id stringlengths 6 8 | text stringlengths 53 2.57k |
|---|---|
10_1_1 | Chương I
SỰ HÌNH THÀNH TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
(1945 - 1949)
Bài 1
SỰ HÌNH THÀNH TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1945 – 1949)
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một giai đoạn phát triển
mới của tình hình thế giới. Một trật tự thế giới mới được hình thành ... |
10_1_2 | Hình 1. Thủ tướng Anh – U. Sớcsin, Tổng thống Mĩ – Ph. Rudoven,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô − I. Xtalin (từ trái
sang phải) tại Hội nghị Ianta
Hội nghị đã đưa ra những quyết định quan trọng :
-
– Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ
nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Để nhanh chó... |
10_1_3 | Nam Á, Tây Á) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.
Theo thoả thuận của Hội nghị Pốtxđam (Đức, tổ chức từ ngày 17 – 7 đến ngày
2 – 8 – 1945), việc giải giáp quân Nhật ở Đông Dương được giao cho quân đội
Anh vào phía Nam vĩ tuyến 16 và quân đội Trung Hoa Dân quốc vào phía Bắc.
Toàn bộ những quyết định của... |
10_1_4 | Là văn kiện quan trọng nhất của Liên hợp quốc, Hiến chương nêu rõ mục đích
của tổ chức này là duy trì hoà bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ
hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn
trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.
Để thực hiện cá... |
10_1_5 | Ngày 16 – 10 – 2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Uỷ viên
không thường trực Hội đồng Bảo an, nhiệm kì 2008 – 2009.
Nêu mục đích và nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc.
III – SỰ HÌNH THÀNH HAI HỆ THỐNG XÃ HỘI ĐỐI LẬP
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên thế giới đã diễn ra nhiều sự kiện quan
... |
10_1_6 | Như vậy, ở châu Âu đã xuất hiện sự đối lập về chính trị và kinh tế giữa hai
khối nước : Tây Âu tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa.
Hai nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức và Cộng hoà Dân chủ Đức
được hình thành như thế nào ?
ĐỂ CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Hãy chỉ trên bản đồ thế giới những khu vực nằm trong sự phân chi... |
10_2_1 | Chương II
LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU (1945 – 1991)
LIÊN BANG NGA (1991 – 2000)
Bài 2
LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU (1945 – 1991)
LIÊN BANG NGA (1991 – 2000)
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên Xô đã nhanh chóng
khôi phục đất nước, thực hiện nhiều kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Các nước Đông Âu... |
10_2_2 | -
Khoa học
kĩ thuật phát triển nhanh chóng. Năm 1949, Liên Xô đã chế tạo
thành công bom nguyên tử, phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ.
b) Liên Xô tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1950 đến nửa đầu
những năm 70)
Trong thời gian này, Liên Xô đã thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn nhằm tiếp tục
xây dựng cơ sở... |
10_2_3 | Cộng hoà Nhân dân Ba Lan (1944), Cộng hoà Nhân dân Rumani (1944),
Cộng hoà Nhân dân Hunggari (1945), Cộng hoà Tiệp Khắc (1945), Liên bang
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Nam Tư (1945), Cộng hoà Nhân dân Anbani
(1945), Cộng hoà Nhân dân Bungari (1946).
BIỂN BẮC
“THỤY ĐIỂN
DAN MACH
Côpenhaghen'
°20°
BIỂN BAN TÍCH
Vácsava
BA LA... |
10_2_4 | nhân dân được củng cố, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản ngày càng được
khẳng định.
b) Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu
Trong những năm 1950 – 1975, các nước Đông Âu đã thực hiện nhiều kế hoạch
5 năm nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội trong tình
hình khó khăn phức tạ... |
10_2_5 | Tuy nhiên, Hội đồng tương trợ kinh tế cũng bộc lộ một số thiếu sót như : không
hoà nhập với đời sống kinh tế thế giới, chưa coi trọng đầy đủ việc áp dụng những
tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự hợp tác gặp nhiều trở ngại do cơ chế quan
liêu, bao cấp.
b) Quan hệ chính trị – quân sự
Ngày 14 – 5 – 1955, đại biểu các n... |
10_2_6 | Sau 6 năm tiến hành cải tổ, do phạm nhiều sai lầm nên tình hình không được cải
thiện, đất nước Xô viết lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện.
Về kinh tế, do việc chuyển sang kinh tế thị trường quá vội vã, thiếu sự điều tiết của
Nhà nước nên đã gây ra sự rối loạn, thu nhập quốc dân giảm sút nghiêm trọng.
Về chính trị... |
10_2_7 | 2. Sự khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu
Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 tác động mạnh đến nền kinh tế của các
nước Đông Âu. Vào những năm cuối của thập kỉ 70 – đầu thập kỉ 80, nền kinh tế
Đông Âu lâm vào tình trạng trì trệ. Lòng tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản và
Nhà nước ngày càng giảm sút... |
10_2_8 | 3. Nguyên nhân tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và các nước Đông Âu
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã đem
lại nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của Liên Xô và
các nước Đông Âu. Nhưng dần dần, chính những sai lầm và khuyết tật đã làm xói
mòn, d... |
10_2_9 | khả quan : kinh tế dần dần hồi phục và phát triển, chính trị và xã hội tương đối ổn
định, vị thế quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, nước Nga vẫn phải đương đầu với nạn
khủng bố do các phần tử li khai gây ra, đồng thời tiếp tục khắc phục những trở ngại
trên con đường phát triển để giữ vững địa vị của một cường quốc Âu – Á.... |
10_3_1 | Chương III
CÁC NƯỚC Á, PHI VÀ MĨ LATINH
(1945 - 2000)
Bài 3
CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khu vực Đông Bắc Á (1)có
sự biến đổi to lớn, với sự ra đời của hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên
và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Các quốc gia
trong khu vực đã đạt được nhữn... |
10_3_2 | Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời. Tháng 6 – 1950, cuộc chiến tranh
giữa hai miền bùng nổ, kéo dài đến tháng 7 – 1953. Hai bên kí Hiệp định đình
chiến tại Bàn Môn Điếm, vĩ tuyến 38 vẫn được coi là ranh giới giữa hai nhà nước
trên bán đảo.
Từ năm 2000, hai nhà lãnh đạo cao nhất của hai miền đã kí hiệp định hoà... |
10_3_3 | Ngày 20 – 7 – 1946, Tưởng Giới Thạch phát động cuộc chiến tranh chống
Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau giai đoạn phòng ngự tích cực (từ tháng 7
1946 đến tháng 6 – 1947), Quân giải phóng Trung Quốc đã chuyển sang
phản công, lần lượt giải phóng các vùng do Quốc dân đảng kiểm soát.
Cuối năm 1949, cuộc nội chiến kết thúc, toà... |
10_3_4 | lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô(1), kế hoạch 5 năm đã hoàn thành
thắng lợi. Bộ mặt đất nước có những thay đổi rõ rệt.
Trong những năm 1953 – 1957, đã có 246 công trình được xây dựng và đưa
vào sản xuất. Đến năm 1957, sản lượng công nghiệp tăng 140%, sản lượng
nông nghiệp tăng 25% (so với năm 1952). Trun... |
10_3_5 | lão thành và nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ, cuộc “Đại cách mạng văn hoá
vô sản” đã để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về mọi mặt đối với
nhân dân Trung Quốc.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời (9 – 1976), trên toàn đất nước bắt đầu chiến
dịch chống lại “Bè lũ bốn tên”(1). Trung Quốc dần dần đi vào ổn định.
Về đối ... |
10_3_6 | Hình 9. Cầu Nam Phố ở Thượng Hải
Năm 1964, Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử. Chương trình thám
hiểm không gian được thực hiện từ năm 1992. Từ tháng 11 – 1999 đến tháng
3 – 2003, Trung Quốc đã phóng 4 con tàu “Thần Châu” với chế độ tự động,
và ngày 15 – 10 – 2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ
Dươ... |
10_4_1 | DI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Lập niên biểu các sự kiện thể hiện sự biến đổi của khu vực Đông
Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
2. Lập niên biểu các sự kiện chính trong lịch sử Trung Quốc từ năm
1949 đến năm 2000.
Bài 4
CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội... |
10_4_2 | Mặc dù chưa giành được độc lập, nhưng nhân dân Miến Điện (nay là
Mianma), Mã Lai (nay là Malaixia) và Philíppin cũng đã giải phóng được nhiều
vùng rộng lớn của đất nước khỏi ách quân phiệt Nhật Bản.
Nhưng ngay sau đó, thực dân Âu – Mĩ quay trở lại tái chiếm Đông Nam Á. Nhân
dân các nước lại phải tiến hành kháng chiến c... |
10_4_3 | Riêng Brunây, tới tháng 1 - 1984 mới tuyên bố là quốc gia độc lập. Đông Timo ra
đời sau cuộc trưng cầu dân ý tách khỏi Inđônêxia (8 – 1999), ngày 20 – 5 – 2002 đã
trở thành một quốc gia độc lập.
b) Lào (1945 – 1975)
Giữa tháng 8 – 1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Nắm thời cơ
thuận lợi, ngày 23 – 8 – 1945... |
10_4_4 | -
Ngày 9 – 11 1953, do hoạt động ngoại giao của Quốc vương N. Xihanúc,
Chính phủ Pháp kí hiệp ước trao trả độc lập cho Campuchia, nhưng quân Pháp vẫn
chiếm đóng đất nước này.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ
năm 1954 công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ củ... |
10_4_5 | a) Nhóm năm nước sáng lập ASEAN
Thời kì đầu sau khi giành được độc lập, nhóm năm nước sáng lập ASEAN
(Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo, Thái Lan) đều tiến hành công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu (chiến lược kinh tế hướng nội) với mục tiêu nhanh chóng xoá
bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. Nội du... |
10_4_6 | 30
30
Năm 1997
1998, các nước ASEAN trải qua một cuộc khủng hoảng tài
chính nghiêm trọng. Nền kinh tế bị suy thoái, tình hình chính trị một số nước
không ổn định. Sau vài năm khắc phục, kinh tế dần dần được phục hồi,
các nước ASEAN lại tiếp tục phát triển.
b) Nhóm các nước Đông Dương
Sau khi giành được độc lập, về cơ b... |
10_4_7 | Sau khi giành được độc lập, bước vào thời kì phát triển kinh tế trong điều kiện
rất khó khăn, nhiều nước trong khu vực thấy cần có sự hợp tác với nhau để cùng
phát triển. Đồng thời, họ cũng muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên
ngoài đối với khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương
đan... |
10_4_8 | 3rd ASEAN Informal Summit
Manila, Philippines
27-28 November 1999
Hình 11. Các nhà lãnh đạo mười nước ASEAN tại Hội nghị cấp cao
(không chính thức) lần thứ ba (Philíppin, tháng 11 –
- 1999)
Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN. Tháng 7 – 1997, Lào và Mianma
gia nhập ASEAN. Đến năm 1999, Campuchia được kết nạ... |
10_4_9 | Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh chống thực dân Anh, đòi độc lập
của nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại phát triển mạnh mẽ.
Năm 1946, ở Ấn Độ đã xảy ra 848 cuộc bãi công. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa
của 2 vạn thuỷ binh trên 20 chiến hạm ở Bombay (19 – 2 – 1946) chống đế
quốc Anh, đòi độc... |
10_4_10 | Ngày 30
-
1 – 1948, vị lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Ấn Độ là M. Ganđi bị
bọn phản động ám sát, nhưng Đảng Quốc đại vẫn tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc.
Không thoả mãn với quy chế tự trị, Đảng Quốc đại do
G. Nêru đứng đầu đã lãnh đạo nhân dân tiếp tục cuộc đấu
tranh giành độc lập trong những năm... |
10_5_1 | Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ trong những
năm 1945 – 1950 diễn ra như thế nào ?
I CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Lập niên biểu về thời gian tuyên bố độc lập của các quốc gia
2.
ở Đông Nam Á.
Sưu tầm tài liệu về tổ chức ASEAN.
3. Nêu những thành tựu chính mà nhân dân Ấn Độ đạt được trong
quá trình xây dựng đất ... |
10_5_2 | Sau 8 năm đấu tranh vũ trang chống Pháp (1954 – 1962), nhân dân Angiêri
đã giành được thắng lợi. Tuynidi, Marốc và Xuđăng giành được độc lập năm
1956, Gana năm 1957, Ghinê – năm 1958 v.v..
-
Đặc biệt, lịch sử ghi nhận năm 1960 là Năm châu Phi với 17 nước được trao trả
độc lập. Năm 1975, với thắng lợi của nhân dân Môdăm... |
10_5_3 | Ngay tại Nam Phi, trước áp lực đấu tranh của người da màu, bản Hiến pháp tháng
11 – 1993 đã chính thức xoá bỏ chế độ phân biệt chủng tộc (Apácthai). Sau đó, với
cuộc bầu cử dân chủ giữa các chủng tộc ở Nam Phi (4 – 1994), Nenxơn Manđêla
trở thành Tổng thống người da đen đầu tiên của Cộng hoà Nam Phi.
Nenxơn Manđêla sin... |
10_5_4 | – Tại sao năm 1960 được gọi là “Năm châu Phi” ?
– Lập bảng thống kê các thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành
độc lập của nhân dân châu Phi từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
II – CÁC NƯỚC MĨ LATINH
Khu vực Mĩ Latinh gồm 33 nước (trong đó một nước ở Bắc Mĩ là Mêhicô cùng toàn
bộ các nước ở Trung, Nam châu Mĩ và vùng b... |
10_5_5 | lệ thuộc vào Mĩ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với ưu thế về kinh tế và quân sự,
Mĩ tìm cách biến khu vực Mĩ Latinh thành “sân sau” của mình và xây dựng các
chế độ độc tài thân Mĩ. Cũng vì thế, cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài thân Mĩ
bùng nổ và phát triển. Tiêu biểu là thắng lợi của cách mạng Cuba dưới sự lãnh ... |
10_5_6 | Cùng với những hình thức bãi công của công nhân, nổi dậy của nông dân đòi
ruộng đất, đấu tranh nghị trường để thành lập các chính phủ tiến bộ, cao trào đấu
tranh vũ trang bùng nổ mạnh mẽ ở Mĩ Latinh, biến châu lục này thành “Lục địa
bùng cháy”. Phong trào đấu tranh vũ trang chống chế độ độc tài ở các nước
Vênêxuêla, Go... |
10_5_7 | Bước sang thập kỉ 90, nền kinh tế Mĩ Latinh có chuyển biến tích cực hơn. Lạm
phát được hạ từ mức bốn con số xuống còn dưới 30%/ năm, một số nước đạt mức
lí tưởng như Mêhicô : 4,4%, Bolivia : 4,45%, Chilê : 4,6%, v.v.. Đầu tư nước ngoài
vào Mĩ Latinh đạt khối lượng lớn : 68 tỉ USD (1993) và trên 70 tỉ USD (1994), đứng
h... |
10_6_1 | Chương IV
MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945 – 2000)
Bài 6
NƯỚC MĨ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mĩ bước sang giai đoạn phát
triển mới với tiềm lực kinh tế – tài chính và lực lượng quân sự to lớn.
Dựa vào đó, các giới cầm quyền Mĩ theo đuổi mưu đồ thống trị toàn thế
giới và nô dịch các quốc gia – dân tộc trên hành tin... |
10_6_2 | Về khoa học – kĩ thuật, Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật
hiện đại và đã đạt được nhiều thành tựu lớn.
Mĩ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản
xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật liệu mới (pôlime, vật liệu tổng
hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, n... |
10_6_3 | Tuy là nước tư bản phát triển, là trung tâm kinh tế – tài chính của thế giới,...
nhưng nước Mĩ không hoàn toàn ổn định. Xã hội Mĩ vẫn chứa đựng nhiều mâu
thuẫn giữa các tầng lớp xã hội.
Ở Mĩ, khoảng 400 người có thu nhập hằng năm từ 185 triệu USD trở lên,
tương phản với 25 triệu người sống dưới mức nghèo khổ.
Trong bối... |
10_6_4 | Năng suất lao động từ năm 1974 đến năm 1981 giảm xuống còn 0,43%/năm.
Hệ thống tài chính – tiền tệ, tín dụng bị rối loạn ; năm 1974, dự trữ vàng của
Mĩ chỉ còn hơn 11 tỉ USD.
Từ năm 1983, kinh tế Mĩ bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại. Tuy vẫn là nước
đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế – tài chính, nhưng tỉ trọng... |
10_7_1 | Với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học – kĩ thuật vượt trội, trong bối cảnh Liên
Xô tan rã, Mĩ muốn thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực”, trong đó Mĩ là siêu
cường duy nhất, đóng vai trò lãnh đạo. Tuy nhiên, thế giới không bao giờ chấp nhận
một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt và chi phối. Vụ khủng bố ngày 11–9–20... |
10_7_2 | Tuy nhiên, với sự cố gắng của từng nước và viện trợ của Mĩ trong khuôn khổ
“Kế hoạch Mácsan”, đến khoảng năm 1950, kinh tế các nước tư bản Tây Âu cơ bản
được phục hồi, đạt được mức trước chiến tranh.
-
Về chính trị, ưu tiên hàng đầu của các nước Tây Âu lúc bấy giờ là củng cố chính
quyền của giai cấp tư sản, ổn định tìn... |
10_7_3 | sản phẩm ; 2. Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc quản lí, điều tiết, thúc đẩy nền
kinh tế ; 3. Các nước Tây Âu đã tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài như nguồn viện
trợ của Mĩ, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba, hợp
tác có hiệu quả trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu (EC) v.v..
Về ... |
10_7_4 | III – TÂY ÂU TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1991
Về kinh tế, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, cũng như Mĩ
và Nhật Bản, từ năm 1973 nhiều nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu lâm vào tình trạng
suy thoái, khủng hoảng, phát triển không ổn định, kéo dài đến đầu thập kỉ 90.
Từ năm 1973 đến năm 1992, mức tăng trưởng kinh ... |
10_7_5 | TORO
STUNNEL
TE
Hình 19. Đường hầm qua eo biển Măng sơ
Tây Âu vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn nhất thế giới. Đến
giữa thập kỉ 90, chỉ riêng 15 nước thành viên EU đã có số dân tổng cộng là 375 triệu
người, GDP hơn 7 000 tỉ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng sản phẩm công nghiệp của
thế giới.
Về chính trị v... |
10_7_6 | và “Cộng đồng kinh tế châu Âu” (EEC). Đến ngày 1 – 7 – 1967, ba tổ chức trên
được hợp nhất thành “Cộng đồng châu Âu” (EC). Ngày 7 – 12 – 1991, các nước
thành viên EC kí Hiệp ước Maxtrích (Hà Lan), có hiệu lực từ ngày 1 – 1 – 1993,
đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU) với 15 nước thành viên(1).
EU ra đời không chỉ nhằm ... |
10_8_1 | Tháng 6 – 1979, đã diễn ra cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu đầu tiên. Tháng 3 – 1995,
bảy nước EU huỷ bỏ sự kiểm soát việc đi lại của công dân các nước này qua biên
giới của nhau. Ngày 1 – 1 – 1999, đồng tiền chung châu Âu với tên gọi là đồng ơrô
(EURO) đã được phát hành, và ngày 1 – 1 – 2002 chính thức được sử dụng ở nhi... |
10_8_2 | Khoảng 3 triệu người chết và mất tích ; 40% đô thị, 80% tàu bè, 34% máy móc
công nghiệp bị phá huỷ ; 13 triệu người thất nghiệp ; thảm hoạ đói, rét đe doạ
toàn nước Nhật.
Sau chiến tranh, Nhật Bản đã bị quân đội Mĩ, với danh nghĩa lực lượng Đồng
minh, chiếm đóng từ năm 1945 đến năm 1952, nhưng Chính phủ Nhật Bản vẫn
đư... |
10_8_3 | II – NHẬT BẢN TỪ NĂM 1952 ĐẾN NĂM 1973
Sau khi được phục hồi, từ năm 1952 đến năm 1960, kinh tế Nhật Bản có bước
phát triển nhanh, nhất là từ năm 1960 đến năm 1973, thường được gọi là giai đoạn
phát triển “thần kì”.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của Nhật Bản từ năm 1960 đến năm
1969 là 10,8% ; từ năm 1970 đến n... |
10_8_4 | -
Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một siêu cường kinh tế (sau Mĩ) là do một
số yếu tố sau : 1. Ở Nhật Bản, con người được coi là vốn quý nhất, là nhân tố quyết
định hàng đầu ; 2. Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước ; 3. Các công
ti Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sứ... |
10_8_5 | III – NHẬT BẢN TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1991
Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, từ năm 1973 trở đi, sự
phát triển kinh tế của Nhật Bản thường xen kẽ với những giai đoạn suy thoái ngắn.
Tuy nhiên, từ nửa sau những năm 80, Nhật Bản đã vươn lên thành siêu cường tài
chính số một thế giới với lượng dự trữ vàng... |
10_8_6 | Tỉ trọng của Nhật Bản trong nền sản xuất của thế giới là 1/10. GDP của Nhật
Bản năm 2000 là 4 746 tỉ USD và bình quân GDP trên đầu người là 37 408 USD.
Khoa học – kĩ thuật của Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển ở trình độ cao. Tính đến
năm 1992, Nhật Bản đã phóng 49 vệ tinh khác nhau và hợp tác có hiệu quả với Mĩ,
Liên X... |
10_9_1 | Chương V
QUAN HỆ QUỐC TẾ (1945 – 2000)
Bài 9
QUAN HỆ QUỐC TẾ
TRONG VÀ SAU THỜI KÌ CHIẾN TRANH LẠNH
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới lâm vào tình trạng chiến
tranh lạnh giữa hai siêu cường Mĩ và Liên Xô, thậm chí có lúc như bên
bờ của một cuộc chiến tranh thế giới. Chiến tranh lạnh đã trở thành
nhân tố ch... |
10_9_2 | đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho hai nước Hi Lạp
và Thổ Nhĩ Kì.
“Học thuyết Truman” nhằm : 1. Củng cố các chính quyền phản động và đẩy
lùi phong trào đấu tranh yêu nước ở Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì ; 2. Biến hai nước
Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì thành những căn cứ tiền phương chống Liên Xô và các
nước d... |
10_9_3 | II – SỰ ĐỐI ĐẦU ĐÔNG – TÂY VÀ CÁC CUỘC CHIẾN TRANH CỤC BỘ
Chiến tranh lạnh là cuộc đối đầu căng thẳng giữa hai phe – phe tư bản chủ nghĩa
do Mĩ đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trụ cột. Chiến tranh lạnh
đã diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực, từ chính trị, quân sự đến kinh tế, văn hoá -
tư tưởng v.v. ngoại... |
10_9_4 | Đại Hàn Dân quốc (8 – 1948) và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (9 – 1948).
Sau đó, quân đội Liên Xô và Mĩ rút khỏi Triều Tiên. Như vậy, giới tuyến quân sự tạm
thời ở vĩ tuyến 38 đã trở thành đường ranh giới giữa hai nhà nước với chế độ chính
trị khác nhau, do Mĩ và Liên Xô bảo trợ cho mỗi bên.
Sau hơn 3 năm chiến ... |
10_9_5 | Chiến tranh Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất phản ánh
mâu thuẫn giữa hai phe. Nhưng cuối cùng, mọi chiến lược chiến tranh của Mĩ đều
bị phá sản. Tháng 1 – 1973, Hiệp định Pari được kí kết. Theo đó, Mĩ cam kết tôn
trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn
lã... |
10_9_6 | bằng biện pháp hoà bình các cuộc tranh chấp... nhằm bảo đảm an ninh châu Âu) và
sự hợp tác giữa các nước (về kinh tế, khoa học – kĩ thuật, bảo vệ môi trường v.v.).
Định ước Henxinki (1975) đã tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan
đến hoà bình, an ninh ở châu lục này.
Hình 24. M. Goócbachốp và R. Rigân kí H... |
10_9_7 | Hãy nêu và phân tích những sự kiện chứng tỏ xu thế hoà hoãn giữa
hai phe – tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
IV – THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH
Sau nhiều năm trì trệ và khủng hoảng kéo dài, đến những năm 1989 – 1991,
chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã ở các nước Đông Âu và Liên bang Xô viết. Ngày
28 – 6 – 1991, Hội đồn... |
10_9_8 | Sự kiện ngày 11 − 9 đã đặt các quốc gia – dân tộc đứng trước những thách thức
của chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ khó lường. Nó đã gây ra những tác động
to lớn, phức tạp đối với tình hình chính trị thế giới và cả trong quan hệ quốc tế.
Ngày nay, các quốc gia dân tộc vừa có những thời cơ phát triển thuận lợi, vừa
p... |
10_10_1 | Chương VI
CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ
Bài 10
CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HOẢ NỬA SAU THẾ KỈ XX
-
Từ những năm 40 của thế kỉ XX, trên thế giới đã diễn ra cuộc cách
mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, khởi đầu từ nước Mĩ. Với quy mô
rộng lớn, nội dung sâu sắc và toàn diện, n... |
10_10_2 | -
Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay đã phát triển qua hai giai đoạn :
giai đoạn đầu từ những năm 40 đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX ;
giai đoạn thứ hai từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 đến nay.
Trong giai đoạn sau, cuộc cách mạng chủ yếu diễn ra về công nghệ với sự ra
đời của thế hệ máy tính... |
10_10_3 | Trong lĩnh vực công nghệ, đã xuất
hiện những phát minh quan trọng, đạt
được những thành tựu to lớn : những
công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử,
máy tự động và hệ thống máy tự động,
rôbốt v.v.) ; những nguồn năng lượng
mới (năng lượng mặt trời, năng lượng gió
và nhất là năng lượng nguyên tử v.v.) ;
những vật liệu mới... |
10_10_4 | Hãy nêu đặc điểm và những thành tựu chính của cuộc cách mạng
khoa học – công nghệ trong nửa sau thế kỉ XX.
II – XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
Một hệ quả quan trọng của cách mạng khoa học – công nghệ là từ đầu những
năm 80 của thế kỉ XX, nhất là từ sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra
xu thế toàn cầu... |
10_10_5 | Là kết quả của quá trình tăng tiến mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá
là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược được. Nó có mặt tích cực
và mặt tiêu cực, nhất là đối với các nước đang phát triển.
Về mặt tích cực, đó là thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội
hoá của lực lượng sản x... |
10_11_1 | Bài 11
TỔNG KẾT LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2000
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một giai đoạn mới của
lịch sử thế giới hiện đại. Trong lịch sử thế giới, hiếm có giai đoạn nào
như giai đoạn nửa sau thế kỉ XX mà loài người vừa mới trải qua. Chỉ
trong vòng nửa thế kỉ, tình hình thế giới đ... |
10_11_2 | 3. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cao trào giải phóng dân tộc đã
dấy lên mạnh mẽ ở các nước Á, Phi và Mĩ Latinh. Hệ thống thuộc địa và chế độ
phân biệt chủng tộc (Apácthai) kéo dài từ nhiều thế kỉ đã bị sụp đổ hoàn toàn.
Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đó đã đưa tới sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập
trẻ t... |
10_11_3 | những hiểm hoạ khủng khiếp không lường hết được của một cuộc chiến tranh hạt
nhân. Hơn thế nữa, ý chí đấu tranh giữ gìn hoà bình của các dân tộc đã được đề cao
hơn bao giờ hết, bởi họ vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới chỉ trong vòng
chưa đầy nửa thế kỉ. Cuối cùng, Chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới chuyển... |
10_11_4 | sản xuất phồn vinh, một nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ
cao cùng với một lực lượng quốc phòng hùng mạnh.
Hai là, một đặc điểm lớn của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh là sự điều
chỉnh quan hệ giữa các nước lớn theo chiều hướng đối thoại, thoả hiệp, tránh
xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một... |
10_11_5 | PHẦN HAI
LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 2000
75 |
10_12_1 | Chương I
VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930
Bài 12
PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1925
Những thay đổi của tình hình thế giới và tác động của cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tạo ra những chuyển biến
mới về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục ở Việt Nam. Phong trào dân
t... |
10_12_2 | vốn đầu tư vào nông nghiệp nhiều nhất, chủ yếu là cho đồn điền cao su ; diện tích
trồng cao su được mở rộng, nhiều công ti cao su được thành lập. Pháp còn mở mang
một số ngành công nghiệp như dệt, muối, xay xát v.v.. Tư bản Pháp rất coi trọng
việc khai thác mỏ, trước hết là mỏ than. Ngoài than, các cơ sở khai thác thiế... |
10_12_3 | kinh tế Việt Nam vẫn mất cân đối. Sự chuyển biến ít nhiều về kinh tế chỉ có tính
chất cục bộ ở một số vùng, còn lại phổ biến vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn.
Kinh tế Đông Dương vẫn bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị
trường độc chiếm của tư bản Pháp.
Do tác động của chính sách khai thác thuộc ... |
10_12_4 | Như vậy, từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20, trên đất nước
Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo
dục. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu
thuẫn giữa toàn thể nhân dân ta với thực dân Pháp và phản động tay sai. Cuộc ... |
10_12_5 | Nhiều Việt kiều tại Pháp đã tham gia hoạt động yêu nước, chuyển tài liệu, sách báo
tiến bộ về nước. Năm 1925, “Hội những người lao động trí óc Đông Dương” ra đời.
Năm 1923, tại Quảng Châu (Trung Quốc) Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn
Công Viễn v.v. lập ra tổ chức Tâm tâm xã. Ngày 19 – 6 – 1924, Phạm Hồng Thái
thực hiện... |
10_12_6 | Các cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng nhiều hơn, tuy vẫn còn lẻ tẻ và tự
phát. Ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã thành lập Công hội (bí mật).
Tháng 8 – 1925, thợ máy xưởng Ba Son tại cảng Sài Gòn đã bãi công, không chịu
sửa chữa chiến hạm Misơlê của Pháp trước khi chiến hạm này chở binh lính sang
tham gia đàn áp phong trào đ... |
10_12_7 | thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên cộng sản và
là một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của Angiêri,
Marốc, Tuynidi v.v. lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari để tập hợp tất cả những
người dân thuộc địa sống trên... |
End of preview. Expand in Data Studio
README.md exists but content is empty.
- Downloads last month
- 9