xã hội bình đẳng cho mọi người.
Phong trào nông dân đã giành được thắng lợi bước đầu. Trước sự phát triển
của phong trào, giới quý tộc phong kiến và tăng lữ Đức đã dùng mọi thủ đoạn,
dốc mọi lực lượng đàn áp. Phong trào nông dân bị tổn thất nặng nề.
Cuộc chiến tranh nông dân Đức là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử lớn lao. Nó
biểu hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt và khí phách anh hùng của nông dân Đức
đấu tranh chống lại Giáo hội và chế độ phong kiến. Nó cũng báo hiệu sự khủng
hoảng suy vong của chế độ phong kiến.
– Hãy trình bày những nét chính của Chiến tranh nông dân Đức.
CÂU HỎI
1. Hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí là gì ?
2. Tại sao vào thời hậu kì trung đại, quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa đã xuất hiện ở Tây Âu ?
3. Hãy nêu tính chất của phong trào Văn hoá Phục hưng.
4. Trình bày đặc điểm và ý nghĩa của phong trào Cải cách
tôn giáo.
5. Ý nghĩa của cuộc Chiến tranh nông dân Đức.
65
55 |
10_12_1 | Bài
12
ÔN TẬP
LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN THUỶ,
CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI
Đến đây, chúng ta đã biết ba thời kì lớn của lịch sử loài
người : thời kì xã hội nguyên thuỷ, thời kì cổ đại và thời
kì phong kiến (còn được gọi là thời trung đại).
1. Xã hội nguyên thuỷ
Thời kì xã hội nguyên thuỷ là bước đi đầu tiên chập chững của loài người mà
dân tộc nào cũng phải trải qua.
Việc tạo ra lửa và dùng lửa, việc làm ra công cụ lao động từ thô sơ đến
chính xác, đa dạng và sử dụng có hiệu quả đã chứng tỏ tinh thần lao động sáng
tạo, luôn luôn cải tiến công cụ lao động của con người, nhằm mục đích không
ngừng cải thiện đời sống của mình.
– Nhờ tinh thần đó, đời sống của con người không ngừng tiến bộ : từ chỗ bữa
ăn thiếu thốn, thất thường tiến tới dư dật, có để dành và cao hơn nữa, biết chăn
nuôi và trồng trọt để chủ động tạo ra nguồn thức ăn.
Con người cũng đã biết làm nhà, dựng bếp, mặc quần áo và đeo đồ trang sức.
– Trong cuộc sống đó, mọi công việc đều đòi hỏi sự cố gắng cao nhất của tất
cả các thành viên. Mọi người đều sống theo cộng đồng, công bằng và tự nguyện;
có sự kính trọng và yêu quý lẫn nhau giữa lớp già và lớp trẻ, nhưng chưa có sự
áp bức và cưỡng ép, tư hữu và bóc lột.
Song xã hội nguyên thuỷ còn ở trình độ quá thấp nên loài người phải vượt
qua một chặng đường dài để tiến tới ngưỡng cửa của văn minh.
2. Xã hội cổ đại
66
a) Phương Đông cổ đại
Khoảng 6000 năm trước đây, người nông dân đã bắt đầu cày bừa trên ruộng
ở vùng ven sông Nin và Lưỡng Hà. |
10_12_2 | Người ta đã có được những điều kiện thuận lợi ở đây : đất ven sông phì nhiêu
và dễ cày bừa ; mùa nước lên xuống hằng năm ổn định, tiện việc gieo trồng và
tưới tiêu ; đất đai rộng rãi có thể quần tụ được đông người.
Những thuận lợi đó làm cho con người mặc dù còn ở trình độ kĩ thuật thấp,
vẫn tạo ra được sản phẩm thừa thường xuyên – điều kiện của sự hình thành xã
hội có giai cấp và nhà nước.
Xã hội có giai cấp đầu tiên ra đời khoảng 3500 năm TCN ở sông Nin,
Lưỡng Hà, tiếp đó ở sông Ấn và sông Hằng (Ấn Độ), Hoàng Hà (Trung Quốc)
và sông Hồng (Việt Nam), khoảng gần 2000 năm TCN, gọi chung là xã hội cổ
đại phương Đông.
Ở đây, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Bên cạnh nông nghiệp, người ta
cũng phát triển một số ngành nghề thủ công như đúc đồng, làm gốm, dệt vải,
làm giấy v.v... Một số nơi đã đạt tới trình độ tinh xảo về một loại ngành nghề
nào đó. Việc buôn bán trao đổi trong vùng và giữa các vùng với nhau cũng đã
được tiến hành.
Trong xã hội, tầng lớp nông dân công xã là đông đảo nhất và giữ vai trò chủ
yếu trong sản xuất.
Đứng trên tất cả, vua trở thành vua chuyên chế, vốn là một quý tộc lớn nhất
và dựa vào quý tộc để cai trị.
b) Phương Tây cổ đại
Ở những vùng ven biển, nhiều đảo, đi lại khó khăn, đất trồng ít và cứng. Phải
đến khi có sắt, khoảng 1000 năm TCN, sắt mới giúp con người giải quyết được
những khó khăn đó. Hơn thế, sắt còn mở ra cả một giai đoạn mới, phát triển với
quy mô và nhịp độ lớn hơn nhiều so với xã hội cổ đại phương Đông.
Thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển. Tiền tệ xuất hiện. Thị quốc ra
đời và hoạt động nhộn nhịp.
Nô lệ trở thành người sản xuất chính. Xã hội chiếm nô là một hình thức xã
hội bóc lột chủ yếu những người nô lệ. Chủ các xưởng, các hãng buôn...
làm thành giai cấp chủ nô và là giai cấp bóc lột, thống trị. Tầng lớp những người
bình dân không có vai trò chủ yếu trong sản xuất cũng như trong đời sống xã hội.
Xã hội chiếm nô phát triển cao và nhanh hơn xã hội cổ đại phương Đông, bắt
đầu khoảng gần 1000 năm TCN và chấm dứt vào năm 476, đồng thời cũng kết
thúc thời cổ đại.
40
67 |
10_12_3 | 3. Xã hội phong kiến – trung đại
-
Các nước phương Đông chuyển sang chế độ phong kiến tương đối sớm,
từ khoảng những thế kỉ cuối trước Công nguyên.
Hình thành trong xã hội hai giai cấp địa chủ và nông dân lĩnh canh, phản ánh
quan hệ bóc lột chủ yếu là bóc lột địa tô.
Trong điều kiện đó, vua chuyên chế không mất đi mà còn tăng thêm quyền
lực, trở thành hoàng đế hay đại vương. Các vương quốc thống nhất rộng hơn và
chặt chẽ hơn. Chế độ phong kiến phương Đông rơi vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng trong khoảng các thế kỉ XVII – XIX, trước khi chủ nghĩa tư bản
phương Tây đặt chân đến.
– Tây Âu bước vào chế độ phong kiến muộn hơn các nước phương Đông
chừng 5 thế kỉ. Đế quốc Rô-ma sụp đổ, các vương công địa phương ra sức chia
nhau ruộng đất và chiếm ruộng của nông dân làm lãnh địa. Bản thân họ trở
thành lãnh chúa.
Sau những cuộc phát kiến địa lí, nền sản xuất ở Tây Âu được đẩy mạnh. Bắt
đầu quá trình hình thành mầm mống của chủ nghĩa tư bản và của giai cấp tư sản.
Giai cấp tư sản mới ra đời tuy còn non yếu nhưng đã tỏ rõ sức mạnh về kinh
tế và tinh thần của nó, trở thành giai cấp giàu có nhất trong xã hội, tích cực đấu
tranh chống phong kiến trên các lĩnh vực tôn giáo, tư tưởng, văn hoá,
nghệ thuật...
Thế kỉ XV – XVI là giai đoạn hậu kì trung đại, giai đoạn suy vong của chế
độ phong kiến và chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản.
CÂU HỎI
1. Nêu những điểm nổi bật trong sự tiến triển của đời sống và
xã hội loài người (đến thời trung đại).
2. Vẽ biểu đồ thời gian chỉ sự phát triển kinh tế của xã hội
loài người (đến thời trung đại).
68
80 |
10_12_4 | P
hần hai
LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX
69
69
M31 |
10_13_1 | Chương
I
VIỆT NAM TỪ THỜI NGUYÊN THUỶ
ĐẾN THẾ KỈ X
Bài 13
VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THUỶ
Cách ngày nay 30 – 40 vạn năm, do có điều kiện tự nhiên,
khí hậu thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây cỏ và động
vật nên trên đất nước ta sớm có con người sinh sống. Trải
qua hàng chục vạn năm, Người tối cổ đã tiến hoá thành
Người tinh khôn, xã hội nguyên thuỷ ở Việt Nam chuyển
dần qua các giai đoạn hình thành, phát triển và tan rã.
1. Những dấu tích Người tối cổ ở Việt Nam
70
Trên đất nước ta, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích Người tối cổ có
niên đại cách ngày nay 30 – 40 vạn năm và nhiều công cụ đá ghè đẽo thô sơ của
Người tối cổ ở Lạng Sơn, Thanh Hoá, Đồng Nai, Bình Phước v.v...
Người tối cổ sống thành từng bầy. Họ săn bắt thú rừng và hái lượm hoa quả
để sống.
0 |
10_13_2 | Hình 29 – Rìu tay đá cũ Núi Đọ (Thanh Hoá)
DM31
- Em hãy nhận xét về địa bàn sinh sống của Người tối cổ ở
Việt Nam.
2. Sự hình thành và phát triển của Công xã thị tộc
Ở nhiều địa phương của nước ta đã tìm thấy những răng hoá thạch và nhiều
công cụ đá ghè đẽo của Người tinh khôn tại các di tích văn hoá Ngườm (Võ
Nhai – Thái Nguyên), Sơn Vi (Lâm Thao – Phú Thọ). Chủ nhân của văn hoá Sơn
Vi cư trú trong các hang động, mái đá ngoài trời, ven bờ sông, suối, trên một
địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh
Hoá, Nghệ An, Quảng Trị. Họ sống thành các thị tộc, sử dụng công cụ đá ghè
đẽo, lấy săn bắt, hái lượm làm nguồn sống chính.
Ở Hoà Bình, Bắc Sơn và nhiều địa phương khác trên đất nước ta đã tìm thấy
nhiều dấu tích của văn hoá sơ kì đá mới, cách ngày nay khoảng 6000 − 1 2000 năm.
Cư dân Hoà Bình, Bắc Sơn đã sống định cư lâu dài trong các hang động, mái
đá gần nguồn nước, hợp thành các thị tộc, bộ lạc, lấy săn bắt, hái lượm làm
nguồn sống chính. Ngoài ra, họ còn biết trồng các loại rau, củ, cây ăn quả... Một
nền nông nghiệp sơ khai đã bắt đầu từ thời văn hoá Hoà Bình.
Người Hoà Bình đã biết ghè đẽo nhiều hơn lên cả một bên mặt rìu đá, bước
đầu biết mài lưỡi rìu và làm một số công cụ bằng xương, tre, gỗ. Người
Bắc Sơn biết mài rộng lên trên lưỡi rìu đá và bắt đầu biết làm đồ gốm.
Cuộc sống vật chất và tinh thần của cư dân Hoà Bình, Bắc Sơn cũng được
nâng cao hơn.
71 |
10_13_3 | Cách ngày nay khoảng 5000 – 6000 năm, con người đã biết sử dụng kĩ thuật
cưa, khoan đá, phát triển kĩ thuật làm đồ gốm bằng bàn xoay. Công cụ lao động
được cải tiến, làm tăng năng suất lao động. Phần lớn các thị tộc đều bước vào
giai đoạn nông nghiệp trồng lúa dùng cuốc đá. Cùng với sự gia tăng dân số, việc
trao đổi sản phẩm được đẩy mạnh giữa các bộ lạc. Đời sống vật chất được ổn
định và cải thiện hơn, đời sống tinh thần được nâng cao. Các nhà khảo cổ học
thường coi đó là “cuộc cách mạng đá mới” ở nước ta. Địa bàn cư trú của các thị
tộc, bộ lạc bấy giờ đã mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước.
– Hãy cho biết những điểm tiến bộ trong hoạt động kinh tế của
cư dân Hoà Bình – Bắc Sơn.
- Những biểu hiện của “cách mạng đá mới” ở nước ta là gì ?
3. Sự ra đời của thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước
Cách ngày nay khoảng 3000 – 4000 năm, các bộ lạc sống rải rác trên đất nước
ta, trên cơ sở trình độ phát triển cao của kĩ thuật chế tác đá, làm gốm, đã bắt đầu
biết khai thác, sử dụng nguyên liệu đồng và thuật luyện kim để chế tạo công cụ,
các vật dụng trong cuộc sống. Nghề nông trồng lúa nước trở nên phổ biến.
Cư dân văn hoá Phùng Nguyên là những người mở đầu thời đại đồng thau ở
Việt Nam.
Các bộ lạc Phùng Nguyên làm nông nghiệp trồng lúa nước, sống định cư lâu
dài trong các công xã thị tộc mẫu hệ. Công cụ lao động chủ yếu vẫn bằng đá.
Họ làm gốm bằng bàn xoay, sử dụng các nguyên liệu tre, gỗ, xương để làm đồ
dùng, biết xe chỉ, dệt vải và chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, lợn, gà...
Trong các di chỉ thời Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều cục
đồng, xỉ đồng, dây đồng, dùi đồng.
Cùng thời với các bộ lạc Phùng Nguyên, các bộ lạc sống ở vùng châu thổ
sông Mã (Thanh Hoá), ở vùng lưu vực sông Cả (Nghệ An) cũng đã tiến đến thời
đại sơ kì đồng thau với nền nông nghiệp dùng cuốc đá phát triển. Nghề nông
giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế. Các nghề thủ công làm đá, gốm đạt
trình độ tương đương với cư dân Phùng Nguyên. Trong các di tích, bên cạnh các
hiện vật bằng đá, gốm còn có hiện vật bằng đồng.
Cách ngày nay khoảng 3000 – 4000 năm, các bộ lạc sống định cư ở vùng
Nam Trung Bộ ngày nay, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh cũng đã tiến đến buổi
đầu thời đại kim khí, biết đến thuật luyện kim.
Các di tích văn hoá Sa Huỳnh đã được phát hiện ở Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà...
12
72 |
10_13_4 | Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Sa Huỳnh là nông nghiệp trồng lúa và
các cây trồng khác. Họ bắt đầu biết chế tác và sử dụng đồ sắt. Ngoài ra, họ còn
làm gốm đẹp, dệt vải, làm đồ trang sức bằng đá quý, mã não, vỏ ốc, thuỷ tinh.
Cư dân văn hoá Sa Huỳnh thường thiêu xác chết, đổ tro vào các vò
bằng đất nung cùng với các đồ trang sức.
Ở lưu vực sông Đồng Nai cũng đã phát hiện được một số di tích văn hoá thời
đại đồ đồng.
Các di tích văn hoá sông Đồng Nai được phân bố ở Thành phố Hồ Chí Minh,
các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Long An...
Cư dân văn hoá sông Đồng Nai làm nghề nông trồng lúa nước và các cây
lương thực khác. Ngoài ra, họ còn làm nghề khai thác sản vật rừng, săn bắn, làm
nghề thủ công. Bên cạnh các công cụ bằng đá là chủ yếu còn có một số hiện vật
bằng đồng, vàng, thuỷ tinh.
Tóm lại, cách ngày nay khoảng 3000 – 4000 năm, trên các vùng miền của
đất nước ta, các bộ lạc đã bước vào thời đại kim khí, hình thành những nền văn
hoá lớn phân bố ở các khu vực khác nhau, làm tiền đề cho sự chuyển biến của
xã hội nguyên thuỷ sang thời đại mới.
- Những điểm mới trong cuộc sống của cư dân Phùng Nguyên
là gì ? So sánh với cư dân Hoà Bình – Bắc Sơn.
CÂU HỎI
1. Trình bày những giai đoạn phát triển chính của thời nguyên
thuỷ ở Việt Nam.
2. Em có nhận xét gì về thời gian ra đời thuật luyện kim ở các
bộ lạc sống trên đất nước ta ?
3. Sự ra đời của thuật luyện kim có ý nghĩa gì đối với các bộ lạc
sống trên đất nước ta cách đây khoảng 3000 – 4000 năm ?
4. Lập bảng thống kê những điểm chính về cuộc sống của các
bộ lạc Phùng Nguyên, Sa Huỳnh, Đồng Nai theo các nội
dung : địa bàn cư trú, công cụ lao động, hoạt động kinh tế.
73
33 |
10_14_1 | Bài 14 CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI
TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
Vào cuối thời nguyên thuỷ, các thị tộc, bộ lạc sống trên
đất nước ta đã biết sử dụng kim loại để chế tạo các vật
dụng. Nghề nông trồng lúa nước trở nên phổ biến. Trên
cơ sở đó đã hình thành các quốc gia cổ đại : Văn Lang –
Âu Lạc, Cham-pa, Phù Nam.
1. Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc
Vào thời gian đầu của văn hoá Đông Sơn(1), các công cụ lao động bằng
đồng thau trở nên phổ biến và bắt đầu có công cụ bằng sắt. Nhờ vậy, vùng châu
thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả được khai phá thành những cánh đồng màu
mỡ, có nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, dùng cày với sức kéo của trâu,
bò khá phát triển.
Hình 30 – Lưỡi cày đồng
(1) Thời gian tồn tại của văn hoá Đông Sơn là từ đầu thiên niên kỉ I TCN đến thế kỉ I SCN.
74 |
10_14_2 | Cùng với nghề nông, cư dân Đông Sơn còn săn bắn, chăn nuôi, đánh cá và
làm nghề thủ công như đúc đồng, làm đồ gốm. Sự phân công lao động giữa nông
nghiệp và thủ công nghiệp đã xuất hiện.
Sự chuyển biến trong nền kinh tế đã tạo tiền đề cho sự chuyển biến xã hội.
Từ thời Phùng Nguyên đã bắt đầu có hiện tượng phân hoá xã hội giữa giàu và
nghèo. Thời Đông Sơn, mức độ phân hoá xã hội ngày càng phổ biến hơn.
Tuy nhiên, sự phân hoá giàu, nghèo cũng chưa thật sâu sắc.
Cùng với sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp giàu, nghèo và sự giải thể
các công xã thị tộc, công xã nông thôn (làng, xóm) và các gia đình nhỏ theo chế
độ phụ hệ ra đời.
Sự chuyển biến kinh tế – xã hội nói trên đòi hỏi cấp thiết phải có các hoạt
động trị thuỷ, thuỷ lợi để phục vụ nông nghiệp. Cùng thời gian này, yêu cầu
chống ngoại xâm cũng được đặt ra. Những điều đó đã dẫn đến sự ra đời sớm của
nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
Tổ chức nhà nước Văn Lang – Âu Lạc còn rất đơn giản, sơ khai. Đứng đầu
nhà nước Văn Lang là vua Hùng, đứng đầu nhà nước Âu Lạc là vua Thục An
Dương Vương. Giúp việc cho vua có các Lạc hầu, Lạc tướng. Cả nước chia làm
15 bộ (đơn vị hành chính lớn), do Lạc tướng đứng đầu. Dưới bộ là các xóm,
làng, do Bồ chính (già làng) cai quản.
Kinh đô của nước Âu Lạc đặt ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)(1).
Hình 31 - Một đoạn thành Ngoại Cổ Loa
(1) Về kinh đô của nước Văn Lang, có nhiều sách viết khác nhau : Văn Lang, Phong Châu,
Bạch Hạc.
75 |
10_14_3 | Nhà nước Âu Lạc được mở rộng hơn về mặt lãnh thổ, hoàn chỉnh hơn về tổ
chức so với nhà nước Văn Lang (có quân đội mạnh, vũ khí tốt, đặc biệt có thành
Cổ Loa kiên cố, vững chắc). Nhờ vậy, nhiều lần nhân dân Âu Lạc đã đánh bại
các cuộc xâm lược của Triệu Đà.
Trong xã hội Văn Lang – Âu Lạc có các tầng lớp : vua, quý tộc ; dân tự do ;
nô tì.
Cư dân Văn Lang – Âu Lạc có cuộc sống vật chất và tinh thần khá phong phú.
Nguồn lương thực chính là thóc gạo (gạo nếp và gạo tẻ), ngoài ra còn có
khoai, sắn. Thức ăn có các loại cá, thịt, rau, củ.
Cư dân Việt cổ có tập quán ở nhà sàn, nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình ;
cả nam lẫn nữ đều thích dùng đồ trang sức. Thường ngày, nữ mặc áo, váy ; nam
đóng khố.
Tín ngưỡng phổ biến của cư dân Văn Lang – Âu Lạc là sùng bái tự nhiên
(thờ thần Mặt Trời, thần Sông, thần Núi và tục phồn thực). Tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, sùng kính các anh hùng, người có công với làng nước là nét đặc sắc của
người Việt cổ. Dần dần hình thành một số tục lệ : cưới xin, ma chay ; lễ hội khá
phổ biến, nhất là hội mùa.
– Hoạt động kinh tế của cư dân Đông Sơn có gì khác so với cư
dân Phùng Nguyên ?
- Những cơ sở và điều kiện đưa đến sự ra đời của nhà nước
Văn Lang là gì ?
– Nêu những nét cơ bản trong đời sống vật chất, tinh thần của
cư dân Văn Lang – Âu Lạc.
2. Quốc gia cổ Cham-pa
76
76
Trên cơ sở của văn hoá Sa Huỳnh ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung
và Nam Trung Bộ ngày nay, đã hình thành quốc gia cổ Cham-pa.
Thời Bắc thuộc, vùng đất ở phía nam dãy Hoành Sơn bị nhà Hán xâm chiếm
đặt thành quận Nhật Nam và chia làm 5 huyện để cai trị. Tượng Lâm là huyện
xa nhất (vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay). |
10_14_4 | Vào cuối thế kỉ II, nhân lúc tình hình Trung Quốc rối loạn, Khu Liên đã hô
hào nhân dân huyện Tượng Lâm nổi dậy giành quyền tự chủ. Cuộc khởi nghĩa
thắng lợi, Khu Liên tự lập làm vua, đặt tên nước là Lâm Ấp. Các vua Lâm Ấp về
sau mở rộng lãnh thổ về phía bắc đến sông Gianh (Quảng Bình), phía nam đến
sông Dinh (Bình Thuận) và đổi tên nước là Cham-pa.
Cũng như cư dân Việt cổ, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Cham-pa là
nông nghiệp trồng lúa, sử dụng công cụ bằng sắt và sức kéo của trâu, bò. Họ đã
biết sử dụng guồng nước trong sản xuất.
Ngoài nghề nông, các nghề thủ công, nghề khai thác lâm thổ sản cũng khá
phát triển, đặc biệt là kĩ thuật xây tháp đạt tới trình độ rất cao.
Cư dân Cham-pa có các nghề thủ công phát triển như nghề dệt, chế
tạo đồ đựng, làm đồ trang sức, vũ khí bằng kim loại, nghề đóng gạch
và xây dựng. Nhiều công trình xây dựng nổi tiếng như khu thánh địa
Mĩ Sơn, các tháp Chăm, tượng, các bức chạm nổi.
Cham-pa theo thể chế quân chủ. Vua nắm mọi quyền hành về chính trị,
kinh tế, tôn giáo. Giúp việc cho vua có Tể tướng và các đại thần. Cả nước chia
làm 4 khu vực hành chính lớn gọi là châu, dưới châu có huyện, làng. Kinh đô
ban đầu đóng ở Sin-ha-pu-ra (Trà Kiệu Quảng Nam), sau đó dời đến
In-đra-pu-ra (Đồng Dương – Quảng Nam) rồi chuyển tới Vi-giay-a (Chà Bàn –
Bình Định).
-
Hình 32 – Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam)
77
17 |
10_14_5 | Từ thế kỉ IV, dân tộc Chăm đã có chữ viết bắt nguồn từ chữ Phạn của Ấn Độ.
Tôn giáo của người Chăm là Hinđu giáo và Phật giáo.
Người Chăm có tập tục ở nhà sàn, ăn trầu cau và hoả táng người chết.
Xã hội người Chăm bao gồm các tầng lớp quý tộc, dân tự do, nông dân lệ
thuộc và nô lệ. Nông dân chiếm số đông, làm nông nghiệp, đánh cá và thu kiếm
lâm sản. Cham-pa phát triển trong các thế kỉ X − XV rồi sau đó suy thoái và hội
nhập, trở thành một bộ phận của lãnh thổ, cư dân và văn hoá Việt Nam.
- Quốc gia cổ Cham-pa được hình thành như thế nào ?
- Tóm tắt tình hình văn hoá Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X.
3. Quốc gia cổ Phù Nam
Trên địa bàn châu thổ sông Cửu Long (Nam Bộ) đã hình thành nền văn hoá
cổ từ cuối thời đại đá mới chuyển sang thời đại đồ đồng và sắt cách ngày nay
khoảng 1500 – 2000 năm. Các nhà khảo cổ học gọi là văn hoá Óc Eo. Văn hoá
Óc Eo có nguồn gốc từ văn hoá sông Đồng Nai.
Hình 33 – Ấm đất nung (thế kỉ VIII)
Địa bàn chủ yếu của văn hoá Óc Eo
là vùng châu thổ sông Cửu Long (Óc Eo
nay thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang) gồm nhiều tỉnh : An Giang, Kiên
Giang, Đồng Tháp... và một số địa
phương thuộc Bình Dương, Tây Ninh,
Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở văn hoá Óc Eo, quốc gia
cổ Phù Nam hình thành vào khoảng thế
kỉ I và trở thành một quốc gia rất phát
triển ở vùng Đông Nam Á trong các
thế kỉ III − V.
Quốc gia Phù Nam bao gồm nhiều tiểu quốc, bộ phận chủ yếu ở vùng
Tây Nam Bộ có tiếng nói thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Thể chế chính trị
quân chủ, do vua đứng đầu nắm mọi quyền hành.
78 |
10_14_6 | Cư dân Phù Nam sản xuất nông nghiệp, kết hợp với làm nghề thủ công, đánh
cá và buôn bán. Ngoại thương đường biển rất phát triển.
Tập quán phổ biến của cư dân Phù Nam là ở nhà sàn. Phật giáo và
Hinđu giáo được sùng tín. Nghệ thuật ca, múa nhạc phát triển. Xã hội đã có sự
phân hoá giàu nghèo thành các tầng lớp quý tộc, bình dân và nô lệ.
Cuối thế kỉ VI, Phù Nam suy yếu, bị Chân Lạp thôn tính.
- Tóm tắt quá trình hình thành quốc gia cổ Phù Nam.
CÂU HỎI
1. Tóm tắt quá trình hình thành quốc gia Văn Lang – Âu Lạc.
2. Hãy trình bày tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội Cham-pa từ
thế kỉ II đến thế kỉ X.
3. Hãy nêu những nét chính về tình hình kinh tế, văn hoá, xã
hội của quốc gia Phù Nam.
4. Những điểm giống và khác nhau trong đời sống kinh tế, văn
hoá, tín ngưỡng của cư dân Văn Lang – Âu Lạc, cư dân
Lâm Ấp – Cham-pa và cư dân Phù Nam là gì ?
79
12 |
10_15_1 | THỜI BẮC THUỘC VÀ CÁC CUỘC
Bài 15 ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
(Từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)
Năm 179 TCN, Âu Lạc bị nhà Triệu xâm chiếm. Từ đó
đến đầu thế kỉ X, các triều đại phong kiến phương Bắc từ
Triệu đến Đường thay nhau đô hộ nước ta. Chúng đã
thực hiện nhiều chính sách cai trị làm cho xã hội nước ta
có những chuyển biến nhất định, nhưng đồng thời cũng
có nhiều mặt bị kìm hãm. Không cam tâm bị đô hộ, nhân
dân ta không ngừng vùng lên đấu tranh nhằm giành lại
độc lập, tự chủ.
I– CHẾ ĐỘ CAI TRỊ CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC
VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI
VIỆT NAM
1. Chế độ cai trị
a) Tổ chức bộ máy cai trị
Sau khi chiếm được Âu Lạc, nhà Triệu chia thành 2 quận, sáp nhập vào quốc
gia Nam Việt. Thời nhà Hán, Âu Lạc bị chia làm 3 quận, sáp nhập vào bộ
Giao Chỉ cùng với một số quận của Trung Quốc. Đến thời nhà Tuỳ và nhà
Đường, nước ta lại bị chia làm nhiều châu. Từ sau khi lật đổ được chính quyền
của Hai Bà Trưng, chính quyền đô hộ tăng cường việc kiểm soát, cử quan lại cai
trị tới cấp huyện.
b) Chính sách bóc lột về kinh tế và đồng hoá về văn hóa
Chính quyền đô hộ thi hành chính sách bóc lột, cống nạp nặng nề. Chúng còn
cướp ruộng đất, cưỡng bức nhân dân ta cày cấy, thực hiện chính sách đồn điền,
nắm độc quyền về muối và sắt.
Quan lại trong chính quyền đô hộ dựa vào quyền hành, ra sức bóc lột dân
chúng để làm giàu.
80 |
10_15_2 | Chu Thặng, Thứ sử Giao Châu, đã tâu với vua Hán : Giao Châu ở nơi
xa cách, quan lại (người Hán) tập tục tham ô, làm đủ điều gian trá,
trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột muôn dân.
Các triều đại phong kiến phương Bắc truyền bá Nho giáo vào nước ta, bắt
nhân dân ta phải thay đổi phong tục theo người Hán. Nhiều nho sĩ, quan lại
người Hán được đưa vào đất Âu Lạc cũ để thực hiện chính sách nói trên và mở
một số lớp dạy chữ Nho. Tuy nhiên, dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ có ảnh
hưởng đến một số vùng trung tâm châu, quận.
Chính quyền đô hộ áp dụng luật pháp hà khắc, thẳng tay đàn áp các cuộc nổi
dậy đấu tranh của nhân dân ta.
- Chính quyền đô hộ truyền bá Nho giáo vào nước ta, bắt dân ta
thay đổi phong tục theo người Hán nhằm mục đích gì ?
2. Những chuyển biến về kinh tế, văn hoá và xã hội
a) Về kinh tế
Công cụ bằng sắt ngày càng được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông
nghiệp cũng như trong đời sống nhân dân. Công cuộc khai hoang, mở rộng thêm
diện tích trồng trọt được đẩy mạnh. Các công trình thuỷ lợi được xây dựng.
Nhờ thế, năng suất lúa tăng hơn trước.
Thủ công nghiệp, thương mại có sự chuyển biến đáng kể.
Kĩ thuật rèn sắt phát triển hơn so với trước Công nguyên. Việc khai thác
vàng, bạc, châu ngọc trong nhân dân được đẩy mạnh. Đồ trang sức bằng
vàng, bạc, ngọc được gia công tinh tế. Một số nghề thủ công mới xuất
hiện như làm giấy, làm thuỷ tinh...
Nhiều đường giao thông thuỷ, bộ nối liền các vùng, các quận được
hình thành.
b) Về văn hoá, xã hội
Trong thời Bắc thuộc, nhân dân ta biết tiếp nhận và “Việt hoá” những yếu tố
tích cực của nền văn hoá Trung Hoa thời Hán, Đường như ngôn ngữ, văn tự.
Nhân dân ta không bị đồng hoá. Tiếng Việt vẫn được bảo tồn. Các
phong tục, tập quán như ăn trầu, nhuộm răng đen, tôn trọng phụ nữ vẫn
được duy trì.
81 |
10_15_3 | Mâu thuẫn bao trùm trong xã hội là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chính
quyền đô hộ phương Bắc. Mặc dù các triều đại phong kiến phương Bắc ngày
càng tăng cường việc cai trị trực tiếp tới cấp huyện, tổ chức các đơn vị hành
chính đến cấp hương, xã, nhưng không khống chế nổi các làng xóm người Việt.
Làng xóm trở thành nơi xuất phát các cuộc đấu tranh giành độc lập.
- Vì sao người Việt vẫn giữ được tiếng nói phong tục tập quán
của mình ?
CÂU HỎI
1. Trình bày những chính sách đô hộ của các triều đại phong
kiến phương Bắc đối với nhân dân ta.
2. Mục đích của chính sách đô hộ đó có thực hiện được không ?
Tại sao ?
3. Hãy cho biết những chuyển biến về các mặt kinh tế, văn
hoá, xã hội ở nước ta thời Bắc thuộc. Nguyên nhân của sự
chuyển biến đó.
82
62 |
10_16_1 | THỜI BẮC THUỘC
Bài 16 VÀ CÁC CUỘC ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
(Tiếp theo)
II – CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP
(TỪ THẾ KỈ I ĐẾN ĐẦU THẾ KỈX)
1. Khái quát phong trào đấu tranh từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ X
Năm 40, cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ đầu tiên của nhân dân Âu Lạc
bùng nổ. Từ đó cho đến đầu thế kỉ X, nhiều cuộc khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra
ở ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.
Từ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 đến khởi nghĩa
Khúc Thừa Dụ năm 905, đã diễn ra các cuộc khởi nghĩa của nhân dân
Nhật Nam (năm 100, 137, 144), nhân dân Cửu Chân (năm 157),
nhân dân ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi dậy liên tục
(178 – 181), tiếp sau đó là khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248), khởi nghĩa
Lý Bí (năm 542), khởi nghĩa Đinh Kiến, Lý Tự Tiên (năm 687), khởi nghĩa
Mai Thúc Loan (713 – 722), khởi nghĩa Phùng Hưng (khoảng 776 – 791),
khởi nghĩa Dương Thanh (819 – 820).
Nhiều cuộc khởi nghĩa được các tầng lớp nhân dân ba quận tham gia, hưởng
ứng, giành được thắng lợi, lập được chính quyền tự chủ trong một thời gian.
Em có nhận xét gì về các cuộc đấu tranh của nhân dân ta
trong thời Bắc thuộc ?
2. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
a) Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng nổi dậy khởi nghĩa ở Hát Môn (Phúc Thọ,
Hà Tây(I)). Được đông đảo nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, quân khởi nghĩa đánh
(1) Nay thuộc Hà Nội.
83 |
10_16_2 | chiếm Mê Linh (Vĩnh Phúc), rồi từ Mê Linh tiến đánh, chiếm Cổ Loa
(Đông Anh, Hà Nội) và Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Thái thú Tô Định
phải trốn chạy về nước. Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi, Trưng Trắc được
nhân dân suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh.
Lên làm vua, Trưng Vương bắt tay ngay vào việc xây dựng chính quyền độc
lập, tự chủ và xá thuế trong 2 năm liền cho nhân dân ba quận.
Nhiều nữ tướng tham gia chỉ huy cuộc khởi nghĩa được phong chức tước
như Trần Thị Đoan, Lê Chân, Thiều Hoa, Ngọc Lâm, Vũ Thục Nương...
Tổ chức chính quyền của Trưng Vương còn rất sơ khai nhưng là một
chính quyền độc lập, tự chủ của nhân dân ta được ra đời sau khi cuộc
khởi nghĩa thắng lợi và đã cổ vũ tinh thần đấu tranh chống ách đô hộ
của phong kiến phương Bắc sau đó.
Mùa hè năm 42, Mã Viện được vua Hán cử làm tổng chỉ huy đạo quân lớn
khoảng 2 vạn người, chia làm 2 cánh thuỷ, bộ kéo vào xâm lược nước ta.
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Hai Bà Trưng lãnh đạo rất anh dũng,
nhưng do lực lượng yếu nên đã bị thất bại.
Cuộc chiến đấu đã diễn ra quyết liệt ở Lãng Bạc. Nhưng do tương quan
lực lượng quá chênh lệch, Trưng Vương phải rút quân về Cổ Loa.
Cổ Loa bị thất thủ, quân Trưng Vương lui về Hạ Lôi và từ Hạ Lôi lui về
giữ Cấm Khê (vùng chân núi Ba Vì đến vùng chùa Hương – Hà Tây).
Quân Mã Viện dồn sức đánh bại quân Hai Bà ở Cấm Khê. Hai Bà Trưng
hi sinh. Đại quân của Hai Bà bị tan vỡ, số còn lại rút về chiến đấu ở
Cửu Chân cho đến khi bị tiêu diệt.
84
+4
Hình 34 – Đền thờ Hai Bà Trưng ở Mê Linh (Vĩnh Phúc) |
10_16_3 | b) Cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nhà nước Vạn Xuân
Mùa xuân năm 542, nhân lúc nhân dân đang oán giận chế độ bóc lột hà khắc
của nhà Lương, Lý Bí liên kết với hào kiệt các châu thuộc miền Bắc nước ta, nổi
dậy khởi nghĩa. Chưa đầy 3 tháng, nghĩa quân đã đánh chiếm được châu thành
Long Biên (Bắc Ninh). Chính quyền đô hộ bị lật đổ. Mùa xuân năm 544, Lý Bí
lên ngôi vua (Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, dựng kinh đô ở cửa sông
Tô Lịch (Hà Nội). Nhà nước Vạn Xuân độc lập, tự chủ ra đời.
Năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên cùng với Thứ sử Giao Châu đem quân
sang xâm lược nước ta. Lý Nam Đế phải rút quân về Vĩnh Phúc, rồi Phú Thọ và
giao binh quyền cho Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục rút quân về đầm
Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) tổ chức kháng chiến. Đến năm 550, cuộc
kháng chiến kết thúc thắng lợi. Triệu Quang Phục lên làm vua (Triệu Việt Vương).
Năm 571, Lý Phật Tử (một người họ hàng với Lý Nam Đế) bất ngờ đem quân
đánh úp Triệu Việt Vương, cướp ngôi. Sử ghi là Hậu Lý Nam Đế. Năm 603, nhà
Tuỳ đem quân xâm lược, Lý Phật Tử bị bắt. Nhà nước Vạn Xuân kết thúc.
c) Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ
Năm 905, nhân cơ hội nhà Đường suy sụp, Khúc Thừa Dụ được nhân dân ủng
hộ, đánh chiếm Tống Bình (Hà Nội), giành quyền tự chủ. Năm 907, Khúc Hạo
lên thay, thực hiện nhiều chính sách cải cách về các mặt để xây dựng chính
quyền độc lập tự chủ, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta suốt nghìn năm Bắc thuộc đã
giành được thắng lợi về căn bản, tạo điều kiện để đi đến hoàn toàn thắng lợi vào
năm 938.
d) Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Năm 931, Dương Đình Nghệ lãnh đạo nhân dân đánh bại cuộc xâm lược của
quân Nam Hán, thay họ Khúc nắm giữ chính quyền tự chủ. Đầu năm 937, ông bị
Kiều Công Tiễn giết hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Tháng 10 – 938, Ngô Quyền đem
quân đánh Kiều Công Tiễn. Công Tiễn cho người sang cầu cứu nhà Nam Hán.
Lợi dụng cơ hội này, quân Nam Hán kéo vào xâm lược nước ta lần thứ hai.
Ngô Quyền nhanh chóng tiến quân vào thành Đại La (Hà Nội), bắt giết Kiều
Công Tiễn và dùng kế đóng cọc ở cửa sông Bạch Đằng, cho quân mai phục ở
hai bên bờ sông. Khi thuỷ triều lên, ông cho một toán quân ra khiêu chiến, giả
vờ thua, nhử quân Hán vào bên trong bãi cọc. Vừa lúc nước triều rút, cọc nhô
lên, quân ta đổ ra đánh. Thuyền giặc vướng cọc lại bị đánh từ nhiều phía, tan vỡ.
Chủ tướng giặc bị tiêu diệt.
85
85 |
10_16_4 | 86
98
Thuỷ Nguyên
Cám
Gia Viên
3. Giá
Lương Xâm
Của biển
Bach Ding
Va Yên
Sông và cửa biển
Bạch Đằng xưa
(giả định}
1111 1 Bãi cọc ngầm
(giả định}
Đình Vũ
Của Cầm
Quân ta mai phục
Quân ta tiến công
3. Chanh
Của Nam Triệu
Quân ta nhử địch vào trận địa
Địch tiến quân
Địch tháo chạy
Nhận xét về ý nghĩa
lịch sử của chiến thắng
Bạch Đằng năm 938, nhà
sử học Ngô Thì Sĩ ở thế kỉ
XVIII viết : “Trận thắng lợi
trên sông Bạch Đằng là
cơ sở sau này cho việc
phục lại quốc thống.
Những chiến công các đời
Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn
nhờ vào uy thanh lẫm liệt
để lại ấy. Trận Bạch Đằng
này là vũ công cao cả,
vang dội đến nghìn thu,
há phải chỉ lừng lẫy ở một
thời bấy giờ mà thôi đâu”.
(Khâm định Việt sử thông
giám cương mục)
Chiến thắng Bạch
Đằng của Ngô Quyền
năm 938 đã mở ra một
thời đại mới – thời đại
độc lập, tự chủ lâu dài
của dân tộc ta.
Hình 35 – Lược đồ chiến thắng
Bạch Đằng năm 938
– Hãy nêu những nét chính về một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu.
CÂU HỎI
1. Việc thành lập nhà nước Vạn Xuân có ý nghĩa gì ?
2. Trình bày nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa của chiến thắng
Bạch Đằng năm 938.
3. Nêu những sự kiện chứng tỏ tính liên tục và rộng lớn của
phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta thời
Bắc thuộc.
4. Hãy nêu những đóng góp của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu
Quang Phục, Khúc Thừa Dụ và Ngô Quyền trong cuộc đấu
tranh giành độc lập thời Bắc thuộc. |
10_17_1 | Chương
VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X
ĐẾN THẾ KỈ XV
KIXV
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ
Bài 17 PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
PHONG KIẾN
(Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV)
Thế kỉ X mở đầu thời đại phong kiến độc lập của dân tộc
Việt Nam. Nhà nước quân chủ được thành lập và
từng bước phát triển đến đỉnh cao ở thế kỉ XV trên một
lãnh thổ thống nhất.
I – BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP Ở THẾ KỈ X
Sau khi đánh bại cuộc xâm lược của quân Nam Hán, năm 939 Ngô Quyền
xưng vương, bắt tay xây dựng chính quyền mới, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh
Hà Nội). Năm 944, Ngô Quyền mất. Nhà Ngô suy vong, “loạn 12 sứ quân”
diễn ra, đất nước bị chia cắt. Từ Hoa Lư (Ninh Bình), Đinh Bộ Lĩnh đem quân
dẹp yên nội loạn, thống nhất lại đất nước.
Sử cũ ghi : Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (Đinh Tiên
Hoàng), “đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh đô về động Hoa Lư...
đắp thành, đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu
là Đại Thắng Minh Hoàng đế”.
(Đại Việt sử kí toàn thư)
Nhà Đinh và tiếp sau đó là nhà Tiền Lê đã xây dựng nên một nhà nước quân
chủ sơ khai gồm 3 ban : Văn ban, Võ ban và Tăng ban, chia nước thành 10 đạo,
tổ chức quân đội theo hướng chính quy.
87 |
10_17_2 | II – PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN CHỈNH NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
Ở CÁC THẾ KỈ XI-XV
1. Tổ chức bộ máy nhà nước
Đất nước dần dần ổn định. Năm 1009, nhà Lý được thành lập. Năm 1010, vua
Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (Hà Nội), mở ra một giai đoạn phát
triển mới. Năm 1054, vua Lý Thánh Tông quyết định đổi tên nước là Đại Việt.
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, chính
quyền trung ương được tổ chức ngày càng chặt chẽ. Vua (Hoàng đế) đứng đầu
nhà nước, quyết định mọi việc quan trọng. Quyền hành của vua ngày càng cao.
Ở thời Lý, Trần, Hồ, giúp vua trị nước có Tể tướng và một số đại thần. Bên dưới
là các cơ quan trung ương như sảnh, viện, đài.
Cả nước được chia thành nhiều lộ, trấn, do các hoàng tử (thời Lý) hay An phủ
sứ (thời Trần, Hồ) cai quản. Dưới lộ, trấn là các phủ, huyện, châu, đều có quan
lại của triều đình trông coi. Đơn vị hành chính cơ sở là xã. Thời Trần, những
người đứng đầu xã được gọi là Xã quan.
Năm 1428, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, lãnh tụ tối cao của nghĩa
quân Lam Sơn là Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Lê, khôi phục quốc hiệu
Đại Việt. Nhà nước quân chủ mới được tổ chức theo mô hình thời Trần, Hồ.
Từ những năm 60 của thế kỉ XV, khi đất nước đã cường thịnh, vua Lê Thánh
Tông tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn. Ở Trung ương, chức Tể tướng
và các chức Đại hành khiển bị bãi bỏ. Vua trực tiếp quyết định mọi việc. Bên
dưới là 6 bộ . Các cơ quan như Ngự sử đài, Hàn lâm viện được duy trì với quyền
hành cao hơn. Cả nước được chia thành 13 đạo thừa tuyên. Mỗi đạo đều có 3 tỉ
trông coi các mặt dân sự, quân sự, an ninh. Dưới đạo là các phủ, huyện, châu
như cũ. Người đứng đầu xã là Xã trưởng, do dân bầu.
Ở thời Lý, Trần, phần lớn các quan chức cao cấp là quý tộc vương hầu hoặc
con em quan lại cao cấp. Khi giáo dục phát triển, nhà nước bắt đầu đưa những
người đỗ đạt vào làm quan. Thời Lê, giáo dục thi cử trở thành nguồn đào tạo và
tuyển chọn quan lại chủ yếu.
Vua Lê Hiến Tông (1497 – 1504) đã viết : “Nhân tài là nguyên khí của
nhà nước, nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh. Khoa mục là đường
thẳng của quan trường, đường thẳng mở thì chân nho mới có”.
(Lịch triều hiến chương loại chí)
88
88 |
10_17_3 | Quý tộc, quan lại được ban phẩm hàm, cấp lương bổng và ruộng đất.
– Những thay đổi qua cuộc cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông
có ý nghĩa gì ?
2. Luật pháp và quân đội
Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban hành bộ Hình thư – bộ luật thành văn đầu
tiên của nước ta. Thời Trần, nhà nước có bộ Hình luật. Thời Lê, một bộ luật đầy
đủ được ban hành với tên gọi Quốc triều hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức),
gồm hơn 700 điều, quy định khá đầy đủ các tội danh và hình phạt liên quan đến
hầu hết các hoạt động xã hội, bảo vệ quyền hành của giai cấp thống trị, một số
quyền lợi chân chính của nhân dân và an ninh đất nước.
Một số điều trong bộ luật :
– Khi xa giá vua đi qua mà xông vào hàng người đi theo thì xử tội đồ,
nếu xông vào đội cận vệ thì xử chém. Lầm lỡ thì giảm một bậc.
– Bán ruộng đất ở biên cương cho người ngoại quốc thì xử chém.
– Đào trộm đê đập làm thiệt hại nhà cửa, lúa má thì xử đồ, lưu, bắt đền
tổn hại.
Quân đội sớm được tổ chức quy củ, gồm hai bộ phận : quân bảo vệ nhà vua
và kinh thành (cấm quân) và quân chính quy, bảo vệ đất nước (ngoại binh hay
lộ binh), được tuyển theo chế độ “ngụ binh ư nông”. Quân đội được trang bị vũ
khí đầy đủ ; thời Hồ, thời Lê đã có một vài loại súng. Thời Trần, khi có chiến
tranh, nhà nước cho phép các vương hầu được mộ quân tham gia đánh giặc.
Nhân dân các làng cũng được phép tổ chức dân binh.
- Các điều luật trên nói lên điều gì?
3. Hoạt động đối nội và đối ngoại
Vấn đề bảo vệ an ninh đất nước được các triều đại đương thời rất coi trọng.
Nhân dân tuy phải làm đầy đủ nghĩa vụ đi lính, lao dịch, nộp thuế, chăm lo bảo
vệ đê điều nhưng được nhà nước coi trọng và quan tâm đến đời sống.
Các triều đại phong kiến đều có chính sách đoàn kết với các dân tộc ít người,
nhất là với các tù trưởng ở vùng biên giới. Những lúc có ngoại xâm, nhà nước
đều huy động hoặc khuyến khích họ tham gia kháng chiến, bảo vệ nền độc lập
89 |
10_17_4 | của Tổ quốc. Tuy nhiên, nhà nước phong kiến cũng rất nghiêm khắc đối với
những tù trưởng dân tộc ít người có hành động phản loạn hoặc muốn tách ra
khỏi cộng đồng.
Trong quan hệ đối ngoại, chủ yếu đối với các triều đại phương Bắc, các triều
đại phong kiến Đại Việt thực hiện đầy đủ lệ triều cống nhưng luôn giữ vững tư
thế của một quốc gia độc lập, tự chủ. Khi bị xâm lược, nhà nước và nhân dân
sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc, nhưng khi chiến tranh kết thúc,
quan hệ hoà hiếu lại được thiết lập trên tinh thần mỗi bên “đều chủ một phương”.
Đối với các nước láng giềng ở phía tây và phía nam như Lan Xang, Cham-pa,
Chân Lạp, nhà nước Đại Việt luôn giữ quan hệ thân thiện, mặc dù đôi lúc xảy
ra chiến tranh.
Trong các thế kỉ X − XV, quốc gia Cham-pa không còn ổn định như trước.
Các vương triều thay thế nhau, tiếp tục duy trì quyền thống trị nhưng có lúc chịu
sự khống chế của Chân Lạp hoặc có lúc đem quân đánh lên Đại Việt. Cuối thế
kỉ XV, nhà nước Cham-pa suy sụp.
– Nêu tác dụng của các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà
nước phong kiến.
CÂU HỎI
1. So sánh bộ máy nhà nước thời Lê với bộ máy nhà nước thời
Đinh, Tiền Lê.
2. Vẽ sơ đồ nhà nước thời Lý, Trần và thời Lê Thánh Tông, qua
đó đánh giá cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông.
3. Nhận xét chung về sự hoàn thiện của nhà nước phong kiến
Việt Nam thời Lê.
4. Lập bảng thống kê thời gian thống trị của các triều đại phong
kiến Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
90
90 |
10_18_1 | CÔNG CUỘC XÂY DỰNG
Bài 18 VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRONG CÁC THẾ KỈ X − XV
Với niềm tự hào chân chính và ý thức vươn lên, từ thế kỉ X
cho đến thế kỉ XV, nhân dân Việt Nam đã cần cù lao
động, xây dựng và phát triển một nền kinh tế tự chủ, toàn
diện. Ruộng đất ngày càng mở rộng, thủ công nghiệp
ngày càng phát triển tạo điều kiện cho sự phát triển của
thương nghiệp trong nước cũng như giao lưu với thương
nhân nước ngoài. Tuy nhiên, do sự chi phối của những
quan hệ sản xuất phong kiến, xã hội ngày càng phân hoá.
1. Mở rộng, phát triển nông nghiệp
Đầu thế kỉ X, sau khi giành được độc lập, tự chủ, nhân dân cả nước, từ miền
xuôi đến miền ngược phấn khởi, ra sức khai phá đất hoang, mở rộng ruộng
đồng, phát triển nông nghiệp nhằm nhanh chóng nâng cao đời sống, đưa đất
nước ngày càng cường thịnh.
Công cuộc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác ngày càng gia tăng. Vùng
châu thổ các sông lớn và vùng ven biển được khai phá. Nhiều xóm làng mới
được thành lập. Các vua Tiền Lê, Lý hằng năm làm lễ cày ruộng để khuyến
khích nhân dân sản xuất. Nhà Trần khuyến khích các quý tộc, vương hầu mộ
dân nghèo đi khai hoang, thành lập điền trang. Đại Việt đương thời thường
xuyên bị nạn lụt đe doạ, gây nhiều khó khăn. Nhà Lý chú trọng cho dân xây
dựng những con đê. Năm 1248, nhà Trần tổ chức đắp đê từ đầu nguồn đến cửa
biển dọc các con sông lớn, gọi là đê “quai vạc”(I).
Theo nhận xét của sứ thần Trung Quốc : “Từ đó thuỷ tai không còn nữa
mà đời sống của dân cũng được sung sướng, đất không bỏ sót một
nguồn lợi nào”.
(1) Còn gọi là để “đỉnh nhỉ”.
91 |
10_18_2 | Làng xóm được bảo vệ, mùa màng ổn định. Thời Lê sơ, nhà nước sai người
đắp một số đoạn đê biển, tạo điều kiện cho nhân dân khai hoang mở rộng ruộng
đồng. Các vua Lê cũng cấp ruộng đất cho quý tộc, quan lại, đặt phép quân điền
phân chia ruộng công ở các làng xã.
Các nhà nước Lý, Trần, Lê sơ đều quan tâm đến việc bảo vệ sức kéo cho
nông nghiệp.
Theo lời của Thái hậu Linh Nhân, vua Lý Nhân Tông đã xuống chiếu :
“Kẻ nào mổ trộm trâu thì xử 80 trượng, đồ làm khao giáp... Nhà láng
giềng không tố cáo thì xử 80 trượng”.
(Đại Việt sử kí toàn thư)
Ngoài việc chăn nuôi và bảo vệ trâu, bò làm sức kéo, người dân còn
nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan...
Ngoài việc trồng lúa, nhân dân còn trồng nhiều cây lương thực khác như sắn,
khoai, đậu, kê và các loại cây ăn quả như cam, quýt, chuối, nhãn, vải... cùng một
số cây công nghiệp như bông, dâu...
Nhiều vườn rau được hình thành xung quanh các khu đông dân. Mùa màng
tốt tươi, nhân dân đủ ăn, đủ mặc, đã khiến các nhà thơ ngợi ca :
Đứng mãi nào hay ngày đã tận,
Khắp đồng lúa tốt tựa mây xanh.
(Bùi Tông Quán, bản dịch)
Hoặc nhân dân thời Lê có câu :
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông,
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.
-Nhà nước và nhân dân Đại Việt đã làm gì để phát triển
nông nghiệp ?
- Sự phát triển nông nghiệp đương thời có ý nghĩa gì đối với
xã hội ?
2. Phát triển thủ công nghiệp
92
Đất nước độc lập, thống nhất. Thủ công nghiệp có điều kiện phát triển nhanh
chóng do nhu cầu trong nước ngày càng tăng lên. Trong nhân dân, các nghề thủ
công cổ truyền như đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm sứ, ươm tơ dệt lụa ngày càng |
10_18_3 | phát triển. Chất lượng sản phẩm
ngày càng được nâng cao. Chuông
đồng, tượng Phật xuất hiện ở khắp
các chùa chiền. Đồ gốm tráng men
ngọc, men xanh độc đáo, in hình
người, hình thú, hoa lá... được đem
trao đổi ở nhiều nơi. Người thợ gốm
còn sản xuất các loại gạch có trang
trí hoa, rồng để phục vụ việc xây
dựng cung điện, chùa chiền. Các
nghề chạm khắc đá, làm đồ trang
sức bằng vàng bạc, làm giấy các
loại, nhuộm vải đều phát triển.
Hình 36 – Hình rồng và hoa dây
(chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
Theo Thiên nam hành kí (của một tác giả Trung Quốc, thời Nguyên),
nhà Trần đã dâng cống nhiều sản phẩm thủ công quý giá như lụa mịn
ngũ sắc, mâm đá hoa dát vàng, bạc, đĩa hình hoa sen bằng vàng, khăn
lụa thêu kim tuyến...
Việc khai thác các tài nguyên trong lòng đất (mỏ vàng, bạc, đồng...) ngày
càng phát triển.
Một số làng chuyên làm nghề thủ công được hình thành như Bát Tràng (Hà
Nội), Thổ Hà (Bắc Giang), Chu Đậu (Hải Dương), Huê Cầu (Hưng Yên) v.v...
Tuy nhiên, nhân dân ở đây vẫn làm nông nghiệp.
– Sự ra đời của các làng nghề thủ công có ý nghĩa gì đối với sự
phát triển của thủ công nghiệp ?
Các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ đều thành lập các xưởng thủ công
(quan xưởng) chuyên lo việc đúc tiền, rèn đúc vũ khí, đóng thuyền chiến, may
mũ áo cho vua quan, quý tộc hoặc góp phần xây dựng các cung điện, dinh thự.
Đầu thế kỉ XV, các thợ quan xưởng dưới sự chỉ đạo của Hồ Nguyên Trừng đã
chế tạo được súng thần cơ (súng lớn) và đóng được thuyền chiến có lầu.
Thời Lê sơ, quan xưởng được mở rộng.
-Em đánh giá như thế nào về thủ công nghiệp nước ta
đương thời ?
93 |
10_18_4 | 3. Mở rộng thương nghiệp
Sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp trong hoàn cảnh đất nước
độc lập, thống nhất và ngày càng mở rộng đã đẩy nhanh sự phát triển của
thương nghiệp.
Các chợ làng, chợ huyện, chợ chùa mọc lên ở nhiều nơi. Giao lưu buôn bán
các sản phẩm nông nghiệp, thủ công ngày càng nhộn nhịp.
Một sứ giả nhà Nguyên đến nước ta vào cuối thế kỉ XIII đã viết : “Trong
xóm làng thường có chợ, cứ hai ngày họp một phiên, hàng hoá trăm
thứ, bày la liệt”.
(An Nam tức sự)
Thăng Long từ thời Lý, Trần đã là một đô thị lớn với nhiều phố phường, chợ.
Thời Lê sơ, Thăng Long có 36 phố phường vừa buôn bán vừa làm thủ công, phát
triển phồn thịnh.
Từ sớm, các thuyền buôn Trung Quốc hay các nước phương Nam đã qua lại
buôn bán ở các vùng biển phía bắc và miền Trung. Năm 1149, nhà Lý cho xây
dựng trang Vân Đồn (Quảng Ninh) làm bến cảng để thuyền buôn nước ngoài
vào trao đổi hàng hoá. Lạch Trường (Thanh Hoá), Càn Hải (Nghệ An), Hội Thống
(Hà Tĩnh), Thị Nại (Bình Định) đều là những vùng cảng quan trọng.
Viết về Lạch Trường, An Nam tức sự nhận xét : “Thuyền bè các nước
ngoài đến họp ở đây, mở chợ ngay trên thuyền, thật là thịnh vượng”.
Ở vùng biên giới Việt – Trung, từ thời Lý đã hình thành một số địa điểm trao
đổi hàng hoá. Lái buôn hai nước đem đủ thứ lụa là, giấy bút, hương liệu, vải vóc,
ngà voi, ngọc vàng... đến trao đổi.
Tuy nhiên, vào thời Lê, nhà nước không chủ trương mở rộng giao lưu với
thương nhân nước ngoài. Thuyền bè nước ngoài chỉ được cập bến một số cảng
và bị khám xét nghiêm ngặt.
– Em nghĩ thế nào về thương nghiệp của nước ta ở các thế kỉ
X-XV?
94
4 |
10_18_5 | 4. Tình hình phân hoa xã hội và cuộc đấu tranh của nông dân
Sự phát triển kinh tế trong hoàn cảnh của chế độ phong kiến vừa góp phần
nâng cao đời sống nhân dân, củng cố nền độc lập dân tộc, vừa đẩy nhanh sự
phân hoá xã hội. Giai cấp địa chủ thống trị ngày càng mở rộng ruộng đất tư hữu,
nhất là các quý tộc Trần với hệ thống điền trang của mình. Ban đầu, điều này
góp phần mở rộng diện tích canh tác, giải quyết ít nhiều tình trạng dân phiêu
tán. Từ thế kỉ XIV, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mất mùa, đói kém xảy ra
ngày càng nhiều, nên “nhân dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán con trai,
con gái làm nô tì”. Trong lúc đó, vua quan, quý tộc chấp chiếm ruộng đất,
ăn chơi xa xỉ, không quan tâm đến cuộc sống của nhân dân. Nhiều cuộc đấu
tranh của nông dân đã bùng lên, nhất là vào cuối thế kỉ XIV. Nhà Trần suy vong.
Tể tướng Hồ Quý Ly thực hiện một cuộc cải cách lớn để cứu vãn tình thế – nhà
Hồ được thành lập.
CÂU HỎI
1. Những nguyên nhân nào tạo nên sự phát triển nông nghiệp
ở các thế kỉ X − XV ?
2. Hãy nêu những biểu hiện nói lên sự phát triển của thủ công
nghiệp và thương nghiệp thời Lý, Trần, Lê.
3. Sự phân hoá xã hội ở thế kỉ XIV dẫn đến hậu quả gì ?
95
55 |
10_19_1 | NHỮNG CUỘC KHÁNG CHIẾN
Bài 19 CHỐNG NGOẠI XÂM Ở CÁC
THẾ KỈ X − XV
Trong những thế kỉ xây dựng đất nước, nhân dân ta vẫn
phải liên tục tiến hành các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm. Với lòng yêu nước nồng nàn, với tinh thần
chiến đấu kiên cường, anh dũng, nhân dân Đại Việt đã
làm nên biết bao chiến thắng huy hoàng, giữ vững nền
độc lập dân tộc.
I – CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TỐNG
Đầu thế kỉ X, nhân dân Việt Nam đã giành lại được quyền tự chủ, lật đổ hoàn
toàn chế độ đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Nhưng
chẳng bao lâu sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, nhân dân ta đã phải đương
đầu với hai lần xâm lược của nhà Tống.
1. Cuộc kháng chiến chống Tổng thời Tiền Lê
Năm 980, được tin triều đình nhà Đinh gặp nhiều khó khăn, vua Tống vội cử
quân sang xâm lược nước ta. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lập tức được nhiều
tướng lĩnh và bà Thái hậu họ Dương tôn lên làm vua, chỉ đạo cuộc kháng chiến.
Năm 981, quân Tống tiến vào nước ta. Với ý chí quyết chiến, bảo vệ nền độc
lập của Tổ quốc, quân và dân Đại Cồ Việt đã chiến đấu anh dũng, đánh tan quân
xâm lược Tống ngay trên vùng Đông Bắc. Nhiều tướng giặc bị bắt. Nhà Tống
buộc phải rút quân, bỏ mộng xâm lược nước ta. Quan hệ Việt – Tống trở lại
bình thường.
- Hãy cho biết nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Tống thời Tiền Lê.
96
96 |
10_19_2 | 2. Cuộc kháng chiến chống Tổng thời Lý
Vào những năm 70 của thế kỉ XI, trong lúc Đại Việt đang phát triển thì nhà
Tống bước vào giai đoạn khủng hoảng, phía bắc bị người Liêu, Hạ xâm lấn,
trong nước nông dân nổi dậy ở nhiều nơi. Trước tình thế đó, Tể tướng Vương
An Thạch đã khuyên vua Tống sai quân xâm lược nước ta : “Nếu thắng, thế
Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể”.
Tin quân Tống chuẩn bị xâm lược báo về. Thái hậu Ỷ Lan cùng vua Lý triệu
tập các đại thần hội bàn. Thái uý Lý Thường Kiệt đã chủ trương : “Ngồi yên đợi
giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Được sự tán
đồng của triều đình và sự ủng hộ nhiệt liệt của quân sĩ, năm 1075, Thái uý Lý
Thường Kiệt – người chỉ đạo cuộc kháng chiến, đã kết hợp lực lượng quân đội
của triều đình với lực lượng dân binh của các tù trưởng dân tộc ít người ở phía
bắc, mở cuộc tập kích lên đất Tống, đánh tan các đạo quân nhà Tống ở đây,
rồi rút về nước.
Đầu năm 1077, khoảng 30 vạn quân Tống đánh sang Đại Việt. Dưới sự lãnh
đạo tài giỏi của Lý Thường Kiệt, quân dân ta đánh tan quân xâm lược Tống
trong trận quyết chiến trên bờ sông Như Nguyệt (Bắc Ninh). Cuộc kháng chiến
hoàn toàn thắng lợi. Bài thơ Nam quốc sơn hà mãi mãi vang vọng non sông :
Tạm dịch :
Nam quốc sơn hà Nam để cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Theo Lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1971)
– Phân tích ý nghĩa của bài thơ Nam quốc sơn hà.
97
47 |
10_19_3 | II – CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC MÔNG-NGUYÊN
Ở THẾ KỈ XIII
98
Dưới thời Trần, nhân dân Đại Việt phải đương đầu với một thử thách hiểm
nghèo : trong vòng 30 năm phải tiến hành 3 lần kháng chiến chống quân xâm
lược Mông – Nguyên hung bạo (1258, 1285, 1287 – 1288).
Dưới sự lãnh đạo của các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần
Nhân Tông, Thái sư Trần Thủ Độ cùng hàng loạt vị tướng tài giỏi như Trần
Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão v.v..., đặc biệt là
nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo), quân và dân Đại Việt
đã đoàn kết, cầm vũ khí đứng lên chống giặc giữ nước.
Lời hịch của Tiết chế Trần Hưng Đạo có đoạn : “Ta thường tới bữa quên
ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ giận chưa
thể lột da, ăn gan, uống máu quân thù ; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài
nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm.”
(Theo Thơ văn Lý – Trần)
Kinh thành Thăng Long ba lần bị quân xâm lược tàn phá, bộ chỉ huy kháng
chiến có lúc bị kẹp giữa hai gọng kìm của quân xâm lược, từ Nam đánh lên và
từ Bắc đánh xuống. Nhưng, với ý chí kiên cường, với truyền thống yêu nước sâu
sắc, nhân dân Đại Việt đã thực hiện lệnh của triều đình “nếu có giặc ngoài đến,
phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng
núi, không được đầu hàng”. Quân giặc đi đến đâu, nếu không bị đánh giết thì
cũng chỉ thấy cảnh “vườn không nhà trống”. Cuối cùng, chúng phải chịu thất
bại trong các trận Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp
ở hai lần xâm lược 1258, 1285 và đau đớn nhất, nặng nề nhất là trận đại bại trên
sông Bạch Đằng năm 1288 trong lần xâm lược thứ ba.
Bạch Đằng nhất trận hoả công
Tặc binh đại phá, huyết hồng mãn giang.
(Bạch Đằng một trận hoả công
Giặc kia tan tác, máu hồng đỏ sông.)
Chiến thắng Bạch Đằng mãi mãi ghi sâu vào lịch sử đấu tranh anh hùng của
dân tộc Việt Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Mông – Nguyên của nhân dân ta.
Cùng thời gian này, năm 1282, quân Mông – Nguyên dong thuyền đánh vào
Cham-pa. Quân dân Cham-pa rút lui khỏi kinh thành và sau đó, dưới sự chỉ huy |
10_19_4 | của Thái tử Ha-ri-gít, tập trung lực lượng đánh lui quân xâm lược. Một bộ phận
của chúng phải rút lên phía bắc, theo sự điều động của nhà Nguyên đánh vào
phía nam của Đại Việt.
- Nêu ý nghĩa lời hịch nói trên của Trần Hưng Đạo.
– Tại sao nhân dân thời Trần lại sẵn sàng đoàn kết với triều đình
chống giặc giữ nước ?
III – PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MINH
VÀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN
Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy vong. Năm 1400, nhà Hồ thành lập. Cuộc cải
cách của nhà Hồ chưa đạt được kết quả mong muốn thì quân Minh ồ ạt tiến sang
xâm lược. Năm 1407, cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, nước ta rơi vào ách
đô hộ của nhà Minh. Hàng loạt cuộc khởi nghĩa bùng lên ở khắp nơi trong cả
nước, nhưng đều bị đàn áp.
Trước những hành động tàn bạo của kẻ thù : “Nướng dân đen trên ngọn lửa
hung tàn ; Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh
đạo đã nổ ra ở Lam Sơn (Thanh Hoá) vào mùa xuân năm 1418. Mặc dù nhiều lần
bị quân Minh tiến đánh dữ dội, nghĩa quân vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, mở
rộng dần vùng hoạt động để rồi sau đó, làm chủ cả vùng đất từ Thanh Hoá vào
phía Nam. Được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân, nghĩa quân đã tấn công ra
Bắc, chiến đấu quyết liệt với quân Minh, đẩy chúng vào thế bị động. Cuối
năm 1427, 15 vạn quân cứu viện của giặc ồ ạt tiến vào nước ta đã bị nghĩa quân
đánh tan tành ở trận Chi Lăng – Xương Giang lừng lẫy. Giặc rơi vào thế cùng quẫn,
nghĩa quân đã “thể đức hiếu sinh” cấp ngựa, thuyền cho chúng rút về nước.
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo […]
Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới […]
Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm ;
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn...
(Bình Ngô đại cáo)
– Nêu một vài đặc điểm của khởi nghĩa Lam Sơn. So sánh với
các cuộc kháng chiến thời Lý, Trần.
99 |
10_19_5 | 100
CEBAY
BIEN
QUY HOA
DNOG
WEST N
NHƯNGUYỆT
THĂNG LONG
CHƯƠNG HÀM TỪ
DƯƠNG
CHILANG
VẠN KIẾP
BẠCH ĐẰNG
LAM SON
TÂN BÌNH
BIỂN
THUẬN HOÁ
Đ ÔNG
VI-GIAY-A
Hình 37 – Lược đồ các địa danh diễn ra những trận đánh lớn (thế kỉ X-XV)
CÂU HỎI
1. Lập bảng thống kê các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa
chống ngoại xâm từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
2. Phân tích sự khác nhau giữa hai cuộc kháng chiến chống
Tống thời Lý và chống Mông – Nguyên thời Trần.
3. Trình bày nguyên nhân thắng lợi của cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn. |
10_20_1 | XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Bài 20 VĂN HOÁ DÂN TỘC
TRONG CÁC THẾ KỈ X – XV
-
Trong các thế kỉ X − XV, cùng với sự nghiệp chính trị,
quân sự và phát triển kinh tế, nhân dân Việt Nam đã từng
bước xây dựng cho mình một nền văn hoá mang đậm
bản sắc dân tộc. Những thành tựu văn hoá đạt được, vừa
là sản phẩm của sự nghiệp chung nói trên, vừa đặt nền
móng vững chắc lâu dài cho dân tộc.
I – TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO
Bước sang thời độc lập, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vốn được du nhập vào
nước ta từ thời Bắc thuộc, có điều kiện phát triển.
Nho giáo dần dần trở thành hệ tư tưởng chính của giai cấp phong kiến thống
trị, được đặt thành những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ vua – tôi, cha – con,
chồng – vợ và là tư tưởng chi phối nội dung giáo dục, thi cử. Tuy nhiên, ở các
thế kỉ X − XIV, trong nhân dân, ảnh hưởng của Nho giáo còn ít, đạo Phật còn
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và rất phổ biến. Các nhà sư được triều đình
tôn trọng, có lúc đã tham gia bàn việc nước. Vua, quan nhiều người theo đạo
Phật, góp tiền xây dựng chùa, đúc chuông, tô tượng, viết giáo lí nhà Phật.
Sử cũ viết : “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tôn miếu chưa dựng,
xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức... cấp độ điệp
cho hơn 1000 người ở kinh sư làm tăng”.
(Đại Việt sử kí toàn thư)
Chùa chiền được xây dựng ở khắp nơi, nhiều người theo đạo Phật, đến
nỗi một vị quan thời Trần đã nhận xét : “Thiên hạ năm phần thì sự tăng
chiếm một”, hoặc “chỗ nào có người ở đều có chùa thờ Phật”.
Đạo giáo tuy không phổ cập nhưng hoà lẫn với các tín ngưỡng dân gian. Một
số đạo quán được xây dựng.
Từ cuối thế kỉ XIV, Phật giáo và Đạo giáo suy dần. Thời Lê sơ, Nho giáo
được chính thức nâng lên địa vị độc tôn và vị trí đó được duy trì cho đến cuối
101 |
10_20_2 | thế kỉ XIX. Số người theo đạo Phật, Đạo giáo giảm bớt. Nhà nước phong kiến
ban hành nhiều điều lệnh nhằm hạn chế sự phát triển của Phật giáo, thiết lập tôn
ti trật tự xã hội của Nho giáo trong nhân dân. Sự phát triển của giáo dục Nho
học cũng góp phần củng cố vị trí của Nho giáo.
Nhận xét vị trí của Phật giáo ở các thế kỉ X − XIV.
II – GIÁO DỤC, VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT, KHOA HỌC – KĨ THUẬT
1. Giáo dục
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu. Năm 1075, khoa thi quốc
gia đầu tiên được tổ chức ở kinh thành.
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV, giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và
phát triển, trở thành nguồn đào tạo quan chức và người tài cho đất nước. Nội
dung học tập được quy định chặt chẽ. Thời Lê sơ, quy chế thi cử được ban hành
rõ ràng : cứ 3 năm có một kì thi Hội, chọn Tiến sĩ. Riêng thời vua Lê Thánh
Tông (1460 – 1497) đã tổ chức 12 khoa thi Hội. Số người đi học ngày càng
đông, dân trí do đó được nâng cao. Năm 1484, nhà nước quyết định dựng bia,
ghi tên Tiến sĩ.
102
Hình 38 – Bia Tiến sĩ trong Văn Miếu (Hà Nội) |
10_20_3 | Hàng loạt trí thức tài giỏi được đào tạo đã góp phần quan trọng vào việc xây
dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho
sự phát triển kinh tế.
2. Văn học
Việc dựng bia Tiến sĩ có tác dụng gì ?
Sự phát triển giáo dục góp phần phát triển văn học.
Ban đầu, văn học mang nặng tư tưởng Phật giáo. Từ thời Trần, văn học dân
tộc ngày càng phát triển. Hàng loạt bài thơ, bài hịch, bài phú nổi tiếng như
Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú, v.v... cùng hàng loạt tập
thơ chữ Hán đã ra đời, vừa thể hiện tài năng văn học vừa toát lên niềm tự hào
dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc. Văn thơ phát triển đến mức, cuối thế kỉ XIV,
Trần Nguyên Đán đã thốt lên :
Tướng võ, quan hầu đều biết chữ,
Thợ thuyền, thư lại cũng hay thơ.
(Thơ văn Lý – Trần)
Ở thế kỉ XV, văn học chữ Hán và chữ Nôm (được sáng tạo từ thế kỉ XI – XII)
đều phát triển với sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,
Lý Tử Tấn v.v... có nội dung ca ngợi đất nước phát triển.
3. Nghệ thuật
- Đặc điểm của thơ văn các thế kỉ XI – XV.
Nghệ thuật cũng có những bước phát triển mới. Trong các thế kỉ X− XIV,
những công trình nghệ thuật Phật giáo được xây dựng ở khắp mọi nơi như chùa
Một Cột (Diên Hựu), chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, tháp Báo Thiên,
tháp Phổ Minh. Chuông, tượng cũng được đúc, tạc rất nhiều. Cuối thế kỉ XIV,
thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc – Thanh Hoá) được xây dựng và trở thành một điển
hình của nghệ thuật xây thành ở nước ta. Ở phía nam, nhiều đền tháp Chăm được
xây dựng thêm, mang phong cách nghệ thuật đặc sắc.
Xuất hiện nhiều tác phẩm điêu khắc mang những hoạ tiết hoa văn độc đáo
như rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bông cúc nhiều cánh, bệ chân cột hình hoa
sen nở... cùng nhiều bức phù điêu có hình các cô tiên, các vũ nữ vừa múa vừa
đánh đàn.
103 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.