filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
giải oscar cho phim ngắn hay nhất.txt
Giải Oscar cho phim ngắn là một phần của giải Oscar được Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh trao hàng năm cho phim ngắn hay nhất, bắt đầu từ năm 1932. Từ năm 1932 tới năm 1935 giải này mang tên "Short Subjects, comedy" (Các chủ đề ngắn, kịch) và "Short subjects, novelty" (Các chủ đề ngắn, cái mới lạ). Từ năm 1936 tới năm 1956 có 2 giải thưởng riêng: "Short Subjects, one-reel" (Các chủ đề ngắn, 1 cuộn) và "Short Subjects, two-reel" (Các chủ đề ngắn, 2 cuộn). Một thể loại thứ 3 "Short Subjects, color" (Các chủ đề ngắn, màu) chỉ được dùng cho 2 năm 1936 và 1937. Tên "Short Subjects, Live Action Subjects" (Các chủ đề ngắn, Các chủ đề hành động sống thực) được dùng từ năm 1957 tới năm 1970. Từ năm 1971 tới 1973 gọi là "Short Subjects, Live Action Films" (Các chủ đề ngắn, Các phim hành động sống thực). Tên hiện nay Academy Award for Live Action Short Film (Giải Oscar cho phim ngắn hành động sống thực) được sử dụng từ năm 1974. Dưới đây là danh sách các phim đoạt giải. Tên phim đoạt giải được nêu đầu tiên, sau đó là các phim được đề cử trong cùng năm thuộc thể loại này: == Thập niên 1930 == 1932 (Comedy) Hal Roach - The Music Box The Loud Mouth Scratch-As-Catch-Can Stout Hearts and Willing Hands (Novelty) Mack Sennett - Wrestling Swordfish Screen Souvenirs Swing High 1933 (Comedy) Lou Brock - So This Is Harris! Mister Mugg A Preferred List (Novelty) Joe Rock - Krakatoa Menu Morze 1934 (Comedy) Kenneth Macgowan - La Cucaracha Men in Black What, No Men! (Novelty) Horace Woodard, Stacy Woodard - City of Wax Bosom Friends Strikes and Spares 1935 (Comedy) Jack Chertok - How to Sleep Oh, My Nerves Tit for Tat (Novelty) Gaumont British and Skibo Productions - Wings Over Everest Audioscopiks Camera Thrills 1936 (Color) Warner Bros. - Give Me Liberty La Fiesta de Santa Barbara Popular Science (One-Reel) Hal Roach - Bored of Education Moscow Moods Wanted - A Master (Two-Reel) Metro-Goldwyn-Mayer - The Public Pays Double or Nothing Dummy Ache 1937 (Color) Pete Smith - Penny Wisdom The Man Without a Country Popular Science (One-Reel) Skibo Productions - The Private Life of the Gannets A Night at the Movies Romance of Radium (Two-Reel) Metro-Goldwyn-Mayer - Torture Money Deep South Should Wives Work? 1938 (One-Reel) Metro-Goldwyn-Mayer - That Mothers Might Live The Great Heart Timber Toppers (Two-Reel) Warner Bros. - Declaration of Independence Swingtime in the Movies They're Always Caught 1939 (One-Reel) Paramount - Busy Little Bears Information Please Prophet Without Honor Sword Fishing (Two-Reel) Warner Bros. - Sons of Liberty Drunk Driving Five Times Five == Thập niên 1940 == 1940 (One-Reel) Pete Smith - Quicker'n a Wink (Two-Reel) Warner Bros. - Teddy, the Rough Rider 1941 (One-Reel) Metro-Goldwyn-Mayer - Of Pups and Puzzles (Two-Reel) Metro-Goldwyn-Mayer - Main Street on the March! 1942 (One-Reel) Paramount - Speaking of Animals and Their Families (Two-Reel) Warner Bros. - Beyond the Line of Duty 1943 (One-Reel) Grantland Rice - Amphibious Fighters (Two-Reel) Jerry Bresler, Sam Coslow - Heavenly Music 1944 (One-Reel) Jerry Fairbanks - Who's Who in Animal Land (Two-Reel) Gordon Hollingshead - I Won't Play 1945 (One-Reel) Herbert Moulton, Jerry Bresler - Stairway to Light (Two-Reel) Gordon Hollingshead - Star in the Night 1946 (One-Reel) Gordon Hollingshead - Facing Your Danger (Two-Reel) Gordon Hollingshead - A Boy and His Dog 1947 (One-Reel) Herbert Moulton - Good-Bye Miss Turlock (Two-Reel) Irving Allen - Climbing the Matterhorn 1948 (One-Reel) Edmund H. Reek - Symphony of a City (Two-Reel) Walt Disney - Seal Island 1949 (One-Reel) Jack Eaton - Aquatic House Party (Two-Reel) Gaston Diehl, Robert Haessens - Van Gogh == Thập niên 1950 == 1950 (One-Reel) Gordon Hollingshead - Grandad of Races (Two-Reel) Walt Disney - In Beaver Valley 1951 (One-Reel) Robert Youngson - World of Kids (Two-Reel) Walt Disney - Nature's Half Acre 1952 (One-Reel) Boris Vermont - Light in the Window: The Art of Vermeer (Two-Reel) Walt Disney - Water Birds 1953 (One-Reel) Johnny Green - The Merry Wives of Windsor Overture (Two-Reel) Walt Disney - Bear Country 1954 (One-Reel) Robert Youngson - This Mechanical Age (Two-Reel) Denis Sanders, Terry Sanders - A Time Out of War 1955 (One-Reel) Edmund Reek - Survival City (Two-Reel) Wilbur T. Blume - The Face of Lincoln 1956 (One-Reel) Konstantin Kalser - Crashing the Water Barrier (Two-Reel) Romulus Films - The Bespoke Overcoat 1957 Larry Lansburgh - The Wetback Hound 1958 Walt Disney - Grand Canyon 1959 Jacques-Yves Cousteau - The Golden Fish == Thập niên 1960 == 1960 Ezra R. Baker - Day of the Painter 1961 Lester A. Schoenfeld Films - Seawards the Great Ships 1962 Pierre Étaix, Jean-Claude Carrière - Heureux Anniversaire (Happy Anniversary) 1963 Paul De Roubaix, Marcel Ichac - An Occurrence at Owl Creek Bridge 1964 Edward Schreiber - Casals Conducts: 1964 1965 Claude Berri - The Chicken (Le Poulet) 1966 Edgar Anstey - Wild Wings 1967 Christopher Chapman - A Place to Stand - An Expo 67 movie at the Ontario Pavilion. 1968 Charles Guggenheim - Robert Kennedy Remembered 1969 Joan Keller Stern - The Magic Machines == Thập niên 1970 == 1970 John Longenecker - The Resurrection of Broncho Billy 1971 Manuel Arango, Robert Amram -Sentinels of Silence 1972 Richard Barclay - Norman Rockwell's World... An American Dream 1973 Allan Miller, William Fertik - The Bolero 1974 Paul Claudon, Edmond Sechan - One-Eyed Men Are Kings 1975 Bert Salzman - Angel and Big Joe 1976 Andre Guttfreund, Peter Werner - In the Region of Ice 1977 Beverly Shaffer, Yuki Yoshida - I'll Find a Way - National Film Board of Canada 1978 Taylor Hackford - Teenage Father 1979 Sarah Pillsbury, Ron Ellis - Board and Care == Thập niên 1980 == 1980 Lloyd Phillips - The Dollar Bottom 1981 Paul Kemp, Shelley Levinson - Violet 1982 Christine Oestreicher - A Shocking Accident 1983 Janice L. Platt - Boys and Girls 1984 Mike Hoover - Up 1985 Jeff Brown, Chris Pelzer - Molly's Pilgrim 1986 Chuck Workman - Precious Images 1987 Jonathan Sanger, Jana Sue Memel - Ray's Male Heterosexual Dance Hall 1988 Dean Parisot, Steven Wright - The Appointments of Dennis Jennings 1989 James Hendrie - Work Experience == Thập niên 1990 == 1990 Adam Davidson - The Lunch Date 1991 Seth Winston, Rob Fried - Session Man 1992 Sam Karmann - Omnibus 1993 Pepe Danquart - Black Rider (Schwarzfahrer) 1994 (tie) Peter Capaldi, Ruth Kenley-Letts - Franz Kafka's It's a Wonderful Life Peggy Rajski, Randy Stone - Trevor 1995 Christine Lahti, Jana Sue Memel - Lieberman in Love 1996 David Frankel, Barry Jossen - Dear Diary 1997 Chris Tashima, Chris Donahue - Visas and Virtue 1998 Kim Magnusson, Anders Thomas Jensen - Election Night (Valgaften) 1999 Barbara Schock, Tamara Tiehel - My Mother Dreams the Satan's Disciples in New York == Thập niên 2000 == 2000 Florian Gallenberger - Quiero ser (I want to be...) 2001 Ray McKinnon, Lisa Blount - The Accountant 2002 Martin Strange-Hansen - This Charming Man (Der er en yndig mand) 2003 Aaron Schneider, Andrew J. Sacks - Two Soldiers 2004 Andrea Arnold - Wasp 2005 Martin McDonagh - Six Shooter 2006 Ari Sandel - West Bank Story 2007 Philippe Pollet-Villard - Le Mozart des Pickpockets 2008 Jochen Alexander Freydank - Spielzeugland (Toyland) Auf Der Strecke (On the Line) – Reto Caffi Manon on the Asphalt – Elizabeth Marre vàOlivier Pont New Boy – Steph Green và Tamara Anghie The Pig – Tivi Magnusson và Dorte Høgh 2009 The New Tenants—Joachim Back và Tivi Magnusson The Door -- Juanita Wilson và James Flynn Instead of Abracadabra—Patrik Eklund và Mathias Fjellström Kavi—Gregg Helvey Miracle Fish—Luke Doolan và Drew Bailey == Thập niên 2010 == 2010 God of Love -- Luke Matheny The Confession – Tanel Toom The Crush – Michael Creagh Na Wewe – Ivan Goldschmidt Wish 143 – Ian Barne 2011 The Shore – Terry George và Oorlagh George Pentecost – Peter McDonald và Eimear O'Kane Raju – Max Zähle và Stefan Gieren Time Freak – Andrew Bowler và Gigi Causey Tuba Atlantic – Hallvar Witzø 2012 Curfew – Shawn ChristensenAsad – Bryan Buckley và Mino Jarjoura Buzkashi Boys – Sam French và Ariel Nasr Death of a Shadow (Dood van een Schaduw) – Tom Van Avermaet và Ellen De Waele Henry – Yan England == Tham khảo ==
nhà triết học.txt
Nhà triết học, hay triết gia, là người nghiên cứu về triết học, có đóng góp cho sự phát triển của triết học. Theo lịch sử triết học và theo phân chia vùng, người ta phân chia thành các nhà triết học phương Đông và triết học phương Tây. == Danh sách một số các triết gia nổi tiếng == === Phương Đông === Trung Hoa: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử Ấn Độ: Adi Shankara, Thích Ca Mâu Ni, Đại Anh Hùng === Phương Tây === Hy Lạp: Aristotle, Platon, Pythagoras, Socrates Đức: Immanuel Kant == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
henry ii của anh.txt
Henry II, được gọi là Curtmantle (5 tháng 3 năm 1133 – 6 tháng 7 năm 1189) là quốc vương nước Anh (1154 – 1189), Bá tước xứ Anjou, Công tước xứ Normandy, Công tước xứ Aquitaine, Công tước xứ Gascony, Bá tước xứ Nantes, Huân tước xứ Ái Nhĩ Lan và đôi khi nắm quyền kiểm soát xứ Wales, Scotland và miền tây nước Pháp. Henry là hậu duệ của William the Conqueror đồng thời là vị vua sáng lập nhà Plantagenet của Anh. Henry cũng là người đầu tiên xưng làm “vua của Anh”, khác với những quân vương trước đó chỉ xưng làm “Vua của người Anh”. == Thân thế == Henry II chào đời tại Le Mans, Pháp, vào ngày 5 tháng 3 năm 1133. Cha ông, Geoffrey V xứ Anjou (Geoffrey Plantagenet, con trai Fulk của Jerusalem), là Bá tước xứ Anjou đồng thời là Bá tước xứ Maine. Mẹ ông, Hoàng hậu Matilda, là người thừa kế ngai vàng Anh quốc với tư cách là con của Henry I (1100–1135), con của William The Conqueror, Công tước xứ Normandy. Henry dễ dàng trở thành vua Anh, vì ông là hậu duệ của các quốc vương Ănglo-Sắcxông và cả các quốc vương Scotland thông qua bà nội là Matilda của Scotland, con gái vua Malcom III của Scotland và Margaret xứ Wessex (Thánh Margaret của Scotland), cháu gái của Edmund Ironside. Thiếu thời, ông sinh sống ở lãnh địa Anjou của cha. Khi ông 9 tuổi, Robert, Bá tước thứ nhất của Gloucester gửi ông tới Anh, nơi ông được Master Matthew dạy dỗ ở Bristol. == Xem thêm == Eleanor của Aquitaine Richard I của Anh == Chú thích == == Liên kết ngoài == Henry II Chronology Medieval Sourcebook: Angevin England The Henry Project
el salvador.txt
El Salvador (tiếng Tây Ban Nha: República de El Salvador, IPA: [re'puβlika ðe el salβa'ðor], Tiếng Việt: Cộng hòa En Xan-va-đo) là một quốc gia tại Trung Mỹ. Tên nguyên thủy tiếng Nahuatl của đất này là "Cuzhcatl", có nghĩa là "Đất của báu vật". Địa danh này được người Tây Ban Nha phiên âm là "Cutzcatlan". Sau cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha, địa danh được đổi thành Provincia De Nuestro Señor Jesucristo El Salvador Del Mundo tức là "Tỉnh thành của Đức Chúa Ki Tô, đấng Cứu Thế", sau rút ngắn lại là "El Salvador". El Salvador nằm bên bờ Thái Bình Dương, giữa Guatemala và Honduras. == Lịch sử == Vào thời kì tiền Colombo, vùng lãnh thổ này chịu ảnh hưởng của nền văn minh Maya, rồi đến nền văn minh của người Indian Pipil với việc thành lập vương quốc Cuscatlán (vùng Đá quý). Năm 1524, Pedro de Alvarado, người Tây Ban Nha, chinh phục El Salvador. Quốc gia này thoát khỏi sự cai trị của Tây Ban Nha năm 1821 và trở thành một phần của đế quốc México. Thành viên của Liên hiệp các Tỉnh Trung Mỹ (1823-1838), El Salvador tuyên bố nền cộng hòa năm 1841. Cuối thế kỉ 19, đất nước lại xảy ra các cuộc xung đột liên tục giữa phe tự do và phe bảo thủ. Dưới chế độ độc tài của Tướng Maximiliano Martinez (1931-1944), nông dân nổi dậy chống đối và bị đàn áp dã man (1932). Năm 1950, Đại tá Oscar Osorio lên cầm quyền và thực hiện những cải cách xã hội. Năm 1972, quân đội áp đặt ứng cử viên của họ để gạt bỏ ứng cứ viên đối lập, José Napoleón Duarte. Từ đó, chiến tranh du kích và khủng bố hoành hành khắp đất nước. Năm 1977, nội chiến bùng nổ. Năm 1979, nhóm đảo chính lên cầm quyền và được Hoa Kỳ ủng hộ. Từ năm 1980, Tổng thống J. N. Duarte tiến hành cải cách ruộng đất. Năm 1992, các cuộc thương lượng giữa Chính phủ với lực lượng du kích kháng chiến đã dẫn đến việc ký hiệp định hòa bình, chấm dứt 11 năm nội chiến. Năm 1994, Armando Calderón Sol đắc cử Tổng thống. Năm 1997, Mặt trận Giải phóng Dân tộc Farabundo Marti chuyển thành một đảng phái chính trị chiếm được 27 trong tổng số 84 ghế trong cuộc bầu cử lập pháp. Năm 1999, Francisco Flores trở thành Tổng thống mới. == Chính trị == El Salvador theo chế độ Cộng hoà Tổng thống. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ, được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội: nhất viện gồm 84 nghị sĩ được bầu cho nhiệm kỳ 3 năm và có quyền tái cử. Toà án tối cao: gồm 14 quan toà do Quốc hội bổ nhiệm, ngoài ra có các toà án các cấp. Các đảng phái chính trị: El Salvador theo chế độ đa đảng. Các đảng chính là: Đảng Mặt trận giải phóng dân tộc Pha-ra-bun-đô Mác-ti (FMLN – cầm quyền), Liên minh Cộng hoà Quốc gia (ARENA), Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (PDC), Đảng Hoà giải dân tộ (PCN)… == Địa lý == Quốc gia nhỏ và có mật độ dân số cao ở Trung Mỹ; Nam và Tây Nam giáp Thái Bình Dương, Bắc giáp Guatemala, Đông giáp Honduras. Địa hình gồm đồng bằng ven biển với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hai dãy núi lửa (đỉnh Santa Ana. 2.386 m) bao quanh vùng cao nguyên có không khí trong lành, nơi dòng sông Lempa chảy ngang qua và tập trung phần lớn dân cư trong nước. == Kinh tế == Nền kinh tế El Salvador chủ yếu dựa vào kiều hối từ Mỹ và nông nghiệp với những sản phẩm truyền thống miền nhiệt đới. Từ tháng 1 năm 2001, Chính phủ El Salvador quyết định sử dụng đồng đô la Mỹ thay thế cho đồng colong nội tệ. Nguồn thu nhập ngoại tệ cơ bản của đất nước dựa vào gần 3 tỷ USD kiều hối / năm. Chính phủ El Salvador chủ trương mở thị trường xuất khẩu mới, hỗ trợ đầu tư nước ngoài và hiện đại hoá hệ thống thuế. Nông nghiệp chủ yếu phát triển các loại cây lương thực: ngô, kê, đậu và lúa, mía và cà phê. Đường, bông vải gỗ, cà phê là các mặt hàng xuất khẩu chính. Một số ngành công nghiệp (hóa dầu, lọc dầu, xi măng, dệt...) phát triển nhờ công trình thủy điện sông Lempa. Cuộc nội chiến (1977-1992) đã làm cho đất nước rơi vào tình trạng kiệt quệ. Mặc dầu Chính phủ áp dụng biện pháp khắc khổ và kiểm soát được nạn lạm phát nhưng vẫn không tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tính đến năm 2016, GDP của El Salvador đạt 26.610 USD, đứng thứ 103 thế giới và đứng thứ 17 khu vực Mỹ Latin. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == http://docxem.com/cuoc-song-dang-so-tai-quoc-gia-nguy-hiem-bac-nhat-the-gioi.html
địa lý hà nội.txt
Địa lý Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m... Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng. == Tham khảo ==
điện thoại thông minh.txt
Điện thoại thông minh hay điện thoại tinh khôn (tiếng Anh: smartphone) là khái niệm để chỉ loại điện thoại tích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ tiên tiến về điện toán và kết nối dựa trên nền tảng cơ bản của điện thoại di động thông thường. Ban đầu điện thoại thông minh bao gồm các tính năng của điện thoại di động thông thường kết hợp với các thiết bị phổ biến khác như PDA, thiết bị điện tử cầm tay, máy ảnh kỹ thuật số, hệ thống định vị toàn cầu GPS. Điện thoại thông minh ngày nay bao gồm tất cả chức năng của laptop như duyệt web, Wi-Fi, các ứng dụng của bên thứ 3 trên di động và các phụ kiện đi kèm cho máy. Những điện thoại thông minh phổ biến nhất hiện nay dựa trên nền tảng của hệ điều hành Windows Phone của Microsoft, Android của Google và iOS của Apple. == Định nghĩa == Điện thoại thông minh Là một thuật ngữ chủ yếu chống đối Điện thoại tính năng mà ra. Các ngành công nghiệp tin rằng điện thoại thông minh đa số có một màn hình độ phân giải cao hơn so với điện thoại truyền thống và điện thoại thông minh như một máy tính di động, vì nó có một hệ điều hành riêng biệt vì có thể hiển thị phù hợp các trang website bình thường và người dùng có thể thay đổi một giao diện và sở hữu khả năng mở ứng dụng tiện hơn và dễ dàng cài đặt lẫn gõ bỏ ứng dụng; điện thoại thông minh có màn hình cảm ứng độ phân giải cao, và sẵn sàng để gọi bàn phím ảo và viết chữ tay. Có thể tiến hành đa tác vụ thao tác, và có một đa phương tiện mạnh mẽ, Email, Internet và hoàn toàn có thể thay đổi các thiết bị truyền thống như MP3 và PDA điện thoại thông minh có thể thay thế xử lý các vấn đề máy tính văn phòng và các vấn đề khác, nó có thể giao tiếp với mạng duy trì một thời gian kết nối liền mạch với thời gian, đồng thời có thể vô hiệu hóa mạng bất cứ lúc nào, và đồng bộ hóa dữ liệu với máy tính, máy tính xách tay và các thiết bị khác. Một số hãng sản xuất điện thoại thông minh nổi tiếng hiện nay: Apple (với iPhone) Samsung (với Samsung Galaxy) Oppo Vivo Microsoft (với Microsoft Lumia) BlackBerry Motorola Nokia Huawei Lenovo == Thị phần == === Trên nền tảng hệ điều hành === Tính tới cuối quý III năm 2013, Android là hệ điều hành phổ biến nhất, chiếm tới 81.9% trong tổng số 211,6 triệu điện thoại được tiêu thụ trên toàn cầu, theo đó là iOS với 12.1%, Windows Phone là 3.6% và BlackBerry là 1.8%. ==== Số lượng tiêu thụ lịch sử (trong một triệu đơn vị) ==== == Tham khảo == == Xem thêm == Điện thoại Điện thoại tính năng Điện thoại di động Danh sách điện thoại di động thông minh có màn hình hiển thị độ nét cao
bộ trưởng.txt
Bộ trưởng (tiếng Anh: Minister) là một chính trị gia, giữ một công vụ quan trọng trong chính quyền cấp quốc gia, xây dựng và triển khai các quyết định về chính sách một cách phối hợp cùng các bộ trưởng khác. Bộ trưởng có quyền cấp cao hơn thứ trưởng, giám đốc sở, và thường là thành viên của nội các chính phủ, nội các thường do một thủ tướng đứng đầu. Ở một số quốc qia và vùng lãnh thổ, bao gốm Hoa Kỳ, Anh, Hồng Kông và Philipin, những người giữ công vụ ngang cấp bộ được gọi là Quốc vụ khanh (Secretary of state), hay được gọi tắt là Tổng thư (secretary). == Từ nguyên học == Từ bộ trưởng (部長) có nguồn gốc Hán-Việt, có nghĩa là "người đứng đầu một bộ", xuất phát từ lục bộ trong thời phong kiến. Việt Nam Cộng hòa xưa gọi chức vụ này là tổng trưởng. Từ minister xuất hiện trong tiếng Anh thời trung cổ, xuất phát từ ministre trong tiếng Pháp cổ và nguyên gốc là từ minister trong tiếng Latin, có nghĩa là "đầy tớ". Phần lớn các ngôn ngữ Tây phương đều dùng một từ có gốc từ minister của tiếng Latin. Ở vài nước như: Hoa Kỳ, Philippines, Hong Kong... bộ trưởng được gọi là secretary (nguyên nghĩa là "bí thư" hay "thư ký"). (Từ secretary còn được sử dụng để chỉ đến phó đại sứ (những người đứng đầu một công sứ quán.) == Lựa chọn == Trong các quốc gia theo chế độ nghị viện, đặc biệt các nước sử dụng Hệ thống Westmister như Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Úc..., bộ trưởng phải được Quốc hội chọn. Trong các quốc gia theo chế độ tổng thống, như Hoa Kỳ, México, Philippines... bộ trưởng do tổng thống chọn và trình quốc hội thông qua. Ở Việt Nam hiện nay, theo thủ tục chính thức, bộ trưởng do thủ tướng chọn và trình Quốc hội thông qua. Thực sự thì danh sách chính phủ đã được lựa chọn từ trước, do Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy tuyệt đại đa số Bộ trưởng đều được Quốc hội thông qua. Ngoại lệ hiếm hoi là ông Cao Sĩ Kiêm, lúc đương là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đã không được thông qua. == Kiểu bộ trưởng == Mỗi quốc gia có các kiểu bộ trưởng riêng, và sẽ có danh xưng riêng, tùy theo số lượng các bộ. Kiểu bộ trưởng đặc trưng mà hầu như quốc gia nào cũng có: Thủ tướng (thủ tướng cũng là bộ trưởng, có thể hiểu như là bộ trưởng của các bộ trưởng) Bộ trưởng Tài chính Bộ trưởng Ngoại giao Bộ trưởng Quốc phòng Bộ trưởng Nội vụ Bộ trưởng Giáo dục Bộ trưởng Môi trường Bộ trưởng Y tế Bộ trưởng Tư pháp Bộ trưởng Văn hóa Đôi khi có một chanchellor (Đại pháp quan, bộ trưởng ở Anh hay thủ tướng ở Đức) Mỗi quốc gia có các kiểu bộ trưởng riêng, và sẽ có danh xưng riêng, tùy theo số lượng các bộ. Thành viên Nội các Chính phủ thời Quốc gia Việt Nam (1948-55) và Việt Nam Cộng Hòa (1955-75) có hơi khác đôi chút so với thành phần Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Thời trước 1975, dưới quyền Thủ tướng và Phó thủ tướng thường đặt ra bốn chức danh là: Quốc vụ khanh, Tổng trưởng, Bộ trưởng và Thứ trưởng (theo vị trí quan trọng từ cao xuống thấp. Riêng Quốc vụ khanh thường là một vị trí cố vấn đặc biệt và quan trọng đối với Thủ tướng) Ví dụ 1: Chẳng hạn như trong Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam - Nội các Nguyễn Văn Xuân (từ 1-6-1948): - Chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng và tổng trưởng Bộ Nội vụ: Nguyễn Văn Xuân. - Quốc vụ khanh, phó chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng kiêm tổng trấn Nam Phần: Trần Văn Hữu. - Quốc vụ khanh, tổng trấn Trung Phần: Phan Văn Giáo. - Quốc vụ khanh, tổng trấn Bắc Phần: Nghiêm Xuân Thiện. - Quốc vụ khanh, tùng Bộ Quốc phòng: Trần Quang Vinh. - Tổng trưởng Bộ Tài chánh, kinh tế quốc gia: Nguyễn Trung Vinh. - Thứ trưởng tùng Dinh chủ tịch: Đinh Xuân Quảng. - Thứ trưởng tùng Bộ Nội vụ: Đỗ Quang Giai. - Thứ trưởng tùng Bộ Quốc gia giáo dục, đặc trách Thanh niên và thể thao: Hà Xuân Tế. - v.v.. Ví dụ 2: Hoặc như trong Nội các do quốc trưởng Bảo Đại trực tiếp làm Thủ tướng (từ ngày 1-7-1949 đến 18-1-1950) - Quốc trưởng kiêm thủ tướng: Bảo Đại. - Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng: trung tướng Nguyễn Văn Xuân. - Tổng trưởng Phủ thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Nội vụ: Vũ Ngọc Trân. - Bộ trưởng Phủ Thủ tướng kiêm tổng thư ký Chính phủ: Đặng Trinh Kỳ. - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Trần Quang Vinh. - Tổng trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Phan Long. - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Lê Thăng. - Tổng trưởng Bộ Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ. - v.v... Lúc này, một vài bộ quan trọng vừa có 1 Tổng trưởng, vừa có 1 Bộ trưởng, vừa có các Thứ trưởng, nên bộ trưởng có thể xem như là Thứ trưởng thứ nhất của bộ, dười tổng trưởng, nhưng trên các thứ trưởng trong bộ đó. Ví dụ 3: Hoặc như trong Chính phủ Bảo Đại - Nội các Ngô Đình Diệm (từ 7-7-1954 đến 25-10-1955): - Quốc trưởng: Bảo Đại. - Thủ tướng kiêm tổng trưởng Bộ Quốc phòng và tổng trưởng Bộ Nội vụ: Ngô Đình Diệm. - Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Nguyễn Ngọc Thơ (đến 9-1954). - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Lê Ngọc Chấn (đến 9-1954). - Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Trần Chánh Thành (đến 9-1954). - Bộ trưởng Phủ Thủ tướng đặc nhiệm thông tin: Lê Quang Luật (đến 9-1954). - Bộ trưởng đặc nhiệm và phát ngôn nhân Phủ thủ tướng: Phạm Duy Khiêm. - Tổng trưởng Bộ Ngoại giao: Trần Văn Đỗ. - Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Bùi Văn Thinh. - Tổng trưởng Kinh tế tài chánh: Trần Văn Của (đến 9-1954). - Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Nguyễn Văn Thoại (đến 9-1954). - Bộ trưởng Bộ Tài chánh: Trần Hữu Phương. - Tổng trưởng Bộ Canh nông: Phan Khắc Sửu (đến 9-1954). - Quốc vụ khanh: Trần Văn Chương (đến 9-1954). - v.v... Trong trường hợp này, tổng trưởng Kinh tế tài chánh có hai "phụ tá', là bộ trưởng Bộ Kinh tế và bộ trưởng Bộ Tái chánh. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ giúp Thủ tướng trực tiếp điều hành bộ, trong khi Thủ tướng vẫn kiêm chức Tổng trưởng hai bộ quan trọng đó. Riêng Quốc vụ khanh là cố vấn đặc biệt của Thủ tướng và không trực tiếp nắm bộ nào. Ví dụ 4: Có nội các chỉ gồm có các tổng trưởng (và các thứ trưởng phụ tá) và Quốc vụ khanh, mà bỏ tên gọi Bộ trưởng. Như Nội các Ngô Đình Diệm cải tổ (10-5-1955 đến 26-10-1955). Cũng có Nội các chỉ gồm các bộ trưởng (và các thứ trưởng phụ tá) và Quốc vụ khanh, mà bỏ tên gọi Tổng trưởng. Như Chính phủ Ngô Đình Diệm (26-10-1955 đến 26-10-1956). Hoặc như Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu - Nội các Nguyễn Cao Kỳ (1965-67) thì đứng đầu Bộ là một Tổng uỷ viên Hành pháp (như tổng trưởng), hoặc 1 Uỷ viên Hành pháp (bộ trưởng), bên dưới có các Thứ uỷ viên Hành pháp (thứ trưởng). == Chú thích ==
đoàn việt cường.txt
Đoàn Việt Cường (sinh năm 1985 tại Đồng Tháp), là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Việt Nam đã từng cùng Đội tuyển Bóng đá Quốc gia Việt Nam vô địch Giải bóng đá Đông Nam Á AFF Suzuki Cup 2008. == Tiểu sử và quá trình hoạt động bóng đá == Đoàn Việt Cường là con trai của ông Đoàn Văn Phát cũng từng là một cầu thủ của đội bóng Đồng Tháp. Đoàn Việt Cường là cầu thủ của Đồng Tháp cùng lứa với Phan Thanh Bình, Nguyễn Quý Sửu, Lương Văn Được Em, Châu Phong Hòa... Năm 2003, Đoàn Việt Cường đoạt chức vô địch Giải vô địch bóng đá U18 Việt Nam trong màu áo Đồng Tháp. Từ năm 2004 đến 2009, anh liên tục có mặt trong đội hình một Câu lạc bộ Đồng Tháp. Anh thi đấu tốt ở vị trí hậu vệ và tiền vệ cánh phải dù khởi nghiệp là hậu vệ trái. Những lúc Đồng Tháp thiếu người, anh vào vai đá trung vệ khá tốt. Anh đã từng mang băng đội trưởng của đội Đồng Tháp khi còn rất trẻ. Việt Cường từng thi đấu trong màu áo của Đội tuyển bóng đá Olympic Việt Nam; Anh cũng thi đấu cho Đội tuyển quốc gia trong nhiều năm- giai đoạn (2006-2010). Năm 2008, anh có mặt và thi đấu tốt trong đội hình chính của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam ở vị trí hậu vệ, cùng Đội tuyển Việt Nam vô địch AFF Suzuki Cup 2008 thời huấn luyện viên Calisto người Bồ Đào Nha. Đó cũng là thành tích tốt nhất và duy nhất cho đến thời điểm năm 2015 của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam. Năm 2009, Việt Cường chuyển sang thi đấu cho Hoàng Anh Gia Lai. == Thành tích == AFF Suzuki Cup 2008: Vô địch V-League: Giải vô địch bóng đá hạng nhất Việt Nam: 1 lần vô địch 2006 Giải bóng đá Đại hội TDTT Toàn quốc: Huy chương bạc 2006 Giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam Hạng 3 2003 và 2004 == Tham khảo == == Tham khảo ==
nội chiến sierra leone.txt
Cuộc Nội chiến Sierra Leone (1991-2002) bắt đầu vào ngày 23 tháng 3 năm 1991 khi Mặt trận thống nhất cách mạng (Revolutionary United Front - RUF), được hỗ trợ bởi các lực lượng đặc biệt của Mặt trận yêu nước quốc gia Liberia (National Patriotic Front of Liberia - NPFL) của tổng thống Charles Taylor, đã can thiệp vào Sierra Leone trong một nỗ lực nhằm lật đổ chính phủ của Joseph Momoh. Cuộc nội chiến đã kéo dài 11 năm, bao trùm cả nước, làm 50.000 người chết. Trong năm đầu tiên của cuộc chiến, RUF đã kiểm soát những dải lãnh thổ lớn ở phía đông và phía nam Sierra Leone, nơi giàu có về kim cương. Sự phản ứng thiếu hiệu quả của chính phủ và việc bị mất ngành công nghiệp khai thác kim cương đã khiến Hội đồng lãnh đạo quốc gia lâm thời (National Provisional Ruling Council - NPRC) đảo chính quân sự vào tháng 4 năm 1992. Vào cuối năm 1993, Lực lượng vũ trang Cộng hòa Sierra Leone (Sierra Leone Army - SLA) đã thành công trong việc đẩy phiến quân RUF đến biên giới quốc gia với Liberia, nhưng RUF đã phục hồi và tiếp tục cuộc chiến. Tháng 3 năm 1995, Executive Outcomes (EO), một công ty tư nhân của Nam Phi chuyên cung cấp lính đánh thuê, đã được thuê để đánh bại RUF. Sierra Leon đã thành lập chính phủ dân sự thông qua bầu cử vào tháng 3 năm 1996, phiến quân RUF trốn thoát đã buộc phải ký hiệp ước hòa bình Abidjan. Dưới áp lực của Liên Hiệp Quốc, chính phủ đã phải chấm dứt hợp đồng của họ với EO trước khi hiệp ước bắt đầu có hiệu lực và được thực thi. Vào tháng 5 năm 1977, một nhóm những sĩ quan bất mãn của SLA đã tổ chức đảo chính và thành lập Hội đồng những lực lượng vũ trang giải phóng (AFRC) như là một chính phủ mới của Sierra Leone. RUF đã gia nhập với AFRC để chiếm Freetown trước sự chống cự không đáng kể. Chính phủ mới, được dẫn dắt bởi Johnny Paul Koroma, đã tuyên bố chiến tranh kết thúc. Một làn sóng cướp bóc, hãm hiếp, và giết người đã xuất hiện theo thông báo đó. Phản ứng trước khủng hoảng quốc tế nằm ngoài khả năng kiểm soát của chính phủ dân sự, lực lượng ECOMOG đã can thiệp và lấy lại Freetown nhân danh của chính phủ, tuy nhiên họ gặp nhiều khó khăn hơn để bình định những khu vực xa xôi. Vào tháng 1 năm 1999, các lãnh đạo trên thế giới đã can thiệp ngoại giao để thúc đẩy đàm phán giữa RUF và chính phủ. Hiệp ước hòa bình Lome, được ký vào 27 tháng 3 năm 1999, là kết quả. Lome đã cho Foday Sankoh, chỉ huy của RUF, chức phó tổng thống và quyền kiểm soát các mỏ kim cương của Sierra Leone cho việc tái đình chiến và sự triển khai của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc để thực thi tiến trình giải trừ quân bị. RUF tuân thủ tiến trình giải trừ quân bị một cách chậm chạp và không tương xứng, và vào tháng 5 năm 2000, quân nổi dậy tiến hành phiêu lưu một lần nữa với Freetown. Khi nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc đã bắt đầu thất bại, Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định can thiệp vào thuộc địa cũ và cũng là thành viên của Khối thịnh vượng chung này trong một nỗ lực nhằm hỗ trợ sự yếu kém của chính phủ của tổng thống Ahmad Tẹjan Kabbah. Với sự giúp đỡ từ một sứ mạng mới của Liên hiệp quốc và sự hỗ trợ không quân của Guinean, chiến dịch Palliser của vương quốc Anh cuối cùng đã đánh bại RUF, đồng thời lấy lại quyền kiểm soát Freetown. Vào 18 tháng 1 năm 2002, tổng thống Kabbah đã tuyên bố nội chiến ở Sierra Leone kết thúc. == Nguyên nhân của cuộc chiến == === Lịch sử chính trị === Vào năm 1961, Sierra Leone đã gìành được độc lập cho mình từ Vương quốc Anh. Trong những năm tiếp theo kể từ khi thủ tướng đầu tiên của Sierra Leon, ngài Milton Margal, chết năm 1964, nền chính trị của quốc gia này đã ngày càng trở nên bất thường bởi tham nhũng, quản lý yếu kém, và bạo lực bầu cử dẫn đến một xã hội dân sự yếu kém, sự sụp đổ của hệ thống giáo dục, và, vào năm 1991, toàn bộ một thế hệ những thanh niên không hài lòng, những người đã chú ý đến lời kêu gọi của Mặt trận thống nhất cách mạng (RUF). Albert Margal, không giống như người anh em cùng mẹ khác cha Milton, đã không được coi là một nhà quản lý xã hội, thay vào đó là một công cụ thu lợi cho cá nhân, tự phóng đại bản thân và kể cả sử dụng quân đội để đàn áp những cuộc bầu cử đa đảng đe dọa kết thúc sự cai trị của ông ta. Khi Slake Stevens tham gia vào chính trị năm 1968, Sỉerra Leone đã là một nền dân chủ lập hiến. Khi ông ta bước xuống, mười bảy năm sau, Sierra Leone đã là một quốc gia độc đảng. Luật của Steven, đôi khi được gọi là "17 năm dịch cào cào", cho thấy sự tàn phá và đồi bại của mọi tổ chức nhà nước. Quốc hội đã bị làm suy yếu, các thẩm phán đã bị mua chuộc, và kho bạc đã bị phá sản để cung cấp tài chính cho những dự án thú nuôi được hỗ trợ bởi những kẻ tay trong. Khi Stevens thất bại với đối thủ của mình, ông thường mượn nhà nước sử dụng hình phạt hoặc lưu đày. == Tham khảo == == Nguồn == Abdullah, Ibrahim (2004). Between Democracy and Terror: The Sierra Leone Civil War. Dakar: Council for the Development of Social Science Research in Africa. Adebajo, Adekeye (2002). Liberia's Civil War: Nigeria, ECOMOG, and Regional Security in West Africa. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers. AFROL Background: The civil war in Sierra Leone Bell, Udy (tháng 12 năm 2005). “Sierra Leone: Building on a Hard-Won Peace”. UN Chronicle. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. Pugh, Michael; Cooper, Niel; Goodhand, Jonathan (2004). War Economies in a Regional Context: Challenges of Transformation. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers. Gberie, Lansana (2005). A Dirty War in West Africa: the RUF and the Destruction of Sierra Leone. Indiana UP. Hirsch, John L. (2000). Sierra Leone: Diamonds and the Struggle for Democracy. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers. Kamara, Mariatu with Susan McClelland (2008). The Bite of the Mango. Buffalo, NY: Annick Press. Keen, David (2005). Conflict & Collusion in Sierra Leone. Oxford: James Currey. Koroma, Abdul Karim (2004). Crisis and Intervention in Sierra Leone 1997-2003. Freetown and London: Andromeda Publications. Richards, Paul (1996). Fighting for the Rainforest: War, Youth and Resources in Sierra Leone. Portsmouth, NH: Heinemann. U.S. Dept. of State Background Note: Sierra Leone Woods, Larry J. and Colonel Timothy R. Reese. (tháng 5 năm 2008). “Military Interventions in Sierra Leone: Lessons From a Failed State” (PDF). Fort Leavenworth, Kansas: Combat Studies Institute Press. == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == Cry Freetown, Interview to Sorious Samura Postcards from Hell A Long Way Gone by Ishmael Beah Global Security
cuộc xâm lược anh của người norman.txt
Cuộc chinh phạt Anh của người Norman bắt đầu vào ngày 28 tháng 9 năm 1066 với việc William, Công tước xứ Normandy phát động chiến dịch xâm lược Anh. William đã được gọi là William Nhà chinh phạt sau khi danh chiến thắng trong trận Hastings vào ngày 14 tháng 10, 1066, với việc đánh bại vua Harold II của Anh. Quân đội Harold đã bị cạn kiệt sau khi giành chiến thắng tại trận Stamford Bridge ở miền Bắc nước Anh vào ngày 25 tháng 9, 1066 trước Harald III của Na Uy. Đến đầu 1071, William đã gần như kiểm soát hầu hết nước Anh, mặc dù một vài cuộc nổi loạn còn tiếp tục cho đến khoảng 1088. Cuộc chinh phạt của người Norman là một sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Anh. Nó đã loại bỏ đi nhiều giai cấp cầm quyền bản địa, phân cấp nó bằng một hệ thống phân cấp mới từ nước ngoài, nền quân chủ nói tiếng Pháp, tầng lớp quý tộc, và các giáo sĩ. Nó đã thay đổi phần lớn tiếng Anh và văn hóa Anh đưa nước Anh đến kỷ nguyên mới, mà người ta thường gọi là Norman Anh. Bằng cách đưa nước Anh dưới sự kiểm soát của nhà cầm quyền có nguồn gốc Pháp, cuộc chinh phục của người Norman liên kết nước Anh với lục địa châu Âu một cách chặt chẽ hơn, giảm bớt ảnh hưởng từ vùng Scandinavia, và cũng mở đầu giai đoạn cho một sự cạnh tranh với Pháp sẽ tiếp diễn liên tục trong nhiều thế kỷ. Nó cũng có hậu quả quan trọng đối với phần còn lại của quần đảo Anh, mở đường cho cuộc chinh phục của Norman đến Wales và Ireland, và họ đã thâm nhập sâu rộng hơn vào tầng lớp quý tộc Scotland cùng với các dòng tộc nói tiếng Pháp khác, đi kèm với sự truyền bá văn hóa từ lục địa. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Essential Norman Conquest Normans – a background to the Conquest The Invasion of England, 1066
đại hội thể thao người khuyết tật châu á 2018.txt
Đại hội Thể thao Người khuyết tật châu Á 2018 (tiếng Anh: 2018 Asian Para Games) là một sự kiện thể thao được tổ chức mỗi kỳ bốn năm ngay sau khi Đại hội Thể thao châu Á 2018 kết thúc. Đại hội này được dành cho các vận động viên đến từ khắp châu lục không may mắn có những khuyết tật thể chất. Đại hội lần thứ ba được tổ chức tại Jakarta, Indonesia vào năm 2018. == Đại hội == === Môn thể thao === == Xem thêm == Đại hội Thể thao châu Á 2018 Thế vận hội dành cho người khuyết tật Đại hội Thể thao Người khuyết tật châu Á Đại hội Thể thao Người khuyết tật Trẻ châu Á 2009 Đại hội Thể thao Người khuyết tật châu Á 2010 Đại hội Thể thao Người khuyết tật châu Á 2014 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ủy ban Paralympic châu Á
giải nobel hòa bình.txt
Giải Nobel Hòa bình (tiếng Thụy Điển và tiếng Na Uy: Nobels fredspris) là một trong năm nhóm giải thưởng ban đầu của Giải Nobel. Theo nguyện vọng ghi trong di chúc của Alfred Nobel, Giải Nobel hòa bình nên được trao "cho người đã có đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia, trong việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và trong việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình". Có nhiều người cho rằng Nobel đã lập ra giải thưởng này trong di chúc như một cách đền bù cho các chất nổ phát minh của ông vốn được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh như dynamit hay ballistite. Thực tế thì ngoại trừ ballistite, không một loại chất nổ nào của Nobel được sử dụng trong chiến tranh khi ông còn sống. Giải Nobel Hòa bình được trao hàng năm vào ngày 10 tháng 12, ngày mất của Alfred Nobel tại thủ đô Oslo của Na Uy. Trong khi phần lớn các giải Nobel khác được trao tại Thụy Điển và do một ủy ban của Thụy Điển quyết định, thì người hoặc tổ chức được xét trao giải Nobel Hòa bình sẽ được quyết định bởi Ủy ban Giải Nobel Na Uy do Quốc hội Na Uy lập ra. Chủ tịch hiện tại của ủy ban này, tiến sĩ Ole Danbolt Mjøs cũng là một người từng được trao Giải Nobel Hòa bình. Sở dĩ có sự khác biệt này là vì vào thời điểm Alfred Nobel viết di chúc, Thụy Điển và Na Uy gần như là một liên bang trong đó Chính phủ Thụy Điển chịu trách nhiệm lĩnh vực đối ngoại còn Quốc hội Na Uy chịu trách nhiệm lĩnh vực đối nội. Alfred Nobel chưa bao giờ giải thích lý do tại sao ông lại chọn Na Uy là nước chịu trách nhiệm xét giải Nobel Hòa bình chứ không phải Thụy Điển , nhiều người cho rằng có lẽ Nobel muốn loại trừ việc các chính phủ nước ngoài có thể thao túng Giải Nobel Hòa bình, vì vậy ông đã chọn Quốc hội Na Uy, vốn không chịu trách nhiệm về quan hệ đối ngoại. == Quá trình xét giải == Hàng năm Ủy ban Giải Nobel Na Uy tiếp nhận các đề cử cho Giải Nobel Hòa bình từ các cá nhân đủ tiêu chuẩn, những người từng được nhận giải, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, giáo sư đại học (của một số chuyên ngành nhất định), các thẩm phán quốc tế và cuối cùng là các cố vấn đặc biệt của Ủy ban. Có năm số lượng đề cử từ các nguồn này lên tới khoảng 199 cá nhân hoặc tổ chức. Những cá nhân và tổ chức được đề cử cho Giải Nobel Hòa bình có thể được biết về việc mình được đề cử, tuy nhiên điều này không được quy ước cụ thể. Hiện nay dữ liệu về các đề cử cho Giải Nobel Hòa bình từ năm 1901 đến năm 1951 đã được công khai. Nhờ đó người ta mới được biết rằng Adolf Hitler cũng từng được đề cử giải thưởng về hòa bình này năm 1939, trong số những người được đề cử còn có cả Benito Mussolini. Thêm một chi tiết nữa là 1 người có thể được đề cử bao nhiêu lần cho giải Nobel Hòa bình cũng được. == Tranh cãi == Giải Nobel Hòa bình là hạng mục gây nhiều tranh cãi nhất trong hệ thống Giải Nobel. Một trong các trường hợp nổi tiếng nhất là việc cố vấn Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối nhận giải này vào năm 1973. Ngay chính Quốc hội Na Uy, cơ quan có nhiệm vụ cử ra Ủy ban Giải Nobel cũng từng bị chỉ trích vì đã thông qua việc Na Uy trở thành thành viên của NATO năm 1949, vì đồng ý cho phép quân đội NATO đóng trên đất Na Uy, và chấp nhận cho các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Hoa Kỳ neo đậu ở các hải cảng Na Uy năm 1983. Tuy nhiên cần biết rằng Quốc hội Na Uy không được phép can thiệp vào việc lựa chọn cá nhân hoặc tổ chức để trao Giải Nobel Hòa bình, thành viên của Ủy ban Giải Nobel Na Uy không thể đồng thời là nghị sĩ quốc hội, họ thường là các cựu nghị sĩ từ nhiều đảng phái khác nhau, trong đó có cả những đảng phái phản đối việc Na Uy trở thành thành viên NATO. Nhược điểm lớn nhất của việc xét trao Giải Nobel Hòa bình có lẽ là việc đánh giá tiêu chuẩn của các ứng cử viên. Nếu như ở các giải Nobel khác như Giải Nobel Văn học hay các giải Nobel về khoa học, các ứng cử viên thường chỉ được xét giải sau hai hoặc ba thập kỉ những đóng góp của họ ra đời, thì đóng góp của các ứng cử viên cho Giải Nobel Hòa bình thường chỉ xét ngay trong năm đó hoặc trong khoảng thời gian ngắn xung quanh thời gian xét giải, phụ thuộc vào những diễn biến chính trị của đóng góp. Vì vậy đã có nhiều trường hợp sau khi được trao Giải Nobel Hòa bình, cá nhân hoặc tổ chức nhận giải lại tham gia vào việc phát động các cuộc chiến tranh hoặc chạy đua vũ trang, đi ngược lại với tiêu chí giải thưởng. Đó là trường hợp của Theodore Roosevelt, tổng thống Mỹ, được trao giải năm 1906, sau khi được trao giải đã mở rộng không ngừng lực lượng Hải quân Hoa Kỳ và dùng vũ lực đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy của người dân Philippines chống lại quân đội chiếm đóng Mỹ. Một trường hợp khác là Shimon Peres, được trao giải năm 1994, lại được coi là một trong những nhân vật "diều hâu" nhất của chính trường Israel và là người ủng hộ tích cực việc sử dụng vũ lực đàn áp người Palestine. Ủy ban Giải Nobel Na Uy còn bị chỉ trích vì đã bỏ qua nhiều nhân vật chính trị nổi tiếng đã có những đóng góp lớn cho hòa bình thế giới, đó là Mahatma Gandhi, Steve Biko hay César Chávez. Trong đó trường hợp của lãnh tụ Ấn Độ Gandhi đã gây tranh cãi không chỉ trong dư luận mà còn trong chính nội bộ Ủy ban. Mặc dù đã được đề cử rất nhiều lần vào các năm 1937, 1938, 1939, 1947 và chỉ vài tháng trước khi ông bị ám sát năm 1948, Mahatma Gandhi đã không bao giờ được trao giải. Ủy ban Giải Nobel sau này đã rất lấy làm tiếc vì sự bỏ qua này, và khi Đăng-châu Gia-mục-thố được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1989, chủ tịch Ủy ban đã nói rằng một trong những lý do trao giải cho vị Đạt-lại Lạt-ma là để tưởng nhớ tới Mahatma Gandhi. == Danh sách những người đoạt giải == == Xem thêm == Danh sách người đoạt giải Nobel Trung tâm Hòa bình Nobel Giải Indira Gandhi Giải Nobel == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ủy ban Giải Nobel Na Uy Danh sách những người đoạt giải Nobel Hòa bình Những đề cử cho Giải Nobel Hòa bình từ 1901 đến 1955
pagan giáo.txt
Pagan giáo, hay đơn giản là pagan, là thuật từ mà cộng đồng Kitô giáo tại Nam Âu sử dụng trong suốt thời hậu kỳ cổ đại để chỉ các tôn giáo, tín ngưỡng tồn tại trước mình hay phi Abrahamic nói chung, do đó trong tiếng Việt trong một số ngữ cảnh nhất định còn gọi là ngoại giáo. Pagan giáo hiện đại là một nhóm các phong trào tôn giáo bởi hoặc có nguồn gốc từ các tư tưởng tôn giáo lịch sử hoặc từ châu Âu trước thời kỳ hiện đại. Mặc dù chúng đều chia sẻ một số đặc điểm chung nhưng các phong trào tôn giáo pagan đương đại đều rất đa dạng và không có một hệ thống tư tưởng, phong tục, hay tài liệu nào mà được sử dụng trong tất cả. Từ thế kỷ 20, nó dùng để chỉ những phong trào tôn giáo mới nhằm mục đích tiếp tục, phục hồi các tôn giáo tiền-Abrahamic. == Từ nguyên == Từ pagan là từ paganus tiếng Latin muộn, hồi sinh trong thời Phục Hưng. Tự nó phát sinh từ PAGUS Latin cổ điển mà ban đầu có nghĩa là 'khu vực giới hạn bởi dấu ấn", paganus cũng đã đến với nghĩa là' hoặc liên quan đến các vùng nông thôn", "đất nước loài sống ',' làng '; bằng cách mở rộng, "mộc mạc", "dốt nát", "người nhà quê", "người nhà quê '; trong thuật ngữ quân đội La Mã, 'không chiến', 'dân', 'người lính không có tay nghề. Nó liên quan đến pangere ('chặt', 'để sửa chữa hoặc đóng') và cuối cùng là đến từ Proto-Indo-Châu Âu * pag- ('cố định' 'theo nghĩa tương tự). == Định nghĩa == Xác định Pagan giáo là vấn đề. Hiểu rõ bối cảnh của thuật ngữ liên quan của nó là rất quan trọng. Kitô hữu sớm gọi các mảng đa dạng của các giáo phái xung quanh họ như một nhóm duy nhất cho lý do của sự thuận tiện và hùng biện. Trong khi ngoại giáo nói chung hàm ý tôn giáo đa thần, sự khác biệt chính giữa những người ngoại đạo cổ điển và các Kitô hữu không phải là một trong những độc thần so với tín ngưỡng đa thần. Không phải tất cả những người ngoại đạo đã nghiêm thờ đa thần. Trong suốt lịch sử, nhiều người trong số họ tin vào một vị thần tối cao. (Tuy nhiên, hầu hết những người ngoại đạo tin vào các vị thần cấp dưới) Để Kitô hữu, sự khác biệt quan trọng nhất là có hay không một người tôn thờ một vị thần thật sự. Những ai không (thờ đa thần, thuyết độc thần, hoặc vô thần) là người ngoài Giáo hội và vì dân ngoại. Tương tự như vậy, những người ngoại đạo cổ điển sẽ tìm thấy nó đặc biệt để phân biệt nhóm số lượng các vị thần theo tôn kính. Họ đã có thể coi các trường cao đẳng tư tế (như trường Cao đẳng của triều đại giáo hoàng hoặc Epulones) và thực hành tôn giáo khác biệt có ý nghĩa hơn. Đề cập đến ngoại giáo là "tôn giáo bản địa trước Kitô giáo" là như nhau không đứng vững. Không phải tất cả các truyền thống ngoại giáo lịch sử là tiền Abrahamic hoặc bản địa đến những nơi thờ phượng của họ. Do lịch sử của danh pháp của nó, ngoại giáo theo truyền thống bao gồm trước và không phải Kitô hữu nền văn hóa tập thể trong và xung quanh các thế giới cổ điển; bao gồm cả những người Hy Lạp-La Mã, Celtic, Đức, các bộ tộc Slav. Tuy nhiên, theo cách nói hiện đại của chuyên gia về văn học dân gian và người ngoại giáo đương đại nói riêng đã mở rộng thêm các gốc phạm vi bốn nghìn năm được sử dụng bởi các Kitô hữu đầu để bao gồm các truyền thống tôn giáo tương tự như kéo dài đến nay vào thời tiền sử. == Ý niệm == Pagan giáo được những tín đồ Cơ Đốc cho là có sự tương đồng với Epicureanism, đại diện cho những người thuộc về xác thịt, vật chất, bê tha, không quan tâm tới tương lai và những tôn giáo phức tạp/tinh tế. Tín đồ pagan thường được miêu tả theo một cách khuôn mẫu, đặc biệt là trong những sự quan tâm tới những gì họ cho là giới hạn của pagan giáo. Do đó, G. K. Chesterton đã viết: "Tín đồ pagan bắt đầu, với một tâm thế đáng ngưỡng mộ, để làm anh ta thoả mãn. Cho đến cuối nền văn minh anh ta đã phát hiện ra được rằng một người đàn ông không thể tự thưởng thức và tiếp tục sống để có thể tận hưởng tất cả mọi thứ khác." Theo một cách đối nghịch sắc bén, Swinburne, nhà thơ, đã bình luận trên cùng một chủ đề: "Ngài đã chinh phục, Ôi, Galilean nhợt nhạt; thế giới đã trở thành một màu ghi từ hơi thở của Ngài; Chúng tôi đã say bởi những vật Lethean, và bị bón trên sự đầy ự của cái chết." Nhận thức và việc sử dụng từ pagan của tín đồ Cơ Đốc tương tự với tín đồ Hồi giáo dùng từ kafir (كافر, "người không tin", "infidel") và mushrik (مشرك). == Lịch sử == === Thời kỳ đồ đồng đến đầu thời kỳ đồ sắt === Tôn giáo Cận Đông Cổ đại Tôn giáo Ai Cập Cổ đại Tôn giáo Semit Cổ đại Tôn giáo Lưỡng Hà Cổ đại === Cổ đại cổ điển === ==== Hậu cổ đại ==== === Cận đại === === Chủ nghĩa lãng mạn === == Duy trì trong văn hóa dân gian == == Pagan giáo đương đại == == Xem thêm == Thuyết vật linh == Chú thích ==
riel campuchia.txt
Riel (tiếng Khmer: រៀល, biểu tượng ៛, đọc như Ria, phiên âm tiếng Việt là Riên) là tiền tệ của Campuchia. Có hai loại tiền riel riêng biệt, loại thứ nhất được phát hành giữa năm 1953 và tháng 5 năm 1975, và loại thứ hai kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1980. Ở Campuchia, dollar Mỹ cũng được sử dụng rộng rãi. Giữa năm 1975 và 1980, quốc gia này không có hệ thống tiền tệ. Xem Lịch sử Campuchia. Để biết thêm các đồng tiền sớm hơn có mặt tại Campuchia, xem tical Campuchia và franc Campuchia. == Tiền riel đầu tiên 1953-1975 == Năm 1953, chi nhánh tại Campuchia của Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam đã phát hành tiền giấy đặt hai tên gọi là piastre và riel. Đồng thời, hai chi nhánh khác cũng có hành động tương tự với đồng ở Nam Việt Nam và kip ở Lào. Tiền riel đầu tiên được chia ra 100 centimes (viết tắt cent. trên đồng xu) nhưng đồng xu này năm 1959 đã được đổi thành 100 sen. Trong những năm đầu, hai loại tiền là riel và piastre cùng lưu hành song song. Thực ra, các đồng bạc giấy riel đầu tiên cũng được đặt tên gọi tên bằng piastre. === Tiền xu === Các loại tiền xu mệnh giá 10, 20 và 50 centime của năm 1953 và sen được đúc bằng nhôm và có kích thước giống với các đồng tiền xu kim loại tương ứng của Lào và Nam Việt Nam (dù xu của Lào không có lỗ). Xu 1 riel có kích thước của một US nickel và đã được phát hành năm 1970 nhưng đã không được đưa ra dùng, có lẽ do việc lật đổ chính quyền của Norodom Sihanouk của Lon Nol. === Tiền giấy === Sau khi phát hành tiền giấy đề tên cả riel và piastre (gần như khớp với các đồng tiền ở Lào và Nam Việt Nam), một đồng riel thực sự độc lập đã được phát hành bởi Ngân hàng Quốc gia Campuchia vào năm 1955. Campuchia đã phát hành nhiều xê ri tiền giấy có mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50, 100 và 500 riel. Tiền giấy 1000 và 5000 riel được in nhưng đã không được phát hành để lưu thông. Tờ 5000 riel vừa mới ra ([1]) với thiết kế về cuộc sống, lịch sử và thần thoại Campuchia. == Khmer Đỏ 1975-1980 == Dù Khmer Đỏ đã in tiền giấy (mệnh giá 0.1, 0.5, 1, 5, 10, 50 và 100 riel, năm 1975) các đồng tiền giấy này đã không được phát hành do tiền đã bị bãi bỏ sau khi Khmer Đỏ kiểm soát quốc gia này. == Riel thứ 2, 1980- == Sau khi Việt Nam đánh lui Khmer Đỏ năm 1978, đồng riel đã được tái lập làm tiền tệ Campuchia vào ngày 1 tháng 4 năm 1980, ban đầu với giá trị 4 riel = 1 dollar Mỹ. Đồng riel có các đơn vị nhỏ hơn, 1 riel bằng 10 kak hay 100 sen. Do không có tiền để thay thế và do nền kinh tế lúc này đang đỗ vỡ nghiêm trọng, chính quyền trung ương đã phát tiền cho dân chúng để khuyến khích người dân sử dụng. Ở các khu vực nông thôn, tiền riel được sử dụng trên thực tế cho các hoạt động mua bán. Tuy nhiên, dollar Mỹ cũng được sử dụng, đặc biệt ở các vùng đô thị và khu du lịch. Ở Battambang và những khu vực khác gần biên giới Thái Lan, như Pailin, baht Thái cũng được chấp nhận. === Tiền xu === Các đồng tiền xu đầu tiên là xu 5 sen đúc năm 1979 bằng nhôm. Không có loại đồng xu nào được đúc cho đến năm 1994, khi các xu có mệnh giá 50, 100, 200, và 500 riel đã được giới thiệu. Tuy nhiên, chúng không được lưu hành phổ biến. === Tiền giấy === Tiền giấy đã được phát hành nămn 1980 với cách mệnh giá 1, 2 và 5 kak, 1, 5, 10, 20 và 50 riel. Các tờ bạc giấy sau này có mệnh giá lên đến 100.000 riel. Tuy nhiên, bạc giấy trên 10.000 riel thì ít phổ biến hơn. Xê ri các tờ bạc giấy dần được giới thiệu gần đây từ năm 2001-2002 là 50, 100, 500, 1000, 5000, 10.000, 50.000 và 100.000 riel. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng KHR == == Xem thêm == Kinh tế Campuchia == Chú thích == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Standard numismatics external links Cambodian commercial banks showing legal tender banknotes More coins with 1 real 1970 Bản mẫu:N-start Bản mẫu:N-before Bản mẫu:N-currency Bản mẫu:N-currency Bản mẫu:N-after Bản mẫu:N-end Bản mẫu:N-start Bản mẫu:N-before Bản mẫu:N-currency Bản mẫu:N-after Bản mẫu:N-end
khoa học và công nghệ ở nhật bản.txt
Khoa học và công nghệ ở Nhật Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thiết bị điện tử tiêu dùng, robot và công nghiệp ô tô. == Điện tử == Nhật Bản nổi tiếng với công nghiệp điện tử trên toàn thế giới và các sản phẩm điện tử của Nhật Bản chiếm một phần lớn trong thị trường thế giới, so với hầu hết các nước khác. Nhật Bản là một trong những quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ, máy móc thiết bị, và nghiên cứu y tế với ngân sách lớn thứ ba thế giới về nghiên cứu và phát triển, đạt mức 130 tỷ USD, với hơn 677.731 nhà nghiên cứu. Nhật Bản có số các nhà khoa học đoạt giải Nobel nhiều nhất trên toàn châu Á. Nhật Bản có các tập đoàn công ty quốc tế lớn như: Fuji (phát triển máy tính điện tử đầu tiên của Nhật Bản - FUJIC1999 - trong năm 1956) và Sony. Sony, Panasonic, Canon, Fujitsu, Hitachi, Sharp, NEC, Nintendo, Seiko Epson và Toshiba là các công ty điện tử nổi tiếng nhất trên thế giới. Toyota, Honda, Nissan, Mazda, Mitsubishi, Suzuki, và Subaru cũng là các công ty ô tô rất nổi tiếng trên thế giới. Người ta ước tính rằng 16% số vàng và 22% số bạc của thế giới được chứa trong các sản phẩm công nghệ điện tử tại Nhật Bản. == Hàng không == Cơ quan nghiên cứu và phát triển hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA) tiến hành các nghiên cứu không gian và hành tinh, nghiên cứu hàng không, và phát triển không gian và vệ tinh. Cơ quan này đã phát triển một loạt các tên lửa, mới nhất và mạnh nhất trong số đó là các tên lửa H-IIB. Tên lửa H-IIA/B với khả năng mang tối đa 8 tấn trọng tải đến GTO hiện đang được quản lý bởi công ty tư nhân Mitsubishi Heavy Industry. Nó cũng xây dựng Mođun thử nghiệm Nhật Bản, đã được phóng lên không gian, và gắn vào Trạm vũ trụ Quốc tế trong chuyến bay của tàu con thoi nhằm kết nối trong năm 2007 và năm 2008 và môđun HTV để chuyển dữ liệu đến Trạm vũ trụ trong năm 2009. == Năng lượng hạt nhân == Kể từ năm 1973, Nhật Bản tìm cách để trở nên ít phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu và bắt đầu phụ thuộc vào năng lượng hạt nhân. Trong năm 2008, sau khi mở 7 lò phản ứng hạt nhân mới ở Nhật Bản (3 trên Honshū, và 1 trên Hokkaidō, Kyūshū, Shikoku, và Tanegashima) Nhật Bản đã trở thành quốc gia sử dụng điện hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới với 55 lò phản ứng hạt nhân. Các lò này cung cấp 34.5% nhu cầu điện năng của toàn Nhật Bản. Sau một trận động đất, sóng thần, và việc hệ thống làm mát ở Nhà máy năng lượng hạt nhân Fukushima I bị hỏng vào ngày 11 tháng 3 năm 2011, tình trạng hạt nhân khẩn cấp đã được đưa ra. 140.000 người dân trong vòng bán kính 20 km của nhà máy đã được sơ tán. == Giải Nobel == Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã giành được một số giải Nobel. Hideki Yukawa, tốt nghiệp Đại học Kyoto, được giải Nobel vật lý năm 1949. Tomonaga Shinichirō đoạt giải này vào năm 1965. Nhà vật lý chất rắn Leo Esaki, học tại trường Đại học Tokyo, đã nhận được giải Nobel vật lý năm 1973. Fukui Kenichi của Đại học Kyoto là đồng tác giả của giải Nobel hóa học năm 1981, và Susumu Tonegawa, cũng tốt nghiệp trường Đại học Kyoto, trở thành người Nhật Bản đầu tiên (và tính đến năm 2007, người duy nhất) giành giải Nobel Sinh-Y học năm 1987. Các nhà hóa học Nhật Bản đã giành giải năm 2000, năm 2001: đầu tiên là Shirakawa Hideki (Đại học Công nghệ Tokyo) và sau đó là Noyori Ryōji (Đại học Kyoto), Masatoshi Koshiba (Đại học Tokyo) và Koichi Tanaka (Đại học Tohoku) giành giải Nobel vật lý và hóa học trong năm 2002. Kobayashi Makoto, Toshihide Masukawa, và Yoichiro Nambu là công dân Mỹ khi nhận giải, cùng chia sẻ giải Nobel vật lý và Shimomura Osamu cũng giành giải Nobel hóa học năm 2008. Isamu Akasaki, Hiroshi Amano, và Shuji Nakamura là công dân Mỹ khi nhận giải, cùng chia sẻ giải Nobel vật lý năm 2014. == Tham khảo ==
khối warszawa.txt
Khối Warszawa (phiên âm tiếng Việt: khối Vác-sa-va) là hiệp ước quân sự được ký kết tại Warszawa (Ba Lan) vào năm 1955, giữa 8 nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu, gồm Liên Xô, Albania (rút ra năm 1968), Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, România và Tiệp Khắc. Liên minh quân sự này do Liên Xô thành lập và chỉ huy nhằm chống lại khối quân sự NATO, do Hoa Kỳ đứng đầu, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Trụ sở của khối đặt tại thủ đô Warszawa của Ba Lan. == Mục đích == Việc thành lập Khối Warszawa được co là để bảo đảm hòa bình và an ninh ở các nước cộng sản thành viên, nhưng các biến cố lịch sử cho thấy mục đích chính của khối này là để củng cố sự thống trị của cộng sản ở Đông Âu. Ở Hungary vào năm 1956, và sau đó là ở Tiệp Khắc năm 1968, Liên Xô đã viện dẫn Hiệp ước Warsaw để hợp pháp hóa việc can thiệp nhằm đàn áp các cuộc cách mạng chống cộng. == Lịch sử == Khối này được thành lập ngày 14 tháng 5 năm 1955 tại Warszawa, sau khi các nước Liên Xô, Albania, Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, Romania, Tiệp Khắc ký kết Hiệp ước hữu nghị hợp tác và tương trợ, có hiệu lực từ tháng 6 năm 1955. Năm 1961, Anbania rút khỏi hiệp ước này do bất đồng với Liên Xô và các nước XHCN khác. Sau đó đặt quan hệ thân mật với Trung Quốc Khối Warszawa đã góp phần vào việc xây dựng lên bức tường Berlin (bức tường tượng trưng cho sự chia cắt giữa Đông Đức và Tây Đức). Ngoài ra, khối này cũng can thiệp vào các sự kiện đàn áp cách mạng Hungary 1956 và tấn công Tiệp Khắc năm 1968. Vào tháng 12 năm 1970, khối Warszawa tổ chức một hội nghị họp tại Berlin để thảo luận phương hướng và nhiệm vụ của tổ chức. Đến năm 1985, lãnh đạo các nước thành viên của khối ký nghị định thư về việc gia hạn hiệp ước. Năm 1989, khối Warszawa ủng hộ việc Liên Xô rút quân khỏi các nước thành viên (đầu tiên là Tiệp Khắc). Đến tháng 5 năm 1989, khối Warszawa kêu gọi NATO cùng giải tán, ngoài ra khối cũng mong muốn cùng NATO đàm phán về vũ khí hạt nhân chiến thuật và các vấn đề liên quan tới hải quân. Tháng 12 năm 1989, khối Warszawa đã đánh giá lại sự kiện năm 1968 ở Tiệp Khắc, lên án các đơn vị quân đội của mình can thiệp vào sự kiện này. == Lực lượng == Năm 1977-1978, Khối Warszawa có khoảng 4,752 - 5,502 triệu quân, trong đó Liên Xô đóng góp 3,675 - 4,425 triệu quân. Trong năm 1990, khối quân sự này có tổng cộng 4,8 triệu quân nhưng riêng Liên Xô đã góp 3,7 triệu. == Các thành viên == Liên Xô Tiệp Khắc Đông Đức Hungary România Bungary Ba Lan Albania Nam Tư (được mời) Montenegro (được mời) == Xem thêm == Comecon Détente Mùa xuân Praha == Chú thích == == Đọc thêm == Mastny, Vojtech và Malcolm Byrne biên khảo. A Cardboard Castle: An Inside History of the Warsaw Pact, 1955-1991. Budapest: Central European University Press, 2005. 726 pp. Umbach, Frank. Das rote Bündnis: Entwicklung und Zerfall des Warschauer Pakts, 1955-1991. Berlin: Christoph Links Verlag, 2005. 701 pp. == Liên kết ngoài == Hiệp ước Warszawa 1955 1968: Quân đội Liên Xô và các nước XHCN bảo vệ Tiệp Khắc
mamadou tandja.txt
Mamadou Tandja (sinh năm 1938) là một chính trị gia Niger, là tổng thống Niger từ năm 1999 đến năm 2010. Ông là chủ tịch của Phong trào Dân tộc Hiệp hội Phát triển (MNSD) 1991-1999 và không thành công trong việc chạy đua làm ứng cử viên chủ tịch của MIND vào năm 1993 và 1996 trước khi được bầu vào nhiệm kỳ đầu tiên của ông vào năm 1999. Trong khi đảm nhiệm chức tổng thống Niger, ông cũng là Chủ tịch của Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi 2005-2007. Tandja có tổ tiên là người Fula và Kanuri. Ông là Tổng thống đầu tiên của Niger người không phải là dân tộc Hausa hoặc Djerma. Sau một cuộc khủng hoảng hiến pháp năm 2009, gây ra bởi những nỗ lực của Taneja ở lại chức vụ này thêm thời gian nữa ngoài nhiệm kỳ dự kiến sắp kết thúc, ông đã bị quân đội lật đổ trong một cuộc đảo chính vào tháng 2 năm 2010. == Chú thích ==
chiềng sại.txt
Chiềng Sại là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã Chiềng Sại có diện tích 77,17 km², dân số năm 1999 là 2517 người, mật độ dân số đạt 33 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
urticina crassicornis.txt
Urticina crassicornis là một loài hải quỳ trong chi Urticina trong họ Actiniidae. == Chú thích == == Tham khảo == Nybakken, James W. Diversity of the Invertebrates. Dubuque, IA: Times Mirror Higher Education Group, Inc., 1996. Abbot, Donald P., Hadderlie, Eugene C., Morris, Robbert H. Intertidal Invertebrates of California. Stanford, CA: Stanford University Press, 1980. Kozloff, Eugene N. Marine Inveretebrates of the Pacific Northwest. Seattle, WA: University of Washington Press, 1996. Cowles, David. Urticina crassicornis. Walla-Walla, WA: Walla-Walla University, 2005. Ausio, Juan, Rocchini, Corinne, Zhang, Fan. Two Specialized Histone H1 proteins are the major sperm of the sea anemone Urticina (Tealia) crassicornis. Victoria, BC: Department of Biochemistry and Microbiology, University of Victoria, 1995 Chia, Fu-Shiang, Spaulding, James G. Development and Juvenile growth of the sea anemone, Tealia Crassicornis. Marine Biological Laboratory, 1972. Verill, A.E. On the Parasitic Habits of Crustacea. Chicago, IL: The University of Chicago Press, 1869. Markovich, Karlee. Urticina crassicornis. Juneau, AK: University of Alaska Southeast, 2002.
men gốm.txt
Men gốm là một lớp thủy tinh có chiều dày từ 0,15–0,4 mm phủ lên bề mặt xương gốm. Lớp thuỷ tinh này hình thành trong quá trình nung và có tác dụng làm cho bề mặt sản phẩm trở nên sít đặc, nhẵn, bóng. == Công thức và nguyên liệu == Men gốm tuy bản chất là thủy tinh nhưng phối liệu không hoàn toàn giống, bởi thủy tinh thông thường khi nấu có thể chứa trong bể khuấy cho đồng nhất và khử bọt. Men khi nóng chảy phải đồng nhất mà không cần một sự trợ giúp cơ học nào, nên phối liệu phải không có vật chất nào không thể tạo pha thủy tinh. Do đó, điều cần thiết đầu tiên là phải tạo được một hỗn hợp chảy lỏng đồng nhất ở nhiệt độ mong muốn. Trong quá trình nóng chảy và ngay sau đó, các ôxít trong men phản ứng với bề mặt xương gốm để tạo nên một lớp trung gian. Phản ứng này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến độ bền cơ học của men, nó không chỉ phụ thuộc thành phần hóa học chung của men mà còn phụ thuộc từng ôxít riêng. Do đó, điều cần thiết thứ hai là thành phần hóa của men phải gần giống thành phần hóa của xương gốm. Quá trình làm nguội (giảm nhiệt) xảy ra ngược với quá trình nung (tăng nhiệt). Nếu hệ số giãn nở nhiệt của men và xương không phù hợp nhau sẽ gây ra bong hoặc nứt men. Do đó, điều cần thiết thứ ba là hệ số giãn nở nhiệt của men và xương phải phù hợp nhau. Men nung xong phải cứng, nhẵn, bóng (ngoại trừ men mat). Bên cạnh đó, tính trong suốt, không màu, tính sáng bóng của men không phải lúc nào cũng như mong muốn. Nếu xương gốm có màu thì phải dùng men đục để che lấp màu của xương, ngoài ra có thể chế tạo men mat (bề mặt như sáp), men kết tinh và vô số men màu khác. Do đó, điều cần thiết thứ tư là thành phần hóa của men phải được điều chỉnh sao cho men có được các tính chất cơ-lý-hoá-quang mong muốn. === Công thức === Trong công nghiệp thủy tinh thường dùng thành phần % các cấu tử để so sánh, nhưng trong công nghiệp gốm sứ, người ta hay dùng tỷ lệ phân tử và tất nhiên có thể chuyển đổi qua lại giữa hai công thức này. Seger đã đưa ra cách sắp xếp các ôxít có trong thành phần men thành 3 nhóm chính: ôxít bazơ, ôxít axít và ôxít lưỡng tính. Các nhóm này được sắp xếp theo trình tự sau và tập hợp này được gọi là công thức Seger của men: R là biểu hiện cho các kim loại sau: Pb, K, Na, Ca, Mg, Ba, Li, Zn. Đối với men màu có thể là Co, Ni, Cu, Mn, Fe. Ôxít lưỡng tính nằm xen kẽ giữa ôxít bazơ và ôxít axít, nhóm này chủ yếu là Al2O3. Ôxít axít bao gồm SiO2 là chính, ngoài ra có thể có thêm B2O3. Các mol thành phần của ôxít axít và ôxít lưỡng tính được tính quy đổi theo chuẩn của ôxít bazơ. Tổng các mol thành phần của các ôxít bazơ luôn quy về bằng 1. === Nguyên liệu === Men gốm là một hệ phức tạp gồm nhiều ôxít như Li2O, Na2O, K2O, PbO, B2O3, CaO, ZnO, MgO, Al2O3, Fe2O3, SiO2... được đưa vào dưới các dạng sau: Nguyên liệu dẻo (plastic): gồm có cao lanh (kaolin), đất sét (clay), bột talc (steatit), betonit... Nguyên liệu không dẻo (nonplastic) dưới dạng khoáng: gồm có trường thạch, đôlômít, đá vôi, cát... Nguyên liệu không dẻo dưới dạng hóa chất công nghiệp: BaCO3, Na2CO3, K2CO3, borax (dân gian gọi là hàn the), axít boric, Cr2O3, ZnO... hoặc các loại frit. Xem thêm trang Matrix-Additional Materials Lists để biết danh sách các nguyên liệu sản xuất men gốm == Sản xuất == === Phương pháp cổ điển === Phương pháp này có thể áp dụng cho hầu hết các loại men sống và xuất phát từ rất lâu. Phương pháp này đơn giản chỉ là nghiền phối liệu trong máy nghiền bi gián đoạn đến khi độ mịn qua hết sàng 10.000 lỗ/cm2 (hoặc còn lại dưới 0,5%). Trong quá trình nghiền, cần khống chế độ mịn thích hợp vì nếu như nghiền quá mịn men sẽ bị cuốn hoặc bong men, nếu men quá thô sẽ gây nhám bề mặt và tăng nhiệt độ nung một cách đáng kể. Đối với men trắng (đục) và men trong hoặc men cho sứ cách điện, sau khi nghiền cần thiết phải đưa qua máy khử từ để loại bỏ sắt và ôxít sắt (có trong nguyên liệu hoặc do sự mài mòn của máy nghiền). Thông thường men dễ bị lắng làm cho các cấu tử trong men phân bố không đều và gây lỗi sản phẩm, để hạn chế phải dùng các biện pháp như: Làm cho men đặc lên (hàm ẩm nhỏ hơn) Giảm bớt độ nghiền mịn (men không quá mịn) Thêm đất sét, cao lanh hoặc bentonit để tăng độ huyền phù và làm men đặc hơn Thêm một ít tinh bột đextrin, keo glutin, keo xenlulô hoặc thêm vào một ít NH3, amon oxalat hoặc một axít yếu... === Phương pháp frit === Phương pháp frit có thể khắc phục được tất cả những nhược điểm của phương pháp cổ truyền, mà quan trong nhất là khắc phục (giảm thiểu) được yếu tố độc hại của những nguyên liệu đưa vào men (như PbO có thể gây ung thư), đồng thời giải quyết bài toán thay thế nguyên liệu khi nguyên liệu khai thác không ổn định về chất lượng và một số nguyên liệu đang có nguy cơ cạn kiệt. Phương pháp này cho phép công nghệ sản xuất men gốm có thể đa dạng hoá trong việc sử dụng nguyên liệu để cho ra những sản phẩm tinh xảo, hạn chế rủi ro trong sản xuất và, hơn thế nữa, có thể cho ra đời những sản phẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới. Phương pháp này bao gồm 2 công đoạn chính: Frit hoá: Phối liệu được nấu cho chảy lỏng ở 1300-1450⁰C ở lò quay hoặc lò bể (tương tự lò nấu thuỷ tinh) để hỗn hợp nguyên liệu chuyển hoàn toàn sang pha thuỷ tinh, sau đó làm lạnh rất nhanh để phá vỡ kết cấu khối thuỷ tinh chảy đó. Trong khi tính phối liệu cần lưu ý: Trong các loại frit, tỷ lệ ôxít bazơ và SiO2 ít nhất là 1:1 và cao nhất là 1:3. Đối với frit kiềm, ứng với 1 mol kiềm phải đưa vào 2,5 mol SiO2 và thường phải đưa thêm CaO hoặc PbO vào để các frit trở thành các chất không tan trong nước. Tốt hơn cả là đưa thêm B2O3 theo tỷ lệ sao cho SiO2/B2O3 > 2/1. Nếu frit ngoài SiO2, PbO và B2O3 mà còn có kiềm thì tỷ lệ SiO2/B2O3 thường 1/(1,1-1,5). Nếu nhiều kiềm hơn nữa, cần phải đưa thêm Al2O3 đến mức sao cho không ảnh hưởng đến men cần tạo. Thành phần hoá của frit (sau khi nấu) phụ thuộc nhiều vào kiểu lò, thời gian nấu và phụ thuộc lớn vào bản chất nguyên liệu đưa vào phối liệu. Nghiền men: Một frit có thể có thành phần hoá đáp ứng yêu cầu và có thể coi đó là một men thành phẩm, nhưng nếu nó không đáp ứng đủ thì cần phải có biện pháp bù (tính cấp phối lần 2). Trong quá trình nghiền, cần bổ sung chất tạo huyền phù, chống lắng... == Tính chất == === Trạng thái lỏng === ==== Tính chảy lỏng ==== Men phải chảy lỏng hoàn toàn ở nhiệt độ mong muốn. Kreidl và Weyl đã rút ra những nguyên lý về sự thay đổi dựa trên cấu trúc để men dễ chảy hơn bao gồm 4 yếu tố, trong sản xuất thường những yếu tố này để điều chỉnh sự chảy lỏng của men: Giảm ôxít kiềm và cho thêm axít boric, men sẽ dễ chảy hơn, từ đó giảm hệ số giãn nở nhiệt và hạ thấp nhiệt độ nóng chảy của men. Tăng ôxít kiềm và giảm SiO2 sẽ làm cho men dễ chảy hơn. Thay SiO2 bởi TiO2 hoặc PbO sẽ làm giảm điểm nóng chảy. Thay K+ bằng Na+ hoặc Li+ sẽ làm cho men dễ chảy hơn. Thay các anion có hóa trị 1 (như Cl-; F-;Br-) bởi các anion có hóa trị 2 sẽ làm yếu cấu trúc men, do đó sẽ làm giảm nhiệt độ nóng chảy. Kiến thức về hỗn hợp eutecti của hỗn hợp chứa ôxít nhôm là rất quan trọng vì ôxít nhôm được xem như là một cấu tử chính của men, thế nhưng ôxít nhôm lại là một chất chịu lửa. Khi thêm ôxít nhôm vào men, ban đầu nhiệt độ nóng chảy giảm xuống cho đến điểm eutecti nhưng sau đó lại tăng lên, vì thế cần cho thành phần ôxít nhôm sao cho hỗn hợp gần điểm eutecti nhất. Kiến thức về nhiệt độ nóng chảy thấp nhất của một hệ (điểm eutecti) không chỉ hữu dụng trong việc sản xuất men nhiệt độ thấp mà còn hữu dụng trong việc tìm ra một men không bị hoá mềm trong khoảng nhiệt độ mà sản phẩm sẽ được sử dụng. ==== Nhiệt độ nóng chảy ==== Nhiệt độ nóng chảy của men phụ thuộc thành phần phối liệu và các ôxít có mặt trong men. Nhiệt độ nóng chảy của men sẽ thay đổi nếu như có một yếu tố thay đổi, nhưng một số yếu tố sau sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn, đó là: Thay đổi tỷ lệ ôxít kiềm/SiO2 (tỷ lệ càng lớn, nhiệt độ men càng giảm) Thay đổi hàm lượng Al2O3 (tăng Al2O3, nhiệt độ nung sẽ tăng) Bản chất các ôxít kiềm (thí dụ đưa vào frit silicat kiềm men sẽ dễ chảy hơn là đưa SiO2 và kiềm) Hàm lượng các ôxít kiềm càng lớn, nhiệt độ càng giảm Phụ thuộc tỷ lệ B2O3/SiO2 (tỷ lệ càng lớn, nhiệt độ men càng giảm) Phụ thuộc độ nghiền mịn của men, men càng mịn, nhiệt độ nóng chảy càng giảm, và Phụ thuộc thành phần khoáng của phối liệu (thí dụ Na2O cho vào ở dạng Na2CO3 thì men có nhiệt độ thấp và hoạt tính cao hơn là cho vào dưới dạng trường thạch). Để xác định khoảng nhiệt độ nóng chảy của men, có thể dùng công thức tính gần đúng hoặc dùng phương pháp thực nghiệm: Công thức xác định khoảng nóng chảy của men: có dạng sau K= a 1 . n 1 + a 2 . n 2 + . . . + a n . n n b 1 . m 1 + b 2 . m 2 + . . . + b m . m m {\displaystyle {\frac {a_{1}.n_{1}+a_{2}.n_{2}+...+a_{n}.n_{n}}{b_{1}.m_{1}+b_{2}.m_{2}+...+b_{m}.m_{m}}}} Trong đó: a 1 {\displaystyle a_{1}} , a 2 {\displaystyle a_{2}} ...: là hằng số nóng chảy đối với các ôxit dễ chảy n 1 {\displaystyle n_{1}} , n 2 {\displaystyle n_{2}} ...: là hàm lượng các ôxít dễ chảy, tính theo % trọng lượng b 1 {\displaystyle b_{1}} , b 2 {\displaystyle b_{2}} ...: là hằng số nóng chảy đối với các ôxit khó chảy m 1 {\displaystyle m_{1}} , m 2 {\displaystyle m_{2}} ...: là hàm lượng các ôxít khó chảy, tính theo % trọng lượng. Hằng số nóng chảy của ôxít hoặc hợp chất dễ nóng chảy: Hằng số nóng chảy của ôxít hoặc hợp chất khó nóng chảy: Bảng tra cứu nhiệt độ nóng chảy (°C) của men theo hệ số K: Xác định khoảng nóng chảy của men bằng phương pháp thực nghiệm: có hai phương pháp. Nung men ở nhiều vùng có nhiệt độ khác nhau, theo dõi kết quả bề mặt men bằng cách đối chiếu men mẫu và thử nghiệm cơ-lý-hoá, đồng thời căn cứ côn Seger để xác định nhiệt độ vùng nung tương ứng. Nung men đồng thời quan sát bằng kính hiển vị chịu nhiệt độ cao, nhiệt độ nung xác định bởi hoả kế. ==== Độ nhớt ==== Men gốm không có điểm nóng chảy xác định mà chỉ có sự thay đổi từ trạng thái dẻo quánh sang trạng thái chảy lỏng. Do vậy độ nhớt cũng sẽ thay đổi theo nhiệt độ, nhiệt độ tăng thì độ nhớt giảm và ngược lại. Độ nhớt của men là một tính chất quan trọng chủ yếu quyết định sự thành công của nhiều giai đoạn được thực hiện ở các nhiệt độ khác nhau. Giá trị của nó ở nhiệt độ nóng chảy chỉ rõ men nào có khả năng chảy tràn khỏi bề mặt sản phẩm khi nung và men nào thì không. Độ nhớt trong quá trình hình thành men cũng cho biết sự thoát khí xảy ra (do các phản ứng hoá học) có dễ dàng hay không trong quá trình nung. Qua thực nghiệm, có thể rút ra kết luận rằng: các ôxít sau làm tăng độ nhớt của men: SiO2, Al2O3, ZrO2, Cr2O3, SnO2, MgO, CaO. B2O3 đưa vào dưới 12% sẽ làm tăng độ nhớt, nhưng nếu lớn hơn sẽ làm giảm độ nhớt. SrO đưa vào men với hàm lượng nhỏ có tác dụng làm giảm độ nhớt nhưng nếu trên 20% sẽ làm tăng độ nhớt. ==== Sức căng bề mặt ==== Sức căng bề mặt là ứng suất căng tác dụng lên bề mặt lỏng theo chiều hướng thu nhỏ diện tích bề mặt lỏng nếu chất lỏng nằm tự do trong không khí. Morey cho biết đối với các pha silicat nóng chảy, sức căng bề mặt nằm trong khoảng 300 dyn/cm nhưng nó sẽ dao động trong khoảng 150-500 dyn/cm. Sức căng bề mặt thường có khuynh hướng thu nhỏ ranh giới tiếp xúc của pha lỏng. Tại ranh giới giữa pha rắn-lỏng-khí sẽ hình thành sức căng bề mặt, điều này đóng vai trò quan trọng trong quá trình thấm ướt. Một số men khi chảy lỏng có khuynh hướng tự co lại thành hình cầu, do đó, nếu muốn tráng 2 men chồng lên nhau, và muốn có ranh giới tiếp xúc sắc nét thì 2 men phải có sức căng bề mặt bằng nhau, nếu không, men có sức căng lớn hơn sẽ co lại và men có sức căng nhỏ hơn sẽ kéo giãn ra. Một men có sức căng bề mặt lớn thường gây ra khuyết tật cho sản phẩm như phồng men, rộp men, cuộn men...Trong thực tế, có thể điều chỉnh sức căng bề mặt mà không cần thay đổi thành phần hoá bằng cách thay đổi nhiệt độ nung nhưng để làm điều này điều này nhất thiết phải điều chỉnh phối liệu xương. Để xác định sức căng bề mặt men có thể dùng công thức cộng tính hoặc có thể dùng những phương pháp tương tự thuỷ tinh: Phương pháp cộng tính: Số liệu để tính sức căng bề mặt của men ở 900 °C (Lưu ý: cứ tăng 100 °C thì xi giảm 0,04 đơn vị.): Công thức tính sức căng bề mặt có dạng: η {\displaystyle \eta } = ∑ k = 1 i {\displaystyle \sum _{k=1}^{i}} fi.xi Trong đó: η {\displaystyle \eta } :sức căng bề mặt (dyn/cm). fi:hàm lượng % cấu tử i.(0≤xi<100) xi:trị số tính sức căng bề mặt tương ứng ôxít i (số liệu tra theo bảng trên). Phương pháp thực nghiệm: Cân trọng lượng một giọt men, nung chảy, sau đó: So sánh bề mặt thấm ướt của giọt men đó đối với mẫu đã biết trên một bề mặt phẳng, hoặc Xác định góc thấm ướt bằng cánh đo ranh giới trong quá trình nóng chảy bằng kính hiển vi nhiệt độ cao. === Trạng thái rắn === ==== Hệ số giãn nở nhiệt ==== Trong công nghiệp gốm sứ, sự giãn nở nhiệt được biểu diễn theo hệ số giãn nở nhiệt toàn phần và tính bằng % từ 20 °C đến nhiệt độ tới hạn (thông thường khoảng 500-550 °C). Sự chênh lệch hệ số giãn nở của men và mộc trong phạm vi hẹp không gây khuyết tật vì men có khả năng đàn hồi trong một phạm vi nhất định. Trong các trường hợp thì độ bền cơ học của sản phẩm tăng nếu men ở trạng thái bị nén do đó cần sử dụng men có hệ số giãn nở nhỏ hơn hệ số giãn nở của xương gốm một ít. Tuy nhiên, nếu chênh lệch quá nhiều, ứng lực sinh ra lớn hơn độ bền thì sẽ có hiện tượng nứt hoặc bong men. Hệ số giãn nở nhiệt của men được xác định bằng đilatômét hoặc tính toán bằng công thức. Có nhiều công thức tính, trong đó công thức của Winkelman và Schott được sử dụng nhiều. Winkelman và Schott cho rằng hệ số giãn nở nhiệt của men là quan hệ cộng tính giữa các ôxít thành phần. Công thức tính: a = ∑ k = 1 i {\displaystyle \sum _{k=1}^{i}} pi.xi Trong đó a: hệ số giãn nở nhiệt của men(1/°C) pi: hàm lượng ôxít i trong men, tính theo % trọng lượng xi.(10-6): hệ số thực nghiệm đặc trưng cho sự dãn nở của các ôxít trong men. Kết quả trung bình tính toán chính xác ±5%, trị số các số liệu tính toán hệ số giãn nở nhiệt của men dùng ở 400–500 °C được thể hiện trong bảng sau: ==== Độ cứng ==== Để xác định độ cứng của men phải dùng phương pháp tương ứng với từng loại sản phẩm, mỗi thông số của độ cứng ứng với một phương pháp kiểm tra. Đối với sản phẩm sứ dân dụng như (chén, bát, đĩa...); gạch men ốp tường; sứ kỹ thuật...người ta xác định độ cứng thông qua độ bền chống lại đường vạch (vết xước) và độ bền lún sản phẩm, còn đối với sản phẩm là gạch lát nền, ống dẫn, các loại trang trí bên ngoài...xác định chủ yếu là đo độ bền chống bào mòn. Cách xác định như sau: Xác định độ bền chống rạch: Dùng kim cương hoặc những vật liệu có độ cứng theo thang Mohs. Xác định một trọng lực cần thiết của mũi kim cương vạch một chiều rộng (hay sâu) lên mẫu cần đo, sau đó đối chiếu với vật liệu trong thang Mohs đã xác định trước có vết xước cũng được tạo theo cách trên. Độ bền lún: Được đo bằng cách ấn một lực xác định xuống một hình nón bằng kim cương xuống bề mặt của men, khi rút lên để lại một lỗ. Đối chiếu, so sánh với mẫu chuẩn. Độ bền chống bào mòn: Được biểu thị bằng độ hao mòn trọng lượng sau khi mài. Có thể mài bằng các phương pháp mài cát (SiO2) hay corunđum. Thông thường người ta dùng phương pháp Scett tức dội cát lên bề mặt sản phẩm ứng với độ cao nhất định và trong một thời gian nhất định. Độ bền chống bào mòn không chỉ biệu hiện cho độ cứng mà còn liên quan đến tính đàn hồi, độ sít đặc và tính dòn của sản phẩm. ==== Tính cách điện ==== Những sản phẩm gốm sứ dùng trong lĩnh vực điện và điện tử ngoài có tiêu chuẩn cao hơn so với các loại gốm khác, đó là hệ số giãn nở nhiệt của xương rất thấp (4,5-6,5.10−5/°C) và yêu cầu độ cách điện cao theo đó, những loại men được sử dụng cần phải đáp ứng. Ảnh hưởng của các ôxit có mặt trong pha thuỷ tinh (men) đến độ cách điện tăng theo dãy sau: CaO < BaO < B2O3 < PbO < Fe2O3 < MgO < ZnO < SiO2 Còn các ôxít sau làm giảm điện trở: Al2O3, K2O và Al2O3. Quan trọng hơn, men ngoài việc phải bảo đảm tính cách điện, tránh các hiện tượng bong và nứt men khi các chi tiết đó làm việc (nhiệt độ, tần số...) còn phải có tính cản trở được sự tạo vỏ nước đọng lại trên men. Có thể sắp xếp các chất tạo thủy tinh theo tứ tự tăng như sau: CaO, BaO, B2O3, Al2O3, Fe2O3, MgO, ZnO, PbO, SiO2..., những ôxít này cản trở sự tạo với nước tương ứng với từng điểm tối ưu của nó. Còn K2O và Na2O thì lại thuận lợi cho việc tạo vỏ nước. Khả năng dẫn điện của men gốm là do ảnh hưởng của kiềm, men có hàm lượng kiềm cao càng có độ dẫn điện lớn, theo Hinz, điều này ứng với sự dao động của các ion kiềm trong mạng lưới thuỷ tinh. Có thể sử dụng PbO để hạn chế điều này, khi hàm lượng PbO cao thì sự dao động của các ion kiềm bị đình trệ. Tốt hơn hết là không nên dùng kiềm cho sứ cách điện. ==== Độ bền hoá ==== Yêu cầu về khả năng bền hóa của men phụ thuộc vào lĩnh vực sử dụng chúng: men mỹ nghệ phải có khả năng chống lại sự tàn phá của môi trường và phải chịu được sự rửa không thường xuyên; chén, bát, sản phẩm lát ngoài trời, trong phòng thí nghiệm... phải chịu được sự ăn mòn axít và kiềm ở nhiệt độ sử dụng tới hạn. Độ bền hóa của men liên quan đến cấu trúc của nó và nhiệt độ nung, tuy nhiên không hẳn là vậy, một men có nhiệt độ nung thấp không hẳn có độ bền hóa cao hơn các men nung ở nhiệt độ cao. Kreidl và Weyl miêu tả hai cơ chế khác nhau mà các chất hoá học có thể tấn công men: Sự tấn công bởi axít: H+ của các axít có thể thay thế các ion kiềm ở trong mạng (men), dần dần hydrat hóa chúng. Cấu trúc chung của men vẫn không thay đổi nhưng sự thay đổi thành phần làm giảm chỉ số khúc xạ của men, gây nên sự nhiễu màu. Trong trường hợp này, nên thay Na bởi K hoặc Li; thay kiềm có hoá trị 1 bởi kiềm có hoá trị 2 như CaO, SrO, BaO, MgO, PbO và tốt hơn hết nên thay Zn cho các kim loại có hoá trị 1 và 2. Sự tấn công bởi kiềm: đầu tiên, HF và một số hoá chất khác có thể tạo nên những hỗn hợp hoà tan silicat sẽ hoà tan men, sau đó kiềm sẽ tấn công, sự hấp phụ OH- vào O của cầu nối Si-O-Si dẫn đến ảnh hưởng lớn đến thành phần bề mặt cũng như cấu trúc men. Trong trường hợp này, vấn đề phức tạp hơn nhiều vì phụ thuộc vào sự kết hợp giữa các cấu tử chính và phụ trong men. Ôxít nhôm có thể giải quyết được vấn đề này, tuy nhiên nó thường làm tăng nhiệt độ nóng chảy của men. Mellor theo dõi phản ứng của nước và những nhân tố ăn mòn chung nhận thấy men có độ phức tạp càng cao thì càng bền, men nhiều kiềm thường kém bền, ảnh hưởng của các ôxít khác theo thứ tự tăng độ bền như sau: Li < Na < BaO < CaO < PbO < MgO < ZnO < Al2O3 < ZrO2... Mellor cũng kết luận rằng nếu một men được khử ứng suất sẽ có độ bền hoá cao hơn cũng men đó nhưng không khử. == Lớp trung gian == Tất cả các loại men trong quá trình nung đều có gắn ít hoặc nhiều đối với xương sản phẩm. W.Sterger cho rằng khi nung men cần phải tạo ra giữa xương và men một lớp trung gian hay lớp quá độ. Lớp này trong một chừng mực nào đó góp phần điều hòa ứng lực xuất hiện giữa xương và men và có tác dụng làm giảm ứng lực. Lớp trung gian này càng dày thì xương và men càng phù hợp nhau. Về mặt hóa lý, đây là một quá trình phúc tạp bao gồm các phản ứng hóa học do bản chất khác nhau giữa xương và men (tính kiềm của men lớn hơn xương và tính axít ngược lại). Song song quá trình phản ứng hóa học còn có quá trình hòa tan, thấm ướt giữa pha lỏng và pha rắn và quá trình kết tinh. Sự hình thành lớp trung gian phụ thuộc thành phần xương và men, nhiệt độ nung sản phẩm, thời gian lưu mẫu ở nhiệt độ nung cao nhất, độ xốp của xương sản phẩm cũng như độ tan của từng loại ôxít có trong men. Để tạo lớp trung gian, người ta thường cho thêm vào men axít boric, hoặc các chất kiềm khác, tuy nhiên cần lưu ý hệ số giãn nở nhiệt có thể tăng do các loại ôxít kiềm gây nên. Trong các nguyên liệu thì CaCO3, volatonit, đôlômit là những phụ gia trung gian vì nó có tác dụng chống nứt men. Nhưng CaCO3 là tốt hơn cả vì ngoài vai trong tạo lớp trung gian, nó còn cản trở sự trương nở của xương và làm cho các vết nứt sít đặc trở lại. == Màu sắc == Màu sắc của men, giống như màu sắc của mọi đồ vật, là do khả năng hấp phụ và phản xạ của men đối với ánh sáng trong vùng nhìn thấy. Màu của men ứng với các bước sóng được men phản xạ trở lại. Nếu men phản xạ mọi bước sóng ánh sáng, nó có màu trắng; nếu men hấp phụ hoàn toàn mọi bước sóng, không phản xạ lại bước sóng nào, nó sẽ có màu đen. Sự hấp thụ và phản xạ ánh sáng, do đó màu sắc, của men phụ thuộc vào thành phần hoá học của men và đặc biệt là số phối trí của các chất cho các màu khác nhau, gọi là các chất tạo màu men. === Ôxít hoặc muối của kim loại === aa Ôxít hoặc muối của kim loại có thể làm chất tạo màu cho men. Cách này tương tự thuỷ tinh màu nên thường tạo men trong có màu, cường độ mùa tuỳ thuộc vào hàm lượng (%) ôxít gây màu đưa vào và bản chất men. Những ôxít màu hoặc muối của chúng khi đưa riêng vào men gốm sẽ cho màu thông thường là: CoO, Co2O3, Co3O4, Co(OH)2: cho màu xanh. NiCO3: cho màu vàng bẩn. CuO, Cu2O: cho màu xanh khi nung trong môi trường ôxy hoá, màu đỏ trong môi trường khử. Cr2O3: Cho màu lục. Sb2O3, Sb2O5 cho màu vàng. FeO, Fe2O3, Fe3O4: cho màu đỏ vang, vàng và nâu khi nung trong môi trường ôxy hoá; xanh xám đến xanh đen trong môi trường khử. MnCO3: cho màu đen, tìm hoặc đen. SnO2: cho màu trắng (men đục). ZrO2: cho màu trắng (men đục). TiO2: cho màu vàng. === Chất tạo màu bền nhiệt === Các chất tạo màu bền nhiệt là các chất tạo màu hầu như không tan trong men nóng chảy mà lại phân tán rất đều trong men. Kiểu này thường tạo màu đục gọi là chất tạo màu nhuộm màu men, tạo men trắng đục thường hay dùng cách này. Phương pháp sản xuất các chất màu này như sau: Phối liệu tạo màu được trộn và nghiền mịn trong máy nghiền bi ướt hoặc khô (màu dưới men) hoặc tách các kết tủa của các hỗn hợp kim loại sau khi hoàn tan nó vào nước (màu trên men). Nung phối liệu trên đến nhiệt độ thích hợp cho sự phát màu. Các tảng màu hình thành được nghiền mịn và rửa sạch. Pha thêm vào chất màu 30-40% men sứ sẽ được màu vẽ dưới men hoặc 5-10% đất sét dẻo sẽ được màu trên men hoặc pha thêm chất trợ chảy để có màu trong men. ==== Công thức phối liệu một số màu dưới men ==== Màu lam: SnO2.2,5CoO (xanh lam đậm); Al2O3.0,5CoO.0,5ZnO (xanh trời); Al2O3.0,7CoO.0,3NiO (xanh xám) Màu lục: Al2O3.0,8CoO.0,2Cr2O3 Màu xanh lá non: hỗn hợp Cr2O3, CaCO3 và B2O3 Màu đỏ: được tạo qua việc tạo chất màu hồng, là hỗn hợp SnO2, SiO2, CaO, B2O3 và một ít Cr2O3 Màu tím đỏ: AuCl3 và caolanh trộn theo tỷ lệ 1/9 Màu vàng: ZnO.TiO2 hoặc 0,8.0,2Fe2O3.TiO2 ==== Công thức phối liệu màu vẽ trong men ==== Loại này có công thức Seger giống nhau: 0,5R2O. 0,5 Ôxít màu. 1-1,5 SiO2 ==== Công thức phối liệu một số màu trên men ==== Màu xanh nước biển: 0,25CoO.0,35ZnO.0,1B2O3.0,4PbO.0,5SiO2 Màu xanh da trời: (15-30)% hỗn hợp (Co.Al2O3) + (85-70)% trợ chảy (PbO.0,5SiO2) Màu nâu: 20% hỗn hợp (Fe2O3.Cr2O3) + 80% trợ chảy (PbO.0,5SiO2) Màu đỏ vang: (17-20)% Fe2O3 + (83-80)% trợ chảy (PbO.0,5SiO2) Màu cam: 18% hỗn hợp (Fe2O3.Al2O3) + 82% trợ chảy (PbO.0,78SiO2.0,24B2O3) Xem thêm trang Rock-team và Bảng mã màu-thành phần hoá-nhiệt độ sử dụng các màu của Rock-team. == Phân loại == Có nhiều cách để phân loại men, đó là: === Theo thành phần === Men chì: có hai loại nhỏ: Men có PbO và B2O3 và Men có PbO mà không có B2O3 Men không chứa chì: có hai loại: Men chứa B2O3, và Men không chứa B2O3 có hàm lượng kiềm cao và men không chứa B2O3 có hàm lượng kiềm thấp. === Theo cách sản xuất === Men sống: là loại men được tạo từ những nguyên liệu khoáng như đất sét, cao lanh, trường thạch... và các chất chảy, ngoài ra có thể có các ôxít mang màu. Men này có thể chứa PbO hoặc không và thường thuộc loại nhóm có hàm lượng kiềm thấp. Men frit: là loại men đã được nấu chảy (frit hoá) trước đó. Men muối: là men được tạo thành do các chất bay hơi và bám lên bề mặt sản phẩm tạo thành một lớp men, men muối cũng thuộc nhóm men có hàm lượng kiềm thấp. Men tự tạo: là phối liệu xương trong quá trình nung tự hình thành trên bề mặt sản phẩm một lớp tương đối nhẵn và bóng. === Theo nhiệt độ nung === Men khó chảy: là những loại men có nhiệt độ nóng chảy cao (1.250-1.450 °C), có độ nhớt lớn và thường là men kiềm thổ, men trường thạch hoặc men đá vôi. Loại men này có hàm lượng SiO2 cao và hàm lượng kiềm thấp. Nguyên liệu thường dùng để sản xuất loại men này là: cát, trường thạch, pegmatit, đá vôi, đá phấn, đôlômít, talc, cao lanh, đất sét... đó cũng là những nguyên liệu không tan trong nước nên phương pháp sản xuất các loại men này gọi là cách sản xuất men sống. Thành phần của các loại men này có giới hạn như sau: 1RO.0,35-0,5Al2O3.3,5-4,5SiO2 (men có nhiệt độ nung 1.230-1.350 °C). 1RO.0,5-1,2Al2O3.5,0-6,2SiO2 (men có nhiệt độ nung 1.350-1.435 °C). Men dễ chảy: là những loại men có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn 1.250 °C. Đây là những loại men nghèo SiO2 nhưng giàu kiềm và các ôxít kim loại khác. Men loại này có thể là men chì hoặc không chì, trong trường hợp men chì hoặc men chứa những hợp chất dễ chảy nhưng có khả năng hoà tan trong nước thì phải frit hoá trước. Thành phần của các loại men này có giới hạn như sau: 1RO.0,1-0,4Al2O3.1,5SiO2.(0-0,5)B2O3 (men có nhiệt độ nung 900-1.100 °C) hoặc 1RO.0,1-(0-0,25)Al2O3.(0,6-3)SiO2.(0,1-0,725)B2O3 (men có nhiệt độ nung 1.000-1.080 °C)... Men muối có thành phần như sau: 1Na2O.0,5Al2O3.2,8SiO2 hay là 1Na2Al2O3.5,5SiO2. === Theo thẩm mỹ === Về mặt mỹ thuật, men được sử dụng như là một hình thức trang trí, các sản phẩm được trang trí bởi hình thức này là những bình gốm, chậu hoa, các loại tượng... Men chảy: thường được trang trí lên sản phẩm gốm mịn. Khi nung dó đặc tính men (độ nhớt và sức căng bề mặt) của lớp men nền và lớp men phủ khác nhau, thường thì lớp men phủ có độ nhớt thấp hơn, sức căng bề mặt bé nên chảy mạnh và (thậm chí) hoà trộn một phần vào lớp men nền. Ở nhiệt độ nung, men chảy phủ lên lớp men nền tạo một bề mặt sản phẩm với màu sắc hoặc sự kết tinh từng mảng. Để nhận được men này, pha thêm vào men khoảng 25% chất trợ chảy (PbO.SiO2) và một lượng ôxít màu hoặc chất màu. Men rạn: Nếu chủ động tính toán cấp phối sao cho hệ số giãn nở nhiệt của men và xương chênh lệch nhau, bề mặt lớp men sẽ có sự rạn nhất định (rạn chân chim, rạn hạt vừng). Với men rạn, lớp men càng dày thì độ rạn càng sâu và càng đảm bảo. Để có sự chênh lệch hệ số giãn nở nhiệt của men và xương phải giảm bớt lượng SiO2; CaO của xương (và) hoặc tăng lượng các ôxít có hệ số giãn nở riêng phần lớn của men (tăng Na2O, K2O... và giảm Al2O3). Men rạn, màu xanh Thổ Nhĩ Kỳ (turquoise) được thể chế tạo bằng cách thêm 3% CuO vào men 0,7Na2O.0,3CaO.3SiO2. Men rạn, mờ nhiệt độ nung 1.060-1.100 °C có thành phần: 0,4Li2O.0,16Na2O.0,44CaO.0,22Al2O3.2,6SiO2. Men kết tinh: Nếu thành phần men có những cấu tử gây mầm kết tinh, khi làm nguội nếu độ nhớt của men đủ nhỏ để các mầm kết tinh tự lớn lên sẽ nhận được men kết tinh. Quá trình kết tinh diễn ra 2 giai đoạn: đầu tiên là giai đoạn tạo mầm (ứng với khoảng nhiệt độ tạo ra số mầm kết tinh nhiều nhất) và giai đoạn mầm tinh thể lớn lên (khoảng nhiệt độ làm mầm tinh thể phát triển kích thước lớn nhất). Chất tạo mầm phổ biến nhất là impfen có công thức 2ZnO.SiO2 được tạo bằng cách trộn ZnO và SiO2 theo tỷ lệ trên, đồng thời thêm vào 10%Pb3O4 hoặc 20% ôxít kiềm. Khi nấu chảy thu được frit đục với các mầm tinh thể 2ZnO.SiO2. Men sần (matt): Khi thêm vào men gốc (bóng) một số ôxít khó chảy, hay ôxít màu như Cr2O3, CuO, Fe2O3, TiO2.. (10-30%) hoặc SnO2 (10%) ta được men sần. Ở nhiệt độ nóng chảy men gốc, các ôxít trên phân bố đều trên mặt men nhưng không nóng chảy và không tan lẫn với men gốc, khi làm nguội các phần tử khó chảy đó tạo nên lớp sần sùi, bề mặt nhám. Men co: Là loại men khi nóng chảy thì co cụm lại dẫn đền bề mặt men chỗ dày, chỗ mỏng, thậm chí để lại khoảng trống không men trên bề mặt sản phẩm. Thành phần men này phải chức các ôxít có sức căng bề mặt lớn như Al2O3, MgO, ZnO, CaO, SnO2, NiO, V2O5 hoặc Cr2O3. Ở nhiệt độ nung 1.040 °C, nếu thêm 8-10% màu vàng ZrO2-V2O5 vào gốc men 0,5PbO.0,2CaO.0,2ZnO.0,1MgO.0,18Al2O3.1,7SiO2 sẽ nhận được một men co đẹp. Men khử: Nhận được bằng cách dùng môi trường lúc nung (nung hoàn nguyên) và chủ yếu lúc làm nguội sản phẩm để khử các ôxít màu đến trạng thái kim loại. Tuỳ bản chất nguyên tố kim loại được pha vào men và tuỳ thuộc điều kiện thừa hay thiếu CO của môi trường nung mà mặt men có sắc thái khác nhau. Men ngũ sắc: là loại men có bề mặt được tạo bởi một lớp mỏng kim loại màu khi nhìn vào thấy giống hiện tượng vết dầu loang trên mặt nước. Để có men ngũ sắc đẹp thường sử dụng các muối kim loại của Co, Cu, Fe, Ag, Bi... Men celadon (hay men ngọc): chính là màu xanh của Fe2+ (của Fe0 và có thể bị khử một phần về Fe. Thực tế màu men Seladon ít đồng nhất mà thường biến đổi từ lục xám nhẹ đến lục ngả vàng. Có thể nhận màu Seladon giả nhưng đồng nhất bằng cách tạo chất màu Seladon trước, sau đó phun màu lên sản phẩm và tráng thêm một lớp men trong. Men đỏ huyết dụ (hay đỏ đồng): có bản chất chính là men khử do CuO chuyển về dạng kim loại ở dang keo đồng và phân bố đều trong men. Cơ chế tạo ra keo đồng theo phản ứng: SnO + CuO = Cu +SnO2 CuO+CO = Cu+CO2. Hàm lượng chất khử, thời gian khử phải thực nghiệm để rút ra thông số kỹ thuật chính xác. Khi môi trường khử quá đậm, thời gian khử quá dài, sản phẩm sẽ chuyển một phần sang nâu hoặc xám đen. == Tham khảo == Industrial Ceramics-Felix Singer and Sonja S. Singer; Chapman Hall Ltd. London (1963). Xem chương 6: Glazes, trang 525-660. Kỹ thuật sản xuất gốm sứ-Tô Đông Hải. == Xem thêm == Thủy tinh Gốm == Liên kết ngoài == Trang web Công ty TNHH Frit Huế Thành phần hoá học một số loại men Frit Trang web Fritta Trang web của Glazura s.r.o-Cộng hòa Séc Men gốm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
uss osborne (dd-295).txt
USS Osborne (DD-295) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Trung úy Hải quân Weedon Osborne (1892-1918), người tử trận trong trận Belleau Wood và được truy tặng Huân chương Danh dự. Osborne ngừng hoạt động năm 1930 và bị bán năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London. Nó được cải biến trang bị động cơ diesel, trở thành chiếc tàu hàng thương mại Matagalpa, bị cháy năm 1942 và cuối cùng bị đánh đắm năm 1947 == Thiết kế và chế tạo == Osborne được đặt lườn vào ngày 23 tháng 9 năm 1919 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding Corporation ở Squantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 29 tháng 12 năm 1919, được cùng đỡ đầu bởi bà Elizabeth Osborne Fisher, chị Trung úy Osborne và bà C. H. Cox; và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 5 năm 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Dennis L. Ryan. == Lịch sử hoạt động == === USS Osborne === Được nhập biên chế vào một lực lượng hải quân thời bình đang trải qua việc cắt giảm nhân lực và chi phí, Osborne với thành phần nhân lực không đầy đủ khởi hành từ Boston, Massachusetts vào ngày 25 tháng 6 để gia nhập Hải đội Khu trục 3 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương. Các hoạt động giới hạn dọc bờ Đông trong năm 1920 được bổ sung bởi hai tháng thực hành hạm đội và tập trận ngoài khơi Cuba vào đầu năm 1921. Hoạt động từ cảng nhà thường trực ở Charleston, South Carolina hoặc từ các xưởng hải quân Philadelphia hay Brooklyn, nó thường đi về phía Nam mỗi năm cho các cuộc thực tập và cơ động chiến thuật quy mô lớn, vốn được tổ chức không những tại khu vực biển Caribe mà cả đến vùng bờ biển phía Thái Bình Dương của Panama. Dưới sự chỉ huy của Hạm trưởng mới Raymond A. Spruance, vị Đô đốc Tư lệnh tương lai của Đệ Tam và Đệ Ngũ hạm đội tại Thái Bình Dương trong Thế Chiến II, Osborne khởi hành từ Boston vào ngày 18 tháng 6 năm 1925 cho một lượt bố trí hoạt động kéo dài một năm tại khu vực Tây Địa Trung Hải và dọc theo bờ biển Tây Âu. Vào ngày 20 tháng 9 năm 1929, nó đi vào Xưởng hải quân Philadelphia để chuẩn bị ngừng hoạt động. Osborne được cho xuất biên chế vào ngày 1 tháng 5 năm 1930; thủy thủ đoàn của nó chuyển sang chiếc USS Taylor (DD-94) vừa mới đưa vào hoạt động trở lại. Tuân thủ những điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London, Osborne được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 22 tháng 10 năm 1930 và bị bán vào ngày 17 tháng 1 năm 1931. === Matagalpa === Con tàu được bán cho hãng Standard Fruit & Steamship Company ở New Orleans, Louisiana, nơi nó được tháo dỡ cho đến lườn tàu, và được cấu trúc hai phòng trên boong mới, máy phát điện và hai động cơ diesel Ingersoll-Rand 750 hp (560 kW) của hãng Todd Dry Dock and Construction Company. Với tên gọi mới Matagalpa và bốn hầm hàng hóa có khả năng 25.000 chở quày chuối giữa Trung Mỹ và New Orleans, nó hoạt động cho hãng Standard Fruit cho đến khi nổ ra Thế Chiến II. Con tàu được khảo sát và được Hải quân trưng dụng, cho đến nó được chuyển giao cho Lục quân sau khi nảy sinh nhu cầu cấp thiết phải tiếp tế cho Philippines sau khi quân đội Nhật Bản tấn công và phong tỏa lãnh thổ này. === Phục vụ cùng Lục quân Hoa Kỳ === Vào ngày 22 tháng 2 năm 1942, từ Philippines, tướng Douglas MacArthur yêu cầu được hỗ trợ trực tiếp từ Honolulu thay vì từ Australia do không có những nguồn lực cần thiết. Trong vòng một ngày, việc xem xét tình hình ở cấp cao nhất cho thấy ba chiếc tàu khu trục cũ, vốn được cải biến thành tàu vận chuyển trái cây nhanh giờ đây mang tên Masaya, Matagalpa và Teapa, và gần đây được Bộ Chiến tranh trưng dụng với mục đích sử dụng cho việc vận chuyển giữa các đảo, được xem là phù hợp cho nhiệm vụ tiếp tế này. Theo mệnh lệnh khẩn cấp của Tổng thống để hỗ trợ cho lực lượng đồn trú tại Army và Corregidor, Lục quân bắt đầu chuẩn bị cho những con tàu này vượt qua vòng phong tỏa của quân Nhật tại Philippines. Hàng hóa bắt đầu được chuyển đến New Orleans cho các con tàu; chúng dự định khởi hành vào ngày 28 tháng 2 năm 1942, nhưng những khó khăn, bao gồm thiếu hụt pháo thủ các khẩu đội pháo trên tàu, đã trì hoãn chuyến đi. Cuối cùng Masaya lên đường vào ngày 2 tháng 3 năm 1942, Matagalpa vào ngày 11 tháng 3 và Teapa vào ngày 18 tháng 3. Trong khi tình hình tại Philippines đang ngày càng trở nên tuyệt vọng, các con tàu lại bị buộc phải dừng lại ở Los Angeles để sửa chữa. Đến ngày 13 tháng 4, tướng MacArthur báo cáo việc vượt phong tỏa là vô ích, nhưng Bộ Chiến tranh quyết định vẫn cố thử. Các con tàu lên đường với Matagalpa được cho hướng đến Mindanao, đi đến Honolulu vào ngày 8 tháng 5 năm 1942, quá trễ để có thể giải vây cho Corregidor. Matagalpa cùng các con tàu dự định tiếp tế cho Philippines được chuyển hướng đến Australia. Vào ngày 26 tháng 6 năm 1942, Matagalpa bị cháy đang khi neo đậu tại Sydney, Australia; hàng trăm lính cứu hỏa đã giúp di tản các thùng nhiên liệu và dập lửa. Nó không được sửa chữa, và sau khi chiến tranh kết thúc, nó bị cho đánh đắm ngoài khơi Sydney vào ngày 6 tháng 9 năm 1947. == Xem thêm == USS Ozbourn: về một tàu mang tên tương tự của Hải quân Hoa Kỳ == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Naval History and Heritage Command Online Library of Selected Images: USS Osborne (Destroyer # 295, later DD-295), 1920-1931 Photo of Matagalpa at Pacific Wrecks.com
nam georgia và quần đảo nam sandwich.txt
Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich là một lãnh thổ hải ngoại của Anh ở Nam Đại Tây Dương. Nó là một tập hợp các đảo xa xôi và khắc nghiệt, bao gồm Nam Georgia – có diện tích khoảng 3718 km2 và là hòn đảo lớn nhất trong lãnh thổ – và một nhóm các đảo nhỏ hơn được biết đến với tên Quần đảo Nam Sandwich. Không có cư dân định cư trên bất kỳ đảo nào, và những người hiện đang sống ở đó là Viên chức Chính phủ Anh, Phó giám đốc Bưu điện, các nhà khoa học, và những viên chức hỗ trợ từ Cơ quan Đo đạc Nam cực Anh đặt cơ sở nghiên cứu khoa học tại đảo Bird và tại thủ đô, King Edward Point, cũng như nhóm bảo tàng tại gần Grytviken. Tuyên bố chủ quyền của Anh về Nam Georgia có từ năm 1775, và Quần đảo Nam Sandwich là từ năm 1908. Lãnh thổ "Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich" được thành lập năm 1985; trước đó nó nằm trong sự quản lý của Thuộc địa Quần đảo Falkland. Argentina tuyên bố chủ quyền ở Nam Georgia vào năm 1927, và ở Quần đảo Nam Sandwich vào 1938. Argentina hiện vẫn duy trì một trạm hải quân, Corbeta Uruguay, tại Cảng Faraday ở Đảo Thule ở Quần đảo Nam Sandwic từ năm 1976 cho đến 1982 khi nó bị Hải quân Hoàng gia đóng cửa. Sự tuyên bố của Argentina đối với Nam Georgia đã góp phần vào Chiến tranh Falkland vào năm 1982, trong thời gian đó lực lượng Argentina đã có thời gian ngắn chiếm đóng đảo, và vẫn chưa giải quyết được cho đến tận ngày nay. == Xem thêm == == Tham khảo == George Forster, A Voyage Round the World in His Britannic Majesty's Sloop Resolution Commanded by Capt. James Cook, during the Years 1772, 3, 4 and 5 (2 vols.) , London, 1777. R.K. Headland, The Island of South Georgia, Cambridge University Press, 1984. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới South Georgia and the South Sandwich Islands tại Wikimedia Commons South Georgia goverment website Live picture from the South Georgia webcam South Georgia Heritage Trust Operation Paraquat Argentine invasion of South Georgia South Georgia Wiki
do thái giáo.txt
Do Thái giáo (tiếng Hebrew יהודה, Yehudah) là một tôn giáo đặt nền tảng trên Kinh Torah (là một phần của Kinh Tanakh hay Kinh Thánh Hebrew), gắn liền với lịch sử dân tộc Do Thái, như đã được diễn giải trong Kinh Talmud và các sách khác. Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa người Israel (và sau này, người Do Thái) với Thiên Chúa. Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo độc thần đầu tiên. Nhiều phương diện của Do Thái giáo ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các khái niệm về đạo đức và luật dân sự của phương Tây. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực hành cho đến ngày hôm nay, sách thánh và rất nhiều truyền thống của Do Thái giáo tiếp tục được coi trọng trong các tôn giáo truyền thống Abraham nói chung. Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo và Hồi giáo. Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo. Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13.2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel. Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Kinh Thánh thư Giáo luật. Theo những lời truyền của người Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn bằng Giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 trước Công nguyên), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của nó và cho chúng biết lề luật và giới răn của Người thông qua ông Moses trên Núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu ước và tuân giữ các điều răn đã ghi trong Cựu ước như đã được dẫn giải chi tiết trong sách Talmud. == Học thuyết và tín điều đức tin == Do Thái giáo là một tôn giáo độc thần dựa trên những nguyên tắc và đạo đức đã được nói đến trong Kinh Thánh Do Thái, và cũng được giảng giải kỹ hơn trong sách Talmud và các sách thánh khác. Theo người Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn từ Giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham. Trong thực tế, Do Thái giáo hầu như không đồng nhất nhưng trong lý thuyết thì luôn luôn là tôn giáo độc thần - mặc dù sách Tanakh có ghi lại những giai đoạn quan trọng của việc bội giáo giữa những người Israel từ Do Thái giáo. Theo lịch sử, Do Thái giáo xem niềm tin vào sự mặc khải và sự chấp nhận sách Torah (sách Ngũ Kinh) là cốt lõi căn bản của đức tin, nhưng Do Thái giáo lại không có một cơ quan trung ương để hướng dẫn các giáo điều. Việc này làm phát sinh nhiều nghi thức khác nhau tuỳ vào niềm tin thần học cụ thể vốn gắn liền với sách Torah và Talmud. Trong khi một số thầy rabbi chấp nhận một nghi thức, số khác lại bất đồng, nhiều người lại chỉ trích những nỗ lực như thế là giảm thiểu sự tuân phục toàn bộ sách Torah. Đáng chú ý, trong sách Talmud một số nguyên tắc đức tin lại được xem là rất quan trọng mà những ai phản kháng lại đều có thể bị xếp vào loại "apikoros" (dị giáo). Qua nhiều thế kỷ, rất nhiều nghi thức của nguyên tắc đức tin Do Thái giáo đã xuất hiện rõ, mặc dù chúng có thể khác biệt ở vài điểm cụ thể nào đó, chúng vẫn biểu lộ sự tương đồng của nền tảng đức tin. Trong những thể thức ấy, một thể thức vô cùng quan trọng là 13 nguyên tắc đức tin của triết gia Maimonides hình thành từ thế kỷ XII. Những nguyên tắc này đã gây nhiều tranh cãi khi lần đầu được đưa ra, làm dấy lên chỉ trích bởi hai triết gia Hasdai Crescas và Joseph Albo. Mười ba nguyên tắc đức tin của Maimonides đã bị cộng đồng Do Thái phớt lờ trong vài thế kỷ tiếp theo. Joseph Albo và Abraham ben David đã phê bình các nguyên tắc của Maimonides chứa quá nhiều điều mặc dù đúng nhưng vẫn không phải là cơ bản của đức tin và do đó làm cho nhiều người Do Thái bị liệt vào loại "dị giáo" trong khi những người này chỉ phạm lỗi đơn thuần. == Sách thánh == === Văn chương Rabbin === Do Thái giáo luôn đề cao nghiên cứu thánh kinh cũng như các sách thánh khác. Sau đây là bảng các sách được xem là trọng tâm của Do Thái giáo để thực hành cũng như suy niệm. Phúc âm Hebrew và chú giải Phúc âm Do Thái bản văn chữ Hebrew Targum Chú giải Phúc âm Do Thái Văn chương Rabbin cổ Mishnah và chú giải Tosefta và tiểu luận Talmud: Babylon Talmud và chú giải Jerusalem Talmud và chú giải Midrash: Midrash Halakha Midrash Aggada Văn chương Halakha Giáo luật Mishneh Torah và chú giải Arba'ah Turim và chú giải Shulchan Aruch và chú giải Văn chương Responsa (Hỏi đáp) Tư duy và Đạo đức Triết học Do Thái giáo Kabbalah Sách Haredi Đạo đức Do Thái giáo và Phong trào Mussar Siddur và Nghi lễ Do Thái giáo Piyyut (Thơ cổ) === Sách luật === Nền tảng của luật và các truyền thống ("halakha") trong Do Thái giáo là sách Torah (còn gọi là Ngũ thư Kinh thánh hoặc Ngũ kinh Moses). Có tất cả 613 điều răn trong sách Torah. Trong đó, một số điều răn chỉ được áp dụng cho nam giới hoặc nữ giới, một số điều chỉ dành cho các thầy tế lễ thời xưa - thầy tư tế (kohen) và thầy Lêvi, một số điều răn dành riêng cho nông dân trong vùng đất Israel. Nhiều điều răn chỉ được áp dụng khi Đền thờ Jerusalem còn tồn tại, và ngày nay người ta chỉ phải tuân theo chưa tới 300 điều răn trong sách này. Đức tin của một số nhóm Do Thái giáo như nhóm Sađốc, nhóm Karaite là chỉ dựa vào các bản văn của sách Torah, nhưng hầu hết các tín hữu Do Thái giáo đều tin vào "khẩu luật". Những truyền thống này được truyền miệng trong phái Pharisêu ở thời kỳ cổ xưa của đạo, sau đó được ghi chép lại thành văn bản và được các thầy Rabi loan truyền rộng rãi. Các thầy giảng Do Thái giáo thường cắt nghĩa một điều trong sách Torah (các luật được chép lại thành văn bản) song song với một truyền thống được truyền miệng. Khi trong sách có những từ ngữ chưa được giảng giải, những nghi thức không có hướng dẫn thì người Do Thái giả định rằng họ đã biết thông qua kiểu truyền miệng. Cách giải thích song song này dần dần trở thành khẩu luật. Trước thời của thầy Rabi Judah haNasi (năm 200 trước Công nguyên), sau sự sụp đổ Đền thờ Jerusalem, nhiều phần trong khẩu luật được biên soạn lại thành sách Mishnah. Hơn bốn thế kỷ tiếp theo, nhiều bàn luận và tranh cãi giữa hai cộng đồng Do Thái giáo lớn nhất thế giới (ở Israel và Babylon) và các chú giải về sách Mishnah giữa hai cộng đồng này cuối cùng cũng được tập hợp lại và biên soạn thành hai sách Talmud. Halakha, cách sống đạo hàng ngày, là sự kết hợp của ba việc, đó là đọc sách Torah, các truyền thống truyền miệng - sách Mishnah và chú giải, sách Talmud và chú giải. Sách luật Halakha dần được hình thành. Việc ghi chép lại các câu hỏi với thầy Rabi và các câu trả lời của thầy được gọi là sách Responsa (sách Hỏi đáp, tiếng Hebrew Sheelot U-Teshuvot.) Theo thời gian, bộ giáo luật Do Thái giáo được ghi chép lại, chủ yếu dựa vào sách responsa; sách luật quan trọng nhất là Shulchan Aruch, mà ngày nay Chính thống giáo dựa vào để cử hành các nghi thức phụng vụ. === Triết học Do Thái giáo === Triết học Do Thái giáo là sự kết hợp giữa các nghiên cứu triết học và thần học Do Thái giáo. Có thể kể đến các triết gia Do Thái giáo nổi tiếng là Solomon ibn Gabirol, Saadia Gaon, Maimonides và Gersonides. Những thay đổi chính yếu xảy ra trong Thời đại ánh sáng (cuối những năm 1700 đến đầu những năm 1800) dẫn đến việc xuất hiện các triết gia thời kỳ hậu Thời đại ánh sáng. Triết học Do Thái giáo hiện đại bao gồm cả triết học Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo phi chính thống. Các triết gia Do Thái giáo chính thống nổi bật là Eliyahu Eliezer Dessler, Joseph B. Soloveitchik, và Yitzchok Hutner. Các triết gia Do Thái giáo phi chính thống nổi tiếng là Martin Buber, Franz Rosenzweig, Mordecai Kaplan, Abraham Joshua Heschel và Emmanuel Lévinas. == Lễ nghi Do Thái giáo == === Y phục === Kippah (tiếng Hebrew: כִּפָּה) (tiếng Việt: Mũ Sợ Chúa) là một chiếc nón không vành, hơi tròn để trùm đầu. Nón này được đàn ông Do Thái trùm đầu khi cầu nguyện, ăn uống, đọc lời chúc lành hoặc đọc sách thánh, một số người luôn luôn đội nón này bất kể dịp nào. Ở một số cộng đồng Do Thái giáo phi chính thống, một số phụ nữ cũng dùng nón trùm đầu. Kích thước nón cũng rất khác nhau, từ cỡ nhỏ chỉ che được phần gáy đến cỡ lớn có thể trùm nguyên đầu. Tzitzit (tiếng Hebrew: צִיציִת) là những tua hay quả tua được kết đặc biệt để trang trí vào bốn góc của tallit (tiếng Hebrew: טַלִּית) có nghĩa là "khăn choàng cầu nguyện". Khăn này được dùng trong các buổi cầu nguyện cho cả nam lẫn nữ. Độ tuổi để choàng khăn có thể khác nhau. Trong cộng đồng Sephardi, trẻ em trai choàng khăn khi lên tuổi 13 (bar mitzvah). Trong một số cộng đồng Ashkenazi, người ta chỉ choàng khăn sau khi kết hôn. Tallit katan (khăn choàng nhỏ) là một dải vải có tua được choàng dưới áo suốt ngày. Một số cộng đồng Do Thái giáo chính thống, khăn có thể choàng tự do phía ngoài áo. Hộp Đựng Kinh (Tiếng Anh: Tefillin) (tiếng Hebrew: תְפִלִּין) là những hộp hình vuông bằng da để đựng các câu trích từ Kinh thánh đeo ở trước trán và quấn quanh tay trái bằng các sợi dây da. Người ta đeo nó trong các buổi cầu nguyện ban sáng mỗi ngày. Kittel là áo vải trắng, dài tới đầu gối thường được các chủ tế hoặc tín hữu mặc trong các dịp Lễ trọng. Theo truyền thống, gia trưởng sẽ mặc áo này trong bữa tối Lễ Vượt qua, một số chú rể cũng bận áo này dưới áo cưới. Khi qua đời, đàn ông Do Thái được choàng khăn tallit hoặc mặc áo kittel, đó là y phục tachrichim (đồ tang lễ). === Cầu nguyện === Theo truyền thống, tín hữu Do Thái giáo cầu nguyện ba lần mỗi ngày và bốn lần trong ngày lễ Shabbat hoặc các ngày lễ khác của Do Thái giáo. Trọng tâm của mỗi buổi cầu nguyện là Amidah (tiếng Hebrew: תפילת העמידה) hay còn gọi là Shemoneh Esrei, đây là lời nguyện chính bao gồm 19 lời chúc lành. Một kinh nghiệm quan trọng khác là tuyên xưng đức tin, đó là Shema Yisrael (tiếng Hebrew: שמע ישראל) hoặc gọi tắt là Shema. Kinh Shema là trích dẫn lại các lời đã ghi chép trong sách Torah (Sách Đệ nhị luật 6:4): Shema Yisrael Adonai Eloheinu Adonai Echad, tạm dịch "Này hỡi dân Israel! Thiên Chúa là Chúa chúng ta! Là Thiên Chúa duy nhất!" Hầu hết các tín hữu đều có thể cầu nguyện riêng mặc dù cầu nguyện nhóm được ưa chuộng hơn. Để cầu nguyện nhóm cần phải có 10 tín hữu trưởng thành, gọi là minyan. Đại đa số cộng đồng Do Thái giáo chính thống và một số cộng đồng Do Thái giao bảo thủ chỉ chấp nhận nam giới để tạo nhóm cầu nguyện minyan; Ngược lại, hầu hết cộng đồng Do Thái giáo bảo thủ và các hệ phái Do Thái giáo khác, nữ giới cũng tạo nhóm cầu nguyện được. Ngoài các buổi cầu nguyện chung, người Do Thái còn cầu nguyện và đọc kinh tạ ơn cho các hoạt động khác trong ngày. Cầu nguyện khi thức dậy vào buổi sáng, cầu nguyện trước khi ăn hoặc uống, đọc kinh tạ ơn sau bữa ăn...v.v. Cách thức cầu nguyện của các hệ phái Do Thái giáo cũng khác nhau. Các khác biệt có thể kể đến là kinh đọc, mức độ thường xuyên của các buổi cầu nguyện, số lượng kinh cầu trong các buổi phụng vụ, cách sử dụng nhạc cụ và thánh ca, các lời kinh cầu theo ngôn ngữ tế lễ truyền thống hoặc tiếng địa phương. Nhìn chung, các giáo đoàn Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo bảo thủ tuân thủ chặt chẽ các truyền thống còn Do Thái giáo cải cách và Do Thái giáo tái thiết thì sử dụng các bản dịch và các bản văn đương đại khi cầu nguyện. Thêm vào đó, trong hầu hết các cộng đoàn Do Thái giáo bảo thủ, và toàn bộ các giáo đoàn Do Thái giáo cải cách và tái thiết, phụ nữ cũng được tham gia các nghi thức phụng vụ như nam giới, bao gồm cả những nghi thức mà trước đây chỉ dành riêng cho nam giới như là đọc sách Torah. Trong các đền thờ Do Thái giáo cải cách còn sử dụng cả đàn và hợp xướng. === Các ngày lễ === Các ngày lễ của Do Thái giáo nhằm tôn vinh mối quan hệ giữa Thiên Chúa và thế giới, như là Sáng thế, Mạc khải, và Cứu thế. === Sabbath === Sabbath (tiếng Hebrew: שַׁבָּת), là ngày nghỉ hàng tuần, bắt đầu từ lúc trước khi mặt trời lặn ngày thứ sáu và kết thúc sau khi mặt trời lặn vào ngày thứ bảy, tưởng nhớ ngày nghỉ của Thiên Chúa sau sáu ngày tạo dựng vũ trụ. Ngày lễ này rất quan trọng trong việc thực hành đạo và được quy định trong giáo luật. Lúc mặt trời lặn ngày thứ sáu, người phụ nữ trong gia đình đón ngày Sabbath bằng cách thắp hai hoặc nhiều cây nến và đọc lời chúc lành. Bữa tối bắt đầu với Kiddush, lời chúc lành trên chén rượu, và Mohtzi, lời chúc lành trên bánh mì. Ngoài ra, trên bàn ăn còn có thể bày thêm challah, hai ổ bánh mì xoắn. Trong ngày Sabbath, người Do Thái bị cấm làm những việc như đã quy định trong 39 danh mục hoạt động bị cấm trong ngày Sabbath. Những hành động bị cấm bao gồm: đốt lửa, viết lách, sử dụng tiền bạc hoặc mang vác ở nơi công cộng. Việc cấm đốt lửa trong thời kỳ hiện đại là cấm lái xe (vì có đốt cháy nhiên liệu) và sử dụng điện. ==== Ba lễ hành hương ==== Các ngày lễ thánh (haggim), để kỷ niệm các mốc trong lịch sử Do Thái giáo, như việc thoát khỏi đất Ai Cập, sự mạc khải của Thiên Chúa trong sách Torah, hoặc đôi khi đánh dấu sự chuyển mùa hoặc lúc giao mùa giữa các chu kỳ trồng trọt. Có ba lễ chính, đó là Lễ Vượt qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều tạm. Trong ba dịp lễ này, các tín hữu thường hành hương về Jerusalem để dâng sự hy sinh trong Đền Thánh. Lễ Vượt qua là ngày lễ nghỉ kéo dài một tuần, bắt đầu vào chiều tối ngày thứ 14 của Nisan (tháng thứ nhất theo lịch Do Thái), để tưởng nhớ ngày thoát khỏi Ai Cập. Các nước khác ngoài Israel, Lễ Vượt qua được mừng trong tám ngày. Thời xưa, lễ này trùng vào mùa gặt lúa mạch. Đây là lễ duy nhất tập trung cho các nghi thức được thực hiện ngay tại nhà, đó là "Bữa tối lễ Vượt qua". Thực phẩm có men (chametz) được mang ra khỏi nhà trước ngày lễ và suốt tuần sẽ không dùng thực phẩm có men. Nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ để bảo đảm không còn bánh mì trong nhà và vào buổi sáng của ngày lễ, người ta sẽ đốt tượng trưng chiếc bánh có men cuối cùng trong nhà. Bánh không men (Matzo) sẽ được dùng thay cho bánh mì. Lễ Tuần (Shavuot) kỷ niệm sự mạc khải của sách Torah cho Con cái Israel trên núi Sinai. Đây còn được gọi là Lễ Bikurim (Lễ hội của hoa quả đầu mùa), lễ này trùng với mùa thu hoạch lúa mì. Trong ngày lễ Shavuot, người ta tổ chức học suốt đêm (Tikkun Leil Shavuot), ăn thực phẩm làm từ sữa (bánh phô-mai và bánh kếp mỏng được đặc biệt yêu thích), đọc Sách Ruth (tiếng Hebrew: מגילת רות), trang trí nhà cửa và đền thờ thành màu xanh lá cây, mặc quần áo trắng, tượng trung cho sự thanh khiết. Lễ Lều Tạm (Sukkot) tưởng nhớ Con cái Israel phải mất 40 năm đi qua sa mạc để trở về miền Đất Hứa. Lễ này kỷ niệm việc dựng các lều tạm (sukkot) khi dân Israel lưu đày trên đất Ai Cập. Lễ này trùng với mùa thu hoạch hoa quả và đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ trồng cấy. Người Do Thái từ tất cả các nơi trên đất nước sẽ hành hương tới đất thánh Jerusalem. Lễ Lều tạm kết thúc bằng lễ Shemini Atzeret (tiếng Hebrew: שמיני עצרת), (lễ người Do Thái cầu mưa) và Lễ Ăn Mừng Kinh Thánh Torah (Tiếng Anh: Simchat Torah) (tiếng Hebrew: שמחת תורה), là lễ đánh dấu sự kết thúc của sách Torah và bắt đầu một chu kỳ sách mới. ==== Lễ trọng ==== Lễ trọng (Yamim Noraim) là các lễ về sự phán xét và tha thứ. Tết Do Thái, (Tiếng Anh: Rosh Hashanah) (còn gọi là Yom Ha-Zikkaron ("Ngày tưởng niệm,") và Yom Teruah ("Ngày tiếng kèn Shofar"). Tết Do Thái là lễ Năm mới của Do Thái giáo, mặc dù nó là ngày thứ nhất của tháng thứ 7 Tishri, theo lịch Do Thái. Tết Do Thái đánh dấu bắt đầu thời gian 10 ngày để đền bù tội lỗi chuẩn bị cho Lễ Đền Tội, trong thời gian này, người Do Thái sửa soạn tâm hồn, sám hối và làm việc đền bù tội lỗi đã phạm một cách vô tình hay cố ý trong suốt năm qua. Trong ngày lễ này, người ta thổi kèn shofar (kèn sừng cừu), trong đền thờ, người ta ăn táo và uống mật ong, đọc các lời chúc lành trên thực phẩm tượng trưng như quả lựu chẳng hạn. Lễ Đền Tội, (Tiếng Anh: Yom Kippur) (Hebrew: יוֹם כִּפּוּר) là một trong những lễ trọng của Do Thái giáo. Đó là ngày cộng đoàn tụ họp lại và cầu nguyện xin tha thứ tội lỗi đã phạm. Các tín hữu cầu nguyện suốt ngày trong đền thờ, đọc kinh từ sách Mahzor, thỉnh thoảng có nghỉ một tí vào buổi chiều. Vào đêm lễ Lễ Đền Tội, trước khi thắp nến, người ta ăn nhẹ (suhoor). Nghi thức trong các đền thờ vào đêm Lễ Đền Tội bắt đầu với lời kinh Kol Nidre. Vào dịp lễ này có thể mặc quần áo trắng nhưng không được mang giày da. Ngày tiếp theo, người ta cầu nguyện từ sáng đến tối. Khi buổi cầu nguyện kết thúc ("Ne'ilah,") người ta thổi một hồi dài kèn shofar. ==== Các ngày lễ khác ==== Hanukkah Hanukkah, (tiếng Hebrew: חנוכה), còn gọi là Lễ hội Ánh sáng, là lễ kéo dài tám ngày bắt đầu từ ngày thứ 25 của tháng Kislev theo lịch Do Thái. Trong dịp lễ này, người Do Thái sẽ thắp thêm một ngọn đèn theo số tăng dần của mỗi đêm lễ, đêm thứ nhất thắp một ngọn đèn, đêm thứ hai thắp hai ngọn đèn...cho đến đêm cuối cùng là tám ngọn đèn. Lễ Hanukkah có nghĩa là "dâng hiến" vì nó đánh dấu việc tái dâng hiến Đền thờ sau khi đền thờ bị vua Antiochus IV Epiphanes báng bổ. Trong đức tin, Hanukkah nhằm tưởng nhớ "Dầu kỳ diệu". Theo sách Talmud, khi tái dâng hiến Đền thờ Jerusalem sau chiến thắng của phong trào Macabê đối với Đế chế Seleucid, chỉ còn đủ dầu thánh để đốt lửa vĩnh cửu trong Đền thờ trong một ngày. Kỳ diệu thay, lửa đã cháy trong tám ngày - đó là thời gian đủ để ép, chuẩn bị và thánh hoá dầu mới. Hanukkah không được đề cập đến trong Kinh thánh và cũng chưa bao giờ được xem là lễ chính của Do Thái giáo nhưng lễ này đã được mừng rộng rãi ở nhiều nơi, chủ yếu là do lễ cũng trùng vào dịp Lễ Giáng sinh. Tết Phú Rim Tết Phú Rim (tiếng Anh:Purim) (tiếng Hebrew: פורים Pûrîm) là lễ mừng, tưởng nhớ việc giải thoát dân Do Thái gốc Iran (Persian Jews) khỏi bị truy sát của Haman, người đã tìm để tiêu diệt họ, theo như Sách Esther đã ghi chép. Trong ngày lễ này, người ta đọc Sách Esther ở nơi công cộng, trao tặng nhau thực phẩm và thức uống, làm việc từ thiện cho người nghèo, và ăn mừng (Esther 9:22). Các tập tục khác bao gồm uống rượu, ăn bánh "hamantash", mang mặt nạ, tổ chức diễu hành (carnival) và tiệc mừng. Tết Phú Rim được kỷ niệm hàng năm vào ngày thứ 14 của tháng Adar theo lịch Do Thái, tương đương với tháng hai hoặc tháng ba của Dương lịch == Xem thêm == Na Nách Giáo Hà Tây Đức Giáo (Do Thái giáo Hasidim) Ai là người Do Thái? Tứ thánh địa Do Thái Chủ nghĩa chuộng Do Thái Người Do Thái, dân được Chúa chọn Đồng tính luyến ái trong Do Thái Giáo Lịch Do Thái == Chú thích == == Đọc thêm == Boyarin, Daniel 1994 A Radical Jew: Paul and the Politics of Identity Berkeley: University of California Press Ancient Judaism, Max Weber, Free Press, 1967, ISBN 0-02-934130-2 Living Judaism: The Complete Guide to Jewish Belief, Tradition and Practice Wayne Dosick. Conservative Judaism: The New Century, Neil Gillman, Behrman House. American Jewish Orthodoxy in Historical Perspective Jeffrey S. Gurock, 1996, Ktav. Philosophies of Judaism Julius Guttmann, trans. By David Silverman, JPS. 1964 Back to the Sources: Reading the Classic Jewish Texts Ed. Barry W. Holtz, Summit Books A History of the Jews Paul Johnson, HarperCollins, 1988 A People Divided: Judaism in Contemporary America, Jack Wertheimer. Brandeis Univ. Press, 1997. Encyclopaedia Judaica, Keter Publishing, CD-ROM edition, 1997 The American Jewish Identity Survey, article by Egon Mayer, Barry Kosmin and Ariela Keysar; a sub-set of The American Religious Identity Survey, City University of New York Graduate Center. An article on this survey is printed in The New York Jewish Week, 2 tháng 11 năm 2001. Lewis, Bernard (1984). The Jews of Islam. Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-00807-8 Lewis, Bernard (1999). Semites and Anti-Semites: An Inquiry into Conflict and Prejudice. W. W. Norton & Co. ISBN 0-393-31839-7 Stillman, Norman (1979). The Jews of Arab Lands: A History and Source Book. Philadelphia: Jewish Publication Society of America. ISBN 0-8276-0198-0 Day, John. Yahweh and the Gods and Goddesses of Canaan. Chippenham: Sheffield Academic Press, 2000. Dever, William G. Did God Have a Wife?. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 2005. Walsh, J.P.M. The Mighty From Their Thrones. Eugene: Wipf and Stock Publishers, 1987. Finkelstein, Israel (1996). Ethinicity and Origin of the Iron I Settlers in the Highlands of Canaan: Can the Real Israel Please Stand Up? The Biblical Archaeologist, 59(4). == Liên kết ngoài == Judaism 101, an extensive FAQ written by a librarian. Judaism article from the 1901-1906 Jewish Encyclopedia Shamash's Judaism resource page Orthodox Judaism - The Orthodox Union: Official website Chabad-Lubavitch: Official website The Various Types of Orthodox Judaism Aish HaTorah Ohr Somayach Union for Traditional Judaism The United Synagogue of Conservative Judaism: Official website Masorti (Conservative) Movement in Israel United Synagogue Youth The Union for Reform Judaism (USA) Reform Judaism (UK): Official website Liberal Judaism (UK): Official website World Union for Progressive Judaism (Israel): Official website Jewish Reconstructionist Federation: Official website Society for Humanistic Judaism: Official website World Movement for Karaite Judaism Complete Tanakh (in Hebrew, with vowels). English Tanakh from the 1917 Jewish Publication Society version. The Judaica Press Complete Tanach with Rashi in English Torah.org. (also known as Project Genesis) Contains Torah commentaries and studies of Tanakh, along with Jewish ethics, philosophy, holidays and other classes. The complete formatted Talmud online. Audio files of lectures for each page from an Orthodox viewpoint are provided in French, English, Yiddish and Hebrew. Reload the page for an image of a page of the Talmud. See also Torah database for links to more judaism e-texts. Text study projects at Wikisource. In many instances, the Hebrew versions of these projects are more fully developed than the English. Mikraot Gedolot (Rabbinic Bible) in Hebrew (sample) và English (sample). Cantillation at the "Vayavinu Bamikra" Project in Hebrew (lists nearly 200 recordings) and English. Mishnah in Hebrew (sample) và English (sample). Shulchan Aruch in Hebrew và English (Hebrew text with English translation).
sân khấu kịch idecaf.txt
Sân khấu kịch Idecaf (tên giao dịch: Công ty trách nhiệm hữu hạn Sân khấu và Nghệ thuật Thái Dương) là một đơn vị chuyên tổ chức các chương trình nghệ thuật dành cho thiếu nhi và những vở kịch thuộc nhiều thể loại khác nhau. Sân khấu có trụ sở chính tại số 28 Lê Thánh Tôn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và một cơ sở phụ nằm ở số 7 đường Trần Cao Vân. == Diễn viên == Quóc == Các vở kịch dành cho thiếu nhi == == Các vở hài kịch == == Chú thích ==
chủ nghĩa tam dân.txt
Chủ nghĩa Tam dân hay Tam dân Chủ nghĩa (chữ Hán phồn thể: 三民主義, chữ Hán giản thể: 三民主义) là một cương lĩnh chính trị do Tôn Dật Tiên đề xuất, với tinh thần biến Trung Quốc thành một quốc gia tự do, phồn vinh và hùng mạnh. Việc kế thừa và hiện thực ngày nay thể hiện rõ nhất trong tổ chức chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Triết lý này cũng xuất hiện trong dòng đầu tiên của Quốc ca Trung Hoa Dân Quốc. Cương lĩnh (hay học thuyết) chính trị này bao gồm: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc. == Chi tiết của chủ nghĩa == Dân tộc độc lập: Phản đối chủ nghĩa đế quốc và quân phiệt cấu kết xâm lược, mưu cầu bình đẳng dân tộc và quyền tự quyết dân tộc. Dân quyền tự do: Thi hành chính sách dân chủ, ngăn cản sự lạm dụng chế độ hiện hành của Âu-Mỹ, nhân dân có quyền bầu cử, kêu gọi bầu cử, sáng tạo, trưng cầu dân ý để thông qua đó chọn ra các cơ quan lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Dân sinh hạnh phúc: Quyền về đất đai của mỗi người dân và kiểm soát vốn, tư nhân không thể thao túng sinh kế quốc dân. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Toàn văn Chủ nghĩa Tam dân của Tiến sĩ Tôn Dật Tiên (chữ Hán phồn thể)
cái chết đen.txt
Cái chết Đen là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ 14 mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1348 đến năm 1350. Cái chết đen được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, ước tính nạn dịch này đã giết chết từ 30 tới 60% dân số của châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ khoảng 450 triệu người xuống còn từ 350 đến 375 triệu người vào năm 1400. Quan điểm truyền thống cho rằng nguyên nhân của đại dịch này là sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis tuy nhiên cho đến thời gian gần đây đã có những ý kiến nghi ngờ quan điểm này. Địa điểm bùng phát của Cái chết đen thường được cho là ở Trung Á sau đó căn bệnh này nhiều khả năng thông qua loài chuột trên các tàu buôn mà lan đến bán đảo Krym vào năm 1346 rồi xâm nhập vào vùng Địa Trung Hải và châu Âu. Sự tàn phá khủng khiếp của Cái chết đen đã dẫn đến nhiều thay đổi lớn trong xã hội châu Âu như việc ra đời của nhiều tôn giáo mới hay sự chuyển đổi về cơ bản của kinh tế và xã hội châu Âu, tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình lịch sử của châu lục này. Ước tính châu Âu đã phải mất tới 150 năm để phục hồi dân số như trước thời gian đại dịch, sau này dịch hạch còn nhiều lần bùng phát trở lại tại đây và nó chỉ biến mất vào thế kỷ 19. == Tổng quan == Cái chết đen được chia làm ba nhóm: Dịch hạch thể bạch huyết, dịch hạch thể phổi và dịch hạch thể nhiễm trùng huyết (gây tỉ lệ tử vong cao nhất). Vào đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học thống nhất rằng Cái chết đen có nguyên nhân là sự bùng phát của căn bệnh gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis và lây lan thông qua loài bọ chét sống trên chuột đen (Rattus rattus). Một khi đã bị nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân được ước tính là chỉ có thể sống sót trong vòng từ 60 đến 180 ngày. Tuy nhiên thời gian gần đây quan điểm truyền thống về Cái chết đen đã bị nhiều học giả đặt câu hỏi nghi ngờ, một số người dựa vào những ghi chép dịch tễ học trong các tài liệu sử học đương thời đã cho rằng đây thực chất là bệnh sốt xuất huyết. Về nguồn gốc của đại dịch, một số nhà sử học cho rằng Cái chết đen bắt nguồn từ Trung Quốc hoặc Trung Á (ví dụ vùng hồ Issyk Kul) cụ thể là từ phổi loài macmột bobac rồi truyền tới chuột thông qua bọ chét và cuối cùng tới con người. Trong khoảng cuối thập niên 1320 hoặc thập niên 1330, các thương gia và binh lính đã mang căn bệnh này tới bán đảo Krym ở Đông Nam Âu theo con đường tơ lụa. Một số nhà khoa học lại đưa ra giả thuyết rằng đại dịch bùng nổ ở chính khu vực này. Trong cả hai trường hợp thì dịch hạch đều đã từ Krym lan đi khắp Bắc Âu, Tây Âu và Bắc Phi trong thập niên 1340. Tổng cộng đã có khoảng 75 triệu người chết vì đại dịch, trong đó khoảng từ 25 đến 50 triệu là dân số châu Âu. Như vậy Cái chết đen là thủ phạm gây ra cái chết của khoảng 30 đến 60% dân số châu lục này. Rất có thể đại dịch này đã làm dân số thế giới tụt từ khoảng 450 triệu xuống còn từ 350 đến 375 triệu người vào năm 1400. Người ta cho rằng cứ sau vài thế hệ dân số thì dịch hạch lại quay trở lại với mức độ hủy diệt khác nhau cho tới tận thế kỷ 17. Tổng cộng trong giai đoạn này đã có trên 100 đại dịch dịch hạch quét qua châu Âu, ví dụ đại dịch năm 1603 đã cướp đi 38.000 mạng người chỉ tính riêng ở Luân Đôn, Anh. Các đại dịch đáng chú ý khác có thể kể tới Đại dịch dịch hạch ở Ý, 1629-1631, Đại dịch dịch hạch ở Sevilla (1647–1652) hay Đại dịch dịch hạch ở Luân Đôn (1665–1666) và Đại dịch địch hạch ở Viên (1679). Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về căn bệnh thực sự gây ra đại dịch nhưng nhìn chung đại dịch dịch hạch dần biến mất khỏi châu Âu vào thế kỷ 19 với các lần đại dịch cuối cùng là Đại dịch dịch hạch ở Marseille (1720–1722, Đại dịch dịch hạch 1738 và Đại dịch dịch hạch ở Nga (1770-1772). Cái chết đen vào thế kỷ 14 đã làm thay đổi về cơ bản cấu trúc xã hội châu Âu, một số giả thuyết cho rằng nó chính là một cú đấm mạnh vào Nhà thờ Công giáo đồng thời gây ra làn sóng khủng bố các nhóm dân thiểu số ở châu Âu như người Do Thái, người nước ngoài, người ăn xin và người bị bệnh phong. Nỗi lo sợ trước căn bệnh chết người có thể đến bất cứ lúc nào đã dẫn tới sự hình thành của trào lưu "sống gấp" trong những người sống sót mà Giovanni Boccaccio đã miêu tả rất thành công với tác phẩm Prencipe Galeotto (1353). == Lịch sử lây lan == Dịch hạch, căn bệnh được cho là do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra, là một dịch bệnh động vật (còn tồn tại cho đến ngày nay) phổ biến cục bộ trong bộ gặm nhấm sống trên mặt đất, đặc biệt là trong loài macmột bobac ở Trung Á, tuy vậy người ta vẫn chưa xác định được rõ ràng địa điểm bùng phát của nạn dịch. Mặc dù thuyết phổ biến đặt địa điểm phát dịch ở vùng thảo nguyên Trung Á nhưng một số học giả lại cho rằng nó bắt nguồn từ miền Bắc Ấn Độ và một số khác, ví dụ nhà sử học Michael W. Dols, lại dựa vào bằng chứng lịch sử liên quan đến đại dịch đã khẳng định rằng Cái chết đen bắt nguồn từ châu Phi, sau đó mới lan sang Trung Á và gây ra dịch trong quần thể gặm nhấm. Dù thế nào thì chính từ Trung Á, dịch hạch đã được truyền sang phía Đông và phía Tây thông qua các giao dịch trên con đường tơ lụa và các chiến dịch quân sự của quân đội Mông Cổ. Ghi chép đầu tiên về sự xuất hiện của căn bệnh này ở châu Âu là vào năm 1347 tại thành phố Caffa trên bán đảo Krym. Trong cuộc vây hãm kéo dài tại đây, quân đội Mông Cổ do Jani Beg chỉ huy đã mắc dịch hạch và họ quyết định dùng máy bắn đá ném các xác chết nhiễm bệnh vào thành phố để gây bệnh cho dân trong thành. Các nhà buôn Genova ở đây sau khi thoát ra đã mang theo luôn căn bệnh về đảo Sicila và khu vực Nam Âu, nơi dịch hạch bắt đầu thực sự lây lan thành đại dịch. Tạm gác một bên độ chính xác của giả thiết này thì cũng phải thừa nhận rằng các điều kiện có sẵn như chiến tranh, nạn đói và thời tiết đã khiến đại dịch dịch hạch càng trở nên khủng khiếp. Tại Trung Quốc, cuộc tấn công nhà Tống của quân đội Mông Cổ đã làm gián đoạn nền nông nghiệp và thương nghiệp ở khu vực này, dẫn tới nạn đói lan rộng và làm dân số giảm từ khoảng 120 triệu xuống còn chừng 60 triệu người. Ước tính nạn dịch hạch thế kỷ 14 đã cướp đi mạng sống của ít nhất một phần ba dân số Trung Quốc. Tại châu Âu, Thời kỳ ấm Trung cổ kết thúc vào khoảng cuối thế kỷ 13 đã kéo theo một giai đoạn lạnh giá được coi là "giai đoạn tiểu Băng hà" với những mùa đông kéo dài ảnh hưởng tới mùa màng. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới Nạn đói lớn 1315-1317 ở Tây Bắc Âu, một lý do khác được coi là tác nhân của nạn đói này là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ 13, dân số tăng nhanh khiến cho vào đầu thế kỷ 14 nền nông nghiệp ở đây đã không còn đáp ứng được đủ nhu cầu lương thực của dân số. Khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất của sự thiếu hụt lương thực là vùng Bắc Âu, nơi đất đai kém màu mỡ hơn nhiều vùng bồn địa Địa Trung Hải. Hầu như tất cả các loại lương thực chính đều không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, kéo theo đó là tình trạng suy dinh dưỡng và giảm sức đề kháng, điều kiện lý tưởng để bệnh dịch lây lan. Nạn đói còn gây ra sự thiếu hụt về nguồn lực lao động khiến kinh tế các nước châu Âu lại càng suy giảm, cộng thêm vào đó là việc lãnh đạo phong kiến châu Âu như Edward III của Anh (khoảng 1327–1377) và Philippe VI của Pháp (khoảng 1328–1350), do sợ hãi rằng nguồn thu nhập của họ sẽ bị sút giảm, đã tăng mức tiền phạt và tiền thuê đất đối với tầng lớp thuê mướn. Hậu quả tất yếu là mức sống của người dân châu Âu ngày càng sút giảm trong khi các vấn đề về sức khỏe ngày càng gia tăng. Mùa thu năm 1314, mưa lớn liên tục khiến mùa đông trong vài năm liền ở châu Âu trở nên lạnh lẽo và ẩm ướt. Nền nông nghiệp vốn đã yếu kém ở đây nay lại càng suy sụp, nạn đói xảy ra và kéo dài tới bảy năm đã giết chết chừng 10% dân số châu Âu, đây được coi là nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử châu lục này. Nghiên cứu thu được từ việc xác định tuổi bằng vòng cây đã cho thấy một giai đoạn đình trệ của việc xây dựng cũng như thời tiết xấu ở thời điểm này. Trong hoàn cảnh châu Âu suy sụp nặng nề cả về kinh tế và xã hội ấy, một đợt dịch sốt thương hàn đã xảy ra như điềm báo trước cho đại dịch sắp tới, hàng nghìn người đã chết vì thương hàn tại các khu đô thi đông đúc, đặc biệt là ở Ypres. Năm 1318 tới lượt một đợt dịch không rõ nguồn gốc bùng nổ, đôi khi được cho là bệnh than, đã tấn công các đàn gia súc châu Âu như cừu, bò, khiến cho sản lượng lương thực càng sụt giảm. == Hậu quả == Con số người thiệt mạng do đại dịch Cái chết đen thay đổi liên tục theo kết quả các cuộc nghiên cứu. Ước tính có chừng 75 đến 200 triệu người là nạn nhân của đại dịch này trong thế kỷ 14. Theo chuyên gia về lịch sử Trung Cổ Philip Daileader thì kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy chừng 45 tới 50% dân số châu Âu chết trong vòng chỉ bốn năm, các quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải như miền Nam nước Pháp, Tây Ban Nha, tỷ lệ dân số tử vong có lẽ lên tới 75 đến 80% trong khi ở các nước phía Bắc như Đức hay Anh, con số này dừng lại ở chừng 20%.. Tại khu vực Trung Đông gồm Iraq, Iran và Syria, số người chết trong Giai đoạn trung kỳ Hồi giáo là vào khoảng một phần ba dân số. Ước chừng 40% dân số Ai Cập đã chết trong lần đại dịch này. Tại rất nhiều thành phố đông dân, tỷ lệ thiệt mạng đã vượt quá 50% dân số. Khoảng một nửa dân số Paris, tức 100.000 người, đã thiệt mạng vì Cái chết đen, đại dịch cũng khiến dân số thành phố Firenze ở Ý giảm từ chừng 120.000 người xuống còn 50.000 người vào năm 1338, ít nhất 60% dân số các thành phố Hamburg và Bremen đã thiệt mạng. So với khu vực thành phố thì người dân sống ở những vùng hẻo lánh lại chịu thiệt hại ít hơn, các tu viện và giới tăng lữ lại chịu thiệt hại đặc biệt nặng nề vì họ thường là người đứng ra chăm sóc các bệnh nhân của Cái chết đen. Đứng trước thảm họa này, chính phủ các nước châu Âu đã không đưa ra nổi một biện pháp đối phó nào vì họ không thể hiểu nổi nguyên nhân hoặc tìm ra cách thức lây lan của đại dịch. Năm 1348 Cái chết đen lây lan nhanh tới mức giới cầm quyền và các bác sĩ không còn đủ thời gian để tìm hiểu bản chất của đại dịch. Họ thậm chí đã quay sang giả thiết rằng đại dịch này do các thế lực siêu nhiên, động đất hoặc việc người Do Thái đầu độc nguồn nước. Kết quả là cộng động người Do Thái ở châu Âu đã phải hứng chịu nhiều cuộc tấn công, ví dụ tháng 8 năm 1349 cộng đồng người Do Thái ở Mainz và Köln đã bị tiêu diệt, tháng 2 cùng năm đó, người Công giáo đã giết 2.000 người Do Thái ở Strasbourg, tổng cộng cho tới năm 1351 đã có 60 cộng đồng lớn và 150 cộng đồng nhỏ của người Do Thái bị phá hủy. Tình trạng kinh tế và xã hội của châu Âu tan hoang trong đại dịch lại còn chịu ảnh hưởng từ chính sách cấm vận và thù địch lẫn nhau của các vương triều châu lục. Ví dụ người Anh không thể mua hạt giống từ Pháp do cấm vận, và nếu có mua được thì các con tàu buôn cũng thường bị cướp biển tấn công hoặc bị trộm cắp để đưa ra thị trường chợ đen. Năm 1337 ngay trước khi Cái chết đen bùng nổ, Anh và Pháp đã lao vào cuộc chiến sau này được biết đến với cái tên Chiến tranh Trăm năm. Tất cả đã khiến châu Âu vào giữa thế kỷ 14 thực sự rơi vào thảm kịch cả về kinh tế và xã hội. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cái chết đen trên BBC
utc+07
máy bay phản lực.txt
Máy bay phản lực là loại máy bay di chuyển được nhờ các động cơ phản lực. Khác với máy bay được đẩy bằng cánh quạt, máy bay phản lực thường bay ở độ cao lớn, từ 10.000 đến 15.000 m. Ở dộ cao này, các động cơ phản lực có thể đạt được hiệu quả lớn nhất để bay được một khoảng cách xa. Các động cơ cánh quạt đạt hiệu quả lớn nhất ở độ cao nhỏ hơn nhiều so với động cơ phản lực. == Lịch sử == Loại máy bay đầu tiên dựa trên nguyên lý của động cơ phản lực là Coanda-1910, được lái bởi chính người phát minh ra nó Henri Coandă vào năm 1910. Động cơ của máy bay này khác với động cơ phản lực hiện đại, nó sử dụng một động cơ pít tông. Thật không may nó đã đâm xuống ngay trong lần trình diễn đầu tiên, tuy nhiên nó vẫn còn nguyên vẹn. Loại máy bay phản lực đầu tiên thực sự trang bị động cơ tuabin là Heinkel He 178 (Đức), được phát triển từ năm 1936 bởi Hans von Ohain cho quân đội và được lái bởi Erich Warsitz vào 27 tháng 8 tháng năm 1939. Cùng với Frank Whittle, von Ohain được xem là cha đẻ của Động cơ phản lực không khí. Người Anh đã bay trên máy bay Gloster E.28/39 của họ, loại được đẩy bằng động cơ của Sir Frank Whittle vào 15 tháng 5 năm 1941, do phi công Gerry Sayer điều khiển. Hoa Kỳ đã học người Anh chế tạo ra loại Bell XP-59 một dạng có động cơ Whittle được bay vào 12 tháng 9 năm 1942. Máy bay chiến đấu phản lực đầu tiên đi vào hoạt động là Messerschmitt Me 262 do Fritz Wendel lái. Nó là loại máy bay thường nhanh nhất của Chiến tranh Thế giới lần 2 - chỉ có loại máy bay Messerschmitt Me 163 đẩy bằng động cơ rốc két là nhanh hơn. Một số lượng lớn đã bắt đầu được sản xuất vào năm 1944. Cùng thời gian đó Gloster Meteor đã chế tạo ra đội máy bay chiến đấu phản lực. == Xem thêm == Máy bay Danh sách máy bay Máy bay trực thăng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Aircraft-Info.net - Jet Aircraft Aircraft Speed Records
phú quốc.txt
Phú Quốc, còn được mệnh danh là Đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, cũng là đảo lớn nhất trong quần thể 22 đảo tại đây, nằm trong vịnh Thái Lan. Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Toàn bộ huyện đảo có tổng diện tích 589,23 km² (theo thống kê số liệu đất năm 2005), xấp xỉ diện tích đảo quốc Singapore thập niên 1960 khi chưa san lấp lấn biển. Thị trấn Dương Đông, tọa lạc ở phía tây bắc, là thủ phủ của huyện đảo. Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120 km và cách thị xã Hà Tiên 45 km. Năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang bao gồm cả huyện này được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đến thời điểm tháng 7 năm 2011, có 74 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư tại Phú Quốc, với tổng vốn đầu tư là 48.087 tỷ đồng. == Địa lý == Đảo Phú Quốc nằm trong vịnh Thái Lan, phía tây nam của Việt Nam, Phú Quốc trải dài từ vĩ độ: 9°53′đến 10°28′độ vĩ bắc và kinh độ: 103°49′đến 104°05′độ kinh đông. === Địa hình === Vùng biển Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất có diện tích 567 km² (56.700 ha), dài 49 km. Địa hình thiên nhiên thoai thoải chạy từ bắc xuống nam với 99 ngọn núi đồi. Tuy nhiên, cụm đảo nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía nam của đảo Phú Quốc bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60 m. === Địa chất === Đảo Phú Quốc dược cấu tạo từ các đá trầm tích Mesozoi và Kainozoi, bao gồm cuội kết đa nguồn gốc phân lớp dày, sỏi thạch anh, silica, đá vôi, riolit và felsit. Các đá Mesozoi thuộc hệ tầng Phú Quốc (K pq). Trầm tích Kainozoi thuộc các hệ tầng Long Toàn (Pleistocen giữa - trên), hệ tầng Long Mỹ (Pleistocene trên), hệ tầng Hậu Giang (Holocene dưới – giữa), các trầm tích Holocen trên và các trầm tích Đệ tứ không phân chia (Q) === Khí hậu - Thủy văn === Thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt. Mùa khô: Đảo Phú Quốc chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ cao nhất 35 độ C vào tháng 4 và tháng 5. Mùa mưa: Đảo Phú Quốc là cửa ngõ đón gió mùa Tây - Tây Nam, độ ẩm cao từ 85 đến 90%. == Lịch sử == Năm 1671, một người Hoa tên Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, phái đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác. Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (hay Mang Khảm, Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kampong Som), Sài Mạt (Cheal Meas hay Banteay Meas), Linh Quỳnh (Kiri Vong) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (tức Hà Tiên), sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có). Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu. Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh. Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Chú nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi tên thành Hà Tiên trấn. Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bắc Bạc Liêu). Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Tân An, Long An) và Lôi Lập (Gò Công) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kampong Som), Cần Bột (Kampot), Châu Sum (Chân Sum có thể là Trực Sâm, Chưng Rừm (Chhuk nay thuộc tỉnh Kampot, Chân Sum cũng có thể là phủ Chân Sum (còn gọi là Chân Chiêm) nằm giữa Châu Đốc và Giang Thành, nay là vùng Bảy Núi An Giang (nơi có núi Chân Sum).), Sài Mạt (Cheal Meas hay Banteay Meas) và Linh Quỳnh (Kiri Vong). Năm phủ này là vùng duyên hải (ven bờ Vịnh Thái Lan) từ Srae Ambel tỉnh Koh Kong (tức Cổ Công, giáp với vùng người Thái (Xiêm La) kiểm soát) cho đến Mang Khảm (Peam), bờ đất liền đối diện phía Đông Bắc đảo Phú Quốc, đã được Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị. Thời Pháp thuộc, Pháp đặt Phú Quốc làm đại lý hành chính, thuộc hạt thanh tra Kiên Giang, rồi Rạch Giá. Ngày 01 tháng 08 năm 1867, Phú Quốc thuộc hạt Hà Tiên. Ngày 25 tháng 05năm 1874, Pháp thành lập hạt Phú Quốc, bao gồm các đảo nằm trong khu vực 100 - 1020 kinh Đông và 9 - 110 30' vĩ Bắc. Đồng thời, Pháp còn mở cảng Dương Đông cho tàu thuyền các nước vào buôn bán. Ngày 16 tháng 06 năm 1875, giải thể hạt Phú Quốc, tái lập tổng thuộc hạt Hà Tiên, gồm 5 thôn: Lạc Hiệp, An Thới, Dương Đông, Hàm Ninh, Phú Dữ. Từ ngày 05 tháng 01 năm 1876, các thôn gọi là làng, thuộc hạt Hà Tiên. Ngày 18 tháng 05 năm 1878, đổi tên làng Lạc Hiệp thành làng Lạc Phú. Từ ngày 12 tháng 01 năm 1888, tổng Phú Quốc thuộc hạt tham biện Châu Đốc. Từ ngày 27 tháng 12 năm 1892, lại thuộc hạt Hà Tiên. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, thuộc tỉnh Hà Tiên. Ngày 04 tháng 10 năm 1912, nhập hai làng An Thới và Lạc Phú vào làng Dương Đông. Từ ngày 09 tháng 02 năm 1913, tổng Phú Quốc đổi thành đại lý Phú Quốc, thuộc tỉnh Châu Đốc. Ngày 25 tháng 04 năm 1924, đặt làm quận Phú Quốc, thuộc tỉnh Hà Tiên. Sau năm 1956, quận Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, các làng gọi là xã, giải thể xã Phú Dữ, còn hai xã Dương Đông và Hàm Ninh, dân số năm 1965 là 12.449 người. Năm 1949, khi quân Trung Hoa Dân quốc thua trận trước Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Hoàng Kiệt (黃杰 Huang Chieh) một tướng lĩnh Quốc dân đảng, gốc tỉnh Hồ Nam, dẫn hơn 30.000 quân chạy sang Việt Nam lánh nạn. Lúc bấy giờ, thực dân Pháp cho họ ra đóng quân tại phía Nam đảo Phú Quốc. Sau đó, năm 1953, họ về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch. Đội quân Trung Hoa này bỏ lại nhà cửa, đồn điền,... Pháp thấy vậy tận dụng nhà cửa có sẵn, lập ra nhà tù rộng khoảng 40 hecta gọi là "Trại Cây Dừa", có sức giam giữ 14.000 tù nhân. Thời kì Việt Nam Cộng hòa, Phú Quốc là một duyên khu của hải quân. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, Phú Quốc là huyện của tỉnh Kiên Giang, gồm thị trấn Dương Đông và 3 xã: Cửa Dương, Dương Tơ, Hàm Ninh. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc. Ngày 10 tháng 5 năm 1975, Khmer Đỏ dùng tàu đổ bộ LSM và 3 tàu tuần tra PCF đưa quân đánh chiếm đảo Thổ Chu, dồn hơn 500 người dân Việt Nam trên đảo đưa về Campuchia và tàn sát toàn bộ. Ngày 27 tháng 5 năm 1975, hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng đảo Thổ Chu. Ngày 17 tháng 02 năm 1978, lập xã Cửa Cạn, xã An Thới, đổi tên xã Hàm Ninh thành xã Bãi Bổn. Ngày 24 tháng 04 năm 1993, lập xã Thổ Châu, xã Bãi Thơm, đổi xã Bãi Bổn thành xã Hàm Ninh. Ngày 18 tháng 03 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 23 - CP, thành lập xã Gành Dầu trên cơ sở 8.701 ha diện tích tự nhiên và 2.134 nhân khẩu của xã Cửa Cạn. Xã Cửa Cạn sau khi điều chỉnh địa giới hành chính có 5.986 ha diện tích tự nhiên và 1.149 nhân khẩu. Ngày 11 tháng 02 năm 2003, Chính phủ Việt Nam lại ban hành Nghị định 10/2003/NĐ - CP, thành lập thị trấn An Thới trên cơ sở 2.691 ha diện tích tự nhiên và 15.573 nhân khẩu của xã An Thới; thành lập xã Hòn Thơm trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số còn lại của xã An Thới. Xã Hòn Thơm có 571 ha diện tích tự nhiên và 2.076 nhân khẩu. Như vậy, huyện Phú Quốc có 2 thị trấn và 8 xã như ngày nay. Ngày 17 tháng 9 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1676/QĐ-TTg công nhận huyện đảo Phú Quốc là đô thị loại II. == Các đơn vị hành chính trực thuộc == Phú Quốc được chia thành 10 đơn vị hành chính bao gồm: 2 thị trấn: Thị trấn Dương Đông (huyện lị) Thị trấn An Thới 8 xã: Xã Bãi Thơm Xã Cửa Cạn Xã Cửa Dương Xã Dương Tơ Xã Gành Dầu Xã Hàm Ninh Xã Hòn Thơm Xã Thổ Châu == Dân cư == Trước năm 1975 dân số trên đảo chỉ hơn 5000 người. Sau năm 1975, dân số trên đảo tăng lên nhanh chóng do hiện tượng di dân. Đến năm 2015, theo thống kê của tỉnh Kiên Giang dân cư sinh sống trên đảo đã lên đến trên 101.407 người, với mật độ trung bình là 172 người/km2. Các khu dân cư chính: Thị trấn Dương Đông Thị trấn An Thới Làng chài Hàm Ninh Làng chài Cửa Cạn Xã đảo Hòn Thơm == Kinh tế == === Tài nguyên - khoáng sản === === Hồ tiêu Phú Quốc === Hồ tiêu Phú Quốc là một loại gia vị được coi là đặc sản của huyện đảo Phú Quốc thuộc Tỉnh Kiên Giang, Việt Nam. ==== Đặc tính ==== Hồ tiêu Phú Quốc có vị thơm và cay nồng, và đặc biệt là đậm vị hơn nhiều loại hồ tiêu đến từ những vùng miền khác, trong đó phải kể đến tiêu đỏ (tiêu chín). Tiêu được người dân Phú Quốc thu hoạch từng đợt chín và chủ yếu là bằng thủ công, chọn lựa những quả chín phơi riêng gọi là tiêu chín (tiêu đỏ), những quả còn xanh sau khi phơi khô được gọi là tiêu cội (tiêu đen). Do nhu cầu của thị trường, người dân đã dùng tiêu đen tẩy bỏ vỏ chỉ còn lại phần lõi hạt gọi là tiêu sọ. trong các loại tiêu thì tiêu sọ là ngon nhất và đắt tiền nhất. Một đặc tính canh tác nữa là hàng năm người trồng tiêu thường lấy những vùng đất mới xung quanh vườn bón xung quanh gốc cây (còn gọi là "đất xây thầu"). Cây nọc (choái) chủ yếu là lấy từ lõi của các loại cây quý như ổi rừng, kiềng kiềng, trai, chay, săn đá,... Phân bón chủ yếu là phân bò, phân cá, xác mắm (phần xác cá cơm bị loại bỏ sau khi hoàn tất quy trình sản xuất nước mắm). Hom giống chủ yếu trồng từ hom thân nên giá thành rất cao. Trung bình để trồng xong một héc-ta từ 300 - 400 triệu/héc-ta nên ít có nông dân đủ tiền trồng một lần đủ diện tích lớn mà phải trồng từ từ nhiều năm, nên một vườn tiêu ở Phú Quốc thường là có nhiều tuổi khác nhau. ==== Phân bố ==== Cây Hồ tiêu được trồng ở Phú Quốc hàng trăm năm. Với diện tích trung bình là 471 héc-ta tập trung ở 3 xã Cửa Dương, Cửa Cạn và Dương Tơ. Thời điểm diện tích lớn nhất là vào những năm 1995-2000 là hơn 1000 ha. Đây là thời điểm giá tiêu cao nhất (100 - 120.000 đồng/kg tương đương 30 – 40 kg gạo) người trồng tiêu có lời từ 200 - 300 triệu/ha (thời điểm năm 1995 - 2000) . ==== Giống và năng suất ==== Giống trồng chủ yếu là 2 giống Hà Tiên và Phú Quốc (HT lá lớn và HT lá nhỏ). Hai nhóm giống này có thời gian thu hoạch gần tương đương nhau từ tháng 11 âm lịch kéo dài hết tháng 2 âm lịch. Giống Hà Tiên có năng suất cao hơn nhóm Phú Quốc nhưng tuổi thọ và kháng sâu bệnh kém hơn. Năng suất tiêu ở Phú Quốc trung bình là 2000 – 3000 kg/ha, mật độ trồng từ 2500 - 3000 nọc/ha. === Chó Phú Quốc === Khi kể về những điều đặc biệt ở Phú Quốc, không thể không kể về giống chó Phú Quốc. Đây là loài chó có đặc điểm rất riêng biệt so với các loài chó khác ở Việt Nam. Chó Phú Quốc luôn có một bờm lông dựng đứng và xoáy trên lưng, có bốn chân dài, dáng người thon, và rất khỏe mạnh. Về đặc tính, chúng là loại chó rất thông minh và có khả năng tự lập rất cho dù có sống chung với con người. Loài chó này có khả năng tự săn mồi rất tốt, có thể khả năng bơi lội giỏi, đặc biệt chúng có đặc điểm tự đào hang để trú ẩn, sinh sản nếu sống ở nơi có đất rộng. == Văn hóa - tôn giáo == Ở đảo Phú Quốc, vào ngày rằm tháng 7 âm lịch người dân thường đi chùa tại thị trấn Dương Đông. Vào ngày này sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá nhộn nhịp. Cũng như những nơi khác ở Việt Nam, Phật giáo là tôn giáo có nhiều tín đồ và có ảnh hưởng nhất ở Phú Quốc với những ngôi chùa có hàng trăm năm tuổi như chùa Sùng Hưng, Sùng Đức, Sư Muôn (còn gọi là chùa Hùng Long)... Phú Quốc được xem là nơi phát tích của đạo Cao Đài. Ngày nay trên đảo có hai Thánh thất Cao Đài ở thị trấn Dương Đông. Một là Thánh thất Dương Đông thuộc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, hai là Thánh thất Cao Đài Hội Thánh thuộc phái Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi. Phú Quốc này trước đây có một số nhà nguyện, nhà thờ: Khoảng năm 1930, một số giáo dân miền bắc vào đảo này làm đồn điền cao su ở gần Bãi Khem. Hai linh mục người Malaysia là Albelza và Merdrignac đã cho xây một nhà nguyện tạm bằng lá để làm nơi cầu nguyện, lễ lạc. Việc trồng cao su thất bại nên một số lớn dân chúng vào đất liền chỉ còn lại ít dân nhà nguyện dần dần bị bỏ hoang. Năm 1955, một linh mục cho xây nhà thờ ở thị trấn Dương Đông. Sau năm 1975, nhà thờ này lại bỏ trống, hiện nay được nhà nước quản lý. Sau năm 1954, có khoảng 1.000 giáo dân quê quán ở Nghệ An ra đảo sinh sống, dưới sự dẫn dắt của linh mục Giuse Trần Đình Lữ. Nhà thờ An Thới được thành lập vào năm 1957 để phục vụ nhu cầu đời sống tôn giáo của các giáo dân. Những năm sau đó, nhiều linh mục và thầy giảng đã được Giám mục Giáo phận Long Xuyên sai đến để phục vụ. Hiện tại, chính xứ là Linh mục Gioan Trần Văn Trông, với sự giúp đỡ của 2 phó xứ là Linh mục Hải Đăng và Vinh Sơn Nguyễn Văn Cảnh. Số giáo dân hiện tại khoảng 2.000 người. == Đặc sản ẩm thực == == Danh lam thắng cảnh - Du lịch == Phú Quốc được xác định là trung tâm du lịch sinh thái và trung tâm giao thương tầm cỡ khu vực và quốc tế. Tại đây có nhiều thắng cảnh đẹp như: 1/ Vườn quốc gia Phú Quốc 2/ Khu bảo tồn biển Phú Quốc Dinh Cậu 3/ An Thới 4/ Quần đảo An Thới 5/ Dương Đông Suối Đá Bàn Dinh Cậu 6/ Bãi Trường 7/ Rạch Tràm 8/ Rạch Vẹm 9/ Bắc Đảo Bãi Thơm Gành Dầu Bãi Dài 10/ Làng chài Hàm Ninh Bãi Vòng Suối Tranh 11/ Vinpearl Safari Phú Quốc (vườn thú bán hoang dã đầu tiên của Việt Nam) 12/ Công viên giải trí Vinpearl land. == Giao thông == Phương tiện đến Phú Quốc chủ yếu bằng máy bay, tàu cao tốc hay phà. Dưới đây là các lựa chọn để đến Phú Quốc tùy theo từng điểm xuất phát khác nhau: Rạch Giá – Phú Quốc: Khoảng cách 120 km, có thể đi bằng máy bay hay tàu cao tốc: - Máy bay: Vietnam Airlines khai thác mỗi ngày 1 chuyến bay từ Rạch Giá đi Phú Quốc khởi hành lúc 7H:30 và đến nơi lúc 8:10. Chuyến bay theo chiều ngược lại khởi hành từ Phú Quốc lúc 8H:45 và đến nơi lúc 9H:25. - Tàu cao tốc: Hãng tàu Superdong khai thác hành trình biển Rạch Giá – Phú Quốc và ngược lại, buổi sáng khởi hành lúc 8H:00 và buổi chiều khởi hành lúc 13H:00, thời gian di chuyển trên biển là 2,5 tiếng. Hà Tiên – Phú Quốc: Khoảng cách 45 km, có thể đi bằng tàu cao tốc hay phà - Tàu cao tốc: Tàu Superdong I và Superdong II khởi hành từ Hà Tiên đi Phú Quốc lúc 8h:00 và 13H:00; từ Phú Quốc đi Hà Tiên lúc 8H:30 và 13h:30 hàng ngày. Tàu cao tốc Hồng Tâm cũng khai thác hành trình biển này, khởi từ Hà Tiên đi Phú Quốc lúc 13H:30 và từ Phú Quốc đi Hà Tiên lúc 8H:30 hàng ngày. Thời gian di chuyển trên biển là 1 tiếng 20 phút. - Phà: Phà Thạnh Thới với sức chứa 396 hành khách, khởi hành từ Hà Tiên đi Phú Quốc lúc 8H:20 và từ Phú Quốc đi Hà Tiên lúc 13:45. Phà Thạnh Thới có khoang chở xe ô tô, rất tiện lợi cho du khách muốn mang xe ra đảo để tiện đi lại. Thời gian di chuyển trên biển là 2,5 tiếng. Hà Nội – Phú Quốc: Vietnam Airlines khai thác mỗi ngày 1 chuyến bay Airbus từ Hà Nội đi Phú Quốc khởi hành lúc 8H:40 và đến nơi lúc 10H:45. Chuyến bay theo chiều ngược lại khởi hành từ Phú Quốc lúc 11H:35 và đến nơi lúc 13H:40. TP.HCM – Phú Quốc: Khoảng cách 500 Km, có thể đi bằng máy bay hay kết hợp xe ô tô + tàu cao tốc Rạch Giá – Phú Quốc - Máy bay: Vietnam Airlines khai thác mỗi ngày 17 chuyến bay với máy bay ATR và 1 chuyến bay với máy bay Airbus. Viet Jet Air cùng khai thác mỗi ngày 1 chuyến bay với máy bay Air Bus. Thời gian bay là 50 phút. - Xe ô tô + tàu cao tốc Rạch Giá – Phú Quốc: Phương Trang, Kumho và Mai Linh là những hãng xe bus chất lượng cao chuyên chở hành khách tuyến TP.HCM – Rạch Giá và ngược lại, thời gian di chuyển là 6 đến 7 tiếng tùy vào mật độ giao thông Cần Thơ – Phú Quốc: Có thể đi bằng máy bay hay kết hợp xe ô tô + tàu cao tốc Rạch Giá – Phú Quốc - Máy bay: Vietnam Airlines khai thác mỗi ngày 1 chuyến bay với máy bay ATR khởi hành từ Cần Thơ đi Phú Quốc lúc 13H:00 và đến nơi lúc 13:45. Chuyến bay theo chiều ngược lại khởi hành từ Phú Quốc lúc 11H:35 và đến nơi lúc 12H:20. - Xe ô tô + tàu cao tốc Rạch Giá – Phú Quốc: Phương Trang và Mai Linh là 2 hãng xe bus chất lượng cao chuyên chở hành khách tuyến Cần Thơ – Rạch Giá và ngược lại, thời gian di chuyển là 3 đến 3,5 tiếng tùy vào mật độ giao thông. == Hình ảnh Phú Quốc == == Chú thích == == Liên kết ngoài == "Đôi nét về đảo Phú Quốc" trên trang web của tỉnh Kiên Giang, Trang chủ của tỉnh Kiên Giang Giới thiệu về Phú Quốc, The Telegraph Travel (tiếng Anh) Thông tin đảo Phú Quốc 2014-2015, Phu Quoc Island Guide (tiếng Anh)
wole soyinka.txt
Wole Soyinka (tên thật là Akinwande Oluwole Soyinka; sinh ngày 13 tháng 7 năm 1934) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch người Nigeria đoạt giải Nobel Văn học năm 1986. == Tiểu sử == Wole Soyinka sinh ở Abeokuta, Nigeria, là con thứ hai trong số sáu người con của một thanh tra giáo dục, lúc đó là thuộc địa của Anh. Ngay từ nhỏ, những phong tục, vũ điệu, truyền thuyết của bộ tộc đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí ông. Từ năm 1952, ông học văn học Anh, lịch sử, tiếng Hy Lạp tại trường Cao đẳng Ibadan, rồi tiếp tục học Anh văn tại Đại học Leeds. Năm 1958, Soyinka học sân khấu, làm diễn viên và viết kịch cho Nhà hát Hoàng gia London - các vở lớn đầu tiên là The Swamp Dwellers (Cư dân đầm lầy), The Lion and the Jewel (Sư tử và hạt ngọc). Năm 1960, ông được trao học bổng Rockefeller; sau đó ông quay trở về Nigeria học nghệ thuật kịch châu Phi và giảng dạy tiếng Anh tại các trường đại học Ibadan, Lagos và Ife; đồng thời viết kịch, làm đạo diễn, diễn viên. Từ năm 1960-1964, ông cùng một số người sáng lập tạp chí danh tiếng Black Orpheus (Thiên thần đen). Năm 1965, ông xuất bản tiểu thuyết đầu tay không có cốt truyện, nội dung là cuộc trò chuyện giữa năm trí thức trẻ Nigeria vừa tốt nghiệp đại học ở nước ngoài có mong muốn phục vụ đất nước nhưng lại bị cản trở bởi quan điểm và tệ tham nhũng. Những năm 1967-1969, ông phải ngồi tù vì viết một bài báo kêu gọi chấm dứt nội chiến ở Nigeria. Trong thời gian này, ông viết tập Poems from Prison (Thơ trong tù, 1969) - tái bản bổ sung năm 1972 với tên gọi A Shuttle in the Crypt (Một chuyến đi trong hầm nhà thờ) - và tiểu thuyết The Man Died: Prison Notes (Người đã chết, 1972). Năm 1973, ông nhận bằng tiến sĩ của Đại học Leeds và trở thành giáo sư văn học vào năm 1975. Năm 1986, Wole Soyinka là nhà văn châu Phi đầu tiên nhận giải Nobel vì có những đóng góp quan trọng cho nền sân khấu châu Phi. Ông đã dành tặng bài diễn từ đọc tại lễ trao giải Nobel của mình cho vị lãnh tụ Nam Phi luôn đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela. Năm 1993, chế độ độc tài quân sự lên nắm quyền, ông ra nước ngoài sinh sống. Trong tập truyện ký Open Sore of Continent: A Personal Narrative of the Nigeria Crisis (Vết thương mở của lục địa: chứng kiến riêng tư về cuộc khủng hoảng ở Nigeria) viết năm 1996, ông đã ghi lại quá trình giành độc lập của Nigeria từ năm 1960 đến năm 1993. Năm 1997, sau các bài viết nói về cuộc phục hưng đất nước Nigeria, ông đã bị buộc tội phản quốc. Tháng 6 năm 1998, khi chính phủ mới lên thay, ông được hủy bỏ tội danh này. Năm 1999, Wole Soyinka xuất bản The Burden of Memory, the Muse of Forgiveness (Gánh nặng của trí nhớ, nàng thơ của lòng khoan thứ), kể về những tội ác đối với người châu Phi và về sự khó khăn của việc hòa giải. Tập thơ về những năm tháng lưu vong của ông, Samarkand and Other Markets I Have Known (Samarkand và các thị trường khác mà tôi biết), được xuất bản năm 2002. Wole Soyinka là một trong những người xây dựng nền sân khấu dân tộc Nigeria độc lập và sáng lập đoàn kịch 1960 Masks (Mặt nạ 1960). Ông cũng là người không tán thành khuynh hướng négritude ("phận da đen", đề cao các giá trị văn hóa da đen) của nhóm Senghor. Trong các vở kịch của mình ông thường kết hợp rất khéo léo các chi tiết phương Tây với những yếu tố dân gian và tôn giáo. Ông biết tạo nên những đánh giá chính xác, phù hợp với tình trạng xã hội và quan niệm đạo đức của nhân vật, qua đó bày tỏ sự thất vọng của mình về sự lãnh đạo độc đoán và xã hội Nigeria nói chung. == Tác phẩm == The Swamp Dwellers (Cư dân đầm lầy, 1958), hài kịch The Lion and the Jewel (Sư tử và hạt ngọc, 1959), hài kịch The Invention (Phát minh, 1959), kịch The Trials of Brother Jero (Các vụ xét xử anh Jero, 1960), hài kịch A Dance of the Forests (Vũ khúc của rừng, 1960), kịch The Strong Breed (Giống nòi khỏe mạnh, 1963), kịch The Road (Con đường, 1965), kịch The Interpreters (Thông dịch viên, 1965), tiểu thuyết Kongi's harvest (Mùa gặt ở Kongi, 1967), kịch Idanre (1967), thơ Poems from Prison (Thơ trong tù, 1969), thơ Madmen and Specialist (Những người điên và các chuyên gia, 1970), tiểu thuyết A Shuttle in the Crypt (Một chuyến đi trong hầm nhà thờ, 1972), tên gọi khác của Poems from Prison The Man Died: Prison Notes (Người đã chết, 1972), nhật kí Season of Anomy (Mùa Anomy, 1973), tiểu thuyết Jero's Metamorphosis (Sự hóa thân của Jero, 1974), kịch Bacchae (1974), kịch Death anh the King's Horseman (Cái chết và kị sĩ của nhà vua, 1975), kịch Myth, Literature and the African World (Thần thoại, văn chương và thế giới châu Phi, 1976), phê bình văn học Opera Wonyosi (Vở opera Wonyosi, 1977) kịch Aké: The Years of Childhood (Aké: Những năm thơ ấu, 1981), tự truyện Isara: A Voyage around Essay (1989), tự truyện A Play of Giants (Trò chơi của những người khổng lồ, 1984), kịch Mandela's Earth and other poems (Trái Đất của Mandela và các bài thơ khác, 1988), thơ The Credo of Being and Nothingness (Tín điều của tồn tại và hư vô, 1991), tập tiểu luận From Zia, with Love (Từ Zia, với lòng yêu mến, 1992), kịch Open Sore of Continent: A Personal Narrative of the Nigeria Crisis (Vết thương mở của lục địa: một chứng kiến riêng tư về cuộc khủng hoảng ở Nigeria, 1996), tập truyện kí The Burden of Memory, the Muse of Forgiveness (Gánh nặng của trí nhớ, nàng thơ của lòng khoan thứ, 1999), thơ Samarkand and Other Markets I Have Known (Samarkand và các thị trường khác mà tôi biết, 2002), thơ == Một số bài thơ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == "Raven Black short film" adaptation of Wole Soyinka's famous poem, Telephone Conversation, 2014 "Biography: Wole Soyinka", Nobel Prize profile, 1986 "Wole Soyinka" Profile, Presidential Lectures, Stanford University Maya Jaggi, "Profile: Ousting monsters", The Guardian, ngày 2 tháng 11 năm 2002 Uchenna Izundu, "Inspiring Nigeria's political dawns", BBC, September 2007. Amy Goodman, "Legendary Nigerian Writer Wole Soyinka: Darfur Crisis 'A Blot on the Conscience of the World'", Democracy Now! ngày 18 tháng 4 năm 2006. Amy Goodman, "Legendary Nigerian Writer Wole Soyinka on Oil in the Niger Delta, the Effect of Iraq on Africa and His New Memoir", Democracy Now! 18/ngày 19 tháng 4 năm 2006. Dave Gilson, "Wole Soyinka: Running to Stand Still", Mother Jones, July/August 2006.
dallas.txt
Dallas (thường đọc như "Đa-lát") là thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Texas và lớn thứ 9 tại Hoa Kỳ. Diện tích của thành phố là 400 dặm vuông (1036 km²), là quận lỵ Quận Dallas. Theo thống kê năm 2005, dân số của thành phố Dallas là 1.213.825 người. Đây là trung tâm văn hóa, kinh tế của 12 quận thuộc Vùng đô thị Dallas, Fort Worth và Arlington có dân số 5,8 triệu – vùng đô thị lớn thứ năm của Hoa Kỳ. Dallas là một trong 11 Các thành phố đẳng cấp thế giới được Tổ chức Globalization and World Cities Study Group & Network xếp hạng. Dallas được thành lập năm 1841 và được chính thức công nhận là thành phố ngày 2 tháng 2 năm 1856. Thành phố được toàn thế giới biết đến như là trung tâm viễn thông, công nghệ máy tính, ngân hàng và vận tải dù thành phố không được nối trực tiếp với vận tải biển. Thành phố đã từng là trung tâm công nghiệp dầu khí và bông vải. Vị trí thành phố dọc theo nhiều tuyến đường sắt, thành phố có nhiều tập đoàn công nghiệp và tài chính mạnh. Dallas có Sân bay Quốc tế Dallas-Forth Worth. Dallas là một trong những thành phố đi đầu về nền giáo dục ở Mỹ. Trong top 100 trường TH có chất lượng nhất nước Mỹ thì Dallas có rất nhiều trường; tiêu biểu là School for the Talented and Gifted nằm số 1210 East Eight Street là trường tốt nhất nước Mỹ. Hiện chính quyền Dallas cũng đang rất đầu tư vào giáo dục. Vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, tổng thống John F. Kennedy đã bị ám sát lúc 12:30 giờ trung tâm (CST) khi đang thăm viếng tiểu bang này. == Khí hậu == == Tham khảo ==
kẽm.txt
Kẽm là một nguyên tố kim loại lưỡng tính, ký hiệu là Zn và có số nguyên tử là 30. Nó là nguyên tố đầu tiên trong nhóm 12 của bảng tuần hoàn nguyên tố. Kẽm, trên một số phương diện, có tính chất hóa học giống với magiê, vì ion của chúng có bán kính giống nhau và có số ôxy hoá duy nhất ở điều kiện bình thường là +2. Kẽm là nguyên tố phổ biến thứ 24 trong lớp vỏ Trái Đất và có 5 đồng vị bền. Quặng kẽm phổ biến nhất là quặng sphalerit, một loại kẽm sulfua. Những mỏ khai thác lớn nhất nằm ở Úc, Canada và Hoa Kỳ. Công nghệ sản xuất kẽm bao gồm tuyển nổi quặng, thiêu kết, và cuối cùng là chiết tách bằng dòng điện. Đồng thau là một hợp kim của đồng và kẽm đã bắt đầu được sử dụng muộn nhất từ thế kỷ 10 TCN tại Judea và thế kỷ 7 TCN tại Hy Lạp cổ đại. Mãi cho đến thế kỷ 12 thì kẽm nguyên chất mới được sản xuất quy mô lớn ở Ấn Độ, và đến cuối thế kỷ 16 thì người châu Âu mới biết đến kẽm kim loại. Các mỏ ở Rajasthan được khai thác từ thế kỷ 6 TCN. Cho đến nay, bằng chứng cổ xưa nhất về kẽm tinh khiết là từ Zawar ở Rajasthan vào khoảng thế kỷ 9, người ta dùng phương pháp chưng cất để tạo ra kẽm nguyên chất. Các nhà giả kim thuật đốt kẽm trong không khí để tạo thành một chất mà họ gọi là "len của nhà triết học" hay "tuyết trắng". Nhà hóa học người Đức Andreas Sigismund Marggraf được công nhận đã tách được kẽm kim loại tinh khiết năm 1746. Luigi Galvani và Alessandro Volta đã phát hiện ra các đặc tính điện hóa học của kẽm vào năm 1800. Ứng dụng chính của kẽm là làm lớp phủ chống ăn mòn trên thép. Các ứng dụng khác như làm pin kẽm, và hợp kim như đồng thau. Nhiều hợp chất kẽm cũng được sử dụng phổ biến như kẽm cacbonat và kẽm gluconat (bổ sung dinh dưỡng), kẽm clorua (chất khử mùi), kẽm pyrithion (dầu gội đầu trị gàu), kẽm sulfua (sơn huỳnh quang), và kẽm methyl hay kẽm diethyl sử dụng trong hóa hữu cơ ở phòng thí nghiệm. Kẽm là một chất khoáng vi lượng thiết yếu cho sinh vật và sức khỏe con người, đặc biệt trong quá trình phát triển của thai nhi và của trẻ sau khi sinh. Thiếu kẽm ảnh hưởng đến khoảng 2 tỷ người ở các nước đang phát triển và liên quan đến nguyên nhân một số bệnh. Ở trẻ em, thiếu kẽm gây ra chứng chậm phát triển, phát dục trễ, dễ nhiễm trùng và tiêu chảy, các yếu tố này gây thiệt mạng khoảng 800.000 trẻ em trên toàn thế giới mỗi năm. Các enzym liên kết với kẽm trong trung tâm phản ứng có vai trò sinh hóa quan trọng như alcohol dehydrogenase ở người. Ngược lại việc tiêu thụ quá mức kẽm có thể gây ra một số chứng như hôn mê, bất động cơ và thiếu đồng. == Tính chất == === Vật lý === Kẽm có màu trắng xanh, óng ánh và nghịch từ, mặc dù hầu hết kẽm phẩm cấp thương mại có màu xám xỉn. Phân bố tinh thể của kẽm loãng hơn sắt và có cấu trúc tinh thể sáu phương với một kết cấu lục giác không đều, trong đó mỗi nguyên tử có sáu nguyên tử gần nhất (cách 265,9 pm) trong mặt phẳng riêng của chúng và sáu nguyên tử khác tại khoảng cách lớn hơn 290,6 pm. Kẽm kim loại cứng và giòn ở hầu hết cấp nhiệt độ nhưng trở nên dễ uốn từ 100 đến 150 °C. Trên 210 °C, kim loại kẽm giòn trở lại và có thể được tán nhỏ bằng lực. Kẽm dẫn điện khá. So với các kim loại khác, kẽm có độ nóng chảy (419,5 °C, 787,1F) và điểm sôi (907 °C) tương đối thấp. Điểm sôi của nó là một trong số những điểm sôi thấp nhất của các kim loại chuyển tiếp, chỉ cao hơn thủy ngân và cadmi. Một số hợp kim với kẽm như đồng thau, là hợp kim của kẽm và đồng. Các kim loại khác có thể tạo hợp kim 2 phần với kẽm như nhôm, antimon, bitmut, vàng, sắt, chì, thủy ngân, bạc, thiếc, magiê, coban, niken, telua và natri. Tuy cả kẽm và zirconi không có tính sắt từ, nhưng hợp kim của chúng ZrZn2 lại thể hiện tính chất sắt từ dưới 35 K. === Phân bố === Kẽm chiếm khoảng 75 ppm (0,0075%) trong vỏ Trái Đất, là nguyên tố phổ biến thứ 24. Đất chứa 5–770 ppm kẽm với giá trị trung bình 64 ppm. Nước biển chỉ chứa 30 ppb kẽm và trong khí quyển chứa 0,1–4 µg/m3. Nguyên tố này thường đi cùng với các nguyên tố kim loại thông thường khác như đồng và chì ở dạng quặng. Kẽm là một nguyên tố ưa tạo quặng (chalcophile), nghĩa là nguyên tố có ái lực thấp với ôxy và thường liên kết với lưu huỳnh để tạo ra các sulfua. Các nguyên tố ưa tạo quặng hình thành ở dạng lớp vỏ hóa cứng trong các điều kiện khử của khí quyển Trái Đất. Sphalerit là một dạng kẽm sulfua, và là loại quặng chứa nhiều kẽm nhất với hàm lượng kẽm lên đến 60–62%. Các loại quặng khác có thể thu hồi được kẽm như smithsonit (kẽm cacbonat), hemimorphit (kẽm silicat), wurtzit (loại kẽm sulfua khác), và đôi khi là hydrozincit (kẽm cacbonat). Ngoại trừ wurtzit, tất cả các khoáng trên được hình thành từ các quá trình phong hóa kẽm sulfua nguyên sinh. Tổng tài nguyên kẽm trên thế giới đã được xác nhận vào khoảng 1,9 tỉ tấn. Các mỏ kẽm lớn phân bố ở Úc và Mỹ, và trữ lượng kẽm lớn nhất ở Iran, trong đó Iran có trữ lượng lớn nhất. Với tốc độ tiêu thụ như hiện nay thì nguồn tài nguyên này ước tính sẽ cạn kiệt vào khoảng năm từ 2027 đến 2055. Khoảng 346 triệu tấn kẽm đã được sản xuất trong suốt chiều dài lịch sử cho đến năm 2002, và theo một ước lượng cho thấy khoảng 109 triệu tấn tồn tại ở các dạng đang sử dụng. === Đồng vị === Kẽm trong tự nhiên là hỗn hợp của 5 đồng vị ổn định 64Zn, 66Zn, 67Zn, 68Zn và 70Zn, trong đó đồng vị 64 là phổ biến nhất (48,6% trong tự nhiên) với chu kỳ bán rã &0000000000009000.0000004.3×1018 năm, do đó tính phóng xạ của nó có thể bỏ qua. Tương tự, 7030Zn (0,6%), có chu kỳ bán rã &3000000000000090.0000001.3×1016 năm thường không được xem là có tính phóng xạ. Các đồng vị khác là 66Zn (28%), 67Zn (4%) và 68Zn (19%). Một số đồng vị phóng xạ đã được nhận dạng. 65Zn có chu kỳ bán rã 243,66 ngày, là đồng vị tồn tại lâu nhất, theo sau là 72Zn có chu kỳ bán rã 46,5 giờ. Kẽm có 10 đồng phân hạt nhân.69mZn có chu kỳ bán rã 13,76 giờ. (tham số mũ m chỉ đồng vị giả ổn định). Các hạt nhân của đồng vị giả ổn định ở trong trạng thái kích thích và sẽ trở về trạng thái bình thường khi phát ra photon ở dạng tia gamma. 61Zn có 3 trạng thái kích thích và 73Zn có 2 trạng thái. Mỗi đồng vị 65Zn, 71Zn, 77Zn và 78Zn chỉ có một trạng thái kích thích. Cơ chế phân rã phổ biến của đồng vị phóng xạ kẽm có số khối nhỏ hơn 66 là bắt electron, sản phẩm tạo thành là một đồng vị của đồng. n30Zn + e⁻ → n29Cu Cơ chế phân rã phổ biến của đồng vị phóng xạ kẽm có số khối lớn hơn 66 là phân rã beta (β–), sản phẩm tạo ra là đồng vị của gali. n30Zn → n31Ga + e⁻ + νe == Tính chất hóa học và các hợp chất == === Khả năng phản ứng === Kẽm có cấu hình electron là [Ar]3d104s2 và là nguyên tố thuộc nhóm 12 trong bảng tuần hoàn. Nó là kim loại có độ hoạt động trung bình và là chất oxy hóa mạnh. Bề mặt của kim loại kẽm tinh khiết xỉn nhanh, thậm chí hình thành một lớp thụ động bảo vệ là Hydrozincit, Zn5(OH)6(CO3)2, khi phản ứng với cacbon điôxít trong khí quyển. Lớp này giúp chống lại quá trình phản ứng tiếp theo với nước và hidro. Kẽm cháy trong không khí cho ngọn lửa màu xanh lục tạo ra khói kẽm ôxít. Kẽm dễ dàng phản ứng với các axít, kiềm và các phi kim khác. Kẽm cực kỳ tinh khiết chỉ phản ứng một cách chậm chạp với các axít ở nhiệt độ phòng. Các axít mạnh như axít clohydric hay axít sulfuric có thể hòa tan lớp vảo vệ bên ngoài và sau đó kẽm phản ứng với nước giải phóng khí hydro. Tính chất hóa học của kẽm đặc trưng bởi trạng thái ôxi hóa +2. Khi các hợp chất ở trạng thái này được hình thành thì các electron lớp s bị mất đi, và ion kẽm có cấu hình electron [Ar]3d10. Quá trình này cho phép tạo 4 liên kết bằng cách tiếp nhận thêm 4 cặp electron theo quy tắc bộ tám. Dạng cấu tạo hóa học lập thể là tứ diện và các liên kết có thể được miêu tả như sự tạo thành của các orbitan lai ghép sp3 của ion kẽm. Trong dung dịch, nó tạo phức phổ biến dạng bát diện là [Zn(H2O)6]2+. Sự bay hơi của kẽm khi kết hợp với kẽm clorua ở nhiệt độ trên 285 °C chỉ ra sự hình thành Zn2Cl2, một hợp chất kẽm có trạng thái ôxi hóa +1. Không có hợp chất kẽm nào mà kẽm có trạng thái ôxi hóa khác +1 hoặc +2. Các tính toán chỉ ra rằng hợp chất kẽm có trạng thái ôxi hóa +4 không thể tồn tại. Tính chất hóa học của kẽm tương tự tính chất của các kim loại chuyển tiếp nằm ở vị trí cuối cùng của hàng đầu tiên như niken và đồng, mặc dù nó có lớp d được lấp đầy electron, do đó các hợp chất của nó là nghịch từ và hầu như không màu. Bán kính ion của kẽm và magiê gần như bằng nhau. Do đó một số muối của chúng có cùng cấu trúc tinh thể và trong một số trường hợp khi bán kính ion là yếu tố quyết định thì tính chất hóa học của kẽm và magiê là rất giống nhau. còn nếu không thì chúng có rất ít nét tương đồng. Kẽm có khuynh hướng tạo thành các liên kết cộng hóa trị với cấp độ cao hơn và nó tạo thành các phức bền hơn với các chất cho N- và S. Các phức của kẽm hầu hết là có phối vị 4 hoặc 6, tuy nhiên phức phối vị 5 cũng có. === Hợp chất === Hợp chất hai nguyên tố của kẽm được tạo ra với hầu hết á kim và tất cả các phi kim trừ khí hiếm. ZnO là chất bột màu trắng và hầu như không tan trong các dung dịch trung tính, vì là một chất trung tính nó tan trong cả dung dịch axit và bazơ. Các chalcogenua khác (ZnS, ZnSe, và ZnTe) có nhiều ứng dụng khác nhau trong điện tử và quang học. Pnictogenua (Zn3N2, Zn3P2, Zn3As2 và Zn3Sb2), peroxit (ZnO2), hydrua (ZnH2), và cacbua (ZnC2) cũng tồn tại. Trong số 4 halua, ZnF2 có đặc trưng ion nhiều nhất, trong khi các hợp chất halua khác (ZnCl2, ZnBr2, và ZnI2) có điểm nóng chảy tương đối thấp và được xem là có nhiều đặc trưng cộng hóa trị hơn. Trong các dung dịch bazơ yếu chứa các ion Zn2+, hydroxit Zn(OH)2 tạo thành ở dạng kết tủa màu trắng. Trong các dung dịch kiềm mạnh hơn, hydroxit này bị hòa tan và tạo zincat ([Zn(OH)4]2−). Nitrat Zn(NO3)2, clorat Zn(ClO3)2, sulfat ZnSO4, photphat Zn3(PO4)2, molybdat ZnMoO4, cyanua Zn(CN)2, asenit Zn(AsO2)2, asenat Zn(AsO4)2·8H2O và cromat ZnCrO4 (một trong những hợp chất kẽm có màu) là một vài ví dụ về các hợp chất vô cơ phổ biến của kẽm. Một trong những ví dụ đơn giản nhất về hợp chất hữu cơ của kẽm là acetat (Zn(O2CCH3)2). Các hợp chất hữu cơ của kẽm là dạng hợp chất mà trong đó có các liên kết cộng hóa trị kẽm-cacbon. Diethyl kẽm ((C2H5)2Zn) là một thuốc thử trong hóa tổng hợp. Nó được công bố đầu tiên năm 1848 từ phản ứng của kẽm và ethyl iodua, và là hợp chất đầu tiên chứa liên kết sigma kim loại-cacbon. Decamethyldizincocen chứa một liên kết mạnh kẽm-kẽm ở nhiệt độ phòng. == Lịch sử == === Thời kỳ cổ đại === Các mẫu vật riêng biệt sử dụng kẽm không nguyên chất trong thời kỳ cổ đại đã được phát hiện. Các loại quặng kẽm đã được sử dụng để làm hợp kim đồng-kẽm là đồng thau vài thế kỷ trước khi phát hiện ra kẽm ở dạng nguyên tố riêng biệt. Đồng thau Palestin có từ thế kỷ 14 TCN đến thế kỷ 10 TCN chứa 23% kẽm. Hiểu biết về cách sản xuất đồng thau phổ biến ở Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ 7 TCN, nhưng chỉ có vài mẫu được thực hiện. Các đồ trang trí bằng hợp kim chứa 80–90% kẽm với chì, sắt, antimon và các kim loại khác cấu thành phần còn lại, đã được phát hiện có độ tuổi là 2.500 năm. Một bức tượng nhỏ có thể từ thời tiền sử chứa 87,5% kẽm được tìm thấy ở di chỉ khảo cổ Dacia ở Transilvania (Romania ngày nay). Các viên thuốc cổ nhất được làm từ kẽm cacbonat hydrozincit và smithsonit. Các viên thuốc này được dùng để chữa đau mắt và được tìm thấy trên tàu La Mã Relitto del Pozzino bị đắm năm 140 TCN. Việc sản xuất đồ đồng thau đã được người La Mã biết đến vào khoảng năm 30 TCN, họ sử dụng công nghệ nấu calamin (kẽm silicat hay cacbonat) với than củi và đồng trong các nồi nấu. Lượng ôxít kẽm giảm xuống và kẽm tự do bị đồng giữ lại, tạo ra hợp kim là đồng thau. Đồng thau sau đó được đúc hay rèn thành các chủng loại đồ vật và vũ khí. Một số tiền xu từ người La Mã trong thời đại Công giáo được làm từ loại vật liệu có thể là đồng thau calamin. Ở phương Tây, kẽm lẫn tạp chất từ thời cổ đại tồn tại ở dạng tàn dư trong lò nung chảy, nhưng nó thường bị bỏ đi vì người ta nghĩ nó không có giá trị. Bảng kẽm Bern là một tấm thẻ tạ ơn có niên đại tới thời kỳ Gaul La Mã được làm bằng hợp kim bao gồm phần lớn là kẽm. Một số văn bản cổ đại dường như cũng đề cập đến kẽm. Sử gia Hy Lạp Strabo, trong một đoạn văn lấy từ nhà văn trước đó trong thế kỷ 4 TCN, đề cập tới "những giọt bạc giả", được trộn lẫn với đồng để làm đồng thau. Điều này có thể đề cập đến một lượng nhỏ kẽm là phụ phẩm của quá trình nung chảy quặng sulfua. Charaka Samhita, cho là đã được viết vào 500 TCN hay trước đó nữa, đề cập đến một kim loại mà khi bị ôxi hóa, tạo ra pushpanjan, sản phẩm được cho là kẽm ôxít. Các mỏ kẽm ở Zawar, gần Udaipur, Ấn Độ đã từng hoạt động từ thời đại Maurya vào cuối thiên niên kỷ 1 TCN. Việc nấu chảy và phân lập kẽm nguyên chất đã được những người Ấn Độ thực hiện sớm nhất vào thế kỷ 12. Một ước tính cho thấy rằng khu vực này đã sản xuất ra khoảng vài triệu tấn kẽm kim loại và kẽm ôxít từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16. Một ước tính khác đưa ra con số sản lượng là 60.000 tấn kẽm kim loại trong giai đoạn này. Rasaratna Samuccaya, được viết vào khoảng thế kỷ 14, đề cập đến 2 loại quặng chứa kẽm; một loại được sử dụng để tách kim loại và loại khác được dùng cho y học. === Các nghiên cứu trước đây và tên gọi === Kẽm đã từng được công nhận là một kim loại có tên gọi ban đầu là Fasada theo như y học Lexicon được cho là của vua Hindu Madanapala và được viết vào khoảng năm 1374. Nung chảy và tách kẽm nguyên chất bằng cách khử calamin với len và các chất hữu cơ khác đã được tiến hành vào thế kỷ 13 ở Ấn Độ. Người Trung Quốc cho tới thế kỷ 17 vẫn chưa học được kỹ thuật này. Các nhà giả kim thuật đã đốt kẽm kim loại trong không khí và thu được kẽm ôxít trong một lò ngưng tụ. Một số nhà giả kim thuật gọi loại kẽm ôxít này là lana philosophica, tiếng Latin có nghĩa là "len của các nhà triết học", do nó được thu hồi từ búi len trong khi những người khác nghĩ nó giống như tuyết trắng và đặt tên nó là nix album. Tên gọi của kẽm ở phương Tây có thể được ghi nhận đầu tiên bởi nhà giả kim Đức gốc Thụy Sĩ Paracelsus, ông đã gọi tên kim loại này là "zincum" hay "zinken" trong quyển sách của mình là Liber Mineralium II được viết vào thế kỷ 16. Từ này có thể bắt nguồn từ tiếng Đức zinke, và có thể có nghĩa là "giống như răng, nhọn hoặc lởm chởm" (các tinh thể kẽm kim loại có hình dạng giống như những chiếc kim). Zink cũng có thể ám chỉ "giống như tin (thiếc)" do mối quan hệ của nó (trong tiếng Đức zinn nghĩa là thiếc). Một khả năng khác có thể là từ đó xuất phát từ tiếng Ba Tư سنگ seng nghĩa là đá. Kim loại cũng có thể gọi là thiếc Ấn Độ, tutanego, calamin, và spinter. Nhà luyện kim người Đức Andreas Libavius đã nhận được một lượng vật liệu mà ông gọi là "calay" của Malabar từ một tàu chở hàng bắt được ở Bồ Đào Nha năm 1596. Libavius đã miêu tả các thuộc tính của mẫu vật có thể là kẽm này. Kẽm thường được nhập khẩu đến châu Âu từ các nước phương Đông trong thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, nhưng rất đắt giá vào lúc đó. === Tách kẽm === Việc tách kẽm kim loại đã được thực hiện ở Ấn Độ vào năm 1300, sớm hơn nhiều so với phương Tây. Trước khi nó được thực hiện ở châu Âu, nó đã được nhập khẩu vào Ấn Độ khoảng năm 1600. Việc tách kim loại kẽm ở phương Tây có thể đã đạt được những thành tựu một cách độc lập từ một số người. Universal Dictionary (Từ điển tổng hợp) của Postlewayt, một nguồn cung cấp thông tin kỹ thuật ở châu Âu, đã không đề cập đến kẽm trước năm 1751, nhưng nguyên tố này đã được nghiên cứu từ trước đó. Nhà luyện kim người Flanders là P.M. de Respour đã công bố rằng ông đã tách được kẽm kim loại từ kẽm ôxít năm 1668. Sau đó, Étienne François Geoffroy đã miêu tả cách thức mà kẽm ôxít cô đặc lại thành các tinh thể màu vàng trên các thanh sắt được đặt bên trên các quặng kẽm đang nóng chảy. Ở Anh, John Lane được cho là đã tiến hành các thí nghiệm để nung chảy kẽm, có thể ở Landore, trước khi ông phá sản năm 1726. Năm 1738, William Champion được cấp bằng sáng chế ở Đại Anh cho quá trình tách kẽm từ calamin trong một lò luyện theo kiểu bình cổ cong thẳng đứng. Công nghệ của ông một phần nào đó giống với cách được sử dụng trong các mỏ kẽm ở Zawar thuộc Rajasthan nhưng không có bằng chứng nào cho thấy ông đã đến vùng phương đông. Phương pháp của Champion được sử dụng suốt năm 1851. Nhà hóa học người Đức Andreas Marggraf được xem là có công trong việc phát hiện ra kẽm kim loại nguyên chất mặc dù nhà hóa học Thụy Điển là Anton von Swab đã chưng cất kẽm từ calamin 4 năm trước đó. Trong thí nghiệm năm 1746 của ông, Marggraf đã nung hỗm hợp calamin và than củi trong một buồng kín không có đồng để lấy kim loại. Quy trình này được ứng dụng ở quy mô thương mại từ năm 1752. === Các công trình sau này === Một người anh em của William Champion là John đã nhận được bằng sáng chế năm 1758 về việc nung kẽm sulfua thành một ôxít có thể sử dụng trong quy trình chưng cất bằng lò cổ cong. Trước đó chỉ có calamin mới có thể được sử dụng để sản xuất kẽm. Năm 1798, Johann Christian Ruberg cải tiến quá trình nung chảy bằng cách xây dựng một lò nung chưng cất nằm ngang. Jean-Jacques Daniel Dony đã xây dựng một lò nung chảy nằm ngang theo một kiểu khác ở Bỉ, lò nung này có thể xử lý nhiều kẽm hơn. Bác sĩ người Ý Luigi Galvani khám phá ra vào năm 1780 rằng việc kết nối tủy sống của một con ếch vừa mới mổ với một sợi sắt có gắn một cái mốc bằng đồng thau sẽ làm cho chân ếch co giật. Ông ta đã nghĩ không chính xác rằng ông đã phát hiện một khả năng của nơ ron và cơ để tạo ra điện và gọi đó là hiệu ứng "điện động vật". Tế bào mạ và quá trình mạ đều được đặt tên theo Luigi Galvani và những phát hiện này đã mở đường cho pin điện, mạ điện và chống ăn mòn điện. Bạn của Galvani là Alessandro Volta đã tiếp tục nghiên cứu hiệu ứng này và đã phát minh ra pin Volta năm 1800. Đơn vị cơ bản của pin Volta là các tế bào mạ điện được đơn giản hóa, chúng được làm từ một tấm đồng và một tấm kẽm được gắn kết với nhhau ở bên ngoài và ngăn cách bởi một lớp điện ly. Các tấm này được xếp thành một chuỗi để tạo ra tế bào Volta, các tế bào này tạo ra điện bằng các dòng electron chạy từ tấm kẽm qua tấm đồng và cho phép kẽm ăn mòn. Tính chất không từ tính của kẽm và không màu của nó trong dung dịch đã làm trì hoãn việc phát hiện ra những tính chất quan trọng của chíng trong sinh hóa và dinh dưỡng. Nhưng điều đó đã thay đổi vào năm 1940 khi mà cacbonic anhydrase, một loại enzym đẩy cacbon điôxít ra khỏi máu, đã cho thấy kẽm có vai trò quan trọng trong nó. Enzym tiêu hóa carboxypeptidase là enzym chứa kẽm thứ hai được phát hiện năm 1955. == Sản xuất == === Khai thác mỏ và xử lý === Kẽm là kim loại được sử dụng phổ biến thứ 4 sau sắt, nhôm và đồng với sản lượng hàng năm khoảng 13 triệu tấn. Nhà sản xuất kẽm lớn nhất thế giới là Nyrstar, công ty sáp nhập từ OZ Minerals của Úc và Umicore của Bỉ. Khoảng 70% lượng kẽm trên thế giới có nguồn gốc từ khai thác mỏ, lượng còn lại từ hoạt động tái sử dụng. Kẽm tinh khiết cấp thương mại có tên gọi trong giao dịch tiếng Anh là Special High Grade (SHG) có độ tinh khiết 99,995%. Trên toàn cầu, 95% kẽm được khai thác từ các mỏ quặng sulfua, trong đó ZnS luôn lẫn với đồng, chì và sắt sulfua. Có nhiều mỏ kẽm trên khắp thế giới nhưng chủ yếu ở Trung Quốc, Úc và Peru. Trung Quốc sản xuất 29% lượng kẽm toàn cầu năm 2010. Kẽm kim loại được sản xuất bằng luyện kim khai khoáng. Sau khi nghiền quặng, phương pháp tuyển nổi bọt được sử dụng để tách các khoáng dựa vào tính dính ướt khác nhau của chúng. Ở bước cuối cùng này thì kẽm chiếm 50%, phần còn lại là lưu huỳnh (32%), sắt (13%), và SiO2 (5%). Công đoạn thiêu kết sẽ chuyển kẽm sulfua thành kẽm ôxít: 2 ZnS + 3 O2 → 2 ZnO + 2 SO2 Lưu huỳnh điôxít sinh ra sẽ được thu hồi để sản xuất axít sulfuric. Nếu các mỏ có loại khoáng sản khác là kẽm cacbonat, kẽm silicat hoặc kẽm spinel như ở mỏ Skorpion, Namibia thì không sử dụng công đoạn thiêu kết này. Sau đó, người ta có thể dùng 2 phương pháp cơ bản trong luyện kim là nhiệt luyện (pyrometallurgy) hoặc điện chiết (electrowinning). Quá trình nhiệt luyện khử kẽm ôxít với cacbon hoặc cacbon mônôxít ở 950 °C (1.740 °F) thành kim loại kẽm ở dạng hơi. Hơi kẽm được thu hồi trong bình ngưng. Quá trình được biểu diễn theo các phương trình dưới đây: 2 ZnO + C → 2 Zn + CO2 2 ZnO + 2 CO → 2 Zn + 2 CO2 Quá trình điện chiết tách kẽm từ quặng tinh bằng axít sulfuric: ZnO + H2SO4 → ZnSO4 + H2O Sau đó, người ta dùng phương pháp điện phân để sản xuất kẽm kim loại. 2 ZnSO4 + 2 H2O → 2 Zn + 2 H2SO4 + O2 Axít sulfuric sinh ra được tái sử dụng trong bước trước đó. Kẽm có mặt ở dạng bụi trong lò hồ quang điện do sử dụng nguyên liệu mạ kẽm được thu hồ bởi nhiều quá trình, chủ yếu là quá trình Waelz (90% đến năm 2014). === Tác động môi trường === Quá trình sản xuất từ quặng kẽm sulfua thải ra một lượng lớn lưu huỳnh điôxít và hơi cadmi. Xỉ nóng chảy và các chất cặn khác trong quá trình sản xuất cũng chứa một lượng kim loại nặng đáng kể. Có khoảng 1,1 triệu tấn kẽm kim loại và 130 ngàn tấn chì đã được khai thác và nung chảy ở các thị trấn La Calamine và Plombières của Bỉ trong khoảng thời gian từ năm 1806 tới năm 1882. Bãi thải của mỏ trước đây rò rỉ kẽm và cadmi, và các trầm tích trong sông Geul chứa một lượng kim loại nặng đáng kể. Từ khoảng cách đây 2000 năm, lượng phát thải kẽm từ các nguồn khai thác mỏ và nung chảy đã thải ra tổng cộng 10 ngàn tấn mỗi năm. Đến năm 1850, lượng phát thải tăng lên gấp 10 lần, phát thải kẽm ở mức đỉnh vào khoảng 3,4 triệu tấn mỗi năm trong thập niên 1980 và giảm xuống 2,7 triệu tấn vào thập niên 1990, mặc dù theo một nghiên cứu năm 2005 về tầng đối lưu Bắc Cực chỉ ra rằng nồng độ kẽm không giảm. Các phát thải nhân tạo và tự nhiên xảy ra với tỷ lệ 20 trên 1. Hàm lượng kẽm trong các con sông chảy qua các khu công nghiệp và khu vực khai thác mỏ vào khoảng 20 ppm. Công tác xử lý nước thải hiệu quả đã làm giảm đáng kể hàm lượng này; ví dụ như công tác xử lý nước thải dọc theo sông Rhine đã làm giảm lượng kẽm xuống còn 50 ppb. Nồng độ kẽm ở mức 2 ppm ảnh hưởng xấu đến hàm lượng ôxy trong máu cá. Đất ô nhiễm kẽm từ hoạt động khai thác quặng chứa kẽm, tuyển, hoặc nơi sử dụng bùn chứa kẽm để làm phân, có thể chứa hàm lượng kẽm ở mức vài gam kẽm/kg đất khô. Hàm lượng kẽm trong đất cao hơn 500 ppm ảnh hưởng tới khả năng hấp thu các kim loại cần thiết khác của thực vật, như sắt và mangan. Kẽm ở mức 2.000 ppm đến 180.000 ppm (18%) đã được ghi nhận trong một số mẫu đất. == Ứng dụng == Kẽm là kim loại được sử dụng phổ biến hàng thứ tư sau sắt, nhôm, đồng tính theo lượng sản xuất hàng năm. Các ứng dụng chính của kẽm (số liệu là ở Hoa Kỳ) Mạ kẽm (55%) Hợp kim (21%) Đồng thau và đồng điếu (16%) Khác (8%) === Chống ăn mòn và pin === Kim loại kẽm chủ yếu được dùng làm chất chống ăn mòn, ở dạng mạ. Năm 2009 ở Hoa Kỳ, 55% tương đương 893 nghìn tấn kẽm kim loại được dùng để mạ. Kẽm phản ứng mạnh hơn sắt hoặc thép và do đó nó sẽ dễ bị ôxi hóa cho đến khi nó bị ăn mòn hoàn toàn. Một lớp tráng bề mặt ở dạng bằng ôxít và cacbonat (Zn5(OH)6(CO3)2) là một chất ăn mòn từ kẽm. Lớp bảo vệ này tồn tại kéo dài ngay cả sau khi lớp kẽm bị trầy xước, nhưng nó sẽ giảm theo thời gian khi lớp ăn mòn kẽm bị tróc đi. Kẽm được phủ lên theo phương pháp hóa điện bằng cách phun hoặc mạ nhúng nóng. Mạ kẽm được sử dụng trên rào kẽm gai, rào bảo vệ, cầu treo, mái kim loại, thiết bị trao đổi nhiệt, và các bộ phận của ô tô. Độ hoạt động tương đối của kẽm và khả năng của nó bị ôxi hóa làm nó có hiệu quả trong việc hi sinh anot để bảo vệ ăn mòn catot. Ví dụ, bảo vệ catot của một đường ống được chôn dưới đất có thể đạt hiệu quả bằng cách kết nối các anot được làm bằng kẽm với các ống này. Kẽm có vai trò như một anot (âm) bằng các ăn mòn một cách chậm chạp khi dòng điện chạy qua nó đến ống dẫn bằng thép. Kẽm cũng được sử dụng trong việc bảo vệ các kim loại được dùng làm catot khi chúng bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển. Một đĩa kẽm được gắn với một bánh lái bằng sắt của tàu sẽ làm chậm tốc độ ăn mòn so với không gắn tấm kẽm này. Các ứng dụng tương tự như gắn kẽm vào chân vịt hoặc lớp kim loại bảo vệ lườn tàu. Với một thế điện cực chuẩn (SEP) 0,76 vôn, kẽm được sử dụng làm vật liệu anot cho pin. Bột kẽm được sử dụng theo cách này trong các loại pin kiềm và các tấm kẽm kim loại tạo thành vỏ bọc và cũng là anot trong pin kẽm-cacbon. Kẽm được sử dụng làm anot hoặc nhiên liệu cho tế bào nhiêu liệu kẽm/pin kẽm-không khí. Pin dòng ôxy hóa khử kẽm-xêri cũng dựa trên một nửa tế bào âm kẽm. === Hợp kim === Hợp kim của kẽm được sử dụng rộng rãi nhất là đồng thau, bao gồm đồng và khoảng từ 3% đến 45% kẽm tùy theo loại đồng thau. Đồng thau nhìn chung giòn và cứng hơn đồng và có khả năng chống ăn mòn rất cao. Các tính chất này giúp nó được sử dụng nhiều trong các thiết bị truyền thông, phần cứng máy tính, dụng cụ âm nhạc, và các van nước. Các ứng dụng rộng rãi khác của hợp kim chứa kẽm bao gồm niken bạc, máy đánh chữ bằng kim loại, hàn nhôm và mềm, và đồng điếu thương mại. Kẽm cũng được sử dụng trong các bộ phận đường ống hiện đại như là một sản phẩm thay thế các đường ống trước đây sử dụng hợp kim chì/thiếc. Các hợp kim chiếm 85–88% kẽm, 4–10% đồng, và 2–8% nhôm được sử dụng hạn chế trong một số trường hợp của các bệ nâng đỡ máy. Kẽm là một kim loại ban đầu được sử dụng trong việc sản xuất các đồng tiền 1 cent của Hoa Kỳ từ năm 1982. Lõi kẽm được áo một lớp đồng mỏng để tạo độ bắt mắt của đồng tiền bằng đồng. Năm 1994, 33.200 tấn (36.600 tấn thiếu) kẽm được sử dụng để sản xuất 13,6 triệu đồng xu ở Hoa Kỳ. Các hợp kim chủ yếu là kẽm với một lượng nhỏ đồng, nhôm, và magiê có ích trong việc đúc áp lực cũng như đúc quay, đặc biệt trong các ngành công nghiệp tự động, điện tử, và phần cứng. Các hợp kim này được chào bán trên thị trường với tên gọi là Zamak. Ví dụ về hợp kim kẽm nhôm, nó có điểm nóng chảy thấp và độ nhớt thấp nên có thể chế tạo ra những vật có hình dạng nhỏ và phức tạp. Nhiệt độ gia công thấp làm cho các sản phẩm đúc nguội nhanh và do đó có thế lắp ráp chúng một cách nhanh chóng. Một hợp kim khác được chào bán trên thị trường với tên gọi là Prestal chứa 78% kẽm và 22% nhôm và được cho là có độ cứng gần bằng thép nhưng lại dẻo như nhựa. Tính chất siêu nhựa này của hợp kim cho phép đúc chúng dễ dàng trong các khuôn bằng sứ và xi măng. Các hợp kim tương tự khi có thêm vào một lượng nhỏ chì có thể cán nguội thành các tấm. Hợp kim có 96% kẽm và 4% nhôm được sử dụng để làm khuôn dập cho các ứng dụng có tốc độ sản xuất thấp mà khuôn dập bằng kim loại đen có thể quá đắt. Trong việc xây các bề mặt ngoài, mái nhà hoặc các ứng dụng khác, kẽm được sử dụng ở dạng tấm kim loại và có thể dùng để cán, cuộn hoặc uốn người ta sử dụng các hợp kim của kẽm với titan và đồng. Là một vật liệu dễ gia công, không đắt mà nặng, kẽm được sử dụng để thay thế cho chì. Do ngộ độc chì ngày càng nhiều nên kẽm được dùng làm vật nặng trong nhiều ứng dụng khác nhau như câu cá đến cân bằng lốp và bánh đà (bánh trớn). Kẽm cadmi tellurua (CZT) là một hợp kim bán dẫn có thể được chia thành một chuỗi các thiết bị cảm ứng nhỏ. Các thiết bị này tương tự như mạch tích hợp và có thể phát hiện nguồn năng lượng của các photon tia gama. Khi được đặt sau một mặt nạ hấp thụ, thiết bị cảm ứng CZT cũng có thể được sử dụng để xác định hướng của các tia gamma. === Các ứng dụng công nghiệp khác === Gần 1/4 tổng sản lượng kẽm của Hoa Kỳ (2009) được dùng ở dạng hợp chất kẽm; có nhiều loại được dùng ở quy mô công nghiệp. Kẽm ôxit được sử dụng rộng rãi để làm chất tạo màu trắng trong sơn, và làm chất xúc tác trong công nghiệp chế biến cao su. Nó cũng được dùng làm chất phân tán nhiệt cho cao su và phản ứng để bảo vệ các polyme của cao su trước các tia tử ngoại (cách bảo vệ chống tia tử ngoại tương tự cũng được cho vào nhựa chứa ôxit kẽm). Các tính chất bán dẫn của kẽm ôxit hữu ích trong các varistor và sản phẩm máy photocopy. Vòng tuần hoàn kẽm-kẽm ôxít là một quy trình gồm 3 bước hóa nhiệt trong đó dùng kẽm và kẽm ôxit để sản xuất hydro. Kẽm cloura thường được cho vào gỗ để làm chất bắt cháy và có thể được sử dụng để bảo quản gỗ. Nó cũng được dùng để tạo các hóa chất khác. Kẽm methyl (Zn(CH3)2) được dùng trong nhiều phản ứng tổng hợp hữu cơ. Kẽm sulfua (ZnS) được dùng làm chất tạo màu phát quang như trên các đồng hồ đeo tay, màn hình ti vi và tia X, và sơn phát quang. Các tinh thể kẽm được dùng trong các tia laser hoạt động trong dãi quang phổ hồng ngoại giữa. Kẽm sulfat là một chất hóa học trong nhuộm và tạo màu. Kẽm pyrithion được dùng trong sơn chống gỉ. Bột kẽm đôi khi được dùng làm chất tạo lực đẩy trong các mô hình tên lửa. Khi một hỗn hợp nén gồm 70% bột kẽm và 30% bột lưu huỳnh bị đốt cháy sẽ tạo ra một phản ứng hóa học mãnh liệt. Phản ứng này tạo ra kẽm sunfua cùng một lượng lớn khí nóng, nhiệt và ánh sáng. Kim loại kẽm dạng tấm được dùng để chế ra các thanh kẽm. 64Zn, là đồng vị phổ biến nhất của kẽm, rất dễ bị kích hoạt neutron, được chuyển hóa thành 65Zn phóng xạ rất cao, hạt nhân mới này có chu kỳ bán rã 244 ngày và sinh ra các tia phóng xạ gamma cường độ cao. Do vậy, kẽm ôxít được dùng trong các lò phản ứng hạt nhân để làm chất chống ăn mòn cạn kiệt của 64Zn trước khi sử dụng. Vì lý do tương tự, kẽm đã được đề xuất ở dạng vật liệu muối dùng trong các vũ khí hạt nhân (coban là một ví dụ khác, là một loại vật liệu muối phổ biến hơn). Một lớp áo kẽm 64Zn được làm giàu đồng vị có thể được chiếu xạ mởi một dòng neutron cường độ năng lượng cao từ việc kích nổ vũ khí nhiệt hạt nhân, tạo thành một lượng lớn đồng vị 65Zn làm tăng đáng kể bụi phóng xạ của vũ khí hạt nhân. Vũ khí như thế này không biết là đã có chế tạo, thử nghiệm hay sử dụng chưa. 65Zn cũng được dùng làm đồng vị vết trong nghiên cứu làm thế nào mà các hợp kim chứa kẽm ăn mòn, hoặc con đường và vai trò của kẽm trong sinh vật. Các phức kẽm dithiocarbamat được dùng làm thuốc diệt nấm trong nông nghiệp; chúng gồm Zineb, Metiram, Propineb và Ziram. Kẽm naphthenat được dùng là chất bảo quản gỗ. Kẽm ở dạng ZDDP cũng được dùng làm chất phụ gia chống ăn mòn trong các bộ phận kim loại của các động cơ chạy dầu. === Bổ sung trong khẩu phần ăn === Kẽm có trong hầu hết các khẩu phần ăn cung cấp dưỡng chất và vitamin hàng ngày. Các sản phẩm chế biến gồm kẽm ôxít, kẽm acetat, và kẽm gluconat. Nó được tin là có tính chất chống ôxy hóa, chúng có thể chống lại sự gia tăng tốc độ lão hóa của da và cơ trong cơ thể; các nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt về các hiệu quả của nó. Kẽm cũng giúp làm tăng tốc sự hồi phục vết thương. Nó cũng có những tác dụng có lợi cho hệ miễn dịch của cơ thể. Do vậy, sự thiếu hụt kẽm có thể tác động đến hầu hết các phần của hệ miễn dịch ở con người. Hiệu quả của các hợp chất kẽm khi sử dụng để làm giảm thời gian hoặc mức độ nghiên trọng của triệu chứng cảm vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Một cuộc đánh giá một cách có hệ thống năm 2011 kết luận rằng việc bổ sung kẽm sẽ làm giảm nhẹ thời gian và độ nghiêm trọng của bệnh cảm. Kẽm đóng vai trò là một công cụ đơn giản, rẻ tiền và quan trọng trong điều trị các cơn tiêu chảy ở trẻ em ở những nước đang phát triển. Khi tiêu chảy kẽm trong cơ thể giảm, nhưng các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng kẽm bổ sung trong vòng 10 đến 14 điều trị có thể giảm thời gian và độ nghiêm trọng của những côn tiêu chảy và cũng có thể chống lại các cơn tiêu chảy trong vòng 3 tháng sau đó. Nghiên cứu bệnh về mắt liên quan đến tuổi tác xác định rằng kẽm góp một phần trong việc điều trị hiệu quả bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi. Bổ sung kẽm là một cách điều trị hiệu quả bệnh rối loại di truyền liên quan đến hấp thu kẽm mà trước đây gây tử vong ở những trẻ mới mắc bệnh này bẩm sinh. Viêm dạ dày giảm mạnh khi uống kẽm, và hiệu ứng này có thể là do tính chất kháng khuẩn mạnh của các ion kẽm trong đường tiêu hóa, hoặc đối với sự hấp thụ kẽm và tái giải phóng từ các tế bào miễn dịch (tất cả hạch bạch cầu đều tiết ra kẽm), hoặc cả hai. Năm 2011, các nghiên cứu viên ở trường cao đẳng tư pháp hình sự John Jay thông báo rằng việc cung cấp kẽm trong khẩu phần ăn có thể làm ẩn đi sự hiện diện của ma túy trong nước tiểu. Các tuyên bố tương tự cũng được đăng trên các diễn đàn về chủ đề đó. Mặc dù chưa thử nghiệm trong điều trị ở người, dấu hiệu của một cơ thể đang phát triển ám chỉ rằng kẽm có thể ưu tiên tiêu diệt tế bào ung thư tuyến tiền liệt. Do kẽm có mặt tự nhiên trong tuyến tiền liệt và vì tuyến này dễ xâm nhập với các phương thức không xâm lấn một cách tương đối, tiềm năng của nó như là một tác nhân hóa trị loại bệnh ung thư này thể hiện nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã minh họa rằng sử dụng kẽm bổ sung lâu dài với liều lượng vượt mức cho phép có thể thực tế làm gia tăng cơ hội phát triển ung thư tuyến tiền liệt, cũng có thể là do sự tích tụ tự nhiên của kim loại nặng này trong tuyến tiền liệt. === Viên ngậm kẽm và trị cảm thông thường === Những kết quả tích cực nhất trong việc sử dụng viên ngậm kẽm được phát hiện trong nghiên cứu trên kẽm acetat, thể hiện qua việc acetat không liên kết với các ion kẽm. Các nghiên cứu cho đến nay cũng chưa đưa ra kết luận nhưng đã chỉ ra rằng các viên kẽm làm giảm các triệu chứng kẽm trong khi có thể gây ra tác dụng phụ như buồn nôn. Những lợi ích của kẽm dùng trong điều trị cảm đã được mô tả là "rất ít". Cơ chế sinh học của tác dụng này chưa rõ, nhưng lợi ích của các loại kẽm thoi có vẻ bị gây nên bởi các hiệu ứng tại chỗ trong vùng hầu họng, vì điều trị kẽm qua đường mũi cũng rút ngắn thời gian cảm. === Dùng làm thuốc ngoài da === Kẽm dùng trong điều trị ngoài da thường được làm từ kẽm ôxít. Các hợp chất này có thể chống cháy nắng trong mùa hè và khô vì lạnh trong mùa đông. Thoa một lớp mỏng trên vùng mặc tã của bé (perineum) mỗi lần thay tã lót có thể bảo vệ khỏi hăm do tã. Kẽm lactat được dùng trong kem đánh răng để chống chứng hôi miệng. Kẽm pyrithion được sử dụng rộng rãi trong dầu gội đầu do nó có chức năng chống gàu. Các ion kẽm là chất chống vi sinh rất hiệu quả thậm chí ở nồng độ thấp. === Hóa hữu cơ === Có nhiều hợp chất kẽm hữu cơ quan trọng. Hóa học kẽm hữu cơ là một khoa học nghiên cứu về các hợp chất vô cơ của kẽm miêu tả đặc điểm vật lý, sự tổng hợp và các phản ứng của chúng. Trong số các ứng dụng quan trọng phải kế đến là phản ứng Frankland-Duppa theo đó một oxalat este(ROCOCOOR) phản ứng với alkyl halua R'X, kẽm và axit clohydrit để tạo ra este α-hydroxycarboxylic RR'COHCOOR, phản ứng Reformatskii biến đổi α-halo-este và andehit thành β-hydroxy-este, phản ứng Simmons–Smith theo đó kẽm carbenoid (iodomethyl) iodua phản ứng với anken (hoặc ankin) và biến đổi chúng thành cyclopropan, phản ứng thêm vào của các hợp chất kẽm hữu cơ tạo thành các hợp chất carbonyl. Phản ứng Barbier (1899) là sự cân bằng kẽm của phản ứng Grignard magiê và tốt hơn là cả hai phản ứng. Sự có mặt của một lượng nước bất kỳ trong sự thành tạo magiê hữu cơ halua sẽ không thành công, ngược lại phản ứng Barbier có thể thậm chí diễn ra trong môi trường nước. Mặt khác các kẽm hữu cơ ít ái nhân hơn Grignards, rất đắt và khó vận chuyển. Các hợp chất kẽm có hai gốc hữu cơ có trên thị trường là kẽm dimetyl, kẽm dietyl và kẽm diphenyl. Trong một nghiên cứu hợp chất kẽm hữu cơ hoạt động được xem là rẽ hơn nhiều so với tiền chất brôm hữu cơ: Phản ứng song hợp Negishi cũng là một phản ứng quan trọng để tạo thành các liên kết carbon-carbon mới giữa các nguyên tử carbon không no trong anken, aren và ankyn. Các chất xúc tác là niken và palladi. Một bước quan trọng trong chu vòng tuần hoàn xúc tác đó là kẽm halua trao đổi bằng cách thay thế gốc hữu cơ của nó với một halogen khác bằng kim loại palladi (niken). Phản ứng song hợp Fukuyama là một kiểu phản ứng khác như phản ứng này có 3 gốc este tham gia phản ứng để tạo thành một xeton. Kẽm có nhiều ứng dụng làm chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ như tổng hợp bất đối xứng, là một phương pháp rẻ và dễ thực hiện thay cho các chất phức kim loại quý. Các kết quả thu được bằng cách sử dụng chất điện phân kẽm chiral có thể so sánh với phương pháp thu được palladi, rutheni, iridi và các kim loại khác và do đó kẽm trở thành kim loại được lựa chọn ngày càng nhiều cho mục đích này. == Vai trò sinh học == Kẽm là nguyên tố cần thiết để duy trì sự sống của con người động vật khác, thực vật, và vi sinh vật. Kẽm được tìm thấy trong gần 100 loại enzym đặc biệt (các nguồn khác cho rằng tới 300), có vai trò là các ion cấu trúc trong yếu tố phiên mã và được lưu trữ và vận chuyển ở dạng thionein kim loại. Nó là "kim loại chuyển tiếp phổ biến thứ 2 trong sinh vật" sau sắt và nó là kim loại duy nhất có mặt trong tất cả các lớp enzym. Trong các protein, các ion kẽm thường liên kết với các chuỗi amino axít của axit aspartic, axít glutamic, cystein và histidin. Việc miêu tả lý thuyết và tính toán của các liên kết kẽm trong các protein này cũng như đối với các kim loại chuyển tiếp khác còn khó khăn. Có từ 2–4 gam kẽm phân bố trong khắp cơ thể con người. Hầu hết kẽm nằm trong não, cơ, xương, thận và gan, tuy nhiên nồng độ kẽm cao nhất tập trung trong tuyến tiền liệt và các bộ phận của mắt. Tinh dịch đặc biệt rất giàu kẽm, vì đây là yếu tố quan trọng trong chức năng của tuyến tiền liệt và giúp phát triển cơ quan sinh dục. Kẽm đóng vai trò sinh học quan trọng đối với con người. Nó tương tác với một loạt các phối tử hữu cơ, và có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của RNA và DNA, truyền tín hiệu và biểu hiện gen. Nó cũng quyết định quá trình chết rụng tế bào. Một nghiên cứu năm 2006 ước tính rằng khoảng 10% protein người (2.800) có thể phụ thuộc vào kẽm, thêm vào đó hàng trăm protein vận chuyển kẽm; một nghiên cứu tương tự về in silico trong loài thực vật Arabidopsis thaliana đã tìm thấy 2.367 protein liên quan đến kẽm. Trong não, kẽm được lưu trữ trong các synaptic vesicles đặc biệt bởi các tế bào thần kinh glutamatergic và có thể "điều chỉnh khả năng kích thích não". Nó có vai trò quan trọng trong synaptic plasticity và cũng như trong việc học. Tuy nhiên, nó được gọi là "ngựa đen của não" ("the brain's dark horse") vì nó cũng có thể là một chất độc thần kinh, homeostasis kẽm đóng vai trò quan trọng trong chức năng bình thường của não và hệ thần kinh trung ương. === Enzym === Kẽm là một axít Lewis, là một chất xúc tác có ích trong quá trình hydroxyl hóa và các phản ứng enzym khác. Kim loại kẽm cũng là một chất có phối hợp hình học linh động, điều này cho phép các protein sử dụng nó để thay đổi cấu trúc protein một cách nhanh chóng để thực hiện các phản ứng sinh học. Hai ví dụ về các enzym chứa kẽm là carbonic anhydrase và carboxypeptidase, đây là các enzym cần thiết trong các quá trình của chuyển hóa cacbon điôxít (CO2) và tiêu hóa protein theo thứ tự. Trong máu của động vật có xương sống, carbonic anhydrase chuyển hóa CO2 thành bicacbonat và cùng enzym đó chuyển bicacbonat trở lại thành CO2 khi thở qua phổi. Nếu không có enzym này, sự biến đổi này có thể diễn ra chậm hơn khoảng 1 triệu lần đối với máu bình thường có pH là 7 hoặc không thì pH phải 10 hoặc lớn hơn. Anhydrase không liên quan β-carbonic là cần thiết cho sự hình thành lá ở thực vật, sự tổng hợp indole axít acetic (auxin) và hô hấp kị khí (lên men rượu). Carboxypeptidase tách các liên kết peptit trong quá trình tiêu hóa protein. Liên kết cộng hóa trị phối hợp được tạo ra giữa các peptit đầu cuối và nhóm C=O gắn với kẽm, làm cho cacbon tích điện dương. Yếu tố này giúp tạo ra một hốc kị nước trên enzym gần kẽm, làm hút phần không phân cực của protein bị tiêu hóa. === Các protein khác === Kẽm có vai trò cấu trúc toàn bộ trong cụm, xoắn và ngón tay kẽm. Các kẽm finger tạo thành các bộ phận của một số yếu tố phiên mã (transcription factor), chúng là các protein nhận dạng trình tự DNA trong quá trình phiên mã và sao chép DNA. Mỗi ion Zn2+ thứ 9 hoặc 10 trong ngón tay kẽm giúp duy trình cấu trúc của các ngón tay bằng cách tạo liên kết với 4 amino axít trong nhân tố phiên mã. Yếu tố phiên mã bao bọc xung quanh xoắn DNA và sử dụng các finger của nó để liên kết một cách chính xác với chuỗi DNA. Trong huyết tương, kẽm bị ràng buộc và bị vận chuyển bởi albumin (60%, ái lực thấp) và transferrin (10%). Vì transferrin cũng vận chuyển sắt, khi lượng sắt tăng quá cao làm giảm khả năng hấp thụ kẽm và ngược lại. Phản ứng tương tự cũng xảy ra đối với đồng. Hàm lượng kẽm trong huyết tương ở mức tương đối ổn định bất kể lượng kẽm tiêu thụ vào là bao nhiêu. Các tế bào trong tuyến nước bọt, tuyến tiền liệt, hệ miễn dịch và ruột sử dụng tín hiệu kẽm như là cách để liên lạc với các tế bào khác. Kẽm có thể được giữ trong thionein kim loại trong vi sinh vật hoặc trong ruột hoặc gan động vật. Thionein kim loại trong các tế bào ruột có thể điều chỉnh sự hấp thụ kẽm khoảng 15–40%. Tuy nhiên thiếu hoặc thừa kẽm có thể gây hại; đặc biệt thừa kẽm làm giảm hấp thụ đồng do thionein kim loại hấp thụ cả hai kim loại như đã phân tích ở trên. === Chế độ ăn uống === Ở Mỹ, chế độ ăn chỉ định (Recommended Dietary Allowance - RDA) là 8 mg/ngày đối với nữ giới và 11 mg/ngày đối với nam giới. Chế độ ăn trung bình ở Mỹ năm 2000 là 9 mg/ngày đối với nữ giới và 14 mg/ngày đối với nam giới. Hàu, tôm hùm và các loại thịt đỏ, đặc biệt là thịt bò, thịt cừu và gan bò là các thực phẩm có hàm lượng kẽm cao. Hàm lượng kẽm trong thực vật thay đổi tùy theo hàm lượng nguyên tố này trong đất. Khi đất có đủ lượng kẽm, thực phẩm từ thực vật chứa kẽm nhiều như lúa mì, và các loại hạt khác (mè, anh túc, cỏ linh lăng, cần tây, mù tạc). Các nguồn thức ăn tự nhiên giàu kẽm khác bao gồm: các loại quả có nhân, ngũ cốc nguyên vẹn, hạt bí hay hạt hướng dương. Các nguồn khác trong thực phẩm tăng cường và chế độ ăn uống bổ sung cũng có nhiều dạng. Một báo cáo năm 1998 kết luận rằng kẽm ôxít, là một trong những chất bổ sung phổ biến nhất ở Mỹ, và kẽm cacbonat là loại gần như không hòa tan và kém được hấp thu trong cơ thể. Bài báo này trích dẫn các nghiên cứu phát hiện rằng các hàm lượng kẽm plasma thấp sau khi ăn kẽm ôxít và kẽm cacbonat so với những trường hợp sau khi tiêu thụ kẽm acetat và kẽm sulfat. Tuy nhiên, bổ sung kẽm vượt mức gây hại là một vấn đề trong số những người tương đối giàu, và có thể không nên vượt quá 20 mg/ngày ở người khỏe mạnh, mặc dù Hội đồng Nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ đưa ra mức trần là 40 mg/ngày. Tuy nhiên, trong việc tăng cường kẽm, một đánh giá năm 2003 cho rằng kẽm ôxít trong ngũ cốc rẽ, ổn định và dễ hấp thu hơn các loại đắt tiền hơn. Một nghiên cứu năm 2005 phát hiện rằng nhiều hợp chất kẽm bao gồm cả dạng ôxít và sulfat, không cho thấy sự khác biệt đáng kể về thống kê trong việc hấp thụ khi thêm vào bánh ngô. Một nghiên cứu năm 1987 cho thấy rằng kẽm picolinat được hấp thụ tốt hơn so với kẽm gluconat hay kẽm citrat. Tuy nhiên, một nghiên cứu công bố năm 2008 khẳng định rằng kẽm glycinat được hấp thụ tốt nhất trong 4 loại bổ sung kẽm trên thị trường. === Thiếu kẽm === Thiếu kẽm thường là do dinh dưỡng thiếu kẽm, nhưng cũng có thể liên quan đến sự hấp thu kẽm kém, acrodermatitis enteropathica, bệnh gan mãn tính, bệnh thận mãn tính, hồng cầu lưỡi liềm, tiểu đường, bệnh ác tính và các bệnh mãn tính khác. Các triệu chứng thiếu kẽm nhẹ rất đa dạng. Biểu hiện lâm sàng bao gồm chậm tăng trưởng, tiêu chảy, bất lực và chậm phát dục, rụng tóc, tổn thương da và mắt, giảm cảm giác ngon miệng, thay đổi nhận thức, làm suy giảm khả năng bảo vệ của cơ thể, khiếm khuyết trong việc sử dụng carbohydrat, và sinh quái thai. Thiếu kẽm nhẹ làm giảm miễn dịch, mặc dù dư thừa kẽm cũng giảm miễn dịch. Động vật có chế độ ăn thiếu kẽm thì cần lượng thức ăn tăng gấp đôi để bù lại lượng kẽm so với các động vật được cung cấp đủ kẽm. Các nhóm có nguy cơ thiếu kẽm bao gồm người già, và những người suy thận. Kẽm chelat phytat được tìm thấy trong hạt và ngũ cốc cám có thể góp phần vào việc kém hấp thu kẽm. Mặc dù có những lo ngại, nhưng những người ăn chay phương Tây không được phát hiện là thiếu hụt kẽm nhiều so với những người ăn thịt. Các nguồn thực vật cung cấp kẽm như đậu khô, rau biển, ngũ cốc tăng cường, thực phẩm từ đậu nành, đậu phụng, các loại hạt, đậu Hà Lan, mầm hạt. Tuy nhiên, phytat trong nhiều loại hạt và chất xơ trong thực phẩm có thể ảnh hưởng đến việc hấp thụ kẽm và uống kẽm gần giới hạn biên có các hiệu ứng chưa được rõ. Có một vài bằng chứng cho thấy rằng sử dụng lượng kẽm nhiều hơn so với tiêu chuẩn của US RDA (15 mg) hàng ngày có thể là cần thiết cho những người có chế độ ăn uống mà phytat cao, như một số người ăn chay. Việc tính toán này phải được cân đối với thực tế rằng có một lượng ít ỏi các chỉ số sinh học kẽm đầy đủ, và là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất, kẽm plasma, có độ nhạy và độ đặc hiệu kém. Chẩn đoán thiếu kẽm là một thách thức lâu dài. Thiếu kẽm là trường hợp thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất ở thực vật, đặc biệt là trong đất có độ pH cao. Đất thiếu kẽm được canh tác trong các cánh đồng của phân nửa Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, 1/3 ở Trung Quốc và hầu hết miền Tây Úc, và có những phản hồi đáng kể về việc bổ sung phân kẽm đã được báo cáo ở các khu vực này. Thực vật phát triển trong các loại đất thiếu kẽm dễ bị mắc bệnh hơn. Kẽm về cơ bản được bổ sung vào đất thông qua quá trình phong hóa từ các loại đá, nhưng con người đã đưa kẽm vào trong đất qua quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, chất thải mỏ, phân lân, đá vôi, phân, bùn thải và các hạt từ các bề mặt mạ kẽm. Kẽm dư thừa là chất độc đối với cây, mặc dù độ độc của kẽm ít phổ biến. Gần 2 tỉ người ở các nước đang phát triển bị thiếu kẽm. Ở trẻ em, thiếu kẽm làm gia tăng nhiễm trùng và tiêu chảy làm khoảng 800.000 trẻm em thiệt mạng mỗi năm trên toàn cầu. WHO có chủ trương bổ sung kẽm cho trẻ suy dinh dưỡng nặng và tiêu chảy. Bổ sung kẽm giúp ngăn ngừa bệnh tật và giảm tử vong, đặc biệt là trẻ em sinh thiếu cân hoặc chậm phát triển. Tuy nhiên, bổ sung kẽm không nên được phân phối một cách riêng lẻ vì một số trường hợp thiếu kẽm ở các quốc gia đang phát triển có thể liên quan đến sự tương tác của kẽm với các vi chất dinh dưỡng khác. == Phục hồi đất == Ericoid Mycorrhizal Fungi Calluna, Erica và Vaccinium có thể phát triển trên đất giàu kẽm. === Nông nghiệp === Thiếu kẽm trong nông nghiệp là sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất những loài cây trồng; đặc biệt phổ biến trong đất có pH cao. Thiếu kẽm trong đất trồng chiếm nửa diện tích của Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, 1/3 ở Trung Quốc, và hầu hết ở Tây Úc, và phản ứng chủ yếu đối với phân kẽm đã được báo cáo ở những khu vực này. Thực vật phát triển trên đất thiếu kẽm dễ bị sâu bệnh. Kẽm được bổ sung vào đất chủ yếu từ quá trình phong hóa đá, nhưng con người đã thêm kẽm qua việc đốt các nhiên liệu hóa thạch, chất thải mỏ, phân phosphat, thuốc trừ sâu (kẽm photphit), đá vôi, phân, bùn thải, và các hạt ở dạng xi mạ. Thừa kẽm cũng là chất độc đối với cây trồng, mặc dù ngộ độc kẽm ít phổ biến hơn. == Cảnh báo == === Độc tính === Mặc dù kẽm là vi chất cần thiết cho sức khỏe, tuy nhiên nếu hàm lượng kẽm vượt quá mức cần thiết sẽ có hại cho sức khỏe. Hấp thụ quá nhiều kẽm làm ngăn chặn sự hấp thu đồng và sắt. Ion kẽm tự do trong dung dịch là chất có độc tính cao đối với thực vật, động vật không xương sống, và thậm chí là cả động vật có xương sống. Mô hình hoạt động của ion tự do đã được công bố trong một số ấn phẩm, cho thấy rằng chỉ một lượng mỏ mol ion kẽm tự do cũng giết đi một số sinh vật. Một thí nghiệm gần đây cho thấy 6 micromol giết 93% Daphnia trong nước. Ion kẽm tự do là một axít Lewis mạnh đến mức có thể ăn mòn. Axít dịch vị chứa axít clohydric, mà hàm lượng kẽm kim loại trong đó dễ hòa tan trong đó gây ăn mòn kẽm clorua. Nuốt đồng xu 1 cent của Mỹ năm 1982 (97,5% kẽm) có thể làm hỏng niêm mạc dạ dày do khả năng hòa tan cao của các ion kẽm trong dịch vị. Có bằng chứng về sự thiếu hụt đồng khi uống ở mức thấp một lượng kẽm 100–300 mg/ngày; một thử nghiệm gần đây cho thấy số người nhập viện cao hơn liên quan đến các biến chứng tiết niệu so với "thuốc trấn an" trong số đàn ông lớn tuổi uống 80 mg/day. USDA RDA khuyến khích uống 11 và 8 mg Zn/ngày theo thứ tự đối với đàn ông và phụ nữ. Thậm chí ở các mức thấp hơn, gần với tiêu chuẩn RDA, có thể can thiệp với việc uống đồng và sắt, chống lại ảnh hưởng của cholesterol. Hàm lượng kẽm vượt quá 500 ppm trong đất gây rối cho khả năng hấp thụ các kim loại cần thiết khác của thực vật, như sắt và mangan. Có những tình huống gọi là sự run kẽm hay ớn lạnh kẽm sinh ra do hít phải các dạng bột ôxít kẽm nguyên chất phát sinh trong quá trình mạ vật liệu. Kẽm là thành phần bổ biến của hàm răng giả, nó có thể chứa 17 đến 38 mg kẽm/gram. Đã có những kiện cáo do mất chức năng, và thậm chí tử vong do sử dụng nhiều sản phẩm này. Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã khuyến cáo rằng kẽm phá hủy các thụ thể thần kim trong mũi gây ra chứng mất khứu giác. Các báo cáo về chứng mất khứu giác cũng được quan sát trong thập niên 1930 khi các công tác chuẩn bị kẽm để sử dụng trong một nỗ lực không thành công để ngăn chặn sự lây nhiễm bệnh bại liệt. Ngày 16 tháng 6 năm 2009, FDA thông báo rằng những người sử dụng kẽm nên dừng sử dụng các sản phẩm trị cúm có gốc kẽm và yêu cầu loại bỏ các sản phẩm đó trong các cửa hàng. FDA nói rằng việc không cảm nhận được mùi có thể đe dọa đời sống vì người dân không thể cảm nhận được sự rò rỉ của gas hoặc khói và không thể nhận biết rằng thực phẩm có bị hư trước khi họ ăn. Nghiên cứu gần đây cho rằng kẽm pyrithion kháng khuẩn có thể gây phản ứng sốc nhiệt tiềm ẩn cảm ứng hơn có thể làm giảm tích toàn vẹn bộ gen với sự cảm ứng của PARP. === Ngộ độc === Năm 1982, United States Mint bắt đầu đúc xu bằng đồng mạ kẽm nhưng chủ yếu là làm từ kẽm. Với các đồng kẽm mới, có khả năng gây ngộ độc kẽm, và có thể gây tử vong. Một trường hợp ăn liên tục trong thời gian dài 425 đồng xu kẽm (hơn 1 kg kẽm) gây tử vong do nhiễm vi khuẩn đường ruột và nhiễm trùng máu, trong khi một bệnh nhân khác ăn 12 gram kẽm chỉ cho thấy hôn mê và bất động. Một số ca khác liên quan đến ngộ độc kẽm từ việc nuốt các đồng xu kẽm cũng được ghi nhận. Các con chó đôi khi cũng nuốt các đồng xu và chỉ có cách dùng thuốc để loại chúng ra khỏi cơ thể. Hàm lượng kẽm trong một số đồng xu có thể gây ra ngộ độc kẽm, mà thường gây tử vong ở chó, vì nó gây ra các chứng thiếu máu (hemolytic anemia) nghiêm trọng, và cũng làm cho gan và thận bị tổn thương; các chứng nôn mửa và tiêu chảy. Kẽm có độc tính cao đối với vẹt và sự ngộ độc có thể làm chết chúng. Việc cho các con vẹt uống các loại nước ép trái cây trong các hộp mạ kẽm có thể làm cho chúng bị ngộ độc kẽm hàng loạt. == Ghi chú == == Tham khảo == == Tham chiếu == Periodic Table of Elements: Los Alamos National Laboratory - Zinc Bản lưu 16/4/2000 == Liên kết ngoài == Zinc (Zn) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) WebElements.com – Zinc (tiếng Anh) General Information of Zinc (tiếng Anh) EnvironmentalChemistry.com – Zinc (tiếng Anh) Discovering the 8th metal (tiếng Anh) A History of Zinc. Fathi Habashi Zinc - Element information, properties and uses | Periodic Table trên Merck Index (tiếng Việt) Kẽm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
29 tháng 11.txt
Ngày 29 tháng 11 là ngày thứ 333 (334 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 32 ngày trong năm. == Sự kiện == 1394 – Quốc vương Triều Tiên Lý Thành Quế thiên đô từ Khai Thành đến Hán Dương, đồng thời chính thức đổi tên thành Hán Thành, tức Seoul ngày nay. 1729 – Người da đỏ Natchez tiến hành một cuộc nổi dậy bất ngờ chống lại thực dân Pháp tại địa điểm mà nay nằm gần Natchez, Mississippi của Hoa Kỳ, sát hại hơn 240 người. 1777 – Cộng đồng nông nghiệp Pueblo de San José de Guadalupe được thành lập, là khu định cư thường dân đầu tiên ở Alta California thuộc Tân Tây Ban Nha, nay là San Jose của Hoa Kỳ. 1899 – Một người Thụy Sĩ là Joan Gamper thành lập nên FC Barcelona, nay là một trong những câu lạc bộ thành công nhất của bóng đá Tây Ban Nha. 1945 – Quốc hội lập hiến của Nam Tư chính thức bãi bỏ chế độ quân chủ và tuyên bố nhà nước là một cộng hòa. 1947 – Chiến tranh Đông Dương: Thảm sát Mỹ Trạch tại tỉnh Quảng Bình. 1967 - Chiến tranh Việt Nam: Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara tuyên bố từ chức. 1987 – Một máy bay Boeing 707 của Korean Air phát nổ trên biển Andaman, trong một vụ khủng bố được tiến hành bởi hai điệp viên Bắc Triều Tiên đặt bom hẹn giờ. == Sinh == 1427 – Minh Anh Tông Chu Kì Trấn, còn gọi là Chính Thống Đế hay Thiên Thuận Đế, hoàng đế nhà Minh, tức ngày 11 tháng 11 năm Đinh Mùi (m. 1464) 1797 – Gaetano Donizetti, nhà soạn nhạc người Ý (m. 1848) 1803 – Christian Andreas Doppler, nhà vật lý học người Áo (m. 1853) 1803 – Gottfried Semper, kiến trúc sư người Đức (m. 1879) 1835 – Từ Hi Thái hậu Diệp Hách Ná Lạp Hạnh Trinh của nhà Thanh, tức 10 tháng 10 năm Ất Mùi (m. 1908) 1898 – C. S. Lewis, tác gia người Ireland (m. 1963) 1925 – Ernst Happel, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Áo (m. 1992) 1932 – Jacques Chirac, chính trị gia người Pháp, Tổng thống thứ 22 của Pháp 1939 – Meco, người chơi trombone và nhà sản xuất người Mỹ 1940 – Oscar Espinosa Chepe, nhà kinh tế học người Cuba 1947 – Petra Kelly, chính trị gia người Đức (m. 1992) 1949 – Jerry Lawler, đô vật và bình luận viên thể thao người Mỹ 1952 - Nguyễn Chánh Tín, diễn viên điện ảnh, đạo diễn và ca sĩ người Việt Nam. 1958 – John Dramani Mahama, chính trị gia người Ghana, Tổng thống thứ tư của Ghana 1959 – Richard Borcherds, nhà toán học người Anh gốc Nam Phi 1971 – Gena Lee Nolin, diễn viên người Mỹ 1973 – Ryan Giggs, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc 1974 - Lâm Chí Linh, người mẫu, diễn viên người Đài Loan 1976 – Anna Faris, diễn viên và ca sĩ người Mỹ 1976 - Đan Trường, ca sĩ người Việt Nam 1982 – Imogen Thomas, người mẫu Anh Quốc 1985 – Taguchi Junnosuke, ca sĩ, diễn viên, vũ công người Nhật Bản == Mất == 1198 – Al-Aziz Uthman, Sultan của Vương triều Ayyub Ai Cập (s. 1171) 1268 – Giáo hoàng Clêmentê IV (s. 1190) 1314 – Philippe IV, Quốc vương Pháp (s. 1268) 1378 – Karl IV, Hoàng đế La Mã Thần thánh (s. 1316) 1501 – Francesco Di Giorgio Martini, họa sĩ người Ý (s. 1439) 1544 – Triều Tiên Trung Tông Lý Dịch, tức 15 tháng 11 năm Giáp Thìn (s. 1488) 1643 – Claudio Monteverdi, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1567) 1699 – Patrick Gordon, tướng lĩnh người Scotland (s. 1635) 1780 – Maria Theresia, Hoàng hậu Mã Thần thánh (s. 1717) 1883 – Hiệp Hòa Nguyễn Phúc Hồng Dật, Hoàng đế triều Nguyễn, tức 30 tháng 10 năm Quý Mùi (s. 1847) 1924 – Giacomo Puccini, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1858) 1931 – Đặng Diễn Đạt, nhân vật quân sự Trung Quốc (s. 1895) 1941 – Zoya Kosmodemyanskaya, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô (s. 1923) 1974 - Bành Đức Hoài, tướng lĩnh Trung Quốc (s. 1898) 1981 – Natalie Wood, diễn viên người Mỹ (s. 1938) 1986 – Cary Grant, diễn viên người Mỹ gốc Anh (s. 1904) 2001 – George Harrison, ca sĩ-người viết ca khúc, nhà sản xuất và diễn viên người Anh, thành viên ban nhạc The Beatles (s. 1943) 2006 – Leon Niemczyk, diễn viên người Ba Lan (s. 1923) 2008 – Jørn Utzon, kiến trúc sư người Đan Mạch, thiết kế Nhà hát Opera Sydney (s. 1918) 2010 – Bella Akhmadulina, thi nhân người Nga (s. 1937) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
3 tháng 9.txt
Ngày 3 tháng 9 là ngày thứ 246 (247 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 119 ngày trong năm. == Sự kiện == 590 – Bắt đầu triều đại của Giáo hoàng Grêgôriô I, vị giáo hoàng đầu tiên xuất thân từ đan sĩ. 863 – Quân Đông La Mã giành thắng lợi trước quân Melitene trong trận Lalakaon tại Tiểu Á. 1868 - Thiên hoàng Minh Trị xuống chiếu đổi tên thành Edo và cho xây dựng thành kinh đô Tōkyō (Đông Kinh). 1189 – Richard I tiến hành nghi lễ đăng quang quốc vương của Anh tại Tu viện Westminster. 1783 – Hoa Kỳ và Anh Quốc ký kết Hiệp định Paris, chính thức chấm dứt Cách mạng Mỹ. 1901 – Bản thiết kế nguyên bản của Quốc kỳ Úc được treo lần đầu, trên nóc Tòa nhà Triển lãm Hoàng gia tại Melbourne. 1907 – Dưới sức ép của Thực dân Pháp, vua Thành Thái phê chuẩn chiếu thoái vị, sau đó ông bị đưa đi quản thúc tại Cap Saint Jacques. 1967 - Cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng viện Việt Nam Cộng hòa. 1997 – Một chiếc máy bay Tupolev Tu-134 của Vietnam Airlines gặp tai nạn khi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Phnôm Pênh, 64 người tử vong. == Sinh == 1868 - Mary Parker Follett, nhân viên xã hội, nhà lý thuyết quản lý, chuyên gia tư vấn và nhà văn người Mỹ 1869 - Fritz Pregl, nhà hóa học người Áo gốc Slovenia 1928 - Dương Quang Trung, bác sĩ người Việt Nam 1967 - Daron Acemoglu, nhà kinh tế học mang hai quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ-Hoa Kỳ == Mất == 1226 - Lý Huệ Tông, Hoàng đế thứ 8 của nhà Lý, Việt Nam (s. 1194) 1300 - Trần Quốc Tuấn, danh nhân quân sự Việt Nam thời nhà Trần 1883 - Đại văn hào Nga Ivan Sergeyevich Turgenev 2001 - Thuỳ Trang, diễn viên người Mỹ gốc Việt 2010 - Băng Sơn, nhà văn Việt Nam chuyên viết về Hà Nội (s. 1932) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
thỏ ngọc (xe tự hành).txt
Thỏ Ngọc (tiếng Trung: 玉兔; Hán-Việt: Ngọc Thố) là một tàu tự hành không người lái, một phần trong sứ mệnh khám phá Mặt Trăng Hằng Nga 3 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tên được đặt theo nhân vật Thỏ Ngọc trong huyền thoại Trung Hoa. Vài giờ sau khi Hằng Nga 3 hạ cánh xuống mặt trăng, Thỏ Ngọc đã tách khỏi tàu đổ bộ vào sáng sớm ngày 15 tháng 12 năm 2013 (giờ Bắc Kinh) vã đã xuống bề mặt Mặt Trăng lúc 4 giờ 35 phút sáng ngày 15 tháng 12 và di chuyển trên đó, để lại một vết sâu trên bề mặt "chị Hằng". Quá trình này đã được camera trên tàu đổ bộ ghi lại và các hình ảnh được gửi về Trái Đất. Hằng Nga-3 sẽ hoạt động trên Mặt Trăng khoảng 1 năm, trong khi Thỏ Ngọc được trang bị một máy phát điện đồng vị phóng xạ nhiệt để cung cấp năng lượng cho các hoạt động thám hiểm mặt trăng khi nhiệt độ xuống thấp đến −180 °C (−292,0 °F) trong vòng 3 tháng. Ngoài ra, Thỏ ngọc còn được trang bị 6 bánh xe và ít nhất 4 máy ảnh cùng 2 chân cơ động để có thể khai thác các mẫu đất ở độ sâu đến 30 mét (98 ft). == Tham khảo ==
võ văn bảy.txt
Võ Văn Bảy (1931-2002) là một tay quần vợt nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ngày 18 tháng 7 năm 1931 tại Vĩnh Long. Năm 21 tuổi, Võ Văn Bảy lên Sài Gòn và bắt đầu chơi tại sân quần vợt Nhà máy rượu Bình Tây. Năm 1954, ông đoạt chức vô địch lần đầu tiên ở đây và giữ vững cho đến 1984 . Năm 1954, ông dự giải Vô Địch Quần Vợt Pháp Roland Garros nhưng bị loại ở vòng đầu (thua Vieira của Brasil 6-0, 6-1, 6-4). Cho tới nay, có lẽ ông là tay quần vợt Việt Nam duy nhất đã được tham dự một giải đơn Grand Slam quần vợt. Tháng 1 năm 1959, tại giải Đại hội Thể thao Đông Nam Á tại Bangkok, ông Bảy đã thắng tay vợt Thái Lan là Seri Charuchinda ở chung kết, để đoạt chiếc huy chương vàng (đơn nam) đầu tiên cho quần vợt Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1959 đến 1973, đội Việt Nam liên tiếp thắng 7 lần huy chương vàng đôi nam quần vợt tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEAP Games) thì 6 lần đã do sự góp sức của ông. Ông cùng với người em trai Võ Văn Thành đã đại diện Việt Nam tham dự nhiều giải quần vợt quốc tế trong thập niên 1960-1970. Ông tranh giải Cúp Davis trong những năm 1964-1974 với thành tích 20 trận thắng và 15 trận thua. Kết quả tốt nhất là vào chung kết Vùng Đông B (Eastern Zone B) vào tháng 4 năm 1964 . Trong vòng chung kết này (chơi tại Sài Gòn) ông đã thua một trận đơn nam sát nút với tay vợt Ấn Độ nổi tiếng thời ấy là Jaidip Mukerjea với tỉ số 7-5, 6-4, 4-6, 4-6, 6-3 . Jaidip Mukerjea đã từng hạ những tay quần vợt khét tiếng của Úc là John Newcombe và Tony Roche (sau này là huấn luyện viên của danh thủ Roger Federer). Ông cùng Lưu Hoàng Đức đoạt huy chương bạc quần vợt đôi nam năm 1966 tại Á Vận Hội ở Bangkok . Ông mất năm 2002 tại Việt Nam vì bệnh ung thư ống nói. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
lưu bị.txt
Lưu Bị (Giản thể: 刘备, Phồn thể: 劉備; 161 – 10 tháng 6, 223) hay còn gọi là Hán Chiêu Liệt Đế (漢昭烈帝), là một vị thủ lĩnh quân phiệt, hoàng đế khai quốc nước Thục Hán thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Dù còn có ý kiến nghi ngờ, Lưu Bị được sử sách xác nhận là dòng dõi xa của hoàng tộc nhà Hán. Xuất thân nhà nghèo, ông phải tự lao động kiếm sống thời trẻ. Sự nghiệp của Lưu Bị khởi đầu bằng việc tham gia trấn áp cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng và làm quan cho triều đình, nhưng đường hoạn lộ của ông ban đầu không được suôn sẻ. Gặp lúc nhà Hán suy yếu và nổ ra chiến tranh quân phiệt, Lưu Bị cùng hai người bạn kết nghĩa là Quan Vũ và Trương Phi dần dần tự gây dựng lực lượng và tham gia vào cuộc chiến này. Tuy nhiên, cuộc tranh hùng của Lưu Bị không thuận lợi, ông nhiều lần thất bại và phải đi nương nhờ dưới trướng nhiều chư hầu đương thời như Lã Bố, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Biểu. Trong thời gian nương nhờ Lưu Biểu ở Kinh châu, Lưu Bị được Gia Cát Lượng theo phò tá và vạch ra Long Trung đối sách để tranh thiên hạ. Theo đường lối này, ông liên kết với quân phiệt Tôn Quyền ở Giang Đông cùng chống Tào Tháo ở phía bắc, chiếm được một phần Kinh châu và gần trọn Ích châu làm đất dựng nghiệp. Tuy nhiên, chiến lược Long Trung đối sách có nguy cơ đổ vỡ vì liên minh với Tôn Quyền rạn nứt, họ Tôn đánh chiếm phần Kinh châu của ông và giết Quan Vũ, khiến Lưu Bị cất quân đánh báo thù và định giành lại đất, sau khi chính thức xưng hoàng đế để kế tục nhà Hán vừa bị họ Tào đoạt ngôi. Thất bại ở Di Lăng khiến Lưu Bị suy sụp, lâm bệnh rồi qua đời. Cơ nghiệp ông gây dựng được truyền lại cho người con cả Lưu Thiện và giao cho thừa tướng Gia Cát Lượng phò tá. Lưu Bị là một trong những nhân vật chính của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa. Trong tác phẩm này La Quán Trung xây dựng Lưu Bị là nhân vật chính diện, có lòng nhân từ bác ái và hư cấu khá nhiều tình tiết về ông so với ngoài đời thật. Do đó một số hành động thể hiện tính cứng rắn và chiến tích quân sự của ông được gán cho nhân vật khác trong truyện. == Thân thế == Lưu Bị có tên tự là Huyền Đức (玄德), người huyện Trác, quận Trác thuộc U châu. Ông là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh vương Lưu Thắng – người con thứ của Hán Cảnh Đế. Ông nội Lưu Bị là Lưu Hùng, được cử làm Hiếu liêm, làm huyện lệnh huyện Phạm thuộc Đông quận. Cha Lưu Bị là Lưu Hoằng mất sớm. Tuy là người dòng dõi nhà Hán, nhưng do từ thời Hán Vũ Đế ban hành “thôi ân lệnh” nên đất phong của các quận vương ngày càng bị phân chia. Đến đời Lưu Bị, những người chi thứ của hoàng tộc ngày càng được hưởng ít tước lộc, gia đình ông chỉ là bần nông, chỉ còn lại danh nghĩa là con cháu hoàng thất. Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang viết vào thời Bắc Tống nêu ý kiến nghi ngờ về thân thế này của Lưu Bị: Nhà Hán của Chiêu Liệt Đế (ý chỉ Lưu Bị), tuy nói là con cháu của Trung Sơn Tĩnh Vương, nhưng quan hệ quá xa, không thể ghi rõ thân thế danh vị, giống như Tống Vũ Đế xưng là con cháu của Sở Nguyên Vương, Nam Đường Liệt Tổ xưng là con cháu của Ngô Vương Khác, thật giả khó phân, nên không dám sánh với Quang Vũ Đế và Tấn Nguyên Đế, khiến cho nhà Hán này bị cho là di thống (không phải chính thống). == Thời trẻ == Lưu Bị được sách Tam quốc chí mô tả là người cao bảy thước rưỡi (quy đổi ra 1 mét 65) không có râu, vành tai rất lớn, mắt có thể nhìn thấy, hai tay rất dài tới đầu gối. Về tính cách ông là người ít nói, mừng giận không lộ ra mặt. Nhà nghèo và mồ côi cha sớm, Lưu Bị phải cùng mẹ làm nghề bện giày cỏ, chiếu cỏ để kiếm sống. Do danh tiếng là người trong hoàng tộc, ông vẫn kết giao được với những người có danh vọng như Công Tôn Toản, Lưu Đức Nhiên, cùng họ nhận Lư Thực làm thầy. Lư Thực là người có tài kiêm văn võ, Lưu Bị được truyền đạt học hỏi rất nhiều. Tiền học của Lưu Bị được cha của Lưu Đức Nhiên là Lưu Nguyên Khởi chu cấp cho. Ông học không giỏi mà thích nuôi chó ngựa, chú trọng đến ăn mặc. Lưu Bị thích giao kết với kẻ hào kiệt, được nhiều người trẻ tuổi vây quanh. Lưu Bị đã gặp gỡ và kết giao với Quan Vũ và Trương Phi. Ba người rất thân thiết với nhau, coi nhau như anh em một nhà. Nhà Đông Hán ngày càng suy yếu, nhiều nơi tình hình địa phương không ổn định, Lưu Bị đã tập hợp thanh niên trong xóm đứng ra bảo vệ trật tự. Ông được mấy người phú thương làm nghề buôn ngựa ở nước Trung Sơn là Trương Thế Bình và Tô Song trợ giúp, vì thế Lưu Bị có thể duy trì trong tay một đội quân nhỏ trong vùng. == Gian nan lưu lạc == === Hai lần bỏ chức quan huyện === Năm 184, quân khởi nghĩa Khăn Vàng do Trương Giác cầm đầu nổi dậy chống triều đình, thế lực nhanh chóng lan đi các nơi. Lưu Bị khởi binh giúp nhà Hán chống Khăn Vàng ở Trác quận. Ông mang Quan Vũ, Trương Phi cùng đội quân bản bộ gia nhập vào quân triều đình dưới quyền Hiệu úy Châu Tĩnh. Lưu Bị tác chiến mấy trận đều thắng lợi, góp công dẹp Khăn Vàng và được phong làm Huyện úy An Hỷ (thuộc nước Trung Sơn). Được một thời gian, triều đình nhà Hán có chiếu thư xuống các châu quận thông báo rằng những người có quân công được làm trưởng lại, đều bị sa thải. Lưu Bị nghi ngờ mình cũng trong số đó. Có viên Đốc bưu của triều đình đến hạch sách. Lưu Bị đến xin vào gặp nhưng viên đốc bưu cáo bệnh không tiếp. Lưu Bị giận dữ, liền quay về sở quan, dẫn thuộc hạ đi thẳng đến quán dịch, xông vào tận cửa, nói rằng được lệnh của quan phủ, rồi xông vào giường trói đốc bưu lại, lôi ra ngoài đánh 200 roi, rồi bỏ chức Huyện úy. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng người đánh viên Đốc bưu là Trương Phi nóng giận, nhưng thực ra chính Lưu Bị làm việc này rồi bỏ ấn từ quan. Ít lâu sau, ngoại thích Đại tướng quân Hà Tiến sai Vô Kỳ Nghị đến mộ binh ở Đan Dương. Lưu Bị đến xin theo Vô Kỳ Nghị để lập công chuộc tội. Khi đi qua Hạ Bì có quân cướp, Lưu Bị giúp Vô Kỳ Nghị dẹp yên. Vì vậy ông được Vô Kỳ Nghị tiến cử với triều đình. Triều đình xá tội đánh đốc bưu cho Lưu Bị, cho ông khôi phục làm quan, lĩnh chức Huyện thừa (Phó huyện trưởng) ở huyện Hạ Mật, sau đó chuyển sang làm huyện úy Cao Đường rồi thăng lên làm Huyện lệnh Cao Đường. Năm 188, anh em Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi giao tranh với quân cướp địa phương bị bại trận, bèn bỏ huyện Cao Đường đến nương nhờ người bạn học cũ là Công Tôn Toản ở U châu. Khi đó Công Tôn Toản vừa được phong làm Trung lang tướng do dẹp được Trương Thuần và chiêu hàng được Tham chí vương của Ô Hoàn, liền tiến cử Lưu Bị làm Biệt bộ tư mã. === Trợ giúp các quân phiệt === Năm 189, Hán Linh Đế mất, Hán Thiếu Đế lên thay. Biến loạn trong triều xảy ra, Đại tướng quân Hà Tiến bị hoạn quan giết hại. Thái thú Hà Đông là Đổng Trác vào kinh thành Lạc Dương phế Thiếu Đế lập Hán Hiến Đế và thao túng triều đình. Năm 190, các chư hầu do Viên Thiệu cầm đầu nổi dậy chống Đổng Trác. Tam quốc diễn nghĩa mô tả anh em Lưu Bị theo Công Tôn Toản đi hội binh với Viên Thiệu trong số 18 lộ chư hầu rồi 3 anh em đại chiến với Lã Bố (tam anh chiến Lã Bố) ở cửa Hổ Lao. Thực ra chỉ có 11 chư hầu chống Đổng Trác, trong đó không có Công Tôn Toản và anh em Lưu Bị. Đổng Trác thua trận, mang vua Hiến Đế bỏ Lạc Dương chạy về Trường An. Ít lâu sau, liên minh chống Đổng Trác tan rã, các chư hầu quay sang đánh lẫn nhau. Viên Thiệu chiếm được Ký châu của Hàn Phức, lại xung đột cùng Công Tôn Toản. Hai bên tranh giành Hà Bắc. Công Tôn Toản phong thuộc hạ là Điền Khải làm Thứ sử Thanh châu, sai Lưu Bị mang quân đi giúp Điền Khải. Lưu Bị giúp Điền Khải nhanh chóng chiếm được Thanh châu. Sau đó Viên Thiệu cũng phong con trưởng là Viên Đàm làm thứ sử Thanh châu. Viên Đàm và Điền Khải đánh nhau nhiều tranh giành Thanh châu không phân thắng bại. Lưu Bị cùng Điền Khải đóng quân ở phía đông nước Tề (quận quốc thuộc Thanh châu). Lưu Bị giúp Điền Khải chống Viên Đàm, được phong làm tướng quốc nước Bình Nguyên. Trong vùng có viên hào phú địa phương là Lưu Bình không ưa Lưu Bị, bèn sai thích khách đến sát hại ông. Nhưng người thích khách đến nơi, thấy Lưu Bị đón tiếp long trọng, kính cẩn, rất cảm phục Lưu Bị, không ra tay giết ông, lại cùng ông trò chuyện rồi nói rõ cho ông biết âm mưu của Lưu Bình rồi ra đi. Cùng ở Thanh châu, ngoài nước Bình Nguyên còn có 4 nước chư hầu khác là Bắc Hải, Tề, Tế Nam và Lạc An, cùng quận Đông Lai. Tướng quốc Bắc Hải là Khổng Dung rất khâm phục Lưu Bị, tới kết giao với ông. Khổng Dung bị quân tàn dư Khăn Vàng tới đánh, chống cự không nổi, bèn sai Thái Sử Từ đến Bình Nguyên cầu cứu Lưu Bị. Lưu Bị bèn điều quân đến đánh tan quân Khăn Vàng, cứu được Khổng Dung. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Lưu Bị đích thân cùng Quan Vũ và Trương Phi đi cứu Khổng Dung. Năm 193, Viên Thiệu mang quân đến đánh Công Tôn Toản. Điền Khải và Lưu Bị mang quân tới cứu, đóng quân ở Tề quận. Cùng lúc, quân phiệt Duyện châu là Tào Tháo mang quân đánh Từ châu để báo thù cho cha là Tào Tung vì cho rằng Châu mục Từ châu là Đào Khiêm chủ mưu giết Tào Tung. Đào Khiêm chống đỡ không nổi quân Tào đông và mạnh, bị mất hơn nửa địa bàn Từ châu, phải cầu cứu thứ sử Thanh châu là Điền Khải. Điền Khải báo lại cho Công Tôn Toản. Công Tôn Toản bận đối phó với Viên Thiệu, bèn sai bộ tướng Triệu Vân đi cùng Lưu Bị đến cứu Từ châu. Lưu Bị cùng Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân có hơn 1000 quân cùng các lính ô hợp người Ô Hoàn ở U châu, thu dụng thêm vài ngàn người đói kém đi kiếm ăn nhập vào đội ngũ. Ông được Đào Khiêm cấp thêm vài ngàn quân. Ông giúp viên tướng duy nhất của Đào Khiêm là Tào Báo cố thủ ở Viêm Thành. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Điền Khải cũng mang quân đi cứu Từ châu với Lưu Bị. Dưới sự chỉ huy của Lưu Bị, quân Từ châu giữ vừng thành, quân Tào tấn công nhiều trận nhưng không thể hạ được. Không lâu sau, thủ hạ của Tào Tháo là Trần Cung hợp tác với Trương Mạo tôn Lã Bố làm chủ, đánh chiếm Duyện châu của Tào Tháo. Tào Tháo buộc phải giải vây Từ châu, mang quân trở về cứu. === Nhận Từ châu === Qua trận binh hoả, Đào Khiêm rất cảm tạ Lưu Bị đã cứu giúp. Ông bỏ Điền Khải ở lại Từ châu với Đào Khiêm. Năm 194, không lâu sau khi Từ châu được giải vây, Đào Khiêm ốm nặng, quyết định tiến cử Lưu Bị làm Từ châu mục thay mình, nèn dâng biểu lên Hán Hiến Đế. Lưu Bị khiêm nhường, sợ mình sức yếu không giữ được nên từ tạ. Vì vậy Đào Khiêm dâng biểu tiến cử Lưu Bị làm thứ sử Dự châu, đóng quân ở Tiểu Bái gần Hạ Bì (trị sở Từ châu). Không lâu sau Đào Khiêm ốm nặng, trước khi mất dặn các thủ hạ Mi Chúc, Trần Đăng đón Lưu Bị về Từ châu, hết sức giúp Lưu Bị rồi qua đời. My Trúc và Trần Đăng làm theo, nhưng Lưu Bị vẫn từ chối, đề nghị trao Từ châu cho Viên Thuật là người có danh vọng cao hơn, lúc đó đang xưng là Từ châu bá. Khổng Dung cũng tham gia thuyết phục Lưu Bị, cho rằng Viên Thuật không hề có thực lực, không lâu sẽ diệt vong. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Tào Tháo nhận xét Viên Thuật là “xương khô trong mả” lúc uống rượu luận anh hùng với Lưu Bị ở Hứa Xương. Thực tế là người nhận xét Viên Thuật là Khổng Dung khi nhận xét ai là người xứng đáng lĩnh Từ châu. Cuối cùng Lưu Bị nhận lời tiếp quản Từ châu, nhận chức Từ châu mục. Có tài liệu cho rằng Lưu Bị nhận lời lĩnh Từ châu ngay khi Đào Khiêm còn sống. Khi Lưu Bị từ chối và tiến cử Viên Thuật, Khổng Dung cũng có mặt và cho rằng Thuật là “xương khô trong mả”. Cuối cùng Lưu Bị nhận lời. === Giao tranh với Lã Bố và Viên Thuật === Năm 195, Lã Bố thất bại trong cuộc giao tranh với Tào Tháo ở Duyện châu, đến nương nhờ Lưu Bị. Lưu Bị cho Lã Bố đóng quân ở Tiểu Bái – một quận thuộc về Dự châu nhưng nằm gần Hạ Bì - trung tâm Từ châu và nằm trong tay người cai quản Từ châu từ thời Đào Khiêm. Năm 196, Tào Tháo đón Hán Hiến Đế về Hứa Xương, bắt đầu thao túng triều đình nhà Hán. Để chia rẽ các chư hầu phía đông, Tào Tháo tìm cách lôi kéo Lưu Bị, nhân danh Hán Hiến Đế phong ông làm Nghi Thành đình hầu, Trấn đông tướng quân. Quân phiệt Viên Thuật ở Thọ Xuân tấn công Lưu Bị để tranh đoạt Từ châu. Lưu Bị và Quan Vũ mang quân đi Vu Thai kháng cự Viên Thuật, sai Trương Phi giữ thành Hạ Bì (thủ phủ Từ châu). Trương Phi bất hòa với viên tướng cũ của Đào Khiêm là Tào Báo, bèn giết chết Tào Báo. Viên Thuật viết thư cho Lã Bố đề nghị đánh úp Từ châu, đổi lại Thuật sẽ giúp lương. Lã Bố thấy Lưu Bị kết giao với Tào Tháo là kẻ thù của mình nên vốn đã lo ngại, do đó quyết định nhận lời Viên Thuật. Nhân lúc Hạ Bì hỗn loạn do cái chết của Tào Báo, Lã Bố bèn mang quân đến đánh úp Hạ Bì. Viên Trung lang tướng Hứa Đam trong thành Hạ Bì phản lại Trương Phi, mở cửa đón Lã Bố. Trương Phi không chống nổi quân Lã Bố, mang thủ hạ bỏ chạy, không kịp mang theo gia quyến Lưu Bị. Trương Phi chạy đến chỗ Lưu Bị ở Hoài Âm. Lưu Bị phải lui về Quảng Lăng cầm cự với Viên Thuật. Do tình thế bức bách, lực lượng yếu không kháng cự được Viên Thuật và Lã Bố, ba anh em Lưu Bị phải quay về Từ châu hàng Lã Bố. Lã Bố tự xưng làm Thứ sử Từ châu, tiến cử Lưu Bị làm Dự châu mục, sang đóng ở thành Tiểu Bái gần đó. Dự châu vốn có 6 quận nhưng trên thực tế Lưu Bị chỉ có một quận Tiểu Bái đóng quân. Viên Thuật xin kết thông gia với Lã Bố. Lã Bố nhận lời gả con gái cho con trai Viên Thuật. Viên Thuật thấy Lã Bố ngả theo mình lại sai Kỷ Linh mang 3 vạn quân tấn công Tiểu Bái để diệt Lưu Bị. Lưu Bị thế yếu, phải cầu cứu Lã Bố. Lã Bố mang 1000 quân bộ và 200 quân kỵ tới Tiểu Bái, bắt hai bên phải hòa giải. Lã Bố sai cắm kích từ xa và giao hẹn sẽ bắn tên, nếu trúng vào ngạnh kích thì hai bên phải giảng hòa. Sau đó Lã Bố giương cung bắn trúng ngay ngạnh kích. Lưu Bị và Kỷ Linh theo lời Lã Bố mang quân về. Lưu Bị thoát khỏi nguy hiểm, ra sức phát triển thế lực. Sau hơn 1 năm, ông có hơn 1 vạn quân. Tuy lực lượng có mạnh thêm nhưng ông vẫn trong tình trạng bị cô lập: với các chư hầu liền kề như Tào Tháo, Lã Bố và Viên Thuật đều từng kết oán; chỉ có Lã Bố tuy vừa giúp đỡ ông nhưng hay trở mặt. Công Tôn Toản tuy có thiện chí với ông nhưng ở xa tận Hà Bắc và đang giành giật với Viên Thiệu. Để khắc phục tình trạng bị cô lập, Lưu Bị chủ động nối lại hòa khí với Viên Thiệu, ông tiến cử Viên Đàm con cả Viên Thiệu làm Mậu tài. Năm 197, Viên Thuật xưng đế ở Thọ Xuân, ra sức kết thân với Lã Bố để cô lập tiến đến diệt Lưu Bị. Năm 198, sự phát triển thế lực của anh em Lưu Bị ở Tiểu Bái khiến Lã Bố lo ngại, liền mang quân tới đánh. Anh em Lưu Bị thua chạy đến Khai Phong, trong tình thế bức bách buộc phải cầu cứu Tào Tháo. Tào Tháo bèn sai Hạ Hầu Đôn mang quân tới cứu Lưu Bị. Quân Tào và quân Lã Bố đụng độ ở Từ châu. Lã Bố cầm quân ra đối địch đánh bại Hạ Hầu Đôn và bắn tên trúng vào mắt Đôn. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng người bắn chột mắt Hạ Hầu Đôn là Tào Tính - bộ tướng của Lã Bố. Nghe tin Hạ Hầu Đôn bại trận bị chột mắt, tháng 10 năm 198, Tào Tháo khởi đại quân đi đánh Từ châu. Quân Lã Bố liên tiếp bại trận, cuối cùng bị Tào Tháo bắt. Lã Bố muốn xin Tào Tháo cho mình đầu hàng, lại nhờ Lưu Bị nói giúp. Nhưng Lưu Bị khuyên Tào Tháo nên giết Lã Bố vì Lã Bố là người hay trở mặt. Tào Tháo nghe theo ông, bèn sai chặt đầu Lã Bố. === Ở Hứa Xương === Tào Tháo cùng Lưu Bị thu quân về Hứa Xương. Tào Tháo không trả lại Từ châu vốn của Lưu Bị được Đào Khiêm giao cho mà sai thủ hạ là Xa Trụ trấn thủ. Lưu Bị bị giữ lại Hứa Xương để kiềm chế. Bề ngoài, Tào Tháo đối xử với ông rất thân tình, có lễ nghĩa, “ngồi cùng chiếu, ra cùng xe”, lại nhân danh Hán Hiến Đế phong ông làm Tả tướng quân thay cho chức của Lã Bố vừa bị giết, tức là về danh nghĩa, quân hàm này còn cao hơn chức “Hành Xa kỵ tướng quân” của chính Tào Tháo. Là tông thất nhà Hán, Lưu Bị bất bình trước việc thao túng triều đình của Tào Tháo và âm thầm có ý chống Tào. Sách Thục ký chép rằng: Có lần Lưu Bị cùng đi săn với Tào Tháo, Quan Vũ lén khuyên Lưu Bị nên nhân lúc mọi người hỗn loạn mà giết Tào Tháo nhưng Lưu Bị không nghe theo vì tình thế không cho phép manh động. Sau đó ông bí mật cùng một số tướng lĩnh trung thành với nhà Hán như Đổng Thừa, Vương Tử Phục, Chung Tập, Ngô Thạc mưu giết Tào Tháo để cứu Hán Hiến Đế, nhưng chưa có cơ hội. === Thoát ly chống Tào === Năm 199, Viên Thiệu diệt Công Tôn Toản, làm chủ hoàn toàn Hà Bắc; Tào Tháo cũng đánh bại Viên Thuật. Viên Thuật thế cùng sức kiệt, muốn chạy lên Hà Bắc theo Viên Thiệu. Lưu Bị không muốn bị kìm chân mãi ở Hứa Xương, bèn xin Tào Tháo đi chặn đánh Viên Thuật. Tào Tháo phê chuẩn, cấp cho ông 1000 quân. Lưu Bị cùng Quan Vũ và Trương Phi mang quân ra đón đánh Viên Thuật ở đường lớn Từ châu. Viên Thuật thực lực rất yếu, bị Lưu Bị đánh bại, phải quay về rồi ốm chết. Hành động tiếp theo của Lưu Bị được sử sách ghi chép khác nhau. Các sử gia cho rằng cách chép của sách Tam quốc chí, phần Thục chí chính xác hơn Ngụy chí. Theo đó, đầu năm 200, Tào Tháo phát giác ra việc Đổng Thừa cầm đầu nhóm các tướng mưu giúp Hán Hiến Đế giết mình, nên đồng loạt xử tử Đổng Thừa và những người đồng mưu. Lưu Bị nghe tin Đổng Thừa bị giết, mưu sự đã lộ, trước sau cũng bị Tào Tháo đánh, bèn dẫn quân về đánh chiếm lại Từ châu. Được sự phò trợ của Quan Vũ và Trương Phi, Lưu Bị giết chết thứ sử Từ châu là Xa Trụ do Tào Tháo bổ nhiệm, sai Quan Vũ giữ thủ phủ Hạ Bì, để gia quyến ở lại đây, tự mình mang quân ra giữ Tiểu Bái làm ỷ dốc, ra sức chiêu binh mãi mã để chuẩn bị đối phó với quân Tào. Phần Ngụy chí trong Tam quốc chí chép đảo ngược 2 sự kiện: Lưu Bị chiếm Từ châu giết Xa Trụ trước khi Đổng Thừa bị giết ở Hứa Xương, được các sử gia cho là không hợp lý. Tào Tháo sai Vương Trung và Lưu Đại mang quân đánh Lưu Bị. Lưu Bị đánh bại hai viên tướng này và thách Tào Tháo mang đại quân tới. Vương Trung và Lưu Đại chạy đến Quan Độ báo cho Tào Tháo biết. Tào Tháo đoán định Viên Thiệu tuy mạnh nhưng thiếu can đảm, chính Lưu Bị quân lực mỏng hơn nhưng lại quyết đoán nên phải đánh trước. Vì vậy Tào Tháo đích thân mang đại quân từ phía đông Quan Độ đến Tiểu Bái. Lưu Bị lúc đó có vài vạn quân, cùng Trương Phi chia đường ra chống lại, nhưng vẫn không phải là địch thủ của Tào Tháo. Ông bị thua một trận lớn, vội vã bỏ thành Tiểu Bái, bỏ luôn thành Hạ Bì trung tâm Từ châu mà Quan Vũ đang trấn thủ, chạy lên Hà Bắc nương nhờ họ Viên. Cánh quân của Trương Phi bị Tào Tháo đánh bại cũng mất liên lạc với Lưu Bị, Trương Phi chạy tới tận Cổ Thành thuộc huyện Chân Dương, quận Nhữ Nam. Quan Vũ trấn thủ Hạ Bì không chống nổi quân Tào, phải hàng Tào Tháo. === Nương nhờ Viên Thiệu === Trên danh nghĩa, Lưu Bị và họ Viên là kẻ thù. Ông từng giúp Công Tôn Toản và thủ hạ của Toản là Điền Khải chống lại Viên Đàm – Viên Thiệu ở Thanh châu khoảng năm 194. Nhưng sau đó chính Lưu Bị cũng có giao tình với Viên Đàm khi làm Thứ sử Dự châu không còn dưới trướng Công Tôn Toản, tức là khi không còn trực tiếp giao tranh với họ Viên, ông đã tiến cử Viên Đàm làm Mậu tài năm 197. Khi thua trận ở Tiểu Bái trước Tào Tháo, Lưu Bị quyết định chạy sang Thanh châu theo Viên Đàm. Nhớ tới hậu ý trước đây của ông, Viên Đàm khi đó là Thứ sử Thanh châu (Điền Khải đã bị diệt) thân chinh mang một toán quân mã ra ngoài thành nghênh đón. Sau đó Viên Đàm tiến cử ông tới chỗ Viên Thiệu ở Ký châu. Viên Thiệu phái đại tướng mang quân mã tới đón ông lên Nghiệp Thành – trung tâm Ký châu. Khi Lưu Bị tới nơi, Viên Thiệu đích thân ra ngoài 200 dặm đón khá cung kính. Các sử gia cho rằng sở dĩ cả Tào Tháo và Viên Thiệu đều tỏ ra khá lễ nghi với Lưu Bị vì ông có uy tín khá cao với mọi người, việc thu phục được ông có thể là bàn đạp để thu phục nhân tâm thiên hạ theo về. Triệu Vân, thủ hạ cũ của Công Tôn Toản, nghe tin Lưu Bị ở Ký châu bèn tìm đến theo ông. Hai người ăn ở cùng nhau tại Nghiệp Thành. Lưu Bị lệnh cho Triệu Vân ngầm chiêu tập binh mã được vài trăm người, Viên Thiệu không hay biết. Viên Thiệu ra quân đánh Tào Tháo, tấn công thành Bạch Mã và Diên Tân. Tháng 5 năm 200), Tào Tháo dẫn Trương Liêu và Quan Vũ đi cứu Bạch Mã. Quan Vũ ra trận giết chết mãnh tướng Nhan Lương của Viên Thiệu, giải vây thành Bạch Mã. Sang tháng 6), Tào Tháo cùng Quan Vũ và Trương Liêu đi men theo sông Hoàng Hà về phía tây đến cứu Diên Tân. Lưu Bị cùng Văn Xú theo Viên Thiệu mang quân đuổi theo, nhưng lại bị Tào Tháo đánh bại một trận nữa tại đây, Văn Xú tử trận. Vì lực lượng ít hơn nên sau đó Tào Tháo phải lui quân về phía nam Tế Thủy, tức là bến Quan Độ đóng đồn, còn Viên Thiệu đóng lại ở Diên Tân. Viên Thiệu và Tào Tháo chống nhau ở Quan Độ. Lưu Bị hiến kế với Viên Thiệu và tự mình xin đi thi hành, sang quận Nhữ Nam liên kết với các tướng Khăn Vàng là Lưu Tiết và Lưu Thiệu để tập kích Hứa Đô của Tào Tháo. Viên Thiệu bằng lòng, giao cho Lưu Bị một toán quân. Lưu Bị lập tức khởi hành lên đường. === Hai lần chinh chiến ở Nhữ Nam === Lưu Bị, Triệu Vân đến Nhữ Nam liên kết với Lưu Tiết và Lưu Thiệu, đánh chiếm được Ẩn Cường^ thuộc Dự châu. Nhân dân các huyện kế cận nghe tin Lưu Bị tới đều hưởng ứng. Tào Tháo đang chống giữ với Viên Thiệu ở Quan Độ nghe tin Lưu Bị chiếm Ẩn Cường rất lo lắng, sai Tào Nhân mang quân từ Hứa Đô tới đánh. Tào Nhân ra quân đánh bại Lưu Bị ở Ẩn Cường. Lưu Bị phải bỏ Dự châu trở về phía bắc, trở về chỗ Viên Thiệu ở Quan Độ phục mệnh. Chiến sự giữa Viên Thiệu và Tào Tháo vẫn giằng co bất phân thắng bại. Lưu Bị ở Ký châu với Viên Thiệu trong thời gian vài tháng. Ông biết tin Quan Vũ đang ở bên Tào Tháo; đồng thời nhận thấy Viên Thiệu có binh lực mạnh mẽ nhưng thiếu quả quyết, đoán biết Viên Thiệu không thể làm nên việc lớn, ông quyết định tìm cách thoát đi để tự xây dựng lực lượng. Ông xin với Viên Thiệu đi về nam một lần nữa, làm sứ giả tới Kinh châu giục Lưu Biểu giáp công đánh Tào Tháo từ phía sau. Viên Thiệu không tin Lưu Biểu đủ nhiệt tình và can đảm ra quân nên chưa thuận theo. Vừa lúc đó lại có tướng Khăn Vàng khác là Cung Đô từ Nhữ Nam sai người tới liên lạc với Viên Thiệu, đề nghị liên minh cùng chống Tào. Viên Thiệu bèn sai Lưu Bị và Triệu Vân lại cùng đi Nhữ Nam. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Lưu Bị chỉ đi Nhữ Nam một lần, gặp cả 2 tướng Khăn Vàng là Lưu Tiết và Cung Đô một lúc. Lưu Bị cùng Triệu Vân đến Nhữ Nam, tập hợp cùng Cung Đô được vài ngàn quân. Quan Vũ nghe tin Lưu Bị rời khỏi chỗ Viên Thiệu, cũng rời khỏi quân ngũ Tào Tháo ở Quan Độ chạy về phía nam tìm đến chỗ ông. Trương Phi từ Cổ Thành cũng mang quân tới hội. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng anh em Lưu Bị tái ngộ tại Cổ Thành – nơi Trương Phi đóng quân khi lạc nhau. Khi quân hai bên tập hợp xong thì Viên Thiệu đã bị Tào Tháo đại phá ở Quan Độ, bị thiệt hại nặng, phải rút về Hà Bắc. Tào Tháo đắc thắng, coi thường Lưu Bị, sai Sái Dương đi đánh Nhữ Nam. Lưu Bị mang quân ra địch, đánh tan quân Tào, Quan Vũ giết chết Sái Dương. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Quan Vũ giết chết Sái Dương trên đường đi tìm Lưu Bị. Tào Tháo vẫn lo lắng thế lực hùng mạnh của họ Viên ở Hà Bắc hơn, nên đầu năm 201 tiếp tục khởi đại quân đuổi theo đánh Viên Thiệu. Tháng 6 năm 201), Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu một trận lớn nữa ở Thương Đình. Sau 2 thất bại nặng nề, Viên Thiệu không còn đủ sức tấn công Tào Tháo. Tào Tháo yên tâm trở lại đối phó với Lưu Bị. Tháng 8 năm đó), Tào Tháo từ Hứa Xương mang quân đi đánh Nhữ Nam. Quân Cung Đô vốn ô hợp, nghe tin đại quân Tào Tháo kéo đến vội vã bỏ chạy tan tác. Lưu Bị biết mình không thể đối địch được với Tào Tháo, bèn bỏ luôn Nhữ Nam chạy về phía nam, đến Kinh châu xin nương nhờ Lưu Biểu. === Nương nhờ Lưu Biểu === ==== Trận Bác Vọng ==== Lưu Biểu cũng tỏ ra trọng thị Lưu Bị, ra ngoài thành Tương Dương đón tiếp ông. Ban đầu, Lưu Biểu đối đãi với ông rất hậu, nhưng sau đó Lưu Biểu nhận ra chí lớn của Lưu Bị nên tỏ ra ngờ vực, cảnh giác với ông, nên không lưu ông lại ở thủ phủ Tương Dương mà cấp cho ông quân đội, điều ông ra đóng quân ở huyện Tân Dã thuộc quận Nam Dương, là cửa ngõ Kinh châu với phía bắc, gần Hứa Xương nhất. Trong lúc Tào Tháo và anh em họ Viên giao tranh ở phía bắc, khoảng năm 204 Lưu Biểu theo đề nghị của Lưu Bị, sai ông mang quân từ Tân Dã tiến đánh Tào Tháo. Lưu Bị cùng Triệu Vân đi qua Nam Dương và Bác Vọng, Trường Sơn (tức núi Phương Thành), sau đó đến huyện Diệp ở phía tây nam Hứa Xương. Tướng Tào trấn thủ huyện Diệp là Hạ Hầu Đôn, Vu Cấm và Lý Điển. Lưu Bị đánh huyện Diệp không nổi phải rút lui. Hạ Hầu Đôn mang quân truy kích, Lưu Bị đặt phục binh ở gò Bác Vọng. Quân Kinh châu đánh bại Hạ Hầu Đôn và Vu Cấm, bắt sống bộ tướng của Hạ Hầu Đôn là Hạ Hầu Lan. Hạ Hầu Đôn phải lui binh, còn Lưu Bị cũng không truy kích tiếp, rút về Tân Dã. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng trận Bác Vọng diễn ra năm 208 khi Tào Tháo nam chinh hạ Kinh châu, và đây chính là trận đầu tiên Gia Cát Lượng tham gia với tư cách quân sư trong quân Lưu Bị. Kỳ thực, lúc xảy ra trận Bác Vọng, Gia Cát Lượng chưa đến với Lưu Bị, mưu kế ở Bác Vọng do Lưu Bị tự làm. Do Hạ Hầu Lan vốn là người cùng làng với Triệu Vân, vì vậy Triệu Vân xin với Lưu Bị tha chết cho Lan. Lưu Bị đồng ý. Theo sách Hán Tấn xuân thu, năm 206 lúc Tào Tháo mới mang quân đi xa lên đánh Liễu Thành, Lưu Bị khuyên Lưu Biểu đánh úp Hứa Xương nhưng Lưu Biểu không theo. Sau này Tào Tháo thắng trận trở về, Lưu Biểu ân hận vì không nghe theo lời ông. ==== Được Gia Cát Lượng phò tá ==== Lưu Bị ra sức thu nạp nhân tài để phát triển thế lực. Năm 207, ông được Từ Thứ theo giúp. Từ Thứ tiến cử một người bạn là Gia Cát Lượng cho ông. Lúc đó Gia Cát Lượng đang ở ẩn. Trước Từ Thứ, danh sĩ Tư Mã Huy đã ca ngợi tài năng của Gia Cát Lượng. Vì vậy Lưu Bị rất mến mộ Gia Cát và mong được sự phò tá của Gia Cát. Việc ông và Gia Cát Lượng gặp gỡ và bắt đầu cộng tác được sử sách mô tả khác nhau. Sách Ngụy lược và Cửu châu xuân thu chép rằng chính Gia Cát Lượng tìm đến gặp Lưu Bị năm 207 và tự tiến cử mình với ông. Tam quốc chí chép rằng theo sự tiến cử của Tư Mã Huy và Từ Thứ, ông tìm đến lều tranh nhà Gia Cát để cầu Gia Cát ra giúp. Sau 3 lần tới lều tranh, Lưu Bị mới gặp được Khổng Minh và được Khổng Minh nhận lời phò tá. Ngay lần gặp gỡ đó, Gia Cát Lượng đã vạch kế chia ba thiên hạ cho ông. Các sử gia xem xét sự trái ngược của hai cách nói trong sử sách và kết luận rằng: cả hai sự kiện đều có thể là đúng, với trình tự là Gia Cát sớm tự tiến cử trước, nhưng chưa thực sự được Lưu Bị coi trọng và trở về. Sau đó Lưu Bị nhận ra tài năng thực thụ của Khổng Minh, hạ mình 3 lần tới lều tranh tìm gặp. Giới nghiên cứu chỉ ra rằng sự gặp gỡ giữa 2 người không phải không có những trắc trở. Lưu Bị ở Kinh châu tới 7 năm, đã thu nạp nhiều hào kiệt và cũng đã từng nghe tiếng Gia Cát Lượng. Nhưng lúc đó không dễ để một người từng trải đã ngoài 40 tuổi như Lưu Bị ngay lập tức coi trọng một người thanh niên mới ngoài 20 tuổi như Gia Cát Lượng. Bản thân Gia Cát Lượng có quan hệ họ hàng với Lưu Biểu (Biểu là chú dượng bên vợ Gia Cát Lượng) nhưng cũng chưa từng được Lưu Biểu coi trọng, do đó Lưu Bị càng chưa dễ coi trọng Khổng Minh khi Khổng Minh tìm đến. Chỉ đến khi có sự tiến cử của Tư Mã Huy và Từ Thứ vốn là những người Lưu Bị rất kính trọng và tin tưởng, ông mới thực sự nhận ra giá trị của Khổng Minh và gác thân thế hoàng tộc cũng như vai “tiền bối” để lặn lội tới lều tranh 3 lần. Sử gia Doãn Vận còn căn cứ theo Xuất sư biểu mà sau này Gia Cát Lượng viết (dâng Hậu chủ Lưu Thiện khi chuẩn bị Bắc phạt) “Tiên đế … 3 lần tới lều tranh tìm thần, cùng thần bàn bạc” để khẳng định rằng Lưu Bị đã gặp Khổng Minh trong cả 3 lần đến thăm và trò chuyện, chứ không phải 3 lần đến mới gặp nhau như Tam quốc diễn nghĩa mô tả. Qua nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện, hai người mới thực sự hiểu thành ý của nhau và Gia Cát Lượng quyết ý xuống núi phó tá Lưu Bị. Gia Cát Lượng vạch ra Long Trung đối sách làm kế lập nghiệp cho Lưu Bị, theo đó ông không thể tranh giành ngay trung nguyên với Tào Tháo và không thể chiếm Giang Đông của Tôn Quyền, đề nghị ông theo đuổi chiến lược chiếm Kinh châu rồi Ích châu làm căn bản, liên kết với Tôn Quyền cùng chống Tào Tháo, sau đó từ 2 đường tiến ra trung nguyên chinh phục thiên hạ, khôi phục nhà Hán. Kế sách của Khổng Minh từ đó được ông theo đuổi và từng bước thực thi đều có nhiều trở ngại do những biến cố phức tạp ở trung nguyên. ==== Quan hệ với Lưu Biểu ==== Ban đầu, Lưu Biểu trọng đãi Lưu Bị, nhưng sau đó tỏ ra đề phòng. Có ý kiến cho rằng, Lưu Bị có hùng tâm, thường chiêu tập nhiều hào kiệt ở Tân Dã khiến Lưu Biểu nghi ngờ, lo ngại Lưu Bị sẽ chiếm cơ nghiệp của mình, nên muốn sát hại Lưu Bị. Lưu Biểu mở tiệc mời Lưu Bị tới, sai Khoái Việt và Sái Mạo chuẩn bị ra tay, nhưng Lưu Bị cảm thấy bất an, bèn lấy cớ đứng dậy ra nhà tiêu và lên ngựa đích lư chạy trốn. Quân Sái Mạo đuổi theo, Lưu Bị chạy tới suối Đàn Khê rất rộng khó vượt qua. Nhưng đúng lúc đó ngựa đích lư bất thần tung vó nhảy qua được suối lớn cứu ông thoát nạn, khiến quân Sái Mạo không thể bắt được ông. Tuy nhiên có ý kiến khác phản bác, cho rằng vụ nhảy ngựa Đàn Khê là không có thật, vì Lưu Bị đang ở nhờ Lưu Biểu, lực lượng rất ít ỏi; nếu Lưu Biểu thực sự có ý định hại chết Lưu Bị, thì không thể để Lưu Bị yên thân suốt 2 năm sau đó ở Tân Dã. Các sử gia đi đến kết luận rằng: Lưu Biểu cảnh giác một con người có hùng tâm như Lưu Bị nhưng không định làm hại mà chỉ hậu đãi bên ngoài, bên trong không thật tin dùng. Năm 208, Tào Tháo đã diệt xong anh em họ Viên, hoàn toàn làm chủ miền bắc và khởi đại quân đi đánh Kinh châu. Đúng lúc đó Lưu Biểu tuổi cao lâm bệnh nặng. Trong Tam quốc chí, Tiên chủ truyện cho rằng lúc đó Lưu Biểu gọi Lưu Bị đến muốn ông tiếp quản Kinh châu, nhưng ông từ chối vì không muốn làm điều bất nghĩa. Sử gia Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí và các sử gia sau này thống nhất cho rằng điều này không hợp lý vì những lý do sau: Lưu Biểu vốn luôn nghi ngại Lưu Bị, khi còn sống đã không thân tình, chỉ đối xử tốt bề ngoài Cả hai vợ chồng Lưu Biểu và Sái phu nhân đều đã cùng nhau thống nhất chọn con thứ Lưu Tông kế vị ở Tương Dương Theo Hậu Hán thư, Lưu Biểu truyện, khi Lưu Biểu bệnh nặng, con lớn Lưu Kỳ từ Giang Hạ về Tương Dương thăm cha bị phe Sái Mạo ngăn trở đuổi đi. Điều đó cho thấy khi Lưu Biểu bị bệnh nặng đã hoàn toàn bị phe họ Sái khống chế bao bọc, ngay cả Lưu Kỳ cũng không thể tiếp cận Lưu Biểu, Lưu Bị lại càng không thể gặp Lưu Biểu trong lúc đó. Tam quốc chí, Tiên chủ truyện còn dẫn một tình tiết khác: Lưu Bị sau này đã nói với mọi người: “Lúc lâm chung Lưu Kinh châu đã gửi con cho ta” khi ông “mượn” Kinh châu của Đông Ngô làm địa bàn phát triển thế lực. Nhưng các sử gia cho rằng lời nói này của Lưu Bị có 2 khả năng: Đây chỉ là lời nói dối, tuyên bố mang mục đích chính trị cho việc hợp pháp hóa nắm giữ Kinh châu trong cuộc chiến chống Tào - Tôn Dù Lưu Bị có thể gặp Lưu Biểu trong lúc lâm chung, thì với sự lo ngại vốn có, Lưu Biểu đề nghị ông tiếp quản Kinh châu chỉ là lời thăm dò, không thực lòng. Ngược lại, chính Lưu Bị cảm nhận sự không thực lòng của Lưu Biểu, mặt khác xung quanh Lưu Biểu khi đó là thế lực của họ Sái, do đó Lưu Bị dày dặn kinh nghiệm biết mình không thể mạo hiểm nhận ấn Kinh châu mục và tìm cách từ chối. Lời từ chối đó cũng không phải thực lòng không muốn nhận (vì trước đó Gia Cát Lượng đã cực lực đề nghị ông phải lấy Kinh châu làm căn cứ và ông nhận thức rõ đề nghị này là đúng đắn), thực chất cả người nhường và người từ chối đều không nói thực bụng. == Tự lập ở Kinh châu == === Giao tranh với Tào Tháo ở Đương Dương Tràng Bản === Tháng 9 năm 208, Lưu Biểu qua đời giữa lúc quân Tào đang áp sát Kinh châu. Thấy quân Tào lại gần, Lưu Bị vẫn chưa biết Lưu Biểu đã chết, vội bỏ Tân Dã rút về Phàn Thành và sai sứ cấp báo về Tương Dương cho Lưu Biểu. Con út Lưu Biểu là Lưu Tông được lập lên kế vị làm Châu mục Kinh châu. Theo lời khuyên của Sái Mạo, Khoái Việt và Phó Huấn, Lưu Tông quyết định đầu hàng Tào Tháo, nhưng không dám báo ý định này cho Lưu Bị biết. Tào Tháo tiếp nhận thư hàng của Lưu Tông, liền thúc quân tiến vào Uyển Thành thuộc quận Nam Dương. Lúc đó Lưu Tông mới sai Tống Trung sang Phàn Thành báo cho Lưu Bị biết. Nghe lệnh của Lưu Tông bắt mình phải cùng hàng Tào Tháo, Lưu Bị kinh ngạc và tức giận, quát đuổi Tống Trung. Biết mình không thể lấy lực lượng nhỏ ở Phàn Thành để chống đại quân Tào, Lưu Bị cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ dẫn các tướng sĩ bỏ chạy về phía nam. Ông sai Quan Vũ mang 1 vạn quân thủy, rút về Giang Hạ để hợp binh với Lưu Kỳ đang trấn thủ tại đây; còn Lưu Bị đi cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ, Triệu Vân, Trương Phi và đại bộ phận các tướng văn võ với cánh quân bộ qua Tương Hà, định đi tới chỗ hiểm yếu Giang Lăng là nơi chứa lương thực và vũ khí của Kinh châu. Hơn 10 vạn dân Kinh châu không muốn hàng Tào Tháo cũng đi theo đoàn quân bộ của Lưu Bị. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Gia Cát Lượng bắt đầu trổ tài dùng binh, đánh bại quân Tào 2 trận ở Bác Vọng và Tân Dã. Cả 2 trận này đều hư cấu: trận Bác Vọng do Lưu Bị đánh năm 204, trận Tân Dã không có thật. Ngoài ra Tam Quốc diễn nghĩa còn hư cấu việc Từ Thứ ra đi mới tiến cử Gia Cát Lượng. Thực tế hai người cùng cộng sự dưới trướng Lưu Bị trong nửa năm. Khi đi ngang qua Tương Dương, nhiều quan lại và dân chúng tìm đến theo Lưu Bị. Gia Cát Lượng bèn khuyên ông đánh úp Tương Dương, chắc chắn Lưu Tông sẽ không chống đỡ nổi, nhưng ông không nghe theo, chỉ nói vọng vào thành mấy câu trách Lưu Tông rồi tiếp tục đi về phía nam. Hàng vạn dân Kinh châu ở khu vực Tương Dương cũng sợ bị Tào Tháo tàn sát nên bỏ Lưu Tông theo Lưu Bị, vì vậy số người đi theo ông về phía nam lên tới hơn chục vạn, với hàng ngàn cỗ xe. Tào Tháo tiến thẳng tới thủ phủ Tương Dương để tiếp nhận Lưu Tông đầu hàng. Lại nghe tin Lưu Bị đã đi Giang Lăng, Tào Tháo vội lấy 5000 quân tinh nhuệ, sai em họ là Tào Thuần chỉ huy cùng đi, cấp tốc đuổi theo, mỗi ngày đêm đi được 300 dặm. Lưu Bị dẫn đám đông quân lẫn với dân, chạy loạn rất lộn xộn, không thành hàng ngũ, lại không thể đi nhanh dù biết Tào Tháo đang truy kích. Mỗi ngày đoàn quân của ông chỉ đi được hơn 10 dặm. Phía trước còn 300 dặm đường mới tới Giang Lăng. Lưu Bị phải bố trí lại lực lượng, sai Trương Phi mang 2000 quân mã chặn hậu, Triệu Vân dẫn vài trăm quân hộ vệ gia quyến; còn ông cùng Gia Cát Lượng và Từ Thứ dẫn quân chủ lực bảo vệ dân tị nạn. Có người khuyên ông dẫn quân khinh kỵ đi trước tới Giang Lăng, nhưng ông nhất định không bỏ dân chúng, cho rằng muốn làm việc lớn phải lấy dân làm gốc. Các sử gia chỉ ra sự khác nhau trong quan niệm “lấy dân làm gốc” thời Lưu Bị và sau này. Quan điểm thời đó không coi dân là “căn bản” mà coi dân là “vốn liếng”, là có những người bên cạnh sử dụng, sai khiến. Tào Tháo thúc quân khinh kỵ ngày đêm đuổi riết. Khi Lưu Bị đi tới Đương Dương – Tràng Bản thì quân Tào đuổi tới nơi, đụng độ với hậu đội của Lưu Bị do Trương Phi chỉ huy. Quân Tào mạnh mẽ đánh tan hậu đội của Trương Phi và tấn công vào quân chủ lực của Lưu Bị cùng dân chúng. Quân Lưu Bị tuy đông hơn quân Tào, nhưng không thể tổ chức thành đội ngũ chỉnh tề để nghênh chiến, bị Tào Tháo tấn công dữ dội, bị thua to. Lưu Bị thất bại nặng nề, cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ, Trương Phi và mấy chục khinh kỵ bỏ chạy thoát thân, bỏ lại toàn bộ quân trang nặng, gia quyến và dân chúng. Quân dân Lưu Bị thua chạy tan tác mỗi người một nơi. Lưu Bị lạc mất Triệu Vân, nhiều người nói Triệu Vân đã bỏ sang hàng Tào nhưng Lưu Bị một mực tin tưởng Triệu Vân trung thành với mình. Ông sai Trương Phi mang 20 kỵ binh đi chặn hậu, ngăn cản quân Tào. Quả nhiên sau đó Triệu Vân đột phá vòng vây, cứu được Cam phu nhân và A Đẩu về. Lưu Bị vô cùng cảm kích. Tam quốc diễn nghĩa mô tả việc Triệu Vân phá vây cứu A Đẩu rất ly kỳ hấp dẫn. Bà vợ Lưu đi cùng A Đẩu lại không phải Cam phu nhân (mẹ đẻ A Đẩu) mà là My phu nhân (vợ thứ Lưu Bị). My phu nhân trao A Đẩu cho Triệu Vân rồi tự sát để khỏi vướng chân ông. Khi trở về, Lưu Bị đã vứt A Đẩu xuống đất mắng: “Vì mày suýt nữa ta mất một đại tướng!”. Quân Tào Thuần truy kích đuổi đến nơi. Một mình Trương Phi hùng dũng đứng trên cầu cầm xà mâu, không ai trong quân Tào dám tiến lên giao phong. Nhờ đó Lưu Bị cùng các thủ hạ chạy thoát đến Hán Tân. === Liên minh với Tôn Quyền đánh trận Xích Bích === Tào Tháo lấy mục tiêu chiếm Giang Lăng làm đầu, nên thúc quân tiến đến nắm giữ nơi đó, bỏ Lưu Bị không truy sát nữa. Do Tào Tháo đã chặn đường đi Giang Lăng, Lưu Bị chỉ còn cách đi sang phía đông để hội quân với Quan Vũ và Lưu Kỳ ở Hạ Khẩu. Thất bại Đương Dương Tràng Bản khiến lực lượng Lưu Bị bị tổn hại nặng nề, mất nhiều người và binh khí, quân trang. Đúng lúc đó sứ giả của Tôn Quyền là Lỗ Túc cũng sang Kinh châu để thăm dò tình hình. Nghe tin quân Tào đã chiếm Kinh châu và Lưu Bị chạy đến Đương Dương, Lỗ Túc vội ngày đêm đi gấp tìm đến Đương Dương gặp Lưu Bị, đề nghị liên kết cùng chống Tào Tháo. Gợi ý của Lỗ Túc cũng rất hợp với Long Trung sách mà Gia Cát Lượng đã vạch ra. Vì vậy theo ý kiến của Gia Cát Lượng, ông cử Gia Cát Lượng sang sứ Giang Đông liên kết với Tôn Quyền cùng chống Tào. Tôn Quyền ngả theo chủ trương của Chu Du và Lỗ Túc, quyết định liên minh với Lưu Bị chống Tào, sai Chu Du, Trình Phổ và Lỗ Túc mang thủy quân tiến về phía tây để hội binh với Lưu Bị. Trong lúc Khổng Minh còn ở Sài Tang với Tôn Quyền, Lưu Bị phải đối mặt với nguy cơ mới từ phía Tào Tháo. Tào Tháo sau khi sắp đặt xong quân nhu ở Giang Lăng bèn trở lại truy kích Lưu Bị. Theo đề nghị của Lỗ Túc, Lưu Bị mang quân từ Hạ Khẩu về Phàn Khẩu để hội với Chu Du. Quân Tào ngày càng áp sát khiến Lưu Bị lo lắng, ngày ngày sai người ra giữ bến thuyền. Mấy ngày sau, viện binh của Chu Du đến nơi, Chu Du mời Lưu Bị sang doanh trại gặp mặt. Quan Vũ và Trương Phi lo cho ông gặp bất trắc khi một mình đến trại Chu Du, nhưng ông quả quyết phải tự mình đi gặp để kết giao đồng minh chống Tào. Vì vậy, ông một mình lên thuyền lớn ra đi. Các sử gia đánh giá rất cao hành động dũng cảm này của Lưu Bị và khẳng định rằng chính La Quán Trung mượn hình ảnh “một cát (thuyền) tới hội” với Chu Du của Lưu Bị làm mẫu để hư cấu việc sau này Quan Vân Trường “một đao tới hội” với Lỗ Túc (sau trận Xích Bích). Sợ quân Tào đông đảo, Lưu Bị hỏi số quân Ngô. Khi biết Chu Du chỉ có 3 vạn quân, Lưu Bị tỏ ý lo lắng, nhưng Chu Du đã trấn an ông và tin tưởng mình có thể đánh bại Tào Tháo. Liên minh hình thành, Chu Du đứng ra gánh vác trách nhiệm chính đương đầu với Tào Tháo. Hai bên đồng tâm cộng tác chống kẻ thù chung. Tháng 12 năm 208, Chu Du dùng hỏa công đốt thủy trại quân Tào ở Xích Bích, Ô Lâm, đại phá quân Tào. Trong khi quân Ngô tấn công, Lưu Bị cùng các tướng Quan, Trương, Triệu cũng chuẩn bị tác chiến, phối hợp tấn công, truy kích bại binh Tào Tháo. Do lực lượng ít, Lưu Bị tập trung quân vào 2 việc: một là bố trí lực lượng tự vệ phòng khi chiến dịch thất bại, hai là truy kích quân Tào. Với việc truy kích quân Tào, ông bố trí quân đón đánh ở Hoa Dung là ngả đường Tào Tháo chạy từ Ô Lâm về Giang Lăng. Vì binh lực của Lưu Bị ít nên Tào Tháo vẫn đi thoát. Theo sách Sơn Dương công tải ký, khi đến Hoa Dung, Tào Tháo đắc thắng cười Lưu Bị sao không biết phóng hỏa mai phục ở chỗ này. Sau đó quân Lưu Bị nổi lửa xông vào đánh giết nhưng quân Tào đã đi qua. Trong Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung đã hư cấu việc Quan Vũ tha cho Tào Tháo đi thoát ở Hoa Dung === Tranh đoạt Kinh châu với Tôn Quyền === Tào Tháo chạy thoát về Giang Lăng rồi đi Tương Dương, sau đó bố trí Tào Nhân giữ Giang Lăng, Nhạc Tiến giữ Tương Dương, bản thân mình mang đại quân về bắc. Tôn Quyền và Lưu Bị bắt đầu chiến dịch đánh chiếm các thành trì thuộc Kinh châu mà Lưu Biểu để lại, quân Tào mới chiếm. Chu Du và Cam Ninh đóng quân ở Giang Hạ và phụ cận Giang Lăng, Lưu Bị đóng quân ở bờ nam sông Trường Giang đối diện với Giang Lăng. Lưu Bị đắp một tòa thành mới, gọi là thành Công An. Theo kế của Gia Cát Lượng, ông đề nghị Chu Du tấn công nơi trọng yếu Giang Lăng. Chu Du mang đại quân cùng các tướng tấn công, giằng co với Tào Nhân nhiều ngày không phân thắng bại. Lưu Bị tôn Lưu Kỳ làm Thứ sử Kinh châu, trên danh nghĩa ông dâng biểu về Hứa Xương đề nghị Hán Hiến Đế cho Lưu Kỳ giữ chức vụ đó, không cần quan tâm tới phản ứng của Tào Tháo “nhân danh Hiến Đế” có chấp nhận hay không. Trong lúc Chu Du tác chiến với Tào Nhân ác liệt, Lưu Bị nhân danh Lưu Kỳ điều các tướng đi đánh chiếm 4 quận phía nam Kinh châu: Quan Vũ đánh Vũ Lăng và Trường Sa, Triệu Vân đánh Linh Lăng và Quế Dương. Quan Vũ khổ chiến ở Trường Sa, cuối cùng được tướng bản địa là Ngụy Diên hỗ trợ, đánh chiếm được thành, mang lão tướng Hoàng Trung – thủ hạ cũ của thái thú Hàn Huyền về theo Lưu Bị. Thái thú mới của Vũ Lăng là Kim Toàn do Tào Tháo bổ nhiệm nghe tin Trường Sa bị hạ bèn đầu hàng Lưu Bị. Triệu Vân sau khi dụ được thái thú Lưu Độ ở Linh Lăng đầu hàng tiếp tục đánh chiếm được Quế Dương, thái thú Triệu Phạm cũng quy hàng. Lưu Bị chiếm được 4 quận, trực tiếp quản lý quận Vũ Lăng, giao cho Gia Cát Lượng thay ông điều phối quân lương của 3 quận kia. Địa bàn của ông khi đó có 4 quận rưỡi (tính cả nửa quận Giang Hạ của Lưu Kỳ), trị sở đặt tại thành Công An. Ít lâu sau, tướng Tào là Lôi Tự ở quận Lư Giang làm binh biến phản Tào, bị Hạ Hầu Uyên đánh bại, liền mang vài vạn người tới hàng. Những doanh trại cũ của Lưu Biểu ở phía bắc Kinh châu đã nghe theo lời chiêu dụ của Hoàng Trung và Ngụy Diên, lần lượt ly khai Tào Nhân, vượt qua Giang Lăng thuộc quyền cai quản của Chu Du để về theo Lưu Bị. === Kết thân họ Tôn, “mượn Kinh châu” === Thế lực của Lưu Bị càng mạnh. Tuy nhiên, 4 quận địa bàn nam Kinh châu là những quận nghèo nhất, và địa bàn nam Kinh châu chỉ có vai trò hậu cần, không đóng vai trò chiến lược trong việc thi hành Long Trung sách - tiến sang Ích châu và trung nguyên, do đó Lưu Bị và Gia Cát Lượng phải tính tới việc tiếp cận địa bàn các quận phía bắc Kinh châu. Chu Du khổ chiến với Tào Nhân suốt 1 năm, tới tháng 12 năm 209, Tào Nhân theo lệnh của Tào Tháo bỏ thành Giang Lăng rút về Tương Dương củng cố lại phòng tuyến. Chu Du tiến vào chiếm giữ Giang Lăng, được Tôn Quyền phong làm Thái thú Nam quận. Trong năm 209, Lưu Kỳ yểu mệnh qua đời. Lưu Bị tự lập làm Kinh châu mục. Cam phu nhân vợ ông cũng qua đời. Tôn Quyền muốn củng cố liên minh với Lưu Bị, liền gả em gái cho ông. Khoảng giữa tháng 1 đến giữa tháng 2 năm 210), Lưu Bị cưới Tôn phu nhân tại núi Tú Lâm. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Tôn Quyền theo kế của Chu Du, không thực lòng muốn gả em gái, chỉ muốn mang em gái ra làm mồi nhử Lưu Bị sang Giang Đông để giam lỏng nhằm đoạt mấy quận Kinh châu. Nhưng Gia Cát Lượng tương kế tựu kế, giúp Lưu Bị cưới Tôn phu nhân mang về, khiến Chu Du phẫn uất thổ huyết. Đám cưới được mô tả diễn ra tại chùa Cam Lộ (Trấn Giang), có tham dự của Ngô quốc thái – mẹ kế Tôn Quyền. Tôn phu nhân là con nhà võ, có tính dũng mãnh như mấy người anh, vì vậy cuộc sống vợ chồng mới của Lưu Bị không thật mặn mà. Tôn phu nhân lại mang theo một đội quân hầu hạ, thường tự ý dắt lính tráng theo hầu diễu võ dương oai, phạm vào pháp luật. Lưu Bị bèn giao cho Triệu Vân giữ chức Tư mã ở Kinh châu, quản lý việc trong cung. Sau khi lấy em gái Tôn Quyền, ông dâng biểu về Hứa Xương tiến cử Tôn Quyền làm “Hành xa kỵ tướng quân, Từ châu mục”. Theo kế của Gia Cát Lượng, Lưu Bị đích thân sang Ngô quận gặp Tôn Quyền để đàm phán nhằm cai quản vùng Giang Lăng làm bàn đạp phát triển thế lực. Hai bên gặp nhau tại Kinh Khẩu thuộc Ngô quận, ông đề nghị họ Tôn cho mượn Nam quận, với danh nghĩa “mượn Kinh châu” để cùng chống Tào Tháo. Chu Du ở Giang Lăng (thuộc Nam Quận) nghe tin, bèn viết thư cho Tôn Quyền phản đối việc này, đề nghị giữ Lưu Bị lại, dùng mỹ nhân lung lạc, và ly cách với các mãnh tướng Quan Vũ, Trương Phi, điều hai tướng này đi chinh chiến để lợi dụng tài năng của họ. Nhưng Lưu Bị không bị lung lạc. Thấy Tôn Quyền khất việc cho “mượn Kinh châu”, ông bèn từ giã trở về Công An, lệnh cho Quan Vũ đóng quân đến gần Giang Lăng gây áp lực, buộc Chu Du phải ngày đêm lo phòng thủ dù đang dưỡng bệnh. Ít lâu sau, Chu Du qua đời, tiến cử Lỗ Túc lên thay. Vì Lỗ Túc ra sức thuyết phục Tôn Quyền hãy coi trọng liên minh Tôn-Lưu để chống Tào, Tôn Quyền bằng lòng với đề nghị “mượn Kinh châu”, tức là giao huyện Giang Lăng cho Lưu Bị. Lỗ Túc rút quân khỏi Giang Lăng, bàn cho Lưu Bị, đổi lại, Lưu Bị giao phần còn lại của Giang Hạ (mà ông mới tiếp quản từ Lưu Kỳ) cho Tôn Quyền. Địa bàn của Lưu Bị được mở lên phía bắc. Ông cắt mấy huyện phía tây Nam quận lập ra quận Nghi Đô, cho Trương Phi làm Thái thú. Ông phong Quan Vũ làm thái thú Tương Dương, đóng đồn ở Giang Bắc, lại chuyển Trương Phi làm thái thú Nam quận. Cũng trong thời gian ở Kinh châu, với sự hỗ trợ của Gia Cát Lượng, ông thu nhận thêm sự phục vụ của nhiều nhân tài như Tưởng Uyển, Hách Phổ, Liêu Lập, Mã Lương, Mã Tốc, Trần Chấn… trong đó nổi bật nhất là Bàng Thống từ Đông Ngô sang. == Lập nghiệp ở Ích châu == === Tranh đường khởi sự với Tôn Quyền === Chiến lược phát triển của cả Lưu Bị và Tôn Quyền đều coi Ích châu của Lưu Chương là vùng đất phải lấy. Trước khi qua đời, Chu Du đã hiến kế cùng Tôn Du đi đánh vào chiếm đất Thục, rồi diệt luôn Trương Lỗ; liên kết với Mã Siêu cùng chống Tào Tháo. Các sử gia cho rằng kế của Chu Du bên ngoài là đối địch với Tào Tháo, bên trong là ngầm thanh toán Lưu Bị, vì đi đánh Thục sẽ đi ngang qua địa bàn Lưu Bị. Lưu Bị và Gia Cát Lượng phải ra sức ngăn cản Tôn Quyền thi hành kế của Chu Du. Trong lúc vẫn chưa “mượn” được Giang Lăng của Tôn Quyền, Lưu Bị nhân danh xót thương Lưu Chương là người cùng trong tông thất, một mặt dùng lễ viết thư xin Tôn Quyền tạm thời đừng ra quân, mặt khác ông sai Quan Vũ ra đóng quân ở Giang Lăng, Trương Phi đóng quân ở Tỷ Quy, còn mình tự cầm quân ra Chiêm Lăng, có ý bảo vệ cho Lưu Chương. Tôn Quyền biết bèn lệnh cho Tôn Du tạm hoãn binh chưa cử động. Chu Du đang trên đường về Giang Lăng chuẩn bị khởi binh thi hành kế đánh Thục được Tôn Quyền đồng tình thì lâm bệnh mất. Do tác động của Lỗ Túc muốn củng cố liên minh chống Tào, Tôn Quyền thực hiện giao ước đổi Giang Lăng lấy Giang Hạ rồi lệnh cho Tôn Du lui binh về Giang Đông. === Sự trợ giúp của Trương Tùng và Pháp Chính === Ở Ích châu, Lưu Chương có 3 mối lo: thù với Trương Lỗ, sự đe dọa của Tào Tháo và sự chống đối của các thế lực bản địa người Thục vẫn chưa thực sự phục tùng cha con Lưu Chương. Hai thủ hạ của Lưu Chương là Trương Tùng và Pháp Chính có cảm tình với Lưu Bị, không muốn thờ Lưu Chương kém cỏi, nên ra sức thuyết phục Lưu Chương dựa vào Lưu Bị để tự cường. Vì vậy nhân bị Tào Tháo coi thường khi đi sứ, Trương Tùng trở về Thục đúng lúc vừa diễn ra trận Xích Bích bèn khuyên Lưu Chương đổi thái độ với Tào Tháo. Sau đó cũng theo sự tiến cử của Trương Tùng, Lưu Chương cử Pháp Chính qua lại thành Công An gặp Lưu Bị để liên hợp chống Tào, lại sai Mạnh Đạt mang vài ngàn binh mã tới cho Lưu Bị sai khiến. Do sự ca ngợi của Pháp Chính, Lưu Chương rất tin Lưu Bị có tài và nhân đức. Năm 211, Tào Tháo sau khi đánh bại Mã Siêu và Hàn Toại đã sai Chung Do và Hạ Hầu Uyên chuẩn bị binh mã để tấn công Trương Lỗ ở Ích châu. Điều đó khiến Lưu Chương càng sợ hãi, bèn nghe theo Trương Tùng, lại sai Pháp Chính sang Kinh châu mời Lưu Bị mang quân vào Tây Xuyên. === Tiến vào Ích châu === Được lời mời của Lưu Chương qua Pháp Chính, được sự tán đồng của Bàng Thống và Gia Cát Lượng, Lưu Bị coi đây là thời cơ tốt để tiến vào Ích châu. Mùa đông năm 211, Lưu Bị khởi binh đi Ích châu. Theo đề nghị của Gia Cát Lượng, để tránh bị Lưu Chương nghi ngờ, Lưu Bị mang theo không nhiều quân, và dùng những tướng mới gia nhập sang Xuyên. Bộ chỉ huy tây chinh gồm có mưu sĩ mới Bàng Thống, 2 hàng tướng Hoàng Trung, Ngụy Diên và chưa tới 1 vạn quân, với sắp xếp để Hoàng Trung đi tiền quân, Lưu Bị tự đi trung quân cùng Lưu Phong và Quan Bình, Ngụy Diên đi hậu quân. Các sử gia đánh giá cao sự táo bạo của Lưu Bị trong việc mang theo một lực lượng mỏng và hầu hết là những người mới theo hàng, vì nếu Lưu Chương chủ động trở mặt trước thì Lưu Bị sẽ gặp nguy hiểm. Lưu Bị giao cho Quan Vũ ở lại trấn thủ Kinh châu, đóng tại Giang Lăng, giúp việc là Gia Cát Lượng, Trương Phi đóng quân phòng thủ mặt sông Trường Giang, còn Triệu Vân nắm binh ở Công An. Phía Tôn Quyền, tướng Tôn Du đã rút quân về Giang Đông chưa lâu thì nghe tin Lưu Bị mang quân lên đường tiến vào Tây Xuyên. Thấy mình bị Lưu Bị lừa gạt, Tôn Quyền bực tức chửi ầm ĩ. Để tránh bị người Thục nghi ngờ, Lưu Bị đóng trung quân ở Điếm Giang. Mạnh Đạt theo lệnh của Lưu Chương, ra Phù Thành cách Thành Đô 360 dặm nghênh đón ông. Sau đó Lưu Chương mang 3 vạn quân hỗn hợp kỵ binh và bộ binh ra đón tiếp. Hai người hội ngộ. Pháp Chính và Bàng Thống ngầm khuyên ông nên bất ngờ bắt giết Lưu Chương để đoạt Ích châu, nhưng Lưu Bị không đồng tình, vì mới vào cõi phải lấy lòng người, không thể làm việc bất nghĩa. === Trở mặt đánh Lưu Chương === Sau đó Lưu Chương cấp cho ông quân sĩ cùng rất nhiều quân trang, vật tư, lại giao cả cánh quân của 2 tướng Cao Bái, Dương Hoài ở Bạch Thủy cho ông điều động, giục ông lên phía bắc đánh Trương Lỗ rồi trở về Thành Đô. Lưu Bị có tổng số quân lên 3 vạn, nhưng theo kế của Bàng Thống, vẫn lưu lại Hà Manh nhằm mục đích ban bố ân đức lấy lòng người Thục bản địa, không hành động gì suốt 1 năm. Dương Hoài và Cao Bái ở Bạch Thủy báo cho Lưu Chương việc Lưu Bị án binh không tiến lên phía bắc khiến Lưu Chương bắt đầu nghi ngờ. Đúng lúc đó, giữa tháng 1 đến giữa tháng 2 năm 213), Tào Tháo nam chinh đánh Tôn Quyền, Tôn Quyền cầu cứu Lưu Bị chi viện. Lưu Bị bèn viết thư cho Lưu Chương, khẩn khoản nói phải cứu đồng minh Tôn Quyền và bảo vệ Kinh châu, xin cấp 1 vạn quân nữa. Lưu Chương nghi ngờ ông, nên giảm nửa số vật tư lương thảo đề nghị, và chỉ cho 4000 quân. Lưu Bị được số quân lương của Lưu Chương, liền truyền tin chuẩn bị nhổ trại lên đường về Kinh châu trợ chiến Tôn Quyền. Các sử gia đánh giá rằng không kết luận được Lưu Bị tuyên bố về đông là thật hay chỉ để đánh lừa Lưu Chương, nhưng điều đó khiến Trương Tùng ở Thành Đô hốt hoảng, sợ ý định rước Lưu Bị thay Lưu Chương đổ vỡ, vội viết thư cho Lưu Bị đề nghị ông hãy ở lại. Bức thư đó bị anh Trương Tùng là Trương Túc biết được, bèn đi tố cáo với Lưu Chương. Lưu Chương bèn bắt giết Trương Tùng. Trong khi tin Trương Tùng chết còn chưa truyền tới chỗ Lưu Bị và ải Bạch Thủy, Bàng Thống giục ông phải hành động, vì Lưu Chương đã tỏ ra nghi ngờ nên mới cấp ít quân lương. Trong 3 kế của Bàng Thống đưa ra, ông dùng trung sách, vẫn thân thiện với Dương Hoài và Cao Bái, triệu tập 2 người đến bàn việc quân. Hai tướng trấn giữ Bạch Thủy chưa biết lệnh mới của Lưu Chương nên đến trại Lưu Bị. Ông lập tức bắt giữ hai tướng và trách cứ Lưu Chương bội ước cấp ít quân, rồi nhân lý do đó đánh chiếm ải Bạch Thủy. === Đánh chiếm Bồi Thành === Sau khi chiếm Bạch Thủy, Lưu Bị bắt các tướng sĩ tại đây phải để lại gia quyến làm con tin, rồi điều họ đi cùng Hoàng Trung, Trác Ưng làm tiên phong đi đánh Bồi Thành. Lưu Chương bèn sai Trương Nhiệm cùng các tướng Lưu Quý, Ngô Ý, Lãnh Bào, Đặng Hiền ra kháng cự. Tin Trương Tùng chết truyền đến khiến Lưu Bị buộc phải công khai đẩy mạnh chiến tranh với Lưu Chương. Ông sai mang Dương Hoài và Cao Bái ra giết chết. Hoàng Trung tiến đến Miên Trúc, tướng Ích châu là Ngô Ý lập tức đầu hàng. Quân Trương Nhiệm thiếu chuẩn bị nên bị đánh tan tác. Lưu Bị chiếm được Bồi Thành, Trương Nhiệm phải rút chạy về phía nam lập trận tuyến phòng thủ. Lưu Chương sai tướng Lý Nghiêm mang quân ra tiếp ứng cho Trương Nhiệm. Lý Nghiêm vốn là đồng hương của Pháp Chính và Mạnh Đạt nên cũng có thiện cảm với Lưu Bị. Do sự thuyết phục của Pháp Chính và sau đó là Bàng Thống, khi ra mặt trận, Lý Nghiêm và Phí Quan lập tức quy hàng Lưu Bị, khiến quân Ích châu càng sa sút tinh thần chiến đấu. Trương Nhiệm cô thế phải rút về Lạc Thành, phòng giữ các nơi hiểm yếu. Lưu Chương nghe tin Hoắc Tuấn báo về, bèn phát binh bao vây Hà Manh, cắt đứt đường tiếp viện của Lưu Bị. Lưu Bị không thể đánh hạ được Lạc Thành, lại bị vây từ phía sau, tình hình khá nguy hiểm. Mùa hè năm 213, Lưu Bị bèn bí mật sai người theo đường thủy về Giang Lăng hạ lệnh điều động Trương Phi, Triệu Vân và Gia Cát Lượng vào Ích châu trợ chiến, hẹn hội binh ở Thành Đô. Quan Vũ ở lại trấn thủ Kinh châu. === Hạ Lạc Thành, chiếm Thành Đô === Từ cuối năm 213, quân Kinh châu tiếp ứng của Trương Phi, Triệu Vân chia làm 2 đường: Trương Phi và Gia Cát Lượng đi đường phía bắc, Triệu Vân đi đường phía nam. Tham gia còn có các văn thần Tưởng Uyển, Giản Ung. Cả 2 cánh quân cùng giành thắng lợi liên tiếp. Mùa hè năm 214, các cánh quân Kinh châu đều thắng trận. Lưu Bị nghe tin Trương Phi và Gia Cát Lượng đã đánh đến phía đông và phía bắc Thành Đô, còn Triệu Vân phá được Kiện Vi, bèn cùng Bàng Thống chia đường tấn công Lạc Thành. Bàng Thống dẫn một cánh quân dụ được tướng giữ thành là Trương Nhiệm ra khỏi Lạc Thành. Trương Nhiệm kéo ra phía nam, đóng quân ở Nhạn Kiều. Lưu Bị bèn chặt đứt đường về của Trương Nhiệm, còn Bàng Thống dẫn quân quay lại đánh Trương Nhiệm ở Nhạn Kiều. Bàng Thống bị trúng tên và tử trận. Lưu Bị đánh bại và bắt sống Trương Nhiệm. Vì Trương Nhiệm không chịu hàng nên Lưu Bị sai mang chém. Ba cánh quân Kinh châu đã bao vây sáp Thành Đô. Cùng lúc đó, Mã Siêu ở Lương châu đã bị Tào Tháo đánh bại 2 lần, phải đến Hán Trung đầu hàng Trương Lỗ. Biết Mã Siêu bất mãn với Trương Lỗ, Lưu Bị bèn sai Lý Khôi đến Hán Trung ngầm liên kết với Mã Siêu. Mã Siêu bèn bỏ trốn sang đất Thục theo về Lưu Bị. Pháp Chính viết thư cho Lưu Chương khuyên nên đầu hàng. Lưu Chương không chịu. Lưu Bị bèn sai Mã Siêu cầm quân đánh Thành Đô, cho quân đổi áo theo trang phục người Hồ ở Lương Châu, khiến người Thành Đô tưởng là đội quân Tây Lương thiện chiến của Mã Siêu. Lưu Chương nghe tin quân Mã Siêu mạnh mẽ lợi hại, bèn thôi ý định chống cự, mở cửa thành ra hàng. Lưu Bị tiếp nhận sự đầu hàng của Lưu Chương, đưa về an trí cùng gia quyến tại thành Công An, cho Lưu Chương giữ nguyên ấn Chấn uy tướng quân mà Tào Tháo từng nhân danh Hán Hiến Đế phong Lưu Chương. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Lưu Chương cầu viện Trương Lỗ. Trương Lỗ sai Mã Siêu đi cứu Tây Xuyên, ác chiến với Trương Phi. Vì Trương Lỗ tin dùng gian thần Dương Tùng, đẩy Mã Siêu vào thế bí, Lưu Bị mới sai Lý Khôi đến làm thuyết khách khuyên Mã Siêu hàng. Mã Siêu nhận lệnh của Lưu Bị, cầm quân đi đánh Thành Đô. Lưu Chương không biết Mã Siêu theo Lưu Bị, bèn chuẩn bị nghênh đón. Nghe Mã Siêu tuyên bố đã theo Lưu Bị, Lưu Chương tuyệt vọng mở cửa thành đầu hàng. Lưu Bị đưa Lưu Chương ra an trí tại thành Công An, tự xưng làm Châu mục Ích châu, phong cho Trương Phi làm thái thú Ba Tây, Lý Nghiêm làm thái thú Kiện Vi, Phí Quan làm thái thú Ba quận, Đổng Hòa làm thái thú quận Ích châu (quận tại Vân Nam hiện nay). Phần lớn các tướng sĩ đất Thục quy hàng ông. == Thỏa thuận mới về Kinh châu == Từ khi Lưu Bị vào Tây Xuyên, tình hình Kinh châu không yên ổn. Việc Lưu Bị lừa Tôn Quyền để điều quân vào đánh Lưu Chương khiến họ Tôn rất tức giận. Quân Tôn Ngô và quân Quan Vũ thường có xô xát ở vùng giáp ranh. Sau đó Tôn Quyền sai người sang Kinh châu đón Tôn phu nhân về, và định mang theo cả A Đẩu con trai ông. Nhờ có Triệu Vân kịp thời ngăn chặn nên giữ được A Đẩu, còn Tôn phu nhân trở về Giang Đông. Năm 214, nhân lúc Lưu Bị điều động thêm nhiều quân cùng các tướng giỏi như Gia Cát Lượng, Triệu Vân và Trương Phi, Tôn Quyền bèn sai Lỗ Túc và Lã Mông đánh mấy quận Kinh châu trong tay Quan Vũ. Quân Đông Ngô đánh chiếm 3 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa. Quan Vũ chỉ còn giữ được Nam Quận (Giang Lăng), Nghi Đô và quận Vũ Lăng. Tình hình Kinh châu rất căng thẳng. Năm 215, Lưu Bị ở Ích châu được tin, vội mang 5 vạn quân ra thành Công An thuộc quận Vũ Lăng, sai Quan Vũ mang quân đi đánh Lã Mông và Lỗ Túc. Cùng lúc, Tôn Quyền cũng đích thân từ huyện Kinh tới Lục Khẩu và sai Lỗ Túc tiến đến Ích Dương. Hai bên chiến sự giằng co. Giữa lúc đó có tin đại quân Tào Tháo tiến vào Hán Trung đánh Trương Lỗ, Tây Xuyên bị uy hiếp. Thấy tình hình bất lợi và không thể dùng vũ lực đoạt lại các quận đã mất, Lưu Bị đành phải nhượng bộ Tôn Quyền, đề nghị chính thức công nhận chủ quyền 3 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa cho Đông Ngô, xin đổi lấy Nam quận. Tôn Quyền chấp thuận giảng hòa, phân chia lại Kinh châu, hai bên lấy sông Tương Thủy làm ranh giới. Tôn Quyền tiếp tục công nhận phần nửa Nam quận cho Quan Vũ; đổi lại Quan Vũ chính thức giao lại quận Trường Sa và Quế Dương cho Tôn Quyền. Như vậy địa bàn Kinh châu của Quan Vũ từ năm 215 chỉ gồm có các quận Vũ Lăng, Nghi Đô và nửa Nam quận là Giang Lăng. == Cơ nghiệp ở Ích châu == === Đánh chiếm Đông Xuyên === Lưu Bị đánh chiếm Tây Xuyên khiến Tào Tháo phải tính đường đối phó. Tào Tháo dự định đánh chiếm Hán Trung (Đông Xuyên) của Trương Lỗ, sau đó xuôi theo sông Hán Thuỷ xuống phía nam đánh Ích châu để trừ Lưu Bị. Năm 215, trong lúc Lưu Bị đang đối đầu với Tôn Quyền ở Giang Lăng thì Tào Tháo tiến vào Hán Trung. Lưu Bị vội thỏa hiệp với Tôn Quyền để trở về Tây Xuyên. Trương Lỗ bị Tào Tháo đánh bại, mang quân chạy về huyện Ba Trung. Tây Xuyên bị uy hiếp. Viên tướng mới hàng là Hoàng Quyền khuyên Lưu Bị nên khẩn cấp điều quân ra phòng thủ 3 quận Ba Tây, Ba Thục và Ba Trung trước nguy cơ Trương Lỗ xâm nhập. Lưu Bị nghe theo, bèn sai Hoàng Quyền làm hộ quân, dẫn đầu các tướng đón đánh Trương Lỗ. Trương Lỗ phải quay về Nam Trịnh xin đầu hàng Tào Tháo. Nhưng sau đó Tào Tháo lại muốn lui quân về, không nghe theo lời khuyên của Tư Mã Ý nên nhân đà thắng lợi đánh ngay vào Tây Xuyên. Tào Tháo chỉ để lại Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp và Đỗ Tập trấn thủ Đông Xuyên. Năm 217, Trương Cáp tiến vào Ba Tây, bị Trương Phi đánh bại ở Ngõa Đẩu, thiệt hại hàng vạn quân. Khoảng giữa tháng 12 năm 217 đến giữa tháng 1 năm 218), Lưu Bị sai Trương Phi đóng đồn ở Cố Sơn, Ngô Lan cầm quân đóng ở Hạ Bị. Tào Tháo nghe tin bèn sai Tào Hồng và Tào Hưu ra đối địch. Tào Hồng nghe theo Tào Hưu, dồn sức tấn công vào cánh quân của Ngô Lan. Ngô Lan thua trận, bỏ chạy và bị người tộc Đê giết, Trương Phi phải lui quân về. Lưu Bị quyết tâm đánh chiếm Hán Trung. Khoảng giữa tháng 5 đến giữa tháng 6) năm 218, ông giao cho Gia Cát Lượng trấn giữ Thành Đô, tự mình cùng mưu sĩ Pháp Chính khởi 10 vạn quân đi đánh Hán Trung. Sau khi thấy cánh quân của Trần Thức và Hoàng Trung giao tranh với Từ Hoảng, Trương Cáp bất lợi, Lưu Bị điều động cánh quân của Triệu Vân đến chi viện. Quân Thục mạnh lên, kéo đến ải Dương Bình. Quân Tào giữ ải yếu nên không giữ nổi. Quân Thục nhanh chóng lấy cửa ải Dương Bình và đóng lại đây. Khoảng giữa tháng 10 đến giữa tháng 11 năm 218), Tào Tháo khởi đại quân tiến đến Trường An, sẵn sàng nghênh chiến. Sang đầu năm 219, Lưu Bị thúc quân vượt qua sông Miện Thủy (một nhánh của sông Hán Thủy). Lưu Bị đóng quân hạ trại tại núi Định Quân, Hoàng Trung được lệnh cầm một cánh quân mai phục ở phía sau đỉnh núi này. Tướng Tào là Hạ Hầu Uyên không biết là mưu kế, mang toàn quân tới đánh doanh trại của Lưu Bị. Trong khi hai bên đang xô xát kịch liệt, đột nhiên Hoàng Trung từ trên cao thúc trống đánh xuống, khí thế rất mạnh vào sườn quân Tào. Hoàng Trung chém được Hạ Hầu Uyên và giết được thứ sử Ích châu của Tào Tháo là Triệu Ngung. Quân Tào tham chiến có 5000 người gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Tào Tháo được tin Hạ Hầu Uyên tử trận, đích thân mang đại quân từ Trường An qua hang Tà Cốc vào Xuyên để quyết chiến. Lưu Bị thấy Tào Tháo mất nguồn lương tại chỗ, phải vận nhiều lương từ xa đến, bèn phái binh đi cướp lương thảo. Sau khi Triệu Vân đánh bại quân Tào một trận bên sông Hán Thủy, Lưu Bị giữ thế phòng thủ không ra giao chiến. Qua hơn 1 tháng khiêu chiến không đánh được trận nào, quân Tào mệt mỏi. Lưu Bị lại sai người lọt vào hàng ngũ quân Tào làm nội ứng, phao tin đồn khiến quân Tào chán nản. Tháng 6) năm 219 là thời gian mùa hè, trời mưa nhiều khiến quân Tào đông đảo càng mệt mỏi vì vận lương. Tướng hướng đạo bên Tào là Vương Bình bỏ trốn sang đầu hàng Lưu Bị, được ông trọng dụng. Tào Tháo liệu thế không thể thắng được Lưu Bị, đành hạ lệnh lui quân khỏi Hán Trung, để Trương Cáp và Tào Hồng chia nhau đóng đồn ở Trần Thương và Vũ Đô, sai Tào Chân yểm trợ cho Tào Hồng dần dần rút khỏi Vũ Đô. Để đánh chiếm các vùng đất mới tách ra từ Hán Trung của Trương Lỗ do Tào Tháo phân chia, Lưu Bị sai Mạnh Đạt và Lưu Phong làm tướng tấn công vào Phòng Lăng, Thượng Dung. Thái thú Thượng Dung là Thân Đam và em là Thân Nghi ở Tây Thành đầu hàng. Toàn bộ Ích châu cũ, gồm Tây Xuyên và Đông Xuyên, đã thuộc về Lưu Bị. === Xưng vương === Sau khi chiếm được Hán Trung và các quận kế cận, thanh thế của Lưu Bị rất lớn. Tháng 8) năm 219, một trăm hai mươi người dưới quyền đứng đầu là Mã Siêu, Hứa Tĩnh, Bàng Hi, Xạ Viện (Tạ Viện), Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng Trung, Lại Cung, Pháp Chính, Lý Nghiêm... cùng nhau đứng tên làm tờ biểu dâng lên Hán Hiến Đế, đề nghị phong Lưu Bị làm Hán Trung vương, chức Đại tư mã. Về hình thức, Lưu Bị cũng đứng tên làm tờ biểu tâu lên Hán Hiến Đế, nói rằng vì bị quần thần ép xưng vương nên phải thuận theo ý mọi người để cứu nước, thảo phạt Tào Tháo. Các sử gia cho rằng việc Lưu Bị xưng vương có nhiều khả năng tham mưu từ Pháp Chính. Do Hán Hiến Đế đang ở trong tay Tào Tháo, Lưu Bị và các tướng không chờ công văn phê chuẩn của Hiến Đế, mà trong tháng 8 năm đó tổ chức lễ xưng vương tại Miện Dương. Các tướng đứng hai bên đàn, tôn Lưu Bị đứng lên trên, để một viên quan tuyên đọc bản tấu lên Hán Hiến Đế, chính thức đội mũ miện cho ông và đúc ấn “Hán Trung vương”. Các sử gia giải thích rằng sở dĩ Lưu Bị không tổ chức lễ tại Thành Đô mà tới Miện Dương vì nơi này nằm trong quận Hán Trung, cũng là nơi Hán Cao Tổ Lưu Bang khởi nghiệp chống Hạng Vũ, nhằm biểu dương việc nối hương hỏa nhà Hán. Sau khi xưng vương, Lưu Bị phong Hứa Tĩnh làm Thái phó, Pháp Chính làm Thượng thư lệnh Hộ quân tướng quân, Liêu Lập làm Thị trung, Quan Vũ là Tiền tướng quân, Trương Phi là Hữu tướng quân, Mã Siêu là Tả tướng quân và Hoàng Trung là Hậu tướng quân. Các chức vị của các nhân vật quan trọng khác như Gia Cát Lượng, Triệu Vân không được sử sách nhắc đến. Sau đó, Lưu Bị và các tướng trở về trung tâm Ích châu là Thành Đô. Ông phong Ngụy Diên làm Thái thú Hán Trung, chức Trấn viễn tướng quân. Quyết định này khiến mọi người kinh ngạc, vì ai cũng nghĩ rằng Hán Trung có vị trí quan trọng như Kinh châu đang do Quan Vũ trấn thủ, Lưu Bị sẽ giao nơi này cho Trương Phi. Các sử gia đánh giá rất cao quyết định dùng Ngụy Diên – một người chưa có danh vọng và địa vị - của Lưu Bị là mạnh dạn, đúng người, và có nguyên nhân sâu xa. Mã Siêu từng là chủ một phương, nếu sai giữ trọng trấn phải đề phòng nổi loạn; Hoàng Trung đã cao tuổi. Sau khi Lỗ Túc mất (217), quan hệ giữa Lưu Bị với Tôn Quyền về vấn đề Kinh châu ngày càng căng thẳng, do đó phải để Trương Phi, Triệu Vân vào việc phía đông, vì vậy đề bạt Ngụy Diên là người thích hợp nhất. Có ý kiến cho rằng Lưu Bị xưng vương hơi sớm. Lẽ ra ông nên chờ tới khi đánh thắng được Tào Tháo, chiếm được trung nguyên để trung hưng nhà Hán mới thực hiện việc này; việc ông sớm xưng vương khi vừa khuếch trương thế lực và không hề có thỏa hiệp gì thêm với Tôn Quyền khiến Tôn Quyền muốn tiếp tục lôi kéo ông để chống Tào Tháo mà không thể thực hiện được, vì địa vị hai người không còn ngang nhau như trước; Tôn Quyền không còn cảm thấy an toàn với Lưu Bị và quyết định phải có sách lược mới, trở mặt với Lưu Bị. === Trước biến cố Kinh châu === Ngay sau khi Lưu Bị xưng vương và bản thân được phong làm Tiền tướng quân, Quan Vũ cất quân Giang Lăng đi đánh Tương Dương và Phàn Thành do Tào Nhân trấn giữ Lưu Bị ở Ích châu liên tiếp nhận tin báo thắng trận của Quan Vũ: Tương Dương và Phàn Thành bị vây bức, đạo quân viện binh của Vu Cấm và Bàng Đức bị tiêu diệt, Quan Vũ tháo nước sông làm Tào Nhân ở Phàn Thành vô cùng nguy khốn, nhiều địa phương phía bắc đã phản Tào hàng Quan Vũ. Nhưng trong khi Quan Vũ chưa hạ được Tương Phàn thì Tôn Quyền sai Lục Tốn và Lã Mông đánh úp mấy quận Kinh châu của Lưu Bị, My Phương và Phó Sĩ Nhân đầu hàng nộp thành cho Đông Ngô. Khoảng cuối tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 220), Quan Vũ bị viện binh của Từ Hoảng đánh bại, chạy về Kinh châu không còn đường, cuối cùng bị Lã Mông bắt giết. Theo sử gia Hoàng Ân Đồng, Quan Vũ ra quân vì mải mê chiến thắng, cho rằng có thể dễ dàng thắng tiếp Tào Tháo; còn tập đoàn Lưu Bị ở Ích châu không ra lệnh, cũng không ngăn cản, vì tâm lý vừa thắng ở Hán Trung, không lường được thất bại lớn, để mặc cho Quan Vũ hành động. Lưu Bị không điều quân tiếp ứng cho Quan Vũ trong chiến dịch này, điều đó được các sử gia lý giải vì trong Ích châu không ngờ tới điều này. Lưu Bị ở Ích châu toàn nghe tin chiến thắng. Từ đó tới khi Quan Vũ bị Từ Hoảng đánh bại và chạy về Mạch Thành diễn biến quá mau chóng, Lưu Bị biết tin cũng không thể cứu ứng kịp nữa. Việc phát động chiến dịch Tương-Phàn trong thời điểm và hoàn cảnh mà Quan Vũ đã làm bị các sử gia coi là sai lầm, thất bại này Quan Vũ trực tiếp chịu trách nhiệm, Lưu Bị chịu trách nhiệm của người lãnh đạo, còn Gia Cát Lượng không phải chịu trách nhiệm. Mất Kinh châu và Quan Vũ là tổn thất lớn cho Lưu Bị. Ông vô cùng oán hận con nuôi Lưu Phong và tướng Mạnh Đạt ở Phòng Lăng đã không đáp ứng yêu cầu xuất quân trợ chiến của Quan Vũ khiến Quan Vũ phải đơn độc chiến đấu với quân Tào nên ra lệnh triệu tập 2 người. Khoảng cuối tháng 8 đến cuối tháng 9 năm 220), Mạnh Đạt sợ hãi quay đầu hàng Tào, anh em Thân Đam, Thân Nghi ở Tây Thành và Thượng Dung cũng hàng Tào. Cùng lúc ở Lạc Dương, Tào Tháo qua đời, Tào Phi lên nối ngôi Ngụy vương, tiếp nhận sự đầu hàng của Mạnh Đạt và Thân Đam. Lưu Phong ở Phòng Lăng không theo hai người hàng Ngụy, bị Thân Đam và Từ Hoảng theo lệnh Tào Phi mang quân tới đánh. Lưu Phong thua trận bỏ chạy về Thành Đô. Lưu Bị lập tức bắt giữ. Gia Cát Lượng khuyên Lưu Bị nên giết Lưu Phong. Lưu Bị nghe theo và mang Lưu Phong ra xử tử. Ý kiến của các sử gia bàn về việc Gia Cát Lượng khuyên Lưu Bị giết Lưu Phong có khác nhau. Trần Thọ trong Tam Quốc chí cho rằng vì Gia Cát Lượng lo cho tương lai Thục Hán có sự tranh chấp ngôi thừa kế Lưu Bị giữa Lưu Phong (con nuôi) đã trưởng thành và thái tử Lưu Thiện (con đẻ) còn nhỏ. Các sử gia hiện đại không đồng tình với Trần Thọ, cho rằng ngôi thái tử của Lưu Thiện đã lập nên đó không phải sự lo lắng của Gia Cát Lượng, mà Gia Cát Lượng muốn trị tội Lưu Phong vì không nghe lệnh Quan Vũ, khiến Thục Hán đã mất Kinh châu sau đó lại làm mất quận Phòng Lăng. === Xưng đế === Mất Kinh châu và Quan Vũ khiến Lưu Bị nóng lòng muốn báo thù Đông Ngô. Tuy nhiên lúc đó lại xảy ra nhiều biến cố. Sau việc mất Mạnh Đạt và Lưu Phong cùng mấy quận phía đông, khoảng cuối tháng 11 đến cuối tháng 12) năm 220, Tào Phi phế truất Hán Hiến Đế cướp ngôi, lập ra nhà Ngụy, tức là Tào Ngụy Văn Đế. Hán Hiến Đế bị giáng làm Sơn Dương công, điều đi quận Sơn Dương. Khoảng đầu tháng 5 đến đầu tháng 6) năm 221, Lưu Bị và Gia Cát Lượng ở Thành Đô nghe lời đồn đại rằng Hiến Đế đã bị Tào Phi giết hại, bèn phát tang ở Ích châu, truy tôn vua Hán là Hiếu Mẫn hoàng đế. Quần thần đề nghị ông lên ngôi hoàng đế để kế nghiệp nhà Hán. Ông còn do dự thì lại có tin Tôn Quyền đã dâng biểu xưng thần với Tào Phi và được phong làm Ngô vương. Lưu Bị rất tức giận, muốn lập tức khởi binh đánh Đông Ngô. Theo lời khuyên của Gia Cát Lượng, ông tạm gác việc đánh Ngô và làm lễ lên ngôi hoàng đế. Lễ được tiến hành ở phía nam núi Vũ Đương thuộc Thành Đô, lấy quốc hiệu là Hán để kế tục Lưu Hiệp, đặt niên hiệu là Chương Vũ. Từ đó nhà Thục Hán bắt đầu. Lưu Bị lập Ngô phu nhân (em gái Ngô Ý) làm hoàng hậu, Lưu Thiện làm thái tử, lập con gái của Trương Phi (vợ Lưu Thiện) làm Thái tử phi, các con thứ Lưu Vĩnh làm Lỗ vương, Lưu Lý làm Lương vương. Phần các quan, lúc đó Pháp Chính đã mất, ông phong Gia Cát Lượng làm Thừa tướng, Hứa Tĩnh làm Tư đồ, Trương Phi làm Tư Lệ hiệu úy, Mã Siêu làm Lương châu mục… === Đánh Đông Ngô === Sau khi chiếm lại các quận Nghi Đô, Nam Quận và Vũ Lăng từ tay Quan Vũ, Tôn Quyền chủ động xưng thần với Tào Tháo nên được Tào Tháo (trước khi mất) thừa nhận làm Châu mục Kinh châu. Bản thân Tôn Quyền lập lại Lưu Chương làm Ích châu mục, sai đóng ở Tỉ Quy để làm tiền đồn chống Lưu Bị. Như vậy Tôn Quyền không thừa nhận địa vị của Lưu Bị ở cả Ích châu lẫn Kinh châu như trước. Diễn biến đó là Tào và Tôn bắt tay nhau không thừa nhận địa vị của Lưu Bị, khiến ông càng thêm tức giận cùng việc mất Kinh châu và Quan Vũ. Vì vậy sau khi xưng đế, ông quyết tâm đánh Đông Ngô. Bất chấp sự can gián của các tướng như Tần Mật, và nhất là Triệu Vân (nên coi trọng việc đánh Tào Phi hơn là Tôn Quyền), nhưng ông không nghe theo. Tướng Hoàng Quyền cũng khuyên ông không nên mạo hiểm thân chinh mà chỉ cần sai một viên tướng đi đông chinh, bản thân Hoàng Quyền tình nguyện lãnh trách nhiệm đánh Ngô, nhưng Lưu Bị cũng không chịu. Do thái độ tức giận và kiên quyết của Lưu Bị, không ai dám can gián nữa. Ông giao cho thừa tướng Gia Cát Lượng giúp thái tử Lưu Thiện giữ Thành Đô, đích thân lựa 4 vạn quân, chuẩn bị chọn ngày lên đường. Tam quốc diễn nghĩa kể rằng Lưu Bị mang hết quân trong nước, tới 70 vạn người đi đánh Ngô. Các sử gia lý giải việc Lưu Bị không mang nhiều quân đi đánh Ngô có 2 nguyên nhân: 1. Nhân khẩu Ích châu không nhiều tới mức có thể điều động đến 70 vạn người như La Quán Trung nêu trong Tam Quốc diễn nghĩa. 2. Ông phải bố trí số quân đáng kể đề phòng sự xâm phạm của Tào Ngụy. Trong khi toàn quân đang tập hợp chưa xuất phát thì ông lại mất Trương Phi vì bị các thủ hạ Phạm Cương, Trương Đạt sát hại vào khoảng đầu tháng 6 đến đầu tháng 7) năm 221. Hai người này sang hàng Ngô. Lưu Bị đau đớn, muốn trút hết căm giận lên Tôn Quyền. Tháng 8 năm đó ông hạ lệnh tập trung quân ở Giang châu. Vì Hoàng Trung đã mất, ông để Ngụy Diên và Mã Siêu phòng Tào Ngụy phía bắc, cùng các tướng Mã Lương, Hoàng Quyền, Trình Kỳ, Trương Nam, Ngô Ban, Phùng Tập và Triệu Vân lên đường. Khi đến Giang châu, ông lệnh cho Triệu Vân (từng can gián) đóng quân ở lại làm tiếp viện, cho Ngô Ban làm tiên phong, dẫn quân ra Tam Hiệp, tiến vào Kinh châu. Có nhiều ý kiến thường nhìn nhận rằng Lưu Bị vì tình riêng mà đánh Ngô, là sai lầm không coi trọng đại cục. Nhưng các sử gia xem xét việc này có lý do chính đáng từ phía Lưu Bị. Ngoài tình nghĩa với Quan Vũ phải báo thù, việc đánh Ngô là phương châm đã định, vì lấy Kinh châu làm 1 bàn đạp tấn công trung nguyên đã nằm trong chiến lược Long Trung đối sách mà Gia Cát Lượng vạch ra, nên khi Kinh châu mất thì phải đoạt lại; hơn nữa xét về thực lực lúc đó, Tào Phi mạnh hơn Tôn Quyền, do đó Lưu Bị tự lượng thực lực của mình dễ đánh thắng Tôn Quyền hơn là đánh Tào Phi. Tôn Quyền thấy Lưu Bị tiến vào Kinh châu, vội sai sứ đi giảng hòa. Gia Cát Cẩn đang làm Thái thú Nam Quận lấy danh nghĩa cá nhân viết thư phân tích với ý tứ như Triệu Vân (xem Tào Phi làm đối thủ chính vì nợ nước với nhà Hán), nhưng ông không chấp nhận, thúc quân tiếp tục đông tiến. Hai tướng tiên phong Ngô Ban, Trần Thức đánh bại đạo quân Ngô của Lý Dị và Lưu A, chiếm huyện Vu và Tỉ Quy. Đầu năm 222, quân Thục Hán tiến đến Di Lăng, Hào Đình, ông hạ lệnh cho quân thủy lên bộ hạ trại. Giữa Tỉ Quy và Hào Đình cách nhau 700 dặm, Lưu Bị lập ra liên tiếp mấy chục doanh trại bằng gỗ cây rừng. Lập liên trại với khoảng cách xa như vậy là sai lầm của Lưu Bị, tối kỵ đối với nhà binh. Tào Phi ở Lạc Dương nghe tin này cũng đoán Lưu Bị sẽ thất bại. Tướng Ngô là Lục Tốn có 5 vạn quân, điềm tĩnh phòng thủ để tránh nhuệ khí của quân Thục. Đến tháng 8) năm 222, Lục Tốn bất ngờ dùng hỏa công đồng loạt đánh vào liên trại của Lưu Bị. Quân Thục bị đánh úp không kịp trở tay, bị giết mấy vạn người, tan vỡ bỏ chạy. Trong khi rút lui, các đại tướng Trương Nam, Phùng Tập đều bị tử trận để bảo vệ cho Lưu Bị chạy thoát. Vua người Hồ là Ma Sa Kha ở quận Việt Huề cùng Trình Kỳ và Phó Đồng cũng chết trong loạn quân. Lưu Bị chỉ còn tàn quân chủ lực chạy vào núi Mã Yên, bị Lục Tốn truy kích. Ông phải sai quân mang khôi giáp đốt để chặn đường quân Ngô, sau đó chạy qua rồi phá đường sạn đạo Di Lăng để ngăn quân Ngô đuổi theo, cuối cùng chạy thoát về thành Bạch Đế trong tình cảnh rất thê thảm. Nhưng Lục Tốn biết rõ Tào Phi chuẩn bị sẵn quân rình rập phía sau để đánh úp Đông Ngô, nên không ham truy kích Lưu Bị mà rút đại quân trở về. === Giảng hòa với Tôn Quyền === Lưu Bị rút về thành Bạch Đế, có Triệu Vân và Hồ Đốc cầm quân trấn giữ, tạm thời yên tâm. Thất bại Di Lăng khiến Lưu Bị suy sụp. Nhưng ngay sau đó Ngô-Ngụy cũng xảy ra chiến tranh. Không ngoài dự tính của Lục Tốn, Tào Phi nhân lúc Ngô-Thục giao tranh bèn dẫn quân nam tiến đánh Ngô. Tôn Quyền, Lục Tốn lại phải huy động tướng sĩ ra sức chống trả. Hai bên giằng co ở Giang Lăng – Nam quận. Lưu Bị nghe tin Lục Tốn đối trận với Tào Phi, bèn viết thư cho Lục Tốn nói: "Nay giặc đã đến tại Giang Lăng, tướng của ta lại đến phía đông, tướng quân nói xem có được không"?" Lục Tốn xem thư hiểu hàm ý của ông, bèn viết thư trả lời, một mặt vạch rõ quân Thục mới bị trọng thương không thể ra trận, mặt khác chủ động đề nghị giảng hòa. Tán thành với đề nghị của Lục Tốn, cuối năm 222, Tôn Quyền sai Trịnh Tuyền làm sứ đến thành Bạch Đế gặp Lưu Bị, xin giảng hòa. Lưu Bị cân nhắc, ông không thể để Đông Ngô diệt vong, bản thân mình cũng lâm nguy vì Tào Ngụy rất mạnh. Vì vậy ông chấp nhận đề nghị giảng hòa của Tôn Quyền và sai Tôn Vĩ sang Đông Ngô đáp lễ Tôn Quyền. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là 2 hoạt động ngoại giao khởi động lại cho hòa bình giữa 2 bên sau chiến tranh; hai bên đồng ý giảng hòa để kết thúc tình trạng thù hận nhưng chưa có thỏa thuận gì khác về tái hợp liên minh chống Tào. Sau đó, do bệnh tình của Lưu Bị nguy kịch nên hoạt động ngoại giao 2 nước bị gián đoạn. == Qua đời ở thành Bạch Đế == === Mất mát và bất ổn === Tuy giảng hòa được với Đông Ngô nhưng thất bại Di Lăng vẫn là đòn chí mạng đối với Lưu Bị, vì không thể khôi phục Kinh châu khiến những kế hoạch trong Long Trung đối sách mà Gia Cát Lượng đề ra, bản thân ông suốt đời theo đuổi không thể thực hiện được nữa, việc đánh Tào Ngụy khôi phục trung nguyên cũng không còn cơ hội. Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của Lưu Bị. Cùng lúc, những tin xấu liên tiếp từ Thành Đô báo về: Tư đồ Hứa Tĩnh cao tuổi mới qua đời, kế đó Phiêu kỵ tướng quân Mã Siêu cũng lâm bệnh mất khi mới 47 tuổi. Các tướng giỏi theo ông lập nghiệp chỉ còn lại Triệu Vân và Ngụy Diên. Ngay sau đó Thượng thư Lưu Bá từ Thành Đô tới Bạch Đế hỏi thăm sức khỏe ông, trở về Thành Đô không lâu cũng qua đời. Lưu Bị càng ngày càng suy sụp. Ông dự cảm mình không còn khả năng đoạt lại Kinh châu, bèn hạ lệnh chuyển phần mộ Cam phu nhân vào đất Thục. Đầu năm 223, Lưu Bị cảm thấy bệnh tình càng trầm trọng, bèn sai người đến Thành Đô triệu tập thừa tướng Gia Cát Lượng đến gấp cung Vĩnh An. Tình hình Thục Hán cũng ẩn chứa những điều bất ổn. Thủ lĩnh tộc thiểu số ở Việt Huề là Cao Định theo sự xúi giục của Tôn Quyền đã khởi binh làm phản, nhưng bị Lý Nghiêm nhanh chóng dẹp được. Thái thú Hán Gia là Hoàng Nguyên bất hòa với Gia Cát Lượng cũng có ý làm phản, vì vậy Gia Cát Lượng luôn phải thường trực ở Thành Đô. Do lệnh triệu gấp của Lưu Bị, Gia Cát Lượng buộc phải giao cho Tòng sự Dương Hồng phò tá thái tử Lưu Thiện, bản thân mình mang 2 hoàng tử Lưu Vĩnh và Lưu Lý đến cung Vĩnh An. Quả nhiên Hoàng Nguyên khởi binh làm phản. Nhưng Dương Hồng kịp thời đối phó, điều các tướng Trần Vẫn, Trịnh Sước ra quân bắt sống và chém Hoàng Nguyên. === Lâm chung === Khoảng cuối tháng 3 đến cuối tháng 4) năm 223, Gia Cát Lượng tới thành Bạch Đế, ra sức tham mưu việc nội trị và sắp đặt nhân sự mới sau khi hàng loạt tướng lĩnh và quan lại khai nghiệp đã qua đời; đồng thời chuẩn bị kế hoạch để củng cố nước Thục sau này. Khoảng cuối tháng 5 đến cuối tháng 6) năm 223, bệnh tình của Lưu Bị càng nguy kịch. Ông bèn viết chiếu cho thái tử Lưu Thiện ở Thành Đô, có đưa trước cho Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm xem, với nội dung như sau: Sau đó ông lại dặn dò Gia Cát Lượng, gửi gắm thái tử còn ít tuổi cho thừa tướng nhờ giúp đỡ. Ông nói với Gia Cát Lượng: Tài thừa tướng gấp mười Tào Phi, tất yên định được nhà nước, làm nên việc lớn. Đối với con trẫm, nếu có thể giúp được thì giúp, nếu nó bất tài, hãy tự thay đi! Gia Cát Lượng khóc và một mực từ chối, thề sẽ trung thành tận tâm với Lưu Thiện đến cùng. Ông gọi Lỗ vương Lưu Vĩnh đến dặn dò các anh em: Sau khi ta qua đời, anh em các ngươi phải coi thừa tướng như cha, ngươi phải cố sức cộng sự với ông ta. Ông gọi Lý Nghiêm đến, dặn giúp Gia Cát Lượng phò ấu chúa. Cùng ngày, Lưu Bị gọi các cận thần lại, tuyên bố việc gửi ấu chúa Lưu Thiện cho Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm làm phó cùng phụ chính. Giữa tháng 6 (sử ghi ngày 24 tháng 4 âm lịch)) năm 223, Lưu Bị qua đời tại cung Vĩnh An, thọ 63 tuổi. Ông được truy tôn là Chiêu Liệt hoàng đế. Lưu Thiện lên kế vị, tức là Hán Hoài Đế. Khoảng cuối tháng 9 đến cuối tháng 10) năm đó, linh cứu của ông được an táng tại Huệ lăng. cùng lúc đó linh cữu Cam phu nhân (Lưu Thiện truy tôn là Chiêu Liệt hoàng hậu) vợ ông được đưa từ Nam quận về Thành Đô, hợp táng với ông tại Huệ Lăng. == Gia đình == Cha: Lưu Hoằng (劉弘), hậu duệ của Lưu Thắng Chú: Lưu Nguyên Khởi (劉元起), em trai của Lưu Hoằng Lưu Tử Kính (劉子敬) Vợ: My phu nhân (糜夫人) em gái của My Trúc. Cam phu nhân (甘夫人), mẹ của Lưu Thiện, sau khi mất được con trai truy phong hoàng hậu. Tôn phu nhân (孫夫人) em gái của Tôn Sách và Tôn Quyền Ngô hoàng hậu (Em gái Ngô Ý) Con: Lưu Thiện con của Cam phu nhân Lưu Vĩnh (劉永) Lưu Lý (劉理) Và 2 người con gái, bị Tào Thuần bắt trong trận Trường Bản, cưới con trai Tào Thuần Con nuôi: Lưu Phong, ban đầu tên là "Khấu Phong" (寇), bị buộc tự tử năm 220 Cháu: Lưu Tuyền, con trai lớn của Lưu Thiện Lưu Dao (劉瑤), con trai thứ hai của Lưu Thiện Lưu Tông (劉琮), con trai thứ ba của Lưu Thiện Lưu Toản (劉瓚), con trai thứ tư của Lưu Thiện Lưu Kham, con trai thứ năm của Lưu Thiện Lưu Tuân(劉恂), con trai thứ sáu của Lưu Thiện Lưu Cừ (劉璩), con trai thứ 7 của Lưu Thiện Lưu Dận (劉胤), con trai lớn của Lưu Lý, chết lúc 19 tuổi Lưu Tập (劉輯), con trai thứ hai của Lưu Lý Chắt: Lưu Thừa (劉丞), con của Lưu Dận, chết lúc 20 tuổi Lưu Huyền (劉玄), cháu của Lưu Vĩnh == Thờ phụng == Lưu Bị được thờ phụng như ông tổ nghề làm giày ở Thành Đô - thành phố được biết đến là “thành phố giày” với 80 triệu đôi giày được sản xuất hàng năm. Vào năm 1845 đời vua Đạo Quang nhà Thanh, những người làm giày ở Thành Đô tự xưng là môn đệ của Lưu Bị đã đài thọ xây dựng Miếu Tam Nghĩa (三义庙) nhằm tôn vinh họ Lưu. Sau nhiều lần di chuyển, miếu thờ ngày nay nằm ở quận Vũ Hầu. Từ khi chính quyền đại lục bớt quản lý chặt chẽ đối với tôn giáo, việc thờ phụng Lưu Bị ở Thành Đô lại phổ biến hơn. Năm 2005, một đám rước lớn được thực hiện trước đền thờ để tưởng nhớ Lưu Bị và đây là sự kiện thờ phụng tín ngưỡng đầu tiên kể từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, tờ Dương Tử buổi chiều chỉ trích rằng đó chỉ là hành động nhằm khai thác sự nổi tiếng của Lưu Bị vì mục đích thương mại, vì dù khi còn trẻ ông phải đóng chiếu làm giày kiếm sống thì vẫn rất khó kết luận được rằng ông là người sáng tạo ra những chiếc giày. == Nhận định == Không giống như Tào Tháo và Tôn Quyền xuất thân từ tầng lớp trên và có cơ sở nhất định “làm vốn” trên đường gây dựng phát triển sự nghiệp, Lưu Bị tuy có danh nghĩa là dòng dõi nhà Hán nhưng xuất thân từ áo vải, phải tay trắng làm nên cơ nghiệp. Vì vậy, quá trình phát triển thế lực của Lưu Bị trong thời loạn cũng vất vả, gian truân hơn, lâu dài hơn. Tuy gặp nhiều thất bại nhưng ông vẫn kiên định, không nản lòng, tỏ ra có chí khí lớn. Trong quá trình phát triển sự nghiệp, Lưu Bị tỏ ra là người giỏi chiêu hiền đãi sĩ. Ông đã thu phục được nhiều hào kiệt phò tá như Gia Cát Lượng, Bàng Thống, Pháp Chính, Hứa Tĩnh, Mã Lương làm văn thần; Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng Trung, Mã Siêu, Triệu Vân, Ngụy Diên làm võ thần. Ông không kể thân sơ, trọng dụng cả những người là thủ hạ cũ của Lưu Chương như Lý Nghiêm, Pháp Chính, Hoàng Quyền. Lưu Bị tỏ ra là người sáng suốt, biết nhìn người. Sự ủy thác Lưu Thiện cho Gia Cát Lượng cho thấy ông đã chọn đúng người phụ chính cho con nhỏ. Trước lúc lâm chung ông cũng nhìn ra giới hạn năng lực của Mã Tốc và khuyên Gia Cát Lượng không nên quá trọng dụng vì Mã Tốc là người hay nói quá sự thật. Thực tế sau này chứng minh nhìn nhận của ông về con người đều chính xác. Về lời dặn dò Gia Cát Lượng khi lâm chung của ông (“nếu nó [Lưu Thiện] bất tài, hãy tự thay đi”), có những ý kiến nhìn nhận khác nhau. Trần Thọ, tác giả Tam quốc chí hết sức tán thưởng Lưu Bị, cho rằng đó là hình mẫu về chí công vô tư trong quan hệ vua tôi từ trước đến thời điểm đó, hết sức tin tưởng Khổng Minh, cho quyền tự quyết có thể lấy ngôi của Lưu Thiện. Quan điểm này được sử gia hiện đại là Lư Bật đồng tình. Trái với Trần Thọ, sử gia Tôn Thịnh thời Tấn tỏ ra hoài nghi lời nói đó của Lưu Bị, coi đó là giả dối, cốt thử lòng Khổng Minh. Chương Mậu thời Minh cũng cho rằng đó là sự thăm dò; Từ Thế Bạ cuối thời Minh đầu thời Thanh trong tác phẩm Gia Cát Vũ hầu vô thành luận cũng có ý kiến tương tự cho rằng: “Câu ấy đủ khiến lòng dạ nghi ngờ của Chiêu Liệt, bộc lộ hết thâm hiểm lúc bình sinh”. Vương Phu Chi trong Tục Thông giám luận lý giải sự nghi ngờ của Lưu Bị với Khổng Minh do Khổng Minh từng đi lại khá thân thiết với Tôn Quyền và có anh là Gia Cát Cẩn đang phục vụ đắc lực cho Đông Ngô. Riêng sử gia Phương Bắc Thần có cách hiểu khác về 8 chữ của Lưu Bị: “nếu nó bất tài, hãy tự thay đi”. Theo Phương Bắc Thần, “hãy tự thay đi” là có thể tự chọn lựa cách xử lý, chọn một người khác trong số các hoàng tử còn lại (Lưu Vĩnh và Lưu Lý) để thay thế. Tám chữ này hàm nghĩa cho Khổng Minh quyền phế lập, chứ không bảo Gia Cát Lượng giành ngôi. Dịch Trung Thiên cho rằng việc cho Khổng Minh quyền phế lập cũng đã cho thấy Lưu Bị rất mực tin tưởng Khổng Minh, vừa gửi nước vừa gửi nhà. == Trong Tam Quốc diễn nghĩa == Trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, nhà văn La Quán Trung nêu rõ quan điểm ủng hộ Lưu Bị, phản đối Tào Tháo. Ông được mô tả là người nhân hậu, thương dân, sống coi trọng tình nghĩa, nhưng kém phần sắc sảo về quân sự, thiếu mưu trí, táo bạo và mạnh mẽ như con người thật ngoài đời (tuyệt gian như Tào Tháo, tuyệt nhân như Lưu Bị, tuyệt trí như Khổng Minh). Tuy nhiên, La Quán Trung cũng để Lưu Bị có những thủ đoạn của một chính gia, như việc “vứt con (Lưu Thiện) mua lòng tướng (Triệu Vân)” trong trận Đương Dương – Tràng Bản. Lưu Bị là một trong những nhân vật được La Quán Trung hư cấu khá nhiều trong Tam quốc diễn nghĩa. Dưới đây là bảng kê các tình tiết hư cấu có liên quan tới Lưu Bị, hoặc sự thật là hành động của ông nhưng được La Quán Trung gán cho người khác, đặc biệt là có 2 chiến tích về quân sự của ông ở Bác Vọng và Lạc Thành lại được La Quán Trung gán cho Gia Cát Lượng. == Trong điện ảnh == Gia Cát Lượng (1985), phim truyền hình với sự tham gia của Hoàng gia Đức Tam quốc diễn nghĩa (1994), với sự tham gia của Tôn Ngạn Quân Tam quốc chí: Rồng tái sinh (2008), với sự tham gia của Nhạc Hoa Đại chiến Xích Bích (2008), với sự tham gia của Vưu Dũng Tam quốc chí (2009), với sự tham gia của Lý Lập Hoành (lồng tiếng) Tân Tam Quốc Diễn Nghĩa (2010), với sự tham gia của Vu Hòa Vĩ Quan Vân Trường (2011), với sự tham gia của Phương Trung Tín Tào Tháo (2014), với sự tham gia của Dương Uy Võ Thần Triệu Tử Long (phim truyền hình 2016) với sự tham gia của Nghiêm Khoan == Xem thêm == Trương Phi Quan Vũ Gia Cát Lượng Lưu Thiện Trại Lưu Bị: Hương thuộc huyện cấp thị Tuân Hóa, địa cấp thị Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) == Chú giải == == Chú thích == == Tham khảo == Trần Thọ, Tam quốc chí, Bùi Tùng Chi chú, các thiên: Tiên chủ truyện Vũ Đế kỷ Ngô chủ truyện Gia Cát Lượng truyện Quan Trương Mã Hoàng Triệu truyện Bàng Thống Pháp Chính truyện Đỗ Chu Đỗ Hứa Mạnh Lai Doãn Lý Tiều Khước truyện Lê Đông Phương; Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng Lê Đông Phương (2007), Kể chuyện Tam Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng Trịnh Phúc Điền; Khả Vĩnh Quyết; Dương Hiệu Xuân (2006), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh niên Dịch Trung Thiên (2010), Phẩm Tam Quốc, tập 1-2, Nhà xuất bản Công an nhân dân Trần Văn Đức (2008), Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện, Nhà xuất bản Văn học Thương Thánh (2011), Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng Cát Kiếm Hùng biên tập (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, Nhà xuất bản Giáo dục Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, Nhà xuất bản Hà Nội Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới == Liên kết ngoài == Liu Bei (Emperor of Shu-Han dynasty) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Để hiểu thêm Tam Quốc Chí và Tam Cố Mao Lư 刘备 (三国时期蜀汉开国皇帝) trên trang Bách Độ
chi (sinh học).txt
Chi, một số tài liệu về phân loại động vật trong tiếng Việt còn gọi là giống (tiếng Latinh số ít genus, số nhiều genera), là một đơn vị phân loại sinh học dùng để chỉ một hoặc một nhóm loài có kiểu hình tương tự và mối quan hệ tiến hóa gần gũi với nhau. Trong danh pháp hai phần, in nghiêng, tên một loài gồm chữ thứ nhất là tên chi được viết hoa, chữ thứ hai chỉ một đặc điểm nổi bật của loài. Ví dụ loài người có tên khoa học Homo sapiens, thuộc chi Homo; loài hổ có tên khoa học là Panthera tigris, thuộc chi Panthera. == Xem thêm == Phân loại học Sinh học == Hình ảnh == == Ghi chú ==
hổ bengal.txt
Hổ Bengal (danh pháp khoa học: Panthera tigris tigris) là một phân loài hổ được tìm thấy nhiều nhất tại Bangladesh và Ấn Độ cũng như Nepal, Bhutan, Myanma và miền nam Tây Tạng. Nó là phân loài hổ phổ biến nhất, sống trong các loại môi trường sinh sống khác nhau, bao gồm đồng cỏ, các rừng mưa nhiệt đới và cận nhiệt đới, rừng cây bụi, rừng cây lá sớm rụng ẩm và khô cũng như các rừng tràm đước. Bộ lông của nó có màu nâu-cam với các sọc đen, mặc dù đôi khi có dị biến để sinh ra các cá thể hổ trắng. Nó là con vật biểu tượng quốc gia của cả Bangladesh lẫn Ấn Độ. == Đặc trưng == Hổ Bengal đực trưởng thành dài khoảng 1,8-2,7 m (6–9 ft) khi không tính phần đuôi, và 2,7-3,65 m (9–12 ft) khi tính cả đuôi. Phân loài của hổ Bengal cân nặng chừng 180–300 kg (400-660 lb). Hổ Bengal thông thường cao khoảng 1 m (3 ft) tính từ vai trở xuống. Độ dài phần đầu tối đa khoảng 25–38 cm (10-15 inch). Một con hổ Bengal đực trung bình cân nặng khoảng 230 kg (500 lb). Tuy nhiên, có một vài cá thể hổ Bengal nặng trên 300 kg và dài tới 4 m (13 ft) khi tính cả đuôi. Con hổ Belgan lớn nhất đã biết bị bắn hạ năm 1967 tại miền bắc Ấn Độ nặng 388 kg (857 lb). Jim Corbett đã từng bắn hạ một con hổ Bengal gọi là "Bachelor of Powalgarh", được thợ săn nổi tiếng Fred Anderson cho là "to lớn như con ngựa Shetland". Hình ảnh chụp lại cho thấy nó đúng là một con hổ rất to. Ngoài ra, Pocock, một thợ săn nổi tiếng người Mỹ, đồng thời là một nhà tự nhiên học ở đầu thế kỷ 20, đã ghi chép trong một cuốn sách của ông về một vụ việc, trong đó một con hổ Bengal tại Burma (tên gọi cũ của Myanma) đã tha xác một con bò tót đi xa 12 m. Sau khi con hổ đã ăn thịt con bò tót này thì 13 người đàn ông cùng nhau kéo xác con vật xấu số về nhưng họ đã không thể di chuyển được nó. Điều này chỉ ra rằng con bò tót trên thực tế là rất nặng. Một con bò tót tại khu vực Đông Nam Á có thể cân nặng trên 2 tấn, cho dù hổ có thể di chuyển một vật gì đó nặng gấp 5 lần trọng lượng cơ thể nó thì trong trường hợp này nó cũng phải có kích thước và trọng lượng rất lớn. Các chứng cứ này đã củng cố ý tưởng cho rằng những con hổ Bengal ở xa nhất về phía bắc có thể vượt qua hổ Siberi trong vai trò của những con "thú dạng mèo" to lớn nhất trong tự nhiên. Hổ Bengal cái dài khoảng 1,5-1,8 m (5–6 ft), khi không tính phần đuôi, và 2,1-2,8 m (7–9 ft) khi tính cả đuôi. Chúng cân nặng khoảng 110–200 kg (250-450 lb) và cao khoảng 75 cm (2,5 ft) khi tính từ vai trở xuống. Độ dài phần đầu tối đa khoảng 20–30 cm (8-12 inch). Một con hổ Bengal cái trong tự nhiên cân nặng khoảng 140–160 kg (300–350 lb). == Chu kỳ sống và cấu trúc xã hội == Hổ Bengal thông thường sống đơn độc, nhưng đôi khi cũng thấy đi thành đàn từ 3-4 con. Phần lớn các con non được sinh ra trong khoảng từ tháng 2 tới tháng 5, sau khi con mẹ mang thai khoảng 3,5 tháng. Các lần sinh đẻ cách nhau khoảng 2-3 năm. Nói chung, hổ Bengal không sống quá 26 năm. == Ăn uống == Trong tự nhiên, hổ Bengal là động vật ăn thịt thuần túy và nó đi săn các loài động vật có kích thước từ trung bình tới lớn, chẳng hạn như lợn rừng, hươu, nai, bò tót, trâu v.v. Chúng cũng săn bắt cả các động vật nhỏ như thỏ rừng, khỉ, voọc và công. Hổ Bengal cũng được biết đến vì chúng dám săn bắt cả voi châu Á và tê giác non. Thông thường, hổ Bengal không dám tấn công voi và tê giác trưởng thành, nhưng đôi khi điều đó cũng xảy ra. Ví dụ, Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) hiện đang nuôi dưỡng một con tê giác mồ côi do mẹ nó bị hổ Bengal giết chết. Jim Corbett đã từng miêu tả một trường hợp khi hai con hổ Bengal tấn công và giết chết một con voi lớn. Con voi to lớn này có lẽ bị đôi hổ đang giao phối quấy nhiễu và điều đó dẫn tới một trận chiến kéo dài. Nói chung, hổ Bengal không ăn thịt voi chết. Hổ Bengal cũng săn bắt cả các loài động vật ăn thịt khác như báo hoa mai, chó sói, chó rừng, cáo, cá sấu Mugger, mặc dù các loài động vật này nói chung không phải là thức ăn điển hình của hổ Bengal. Tuy nhiên vào năm 2010 một con cá sấu cửa sông đã giết chết một con hổ khi nó vượt qua sông tại Vườn Quốc gia Surdabans. Tuy nhiên những cuộc đụng độ này là hiếm vì hổ Bengal thường sợ và né tránh cá sấu cửa sông. Hổ Bengal ưa thích đi săn về đêm, nhưng cũng thức dậy vào thời gian ban ngày. Trong thời gian ban ngày, sự che phủ của "cỏ voi" cao lớn, rậm rạp tạo ra cho chúng một lớp ngụy trang tốt. Hổ Bengal giết con mồi bằng cách chế ngự chúng và cắn đứt tủy sống (phương pháp ưa thích đối với con mồi nhỏ), hoặc sử dụng cú cắn vào cổ làm nghẹt thở đối với con mồi lớn. Hổ Bengal thông thường tha con mồi của chúng tới nơi an toàn để ăn thịt. Mặc dù có kích thước to lớn, nhưng hổ Bengal có thể leo trèo cây khá tốt, nhưng không được nhanh nhẹn như các loài báo nhỏ để có thể giấu con mồi săn được trên cây. Hổ Bengal cũng là con vật bơi lội tốt, thông thường nó phục kích các con vật khác khi chúng ra uống nước hay khi chúng đang bơi lội cũng như khi nó đuổi theo các con mồi đã tháo chạy xuống nước. Hổ Bengal có thể ăn tới khoảng 30 kg (66 lb) thịt một lần và sau đó không cần ăn trong vài ngày. Hổ Bengal thường săn hươu, nai hay các con vật nặng trên 45 kg (100 lb), nhưng khi quá đói, chúng có thể ăn thịt bất kỳ con vật nào có thể ăn được, từ ếch nhái, gà, vịt, và đôi khi là cả người. == Môi trường sống == Ước tính năm 2005 chỉ ra con số khoảng 4.500 hổ Bengal trên thế giới, trong đó khoảng 3.000 cá thể tại Ấn Độ cùng khoảng 200 cá thể tại cả Bangladesh và Nepal. Có rất ít hổ Bengal tại Myanma nhưng nói chung hổ Bengal tại nước này không còn thuần chủng do việc lai ghép tạp nham với các phân loài hổ khác. Hổ Bengal hiện nay được bảo vệ chặt chẽ. Sau thành công của chương trình bảo tồn hổ tại Ấn Độ (Project Tiger: Dự án Hổ), quần thể hổ Bengal hoang dã đã gia tăng đáng kể. Quần thể hổ tại Ấn Độ được ước tính chính thức là khoảng 3.500 con, so với khoảng 1.200 con trong thập niên 1970. Tại khu vực Sundarbans, điều tra năm 2004 cho thấy có sự hiện diện của khoảng 280 con hổ Bengal tại vùng thuộc Bangladesh. Nhưng kể từ đầu thập niên 1990, quần thể hổ đang có xu hướng bị giảm xuống do bị mất và phá hủy môi trường sinh sống cũng như từ việc săn bắn trái phép ở mức độ lớn để lấy da và xương hổ. Chính quyền Ấn Độ đang cố gắng để chứng minh cho thế giới biết rằng hổ Bengal đang phát triển tốt tại Ấn Độ, thông thường họ sử dụng các kỹ thuật đầy mâu thuẫn như lấy mẫu dấu vết chân hổ để theo dõi quần thể hổ. Gần đây, người ta phát hiện ra rằng hổ đã bị tiêu diệt hết tại một trong các khu bảo tồn hàng đầu của Dự án Hổ là khu vực Sariska, phần lớn là do sự lúng túng của chính quyền trong công việc bảo tồn. Một số người tin rằng số lượng hổ Bengal tại Ấn Độ trên thực tế có thể không quá 2.000 con. == Các đe dọa == Mất môi trường sinh sống và săn bắn trái phép là các mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của phân loài hổ này. Những kẻ săn bắn trộm giết hổ để lấy bộ da, răng cũng như các thành phần khác như xương để sản xuất một số thuốc trong y học cổ truyền Đông Á. Các yếu tố khác đóng góp vào sự suy giảm số lượng hổ là quá trình đô thị hóa cũng như việc sát hại hổ để trả thù. Nhiều nông dân quy kết việc gia súc của họ bị mất hay bị giết là do hổ và họ luôn sẵn sàng bắn hạ hổ khi có điều kiện. == Thư viện ảnh == == Tham khảo == == Xem thêm == Hổ Hổ đấu với sư tử Hổ trong văn hóa đại chúng == Liên kết ngoài == Thông tin về hổ Bengal tại Quỹ cứu hộ Hổ Dự án Hổ Sundarbans – Nghiên cứu và bảo tồn hổ trong các rừng tràm đước trên thế giới. Nhóm chuyên gia về các loài "mèo": Hổ Bengal Thông tin thú vị về hổ Bengal
hang chú.txt
Hang Chú là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã Hang Chú có diện tích 137,04 km², dân số năm 1999 là 2292 người, mật độ dân số đạt 17 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
manila.txt
Manila (phát âm tiếng Anh Philippines: /məˈnɪlə/; tiếng Tagalog: Maynilà, [majˈnilaʔ]) là thủ đô và là thành phố lớn thứ nhì của Philippines. Đây là một trong 16 thành phố thuộc Vùng đô thị Manila với tổng dân số khoảng 12 triệu người. Năm 2010, dân số Manila là 1.652.171 Diện tích của Manila là 38,55 km², và là thành phố có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Manila cùng với Vùng đô thị Manila là trung tâm kinh tế và chính trị của Philippines, thương nghiệp phát triển và có một số cảnh quan có tầm quan trọng đáng kể về lịch sử và văn hóa tại Philippines. Manila là nơi đặt trụ sở của các nhánh hành pháp và tư pháp của chính phủ trung ương. Manila được xác định là một thành phố toàn cầu, có nhiều cơ cấu khoa học và giáo dục, cơ sở thể thao, và những địa điểm văn hóa lịch sử quan trọng khác. Ghi chép sớm nhất về thành phố là trong thế kỷ 10. Sau đó, khu vực thành phố trở thành bộ phận của Đế quốc Majapahit, rồi bị Brunei xâm chiếm. Đến thế kỷ 15, khu vực bị Hồi giáo hóa trên danh nghĩa cho đến khi những nhà chinh phục người Tây Ban Nha đến. Manila cuối cùng trở thành trung tâm cho các hoạt động của Tây Ban Nha tại Viễn Đông, là một đầu của tuyến mậu dịch thuyền buồm Manila-Acapulco kết nôi châu Âu, Mỹ Latinh và châu Á. Sau đó, tại Manila xảy ra một số cuộc khởi nghĩa của người Hoa và của người bản địa, Anh Quốc chiếm đóng, và binh biến Sepoy. Cuối thế kỷ 19, người Mỹ thay thế người Tây Ban Nha cai trị Philippines, họ có những đóng góp về quy hoạch đô thị của thành phố song hầu hết các tiến bộ này biến mất do sự tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ đó, thành phố được tái thiết và phát triển nhanh chóng. == Lịch sử == Các bằng chứng sớm nhất về sinh hoạt của loài người trong và quanh khu vực Manila được phát hiện thông qua các tranh khắc đá Angono thuộc tỉnh Rizal lân cận, có niên đại từ khoảng năm 3000 TCN. Người Negrito thuộc chủng tộc Australoid là các cư dân nguyên thủy của Philippines. Họ hiện diện trên khắp Luzon trước khi những người Mã Lai-Đa Đảo nhập cư đến và đồng hóa họ. Vương quốc Maynila trở nên hưng thịnh và hậu kỳ triều Minh nhờ các quan hệ mậu dịch trực tiếp với Trung Quốc. Tondo Cổ duy trì địa vị là kinh đô theo truyền thống của quốc gia, các quân chủ của nó là quốc vương và không chỉ là những tù trưởng, và được gọi với các tên khác nhau như panginuan trong tiếng Meranau hay panginoón trong tiếng Tagalog. Hoàng đế Trung Hoa nhìn nhận các quân chủ Manila cổ là "vương". Trong thế kỷ 13, thành phố gồm có một điểm định cư kiên cố và phố mậu dịch bên bờ sông Pasig. Đế quốc Ấn Độ hóa Majapahit trên đảo Java sau đó xâm chiếm Manila theo như ghi chép trong Nagarakretagama, theo đó người tiến hành chinh phạt là quân chủ Hayam Wuruk. Trong thời gian trị vì của Quốc vương Bolkiah từ 1485 đến 1521, Vương quốc Brunei xâm chiếm khu vực với mục đích tận dụng quan hệ mậu dịch với Trung Quốc của Tondo, lập nên "Kota Saludong" (nay là Manila). Họ cai trị và gửi cống phẩm hàng năm cho Quốc vương Brunei với tình trạng là quốc gia vệ tinh. Họ lập nên một Triều đại mới dưới quyền thủ lĩnh địa phương, người này chấp nhận Hồi giáo và trở thành Rajah Salalila hay Tariq Sulayman I. Hồi giáo được củng cố hơn nữa khi có các thương nhân Hồi giáo đến từ khu vực Ả Rập-Ấn Độ và Đông Nam Á. Nhà chinh phục người Tây Ban Nha Miguel López de Legazpi đến từ Tân Tây Ban Nha (nay là Mexico), và sau đó cai trị thành phố Manila như một lãnh thổ của Tân Tây Ban Nha với việc thành lập một hội đồng thành phố tại nơi mà nay là quận Intramuros vào ngày 24 tháng 6 năm 1571. Người Tây Ban Nha lập Manila làm thủ đô của Đông Ấn thuộc Tây Ban Nha. Kế hoạch Tondo có sự tham gia của các thương gia Nhật Bản, các vương của Luzon và một số Datu và Rajah cùng với Vương quốc Brunei với mục đích tiêu diệt người Tây Ban Nha và các lính đánh thuê người da đỏ, nô lệ châu Phi và các đồng minh Visaya. Tuy nhiên, kế hoạch thất bại và López de Legazpi cho hành quyết quân chủ bản địa. Manila trở nên nổi tiếng với tuyến mậu dịch thuyền buồm Manila-Acapulco kéo dài trong ba thế kỷ, đem hàng hóa từ châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh qua các đảo Thái Bình Dương đến Đông Nam Á, rồi từ đó có thể tiếp cận với Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như theo hành trình ngược lại. Bạc khai thác tại Mexico và Peru được dùng để đổi lấy tơ lụa Trung Quốc, ngọc Ấn Độ, cùng các gia vị của Đông Nam Á, một số còn được đưa đến châu Âu. Tương tự, rượu vang và ôliu từ châu Âu và Bắc Phi cũng được đưa đến Manila thông qua Mexico. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh Bảy Năm, Anh Quốc chiếm đóng Manila từ năm 1762 đến 1764. Cuối cùng, người Anh triệt thoái theo các điều khoản của Hiệp định Paris (1763). Việc Mexico độc lập vào năm 1821 đòi hỏi người Tây Ban Nha phải trực tiếp cai trị Philippines. Dưới sự quản lý trực tiếp của Tây Ban Nha, ngân hàng, công nghiệp và giáo dục trở nên hưng thịnh hơn so với hai thế kỷ trước. Sự thịnh vượng và giáo dục ngày càng phát triển thu hút người nhập cư Ấn Độ, Trung Quốc, Latinh, châu Âu và từ các tỉnh khác của Philippines đến Manila, tất cả họ đều lựa chọn thuộc dân tộc Filipino mới hình thành. Sau Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ năm 1898, Tây Ban Nha chính thức nhượng Philippines cho Hoa Kỳ. Đệ nhất Cộng hòa Philippines đặt nền tảng tại Bulacan gần đó chiến đấu chống lại người Mỹ nhằm kiểm soát thành phố Manila, song thất bại. Dưới quyền cai quản của Hoa Kỳ, Chính phủ của Quần đảo Philippines mà đứng đầu là Toàn quyền William Howard Taft mời nhà quy hoạch đô thị Daniel Burnham giúp chuyển đổi Manila cổ thích nghi với thời đại. Kế hoạch Burnham Plan gồm có phát triển hệ thống đường bộ, sử dụng đường thủy để vận chuyển, và chỉnh trang Manila bằng việc cải thiện bờ sông, xây các công viên, đại lộ và các tòa nhà phục vụ các mục đích khác nhau. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thành phố bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng vào ngày 2 tháng 1 năm 1942. Liên quân Hoa Kỳ và Philippines tái chiếm thành phố trong trận chiến đẫm máu nhất trên chiến trường Thái Bình Dương trong đại chiến, kéo dài từ 3 tháng 2 đến 3 tháng 3 năm 1945. Có khoảng 100.000 thường dân thiệt mạng tại Manila trong tháng 2 năm 1945. Kết thúc đại chiến, hầu như toàn bộ các công trình kiến trúc trong thành phố đều bị phá hủy do giao tranh, việc tái thiết được tiến hành. Năm 1948, Tổng thống Elpidio Quirino chuyển trụ sở chính phủ Philippines đến thành phố Quezon, nguyên là ngoại ô tại đông bắc Manila. Arsenio Lacson được bầu làm thị trưởng dân cử đầu tiên của thành phố vào năm 1952, Manila trải qua "thời kỳ hoàng kim" dưới nhiệm kỳ của ông, và được tái sinh. Các thị trưởng kế tiếp là Antonio Villegas và Ramon Bagatsing (một người Ấn Độ-Philippines). Các thị trưởng Lacson, Villegas, và Bagatsing thường được gọi chung là "tam đại nhân của Manila", họ quản lý thành phố trong giai đoạn 1952–1986, có đóng góp cho phát triển và tiến bộ của thành phố. Dưới chế độ độc tài của Tổng thống Ferdinand Marcos, khu vực Đại Manila được thành lập vào ngày 1 tháng 11 năm 1975 với tình trạng là một đơn vị hợp nhất. Khu vực bao gồm các thành phố và thị trấn có chính quyền riêng biệt. Trong dịp kỷ niệm 405 ngày thành lập thành phố, vào 24 tháng 6 năm 1976, Ferdinand Marcos phục hồi tình trạng thủ đô của Manila do tầm quan trọng lịch sử. Sắc lệnh tổng thống số 940 ghi rằng Manila luôn là thành phố hàng đầu Philippines trong vai trò là trung tâm mậu dịch, thương nghiệp, giáo dục và văn hóa. Năm 1992, Alfredo Lim trở thành thị trưởng gốc Hoa đầu tiên của Manila, ông nổi tiếng với các chiến dịch chống tham nhũng. Thị trưởng kế tiếp là Lito Atienza, người này nổi tiếng với chiến dịch "Buhayin ang Maynila" (Phục hưng Manila), trong đó thành lập một vài công viên và cải tạo các cơ sở hạ tầng xuống cấp trong thành phố. Alfredo Lim đắc cử thị trưởng năm 2007 khi đánh bại con trai của Lito Atienza là Ali Atienza, và ngay lập tức đảo ngược toàn bộ các dự án của Lito Atienza Trong cuộc tuyển cử địa phương năm 2010, Alfredo Lim lại giành chiến thắng trước Lito Atienza. Đến năm 2013, cựu Thổng thống Joseph Estrada đánh bại Alfredo Lim trong cuộc đua tranh chức thị trưởng. == Địa lý == Manila nằm ở bờ đông của vịnh Manila, thuộc ven bờ phía tây của đảo Luzon. Thành phố nằm cách đại lục châu Á 800 dặm (1.300 kilômét). Sông Pasig chia đôi thành phố. Hầu hết thành phố nằm trên lớp đất phù sa được bồi đắp nhờ nước sông Pasig, và trên một số đất cải tạo từ vịnh Manila. Đất liền của thành phố bị thay đổi về căn bản do sự can thiệp của con người, với hoạt động cải tạo đất quy mô đáng kể từ thời thuộc địa của Mỹ. Một số biến đổi tự nhiên về địa hình cũng xảy ra do đô thị hóa. Thành phố có diện tích 38,55 kilômét vuông (14,88 sq mi). Manila được chia thành 897 barangay, đơn vị chính quyền địa phương nhỏ nhất tại Philippines. Mỗi barangay có chủ tịch và các tham tán riêng. Để thuận tiện cho hành chính, toàn bộ các barangay tại Manila được nhóm thành 100 khu. Manila gồm có 16 thị trấn và khu tự quản cũ, vốn bị thành phố bãi bỏ vào thế kỷ 19. Các khu định cư này nay là các địa điểm trong thành phố. Do rác thải công nghiệp và phụ thuộc cao vào ô tô, Manila bị ô nhiễm không khí dưới dạng khói mù vốn ảnh hưởng đến 98% cư dân trong thành phố và khiến hơn 4.000 người tử vong mỗi năm. Một số sông tại Manila được xác định là chết về mặt sinh học. Sông Pasig mỗi ngày tiếp nhận 150 tấn rác thải sinh hoạt và 75 tấn rác thải công nghiệp theo một báo cáo vào năm 2003, nay là một trong những sông ô nhiễm nhất trên thế giới. === Khí hậu === Theo hệ thống phân loại khí hậu Köppen, Manila có khí hậu nhiệt đới xa van tiếp giáp với một khí hậu nhiệt đới gió mùa. Cùng với phần còn lại của Philippines, Manila nằm hoàn toàn trong nhiệt đới. Với vị trí gần xích đạo, nhiệt độ tại Manila dao động rất nhỏ, hiếm khi xuống dưới 20 °C (68 °F) hay trên 38 °C (100 °F). Độ ẩm thưởng rất cao suốt năm. Manila có một mùa khô riêng biệt từ cuối tháng 12 đến tháng 5, và một mùa mưa tương đối dài hơn và mát hơn trong giai đoạn còn lại với nhiệt độ từ ôn hòa đến ấm. Trong mùa mưa, hiếm khi có mưa cả ngày song rất lớn trong một thời gian ngắn. Bão có thể xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 9 và có thể gây nhập nhiều nơi trong thành phố. == Nhân khẩu == Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, dân số Manila là 1.652.171, là thành phố đông dân thứ nhì tại Philippines. Manila là thành phố có mật độ dân số cao nhất trên thế giới với 43.079 cư dân trên mỗi km2. Quận 6 có mật độ dày đặc nhất với 68.266 người/km2, tiếp dến là quận 1 và 2 với số liệu tương ứng là 64.936 và 64.710, quận 5 có mật độ thấp nhất với con số 19.235. Ngôn ngữ địa phương là tiếng Philippines, dựa hầu hết vào tiếng Tagalog tại khu vực xung quanh, và hình thái ngôn ngữ Tagalog tại Manila trở thành ngôn ngữ chung của Philippines, được truyền bá ra khắp quần đảo thông qua truyền thông đại chúng và giải trí. Trong khi đó, tiếng Anh là ngôn ngữ được dùng rộng rãi nhất trong giáo dục, thương nghiệp, và được sử dụng nhiều trong sinh hoạt hàng ngày trên khắp vùng đô thị Manila và Philippines. Một số cư dân lớn tuổi vẫn có thể nói tiếng Tây Ban Nha cơ bản, đây từng là môn bắt buộc trong các đại học và học viên tại Philippines, và nhiều trẻ em gốc Nhật, gốc Ấn, và những người nhập cư khác có thể nói ngôn ngữ của cha mẹ tại nhà, cùng với tiếng Anh và/hoặc tiếng Philippines. Cộng đồng người gốc Hoa trong thành phố nói tiếng Mân Nam. Các cư dân trong thành phố chủ yếu là tín đồ Cơ Đốc giáo. Công giáo La Mã là giáo phái chiếm ưu thế, gồm khoảng 93,5% dân số, tiếp đến Giáo hội Độc lập Philippines (2,4%), rồi Iglesia ni Cristo (1,9%), Tin Lành (1,8%) và Phật giáo (1,1%). Tín đồ các tôn giáo khác chiếm 1,4% tổng dân số của thành phố. Manila là nơi đặt trụ sở của Tổng Giáo phận Công giáo Manila, là tổng giáo phận lâu năm nhất toàn quốc. Tổng giám mục của Philippines có văn phòng tại Nhà thờ Lớn Manila. == Kinh tế == Kinh tế Manila đa dạng và đa phương diện. Manila được phân loại là một "thành phố thế giới Beta+" theo tổ chức GaWC. Do là thủ đô của Philippines, nhiều cư dân trong thành phố làm việc cho chính phủ quốc gia. Một số làm việc trong các thể chế giáo dọc theo theo Vành đai Đại học. Manila có bến cảng được che chắn, đóng vai trò là hải cảng chính của quốc gia. Thành phố có sự đa dạng về các nhà máy, sản xuất các sản phẩm liên quan đến công nghiệp như hóa chất, dệt, trang phục, và hàng điện tử. Ngoài ra, còn có cơ sở sản xuất thực phẩm, đồ uống và thuốc lá. Các doanh nghiệp địa phương tiếp tục gia công các hàng hóa chính để phục vụ xuất khẩu, trong đó có dây thừng, gỗ dán, đường tinh luyện, cùi dừa, và dầu dừa. Công nghiệp chế biến thực phẩm là một trong các lĩnh vực sản xuất chính có tính ổn định cao nhất tại thành phố. Manila thu hút trên 1 triệu du khách mỗi năm. Các điểm đến chính bao gồm Intramuros, các bảo tàng như Bảo tàng Quốc gia Philippines, hay Ermita, Malate, Santa Cruz, the phố Tàu. Công viên Rizal là một nơi thu hút du khách và là một trong các biểu tượng của Philippines. Ermita và Malate nổi tiếng với sinh hoạt buổi tối, là nơi mua sắm nổi tiếng của giới thượng lưu, còn Divisoria là nơi mua sắm lớn của cư dân địa phương. Ngân hàng Trung ương Philippines chủ yếu đặt trụ sở tại Đại lộ Roxas Boulevard. Một số ngân hàng toàn năng, bảo hiểm tại Philippines đặt trụ sở trong thành phố. Thành phố Manila là trung tâm tài chính quan trọng thứ ba tại Philippines sau Downtown Makati và Ortigas Center. == Hành chính == Manila được chia thành 16 quận hành chính được xác định chính thức, và được chia tiếp thành 897 barangay với tên là số thứ tự. Các quận chỉ tồn tại để thuận tiện cho hành chính và không có các quan chức được bầu. == Thành thị hữu nghị == Manila có nhiều thành thị hữu nghị trên thế giới, các thành thị này được phân thành ba dạng là quốc tế, địa điểm hữu nghị và thành phố địa phương. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của thành phố Manila Manila Photos Bản đồ và danh bạ Manila
đội tuyển bóng đá quốc gia thụy điển.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Điển là đội tuyển cấp quốc gia của Thụy Điển do Hiệp hội bóng đá Thụy Điển quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Thụy Điển là trận gặp đội tuyển Na Uy vào năm 1908. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là ngôi vị á quân của World Cup 1958 và lọt vào bán kết Euro 1992. == Danh hiệu == Vô địch thế giới: 0 Á quân: 1958 Hạng ba: 1950; 1994 Hạng tư: 1938 Vô địch châu Âu: 0 Bán kết: 1992 Bóng đá nam tại Olympic: 1948 1924; 1952 Hạng tư: 1908 == Thành tích tại các giải đấu == === Giải vô địch thế giới === === Giải vô địch châu Âu === === Thế vận hội === 1900 - Không tham dự 1904 - Không tham dự 1908 - Hạng tư 1912 - Vòng một 1920 - Tứ kết 1924 - Bronze 1928 - Không tham dự 1936 - Vòng một 1948 - Huy chương vàng 1952 - Huy chương đồng 1956-1984 - Không tham dự 1988 - Tứ kết 1992 - Tứ kết 1996-2004 - Không vượt qua vòng loại == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Danh sách 23 cầu thủ được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Belarus và trận giao hữu gặp Bồ Đào Nha vào các ngày 25 và 28 tháng 3 năm 2017. Số trận và bàn thắng tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017, sau trận gặp Bồ Đào Nha. === Danh sách dự bị === 36 cầu thủ dưới đây được triệu tập trong vòng 12 tháng. == Huấn luyện viên == Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên trong lịch sử của đội tuyển Thuỵ Điển. === Ban huấn luyện hiện tại === == Kỷ lục == Tính đến ngày 22 tháng 6 năm 2016. === 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất === Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển quốc gia. === 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất === Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển quốc gia. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Điển trên trang chủ của FIFA
albania.txt
Albania, tên chính thức Cộng hoà Albania (tiếng Albania: Republika e Shqipërisë, IPA [ɾɛˈpubliˌka ɛ ˌʃcipəˈɾiːs] hay đơn giản là Shqipëria, phiên âm tiếng Việt: "An-ba-ni") là một quốc gia tại Đông Nam Âu. Nước này giáp biên giới với Montenegro ở phía bắc, Serbia ở phía đông bắc, Cộng hoà Macedonia ở phía đông, và Hy Lạp ở phía nam. Nước này có bờ Biển Adriatic ở phía tây và bờ Biển Ionian ở phía tây nam. Albania là một ứng cử viên tiềm năng trở thành thành viên trong Liên minh châu Âu và NATO. == Từ nguyên == Cái tên Albania xuất xứ từ tên một bộ tộc người Illyria được gọi là Arbër và sau này là Albanoi, sống tại Albania ngày nay. Cái tên Albania được cho là đã xuất hiện từ thời cổ đại, có lẽ từ chữ alb (đồi) thời tiền Celtic, từ đó có tên dãy Alps, hay có thể là từ albh (trắng) trong ngôn ngữ Ấn-Âu, từ đó có Albino và Albanon, có lẽ ám chỉ tới những đỉnh núi tuyết phủ tại Albania. Tên gọi nước này, Shqipërisë, nghĩa là "Vùng đất của những con chim đại bàng", do vậy trên lá cờ nước này có một chú chim hai đầu và bởi có rất nhiều loài chim sống tại những vùng núi Albania. == Lịch sử == === Thời cổ === Albania, nằm ở góc đông nam châu Âu, đã từng có người sinh sống từ những thời tiền sử và là nơi định cư của những người Illyria, có lẽ là tổ tiên người Albania ngày nay. Nằm giữa các đế chế hùng mạnh, trong suốt lịch sử của mình Albania luôn ở trong tình trạng bạo lực. Người Hy Lạp, người La Mã, người Byzantine, người Venetian và người Ottoman đều đã từng đến đây, để lại các dấu ấn văn hoá cũng như các dấu tích tàn phá. Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy những vùng đất hiện của người Albania lần đầu có người sinh sống từ Thời kỳ đồ đá cũ (Thời đồ đá). Những vùng đầu tiên có người định cư là những vùng có điều kiện khí hậu và địa lý thích hợp. Tại Albania, những khu định cư sớm nhất đã được phát hiện tại hang Gajtan (Shkodra), tại Konispol, tại Mount Dajti, tại Saranda. Nhiều mảnh cấu trúc Cyclopean, thời Cyclopean-Pelasgian, đã được phát hiện tại Kretsunitsa, Arinishta, và các điểm khác tại quận Gjirokastra. Các bức tường, một phần thuộc Cyclopean, của một thành phố (có lẽ là Byllis) vẫn được nhìn thấy tại Gradishti trên bờ Sông Viosa. Còn sót lại ít dấu vết của Dyrrhachium (ngày nay là Durrës) từng một thời vang bóng. Việc tái khám phá thành phố Butrint có lẽ ngày nay mang nhiều ý nghĩa hơn khí nó được Julius Caesar dùng làm nơi cất giữ lương thực dự trữ cho đội quân của mình trong các chiến dịch ở thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên. Ở thời ấy, nó được coi là một tiền đồn không quan trọng, kém xa so với Apollonia và Durrës. Những dấu tích khảo cổ học phong phú của Albania đã được khảo sát trong gần hai thế kỷ. Ali Pasha, vị phó vương Ottoman từng nắm quyền cai trị vùng này, đã khuyến khích các cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên tại Nikopolis ở Albania từ khoảng năm 1812. Những cuộc khai quật của ông, được tiến hành sau khi một người bạn của ông là Peter Oluf Brøndsted chỉ ra một nơi được ông cho là địa điểm cũ của một ngôi đền, không hề mang tính hàn lâm. Pasha chỉ đơn giản muốn chiếm đoạt bất kỳ tài sản nào được tìm thấy trong vùng. Cuối cùng, những mảnh đã được tìm thấy sau các cuộc khai quật được chuyển tới cung điện của ông. Pasha cũng lấy một trong những đồng xu được tìm thấy. Cuộc thám hiểm chính thức và việc ghi chép các địa điểm khảo cổ của Albania chỉ bắt đầu với Francois Pouqueville, vị tổng lãnh sự của Napoleon tại phủ đường Ali Pasha, và Martin Leake, vị đại diện Anh tại đó. Một phái đoàn Pháp, dưới sự lãnh đạo của Len Rey, đã tìm kiếm trên khắp đất nước Albania từ năm 1924 tới năm 1938 và công bố kết quả làm việc của mình trong tập hồ sơ Cahiers d'Archéologie, d'art et d'Histoire en Albanie et dans les Balkans (Các ghi chép Khảo cổ học, Nghệ thuật, và Lịch sử tại Albania và tại vùng Balkans). Các nhà khảo cổ học ngày nay đang tìm kiếm các tàn tích từ mọi giai đoạn lịch sử, từ Thời kỳ đồ đá cho tới thời tiền Kitô giáo. Một dự án khác, với một số kết quả phát hiện về thời tiền sử, dù không có chủ định, đã được tiến hành tại thung lũng Kryegjata, gần thành phố Fier ngày nay và tại vùng Apollonia. Cuộc khai quật này, một sự hợp tác giữa trường Đại học Cincinnati và các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khảo cổ tại Albania, ban đầu chỉ có mục tiêu nghiên cứu về thời thuộc địa Apollonia. Nhưng thay vào đó, họ lại tìm thấy bằng chứng về một khu định cư còn cổ hơn. Năm 2000, chính phủ Albania đã thành lập Vườn quốc gia Butrint, thu hút khoảng 70.000 du khách mỗi năm và hiện là Địa điểm di sản thế giới thứ hai của Albania. Năm 2003, một giáo đường Do Thái từ thế kỷ thứ 5 hay thứ 6 Công nguyên đã được phát hiện tại Saranda, một thị trấn ven biển đối diện Corfu. Đây là lần đầu tiên tàn tích của một giáo đường Do Thái thời kỳ đầu được tìm thấy trong vùng này, và lịch sử cuộc khai quật cũng là điều đáng ghi nhớ. Đội khảo cổ tìm thấy những bức tranh khảm đặc biệt thể hiện các đồ vật liên quan tới những ngày lễ Do Thái, gồm cả một đàn nhiều nhánh (menorah), sừng cừu, và cây thanh yên (citron tree). Những bức tranh khảm trong nhà thờ thể hiện mặt ngoài của một công trình giống như một Torah, súc vật, cây cối và các biểu tượng kinh thánh khác. Công trình này có kích thước 20x24m và có lẽ đã từng được sử dụng như một nhà thờ hồi thế kỷ thứ 6. === Vương quốc Illyria === Đa số các nhà sử học tin rằng đa phần người Albania là hậu duệ của người Illyria cổ, sắc tộc, như các sắc tộc Balkan khác, tiếp tục phân chia thành các bộ tộc và sắc tộc. Cái tên Albania xuất xứ từ một bộ lạc người Illyria được gọi là Arbër, hay Arbëresh, và sau này là Albanoi, đã từng sống gần Durrës. Vương quốc Illyria phát triển từ vùng Albania ngày nay và cuối cùng kiểm soát hầu hết vùng bờ biển phía đông Adriatic. Scodra là thủ đô của nó, chính là thành phố trung tâm đô thị quan trong nhất phía bắc Albania ngày nay. Vị vua được biết tới đầu tiên của người Illyria là Hyllus (Tiếng Albania: Ylli, dịch sang tiếng Việt: "Ngôi sao") được ghi chép lại là đã mất năm 1225 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, vương quốc này đã đạt tới thời cực thịnh về lãnh thổ và sự phát triển ở thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyện, khi Vua Bardhyllus (tiếng Albania: Bardhyli; tiếng Việt: "Ngôi sao Trắng"), một trong những vị vua tài ba nhất của người Illyria, thống nhất các vương quốc Illyria, Molossia và một phần lớn Macedonia dưới quyền quản lý của mình. Vương quốc này bắt đầu suy tàn cũng ở thời cai trị của vị vua này vì những cuộc tấn công của Philip II của Macedonia, cha của Alexander Đại Đế. Người Illyria đã tạo lập và phát triển văn hoá và ngôn ngữ của họ tại vùng phía tây vùng Balkans, nơi đã được các học giả thời cổ đề cập tới trong các tác phẩm của họ. Các vùng sinh sống của người Illyria dần mở rộng, bao gồm cả vùng phía tây bán đảo Balkan, bắc tới Trung Âu, và đông xung quanh Hồ Lyhind (Hồ Ohrid). Các bộ tộc Illyria khác cũng di cư tới và phát triển tại Italia. Trong số họ có bộ tộc Messapii và Iapyges. Cái tên Illyria đã được đề cập tới trong các tác phẩm từ thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên trong khi một số bộ tộc còn được đề cập tới từ thế kỷ 12 trước Công Nguyên trong tác phẩm của Homer. Sự khởi đầu của dòng giống Illyria bắt đầu từ thế kỷ thứ 15 trước Công Nguyên, giữa Thời kỳ đồ đồng, khi các đặc điểm riêng biệt của sắc tộc Illyria bắt đầu hình thành. Tới Thời đồ sắt, người Illyria đã trở nên riêng biệt và thừa kế những đặc điểm nhân dạng và ngôn ngữ của cha ông họ từ Thời đồ đá mới và Thời đồ đồng. Lý thuyết cổ xưa cho rằng người Illyria tới từ Trung Âu hồi thế kỷ thứ 7 tới thế kỷ thứ 9 đã bị các cuộc nghiên cứu sau Thế chiến II bác bỏ. Sự thực là những hang động với các bình đựng hài cốt, đặc điểm vùng Trung Âu, không được tìm thấy tại các khu định cư của người Illyria là bằng chứng bác bỏ giả thuyết này. Ảnh hưởng Trung Âu trên người Illyria là kết quả của những trao đổi văn hoá và sự di chuyển của những thợ thủ công. === Các thuộc địa Hy Lạp === Từ thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã thành lập một chuỗi các thuộc địa trên lãnh thổ Illyria, hai trong số các thuộc địa nổi bật nhất là Epidamnus (Durrës ngày nay) và Apollonia (gần Fier ngày nay). Epidamnus có lẽ là thuộc địa quan trọng nhất của người Hy Lạp tại Albania được thành lập tại Epidamnus năm 627 trước Công Nguyên bởi những người Hy Lạp từ Corcyra (Corfu ngày nay) và Corinth. Các tác gia người Hy Lạp và La Mã gọi nó là "Thành phố Tuyệt vời" vì các đền đài, tượng và các công trình tại đó. Đất đai màu mỡ và một cảng biển lớn mang lại sự giàu mạnh và thành công thương mại cho thuộc địa này. Sự phát triển khiến các tầng lớp thấp cũng có tài sản và bắt đầu có ảnh hưởng lớn hơn trong chính phủ, dẫn tới một cuộc nội chiến giữa tầng lớp cai trị thiểu số (đầu sỏ chính trị) và đa số dân cư. Người dân yêu cầu sự trợ giúp từ Corinth, trong khi giới đầu sỏ chính trị tìm kiếm sự giúp đỡ từ Corcyra. Corinth là đồng minh với Sparta và Corcyra, trước yêu cầu này, họ quay sang đề nghị sự hỗ trợ của Athens. Vì thế, sự can thiệp của Corinth bên cạnh nhân dân và Corcyra phía tầng lớp cai trị dẫn tới sự xung đột sâu sắc hơn giữa Athens, Sparta, và các đồng minh của họ được gọi là cuộc Chiến tranh Peloponnesian. Thắng lợi ban đầu của Epidamnus khiến nhiều thuộc địa Hy Lạp khác được thành lập trong vùng. Butrint, nằm trên một quả đồi phía nam Albania, được những kẻ thực dân từ Corfu thành lập ở thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Tên gốc của nó, Buthrotum, dịch nghĩa "nơi có nhiều gia súc và đồng cỏ chăn thả." Tới thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, Butrint đã mở rộng nhiều và có cả một nhà hát 5.000 chỗ ngồi. Tại Aeneid, Vergil tuyên bố rằng thành phố do chính Aeneas thành lập. Một thuộc địa quan trọng khác, Apollonia, được đặt theo tên thần Apollo. Nó được thành lập năm 588 trước Công Nguyên, và phát triển thịnh vượng nhờ vị trí là đường nối kết giữa Brundisium (hiện là Brindisi) tại Italia và phía nam Albania. Nhiều khu định cư nhỏ khác của người Hy Lạp đã được thành lập quanh Albania ở thời kỳ này, nhưng Epidamnus, Butrint, và Apollonia là các thuộc địa quan trọng nhất. Các thuộc địa phát triển mạnh trong thời kỳ La Mã, quả thực trong Thời kỳ Hy Lạp hóa họ đã đạt tới đỉnh điểm phát triển. Từ thế kỷ thứ 4 tới thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, các thuộc địa (gồm cả các thuộc địa của người Hy Lạp và người Illyria) đã trở thành trung tâm nghệ thuật, phát triển học thuật, âm nhạc và nhà hát. Apollonia đặc biệt đáng chú ý về trường phái triết học tại đây. Gần như song hành với sự trỗi dậy của các thuộc địa Hy Lạp, các bộ tộc Illyria bắt đầu phát triển từ các thực thể nhỏ và ít địa vị chính trị trở thành các nhà nước phức tạp và thống nhất. Ban đầu họ hình thành các liên minh tạm thời với nhau để tự vệ và xâm chiếm, sau đó các liên bang, và sau này là các vương quốc xuất hiện. Năm 355 trước Công nguyên, chiến tranh với Alexander của Macedonia nổ ra để giải phóng các vùng lãnh thổ phía đông và cùng lúc ấy Apollonia cũng thoát khỏi quyền cai trị của Macedonia. Sau cái chết của Alexander năm 323 trước Công nguyên, các vương quốc Illyria độc lập một lần nữa xuất hiện. Năm 312 trước Công Nguyên, Vua Glauka hay Glaucius trục xuất người Hy Lạp khỏi Durrës. Tới cuối thế kỷ thứ 3, một vương quốc Illyria với thủ phủ gần thành phố Shkodër của Albania ngày nay đã kiểm soát các vùng phía bắc Albania, Montenegro, và Herzegovina. Dưới sự cai trị của Vua Glaukia, quốc gia Illyria lớn mạnh nhanh chóng. Những người kế vị của Glaukia (Monun và Mytyl) tiếp tục phát triển quốc gia Illyria về kinh tế và đã cho phát hành các đồng tiền xu bạc và đồng. Một thời gian ngắn sau nửa cuối thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, dưới thời cai trị của Pleurat và Agron, quốc gia Illyria một lần nữa trở lại thời kỳ thịnh vượng. Năm 231 TCN, họ gia nhập liên minh với Acarnania và trở thành một cường quốc ở vùng Balkan. === Thời kỳ La Mã và Byzantine === Người La Mã đã dùng quân sự tước đoạt quyền tự trị của Illyria năm 165 trước Công Nguyên. Albania của La Mã đã được nối với Via Egnatia, con đường của La Mã nối phía đông với phía tây và La Mã với vùng viễn đông giàu có của đế chế. Sau khi bị Đế chế La Mã chinh phục, Illyria được tái tổ chức thành một tỉnh của La Mã. Illyricum sau này được chia thành các tỉnh Dalmatia và Pannonia, những vùng đất hình thành nên nước Albania ngày nay. Nhiều người Illyria ở thời cai trị La Mã đã đạt được những chức vụ quan trọng trong đội Vệ sĩ Hoàng đế La Mã (Prætorian Guard). Tiếng Albania vay mượn rất nhiều từ La Tinh, chủ yếu về tôn giáo và tế lễ. Điều này bởi Albania ban đầu thuộc Tòa Thánh, dù Công giáo lần đầu được chính Sứ đồ Phaolô truyền bá cho người Albania trong lần đầu ông tới Durazzo. Trong những thập kỷ đầu tiên dưới sự cai trị của Byzantine (cho tới năm 461), Illyria phải chịu nhiều cuộc tấn công phá phách của người Visigoths, Huns, và Ostrogoths. Không lâu sau khi những kẻ xâm lược này tràn qua vùng Balkans, người Slavs xuất hiện. Giữa thế kỷ thứ 6 và thế kỷ thứ 8 họ đã định cư tại các lãnh thổ Illyria và dần đồng hoá các bộ tộc Illyria tại những nơi hiện là Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, và Serbia. Tuy nhiên, các bộ tộc phía nam Illyria, gồm cả Albania ngày nay, tránh sự đồng hoá và bảo tồn ngôn ngữ của họ. Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, Albania được gộp vào trong Đế chế Byzantine, nằm dưới sự quản lý từ Constantinopolis. Albania thuộc quyền quản lý của Byzantine cho tới thế kỷ 14 Công Nguyên khi những người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman tung ra các cuộc tấn công vào Đế chế. Người Ottoman chiếm Constantinopolis năm 1453, và tới năm 1460 hầu như toàn bộ lãnh thổ Byzantine cũ đều đã rơi vào tay người Thổ. === Thời Ottoman === Những người Thổ Ottoman đã mở rộng đế chế của họ từ Anatolia tới vùng Balkan ở thế kỷ 14. Tới thế kỷ 15, người Thổ hầu như đã chiếm được toàn bộ vùng bán đảo Balkan từ một dải bờ biển nhỏ hiện thuộc Albania. Cuộc kháng chiến của Albanian trước người Thổ hồi giữa thế kỷ 15 khiến họ được cả châu Âu ca ngợi. Albania đã trở thành một biểu tượng của cuộc kháng chiến trước người Thổ Ottoman nhưng hầu như liên tục phải trải qua các cuộc chiến. Một trong những cuộc kháng chiến thành công nhất trước những đạo quân Ottoman xâm lược do Gjergj Kastrioti Skanderbeg lãnh đạo từ năm 1443 tới năm 1468. Sau cái chết của Skanderbeg, cuộc kháng chiến kéo dài tới năm 1478, dù chỉ với những thắng lợi nhỏ. Các vùng đất và liên minh do Skanderbeg lập lên thay đổi và tan rã và những người Ottoman đã chinh phục vùng đất Albania chỉ một thời gian ngắn sau khi lâu đài Kruje thất thủ. Albania sau đó trở thành một phần của Đế chế Ottoman. Họ tiếp tục là một phần của đế chế này với tư cách là các tỉnh İşkodra, Manastır và Yanya cho tới năm 1912. === Những hiệu ứng từ Các cuộc chiến tranh Balkan === Sau cuộc Chiến tranh Balkan lần hai, người Ottoman bị hất cẳng khỏi Albania và có khả năng một số vùng đất sẽ bị Serbia sáp nhập cũng như mũi đất phía nam sẽ bị Hy Lạp tước đoạt. Quyết định này đã khiến người Italia, những người không muốn Serbia có dải bờ biển lớn hơn, tức giận, và cũng khiến liên minh Áo Hung, những người không muốn có sự xuất hiện của một nhà nước Serbia hùng mạnh bên cạnh biên giới của mình, tức giận. Dù có sự hiện diện của các lực lượng chiếm đóng của Serbia, Montenegrin, và Hy Lạp cũng như áp lực to lớn từ phía liên minh Áo-Hung, quyết định được đưa ra rằng nước này sẽ không bị phân chia mà thay vào đó được củng cố thành Xứ Albania. Tuy nhiên, dự án Áo-Italia đã không thành công. === Chế độ Quân chủ === Từ năm 1925, đất nước nằm dưới quyền quản lý của Tổng thống Ahmet Zogu. Vào năm 1928, Zogu đã xưng vương (Zog I, Skanderbeg III), lập ra chế độ quân chủ Albania đầu tiên kể từ thời Gjergvj Kastriot Skenderbej. Bắt chước các vị vua châu Âu khác, ông cưới một phụ nữ quý tộc Hungary Geraldine Apponyi de Nagy-Apponyi. Triều đại Zogu kết thúc khi những kẻ phát xít Italia xâm lược Albania ngày 7 tháng 4 năm 1939. Những người cộng sản lên nắm quyền sau Thế chiến II. Sau sự sụp đổ của chính phủ cộng sản, con trai của cựu hoàng Zog là Leka, Thái tử Albania và Hoàng gia quay trở lại Albania ngày 28 tháng 6 năm 2002. === Thế chiến II === Albania từng là một trong những quốc gia đầu tiên bị Phe Trục xâm lược trong Thế chiến II. Mussolini xâm lược và chiếm Albania, trong khi thế giới còn đang chú ý tới những hành động quân sự của Đức tại Tiệp Khắc và Ba Lan. Khi Hitler bắt đầu gây hấn, nhà độc tài người Italia quan tâm tới đất nước Albania cách Italia biển Adriatic. Dù có một số cuộc kháng cự, đặc biệt tại Durrës, Italia đã chiếm Albania ngày 7 tháng 4 năm 1939 và kiểm soát nước này. Ngày 12 tháng 4, nghị viện Albania bỏ phiếu thông qua việc thống nhất nước này với Italia. Victor Emmanuel III lên ngôi vua Albania, và những người Italia đã lập ra một chính phủ phát xít dưới sự lãnh đạo của Shefqet Verlaci và nhanh chóng nắm quyền quản lý quân đội cũng như các định chế ngoại giao của Albania. Tháng 10 năm 1940 Mussolini dùng Albania làm căn cứ tung ra cuộc tấn công vào Hy Lạp. Trong Thế chiến II, các nhóm quốc gia Albania, gồm cả các du kích cộng sản, đã chiến đấu chống lại người Italia và sau này là cả người Đức. Tới tháng 10 năm 1944 họ đã đẩy lùi được quân Đức, nước Đông Âu duy nhất làm được như vậy mà không có sự hỗ trợ của Hồng quân. Enver Hoxha, nhân vật được giáo dục tại Pháp, trở thành lãnh đạo đất nước nhờ vị trí tổng bí thư Đảng Lao động (Đảng Cộng sản Albania). Đảng cộng sản được thành lập ngày 8 tháng 11 năm 1941 với sự giúp đỡ của các Đảng Cộng sản Bolshevik khác. === Cuộc diệt chủng người Do Thái === Albania là quốc gia duy nhất tại châu Âu từng bị Phát xít chiếm đóng ra khỏi cuộc Thế chiến II với cộng đồng Do Thái lớn hơn thời điểm trước chiến tranh. Phản ứng của Albania trước cuộc Diệt chủng người Do Thái đặc biệt đáng chú ý vì đây là quốc gia có cộng đồng Hồi giáo lớn ở châu Âu. Dù vậy chỉ một trong sáu gia đình Do thái bị trục xuất và giết hại trong thời gian Phát xít chiếm Albania. Người dân Albania không chỉ bảo vệ sắc tộc Do Thái ở nước mình, họ còn cung cấp nơi trú ẩn cho những người Do Thái từ các quốc gia láng giềng. Người Albania từ chối lập và giao nộp các danh sách người Do Thái. Thay vào đó họ cung cấp giấy tờ giả cho các gia đình Do Thái và giúp họ phân tán trong dân cư Albania. Tháng 2 năm 1944, khi quân Phát xít tràn xuống từ nơi ẩn nấp trên núi, không một người Do Thái nào rơi vào tay chúng. Trong cuộc Diệt chủng người Do Thái, Albania là quốc gia duy nhất ở châu Âu bảo vệ và che chở cho toàn bộ dân cư Do Thái nước mình, cả người mang quốc tịch Albania và người đến từ nước ngoài. Trong lịch sử không hề có ý thức hệ bài Do Thái tại Albania vì thế đây là đặc điểm riêng có của nước này. Số lượng nhỏ người Do Thái tại Albania cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ họ. Trong thời kỳ chiếm đóng của Italia, họ đã hoà trộn lẫn trong toàn bộ dân cư. Tuy nhiên, vai trò to lớn của nhân dân Albania trong việc bảo vệ người Do Thái là không thể phủ nhận. === Cộng hoà Nhân dân === Từ năm 1944 tới năm 1991, Albania trở thành một nhà nước Cộng hoà Nhân dân Albania và là quốc gia độc đảng theo đó Enver Hoxha nắm quyền cai trị độc đoán. Năm 1961, ông làm tan vỡ liên minh giữa Albania với đồng minh thân cận nhất, Liên bang Xô viết, vì ông tin rằng Khrushchev đã rời bỏ các học thuyết Stalin. Sau đó, đồng minh thân cận nhất của Albania là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ năm 1978, Hoxha rời bỏ nốt cả người Trung Quốc và quyết định theo đuổi chính sách tự chủ. Kết quả không chỉ là tình trạng cô lập mà còn là sự tan rã toàn bộ hệ thống tài chính Albania. Một ví dụ về việc này có thể thấy qua dự án xây dựng từ năm 1974 tới năm 1986 với gần 700.000 boongke bê tông để tự vệ trước một cuộc tấn công xâm lược. Sau cái chết của Upon Hoxha năm 1985, Ramiz Alia lên kế vị cả trong vai trò lãnh đạo đảng và lãnh đạo nhà nước. Alia là người được Hoxha ưu ái, nhưng ít có hành động hà khắc như vị lãnh đạo cũ và bắt đầu cho phép một số cải cách. Quá trình này được đẩy nhanh sau những tin tức về những thay đổi tại các quốc gia cộng sản khác ở vùng Trung và Đông Âu. Có những con số thống kê cho thấy trong giai đoạn này khoảng người 6000 đã bị hành quyết vì những lý do chính trị Dù vậy, chất lượng cuộc sống của người dân đã được cải thiện khi cả tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ đều tăng khá cao và tăng trưởng kinh tế tiếp tục diễn ra cho tới giữa thập niên 1970. === Quay trở lại Chủ nghĩa Tư bản === Những cuộc biểu tình rộng lớn chống cộng sản lần đầu tiên diễn ra tháng 7 năm 1990. Một thời gian ngắn sau đó, chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của Ramiz Alia tiến hành một số thay đổi trong chính sách kinh tế. Tới cuối năm 1990, sau những cuộc phản kháng mạnh của sinh viên và những phong trào công đoàn độc lập, chế độ đã phải chấp nhận một hệ thống đa đảng. Cuộc tổng tuyển cử đa đảng đầu tiên được tổ chức ngày 31 tháng 3 năm 1991 và Đảng Cộng sản (PPSH) chiếm đa số. Các đảng đối lập buộc tội chính phủ gian lận và kêu gọi một cuộc bầu cử mới, cuộc bầu cử này được tổ chức ngày 22 tháng 3 năm 1992 và dẫn tới một liên minh (gồm Đảng Dân chủ, Dân chủ Xã hội, và Đảng Cộng hoà) lên nắm quyền lực. Trong cuộc tổng tuyển cử tháng 6 năm 1996, Đảng Dân chủ chiếm đa số tuyệt đối, với hơn 85% ghế trong nghị viện. Năm 1997, những cuộc bạo động xảy ra khắp đất nước sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế buộc nước này tự do hoá hoạt động ngân hàng. Nhiều công dân, chưa biết gì về hoạt động của một nền kinh tế thị trường, đặt toàn bộ tiền tiết kiệm của mình vào trong các quỹ tín dụng kiểu kim tự tháp. Trong một thời gian ngắn, 2 tỷ dollar (80% GDP đất nước) đã được chuyển vào tay của một số kẻ đứng đầu mô hình kim tự tháp, gây ra những khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và những vụ bất ổn dân sự. Các đồn cảnh sát và các căn cứ quân sự bị cướp mất hàng triệu khẩu AK-47 và các loại vũ khí khác. Người nổi dậy chiếm ưu thế, và quân du kích cùng một số công dân vũ trang ít được tổ chức đã kiểm soát nhiều thành phố. Chính phủ Aleksander Meksi từ chức và một chính phủ thống nhất quốc gia được thành lập. Trước tình trạng hỗn loạn, Đảng Xã hội chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1997 và Berisha từ chức Tổng thống. Tuy nhiên, tình trạng ổn định vẫn chưa được tái lập trong những năm sau cuộc nổi dậy 1997. Quyền lực thay đổi tay Đảng Xã hội dẫn tới một loạt các chính phủ xã hội tồn tại ngắn ngủi kế tiếp nhau. Đất nước tràn ngập người tị nạn từ tỉnh Kosovo láng giếng năm 1998 và 1999 trong cuộc Chiến tranh Kosovo. Tháng 6 năm 2002, một ứng cử viên tiềm năng, Alfred Moisiu, cựu tướng lĩnh, được bầu kế vị Tổng thống Rexhep Meidani. Các cuộc bầu cử nghị viện tháng 7 năm 2005 đưa Sali Berisha, lãnh đạo Đảng Dân chủ, quay trở lại nắm quyền, chủ yếu nhờ tình trạng đấu đá trong nội bộ những người Xã hội và một loạt những scandal tham nhũng của chính phủ Fatos Nano. Việc tham gia Liên minh châu Âu và NATO là mục tiêu hàng đầu của các chính phủ hậu cộng sản. Đề xuất gia nhập Liên minh châu Âu của Albania đã được Hội đồng châu Âu đặt ưu tiên. Năm 2006, Albania đã ký một Thoả thuận Ổn định và Hợp tác với EU, nhờ thế hoàn thành bước quan trọng đầu tiên trong việc gia nhập khối này. Albania, cùng với Croatia và nước Cộng hoà Macedonia thuộc Nam Tư cũ, hy vọng nhận được lời mời tham gia NATO năm 2008. Nguồn nhân lực của Albania tiếp tục di cư sang Hy Lạp, Italia, Đức và các vùng khác ở châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, làn sóng di cư đang dần giảm bớt, bởi ngày càng có nhiều cơ hội tại ngay chính Albania khi nền kinh tế đang phát triển vững chắc. Người di cư Albania đã đạt được nhiều thành công quan trọng ở nước ngoài. Đặc biệt, hiện có một cộng đồng đáng kể người Albania ở Anh Quốc, tại các thành phố như Birmingham và Manchester. Cộng đồng người Do Thái Albania chủ yếu sống tại Liverpool, nơi ẩm thực Albania đã được ưa thích. Nhà báo đoạt giải Pulitzer Caroline Thorpe, người hiện là giáo sư danh dự tại Đại học Liverpool, gần đây đã phát biểu rằng 'Ẩm thực Albanian đã trở nên đồng nghĩa với Liverpool cũng như Bill Shankley hay the Beatles!'. == Chính trị == Albania theo mô hình Cộng hoà nghị viện. Quốc hội 1 viện có nhiệm kỳ 4 năm và gồm 140 ghế, trong đó 100 ghế được bầu định danh trực tiếp, 40 ghế được bầu theo đảng. Tổng thống do Quốc hội bầu với nhiệm kỳ 5 năm, Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Các đảng phái chính trị lớn tại Albania: Đảng Dân chủ (PD - cánh hữu; Chủ tịch Đảng: Xa-li Bê-ri-sa - Sali BERISHA); Đảng Xã hội Chủ nghĩa (PS - cánh tả; Chủ tịch Đảng: Ê-đi Ra-ma - Edi RAMA); Phong trào Xã hội Chủ nghĩa vì Hội nhập (MSI - trung hữu; Chủ tịch Đảng: I-lia-rơ Mê-ta - Ilir META). Số ghế trong Quốc hội (kết quả bầu cử Quốc hội tháng 6 năm 2009): PD: 68; PS: 65, MSI: 4, các đảng khác: 3. === Đối ngoại === Albania ưu tiên hội nhập châu Âu và phát triển quan hệ với Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia và Hy Lạp, chú trọng quan hệ với các nước láng giềng và các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia. Albania là thành viên các tổ chức khu vực và quốc tế sau: BSEC (Tổ chức Hợp tác Kinh tế biển Đen), EBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu), FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc), IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế), ICAO (Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế), IMF, Interpol, IPU (Liên minh Bưu chính Quốc tế), ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế), ITU (Liên minh Viễn thông Quốc tế), NATO, OIF (Cộng đồng Pháp ngữ), OSCE (Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu), SECI (Sáng kiến Hợp tác Đông Nam Âu), Liên Hợp Quốc, UNESCO, WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), WTO... === Quân đội === Các lực lượng vũ trang Albania thuộc quyền chỉ huy của Bộ tổng tham mưu và gồm Bộ binh, Hải quân, Phòng không, Lực lượng Học thuyết huấn luyện và hậu cần. Năm 2002, các lực lượng vũ trang Albania đã tung ra một chương trình cải cách kéo dài 10 năm dưới sự giám sát và hỗ trợ của Bộ quốc phòng Mỹ nhằm tinh giảm và hiện đại hoá lực lượng hơn 25.000 quân thường trực của mình. Về khả năng gia nhập NATO, các quốc gia thuộc khối Hiến chương Adriatic (Albania, Croatia và Cộng hoà Macedonia thuộc Nam Tư cũ) hy vọng sẽ gia nhập liên minh này vào năm 2008. Hiện tại, quân đội Albania tham gia vào các sứ mạng gìn giữ hoà bình tại cả Afghanistan và Iraq. == Phân chia hành chính == Albania được chia thành 12 hạt (Tiếng Albania: chính thức qark/qarku, nhưng thường được gọi là prefekturë/prefektura), 36 quận và 351 khu đô thị. == Địa lý == Albania là một quốc gia tại Đông Nam Âu, có tổng diện tích 28.750 km². Bờ biển nước này dài 362 kilômét trải dài trên cả Biển Adriatic và Biển Ionian. Các vùng đất thấp phía tây đối diện Biển Adriatic. 70% diện tích là đồi núi và thỉnh thoảng rất khó tiếp cận. Núi cao nhất là Korab nằm trong quận Dibra, lên tới 2.753 mét (9.032 ft). Đất nước này có khí hậu lục địa tại các vùng có độ cao lớn với mùa đông lạnh và mùa hè nóng. Bên cạnh thành phố thủ đô Tirana, với 800.000 dân, các thành phố chính gồm Durrës, Elbasan, Shkodër, Gjirokastër, Vlorë, Korçë và Kukës. Trong ngữ pháp tiếng Albania, một từ có thể ở hình thức không xác định hoặc xác định, và điều này cũng tương tự đối với tên các thành phố: cả Tiranë và Tirana, Shkodër và Shkodra đều được sử dụng. == Nhân khẩu == Ở thời điểm tháng 7 năm 2007, dân số Albania là 3.600.523 người và tăng 0.73% mỗi năm. Albania là quốc gia rất đồng nhất về mặt chủng tộc với các cộng đồng thiểu số rất nhỏ. Đa số dân cư được coi là người Albania. Các cộng đồng thiểu số gồm Hy Lạp, Aromania, Torbesh, Goran, Macedonia Slav, Romania, người Montenegro, người Bulgaria, Ai Cập Balkan và Do Thái. Ngôn ngữ được dùng phổ biến là tiếng Albania, với hai thổ ngữ chính, Gheg và Tosk. Nhiều người Albania cũng nói thạo tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Hy Lạp. == Tôn giáo == Công giáo đã bắt đầu có mặt tại Albania vào giữa thế kỷ 1 CN khi đó còn thuộc Đế quốc La Mã. Ban đầu, tôn giáo mới này phải cạnh tranh với các tín ngưỡng phương Đông như sự thờ cúng Mithra, vị thần ánh sáng của Ba Tư, đã du nhập vào vùng đất này từ khi Albania có những sự trao đổi với các vùng phía đông Đế quốc La Mã. Trong một thời gian dài, Công giáo cũng phải cạnh tranh với sự thờ cúng các vị thần của người Illyria. Sự tăng trưởng vững chắc của cộng đồng Công giáo tại Dyrrhachium (tên của Epidamnus thời La Mã) đã dẫn tới sự thành lập một giáo phận năm 58 Công Nguyên. Sau này, các tòa giám mục đã được thành lập tại Apollonia, Buthrotum (Butrint ngày nay), và Scodra (Shkodra ngày nay). Sau sự phân chia của Đế chế La Mã năm 395, Albania về chính trị đã trở thành một phần của Đế chế Đông La Mã, nhưng về tôn giáo vẫn phụ thuộc vào Roma. Khi cuộc ly giáo cuối cùng đã xảy ra vào năm 1054 giữa các giáo hội Đông phương và Tây phương thì những tín hữu phía nam Albania thuộc quyền Thượng phụ Constantinopolis, và những tín hữu ở phía bắc nằm dưới sự quản lý của Giáo hoàng tại Roma. Thoả thuận này được thực thi cho tới khi những cuộc xâm lược của Ottoman xảy ra ở thế kỷ 14, khi đức tin Hồi giáo bắt đầu xuất hiện. Một trong những di sản chính của năm thế kỷ cai trị của Ottoman là sự cải đạo của 60% dân số Albania sang Hồi giáo. Vì thế, nước này đã trở thành quốc gia đa số Hồi giáo sau khi giành lại độc lập từ Ottoman. Ở vùng núi phía bắc, việc truyền bá Đạo Hồi bị các tín đồ Công giáo phản đối mạnh mẽ. Albania từng là nước có số tín đồ Công giáo ưu thế, với mười tám tòa giám mục, một số chúng có lịch sử liên tục từ khi bắt đầu có Cơ Đốc giáo cho tới ngày nay. Albania là điểm chốt cuối cùng của Công giáo tại Balkan và các Giáo hoàng đã làm tất cả những điều có thể trong phạm vi quyền lực của mình để mở rộng lãnh địa. Tuy nhiên, dần dần tình trạng lạc hậu, sự mù chữ và sự vắng mặt của những tăng lữ làm trách nhiệm giáo dục đã khiến tôn giáo này mất dần ưu thế. Dưới chế độ Cộng sản, trong 45 năm nắm quyền tuyệt đối, tôn giáo bị chính thức ngăn cấm, và Albania được tuyên bố là nhà nước vô thần đầu tiên và duy nhất trên thế giới. Ngày nay, với quyền tự do tôn giáo và thờ cúng, Albania có nhiều tôn giáo và giáo phái. Sự cuồng tín tôn giáo chưa từng xảy ra, và mọi người thuộc các nhóm tôn giáo khác nhau chung sống trong hoà bình. Hôn nhân khác tôn giáo là điều thường thấy, và tại Albania không hề có sự ngăn cản nào với việc các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau cùng hoạt động tôn giáo của mình. Giáo hội Công giáo Rôma chủ yếu có mặt ở vùng phía bắc đất nước, đặc biệt tại các thành phố Shkodër và Kruja, trong khi Chính Thống giáo xuất hiện ở các quận phía nam Gjirokastër, Korçë, Berat, và Vlorë. Các tín đồ Hồi giáo có mặt trên khắp đất nước, dù họ tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm. Đa số họ là tín đồ Sunni truyền thống, nhưng khoảng một phần tư là tín đồ của giáo phái Bektashi, từng một thời có trụ sở tại Tirana. Trong nhiều thế hệ, sự thực dụng tôn giáo từng là một nét riêng biệt của người dân Albania. Thập chí sau khi đã chấp nhận đạo Hồi, nhiều người vẫn tuân theo các hoạt động tôn giáo của Kitô giáo (Công giáo lẫn Chính Thống giáo). Tới tận năm 1912, ở một số lớn các làng tại vùng Elbasan, đa số đàn ông có hai tên, một tên Hồi giáo để sử dụng công khai và một tên Kitô giáo để sử dụng riêng. Việc tuân theo các đức tin truyền thống vẫn tiếp diễn tới tận thế kỷ 20, đặc biệt tại các làng ở vùng núi phía bắc, nhiều nơi không hề có nhà thờ cũng như thánh đường hồi giáo. Một nhà thơ tên là Pashko Vasa (1825-1892), được biết đến với tên hiệu Vaso Pasha, đã có một bình luận sắc sảo, sau này được Enver Hoxha nhắc lại, rằng "tôn giáo của người dân Albania chính là Chủ nghĩa Albania." Ước tính chỉ 30-40% người dân Albanians có hoạt động tôn giáo thực sự. Dù có quá khứ tôn giáo khác biệt như vậy, tại Albania không hề có xung đột tôn giáo, chủ yếu bởi người dân Albania có truyền thống khoan dung tôn giáo rất lớn. == Kinh tế == Từ khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1990, Albania đã đưa ra nhiều chương trình cải cách theo hướng kinh tế thị trường mở. Chính phủ được bầu cử dân chủ nhậm chức từ tháng 4 năm 1992 đã đưa ra một chương trình cải cách kinh tế đầy tham vọng nhằm chấm dứt sự suy giảm và đưa đất nước theo con đường kinh tế thị trường. Các yếu tố chủ chốt gồm tự do hoá hệ thống trao đổi và giá cả, củng cố hệ thống thuế, kiềm chế tiền tệ, và một chính sách thu nhập vững chắc.. Những chương trình này được hỗ trợ thêm bởi một kế hoạch cải cách cơ cấu khác, gồm cả tư nhân hoá doanh nghiệp cải cách lĩnh vực tài chính và tạo lập khuôn khổ pháp luật cho một nền kinh tế thị trường và hoạt động của lĩnh vực kinh tế tư nhân. Đa số các loại giá đã được thả nổi và hiện đang tiếp cận tới mức độ phổ biến trong vùng. Đa số lĩnh vực nông nghiệp, nhà cửa, và công nghiệp nhẹ đã được tư nhân hoá, cùng với vận tải, dịch vụ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sau cuộc giảm sút kinh tế nghiêm trọng sau năm 1989, kinh tế đã dần hồi phục, cuối cùng vượt mức của năm 1989 ở thời điểm cuối thập niên 1990. Tuy nhiên, bởi giá cả tăng lên, sự khó khăn về kinh tế vẫn là vấn đề với đa số dân cư. Năm 1995, Albania bắt đầu tư nhân hoá các doanh nghiệp lớn của nhà nước. Từ năm 2000, Albania đã có mức độ phát triển kinh tế cao. Sau khi ký kết Thoả thuận Ổn định và Hợp tác tháng 6/7 năm 2006, các bộ trưởng EU đã thúc giục Albania đẩy nhanh các chương trình cải cách, chú trọng trên tự do báo chí, quyền sở hữu tài sản, xây dựng định chế, chú ý tới quyền của các nhóm thiểu số và tôn trọng các tiêu chuẩn quốc tế trong các cuộc bầu cử. Albania đã có bước hồi phục đáng kinh ngạc, xây dựng một nền kinh tế hiện đại và đa dạng. Các chính phủ gần đây cũng đã cải thiện cơ sở hạ tầng đất nước và mở cửa cạnh tranh tại các cảng biển, đường sắt, viễn thông, phát điện, phân phối khí tự nhiên và sân bay. Du lịch Albania là một ngành công nghiệp lớn và đang phát triển nhanh chóng. Những nơi thu hút nhiều khác du lịch nhất là các địa điểm lịch sử tại Apollonia, Butrinti, và Krujë. Bờ biển Albania đang trở nên nổi tiếng trong giới du lịch vì vẫn còn ở tình trạng tự nhiên chưa bị khai thác. Tính đến năm 2016, GDP của Albania đạt 12.144 USD, đứng thứ 124 thế giới và đứng thứ 39 châu Âu. == Văn hoá == === Ẩm thực === Ẩm thực Albania – giống như ẩm thực hầu hết các quốc gia Địa Trung Hải và vùng Balkan – chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lịch sử lâu dài của nó. Tại các thời điểm khác nhau, lãnh thổ mà bây giờ là Albania đã được tuyên bố hoặc chiếm đóng bởi Hy Lạp cổ đại, La Mã, Byzantine và Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ và mỗi nước đã để lại dấu ấn của mình vào các món ăn Albania. Bữa ăn chính của người Albania là bữa ăn trưa, mà thường đi kèm với salad rau tươi như cà chua, dưa chuột, ớt xanh và ô liu với dầu ô liu, giấm và muối. Nó cũng bao gồm một món ăn chính từ các loại rau và thịt. Mặc dù nó được sử dụng trong một số món ăn, bí ngô thường được trưng bày và theo truyền thống dùng làm quà tặng trên khắp Albania, đặc biệt là trong khu vực Berat. Đặc sản hải sản cũng phổ biến ở các thành phố ven biển như Durrës, Sarande và Vlorë. Tại các vùng cao, thịt hun khói và đồ muối rất phổ biến. == Hình ảnh == == Xem thêm == Lịch sử Albania Văn hoá Albania Văn học Albania Đường sắt Albania Viễn thông Albania Vận tải Albania Giáo dục Albania Ngày lễ tại Albania Quan hệ nước ngoài Albania Quân đội Albania Vườn quốc gia Butrint Edith Durham Danh sách Danh sách các bài liên quan tới Albania Danh sách nhân vật Albania Danh sách tác gia Albania Danh sách người Mỹ gốc Albania Xếp hạng quốc tế Albania == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Wikimedia Atlas của Albania, có một số bản đồ liên quan đến Albania. Presidency of Albania The Albanian Parliament Albanian Institute of Statistics Mục “Albania” trên trang của CIA World Factbook. National Tourism Organization Albania's official website for travel & tourism information. Tourism, Krujë VIVAlbania, hospitality and ecotourism in Albania Treasure of the national library of Albania
arthur ashe.txt
Arthur Robert Ashe (5 tháng 7 năm 1943 - 6 tháng 2 năm 1993) là một cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở Richmond, Virginia. Trong sự nghiệp của mình, Ashe đã giành được 3 danh hiệu Grand Slam, trở thành một trong số những vận động viên quần vợt xuất sắc nhất của Mỹ. Ông, một người Mỹ gốc Phi, còn được nhớ đến với những nỗ lực trong hoạt động xã hội của mình thời gian sau này. == Sự nghiệp quần vợt == Năm 1968, Ashe giành chức vô địch của Giải vô địch quần vợt nghiệp dư Mỹ và Giải quần vợt Mỹ Mở rộng đầu tiên của Kỷ nguyên mở. Ông cũng góp phần giúp đội Mỹ giành Cúp Davis trong năm đó. Ông là vận động viên duy nhất giành cả chức vô địch Mỹ nghiệp dư và chuyên nghiệp trong cùng một năm.. Năm này cũng là một năm đáng nhớ với Ashe khi ông bị chính phủ Nam Phi từ chối cấp thị thực để tham dự giải quần vợt Nam Phi Mở rộng. Sự từ chối này là phương tiện để ông cho mọi người thấy chính sách phân biệt chủng tộc của Nam Phi. Trên các phương tiện truyền thông, Ashe kêu gọi loại Nam Phi ra khỏi cộng đồng quần vợt chuyên nghiệp. Năm 1969, Ashe chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Năm 1970, ông giành được danh hiệu Grand Slam đơn thứ hai tại Giải quần vợt Úc Mở rộng. Năm 1975, Ashe bất ngờ giành chức vô địch Giải quần vợt Wimbledon khi đánh bại tay vợt trẻ hơn đang ở vị trí số 1 thế giới Jimmy Connors trong trận chung kết. Ông tiếp tục thi đấu vài năm nữa, nhưng do chứng bệnh tim nên sau khi phẫu thuật vào năm 1979, Ashe giải nghệ một năm sau đó. Cho đến nay, Ashe vẫn là người Mỹ gốc Phi duy nhất giành chức vô địch đơn ở Wimbledon, Mỹ Mở rộng và Úc Mở rộng. Ông là một trong hai người da màu gốc Phi giành được danh hiệu Grand Slam đơn (tay vợt còn lại là Yannick Noah người Pháp, vô địch Giải quần vợt Pháp Mở rộng năm 1983). Trong cuốn tự truyện vào năm 1979, Jack Kramer, một nhà tài trợ cho quần vợt lâu năm, cũng từng là một tay vợt hàng đầu trong thập niên 1940 đã xếp Ashe là một trong 21 tay vợt xuất sắc nhất mọi thời đại. == Hoạt động sau khi giải nghệ quần vợt == Sau khi giải nghệ, Ashe làm nhiều công việc, bao gồm viết bài cho tạp chí Time, bình luận cho kênh thể thao ABC Sports, sáng lập ra Giải quần vợt trẻ Quốc gia và là đội trưởng đội tuyển quần vợt Mỹ dự Cúp Davis. Năm 1983 Ashe phải thực hiện ca phẫu thuật tim lần thứ hai. Ông có tên trong Nhà lưu danh quần vợt quốc tế năm 1985. Ông còn sáng lập ra Quỹ Arthur Ashe để chống lại bệnh AIDS. == Đời tư == Năm 1988, Ashe phát hiện ra mình bị nhiễm virus HIV từ một lần truyền máu tại một trong hai cuộc phẫu thuật tim. Ông và vợ giấu kín tình trạng bệnh tật của mình cho đến 8 tháng 4 năm 1992, khi một bài báo trên tờ USA Today đề cập đến tình hình sức khoẻ của ông, buộc ông phải công bố tình trạng nhiễm bệnh của mình. Trong năm cuối của cuộc đời, Ashe đã làm nhiều việc kêu gọi sự chú ý của những bệnh nhân bị AIDS toàn thế giới. Hai tháng trước khi mất, ông thành lập Học viện Arthur Ashe vì sức khoẻ thành thị để giúp đỡ những nơi có tình trạng chăm sóc sức khoẻ không tốt. Ashe được tạp chí thể thao Sports Illustrated bình chọn là Nhà thể thao của năm. Ông cũng dành nhiều thời gian cuối đời để viết cuối hồi ký Days of Grace, hoàn thành chỉ chưa đến một tuần trước khi mất. Ashe mất vì biến chứng từ AIDS vào ngày 6 tháng 2 năm 1993. Ông bị toxoplasmosis, một căn bệnh nhiễm trùng liên quan tới AIDS. Dù vậy nguyên nhân chính gây ra cái chết của ông không được công bố rõ ràng. == Vinh danh == Sân trung tâm của Trung tâm quần vợt quốc gia, nơi tổ chức Giải quần vợt Mỹ Mở rộng mang tên ông (sân Arthur Ashe) Năm 2002, học giả Molefi Kete Asante xếp Arthur Ashe trong danh sách 100 người Mỹ gốc Phi vĩ đại nhất. Năm 2005, tạp chí TENNIS Magazine xếp ông là tay vợt thứ 30 trong 40 tay vợt xuất sắc nhất Kỉ nguyên mở. == Các trận chung kết quan trọng == === Grand Slam === ==== Đơn: 7 (3 thắng-4 thua) ==== == Chú thích ==
người mạ.txt
Xin xem các cách dùng khác tại Mạ (định hướng). Người Mạ (có tên gọi khác Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại nam Trung phần. Người Mạ nói tiếng Mạ thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á. == Dân số và địa bàn cư trú == Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng 33.338 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0% tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), thành phố Hồ Chí Minh (72 người). == Kinh tế == Người Mạ làm nương rẫy trồng lúa và cây khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông... Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ. Trong tỉnh Lâm Đồng (huyện Cát Tiên), người Mạ có làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa). Người Mạ nuôi trâu, bò, gà, vịt, ngan... theo cách thả trâu, bò vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới tìm bắt về. Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt nổi tiếng ở nhiều làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao... Ở vùng ven Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông. == Tổ chức cộng đồng == Người Mạ sống thành từng bòn (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu bon là quăng bon (già trưởng làng). Bộ tộc Mạ đã xác lập được chế độ phụ hệ vững chắc trong hôn nhân gia đình. Đây là điều khác nhau giữa người Mạ với người Kơho, Chil, Lạt và Mnông. Lãnh thổ người Mạ đã từng ổn định trong lịch sử, khiến cho một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ. == Hôn nhân gia đình == Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình. == Văn hóa == Kho tàng văn học dân gian Mạ gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo,chữ viết (1990). Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô. == Nhà cửa == Nhà người Mạ không chỉ có những đặc trưng đáng chú ý mà còn có thể "đại diện" cho nhà của người Cờ Ho, Chil trên cao nguyên Lâm Đồng. Mạ là cư dân lâu đời trên mảnh đất này. Hiện nay nhà người Mạ đã có rất nhiều thay đổi. Nhà sàn chỉ còn ở những vùng cao, vùng thấp nhà đất đã chiếm ưu thế. Nhà ở cổ truyền của người Mạ là nhà sàn dài tới 20–30 m (nay đã hiếm). Nay vẫn là nhà sàn nhưng là nhà ngắn của các gia đình nhỏ. Bộ khung nhà với ba vì hai hoặc bốn cột. Kết cấu đơn giản thường là ngoãm tự nhiên và buột lạt. Mái hồi khum tròn nhưng không có "sừng" trang trí. Hai mái chính cũng hơi khum nên mặt cắt của nóc có hình "parabôn". Mái nhà rất thấp nên phần mái bên trên cửa, người ta phải làm vồng lên để ra vào khỏi đụng đầu. Tổ chức mặt bằng sinh hoạt cũng có những đặc điểm đáng chú ý: khu vực giữa nhà là nơi sinh hoạt chung của mọi gia đình (tiếp khách, cúng bái...), nơi này có bàn thờ thần bếp và có một cái cột để buộc ché rượu cần khi tiếp khách. Còn dưới chân vách hậu là một dãy dài những ú, ché đựng rượu cần... Các hộ gia đình ở về hai bên của khu trung tâm. Phần diện tích và không gian trong nhà dành cho các gia đình cũng có những đặc điểm rất dễ nhận: giữa nhà là một kho thóc, mặt sàn kho các mặt sàn nhà khoảng trên 1 mét. Dưới gầm kho thóc đặt bếp. Trên bếp có dựa treo. Giáp vách haậu là sạp dành cho mọi thành viên trong gia đình. Giáp vách tiền là một sạp nhỏ và thấp (khoảng 70–80 cm) trên để bát, đĩa, vỏ bầu khô và các thứ lặt vặt khác. Nhà người Cờ Ho hoặc Chil về hình thức thì nhà của họ cũng giống nhà ngườ Mạ. Cái khác ở cách bố trí trong nhà là giáp vách tiền, cái sạp ở nhà người Mạ thì người Cơ ho còn kết hợp làm chuồng hà. == Trang phục == Có cá tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức. === Trang phục nam === Thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. Aáo có các loại: dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo. === Trang phục nữ === Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy. Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu. Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp. Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Về cơ bản là các sọc: màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh. Nam nữ thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ == Liên kết ngoài ==
lực lượng cảnh sát vũ trang nhân dân trung quốc.txt
Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc (tiếng Trung: 中国人民武装警察部队, ở Trung Quốc hay gọi tắt thành Vũ cảnh (武警, Wǔjǐng)) là một lực lượng cảnh sát quân sự chủ yếu chịu trách nhiệm bảo vệ dân sự và cứu hỏa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như cung cấp hỗ trợ cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong thời chiến. Lực lượng Vũ cảnh chịu sự lãnh đạo của Quốc vụ viện và Ủy ban Quân sự Trung ương. == Lịch sử == Lực lượng vũ cảnh được thành lập năm 1983 với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trong nước và có căn cứ ở khắp Trung Quốc. Kể từ đó đến nay, lực lượng vũ cảnh thường xuyên được huy động để đối phó với sự bất ổn ngày càng gia tăng trong vùng thôn quê Trung Quốc, liên hệ đến các vụ tranh chấp đất đai và phản đối việc cưỡng bách di dời, thường liên hệ đến thành phần nông dân bị đẩy đi chỗ khác để nhà nước dùng đất của họ vào các kế hoạch xây cất. Các chiến sĩ vũ cảnh, được nhận diện qua các cầu vai đỏ, có nhiệm vụ canh gác các cơ sở trọng yếu của nhà nước, và ngay cả chạy theo những người cầm đuốc Thế vận hội Bắc Kinh trong chuyến du hành của ngọn lửa Thế vận quanh thế giới năm 2008. Cũng trong năm 2008, lực lượng vũ cảnh được sử dụng để đàn áp người dân nổi dậy ở Tây Tạng sau khi có bạo động khiến 18 người thiệt mạng. Lực lượng này lại thấy xuất hiện vào tháng 7/2009 khi người Hồi giáo Uyghur đụng độ với người Hán ở Tân Cương khiến gần 200 người thiệt mạng, cuộc bạo động chủng tộc đẫm máu nhất ở Trung Quốc từ nhiều thập niên qua. == Sứ mạng == Trước tình trạng bất ổn nội địa ngày càng gia tăng cũng như với sự lúng túng khi phải đối phó với các sắc dân thiểu số, ban lãnh đạo Trung Quốc khẳng định quyền kiểm soát của mình đối với công an võ trang bằng cách đưa ra một luật mới theo đó nêu rõ việc huy động lực lượng an ninh nòng cốt này của chế độ. Ðạo luật mới, được thông qua vào cuối tháng 8/2009, xác định nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát vũ trang trang gồm khoảng 660.000 người người, thường xuyên được dùng để hỗ trợ lực lượng công an thường. Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào thăm lực lượng vũ cảnh, công an và quân đội ở Tân Cương ngày 25/8/2009, ra lệnh cho họ phải coi việc "giữ gìn ổn định xã hội là công việc cấp thiết nhất." Các chi tiết về luật mới này chưa được tiết lộ, nhưng theo Tân Hoa Xã, hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc, luật này sẽ chỉ định vũ cảnh là thành phần nòng cốt có trách nhiệm đối phó với "bạo loạn, bất ổn, băng đảng tội phạm lớn lao, và các cuộc tấn công của khủng bố," trong khi giới hạn quyền lục soát và tịch thu. Một ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc, thông qua luật này ngày 27/8. Lo ngại về việc giới chức chính quyền địa phương có thể lạm dụng khi huy động đến cảnh sát vũ trang, luật này cũng đưa ra cách thức sử dụng lực lượng này, do Quốc vụ viện và Ủy ban Quân sự Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn chỉ huy quân đội, cùng soạn thảo. Luật mới không cho chính quyền cấp huyện tự ý điều động vũ cảnh như đội quân riêng của mình, siết chặt hơn sự kiểm soát của trung ương đối với một thành phần võ trang nhiều quyền hành và đông đảo này. == Binh chủng == Lực lượng vũ cảnh được chia thành nhiều binh chủng. Mỗi binh chủng đảm nhiệm một lĩnh vực riêng. Binh chủng nội vệ: Đây là binh chủng quan trọng nhất của lực lượng vũ cảnh, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh trong nước. Binh chủng công trình kiến thiết: Đây là binh chủng có nhiệm vụ bảo vệ các công trình quan trọng. Binh chủng này lại gồm: Lực lượng chuyên bảo vệ các cơ sở khai thác-chế biến vàng, kho vàng Lực lượng chuyên bảo vệ các công trình thủy điện, Lực lượng bảo vệ các cảng và công trình giao thông quan trọng. Lực lượng bảo vệ các khu rừng quan trọng Binh chủng an ninh công cộng Lực lượng biên phòng Lực lượng phòng cháy chữa cháy Lực lượng cảnh vệ: Chuyên bảo vệ các cán bộ của Đảng và Nhà nước Trung Quốc == Tham khảo == == Xem thêm == Bộ đội cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốc == Liên kết ngoài == Национальная оборона Китая в 2002 году (Белая книга) Организация народной вооружённой милиции
1996.txt
Theo lịch Gregory, năm 1996 (số La Mã: MCMXCVI) là một năm bắt đầu từ ngày thứ hai. Bản mẫu:Tháng trong năm 1996 == Sự kiện == 1 tháng 1: Jean-Pascal Delamuraz trở thành Tổng thống Thụy Sĩ 1 tháng 1: Slovenia trở thành thành viên của CEFTA 18 tháng 1: Cameroon công bố Hiến pháp mới. 3 tháng 2: Động đất tại Yunnan Sheng, gần Lijiang, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khoảng 300 người chết 6 tháng 2: Một chiếc Boeing 757 rơi tại Birgenair (Thổ Nhĩ Kỳ) 189 người chết 7 tháng 2: Letsie III trở thành Tổng thống Lesotho. 17 tháng 2: Động đất tại Irian Jaya, Indonesia làm 166 người chết 25 tháng 2: Bầu cử tổng thống Guinea Xích Đạo 28 tháng 2: Nga trở thành thành viên Hội đồng châu Âu 9 tháng 3: Jorge Sampaio trở thành Tổng thống Bồ Đào Nha 11 tháng 3: John Howard trở thành lãnh đạo Chính phủ Úc 16 tháng 3: Taki đắc cử Tổng thống Comoros 18 tháng 3: Mathieu Kérékou trở thành Tổng thống Bénin 29 tháng 3: Ahmad Tejan Kabbah trở thành Tổng thống Sierra Leone 5 tháng 5: José María Aznar trở thành Thủ tướng Tây Ban Nha. Tối 10 tháng 5 đến sáng 11 tháng 5: Một nhóm người leo núi chết cóng trên núi Everest. Tổng cộng là 9 người chết 11 tháng 5: Máy bay DC-9 mã hiệu ValuJet 592 bị rơi ở đầm lầy Florida, 110 người chết 12 tháng 6: Bầu cử quốc hội tự do tại Bangladesh. 20 tháng 6: Hiệp ước hợp tác và thương mại giữa Macedonia và Liên minh châu Âu 30 tháng 6: Bầu cử quốc hội tại Mông Cổ 7 tháng 7: Bầu cử tổng thống Niger. 11 tháng 8: nhà tiên tri Baba Vanga qua đời. 29 tháng 8: Một chiếc Tupolev Tu-154 đâm vào núi ở Spitzbergen, Na Uy. Tất cả 141 người trên máy bay đều chết 12 tháng 10: Bầu cử quốc hội New Zealand 17 tháng 10: Nauru trở thành thành viên của UNESCO 27 tháng 10: Petar Stojanovs trở thành Tổng thống Bulgaria 5 tháng 11: Bill Clinton trở thành Tổng thống Hoa Kỳ 7 tháng 11: Một chiếc Boeing 727 rơi tại Lagos, Nigeria. Tất cả 143 người chết 22 tháng 11: Ba Lan gia nhập OECD 1 tháng 12: Bulgaria trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới 1 tháng 12: Bầu cử quốc hội Comoros. == Sinh == 25 tháng 7: Công chúa Maria-Olympia, con gái của Thái tử Pavlos của Hy Lạp và công chúa Marie-Chantal của Hy Lạp 27 tháng 9: Công chúa Iman bat al-Abdullah của Jordan, con trai của vua Abdullah II và hoàng hậu Rania của Jordan 17 tháng 10: Công chúa Marie-Caroline Elisabeth Immaculata, con gái của hoàng tử Alois của Liechtenstein và Sophie công chúa của Bayern == Mất == 4 tháng 1: Bob Flanagan, nhà văn Mỹ và nghệ nhân (s. 1952) 5 tháng 1: Thomas Ruf, chính khách Đức (s. 1911) 6 tháng 1: Kurt Schmücker, chính khách Đức (s. 1919) 8 tháng 1: François Mitterrand, Tổng thống Pháp 1981–1995 (s. 1916) 11 tháng 1: Walter M. Miller, nhà văn Mỹ (s. 1923) 12 tháng 1: Bartel Leendert van der Waerden, nhà toán học Hà Lan (s. 1903) 15 tháng 1: Moshoeshoe II, vua của Lesotho (s. 1938) 19 tháng 1: Ulrich Hausmann, nhà khảo cổ học Đức (s. 1917) 21 tháng 1: Gerry Mulligan, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ nhạc jazz người Mỹ (s. 1927) 25 tháng 1: Ruth Berghaus, nữ đạo diễn Đức (s. 1927) 28 tháng 1: Jerry Siegel, tác gia Mỹ (s. 1914) 28 tháng 1: Joseph Brodsky, thi sĩ, Giải Nobel về văn học (s. 1940) 1 tháng 2: Willi Bäuerle, chính khánh, nghị sĩ quốc hội liên bang Đức (s. 1926) 2 tháng 2: Gene Kelly, vũ công, diễn viên Mỹ (s. 1912) 5 tháng 2: Ludwig Ratzel, chính khách Đức (s. 1915) 7 tháng 2: Gunther Baumann, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1921) 7 tháng 2: Boris Alexandrovich Tchaikovsky, nhà soạn nhạc Nga (s. 1925) 9 tháng 2: August Kühn, nhà văn Đức (s. 1936) 11 tháng 2: Pierre Verger, nhiếp ảnh gia (s. 1902) 13 tháng 2: Martin Balsam, diễn viên Mỹ (s. 1914) 14 tháng 2: Cenek Kottnauer, kỳ thủ cờ vua (s. 1910) 15 tháng 2: McLean Stevenson, diễn viên Mỹ (s. 1928) 17 tháng 2: Hervé Bazin, nhà văn Pháp (s. 1911) 20 tháng 2: Toru Takemitsu, nhà soạn nhạc Nhật Bản (s. 1930) 21 tháng 2: Morton Gould, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nghệ sĩ dương cầm Mỹ (s. 1913) 21 tháng 2: Rudolf Braunburg, nhà văn Đức (s. 1924) 23 tháng 2: Helmut Schön, cầu thủ, huấn luyện viên bóng đá người Đức (s. 1915) 24 tháng 2: Akram al-Haurani, chính khách (s. 1915) 26 tháng 2: Mieczysław Weinberg, nhà soạn nhạc Nga (s. 1919) 27 tháng 2: Sarah Palfrey Cooke, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1912) 3 tháng 3: John Joseph Krol, Hồng y Tổng giám mục Philadelphia, (s. 1910) 3 tháng 3: Marguerite Duras, nữ văn sĩ, tác gia kịch bản, đạo diễn phim người Pháp (s. 1914) 9 tháng 3: George Burns, diễn viên Mỹ (s. 1896) 9 tháng 3: Alfredo Vicente Scherer, Hồng y Tổng giám mục Porto Alegre (s. 1903) 10 tháng 3: Joseph Braunstein, nhạc sĩ, nhà văn (s. 1892) 13 tháng 3: Lucio Fulci, nhà sản xuất, đạo diễn phim Ý (s. 1927) 13 tháng 3: Krzysztof Kieślowski, tác giả kịch bản, đạo diễn phim Ba Lan (s. 1941) 15 tháng 3: Wolfgang Koeppen, nhà văn Đức (s. 1906) 17 tháng 3: René Clément, đạo diễn phim Pháp (s. 1913) 18 tháng 3: Odysseas Elytis, nghệ nhân Hy Lạp (s. 1911) 18 tháng 3: Bá tước Maxl, diễn viên Đức (s. 1933) 19 tháng 3: Colin Pittendrigh, nhà sinh vật học Mỹ (s. 1918) 23 tháng 3: C. C. Bergius, nhà văn Đức (s. 1910) 26 tháng 3: Käte Strobel, nữ chính khách Đức (s. 1907) 26 tháng 3: David Packard, đồng sáng lập tập đoàn Hewlett-Packard (s. 1912) 28 tháng 3: Hans Blumenberg, triết gia Đức (s. 1920) 2 tháng 4: Karl Gößwald, nhà động vật học Đức (s. 1907) 4 tháng 4: Barney Ewell, vận động viên điền kinh Mỹ, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (s. 1918) 6 tháng 4: Greer Garson, nữ diễn viên Anh (s. 1904) 16 tháng 4: Madeleine Bourdouxhe, nhà văn nữ Bỉ (s. 1906) 17 tháng 4: Paul Bleiß, chính khách Đức (s. 1904) 17 tháng 4: José Luis López-Aranguren, triết gia, nhà văn tiểu luận (s. 1909) 18 tháng 4: Piet Hein, nhà khoa học, nhà toán học, nhà phát minh Đan Mạch, (s. 1905) 23 tháng 4: P. L. Travers, nhà văn nữ Úc (Mary Poppins) (s. 1899) 29 tháng 4: Peter Griese, nhà văn khoa học giả tưởng Đức (s. 1938) 1 tháng 5: Irene Koss, nữ diễn viên (s. 1928) 2 tháng 5: Christopher Bird, nhà văn, nhà thực vật học Mỹ (s. 1928) 3 tháng 5: Hermann Kesten, nhà văn Đức (s. 1900) 6 tháng 5: Léon-Joseph Suenens, nhà thần học Bỉ, Hồng y Tổng giám mục Mecheln (s. 1904) 10 tháng 5: Gerd Duwner, diễn viên Đức (s. 1925) 11 tháng 5: Ademir, cầu thủ bóng đá Brasil (s. 1922) 11 tháng 5: Nnamdi Azikiwe, chính khách (tổng thống) (s. 1904) 13 tháng 5: Hans Sauer, nhà phát minh Đức (s. 1923) 14 tháng 5: Ludwig Preiß, chính khách Đức (s. 1910) 17 tháng 5: Nikolaus Utermöhlen, nhạc sĩ Đức (s. 1958) 23 tháng 5: Bernhard Klodt, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1926) 23 tháng 5: Peter Pasetti, diễn viên Đức (s. 1916) 29 tháng 5: Antonín Mrkos, nhà thiên văn học Séc (s. 1918) 30 tháng 5: Léon-Etienne Duval, Hồng y Tổng giám mục Algier (s. 1903) 31 tháng 5: Timothy Leary, nhà tâm lý học Mỹ (s. 1920) 1 tháng 6: Otto Meier, nghệ nhân Đức (s. 1903) 2 tháng 6: Amos Tversky, nhà tâm lý học (s. 1937) 3 tháng 6: Tito Okello, nhà lãnh đạo quốc gia của Uganda 1985–1986 (s. 1914) 5 tháng 6: Jan Kerouac, nữ tác giả Mỹ (s. 1952) 6 tháng 6: George Davis Snell, nhà y học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel về y học (s. 1903) 8 tháng 6: Gustav Heckmann, triết gia Đức (s. 1898) 11 tháng 6: Brigitte Helm, nữ diễn viên Đức (s. 1908) 15 tháng 6: Paul Schultz-Liebisch, nghệ sĩ tạo hình, họa sĩ Đức (s. 1905) 17 tháng 6: Reinhard Lettau, nhà văn (s. 1929) 17 tháng 6: Thomas Samuel Kuhn, nhà vật lý học Mỹ (s. 1922) 21 tháng 6: Gerhard Wendland, ca sĩ Đức (s. 1921) 26 tháng 6: Veronica Guerin, nữ nhà báo Ireland (s. 1958) 28 tháng 6: Julio Bolbochan, kỳ thủ cờ vua người Argentina (s. 1920) 1 tháng 7: Ota Janeček, họa sĩ vẽ tranh minh họa Séc (s. 1919) 2 tháng 7: Margaux Hemingway, nữ diễn viên, người mẫu Mỹ (s. 1955) 5 tháng 7: Predrag Ostojić, kỳ thủ (s. 1938) 5 tháng 7: Clyde E. Wiegand, nhà vật lý học Mỹ (s. 1915) 7 tháng 7: J. Hermann Siemer, chính khách Đức (s. 1902) 7 tháng 7: Friedrich von Stülpnagel, vận động viên điền kinh Đức (s. 1913) 8 tháng 7: Richard Groschopp, đạo diễn phim (s. 1906) 8 tháng 7: Adelheid Duvanel, nhà văn Thụy Sĩ (s. 1936) 12 tháng 7: Gottfried von Einem, nhà soạn nhạc Áo (s. 1918) 14 tháng 7: Jean Rudolf von Salis, nhà văn, nhà sử học Thụy Sĩ (s. 1901) 15 tháng 7: Erwin Fischer, luật gia Đức (s. 1904) 16 tháng 7: Adolf von Thadden, chính khách Đức (s. 1921) 17 tháng 7: Chas Chandler, nhạc sĩ, nhà sản xuất người Anh (s. 1938) 18 tháng 7: Hans Katzer, chính khách Đức (s. 1919) 22 tháng 7: Tamara Danz, nữ ca sĩ (s. 1952) 22 tháng 7: Peter Ludwig, nhà tư bản công nghiệp Đức (s. 1925) 30 tháng 7: Magda Schneider, nữ diễn viên Đức (s. 1909) 31 tháng 7: Hans Schwier, chính khách Đức (s. 1926) 1 tháng 8: Tadeus Reichstein, nhà hóa học Thụy Sĩ (s. 1897) 1 tháng 8: Frida Boccara, nữ ca sĩ Pháp (s. 1940) 2 tháng 8: Michel Debré, chính khách Pháp (s. 1912) 8 tháng 8: Joseph Asajirō Satowaki, Hồng y Tổng giám mục Nagasaki (s. 1904) 8 tháng 8: Nevill F. Mott, nhà vật lý học Anh (s. 1905) 9 tháng 8: Frank Whittle, nhà phát minh, doanh nhân, phi công người Anh (s. 1907) 11 tháng 8: Rafael Kubelík, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng người Thụy Sĩ gốc Séc (s. 1914) 13 tháng 8: António de Spínola, chính khách, tướng lĩnh Bồ Đào Nha (s. 1910) 13 tháng 8: David Tudor, nghệ sĩ dương cầm Mỹ (s. 1926) 14 tháng 8: Sergiu Celibidache, nhạc trưởng người Romania (s. 1912) 14 tháng 8: Camilla Horn, nữ diễn viên Đức (s. 1903) 15 tháng 8: Max Thurian, nhà thần học Thụy Sĩ (s. 1921) 23 tháng 8: Jurriaan Andriessen, nhà sư phạm, nhà soạn nhạc Hà Lan (s. 1925) 25 tháng 8: Reinhard Libuda, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1943) 1 tháng 9: Vagn Holmboe, nhà soạn nhạc Đan Mạch (s. 1909) 2 tháng 9: Otto Luening, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1900) 5 tháng 9: Anselm Strauss, nhà xã hội học Mỹ (s. 1916) 9 tháng 9: Bill Monroe, nhạc sĩ Mỹ (s. 1911) 10 tháng 9: Hans List, doanh nhân Áo (s. 1896) 13 tháng 9: Tupac Shakur, nhạc sĩ Mỹ (s. 1971) 16 tháng 9: Gene Nelson, tác giả kịch bản, nhà sản xuất phim, đạo diễn phim Mỹ (s. 1920) 17 tháng 9: Spiro Theodore Agnew, chính khách Mỹ (s. 1918) 19 tháng 9: Helmut Heißenbüttel, nhà văn Đức (s. 1921) 20 tháng 9: Paul Erdős, nhà toán học (s. 1913) 21 tháng 9: Erika Cremer, nhà nữ vật lý học Đức (s. 1900) 21 tháng 9: Claus Holm, diễn viên Đức (s. 1918) 23 tháng 9: Fujiko F. Fujio, hoạ sĩ truyện tranh Nhật Bản, tác giả bộ truyện tranh nổi tiếng Đôrêmon (s. 1933. 26 tháng 9: Heinz Engelmann, diễn viên Đức (s. 1911) 2 tháng 10: Joonas Kokkonen, nhà soạn nhạc Phần Lan (s. 1921) 2 tháng 10: Helmut Artzinger, chính khách Đức (s. 1912) 9 tháng 10: Joachim Wohlgemuth, nhà văn Đức (s. 1932) 11 tháng 10: Lars Valerian Ahlfors, nhà toán học (s. 1907) 11 tháng 10: William Vickrey, nhà kinh tế học Mỹ (s. 1914) 12 tháng 10: Roger Lapébie, tay đua xe đạp Pháp (s. 1911) 12 tháng 10: René Lacoste, vận động viên quần vợt Pháp (s. 1904) 13 tháng 10: Henri Nannen, nhà xuất bản người Đức (s. 1913) 13 tháng 10: Elisabeth Pitz-Savelsberg, nữ chính khách Đức 16 tháng 10: Eric Malpass, nhà văn Anh (s. 1910) 17 tháng 10: Berthold Goldschmidt, nhà soạn nhạc Đức (s. 1903) 17 tháng 10: Gerhard Holtz-Baumert, nhà văn Đức (s. 1927) 18 tháng 10: Hans Drachsler, chính khách Đức (s. 1916) 18 tháng 10: Otto Heinrich Kühner, nhà văn Đức (s. 1921) 19 tháng 10: Josef Becker, chính khách Đức (s. 1905) 24 tháng 10: Gladwyn Jebb, chính khách Anh (s. 1900) 28 tháng 10: Franca Magnani, nữ nhà báo Ý (s. 1925) 31 tháng 10: Marcel Carné, đạo diễn phim Pháp (s. 1909) 2 tháng 11: Eva Cassidy, nữ ca sĩ Mỹ (s. 1963) 14 tháng 11: Joseph Louis Bernardin, Hồng y Tổng giám mục Chicago (s. 1928) 15 tháng 11: Alger Hiss, luật sư Mỹ (s. 1904) 16 tháng 11: Holger Hagen, diễn viên Đức (s. 1915) 21 tháng 11: Abdus Salam, nhà vật lý học, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1926) 22 tháng 11: Paul Rand, nhà thiết kế Mỹ (s. 1914) 22 tháng 11: Garrett Birkhoff, nhà toán học Mỹ (s. 1911) 22 tháng 11: Maria Casarès, nữ diễn viên Pháp (s. 1922) 26 tháng 11: Hans Klein, chính khách Đức (s. 1931) 26 tháng 11: Diedrich Wattenberg, nhà thiên văn học Đức, nhà xuất bản (s. 1909) 28 tháng 11: Donald McNeill, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1918) 2 tháng 12: Jean Jérôme Hamer, Hồng y Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1916) 3 tháng 12: Babrak Karmal, chính khách (s. 1929) 9 tháng 12: Heinrich Schmidt-Barrien, nhà văn Đức (s. 1902) 10 tháng 12: Faron Young, ca sĩ nhạc country người Mỹ (s. 1932) 12 tháng 12: Vance Packard, nhà xuất bản Mỹ (s. 1914) 15 tháng 12: Tristan Keuris, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ Hà Lan (s. 1946) 16 tháng 12: Laurens van der Post, nhà văn (s. 1906) 19 tháng 12: Marcello Mastroianni, diễn viên Ý (s. 1924) 20 tháng 12: Carl Sagan, nhà thiên văn học Mỹ (s. 1934) 21 tháng 12: Christine Brückner, nhà văn nữ Đức (s. 1921) 26 tháng 12: Narciso Jubany Arnau, Hồng y Tổng giám mục Barcelona (s. 1913) 30 tháng 12: Jack Nance, diễn viên Mỹ (s. 1943) == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Robert Curl, Sir Harold Kroto, Richard Smalley Văn học - Wislawa Szymborska Hòa bình - Carlos Felipe Ximenes Belo và José Ramos Horta Vật lý - David M. Lee, Douglas D. Osheroff, Robert C. Richardson Y học - Peter C. Doherty, Rolf M. Zinkernagel Kinh tế -James Mirrlees, William Vickrey == Xem thêm == Thế giới trong năm 1996, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
1988.txt
Theo lịch Gregory, năm 1900 TCN (số La Mã: MCMLXXXVIII) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ 6. Đây là năm trong thế kỷ 20 có số La Mã nhiều chữ số nhất (11 chữ số). == Sự kiện == 1 tháng 1: Otto Stich trở thành tổng thống Thụy Sĩ 14 tháng 3: Hải chiến Trường Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam, trong đó Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa do Việt Nam đang nắm giữ. 18 tháng 3: Nhật thực toàn phần ở phía tây Thái Bình Dương 15 tháng 5: Liên Xô bắt đầu rút khỏi Afghanistan 3 tháng 7: Một chiếc Airbus A300 của hãng hàng không Iran Air bị tàu chiến Mỹ USS Vincennes (CG-49) bắn nhầm, 290 người chết 5 tháng 8: Ngưng bắn giữa Angola, Cuba và Cộng hòa Nam Phi 20 tháng 8: Động đất tại Nepal và Ấn Độ khoảng 1450 người chết 18 tháng 9: Phong trào dân chủ tại Myanma bị dập tắt 5 tháng 10: Hiến pháp dân chủ tại Brasil 8 tháng 11: George H. W. Bush được bầu làm tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ 7 tháng 12: Armenia: động đất, khoảng 25.000 nạn nhân tử vong, 15.000 người bị thương và 400.000 mất nhà cửa 8 tháng 12: Một chiếc Fairchild-Republic A-10 của Không quân Hoa Kỳ rơi tại thành phốRemscheid (Đức). Phi công và 6 người khác chết, 50 người bị thương. 21 tháng 12: Chuyến bay Pan Am 103 bị đánh bom và rơi xuống ngôi làng Lockerbie, Scotland, làm 270 người trên máy bay và dưới đất thiệt mạng. == Sinh == 5 tháng 1: Emiliano Molina, cầu thủ bóng đá Argentina (mất 2005) 8 tháng 2: Arik Braun, người đánh cờ Đức 18 tháng 2: Rihanna, ca sĩ Mỹ gốc Barbados 22 tháng 2: Sebastian Tyrala, cầu thủ bóng đá Đức 10 tháng 4: Haley Joel Osment, diễn viên Mỹ 16 tháng 4: Peter Liebers, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 5 tháng 5: Skye Sweetnam, nữ ca sĩ nhạc rock Canada 2 tháng 6: Sergio Aguero, cầu thủ bóng đá Argentina 13 tháng 6: Isaac, ca sĩ Việt Nam 29 tháng 6: Ngô Kiến Huy, ca sĩ Việt Nam. 13 tháng 7:Maya (Ca sĩ),nữ ca sĩ nhạc R&B của Việt Nam 14 tháng 7: James Vaughan, cầu thủ bóng đá Anh 5 tháng 8: Federica Pellegrini, nữ vận động viên bơi lội Ý 6 tháng 8: Mai Phương Thúy, Hoa hậu Việt Nam năm 2006. 8 tháng 8: Beatrice, công chúa của York 18 tháng 8: G-Dragon,Kw­on Ji Yong, ca sĩ Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc Big Bang 21 tháng 8: Robert Lewandowski, cầu thủ bóng đá Ba Lan 24 tháng 8: Rupert Grint, diễn viên Anh 27 tháng 8: Alexa Vega, nữ diễn viên Mỹ 5 tháng 9: Nuri Şahin, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 27 tháng 9: David Baramidze, kiện tướng cờ vua Đức 17 tháng 10: Mansoor Bedal Ali, vận động viên điền kinh 13 tháng 10: Đông Nhi, nữ ca sĩ Việt Nam 15 tháng 10: Mesut Ozil,cầu thủ bóng đá Đức 28 tháng 11: Richie Stringini, nam ca sĩ Mỹ 30 tháng 11: Julie Zangenberg, nữ diễn viên Đan Mạch 17 tháng 12: Takanashi Rin, nữ diễn viên, ca sĩ Nhật Bản == Mất == 1 tháng 1: Rolf Presthus, chính trị gia, luật gia Na Uy (sinh 1936) 3 tháng 1: Gaston Eyskens, chính khách Bỉ, thủ tướng (sinh 1905) 3 tháng 1: Franz Muxeneder, diễn viên (sinh 1920) 4 tháng 1: Friedrich Joloff, diễn viên Đức (sinh 1908) 5 tháng 1: Pete Maravich, cầu thủ bóng rổ Mỹ (sinh 1947) 7 tháng 1: Trevor Howard, diễn viên Anh (sinh 1916) 10 tháng 1: Hilde Bussmann, nữ vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1914) 11 tháng 1: Isidor Isaac Rabi, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1898) 12 tháng 1: Piero Taruffi, người đua mô tô và ô tô (sinh 1906) 14 tháng 1: Pi Scheffer, nhà soạn nhạc Hà Lan, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1909) 14 tháng 1: Georgy Maximilianovich Malenkov, chính trị gia Xô Viết (sinh 1902) 15 tháng 1: Seán MacBride, chính trị gia Ireland, người nhận Giải thưởng Nobel về hòa bình (sinh 1904) 19 tháng 1: Jewgeni Alexandrowitsch Mrawinski, người điều khiển dàn nhạc Nga (sinh 1903) 26 tháng 1: Stephan Koren, chính trị gia Áo (sinh 1919) 29 tháng 1: Seth Neddermeyer, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1907) 1 tháng 2: Johannes Bours, nhà thần học Công giáo La Mã, nhà văn (sinh 1913) 1 tháng 2: Heather O'Rourke, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1975) 2 tháng 2: Solomon, nghệ sĩ dương cầm Anh (sinh 1902) 3 tháng 2: Radamés Gnattali, nhạc sĩ Brasil, nhà soạn nhạc (sinh 1906) 4 tháng 2: Willi Kollo, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1904) 5 tháng 2: Stefan Dittrich, chính trị gia Đức (sinh 1912) 10 tháng 2: Lothar Malskat, họa sĩ (sinh 1913) 12 tháng 2: Adolf Bieringer, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1928) 14 tháng 2: Frederick Loewe, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1904) 15 tháng 2: Richard Feynman, nhà vật lý học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel (sinh 1918) 15 tháng 2: Neil R. Jones, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng (sinh 1909) 19 tháng 2: René Char, thi sĩ Pháp (sinh 1907) 19 tháng 2: André Frédéric Cournand, nhà y học (sinh 1895) 24 tháng 2: Memphis Slim, ca sĩ nhạc blues Mỹ (sinh 1915) 24 tháng 2: Bljuma Wulfowna Seigarnik, nhà nữ tâm lý học Nga (sinh 1900) 25 tháng 2: Helmut Echternach, mục sư, nhà thần học Tin Lành, Giám mục (sinh 1907) 3 tháng 3: Sewall Wright, nhà sinh vật học Mỹ (sinh 1889) 9 tháng 3: Kurt Georg Kiesinger, chính trị gia Đức, 1966–1969, thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức (sinh 1904) 13 tháng 3: John Holmes, diễn viên phim khiêu dâm Mỹ (sinh 1944) 14 tháng 3: Reinhold Ebertin, nhà chiêm tinh Đức (sinh 1901) 14 tháng 3: Rudolf Gramlich, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1908) 15 tháng 3: Peter Lühr, diễn viên Đức (sinh 1908) 20 tháng 3: Gil Evans, nhạc sĩ nhạc jazz Canada (sinh 1912) 21 tháng 3: Hans Fronius, họa sĩ Áo, họa sĩ vẽ tranh minh họa (sinh 1903) 22 tháng 3: Albert Benz (Komponist), nhà soạn nhạc Thụy Sĩ, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1927) 30 tháng 3: Edgar Faure, chính trị gia Pháp (sinh 1908) 31 tháng 3: William McMahon, chính trị gia Úc, thủ tướng (sinh 1908) 1 tháng 4: Oliver Hassencamp, diễn viên, tác giả (sinh 1921) 3 tháng 4: Dieter Mauritz, vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1918) 3 tháng 4: Martin Wagenschein, nhà sư phạm, nhà vật lý học, nhà toán học (sinh 1896) 4 tháng 4: Herbert Heinicke, người đánh cờ (sinh 1905) 7 tháng 4: Cesar Bresgen, nhà soạn nhạc Áo (sinh 1913) 9 tháng 4: Brook Benton, ca sĩ nhạc soul Mỹ (sinh 1931) 12 tháng 4: Alan Stewart Paton, nhà văn Nam Phi (sinh 1903) 14 tháng 4: Endre Székely, nhà soạn nhạc Hungary (sinh 1912) 15 tháng 4: Kenneth Williams, diễn viên Anh (sinh 1926) 21 tháng 4: I A. L. Diamond, tác giả kịch bản Mỹ (sinh 1920) 22 tháng 4: Ulrich Leman, họa sĩ Đức (sinh 1885) 25 tháng 4: Clifford Simak, nhà báo, tác giả (sinh 1904) 2 tháng 5: Berthold Koch, người đánh cờ Đức (sinh 1899) 4 tháng 5: Stanley William Hayter, họa sĩ Anh, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1901) 7 tháng 5: Conny Freundorfer, vận động viên bóng bàn Đức (sinh 1936) 13 tháng 5: Chet Baker, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ, nam ca sĩ, nhà soạn nhạc (sinh 1929) 13 tháng 5: Willem Drees, chính trị gia Hà Lan (sinh 1886) 25 tháng 5: Karl A. Wittfogel, nhà xã hội học Đức, triết gia (sinh 1896) 27 tháng 5: Vladimír Menšík, diễn viên Séc (sinh 1929) 29 tháng 5: Siaka Stevens, cựu tổng thống của Sierra Leone (sinh 1905) 1 tháng 6: Herbert Feigl, triết gia (sinh 1902) 9 tháng 6: Willy Bartsch, chính trị gia Đức (sinh 1905) 12 tháng 6: Marcel Poot, nhà soạn nhạc Bỉ, giáo sư (sinh 1901) 23 tháng 6: Martin Gregor-Dellin, nhà văn Đức (sinh 1926) 25 tháng 6: Hillel Slovak, nhạc sĩ Mỹ (sinh 1962) 26 tháng 6: Hans Urs von Balthasar, nhà thần học Công giáo người Thụy Sĩ, Hồng y (sinh 1905) 1 tháng 7: Anton Leader, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất phim (sinh 1913) 2 tháng 7: Johann Baptist Gradl, chính trị gia Đức (sinh 1904) 2 tháng 7: Eddie "Cleanhead" Vinson, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1917) 6 tháng 7: Hans Gutzwiller, nhà ngữ văn Thụy Sĩ (sinh 1913) 7 tháng 7: Paula Mollenhauer, nữ vận động viên điền kinh Đức (sinh 1908) 8 tháng 7: Raymond Barbuti, vận động viên điền kinh, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1905) 12 tháng 7: Michael Jary, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1906) 12 tháng 7: Joshua Logan, đạo diễn Mỹ (sinh 1908) 18 tháng 7: Christa Päffgen, người mẫu Đức, nữ ca sĩ (sinh 1938) 27 tháng 7: Brigitte Horney, nữ diễn viên Đức (sinh 1911) 1 tháng 8: Louis-Jean Guyot, tổng Giám mục của Toulouse, Hồng y Công giáo (sinh 1905) 2 tháng 8: Raymond Carver, tác giả Mỹ (sinh 1938) 9 tháng 8: Paul Ruegger, luật sư Thụy Sĩ (sinh 1897) 9 tháng 8: Giacinto Scelsi, nhà soạn nhạc Ý (sinh 1905) 10 tháng 8: Arnulfo Arias, tổng thống Panama (sinh 1901) 11 tháng 8: Jean-Pierre Ponnelle, đạo diễn phim Pháp (sinh 1932) 11 tháng 8: Alfred Kelbassa, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1925) 11 tháng 8: Pauline Lafont, nữ diễn viên Pháp (sinh 1963) 14 tháng 8: Robert Calvert, nghệ nhân Anh, thi sĩ, diễn viên, nhạc sĩ (sinh 1945) 17 tháng 8: Mohammed Zia ul-Haq, tổng thống Pakistan (sinh 1924) 17 tháng 8: Bruno Mathsson, kiến trúc sư, nhà thiết kế (sinh 1907) 18 tháng 8: Frederick Ashton, biên đạo múa (sinh 1904) 24 tháng 8: Kurt Zips, diễn viên Áo (sinh 1922) 29 tháng 8: Lưu Quang Vũ, nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại của Việt Nam. 29 tháng 8: Xuân Quỳnh,nhà thơ nữ Việt Nam. 1 tháng 9: Luis Walter Alvarez, nhà vật lý học Mỹ, Giải Nobel (sinh 1911) 4 tháng 9: Oda Schaefer, nhà văn nữ Đức (sinh 1900) 5 tháng 9: Ann-Charlott Settgast, nhà văn nữ Đức (sinh 1921) 5 tháng 9: Gert Fröbe, diễn viên Đức (sinh 1913) 6 tháng 9: Axel von Ambesser, đạo diễn phim (sinh 1910) 13 tháng 9: Gerd Hornberger, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1910) 21 tháng 9: Henry Koster, đạo diễn phim Đức (sinh 1905) 21 tháng 9: Walter Vogt, nhà văn (sinh 1927) 26 tháng 9: Branko Zebec, cầu thủ bóng đá (sinh 1929) 2 tháng 10: Peter Kilian, nhà văn Thụy Sĩ (sinh 1911) 3 tháng 10: Franz Josef Strauß, chính trị gia Đức (sinh 1915) 4 tháng 10: Geoffrey Household, tác giả (sinh 1900) 7 tháng 10: Otto Arnholz, chính trị gia (sinh 1894) 7 tháng 10: Heinrich Maria Janssen, Giám mục Đức (sinh 1907) 8 tháng 10: Ernst Hermann Meyer, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1905) 9 tháng 10: Felix Wankel, nhà phát minh động cơ Wankel (sinh 1902) 10 tháng 10: Reinhart Wolf, nhiếp ảnh gia Đức (sinh 1930) 11 tháng 10: Max Imdahl, sử gia về nghệ thuật Đức (sinh 1925) 12 tháng 10: Trần Duy Hưng, Cố Chủ tịch Thành phố Hà Nội (sinh 16 tháng 1 năm 1912) 19 tháng 10: Son House, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1902) 20 tháng 10: Sheila Scott, nữ phi công Anh (sinh 1922) 27 tháng 10: Curt Herzstark, nhà phát minh (sinh 1902) 27 tháng 10: Charles Hawtrey, diễn viên Anh (sinh 1914) 28 tháng 10: Pietro Annigoni, họa sĩ Ý (sinh 1910) 29 tháng 10: Thomas Benjamin Cooray, tổng Giám mục của Colombo, Hồng y (sinh 1901) 30 tháng 10: Heinz Heckhausen, nhà tâm lý học Đức (sinh 1926) 30 tháng 10: Ernst Fritz Fürbringer, diễn viên Đức, diễn viên (sinh 1900) 31 tháng 10: George Eugene Uhlenbeck, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1900) 9 tháng 11: Mario Nasalli Rocca di Corneliano, Hồng y Công giáo La Mã (sinh 1903) 12 tháng 11: Tomasz Sikorski, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1939) 13 tháng 11: Antal Doráti, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1906) 14 tháng 11: Takeo Miki, thủ tướng thứ 66 của Nhật Bản (sinh 1907) 22 tháng 11: Erich Fried, nhà thơ trữ tình, dịch giả, nhà văn tiểu luận (sinh 1921) 23 tháng 11: Wieland Herzfelde, nhà xuất bản Đức, tác giả, nhà xuất bản (sinh 1896) 24 tháng 11: Joachim Fernau, nhà văn Phổ, họa sĩ (sinh 1909) 25 tháng 11: Alphaeus Philemon Cole, nghệ nhân Mỹ, họa sĩ vẽ tranh minh họa (sinh 1876) 27 tháng 11: John Carradine, diễn viên Mỹ (sinh 1906) 27 tháng 11: Johannes Hendrikus Donner, kiện tướng cờ vua Hà Lan (sinh 1927) 29 tháng 11: Hans Scholz, nhà văn Đức, nhà báo, họa sĩ (sinh 1911) 3 tháng 12: Thawal Thamrong Navaswadhi, chính trị gia Thái Lan, thủ tướng (sinh 1901) 5 tháng 12: August Lenz, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1910) 16 tháng 12: Sylvester James, nhạc sĩ Mỹ (sinh 1947) 21 tháng 12: Gottfried Amann, nhà lâm học Đức (sinh 1901) 23 tháng 12: Hermann Heimpel, nhà sử học Đức (sinh 1901) 23 tháng 12: Georg Kurlbaum, chính trị gia Đức (sinh 1902) 25 tháng 12: Evgeny Kirillovich Golubev, nhà soạn nhạc Nga (sinh 1910) 27 tháng 12: Hal Ashby, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1929) 30 tháng 12: Isamu Noguchi, nhà điêu khắc Mỹ (sinh 1904) == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Johann Deisenhofer, Robert Huber, Hartmut Michel Văn học - Naguib Mahfouz Hòa bình - Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc Vật lý - Leon M. Lederman, Melvin Schwartz, Jack Steinberger Y học - Sir James W. Black, Gertrude B. Elion, George H. Hitchings Kinh tế - Maurice Allais == Xem thêm == Thế giới trong năm 1988, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
giải quần vợt wimbledon 2015 - đơn nam.txt
Novak Djokovic là đương kim vô địch, và thành công bảo vệ gianh hiểu này bởi đánh bại Roger Federer ở trận tái đáu trận chung kết 2014, 7–6(7–1), 6–7(10–12), 6–4, 6–3. Với gianh hiệu thứ ba của Djokovic's tại Wimbledon và danh hiệu Grand Slam đơn thứ 9, cũng như chiến thắng lớn thứ hai của ông trong năm. Nếu giành chức vô địch, Federer đã giành chiến thắng để trở thành người đầu tiên giành Wimbledon tám lần. Federer became the first player to reach 10 finals in a single Grand Slam. Nhà vô địch 2002 Lleyton Hewitt đã xuất hiện chơi trận chung kết Wimbledon, thua tay vợt Jarkko Nieminen (Người cũng chơi trận chung kết Wimbledon) chơi 5 séc ở vòng một. Ở vòng hai, tay vợt hạng 102 người Đức là Dustin Brown khó chịu khi đấu với tay vợt số 10 thế giới lúc đấy Rafael Nadal, người đã từng thắng Wimbledon năm 2008 và 2010. Brown bị đánh bại trước đây bởi Nadal tại Gerry Weber Open 2014 ở Halle, đó là thời gian khác duy nhất hai người đã chơi với nhau. Đây là năm thứ tư liên tiếp, khi đó Nadal phải rời khỏi giải đấu khi thua 1 tay vợt xếp hạng top 100 hoặc thấp hơn: trước đây anh đã thua Lukas Rosol (xếp hạng 100 lúc đó) ở 2012, Steve Darcis (hạng 135) ở 2013, và Nick Kyrgios (hạng 144) ở 2014. Đây là lần đâu tiên kể từ Mỹ Mở rộng 2002 nơi tay vợt David Ferrer (thứ 8 thế giới) đã không tham gia trong khi anh rút lui vì chấn thương khuỷu tay xảy ra trong giải đấu trước đó Queen's Club Championships 2015. Điều này đã kết thúc Ferrer tham dự 50 lần liên tiếp của Grand Slam. == Hạt giống == Nhấn vào số hạt giống của cặp vận động viên để tới phần thi đấu của họ. == Vòng loại == == Bốc thăm == === Chung kết === === Nửa trên === ==== Nhánh 1 ==== ==== Nhánh 2 ==== ==== Nhánh 3 ==== ==== Nhánh 4 ==== === Nửa dưới === ==== Nhánh 5 ==== ==== Nhánh 6 ==== ==== Nhánh 7 ==== ==== Nhánh 8 ==== == Quốc gia tham dự == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bốc thăm chính Bản mẫu:ATP World Tour 2015
tự do tôn giáo ở việt nam.txt
Tự do tôn giáo là quyền được thực hiện các hành vi tôn giáo, theo đuổi một tín ngưỡng của một cá nhân một cách tự do. Nó được nhiều người cho là một trong những quyền tự do căn bản của con người. Quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam được ghi nhận trong hiến pháp, ở điều 70 như sau: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Theo quy định của nhà nước Việt Nam, hoạt động tôn giáo cần tuân theo hiến pháp và pháp luật. Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành sau khi được quốc hội thông qua. Theo pháp lệnh này, các giáo hội chủ động quyết định về nhân sự lãnh đạo giáo hội từ cấp trung ương đến cơ sở; việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm và thuyên chuyển chức sắc được các tổ chức Giáo hội thực hiện theo quy định tại hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và thông báo, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (điều 22). Cũng theo đó, tổ chức tôn giáo nào có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật, có tổ chức nhân sự thích ứng thì được phép hoạt động (điều 16). Mặc dù nhà nước CHXHCNVN có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được ghi vào Hiến pháp, nhưng những hạn chế của nhà cầm quyền với các tôn giáo vẫn còn gay gắt. == Một số diễn biến == Một số chức sắc tôn giáo, trong đó một số thuộc giáo hội chưa được phép hoạt động, bị bắt với lý do, theo nhà nước Việt Nam, vi phạm pháp luật dân sự hoặc hoạt động chính trị trái phép. Tổ chức Quan sát Nhân quyền (Human Rights Watch) thu thập một số báo cáo về các giáo hội không đăng ký trên vùng Tây Nguyên bị san bằng và một số tín đồ bị buộc từ bỏ đạo. Linh mục Nguyễn Văn Lý, một tu sĩ được ân xá ngày 31 tháng 1 năm 2005, vốn bị kết án 15 năm tù (và 2 lần giảm án 5 năm) sau khi gửi thư điều trần tới Ủy ban Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế. Ông bị khởi tố với hai tội danh: "không chấp hành quyết định quản chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" và "phá hoại chính sách đại đoàn kết." Tháng 2 năm 2006, linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị quản chế tại Bến Cũi, Thừa Thiên Huế, cũng với tội danh nêu trên. Những lãnh đạo của Giáo hội Việt Nam thống nhất, vốn không được nhà nước thừa nhận đã bị cầm cố trong chùa của họ suốt nhiều năm. Tuy nhiên nhà nước Việt Nam phủ nhận việc quản thúc này. Một số vị lãnh đạo và tín đồ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng đã bị giam giữ nhiều năm vì nỗ lực chống việc chính quyền đòi quyền tuyệt đối kiểm soát Giáo hội. Philip Taylor, một nhà nhân học ở Đại học Quốc gia Úc và là chuyên gia về tôn giáo Việt Nam, nhận định: "Tôn giáo phát triển ở Việt Nam ngày nay, khi xét về số lượng tín đồ và sự đa dạng tín ngưỡng". Nếu như trong thập niên 1980, ít ai đi dự các buổi lễ ở nhà thờ Công giáo và Tin lành thì nay chúng chật cứng người. Năm 2001, Giáo hội Tin lành miền Nam Việt Nam lần đầu tiên được chính thức công nhận. Các ngôi chùa mới xuất hiện trên khắp nước. Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và nhiều tổ chức tự do tôn giáo quốc tế khác cho rằng ở Việt Nam quyền tự do tôn giáo còn nhiều hạn chế. Ngày 06 tháng 01 năm 2011, Đại sứ Michael W.Michalak đã có cuộc họp báo kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam và trao đổi thêm về nhân quyền, theo đó ông khẳng định "về lĩnh vực nhân quyền, chúng ta đã thấy những tiến bộ, nét tích cực từ phía Việt Nam như việc Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong việc giảm nghèo hoặc mở rộng hoạt động của các nhóm tôn giáo". Ông cũng không quên nói thêm là "cũng còn những điều quan ngại". == Phái đoàn Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo tới thăm Việt Nam 2014 == Một phái đoàn LHQ về tự do tín ngưỡng, được Việt Nam mời thăm từ ngày 21 đến 31 tháng 7. Ngày cuối, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói chuyến thăm của phái đoàn thể hiện "thiện chí, thái độ hợp tác, cởi mở của Chính phủ Việt Nam". Tuy nhiên, đặc phái viên của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo Heiner Bielefeldt than phiền trong buổi phỏng vấn với đài Deutsche Welle (DW) của Đức hôm 4 tháng 8, ông bị 'cản trở' trong chuyến đi Việt Nam và không thể tiếp cận một số nhà hoạt động trong nước: "Một số các cá nhân đã bị ngăn cản không cho gặp tôi, một số khác thì bị cảnh cáo, đe dọa hoặc sách nhiễu. Bên cạnh đó, phái đoàn của tôi còn bị công an hoặc an ninh ngầm theo dõi và tính bí mật của các cuộc gặp riêng cũng bị vi phạm". Nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, nói với đài BBC, công an TP HCM và một số địa phương khác đã "ngăn chặn không cho những người nằm trong số các chức sắc tôn giáo và nhân chứng, mà ông Bielefeldt có kế hoạch gặp gỡ nhằm kiểm chứng, ra khỏi nhà vào ngày 25/7/2014 và cả một số ngày sau đó", trong số đó có bản thân ông, các nhà hoạt động khác như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, bà Dương Thị Tân (vợ ông Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày), cựu tù nhân chính trị Phạm Bá Hải, và hai mục sư Tin Lành là Nguyễn Hoàng Hoa và Nguyễn Mạnh Hùng. Về vấn đề vi phạm tự do tín ngưỡng, ông Bielefeldt cho biết: "Nhiều người bị gây áp lực phải từ bỏ các hoạt động tôn giáo nhật định để đi theo các kênh được nhà cầm quyền công nhận." "Họ phải đối mặt với các đợt trấn áp mạnh tay của công an, bị liên tục mời 'làm việc' với công an, các hoạt động tôn giáo bị giám sát chặt chẽ, các lễ hội tôn giáo bị quấy rối." "Bên cạnh đó, họ còn bị giam lỏng tại gia, bị bắt giữ, đánh đập, tấn công, bị đuổi việc, mất phúc lợi xã hội, các thành viên trong gia đình bị gây áp lực, nơi cầu nguyện bị phá hủy..." == Xem thêm == Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất == Tham khảo == == Liên kết ngoài == "Mỹ vẫn 'quan tâm đặc biệt' Việt Nam về tôn giáo" trên BBC 9/11/2005 Việt Nam phản đối quyết định của Hoa Kỳ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách "các nước đặc biệt quan tâm" về tự do tôn giáo Lê Dũng Bộ Ngoại giao (Việt Nam) 15:23:37 22/11/2005 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Nguyễn Tấn Dũng 8/11/2012 Chính sách tôn giáo tại Từ điển bách khoa Việt Nam
đường ray.txt
Đường ray hay đường rầy là thành phần cơ bản trong giao thông đường sắt. Đường ray cùng với bộ phận chuyển ray (bẻ ghi) dẫn hướng cho tàu hoả hay xe điện di chuyển mà không cần lái. Tuyến đường ray gồm 2 ray song song với nhau đặt trên các thanh ngang gọi là tà vẹt, tà vẹt được đặt trên lớp đá dăm gọi là đá ba lát. Liên kết giữa các thanh ray và thanh nối tà vẹt là đinh ray, đinh ốc hoặc kẹp. Loại liên kết phụ thuộc một phần vào loại vật liệu tà vẹt, các loại đinh được dùng khi tà vẹt bằng gỗ, còn nếu tà vẹt bằng bê tông thì phần lớn dùng kẹp ray hoặc dùng liên kết bằng bu lông. Với loại tà vẹt bằng gỗ, người ta thường đặt bản đệm giữa thanh ray và tà vẹt tăng diện tích truyền áp lực của thanh ray xuống tà vẹt (để làm giảm ứng suất). Hoặc người ta bắt đinh thẳng từ thanh ray xuống xuyên qua lỗ trên bản đệm, hoặc người ta bắt đinh liên kết bản đệm với thanh tà vẹt, còn thanh ray bắt vào bản đệm bằng kẹp. Có nhiều loại đường ray (gỗ, sắt, thép) qua các thời kỳ phát triển, trong đó đường ray thép chịu được tải trọng lớn nhất và hiện nay người ta hầu như chỉ sử dụng loại ray thép (do đó phương thức vận tải này được gọi là đường sắt). Các thanh tà vẹt có chức năng phân bố áp lực xuống lớp đá ba lát, rồi từ đá ba lát truyền xuống nền đất, ngoài ra nhiệm vụ của thanh tà vẹt còn là giữ khoảng cách cố định giữa 2 thanh ray, khoảng cách này gọi là khổ đường sắt, hay khổ đường ray. Lớp đá ba lát là đá dăm thô (đá xay, đá vụn) có tính chất vừa cứng vừa đàn hồi (khó vỡ), lớp đá ba lát còn có chức năng tiêu thoát nước. Ngoài ra thanh ray còn có thể đặt trực tiếp lên tấm bê tông. Trên đoạn đường chạy qua cầu, thanh tà vẹt hay được gắn trực tiếp lên dầm dọc gỗ, bêtông cốt thép hoặc thép. == Ray == Ray (từ chữ Rail trong tiếng Pháp) là bộ phận chịu ứng suất rất lớn đồng thời phải chịu mài mòn do bánh tàu hoả hay xe điện tác động, cũng như tác động của thời tiết. Do vậy thép làm ray đòi hỏi phải có chất lượng cao. Trong thời gian đầu của đường sắt người ta sử dụng vật liệu sắt, sau nhiều thập kỷ phát triển người ta đã chuyển sang dùng thép để làm ray. Hơn nữa những khuyết tật trên thép cũng đòi hỏi phải được loại trừ để tránh nguy cơ phá hoại đường ray. Dạng ray phổ biến nhất là dạng mặt cắt chữ I không đối xứng, cán nóng. Nói chung tải trọng càng lớn thì đòi hỏi kích thước ray phải lớn tương ứng. Các dạng mặt cắt ray phổ biến là: Ray đầu tròn (bullhead) Ray lòng máng (grooved) Ray đáy bằng (Vignoles, flat-bottomed) Ray chữ T ngược (flanged T) == Tà vẹt == Tà vẹt (từ chữ Traverse trong tiếng Pháp, có nghĩa là nối, ngang qua) thường có mặt cắt hình chữ nhật dặt dưới thanh ray. Thanh nối tà vẹt được đặt theo chiều ngang so với hướng tàu chạy. Thanh ray gối lên tà vẹt và gắn cố định lên tà vẹt. Vai trò của tà vẹt là truyền áp lực từ thanh ray xuống lớp đá ba lát rồi xuống nền đất và cố định khoảng cách giữa 2 thanh ray tạo thành khổ đường ray. Thanh tà vẹt truyền thống làm bằng gỗ tốt, có loại bằng thép hoặc composite, ngày nay người ta càng ngày càng sử dụng nhiều tà vẹt bằng bêtông vì khan hiếm gỗ đồng thời do những ưu điểm của bêtông về khả năng chịu lực cũng như độ bền. == Phân loại ray == Ray được phân loại dựa trên trọng lượng đơn vị. Ray càng nặng càng chịu được tải trọng lớn và vận tốc của tàu chạy cũng tăng lên, tuy nhiên ray nặng đòi hỏi chi phí lớn. Ở Bắc Mỹ và Anh Quốc người ta phân loại ray theo đơn vị pound/yard, tức là "ray 130 pound" sẽ có trọng lượng 130 pound (khoảng 59 kg) trên chiều dài 1 yard (0.9144 m). Loại ray thông thường là từ 115 đến 141 pound (khoảng 52 đến khoảng 64 kg). Ở châu Âu người ta dùng đơn vị kg/m, thông thường ray nặng từ 40 đến 60 kg/m. Loại ray nặng nhất từng được sản xuất hàng loạt là ray cho tuyến Pennsylvania (Hoa Kỳ) là loại ray 170 pound (khoảng 70 kg). Tại Việt Nam đang sử dụng 2 loại ray thông dụng, đó là ray P38 và ray P43. Ray P38 nặng 38Kg/m; ray P43 nặng 43Kg/m == Nối ray == Các thanh ray được chế tạo thành đoạn có chiều dài cố định do bị hạn chế bởi khả năng chuyên chở cũng như để tạo thuận lợi cho việc sản xuất hàng loạt. Do vậy cần phải nối các thanh ray lại để tạo thành tuyến đường dài liên tục. Hiện nay các thanh ray thường có chiều dài 11,9 m. === Ray nối bằng bulông === Là phương pháp nối các thanh ray bằng cách dùng các bản thép nối gọi là bản cá hay bản nối và bắt bu lông (boulon trong tiếng Pháp). Bản cá thường dài khoảng 60 cm được bắt bulông vào hai đầu 2 thanh ray cần nối. Số lượng bu lông cần dùng thường là 4, đôi khi dùng tới 6. Giữa các thanh ray người ta chừa ra khoảng trống, gọi là khe giãn, để các thanh ray có thể giãn ra khi trời nóng. Các lỗ trên tấm bản cá có hình oval cũng nhằm mục đích trên. Cách bố trí các mối nối ray cũng khác nhau, ở Anh người ta bố trí các mối nối trên 2 thanh ray cùng một chỗ trong khi ở Mỹ người ta bố trí so le. Do phải chừa các khe co giãn nên khi bánh tàu hỏa chay qua mối nối ray sẽ phát ra âm thanh va chạm. Do vậy tàu lửa chạy trên tuyến sẽ không êm thuận bằng tuyến đường sử dụng kỹ thuật nối ray bằng phương pháp hàn, đồng thời vận tốc cũng không cao. Một vấn đề lớn nữa là tình trạng xảy ra nứt xung quanh lỗ bu lông do hiện tượng tập trung ứng suất và hiện tượng mỏi có thể dẫn đến phá hoại đầu thanh ray. Sau sự kiện tai nạn Hither Green, các công ty tàu hỏa Anh bắt đầu chuyển sang dùng đường ray liên tục hóa bằng phương pháp hàn. Tuy vậy ở các tuyến tàu hỏa tốc độ không cao cũng như ở các nước có đường sắt kém phát triển phương pháp nối ray này vẫn được dùng phổ biến do chi phí thấp. === Mối nối cách điện === Trên đoạn đường sắt có sử dụng đèn tín hiệu, đường ray còn đóng vai trò truyền điện do vậy xuất hiện yêu cầu phải phân cách đoạn ray này với các đoạn khác. Các mối nối này rất yếu, và người ta chèn keo epoxy vào khoảng trống giữa hai thanh ray do đó cũng cải thiện được khả năng chịu lực của các mối nối này. Kỹ thuật đếm trục xe ra đời giúp giảm bớt số lượng các mạch điện này do vậy cũng dẫn đến giảm các mối nối cách điện. === Ray hàn === Kỹ thuật hàn đường ray đã phổ biến từ những năm 1950. Các tuyến đường sắt hiện đại phần lớn sử dụng ray hàn liên tục (CWR). Các đoạn ray được hàn lại với nhau bằng kỹ thuật hàn chảy đối đầu để tạo thành tuyến đường liên tục dài vài km hoặc sử dụng kỹ thuật hàn nhiệt nhôm để sửa chữa hay nối các đoạn CWR có sẵn. Bởi vì số lượng các mối nối ít đi nên tuyến đường sẽ trở nên êm thuận hơn rất nhiều, không những vậy mối nối loại này còn cứng hơn loại mối nối thông thường và ít cần duy tu bảo dưỡng hơn. Kỹ thuật chảy đối đầu đặt chạm 2 đầu 2 thanh ray cần hàn vào nhau và dùng thiết bị truyền dòng điện mạnh vào thanh ray. Do dòng điện các đầu thanh sẽ nóng chảy và được ép lại với nhau tạo thành mối hàn. Kỹ thuật hàn nhiệt nhôm là kỹ thuật thủ công đòi hỏi phải có lò nung và khuôn để chứa thép nóng chảy. Các mối nối theo cách này kém bảo đảm và dễ bị nứt vỡ hơn. == Các cách cố định ray vào tà vẹt == Có nhiều phương pháp cố định thanh ray vào tà vẹt gỗ. Chuẩn ray hiện đại là loại ray đáy bằng (flat-bottomed), loại này như tên gọi của nó, có đáy phẳng giúp cho thanh ray có thể tự đứng không cần bệ đỡ. Thanh ray thường được gắn vào tà vẹt với một tấm đệm thép, tuy nhiên có thể gắn trực tiếp ray vào tà vẹt mà không cần tấm đệm. Các thanh tà vẹt hiện đại làm bằng bê tông hoặc bằng thép thì giữa thanh ray và tà vẹt thường là tấm đệm bằng cao su. Tấm đệm cao su có hai tác dụng: thứ nhất là giúp cho tàu chạy êm và thứ hai là cách điện giữa thanh ray và tà vẹt (trường hợp có mạch điện cho hệ thống tín hiệu). Tuy nhiên cần phân biệt với loại tàu sử dụng điện chạy trên ray (tàu điện). === Dùng đinh === Đinh ray là loại đinh lớn đầu lồi dùng để cố định thanh ray (hoặc tấm đệm) vào tà vẹt. Đinh được đóng vào thanh tà vẹt gỗ bằng búa hoặc bằng máy đóng đinh chuyên dụng. Nhìn chung chi phí cho đinh rẻ hơn và cách lắp đặt cũng đơn giản nhưng khi tà vẹt (gỗ) bị mục thì đinh sẽ long ra. Một cách khác là sử dụng loại đinh vít lớn. === Dùng gối ray === Theo phương pháp truyền thống của Anh được sử dụng cho đến những năm 1950, một loại gối đúc bằng kim loại sẽ được bắt vào tà vẹt, thanh ray được đặt vào gối này, để cố định vị trí thanh ray người ta đóng thanh khóa tức là nêm bằng gỗ hoặc thép lò xo vào giữa gối và thanh ray. Thanh ray trong trường hợp này hay sử dụng loại ray đầu tròn - có đầu và đáy ray như nhau (đối xứng), chỉ to hơn phần giữa một chút. Mục đích nguyên thủy khi sử dụng loại ray này là khi đầu ray đã mòn thì người ta lật ngược thanh ray lại, do đó thời gian sử dụng thanh ray tăng lên khá nhiều. Hiện nay phương pháp dùng gối ray đã lạc hậu và hầu như không còn dùng nữa. === Dùng kẹp ray === Người ta dùng nhiều loại kẹp khác nhau để gắn thanh ray vào tấm đệm ray, trong số đó phổ biến nhất là loại kẹp Pandrol mang tên của công ty sản xuất nó. Kẹp có dạng giống như một loại kẹp giấy to. Một loại khác là kẹp Vossloh. === Đường ray không tà vẹt === Trong những năm gần đây người ta đã phát triển các phương pháp đặt thẳng các thanh ray lên tấm bê tông mà không cần thanh tà vẹt hoặc lớp đá ba lát. Tuy rằng chi phí xây dựng lớn nhưng chi phí duy tu bảo dưỡng thấp hơn tuyến đường truyền thống rất nhiều. Loại đường này chủ yếu sử dụng cho các tuyến tàu cao tốc và các đoạn chạy trong hầm, nơi công tác duy tu bảo dưỡng khó khăn và là nơi ít chịu tác động của ứng suất do sự thay đổi thời tiết (mưa và biến thiên nhiệt độ) == Khổ đường ray == Khổ đường ray là khoảng cách giữa hai mép trong của hai thanh ray. Có rất nhiều khổ đường ray từng được sử dụng trên thế giới từ 597 milimét (23,5 in) cho đến 1.829 milimét (72,0 in). Hiện nay khổ ray tiêu chuẩn quốc tế là 1.435 milimét (56,5 in) với 60% các tuyến đường ray trên thế giới sử dụng loại ray này. Khổ ray nhỏ hơn gọi là khổ hẹp và ngược lại là khổ rộng. Phương tiện liên quan tới Rail tracks tại Wikimedia Commons == Tham khảo ==
1979.txt
Theo lịch Gregory, năm 1979 (số La Mã: MCMLXXIX) là một năm bắt đầu từ ngày thứ hai. Bản mẫu:Tháng trong năm 1979 == Sự kiện == === Tháng 1 === 1 tháng 1: Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thiết lập quan hệ ngoại giao. 1 tháng 1: Hans Hürlimann trở thành tổng thống Thụy Sĩ 1 tháng 1: Hoa Kỳ hủy bỏ quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân Quốc 7 tháng 1: Quan đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh, chấm dứt sự thống trị của Khmer đỏ 9 tháng 1: Dominica trở thành thành viên trong UNESCO === Tháng 2 === 17 tháng 2: Chiến tranh Việt-Trung === Tháng 3 === 31 tháng 3: Quân đội Anh rút khỏi Malta === Tháng 4 === === Tháng 5 === 23 tháng 5: Karl Carstens trở thành tổng thống Đức. 25 tháng 5: Chicago, Illinois, Hoa Kỳ. Một chiếc máy bay McDonnell Douglas DC-10 của American Airlines rơi. Tất cả 271 người trên máy bay đều chết. === Tháng 6 === === Tháng 7 === 12 tháng 7: Kiribati độc lập. === Tháng 8 === 13 tháng 8: Tàu Cap Anamur đến Biển Đông cứu vớt những người Việt vượt biển đầu tiên, bắt đầu một chương trình cứu nạn 7 năm. === Tháng 9 === 18 tháng 9: St. Lucia trở thành thành viên Liên Hiệp Quốc === Tháng 10 === === Tháng 11 === 4 tháng 11: Giam giữ con tin trong đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran. 26 tháng 11: Jidda, Ả Rập Saudi. Một chiếc Boeing 707 của Pakistan International Airlines rơi. Tất cả 156 người trên máy bay đều chết === Tháng 12 === == Sinh == === Tháng 1 === 4 tháng 1: Bilica, cầu thủ bóng đá Brasil 5 tháng 1: Giuseppe Gibilisco, vận động viên điền kinh Ý 7 tháng 1: Christian Lindner, chính trị gia Đức 9 tháng 1: Markus Larsson, vận động viên chạy ski Thụy Điển 9 tháng 1: Sarah Polley, nữ diễn viên Canada 12 tháng 1: David Zabriskie, tay đua xe đạp Mỹ 13 tháng 1: Mirosław Spiżak, cầu thủ bóng đá Ba Lan 17 tháng 1: Ricardo Cabanas, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ 18 tháng 1: Paulo Ferreira, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha 20 tháng 1: Will Young, nam ca sĩ Anh 20 tháng 1: Emiliano Bonazzoli, cầu thủ bóng đá Ý 21 tháng 1: Sebastian Schindzielorz, cầu thủ bóng đá Đức 23 tháng 1: Benjamín Noval, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 24 tháng 1: Tatyana Ali, nữ diễn viên và nữ ca sĩ 27 tháng 1: Rosamund Pike, nữ diễn viên Anh 30 tháng 1: Raphael Schäfer, cầu thủ bóng đá Đức 30 tháng 1: Davide Simoncelli, vận động viên chạy ski Ý 31 tháng 1: Brahim Asloum, võ sĩ quyền Anh người Pháp, huy chương Thế Vận Hội 31 tháng 1: Felix Sturm, võ sĩ quyền Anh === Tháng 2 === 2 tháng 2: Fani Halkia, nữ vận động viên điền kinh Hy Lạp, huy chương Thế Vận Hội 3 tháng 2: Marie Zielcke, nữ diễn viên Đức 5 tháng 2: Mirko Hrgovic, cầu thủ bóng đá 6 tháng 2: Wolodymyr Bileka, tay đua xe đạp Ukraina 7 tháng 2: Daniel Bierofka, cầu thủ bóng đá Đức 7 tháng 2: Florian Eckert, vận động viên chạy ski Đức 9 tháng 2: Zhang Ziyi, nữ diễn viên Trung Quốc 9 tháng 2: Irina Eduardovna Slutskaya, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Nga 9 tháng 2: Mena Suvari, nữ diễn viên Mỹ 11 tháng 2: Brandy Norwood, nữ ca sĩ Mỹ, nữ diễn viên 12 tháng 2: Rafael Márquez, cầu thủ bóng đá Mexico 16 tháng 2: Valentino Rossi, người đua mô tô Ý 17 tháng 2: Alexander Naumann, người đánh cờ Đức 17 tháng 2: Cara Black, nữ vận động viên quần vợt Zimbabwe 19 tháng 2: Steven Cherundolo, cầu thủ bóng đá Mỹ 21 tháng 2: Jennifer Love Hewitt, nữ diễn viên Mỹ, nữ ca sĩ 22 tháng 2: Brett Emerton, cầu thủ bóng đá Úc 28 tháng 2: Stefan Wessels, cầu thủ bóng đá Đức === Tháng 3 === 1 tháng 3: Stefan Frühbeis, cầu thủ bóng đá Đức 2 tháng 3: Damien Duff, cầu thủ bóng đá Ireland 5 tháng 3: Gonghong Tang, nữ vận động viên cử tạ Trung Hoa 5 tháng 3: Youssef Mokhtari, cầu thủ bóng đá Maroc 8 tháng 3: Quincy Detenamo, vận động viên cử tạ 10 tháng 3: Alexander Khuon, diễn viên Đức 11 tháng 3: Nguyễn Thúy Hiền, vận động viên Wushu Việt Nam 11 tháng 3: Elton cháy, cầu thủ bóng rổ Mỹ 12 tháng 3: Pete Doherty, nhạc sĩ nhạc rock Anh 14 tháng 3: Nicolas Anelka, cầu thủ bóng đá Pháp 16 tháng 3: Edison Méndez, cầu thủ bóng đá 17 tháng 3: Millon Wolde, vận động viên điền kinh 19 tháng 3: Ivan Ljubičić, vận động viên quần vợt Croatia 21 tháng 3: Đàm Quang Minh, kiêm hiệu trưởng Trường Đại học FPT 25 tháng 3: Muriel Hurtis, nữ vận động viên điền kinh Pháp 26 tháng 3: Nacho Novo, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha 30 tháng 3: Norah Jones, nữ ca sĩ Mỹ 31 tháng 3: Jonna Mendes, nữ vận động viên chạy ski Mỹ === Tháng 4 === 2 tháng 4: Thomas Mutsch, đua xe Đức 4 tháng 4: Jessica Napier, nữ diễn viên New Zealand 4 tháng 4: Heath Ledger, diễn viên Úc 5 tháng 4: Julio César da Rosa, cầu thủ bóng đá Brasil 5 tháng 4: Timo Hildebrand, cầu thủ bóng đá Đức 6 tháng 4: Britta Kamrau, nữ vận động viên bơi lội Đức 8 tháng 4: Alexi Laiho, nhạc sĩ Phần Lan 9 tháng 4: Ben Silverstone, diễn viên Anh 9 tháng 4: Katsumi, nữ diễn viên phim khiêu dâm Pháp 9 tháng 4: Mario Matt, nữ vận động viên chạy ski Áo 10 tháng 4: Sophie Ellis-Bextor, nữ ca sĩ Anh 11 tháng 4: Michel Riesen, vận động viên khúc côn cầu trên băng Thụy Sĩ 12 tháng 4: Claire Danes, nữ diễn viên Mỹ 13 tháng 4: Meghann Shaughnessy, nữ vận động viên quần vợt Mỹ 16 tháng 4: Rudi-Marek Dutschke, chính trị gia Đức 18 tháng 4: Pawina Thongsuk, nữ vận động viên cử tạ Thái Lan 19 tháng 4: Antoaneta Stefanowa, người đánh cờ Bulgaria 19 tháng 4: Kate Hudson, nữ diễn viên Mỹ 21 tháng 4: Nino Garris, cầu thủ bóng rổ 23 tháng 4: Lauri Johannes Ylönen, nam ca sĩ, nhà soạn nhạc 23 tháng 4: Nicolas Portal, tay đua xe đạp Pháp 26 tháng 4: Ferydoon Zandi, cầu thủ bóng đá 28 tháng 4: Jorge Garcia, diễn viên Mỹ 29 tháng 4: Zsolt Lőw, cầu thủ bóng đá Hungary === Tháng 5 === 5 tháng 5: Shane Filan, ca sĩ nhạc pop Ireland 5 tháng 5: Cedric van der Gun, cầu thủ bóng đá Hà Lan 6 tháng 5: Gerd Kanter, vận động viên điền kinh Estonia 9 tháng 5: Andrew W. K., nhạc sĩ nhạc rock Mỹ 9 tháng 5: Rubens Bertogliati, tay đua xe đạp Thụy Sĩ 12 tháng 5: Joaquim Rodríguez, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 14 tháng 5: Oliver Jonas, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức 15 tháng 5: Renato, cầu thủ bóng đá Brasil 16 tháng 5: Matthias Kessler, tay đua xe đạp Đức 19 tháng 5: Andrea Pirlo, cầu thủ bóng đá Ý 20 tháng 5: Jana Pallaske, nữ diễn viên Đức 21 tháng 5: Mauricio Ardila, tay đua xe đạp Colombia 24 tháng 5: Tracy McGrady, cầu thủ bóng rổ Mỹ 25 tháng 5: Elli Erl, nữ ca sĩ Đức 29 tháng 5: Arne Friedrich, cầu thủ bóng đá Đức 30 tháng 5: Fabian Ernst, cầu thủ bóng đá Đức 31 tháng 5: Tanja Mairhofer, nữ diễn viên === Tháng 6 === 3 tháng 6: Florian Hartleb, nhà chính trị học Đức 4 tháng 6: Naohiro Takahara, cầu thủ bóng đá Nhật Bản 5 tháng 6: Cristiano de Lima, cầu thủ bóng đá Brasil (mất 2004) 5 tháng 6: Antonio di Salvo, cầu thủ bóng đá Ý 7 tháng 6: Kevin Hofland, cầu thủ bóng đá Hà Lan 14 tháng 6: Paradorn Srichaphan, vận động viên quần vợt Thái Lan 15 tháng 6: Demond Greene, cầu thủ bóng rổ Đức 15 tháng 6: Christian Rahn, cầu thủ bóng đá Đức 15 tháng 6: Julia Nesterenko, nữ vận động viên điền kinh Belarus, huy chương Thế Vận Hội 18 tháng 6: Andrew Sinkala, cầu thủ bóng đá 21 tháng 6: Chris Pratt, diễn viên Mỹ 22 tháng 6: Thomas Voeckler, tay đua xe đạp Pháp 25 tháng 6: Daniel Jensen, cầu thủ bóng đá Đan Mạch 25 tháng 6: Martina Ittenbach, nữ diễn viên Đức 25 tháng 6: Jan Gustafsson, người đánh cờ Đức 27 tháng 6: Fabrizio Miccoli, cầu thủ bóng đá Ý 29 tháng 6: Silvio Schröter, cầu thủ bóng đá Đức 30 tháng 6: Sylvain Chavanel, tay đua xe đạp Pháp === Tháng 7 === 1 tháng 7: Sylvain Calzati, tay đua xe đạp Pháp 2 tháng 7: Joe Thornton, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada 3 tháng 7: Ludivine Sagnier, nữ diễn viên Pháp 5 tháng 7: Amélie Mauresmo, nữ vận động viên quần vợt Pháp 10 tháng 7: Tobias Unger, vận động viên điền kinh Đức 10 tháng 7: Lucjan Karasiewicz, chính trị gia Ba Lan 15 tháng 7: Travis Fimmel, người mẫu Úc, diễn viên 15 tháng 7: Boubacar Diarra, cầu thủ bóng đá 15 tháng 7: Alexander Frei, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ 17 tháng 7: Robin Szolkowy, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 19 tháng 7: Zvonimir Vukić, cầu thủ bóng đá 20 tháng 7: Miklós Fehér, cầu thủ bóng đá Hungary (mất 2004) 25 tháng 7: Stefanie Hertel, nữ ca sĩ Đức 25 tháng 7: Hrvoje Vukovic, cầu thủ bóng đá Croatia 26 tháng 7: Paul Freier, cầu thủ bóng đá Đức 28 tháng 7: Birgitta Haukdal, nữ ca sĩ nhạc pop 29 tháng 7: Andre Lakos, vận động viên khúc côn cầu trên băng Áo 31 tháng 7: Carlos Marchena, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha === Tháng 8 === 1 tháng 8: Sascha Bäcker, cầu thủ bóng đá Đức 1 tháng 8: Joseph Jason Namakaeha Momoa, diễn viên Mỹ 3 tháng 8: Vivian Lindt, nữ ca sĩ Đức 3 tháng 8: Evangeline Lilly, nữ diễn viên Canada 4 tháng 8: Natasha Lyonne, nữ diễn viên Mỹ 5 tháng 8: David Healy, cầu thủ bóng đá Bắc Ireland 9 tháng 8: Helge Payer, cầu thủ bóng đá Áo 11 tháng 8: Nemanja Vučićević, cầu thủ bóng đá Serbia 12 tháng 8: Austra Skujytė, nữ vận động viên điền kinh 19 tháng 8: Oumar Kondé, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ 22 tháng 8: Jennifer Finnigan, nữ diễn viên Canada 25 tháng 8: Philipp Mißfelder, chính trị gia Đức 25 tháng 8: Nedžad Botonjič, cầu thủ bóng đá Slovenia (mất 2005) 28 tháng 8: Robert Hoyzer, trọng tài bóng đá Đức 28 tháng 8: Markus Pröll, cầu thủ bóng đá Đức 29 tháng 8: Kristjan Rahnu, vận động viên điền kinh Estonia === Tháng 9 === 4 tháng 9: Kerstin Garefrekes, nữ cầu thủ bóng đá Đức 5 tháng 9: John Carew, cầu thủ bóng đá Na Uy 6 tháng 9: Matt Gadsby, cầu thủ bóng đá Anh (mất 2006) 8 tháng 9: Péter Lékó, người đánh cờ Hungary 15 tháng 9: Marcel Gebhardt, cầu thủ bóng đá Đức 15 tháng 9: Sebastian Lang, tay đua xe đạp Đức 15 tháng 9: Lorenzo Bernucci, tay đua xe đạp Ý 24 tháng 9: Katja Kassin, nữ diễn viên phim khiêu dâm 27 tháng 9: Michael Mutzel, cầu thủ bóng đá Đức === Tháng 10 === 3 tháng 10: Shannyn Sossamon, nữ diễn viên Mỹ 3 tháng 10: Antonio Dos Santos, cầu thủ bóng đá Brasil 4 tháng 10: Rachael Leigh Cook, nữ diễn viên Mỹ, người mẫu 6 tháng 10: David di Tommaso, cầu thủ bóng đá Pháp (mất 2005) 8 tháng 10: Kristanna Loken, nữ diễn viên Mỹ, người mẫu 9 tháng 10: Brandon Routh, diễn viên Mỹ 10 tháng 10: Nicolás Massú, vận động viên quần vợt Chile 15 tháng 10: Paul Robinson, cầu thủ bóng đá Anh 15 tháng 10: Māris Verpakovskis, cầu thủ bóng đá 17 tháng 10: Kimi Räikkönen, tay đua Công thức 1 Phần Lan 18 tháng 10: Florian Toncar, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang 20 tháng 10: Katharina Schüttler, nữ diễn viên Đức 23 tháng 10: Vanessa Petruo, nữ ca sĩ nhạc pop Đức 24 tháng 10: Renee Pornero, nữ diễn viên phim khiêu dâm 27 tháng 10: Heydi Núñez Gómez, người mẫu 27 tháng 10: Joana Zimmer, nữ ca sĩ Đức 28 tháng 10: Isabella Ochichi, nữ vận động viên điền kinh 30 tháng 10: Simão, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha === Tháng 11 === 2 tháng 11: Silvio Smalun, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 3 tháng 11:Pablo Aimar tiền vệ tài hoa người Argentina 5 tháng 11: Patrick Owomoyela, cầu thủ bóng đá Đức 13 tháng 11: Ron Artest, cầu thủ bóng rổ Mỹ 14 tháng 11: Mavie Hörbiger, nữ diễn viên Đức 14 tháng 11: Osleidys Menéndez, nữ vận động viên điền kinh Cuba 15 tháng 11: Brett Lancaster, tay đua xe đạp Úc 17 tháng 11: Mikel Astarloza, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 18 tháng 11: Peer Kriesel, họa sĩ Đức 21 tháng 11: Vincenzo Iaquinta, cầu thủ bóng đá Ý 23 tháng 11: Ivica Kostelić, vận động viên chạy ski Croatia 23 tháng 11: Nihat Kahveci, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 24 tháng 11: Eva Konrad, nữ chính trị gia Áo 26 tháng 11: Massimiliano Blardone, vận động viên chạy ski Ý 27 tháng 11: Aleksandar Vasoski, cầu thủ bóng đá 28 tháng 11: Tobias Kromer, cầu thủ bóng đá Úc 28 tháng 11: Fabian Gerber, cầu thủ bóng đá Đức === Tháng 12 === 2 tháng 12: Yvonne Catterfeld, nữ ca sĩ nhạc pop Đức, nữ diễn viên 3 tháng 12: Rainbow Sun Francks, diễn viên Canada 5 tháng 12: Nick Stahl, diễn viên Mỹ 6 tháng 12: Ân Đào, nữ diễn viên Trung Quốc 6 tháng 12: Tim Cahill, cầu thủ bóng đá Úc 6 tháng 12: Simone Hanselmann, nữ diễn viên Đức 13 tháng 12: Jurica Puljiz, cầu thủ bóng đá Croatia 14 tháng 12: Tobias Willi, cầu thủ bóng đá Đức 14 tháng 12: Michael Owen, cầu thủ bóng đá Anh 16 tháng 12: Flo Rida, ca sĩ Mỹ 19 tháng 12: Nikolai Bury, diễn viên Đức 20 tháng 12: Michael Rogers, tay đua xe đạp Úc 22 tháng 12: Régis Dorn, cầu thủ bóng đá Pháp 23 tháng 12: Ina Paule Klink, nữ diễn viên Đức 24 tháng 12: Erkan Maria Moosleitner, diễn viên 24 tháng 12: Ariane Grundies, nhà văn nữ Đức == Mất == === Tháng 1 === 3 tháng 1: Conrad Nicholson Hilton, người thành lập Hilton Hotel Corporation (sinh 1887) 4 tháng 1: Peter Frankenfeld, diễn viên, nam ca sĩ (sinh 1913) 5 tháng 1: Charles Mingus, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1922) 6 tháng 1: Giorgio Colli, triết gia Ý (sinh 1917) 8 tháng 1: Sara Carter, nữ ca sĩ nhạc country Mỹ (sinh 1898) 9 tháng 1: Pier Luigi Nervi, kĩ sư xây dựng Ý (sinh 1891) 18 tháng 1: Maurice Challe, tướng Pháp (sinh 1905) 19 tháng 1: Egon Höhmann, chính trị gia Đức (sinh 1926) 20 tháng 1: Margarete Gröwel, nữ chính trị gia Đức (sinh 1899) 21 tháng 1: Hans-Hilmar Staudte, kiện tướng cờ vua Đức (sinh 1911) 26 tháng 1: Werner Kallmorgen, kiến trúc sư (sinh 1902) 26 tháng 1: Nelson A. Rockefeller, chính trị gia Mỹ, phó tổng thống Hoa Kỳ (sinh 1908) 29 tháng 1: René Deltgen, diễn viên Luxembourg (sinh 1909) === Tháng 2 === 1 tháng 2: Luise Albertz, nữ chính trị gia Đức (sinh 1901) 2 tháng 2: Sid Vicious, nhạc công, ca sĩ người Anh, từng chơi cho Sex Pistols (sinh 1957) 9 tháng 2: Dennis Gábor, nhà vật lý học Hungary (sinh 1900) 10 tháng 2: Henry B. Ollendorff, luật gia Mỹ (sinh 1907) 10 tháng 2: Edvard Kardelj, chính trị gia (sinh 1910) 21 tháng 2: Leopold Hainisch, diễn viên Áo, đạo diễn (sinh 1891) === Tháng 3 === 5 tháng 3: Dore Jacobs, nhà nữ sư phạm Đức (sinh 1894) 17 tháng 3: Jean Monnet, chính khách Pháp, chính trị gia (sinh 1888) 22 tháng 3: Paul Nevermann, chính trị gia Đức (sinh 1902) 25 tháng 3: Anton Heiller, nhà soạn nhạc Áo, nghệ sĩ đàn ống (sinh 1923) 30 tháng 3: Hans Liesche, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1891) 30 tháng 3: José María Velasco Ibarra, tổng thống Ecuador (sinh 1893) === Tháng 4 === 4 tháng 4: Zulfikar Ali Bhutto, tổng thống, thủ tướng Pakistan (sinh 1928) 7 tháng 4: Bruno Apitz, nhà văn Đức (sinh 1900) 10 tháng 4: Nino Rota, nhà soạn nhạc Ý (sinh 1911) 10 tháng 4: Dom Paul Benoît, nhà soạn nhạc (sinh 1893) 13 tháng 4: Günter Henle, chính trị gia Đức (sinh 1899) 14 tháng 4: Alfred Loritz, chính trị gia Đức (sinh 1902) 25 tháng 4: Robert van't Hoff, kiến trúc sư Hà Lan (sinh 1887) 27 tháng 4: Willibald Schmaus, cầu thủ bóng đá (sinh 1912) 30 tháng 4: Hugo Scharnberg, chính trị gia Đức (sinh 1893) === Tháng 5 === 8 tháng 5: Talcott Parsons, nhà xã hội học người Mỹ, giáo sư của Đại học Harvard (sinh 1902) 10 tháng 5: Louis Paul Boon, nhà văn (sinh 1912) 11 tháng 5: Felix von Eckardt, chính trị gia Đức (sinh 1903) 11 tháng 5: Lester Flatt, nhạc sĩ nhạc đồng quê Mỹ (sinh 1914) 16 tháng 5: Robert Florey, đạo diễn phim, tác giả, diễn viên (sinh 1900) 22 tháng 5: Kurt Jooss, nghệ sĩ múa Đức, biên đạo múa (sinh 1901) 24 tháng 5: Francisco Casabona, nhà soạn nhạc Brasil (sinh 1894) 24 tháng 5: Marvin Duchow, nhà soạn nhạc Canada (sinh 1914) 26 tháng 5: Kim Ngọc - nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú, Việt Nam (sinh 1917) 29 tháng 5: Mary Pickford, nữ diễn viên Canada (sinh 1892) === Tháng 6 === 1 tháng 6: Werner Forßmann, nhà y học Đức (sinh 1904) 3 tháng 6: Arno Schmidt, nhà văn Đức, dịch giả (sinh 1914) 11 tháng 6: John Wayne, diễn viên Mỹ (sinh 1907) 12 tháng 6: Ferenc Nagy, thủ tướng Hungary (sinh 1903) 12 tháng 6: Hans Richarts, chính trị gia Đức 14 tháng 6: Ahmad Zahir, nam ca sĩ (sinh 1946) 16 tháng 6: Liselotte Welskopf-Henrich, nhà văn nữ Đức (sinh 1901) 16 tháng 6: Ignatius Kutu Acheampong, lãnh đạo nhà nước Ghana (sinh 1931) 16 tháng 6: Akwasi Afrifa, lãnh đạo nhà nước Ghana (sinh 1936) 16 tháng 6: Nicholas Ray, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1911) 18 tháng 6: Sigmund Graff, nhà văn Đức (sinh 1898) 25 tháng 6: Philippe Halsman, nhiếp ảnh gia (sinh 1906) 26 tháng 6: Fred Akuffo, lãnh đạo nhà nước Ghana (sinh 1937) 28 tháng 6: Paul Dessau, nhà soạn nhạc Đức, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1894) 29 tháng 6: Lowell George, nhạc sĩ Mỹ (sinh 1945) === Tháng 7 === 1 tháng 7: Eduard Bargheer, họa sĩ Đức (sinh 1901) 6 tháng 7: Antonio María Barbieri, tổng Giám mục Montevideo, Hồng y Giáo chủ (sinh 1892) 6 tháng 7: Van McCoy, nhạc sĩ Mỹ, nhà sản xuất (sinh 1940) 8 tháng 7: Robert B. Woodward, nhà hóa học Mỹ (sinh 1917) 8 tháng 7: Shinichiro Tomonaga, nhà vật lý học Nhật Bản (sinh 1906) 8 tháng 7: Elizabeth Ryan, nữ vận động viên quần vợt Mỹ (sinh 1892) 10 tháng 7: Arthur Fiedler, người điều khiển dàn nhạc Mỹ, Violinist (sinh 1894) 11 tháng 7: Hermann Zondek, bác sĩ (sinh 1887) 12 tháng 7: Kalervo Tuukanen, nhà soạn nhạc Phần Lan (sinh 1909) 15 tháng 7: Gustavo Díaz Ordaz, chính trị gia Mexico, tổng thống Mexico (sinh 1911) 16 tháng 7: James Francis McIntyre, tổng Giám mục Los Angeles, Hồng y Giáo chủ (sinh 1886) 16 tháng 7: Alfred Deller, nam ca sĩ Anh (sinh 1912) 17 tháng 7: Edward Akufo-Addo, tổng thống Ghana (sinh 1906) 21 tháng 7: Ludwig Renn, nhà văn Đức (sinh 1889) 22 tháng 7: Sándor Kocsis, cầu thủ bóng đá Hungary (sinh 1929) 28 tháng 7: Frederick Stafford, diễn viên (sinh 1928) === Tháng 8 === 1 tháng 8: Ethelbert Stauffer, nhà thần học Tin Lành (sinh 1902) 2 tháng 8: Hermann Schmitt-Vockenhausen, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1923) 3 tháng 8: Alfredo Ottaviani, Hồng y Giáo chủ (sinh 1890) 6 tháng 8: Feodor Lynen, nhà hóa sinh Đức, Giải Nobel (sinh 1911) 8 tháng 8: Emil Belzner, nhà báo Đức, nhà văn (sinh 1901) 10 tháng 8: Walther Gerlach, nhà vật lý học Đức (sinh 1889) 10 tháng 8: José María Pinilla Fábrega, tổng thống thứ 34 của Panama (sinh 1919) 11 tháng 8: Georgi Wassiljewitsch Florowski, nhà thần học Chính thống giáo (sinh 1893) 12 tháng 8: Ernst Boris Chain, nhà hóa sinh Anh (sinh 1906) 12 tháng 8: James Gordon Farrell, nhà văn (sinh 1935) 16 tháng 8: John Diefenbaker, chính trị gia Canada (thủ tướng) (sinh 1895) 21 tháng 8: Giuseppe Meazza, cầu thủ bóng đá Ý (sinh 1910) 21 tháng 8: Karl Bergmann, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1907) 25 tháng 8: Hans Schimank, nhà vật lý học Đức (sinh 1888) 26 tháng 8: Mika Waltari, nhà văn Phần Lan (sinh 1908) 27 tháng 8: Bolesław Szabelski, nhà soạn nhạc Ba Lan (sinh 1896) === Tháng 9 === 4 tháng 9: Sefton Delmer, nhà báo Anh (sinh 1904) 5 tháng 9: Alberto di Jorio, Hồng y Giáo chủ (sinh 1884) 6 tháng 9: Joachim Jeremias, nhà thần học (sinh 1900) 8 tháng 9: Jean Seberg, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1938) 11 tháng 9: Alexander Schawinsky, nhiếp ảnh gia, họa sĩ (sinh 1904) 12 tháng 9: Jocelyne LaGarde, nữ diễn viên (sinh 1924) 16 tháng 9: Gio Ponti, kiến trúc sư Ý (sinh 1891) 20 tháng 9: Ludvík Svoboda, tướng Tiệp Khắc, tổng thống (sinh 1895) 21 tháng 9: Dieter Seeler, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1931) 21 tháng 9: Sámal Joensen-Mikines, họa sĩ (sinh 1906) 25 tháng 9: Tapio Rautavaara, vận động viên điền kinh Phần Lan, nhạc sĩ, diễn viên (sinh 1915) 27 tháng 9: Jimmy McCulloch, nhạc sĩ Anh (sinh 1953) 29 tháng 9: Francisco Macías Nguema, tổng thống đầu tiên của Guinea Xích Đạo (sinh 1924) === Tháng 10 === 1 tháng 10: Roy Harris, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1898) 1 tháng 10: Dorothy Arzner, nữ đạo diễn phim Mỹ (sinh 1897) 3 tháng 10: Humberto Teixeira, nhạc sĩ Brasil, nhà soạn nhạc (sinh 1915) 15 tháng 10: Gus Cannon, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1883) 15 tháng 10: Jacob L. Devers, tướng Mỹ (sinh 1887) 17 tháng 10: Karel Reiner, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1910) 18 tháng 10: Hellmuth von Hase, nhà xuất bản Đức (sinh 1891) 18 tháng 10: Hans Seigewasser, chính trị gia Đức (sinh 1905) 19 tháng 10: Richard Friedenthal, nhà văn Đức (sinh 1896) 23 tháng 10: Antonio Caggiano, tổng Giám mục Buenos Aires, Hồng y Giáo chủ (sinh 1889) 24 tháng 10: Heinz Frommhold, chính trị gia Đức (sinh 1906) 26 tháng 10: Bak Jeonghui, chính trị gia Hàn Quốc (sinh 1917) === Tháng 11 === 6 tháng 11: Cecil Purdy, người đánh cờ Úc (sinh 1906) 10 tháng 11: Friedrich Torberg, nhà văn Áo, nhà báo (sinh 1908) 22 tháng 11: Frans de Bruyn Kops, cầu thủ bóng đá Hà Lan (sinh 1886) 23 tháng 11: Merle Oberon, nữ diễn viên Anh (sinh 1911) 24 tháng 11: Hans Nachtsheim, nhà động vật học (sinh 1890) 26 tháng 11: John Cromwell, diễn viên Mỹ, đạo diễn phim (sinh 1887) 29 tháng 11: Walter Matthias Diggelmann, nhà văn Thụy Sĩ (sinh 1927) 30 tháng 11: Arno Assmann, diễn viên Đức, đạo diễn phim (sinh 1908) === Tháng 12 === 3 tháng 12: Hans Rohde, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1914) 4 tháng 12: Walther Müller, nhà vật lý học Đức (sinh 1905) 5 tháng 12: Sonia Delaunay-Terk, nữ họa sĩ Pháp (sinh 1885) 7 tháng 12: Edward Gottlieb, doanh nhân Mỹ (sinh 1898) 7 tháng 12: Nicolas Born, nhà văn Đức (sinh 1937) 9 tháng 12: Arthur Mertins, chính trị gia Đức (sinh 1898) 11 tháng 12: Carlo Schmid, nhà chính trị học Đức, chính trị gia (sinh 1896) 13 tháng 12: Alfred Bengsch, Giám mục Công giáo, Hồng y Giáo chủ (sinh 1921) 16 tháng 12: Vagif Mustafa Zadeh, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm (sinh 1940) 26 tháng 12: Helmut Hasse, nhà toán học Đức (sinh 1898) 28 tháng 12: Walter Hochmuth, chính trị gia Đức (sinh 1904) 29 tháng 12: Branimir Sakač, nhà soạn nhạc Croatia (sinh 1918) Gordon Pai'ea Chung-Hoon == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Herbert C. Brown, Georg Wittig Văn học - Odysseas Elytis Hòa bình - Mẹ Teresa Vật lý - Sheldon Lee Glashow, Abdus Salam, Steven Weinberg Y học - Allan M. Cormack, Godfrey N. Hounsfield Kinh tế - Theodore Schultz, Arthur Lewis == Xem thêm == Thế giới trong năm 1979, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
nec.txt
NEC (tiếng Nhật: 日本電気株式会社, Nippon Denki Kabushiki Gaisha TYO: 6701, NASDAQ: NIPNY}}, NEC là viết tắt của tên giao dịch bằng tiếng Anh trước đây của công ty là Nippon Electric Company) là một công ty đa quốc gia của Nhật Bản có trụ sở tại Tokyo. NEC, là một công ty con của tập đoàn Sumitomo, chuyên cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin (IT), và giải pháp mạng cho các công ty kinh doanh, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và chính phủ, cũng như cung cấp các sản phẩm điện tử viễn thông. Công ty này từng được biết đến với cái tên Nippon Electric Company, Limited, trước khi được đổi tên năm 1983. Tại Nhật Bản, NEC vẫn được biết đến với cái tên đầy đủ của nó. Với tư cách là nhà sản xuất chip, NEC là một trong 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới. Công ty con chủ yếu của NEC bao gồm: NEC Corporation của Mỹ NEC Solutions of America Inc. NEC Super Tower tại Minato, Tokyo, Nhật Bản, trụ sở của NEC == Tham khảo ==
aksai chin.txt
Aksai Chin (tiếng Trung: 阿克赛钦; bính âm: Ākèsàiqīn, Hán Việt: A Khắc Tái Khâm, Hindi: अक्साई चिन, tiếng Urdu: اکسائی چن) là một trong hai khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, ngoài Aksai Chin thì vùng tranh chấp còn lại Arunachal Pradesh. Trong hai vùng tranh chấp, Trung Quốc kiểm soát vùng Aksai Chin còn Arunachal Pradesh do Ấn Độ kiểm soát, là một đơn vị hành chính cấp bang của Ấn Độ. Tuy được Trung Quốc kiểm soát nhưng vùng tranh chấp Aksai Chin vẫn được Ấn Độ tuyên bố chủ quyền, New Delhi xem nó như là một phần của huyện Ladakh, thuộc Tiểu bang Jammu & Kashmir. Đỉnh điểm trong cuộc tranh chấp hai vùng là năm 1962, giữa Trung Quốc và Ấn Độ có một cuộc chiến tranh nổ ra ở khu vực quanh biên giới hai nước, nhưng hai bên cũng nhanh đi đến hồi kết với việc Bắc Kinh và New Delhi cùng tôn trọng đường phân chia thực tế, có từ thời Đế quốc Anh còn thống trị Ấn Độ. Vùng tranh chấp Aksai Chin được phía Trung Quốc sáp nhập và trở thành một phần của huyện Hotan (Khotan) thuộc địa khu Hotan (Khotan), khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. == Nguồn gốc tên gọi == Nguyên từ "Aksai Chin", có thể bắt nguồn từ tiếng Turk, với nghĩa là "Suối trắng". Toàn bộ khu vực này đều là sa mạc, nằm trên một độ cao tương đối lớn so với mực nước biển, trong sa mạc này tồn tại những hồ muối có cao độ từ 4800m đến 5500m so với mực nước biển. == Địa lý == Aksai Chin là một trong hai khu vực biên giới tranh chấp có kích thước lớn nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Ấn Độ yêu sách Aksai Chin là bộ phận cực đông của bang Jammu và Kashmir. Trung Quốc yêu sách rằng Aksai Chin là bộ phận của Khu tự trị Tân Cương. Đường phân chia khu vực do Ấn Độ kiểm soát của Jammu and Kashmir với Aksai Chin được gọi là Đường Kiểm soát Thực tế (LAC) và đồng quy với đường yêu sách Aksai Chin của Trung Quốc. Aksai Chin có diện tích khoảng 37.244 kilômét vuông (14.380 sq mi). Lãnh thổ phần lớn là một hoang mạc rộng có độ cao lớn, với điểm thấp (trên Sông Karakash) là khoảng 4.300 m (14.100 ft) trên mực nước biển. Tại phía tây nam, các dãy núi cao đến 7.000 m (23.000 ft) kéo dài về phía đông nam từ Bình nguyên Depsang tạo thành biên giới thực tế giữa Aksai Chin và Kashmir do Ấn Độ kiểm soát. Tại phía bắc, Dãy núi Côn Lôn chia tách Aksai Chin khỏi Bồn địa Tarim, phần còn lại của Huyện Hotan thuộc bồn địa này. Aksai Chin có một số lòng chào nội lục với nhiều hồ muối hoặc hồ kiềm. Các hồ muối lớn như Surigh Yilganning Kol, Tso tang, Aksai Chin, Hongshan. Phần lớn phần phía bắc của Aksai Chin được gọi là bình nguyên kiềm, nằm gần sông lớn nhất của Aksai Chin là Karakash, nó nhận được nước tan chảy từ một số sông băng, chạy qua Côn Luân xa về tây bắc, tại huyện Bì Sơn và tiến vào Bồn địa Tarim, nó là một trong các nguồn cung cấp nước chính của các huyện Karakax và Hotan. Aksai Chin có độ cao lớn, khí hậu núi cao. Tại Kangxiwa, nhiệt độ bình quân năm là -0,6°C, nhiệt độ bình quân tháng 1 là -11,3°C, nhiệt độ bình quân tháng 7 là 9,8°C, mỗi năm có 10 ngày không có sương giá. Aksai Chin nằm tại vùng bóng mưa, gió mùa tây nam rất khó vượt qua Dãy Himalaya để thổi đến, dòng khí phía tây cũng khó vượt qua Dãy Karakorum và Tây Côn Luân, quan trắc thực tế cho thấy lượng giáng thủy bình quân năm không quá 100 mm, Kangxiwa là 36mm, điểm thiên văn là 47 mm. == Cư dân == Ngoài binh sĩ quân đội Trung Quốc, cư dân Aksai Chin tại hầu hết lãnh thổ là thành viên của các nhóm du mục như Bakarwal, họ định kỳ vượt qua khu vực, Điểm dân cư được biết đến nhất là thị trấn Điềm Thủy Hải 甜水海 và Thiết Long Than 铁隆滩. == Lịch sử == Aksai nằm trên độ cao 5.000 mét (16.000 ft), ở thế cô độc nên không quan trọng về con người ngoại trừ nằm trên tuyến mậu dịch cổ đại, cung cấp một tuyến đường tạm thời vào mùa hè cho các đoàn buôn giữa Tân Cương và Tây Tạng. Một trong các hiệp ước sớm nhất về biên giới tại phần phía tây được ký kết vào năm 1842. Liên bang Sikh tại vùng Punjab thuộc Ấn Độ đã sáp nhập Ladakh vào bang Jammu trong năm 1834. Năm 1841, họ đem quân xâm chiếm Tây Tạng. Quân Thanh đánh bại quân Sikh và lần lượt tiến vào Ladakh và bao vây Leh. Sau khi bị quân Sikh chặn lại, người Trung Quốc và người Sikh ký kết một hiệp định vào tháng 9 năm 1842, quy định không xâm nhập hoặc quấy nhiễu biên giới của nước khác. Anh đánh bại người Sikh vào năm 1846, dẫn đến chủ quyền đối với Ladakh về tay người Anh, và các ủy viên người Anh nỗ lực gặp các quan chức Trung Quốc để thảo luận biên giới giữa họ. Tuy nhiên, hai phía có vẻ đủ thỏa mãn với biên giới truyền thống được công nhận và xác định theo các yếu tố tự nhiên, và biên giới không được phân định. Biên giới ngoài các điểm cực của Aksai Chin gần Hồ Pangong và gần Đèo Karakoram được xác định rõ, song khu vực Aksai Chin nằm giữa thì không được xác định. === Đường Johnson === Một công chức của Cục Đo đạc Ấn Độ là William Johnson đề xuất "Đường Johnson" vào năm 1865, đặt Aksai Chin thuộc Kashmir. Đương thời đang xảy ra khởi nghĩa của người Hồi chống nhà Thanh, nhà Thanh không kiểm soát được phần lớn Tân Cương, do đó đường này chưa từng được trình cho Trung Quốc. Johnson trình đường này cho Maharaja (quân chủ) của Kashmir, ông sau này yêu sách 18.000 km² trong đó, và thêm một số lãnh thổ xa về phía bắc đến Đèo Sanju thuộc Dãy núi Côn Lôn. Công trình của Johnson bị chỉ trích nghiêm khắc do sai lệch hiển nhiên, biên giới ông vẽ ra bị mô tả là "vô lý hiển nhiên". Johnson bị Chính phủ Anh khiển trách và phải từ chức khỏi Cục Đo đạc Ấn Độ. Maharajah của Kashmir cho xây một công sự tại Shahidulla (nay là Xaidulla), và cho binh sĩ đồn trú tại đó một số năm để bảo vệ các đoàn buôn. Cuối cùng, hầu hết các nguồn đưa Shahidulla và thương du Sông Karakash vào lãnh thổ Tân Cương một cách chắc chắn. Theo lời Francis Younghusband, người khám phá khu vực vào cuối thập niên 1880, chỉ có một công sự bỏ hoang và không có nhà ở nào tại Shahidulla khi ông ở đó - chỉ có một điểm dừng chân tiện lợi và một hành dinh tiện lợi cho người Kyrgyz du mục. Công sự bỏ hoang có vẻ được người Kashmir xây một vài năm trước đó. Năm 1878, nhà Thanh tái chinh phục Tân Cương, và đến năm 1890 họ đã có được Shahidulla trước khi vấn đề được giải quyết. Đến năm 1892, Trung Quốc đã dựng mốc giới tại Đèo Karakoram. Năm 1897, một sĩ quan quân đội Anh là John Ardagh trình một đường biên giới dọc theo đỉnh của Dãy núi Côn Lôn phía bắc Sông Yarkand. Đương thời, Anh Quốc quan tâm đến mối nguy Nga bành trướng do Trung Quốc suy yếu, và Ardagh lập luận rằng đường của ông có thể phòng thủ được. Đường Ardagh thực tế là phiên bản sửa đổi của Đường Johnson, và được gọi là "Đường Johnson-Ardagh". === Đường Macartney–Macdonald === Năm 1893, một quan chức cấp cao của nhà Thanh tại Kashgar đưa biên giới do Trung Quốc đề xuất cho Tổng lãnh sự Anh tại Kashgar là George Macartney. Biên giới này đưa Bình nguyên Lingzi Tang nằm ở phía nam Dãy Laktsang thuộc về Ấn Độ, còn Aksai Chin ở phía bắc Dãy Laktsang thuộc về Trung Quốc. Macartney chấp thuận đề xuất này và chuyển tiếp nó đến chính phủ Ấn Độ thuộc Anh. Biên giới này dọc theo Dãy núi Karakoram, được các quan chức Anh đề xuất và ủng hộ do một số nguyên nhân. Dãy núi Karakoram tạo thành một biên giới tự nhiên, sẽ xác định biên giới của người Anh đến lưu vực Sông Ấn trong khi để lưu vực của Sông Tarim cho Trung Quốc kiểm soát, và Trung Quốc kiểm soát dải này sẽ gây ra trở ngại hơn nữa cho bước tiến của Nga tại Trung Á. Người Anh trình đường này, mang tên Đường Macartney–MacDonald cho Trung Quốc vào năm 1899 trong một công hàm của Claude MacDonald. Nhà Thanh không phản hồi công hàm, và người Anh cho rằng Trung Quốc mặc nhận. Mặc dù chưa từng đàm phán chính thức, song Trung Quốc tin rằng đây là biên giới được chấp thuận. === 1899 đến năm 1947 === Cả hai đường Johnson-Ardagh và Macartney-MacDonald đều được sử dụng trong các bản đồ của Anh về Ấn Độ. Cho đến ít nhất là năm 1908, người Anh lấy đường Macdonald làm biên giới, song đến năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng phát khiến quyền lực trung ương tại Trung Quốc sụp đổ, và đến cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, người Anh chính thức sử dụng Đường Johnson. Tuy nhiên, họ không có bước đi nào để xây dựng các tiền đồn hoặc xác nhận kiểm soát thực tế trên thực địa. Năm 1927, đường lại được điều chỉnh do chính phủ Ấn Độ thuộc Anh bỏ đường Johnson để chọn đường dọc theo dãy Karakoram xa về phía nam. Tuy nhiên, các bản đồ không được cập nhật và vẫn thể hiện Đường Johnson. Từ năm 1917 đến năm 1933, Tập bản đồ bưu chính Trung Quốc do Chính phủ Trung Quốc xuất bản thể hiện biên giới tại Aksai Chin theo Đường Johnson, chạy dọc Dãy núi Côn Lôn. Bản đồ Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 1925 cũng đặt Aksai Chin trong Ấn Độ. Khi các quan chức Anh biết được việc quan chức Liên Xô trắc địa Aksai Chin cho quân phiệt Thịnh Thế Tài tại Tân Cương vào năm 1940-1941, họ lại chủ trương Đường Johnson. Lúc này, người Anh vẫn không có nỗ lực nào để lập các tiền đồn hoặc kiểm soát Aksai Chin, cũng chưa từng thảo luận vấn đề với chính phủ Trung Quốc hay Tây Tạng, và biên giới vẫn chưa được phân định khi Ấn Độ độc lập. === Từ năm 1947 === Khi độc lập vào năm 1947, chính phủ Ấn Độ sử dụng Đường Johnson làm cơ sở cho biên giới chính thức của họ tại phía tây, bao gồm Aksai Chin. Từ Đèo Karakoram (không bị tranh chấp), Ấn Độ yêu sách đường kéo dài về phía đông bắc của Dãy Karakoram qua các miền đất muối bằng phẳng của Aksai Chin, định ra một biên giới tại Dãy núi Côn Lôn, và hợp nhất một bộ phận lưu vực của Sông Karakash và Sông Yarkand. Từ đó, nó chạy dọc phía đông Dãy núi Côn Luân, trước khi đổi hướng tây nam qua các miền đất muối bằng phẳng Aksai Chin, qua Dãy Karakoram, và sau đó đến Hồ Panggong. Ngày 1 tháng 7 năm 1954, Thủ tướng Jawaharlal Nehru viết một bị vong lục chỉ thị rằng các bản đồ Ấn Độ được tái xét để thể hiện chi tiết toàn bộ biên giới. Trước thời điểm đó, biên giới tại khu vực Aksai Chin, dựa theo Đường Johnson, được mô tả là "chưa phân định." Trong thập niên 1950, Trung Quốc xây dựng một tuyến đường bộ dài 1.200 km liên kết Tân Cương và miền tây của Tây Tạng, trong đó có 179 km chạy phía nam Đường Johnson qua khu vực Aksai Chin mà Ấn Độ yêu sách. Aksai Chin dễ tiếp cận đối với Trung Quốc, song khó hơn đối với người Ấn Độ từ bên kia Dãy Karakoram. Người Ấn Độ không biết con đường này tồn tại cho đến năm 1957, đường này được xác nhận trong các bản đồ của Trung Quốc phát hành năm 1958. Lập trường của Ấn Độ theo lời Thủ tướng Nehru là Aksai Chin là "bộ phận của khu vực Ladakh thuộc Ấn Độ trong nhiều thế kỷ" và rằng biên giới phía bắc này là một "thứ kiên định và rõ ràng không tiến hành thảo luận với bất kỳ ai". Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai lập luận rằng biên giới phía tây chưa từng được phân định, rằng Đường Macartney-MacDonald có nội dung để Aksai Chin trong biên giới Trung Quốc là đường duy nhất từng được trình cho một chính phủ Trung Quốc, và Aksai Chin đã nằm dưới quyền tài phán của Trung Quốc, và các đàm phán cần diễn ra trên cơ sở nguyên trạng. === Dải Ngoại Karakoram === Đường Johnson không được sử dụng phía tây Đèo Karakoram, là nơi Trung Quốc liền kề với Gilgit–Baltistan do Pakistan kiểm soát. Ngày 13 tháng 10 năm 1962, Trung Quốc và Pakistan bắt đầu đàm phán về biên giới phía tây Đèo Karakoram. Năm 1963, hai quốc gia xác định biên giới của họ phần lớn trên cơ sở Đường Macartney-MacDonald, theo đó để Dải Ngoại Karakoram trong Trung Quốc, song thỏa thuận cũng quy định tái đàm phán trong trường hợp giải quyết tranh chấp Kashmir. Ấn Độ không công nhận Pakistan và Trung Quốc có biên giới chung, và yêu sách dải đất là bộ phận của lãnh địa Kashmir và Jammu trước năm 1947. Tuy nhiên, đường yêu sách của Ấn Độ tại khu vực này không kéo dài xa về phía bắc của Dãy Karakoram như Đường Johnson. == Tầm quan trọng chiến lược == Quốc đạo 219 của Trung Quốc chạy qua Aksai Chin, liên kết Tân Cương và Tây Tạng. Mặc dù khu vực gần như không thể cư trú và không có tài nguyên, song nó giữ tầm quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc vì liên kết hai khu tự trị trên. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 1951 và đường hoàn thành vào năm 1957. Việc xây dựng tuyến đường là một trong các nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh Trung-Ấn năm 1962. Đường được trải lại lần đầu tiên sau 50 năm và hoàn thành vào năm 2013. == Liên kết bên ngoài == China and Kashmir, by Jabin T. Jacob, published in The Future of Kashmir, special issue of ACDIS Swords and Ploughshares, Program in Arms Control, Disarmament, and International Security, University of Illinois, winter 2007-8. China, India, and the fruits of Nehru's folly by Venkatesan Vembu, Daily News & Analysis, ngày 6 tháng 6 năm 2007 Facing the truth Pakistan has solved its border problem with China, but India is caught in a prolonged dispute. The Great China-India Game An informative history of the always-ambiguous China-India border in Aksai Chin. Conflict in Kashmir: Selected Internet Resources by the Library, University of California, Berkeley, USA; University of California, Berkeley Library Bibliographies and Web-Bibliographies list Satellite image of large scale terrain model of Aksai Chin Diagram explaining the situation Landscape photos of Aksai Chin by a cyclist Why China is playing hardball in Arunachal by Venkatesan Vembu, Daily News & Analysis, ngày 13 tháng 5 năm 2007 == Tham khảo ==
gordon ramsay.txt
Gordon James Ramsay /ˈræm.ziː/, (sinh ngày 8 tháng 11 năm 1966) là một đầu bếp nổi tiếng người Scotland, chủ nhà hàng và ngôi sao truyền hình. Trên tổng số 15 ngôi sao Michelin, nhà hàng của Ramsay đã được trao tặng đến 14 ngôi sao và ông còn được Hoàng gia Anh phong tước OBE (tước Tiểu Hiệp Sĩ) vào năm 2006 nhằm tôn vinh những cống hiến của Ramsay đem đến cho ngành ẩm thực nước nhà. Cùng với việc làm chủ một chuỗi nhà hàng, Gordon Ramsay được tôn vinh là nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp lưu trú và ẩm thực của Vương quốc Anh năm 2009, trở thành ông chủ nhà hàng và khách sạn quyền lực nhất do Tạp chí Caterer and Hotelkeeper bầu chọn Ramsay còn được biết đến qua việc tham gia các chương trình truyền hình về thi tài nấu ăn và thực phẩm như Hell's Kitchen, The F Word, Ramsay's Best Restaurant, Ramsay's Kitchen Nightmares, Hell's Kitchen (Mỹ), Kitchen Nightmares, và MasterChef. Ramsay sở hữu giá trị tài sản cá nhân lên đến 40 triệu bảng Anh. == Tiểu sử == Gordon Ramsay sinh ra tại Johnstone, Renfrewshire, Scotland, và lớn lên ở Stratford-upon-Avon, Warwickshire, Anh từ lúc 5 tuổi. Ramsay là con thứ hai trong bốn đứa con, anh có một chị gái, Diane, một em trai, Ronnie, và một em gái, Yvonne. Cha Gordon (mất năm 1997) làm nhiều nghề tại các thời điểm khác nhau: quản lý hồ bơi, thợ hàn, và người bán hàng... Mẹ của ông, Helen Cosgrove, và Yvonne là y tá Ramsay đã mô tả cuộc sống ban đầu của ông là "lưu động vô vọng", vì gia đình ông phải chuyển đi liên tục do các nguyện vọng và thất bại của cha mình, vốn là người bạo lực. Năm 1976, họ cuối cùng cũng định cư ở Stratford-upon-Avon, nơi ông lớn lên ở Bishopton. Trong một cuộc phỏng vấn công cộng, Ramsay đã từ chối mô tả cha mình như là một người nghiện rượu. Tuy nhiên,trong cuốn tự truyện của mình, Humble Pie, ông mô tả cuộc sống ban đầu của ông bị lạm dụng và bỏ bê bởi một người cha "lăng nhăng nghiện rượu" ("hard-drinking womaniser") . Ở tuổi 16, Ramsay chuyển ra khỏi nhà và đến sống trong một căn hộ ở Banbury. == Gia đình == Ramsay kết hôn với Cayetana Elizabeth Hutcheson (còn gọi là Tana), một giáo viên được đào tạo theo phương pháp Montessori, vào năm 1996. Họ có bốn người con: Megan Jane (sinh năm 1998), cặp sinh đôi Jack Scott và Holly Anna (sinh 2000), và Matilda Elizabeth (sinh 2002), sống ở Battersea. Cha vợ của Ramsay, Chris Hutcheson, đến năm 2010 chịu trách nhiệm cho các hoạt động kinh doanh chuỗi các nhà hàng của Ramsay.. == Nhà hàng == Gordon Ramsay au Trianon Palace à Versailles, Yvelines, Pháp Castel Monastero en Toscane, Ý Forte Village en Sardaigne, Ý Boxwood Café à Londres Gordon Ramsay au Claridge's, Luân Đôn Maze Nonna's York and Albany The Warrington La Veranda à Versailles, Yvelines, Pháp Foxtrot Oscar Pétrus Banquette Verre à Dubaï Gordon Ramsay ở Conrad Tokyo Gordon Ramsay ở Powerscourt à Dublin, Irlande Cerise by Gordon Ramsay Gordon Ramsay ở The London NYC Gordon Ramsay ở The London West Hollywood La Noisette The London Bar The Narrow The Devonshire Hell's Kitchen (Chef Cuisinier durant le tournage de l'émission correspondante) Romer laupine Laurier Gordon Ramsay ở Montreal, Quebec, Canada BurGr Gordon Ramsay (Planet Hollywood Resort & Casino, Las Vegas) == Giải thưởng == Khai trương vào năm 1998, nhà hàng Gordon Ramsay là nhà hàng solo đầu tiên của Ramsay, nằm ​​tại bệnh viện Royal Road, London. Trong năm 2001, nó được bình chọn là nhà hàng tốt nhất ở Anh trong khảo sát Zagat London và đã được trao giải Michelin lần ba, khiến Gordon Ramsay là đầu bếp Scotland đầu tiên đã giành được ba sao Michelin. Mặc dù ông đã dành nhiều thời gian trên truyền hình hơn trong nhà bếp, nhà hàng Gordon Ramsay Ramsay's Chelsea vẫn giữ 3 sao Michelin . Ramsay là một trong những bốn đầu bếp duy nhất ở Vương quốc Anh duy trì được 3 sao Michelin cho nhà hàng của mình (những người khác: Heston Blumenthal, Alain Ducasse và Alain Roux). Ông được bổ nhiệm làm Officer of the Order of the British Empire (OBE) bởi Nữ hoàng Elizabeth II trong danh sách danh dự năm 2006 cho các dịch vụ cho ngành công nghiệp khách sạn, nhưng gần như bị trễ lễ bổ nhiệm khi máy bay của ông bị hoãn. Trong tháng 7 năm 2006, Ramsay đã giành được giải thưởng Catey cho "nhà hàng độc lập của năm", trở thành người thứ ba đã giành được ba giải thưởng Catey, giải thưởng lớn nhất của ngành công nghiệp khách sạn Vương quốc Anh. Hai giải Catey trước là vào năm 1995 (Newcomer of the Year) và 2000 (đầu bếp của năm). Hai người còn lại là Michel Roux, và Jacquie Pern. Trong tháng 9 năm 2006, ông được xem như là người có ảnh hưởng nhất trong ngành khách sạn Vương quốc Anh trong danh sách thường niên 100 Caterersearch, được xuất bản bởi Hotelkeeper caterer. Ông đã vượt qua Jamie Oliver, người đã từng đầu danh sách trong năm 2005. Cũng trong năm 2006, Ramsay đã được đề cử như một ứng cử viên cho chức Hiệu trưởng tại trường Đại học St Andrews, nhưng đã bị nhiều chỉ trích qua các cuộc thăm dò của Simon Pepper. Mặc dù có một chiến dịch công khai, Ramsay không bao giờ đến thăm St Andrews và đã không xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn báo chí. Nhà hàng đầu tay của Ramsay, nhà hàng Gordon Ramsay, được bình chọn là nhà hàng hàng đầu của London trong cẩm nang thực phẩm Harden's liên tục tám năm, nhưng trong năm 2008 đã được đặt dưới Petrus, một nhà hàng được điều hành bởi cựu bảo trợ Marcus Wareing. == Truyền hình == Ramsay's Kitchen Nightmares (Channel 4, 2004–nay) Hell's Kitchen (UK) (ITV, 2004–2009) Hell's Kitchen (U.S.) (Fox, 2005–nay) The F Word (Channel 4, 2005–nay) Kitchen Nightmares (Fox, 2007–nay) Extras Christmas Special (BBC Two 2007) Gordon Ramsay: Cookalong Live (Channel 4, 18 tháng 1 năm 2008–nay) Gordon Ramsay: Cookalong Live U.S. (Fox, 15 tháng 12 năm 2009) Gordon's Great Escape (Channel 4,tháng 1 năm 2010) Soccer Aid 2006, 2008, 2010 (ITV,tháng 5 năm 2006, tháng 9 năm 2008, tháng 6 năm 2010) MasterChef (U.S.) (Fox, từ 27/7/ 2010) Ramsay's Best Restaurant (Channel 4, 2010) Christmas with Gordon (Channel 4, 2010) The Simpsons - "The Food Wife" (Fox, 2011) Top Gear (BBC Two) == Sách == Từ năm 1996, Ramsay đã viết 21 cuốn sách. Ramsay cũng đóng góp một mục về thực phẩm và thức uống trên tạp chí Times ngày thứ bảy '. Gordon Ramsay’s Passion For Flavour (1996) Gordon Ramsay’s Passion For Seafood (1999) Gordon Ramsay A Chef For All Seasons (2000) Gordon Ramsay’s Just Desserts (2001) Gordon Ramsay’s Secrets (2003) Gordon Ramsay’s Kitchen Heaven (2004) Gordon Ramsay Makes It Easy (2005) Gordon Ramsay Easy All Year Round (2006) Gordon Ramsay's Sunday Lunch and other recipes from the F word (2006) Humble Pie (2006) (Autobiography) Roasting in Hell's Kitchen (2006) (US title for Humble Pie) Gordon Ramsay's Fast Food Recipes from the F Word (2007) Playing With Fire (2007) (Follow up to Autobiography) Recipes From a 3 Star Chef (2007) Gordon Ramsay's Three Star Chef (2008) Gordon Ramsay's Fast Food (2008) Gordon Ramsay's Healthy Appetite (2008) Cooking for Friends: Food from My Table (2008) Gordon Ramsay's On Top of The World (2009) Gordon Ramsay's World Kitchen: Recipes from "The F Word" (2009) Ramsay's Best Menus (2010) Master Chefs Pasta Sauces (1996) Fish And Shellfish (1997) Thẻ dạy nấu ăn Hot Dinners (2006) Cool Sweets (2006) == Điện ảnh == Boiling Point (Phim tài liệu 5 tập) (Channel 4, 1998) Beyond Boiling Point (Phim tài liệu 5 tập) (Channel 4, 2000) Ramsay – Trouble at the Top Love's Kitchen (2011) == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Trang chính của Gordon Ramsay (tiếng Anh) Trang chính của Hell's Kitchen US (tiếng Pháp) W9 - Cauchemar en cuisine
rumours.txt
Rumours (tạm dịch: Những tin đồn) là album phòng thu thứ 11 của ban nhạc rock người Anh-Mỹ Fleetwood Mac. Được chủ yếu thực hiện tại California trong năm 1976, album được hợp tác sản xuất với Ken Caillat và Richard Dashut và được phát hành vào ngày 4 tháng 2 năm 1977 bởi Warner Bros. Records. Album dễ dàng có được vị trí quán quân ở cả Billboard 200 lẫn UK Albums Chart, theo kèm là các đĩa đơn "Go Your Own Way", "Don't Stop", "Dreams" và "You Make Loving Fun". Đây chính là sản phẩm thành công nhất sự nghiệp ban nhạc, đặc biệt với việc giành Giải Grammy cho Album của năm vào năm 1978 và trở thành một trong số những album bán chạy nhất mọi thời đại với khoảng 45 triệu đĩa đã bán. Rumours cũng nhận được chứng chỉ Kim cương tại nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, Canada và Úc. Ban nhạc thực tế muốn ngay lập tức tiếp tục những thành công từ album trước đó của họ là Fleetwood Mac (1975), song những rắc rối trong quan hệ cá nhân của từng thành viên đã cản trở quá trình thu âm bắt đầu. Quá trình thực hiện Rumours được đánh dấu bởi thái độ hợp tác cũng như đối đầu giữa các thành viên trong nhóm; và những câu chuyện của họ đã xuất hiện trong ca từ của mỗi ca khúc. Bị ảnh hưởng lớn từ nhạc pop, album sử dụng pha trộn các nhạc cụ mộc lẫn nhạc cụ điện. Công đoạn chỉnh âm cũng khiến việc phát hành Rumours bị trì hoãn, và cuối cùng được hoàn tất vào cuối năm 1976. Sau khi album được ra mắt vào năm 1977, Fleetwood Mac liền tiến hành một tour diễn vòng quanh thế giới. Rumours hầu hết nhận được những đánh giá tích cực, đề cao chất lượng thu âm cũng như khả năng hòa âm với giọng ca của 3 ca sĩ hát chính. Album cũng là nguồn cảm hứng cho vô vàn những sản phẩm thu âm khác. Được coi là album thành công nhất của Fleetwood Mac, Rumours cũng có tên trong nhiều danh sách album xuất sắc nhất thập niên 1970 cũng như của mọi thời đại. Năm 2004, album được chỉnh âm và tái bản với 1 ca khúc bổ sung và CD bonus trong đó có những bản thu nháp từ quá trình thu âm gốc. 3 CD tái bản khác được hãng Warner Brothers phát hành sau đó vào năm 2013, bao gồm những bản thu nháp và bản thu trực tiếp của ban nhạc trong quá trình đi tour vào năm 1977. == Hoàn cảnh ra đời == Tháng 7 năm 1975, album phòng thu cùng tên của Fleetwood Mac có được những thành công vang dội, và giành được vị trí quán quân vào năm 1976. Ca khúc nổi tiếng của album, "Rhiannon", được phát sóng rộng rãi qua các đài phát thanh. Vào thời điểm đó, đội hình của ban nhạc bao gồm ca sĩ và guitar Lindsey Buckingham, tay trống Mick Fleetwood, keyboard và ca sĩ Christine McVie, bass John McVie và ca sĩ Stevie Nicks. Sau 6 tháng đi tour không nghỉ, gia đình McVie tuyên bố ly thân, kết thúc cuộc hôn nhân kéo dài 8 năm. Bộ đôi chấm dứt mọi mối quan hệ về mặt xã hội và chỉ còn hợp tác trong công việc và âm nhạc. Cặp đôi Buckingham-Nicks, vốn gia nhập ban nhạc ngay trước album Fleetwood Mac năm 1975 sau khi tay guitar Bob Welch chia tay nhóm, có một mối quan hệ tình cảm phức tạp và thường xuyên đối đầu lẫn nhau. Bộ đôi này chỉ dừng tranh cãi khi cùng cộng tác trong âm nhạc. Mick Fleetwood thì có chuyện gia đình khi phát hiện ra người vợ Jenny có mối quan hệ ngoài luồng với người bạn thân của mình và cũng là cựu thành viên của ban nhạc, Bob Weston. Báo chí đã khai thác những vấn đề cá nhân của các thành viên để viết bài. Christine McVie bị đồn phải nhập viện sau khi bị kiệt sức, còn Buckingham và Nicks được cho là bố mẹ của con gái Lucy của Fleetwood sau khi bộ đôi có bức ảnh chụp riêng với cô bé này. Nhiều tờ báo cũng dấy lên tin đồn sự trở lại của 3 thành viên Peter Green, Danny Kirwan và Jeremy Spencer nhân dịp tour diễn kỷ niệm 10 năm thành lập ban nhạc. Trước vô vàn tin đồn, ban nhạc vẫn quyết định giữ nguyên đội hình, cũng bởi một phần vì họ cũng không thể đạt tới thỏa thuận tan rã chính thức trước khi kỳ hạn thực hiện album mới đã tới trước mắt. Fleetwood nhớ lại rằng "sự hi sinh ghê gớm đầy xúc động" đã thúc đẩy tất cả trở nên chú tâm với công việc. Đầu năm 1976, Fleetwood Mac bắt đầu phác thảo những bản thu đầu tiên tại Florida. 2 thành viên sáng lập là Mick Fleetwood và John McVie quyết định không mời nhà sản xuất thành công của ban nhạc, Keith Olsen, vì họ muốn có những hiệu ứng nhẹ nhàng và có tính nhịp điệu hơn. Cuối cùng, cả 2 đã tiến tới thành lập một công ty có tên Seedy Management nhằm quảng bá dự án của nhóm. == Thu âm == Tháng 2 năm 1976, Fleetwood Mac có mặt tại phòng thu Record Plant ở Sausalito, California cùng với 2 kỹ thuật viên là Ken Caillat và Richard Dashut. Công việc sản xuất được san sẻ giữa các thành viên, song Caillat là người chịu trách nhiệm chính về mặt kỹ thuật: ông đã chấp nhận vắng mặt tại phòng thu Wally Heider Studios ở Los Angeles sau khi nhận được lời đề nghị hỗ trợ từ ban nhạc. Hệ thống ở Sausalito được cấu trúc từ nhiều phòng thu nhỏ xây bằng gỗ, không có cửa sổ và được bố trí rải rác rộng khắp. Vài thành viên đã than phiền về việc này và đề nghị thu âm tại nhà một ai đó, song Fleetwood đã không đồng ý. Christine McVie và Nicks quyết định thuê 1 phòng đôi gần khu cảng của thành phố, trong khi các thành viên nam thì ở lại những phòng còn trống của phòng thu ở trên đồi. Việc thu âm được thực hiện trong căn phòng rộng 54m2 trong đó có chiếc máy thu âm 3M 24-băng, rất nhiều micro chất lượng tốt, hệ thống API với equaliser 550A – những thiết bị chủ yếu để điều chỉnh khác biệt về âm sắc trong những ca khúc. Nhan đề album ban đầu được lựa chọn là Yesterday's Gone. Buckingham được giao phụ trách về chuyên môn để đảm bảo có một "album nhạc pop". Theo Dashut, trong khi Fleetwood và gia đình McVie dự định thực hiện theo hơi hướng blues rock thì tay guitar chính của nhóm đã hình dung ra "cốt lõi của một sản phẩm thu âm". Trong quá trình thử nghiệm và dàn dựng các sáng tác, Buckingham và Christine McVie đã cùng nhau chơi guitar và piano để tạo nên bộ khung cho album. Khi tất cả bắt đầu chơi nháp, Fleetwood thường chơi trống riêng ở ngoài phòng thu nhằm đảm bảo cho Caillat và Dashut có cảm nhận tốt hơn về từng ca khúc. Bộ phận kích rung được đặt xung quanh dàn trống và gần John McVie – người được bố trí chơi bass ngay bên cạnh Fleetwood. Buckingham đã chuẩn bị sẵn những đoạn chơi guitar nền, trong khi phần keyboard của Christine McVie được thu riêng ngoài phần chơi trống. Caillat và Dashut mất tới 9 ngày chỉ để bố trí các micro và ampli sao cho có được thứ âm thanh tốt nhất, trước khi họ phát hiện ra rằng họ có thể chỉnh sửa hiệu quả hơn với hệ thống chỉnh âm API. Khi bắt đầu tiến hành thu âm album, những mối quan hệ cá nhân của các thành viên cũng bắt đầu rạn nứt và ảnh hưởng tiêu cực tới Fleetwood Mac. Ban nhạc không gặp gỡ hoặc hoạt động về mặt xã hội sau khi rời khỏi phòng thu. Cùng lúc đó, làn sóng hippie vừa tràn tới Sausalito, trong khi các loại chất kích thích thì vốn đã được bày bán mọi nơi. Ngân quỹ rủng rỉnh đã biến cả nhóm và toàn bộ ê-kíp trở nên sa đọa, chơi bời thâu đêm và lạm dụng cocaine suốt quá trình sản xuất album. Chris Stone, một trong những người quản lý Record Plant, nói vào năm 1997 rằng Fleetwood Mac đã "vượt qua giới hạn của việc tốn kém" khi sử dụng phòng thu quá lâu và suốt một thời gian quá dài. Ông nhấn mạnh: "Ban nhạc thường tới đây vào lúc 7 giờ tối, cùng nhau ăn một bữa lớn rồi tiệc tùng cho tới 1-2 giờ sáng. Khi mà họ đã mệt lử và chẳng thể làm được gì thêm nữa thì họ bắt đầu thu âm." Nicks cho rằng Fleetwood Mac chỉ có thể thực hiện được thứ âm nhạc tốt nhất trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất, trong khi theo Buckingham, sự căng thẳng giữa các thành viên đã góp phần đẩy nhanh quá trình hoàn thiện, dẫn tới "thành quả chung tốt hơn hẳn việc tổng hợp từng công việc rời rạc". Bộ đôi trên cũng trở nên "nóng lạnh" sau mỗi lần tan hợp, cho dù Buckingham vẫn trực tiếp sửa đổi các ca khúc của Nicks và "biến chúng trở nên tuyệt đẹp". Phần giọng hòa âm của bộ đôi với Christine McVie là hoàn hảo khi ban nhạc đã sử dụng tất cả những loại micro tân tiến nhất. Phần lời viết bởi Nicks góp phần làm nổi bật phần chơi của các nhạc cụ khi cô chủ ý viết chúng một cách mập mờ và trừu tượng. Theo Dashut, tất cả các bản thu được thực hiện với "cảm xúc và cảm nhận của một người ngoài cuộc... hay một người hòa giải". John McVie đã có nhiều tranh cãi với Buckingham trong việc dàn dựng ca khúc, song cả 2 đều dễ dàng thống nhất được cách hiệu quả nhất. Ca khúc "Songbird" của Christine mà Caillat đề nghị thu âm theo âm hưởng của nhà hát đã được thực hiện suốt 1 đêm ròng tại hội trường của nhà hát Zellerbach, thuộc khuôn viên Đại học California tại Berkeley, phía bên kia Vịnh San Francisco. Sau gần 2 tháng tại Sausalito, Fleetwood thu xếp một tour diễn ngắn 10 ngày để ban nhạc nghỉ ngơi cũng như giao lưu với người hâm mộ. Sau đó, việc thu âm được tiếp tục ở Los Angeles, trong đó có cả phòng thu Wally Heider Studios. Christine McVie và Nicks vắng mặt tại hầu hết các buổi thu và chỉ có mặt khi ban nhạc muốn có thêm phần hát bè hoặc chỉnh sửa. Các thành viên còn lại, cùng Caillat và Dashut, bắt đầu tiến hành quá trình ghi đè và trộn âm sau khi một vài cuốn băng thâu ở Sausalito bị lỗi do bị sử dụng quá nhiều lần trong suốt quá trình thu âm; hầu hết tiếng trống kick và trống mặt đều "không tồn tại". Tour diễn mùa thu vòng quanh nước Mỹ vốn đã được bán cháy vé buộc phải hủy bỏ nhằm hoàn thiện album khi mà kỳ hạn tháng 9 năm 1976 đã tới gần. Một chuyên gia đã được thuê để chỉnh sửa những cuốn băng ở Sausalito bằng một máy chỉnh dao động chuyên dụng. Với một chiếc tai nghe đặc biệt trong đó cuộn băng lỗi được bật bên tai trái còn phần chỉnh âm tạm thời bên tai phải, kỹ thuật viên này đã điều chỉnh tốc độ bằng những dụng cụ khắc biểu kết hợp với cách chơi nhạc cụ gảy và hi-hat trong từng ca khúc. Fleetwood Mac cùng 2 nhà sản xuất mong muốn một sản phẩm "không phân biệt", tới mức mỗi ca khúc đều có tiềm năng trở thành đĩa đơn. Sau khi hoàn tất quá trình chỉnh âm và cùng nhau nghe lại lần lượt từng ca khúc, các thành viên của nhóm có cảm nhận rằng họ vừa thực hiện một sản phẩm "vô cùng đặc biệt". == Sáng tác == === Ca từ === Bộ 3 sáng tác chính của ban nhạc—Buckingham, Christine McVie và Nicks—thường làm việc riêng rẽ với từng ca khúc, song đôi lúc cũng trao đổi lẫn nhau về phần ca từ. "The Chain" là bài hát duy nhất của album mà tất cả các thành viên, gồm cả Fleetwood và John McVie, cùng tham gia sáng tác. Tất cả các ca khúc của Rumours đều ít nhiều nói về những mối quan hệ cá nhân, và cả những vấn đề rắc rối với nó. Theo Christine McVie, ban nhạc rất muộn về sau mới nhận ra rằng những người viết lời đã chú tâm quá nhiều tới những cuộc chia tay. "You Make Loving Fun" là ca khúc mà Christine viết cho người từng là bạn đời của mình – thủ lĩnh của Fleetwood Mac – sau khi cô quyết định chấm dứt với John. Ca khúc "Dreams" của Nicks nói về cuộc chia tay với đầy hi vọng, trong khi sáng tác của Buckingham "Go Your Own Way" thì mang nhiều nét bi quan hơn. Sau một cuộc tình ngắn ngủi với một người phụ nữ từ New England, Buckingham đã viết nên "Never Going Back Again", một ca khúc mà anh muốn chối từ mọi cảm xúc buồn rầu khi đang hài lòng với cuộc sống hiện tại. Câu hát "Been down one time/ Been down two times" được anh lấy cảm hứng từ những nỗ lực tán tỉnh phụ nữ. "Don't Stop" là một sáng tác đầy lạc quan của Christine McVie. Cô cũng chú thích rằng Buckingham đã giúp đỡ cô viết 2 đoạn vào chính khi cô đang quá bị cảm xúc chi phối. Ca khúc tiếp theo của Christine, "Songbird", với phần ca từ giàu tính nội tâm hơn "không dành cho ai và dành cho tất cả mọi người" được viết dưới dạng "một lời nguyện cầu". "Oh Daddy", ca khúc cuối cùng của cô trong album, được dành cho Fleetwood và vợ Jenny Boyd sau khi họ quay lại với nhau (biệt danh của Fleetwood trong nhóm là "The Big Daddy"). Christine McVie cho rằng việc viết ca khúc này mang chút tính mỉa mai và nhấn mạnh vào những định hướng xuất sắc của anh cho ban nhạc. Nicks đóng góp câu hát cuối cùng trong bài hát này "And I can't walk away from you, baby/ If I tried". Sáng tác của riêng cô, "Gold Dust Woman", được lấy cảm hứng từ cuộc sống ở Los Angeles và những khó khăn khi phải chuyển tới sống ở một thành phố lớn. Sau khi vật lộn với đời sống nhạc rock, Nicks bắt đầu nghiện cocaine, và phần ca từ đã cho thấy rõ niềm tin "tiếp tục vươn lên" của cô. === Âm nhạc === Rumours là sự hòa trộn của các nhạc cụ điện và mộc. Phần chơi guitar của Buckingham cùng với phần chơi Fender Rhodes piano và Hammond B-3 organ của Christine McVie xuất hiện trong tất cả các ca khúc. Phần thu âm bao gồm nhiều đoạn phách mạnh được nhấn mạnh bởi tiếng trống, theo kèm là những nhạc cụ định âm khác như conga hay maracas. Ca khúc mở đầu "Second Hand News" được phát triển từ một bản demo mộc có tên "Strummer". Sau khi nghe "Jive Talkin'" của Bee Gees, Buckingham và nhà sản xuất Dashut đã cùng phát triển thêm bản demo này với 4 đoạn thu cùng guitar điện, cố gắng định âm theo phong cách celtic rock. "Dreams" bao gồm "những không gian tinh khiết" và được hòa âm với 2 nốt bè bass. Nicks sáng tác nên ca khúc này chỉ trong 1 buổi chiều và quyết định hát chính, trong khi ban nhạc chơi phía sau. Ca khúc thứ ba của album, "Never Going Back Again" có tên ban đầu "Brushed" khi nó vốn chỉ là một đoạn chơi guitar acoustic của Buckingham được đệm bằng tiếng chổi lông quét trên mặt trống, và ban nhạc sau đó quyết định cho thêm phần hát và các phần chơi nhạc cụ khác góp phần làm cho ca khúc trở nên đầy đặn hơn. "Don't Stop" được lấy cảm hứng từ nhịp triple step, ca khúc được hòa âm bởi các nhạc cụ mộc cùng tack piano. Nhạc cụ này được cấu trúc bằng cách chèn một miếng bịt giữa bộ dây và búa gõ, góp phần làm cho âm thanh gọn gàng hơn. "Go Your Own Way" sử dụng nhiều guitar hơn và mang nhịp four-to-the-floor mà ban nhạc bắt chước từ ca khúc "Street Fighting Man" của The Stones. Album trở nên chậm rãi hơn với ca khúc "Songbird" mà Christine McVie chơi chiếc đại dương cầm 9-quãng của hãng Steinway. Mặt B của Rumours được bắt đầu với "The Chain", một trong những bản thu phức tạp nhất sự nghiệp ban nhạc. Một bản demo mang tên "Keep Me There" của Christine McVie, cùng với đó là một đoạn nhạc chỉnh sửa ở phòng thu của Nicks đã trở thành phần cứng của bài hát. Toàn bộ ban nhạc đã cùng nhau viết phần còn lại nhằm biến ca khúc mang dáng dấp của một bản nhạc nền phim; John McVie đã sử dụng chiếc fretless guitar bass góp phần đẩy nhanh nhịp, đặc biệt để bắt đầu đoạn thứ 3 cũng là đoạn kết thúc ca khúc. "You Make Loving Fun" được lấy cảm hứng từ nhạc R&B và sử dụng clavinet – một loại keyboard vô cùng đặc biệt – trong khi phần nhịp được giữ bởi phần chơi nốt và bass đan xen. Ca khúc thứ 9, "I Don't Want to Know", được chơi với chiếc guitar 12-dây. Lấy cảm hứng từ Buddy Holly, Buckingham và Nicks đã viết nên ca khúc này vào năm 1974, tức là trước cả khi họ gia nhập Fleetwood Mac. "Oh Daddy" được phác thảo với phần chơi bass tự phát bởi John và những nốt điểm xuyết bởi Christine McVie. Album kết thúc với "Gold Dust Woman", một ca khúc được lấy cảm hứng từ free jazz, trong đó sử dụng harpsichord, guitar Fender Stratocaster và dobro – một loại guitar đặc biệt mà âm thanh được bồi âm hoàn toàn từ kim loại. == Danh sách ca khúc == Cassette Bản cassette phát hành gốc có thứ tự ca khúc khi đổi chỗ "Second Hand News" và "I Don't Want to Know". Silver Springs "Silver Springs" (4:48), một ca khúc của Nicks, được thu âm cùng lúc và được dự định cho vào trong Rumours. Đây chính là mặt B của đĩa đơn "Go Your Own Way" và sau này được cho thêm vào các ấn bản tái bản. Ấn bản tái bản năm 2001 Ấn bản DVD của Rumours được phát hành vào năm 2001 bao gồm cả "Silver Springs" (ca khúc thứ 6, trong "Songbird" trở thành ca khúc thứ 12), theo kèm là những bài phỏng vấn ngắn các thành viên về quá trình thu âm từng ca khúc. Ấn bản tái bản năm 2004 Warner Bros. cho phát hành bản chỉnh âm vào năm 2004 với việc chèn ca khúc "Silver Springs" giữa "Songbird" và "The Chain". Ấn bản bao gồm nhiều bức ảnh bổ sung và kèm với đó là những dòng phụ chú chi tiết hơn. Rhino Entertainment cũng đưa bản tái bản này vào trong ấn bản bao gồm đĩa demo, nháp và thu âm thử. Ấn bản tái bản năm 2011 Năm 2011, Warner Music Nhật Bản cho phát hành album trong ấn bản Super Audio CD trong đó "Silver Springs" là ca khúc số 6, còn "Songbird" là ca khúc số 12. Ấn bản kỷ niệm 35 năm phát hành Warner Bros. và Rhino Entertainment đều cho tái bản album nhân dịp 35 năm phát hành dưới nhiều ấn bản khác nhau – một tuyển tập bao gồm đĩa than gốc, không bao gồm "Silver Springs", được ra mắt vào ngày 16 tháng 4 năm 2011; bản CD chỉnh âm, vẫn không có ca khúc "Silver Springs", được phát hành vào ngày 31 tháng 1 năm 2012; và 2 box set được phát hành vào ngày 29 tháng 1 năm 2013. Ấn bản Expanded Edition bao gồm 3 CD: Album gốc cộng thêm ca khúc "Silver Springs". 12 bản thu âm trực tiếp chưa từng phát hành được thực hiện tại phòng thu vào năm 1977. 16 bản demo, thu nháp và thu âm thử chưa từng phát hành. Ấn bản Deluxe Edition (đôi khi còn được gọi là "super deluxe") bao gồm 4 CD, 1 DVD, và 1 đĩa than: Tổng hợp 40 ca khúc trong tất cả các ấn bản. 18 bản demo, thu nháp và thu âm thử nằm trong ấn bản tái bản năm 2004. The Rosebud Film, bộ phim tài liệu năm 1977 của Michael Collins. Album gốc ở định dạng đĩa than. == Phát hành == Mùa thu năm 1976 ngay trong quá trình thu âm, Fleetwood Mac đã trình diễn vài ca khúc của Rumours tại nhà hát Universal ở Los Angeles. John McVie đề xuất tên gọi cho album vì anh có cảm giác ban nhạc đang viết "báo và nhật ký" của mỗi thành viên qua âm nhạc. Hãng Warner Bros. công bố lịch phát hành cụ thể với báo chí vào tháng 12 và cho ra mắt "Go Your Own Way" làm đĩa đơn quảng bá vào tháng 1 năm 1977. Chiến dịch rầm rộ mà hãng từng thành công với album Fleetwood Mac (1975) qua việc liên hệ với hơn chục hãng đài AM và FM trải khắp nước Mỹ đã góp phần tạo nên sự chú ý với Rumours. Cùng lúc, album đã phá kỷ lục của Warner Bros. với 800.000 đĩa được đặt hàng trước. Rumours được phát hành vào ngày 4 tháng 1 năm 1977 tại Mỹ, và 1 tuần sau đó tại Anh. Phần bìa album chụp hình Fleetwood và Nicks trong trang phục nhân vật "Rhiannon", trong khi phần bìa mặt sau là hình chụp toàn bộ ban nhạc; tất cả những bức hình này được thực hiện bởi Herbert Worthington. Ngày 28 tháng 2, sau khi chơi tại phòng thu SIR Studios ở Los Angeles, Fleetwood Mac bắt đầu tour diễn vòng quanh nước Mỹ kéo dài 7 tháng. Nicks nhớ lại rằng sau khi trình diễn Rumours, ban nhạc ban đầu nhận được những phản ứng khá tiêu cực từ người hâm mộ khi họ chưa thể tiếp nhận được những chất liệu mới. Một buổi diễn vào tháng 3 đã được dành cho việc xung quỹ cho Thượng nghị sĩ Birch Bayh từ Indiana, sau đó ban nhạc thực hiện tour diễn vòng quanh châu Âu bao gồm Anh, Hà Lan, Pháp và Đức vào tháng 4. Nigel Williams của tạp chí Uncut đã gọi buổi trình diễn của Fleetwood Mac là "sản phẩm soap opera xuất sắc nhất". "Dreams", được phát hành vào tháng 6 năm 1977, là đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100 duy nhất của ban nhạc. Siêu ấn bản 5.1 DVD-Audio được phát hành vào năm 2001, và vào tháng 9 năm 2011, một ấn bản 5.1 Super Audio CD được phát hành bởi Warner Japan thuộc chuỗi sản phẩm The Warner Premium Sound của họ. == Thành công thương mại == Rumours nhanh chóng có được thành công thương mại vang dội, và trở thành album quán quân thứ 2 tại Mỹ của ban nhạc, sau album Fleetwood Mac năm 1975. Album tổng cộng có 35 tuần không liên tục đứng đầu Billboard 200, cùng với đó là quán quân tại Úc, Canada và New Zealand. Tháng 5 năm 2011, album trở lại Billboard 200 ở vị trí số 11, và ARIA Charts với vị trí số 2, trong khi rất nhiều ca khúc của album đã được chọn cho tập phim có tên "Rumours" của serie truyền hình Glee. Album nhận được chứng chỉ Bạch kim tai Anh và Mỹ chỉ trong chưa đầy 1 tháng, tương đương với 300.000 đĩa được bán tại mỗi quốc gia trên. Cả 3 tạp chí danh giá là Billboard, Cash Box, và Record World đều gọi đây là "Album của năm 1977". Khởi đầu với vị trí số 3, Rumours giành lấy vị trí số 1 tại UK Albums Chart vào tháng 1 năm 1978, trở thành album quán quân đầu tiên của Fleetwood Mac tại đây. Vào tháng 2 cùng năm, ban nhạc và 2 nhà sản xuất Caillat và Dashut cùng được trao Giải Grammy cho Album của năm. Tới tháng 3, album đã bán được tổng cộng 10 triệu bản trên toàn thế giới, trong đó có 8 triệu bản chỉ riêng tại Mỹ. Tới năm 1980, 13 triệu bản của Rumours đã được bán trên toàn thế giới, và con số này nâng lên thành 20 triệu vào năm 1987. Vào thời điểm Fleetwood Mac tái hợp vào năm 1997, album đã đạt ngưỡng 25 triệu bản. Doanh thu tiếp tục đạt cột mốc 30 triệu vào năm 2004 và 40 triệu vào năm 2010. Tính tới năm 2012, Rumours đã có tổng cộng 488 tuần có mặt trong top 100 tại Anh và là album bán chạy thứ 14 lịch sử âm nhạc quốc gia này, cùng với đó là chứng chỉ 11x Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Anh, tương đương với 3 triệu đĩa bán ra tại đây. Album cũng nhận được danh hiệu 19x Bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ tương đương với 19 triệu đĩa bán tại Mỹ vào năm 2012, đứng thứ 6 trong danh sách album bán chạy nhất mọi thời đại tại đây (tính theo chỉ số doanh thu). Album cũng được nhận chứng chỉ 2x Kim cương bởi Music Canada với 2 triệu đĩa đã bán, 13x Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc tương đương với 900.000 đĩa bán. Năm 2006, Rumours cũng nhận chứng chỉ 5x Vàng từ BVMI với 1,25 triệu đĩa được bán tại Đức. == Đón nhận của công chúng == Rumours nhận được rất nhiều đánh giá tích cực ngay khi mới phát hành. Robert Christgau trong bài viết trên tờ The Village Voice dành cho album điểm "A" với lời miêu tả "cô đọng hơn và kỳ lạ hơn" sản phẩm trước của ban nhạc. Ông cũng nhấn mạnh rằng album "đi thẳng vào tâm hồn bạn". John Swenson của tạp chí Rolling Stone cho rằng sự hòa hợp giữa giọng ca của 3 ca sĩ chính là một trong những điểm hoàn hảo của album này. Ông viết: "Dù có nhiều vấn đề gây trì hoãn trong quá trình thu âm album, Rumours đã chứng minh rằng thành công của Fleetwood Mac không phải là ăn may." John Rockwell của tờ The New York Times đánh giá đây là "một album gây mê mẩn, hoặc ít nhất là thứ khiến cho công chúng có thể hi vọng như vậy". Cây viết Robert Hilburn của Los Angeles Times lại khá dè dặt về album khi cho rằng đây là "một bản thu không hài hòa đầy thất vọng", trong khi Juan Rodriguez từ The Gazette thì cho rằng nếu như âm nhạc đã trở nên "linh hoạt và rõ ràng hơn" thì những ý tưởng của Fleetwood Mac lại "có chút lộn xộn hơn". Album được xếp hạng 4 theo độc giả mục Pop & Jazz của tờ The Village Voice cho album của năm 1977 với phiếu bầu của hơn 100 người tham gia bình chọn. Cùng quan điểm trên, nhà phê bình Stephen Thomas Erlewine của Allmusic dành tặng album 5 sao tuyệt đối, cho rằng không kể tới những vấn đề liên quan, bản thu rõ ràng là "một sản phẩm bom tấn chưa từng có" về mặt chất lượng âm nhạc; ông kết luận, "Mỗi hợp âm, mỗi câu chữ đã chứa đựng sự thô sơ của nó, một thứ cảm xúc trực tiếp – đó cũng chính là lý do vì sao Rumours đã chạm tới tất cả mọi xúc cảm ngay khi được phát hành vào năm 1977, và vượt qua thời gian để trở thành một trong những album nhạc pop vĩ đại và nổi bật nhất." Cùng dành 5 sao cho phần đánh giá album, Barry Walsh từ Slant Magazine đề cao việc Fleetwood Mac đã biến những trục trặc trong tình cảm cá nhân trở thành "thứ nhạc pop kinh điển, bất tử". Năm 2007, Daryl Easlea từ BBC đã gọi những thành tựu về mặt âm thanh "gần như hoàn hảo", "cứ như hàng ngàn thiên thần đang tới hôn bạn lên cánh tay vậy", trong khi Patrick McKay từ Slant Magazine viết "Thứ làm nổi bật Rumours – thứ được gọi là nghệ thuật – đó chính là sự đối lập giữa vẻ ngoài tươi vui với những trái tim đau khổ của họ. Và đây một bản thu hoàn hảo của sự tức giận, những lời cáo buộc và cả sự mất mát." Rikky Rooksby, tác giả của cuốn The Complete Guide to the Music of Fleetwood Mac, giải thích về thành công của album như "viên kim cương được đẽo gọt cả trăm mặt. Khi bạn đưa nó trước ánh sáng, những tia phản chiếu sẽ làm bạn chói lòa." Rooksby cũng nói thêm rằng album "tập hợp những ca khúc thương mại với giai điệu soft-rock theo nguồn cảm hứng âm nhạc phát thanh. Nó cũng không quá lạm dụng phần guitar solo, phần chơi của nhạc cụ mộc là những điểm sáng kết tinh, ngoài ra còn có những hòa âm từ bờ Tây của những tiền bối như The Beach Boys/Mamas and Papas/The Eagles, cùng với đó là 3 giọng ca vô cùng khỏe khoắn. Đây là một sản phẩm soap-opera 12": lấy chủ đề từ những mối quan hệ cá nhân, ở đó còn có những điều hơn cả mong đợi." Cuối cùng, ông kết luận "chưa có một điều gì giàu tính âm nhạc tới vậy". Trong bài viết vào năm 2013, nhà phê bình âm nhạc Jessica Hopper đặt album trong hoàn cảnh lịch sử của nó như một bản thu chứa đựng "sự dễ dãi và cả quyền lợi của cả thập niên 70 qua những hòa âm xuất sắc. Theo thời gian, những quyền cá nhân vốn bị gò bó bởi biển động xã hội đã được giải phóng qua tính tự do của chủ nghĩa khoái lạc." Hooper cũng đánh giá sản phẩm như "lời chia tay ngọt ngào bóng bẩy cho phong trào hippie mà không quan tâm rằng thời kỳ xa xưa của thứ tình yêu hồn nhiên đã đổi thay và không bao giờ trở lại nữa." === Ấn bản kỷ niệm 35 năm phát hành === Metacritic cho phép đánh giá album thông qua điểm số trung bình cùng những lời nhận xét từ người hâm mộ và các chuyên gia về ấn bản kỷ niệm 35 năm phát hành. Điểm số có được là một kỷ lục đáng kinh ngạc 99/100. Steven Rosen trên tờ American Songwriter gọi đây là bản thu "mượt mà nhất của ban nhạc" trong đó "gửi gắm với trái tim và những vết cắt ẩn chứa trong những câu chuyện tình thất bại và trong những chuyện lùm xùm của các thành viên với thứ tâm hồn tự do, thứ tình yêu tự do của những năm 70." Jon Hadusek của Consequence of Sound cho rằng album vẫn "sống mãi" khi ông nhận thấy "thứ làm cho Rumours trở nên đặc biệt và nổi bật đó chính là việc nó vẫn giữ cho mình sự mong manh và cuốn hút tới mãi 35 năm sau". Andy Grill từ tờ The Independent tỏ ra thích thú với "chất lượng trường tồn" của album và quả quyết rằng nó "cùng với The Eagles Greatest Hits chính là thương hiệu của nhạc rock Mỹ thập niên 70, thứ tinh hoa của phong trào phản văn hóa mà tư tưởng của nó bị thấm nhuần bởi những khoái lạc từ ma túy." Trên tạp chí Mojo, James McNair nhận xét rằng "Rumours luôn nhắc chúng ta phải tiếp tục say mê họ." Ryan Reed của tạp chí Paste cho rằng album là "thứ pha trộn duy nhất giữa sự mạnh mẽ, niềm vui, sự bí ẩn và tính cơ bắp", và đó cũng là lý do vì sao album "xứng đáng với mọi sự tôn trọng về bản tái bản lãng phí và không cần thiết này, một biểu tượng của nhạc pop." Cây bút Jessica Hopper từ Pitchfork Media cho rằng đây là "một trong những album cơ bản của nhạc rock", "một bản thu hoàn chỉnh được lấy cảm hứng từ những trục trặc của cuộc sống thực tế" và "nó thành công hơn bất kể một sản phẩm nào khác được thực hiện theo cách tương tự". Ngoài ra, Hopper cũng đánh giá "Rumours không chỉ là thứ tạo bước ngoặt, đơn giản nó là hoàn hảo." Trên tạp chí Rolling Stone, Jody Rosen thuật lại việc thính giả từng tìm mua album "bởi những vinh quang – thứ hòa trộn kỳ lạ của làn sóng pop, của nhạc rock thập niên 50 với những hòa âm từ thiên đường" và cho rằng "những khám phá quan trọng về Rumours chính là hậu trường thực hiện album, điển hình là đoạn demo solo-piano của Christine McVie trong ca khúc "Songbird"." Piers Martin từ tờ Uncut cho rằng "với tất cả những thứ lòe loẹt và nhồi nhét trong ấn phẩm này, chiếc đĩa khiến bạn phải bật đi bật lại sẽ là một trong những album tuyệt vời nhất của cuộc đời bạn", một album với "câu chuyện bên lề đầy kinh ngạc vượt qua cả những cảm xúc rối loạn và mơ màng, không ngừng kể lại những chi tiết đầy ham muốn, rõ ràng không thể nào có thể cuốn hút hơn." Trên tạp chí Under the Radar, Frank Valish nhận xét ấn bản tái phát hành đã "tái hiện lại album gốc, với những câu chuyện và chân lý của nó". Tuy nhiên, John Bergstorm của PopMatters lại tin rằng "mỗi ca khúc là một kiểu mở-rồi-đóng, nút-thắt, kết-thúc cho sự hoàn hảo của pop-rock", cũng chính vì thế ông kết luận "ấn bản với những đĩa hát trực tiếp và thu nháp rõ ràng là không cần thiết." == Tôn vinh == Mick Fleetwood gọi Rumours là "album quan trọng nhất mà chúng tôi từng thực hiện", bởi vì thành công của nó là tiền đề để ban nhạc tiếp tục thu âm cùng nhau những năm sau đó. Nhà nghiên cứu văn hóa Chuck Klosterman liên hệ thành công của album với "những ca khúc thực sự dễ thương" của nó, mặt khác cũng nhấn mạnh rằng "không có một ý tưởng vĩ đại nào" được họ quan tâm từ đầu. Tờ The Guardian đối chiếu vào năm 1997 tất cả những đánh giá từ những nhà chuyên môn, nghệ sĩ, DJ và xếp hạng album ở vị trí số 78 trong danh sách "100 album vĩ đại nhất". Năm 1998, Fleetwood cho ra mắt album Legacy: A Tribute to Fleetwood Mac's Rumours, bao gồm các ca khúc của album gốc trong đó có những phần bìa dành riêng cho chúng. Những nghệ sĩ từng ảnh hưởng bởi album này bao gồm ban nhạc alternative rock Tonic, Matchbox 20, hay Goo Goo Dolls, nhóm Celtic rock The Corrs hay The Cranberries, cùng nhiều nhạc sĩ như Elton John, Duncan Sheik, và Jewel. Ngoài ra còn có thể kể tới nghệ sĩ baroque pop Tori Amos, ban nhạc hard rock Saliva và nhóm indie rock Death Cab for Cutie. Năm 1996, tạp chí Q xếp Rumours ở vị trí số 3, chỉ sau London Calling của The Clash và The Dark Side of the Moon của Pink Floyd, trong danh sách "50 album xuất sắc nhất thập niên 70". Năm 1999, tạp chí Vibe đưa album vào danh sách "100 album quan trọng nhất thế kỷ 20". Năm 2003, VH1 xếp Rumours ở vị trí số 16 trong danh sách "100 album vĩ đại nhất", trong khi Slant cũng đưa album vào trong danh sách "50 album quan trọng nhất". Cùng năm, USA Today xếp Rumours ở vị trí số 23 trong danh sách "Top 40 album" của họ, trong khi tạp chí danh giá Rolling Stone xếp album ở vị trí số 25 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất" – thứ hạng cao nhất của Fleetwood Mac. Năm 2006, Rumours cũng có tên trong danh sách 100 album vĩ đại nhất của tạp chí TIME, còn tạp chí Mojo cũng đưa album vào trong danh sách "1970: Thập kỷ của những album vĩ đại". Rumours cũng có tên trong danh sách "1000 album phải nghe trước khi chết" của tờ The Guardian và cả trong cuốn sách 1001 Albums You Must Hear Before You Die. Bản tái bản năm 2013 được nhà phê bình Jessica Hopper của Pitchfork Media dành tặng điểm 10/10 và gọi đây là ấn bản tái bản xuất sắc nhất. Năm 2011, serie phim truyền hình Glee thực hiện hẳn một tập có tên "Rumours" với 6 ca khúc nằm trong album. Tập phim nổi tiếng này khiến cộng đồng dành nhiều quan tâm hơn về album gốc và Rumours sau đó tái xuất hiện trong Billboard 200 ở vị trí số 11. Đây là sự quay trở lại ấn tượng nhất của một album từng được phát hành lâu năm, chỉ sau sự kiện Exile on Main St. của The Stones tái xuất tại Billboard ở vị trí số 2 vào ngày 5 tháng 6 năm 2010. == Thành phần tham gia sản xuất == Fleetwood Mac Lindsey Buckingham – guitar, banjo, dobro, định âm, hát. Stevie Nicks – hát, sắc-xô. Christine McVie – keyboard, piano, Hammond organ, clavinet, hát. John McVie – bass. Mick Fleetwood – trống, định âm, harpsichord. Sản xuất Ken Caillat – sản xuất, chỉnh âm, kỹ thuật viên âm thanh. Richard Dashut – sản xuất, kỹ thuật viên âm thanh. Cris Morris – kỹ thuật viên âm thanh. Ken Perry, Charlie Watts – chỉnh âm. Thiết kế Desmond Strobel – thiết kế. Larry Vigon – thiết kế kiểu chữ. Herbert Worthington – ảnh bìa. == Xếp hạng == == Chứng chỉ == == Ghi chú == == Tham khảo == == Thư mục == == Liên kết ngoài == Ca từ của Rumours trên trang Rhapsody. Phát hành của Rumours tại Billboard qua Google Books.
kumta.txt
14.42°B 74.4°Đ / 14.42; 74.4 Kumta là một thị xã của quận Uttara Kannada thuộc bang Karnataka, Ấn Độ. == Địa lý == Kumta có vị trí 14.42°B 74.4°Đ / 14.42; 74.4 Nó có độ cao trung bình là 3 mét (9 feet). == Nhân khẩu == Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Kumta có dân số 27.597 người. Phái nam chiếm 51% tổng số dân và phái nữ chiếm 49%. Kumta có tỷ lệ 77% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 82%, và tỷ lệ cho phái nữ là 73%. Tại Kumta, 10% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. == Tham khảo ==
pizza.txt
Pizza (phát âm tiếng Ý: [ˈpittsa] (), tiếng Anh: /ˈpiːtsə/ ( nghe)), người Việt thường được đọc /pi˧ zaː˧/. Là loại bánh dẹt, tròn được chế biến từ nước, bột mỳ và nấm men, sau khi đã được ủ ít nhất 24 tiếng đồng hồ và nhào nặn thành loại bánh có hình dạng tròn và dẹt thì người ta cho vào lò nướng chín. Mặc dù ngày nay xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng pizza vẫn được xem là món ăn đặc trưng của ẩm thực Ý và đặc biệt là ở vùng Napoli (pizza napoletana). Trên thực tế, theo cảm nhận thông thường thì có thể nhận thấy các thành phần khác của pizza là sốt cà chua và pho mát mozzarella. Một trong những biến thể nổi tiếng nhất của pizza napoletana là pizza margherita. Nguồn gốc thực sự của pizza vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Ngoài Napoli thì còn nhiều thành phố khác cũng đòi quyền làm chủ của món ăn này. Hơn nữa Pizza còn có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn là của từ "Pizza". Trên thực tế, theo những phân tích mới đây thì nó còn được dùng để chỉ một loại đặc biệt của bánh mì hoặc bánh nướng, Pizza ngày nay có vô số các biến thể khác nhau, thay đởi về cả tên gọi lẫn đặc điểm theo từng vùng miền. Đặc biệt hơn ở một vài nơi thuộc vùng Trung Ý, một số loại bánh nướng mặn, ngọt, dày, mỏng đều được gọi là Pizza. == Miêu tả == Bánh thường có hình tròn nhiều kích cỡ, thường được ghi trong thực đơn gồm cỡ L (lớn, từ large trong tiếng Anh), M (nhỡ, medium) và S (nhỏ, small). Mặt trên bánh thường có nhiều loại khác nhau tạo thành nhiều màu sắc hấp dẫn. == Lịch sử == Tiền thân của pizza là những chiếc bánh làm bằng bột mì được nướng trên những phiến đá phẳng và nóng. Khoảng 1000 năm trước, tấm bột mì nhào hình tròn có rắc lá thơm và gia vị lên trên xuất hiện và trở niên phổ biến tại Napoli, Ý. Một số tài liệu khác lại cho rằng, chiếc pizza xuất hiện đầu tiên lại là ở Hy Lạp. Pizza hiện đại ra đời vào năm 1889 khi nữ hoàng Margherita Teresa Giovanni, hoàng hậu của vua Umberto I của Ý đến thăm Napoli. Raffaele Esposito, chủ quán rượu Pietro Il Pizzaiolo, đã được yêu cầu chuẩn bị làm một món ăn đặc biệt để đón tiếp hoàng hậu. Esposito đã làm một chiếc bánh pizza với cà chua, phó mát mozzarella (một loại phó mát được làm từ sữa trâu) và húng quế, những thành phần đã tạo nên ba màu đỏ, trắng và xanh lá cây tượng trưng cho quốc kì Ý. Ông đã đặt tên cho chiếc pizza đó là Margherita. Sau đó, người Ý ở các vùng khác đã nghĩ ra các loại nhân khác nhau và sáng tạo nên những loại bánh pizza mang đặc trưng riêng của từng vùng. Đến đầu thế kỷ 20, bánh pizza theo những đoàn người Ý di cư sang châu Mỹ. Năm 1905, một người Mỹ gốc Ý tên là Gennaro Lombardi mở cửa hàng bánh pizza mang phong cách Mỹ đầu tiên ở New York. Cũng chính tại nước Mỹ, bánh pizza trở thành một món ăn nhanh được giao đến tận nhà. Phong cách này nhanh chóng trở thành hình ảnh quen thuộc trên toàn thế giới nhất là sau năm 1945. Trong thời gian Thế chiến thứ hai, những người lính từ Anh, Pháp, Mỹ vì những lý do khác nhau đã có mặt ở Ý. Khi trở về, họ mang theo những phương thức làm bánh pizza của người bản xứ và thường mở cửa hàng bán bánh giao tận nhà theo phương cách của Mỹ. Cho đến ngày nay, bánh pizza đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi nơi, người ta lại tạo cho những chiếc bánh những đặc trưng ẩm thực riêng. == Các loại pizza == === Pizza tonda === Để có được 1 chiếc bánh pizza tonda (pizza tròn) hoàn chỉnh phục vụ khách hàng thì phải trải qua nhiều công đoạn theo trình tự và bao gồm đầy đủ các thành phần, bành pizza được làm dưới hình dạng tròn 1 mặt bánh tiếp xúc với lò nướng, đây là hình dạng bánh rất phổ biến với cả pizza cổ điển hay pizza napoletana.trên mỗi một vùng miền của Ý thì phong cách nấu ăn lại mang đặc trưng riêng,sự đặc biệt của các món ăn của vùng Napoli đã giúp các món ăn của vùng này trở nên vô cùng nổi tiếng, và thành phố Napoli cũng đóng một vai trò rất quan trọng với sự hình thành và phát triển rộng rãi của món bánh pizza ra toàn thế giới. Và đó cũng là lý do tại sao người ta dung từ pizza napoletana (pizza của vùng Napoli) để chỉ Pizza tròn mặc dù về tính chất lại có nhiều điểm khác biệt nhau so với kiểu pizza truyền thống Napoli. Đặc biệt ở ngoài nước Ý cách làm bánh pizza cũng có nhiều khác biệt, có thể nhiều chất béo hơn hay ngọt hơn, hay gia giảm các loại gia vị khác nhau theo khẩu vị của từng địa phương. Để tạo hình bánh thì người ta có thể dùng dụng cụ để cán bột mỏng ra, tốt hơn là dùng tay để kéo bột và dàn đều đế bánh trên không. Các chuyên gia làm bánh pizza thường sử dụng phương pháp thứ 2, gọi là pizzaioli acrobatici === Pizza al taglio === Để làm được 1 chiếc pizza al tagio hoặc pizza bỏ khay thì ta phải dùng tới 1 cái khay lớn có thể hình tròn hoặc hình chữ nhật để nướng, sau khi ra lò bánh sẽ được cắt bán theo yêu cầu của khách hàng. Phiên bản pizza này thường được bán ở các pizzeria, hay tại các tiệm bánh mì. Để làm loại bánh này ta phải dung nguyên liệu được hâm nóng cần thiết, nhào bột với tỉ lệ nước nhiều hơn và trải qua quá trình lên men trong điều kiện thích hợp để tạo ra loại bánh có hương vị đặc biệt. Loại bánh pizza này được đánh giá là rất kinh tế vì pizza được bán theo trọng lượng (phương thức bán bánh này rất phổ biến ở Roma). === Pizza alla pala === Pizza alla pala (hình mái chèo,hình bầu dục), tương tự như pizza bỏ khuôn, là 1 pizza lớn và được bán theo trọng lượng nhưng vừa chín tới, tương tự như pizza tròn, pizza cũng được nướng tiếp xúc trực tiếp với lò nướng. Một trong những biến thể của loại pizza này là pizza al metro. == Nơi thưởng thức pizza == Địa điểm làm và bán bánh pizza được gọi là pizzeria. Các chuỗi nhà hàng pizza thường độc lập với các chuỗi nhà hàng khác và được xây dựng các vùng đất xa xôi so với đại diện ẩm thực Ý trên thế giới. Do số dân nhập cư và ảnh hưởng của Ý tăng mạnh, thành phố có mức tiêu thụ pizza lớn nhất thế giới là thành phố New York tiếp đó là San Paolo của Brasil với số lượng lên tới 30 triệu cái bánh /tháng. Ở thành phố thứ 2 thì các lại xuất hiện các phiên bản khác nhau của pizza khi được kết hợp với các nguyên liệu địa phương như il palmito, catupiry và pho mát kem. ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới tồn tại nhiều chuỗi nhà hàng pizza: một trong những chuỗi nhà hàng lớn đó là pizza Hut, hiện có mặt tại 86 quốc gia trên thế giới. Từ năm 1999, chuỗi nhà hàng Spizzico bắt đầu hoạt động ở Italy, sau đó kết hợp với Autogrill để cho ra chuỗi nhà hàng phục vụ đồ ăn hanh và pizza theo kiểu Bắc Mỹ, và được quản lý không trực tiếp từ pizza Hut, hiện không có mặt tại Italy.ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nổi tiếng nhất là chuỗi nhà hàng Telepizza, chuỗi nhà hàng này còn thực hiện cả công việc giao bánh tận nhà. == Các kỉ lục == Chiếc bánh Pizza lớn nhất là của siêu thị Norwood Pick 'n' Pay (Johannesburg, Nam Phi). Theo sách kỉ lục Guinness chiếc bánh pizza được hoàn thành vào ngày 08 Tháng 12 Năm 1990 này phải dùng tới 500 kg bột, 800 kg pho-mat, 900 kg nước sốt cà chua – có đường kính lên tới 37,4 mét (122 feet 8 inch). Hơn 400 người làm bánh pizza của Ý đã hợp tác ở Napoli làm chiếc bánh pizza dài 1.853 mét vào ngày 18/5/2016, để ghi kỷ lục mới của thế giới về chiếc bánh pizza dài nhất. Những người làm bánh đã làm việc 11 tiếng đồng hồ và sử dụng 2 tấn phó mát mozzarella, 2 tấn bột mì, 1.497 ký lô sốt cà chua, 201 lít dầu ăn và 29,9 ký lô húng tây tươi. Chiếc bánh pizza lập kỷ lục trước đây được làm ở Milan nhân hội chợ năm 2015, là lúc chiếc bánh pizza dài 1,5 kilomet được nướng. Ở tại london một kỉ lục mới về quãng đường vận chuyển bánh pizza đã được xác lập. Một chiếc bánh pizza ra ra lò vào ngày 17/11/2004 và đã vượt qua 1 hành trình dài 16949 km để được chuyển tới 1 địa chỉ tại đường Ramsey, Melbourne vào ngày 19/11/2004. Kỉ lục này được ghi vào phiên bản sách kỉ lục thế giới Guinness năm 2006. Chiếc bánh pizza đắt nhất với đế mỏng đã được thực hiện bởi chuỗi các nhà hàng Domenico Crolla, nguyên liệu bao gồm bánh: sunblush-sốt cà chua, cá hồi hun khói của Scotland, thịt nai thượng hạng, vàng ăn được, tôm hùm ướp trong cognac thượng hạng và trứng cá muối, ngâm rượu sâm banh. Chiếc bánh pizza này được bán tại cuộc đấu giá từ thiện với giá £ 2.150. == Xem thêm == Domino's Pizza Pizza Hut Pizza Inn Pizza Sicilian == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tiếng Ý Giới thiệu Pizza Italian Cách làm 1 chiếc bánh pizza kiểu Ý Tiếng Anh Cách làm piza Bí quyết làm pizza
john donne.txt
John Donne (19 tháng 7 năm 1572 – 31 tháng 3 năm 1631) – nhà thơ Anh theo trường phái siêu hình, tác giả của thơ sonnet, thơ tình, bi ca và những lời thuyết giáo nổi tiếng, là một trong những nhà thơ lớn của Anh thế kỉ 17. == Tiểu sử == John Donne sinh ở Bread Street, London trong một gia đình theo đạo Công giáo. Bố là một thương gia, mất khi John Donne mới lên 4 tuổi, mẹ ông là con gái của nhà thơ, nhà viết kịch Heywood. Trong số những người đời trước có nhà nhân văn Thomas Moore, tác giả của Utopia nổi tiếng. Năm 20 tuổi, John Donne vào học ở Hart Hall (ngày nay là trường Hertford College, Oxford), sau đó học Đại học Oxford và Đại học Cambridge nhưng ông không được nhận bằng từ cả hai nơi này do những người tốt nghiệp những trường Đại học này phải theo Anh giáo, trong khi John Donne là tín đồ Công giáo. Sau khi nghỉ học, John Donne đi du lịch sang Ý và Tây Ban Nha. Năm 1891, vào học tại Lincoln’s Inn trong 3 năm. Những năm 1596-1597 theo ngài bá tước Essex tham gia vào trận đánh Cadiz ở Tây Ban Nha, sau đó làm thư ký cho ngài Thomas Egerton. John Donne yêu cô Anne More, cháu của ngài Thomas Egerton, sau đó hai người bí mật làm đám cưới, khi ngài Egerton biết chuyện đã đuổi việc và bắt John Donne vào tù. Sau khi mãn hạn tù John Donne cùng Anne More về thăm quê ngoại và viết tác phẩm Ignatius his Conclave mong cải thiện điều kiện khó khăn về tài chính. Hai lần (năm 1601 và năm 1614) John Donne được bầu vào Quốc hội Anh, trở thành một nghị sĩ giàu có và rất đông con. Năm 1617 Anne More mất, kể từ đây sáng tác của John Donne đượm vẻ u ám và thần bí hơn trước. John Donne mất năm 1631, trước khi chết ông còn đọc lời thuyết giáo để dùng trong lễ tang và sai người nhà vẽ chân dung đặt vào áo quan. Sau khi mất, gần 200 năm John Donne bị người đời quên lãng, chỉ đến đầu thế kỉ XX nhà thơ William Butler Yeats mới tìm thấy bậc tiền bối của mình. Thế kỉ XX John Donne là nhà thơ cổ điển thời thượng bậc nhất ở nước Anh. Câu thuyết giáo nổi tiếng: “Con người không phải là một hòn đảo, không chỉ là tự mình; mỗi người là một phần của lục địa, một phần của tổng thể; nếu sóng biển cuốn đi dù chỉ một hòn đất thì châu Âu sẽ trở nên bé hơn, cũng như nếu sóng biển cuốn đi cả vùng đất mũi hay ngôi nhà của bạn anh, hay ngôi nhà của riêng anh. Cái chết của mỗi con người làm cái tôi nhỏ lại vì tôi là một phần của toàn nhân loại, và bởi thế anh đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai: chuông nguyện hồn anh đấy”. Những lời này của John Donne được nhà văn Ernest Hemingway dùng làm đề từ của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Chuông nguyện hồn ai”. == Tác phẩm == Thơ: He had done most of his poems in 1633. Poems on Several Occasions (1719). Love Poems (1905). John Donne: Divine Poems, Sermons, Devotions and Prayers (1990). The Complete English Poems (1991). John Donne’s Poetry (1991). John Donne: The Major Works (2000). The Complete Poetry and Selected Prose of John Donne (2001). Văn xuôi: Six Sermons (1634). Fifty Sermons (1649). Paradoxes, Problemes, Essayes, Characters (1652). Essayes in Divinity (1651). Sermons Never Before Published (1661) John Donne’s 1622 Gunpowder Plot Sermon (1996). Devotions Upon Emergent Occasions and Death’s Duel (1999). == Một bài thơ == == Chú thích == == Liên kết ngoài == John Donne at Luminarium.org Poems by John Donne at PoetryFoundation.org John Donne en español A reading of Donne's "The Flea" The Literature Network John Donne's Monument, St Paul's Cathedral Homepage of the John Donne Society Donne undone: Review of "John Donne: The Reformed Soul"(John Stubbs), Guardian Unlimited, ngày 22 tháng 7 năm 2006, by Andrew Motion. Selected Poems of John Donne Complete sermons of John Donne Free audiobook of "Song" from LibriVox John Donne: Sparknotes
windows store.txt
Windows Store là một cửa hàng ứng dụng dành cho Microsoft Windows, bắt đầu với Windows 8 và Windows Server 2012. Đây là phương thức chính để phân phối các ứng dụng Universal Windows Platform. Các ứng dụng miễn phí và trả phí đều có thể được phân phối qua Windows Store, với các ứng dụng trả tiền có giá dao động từ 0.99 tới 999.99 USD. Windows Store lần đầu hoạt động với phiên bản Windows 8 Consumer Preview vào ngày 29 tháng 2 năm 2012. Tới năm 2015, Windows Phone Store, cửa hàng Xbox Video và Xbox Music đã được sáp nhập vào Windows Store. So với các nền tảng tương tự khác, như Mac App Store và Google Play, Windows Store được giám sát và các ứng dụng phải được chứng thực về tính tương thích và về nội dung. Trên tổng doanh số ứng dụng, Microsoft giữ lại 30% tổng doanh thu. Trước ngày 1 tháng 1 năm 2015, phần giữ lại sẽ được giảm xuống còn 20% sau khi lợi nhuận của nhà phát triển đạt 25,000 USD. Theo Microsoft, tính đền 28 tháng 9 năm 2015, có hơn 669,000 ứng dụng có sẵn trên Windows Store, bao gồm các ứng dụng cho Windows NT, Windows Phone, và các ứng dụng Universal hoạt động trên cả hai nền tảng. Trò chơi, Giải trí, Sách và Tham khảo, và Giáo dục là các thể loại lớn nhất về số lượng ứng dụng và phàn lớn các nhà phát triển ứng dụng đều có 1 ứng dụng. == Lịch sử == === Tiền thân === Microsoft trước đó duy trì một hệ thống phân phối kỹ thuật số tương tự cho phần mềm được gọi là Windows Marketplace, cho phép khách hàng mua phần mềm trực tuyến và tải về máy tính của họ. Mã sản phẩm và giấy phép được theo dõi bởi nền tảng, cho phép người dùng có thể giữ lại ứng dụng của họ khi chuyển đổi máy tính. Windows Marketplace đã ngưng vào tháng 11 năm 2008. === Windows 8 === Microsoft lần đầu tiên công bố một dịch vụ phân phối kỹ thuật số cho Windows tại buổi thuyết trình của mình trong hội nghị Build vào ngày 13 tháng 9 năm 2011. Thông tin chi tiết được công bố trong hội nghị cho thấy cửa hàng sẽ có thể giữ danh sách cho cả hai chứng nhận các ứng dụng Windows truyền thống, cũng như những gì được gọi là "ứng dụng Metro-style" vào thời điểm đó: Chặt chẽ sandbox phần mềm dựa trên hướng dẫn thiết kế của Microsoft được liên tục theo dõi về chất lượng và tuân thủ. Đối với người tiêu dùng, Windows Store được dự định là cách duy nhất để có được các ứng dụng Metro-style. Trong khi nó cùng được giới thiệu với phiên bản "Xem trước lập trình viên" của Windows 8, Windows Store chưa có bản sử dụng được cho đến phiên bản "Xem trước cho người dùng" của Windows 8 được ra mắt vào tháng 2 năm 2012. Windows Store không phải là dịch vụ phân phối kỹ thuật số duy nhất giới thiệu với Windows 8; những dịch vụ khác bao gồm Xbox Music và Xbox Video, nơi bán phương tiện truyền thông giải trí kỹ thuật số thay vì phần mềm. === Windows 8.1 === Một phiên bản cập nhật của Windows Store đã được giới thiệu trong Windows 8.1. Trang chủ của nó đã được tu sửa để hiển thị các ứng dụng trong các chuyên mục tập trung (như phần phổ biến, được khuyên dùng, miễn phí và trả tiền hàng đầu, và các đợt giảm giá đặc biệt) với các chi tiết mở rộng, và khả năng cho phép các ứng dụng tự động cập nhật cũng đã được thêm vào. Bản cập nhật của Windows 8.1 cũng giới thiệu những thay đổi trình bày đáng chú ý khác, bao gồm tăng danh sách ứng dụng hàng đầu cho các ứng dụng trở lại 1000 thay vì 100 ứng dụng, phần 'Chọn cho bạn', và thay đổi mặc định sắp xếp cho đánh giá được trong 'phổ biến nhất'. === Windows 10 === Windows Store sẽ trở thành một cửa hàng thống nhất trên mọi nền tảng của Windows 10, cung cấp ứng dụng di động, Groove Music (trước có tên Xbox Music) và Movies & TV (trước là Xbox Video). Ứng dụng web và các phần mềm desktop (dùng cả Win32 hay .NET Framework) có thể được đóng gói để phân phối Windows Store. Các phần mềm desktop được phân phối Windows Store sẽ được đóng gói sử dụng hệ thống App-V để cho phép sandbox. === Windows Server === Windows Store hiện có sẵn trong Windows Server 2012 nhưng không được cài đặt theo mặc định. == Chi tiết == Windows Store là phương tiện chính để phân phối các ứng dụng Windows Store cho người sử dụng; lý do chính thức là để cho phép Microsoft để quét các ứng dụng để tìm các lỗi bảo mật và phần mềm độc hại. Mặc dù ứng dụng sideloading từ bên ngoài cửa hàng được hỗ trợ, không phải tất cả các máy tính chạy Windows 8 có thể làm điều đó. Hỗ trợ Out-of-box sideloading chỉ có sẵn cho các máy tính Windows 8 Enterprise đã tham gia vào một tên miền Windows. Sideloading trên Windows RT và Windows 8 Pro cũng như các máy tính Windows 8 Enterprise không có một liên kết tên miền mà cần mua giấy phép bổ sung thông qua cửa hàng Microsoft cấp phép số lượng lớn. Microsoft đã từng cắt giảm 30% doanh thu ứng dụng cho đến khi nó đạt đến doanh thu 25,000 USD, sau đó cắt giảm xuống 20%. Các giao dịch của bên thứ ba cũng được cho phép, trong đó có Microsoft không thực hiện cắt giảm. Các nhà phát triển cá nhân có thể đăng ký với giá 19 USD và các công ty với giá 99 USD. Các nhà phát triển từ 120 quốc gia có thể gửi các ứng dụng tới Windows Store. Các ứng dụng có thể hỗ trợ bất kỳ ngôn ngữ nào trong 109 ngôn ngữ, miễn là nó hỗ trợ một trong 12 ngôn ngữ cấp giấy chứng nhận ứng dụng. == Hướng dẫn == Tương tự như Windows Phone Store, Windows Store được quy định bởi Microsoft. Các ứng viên phải được sự chấp thuận của Microsoft trước khi ứng dụng của họ trở nên có sẵn trên cửa hàng. Các ứng dụng bị cấm chứa những nội dung sau: Nội dung người lớn Phân biệt đối xử người ủng hộ, hận thù và bạo lực trên cơ sở thành viên trong một nhóm xã hội phân biệt chủng tộc, dân tộc, quốc gia, ngôn ngữ, tôn giáo, hoặc các nhóm khác, hoặc dựa trên giới tính, tuổi tác, hoặc khuynh hướng tình dục của một người Chứa nội dung hoặc chức năng khuyến khích, lôi kéo hoặc tạo điều kiện cho các hoạt động bất hợp pháp Chứa hoặc hiển thị nội dung mà một người bình thường sẽ cho là khiêu dâm Nói xấu, bôi nhọ hoặc vu khống, hoặc đe dọa Khuyến khích, tạo điều kiện hoặc lôi kéo quá mức hoặc vô trách nhiệm của sự sử dụng rượu hoặc sản phẩm thuốc lá, ma túy hoặc vũ khí Khuyến khích, tạo điều kiện hoặc lôi kéo bạo lực cực đoan hoặc vô cớ, vi phạm nhân quyền hoặc tạo ra hoặc sử dụng vũ khí chống lại người hoặc động vật trong thế giới thực Nội dung thô tục quá mức hoặc vô cớ Microsoft đã chỉ ra rằng nó có khả năng vô hiệu hóa từ xa và/hoặc loại bỏ các ứng dụng từ hệ thống của người sử dụng vì lý do an ninh, pháp luật; trong trường hợp các ứng dụng trả tiền thì sẽ hoàn lại tiền nếu điều này xảy ra. Công ty ban đầu bị chỉ trích vì không cấm đúng nội dung PEGI "18" từ Windows Store tại châu Âu, như các nhà phê bình lưu ý rằng một số tò chơi "18" được đánh giá là "trưởng thành" của ESRB (thực hiện các quy định nghiêm ngặt hơn dự định). Các hướng dẫn này được sửa đổi trong tháng 12 năm 2012 để sửa chữa sự bất thường này. == Cổng thông tin cho lập trình viên == Windows Store cũng có một cổng thông tin dành riêng cho các lập trình viên. Mỗi ứng dụng đều có những phần cổng thông tin cho lập trình viên như sau: App Summary - Một trang tổng quan của một ứng dụng nhất định, bao gồm cả một biểu đồ lượt tải về, biểu đồ chất lượng, tóm tắt tài chính, và một biểu đồ doanh số bán hàng. App Adoption - Một trang cho thấy việc thông qua ứng dụng, bao gồm cả việc chuyển đổi, chuyển đến, và lượt tải về. App Ratings - Một phần phân tích xếp hạng, cũng như khả năng lọc các ý kiến ​​của một khu vực. App Quality - Một trang giới thiệu các ngoại lệ xảy ra trong ứng dụng App Finance - Một trang cho phép các nhà phát triển có thể tải về tất cả các giao dịch liên quan đến ứng dụng của họ. == Các công cụ cho lập trình viên == Windows Store cung cấp công cụ phát triển cho các ứng dụng theo dõi trong cửa hàng. Người ta có thể theo dõi lượt tải, tài chính, lỗi, việc thông qua ứng dụng và các xếp hạng. Bảng điều khiển cũng trình bày một phân tích chi tiết về người dùng về thị trường, tuổi tác và khu vực, cũng như bảng xếp hạng về số lượng tải, mua hàng, và thời gian trung bình chi tiêu trong một ứng dụng. Bảng điều khiển cũng cho phép một nhà phát triển để khẳng định một tên ứng dụng lên đến 1 năm trước khi tên được trở lại tên có sẵn. == Xem thêm == Google Play Allmyapps Windows 8 Windows 10 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang mạng của Windows Store Trung tâm cho lập trình viên Trang đánh giá các ứng dụng Windows Store
thành phố trực thuộc trung ương (trung quốc).txt
Thành phố trực thuộc trung ương (tiếng Trung: 直轄市; bính âm: zhíxiáshì, phiên âm Hán-Việt: trực hạt thị) là thành phố cấp cao nhất ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan. Đây là đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh. Cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc đều áp dụng quy chế thành phố trực thuộc trung ương, tuy nhiên mức độ có khác nhau. Thành phố trực thuộc trung ương là các thành phố lớn, có tầm quan trọng về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, giao thông. Trong các thành phố trực thuộc trung ương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trùng Khánh là thành phố có diện tích lớn nhất, rộng hơn tỉnh nhỏ nhất là tỉnh Hải Nam. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện có 4 thành phố trực thuộc trung ương là: Bắc Kinh (thủ đô), Thượng Hải (thủ đô kinh tế), Trùng Khánh (thành phố có diện tích lớn nhất và đông dân nhất) Thiên Tân. Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) có 5 thành phố trực thuộc trung ương là: Đài Bắc Tân Bắc Đài Trung Đài Nam Cao Hùng Tuy nhiên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không công nhận sự phân chia hành chính này, mà coi các thành phố chỉ là các thành phố trực thuộc tỉnh Đài Loan (xem thêm: vị thế chính trị của Đài Loan).. == Tham khảo ==
vấn đề tâm-vật.txt
Vấn đề tâm vật (mind-body problem) là một vấn đề triết học trong lĩnh vực siêu hình học và triết học tinh thần. Vấn đề nảy sinh do các hiện tượng tinh thần (hay tâm thức) được cho là khác biệt, một cách định tính hay căn bản, với vật thể vật chất (physical body) mà nó dường như phụ thuộc vào, tức cơ thể người (body). Có một vài lý thuyết chính về lời giải cho vấn đề này. Nhị nguyên luận là thuyết cho rằng tâm và vật là hai thực thể khác nhau, và nhất nguyên luận cho rằng chúng về bản chất chỉ là một thực thể. Những người theo phái nhất nguyên duy vật (hay chủ nghĩa duy vật lý giữ quan điểm cho rằng chúng đều là vật chất, trong khi những nhà nhất nguyên duy tâm cho rằng chúng đều là tinh thần. Nhất nguyên luận trung tính lại khẳng định cả hai đều có thể quy giản về một thực thể thứ ba, trung tính. Vấn đề này được xác định bởi René Descartes theo nghĩa nó được biết bởi thế giới phương Tây hiện đại, mặc dù thực sự đã được đề cập bởi những triết gia trước Aristote, hoặc trong triết học Ba Tư và trong các truyền thống châu Á từ rất lâu trước đó. == Ghi chú và chú thích == == Thư mục == Turner, Bryan S. Body and Society: Exploration in social theory 1996 Kim, J., "Mind–Body Problem", Oxford Companion to Philosophy. Ted Honderich (ed.). Oxford:Oxford University Press. 1995. Feigl, Herbert (1958). “The 'Mental' and the 'Physical'”. Trong Feigl, Herbert; Scriven, Michael; Maxwell, Grover. Concepts, Theories, and the Mind-Body Problem. Minnesota Studies in the Philosophy of Science 2. Minneapolis: University of Minnesota Press. tr. 370–457. == Liên kết ngoài == Wikibooks: Consciousness Studies Vấn đề tâm vật của Robert M. Young
tháng ba.txt
Tháng ba là tháng thứ ba theo Lịch Gregorius, với 31 ngày. == Sự kiện vào tháng 3 == Vào mọi chủ nhật trong tháng 3, các cuộc thi trượt tuyết băng đồng Vasaloppet diễn ra ở Thụy Điển để tỏ lòng tôn kính chuyến trượt tuyết của hoàng đế Gustav Vasa vào năm 1520. Ngày 3 tháng 3 là Ngày Truyền thống Bộ đội Biên phòng Việt Nam Ngày 8 tháng 3 là Ngày Quốc tế Phụ nữ. Ngày 11 tháng 3 là Kỷ niệm động đất, sóng thần ở Nhật Bản năm 2011. Ngày 15.3 là ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam. Ngày 17 tháng 3 là Lễ Thánh Patrick, một trong những ngày lễ chung ở Ireland. Theo Lịch Ireland, tháng này gọi là Márta và tháng này là tháng ở giữa mùa xuân. Ngày 20.3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc. Ngày 21 tháng 3: Xuân phân. Ngày 25 tháng 3 là Ngày lễ Mẹ ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland; Lễ Truyền Tin Lễ Phục Sinh là một chủ nhật từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 25 tháng 4. Ngày 26 tháng 3 là ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ngày 27 tháng 3 là ngày truyền thống ngành thể thao Việt Nam. Ngày 28.3 là ngày Truyền thống dân quân tự vệ == Tam khoa == Tháng 3 bắt đầu vào cùng ngày trong tuần lễ với tháng 11 vào bất kỳ năm nào và với tháng 2 vào những năm thường. == Xem thêm == Những ngày kỷ niệm == Tham khảo ==
trịnh thị ngọc trinh.txt
Trịnh Thị Ngọc Trinh (chữ Hán: 鄭氏玉楨), là một hoàng hậu nhà Lê trung hưng. Vợ vua Lê Kính Tông, mẹ vua Lê Thần Tông. Bà là hoàng hậu họ Trịnh đầu tiên thời Lê Trung Hưng, cho thấy sự khởi đầu kiểm soát hoàng đế của chúa Trịnh. == Tiểu sử == Bà là con gái thứ của Thượng phụ Bình An Vương Trịnh Tùng. Lê Kính Tông bị ép lấy bà, lập làm Đoan Từ hoàng hậu. Bà sống với vua sinh được con trai là Lê Duy Kỳ, tức Lê Thần Tông sau này. Kỷ Mùi, Hoằng Định năm thứ 20 (1619), Kính Tông mưu giết Trịnh Tùng nhưng không thành. Khi đó, Kính Tông khóc lóc nói với bà rằng: Ta còn mặt mũi nào mà gặp vương phụ nữa, rồi vua thắt cổ chết. Lúc đó, có người khuyên chúa Trịnh lập Cường Quận công Lê Trụ, tư cách là con của Bản quốc công Lê Bách, là cháu đích tôn của vua Lê Anh Tông. Nhưng bà khóc lóc với cha rằng: Tiên quân có tội, chứ đứa con có tội gì? Sao lại bỏ con của con mà đi tìm người khác. Nếu phụ vương lập nó, thì đến muôn đời sau kẻ làm vua vẫn là con cháu của phụ vương vậy. Vì thế, Chúa mới lập Duy Kỳ lên ngôi. Hoàng tử Duy Kỳ lên ngôi ở điện Cần Chính, tôn bà làm Đoan Từ hoàng thái hậu. == Tham khảo == Đại Việt sử ký toàn thư
địa vị city tại vương quốc anh.txt
Địa vị City ở Vương quốc Anh được cấp bởi quốc vương của Vương quốc Anh cho một nhóm của các cộng đồng: tính tới năm 2014, có 69 thành phố ở Vương quốc Anh - 51 tại Anh, sáu ở xứ Wales, bảy ở Scotland và năm ở Bắc Ireland. Địa vị City không làm cho một khu vực cư trú có thêm quyền đặc biệt nào khác hơn là tự xưng là một "City". Tuy nhiên, tên gọi này mang uy tín riêng của nó. Địa vị này không áp dụng tự động trên cơ sở của bất kỳ tiêu chí cụ thể, mặc dù ở Anh và xứ Wales nó theo truyền thống đã được ban cho những thị trấn với nhà thờ giáo phận. Việc một thành phố có một nhà thờ chính tòa và do đó được gọi là một City được thành lập trong đầu thập niên 1540 khi vua Henry VIII cho tạo các giáo phận (có một nhà thờ chính tòa) trong sáu thị trấn Anh Quốc và cấp cho họ danh xưng City với văn bằng hoàng gia. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Government list of UK cities Images and text from British Towns and Cities
aristoteles.txt
Aristoteles (tiếng Hy Lạp cổ đại: Ἀριστοτέλης [aristotélɛːs], Aristotélēs; phiên âm trong tiếng Việt là Aritxtốt; 384 – 322 TCN) là một nhà triết học và bác học thời Hy Lạp cổ đại, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế. Di bút của ông bao gồm nhiều lĩnh vực như vật lý học, siêu hình học, thi văn, kịch nghệ, âm nhạc, luận lý học, tu từ học (rhetoric), ngôn ngữ học, Kinh tế học, chính trị học, đạo đức học, sinh học, và động vật học. Ông được xem là người đặt nền móng cho môn luận lý học, và được mệnh danh là "Cha đẻ của Khoa học chính trị". Ông cũng thiết lập một phương cách tiếp cận với triết học bắt đầu bằng quan sát và trải nghiệm trước khi đi tới tư duy trừu tượng. Cùng với Platon và Socrates, Aristoteles là một trong ba cột trụ của văn minh Hy Lạp cổ đại. == Cuộc đờiSửa đổi == Aristoteles, cái tên có nghĩa là "mục đích tốt nhất", được sinh tại Stagira thuộc Vương quốc Macedonia cách thành Athens 200 dặm về phía bắc, tức là ở phía đông Thessaloniki ngày nay, vào năm 384 TCN. Cha của ông là bác sĩ riêng, bạn thân của quốc vương Macedonia Amyntas III (tổ phụ của Alexandros Đại đế). Từ nhỏ Aristoteles sống với cha mẹ và được cha dạy cho về y khoa. Năm 17 tuổi, Aristoteles đến thành Athena và theo học nghề thầy thuốc. Aristoteles đến Athens từ lúc 18 tuổi và trở thành học viên trong Học viện Platon. Ông học ở đó khoảng 20 năm trước khi rời Athens vào 348/47 TCN. Người ta thường kể lại, ông rời bỏ Athens vì thất vọng là học viện đã được giao cho cháu của Platon Speusippus lãnh đạo, mặc dù cũng có thể là vì khuynh hướng chống lại người Macedonia đang nổi dậy, cho nên ông đã bỏ đi trước khi Platon mất. Người ta có thể tưởng tượng rằng thời kỳ sống với Platon là một thời kì lý tưởng trong cuộc đời Aristoteles. Một môn đệ thông minh xuất chúng được ở gần một giáo sư toàn năng. Sự thật thì mối liên quan giữa hai thầy trò không phải luôn luôn tốt đẹp. Platon lớn hơn Aristoteles gần 43 tuổi, chỉ sự cách biệt ấy cũng không làm dễ dàng sự thông cảm. Platon công nhận rằng Aristoteles là một môn đệ thông minh xuất chúng, hiếu học vì Aristoteles là một trong những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại biết sưu tầm những tài liệu viết tay thời bấy giờ để lập thành một thư viện. Nhà của Aristoteles được Platon gọi là nhà đọc sách, nhiều người cho đó là một lời khen, nhưng cũng có người cho đó là một lời chê có ý ám chỉ đến tinh thần quá chú trọng vào sách vở của Aristoteles. Một sự bất hoà khác quan trọng hơn xảy ra vào cuối đời Platon. Aristoteles có vẻ chống lại tư tưởng của Platon và nhiều khi không đồng ý với Platon. Thái độ này làm Platon rất bất bình coi Aristoteles như một đứa con vô ơn. Một vài học giả cho rằng Aristotetes lập một trường hùng biện. Trong số các môn sinh có Hermias sau này thành người cầm quyền tiểu quốc Atarneus. Để tỏ lòng nhớ ơn thầy cũ, Hermias mời Aristoteles về sống tại triều đình vào năm 344 TCN, Hermias giới thiệu người chị của mình làm vợ Aristoteles. Cuộc hôn nhân là một sự thành công mĩ mãn. Sau đó một năm (343 TCN), quốc vương Macedonia là Philippos II mời Aristoteles về triều đình để dạy cho thái tử Alexandros. Đó là một vinh dự rất lớn cho Aristoteles, vì Philip II cũng như Alexandros là những vị vua danh tiếng và hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại. Philip II chinh phục Thrace năm 356 TCN để chiếm những mỏ vàng vô cùng phong phú gấp 10 lần số vàng của Athena. Thần dân của Philip là những nông dân khoẻ mạnh, những chiến sĩ dũng cảm biết chịu đựng gian khổ. Nhờ những yếu tố ấy Philip II và Alexandros đã thôn tính hàng trăm tiểu quốc và thực hiện được sự thống nhất Hy Lạp. Philippos II không ưa chủ nghĩa cá nhân đương thời mặc dù chủ nghĩa này có kết quả tốt đẹp đối với nghệ thuật và đời sống tinh thần của dân Hy Lạp. Philippos II cho rằng chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của sự đồi truỵ kinh tế cũng như chính trị. Chính dựa vào chủ nghĩa này mà những kẻ lưu manh chính trị có thể lơi dụng sự tin tưởng quá dễ dãi của dân chúng để mặc tình thao túng chính trường gây nên bè phái, giai cấp, âm mưu chống đối nhau. Philippos II quyết chấm dứt tình trạng trên để thực hiện một nước Hy Lạp thống nhất và hùng mạnh xứng đáng là trung tâm chính trị của thế giới thời bấy giờ. Trong thời niên thiếu Philippos II đã học quân sự tại Thebes (Hy Lạp). Năm 338 TCN ông chiến thắng tại Athena và thực hiện được sự thống nhất của nước Hy Lạp. Ông mong mỏi sẽ cùng người con là Alexandros tiếp tục cuộc chinh phục thế giới nhưng giấc mộng của ông bị tan vỡ vì ông bị ám sát. Khi Aristoteles đến nhận việc thì Alexandros là một cậu bé 13 tuổi bồng bột và ốm yếu, ưa cưỡi ngựa và tập ngựa. Những cố gắng của Aristoteles để làm dịu sự bồng bột của Alexandros hình như không đem lại nhiều kết quả. Theo một vài sử gia Alexandros coi Aristoteles như cha ruột của mình và về phần Alexandros cũng đã từng tuyên bố muốn học hỏi và coi trọng sự hiểu biết hơn là chinh phục thế giới. Nhưng đó chỉ là những lời lẽ xã giao vì không đúng với sự thật. Alexandros luôn luôn là một chiến sĩ thích chinh phục, sau khi thọ giáo 2 năm với Aristoteles, Alexandros nối ngôi cha và bắt đầu chinh phục thế giới. Sự thành công của Alexandros có lẽ một phần nào do ảnh hưởng của Aristoteles và người ta thường so sánh thiên tài của Aristoteles trong lãnh vực triết lý với thiên tài của Alexandros trong lãnh vực chính trị. Cả hai vĩ nhân này đều có công với nhân loại: một bên thống nhất thế giới, một bên thống nhất triết lý. Sau khi cất quân chinh phục châu Á, Alexandros để lại ở Hy Lạp những chính phủ trung thành với ông nhưng không được dân chúng ủng hộ. Truyền thống dân chủ của người Hy Lạp không thể một sớm một chiều bị lu mờ trước sức mạnh của đội quân Alexandros. Tại những chính phủ này, những đảng lên cầm quyền được mệnh danh là đảng Macedonia hay là đảng thân Alexandros. Năm 334 TCN, Aristoteles trở về Athena sau một cuộc du hành và lẽ cố nhiên không dấu cảm tình đối với đảng Macedonia tại đó. Công trình khảo cứu khoa học, triết lý, chính trị của Athena tuy rất bao la nhưng không phải là hoàn toàn theo đuổi trong sự yên tĩnh. Nhiều biến cố chính trị luôn luôn đe doạ Aristoteles và nhóm cộng sự viên, công trình này hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự thành công của Alexandros trên lãnh vực chính trị. Những nhận xét trên đây còn cho phép chúng ta hiểu rõ tư tưởng chính trị của Aristoteles. == Các quan điểm của AristotelesSửa đổi == "Thầy đã quý, chân lý còn quý hơn" "Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, càng nặng rơi càng nhanh." "Tốc độ rơi của một vật phụ thuộc vào mật độ môi trường nơi vật rơi qua, mật độ môi trường càng nhỏ thì tốc độ rơi càng lớn." "Nếu có lực tác dụng vào vật thì tốc độ chuyển động của vật sẽ tỉ lệ thuận với lực tác dụng." Aristoteles còn cho rằng, chuyển động có thể là "có ý thức" hoặc "vô ý thức". Ông dùng thuật ngữ "nature will" (tạm dịch là "lẽ tự nhiên") để giải thích về nguyên nhân của sự chuyển động: "Mọi chuyển động có ý thức hay vô ý thức của sinh vật hoặc các vật thể đều tuân theo lẽ tự nhiên của chúng." Aristoteles đồng ý với quan điểm của Empedode về 4 nguyên tố đất, lửa, khí, nước. Sau đó đề xuất thêm rằng các thiên thể chuyển động theo đường tròn, trong môi trường gọi là ête (ether). Một số quan niệm của Aristoteles sau này bị Galileo Galilei đánh đổ ví dụ như " Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ" == Công việcSửa đổi == Mặc dù ở trong một tiểu quốc đang sôi sục vì những biến cố chính trị, Aristoteles đã thành công trong việc lập nên một trường học lấy tên là Lyceum. Rất nhiều môn đồ đến xin thụ giáo đến nỗi cần phải đặt ra những phép tắc luật lệ để giữ gìn trật tự. Những môn đồ này tự bầu cử một uỷ ban để cai quản các công việc của trường. Họ thường ở lại và ăn uống ngay trong trường, các buổi học thường được tổ chức ngoài đồng trống. Trước kia Platon cũng đã thành lập một trường lấy tên là Academy chuyên nghiên cứu về toán học và chính trị. Lyceum của Aristoteles chuyên nghiên cứu về sinh lý học và động vật học. Alexandros ra lệnh cho các nhà săn bắn và chài lưới phải đem nộp cho Aristoteles tất cả những giống vật mới lạ. Tục truyền có cả thảy một đội quân 1.000 người rải rác khắp Hy Lạp và châu Á để sưu tầm những giống vật mới lạ, Aristoteles là người đầu tiên đã lập nên vườn bách thảo và sở bách thú trên toàn thế giới. Ngoài sự ủng hộ của Alexandros, Aristoteles còn bỏ vào đó một số vốn rất lớn, ông là một người có nhiều tiền của nhờ cưới vợ giàu và có quyền thế, có lần bên nhà vợ đã tặng Aristoteles một số tiền tương đương với 4 triệu Mĩ kim theo thời giá hiện nay để dùng vào việc nghiên cứu khoa học. Có người cho rằng chính Aristoteles đã khuyến cáo Alexandros chinh phục Ai Cập với mục đích thám hiểm vùng thượng lưu sông Nin để biết rõ nguyên nhân những trận lụt xảy ra ở Ai Cập. Ngoài ra, Aristote còn sưu tầm 158 bản hiến pháp. Nhưng những phương tiện nghiên cứu của Aristoteles vô cùng thô sơ so với những phương tiện nghiên cứu tối tân ngày nay. Ông phải đo lường thời gian mà không có đồng hồ, đo lường nhiệt độ mà không có hàn thử biểu, xem thiên văn mà không có kính viễn vọng, đoán thời tiết mà không có phong vũ biểu. Những phương tiện duy nhất mà Aristoteles đã sử dụng là một cái thước và một cái la bàn. Sức hút của Trái Đất, hiện tượng phát điện, áp lực không khí, nguyên lý ánh sáng, nhiệt lượng và hầu hết những lý thuyết tân tiến của khoa học hiện đại đều hoàn toàn chưa được phát minh. Những tác phẩm của Aristoteles lên đến hàng trăm cuốn. Có người bảo 400 cuốn, có người bảo 1.000 cuốn. Những cuốn còn lại đến nay chỉ là một số nhỏ nhưng cũng có thể lập thành một tủ sách. Trước hết là những tác phẩm về luận lý dạy các cách xếp đặt và phân loại các ý nghĩ. Rồi đến các tác phẩm khoa học như vật lý học, thiên văn học, khí tượng học, vạn vật học, những sách nói về sự phát triển và suy tàn, về linh hồn, về cơ thể sinh vật, về cử động và về sự sinh đẻ. Loại thứ ba là những sách dạy về cách viết văn và làm thơ. Loại thứ tư là những sách về triết lý như đạo đức học, chính trị học và siêu hình học. Toàn thể các tác phẩm có thể xem là một bộ bách khoa của Hy Lạp nhưng khác với bộ bách khoa của các nước khác ở chỗ chỉ do một người viết ra. Công trình của Aristoteles xứng đáng được so sánh với công trình của Alexandros. Văn chương của Aristoteles không bóng bẩy và thi vị như của Platôn, đó là một loại văn chương chính xác và khoa học. Aristoteles phải đặt thêm nhiều từ ngữ mới để có thể diễn tả tư tưởng. Những từ ngữ Âu Mĩ hiện nay phải mượn ở những tác phẩm của Aristotle như faculty, mean, maxim, category, energy, actuality, motive, principle, form.... Những chữ này không khác gì những viên gạch để xây dựng tư tưởng và góp phần rất lớn trong công cuộc phát triển tư tưởng đời sau. Aristoteles còn viết nhiều tác phẩm văn chương nhưng đến nay đã thất truyền. Có người cho rằng những tác phẩm của Aristoteles không phải do chính Aristotle soạn thảo mà do các môn đệ soạn thảo sau khi ghi chú các bài giảng của Aristoteles. Phần lớn những tác phẩm này được xuất bản sau khi Aristoteles qua đời. Chỉ có một số ít tác phẩm về luận lý và văn chương được xuất bản khi Aristoteles còn sống. Một số những tác phẩm khác về siêu hình học và chính trị được sưu tầm từ đống giấy tờ do Aristoteles để lại. Có người cho rằng trong tất cả các tác phẩm và Aristoteles chúng ta có thể tìm thấy một lối viết văn giống nhau, điều này chứng tỏ rằng các môn đệ của Aristoteles thấm nhuần tư tưởng của thầy một cách sâu xa, nếu không phải tự tay Aristoteles soạn thảo ra các tác phẩm của mình thì các tư tưởng trình bày chắc chắn là của Aristoteles. == Ảnh hưởngSửa đổi == Sau khi nhà đại Hiền Triết Aristoteles qua đời, nền triết học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Kritolaos đã qua kinh thành Roma vào năm 155 TCN, nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 TCN, Andronicus người đảo Rhodes, đã cho ấn hành nhiều tác phẩm của Aristoteles và nhờ đó mà nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết học kể trên, đặc biệt tại thành Alexandria. Sau khi Đế quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết học của Aristoteles bị hầu như lãng quên, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 SCN tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm của Aristotle sang ngôn ngữ của họ và đưa chúng vào thế giới Hồi giáo. Nhà triết học người Tây Ban Nha gốc Ả Rập tên là Averroes vào thế kỷ 12 là học giả danh tiếng nhất, ông đã nghiên cứu và nhận xét về Aristoteles. Qua thế kỷ 13, các tác phẩm của Aristote-les lại được quan tâm bởi các học giả Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo, và Thánh Thomas Aquinas, một trong các nhà triết học gây ảnh hưởng lớn mạnh nhất, đã dùng nền Triết Học của Aristoteles làm căn bản cho các tư tưởng Thiên Chúa giáo thời đó. Dante Alighieri, nhà thơ bậc nhất của thời Trung Cổ, đã gọi Aristoteles là "Bậc Thầy của những người hiểu biết". Lý thuyết về ngành động vật học của Aristoteles đã không thay đổi và được giảng dạy tại tất cả các trường học trong nhiều thế kỷ cho tới khi nhà khoa học người Anh, Charles Darwin, đề cập tới Thuyết tiến hóa vào thế kỷ 19. Học thuyết của Aristoteles cũng giữ một vai trò quan trọng trong bộ môn Thần học và trước thế kỷ 20, môn Luận Lý được coi là của Aristoteles. == Vinh danhSửa đổi == Núi Aristoteles, nằm trên bờ biển Oscar II thuộc đất Graham, Châu Nam Cực được đặt tên theo tên của Aristote-les. == Tham khảoSửa đổi ==
nebraska.txt
Nebraska (phát âm là Nơ-brétx-cơ) là một tiểu bang thuộc vùng Đồng bằng Lớn và Trung Tây của Hoa Kỳ. Tiểu bang Nebraska giáp với tiểu bang Nam Dakota về phía bắc, Iowa về phía đông, Missouri về phía đông nam, Kansas về phía nam, Colorado về phía tây nam và Wyoming về phía tây. Tiểu bang có diện tích hơn 200.000 km² và dân số khoảng 1,9 triệu người. Thủ phủ của bang là thành phố Lincoln và thành phố đông dân nhất là Omaha nằm bên sông Missouri. Trước khi người châu Âu xuất hiện, Nebraska là nơi sinh sống của các dân tộc bản địa như người Omaha, Missouria, Ponca, Pawnee, Otoe và Lakota. Tiểu bang này nằm trên hành trình của cuộc thám hiểm của Lewis và Clark. Vào năm 1867, Nebraska trở thành bang thứ 37 gia nhập liên bang và là bang duy nhất ở Hoa Kỳ có quốc hội đơn viện. Nebraska gồm có hai vùng đất chính: vùng Bình nguyên Dissected Till và vùng Đại Bình nguyên. Bình nguyên Dissected Tills là một vùng đồi thấp và tập trung những thành phố lớn nhất của tiểu bang là Omaha và Lincoln. Vùng Đại Bình nguyên chiếm phần lớn miền tây của bang với phong cảnh đặc trưng là những đồng cỏ rộng lớn phù hợp cho chăn nuôi gia súc. Về mặt khí hậu, nửa phía đông Nebraska có khí hậu lục địa ẩm trong khi nửa phía tây có khí hậu bán khô hạn. Toàn bộ tiểu bang có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa mùa hè và mùa đông. Bên cạnh đó, tiểu bang này cũng thường phải hứng chịu những trận dông và lốc xoáy dữ dội vào mùa xuân và mùa hè. Tiểu bang Nebraska có ưu thế về nông nghiệp với những sản phẩm chủ lực là thịt bò, thịt lợn, ngô và đậu tương. == Tên gọi == Tên gọi Nebraska được lấy từ Ñí Brásge trong tiếng Chiwere hoặc Ní Btháska trong tiếng Omaha–Ponca của người dân bản địa, có nghĩa là "mặt nước phẳng". Sở dĩ có tên gọi này vì người bản địa khi xưa đã đặt tên vùng đất theo sông Platte, một con sông chảy qua tiểu bang này từ phía đông sang phía tây trước khi đổ vào sông Mississippi. == Lịch sử == Các dân tộc người bản địa đã sinh sống tại Nebraska hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến khai phá vùng đất này. Họ bao gồm các dân tộc Omaha, Missouria, Ponca, Pawnee, Otoe và nhiều nhánh của tộc người Lakota. Một trong số các dân tộc đó di cư từ các vùng ở phía đông bang Nebraska ngày nay. Sau khi người châu Âu bắt đầu tiến hành thám hiểm, trao đổi thương mại và thành lập các khu định cư tại châu Mỹ, người Pháp và Tây Ban Nha đều có kế hoạch muốn kiểm soát vùng đất này. Trong những năm 1690, người Tây Ban Nha thiết lập các mối quan hệ về thương mại với dân tộc Apache vốn kiểm soát phần phía tây Nebraska. Đến năm 1703, đến lượt người Pháp cũng thường xuyên buôn bán với các tộc người bản địa ở phần lưu vực sông Missouri của bang này, thậm chí ký được một số hiệp ước với họ vào năm 1719. Khi chiến tranh nổ ra giữa hai nước châu Âu, Tây Ban Nha phái một binh đoàn do trung tướng Pedro de Villasur chỉ huy tiến vào Nebraska vào năm 1720. Được sự hỗ trợ từ phía Pháp, hai bộ tộc Pawnee và Otoe đã đánh bại và thảm sát binh đoàn của Tây Ban Nha. Chiến tranh Bảy năm (1756-1763) nổ ra và buộc Pháp phải nhường vùng Lãnh thổ Louisiana, trong đó bao gồm cả vùng đất Nebraska ngày nay cho Tây Ban Nha vào năm 1762. Sự rút đi của Pháp dẫn đến việc Anh và Tây Ban Nha cùng tranh giành ảnh hưởng tại vùng lưu vực sông Mississippi. Cả hai nước cùng cử ra các phái đoàn để tiếp xúc và buôn bán với người bản địa. Đến năm 1800, nước Pháp dưới thời Napoléon Bonaparte giành lại quyền kiểm soát Lãnh thổ Louisiana. Tuy nhiên Hoa Kỳ đã mua lại vùng đất này từ Pháp vào năm 1803 với giá 15 triệu USD đương thời, khiến diện tích lãnh thổ Hoa Kỳ được mở rộng gấp đôi. Ngày 30 tháng 5 năm 1854, chính phủ Hoa Kỳ thành lập Lãnh thổ Nebraska, lúc đó bao trùm các phần đất mà ngày nay thuộc các tiểu bang Nebraska, Wyoming, Nam Dakota, Bắc Dakota, Colorado, và Montana. Thủ phủ của lãnh thổ đặt tại thành phố Omaha. Trong thập niên 1860, chính phủ Mỹ buộc người bản địa vào các khu định cư rồi lấy đất của họ cho người Mỹ gốc châu Âu canh tác. Hàng ngàn người da trắng tràn vào Nebraska để được nhận đất canh tác với giá rất thấp (hoặc miễn phí) khiến dân số vùng đất này tăng nhanh và đủ điều kiện gia nhập liên bang. Ngày 1 tháng 3 năm 1867, Nebraska chính thức trở thành tiểu bang thứ 37 của Hoa Kỳ. Thủ phủ của bang được dời về thành phố Lancaster, sau đổi tên là Lincoln để tưởng nhớ vị tổng thống Hoa Kỳ vừa mới bị ám sát không lâu Abraham Lincoln. Cuối thế kỉ 19, dân số Nebraska tiếp tục tăng nhanh nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận lợi cùng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong ngành nông nghiệp. Vùng đồng cỏ rộng lớn của Nebraska đặc biệt phù hợp với việc chăn nuôi gia súc, dẫn đến sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thịt. Làn sóng di cư của người Mỹ gốc Phi khỏi miền Nam Hoa Kỳ đến những khu vực khác của đất nước cũng bổ sung thêm dân cư cho Nebraska. Từ thập niên 1960 về sau, người Mỹ bản địa ở Nebraska tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động chính trị và đấu tranh cho quyền lợi của họ, cũng như xây dựng trường lớp nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa. == Địa lý == Nebraska giáp với Nam Dakota về phía bắc, Iowa và Missouri về phía đông qua sông Missouri; Kansas về phía nam, Colorado về phía tây nam, và Wyoming về phía đông. Nebraska có 93 quận. Lãnh thổ của tiểu bang thuộc 2 múi giờ khác nhau, với nửa phía đông thuộc múi giờ miền Trung còn nửa phía tây thuộc múi giờ miền núi của Bắc Mỹ. Nebraska có 3 con sông chính đều chảy từ phía tây sang phía đông của tiểu bang: sông Platte chảy qua miền trung, sông Niobrara ở miền bắc và sông Republican ở miền nam. Nebraska bao gồm hai miền đất chính: Bình nguyên Dissected Till và Đại Bình nguyên. Phần cực đông của tiểu bang bị cào bằng bởi những tảng băng từ thời Băng Hà và đồng bằng Dissected Till với những vùng đồi thoải chính là những gì còn lại sau khi băng rút đi. Thủ phủ Lincoln và thành phố lớn nhất tiểu bang Omaha đều tọa lạc bên trong vùng này. Đại Bình nguyên chiếm phần lớn diện tích miền tây tiểu bang Nebraska. === Khí hậu === Tiểu bang Nebraska có 2 dạng khí hậu chính. Nửa phía đông của tiểu bang có khí hậu lục địa ẩm còn nửa phía tây là khí hậu bán khô hạn. Tiểu bang có sự chênh lệch lớn về nhiệt độ và lượng mưa giữa các mùa trong năm. Nhiệt độ trung bình thì tương đối đồng nhất giữa các vùng của Nebraska, nhìn chung mọi nơi đều có mùa hè nóng và mùa đông khá lạnh. Lượng mưa giảm dần từ phía đông sang phía tây: góc phía đông nam của tiểu bang nhận được 800 mm mỗi năm trong khi phần cực tây chỉ nhận 350 mm. Độ ẩm không khí cũng có xu hướng tương tự. Trong khi đó lượng tuyết rơi của Nebraska thì phân bố khá đồng đều và nằm trong khoảng 65-90 cm mỗi năm. Tiểu bang Nebraska nằm trong Hành lang Lốc xoáy, một khu vực địa lý ở trung tâm nước Mỹ nơi lốc xoáy thường xuyên xảy ra. Các cơn dông và lốc xoáy thường diễn ra nhiều nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, đôi khi là vào cả mùa thu. Ở miền tây Nebraska, hiện tượng foehn xảy ra do khu vực này nằm gần dãy núi Rocky khiến cho mùa đông của vùng này bớt lạnh giá. == Nhân khẩu == Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ ước tính dân số của Nebraska là 1.896.190 người vào ngày 1 tháng 7 năm 2015, dựa trên Điều tra dân số Hoa Kỳ 2010. === Chủng tộc và dân tộc === Theo Điều tra dân số Hoa Kỳ 2010, thành phần chủng tộc của bang Nebraska như sau: Người da trắng chiếm 86,1% (trong đó người Mỹ da trắng không Latinh chiếm 82,1%) Người da đen chiếm 4,5% Người da vàng chiếm 1,8% Người da đỏ chiếm 1,0% Người Hawaii và các đảo Thái Bình Dương chiếm 0,1% Người có 2 chủng tộc trở lên chiếm 2,2% Người Mỹ gốc Latinh chiếm 9,2% dân số và có thể thuộc bất cứ nhóm phân loại nào nêu trên. Các dân tộc chiếm tỉ lệ cao nhất tại Nebraska là người Đức (38,6%), người Ireland (12,4%), người Anh (9,6%), người Mexico (8,7%), và người Séc (5,5%). Nebraska là tiểu bang có số lượng người Mỹ gốc Séc cao nhất cả nước, với Butler là một trong hai quận duy nhất trên cả nước mà người gốc Séc chiếm đa số. Người Mỹ gốc Đức là dân tộc lớn nhất tại hầu hết các hạt của Nebraska, đặc biệt là ở miền đông của tiểu bang. Thurston là hạt duy nhất của bang trong đó người da đỏ chiếm đa số. === Đô thị hóa === Không chỉ riêng Nebraska mà tại nhiều tiểu bang khác ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ, việc người dân chuyển từ nông thôn ra thành phố khiến cho dân số của nhiều quận bị giảm xuống. Ước tính khoảng 89% các điểm cư dân tại Nebraska có dưới 3000 người và tiểu bang này có tới hàng trăm thị trấn dân số không quá 1000. Dân số giảm tại các quận nông thôn khiến một số trường học không có đủ học sinh. Từ năm 1990 đến 2000, 53 trong số 93 quận của Nebraska bị giảm dân số. Quận Frontier có mức giảm nhẹ nhất là 0,06% trong khi quận Hitchcock mất tới 17,04%. Ngược lại, các vùng đô thị lớn của Nebraska lại ghi nhận mức gia tăng dân số nhanh chóng. Thành phố Omaha có dân số là 390.007 vào năm 2000 nhưng đã tăng lên tới 414.521 vào năm 2005 (tăng 6,3% trong vòng 5 năm). Tương tự, dân số của thủ phủ Lincoln cũng tăng từ 225.581 của năm 2000 lên 258.379 vào năm 2010 (tăng 14,5% trong vòng 10 năm). === Tôn giáo === Cơ cấu tôn giáo của người dân Nebraska như sau: Kitô giáo – 90% Công giáo – 28% Lutheran – 16% Giám Lý – 11% Báp-tít – 9% Trưởng Nhiệm – 4% Các nhóm Tin Lành khác – 21% Các nhóm Kitô giáo khác – 1% Không tôn giáo – 9% Các tôn giáo khác – 1% == Chính phủ == Chính phủ tiểu bang Nebraska hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp Nebraska, được thông qua vào năm 1875. Theo đó, các hoạt động của chính phủ được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập, bao gồm các nhánh: hành pháp, lập pháp, và tư pháp. === Nhánh hành pháp === Đứng đầu nhánh hành pháp là thống đốc Nebraska, hiện này là ông Pete Ricketts. Thống đốc và phó thống đốc bang có nhiệm kỳ 4 năm. === Nhánh lập pháp === Nebraska là tiểu bang duy nhất tại Hoa Kỳ mà cơ quan Lập pháp Tiểu bang được tổ chức theo hình thức đơn viện thay vì lưỡng viện như các nơi khác, do đó các đại biểu của cơ quan này đều được gọi là thượng nghị sĩ bang. Một điểm độc đáo nữa của Lập pháp Nebraska là việc các đại biểu của Lập pháp Tiểu bang được bầu theo thể thức không đảng phái, có nghĩa là tên của ứng viên trên phiếu bầu sẽ không đi kèm với tên đảng phái họ tham gia. Trong cơ quan Lập pháp Tiểu bang, các ghế Chủ tịch và ủy viên được bầu chọn mà không phụ thuộc vào việc đảng nào đang chiếm đa số trong cơ quan này. Lập pháp Tiểu bang Nebraska có thể vượt qua sự phủ quyết của thống đốc bang nếu hơn 3/5 số đại biểu ủng hộ, khác với các bang khác là 2/3. Khi Nebraska trở thành một tiểu bang vào năm 1867, nhánh lập pháp của tiểu bang vẫn có cả Thượng viện và Hạ viện. Thượng nghị sĩ liên bang George W. Norris và nhiều công dân Nebraska khác đưa ra đề xuất thành lập cơ chế lập pháp đơn viện vì cho rằng hình thức tổ chức lưỡng viện có những yếu tố không dân chủ. Họ đề xuất một cuộc trưng cầu dân ý. Năm 1934, người dân Nebraska quyết định bãi bỏ Hạ viện tiểu bang để lập nên thể chế đơn viện hiện nay trong bối cảnh cuộc Đại khủng hoảng khiến kinh tế Hoa Kỳ lâm vào suy thoái. === Nhánh tư pháp === Nebraska có hệ thống tư pháp thống nhất, đứng đầu là Tòa án Tối cao Nebraska có thẩm quyền đối với tất cả các tòa án tại tiểu bang này. === Đại diện tại chính phủ liên bang === Giống như các tiểu bang khác, Nebraska gửi 2 thượng nghị sĩ đến Thượng viện Hoa Kỳ. Các thượng nghị sĩ hiện tại của Nebraska là bà Deb Fischer và ông Ben Sasse, đều thuộc Đảng Cộng hòa. Nebraska có 3 đại diện tại Hạ viện Hoa Kỳ. Trong các cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, Nebraska cùng với Maine là 2 tiểu bang cho phép chia phiếu Đại cử tri Đoàn. Ví dụ, trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2008, John McCain thắng 4 phiếu đại cử tri còn Barack Obama thắng 1 phiếu từ bang Nebraska. Ở các tiểu bang còn lại, ứng viên tổng thống chiến thắng trong cuộc bầu cử tiểu bang sẽ lấy hết phiếu đại cử tri tại nơi đó. Theo một điều luật năm 1991 của Nebraska, 2 phiếu đại cử tri của tiểu bang sẽ được dành cho ứng viên tổng thống thu được nhiều phiếu phổ thông nhất trên toàn bộ tiểu bang, 3 phiếu còn lại sẽ thuộc về người chiến thắng tại 3 khu vực quốc hội. === Chính trị === Hầu như trong suốt lịch sử của mình, Nebraska là một tiểu bang trung thành với Đảng Cộng hòa. Từ năm 1940 đến nay, Đảng Dân chủ mới chỉ chiến thắng tại Nebraska có 1 lần duy nhất với ứng viên Lyndon B. Johnson năm 1964. Trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2004, ông George W. Bush thắng cả 5 phiếu đại cử tri của Nebraska với cách biệt lên đến 33%. Trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016, ứng viên của Đảng Cộng hòa Donald Trump cũng chiến thắng cả 5 phiếu tại Nebraska. Song song với truyền thống ủng hộ Đảng Cộng hòa, Nebraska cũng thường bầu cho các đại biểu trung dung vào các vị trí quan trọng của cả cấp tiểu bang và liên bang. Tiêu biểu cho xu hướng này là việc Nebraska từng bầu ông Ben Nelson, một thượng nghị sĩ liên bang nổi tiếng bảo thủ thuộc Đảng Dân chủ từ năm 2001 đến 2013. Cựu tổng thống Gerald Ford sinh ra tại Nebraska nhưng rời khỏi bang này từ khi ông còn nhỏ. William Jennings Bryan, người gốc Illinois từng đại diện cho Nebraska tại Quốc hội Hoa Kỳ và từng giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Woodrow Wilson. Ông Bryan cũng từng tranh cử tổng thống 3 lần nhưng không thành công. == Kinh tế == Năm 2015, GDP của Nebraska đạt 112,2 tỉ USD, xếp thứ 35 trong tổng số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Nebraska là một bang mạnh về nông nghiệp, với những sản phẩm chủ lực là thịt bò, thịt lợn, ngô, đậu tương và cao lương. Một số ngành quan trọng trong kinh tế Nebraska là chế tạo, du lịch, vận chuyển hàng hóa, viễn thông, công nghệ thông tin và bảo hiểm. Thu nhập trung vị của hộ gia đình tại Nebraska là 60.474 USD vào năm 2015, đứng thứ 18 trong số 51 đơn vị hành chính (gồm 50 tiểu bang cộng thêm thủ đô Washington D.C.) và cao hơn khoảng 4.000 USD so với mức trung bình của Hoa Kỳ. Thành phố Omaha là nơi đặt trụ sở của công ty Berkshire Hathaway của tỷ phú Warren Buffett, một trong những người giàu nhất thế giới. Đây là cũng là nơi sinh của nhà đầu tư nổi tiếng này. == Văn hóa == === Văn học === Willa Cather, Mari Sandoz và Bess Streeter Aldrich là ba trong số những nhà văn tiêu biểu viết về Nebraska. Các tác phẩm của họ thường khai thác chủ đề như cuộc sống của người nông dân miền biên viễn, lối sống của những cộng đồng dân cư đa dạng cũng như những khổ đau của người Mỹ bản địa. Năm 2005, nhà thơ Ted Kooser đoạt giải Pulitzer về thơ. Ông viết nhiều tác phẩm về đời sống nông thôn ở vùng Trung Tây nước Mỹ. === Nghệ thuật === Nebraska có nhiều bảo tàng phục vụ việc nghiên cứu và tham quan về nhiều chủ đề khác nhau: bảo tàng Stuhr ở Grand Island được thành lập nhằm giới thiệu về đời sống của người nông dân di cư đến Nebraska vào thế kỉ 19 và trưng bày các hiện vật của người bản địa. Bảo tàng Great Plains Black tại Omaha giới thiệu về cuộc sống của người Mỹ gốc Phi. Bảo tàng Mỹ thuật Joslyn tại Omaha và Bảo tàng Mỹ thuật Sheldon ở Lincoln có nhiều bộ sưu tập nghệ thuật lớn tại tại tiểu bang Nebraska. == Giáo dục == Hệ thống Đại học Nebraska Đại học Nebraska–Lincoln Đại học Nebraska tại Kearney Đại học Nebraska tại Omaha Đại học Y Nebraska Cao đẳng Kỹ thuật Nông nghiệp Nebraska Hệ thống Cao đẳng Tiểu bang Nebraska Cao đẳng Tiểu bang Chadron Cao đẳng Tiểu bang Peru Cao đẳng Tiểu bang Wayne == Chú thích ==
tranh lụa.txt
Tranh lụa là một trong những loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản. Khác với các loại tranh khác, ở đây, họa tiết được thể hiện trên tấm vải lụa. == Tranh lụa cổ == Tranh lụa có từ lâu đời tại Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam ngày nay còn lưu lại một vài bức chân dung Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Trịnh Đình Kiên, Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh từ thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Tất cả những bức họa này (chưa rõ tác giả) đều vẽ trên lụa. == Tranh lụa hiện đại Việt Nam == Tranh lụa hiện đại Việt Nam mới ra đời từ thập niên 1930. Điểm khác biệt nhất giữa kỹ thuật vẽ tranh lụa cổ và tranh lụa hiện đại Việt Nam là ở chỗ: tranh lụa cổ thường được vẽ trực tiếp trên lụa khô, trong khi quá trình tranh lụa hiện đại giống như sự nhuộm đi nhuộm lại màu lên mặt lụa; lụa được căng trên khung gỗ và trong quá trình vẽ họa sĩ có thể rửa lụa nhiều lần rồi vẽ tiếp tới khi như ý. == Các họa sĩ Việt Nam nổi tiếng với tranh lụa == Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) được coi là họa sĩ đã khai phá loại hình tranh lụa hiện đại Việt Nam. Những bức vẽ thành công của ông có một phong vị đặc biệt Việt Nam, đồng thời phù hợp với quan niệm hội họa hiện đại: những mảng màu đơn giản, ấm áp, nhuần nhị, những đường viền mềm mại, những khoảng trống rất đúng chỗ. Ngoài ra, nhân vật và bối cảnh Việt Nam được nghiên cứu đơn giản và cách điệu độc đáo. Thành công của ông đã lôi cuốn các bạn cùng lứa và các họa sĩ thuộc lớp sau, mỗi người đã đóng góp làm phong phú thêm kỹ thuật vẽ tranh lụa. Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Lê Thị Lựu là những người sống ở Paris, trung tâm hội họa thế giới với đủ trường phái tân kỳ, nhưng họ vẫn vẽ tranh lụa, góp phần cất lên một tiếng nói nghệ thuật độc đáo của Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, số họa sĩ vẽ tranh lụa đông hơn. Họ mở rộng hơn đề tài, kỹ thuật và đã có những thành công mới. Nguyễn Thụ là một họa sĩ chuyên nhất về tranh lụa, có một phong cách riêng biệt. Bố cục tranh của ông đơn giản, nhịp nhàng, màu sắc mát mẻ êm dịu; bút pháp phóng khoáng, nhẹ nhàng; không gian mờ ảo thơ mộng với những nhân vật bình dị, thân quen... Một số nữ họa sĩ khác như Vũ Giáng Hương, Lê Kim Mỹ, Trần Thanh Ngọc, Mộng Bích, Kim Bạch, Đặng Thu Hương... cũng đã có nhiều thành công với tranh lụa. Bàng Thúc Long (1922-1990) Ông là một trong những thế hệ đầu tiên vẽ tranh lụa thành công, ông không được nhiều người trong nước biết tranh ông chủ yếu được các khách nước ngoài thời bao cấp đến mua trang của ông ở các gradi,hiện còn nhiều bưc tranh được các bảo tàng mua trưng bày như Bảo tàng mỹ thuật VN, bảo tàng Betlin Đức.Ông cùng thế hệ với Họa sĩ Tạ thúc Bình cung chuyên vẽ tranh lụa. == Kỹ thuật vẽ tranh lụa == === Lụa vẽ === Lụa vẽ thường là lụa tơ tằm, không lỗi, mịn hoặc hơi thô, dệt thủ công hay dệt bằng máy. Gần đây, do yêu cầu của ngành mỹ thuật, các nhà máy dệt đã sản xuất loại lụa chuyên dùng để vẽ tranh, mỏng và hơi thưa, nhìn rõ thớ lụa. === Màu vẽ === Màu dùng để vẽ lụa thường là màu nước, phẩm hoặc mực nho. Sau này, người ta còn dùng những họa phẩm đục hơn, dày hơn như tempera, màu bột, phấn màu... === Các kỹ thuật khi vẽ tranh === Lụa trước khi vẽ phải căng lên khung. Thông thường, lụa mới được quét một lớp hồ loãng, người vẽ nên rửa qua lớp hồ này để màu có thể ngấm vào thớ lụa. Nếu lụa hút nhiều nước như lụa Trung Quốc thì nên quét một lớp hồ loãng lên trên, có pha lẫn một ít phèn chua để chống mốc. Điểm mạnh của tranh lụa là ở sự trong trẻo và êm dịu của màu sắc, vì vậy phần lớn người vẽ tranh lụa thường xây dựng phác thảo (hình, mảng) hết sức kỹ càng trước khi thể hiện lên lụa. Nhiều người sử dụng cách can hình từ bản can giấy lên lụa để lưu lại nét một cách chính xác. Tuy nhiên cũng có thể vẽ lụa một cách thoải mái. Khi vẽ lụa, người ta thường vẽ từ nhạt đến đậm, màu nhạt chồng lên nhau nhiều lần sẽ thành đậm nhưng vẫn nhìn thấy thớ lụa tạo nên vẻ đẹp của chất lụa. Vẽ chồng lên nhau bằng các màu khác nhau cũng là một cách pha màu. Thỉnh thoảng, khi màu đã khô, phải rửa nhẹ cho sạch những chất bẩn nổi lên mặt lụa và để cho màu ngấm vào từng thớ lụa. Muốn cho các mảng màu cạnh nhau hòa vào với nhau không còn ranh giới tách bạch, tạo ra một hiệu quả mềm mại, mờ ảo, người ta vẽ khi mặt lụa còn hơi ẩm và không cần viền nét nữa. Có thể sử dụng bột điệp và bạc thêm vào tranh lụa (dán ở mặt sau). Tranh lụa vẽ xong thường được bồi lên một lớp giấy, sau khi khô hoàn toàn, họa sĩ có thể rạch phần tranh ra khỏi khung lụa để đưa vào khung. Tranh lụa tăng hiệu quả thẩm mỹ nhiều khi với khung kính. == Tham khảo ==
middlesbrough f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Middlesbrough (tên thường gọi là Boro) là một câu lạc bộ bóng đá Anh đặt trụ sở tại thành phố Middlesbrough hiện đang chơi ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (lên hạng mùa bóng 2015-16). Thành lập vào năm 1876, sân nhà của họ là Riverside với sức chứa khoảng 35.100 khán giả. Họ là một trong những thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992. Đối thủ chính của câu lạc bộ là Sunderland và Newcastle United. == Lịch sử == Middlesbrough được thành lập năm 1876 bởi các thành viên của câu lạc bộ cricket ở địa phương. Đến năm 1899, câu lạc bộ chính thức chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Middlesbrough lên hạng nhất bóng đá Anh (nay là giải ngoại hạng) năm 1974 sau khi vô địch giải hạng 2 (nay là giải hạng nhất). Các năm 1982 và 1986, câu lạc bộ lần lượt xuống hạng 2 rồi 3 và đến năm 1992 mới trở lại giải bóng đá cao nhất của nước Anh. Năm 1997 là năm buồn bã với Middlesbrough. Đầu tiên, câu lạc bộ thua Leicester City trong trận chung kết cúp Liên đoàn. Tiếp theo, câu lạc bộ phải xuống hạng nhất (xếp thứ 19/20) do bị trừ 3 điểm vì đã hủy bỏ một trận đấu với Blackburn Rovers. Và cuối cùng là thua Chelsea trong trận chung kết cúp FA. Một năm sau đó, câu lạc bộ quay trở lại giải Ngoại hạng. Mùa bóng 2004-05 trở thành mùa bóng thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ sau khi thắng Bolton Wanderers ở chung kết cúp Liên đoàn và giành quyền tham dự cúp UEFA mùa bóng sau. Năm 2006, Middlesbrough đã vào tới trận chung kết cúp UEFA và bán kết cúp FA. Nhưng câu lạc bộ chỉ xếp ở nửa dưới bảng xếp hạng giải Ngoại hạng. Năm 2007, Middlesbrough nhận vé xuống hạng ở giải Ngoại hạng và từ đó chưa bao giờ quay trở lại giải đấu này. Năm 2015, Middlesbrough thất bại trước Norwich City trong trận Play-off quyết định suất thứ 3 lên chơi tại giải Ngoại hạng. Năm 2016, Middlesbrough trở lại Premier League sau trận hòa Brighton & Hove Albion 1 -1 và bằng điểm số với chính đội bóng đó nhưng hơn về hiệu số. == Thành tích == Giải vô địch quốc gia: chưa vô địch lần nào Cúp FA: vào chung kết năm 1997 Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 1 2004 (chung kết các năm 1997 và 1998) Cúp UEFA: vào chung kết năm 2006 == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. ==== Cho mượn ==== Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Middlesbrough F.C. Diễn đàn cổ động viên của Middlesbrough F.C. và các câu lạc bộ khác
vertex pharmaceuticals.txt
Vertex Pharmaceuticals là một công ty dược phẩm Hoa Kỳ có trụ sở ở Boston, Massachusetts. Vertex được thành lập năm 1989 bởi Joshua Boger and Kevin J. Kinsella. Vertex là một trong những công ty công nghệ sinh học đầu tiên sử dụng một chiến lược rõ ràng về thiết kế thuốc hơn là hóa học tổ hợp. Đến năm 2004, sản phẩm chính của nó tập trung vào các bệnh nhiễm trùng do virut, các chứng viêm và tự miễn dịch, và ung thư. Nó có trụ sở chính ở South Boston, Massachusetts, và hai cơ sở nghiên cứu ở San Diego, California, và Oxford, Anh. Năm 2009, công ty có khoảng 1.800 nhân viên, bao gồm 1.200 người ở khu vực Boston. Vào tháng 1 năm 2014, Vertex đã hoàn thành việc di chuyển từ Cambridge, Massachusetts sang Boston, Massachusetts, tọa lạc trong một khu phức hợp mới trị giá 800 triệu USD. Nằm trên bến cảng South Boston, nó đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử công ty, tất cả 1.200 nhân viên của Vertex ở khu vực Greater Boston sẽ làm việc cùng nhau. Từ cuối năm 2011, khi Jeffrey M. Leiden làm Vertex làm Giám đốc điều hành, Vertex nằm trong danh sách 15 công ty hoạt động tốt nhất trên S&P 500. Cổ phiếu Vertex đã tăng 250% so với cùng kì. Vertex công bố lợi nhuận hàng năm chỉ một lần từ khi được thành lập năm 1989. == Xem thêm == Cystic Fibrosis Foundation Telaprevir == Tham khảo == Annual Report. Vertex Pharmaceuticals. Ngày 15 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. “Vertex Completes New Drug Application for Telaprevir for Hepatitis C” (Thông cáo báo chí). Vertex Pharmaceuticals. Ngày 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. == Liên kết ngoài ==
hy lạp cổ đại.txt
Hy Lạp cổ đại là thời kì lịch sử Hy Lạp bao trùm toàn bộ khu vực Địa Trung Hải và biển Đen và kéo dài gần một nghìn năm, đến khi Kitô giáo xuất hiện. Các nhà sử học coi nó là nền tảng văn hóa cho văn minh phương Tây. Văn hóa Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn trong Đế chế La Mã, và ảnh hưởng này cũng được truyền đi khắp các vùng trong châu Âu. Văn minh của người Hy Lạp cổ đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngôn ngữ, chính trị, hệ thống giáo dục, triết học, khoa học, nghệ thuật, và kiến trúc của thế giới cận đại, thúc đẩy phong trào Phục Hưng tại Tây Âu cũng như làm sống lại các phong trào tân Cổ điển tại châu Âu và châu Mỹ thế kỷ 18 và 19. "Hy Lạp cổ đại" là thuật ngữ để chỉ khu vực nói tiếng Hy Lạp vào thời cổ đại. Nó không chỉ đơn thuần chỉ bán đảo Hy Lạp ngày nay về mặt địa lý, mà còn chỉ các khu vực văn hóa Hy Lạp vào thời cổ đại của người Hy Lạp: Kypros và quần đảo Aigeus, dải bờ biển Aigeus của Anatolia (được biết đến vào thời đó là Ionia), Sicilia và miền nam Ý (biết đến như Magna Graecia), và một số vùng khác nơi người Hy Lạp cổ định cư như ven biển Illyria, Thrake, Ai Cập, Cyrenaica, miền nam xứ Gaule, đông và đông bắc bán đảo Iberia, Iberia, và Taurica. == Niên đại == Cho đến nay các tư liệu lịch sử vẫn chưa được khám phá hết nên thời kỳ bắt đầu và kết thúc chưa được xác định rõ ràng và chính xác. Thông thường thì người ta coi nó là toàn bộ lịch sử Hy Lạp trước thời Đế chế La Mã. Một số học giả còn tính cả các thời kỳ của nền văn minh Mycenae sụp đổ vào khoảng năm 1100 TCN, mặc dù phần lớn cho rằng Minoa có ảnh hưởng lớn và khác so với văn hóa Hy Lạp và nên được phân loại riêng biệt. Theo các sách giáo khoa của Hy Lạp ngày nay, "thời cổ đại" kéo dài khoảng 1.000 năm (từ thảm họa của Mycenae đến tận khi người La Mã chiếm Hy Lạp) và được phân ra làm bốn thời kỳ, dựa theo phong cách nghệ thuật, kiến trúc cũng như loại hình chính trị. Dòng lịch sử của Hy Lạp cổ đại bắt đầu với Thời kỳ Tối tăm của Hy Lạp (1100–800 TCN). Trong thời kỳ này những nhà tạo hình đã sử dụng phối hợp giữa các đường hình học như hình vuông, hình tròn, đường thẳng để tạo hình lọ hai quai và các đồ gốm sứ khác. Thời kỳ Cổ xưa (800–500 TCN) là những năm mà các nghệ sĩ tạo ra các kiểu tượng lớn với dáng khắc khổ, thô cứng và "nụ cười cổ đại" huyền ảo. Thời kỳ cổ xưa thường được cho là đi đến kết thúc với sự lật đổ của các bạo chúa cuối cùng của Athen trong năm 510 TCN. Trong Thời kỳ Cổ điển (500–323 TCN) những nhà tạo hình đã hoàn toàn hảo hoá những chuẩn mực "kinh điển", như đền Parthenon. Chính trị, thời kỳ cổ điển đã bị thống trị bởi Athen và liên minh Delian trong thế kỷ thứ 5, sau đó là người Sparta nắm quyền bá chủ trong thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên đầu, trước khi chuyển sang tay người Thebes và liên minh Boeotia và cuối cùng là liên minh Corinth do Macedonia thống lĩnh. Những năm Hy Lạp hóa sau cuộc chinh phạt của Alexandros Đại Đế (356–323 TCN), cũng được biết đến như thời Alexandria, nền văn minh Hy Lạp đã mở rộng đến Ai Cập và Bactria. Kết thúc là cuộc chinh phục Hy Lạp của La Mã. Thời kì La Mã Hy Lạp, là thời kì từ chiến thắng trước người Corinthia trong trận Corinth năm 146 TCN và cho tới khi thiết lập Byzantium bởi Constantine trở thành thủ đô của Đế chế La Mã trong năm 330 SCN. Giai đoạn cuối của thời kì cổ đại là thời kỳ của Thiên chúa giáo trong nửa sau thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 6, kết thúc với việc đóng cửa của Học viện Neoplatonic của Justinian I năm 529 SCN. Thông thường, nền văn minh cổ Hy Lạp được coi là thời điểm bắt đầu Thế Vận Hội vào năm 776 TCN, nhưng nhiều nhà sử học cho là vào khoảng 1000 TCN. Cũng theo tư liệu cổ thì thời kỳ Hy Lạp cổ kết thúc vào thời điểm Alexandros Đại Đế chết vào năm 323 TCN. Nhưng theo các nghiên cứu khảo cổ thì có còn tồn tại mãi đến thời kỳ Đạo Ki-tô vào thế kỷ 3. == Nguồn gốc == Người Hy Lạp được cho là đã di chuyển về phía nam về phía bán đảo Balkan thành vài đợt vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, lần cuối vào lúc cuộc xâm lăng của người Dorian. Thời kỳ từ 1600 TCN đến khoảng 1100 TCN được miêu tả trong Lịch sử của Hy Lạp Mycenae là triều đại của vua Agamemnon và cuộc chiến thành Troia được kể trong các bản anh hùng ca của Homer. Thời kỳ từ 1100 TCN đến thế kỷ 8 TCN là một "thời kỳ tối tăm" với không một tư liệu nào được giữ lại, và rất hiếm bằng chứng khảo cổ còn lại. Các tư liệu cấp hai và ba như Lịch sử của Herodotus, Mô tả về Hy Lạp của Pausanias, Bibliotheca của Diodorus và Chronicon của Jerome, miêu tả sơ lược lịch sử và danh sách các vua của thời kỳ này. Lịch sử của Hy Lạp cổ đại thường được kết thúc với sự chấm dứt của triều đại Alexandros Đại Đế, người chết năm 323 TCN. Những sự kiến sau đó được miêu tả trong Hy Lạp thời cổ. Cần xem xét cẩn thận nguồn tham thảo khi tìm hiểu về lịch sử Hy Lạp cổ đại. Những sử gia và chính trị gia có tác phẩm tồn tại đến nay như Herodotus, Thucydides, Xenophon, Demosthenes, Platon và Aristotle, phần nhiều là người thành Athena hay ủng hộ Athena. Điều đó giải thích vì sao ta biết về lịch sử và chính trị của Athena nhiều hơn những thành phố khác, và tại sao chúng ta hầu như không biết mấy về các nơi khác. Hơn nữa những người này hầu như chỉ tập trung viết về chính trị, quân sự và lịch sử ngoại giao, và bỏ qua kinh tế và xã hội. Do vậy tất cả lịch sử về Hy Lạp cổ đại cần được nghiên cứu thận trọng với những hạn chế từ các tư liệu tham khảo này. == Sự trỗi dậy của Hy Lạp == Vào thế kỷ thứ 8 TCN Hy Lạp cổ đại bắt đầu trỗi dậy từ Thời kỳ Tăm tối sau khi nền văn minh Mycenae sụp đổ. Nhiều văn bản bị mất và chữ viết Mycenae bị lãng quên, nhưng người Hy Lạp sau đó đã dùng bảng chữ cái Phoenici và tạo ra bảng chữ cái Hy Lạp và từ khoảng 800 TCN những ghi chép bắt đầu xuất hiện. Hy Lạp cổ đại bị phân chia thành nhiều cộng đồng tự quản nhỏ, điều này phản ánh hình dạng địa lý của Hy Lạp, nơi mà các đảo, thung lũng và đồng bằng bị chia cắt nhau bởi biển cả hay các dãy núi. Cùng với sự phục hồi về mặt kinh tế, dân số đã tăng trưởng vượt quá giới hạn cung cấp của đất trồng trọt. Từ khoảng 750 TCN người Hy Lạp bắt đầu 250 năm mở rộng, thiết lập thuộc địa về mọi hướng. Về hướng đông, bờ biển Aegea thuộc Tiểu Á được chiếm làm thuộc địa đầu tiên, tiếp theo là Kypros, những vùng ven biển của Thrace, vùng biển Marmara và vùng phía nam Biển Đen. Cuối cùng thuộc địa của Hy Lạp mở tới tận phía đông bắc vùng Ukraina ngày nay. Về phía tây, Albania, Sicilia và nam Ý được thiết lập thuộc địa, sau đó là vùng ven biển phía nam của Pháp, Corse, và kết thúc ở đông bắc Tây Ban Nha. Những thuộc địa của Hy Lạp cũng được lập tại Ai cập và Libya. Syracuse, Napoli, Marseille và Istanbul ngày nay đã bắt đầu từ những thuộc địa của Hy Lạp là Syracusa, Neapolis, Massilia và Byzantium. Vào thế kỷ thứ 6 TCN Hy Lạp đã trở thành một khu vực văn hóa và ngôn ngữ rộng lớn hơn nhiều so với diện tích địa lý của Hy Lạp hiện nay. Những vùng đất thuộc địa của Hy Lạp không bị kiểm soát về mặt chính trị vẫn duy trì những kết nối tôn giáo và thương mại với những thành phố thiết lập ra chúng. Người Hy Lạp tổ chức thành những xã hội độc lập cả ở quê nhà và bên ngoài, và thành phố (polis) trở thành đơn vị chính quyền cơ bản của Hy Lạp. == Xung đột xã hội và chính trị == Những thành phố Hy Lạp cổ ban đầu theo chế độ quân chủ, mặc dù rất nhiều thành phố khá nhỏ và danh xưng "vua" (basileus) dành cho người đứng đầu những thành phố này là quá trang trọng. Hy Lạp cổ đại không có nhiều đất canh tác và quyền lực nằm trong tay thiểu số tầng lớp địa chủ, những người này hình thành nên một tầng lớp quý tộc chiến binh thường xuyên gây chiến giữa các thành phố để giành đất và nhanh chóng chấm dứt chế độ quân chủ. Cũng khoảng thời gian này nổi lên một tầng lớp thương nhân (với sự xuất hiện tiền xu vào khoảng 680 TCN) dẫn đến mâu thuẫn giai cấp tại các thành phố lớn. Từ 650 TCN trở đi, các tầng lớp quý tộc đánh nhau không phải để bị lật đổ và thay thế bởi những lãnh chúa thường dân, gọi là tyrranoi (từ này không nên hiểu theo nghĩa ngày nay là một nhà độc tài hay bạo chúa–tyrant). Vào thế kỷ thứ 6 TCN có một số thành phố đã nổi lên tại Hy Lạp cổ: Athena, Sparta, Corinth và Thebes. Mỗi thành phố đó đều kiểm soát những vùng nông thôn phụ cận và những thành thị nhỏ quanh nó, và Athena và Corinth đã trở thành những trung tâm quyền lực về hàng hải và thương mại. Athena và Corinth cũng ganh đua nhau để chi phối nền chính trị Hy Lạp liên tục nhiều thế hệ. Tại Sparta, tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai nắm quyền lực, và hiến pháp do Lycurgus (Sparta) đưa ra (vào khoảng 650 TCN) đã củng cố chặt chẽ quyền lực của tầng lớp này đồng thời đem lại cho Sparta một chế độ quân phiệt dưới một nền quân chủ lưỡng chế. Sparta chi phối các thành phố khác của bán đảo Peloponnesus, ngoại trừ Argus và Achaia. Tại Athena, ngược lại, chế độ quân chủ được bãi bỏ vào năm 683 TCN, và những cải cách của Solon đã lập nên một hệ thống chính phủ ôn hòa của tầng lớp quý tộc. Tiếp sau đó là chính thể chuyên chế của Peisistratos với những người con trai của ông, những người này đã biến Athena thành một trung tâm quyền lực mạnh về hàng hải và thương mại. Khi gia đình Peisistratos bị lật đổ, Cleisthenes thiết lập một nền dân chủ đầu tiên trên thế giới (500 TCN), trong đó quyền lực được nắm bởi hội đồng các công dân nam giới của thành phố. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng chỉ một phần thiểu số những nam giới cư trú được coi là công dân thành phố, tức là không tính đến người nô lệ, người nô lệ được giải phóng và những ai không phải cư dân của thành Athena. == Chiến tranh với Ba Tư == Tại vùng Ionia (hiện nay là vùng biển Aegea thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), những thành phố của Hy Lạp cổ, bao gồm những trung tâm lớn như Miletus và Halicarnassus, đã không thể duy trì nền độc lập của họ và bị Đế chế Ba Tư kiểm soát vào giữa thế kỷ thứ 6 TCN. Năm 499 TCN, người Hy Lạp tại đây đã tiến hành cuộc khởi nghĩa Ionia, và Athena cùng vài thành phố khác của Hy Lạp cổ đã tiếp viện. Năm 490 TCN, hoàng đế Darius I đã tàn phá các thành phố ở Ionia và điều một hạm đội để tiêu diệt người Hy Lạp. Người Ba Tư cập bến ở Attica và đã bị quân Hy Lạp cổ, dưới sự chỉ huy của tướng thành Athena là Miltiades, đánh bại tại trận Marathon. Gò đất mai táng người Athena chết trong trận này vẫn có thể thấy được ở Marathon. Mười năm sau, người kế tục Darius, hoàng đế Xerxes I đã cử một đội quân lớn bằng đường bộ tới Hy Lạp. Sau khi bị vua Sparta Leonidas I giữ chân tại trận Thermopylae, Xerxes đã tiến vào Attica, chiếm và đốt thành Athena. Nhưng người Athena đã rút khỏi thành phố bằng đường biển, và dưới sự chỉ huy của Themistocles họ đã đánh bại hạm đội Ba Tư tại trận Salamis. Một năm sau, người Hy Lạp, dưới sự chỉ huy của tướng thành Sparta là Pausanius, đã đánh thắng quân Ba Tư tại Plataea. Hạm đội Athena sau đó quay sang đuổi người Ba Tư ra khỏi biển Aegea, và năm 478 TCN họ đã chiếm được Byzantium. Kết quả là Athena đã thâu tóm tất cả các chính quyền trên các đảo và vài liên minh trên đất liền vào một khối gọi là Liên minh Delos (vì của cải của họ được cất giấu trên hòn đảo linh thiêng mang tên này). Người Sparta, mặc dù cũng tham gia chiến tranh nhưng sau đó lại rút lui, để cho Athena trở thành một trung tâm quyền lực về hàng hải và thương nghiệp không thể khuất phục. == Ưu thế của Athena == Chiến tranh Hy Lap-Ba Tư đã tạo ưu thế cho Athens thống trị Hy Lạp cổ trong suốt một thế kỷ. Athens đã làm chủ hoàn toàn trên biển, và cũng đứng đầu về sức mạnh thương nghiệp, mặc dù thành Corinth cũng là đối thủ cạnh tranh đáng gờm. Người lãnh đạo Athens, lúc đó là Pericles, đã dùng những cống nạp của các thành viên liên minh Delos để xây dựng đền Parthenon, và những công trình kiến trúc lớn của Athena cổ đại. Vào giữa thế kỷ thứ 5 TCN, liên minh này đã trở thành Đế chế Athens, đánh dấu bởi việc chuyển giao kho báu từ Delos đến Parthenon vào năm 454 TCN. Sự giàu có của Athens đã lôi cuốn những người tài từ khắp nơi đổ về Hy Lạp, và cũng tạo ra một tầng lớp giàu có rỗi rãi, và trở thành những người bảo trợ cho nghệ thuật. Nhà nước Athena cũng bảo trợ cho việc học hành và nghệ thuật, đặc biệt cho kiến trúc. Athena trở thành trung tâm của văn học, triết học (xem Triết học Hy Lạp cổ) và nghệ thuật (xem Rạp hát Hy Lạp cổ). Một số tên tuổi lớn nhất của lịch sử văn hóa và trí thức phương Tây đã sống ở Athena trong thời kỳ này: các nhà viết kịch Aeschylus, Aristophanes, Euripides và Sophocles, các nhà triết học Aristotle, Plato và Socrates, các nhà sử học Herodotus, Thucydides và Xenophon, nhà thơ Simonides và nhà điêu khắc Pheidias. Theo ngôn từ của Pericles, thành phố trở thành "trường học của Hy Lạp". Những vùng khác của Hy Lạp ban đầu chấp nhận sự lãnh đạo của Athena trong cuộc chiến triền miên chống lại người Ba Tư, nhưng sau khi nhà chính trị bảo thủ Cimon mất quyền vào năm 461 TCN, Athena trở thành một chính quyền theo đường lối đế quốc ngày càng mở. Sau khi Hy Lạp giành chiến thắng ở trận Eurymedon năm 466 TCN, người Ba Tư không còn là mối đe dọa nữa, và vài nơi như Naxos, đã cố rút khỏi liên minh nhưng vẫn bị quy phục. Những người lãnh đạo mới của Athena, Pericles và Ephialtes, đã khiến mối quan hệ giữa Athena và Sparta trở lên xấu hơn, và năm 458 TCN chiến tranh đã nổ ra. Sau vài năm không kết quả, 30 năm hòa bình đã được ký kết giữa Liên minh Delos và Liên minh Peloponnesus (bao gồm Sparta và liên minh của họ). Thời gian này trùng với trận đánh cuối giữa Hy Lạp cổ và Ba Tư, một trận đánh ngoài biển Salamis tại Kypros, sau đó là Hiệp ước Hòa bình Callias (450 TCN) giữa Hy Lạp cổ và Ba Tư. == Cuộc chiến với Peloponnesus == Năm 431 TCN chiến tranh nổ ra giữa Athena và Sparta cùng các đồng minh. Nguyên nhân trực tiếp đến từ tranh chấp giữa Corinth và một trong những thuộc địa của nó, Corcyra (ngày nay là Corfu), mà Athena đã can thiệp vào. Nguyên nhân sâu xa là sự bất bình của Sparta và các đồng minh trước việc Athena ngày càng có ảnh hưởng lớn trong Hy Lạp cổ. Cuộc chiến kéo dài 27 năm, một phần bởi Athena (sức mạnh hải quân) và Sparta (sức mạnh lục quân) không bên nào giành được ưu thế hoàn toàn. Chiến lược ban đầu của Sparta là xâm lấn Attica, nhưng dân thành Athena đã kịp lùi về trong thành của họ. Sự bùng phát của dịch bệnh trong thành phố đã gây ra những tổn thất nặng nề, trong đó có cả Pericles. Cùng thời gian này hải quân Athena đã tấn công Peloponnesus, chiến thắng trong các trận đánh tại Naupactus (429 TCN) và Pylos (425 TCN). Tuy nhiên cả hai bên đều không giành được một chiến thắng quyết định. Sau vài năm chiến tranh không đem lại kết quả, người lãnh đạo ôn hòa của Athena là Nicias đã ký kết Hòa ước Nicias (421 TCN). Tuy nhiên, sự đối đầu giữa Sparta và một đồng minh của Athena là Argos vào năm 418 TCN lại làm bùng lên cuộc chiến. Tại Mantinea, Sparta đã đánh bại liên quân của Athena. Chiến tranh lại tiếp tục, và Alcibiades lên nắm quyền lực tại Athena. Năm 415 TCN Alcibiades đã thuyết phục Nghị viện Athena mở cuộc viễn chinh chống Syracuse, một đồng minh của phe Peloponnesus ở Sicilia. Mặc dù Nicias là người hoài nghi về cuộc viễn chinh Sicilia, ông ta cũng được chỉ định theo Alcibiades để chỉ huy cuộc viễn chinh. Do bị buộc tội, Alcibiades đã trốn đến Sparta và thuyết phục Sparta gửi cứu viện đến Syracuse. Kết quả là cuộc viễn chinh hoàn toàn thất bại và toàn bộ đội quân viễn chinh bị giết. Nicias đã bị hành quyết bởi những người bắt sống ông ta. Sparta giờ đây đã dựng xong một đội quân (với sự trợ giúp của quân Ba Tư) và thách thức thủy quân Athena, và cũng tìm được người lãnh đạo tài giỏi là Lysander, người đã có một bước đi chiến lược ban đầu là chiếm Hellespont, kho lương của Athena. Bị đe dọa vì nạn đói, Athena đã gửi một đội quân cuối cùng còn lại đến đối đầu Lysander, và bị đánh bại tại Aegospotami (405 TCN). Việc mất nốt đội quân này đã khiến Athena sụp đổ hoàn toàn. Năm 404 TCN Athena đã cầu hòa, nhưng Sparta đã cương quyết chiếm đóng Athena, chiếm lấy lực lượng và của cải còn lại của Athena ở các thuộc địa của thành phố này. Đảng phái chống dân chủ đã lên nắm quyền lực tại Athena với sự ủng hộ của Sparta. == Sparta và sự trỗi dậy của Thebes == Cuộc chiến Peloponnesus kết thúc đã khiến cho nước Sparta vươn lên làm Bá chủ trong thế giới Hy Lạp cổ đại, nhưng cái nhìn hẹp hòi của những chiến binh xuất sắc Sparta lại không thích hợp với cái ngôi vị đàn anh đó. Chỉ trong vài năm, phe cánh dân chủ được hồi phục tại Athena và những thành phố khác. Năm 395 TCN, Triều đình Sparta đã cách chức Lysander và Sparta đã mất ưu thế về thủy quân. Athena và Argos, cùng với hai đồng minh của Sparta trước đây là Thebes và Corinth, đã tuyên chiến với Sparta trong cuộc Chiến tranh Corinth, và cuộc chiến này đã kết thúc bất phân thắng bại năm 387 TCN. Cùng năm người Sparta đã khiến toàn dân Hy Lạp sốc khi ký kết Hiệp ước Antalcidas với Ba Tư, đồng nghĩa với việc dâng hai thành phố của Hy Lạp là Ionia và Cyprus; như vậy đã đảo ngược một trăm năm lịch sử chiến thắng của quân dân Hy Lạp trước người Ba Tư. Người Sparta sau đó còn nỗ lực tiêu diệt thành bang Thebes, do đó người Thebes đâm ra lo sợ bèn quay sang liên minh với kẻ thù cũ của họ là Athena. Tại Thebes khi đó, Epaminondas - người có tài triết học nhưng chưa có công danh gì trong đời - thống lĩnh ba quân. Những điềm xấu khiến một số cận thần Sparta phản đối chiến tranh, nhưng vua Agesilaus II quá ngoan cố nên ông ta quyết tâm phải trừng trị người Thebes. Vua Sparta là Cleombrotus I thân hành khởi binh. Hai đoàn quân xáp chiến ác liệt tại Leuctra (371 TCN); cuối cùng, Epaminondas đại thắng và tiêu diệt được rất nhiều quân Sparta, trong số đó có cả Cleombrotus I. Kết quả của chiến thắng vang dội tại Leuctra là sự kết thúc ách bá quyền của Sparta và đánh dấu sự trỗi dậy của Thebes. Tuy nhiên nhờ đó Athena cũng đã khôi phục được sức mạnh trước đây của mình nên ưu thế của Thebes chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Lúc tin đại bại báo về, người dân Sparta đang làm lễ linh đình và họ liền phải dẹp bỏ hội hè. Pelopidas - vị danh tướng Thebes đã góp phần mang lại thắng lợi này - được cử làm Tổng trấn vùng Boetia. Quân Thebes thừa thắng liền đánh phá vùng Laconia, làm Agesilaus II phải đau khổ vì đất nước của ông đã mất đi những năm tháng huy hoàng xưa. Sau đó, người Arcadia lại lâm chiến với Sparta. Quân Sparta do Hoàng tử Archidamus chỉ huy không chết một ai, còn quân Arcadia thảm bại. Trong khi đó, trong cuộc chiến giữa người Thebes và tên bạo chúa khét tiếng Alexandros xứ Thessaly, quân Thebes do danh tướng Pelopidas chỉ huy đánh tan nát quân đội của Alexandros. Tuy Pelopidas hy sinh nhưng viện binh Thebes đến diệt sạch quân của Alexandros. Khi chiến tranh Thebes - Sparta lại bùng nổ một lần nữa, quân đội tinh nhuệ của vua Agesilaus II đánh tan nát quân Thebes trong một trận đánh khốc liệt. Trong một trận đánh lớn khác diễn ra tại Mantinea (362 TCN), Epaminondas bị một cung thủ Sparta hạ sát. Sau đó, các thành bang Hy Lạp ký kết hoà ước dù vua Agesilaus II chẳng hề muốn. Thebes đã mất người lãnh đạo vĩ đại, và những người kế vị ông đã sai lầm khi lao vào cuộc chiến mười năm với Phocis. Năm 346 TCN người Thebes thỉnh cầu vua xứ Macedonia là Philippos II giúp họ đánh quân Phocis, tạo cơ hội cho Vương quốc Macedonia lần đầu tiên can thiệp vào Hy Lạp cổ. == Sự trỗi dậy của Macedonia == Vương quốc Macedonia (ngày nay là Macedonia) được thành lập vào thế kỷ thứ 7 TCN từ các bộ lạc ở phía bắc của Hy Lạp cổ. Trước đầu thế kỷ thứ 4, họ chỉ đóng một vai trò không đáng kể vào chính trị Hy Lạp cổ nhưng Philip, một người có nhiều tham vọng và đã được đào tạo ở Thebes, muốn có một vai trò lớn hơn. Đặc biệt, ông ta muốn được chấp nhận như một lãnh đạo mới của Hy Lạp để lấy lại những thành phố Hy Lạp tại châu Á từ người Ba Tư. Bằng việc chiếm lấy những thành phố Hy Lạp như Amphipolis, Methone và Potidaea, ông ta đã kiếm soát các mỏ vàng và bạc ở Macedonia. Điều này giúp ông có được những nguồn lực để thực hiện tham vọng của mình. Philip đã đặt sự thống trị của Macedonia lên các thành Thessaly (352 TCN) và Thrace, và vào năm 348 TCN ông ta kiểm soát toàn bộ phần phía bắc của Thermopylae. Ông đã sử dụng sự giàu có để mua chuộc những chính trị gia Hy Lạp và lập ra "Đảng Macedonia" ở khắp các thành phố Hy Lạp. Sự can thiệp của ông vào cuộc chiến giữa Thebes và Phocis, đã đem lại cho ông ta sự thừa nhận là người lãnh đạo Hy Lạp, và cho ông ta cơ hội để trở thành nhân vật có ảnh hưởng trong chính trường Hy Lạp. Nhưng bất chấp sự ngưỡng mộ thực sự của ông ta dành cho Athena, người lãnh đạo Athena Demosthenes, trong một loại những bài diễn thuyết nổi tiếng (philippic) đã khích động các thành bang Hy Lạp ngăn cản sự thăng tiến của ông. Năm 339 TCN Thebes, Athens, Sparta và những bang Hy Lạp khác đã liên minh chống lại Philip và trục xuất ông ta khỏi những thành phố Hy Lạp mà ông chiếm ở miền bắc. Tuy nhiên Philip tấn công trước, tiến sâu vào Hy Lạp và đánh bật liên minh này tại Chaeronea năm 338 TCN. Sự kiện này thường được coi là chấm dứt thời kì thành-bang Hy Lạp cổ như những đơn vị chính trị độc lập, mặc dù trên thực tế Athena và những thành phố khác vẫn tồn tại như những bang độc lập tận đến thời La Mã. Philip đã cố chinh phục Athena bằng việc xu nịnh và quà cáp, nhưng cách này không thật sự thành công. Ông ta tổ chức những thành phố thành Liên minh Corinth và loan báo sẽ tiến hành một cuộc xâm lược Ba Tư để giải phóng những thành phố Hy Lạp và trả thù các cuộc xâm lấn của Ba Tư vào đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên ông đã bị ám sát (336 TCN) trước khi thực hiện ý đồ này. == Những cuộc chinh phạt của Alexandros == Người con trai 20 tuổi Alexandros của Philip kế thừa ông ta, và ngay tức khắc thực thi những kế hoạch của cha mình. Khi nhận thấy Athena suy sụp, Alexandros muốn khôi phục lại chiến tích cũ như của Athena bằng cách đánh bại Ba Tư. Ông đi đến Corinth để được liên minh các thành phố Hy Lạp công nhận là lãnh tụ của người Hy Lạp, sau đó đi về phía bắc để tập trung lực lượng. Đội quân ông đưa đi đánh Đế chế Ba Tư về cơ bản là người Macedonia, nhưng nhiều người cùng lý tưởng ở các thành phố khác của Hy Lạp cũng đầu quân. Tuy nhiên trong khi Alexandros tiến hành chiến dịch ở Thrace, ông nghe tin ở Hy Lạp có nổi loạn. Ông lập tức trở lại phía nam, chiếm Thebes và phá huỷ thành phố này như một lời cảnh báo đến những thành bang Hy Lạp khác, rằng sức mạnh của ông sẽ không thể kháng cự được. Năm 334 TCN Alexandros tiến vào châu Á và đánh bại quân Ba Tư tại sông Granicus. Chiến thắng này cho phép ông kiểm soát vùng biển Ionia, và ông đã mở một cuộc diễu hành chiến thắng qua những thành phố Hy Lạp được giải phóng. Sau khi sắp xếp xong mọi việc tại Anatolia, ông tiến về phía nam đến Syria qua Cilicia, nơi ông đã đánh bại Darius III của Ba Tư tại Issus (333 TCN). Sau đó ông lại tiến vào Ai Cập qua Phoenicia, nơi ông chỉ gặp một sự kháng cự nhỏ, và người Ai Cập đã chào đón ông như một người giải phóng họ khỏi ách thống trị của người Ba Tư. Darius lúc đó sẵn sàng đàm phán hoà bình và Alexandros có thể trở về quê hương ăn mừng chiến thắng, nhưng ông vẫn quyết tâm xâm chiếm Ba Tư để trở thành bá chủ thế giới. Ông tiến về đông bắc ngang qua Syria và Lưỡng Hà, tiếp tục đánh bại Darius tại Gaugamela (331 TCN). Darius chạy trốn và đã bị chính những người theo ông ta giết chết. Lúc này Alexandros trở thành hoàng đế của Đế chế Ba Tư, chiếm Susa và Persepolis mà không gặp phải sự kháng cự nào. Trong lúc đó, những thành phố của Hy Lạp tiếp tục cố gắng thoát khỏi sự kiểm soát của Macedonia. Tại Megalopolis năm 331 TCN, nhiếp chính của Alexandros là Antipater đánh bại người Sparta, vốn đã từ chối gia nhập liên minh Corinth hay công nhận quyền lực của Macedonia. Alexandros tiếp tục chinh chiến, đánh tan tác người Scythia tại sông Jaxartes (329 TCN), hành quân qua những nơi mà bây giờ là Afghanistan và Pakistan, đến lưu vực sông Ấn Độ, và vào năm 326 TCN ông đã tới Punjab. Ông đã có thể tiến xuống sông Hằng để vào Bengal nhưng quân đội của ông cho rằng họ đang ở nơi tận cùng của thế giới, nên đã không tiến thêm nữa. Alexandros miễn cưỡng quay trở về, và chết vì một cơn sốt tại Babylon năm 323 TCN, khi đó ông mới 33 tuổi. Đế chế Alexandros sớm tan vỡ sau khi ông chết, nhưng những cuộc viễn chinh của ông đã làm thay đổi thế giới Hy Lạp một cách lâu dài. Hàng ngàn người đi cùng hay sau ông đã đến định cư ở những thành phố mới của Hy Lạp mà ông đã lập ra khi chinh chiến, trong đó có thành phố mang tên ông là Alexandria ở Ai Cập. Các vương quốc nói tiếng Hy Lạp cũng được thiết lập ở Ai Cập, Syria, Iran và Bhalika. Thời kỳ Hy Lạp hoá đã bắt đầu. == Hy Lạp thời Hy Lạp hóa == Thời kỳ Hy Lạp hóa kéo dài từ năm 323 TCN, đánh dấu sự kết thúc của các cuộc chiến tranh của Alexandros Đại đế, tới khi sát nhập Hy Lạp bởi Cộng hòa La Mã vào năm 146 TCN. Mặc dù sự thiết lập của luật lệ La Mã đã không phá vỡ sự liên tục của xã hội Hy Lạp hóa và văn hóa, mà về cơ bản vẫn không thay đổi cho đến khi sự ra đời của Kitô giáo, nó đã đánh dấu sự kết thúc của nền độc lập chính trị Hy Lạp. Trong thời kỳ Hy Lạp hóa, tầm quan trọng của " Hy Lạp chính quốc" (nghĩa là lãnh thổ của Hy Lạp hiện đại) trong thế giới nói tiếng Hy Lạp suy giảm mạnh. Các trung tâm lớn của văn hóa Hy Lạp là Alexandria và Antioch, thủ đô của triều đại Ptolemaios Ai Cập và Seleukos Syria tương ứng. Những cuộc chinh phạt của Alexandros đã có một số hậu quả cho các thành bang Hy Lạp. Nó mở ra chân trời rộng mở cho người Hy Lạp, làm cho các cuộc xung đột giữa các thành phố trở nên bất tận và một làn sóng di cư ổn định, đặc biệt là giới trẻ và đầy tham vọng, tới những đế quốc Hy Lạp mới ở phía đông. Nhiều người Hy Lạp di cư đến Alexandria, Antioch và nhiều thành phố Hy Lạp khác mới được thành lập theo sự đánh dấu của Alexandros, ca tới tận những gì được bây giờ là Afghanistan và Pakistan, nơi các vương quốc Hy Lạp-Bactria và Vương quốc Ấn-Hy Lạp tồn tại cho đến cuối thế kỷ 1 TCN. Sau cái chết của Alexandros và sau các cuộc xung đột khá lâu, đế chế của ông đã bị phân chia giữa các tướng của mình, kết quả là hình thành Vương quốc Ptolemaios (ở Ai Cập), vương quốc Seleukos (nằm ở Cận đông, Lưỡng Hà và Ba Tư) và triều đại Antigonos tại Macedonia. Trong giai đoạn này, các thành bang (poleis) của Hy Lạp đã có thể giành lại một số quyền tự do của họ, mặc dù vẫn còn trên danh nghĩa chịu sự cai trị của Vương quốc Macedonia. Các thành bang tự thành lập hai liên minh, Liên minh Achaea (bao gồm cả Thebes, Corinth và Argos) và Liên minh Aetolia (bao gồm Sparta và Athen). Trong phần lớn thời gian cho đến khi La Mã chinh phục, các liên minh của họ thường là có chiến tranh với nhau, hoặc liên minh với các bên khác nhau trong các cuộc xung đột giữa các Diadochi (các quốc gia kế tục đế chế của Alexandros). Vương quốc Antigonos đã tham gia vào một cuộc chiến tranh với Cộng hòa La Mã vào cuối thế kỷ thứ 3. Mặc dù cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ nhất đã bất phân thắng bại, người La Mã, đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến với Macedonia cho đến khi nó đã hoàn toàn bị xáp nhập vào Cộng hòa La Mã (năm 149 trước Công nguyên). Trong khi ở phía đông đế chế Seleukos cồng kềnh dần dần tan rã, mặc dù một phần còn tồn tại cho đến năm 64 trước Công nguyên, trong khi Vương quốc Ptolemaios ở Ai Cập tiếp tục tồn tại cho đến năm 30 trước Công nguyên, khi nó cũng bị chinh phục bởi những người La Mã. Liên minh Aetolia đã tăng cường cảnh giác với sự hiện diện của La Mã ở Hy Lạp, và đứng về phía vương quốc Seleukos trong chiến tranh La Mã-Syria, khi người La Mã đã chiến thắng, liên minh đã bị xáp nhập vào nước Cộng hoà. Mặc dù liên minh Achaea tồn tại lâu hơn cả liên minh Aetolia và Macedonia, nó cũng nhanh chóng bị đánh bại và bị xáp nhập bởi những người La Mã vào năm 146 TCN, mang đến dấu chấm hết cho sự độc lập của tất cả các thành bang Hy Lạp. == Hy Lạp thời La Mã == Bán đảo Hy Lạp đã nằm dưới sự cai trị của La Mã trong năm 146 TCN, Macedonia trở thành một tỉnh của La Mã, trong khi phía Nam Hy Lạp nằm dưới sự giám sát của thái thú của Macedonia. Tuy nhiên, một số thành bang Hy Lạp đã cố gắng để duy trì nền độc lập một phần và tránh thuế. Những hòn đảo ở Aegea đã được thêm vào vùng lãnh thổ này trong năm 133 TCN. Athens, và các thành phố Hy Lạp khác nổi dậy trong năm 88 TCN, và bán đảo bị đè bẹp bởi tướng La Mã Sulla. Các cuộc nội chiến La Mã tàn phá vùng đất này hơn nữa, cho đến khi Augustus tổ chức bán đảo thành tỉnh Achaea trong năm 27 trước Công nguyên. == Địa lý == === Các vùng đất === Các lãnh địa của Hy Lạp có nhiều đồi núi, và kết quả là, Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều khu vực nhỏ hơn đều có ngôn ngữ riêng của mình, đặc thù văn hóa và bản sắc. Khu vực và xung đột khu vực đã được một đặc trưng nổi bật của Hy Lạp cổ đại. Các thành phố có xu hướng được đặt tại thung lũng giữa núi, hoặc ở đồng bằng ven biển, và thống trị một khu vực nhất định xung quanh. Ở phía nam nằm trên bán đảo Peloponnese, tự nó bao gồm các vùng Laconia (đông nam), Messenia (tây nam), Elis (phía tây), Achaia (phía Bắc), Korinthia (đông bắc), Argolis (phía đông), và Arcadia (trung tâm). Những tên này tồn tại cho đến ngày nay là quận của Hy Lạp hiện đại, mặc dù có ranh giới hơi khác nhau. Vùng đất chính của Hy Lạp ở phía bắc, ngày nay gọi là Trung Hy Lạp, bao gồm Aetolia và Acarnania ở phía tây, Locris, Doris, và Phocis ở trung tâm, trong khi ở phía đông là Boeotia, Attica, và Megaris. Thessaly nằm phía đông bắc, trong khi Epirus nằm về phía tây bắc. Epirus kéo dài từ Vịnh Ambracia ở phía Nam đến vùng núi và sông Ceraunian Aoos ở phía bắc, và bao gồm Chaonia (phía Bắc), Molossia (trung tâm), và Thesprotia (phía nam). Ở góc phía đông bắc là Macedonia, ban đầu bao gồm hạ Macedonia và khu vực của nó, chẳng hạn như Elimeia, Pieria, và Orestis. Khoảng thời gian của Alexandros I của Macedonia, các vị vua triều đại Argead của Macedonia bắt đầu mở rộng tới Thượng Macedonia, vùng đất nơi sinh sống của bộ lạc Macedonia độc lập như Lyncestae và Elmiotae, về phía Tây, vượt sông Axius, là Eordaia, Bottiaea, Mygdonia, và Almopia, nơi các bộ tộc Thracian định cư === Thuộc địa === Trong thời kì cổ xưa, dân số Hy Lạp đã tăng vượt quá khả năng canh tác của đất vốn bị giới hạn (theo một ước tính, dân số của Hy Lạp cổ đại tăng thêm hơn mười lần trong khoảng thời gian từ 800 TCN đến 400 TCN, tăng từ dân số là 800.000 đến một số lượng dân số ước tính tổng số 10-13000000). Từ khoảng năm 750 TCN người Hy Lạp bắt đầu 250 năm mở rộng, xây dựng các thuộc địa theo tất cả các hướng. Về phía đông, bờ biển Aegea của Tiểu Á được chiếm làm thuộc địa đầu tiên, tiếp theo là Cyprus và các bờ biển của Thrace, vùng biển Marmara và bờ biển phía nam Biển Đen. Cuối cùng thuộc địa của Hy Lạp đã đạt đến tận phía đông bắc là Ukraine và Nga ngày nay (Taganrog). Về phía tây bờ biển Illyria, Sicilia và miền Nam Ý đã có người định cư, tiếp theo là miền Nam nước Pháp, Corse, và thậm chí cả phía đông bắc Tây Ban Nha. Thuộc địa của Hy Lạp cũng đã được thành lập tại Ai Cập và Libya. Syracuse, Napoli, Marseille và Istanbul ngày nay đã có sự khởi đầu là thuộc địa của Hy Lạp như Syracusae (Συρακούσαι), Neapolis (Νεάπολις), Massalia (Μασσαλία) và Byzantion (Βυζάντιον). Các thuộc địa đã đóng một vai trò quan trọng trong sự truyền bá ảnh hưởng của Hy Lạp khắp châu Âu, và cũng hỗ trợ trong việc thành lập mạng lưới kinh doanh khoảng cách dài giữa các thành phố Hy Lạp, quốc gia, thúc đẩy nền kinh tế của Hy Lạp cổ đại. == Chính trị và xã hội == === Chính trị === Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều hơn hoặc ít hơn hàng trăm thành bang độc lập (polei). Đây là một tình huống không giống như hầu hết các xã hội đương thời khác, mà hoặc một bộ tộc, hay một vương quốc cai trị một vùng lãnh thổ tương đối lớn. Chắc chắn vị trí địa lý của Hy Lạp - chia cắt và phân chia bởi những ngọn đồi, núi và con sông - góp phần vào tính rời rạc của Hy Lạp cổ đại. Một mặt, người Hy Lạp cổ đại đã không có nghi ngờ rằng họ là "một dân tộc, họ có cùng tôn giáo, văn hóa cơ bản giống nhau, và cùng một ngôn ngữ. Hơn nữa, người Hy Lạp đã rất ý thức về nguồn gốc bộ lạc của họ, Herodotus đã có thể để phân loại rộng rãi các thành bang theo bộ lạc. Tuy nhiên, mặc dù những mối quan hệ cao hơn này tồn tại, chúng dường như hiếm khi có một vai trò quan trọng trong chính trị Hy Lạp. Sự độc lập của những poleis được bảo vệ rất mãnh liệt, thống nhất đất nước là một cái gì đó hiếm khi có trong dự tính của người Hy Lạp cổ đại. Ngay cả khi, trong cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của người Ba Tư, một nhóm các thành bang đã tự mình liên minh để bảo vệ Hy Lạp, phần lớn các polei vẫn trung lập, và sau khi đánh bại Ba Tư, các đồng minh nhanh chóng quay ra tranh giành. Như vậy, đặc thù chính của hệ thống chính trị Hy Lạp cổ đại; trước hết, là tính chất rời rạc của nó, và thứ hai là sự tập trung đặc biệt vào các trung tâm thành thị trong số các quốc gia nhỏ bé khác. Các đặc thù của hệ thống Hy Lạp tiếp tục chứng minh bằng các thuộc địa mà họ thiết lập trên khắp vùng biển Địa Trung Hải, mặc dù chúng có thể coi như một Polis Hy Lạp nhất định như thành bang 'mẹ' của chúng(và vẫn có cảm tình với nó), chúng đã là một thành bang hoàn toàn độc lập. Chắc chắn những Poleis nhỏ hơn có thể bị thống trị bởi các nước láng giềng lớn hơn, nhưng cuộc chinh phục hoặc sự cai trị trực tiếp của một thành bang khác xuất hiện khá hiếm. Thay vào đó, một hóm poleis lập thành một liên minh. Sau đó trong thời kỳ cổ điển, các liên minh sẽ trở nên ít hơn và lớn hơn, được thống trị bởi một thành phố (đặc biệt là Athen, Sparta và Thebes), và thường các poleis sẽ bị ép buộc phải tham gia do bị đe dọa chiến tranh (hoặc như là một phần của một hiệp ước hòa bình). Ngay cả sau khi Philippos II của Macedonia 'chinh phục' phần trung tâm của Hy Lạp cổ đại, ông đã không cố gắng để xáp nhập vùng lãnh thổ ấy, hoặc thống nhất thành một tỉnh mới, nhưng chỉ đơn giản là bắt buộc các poleis tham gia Liên minh Corinth của riêng mình. === Chính quyền và luật pháp === Ban đầu nhiều thành bang Hy Lạp dường như đã là các vương quốc nhỏ, thường có một quan chức thành phố thực hiện một số chức năng, nghi lễ của vua (basileos), ví dụ như basileos Archon tại Athens [21] Tuy nhiên, vào thời kỳ cổ xưa và những sự hiểu biết lịch sử đầu tiên, hầu hết đã chuyển thành chế độ một nhóm quý tộc đầu sỏ. Vẫn chưa rõ chính xác làm thế nào sự thay đổi này xảy ra. Chắc chắn, sự thống trị về chính trị và đi kèm với nó là sự tập trung toàn bộ của cải vào tay một nhóm nhỏ các gia đình dễ gây ra bất ổn xã hội trong thành bang. Ở nhiều thành phố, một bạo chúa (không phải trong ý nghĩa hiện đại chỉ chế độ độc đoán đàn áp), vào một thời điểm nào đó sẽ nắm quyền kiểm soát và cai trị theo ý mình. === Xã hội === Những nét đặc trưng của xã hội Hy Lạp cổ đại là sự chia phân chia giữa người tự do và nô lệ, vai trò khác nhau giữa nam giới và nữ giới, sự ít phân biệt địa vị xã hôi dựa trên gốc gác ra đời, và sự quan trọng của tôn giáo. Lối sống của người Athena là phổ biến trong thế giới Hy Lạp so với chế độ đặc biệt của Sparta. ==== Cấu trúc xã hội ==== Chỉ có những người tự do mới có quyền làm cư dân thành phố và được bảo vệ đầy đủ bởi luật pháp trong một thành-bang. Trong hầu hết các thành bang, không giống như La Mã, sự nổi trội trong xã hội không cho phép những quyền lợi đặc biệt. Chẳng hạn, sinh ra trong một gia đình nào đó không có nghĩa là có những đặc quyền. Vài gia đình kiểm soát chức năng tôn giáo cộng đồng, nhưng nói chung điều này không có nghĩa là có quyền lực nào đó trong chính quyền. Tại Athena, dân chúng được chia thành bốn tầng lớp dựa theo sự giàu có. Người ta có thể thay đổi tầng lớp của mình nếu có nhiều tiền hơn. Tại Sparta, tất cả các nam công dân của thành phố đều được xác định là "bình đẳng" nếu họ kết thúc việc học hành của họ. Tuy vậy, các vua người Sparta lãnh đạo tôn giáo và quân đội của thành bang thường đến từ hai gia đình khác nhau. Nô lệ không có quyền lực và địa vị. Họ có quyền có gia đình và tài sản riêng, tuy nhiên không có quyền chính trị. Năm 600 TCN chế độ chiếm hữu nô lệ đã trải rộng khắp Hy Lạp. Đến thế kỷ thứ 5 TCN, nô lệ chiếm đến một phần ba số dân ở một số thành bang. Nô lệ bên ngoài Sparta hầu như không bao giờ nổi dậy bởi vì họ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau và tản mát khó có thể tổ chức lại với nhau. Hầu hết các gia đình đều sở hữu nô lệ làm người giúp việc nhà và lao động tay chân, ngay cả những gia đình nghèo cũng có thể có một hay hai nô lệ. Những người sở hữu không bao giờ được phép đánh đập hay giết hại nô lệ. Những người sử hữu thường hứa sẽ trả tự do cho những nô lệ trong tương lai để họ làm việc chăm chỉ hơn. Không như ở La Mã, những người nô lệ được trả tự do không thể trở thành những công dân thành phố. Thay vào đó, họ gia nhập vào thành phần các metic, bao gồm những người từ nước ngoài hay những thành bang khác được cho phép sinh sống trong thành bang này. Những thành bang cũng được pháp luật cho phép sở hữu nô lệ. Những nô lệ cộng đồng này có sự độc lập lớn hơn so với những nô lệ do các gia đình sở hữu, tự kiếm sống và làm những công việc chuyên môn. Trong Athena, những nô lệ cộng đồng được đào tạo để theo dõi việc làm ra tiền giả, trong khi những nô lệ tại các đền thờ thì làm việc như những kẻ phục dịch của vị thần trong đền. Sparta có một dạng nô lệ đặc biệt gọi là helot. Helot là những tù nhân của cuộc chiến Hy Lạp do các thành bang sở hữu và đưa vào các gia đình. Helot chuyên đi kiếm thực phẩm và làm những công việc vặt nội trợ cho các gia đình, cho phép phụ nữ có thể tập trung nuôi dạy con cái tốt hơn và nam giới có thời gian để huấn luyện thành lính hoplite. Những ông chủ của họ thường xuyên đối xử rất khắc nghiệt với họ nên rất hay có những cuộc nổi dậy. === Lối sống === Trong suốt một thời gian dài, lối sống trong các thành - bang Hy Lạp gần như không thay đổi đáng kể. Người Hy Lạp tại các thành phố thường ở trong những khu nhà với những căn hộ thấp hoặc những ngôi nhà dành cho một gia đình, tuỳ theo thu nhập. Nhà ở, chung cư, và đền đài thường nằm quanh các agora (chợ). Công dân cũng sống trong các làng nhỏ và các nông trại nằm trong vùng nông thôn của thành bang. Tại Athena, nhiều người sống bên ngoài hơn là bên trong cổng thành. Một hộ gia đình Hy Lạp tương đối đơn giản, thường có phòng ngủ, phòng chứa đồ đạc, và bếp được bố trí ở sân nhỏ bên trong nhà. Mỗi hộ thường có cha mẹ và con cái, tuy nhiên thường không có họ hàng sống chung. Đàn ông trong nhà có trách nhiệm đi làm nuôi sống gia đình hoặc đầu tư vào đất đai và buôn bán. Đàn bà có nhiệm vụ quản lý chi tiêu trong nhà và nô lệ, lấy nước từ các vòi nước công cộng mang về nhà, nấu nướng, chăm sóc con cái. Đàn ông có phòng riêng để tiếp khách vì khách nam giới không được phép vào trong phòng phụ nữ và trẻ em. Những người đàn ông giàu có đôi khi có thể mời bạn bè đến dự symposium (tiệc uống). Người ta lấy ánh sáng từ những ngọn đèn dùng dầu olive, và sưởi bằng các lò than củi. Đồ đạc trong nhà ít và đơn sơ, thường gồm ghế, bàn, và giường bằng gỗ. Thực phẩm Hy Lạp cổ đại cũng hết sức đơn giản. Người nghèo thường ăn cháo lúa mạch bỏ thêm hành, rau và phô mai hay dầu ôliu. Chỉ có ít người được ăn thịt thường xuyên, ngoại trừ khi được phân phối miễn phí từ các buổi hiến tế động vật tại các lễ hội của thành bang. Các lò nướng bánh bán bánh mì nóng hằng ngày, còn các tiệm nhỏ hơn thì có bán đồ ăn nhanh. Rượu pha thêm nước là thức uống được ưa chuộng. Trang phục người Hy Lạp ít thay đổi theo thời gian. Cả đàn ông và phụ nữ đều mặc trang phục quấn đơn giản. Trang phục thường có các hoạ tiết nhiều màu và có thắt dây nịt. Người Hy Lạp mặc áo choàng và đội mũ khi trời lạnh, và khi trời ấm thường mang dép thay cho giầy da. Phụ nữ dùng đồ trang sức và mỹ phẩm - đặc biệt là chì bột, để tạo ra nước da sáng. Đàn ông thường để râu đến khi Alexander đại đế đưa ra mốt cạo râu. Thuốc men tại Hy Lạp cổ đại khá hạn chế. Hippocrates đã tách biệt mê tín với việc chữa trị bằng thuốc vào thế kỷ thứ 5 TCN. Các vị thảo dược được dùng để giảm đau, và thầy thuốc có thể thực hiện một số phẫu thuật đơn giản. Tuy thế họ vẫn chưa chữa được các bệnh truyền nhiễm, do đó những người khoẻ mạnh vẫn có thể tử vong bất kỳ lúc nào khi mắc bệnh. Để có sức khoẻ và sẵn sàng cho nghĩa vụ quân sự, đàn ông phải thường xuyên luyện tập. Hầu như mỗi thành-bang đều có ít nhất một gymnasium, bao gồm một khu nhà để tập luyện nhiều môn, đường chạy, bể bơi, phòng thuyết trình và khuôn viên, và chỉ mở cửa cho đàn ông vào. Các lễ hội thành bang thường có nhiều trò giải trí. Thần linh thường được cúng tế trong các cuộc đua tài trong âm nhạc, ca kịch và văn thơ. Người Athena hay ba hoa rằng thành phố của họ tổ chức lễ hội gần như mỗi ngày. Các lễ hội toàn Hy Lạp lớn được tổ chức tại Olympia, Delphi, Nemea và Isthmia. Các vận động viên và nhạc sĩ thắng trong các cuộc tranh tài này thường trở nên giàu có và nổi tiếng. Cuộc tranh tài phổ thông và cũng là tốn kém nhất là môn đua xe ngựa. === Giáo dục === Trong phần lớn lịch sử Hy Lạp, giáo dục là tư thục, ngoại trừ ở Sparta. Trong suốt thời kỳ Hy Lạp hoá, một số thành-bang mở các trường công. Chỉ có các gia đình khá giả mới mời được thầy về nhà. Con trai được học đọc, viết và trích giảng văn học. Họ cũng được học hát và chơi một thứ nhạc cụ cũng như được huấn luyện để trở thành vận động viên và phục vụ quân đội. Họ học không phải để có việc làm mà để trở thành một công dân hữu ích. Con gái cũng học đọc, học viết và số học để có thể quản lý được gia đình. Họ gần như không bao giờ được học tiếp sau thời niên thiếu. Một số ít nam thanh niên tiếp tục học sau thời niên thiếu. Khi còn là thiếu niên thì họ học triết học với chức năng là môn học hướng dẫn cách sống, và thuật hùng biện để có thể nói năng thuyết phục người khác khi ở trong nghị trường. Vào thời kỳ Cổ điển, việc đào tạo như thế này là cần thiết cho một thanh niên có tham vọng. Một phần quan trọng trong giáo dục một thiếu niên khá giả là quan hệ yêu đương thầy trò với một người lớn tuổi. Người thiếu niên học bằng cách quan sát thầy mình thuyết trình về chính trị ở trong chợ (agora), đồng thời giúp thầy tiến hành những nghĩa vụ cộng đồng, tập luyện thể thao (gymnasium) và tham dự tiệc tùng (symposium) với thầy. Những sinh viên có khả năng có thể tiếp tục việc học tại các trường trung học (collegium), rồi đến học đại học (universitas) ở một thành phố lớn. Những trường đại học này do các giáo sư nổi tiếng tổ chức. Một trong số những trường đại học lớn nhất của Athena là Lyceum và Akademeia. == Xem thêm == Thế Vận Hội cổ đại Kiến trúc Hy Lạp cổ Nghệ thuật Hy Lạp cổ Những huyền bí Eleusis Niên đại Hy Lạp cổ đại Danh sách người Hy Lạp cổ Danh sách các thành phố Hy Lạp cổ Lịch sử thành Athena Nhà hát Hy Lạp Thần thoại Hy Lạp == Chú thích ==
không quân hoa kỳ.txt
Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force hay USAF) là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ và là một trong số các lực lượng đồng phục Hoa Kỳ. Từng trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ, Không quân Hoa Kỳ được thành lập với vai trò là một quân chủng riêng biệt vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 dưới Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947. Không quân là một quân chủng mới nhất được thành lập của Quân đội Hoa Kỳ. Trong lời mở đầu về vị thế của mình, Không quân Hoa Kỳ nêu rõ các mục tiêu chính của mình như sau: "Cảnh giác toàn cầu, vươn tới toàn cầu, và sức mạnh toàn cầu". Tính đến năm 2009, Không quân Hoa Kỳ đang sử dụng khoảng 5.573 phi cơ có người lái (3.990 chiếc hiện dịch; 1.213 chiếc thuộc các lực lượng Không quân Vệ binh quốc gia (Air National Guard); và 370 chiếc thuộc Lực lượng Không quân Trừ bị); khoảng 180 phi cơ chiến đấu không người lái, 2.130 tên lửa hành trình phóng từ phi cơ, và 450 tên lửa đạn đạo liên lục địa. Không quân Hoa Kỳ có khoảng 327.452 binh sĩ và nhân viên hiện dịch, 115.299 trong các lực lượng trừ bị sẵn sàng chiến đấu, và 106.700 thuộc lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia tính đến tháng 9 năm 2008. Ngoài ra, Không quân Hoa Kỳ thuê mướn khoảng 171.313 nhân viên dân sự, và có khoảng 57.000 thành viên hỗ trợ trong lực lượng tuần tra hàng không dân sự. Bộ Không quân được một bộ trưởng dân sự lãnh đạo. Bộ trưởng này trông coi tất cả các công việc về chính sách cũng như hành chính. Bộ Không quân Hoa Kỳ là một bộ phận trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Sĩ quan cao cấp nhất Bộ Không quân Hoa Kỳ là Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ. == Lịch sử == Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Không quân Hoa Kỳ vào năm 1907. Sau một loạt các thay đổi về cách tổ chức, tên gọi và hoàn thành các nhiệm vụ trong suốt khoảng thời gian 40 năm sau đó, Không quân Hoa Kỳ được tách ra thành một quân chủng riêng biệt. Trong chiến tranh thế giới thứ II, gần 68.000 phi công Mỹ đã hy sinh góp phần giành lấy chiến thắng cho quân Đồng minh, chỉ lực lượng bộ binh có số lượng thương vong nhiều hơn số lượng nhập ngũ. Trong thực tế, USFFA hầu như hoạt động độc lập trong Quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ II, nhưng các quan chức muốn có một sự độc lập chính thức. Không quân Hoa Kỳ trở thành một quân chủng riêng biệt vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 bằng việc thông qua Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947. Đạo luật dùng để thành lập Bộ phận Quân sự Quốc gia Hoa Kỳ (sau này được đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ năm 1949), bao gồm ba bộ trực thuộc là Bộ Lục quân Hoa Kỳ, Bộ Hải quân Hoa Kỳ và bộ mới là Bộ Không quân Hoa Kỳ. Trước năm 1947, trách nhiệm về không quân được chia sẻ giữa Lục quân Hoa Kỳ (cho các chiến dịch trên bộ), Hải quân Hoa Kỳ (cho các chiến dịch trên biển từ các hàng không mẫu hạm và các thủy phi cơ), và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (để hỗ trợ không yểm các chiến dịch trên bộ). Nhưng thập niên 40 đã chứng kiến sự thay đổi vượt bậc và là sự bắt đầu cho một kỷ nguyên mới của ngành hàng không, tiêu biểu là phi công Chuck Yeager - người đã vượt qua tốc độ âm thanh bằng chiếc phi cơ X-1 năm 1947. Các tên gọi trước kia của Không quân Hoa Kỳ là: Bộ phận không gian thuộc Quân đoàn Thông tin Hoa Kỳ (Aeronautical Division, U.S. Signal Corps) (1 tháng 8 năm 1907 đến 18 tháng 7 năm 1914) Bộ phận hàng không thuộc Quân đoàn Thông tin Hoa Kỳ (Aviation Section, U.S. Signal Corps) (18 tháng 7 năm 1914 đến 20 tháng 5 năm 1918) Bộ phận hàng không quân sự (Division of Military Aeronautics) (20 tháng 5 năm 1918 đến 24 tháng 5 năm 1918) Bộ phận Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Service) (24 tháng 5 năm 1918 đến 2 tháng 7 năm 1926) Quân đoàn Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Corps) (2 tháng 7 năm 1926 đến 20 tháng 6 năm 1941) và Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Forces) (20 tháng 6 năm 1941 đến 17 tháng 9 năm 1947) === Hiện nay === Kể từ năm 2005, Không quân Hoa Kỳ đã đặt tập trung mạnh vào việc cải thiện đào tạo quân sự cơ bản (BMT). Các khóa luyện tập đã trở nên dài hơn, cùng với đó là sự xuất hiện của giai đoạn thực nghiệm mô phỏng. Giai đoạn này được gọi là BEAST, là nơi các học viên được thực hành trong một môi trường siêu thực mà họ có thể tích lũy kinh nghiệm như khi được lái một chiếc phi cơ thực sự. Trong khóa huấn luyện này, các giảng viên (MTI) đảm nhiệm vai trò như các cố vấn hoặc lực lượng của đối phương trong các bài huấn luyện. Năm 2007, Không quân Hoa Kỳ gặp phải sự cắt giảm lực lượng vì ngân sách và có kế hoạch giảm lực lượng từ 360.000 quân nhân hiện dịch xuống còn 316.000. Con số lực lượng hiện dịch vào năm 2007 chỉ bằng khoảng 64% lực lượng khi kết thúc Chiến tranh vùng vịnh năm 1991. Tuy nhiên, sự cắt giảm chấm dứt khi quân số giảm đến khoảng 330.000 người vào năm 2008 để đáp ứng nhu cầu cho sứ mệnh. Sự thắt lưng buộc bụng này đã khiến cho số giờ bay huấn luyện cho phi công giảm xuống rất nhiều từ năm 2005 và phó tham mưu trưởng đặc trách nhân sự phải điều hành việc kiểm tra đánh giá bay cho các phi công. Ngày 5 tháng 6 năm 2008, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates chấp thuận đơn từ chức của cả hai Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ Michael W. Wynne và Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, tướng T. Michael Moseley. Bộ trưởng Quốc phòng Gates thật sự bãi nhiệm cả hai người này vì "những vấn đề có liên quan đến các công tác tiến hành thực thi và tập trung sứ mệnh hạt nhân của Không quân Hoa Kỳ đang bị giảm sút một cách có hệ thống". Việc này theo sau một vụ điều tra về hai sự kiện đáng xấu hổ có liên quan đến việc xử lý bất cẩn vũ khí hạt nhân, và cũng là điểm đỉnh tranh cãi giữa ban lãnh đạo không quân và Gates. Để tập trung hơn vào việc quản lý vũ khí hạt nhân, Không quân Hoa Kỳ đã thiết lập ra bộ tư lệnh hạt nhân chiến đấu toàn cầu của Không quân Hoa Kỳ vào ngày 24 tháng 19 năm 2008. Ngày 26 tháng 6 năm 2009, không quân đưa ra một chương trình tái tổ chức lực lượng nhằm cắt giảm các phi cơ chiến đấu và chuyển nguồn tài lực sang cho chiến tranh thông tin, bất qui ước và hạt nhân. Ngày 23 tháng 7 năm 2009, Không quân Hoa Kỳ đưa ra chương trình bay của hệ thống phi cơ không người lái trong đó nêu ra chi tiết về các kế hoạch dành cho phi cơ không người lái đến năm 2047. Một phần ba số phi cơ mà Không quân Hoa Kỳ dự định mua trong tương lại là phi cơ không người lái. === Các cuộc xung đột === Hoa Kỳ đã tham dự nhiều cuộc chiến tranh, xung đột và chiến dịch trong đó đã thực hiện các chiến dịch quân sự từ trên không bao gồm: Chiến tranh thế giới thứ nhất trong vai trò là Bộ phận hàng không thuộc Quân đoàn Tín hiệu Hoa Kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai trong vai trò Các lực lượng Không lực Lục quân Hoa Kỳ Chiến tranh lạnh Chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh Việt Nam Chiến dịch Eagle Claw (Giải cứu con tin Mỹ ở Iran năm 1980) Chiến dịch Urgent Fury (Hoa Kỳ xâm nhập Grenada năm 1983) Chiến dịch El Dorado Canyon (Hoa Kỳ dội bom Libya năm 1986) Chiến dịch Just Cause (Hoa Kỳ Xâm nhập Panama 1989-1990) Chiến dịch Lá chắn Sa mạc và Chiến dịch Bão Sa mạc (1990-1991) Chiến dịch Southern Watch (Vùng cấm bay ở Iraq 1992-2003) Chiến dịch Deliberate Force (NATO dội bom tại Bosna và Hercegovina năm 1995) Chiến dịch Northern Watch (Vùng cấm bay ở Iraq 1997-2003) Chiến dịch Allied Force (NATO dội bom tại Nam Tư năm 1999) Chiến dịch Enduring Freedom (Chiến tranh Afghanistan từ 2001-hiện tại) Chiến dịch Iraqi Freedom (Chiến tranh Iraq từ 2003-nay) === Các chiến dịch nhân đạo === Không quân Hoa Kỳ cũng tham gia vào nhiều chiến dịch nhân đạo. Một trong số các chiến dịch chính là: Tiếp vận hàng không cho Berlin (Chiến dịch Vittles), 1948-1949 Chiến dịch Safe Haven (1957) Các chiến dịch như Di tản trẻ em Việt Nam, Cuộc sống mới, Di tản cuối Chiến tranh Việt Nam, và Định cư người tị nạn Việt Nam, 1975 Chiến dịch Provide Comfort, 1991 Chiến dịch Sea Angel, 1991 Chiến dịch Provide Hope, 1992-1993 Chiến dịch Unified Assistance, vụ động đất Đại Tây Dương năm 2004 Chiến dịch Unified Response, 14 tháng 1 năm 2010 - nay == Cơ cấu tổ chức == === Tổ chức hành chính === Không quân Hoa Kỳ là một trong ba bộ quân chủng nằm trong Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và bộ quân chủng này nằm dưới quyền chỉ đạo của một vị bộ trưởng dân sự với sự giúp đỡ của một ban nhân sự và cố vấn. Giới lãnh đạo quân sự của bộ là Bộ tham mưu Không quân Hoa Kỳ do Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ lãnh đạo. Các bộ tư lệnh và đơn vị trực thuộc Không quân Hoa Kỳ là các cơ quan điều hợp tại chỗ (field operating agency), đơn vị báo cáo trực tiếp (direct reporting unit), và cơ quan điều hợp riêng biệt (separate operating agency) hiện chưa dùng đến. Bộ tư lệnh chủ lực (major command hay viết tắt là MAJCOM) là cấp bậc tư lệnh tối cao. Tính luôn Bộ tư lệnh Không quân Trừ bị (air force reserve command) thì Không quân Hoa Kỳ có đến 9 bộ tư lệnh chủ lực tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2006. Các không lực mang số (numbered air force) là cấp bậc bộ tư lệnh trực thuộc dưới quyền của các Bộ tư lệnh chủ lực, theo sau là Bộ tư lệnh hành quân (operational command hiện tại không còn sử dụng), rồi đến sư đoàn không quân (hiện nay cũng không còn dùng), không đoàn (wing), liên đoàn (group), phi đoàn (squadron), và phi đội (flight). === Cơ cấu lực lượng (các bộ tư lệnh chủ lực) === Tổng hành dinh, Không quân Hoa Kỳ, Lầu Năm Góc, Arlington, Virginia Bộ tư lệnh không quân chiến đấu (Air Combat Command), tổng hành dinh đặt ở Căn cứ không quân Langley, Virginia Không lực 1, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Tyndall, Florida Không lực 9, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Shaw, Nam Carolina Không lực 12, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Davis-Monthan, Arizona Trung tâm Chiến tranh thuộc Không quân Hoa Kỳ, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Nellis, Nevada Bộ tư lệnh đào tạo và giáo dục không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas Không lực 2, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Keesler, Mississippi Không lực 19, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas Bộ tuyển mộ không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas Đại học không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Maxwell, Alabama Trung tâm y tế Wilford Hall, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Lackland, Texas Bộ tư lệnh không quân tấn công toàn cầu (AFGSC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana Không lực 8, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana Không lực 20, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân F. E. Warren, Wyoming Bộ tư lệnh vật liệu không quân (AFMC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio Trung tâm đặc trách hệ thống không gia, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio Trung tâm thử nghiệm bay không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Edwards, California Trung tâm không quân hỗ trợ tiếp vận toàn cầu, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois Trung tâm vũ khí hạt nhân không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Kirtland, New Mexico Trung tâm thí nghiệm nghiên cứu không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio Trung tâm hỗ trợ an ninh không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio Trung tâm vũ khí không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Eglin, Florida Trung tâm phát triển kỹ thuật Arnold, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Arnold, Tennessee Trung tâm hệ thống điện tử, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hanscom, Massachusetts Bộ tư lệnh không quân trừ bị, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Robins, Georgia Không lực 4, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Trừ bị March, California Không lực 10, tổng hành dinh ở Căn cứ trừ bị hỗn hợp không lực hải quân Fort Worth, Texas Không lực 22, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Trừ bị Dobbins, Georgia Trung tâm nhân sự trừ bị không quân, đặt tại Denver, Colorado Bộ tư lệnh không gian không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Peterson, Colorado Không lực 14, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Vandenberg, California Không lực 22, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Lackland, Texas Trung tâm hệ thống tên lửa và không gian, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Los Angeles, California Trung tâm phát triển và áp dụng không gian, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Schriever, Colorado Bộ tư lệnh không quân hành quân đặc biệt]] (AFSOC), có tổng hành dinh tại sân bay Hurlburt, Florida Không lực 23, có tổng hành dinh ở sân bay Hurlburt, Florida Trung tâm huấn luyện hành quân đặc biệt, có tổng hành dinh tại sân bay Hurlburt, Florida Bộ tư lệnh không quân linh động (AMC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois Không lực 18, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois Trung tâm Không quân viễn chinh Hoa Kỳ, có tổng hành dinh ở Binh trại Dix, New Jersey Các lực lượng không quân Hoa Kỳ tại châu Âu (USAFE), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức Không lực 3, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức Không lực 17, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức Các lực lượng không quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (PACAF), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hickam, Hawaii Không lực 5, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản Không lực 7, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Osan, Hàn Quốc Không lực 11, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Elmendorf, Alaska Không lực 13, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hickam, Hawaii Lực lượng thường trực của Không quân Hoa Kỳ, tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2006, gồm có: Các lực lượng không quân hiện dịch: 57 không đoàn bay, 8 không đoàn không gian, và 55 không đoàn mặt đất (không có phi cơ) 9 liên đoàn bay, 8 liên đoàn mặt đất 134 phi đoàn bay, 43 phi đoàn không gian Các lực lượng không quân trừ bị 35 không đoàn bay, 1 không đoàn không gian 4 liên đoàn bay 67 phi đoàn bay, 6 phi đoàn không gian Không quân Vệ binh Quốc gia 87 không đoàn bay 101 phi đoàn bay, 4 phi đoàn không gian Không quân Hoa Kỳ, bao gồm các bộ phận không quân trừ bị, có tổng cộng 302 phi đoàn bay. == Nhân sự == Xếp loại công việc trong Không quân Hoa Kỳ được dựa theo Bộ mã chuyên môn không quân (Air Force Specialty Code). Các công việc này có phạm vi từ các hoạt động chiến đấu trên không, ví dụ như xạ thủ trên phi cơ, cho đến các công việc lo ăn uống cho các thành viên. Có nhiều công việc khác nhau tại chỗ như chuyên viên vi tính, chuyên viên cơ khí, quân nhân phi hành, hệ thống thông tin, chuyên viên phi hành, chuyên viên y tế, kỹ sư công chính, pháp lý, cố vấn đặc trách chống ma tuý, các hoạt động thư tín, lực lượng an ninh không quân, tìm kiếm và cứu nạn. Có lẽ công việc nguy hiểm nhất là công việc tháo gỡ chất cháy nổ, giải cứu lúc chiến đấu, an ninh không quân, điều hợp chiến đấu (Combat Control Team), chuyên viên thời tiết đặc trách các chiến dịch đặc biệt của không quân (Air Force Special Operations Weather Technician). Các nhân sự này thường đi cùng với bộ binh và các đơn vị hành quân đặc biệt để tháo gỡ bom mìn, giải cứu các phi công bị bắn rơi hay các binh sĩ bị bao vây, gọi phi cơ đến không kích, và lập các khu vực đổ quân tại những vị trí tiền phương. Đa số các công việc này là thuộc nhóm binh sĩ không quân chuyên môn. Gần như các công việc của binh sĩ chuyên môn là bậc mới vào nghề. Có nghĩa là Không quân Hoa Kỳ phải cung cấp sự huấn luyện cho các binh sĩ chuyên môn. Một số binh sĩ chuyên môn có thể chọn công việc nào đó hay một lĩnh vực nào đó trước khi gia nhập trong khi cũng có các binh sĩ khác được giao nhiệm vụ vào lúc bắt đầu được huấn luyện căn bản. Sau khi hoàn thành khoá huấn luyện cơ bản, các binh sĩ mới sẽ tham dự khoá huấn luyện kỹ thuật để học ngành chuyên môn của mình. Không lực số 2 (Second Air Force), một bộ phận của Bộ tư lệnh Huấn luyện và Giáo dục Không quân, đặc trách nhiệm vụ huấn luyện kỹ thuật cho gần như tất cả các binh sĩ không quân. Các chương trình huấn luyện dài ngắn tuỳ theo; ví dụ, 3M0X1 (dịch vụ) có thời gian huấn luyện là 31 ngày trong khi 3E8X1 (tháo gỡ chất cháy nổ) có thời gian huấn luyện là 1 năm căn bản rồi sau đó học tiếp một trong 10 chuyên ngành khác. Đôi khi một học viên phải mất đến 2 năm để hoàn tất việc huấn luyện. Các cấp bậc của không quân được chia thành các binh sĩ không quân, hạ sĩ quan không quân và sĩ quan không quân. === Sĩ quan === Các cấp bậc sĩ quan của Không quân Hoa Kỳ được chia thành ba cấp: cấp uý, cấp tá và cấp tướng. Cấp uý là các sĩ quan nằm trong biên chế tính lương bậc O-1 đến O-3, cấp tá từ O-4 đến O-6, và cấp tướng từ O-7 trở lên. Hiện tại việc thăng chức từ thiếu uý lên trung uý gần như được bảo đảm sau thời gian hai năm phục vụ tốt. Từ bậc trung uý lên đại uý cần phải phấn đấu mang tính cạnh tranh sau khi phục vụ thành công thêm hai năm nữa. Từ thiếu tá trở lên cần phải có sự duyệt xét của ban cứu xét thăng cấp. Hồ sơ của một sĩ quan sẽ được một hội đồng tuyển chọn xem xét tại Trung tâm Nhân sự Không quân Hoa Kỳ ở Căn cứ Không quân Randolph nằm ở thành phố San Antonio, Texas. Việc xét thăng cấp này xảy ra khoảng thời điểm giữa từ 7 đến 10 năm phục vụ và chỉ có một vài phần trăm đại uý không quân được xét thăng cấp lên thiếu tá. Việc xét thăng cấp lập lại ở thời điểm giữa từ 11 đến 14 năm để thăng cấp lên bậc trung tá, và rồi khoảng thời điểm 18 năm để xét thăng bậc lên đại tá. === Chuẩn uý === Mặc dù theo luật định thì có nhưng Không quân Hoa Kỳ hiện nay không sử dụng cấp bậc chuẩn uý. Cấp bậc này thấy lần cuối cùng trong không quân là chuẩn uý James H. Long, về hưu năm 1980, và lần cuối cùng trong Không quân trừ bị là chuẩn uý Bob Barrow năm 1992. === Binh sĩ và hạ sĩ quan === Thành viên binh sĩ và hạ sĩ quan (được gọi chung trong tiếng Anh là enlisted airmen) trong Không quân Hoa Kỳ có bậc lương từ E-1 (entry level: mới gia nhập) đến E-9 (senior enlisted: binh sĩ thâm niên). Trong khi tất cả các nhân sự của Không quân Hoa Kỳ được gọi là Airmen, thuật từ này cũng dành để gọi các bậc lương từ E-1 đến E-4. Các bậc lương này nằm dưới bậc của các hạ sĩ quan. Trên bậc lương E-4 (từ E-5 đến E-9 chẳng hạn), các cấp bậc này rơi vào nhóm gọi là hạ sĩ quan và nhóm hạ sĩ quan này được chia thành hai nhóm nhỏ là hạ sĩ quan (bậc lương E-5 và E-6) và Hạ sĩ quan cao cấp (bậc lương từ E-7 đến E-9); thuật từ Junior NCO có nghĩa là hạ sĩ quan cấp thấp đôi khi được dùng để chỉ bậc lương từ E-5 và E-6). Không quân Hoa Kỳ là quân chủng duy nhất trong năm quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ mà bậc hạ sĩ quan không được công nhận cho đến khi một binh sĩ không quân được thăng bậc lương lên đến E-5. Trong tất cả các quân chủng khác thì hạ sĩ quan được công nhận khi đến bậc lương E-4 (Ví dụ như hạ sĩ trong Lục quân Hoa Kỳ và Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ). Tuy nhiên bậc lương E-4 trong Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc chuyên viên (Specialist) thì không được công nhận là hạ sĩ quan. == Các loại phi cơ được sử dụng == Tính đến năm 2004, Không quân Hoa Kỳ có trên 5.778 phi cơ đang được sử dụng. Cho đến năm 1962, Lục quân và Không quân Hoa Kỳ đã duy trì một hệ thống gọi tên phi cơ trong khi Hải quân Hoa Kỳ có một hệ thống gọi tên riêng biệt. Năm 1962, các cách gọi tên phi cơ đã được thống nhất thành một hệ thống duy nhất phản ánh phương pháp của Lục quân và Không quân. Để biết thêm chi tiết về sự hữu hiệu của hệ thống này xin xem United States Department of Defense aerospace vehicle designation. Các loại phi cơ của Không quân gồm có: === A - Cường kích === Các phi cơ cường kích của Không quân Hoa Kỳ được chế tạo cho mục đích tấn công các cứ điểm trên mặt đất. Chúng thường được sử dụng để hỗ trợ bộ binh Hoa Kỳ. Vì phải thực hiện tấn công mục tiêu gần vị trí của các lực lượng bạn nên việc sử dụng chúng là điều cần thiết khi mà các loại phi cơ ném bom không thể nào được sử dụng. Chính vì là loại phi cơ hỗ trợ gần cho bộ binh nên vai trò của chúng có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược. Chúng hoạt động ngay tại mặt trận hơn là tấn công sâu bên trong hậu tuyến của quân địch. A-10A/C Thunderbolt II: 343 chiếc (187 của không quân, 49 của không quân dự bị, 107 của vệ binh quốc gia) AC-130H/U Spectre/Spooky II: 25 chiếc (8 AC-130H, 17 AC-130U) === B - Máy bay ném bom === Trong Không quân Hoa Kỳ, thật là mơ hồ để phân biệt giữa oanh tạc cơ (bomber), oanh tạc-khu trục cơ (fighter-bombers), và khu trục cơ. Nhiều phi cơ cường kích, thậm chí có cả những chiếc trông giống khu trục cơ được sử dụng để thả bom với rất ít khả năng chiến đấu trên không. Có nhiều khu trục cơ như F-16 được dùng như các "xe tải bom" mặc dù chúng được thiết kế chỉ để tham chiến trên không chống phi cơ khác. Có lẽ sự khác biệt mang tính ý nghĩa nhất là vấn đề tầm bay của chúng: oanh tạc cơ thường là loại phi cơ có tầm bay xa, có khả năng đánh vào các mục tiêu sâu trong lãnh thổ của quân địch trong khi các oanh tac-khu trục cơ và phi cơ cường kích chỉ có giới hạn thực hiện nhiệm vụ của mình tại mặt trận và xung quanh khu vực mặt trận. Tuy nhiên sự khác biệt này cũng gặp bế tắc vì sự hiện diện của các phi cơ tiếp nhiên liệu trên không làm tăng thêm bán kính chiến đấu của các loại phi cơ này. Cùng với Nga, Hoa Kỳ là quốc gia có oanh tạc cơ chiến lược. Phần lớn các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ trở nên già cỗi nhanh chóng. Loại phi cơ chính yếu B-52 Stratofortress đã có tuổi đời trên 50 năm, và chúng vẫn được lên kế hoạch để phục vụ thêm 30 năm nữa. Như vậy thời gian sử dụng loại oanh tạc cơ chính yếu này kéo dài tổng cộng trên 80 năm. Đây là thời gian phục vụ chưa từng có đối với một loại phi cơ. Các kế hoạch để thay thế lực lượng oanh tạc cơ chiến lược vẫn chỉ nằm trên giấy mực. B-1B Lancer: 66 chiếc (2 thử nghiệm) B-2A Spirit: 20 chiếc (1 thử nghiệm) B-52H Stratofortress: 94 chiếc === C - Vận tải cơ === Không quân Hoa Kỳ có thể cung cấp sự vận chuyển toàn cầu nhanh chóng. Khi mà lực lượng Hoa Kỳ đóng quân ở ngoại quốc tiếp tục giảm nhưng sự quan tâm của Hoa Kỳ trên thế giới vẫn như vậy thì vai trò chuyển vận của Không quân Hoa Kỳ lại cần thiết hơn. Sự chuyển vận bằng hàng không là tài sản quý giá của quốc gia để đối phó với những tình hình khẩn cấp và bảo vệ ích lợi của Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới. Các loại vận tải cơ đặc biệt được sử dụng để vận chuyển binh sĩ, vũ khí và các quân dụng khác bằng nhiều cách khác nhau để đến bất cứ khu vực nào trên thế giới có sự hoạt động quân sự của Hoa Kỳ, thường thường là nằm ngoài các đường bay thương mại trong các vùng không gian không có kiểm soát không lưu. Các cỗ máy chính của Bộ tư lệnh vận chuyển hàng không của Không quân Hoa Kỳ là các vận tải cơ C-130 Hercules, C-17 Globemaster III, và C-5 Galaxy. Các phi cơ này được xếp loại phần lớn bằng khả năng bay xa của chúng, ví dụ như vận tải chiến thuật (C-5), chiến lược/chiến thuật(C-17), và chiến thuật (C-130) để phản ánh nhu cầu của các lực lượng mặt đất mà chúng thường hỗ trợ nhất. Phi cơ CV-22 được Không quân Hoa Kỳ sử dụng cho Bộ tư lệnh hành quân đặc biệt (U.S. Special Operations Command). Nó thực hiện các nhiệm vụ tầm xa và đặc biệt và được trang bị với các bình xăng phụ và hệ thống rada dò đường. C-5A/B/C/M Galaxy: 111 chiếc C-12C/D/F Huron C-17A Globemaster III: 174 chiếc C-20 B: 5 chiếc C-20 H: 2 chiếc C-21A: 55 chiếc C-27J Spartan C-37A: 9 chiếc C-38A Courier C-40B Clipper C-41A Aviocar C-130E/H Hercules và C-130J Super Hercules: 438 chiếc CV-22B Osprey: 17 chiếc === E - Sứ mệnh điện tử đặc biệt === Mục đích của chiến tranh điện tử là không cho phép kẻ thù có lợi thế về hệ thống điện từ và bảo đảm cho phép lực lượng bạn tiếp cận được môi trường thông tin điện từ. Các phi cơ đặc trách chiến tranh điện tử có nhiệm vụ là tạo ra không gian thân thiện và gởi các tín hiệu thông tin mật cho lực lượng bạn khi cần đến. Chúng thường được mệnh danh là "mắt trên bầu trời." E-3B/C Sentry: 32 hiện dịch, 1 thử nghiệm E-4B: 4 chiếc E-8C JOINT STARS: 16 chiếc E-9A: 2 chiếc EC-130H Compass Call: 14 chiếc EC-130J Commando solo: 7 chiếc EA-18G growler:115 chiếc === F - Khu trục cơ (Tiêm kích) === Các khu trục cơ của Không quân Hoa Kỳ là các phi cơ quân sự nhỏ, nhanh, chuyển động linh hoạt, chủ yếu được sử dụng cho chiến đấu không đối không. Nhiều loại phi cơ này có khả năng thứ hai là tấn công mặt đất. Một số có hai tính năng được gọi là oanh tạc-khu trục cơ (Ví dụ như F-16 Fighting Falcon). Các nhiệm vụ khác còn có đánh chặn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của địch, thám thính, và tuần tra. Trong số 5.778 phi cơ có người lái đang phục vụ có 2.162 chiếc là khu trục cơ trong số đó có 1.280 chiếc F-16 Fighting Falcon với nhiều chủng loại khác nhau. Từ năm 2006 đến 2025, Không quân Hoa Kỳ có kế hoạch giảm 28% số phi cơ chiến thuật. F-15A/B/C/D Eagle: 249 chiếc F-15E Strike Eagle: 219 chiếc F-16C/D Fighting Falcon: 1018 chiếc F-22A Raptor: 183 chiếc === H - Tìm kiếm và giải cứu, tải thương === Các phi cơ được dùng cho mục đích tìm kiếm và giải cứu trên bộ. HC-130P/N Hercules: 36 chiếc HH-60G/MH-60G Pave Hawk: 99 chiếc HC-130J COMBAT KING II === K - Tiếp liệu trên không === Các phi cơ tiếp nhiên liệu trên không của Không quân Hoa Kỳ là các kiểu phi cơ phản lực dân sự được sửa đổi lại để phục vụ quân đội. Thường thường các phi cơ tiếp nhiên liệu đều được thiết kế đặc biệt cho mục đích này nếu như hệ thống "probe and drogue" được sử dụng mặc dù các bình tiếp liệu vẫn có thể lắp đặt vào trong các kiểu phi cơ sẵn có. Hoạt động tiếp nhiên liệu cho phi cơ dân sự chưa từng nghe nói đến. Trong những chiến dịch rộng lớn hay thậm chí là các hoạt động bay hàng ngày, việc tiếp nhiên liệu trên không thường được thực hiện rộng rãi; các khu trục cơ, oanh tạc cơ và vận tải cơ phụ thuộc nhiều vào các phi cơ "tiếp nhiên liệu" ít được người ta biết đến. Điều này làm cho các phi cơ tiếp nhiên liệu này trở thành một phần thiết yếu của Không quân Hoa Kỳ về mặt linh động toàn cầu. KC-10A Extender: 59 chiếc KC-135E/R/T Stratotanker: 415 chiếc === L - Trang bị tia laser === Hệ thống vũ khí trên không sử dụng tia laser (gọi tắt tiếng Anh là ABL) được đặt bên trong một phi cơ Boeing 747-400F được sửa đổi lại cho phù hợp với mục đích của nó. Đây là một hệ thống phòng thủ chống tên lửa nhằm phá hủy các tên lửa đạn đạo chiến thuật đang trong giai đoạn chưa tách ra khỏi phần đẩy. YAL-1 === M - Đa mục đích === Các phi cơ đa mục đích đặc biệt cung ứng sự hỗ trợ cho các sứ mệnh đặc biệt toàn cầu. Các phi cơ này tiến hành thâm nhập, thoát ra, tiếp vật liệu, nhiên liệu cho các toán biệt động từ các đường băng ngắn hoặc đường băng ngẫu nhiên. MC-12: 37 chiếc MC-130E/H Combat Talon I/II: 30 chiếc MC-130P Combat Shadow, MC-130J Combat Shadow II: 64 chiếc MC- 130W Combat Spear: 12 chiếc ==== Phi cơ không người lái đa dụng ==== Các thế hệ đầu tiên của loại phi cơ không người lái chủ yếu là loại phi cơ trinh sát, nhưng cũng có một số được trang bị với vũ khí (Ví dụ như MQ-1 Predator có trang bị tên lửa không đối đất AGM-114 Hellfire). MQ-1 Predator: 138 chiếc MQ-9 Reaper: 48 chiếc RQ-4 Global Hawk: 7 RQ-4A Global Hawk, 3 RQ-4B Global Hawk RQ-170 SENTINEL SCAN EAGLE: 1 chiếc RQ-11B RAVEN WASP III X-47 === O - Quan sát === Các phi cơ này được sửa đổi để quan sát (bằng mắt thường hay phương tiện khác) và báo cáo thông tin chiến thuật có liên quan đến sự tập kết và sự phân tán các lực lượng địch. OC-135B Open Skies: 2 chiếc === R - Thám thính === Phi cơ thám thính của Không quân Hoa Kỳ được sử dụng để theo dõi hoạt động của quân địch, ban đầu chúng không có trang bị vũ khí. Một số phi cơ điều khiển từ xa, không người lái được phát triển và triển khai. Hiện tại, các phi cơ không người lái được nhìn nhận là phương tiện vũ khí ít tốn kém và có khả năng chiến đấu mà không lo sợ phải mất phi công. Ghi chú: Mặc dù U-2 được xếp vào loại phi cơ "tiện ích" nhưng nó thực sự thuộc loại phi cơ thám thính. RC-135U Combat sent: 2 chiếc RC-135V/W Rivet Joint: 17 chiếc U-2R/S "Dragon Lady": 35 chiếc === T - Huấn luyện === Các phi cơ huấn luyện của Không quân Hoa Kỳ được sử dụng để huấn luyện các phi công và các thành viên phi hành khác. T-1A Jayhawk: 178 chiếc T-6A Texan II: 446 chiếc (A)T-38A/B/C Talon: 546 chiếc === U - Tiện ích === Phi cơ tiện ích chủ yếu được sử dụng vào lúc cần thiết cho một việc gì đó. Ví dụ, trực thăng Huey có thể được sử dụng để chuyên chở nhân sự quanh một căn cứ quân sự lớn hay một chỗ tập kết trong khi nó cũng có thể được sử dụng để di tản. Các phi cơ này là các phi cơ thường hay được sử dụng quanh năm. UH-1N Iroquois: 62 chiếc === V - Chuyên chở nhân vật quan trọng === Các phi cơ này được dùng để chuyên chở các nhân vật quan trọng trong đó phải kể đến những nhân vật nổi bật là Tổng thống Hoa Kỳ, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, các bộ trưởng, quan chức chính phủ (Ví dụ như các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ), Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ và các nhân vật quan trọng khác. VC-25A (Không lực số 1): 2 chiếc C-32A/B (Không lực số 2): 4 chiếc C-40B/C: 7 chiếc === W - Quan sát khí tượng === Các phi cơ này được sử dụng để nghiên cứu các sự kiện về khí tượng như bão. WC-130J Super Hercules WC-135C/W Constant Phoenix: 2 chiếc === Các loại phi cơ ngoại quốc được các phi đoàn đặc biệt sử dụng === An-26 Curl (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 6) CN-235-100 (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 427) Mi-8 (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 6) === Hệ thống vũ khí === AGM-129A (tên lửa hành trình tàng hình hạt nhân): 460 quả AGM-130 MISSILE (tên lủa không đối đất có điều khiển) AGM-65 MAVERICK (tên lủa không đối đất có điều khiển) AGM-86B/C/D MISSILES (tên lửa hành trình không đối đất): AGM-86B: 1,142 quả, AGM-86C: 239 quả, bao gồm Block 0: 41 quả; Block I: 198 quả; AGM-86D: 50 quả AGM-88 HARM (tên lủa diệt rada): AIM-120 AMRAAM (tên lửa không đối không tầm trung tân tiến) AIM-7 SPARROW (tên lửa không đối không có điều khiển) AIM-9 SIDEWINDER (tên lửa không đối không tầm nhiệt) GBU-15 (Bom lượn có điều khiển) GBU-39B (Bom điều khiển): 24,000 quả JDAM GBU- 31/32/38 (Bom chùm có điều khiển): 149,237 quả MASSIVE ORDNANCE PENETRATOR (MOP): Bom khoan LGM-30G MINUTEMAN III (tên lửa hạt nhân đạn đạo liên lục địa): 450 quả == Tham khảo ==
granat.txt
Granat hay đá thạch lựu, là một nhóm khoáng vật silicat với công thức hóa học tổng quát là: A3B2(SiO4)3, trong đó A = Ca+2, Mg+2, Fe+2, Mn+2; B = Al+3, Fe+3, V+3, Cr+3. == Tên gọi == Tên gọi bắt nguồn từ tiếng La tinh Granatus - có nghĩa là "hạt, hột", có thể để chỉ tới quả thạch lựu (Punica granatum) vì các tinh thể của một số loại granat có hình dáng, kích thước, màu sắc tương tự như hạt của quả thạch lựu. Từ năm 1803 thuật ngữ "granat" được dùng cho cả nhóm khoáng vật này. Tên gọi khác, biến thể: Bechita-Chevert (Tên gọi granat trong tiếng Nga cổ), Cabun cul (granat có màu đỏ rực), leikgranat (Granat trong suốt không màu), Melannit-Sorlomit (granat màu tối gần như đen). == Những đặc điểm chính == Những tinh thể granat trong đá trông như hạt của quả lựu, bao gồm 6 dạng khoáng vật là almandin, grossular, andradit, pirop, spessartit, uvariovit với màu sắc của các dạng khoáng vật rất đa dạng (đỏ, đỏ sẫm, hồng, đen, đỏ nâu, da cam, vàng, phớt lục...) được tạo bởi các ion crom, sắt, mangan. Granat tạo thành 2 loạt dung dịch rắn: 1. pyrop-almandin-spessarit (gọi chung là pyralspit) và 2. uvarovit-grossular-andradit (gọi chung là ugrandit). == Tính chất vật lý == === Tính chất === Các dạng granat được tìm thấy với nhiều màu, như đỏ, cam, vàng, lục, lam, tía, nâu, đen, hồng và không màu. Hiếm nhất trong số này là granat lam, được phát hiện cuối thập niên 1990 tại Bekily, Madagascar. Nó cũng được tìm thấy tại một vài nơi ở Hoa Kỳ, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Nó đổi màu từ lục-lam trong ánh sáng ban ngày thành tía trong ánh sáng đèn nóng sáng (đèn dây tóc), như là kết quả của lượng tươg đối cao vanadi (khoảng 1% trọng lượng tính theo V2O3). Các dạng granat đổi màu khác cũng tồn tại. Trong ánh sáng ban ngày, khoảng màu của chúng từ các sắc thái lục, be, nâu, xám và lam, nhưng trong ánh sáng đèn nóng sáng, chúng dường như có màu hồng ánh đỏ hay ánh tía. Do sự thay đổi màu của chúng nên chúng dễ bị nhầm lẫn là alexandrit. Các tính chất truyền ánh sáng của granat có thể dao động trong khoảng từ các dạng trong suốt với chất lượng của đá quý tới các dạng trong mờ sử dụng trong công nghiệp làm đá mài. Ánh của chúng có thể được coi như là thủy tinh hay nhựa (tương tự hổ phách). === Cấu trúc tinh thể === Granat là nhóm khoáng vật silicat (nesosilicat) có công thức chung A3B2(SiO4)3. Vị trí A thường là các cation hóa trị +2 (Ca2+, Mg2+, Fe2+) và vị trí B là các cation hóa trị +3 (Al3+, Fe3+, Cr3+) trong một hệ bát diện/tứ diện với [SiO4]4− chiếm các đỉnh của tứ diện. Granat thường được tìm thấy ở dạng hình đơn là hình 12 mặt, nhưng cũng hay được tìm thấy ở dạng hình 24 mặt thang. Chúng kết tinh trong hệ lập phương, có ba trục với độ dài đơn vị bằng nhau và vuông góc với nhau. Granat không thể hiện cát khai, vì thế khi chúng đứt gãy dưới ứng lực, các miếng không đều và sắc nhọn được tạo ra. === Độ cứng === Do thành phần hóa học của granat là không cố định nên các liên kết nguyên tử ở một số dạng là mạnh hơn ở các dạng khác. Kết quả là nhóm khoáng vật này có độ cứng không cố định theo thang độ cứng Mohs, với khoảng giá trị là 6,0-7,5. Các dạng cứng nhất, như almandin, thường được dùng làm vật liệu mài. == Nguồn gốc == Granat có độ phổ biến rộng và đặc biệt đặc trưng cho đá biến chất — đá phiến kết tinh và gơnai. Trong đá phiến kết tinh, granat (chủ yếu là almandin) là khoáng vật tạo đá (mica-granat và các dạng đá phiến khác). Đồng hành với đá phiến là mica: disten, clorit. Nguồn gốc của granat trong trường hợp này là biến chất. Dạng phát sinh quan trọng thứ hai là quá trình tiếp xúc (skarn). Đối với các granat dạng tiếp xúc với đá vôi là grossular và andradit. Trong các skarn granat được bắt gặp cùng salit, hedenbergit, vezuvian, epidot, scheelit, magnetit, các sulfua sắt, đồng, chì và kẽm. Các skarn granat với scheelit là quặng quan trọng chứa wоlfram. Granat cũng là thành phần của một số đá macma (pyrop trong peridotit và kimberlit), pegmatit granit (almandin và spessartin), nhiều loại đá biến chất (grossular trong eclogit và grospidit, almandin và rodolit trong gơnai và đá phiến kết tinh), các skarn đá vôi và magiê (grossular, andradit), cũng như trong các thành hệ nhiệt dịch siêu mafic (uvarovit và demantoid). Trong quá trình phong hóa, granat, là khoáng vật bền về mặt hóa học, khó bị phân hủy và chuyển thành sa khoáng. == Các dạng granat == == Trong văn hóa == Granat - đá của tình yêu, có khả năng khơi đậy niềm đam mê trong tình yêu và làm phấn chấn tâm hồn. Nó xua đuổi bất hạnh và đem lại hạnh phúc cho chủ nhân. Granat có tính gợi tình, khơi dậy lòng quả cảm, tăng cường ý chí và sự dẻo dai cũng như giúp phát triển lòng tự tôn. Người ta tin rằng, nhẫn gắn mặt đá granat đem lại chủ nhân của nó quyền thống trị người khác. Granat cũng được coi là biểu tượng của lòng trung thủy, niềm tin, lòng trung thành và sức mạnh. Granat có thể giao tiếp với thế giới của những người đã khuất. Nó có tác dụng với những người có mong muốn nhìn vào tương lai. Granat là biểu tượng của chòm sao Thích Bình và Thiên Ất trong cung hoàng đạo, năng lượng chiếu xạ của dương có tác dụng tới luân xa vùng xương cùng: cung cấp năng lượng cho trực tràng, bộ máy nâng đỡ - vận động: giúp tạo ý chí trong cuộc sống, năng lượng thể chất, tiềm năng, khơi dậy cảm giác vững tin và kiên định. Công dụng khác: Granat trong suốt có màu đẹp dùng làm đồ trang sức. Các loại cứng như anmandin, pirop, spesatin dùng làm nguyên liệu để mài làm giấy nhám đánh các gờ gỗ cứng, mài gương, đánh da, gỗ cứng... Tính chất chữa bệnh: Granat giúp cho phụ nữ có mang sinh nở được dễ dàng. Những hiệp sĩ thời xưa thường đeo nhẫn granat để bảo vệ mình không bị thương và nhiễm độc. Granat có tác dụng tích cực đối với hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, tuần hoàn và hệ thống miễn dịch. Người ta tin rằng vòng cổ bằng granat giúp điều trị bệnh sốt cao, viêm họng và đau đầu kinh niên. Granat vàng và nâu có tác dụng với bệnh da liễu, bệnh tiêu hóa, táo bón và dị ứng. == Ghi chú ==
lagos.txt
Lagos (IPA: [ˈleɪgɒs] hay ˈlɑːgəʊs) là thành phố lớn nhất Nigeria và là một trong những thành phố đông dân nhất châu Phi với số dân 21 triệu người theo thống kê năm 2012. Lagos là thành phố phát triển nhanh thứ 2 ở châu Phi và thứ 7 trên thế giới. Từ năm 1991 trở về trước, Lagos là thủ đô của Nigeria (nay là thành phố Abuja). == Lịch sử == Lagos từng là một trại chiến tranh của các thành viên đế chế Benin, những người này gọi Lagos là Eko. Yoruba vẫn sử dụng tên Eko để chỉ Lagos. Lagos, có nghĩa là "hồ", là tên được những người Bồ Đào Nha đặt cho nó. Bang Lagos ngày nay có tỷ lệ người Awori cao, họ di cư đến vùng này từ Isheri dọc theo sông Ogun. Trải qua suốt lịch sử, nó từng là nơi mà chiến tranh của nhiều nhóm dân tộc đã từng định cư ở đây. Theo sau sự định cư của nhóm quý tộc Awori, cuộc chinh phục của các lãnh chúa Bini của Benin, bang này đầu tiên trở thành nơi chú ý của người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 13. Nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Rui de Sequeira đến vùng đất này năm 1472, đặt tên khu vực quanh thành phố là Lago de Curamo. Một giải thích khác cho rằng Lagos được đặt theo tên của Lagos, Bồ Đào Nha - một thị trấn miền biển, vào thời điểm đó là trung tâm chính của cuộc thám hiểm người Bồ Đào Nha kéo dài xuống bờ biển châu Phi, và tên riêng có nguồn gốc từ tiếng Latinh Lacobriga. Lagos chính thức bị sáp nhập thành thuộc địa Lagos của Anh năm 1861. Điều này có tác động kép đến chế độ buôn bán nô lệ và thiết lập sự kiểm soát của Anh đối với việc buôn bán dầu cọ và các hàng hóa khác. Phần còn lại của Nigeria ngày nay bị chiếm giữ vào năm 1887, và khi chế độ thuộc địa và bảo hộ Nigeria được thiết lập năm 1914, Lagos được tuyên bố là thủ đô, và cho đến khi độc lập khỏi Anh năm 1960. Cùng với những người di cư từ khắp Nigeria và những người đến từ các quốc gia Tây Phi khác là những người từng là nô lệ đã hồi hương được gọi là Creoles, họ đến Lagos từ Freetown, Sierra Leone, Brazil và Tây Ấn. Những người Creole đã góp phần vào sự hiện đại hóa của Lagos và kiền thức của họ về kiến trúc Bồ Đào Nha có thể vẫn được thấy đây đó trên Đảo Lagos. Lago trải qua thời kỳ phát triển nhanh trong suốt thập niên 1960 và 1970 như là một quả bom kinh kế của Nigeria trước khi bắt đầu cuộc Nội chiến Nigeria. Lagos là thủ đô của Nigeria từ năm 1914 đến 1991. == Địa lý == === Lagos đất liền === Hầu hết dân sư sống trên phần đất liền, và hầu hết các hoạt động công nghiệp cũng ở đây. Lagos nổi tiếng với âm nhạc và cuộc sống về đêm, thường diễn ra ở những khu vực quanh Yaba và Surulere. Các khu vực của Lagos trên đất liền gồm Ebute-Meta, Surulere, Yaba (có đại học Lagos) và Ikeja, Sân bay quốc tế Murtala Muhammed và trung tâm của bang Lagos. Vùng đô thị Lagos bao gồm Mushin, Maryland, Somolu, Oshodi, Oworonsoki, Isolo, Ikotun, Agege,Iju Ishaga, Egbeda, Ketu, Bariga, Ipaja, Ajah và Ejigbo. Thành phố Lagos là thành phố chính của miền tây nam Nigeria. Các sông như Badagry chảy song song với bờ biển trước khi đổ vào biển qua các đê cát. === Đảo của Lagos === === Thời tiết === == Kinh tế == Lagos là trung tâm tài chính của Nigeria, có GDP chiếm tỷ lệ cao của quốc gia này. Hầu hết các hoạt động thương mại tài chính và kinh tế diễn ra tại Quận thương mại trung tâm trên đảo. Đây cũng là nơi có nhiều ngân hàng thương mại và cơ quan tài chính đặt trụ sở. Lagos là nơi có tiêu chuẩn sống cao nhất so với các thành phố khác ở Nigeria cũng như ở châu Phi. Cảng Lagos là cảng hàng đầu của Nigeria và là một trong những cảng lớn nhất và bận rộn nhất châu Phi. Nó nằm dưới sự quản lý và điều hành bởi Cảng vụ Nigerian và nó gồm 3 phần chính: Cảng Lagos, Apapa (nhà ga container) và Tin. Cảng đã tăng trưởng về lượng dầu thô xuất khẩu, với số lượng tăng từ 1997 và 2000. Các sản phẩm dầu và dầu mỏ mang lại 14% GDP và 90% tổng nguồn thu ngoại tệ của Nigeria. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của chính quyền thành phố Lagos Hình ảnh về thành phố Lagos
mèo báo.txt
Mèo báo (tiếng Mường: cáo khua, danh pháp hai phần: Prionailurus bengalensis) là một loài mèo nhỏ thuộc chi Prionailurus trong họ Mèo. Mèo báo phân bố ở Nam Á và Đông Á. Loài này được mô tả bởi Kerr vào năm 1792. Từ năm 2002, nó được xếp vào nhóm loài ít quan tâm bởi IUCN do nó phân bố rộng khắp nhưng bị đe dọa bởi mất môi trường sống và bị săn bắt ở một số khu vực. Có 12 phân loài khác nhau về bề ngoài. Nó được gọi là mèo báo do lông có đốm như báo ở tất cả các phân loài, nhưng về quan hệ thì xa so với báo. == Phân bố == Mèo báo Tsushima sống trên đảo Tsushima, ban đầu được xem là một phân loài của Mèo báo Trung Quốc, nhưng hiện nay nó thuộc Mèo báo Amur. == Phân loài == Cho đến năm 2009, mèo báo gồm 12 phân loài: Mèo báo châu Á Prionailurus bengalensis bengalensis (Kerr, 1792) — sống ở Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Thai Lan, Bán đảo Malay, Đông Dương đến Vân Nam Trung Quốc; Prionailurus bengalensis javanensis (Desmarest, 1816) — sống ơ đảo Java và Bali; Prionailurus bengalensis sumatranus Horsfield 1821) — sống ở Sumatra và Tebingtinggi; Prionailurus bengalensis chinensis (Gray 1837) — sống ở Đài Loan và Trung Quốc trừ Vân Nam; Prionailurus bengalensis horsfieldi (Gray 1842) — sống ở Kashmir, Punjab, Kumaon, Nepal, Sikkim và Bhutan; Prionailurus bengalensis euptilurus/euptilura (Elliott 1871) — mèo Amur sống ở miền đông Siberia, Manchuria, và Korea và trên đảo Tsushima ở eo biển Triều Tiên; Prionailurus bengalensis borneoensis (Brongersma 1936) — sống ở Borneo; Prionailurus bengalensis trevelyani (Pocock 1939) — sống ở miền bắc Kashmir và Punjab, và ở miền nam Baluchistan; Prionailurus bengalensis alleni (Sody, 1949) — sống ở Hải Nam; Prionailurus bengalensis iriomotensis (Imaizumi, 1967) — sống riêng biệt trên đảo Iriomote, một đảo nhỏ thuộc quần đảo Ryukyu; Prionailurus bengalensis heaneyi (Groves 1997) — sống ở Palawan; Prionailurus bengalensis rabori (Groves 1997) — sống ở các đảo thuộc Phillipines: đảo Negros, Cebu, và Panay. Loài Iriomote từng được đề xuất là một loài vào năm 1967, nhưng theo dữ liệu mtDNA và thập niên 1990 thì nó được xếp vào phân loài của Mèo báo. Phân loài này được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế xếp vào mục nguy cấp Endangered năm 1986 và cực kỳ nguy cấp Critically Endangered năm 2001. == Hình ảnh == == Tham khảo ==
phục hồi chức năng.txt
Phục hồi chức năng (PHCN) là một thuật ngữ trong y khoa, là một trong 3 lĩnh vực của y học gồm phòng bệnh-chữa bệnh-phục hồi chức năng. Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một khái niệm đầy đủ về PHCN như sau: PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội. Phục hồi chức năng là trả lại các chức năng bị giảm hoặc bị mất cho người tàn tật hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng tàn tật của mình khi ở nhà hoặc ở cộng đồng. Phục hồi chức năng không chỉ huấn luyện người tàn tật thích nghi với môi trường sống mà còn tác động vào môi trường và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hội nhập của người tàn tật. == Vai trò-mục đích == Trước đây nhiều thầy thuốc chỉ chú trọng đến phòng-chữa bệnh mà không chú trọng đến tình trạng bệnh sau khi chữa bệnh, ngày nay người ta thường nói đến một ngành góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe sau khi chữa bệnh đó là PHCN. PHCN là một ngành được xây dựng trên cơ sở y học hiện đại và cổ điển, trải qua một thời gian nghiên cứu, ứng dụng và phát triển PHCN đã chứng minh, góp phần to lớn trong y học. PHCN nhằm phục hồi khả năng hoạt động của một cơ quan, một bộ phận cơ thể người bị suy giảm, rối loạn, bị mất đi, có nguy cơ làm cho người trở thành một người tàn tật, tàn phế... PHCN còn hoàn trả lại một cách tối đa các chức năng đã bị giảm hoặc bị mất cho người bệnh, tăng cường khả năng còn lại của họ để giảm hậu quả của tàn tật. Tác động làm thay đổi tích cực suy nghĩ, thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với người tàn tật, coi họ như một thành viên bình đẳng trong cộng đồng. Tác động làm cải thiện các điều kiện nhà ở, nơi làm việc, nơi công cộng, cầu cống, đường sá, trường học... để người tàn tật có thể tham gia lao động sản xuất, học hành và đến được những nơi mà họ cần đến để tham gia các sinh hoạt xã hội (chuyển từ biện pháp đơn thuần y học sang biện pháp xã hội). Tạo điều kiện vui chơi, học tập, cơ hội việc làm cho người khuyết tật, lôi kéo bản thân người khuyết tật, gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình phục hồi. Làm cho người khuyết tật thích ứng tối đa với hoàn cảnh của họ, làm cho xã hội ý thức được trách nhiệm của mình để người khuyết tật có cuộc sống độc lập ở gia đình và cộng đồng Nói ngắn hơn, PHCN là một phương pháp sáng tạo cả về khoa học lẫn nghệ thuật, giúp người bệnh tiến triển và tận dụng tối đa có thể được những khả năng còn lại về thể chất, tinh thần, kinh tế, xã hội để tự giúp mình trở thành người có ích, gia nhập trở lại cộng đồng, nghĩa là biến những người tàn tật trở thành những người Tàn mà không Phế. == Nguyên tắc == Đánh giá cao vai trò của người khuyết tật, gia đình họ và cộng đồng trong chương trình phục hồi chức năng. Đánh giá đúng tình trạng khuyết tật và sức khỏe của người bệnh để có chỉ định tập luyện phục hồi đúng lúc, đúng mức phù hợp với từng người bệnh để có kết quả phục hồi tốt nhất. Phục hồi sớm, song song với quá trình điều trị để giúp người bệnh chóng phục hồi sức khỏe, tránh được các thương tật thứ cấp và rút ngắn thời gian điều trị cũng như phục hồi ở giai đoạn sau. Phải luôn luôn khiến người bệnh hoạt động vì hoạt động đem lại sức khỏe, trái lại, bất động làm cơ thể suy yếu. Điều quan trọng nhất là không bao giờ giúp đỡ người bệnh khi người đó có thể tự giúp lấy mình, vì khi chúng ta làm thay mọi công việc cho người bệnh thì người bệnh sẽ mất tự tin, tính độc lập và luôn ỷ vào người khác. Như vậy người bệnh không tích cực hoạt động và sẽ làm chậm quá trình phục hồi. Vì lợi ích của người bệnh, vì tôn trọng người bệnh, chúng ta có bổn phận và có quyền yêu cầu họ phải phấn đấu nhiều hơn trong mức độ thể chất cho phép. == Hình thức == Trên thế giới hiện nay có 3 hình thức PHCN: PHCN dựa vào viện, các trung tâm phục hồi chức năng Hình thức này được triển khai từ trước đến nay ở nhiều nước trên thế giới. + Ưu điểm: Kết quả phục hồi nhanh hơn và phục hồi được cho nhiều trường hợp bệnh khó nhờ có đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao và có nhiều trang thiết bị hiện đại. + Nhược điểm: Bất tiện cho những bệnh nhân ở xa, chỉ giải quyết cho được một số ít người và chi phí cao. PHCN ngoại viện Cán bộ chuyên khoa của các viện, các trung tâm xuống các địa phương trực tiếp tập luyện, phục hồi cho người bệnh. + Ưu điểm: Các cán bộ chuyên khoa trực tiếp tập luyện nên sự tiến bộ có nhanh hơn, số người tàn tật được tập luyện có nhiều hơn hình thức trên. + Nhược điểm: Chi phí cao, không đủ cán bộ và số người tàn tật được tập luyện cũng không được nhiều. PHCN dựa vào cộng đồng, người tàn tật được tập luyện phục hồi ngay tại cộng đồng bằng thân nhân người tàn tật và cộng đồng. Thực chất của hình thức này là xã hội hóa công tác PHCN. == Các kỹ thuật (phương pháp) phục hồi chức năng == Kỹ thuật can thiệp phục hồi chức năng Hoạt động trị liệu (HĐTL), là sử dụng các hoạt động tự chăm sóc, công việc và trò chơi trong điều trị nhằm gia tăng sự độc lập chức năng, tăng cường sự phát triển và ngăn ngừa tàn tật. HĐTL có thể bao gồm sự thích ứng với công việc hay môi trường để đạt được sự độc lập tối đa và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngôn ngữ trị liệu tập nói hoặc học cách sử dụng các loại ngôn ngữ giao tiếp khác (viết, động tác bằng tay (thủ ngữ), mắt....).Vận động trị liệuTâm lý trị liệu Kỹ thuật giúp đỡ người tàn tật tham gia hòa nhập xã hội Giáo dục đặc biệt, Người khuyết tật (chủ yếu là trẻ khuyết tật) được học ở các trường/ lớp với sự giáo dục đặc biệt của những giáo viên chuyên nghiệp: trường/ lớp cho người mù với chữ nổi, cho người điếc câm với thủ ngữ... Dạy nghề và hướng nghiệp, dạy lại cho người bệnh các kỹ năng thực hiện nghề cũ hoặc học một nghề mới thích ứng với tình trạng thương tật, sức khỏe và khả năng của họ. + Chân, tay giả. + Dụng cụ chỉnh hình: nẹp chỉnh hình các loại (nẹp hông, nẹp đùi, nẹp gối-cổ chân, nẹp cổ chân), máng chỉnh hình, giày chỉnh hình... + Dụng cụ trợ giúp: xe lăn, khung tập đi, các loại đồ dùng có tay cầm đặc biệt, ghế ngồi đặc biệt... tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể di chuyển và thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. + Cải thiện môi trường như đường đi, nhà ở, phương tiện đi lại để người tàn tật có thể đến những nơi họ cần đến, làm các việc có ích cho cuộc sống của họ mà họ muốn. == Tham khảo ==
eo biển dover.txt
Eo biển Dover hay eo biển Calais (tiếng Anh: Strait of Dover hay Dover Strait; tiếng Pháp: Pas de Calais (IPA: [pɑ də kalɛ])) là khúc hẹp nhất của eo biển Manche giữa Anh và Pháp. Đây là nơi gần lục địa châu Âu nhất của nước Anh. Khoảng cách gần nhất là từ Nam Foreland, 33,1 km (20.6 miles) nằm phía đông bắc của Dover ở hạ Kent, Anh, tới Cap Gris Nez, một vịnh gần Calais, một tỉnh của Pas-de-Calais, Pháp. Giữa 2 điểm này cũng là tuyến đường được ưa chuộng nhất của những người muốn bơi qua eo biển Manche. Vào một ngày đẹp trời, người ta có thể nhìn thấy bờ biển bên kia, từ Anh sang Pháp và ngược lại. Nổi tiếng nhất là cảnh vách đá trắng của Dover nhìn từ bờ biển Pháp. == Tham khảo ==
hồng đăng.txt
Hồng Đăng, tên thật Phan Hồng Đăng , (sinh 1 tháng 1 năm 1936) là nhạc sĩ Việt Nam. Ông có những ca khúc nổi tiếng như Hoa sữa, Lênh đênh, Biển hát chiều nay... Những nhạc phẩm của ông được sử dụng trong nhiều phim điện ảnh và truyền hình. == Tiểu sử == Ông sinh tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Những năm 1950, ông là học sinh kháng chiến ở liên khu IV và đã sáng tác những ca khúc đầu tay như Nắng về Tây Bắc, Nhớ ơn cụ Hồ, Đời học sinh... Sau hoà bình lập lại, về Hà Nội, ông học lớp Sáng tác khoá đầu tiên của Trường Âm nhạc Việt Nam. Thời gian này ông đã có nhiều ca khúc nổi tiếng như Đường đi có nắng mặt trời, Quà tháng Năm (lời cùng với Thế Bảo), Giữa mùa sa nhân, Tổ quốc tôi trên mười năm đã lớn (lời cùng Nguyễn Liệu)... và một số tác phẩm khí nhạc. Từ đó đến nay, ông hoạt động sôi nổi và đa dạng trong nhiều lĩnh vực như vừa giảng dạy, vừa sáng tác thanh nhạc, khí nhạc, nhạc phim, viết sách, làm báo... Ông nguyên là Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam khoá IV và V. Tổng biên tập tạp chí Âm nhạc (từ 1989), và tờ Thế giới Âm nhạc (từ 1996). Ông còn là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, và là nhạc sĩ đầu tiên được kết nạp vào Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội Văn Nghệ Hà Nội, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Giao lưu Văn hoá Việt - Nhật, Uỷ viên Uỷ ban Quốc gia Thập kỷ Phát triển Văn hoá quốc tế. Năm 2001, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: ca khúc Biển hát chiều nay, Hoa sữa, Quà tháng năm, Kỷ niệm thành phố tuổi thơ và hợp xướng Lửa rực cháy'' . Ngày 12 tháng 8 năm 2007, ông là nhạc sĩ được vinh danh trong chương trình Con đường âm nhạc mang tên 24hình/giây. Năm 2005, ông tổ chức đêm nhạc đầu tiên mang tên Lênh đênh biển tại Nhà hát lớn Hà Nội và Nhà hát Hoà Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) . Năm 2008, ông cho ra mắt album Lênh đênh biển sau ba năm kể từ liveshow đầu tiên. == Sáng tác == Nhạc sĩ Hồng Đăng đã sáng tác hơn 700 tác phẩm, bao gồm nhiều thể loại: ca khúc, hợp xướng, ca cảnh, khí nhạc, nhạc phim, nhạc sân khấu... Đặc biệt, ông đã sáng tác nhạc được sử dụng cho hơn 70 bộ phim , trong đó có những ca khúc nhạc phim nổi tiếng như: Hoa sữa (phim Hà Nội mùa chim làm tổ), Lênh đênh (phim Đời hát rong), Biển hát chiều nay (nhiều phim về đề tài biển), Nỗi nhớ đêm đại dương (phim Những hạt muối của biển), Biển và cô gái tôi chưa quen (phim Những ngôi sao nhỏ), Không gian xanh (phim Vùng trời)... Mặc dù sáng tác đa dạng, nhưng ông lại rất ít đi thực tế để sáng tác. Tiêu biểu là ca khúc nổi tiếng Hoa sữa, viết cho bộ phim Hà Nội mùa chim làm tổ của nữ đạo diễn Đức Hoàn vào 1978 với giọng ca Lê Dung, tuy nhiên chính ông thú nhận là "đến 25 năm sau mới biết hoa sữa như thế nào" . Một trường hợp tương tự là ca khúc Giữa mùa hái sa nhân viết vào những năm 50, được cố nghệ sĩ Thương Huyền trình bày trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, tuy nhiên thực tế người ta chỉ nhặt sa nhân rụng chứ không hái sa nhân trên cây. === Ca khúc === Biển hát chiều nay Biển và cô gái tôi chưa quen Buổi tối câu chuyện một căn nhà nhỏ Có một vùng đảo xa Con nhện bắc cầu qua hai ngọn lúa Cơn lốc Đời học sinh Đường đi có nắng mặt trời Đường về hoàng hôn Giữa mùa hái sa nhân Gửi một câu hát cho Tokyo (giải thưởng tại Nhật Bản, 1999) Hoa sữa Hạ Long mây trắng Không gian xanh Kỷ niệm thành phố tuổi thơ Ký ức đêm Lênh đênh Nắng về Tây Bắc Người Sông Hương Nhớ ơn Cụ Hồ Nỗi nhớ đêm đại dương Quà tháng năm (lời cùng với Thế Bảo) Tổ quốc tôi trên mười năm đã lớn (lời cùng Nguyễn Liệu) === Hợp xướng === Hợp xướng Lửa rực cháy (dựa thơ Tố Hữu, 1960) Thanh xướng kịch Sông Hồng ngàn năm reo hát (kịch bản Dương Viết Á, chỉ huy Nguyễn Hữu Hiếu, Đoàn ca múa Hà Nội trình diễn, 1964) Hợp xướng 5 chương Đêm lửa Trường Sơn (1972) Hợp xướng Từ trận địa gang thép (1968) Hợp xướng Câu chuyện Việt Nam (1976) == Xuất bản == Tuyển tập bài hát: Màu xanh chân trời (1978) Tuyển tập: Biển hát chiều nay (1985) Tuyển tập Ca khúc Hồng Đăng (1994) Tuyển tập Hoa sữa - Lênh đênh (1996) Băng casette Hoàng hôn xa (1993) Băng cassette Lênh Đênh Băng Cassette Hoa sữa - Lênh Đênh (1996) Album Lênh đênh biển (2008) Sách giáo khoa âm nhạc: 70 bài xướng âm (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1962) Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng (tái bản lấy tên là Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, Nhà xuất bản Âm nhạc, 1968-1978) 200 bài xướng âm cơ bản (DIHAVINA, 1973) == Phim == Hà Nội mùa chim làm tổ (1978) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hồng Đăng trên trang Bộ Văn hoá Thông tin Hồng Đăng: "Có lẽ nào…" Nhạc sĩ Hồng Đăng hạnh phúc bên người vợ trẻ Hồng Đăng và cuộc rong chơi miệt mài Nhạc sĩ Hồng Đăng: Tôi viết nhạc như người ta làm thơ "Lênh đênh biển": Dữ dội và dịu êm
iso 639-1.txt
ISO 639-1:2002 - Codes for the representation of names of languages — Part 1: Alpha-2 code - là phần đầu tiên của chuỗi tiêu chuẩn ISO 639 do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành dành cho mã ngôn ngữ. Phần 1 này bao quát các mã gồm hai chữ cái. Có tổng cộng 136 mã hai chữ cái được đăng ký. Các mã này đại diện cho những ngôn ngữ lớn trên thế giới. Nhiều website đa ngôn ngữ - chẳng hạn như Wikipedia - dùng mã ngôn ngữ theo tiêu chuẩn ISO 639-1 để làm tiền tố cho các URL dẫn đến phiên bản ngôn ngữ tương ứng trên website đó. Chẳng hạn, phiên bản tiếng Việt của Wikipedia nằm tại địa chỉ vi.wikipedia.org, do mã ISO 639-1 của tiếng Việt là vi. ISO 639 - tiêu chuẩn nguyên bản dành cho mã ngôn ngữ - được thông qua vào năm 1967 và được chia làm hai phần. Năm 2002, ISO 639-1 ra đời và thay thế cho tiêu chuẩn gốc. Mã cuối cùng được bổ sung vào tiêu chuẩn là mã ht đại diện cho tiếng Creole Haiti - bổ sung ngày 26 tháng 2 năm 2003. Việc sử dụng tiêu chuẩn này được Thẻ ngôn ngữ IETF khuyến khích. Theo nguyên tắc, người ta không thêm mã ISO 639-1 mới cho ngôn ngữ nếu đã có mã ISO 639-2 cho nó. Do đó, các hệ thốnng dùng cả ISO 639-1 và ISO 639-2 (ưu tiên ISO 639-1) không cần phải đổi mã. Nếu đang dùng một mã ISO 639-2 nào đó để đại diện cho một nhóm ngôn ngữ thì mã đó có thể bị các mã ISO 639-1 mới của một vài ngôn ngữ nhất định gạt qua. == Xem thêm == Danh sách mã ISO 639-1 == Chú thích == == Liên kết ngoài == ISO 639-1/RA (tiếng Anh)
hồi giáo.txt
Hồi giáo (tiếng Ả Rập: الإسلام al-'islām), còn gọi là đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham. Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo, và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất, với số tín đồ hiện nay là 1,57 tỷ, chiếm 23% dân số thế giới. Hầu hết người theo đạo hồi thuộc hai dòng, Sunni (75–90%), hoặc Shia (10–20%). Có khoảng 13% người theo đạo Hồi sống ở Indonesia, cộng đồng quốc gia Hồi giáo lớn nhất chiếm 25% ở Nam Á, 20% Trung Đông, và 15% ở hạ Sahara. Một số cộng đồng khác ở Châu Âu, Trung Quốc, Nga, và châu Mỹ. Các cộng đồng di dân và chuyển đạo cũng có ở nhiều nơi trên thế giới. == Nguồn gốc == Đối với người ngoài, đạo Hồi ra đời vào thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do Thiên Sứ Muhammad nhận mặc khải của thượng đế truyền lại cho con người qua thiên thần Jibrael. Đạo Hồi chỉ tôn thờ Allah Đấng Tối cao, Đấng Duy Nhất (tiếng Ả Rập: الله Allāh). Đối với tín đồ, Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qur'an (còn viết là Koran) qua Thiên thần Jibrael. Điều đầu tiên chúng ta nên biết và hiểu rõ về Islam là từ "Islam" có nghĩa là gì. Tên Islam không được đặt theo tên người như trong trường hợp Kitô giáo, được đặt tên theo Chúa Giê-su, Phật giáo được đặt tên theo Đức Phật, đạo Khổng được đặt tên theo Đức Khổng Tử, và chủ nghĩa Mác được đặt tên theo Các Mác. == Các tên gọi và cụm từ liên quan == Nguyên nghĩa của « Hồi giáo » trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là "vâng mệnh, quy phục Thượng đế". Người theo Islam, trong tiếng Ả Rập gọi là Muslim, do đó có các chữ muslim, moslem tiếng Anh và musulman tiếng Pháp. Danh từ « Hồi giáo » xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột. Hồi Hột là nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc từ năm 616 đến 840. Lúc rộng lớn nhất lãnh thổ họ đông đến Mãn Châu, tây đến Trung Á , và họ đã giúp nhà Đường dẹp được loạn An Lộc Sơn. Với thời gian, cách gọi đổi thành « Hồi Hồi ». Tài liệu xưa nhất dùng danh từ « Hồi Hồi » là Liêu Sử, soạn vào thế kỷ 12. Đời nhà Nguyên (1260 - 1368), tại Trung Quốc, cụm từ « người Hồi Hồi » được dùng để chỉ định người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến đời Minh (1368 - 1644), cụm từ « người Hồi Hồi » mới dần dần đổi nghĩa để chỉ định tín đồ Islam. Trước đó, người Hán thường gọi Islam là « Đại Thực giáo » hay « đạo A-lạp-bá ». « A-lạp-bá » là phiên âm tiếng Hán của danh từ « Ả Rập ». « Đại Thực » là phiên âm của chữ « Tazi », tiếng Ba Tư dùng gọi người « Ả Rập », vì « Tazi » là tên một bộ tộc người « Ả Rập » tiếp xúc nhiều với Ba Tư thời xưa. Bởi « Hồi Hồi » là tên gọi chủng tộc, không phải là dịch nghĩa của chữ Islam hay một tôn chỉ của Islam, nên một số người hạn chế dùng danh từ « Hồi giáo » hay « đạo Hồi ». Trường hợp các tên « Đại Thực » hay « A-lạp-bá » cũng thế. Bởi thế, tại Trung Quốc, ngay từ năm 1335, thời nhà Nguyên, đã có người đề ra cụm từ Thanh Chân giáo (清真教) để thích nghi hơn với tiếng Hán. Đề nghị này được hưởng ứng rộng rãi nên ngày nay Thanh Chân giáo là cụm từ được ghi trong nhiều từ điển tiếng Hán . Tại Trung Quốc ngày nay cũng có nhiều "Thanh Chân tự" (清真寺) (thánh đường Islam) và "Thanh Chân thực đường" (清真菜堂) (quán ăn, nhà ăn halal). Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo (伊斯蘭教 Yīsīlán jiào).. Cơ quan đại diện Islam chính thức tại Trung Quốc có tên là "Trung Quốc Y Tư Lan giáo hiệp hội" (中国伊斯兰教协会 Zhōngguó Yīsīlánjiào xiéhuì) được ra đời ngày 11 tháng 5 năm 1953, trực thuộc chính quyền và có trụ sở tại Bắc Kinh. Wikipedia Trung văn cũng dùng danh từ Y Tư Lan giáo. Nhiều tài liệu, văn bản trong tiếng Việt từ nhiều năm nay cũng dùng danh từ đạo Islam hay đạo Ixlam. Tuy nhiên, nhiều tín hữu Islam nói tiếng Việt vẫn dùng danh từ Hồi giáo vì đã quen nghĩ đến, nói đến danh từ này một cách tôn kính. == Giáo lý == Tuy cùng một hệ thống nhất thần của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham nhưng giáo lý Hồi giáo không chịu ảnh hưởng tư tưởng của Ki tô giáo và Do Thái giáo. Thể hiện rõ trong kinh Koran (trong 6219 câu của kinh này đã thể hiện nội dung của kinh Cựu Ước và Tân Ước). Không như những tôn giáo bạn, đạo Hồi chỉ có duy nhất một quyển thiên kinh Qur'an, gồm có 114 chương, 6236 tiết. Đối với các tín đồ Hồi giáo, thiên kinh Qur'an là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng. Người Hồi giáo tin tưởng các vị sứ giả đến trước sứ giả Muhammad, kể từ Adam đến Jesus xuyên qua Noah, Abraham, Moise, v.v. Họ cũng tin tưởng Cựu ước và Tân ước là kinh sách của Allah nhưng họ không thi hành theo vì sự "lệch lạc" do người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo tạo ra và thiên kinh Qur'an được Allah mặc khải xuống để điều chỉnh lại những gì đã sai trái ở hai kinh sách đó. Jesus đối với người Hồi giáo là một sứ giả rất được kính mến, nhưng họ không tin Jesus là con của Thiên Chúa (Allah), đối với họ Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Thiên kinh Qur'an đã phán: Allah là Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật." (trích 6:101) Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của Adam và Eve không phải là nguồn gốc tội lỗi của loài người. Và không có một ai có quyền rửa tội cho một ai khác; ngoại trừ Allah. Sự khác nhau giữa Cựu Ước, Tân Ước và Thiên Kinh Qur'an trên quan điểm Đấng Toàn Năng như sau: Cựu Ước: Tân Ước: Thiên Kinh Qu'ran: Đạo Hồi không có Mười Điều Răn như đạo Ki Tô nhưng kinh Qur'an cũng liệt kê mười điều tương tự: Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah). Vinh danh và kính trọng cha mẹ. Tôn trọng quyền của người khác. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*). Cấm ngoại tình. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi. Hãy cư xử công bằng với mọi người. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần. Hãy khiêm tốn (*) Trường hợp đặc biệt được phép giết người mà không bị trọng tội là: 1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận. 2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành. Ngoài ra tín đồ Hồi giáo có một số luật lệ: Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương. Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế. Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men. Nghiêm cấm cờ bạc. Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi. Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.). Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt halal, tức là thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống. Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan. Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng Trên phương diện khoa học nhân văn, Hồi giáo là một tôn giáo ra đời vào thế kỷ thứ 7, dựa trên những nền tảng có sẵn của Do Thái giáo và Kitô giáo. Đôi khi người ta cũng gọi Hồi giáo là đạo Muhammad (Muhammadanism), theo tên của đức sáng tổ. Tuy nhiên, với những tín đồ Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng đế tạo ra, và vì Thượng đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người "thuật nhi bất tác", thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng đế mà thôi. Trong quan niệm của các tín đồ, Hồi giáo không khởi sinh từ Muhammad. Với họ, con người đầu tiên do Thượng đế tạo ra, tức Adam, là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và ngay từ thuở hồng hoang, khắp đất trời đã là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả. Sở dĩ Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng đế cai quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Và vì đẳng cấp của loài người cao như thế tự do ý chí nên vấn đề nảy sinh từ đây. Sự tự do ý chí đôi khi dẫn đến những lầm lạc, lầm lạc dẫn đến rời bỏ Thượng đế, và xa dần chính đạo. Khi Adam, con người đầu tiên và cũng là Thiên Sứ đầu tiên, lìa trần, con cháu ông, không còn ai chỉ bảo, càng lún sâu vào con đường tối. Do thế mà Thượng đế lại phải gửi xuống nhân gian những vị Thiên Sứ mới để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có hằng trăm ngàn Thiên Sứ giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham (Ibrohim), Moses (Musa), David (Dawud) và Jesus (Ysa)... Tuy nhiên, một là do loài người u mê chưa tỉnh ngộ, hai là do sự ngoan cố, tự cao, tự đại của con người, mà chính đạo vẫn bị bóp méo như thường. Rốt cuộc, đến thế kỷ 7, Thượng đế khải thị cho Muhammad, và biến ông trở thành vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất trước nay, hơn hẳn những Thiên Sứ tiền nhiệm. Do đó mà đạo của Muhammad truyền bá cũng là hoàn hảo nhất, không thể bị bóp méo như trước kia. Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng, và bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo. Như đã thấy ở trên, Abraham (Ibrohim) cử xuống cho Do Thái Giáo, và Giêsu (Ysa) cử xuống cho Kitô giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Như vậy, Thiên Chúa mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Từ Allah trong tiếng Ả Rập mang nghĩa là Thượng đế. (Những Kitô hữu người Ả Rập khi cầu nguyện cũng gọi Đức Chúa Cha là Allah). Thượng đế dĩ nhiên phải cao hơn Thánh và là duy nhất, vả lại trong đạo Hồi chính thống hoàn toàn không có khái niệm Thánh. Người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh Kitô giáo cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, có điều người ta coi nó không đầy đủ và hoàn thiện như Koran. == Năm cột trụ của Hồi giáo == Năm điều căn bản của đạo Hồi: Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. Bố thí. Nhịn chay tháng Ramadan. Hành hương tại Mecca. == Sự phân chia Hồi giáo == Đến nay Hồi giáo đã chia ra làm nhiều nhánh với những giáo lý và quan điểm chính trị khác biệt. === Sunni === Hồi giáo dòng Sunni chiếm 75%–90% số người theo Đạo Hồi. Dòng Sunni cũng có tên Ahl as-Sunnah nghĩa là "người truyền thống [của Muhammad]". Người theo Sunni tin rằng bốn Khalip đầu tiên là những người thừa kế hợp pháp của Muhammad; vì Chúa không chỉ định bất kỳ lãnh đạo đặc biệt nào để kế thừa ông và những người này được bầu ra. Người theo Sunni tin rằng bất cứ ai là người công chính và chỉ có thể là một khalip nhưng họ phải hành động theo kinh Qur'an và Hadith. Sunni theo Quran, sau đó là Hadith. Sau đó, các vấn đề pháp lý không được tìm thấy trong Kinh Qur'an hoặc Hadith, họ theo bốn madh'habs (trường phái tư tưởng): Hanafi, Hanbali, Maliki và Shafi'i, được thành lập xung quanh những lời dạy tương ứng của Abū Hanifa, Ahmad bin Hanbal, Malik ibn Anas và al-Shafi'i. Tất cả 4 chấp nhận tính hợp pháp của nhau và Đạo Hồi có thể chọn bất kỳ một để theo. Salafi (hay Ahl al-Hadith (Arabic: أهل الحديث; The people of hadith), hoặc từ miệt thị Wahhabi theo cách gọi của đối thủ họ) là một phong trào Hồi Giáo cực kỳ chính thống đã đưa lớp người Hồi Giáo đầu tiên là một hình mẫu điển hình. === Shia === Shi'a chiếm 10–20% số người theo đạo Hồi và là nhánh lớn thứ 2. Trong khi Sunni tin rằng Muhammad không chỉ định một người kế nhiệm và do đó kế nhiệm ông sẽ được chọn bởi cộng đồng thì Shia tin rằng trong lần hành hương cuối cùng của Muhammad đến Mecca, ông đã chỉ định con nuôi của ông là Ali ibn Abi Talib, làm người kế vị trong Hadith of the pond of Khumm. Và thế là họ tin rằng Ali ibn Abi Talib là Imam (lãnh đạo) đầu tiên, và bác bỏ tính hợp pháp của các khalip Hồi giáo trước Abu Bakr, Uthman ibn al-Affan và Umar ibn al-Khattab. Hồi Giáo Shia có nhiều nhánh, nhánh lớn nhất là Twelvers phát triển phần lớn ở Iran, Iraq, Azerbaijan, Bahrain, Ấn Độ, Pakistan và Liban. Tiếp theo là Zaidis và Ismaili. Sau cái chết của Imam Jafar al-Sadiq (cháu lớn của Abu Bakr và Ali ibn Abi Talib) được xem là lãnh tụ thứ sáu của người Shia, Ismailis bắt đầu theo con trai ông Isma'il ibn Jafar và Twelver Shia's (Ithna Asheri) bắt đầu theo con trai khác của ông Musa al-Kazim làm Imam thứ 7. Zaydis theo Zayd ibn Ali, chú của lãnh tụ Jafar al-Sadiq, là lãnh tụ thứ 5. Các nhóm khác nhỏ hơn gồm Bohra và Druze, cũng như Alawites và Alevi. === Sufism === === Các dòng khác === == Thánh địa Mecca == Theo quy định của hồi giáo, mỗi giáo dân ít nhất một lần trong cuộc đời phải hành hương về thánh địa Mecca bằng chính kinh phí của bản thân mình và trước khi đi phải chuẩn bị đồ ăn thức uống cho người thân (những người ở nhà, không đi hành hương) trong thời gian mà họ đi vắng. Vào tháng Ramadan, người Hồi giáo hành hương về đây (và chỉ có người Hồi giáo mới được về đây). Sau khi hành hương đến Mecca, tín đồ đạo Hồi sẽ có được danh hiệu là "Haj" hoặc "Haji". == Chú thích == == Tham khảo == == Đọc thêm == "Islam in Traditional China. A short history to 1800.", Donald D. Leslie, Canberra College of Advanced Education (CCAE), Canberra 1986. "Le Prophète de l'Islam, sa vie, son oeuvre", Muhammad Hamidullah, Editions El-Najah, 6ème édition augmentée, Paris 1998. "Manuel d'Histoire, de Généalogie et de Chronologie de tous les Etats du Globe depuis les temps les plus reculés jusqu'à nos jours", Stokvis A.M.H.J., Leiden, 1888-1893 (ré-édition en 1966 par B.M.Israel). "Musulmans de Chine - Une anthropologie des Hui du Henan", Elisabeth Allès, Editions EHESS, Paris 2000. "Trung Quốc Sử Lược", Phan Khoang, bản in lần thứ ba, Sài gòn và Huế 1958. "Từ điển Hán - Việt", Nhà xuất bản ngoại văn Bắc Kinh, 1994. == Liên kết ngoài == Islam tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Đạo Hồi tại Từ điển bách khoa Việt Nam (tiếng Việt) Chân lý Islam, trang thông tin về Hồi giáo tại Việt Nam. Trung tâm Islam Đạo Hồi ở Việt Nam Hồi giáo Các trang đặc biệt Đôi nét về mâu thuẫn giữa dòng Sunni và Shiite, Ban Tôn giáo chính phủ CHXHCN VN Mỗi năm, hàng triệu người hành hương về thánh địa Mecca
plasma.txt
Plasma là trạng thái thứ tư của vật chất (các trạng thái khác là rắn, lỏng, khí) trong đó các chất bị ion hóa mạnh. Đại bộ phận phân tử hay nguyên tử chỉ còn lại hạt nhân; các electron chuyển động tương đối tự do giữa các hạt. Plasma không phổ biến trên Trái Đất tuy nhiên trên 99% vật chất thấy được trong vũ trụ tồn tại dưới dạng plasma, vì thế trong bốn trạng thái vật chất, plasma được xem như trạng thái đầu tiên trong vũ trụ. (Lưu ý là vật chất thấy được, vật chất biết được và vật chất là khác nhau.) Nếu sự ion hóa được xảy ra bởi việc nhận năng lượng từ các dòng vật chất bên ngoài, như từ các bức xạ điện từ thì plasma còn gọi là plasma nguội. Ví dụ như đối với hiện tượng phóng điện trong chất khí, các electron bắn từ cation ra làm ion hóa một số phân tử trung hòa. Các electron mới bị tách ra chuyển động nhanh trong điện trường và tiếp tục làm ion hóa các phân tử khác. Do hiện tượng ion hóa mang tính dây chuyền này, số đông các phân tử trong chất khí bị ion hóa, và chất khí chuyển sang trạng thái plasma. Trong thành phần cấu tạo loại plasma này có các ion dương, ion âm, electron và các phân tử trung hòa.. Nếu sự ion hóa xảy ra do va chạm nhiệt giữa các phân tử hay nguyên tử ở nhiệt độ cao thì plasma còn gọi là plasma nóng. Khi nhiệt độ tăng dần, các electron bị tách ra khỏi nguyên tử, và nếu nhiệt độ khá lớn, toàn bộ các nguyên tử bị ion hóa. Ở nhiệt độ rất cao, các nguyên tử bị ion hóa tột độ, chỉ còn các hạt nhân và các electron đã tách rời khỏi các hạt nhân. Các hiện tượng xảy ra trong plasma chuyển động là rất phức tạp. Để đơn giản hóa, trong nghiên cứu plasma, người ta thường chỉ giới hạn trong việc xét các khối plasma tĩnh, tức là các khối plasma có điện tích chuyển động nhưng toàn khối vẫn đứng yên. Các ví dụ về plasma dễ thấy nhất là mặt trời, các ngôi sao, đèn huỳnh quang và sét. Plasma không những có tính linh động rất mạnh, nó lại có thể dẫn điện như kim loại. Trên trái đất, loại vật chất này không nhiều, chỉ có ở vùng cực quang vùng núi lửa hoặc chớp điện mới có thể tìm thấy chúng, thế nhưng trong vũ trụ, thế lực của chúng rất to lớn, khoảng 99,9% vật chất trong toàn vũ trụ đều ở vào trạng thái plasma. == Liên kết ngoài == Trạng thái thứ tư của vật chất Đông đặc Bose-Einstein chuyển thành plasma
đẻ.txt
Đẻ là một phản xạ sinh sản ở động vật nhằm duy trì nòi giống, bao gồm những chuyển động của đường sinh dục của con cái (co, giãn; mở cửa cổ tử cung…) để đẩy thai hoặc trứng ra bên ngoài. == Động vật đẻ con == === Tổng quan === Động vật đẻ là những động vật mang thai: người, lợn, trâu, bò... Ở động vật đẻ con, quá trình đẻ là kết thúc của quá trình mang thai; thường được chia làm ba giai đoạn: chuyển dạ được bắt đầu với những cơn co thắt tử cung dài, liên tục với cường độ mạnh để dẫn tới mở cổ tử cung, giai đoạn này kết thúc khi cổ tử cung mở đủ để thai có thể chui lọt; giai đoạn đẩy thai ra ngoài bắt đầu khi cổ tử cung mở hoàn chỉnh cho đến khi toàn bộ thai chào đời; giai đoạn cuối bắt đầu ngay sau khi toàn bộ bào thai thai chào đời và kết thúc khi nhau thai và màng ối được đẩy ra ngoài cơ thể mẹ. === Ở lợn === Lợn là động vật đa thai, mỗi lứa đẻ thường 7 - 15 con tùy theo gống. Lợn sắp đẻ có dấu hiệu đi đứng không yên, bồn chồn, thường hay làm ổ (cắn ổ); âm hộ sưng đỏ, tiết dịch nhờn, bầu vú căng đầy sữa.... Tập tích của lợn là thường đẻ vào ban đêm, 15 – 20 phút sinh 1 con, đẻ trong thời gian khoảng 2 – 4 giờ là kết thúc. === Ở trâu, bò === Trâu, bò là động vật đơn thai (rất hiếm sinh đôi), quá trình đẻ được chia thành ba thời kỳ như sau: Thời kỳ mở cổ tử cung bắt đầu từ khi tử cung xuất hiện cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn. Sự co bóp bắt đầu từ mút sừng tử cung đến thân, cổ tử cung và kết thục ở âm đạo. Sự co bóp cùng với theo nhịp điệu khoảng cách thời gian hình thành nên cơn rặn để đẩy thai ra ngoài. == Chú thích ==
điện capitol hoa kỳ.txt
Điện Capitol Hoa Kỳ hay Tòa Quốc hội Hoa Kỳ là trụ sở của Quốc hội, cơ quan lập pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Nó được xây tại Washington, D.C., trên đồi Capitol ở cuối phía đông của National Mall. Tuy nó không nằm tại trung tâm địa lý của Đặc khu Columbia, Điện Capitol là tiêu điểm của quy hoạch thành phố, cho nên các phần tư của địa hạt bắt đầu từ chỗ này. Điện này nổi tiếng về mái vòm lớn đứng trên rotunda. Nó có 1 cánh cho mỗi viện Quốc hội: cánh phía bắc của Thượng Nghị viện và cánh phía nam của Hạ Nghị viện. Ở trong mỗi cánh này có phòng chính của viện, trên đó có phòng để người thường có thể coi những hành động của Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện. == Lịch sử == Điện Capitol hiện hành là công trình thứ tư được sử dụng bởi Quốc hội, trước đó là Trụ sở Nghị viện Maryland tại Annapolis, Maryland (1783–1784), Liên Bang Phủ (Federal Hall) tại Thành phố New York (1789–1790), và Hội trường Độc lập (Independence Hall; lúc đó là Congress Hall, "Hội trường Quốc hội") tại Philadelphia, Pennsylvania (1790–1800). Điện Capitol bắt đầu được xây dựng vào năm 1793. George Washington đặt xuống viên đá đầu tiên, nhưng người ta vẫn chưa tìm thấy viên đá đó nằm ở vị trí nào ngày nay. Điện Capitol được xây dựng và được mở rộng sau đó vào thập niên 1850 do lao động của các nô lệ, "họ xẻ khúc gỗ, đặt xuống đá, và nung gạch". Kế hoạch đầu tiên là để mượn người từ Âu Châu để xây lên điện này; tuy nhiên, họ không tìm được đủ người ở đấy, cho nên các người Mỹ gốc Phi – cả người tự do và nô lệ – trở thành phần lớn của lực lượng lao động. Cánh Thượng Nghị viện được xây xong vào năm 1800, còn cánh Hạ Nghị viện được xong vào năm 1811. Điện Capitol đăng cai phiên họp Quốc hội đầu tiên ngày 17 tháng 11 năm 1800. Tối cao Pháp viện cũng họp trong Điện Capitol đến khi tòa riêng của họ (đằng sau Mặt Đông) được xây dựng xong vào năm 1935. Không lâu sau khi vừa được xây xong, nó bị cháy một phần bởi quân đội Anh trong cuộc Chiến tranh năm 1812. Việc tái xây dựng bắt đầu vào năm 1815 và kết thúc khoảng năm 1830. Kiến trúc sư Benjamin Latrobe được biết đến phần nhiều về việc xây dựng lần đầu tiên và chế nhiều đặc điểm ở trong; người nối nghiệp, kiến trúc sư nổi tiếng Charles Bulfinch, cũng có vai trò quan trọng. Tòa nhà này được mở rộng rất nhiều vào thập niên 1850. Do các phần mở rộng, mái vòm đầu tiên mà được xây bằng gỗ vào năm 1818 sẽ không còn đúng tỷ lệ. Thomas U. Walter chịu trách nhiệm đặt kế hoạch cho những phần mở rộng và mái vòm "bánh đám cưới" mới bằng gang, cao hơn mái vòm đầu tiên gấp ba và có đường kính 30 mét (100 foot), nó phải dựa trên các cột trụ nề đã tồn tại. Giống mái vòm của Mansart tại Les Invalides (ông Walter đã đi xem nó vào năm 1838), mái vòm của Walter thực sự là vòm đôi, có lỗ oculus lớn ở trong vòm trong. Khi nhìn vào lỗ đó, người ta có thể ngắm bức tranh Apotheosis of Washington được vẽ trên trần mái vòm dome. Những cột trụ cũng chống lên mặt ngoài và cái tholos mà chống lên Tự do, bức tượng khổng lồ mà được dựng lên trên mái vòm vào năm 1863. Trọng lượng phần gang của mái vòm này đã được cho là 4.041.100 kilôgam (8.909.200 pound) sắt. Mái vòm của Điện Capitol cuối cùng được xây xong, nhưng bị xây lớn hơn kế hoạch đầu tiên nhiều, cho nên bề ngoài đồ sộ của nó chế ngự tỷ lệ của các cột ở Cổng Đông, được xây năm 1828. Mặt Đông của Điện Capitol được tái xây dựng năm 1904 theo hãng kiến trúc Carrère và Hastings thiết kế, họ cũng đặt thiết kế cho các Tòa nhà Văn phòng Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện. Mặt Đông mới được xây bằng cẩm thạch đằng trước mặt cũ (nó bằng sa thạch) 10,2 m (33,5 foot) trong những năm 1958–1962, và một phần nối mới làm một tường ngoài thành một tường trong. Cùng lúc, việc dời cổng cũ nghĩa là các cột Corinth lịch sử bị không còn chỗ nữa, đến khi người thiết kế vườn Russell Page xây một nơi hợp cho nó ở bãi cỏ lớn tại Vườn cây Quốc gia, những cột đứng bên cạnh hồ nước, nó làm một số khách khó chịu vì nhắc đến Persepolis. Điện Capitol được cho rằng mục tiêu chọn lọc của Chuyến 93 United Airlines đã bị không tặc trong những Sự kiện ngày 11 tháng 9 trước khi nó rơi xuống tại Quận Somerset, Pennsylvania sau khi các hành khách cố gắng giành lại máy bay khỏi những người bắt cóc. == Xem thêm == Kiến trúc sư của Điện Capitol Đường ngầm Quốc hội Nhà Trắng, tòa nhà cũng ở Washington, D.C. - nơi ở và làm việc của Tổng thống Hoa Kỳ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Kiến trúc sư của Điện Capitol (tiếng Anh) Các Cột Capitol Quốc gia (tiếng Anh) Trung tâm Du lịch Capitol (tiếng Anh)
raymond kopa.txt
Raymond Kopa (13 tháng 10 năm 1931 – 3 tháng 3 năm 2017), tên khai sinh là Raymond Kopaszewski, là cựu cầu thủ bóng đá Pháp, chơi ở vị trí tiền vệ, tên tuổi gắn liền với đội tuyển Pháp trong thập niên 1950. == Thời thơ ấu == Kopa, sinh ra tại Nœux-les-Mines, Pas-de-Calais, là con trai trong một gia đình nhập cư gốc Ba Lan. Có cha làm công nhân mỏ than, mới 14 tuổi cậu bé Kopa đã phải xuống mỏ than làm việc. Việc học hành của Kopa hầu như kết thúc từ khi làm công nhân mỏ. Năm 16 tuổi, một tai nạn xảy ra là bước ngoặt của cuộc đời ông. Kopa bị một tảng than lớn đè vào tay khi đang làm việc, phải tháo khớp ngón tay và không thể tiếp tục làm thợ mỏ. Ông phải kiếm tìm một nghề nghiệp khác để mưu sinh. Do vậy Kopa tìm đến với bóng đá. == Sự nghiệp câu lạc bộ == Ông bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp năm 17 tuổi với câu lạc bộ SCO Angers, và hai năm sau chuyển đến Stade de Reims. Tại đây ông đã giành được 2 chức vô địch Pháp vào các năm 1953 và 1955. Ông cùng với Reims đã lọt vào trận chung kết Cúp C1 châu Âu đầu tiên năm 1956, thất thủ trước Real Madrid với Alfredo Di Stéfano 3-4. Ông chuyển đến Real Madrid mùa bóng tiếp theo, đá cặp cùng với Ferenc Puskás. Với hai chức vô địch Tây Ban Nha các năm 1957 và 1958, tiếp theo đó là hai chức vô địch Cúp C1 châu Âu với Real Madrid các năm 1958 và 1959, Kopa trở thành cầu thủ Pháp đầu tiên giành được một Cúp châu Âu, trong đó trận chung kết năm 1959 đội bóng của ông lại vượt qua Stade de Reims của Just Fontaine. Kopa trở về Pháp trong mùa bóng 1959-60 để kết thúc sự nghiệp với Reims. Ông có thêm được 2 chức vô địch Pháp vào các năm 1960 và 1962. Tổng cộng, ông đã ghi được 75 bàn thắng trong 346 trận chơi ở Ligue 1, và là cầu thủ Pháp đầu tiên nhận được Quả bóng vàng châu Âu vào năm 1958. Khi trở về Pháp, Kopa đã phát động một phong trào đấu tranh của các cầu thủ chống lại các bản hợp đồng hà khắc (các cầu thủ bị hợp đồng cột chặt vào câu lạc bộ, đến 35 tuổi mới có thể ra đi theo ý mình). Việc này đã làm ông bị kỉ luật 6 tháng (ông giải nghệ ngay sau đó) nhưng đã dẫn đến sự ra đời của Hiệp hội cầu thủ nhà nghề để bảo vệ quyền lợi các cầu thủ. Đây là một cuộc cách mạng trong làng bóng đá Pháp. == Sự nghiệp đội tuyển == Thi đấu cho đội tuyển Pháp, Kopa ghi được 18 bàn thắng trong 45 trận từ năm 1952 đến 1962. Ông giành giải ba cùng đội tuyển Pháp tại World Cup 1958 tại Thuỵ Điển, chỉ chịu dừng bước ở bán kết trước đội tuyển Brasil. Ông cũng được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất World Cup tại World Cup 1958 và Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất World Cup tại World Cup 1954. Ông là cầu thủ duy nhất cho đến nay có được cả hai danh hiệu này. == Đời tư và cuộc sống sau khi giải nghệ == Kopa cưới Christiane, em gái một đồng đội của ông tại Angers. Sau khi giải nghệ ông mở một thương hiệu đồ thể thao mang tên mình, hiện tại có trụ sở ở đảo Corse. Kopa qua đời vào tháng 3 năm 2017 ở tuổi 85. == Câu nói nổi tiếng == "Tên tôi là Kopaszewski, và để thoát khỏi những mỏ than, tôi chẳng biết cách nào khác ngoài đá bóng" == Các danh hiệu == Vô địch Ligue 1 các năm 1953, 1955, 1960 và 1962 với Stade Reims Vô địch Liga các năm 1957 và 1958 với Real Madrid Vô địch Cúp C1 châu Âu các năm 1957, 1958 và 1959 với Real Madrid Á quân Cúp C1 châu Âu năm 1956 với Stade Reims Vô địch Cúp Latin năm 1953 với Stade Reims và 1957 với Real Madrid Á quân Cúp Latin năm 1955 Stade Reims Hạng ba World Cup 1958 với đội tuyển Pháp Quả bóng vàng châu Âu năm 1958 == Vinh danh và đánh giá == Ngoài các danh hiệu kể trên, ông được Pelé bình chọn vào danh sách 125 cầu thủ còn sống vĩ đại nhất vào tháng 3 năm 2004. Ông trở thành một cầu thủ bóng đá xuất chúng, với một sự nghiệp bóng đá mà bất cứ một nhà viết sử nào của bóng đá Pháp cũng phải nhắc đến bằng những dòng trân trọng nhất. == Chú thích == Lý lịch của Kopa tại Liên đoàn bóng đá Pháp Lý lịch của Kopa tại báo thể thao L'Equipe của Pháp Huyền thoại về các huyền thoại - Raymond Kopa
f.c. internazionale milano.txt
Football Club Internazionale Milano S.p.A. (Công ty cổ phần Câu lạc bộ bóng đá Internazionale Milan), thường được biết đến với tên gọi tắt Internazionale, Inter Milan hay đơn giản là Inter, là một câu lạc bộ bóng đá Ý ở Milano, Lombardy, được thành lập ngày 09 tháng 3 năm 1908. Inter Milan là câu lạc bộ duy nhất tham dự đầy đủ các giải Serie A, hạng đấu cao nhất của Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý từ năm 1929 và chưa bao giờ phải xuống chơi ở Serie B. Phòng truyền thống của đội bao gồm với 18 danh hiệu vô địch quốc gia (Scudetto), 7 Cúp quốc gia và 5 Siêu cúp quốc gia. Ở đấu trường quốc tế, Inter Milan cũng sở hữu 9 danh hiệu với 3 chức vô địch Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, 3 Cúp UEFA cùng 3 Cúp Liên lục địa/Cúp thế giới các câu lạc bộ. Inter cũng là một trong 8 CLB được vinh danh trên logo giải đấu UEFA Champions League khi vô địch giải này 2 năm liên tiếp: 1964, 1965. Với tổng cộng 39 danh hiệu lớn giành được, Inter là câu lạc bộ giàu thành thích thứ ba của Italia sau Juventus (với 55 danh hiệu) và AC Milan (với 47 danh hiệu). Theo cuộc thăm dò thực hiện ngày 20 tháng 8 năm 2008 của tờ nhật báo la Repubblica thì Inter Milan là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên thứ 2 ở Ý với 14%, xếp sau Juventus (32,5%) và trên đối thủ cùng thành phố là AC Milan (13,6%). == Lịch sử == === Bắt đầu thành lập === Câu lạc bộ được thành lập ngày 9 tháng 3 năm 1908 sau khi tách ra từ Milan Cricket and Football Club (tiền thân của A.C. Milan). Một nhóm người Ý và Thụy Sĩ (bao gồm Giorgio Muggiani, một họa sĩ - người đã thiết kế logo câu lạc bộ, Bossard, Lana, Bertoloni, De Olma, Enrico Hintermann, Arturo Hintermann, Carlo Hintermann, Pietro Dell'Oro, Hugo và Hans Rietmann, Voelkel, Maner, Wipf, cùng Carlo Ardussi) không hài lòng trước sự thống trị của người Ý trong đội bóng A.C. Milan, đã tách ra và thành lập Internazionale. Từ lúc thành lập, câu lạc bộ mở cửa với các cầu thủ ngoại nên tên gọi ban đầu được giữ đến bây giờ. Biệt hiệu ban đầu của đội trong tiếng địa phương vùng Milano là La Beneamata, sự thương yêu ấp ủ. Câu lạc bộ giành được chức vô địch quốc gia (scudetto) rất sớm vào năm 1910 và lần thứ hai vào năm 1920. Đội trưởng đồng thời là huấn luyện viên của đội khi đoạt scudetto đầu tiên là Virgilio Fossati, sinh tại Milano và là anh của Giuseppe Fossati (người đã đạt chức vô địch thứ hai cùng Inter). Không may Virgilio Fossati chết giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất. Năm 1922 Inter đứng cuối cùng nhóm B của Giải vô địch Italia - Serie A chỉ thu được 11 điểm trong mùa giải. Vị trí cuối cùng này đồng nghĩa với 1 suất xuống hạng nhưng do một số thủ thuật họ lại tiếp tục thi đấu ở Serie A và đến nay là đội duy nhất chưa từng xuống hạng. Trong suốt thời kì hỗn loạn giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, Internazionale bị buộc đổi tên thành Ambrosiana-Inter với mục đích thỏa mãn yêu cầu của chế độ phát xít của Benito Mussolini, họ mặc áo màu trắng với 1 chữ thập đỏ trên áo. . Tuy nhiên, Inter vẫn ở trên con đường chiến thắng và giành được chức vô địch lần thứ ba tại giải hạng nhất Ý mới vào năm 1930. Tiếp theo đó, danh hiệu thứ tư giành được vào năm 1938, chức vô địch lần đầu cúp quốc gia (Coppa Italia)) và vô địch lần thứ năm vào năm 1940. Từ 1945, cái tên Ambrosiana-Inter được bỏ và thay bằng tên gọi ban đầu Internazionale Milano. === Grande Inter === Năm 1960, huấn luyện viên Helenio Herrera gia nhập Inter từ Barcelona, ​​ông mang theo tiền vệ Luis Suárez, người vừa đoạt Quả bóng vàng châu Âu cùng năm với vai trò giúp Barcelona đoạt cú ăn hai La Liga / Fairs Cup. Tại đây, Ông đã biến đổi Internazionale thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất ở châu Âu. Ông đã điều chỉnh chiến thuật 5-3-2 gọi là Verrou (cửa chớp) để bao gồm sự linh hoạt hơn cho các pha phản công. Hệ thống Catenaccio được phát minh bởi một HLV người Áo tên là Karl Rappan. Hệ thống ban đầu Rappan đã được thực hiện với 4 hậu vệ cố định, cộng với một cầu thủ kiến tạo ở giữa sân đang chơi bóng cùng với hai cánh hàng tiền vệ. Herrera đã sửa đổi nó bằng cách thêm một hậu vệ thứ năm mà ngày nay hay còn gọi là libero phía sau lưng hai trung vệ. Hậu vệ quét hay libero đóng vai trò như một cầu thủ chủ chốt sẽ chặn hết bất kỳ tiền đạo nào đã qua hai trung vệ. Internazionale kết thúc với vị trí thứ 3 tại Serie A. Và sau đó, câu lạc bộ trở lại châu Âu và giành chức vô địch vào cấc năm 1964 và 1965. Herrera giành được danh hiệu ll Mago, có nghĩa phù thủy. Các cầu thủ của Herrera là hai hậu vệ cánh Tarcisio Burgnich và Giacinto Facchetti, hậu vệ quét Armando Picchi, tiền vệ Suárez, các cầu thủ chạy cánh như Jair, Mario Corso, Sandro Mazzola. Năm 1964, Internazionale tiến đến trận chung kết Cúp châu Âu sau khi đánh bại Borussia Dortmund trong trận bán kết và FK Partizan ở trận tứ kết. Trong trận chung kết, họ gặp Real Madrid, một đội bóng đã vào đến bảy trong số chín trận chung kết kể từ khi giải được thành lập. Mazzola ghi được hai bàn thắng trong chiến thắng 3-1, và sau đó đội đoạt Cúp liên lục địa khi vượt qua Independiente. Một năm sau đó, Inter đã lặp lại chiến tích khi đánh bại hai lần đoạt SL Benfica trong trận chung kết tổ chức tại nhà, và sau đó một lần nữa đánh bại Independiente trong Intercontinental Cup. Với thành tích bảo vệ được chức vô địch châu Âu, Inter được vinh dự trở thành một trong 9 ngôi sao trên logo giải đấu ngày nay (9 đội bóng bảo vệ thành công chức vô địch). Năm 1967, với sự chấn thương của Jair và Suárez, Inter đã để thua trận chung kết Cup châu Âu 1-2 trước Celtic. Cùng năm đó, câu lạc bộ đổi tên Football Club Internazionale Milano. Trong giai đoạn này, chủ sở hữu và cũng là chủ tịch câu lạc bộ, ông Angelo Moratti, bố của Massimo Moratti. Ông đã có ý định chi ra những khoản tiền khổng lồ để mua về Eusebio và Pelé, mặc dù hai cầu thủ này đã đồng ý chuyển đến Inter, nhưng giới chính trị đã can thiệp. Cả hai chế độ độc tài quân sự tại Bồ Đào Nha và Brasil từ chối phê chuẩn cho họ chuyển đi, và kết quả cả hai vụ chuyển nhượng đều thất bại. === 1970 đến hiện nay === Tiếp theo những năm 1960, Inter giành chức vô địch quốc gia lần thứ 11 vào năm 1971 và lần thứ 12 vào năm 1980. Inter bị đánh bại lần thứ hai trong 5 năm tại trận chung kết cúp C1, thua 0-2 cho đội bóng của Johan Cruijff, Ajax Amsterdam vào năm 1972. Giữa những năm 1970 và 1980, Inter cũng đã giành được chức vô địch cúp quốc gia lần thứ hai và thứ ba vào các năm 1978 và 1982. Những năm 1990 là thời kỳ của sự thất vọng. Trong khi các đối thủ lớn của họ Milan và Juventus đã đạt được thành công cả trong nước lẫn tại châu Âu thì Inter bị bỏ lại phía sau, với kết quả tầm thường lặp đi lặp lại trong bảng xếp hạng Giải vô địch quốc gia và điều tồi tệ nhất của họ đến từ mùa giải 1993-94 khi họ kết thúc mùa giải chỉ một điểm nhiều hơn khu vực xuống hạng. Tuy nhiên, họ đã đạt được một số thành tựu tại Cúp châu Âu với ba danh hiệu UEFA Cup. Lần đầu vào năm 1990-91 sau trận chung kết hai lượt với A.S. Roma. Vào mùa giải 1993-94, Inter vô địch lần thứ hai, đánh bại đội bóng Áo Casino Salzburg. Lần chiến thắng UEFA Cup thứ ba là vào mùa giải 1997-98, Inter đánh bại S.S. Lazio trong trận chung kết trên sân Parc des Princes tại Paris. Và khi Massimo Moratti tiếp quản Inter từ tay Ernesto Pellegrini vào năm 1995, Inter hai lần phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng thế giới trong giai đoạn này với 28 triệu euro để mua Ronaldo từ Barcelona vào năm 1997 và 45 triệu euro cho Christian Vieri từ Lazio chỉ hai năm sau đó. Tuy nhiên, những năm 1990 vẫn là một thập kỷ của sự thất vọng, và là thập kỷ duy nhất trong lịch sử của Inter mà họ đã không giành được một chức vô địch Serie A nào. Đối với người hâm mộ Inter, đó là một điều không thể chấp nhận được. Và sự việc tồi tệ đã xảy ra khi ban lãnh đạo đã đổ lỗi cho những thời điểm khó khăn và dẫn đến một số quan hệ bất đồng các thành viên trong ban huấn luyện và ban lãnh đạo, thậm chí cả cá nhân từng cầu thủ. Moratti sau này trở thành mục tiêu chỉ trích của những người hâm mộ, đặc biệt là khi ông bị sa thải huấn luyện viên rất được yêu thích Luigi Simoni chỉ sau một vài trận vào mùa giải 1998-99. Mùa giải đó, Inter không đủ điều kiện để tham dự bất kỳ một Cup châu Âu nào lần đầu tiên trong gần mười năm, kết thúc ở vị trí thứ tám trên bảng xếp hạng Serie A. Mùa giải tiếp theo, Moratti bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của Juventus là Marcello Lippi, và ký hợp đồng với các cầu thủ như Angelo Peruzzi và Laurent Blanc cùng với cựu cầu thủ khác của Juventus như Vieri và Vladimir Jugović. Đội bóng đã gần đến thành công trong mùa giải đầu tiên của họ kể từ năm 1989 khi họ tới chung kết Coppa Italia rồi chỉ bị đánh bại bởi Lazio. Trong mùa sau, thảm họa khác xảy ra. Trong trận Siêu cúp bóng đá Ý gặp lại Lazio, Inter vượt lên dẫn trước nhờ công của 2 bản hợp đồng mới Robbie Keane và Hakan Şükür. Tuy nhiên kết quả họ lại thua 4-3. Sau đó Inter đã bị loại ở vòng sơ bộ của Champions League bởi câu lạc bộ Thụy Điển, Helsingborgs IF. Lippi đã bị sa thải chỉ sau một trận duy nhất khi mùa giải mới bắt đầu. Inter lại tiếp tục thành tích bết bát ở Serie A khi thất bại trước Reggina. Marco Tardelli, người được lựa chọn để thay thế Lippi, thất bại trong việc cải thiện thành tích của đội bóng, và được nhớ đến bởi người hâm mộ Inter khi ông khiến Inter phải chịu thảm bại 0-6 trong trận derby với AC Milan mùa giải 2000-01. Các thành viên khác của "gia đình" Inter trong giai đoạn này phải chịu sự giận dữ của các cổ động viên, thiệt nhất là Christian Vieri và Fabio Cannavaro, 2 nhà hàng dưới quyền sở hữu của 2 cầu thủ này tại Milan đã bị phá hoại sau thất bại khó tin trước Rossoneri. Năm 2002, Inter cũng chỉ cách Scudetto 45 phút khi họ cần thiết để duy trì lợi thế trước Lazio. Inter vượt lên dẫn 2-1 chỉ sau 24 phút. Lazio gỡ hòa sau đó ghi được hai bàn thắng nữa trong hiệp hai để giành chiến thắng. Và Scudetto đã vuột khỏi tay Inter. Mùa giải tiếp theo, Inter đã hoàn thành như giải đấu với vị trí thứ nhì chung cuộc họ cũng tiến vào trận bán kết Champions League mùa giải 2002-03 gặp Milan, trước khi bị loại bởi luật bàn thắng sân khách. === Hậu Calciopoli và thời Mancini === Kết thúc mùa giải 2005/06 bằng chức vô địch cúp quốc gia nhưng Inter vẫn làm cổ động viên thất vọng với vị trí thứ 3 sau Juventus và A.C. Milan. Tuy nhiên, sau đó một vụ bê bối dàn xếp tỷ số làm rúng động cả nước Ý, Calciopoli diễn ra, và hậu quả ngày 27/07/2006, Liên đoàn bóng đá Ý (FIGC) đã quyết định trao chức vô địch cho Inter Milan trong khi đó câu lạc bộ Juventus bị đánh tụt hạng (xuống Serie B) và AC Milan bị trừ 30 điểm do dàn xếp tỷ số. Được lợi từ sự suy yếu của hai đối thủ trực tiếp, Inter tận dụng triệt để lợi thế để leo lên thống trị bóng đá Ý vào những năm sau đó. Mùa hè năm 2006, Inter đã có được chữ ký của tiền đạo Zlatan Ibrahimovic, người vừa rời khỏi câu lạc bộ Juventus khi câu lạc bộ này bị đánh tụt hạng xuống Serie B. Mở đầu là chiến thắng 4-3 trước Roma tại trận tranh Siêu Cúp Italia, cũng trong mùa giải 2006-07 này, Inter đã lập kỉ lục về điểm số của một nhà vô địch lúc bấy giờ là 97 điểm và đứng đầu bảng xếp hạng ngay từ vòng 1 đến khi kết thúc giải. Còn ở Cúp quốc gia, Inter cũng đã lọt vào đến trận chung kết gặp AS Roma, dù thắng 2-1 ở trận lượt về nhưng Inter vẫn phải đứng nhìn đối thủ đăng quang do đã để thua 2-6 ở trận lượt đi. Còn tại UEFA Champions League, Nerazzurri xuất sắc vượt qua vòng bảng, đối thủ tại vòng 1/16 của họ là câu lạc bộ Valencia, cú đúp của tiền đạo nhỏ con David Villa đã khiến Inter phải rời giải sớm dù họ không thua ở cả 2 lượt trận đi và về(bị loại do luật bàn thắng trên sân khách). Mùa giải 2007-08, cục diện tại giải quốc nội Serie A cũng không khác là mấy, Inter lại đoạt được chức vô địch lần thứ 3 liên tiếp với điểm số 85. Tại Coppa Italia, đội bóng xanh đen thành Milano một lần nữa đi đến trận đấu cuối cùng, và gặp lại đối thủ AS Roma, nhưng kết quả lại cũng như mùa giải trước, Roma đã nhanh chóng vươn lên dẫn 2-0, dù rất cố gắng, nhưng Inter chỉ ghi được 1 bàn danh dự, và đành để tuột mất một danh hiệu. Tại đấu trường châu Âu, Inter Milan gặp Liverpool ở vòng 1/16, pha lập công của Fernando Torres ở phút 64 trong trận lượt về đã làm khán đài sân vận động Giuseppe Meazza câm lặng, Inter lại bị loại sớm ở đấu trường châu Âu, và điều đó như giọt nước tràn ly, cuối mùa giải, dù giúp câu lạc bộ giành được Scudetto, nhưng huấn luyện viên Roberto Mancini vẫn bị sa thải, thay thế ông là Người đặc biệt José Mourinho. === Người đặc biệt José Mourinho và kỉ nguyên ăn ba === Năm 2008, Mourinho đến với Inter và thực hiện một loạt cải cách mới, trong đó có việc đem về sân Giuseppe Meazza bản hợp đồng trị giá 24 triệu euro, Ricardo Quaresma. Trong màu giải ấy, Inter đã có chức vô địch Serie A, Scudetto lần thứ 4 liên tiếp kèm theo màn trả thù ngọt ngào khi đả bại Roma 4-0 ngay tại sân Olimpico ở lượt đi. Tại cúp quốc gia, Inter Milan lọt vào đến trận bán kết, và đối thủ của họ là câu lạc bộ Sampdoria. Dù được đánh giá rất cao, nhưng nửa xanh thành Milano vẫn phải nhận trái đắng bẻ bàng khi thua đến 0-3 ở trận lượt đi, và dù đã thắng ở trận lượt về với tỷ số 1-0, nhưng cũng không thể giúp Inter lọt vào chung kết. Còn ở đấu trường châu Âu, Inter của Mourinho được kì vọng là có thể tiến sâu vào vòng trong so với người tiền nhiệm Roberto Mancini, lần này câu lạc bộ cũng lọt vào vòng 1/16, đối thủ tiếp theo là câu lạc bộ Manchester United, một đối thủ rất quen thuộc của José Mourinho khi còn cầm quân tại Chelsea, nhưng các cổ động viên lại một lần nữa thất vọng, Inter vẫn bị loại do thua 0-2 ở trận lượt về khi trận lượt đi đã kết thúc với tỷ số hòa. Mùa giải 2009/10 đánh dấu năm thành công nhất trong lịch sử hơn trăm năm của Inter khi Nerazzurri trở thành CLB Ý đầu tiên giành được cú ăn ba: Coppa Italia, Scudetto và Champions League. Inter khởi đầu mùa giải thất bại trong trận Siêu Cúp Ý. Tại Serie A, CLB có chức Vô địch Italia lần thứ 5 liên tiếp sau khi đánh bại Siena bằng bàn thắng duy nhất của Diego Milito, qua đó trở thành đội thứ 2 trong lịch sử đạt được thành tích này. Tại đấu trường Châu Âu, Inter trở lại ngôi vua sau 45 năm chờ đợi, khi lần lượt vượt qua vô địch giải Ngoại hạng Anh năm đó là Chelsea, vô địch La Liga (Tây Ban Nha) Barcelona và cuối cùng là đánh bại nhà vô địch Bundesliga (Đức) Bayern Munich với tỷ số 2-0 trong trận chung kết. Ngày 21 Tháng 8 năm 2010, Inter đánh bại Roma 3-1 và giành Siêu cúp bóng đá Ý năm 2010, chiếc cúp thứ tư trỏng năm. Vào tháng 12 năm 2010, Inter Milan tiếp tục giành được danh hiệu FIFA Club World Cup sau chiến thắng 3-0 trước TP Mazembe trong trận chung kết. Internazionale hoàn thành cú ăn 5, trở thành đội bóng thứ tư thế giới sau Liverpool vào năm 2001, Al- Ahly trong năm 2006 và Barcelona vào năm 2009. Tuy nhiên, sau danh hiệu này này, vào ngày 23 tháng 12 năm 2010, do thành tích kém cỏi của đội ở Serie A và khoảng cách 13 điểm so với đội dẫn đầu bảng xếp hạng là AC Milan (mặc dù Inter chơi ít hơn hai trận, vì dự giải FIFA Club World Cup), ban lãnh đạo đội bóng đã quyết định sa thải Rafael Benitez, và thay thế ông là huấn luyện viên Leonardo. Leonardo có một sự khởi đầu hoàn hảo với 30 điểm sau 12 trận, trung bình 2,5 điểm cho mỗi trận, tốt hơn so với những người tiền nhiệm của ông là Benitez và Mourinho. Ngày 6 tháng 3 năm 2011 Leonardo lập kỉ lục tại Serie A khi kiếm được 33 điểm sau 13 trận, kỉ lục trước đó là 32 điểm trong 13 trận đấu được thực hiện bởi Fabio Capello trong mùa giải 2004-05. Sau đó, Leonardo đã giúp câu lạc bộ tiến vào vòng tứ kết của Champions League, đáng nói đến là màn lật ngược tình thế ở vòng 1/16, trước khi trở thành cựu vương khi để thua Schalke 04. Cuối mùa giải Inter cũng đã giành Coppa Italia sau chiến thắng 3-1 trước Palermo. Huấn luyện viên Leonardo sau đó từ chức và tiếp theo sau là những huấn luyện viên không mang lại thành công cho Inter, như Gian Piero Gasperini, Claudio Ranieri, Andrea Stramaccioni, Walter Marazzi và Frank De Boer. === Một vài thông tin khác === Inter giữ một kỉ lục đầy tự hào là chưa bao giờ phải xuống thi đấu tai Serie B (giải hạng hai) kể từ lúc câu lạc bộ được thành lập. Người hâm mộ luôn tự hào rằng Inter là câu lạc bộ duy nhất (trước đây còn Juventus nhưng đội bóng này đã xuống hạng năm 2006 vì Calciopoli) chỉ thi đấu tại Serie A. Trước đó, Juventus trên danh nghĩa là đã xuống hạng năm 1911 và 1913 nhưng còn thi đấu ở hạng nhất giải Piemonte Regional League năm 1911, và Lombardia Regional League vào năm 1913; hơn nữa, họ đã không hoàn tất mùa trong năm 1908. Chủ tịch danh dự hiện nay và đồng thời là người sở hữu Inter là Massimo Moratti. Cha ông, Angelo Moratti là chủ tịch Inter trong thời kì vàng son những năm 1960. Massimo, trong nỗ lực cạnh tranh với thành công lớn của cha mình, đã dành ra những khoản tiền rất lớn để đưa về câu lạc bộ những cầu thủ tốt nhất thế giới nhưng mãi vẫn không thành công khi từ năm 1989 đến 2006 không thể giành được 1 scudetto nào cả, mãi đến khi vụ Calciopoli nổ ra Inter của ông mới có thể đoạt được chiếc scudetto đầu tiên dù rằng là trên giấy tờ,tuy nhiên nhân đà chiến thắng Inter đã đoạt thêm 4 scudetto nữa vào 4 năm kế tiếp, đặc biệt là scudetto thứ 16, đoạt được vào năm bách niên của Inter (1908-2008). == Hoạt động == Theo Deloitte Football Money, Inter đạt doanh thu €196.500.000 trong mùa giải 2008-09 để vươn lên xếp hạng ở vị trí thứ 9, xếp sau Juventus ở vị trí thứ 8, và hơn đối thủ cùng thành phố AC Milan xếp ở vị trí thứ 10. Câu lạc bộ đạt doanh thu vượt xa mùa giải trước đó của họ (€172.900.000). Trong mùa giải 2009-10, Inter vẫn ở vị trí thứ 9, vượt qua Juventus (thứ 10), nhưng lại để AC Milan vượt lên trở thành CLB của Ý đạt doanh thu cao nhất (thứ 7). Mùa giải 2010-11, Inter đứng thứ 8, nhưng vẫn đứng sau Milan. Từ năm 2011, vị trí trên bảng xếp hạng của Inter đã giảm xuống còn 11 trong năm 2011-12, 15 trong năm 2012-13 và 17 trong mùa giải 2013-14. Mùa giải 2008-09, tỷ lệ phần trăm doanh thu được chia đều giữa việc bán vé (14%, €28.200.000), bản quyền truyền hình (59%, €115.700.000, + 7%, + €8.000.000) và thương mại (27%, €52.600.000, + 43%). Nike và Pirelli tài trợ €18.100.000 và €9.300.000 tương ứng với doanh thu thương mại, trong khi doanh thu phát sóng được tăng €1.600.000 (6%) khi Inter được dự Champions League. == Nhà tài trợ == Một trong những người sáng lập của Inter, một họa sĩ tên là Giorgio Muggiani, chịu trách nhiệm cho việc thiết kế các logo của Inter vào năm 1908. Việc thiết kế đầu tiên là dòng chữ 'FCIM' ở trung tâm của một loạt các vòng tròn hình thành các huy hiệu của câu lạc bộ. Các yếu tố cơ bản của thiết kế vẫn không đổi ngay cả khi chi tiết tốt hơn đã được sửa đổi trong những năm qua. Bắt đầu từ mùa giải 1999-1900, câu lạc bộ đỉnh ban đầu đã được giảm kích thước, để nhường chỗ cho việc bổ sung tên và nền tảng năm của câu lạc bộ ở phần trên và dưới của logo tương ứng. Sau này, logo đã được đưa ra một cái nhìn hiện đại hơn với ngôi sao Scudetto nhỏ hơn và màu sắc nhẹ hơn. Phiên bản này đã được sử dụng cho đến tháng 7 năm 2014, khi câu lạc bộ quyết định thực hiện một thương hiệu riêng. Sự khác biệt lớn nhất giữa logo hiện tại và logo trước là việc loại bỏ ngôi sao của logo trên những phương tiện truyền thông khác. Từ khi thành lập vào năm 1908, sắc màu truyền thống Inter là sọc đen và xanh. Có tin đồn rằng màu đen đã được lựa chọn để đại diện cho ban đêm và màu xanh đã được lựa chọn để đại diện cho bầu trời. Trong một thời gian ngắn ở Thế chiến II, Inter tiếp tục mặc các sọc màu đen và màu xanh, tạo cho họ biệt danh Nerazzurri (Xanh đen trong tiếng Ý). Tuy nhiên, Inter đã buộc phải từ bỏ đồng phục màu đen và màu xanh của họ. Năm 1928, tên và triết lý của Inter đã cầm quyền Đảng phát xít. Kết quả là, trong năm câu lạc bộ đã sáp nhập với nhóm Unione Sportiva Milan và được đặt tên Società Sportiva Ambrosiana sau khi vị thánh bảo trợ của Milan. Lá cờ của Milan (chữ thập đỏ trên nền trắng) thay thế các màu đen truyền thống và màu xanh. Sau khi Thế chiến II, khi thế lực phát xít đã giảm, câu lạc bộ trở lại là tên gốc và màu sắc truyền thống. Năm 2008, Inter kỷ niệm bách niên của họ với chữ thập đỏ trên mẫu áo sân khách. Thập giá gợi nhớ đến lá cờ của thành phố Milano, và họ tiếp tục sử dụng chi tiết này trên trang phục thứ ba. Loại vật thường được sử dụng để đại diện cho các câu lạc bộ bóng đá ở Ý. Rắn cỏ, gọi là Il biscione là con vật đại diện cho Inter. Con rắn là một biểu tượng quan trọng cho thành phố Milan, xuất hiện thường xuyên trong huy hiệu Milanese như một con rắn cuộn với một người đàn ông trong miệng của nó. Biểu tượng nổi tiếng với sự hiện diện của nó trên chiếc áo khoác của Sforza (người đã cai trị nước Ý, từ Milan trong thời kỳ Renaissance), thành phố Milan, di tích lịch sử Duchy của Milan (một nhà nước 400 năm của thời La Mã), và Insubria (một khu vực lịch sử thành phố Milan). Mùa giải 2010-11 mẫu áo sân khách của Inter có in hình một con rắn. == Sân vận động == Sân vận động mà Inter thi đấu được gọi là Stadio Giuseppe Meazza, cũng được biết đến với tên San Siro (sân này ở trong quận "San Siro"). Sân được xây dựng vào tháng 12 năm 1925 theo mong muốn của Piero Pirelli, chủ tịch AC Milan. Sân được khánh thành vào ngày 19 tháng 9 sau 1 năm khởi công, và mở màn là 1 trận Derby Milano, trận đấu đã kết thúc với tỷ số 6-3 nghiêng về Milan. Hội đồng thành phố Milan mua lại SVĐ vào năm 1935, và 4 năm sau nó được nâng cấp thêm 15.000 chỗ ngồi. Đội tuyển Anh là những khách mời danh dự cho buổi ra mắt sân sau khi sửa chữa vào ngày 13/5/1939. Trước đây nó chỉ được biết đến với cái tên San Siro, tên mới được đặt vào năm 1980 sau khi Giuseppe Meazza qua đời. Meazza là một cầu thủ nổi tiếng của Internazionale trong thập niên 1930 và cũng đã từng thi đấu cho A.C. Milan trong một thời gian ngắn. Với vai trò là một cầu thủ, ông đã giành hai chức vô địch World Cup khi khoác áo tuyển Ý (vào các năm 1934 và 1938), cùng với Giovanni Ferrari trở thành một trong hai cầu thủ Ý duy nhất đoạt chức vô địch FIFA World Cup hai lần. Ông nhận được sự tôn kính của những Interisti (người hâm mộ Inter) và rất được kính trọng bởi một trong những sân vận động nổi tiếng nhất trên thế giới mang tên ông. Vào năm 1955, sân được mở rộng lên đến 50,000 chỗ ngồi, hiện nay sân có sức chứa 80,074 chỗ và là sân nhà của cả Internazionale và A.C. Milan. Inter trở thành đồng sở hữu sân với Milan vào năm 1947, và hai đội vẫn chung “nhà” kể từ đó cho tới nay. Một thập kỷ sau ngày Nerazzurri giành nửa quyền sở hữu San Siro, các bộ đèn pha được lắp đặt để phục vụ các trận đấu thuộc đấu trường châu Âu. Một số trận đấu, người ta thống kê có tới 100.000 đèn pha được sử dụng. Trước đó, dưới thời Ambrosiana-Inter, đội có sân nhà là sân Arena Civica, với sức chứa 30.000 chỗ. Cấu trúc của SVĐ ngày nay đã được làm mới. Để chuẩn bị cho World Cup 1990, tầng 3 khán đài đã được xây thêm, nâng tổng sức chứa của sân lên 87.500 chỗ, đồng thời tất cả khán đài được lắp ghế. 11 tòa tháp bên ngoài sân được bổ sung năm 1987, 4 trong số đó nằm ở 4 góc để nâng đỡ mái che. Tuy nhiên, do kể từ đó tới nay Giuseppe Meazza chưa nhận được sự đầu tư nào đáng kể, sân đã bắt đầu xuống cấp. Milan tính toán rằng 60% những chấn thương của mùa 2011/12 đến từ những trận đấu tại đây, buộc họ tính tới phương án thay mặt sân. Inter đồng ý, và rồi công ty Desso của Hà Lan được thuê để phủ một lớp cỏ mới lên sân, vào tháng 6 năm 2012. Công đoạn này khiến 2 đội bóng tốn 200.000 bảng. Vào năm 2016, sân được chọn để đăng cai tổ chức trận chung kết UEFA Champions League năm 2016. Giuseppe Meazza là sân vận động được tiêu chuẩn UEFA đánh giá là một trong nhũng sân vận động ưu tú bậc nhất châu Âu. Năm 2020 với kế hoạch tự xây 1 sân mới của AC Milan, thì sân Giuseppe Meazza sẽ được nhường toàn quyền sở hữu cho Inter Milan. == Cổ động viên == Inter là một trong những câu lạc bộ có nhiều cổ động viên lớn nhất ở Ý, theo một nghiên cứu tháng 8 năm 2007 của tờ báo Ý La Repubblica. Trong lịch sử, phần lớn nhất của các cổ động viên Inter từ thành phố Milan là đều là những tầng lớp trung lưu tư sản, trong khi các cổ động viên của AC Milan đã thường tầng lớp lao động. Thật vậy, những người hâm mộ Inter thường đặt biệt danh cho CĐV đối thủ AC Milan làcasciavit, có nghĩa là tua vít chỉ để chỉ ra nguồn gốc vô sản một bộ phận lớn của người hâm mộ Milan là tầng lớp lao động. Đổi lại, người hâm mộ Inter Milan được gọi là Bausch, nghĩa Người Milano, ám chỉ một trong những khuôn mẫu cổ điển của Milan bởi fan của Inter hình thành chủ yếu từ tầng lớp trung và cao của xã hội, hoàn toàn có nguồn gốc Milan. Khái niệm thành lập nhóm những người ủng hộ tại sân vận động đã được đề ra tại Milan bởi huấn luyện viên Helenio Herrera trong những năm sáu mươi thời điểm hoàng kimn nhất của Inter. Khán đaì Curva Nord của sân San Siro là nơi các fan hâm mộ của Inter đứng lên cổ vũ đôị bóng trong trận diễn ra trên sân nhà của họ. Những người ủng hộ Inter chia thành các nhóm ultras khác nhau bao gồm: Nam San 1969, Ultras 1975 Viking vào năm 1984, Unbreakable 1988 Bulldogs năm 1988, Brianza Alcoolica 1985 và Milan vào năm 1977. Các nhóm được thành lập đầu tiên để người hâm mộ có thể hỗ trợ đội bóng của Inter là Moschettieri và Aficionados trong thời đại của vĩ đại của Inter. Hiện nay nhóm cổ động viên lâu đời cũng như quan trọng nhất của Inter còn sót lại là Boys-San, thành lập năm 1969. Nhóm này được sinh ra từ vụ đào tẩu của một số kẻ từ Inter Club Fossati, sau đó từ giữa năm 1966 và 1968, chủ tịch Inter khi ấy là Carlo Cerquetti đã đặt tên nhóm là Boy lấy cảm hứng từ một cậu bé tinh quái, nhân vật chính của một số phim hoạt hình được công bố trên tạp chí tại Italia. Năm 1969, khi trở về từ một chuyến đi đến Bologna, một số người ủng hộ không đồng ý với chủ tịch của câu lạc bộ là Fossati, nên đã tách ra và thành lập một nhóm riêng biệt. Tên gọi ban đầu là 11 aces, Boys - Furies Nerazzurri và các biểu ngữ đầu tiên xuất hiện vào tháng năm 1970 tại Rome. Cũng như các nhóm chính của Boys San, bốn nhóm sau này bao gồm: Viking, Irriducibili, Ultras, và Brianza Alcoolica. Ngoài ra, một nhóm CĐV Inter được biết đến với cái tên Curva Nord, họ ngồi ở khán đài phía bắc của sân vận động Giuseppe Meazza. Với truyền thống lâu đời này, nhóm Curva Nord là đồng nghĩa với việc sống chết vì CLB, giăng biểu ngữ, cờ và cả việc biểu tình. Trong năm bảy mươi, sự kình địch và khốc liệt đã xảy ra với những màn xô xát với nhóm fan hâm mộ của các câu lạc bộ khác, tất cả đều là người hâm mộ của Juventus, của Atalanta, Sampdoria và đặc biệt là AC Milan. Các fan hâm mộ của Inter đã kết nghĩa với nhóm fan hâm mộ của Varese (kình địch của Varase là Como đã kết nghĩa với nhóm fan của AC Milan), ngoài Varese còn có Valencia và đặc biệt là nhóm cổ động viên của Lazio. Mối quan hệ mật thiết với Lazio chắc chắn là một trong những sự kết nghĩa vững chắc nhất và quan trọng ở Ý, nguồn gốc của nó là vào giữa những năm tám mươi để thể hiện sự đôí lập với một mối quan hệ khác là giữa Roma và Milan. Năm 2010 tại sân vận động Olympico, nơi các fan hâm mộ Lazio muốn Inter đánh bại đối thủ không đội trời chung là AS Roma để giành cú ăn ba. == Số áo huyền thoại == Inter Milan cũng là một trong những đội bóng tại Serie A như S.S.C. Napoli (treo áo số 10 của Diego Maradona), AC Milan (treo áo số 3 của Paolo Maldini và số 6 của Franco Baresi) nói riêng cũng như trên thế giới nói chung sử dụng cách treo số áo để tri ân những cầu thủ của mình. Hiện trong hệ thống số áo của câu lạc bộ Inter Milan có 2 số áo chính thức bị treo vĩnh viễn nhằm tôn vinh từng cá nhân của cầu thủ đã có đóng góp lớn trong lịch sử của câu lạc bộ. Cầu thủ đầu tiên được Inter vinh dự treo số áo là hậu vệ Giacinto Facchetti. Trong suốt sự nghiệp của mình, Facchetti chỉ thi đấu cho câu lạc bộ duy nhất là Inter Milan. Ông đã thi đấu cho Inter tổng cộng 634 trận trên tất cả các đấu trường đồng thời ghi cho đội bóng áo xanh đen 75 bàn thắng. Facchetti giải nghệ vào năm 1978 sau hơn 18 năm cống hiến cho đội bóng. Vào năm 2004, ông được vinh dự là người được chọn để ngồi vào chiếc ghế chủ tịch Inter. Danh hiệu duy nhất khi không còn là cầu thủ là danh hiệu Scudetto năm 2006 của Inter khi vụ bê bối dàn xếp tỉ số diễn ra, Inter được Tòa án thể thao Ý trao chức vô địch. Sau đó vào tháng 9 năm 2006, Facchetti qua đời, nhằm tôn vinh những giá trị về mặt thành tích cũng như tinh thần mà ông đã cống hiến cho Inter trong suốt sự nghiệp, chủ tịch Inter sau đó là Moratti đã quyết định treo chiếc áo số 3 của Facchetti. Ngoài Giacinto Facchetti, còn một cầu thủ khác có vinh dự được treo số áo khi còn thi đấu là hậu vệ Javier Zanetti. Zanetti gia nhập Inter vào năm 1995, thời kì mà nhà tỉ phú Massimo Moratti mới bắt đầu đến và phục hưng Inter. Bốn năm sau khi gia nhập đội chủ sân Giuseppe Meazza, Zanetti đã nhận tấm băng đội trưởng từ Giuseppe Bergomi. Từ đó Zanetti chính thức trở thành người đội trưởng mẫu mực của Inter trong các mùa giải từ những thất bại cho đến thành công hậu Calciopoli. Mùa giải 2013-14 là mùa giải cuối cùng mà Zanetti thi đấu trong bộ trang phục của Nerazzurri. Sau hơn 15 năm đeo tấm băng đội trưởng, Zanetti đã ra sân thi đấu cho Inter 858 trận đấu trên tất cả các giải và ghi 21 bàn thắng. Để tri ân cầu thủ người Argentina vì sự cống hiến thầm lặng và miệt mài này, ban lãnh đạo Inter đã quyết định treo chiếc áo số 4 của Zanetti, đồng thời mời anh nhận lãnh chức phó chủ tịch của câu lạc bộ. == Kình địch == === Tại Serie A === ==== Derby d'Italia ==== Derby d'Italia là tên được đặt cho các trận bóng đá giữa câu lạc bộ Internazionale của thành phố Milan và Juventus của thành phố Turin. Thuật ngữ này được đặt ra trở lại vào năm 1967 bởi nhà báo thể thao người Ý, Gianni Brera. Các trận đấu giữa Juventus và Inter có lẽ là trận đấu căng thẳng và quyết liệt nhất ở Ý giữa hai đội đến từ các thành phố khác nhau, bởi vì hai đội cũng được xếp hạng nhất nhì trong những trận thắng và bàn thắng tại Serie A. Khi hai đội bóng đến từ hai thành phố lớn nhất ở vùng Tây Bắc nước Ý, trận Derby d'Italia cũng để đại diện cho một sự cạnh tranh trong khu vực. Sự cố từ trận đấu này có đôi khi có liên quan đến các cuộc tranh luận chính trị giữa Turin và Milan là khu vực thủ đô và khu vực tương ứng của họ là Piedmont và Lombardy chủ yếu được cai trị bởi đảng đối lập khác nhau. Trong mùa giải 1997-98, một trận đấu trên sân Stadio delle Alpi, đã có tranh cãi về quyết định của trọng tài Piero Ceccarini khi ông không đưa ra một hình phạt cho Mark Iuliano khi anh này đã phạm lỗi thô bạo với 1 cầu thủ bên phía Inter là Ronaldo. Juventus khi ấy đang dẫn 1-0 sau đó lại được hưởng quả penalty nhưng Alessandro Del Piero đã đá hỏng, tuy nhiên Juventus vẫn giành chiến thắng 1-0 và đoạt Scudetto mùa giải đó với chỉ 1 điềm nhiều hơn Inter. Vụ việc gây tranh cãi nảy lửa trong quốc hội Ý trong một phiên tòa vào tháng 4 năm 1998. Khi ấy Juventus đã bị các cổ động viên Inter coi là "những tên trộm" khi đã được hưởng lợi từ những quyết định của trọng tài. Tuy nhiên sau vụ Calciopoli vào năm 2006, chức vô địch Serie A mùa giải 2005-06 của Juve được coi là có dính đến vụ bê bối dàn xếp tỉ số, thế là Scudetto năm ấy đã được trao cho Inter, đội bóng duy nhất trong sạch trong top 5 đội dẫn đầu Serie A mùa giải năm ấy. Như vậy có thể coi đó là một phần thưởng xứng đáng cho sự công bằng cách đó 8 năm. Tại thời gian diễn ra trận Derby d'Italia vào ngày 05 tháng 12 năm 2009 tại Turin, đã có những lo ngại về các ultras Juventus đe dọa tiền đạo của Inter là Mario Balotelli (người gốc Ghana) và hành động phân biệt chủng tộc từ những người hâm mộ không thích những cầu thủ châu Phi. Chủ tịch Juventus khi ấy là Jean-Claude Blanc và Mirella Scirea, vợ của huyền thoại Juventus, Gaetano Scirea, đã viết thư cho các nhóm cổ động viên cực đoạn công khai kêu gọi người hâm mộ không được phân biệt chủng tộc. Khi các cầu thủ Inter đã đến Turin, xe bus của đội đã ném trứng của một số người hâm mộ Juventus. Trận đấu ấy đã chứng kiến một chiếc thẻ đỏ và một số va chạm nóng trên sân, đặc biệt giữa thủ môn Juve, Gianluigi Buffon và tiền vệ của Inter, Thiago Motta. Vào năm 2011, Juventus đã trình lên những đoạn băng ghi âm của cố chủ tịch Inter, Giacinto Facchetti mà họ cho là Inter có dính líu và đề nghị Liên đoàn bóng đá Ý lật hồ sơ điều tra lại vụ Calciopoli nhằm đòi lại Scudetto năm 2006 từ tay Inter. Tuy nhiên vào tháng 7/2011 trong một cuộc họp bỏ phiếu kín cho việc Scudetto ở lại sân Giuseppe Meazza hay không, kết quả với 22 phiếu thuận, 1 phiếu chống và 2 phiếu trắng, Liên đoàn bóng đá Ý đã ra phán quyết Inter vẫn được giữ lại danh hiệu Scudetto năm 2006 đồng thời các công tố viên được phái đi điều tra không có đủ bằng chứng để kết tội đội bóng áo xanh đen có dính líu đến nghi án dàn xếp tỉ số. Mặc cho phán quyết đã được đưa ra, không chấp nhận thua kiện, Juventus vẫn tiếp tục gửi đơn kiện lên Tòa án thể thao Ý, tuy nhiên sau đó Tòa đã bác bỏ đơn kiện, và Scudetto năm 2006 sẽ mãi mãi thuộc về Inter. ==== Derby della Madonnina ==== Đối thủ cùng thành phố của Milan là câu lạc bộ Inter Milan, và trận đấu giữa hai đội thường được gọi là "Derby della Madonnina". Tên của trận derby đề cập đến Đức Trinh Nữ Maria, bức tượng trên đỉnh Nhà thờ Milan là một trong những điểm thu hút chính của thành phố. Các trận Derby Milano luôn được xem là những cuộc đối đầu kinh điển nhất trong làng bóng đá thế giới. Derby thành Milano được diễn ra ít nhất 2 lần trong năm, có khi được mở rộng đến Coppa Italia, hay các Cup châu Âu. Trong giữa những năm 1960, Inter là câu lạc bộ thành công hơn, khi giành được cúp châu Âu hai lần liên tiếp còn thời gian cuối những năm 1980 và 1990, Milan của Silvio Berlusconi là đội chiếm ưu thế hơn, với nhiều chiến thắng cả ở Ý và ở đấu trường châu Âu. Tại Serie A mùa giải 2009-10, Inter dưới sự dẫn dắt của Mourinho đã giành chiến thắng kép trước đối thủ Milan trong cả hai lượt trận. Tại trận lượt đi diễn ra từ vòng 2 Serie A, Inter đã đánh bại Milan với tỉ số đậm 4-0 và ở trận lượt về, Nerazzurri dễ dàng đánh bại Rossonerri với tỉ số 2-0. Tại mùa giải 2011-12, trong trận Derby della Madonnina, AC Milan khi ấy đang là đương kim vô địch mùa giải trước, họ cần một chiến thắng trước Inter để Juventus không thể đăng quan, trận đấu diễn ra với 6 bàn được ghi. Từ pha làm bàn mở tỉ số 1-0 của Milito, sau đó Inter bị dẫn ngược 1-2 trước khi Diego Milito ghi thêm 2 bàn thắng nữa để hoàn thành cú hattrick và một bàn của Maicon khép lại trận thắng 4-2 của Inter, qua đó chính thức biến Milan thành cựu vương. Còn ở Cup châu Âu, mùa giải 2002-03 Milan và Inter đã đụng nhau tại bán kết, sau trận lượt đi hòa 0-0, lượt về 2 đội tiếp tục hòa 1-1, Milan là đội đi tiếp nhờ luật bàn thằng trên sân khách. Cũng tại Cup châu Âu mùa giải 2004-05, tại vòng tứ kết lại diễn ra 2 trận Derby Milano, lượt đi Milan đã giành chiến thắng với tỉ số 2-0, còn ở trận lượt về Milan dẫn trước 1-0 nhờ bàn thắng của tiền đạo Andriy Shevchenko, nhưng tới phút 72 trận đấu phải bị hoãn lại do các cổ động viên Inter bạo động tấn công cầu thủ Milan, trong đó có thủ môn Dida, sau đó UEFA đã xử Milan thắng 3-0 qua đó giành quyền vào vòng bán kết với tổng tỉ số 5-0. Milan và Inter còn cho thấy sự khác biệt đối nhau ở phong cách chuyển nhượng, nếu Inter luôn đem về những cầu thủ Nam Mỹ thì Milan lại ưu tiên phát triển các tài năng trẻ của bóng đá Ý giống như Juventus. Trên sân cỏ còn có những cuộc đối đầu cá nhân như giữa Paolo Maldini-Javier Zanetti hay đáng nói nhất là anh em nhà Baresi, Franco của Milan và Giuseppe của Inter. ==== Cạnh tranh với Roma ==== Ngoài những cuộc đối đầu giữ các đội bóng của 2 thành phố Milano và Turin, thì các trận đấu với các đội bóng đến từ Rome là một trong số cặp đấu thu hút nhiều người xem nhất ở Italia, trong số đó có những màn đối đầu đỉnh cao giữa Inter Milan và AS Roma. Với việc AS Roma kết nghĩa với đối thủ không đội trời chung của Inter là AC Milan, đồng thời Roma cũng là kình địch của Lazio, câu lạc bộ đã kết nghĩa với Inter, đó cũng cho thấy có một sự cạnh tranh quyết liệt giữa thành Rome và Milano. Trong giai đoạn Grande Inter II của mình, Inter nhiều lần vấp phải sự canh tranh của Roma tại Serie A. Mùa giải 2006-07, Inter Milan đã đoạt danh hiệu Siêu Cúp Ý với tư cách nhà vô địch Scudetto khi danh hiệu này được trao cho Inter sau vụ dàn xếp tỉ số Calciopoli sau khi họ đánh bại Roma 4-3. Cũng trong mùa giải ấy, Inter đã vô địch Serie A với số điểm kỉ lục khi ấy là 97 điểm, xếp dưới họ là đội bóng thành Rome. Nhưng tại Coppa Italia, khi ấy còn thể thức đá chung kết ở lượt đi và về, tại trận lượt đi Inter Milan đã thảm bại 2-6 trước Roma, vì thế chiến thắng 2-1 ở trận lượt về chỉ giúp họ lấy lại danh dự trước khi nhìn Roma đăng quan. Sau đó đầu mùa giải 2007-08, Inter và Roma lại tiếp tục đối đầu nhau tại trận tranh Siêu Cúp và trận đấu kết thúc với tỉ số 1-0 nghiêng về Roma nhờ bàn thắng của Daniele De Rossi trên chấm phạt đền. Serie A mùa giải 2007-08, sự canh tranh đến chức vô địch giữa Inter và Roma có phần kịch tính hơn, khi tại trận đấu lượt đi ở Sân vận động Olimpico, Inter đã trả được món nợ ở chung kết Coppa Italia khi đả bại Roma đến 4-1. Cuối mùa Scudetto về tay Inter nhưng họ chỉ hơn đối thủ Roma đúng 3 điểm. Tại chung kết Coppa Italia, hai đội lại gặp nhau 1 lần nữa, kết quả Roma giành chiến thắng 2-1 và tiếp tục qua mặt Inter để đoạt Cúp vô địch. Khi Inter được huấn luyện viên José Mourinho dẫn dắt, một lần nữa AS Roma lại là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với họ. Đỉnh cao của sự kịch tính là khi Roma đánh bại Inter trên sân Olimpico tại trận đấu lượt về, sau đó Inter mất vị trí nhất bảng vào tay Roma. Nhưng không lâu sau đó chính Roma cũng thất bại trước Sampdoria, và ngôi đầu quay về tay Inter cho đến khi mùa giải kết thúc. Tại chung kết Coppa Italia năm 2010, Inter cũng gặp Roma tại trận đấu cuối cùng, nhưng lần này người đoạt cúp là Inter khi đội bóng thành Milan đã đăng quang nhờ bàn thắng duy nhất của Diego Milito. Sau đó cũng tại trận tranh Siêu Cúp, Inter đã hạ Roma 3-1, và sau đó đoạt lấy danh hiệu thứ 4 trong năm 2010. == Tóm tắt hoạt động == == Danh sách cầu thủ == Số liệu thống kê chính xác tới ngày 29 tháng 1 năm 2016 Huấn luyện viên: Stefano Pioli Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cầu thủ cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Ban huấn luyện === === Ban điều hành === == Thành viên nổi bật == === Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA === Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA khi đang chơi cho Inter Milan: 2002 – Ronaldo 1997 – Ronaldo 1991 – Lothar Matthäus === Quả bóng vàng châu Âu === Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho Inter Milan: 1997 – Ronaldo 1990 – Lothar Matthäus === World Soccer Player of the Year === Cầu thủ đoạt giải World Soccer Player of the Year khi đang chơi cho Inter Milan: 2002 – Ronaldo 1997 – Ronaldo 1990 – Lothar Matthäus === Thủ môn xuất sắc nhất năm của IFFHS === Cầu thủ đoạt giải Thủ môn xuất sắc nhất năm của IFFHS khi đang chơi cho Inter Milan: 1989 – Walter Zenga 1990 – Walter Zenga 1991 – Walter Zenga === Cầu thủ xuất sắc nhất năm của UEFA === Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của UEFA khi đang chơi cho Inter Milan: 1997–98 – Ronaldo 2009-10 – Diego Milito === Cầu thủ Ý trong năm của Serie A === Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ Ý trong năm của Serie A khi đang chơi cho Inter Milan: 2002 – Christian Vieri === Cầu thủ nước ngoài trong năm của Serie A === Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ nước ngoài trong năm của Serie A khi đang chơi cho Inter Milan: 1998 – Ronaldo 2008 – Zlatan Ibrahimović 2009 – Zlatan Ibrahimović 2010 – Diego Milito === Thủ môn trong năm của Serie A === Cầu thủ đoạt giải Thủ môn trong năm của Serie A khi đang chơi cho Inter Milan: 2009 – Júlio César 2010 – Júlio César === Hậu vệ xuất sắc nhất năm của Serie A === Cầu thủ đoạt giải Hậu vệ xuất sắc nhất năm của Serie A khi đang chơi cho Inter Milan: 2007 – Marco Materazzi 2010 – Walter Samuel === Capocannonieri (Vua phá lưới Serie A) === Cầu thủ đoạt giải Capocannonieri khi đang chơi cho Inter Milan: 1926-27 – Anton Powolny (22 bàn) 1929-30 – Giuseppe Meazza (31 bàn) 1935-36 – Giuseppe Meazza (25 bàn) 1937-38 – Giuseppe Meazza (20 bàn) 1948-49 – Stefano Nyers (26 bàn) 1958-59 – Antonio Valentin Angelillo (33 bàn) 1964-65 – Sandro Mazzola (17 bàn) 1970-71 – Roberto Boninsegna (24 bàn) 1971-72 – Roberto Boninsegna (22 bàn) 1988-89 – Aldo Serena (22 bàn) 2002-03 – Christian Vieri (24 bàn) 2008-09 – Zlatan Ibrahimović (25 bàn) 2014-15 – Mauro Icardi (22 bàn) === Cầu thủ vô địch thế giới === Đã có 19 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo Inter Milan. Ngoài Youri Djorkaeff (vô địch thế giới cùng đội tuyển Pháp), Ronaldo (vô địch thế giới cùng Brasil), cùng bộ 3 cổ xe tăng Đức Lothar Matthäus, Andreas Brehme và Jürgen Klinsmann (vô địch thế giới cùng Đức), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Ý: === Cầu thủ vô địch châu Âu === Đã có 7 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo Inter Milan, ngoài Laurent Blanc (vô địch châu Âu cùng tuyển Pháp), Luis Suárez (vô địch châu Âu cùng tuyển Tây Ban Nha), Giorgos Karagounis (vô địch châu Âu cùng tuyển Hy Lạp), các cầu thủ còn lại đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Ý năm 1968: == Lãnh đạo == Trong lịch sử, Inter đã trải qua 64 đời huấn luyện viên để có sự quản lý kỹ thuật (trong đó có 2 đời HLV tạm quyền như Giuseppe Meazza và Luis Suárez, phụ trách cả hai công việc huấn luyện chính thức và tạm thời). Các huấn luyện viên trưởng không mang quốc tịch Ý là một người Anh, Bob Spottiswood từ mùa giải 1921-1922. Huấn luyện viên nhiệm kỳ lâu nhất tại văn phòng Helenio Herrera, ông có mặt trong nhóm các vị trí lãnh đạo của đội trong vòng chín năm, trong đó có tám mùa giải liên tiếp 1960-1968, một kỷ lục đối với một huấn luyện viên nước ngoài trên băng ghế dự bị của các câu lạc bộ Ý, cùng ba chức vô địch Serie A, hai cup châu Âu và hai cup Liên lục địa. Huấn luyện viên thành công thứ hai trong lịch sử là Roberto Mancini, HLV của câu lạc bộ trong 2 nhiệm kỳ 2004-2008, và 2014-2016, ông là người duy nhất giúp Inter giành ba chức vô địch Serie A liên tiếp, cũng như hai cúp quốc gia Ý và hai siêu cúp Ý. Đi thẳng vào lịch sử của Nerazzurri là José Mourinho, trong hai năm đã giành được hai chức vô địch Serie A, cúp quốc gia Ý, một siêu cúp Ý và đặc biệt là Champions League sau bốn mươi lăm năm trong mùa giải 2009-2010, mùa giải thành công nhất trong lịch sử với cú ăn ba (Serie A, cup quốc gia, Champions League) và trở thành câu lạc bộ duy nhất tại Ý (thứ sáu trong châu Âu) giành được chiến tích này. Người kế nhiệm Mourinho, một người Tây Ban Nha, Rafael Benitez, người đã dẫn dắt Inter đến những chiến thắng tiếp theo như Siêu cúp Ý và đặc biệt là ở FIFA Club World Cup, đưa Nerazzurri trên đỉnh của thế giới sau 45 năm. == Thành tích == === Danh hiệu chính thức === Trong nước 30 danh hiệu Serie A: 18 1909-10; 1919-20; 1929-30; 1937-38; 1939-40; 1952-53; 1953-54; 1962-63; 1964-65; 1965-66 () 1970-71; 1979-80; 1988-89; 2005-06; 2006-07; 2007-08; 2008-09; 2009-10 Coppa Italia: 7 1938-39; 1977-78; 1981-82; 2004-05; 2005-06; 2009-10; 2010-11 Supercoppa Italia: 5 1989; 2005; 2006; 2008; 2010 Quốc tế 9 danh hiệu UEFA Champions League/Cúp C1: 3 1963-64; 1964-65; 2009-10 UEFA Cup/Cúp C3: 3 1990-91; 1993-94; 1997-98 Vô địch Cúp Liên lục địa: 2 1964; 1965. Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1 2010 == Thống kê == === Top 20 cầu thủ ra sân nhiều nhất === === Top 10 cầu thủ ghi bàn nhiều nhất === == Chuyển nhượng == === Chính sách === Trong quá khứ, Inter Milan là câu lạc bộ của Serie A, nhưng đội bóng luôn ưa chuộng những cầu thủ nước ngoại, đặc biệt là những cầu thủ gốc Latin, đến từ Nam Mỹ. Khi ngài Massimo Moratti lên làm chủ tịch của câu lạc bộ Internazionale, ông biết mình phải làm gì để đưa Inter trở lại vị thế như thời kỳ Grande Inter thần thánh. Ngay lập tức Inter Milan đã ký hợp đồng với Javier Zanetti, khi ấy ở Ý, Zanetti chỉ là một cầu thủ vô danh và sau này trở thành người đội trưởng vĩ đại của Nerazzurri. Sau đó chỉ 2 năm khi lên nắm quyền, Moratti đã có một bản hợp đồng phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng thế giới lúc bấy giờ. Đó là thương vụ mua tiền đạo Ronaldo của Barcelona. Ronaldo được Barca mua từ câu lạc bộ của Hà Lan, PSV Eindhoven. Trải qua 37 trận đấu cho đội chủ sân Nou Camp, Ronaldo đã ghi được tổng cộng 34 bàn thắng, một con số thống kê đủ để thuyết phục Moratti bỏ ra 28 triệu euro, một con số kỷ lục để khiến Barca gật đấu, và trong năm ấy, Ronaldo đã về với sân Giuseppe Meazza để chơi bóng. Ngoài Ronaldo, Inter mùa hè năm ấy cũng đã có thêm 1 bản hợp đồng khác là Alvaro Recoba. Tuy không nổi tiếng bằng Ronaldo, nhưng cầu thủ trẻ mới chỉ 21 tuổi đến từ Uruguay, một quốc gia Nam Mỹ khác cũng đã khiến Moratti bỏ ra đến 17 triệu euro. Anh cùng với Ronaldo tạo thành một cặp tiền đạo nguy hiểm nhất của Inter Milan. Trong lịch sử, các cổ động viên của Inter và Lazio luôn có mối quan hệ tốt đẹp và hữu nghị, dĩ nhiên cả 2 câu lạc bộ cũng đều như thế trong các vụ làm ăn. Sau 2 năm kể từ vụ chuyển nhượng Ronaldo từ Barca, ngài chủ tịch Moratti đã khiến cả thế giới bất ngờ khi đem về tiền đạo Christian Vieri của Lazio với mức phí 45 triệu euro. Và chỉ một năm sau đó, Lazio đã được Inter sang nhượng hậu vệ Angelo Peruzzi với giá 18 triệu euro. Mối quan hệ giữa Inter và Lazio còn được khẳng định một lần nữa khi vào mùa hè năm 2002, Lazio đã để tiền đạo Hernán Crespo với giá 36 triệu euro và cũng một năm sau đó, Diego Simeone, một cầu thủ của Inter đã được câu lạc bộ chủ quản cho phép gia nhập Lazio. Tại kì chuyển nhượng mùa đông năm 2014, Inter Milan cũng đã có được Hernanes, nhạc trưởng của Lazio với mức giá 18 triệu euro. Vào mùa hè 2016, Inter đã có được nguồn tài trợ từ tập đoàn Trung Quốc, họ cũng đã ký thêm một bản hợp đồng đến từ Lazio là tiền vệ cánh Antonio Candreva khi đồng ý trả cho đội bóng thủ đô nước Ý 22 triệu euro. Theo như tên gọi Internazionale (theo tiếng Ý có nghĩa là quốc tế), Inter thường rất ít khi chiêu mộ những cầu thủ của Ý dưới thời chủ tịch Moratti. Một trong số ít đó là thủ môn Francesco Toldo. Toldo gia nhập đội chủ sân Giuseppe Meazza với mức phí 26.5 triệu euro từ câu lạc bộ Fiorentina, một mức giá kỷ lục cho một thủ môn tại Serie A, kỷ lục này chỉ bị phá bởi Gianluigi Buffon không lâu sau đó. Ngoài Toldo, còn một cầu thủ người Ý khác đã được Inter ký hợp đồng với giá cao là trung vệ Fabio Cannavaro. Vào năm 2002 sau khi hoàn tất hợp đồng mua Crespo, Inter đã mua 1 trung vệ để bỗ sung cho hàng thủ, và Fabio Cannavaro đã được Inter chọn, và anh gia nhập đội bóng xanh đen thành Milano sau khi con số 23 triệu euro đã khiến Parma dã gật đầu đồng ý. Inter Milan cũng là câu lạc bộ thích mua cầu thủ đến từ Serie A, và luôn ưu tiên cầu thủ gốc Nam Mỹ. Vì thế mà sau khi có được Cannavaro, Inter đã tiếp tục mua nốt tiền đạo người Brazil, Adriano của Parma. Khi vụ bê bối dàn xếp tỉ số Calciopoli nổ ra vào năm 2006, Juventus bị đánh xuống hạng, hàng loạt cầu thủ của Juve đã nhanh chóng liên hệ người đại diện để nhanh chóng tìm bến đỗ mới và Inter đã nhanh khai thác triệt để đội hình của đội bóng thành Turin. Kết quả họ đã bị Inter lấy đi 2 món hàng chất lượng là tiền đạo Zlatan Ibrahimović và tiền vệ Patrick Vieira với chỉ tổng cộng khoảng 35 triệu euro. Cũng trong quá khứ, Inter Milan và Real Madrid có một mối quan hệ tốt trong các vụ chuyển nhượng. Khi đó vào năm 2002 tại Tây Ban Nha, Barca muốn mua Fernando Morientes của Real, và mua lại Ronaldo của Inter. Bản thân Real cũng không tha thiết giữ lại Morientes nhưng lại không muốn bán trực tiếp cho kình địch Barca, thế là cả 2 đều liên hệ Inter Milan. Khi đó Barca sẽ để Real mua Ronaldo, Inter sẽ có Morientes và sẽ bán lại cho Barca vào tháng 1 năm sau. Inter tin Barca nên đã mua Crespo thay Ronaldo, nhưng sau đó Barca không muốn mua Morientes nữa, khi đó Real sẽ không có tiền mua Ronaldo và Inter không thể vừa trả lương cho cả Ronaldo lẫn Crespo được. Nhưng Real chịu lỗ vẫn mua Ronaldo giúp Inter vượt qua khó khăn. Bởi thế sau này họ luôn có những thương vụ chuyển nhượng thuận lợi, như Walter Samuel (gia nhập Inter năm 2005 giá 18 triệu euro) hay Esteban Cambiasso và Luis Figo vào những năm sau đó. Trong giai đoạn 2008-2010, Inter Milan được dẫn dắt bởi huấn luyện viên José Mourinho, chính sách chuyển nhượng của Moratti phải phụ thuộc vào Người đặc biệt để giúp đội bóng thành công. Mùa hè 2008, Moratti theo lời Mourinho đã chiêu mộ tiền vệ chạy cánh Ricardo Quaresma của Porto với giá 24 triệu euro. Mùa hè sang năm, Inter Milan đã ký hợp đồng với tiền đạo Diego Milito với giá 28 triệu euro và tiền Samuel Eto'o từ Barca trong một thương vụ trao đổi cầu thủ. Tại một trận giao hữu với Chelsea, Inter khi đó đã để thua 0-2, nhận thấy Inter đang thiếu đi một nhạc trưởng, Mourinho đã gọi cho Moratti với nội dung “Đội hình thế này đừng mơ vô địch”, sau đó vị chủ tịch của Inter liền mua ngay tiền vệ Wesley Sneijder. Sau đó Sneijder cùng Eto’o và Milito đã tạo thành bộ ba tấn công giúp Inter đoạt cú ăn ba mùa giải đó. Mùa giải 2010-2011 là một trong những mùa giải hiếm hỏi Inter mua các cầu thủ mang quốc tịch Ý như Andrea Ranocchia hay Giampaolo Pazzini. Tuy nhiên sau triều đại của Mourinho, Inter Milan dần chìm trong sự sa sút dẫn đến chi tiền vào thị trường chuyển nhượng hẹp dần. Câu lạc bộ chỉ mua về những cầu thủ có giá không quá 20 triệu euro, hay những lão tướng đã ngoài 30 tuổi. Ngoài những thăng trầm trong việc mua cầu thủ, Inter cũng đã từng có một thương vụ bán cầu thủ rất khôn ngoan. Đó là vào năm 2009, khi ấy Inter đã bán tiền đạo người Thụy Điển, Zlatan Ibrahimović với tổng giá trị là 69 triệu euro, gồm 46 triệu euro tiền mặt và lấy đi tiền đạo Samuel Eto'o của Barca các thêm vào. Sau đó Ibra chính là thương vụ mua bán hời nhất mà Inter đã thực hiện, ngoài ra họ còn có thêm 1 tiền đạo nữa để cùng Milito trở thành cặp tiền đạo xuất sắc nhất của Inter mùa giải 2009-10. Cũng chỉ 1 năm sau đó, Inter Milan đã để Mario Balotelli, một tiền đạo được coi là bad boy tại sân Giuseppe Meazza khi câu lạc bộ đã ép giá đội bóng mới nổi Manchester City khi bắt đại diện đến từ Anh phải trả cho Inter mức giá 30 triệu euro. Với số tiền đó Inter có thể bổ sung lực lượng đồng thời phòng thay đồ tại Giuseppe Meazza không còn nổi loạn. Cũng cùng kịch bản ấy, khi nhận thấy Eto’o có vẻ đã quá tuổi, và không còn phù hợp với chiến thuật, đồng thời một đội bóng đến từ Nga là Anzhi Makhachkala muốn có sự phục vụ của cầu thủ này, Inter đã nhanh chóng đồng ý, đổi lại câu lạc bộ nhận được 27 triệu euro, cái giá quá cao cho 1 cầu thủ không còn cần thiết cho đội bóng. === Kỷ lục === Đồng thời cũng có những thương vụ bán đắt giá: == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ (tiếng Ý, Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nhật và Bahasa Indonesia) Trang web của fan Inter Milan tại Việt Nam
thế vận hội mùa hè 1984.txt
Thế vận hội Mùa hè 1984, tên chính thức là Thế vận hội Mùa hè thứ XXIII, là một sự kiện thể thao quốc tế quan trọng diễn ra tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ năm 1984. Thành phố Tehran không được quyền đăng cai thế vận hội vì các lý do chính trị và xã hội thay đổi vào cuối thập niên 70. Khi Tehran - thành phố duy nhất đệ trình đăng cai Olympic 1984 xin rút lui, Los Angeles được trao quyền thay thế bởi IOC. Tại kỳ thế vận hội này, nhằm đáp trả hành động tẩy chay Olympic 1980 tại Moskva, Liên Xô của Hoa Kỳ và 62 nước đồng minh, Liên Xô và 16 nước xã hội chủ nghĩa đã quyết định không tham dự kỳ Olympic lần này. == Các môn thi đấu trao huy chương == === Thể thao trình diễn === Bóng chày Quần vợt == Các quốc gia tham dự == == Bảng tổng sắp huy chương == == Tham khảo ==
hiroshima (thành phố).txt
Thành phố Hiroshima (広島市, ひろしまし, Hiroshima-shi, Quảng Đảo thị) là thành phố, thủ phủ của tỉnh Hiroshima của Nhật Bản, là thành phố lớn nhất của Vùng Chūgoku ở phía Tây đảo Honshu. Diện tích: 905,01 km², dân số: 1.160.956 người. Tọa độ địa lý 34°23′7″B 132°27′19″Đ (Tòa thị chính). Thành phố này nổi tiếng thế giới trong lịch sử vì Vụ ném bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki trong Thế chiến thứ hai. Hiroshima được công nhận là thành phố ngày 1 tháng 4 năm 1889. Hiện là một thành phố quốc gia. Thị trưởng thành phố là Tadatoshi Akiba - nhậm chức từ 23 tháng 2 năm 1999. == Lịch sử == Hiroshima được thành lập năm 1589, bên bờ biển Seto Naikai, và trở thành trung tâm đô thị chính trong thời kỳ Minh Trị. Thành phố tọa lạc trên một vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn, bằng phẳng của sông Ota với 6 con kênh chia thành phố làm 6 hòn đảo nhô ra Vịnh Hiroshima. Địa hình thành phố hoàn toàn bằng phẳng. Hiroshima được Mori Motonari thành lập làm thủ phủ của mình. Khoảng nửa thế kỷ sau, sau trận chiến Sekigahara, cháu ông và lãnh đạo của Đội quân phía tây Mori Terumoto bị thất trận. Bên thắng trận Tokugawa Ieyasu tước hết mọi thái ấp của Mori Terumoto bao gồm cả Hiroshima giao Tỉnh Aki cho lãnh chúa (daimyo) (chư hầu ở Nhật Bản) khác đã ủng hộ mình. Cuối cùng Asano được chỉ định là daimyo của khu vực này và Hiroshima trở thành thủ phủ của tỉnh Hiroshima trong thời đại Edo. Sau khi huyện bị bãi bỏ thành phố trở thành thủ phủ của tỉnh Hiroshima. === Vụ ném bom nguyên tử === Xem bài chính Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki Đây là một trong hai thành phố trên thế giới đã từng bị ném bom nguyên tử. Quả bom mang tên "Little Boy" được máy bay "Enola Gay" của Không lực Hoa Kỳ thả xuống thành phố ngày 6 tháng 8 năm 1945, thời điểm sắp kết thúc Thế chiến thứ hai, giết chết ngay lập tức khoảng 80.000 người và phá hủy khoảng 68% các công trình xây dựng trong thành phố [1][2] [3]. Trong các tháng tiếp theo, ước tính có 60.000 người nữa chết vì thương tích do nhiễm độc phóng xạ[4][5]. Kể từ 1945, thêm nhiều ngàn hibakusha đã chết vì bệnh tật do nhiễm phóng xạn quả bom nguyên tử gây ra. Sau 1945, Hiroshima được xây dựng lại và tòa nhà còn lại gần nơi bom phát nổ nhất trở thành Genbaku Dome (原爆ドーム) hay là "Vòm bom nguyên tử", còn gọi là Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima. Chính quyền thành phố tiếp tục ủng hộ sự loại trừ hoàn toàn tất cả vũ khí nguyên tử. == Các khu hành chính == Hiroshima có 6 khu hành chính (行政区 gyōseiku): === Sau chiến tranh === == Các thành phố kết nghĩa == Hiroshima có nhiều thành phố kết nghĩa [6]: Montréal, Québec, Canada Trùng Khánh, Trung Quốc Daegu, Hàn Quốc Hannover, Đức Harrisburg, Pennsylvania, Hoa Kỳ Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ Volgograd, Nga == Tham khảo == == Liên kết ngoài == website chính thức tiếng Anh Các tuyên ngôn hòa bình tiếng Anh "Better World Links" on Hiroshima and Nagasaki Devotion to the Cause of Peace - Dự án của Hiroshima cho những người tình nguyện nam giới ở Bệnh viện Chữ thập đỏ Hiroshima và Bệnh viện Kummanoto chữa trị cho những người sống sót sau vụ bom nguyên tử Hiroshima Hiroden Streetcars Hiroshima City Hướng dẫn du lịch Công viên tưởng niệm nạn nhân bom nguyên tử ở Hiroshima Japan In Your Palm Hiroshima Travel Guide - PDA and Web Tưởng nhớ những nạn nhân bom nguyên tử người Triều Tiên How many died at Hiroshima?, analysis of the conflicting estimates Peter Rance's 1951 Ảnh về Hiroshima Satellite picture by Google Maps CityMayors article Nuclear Files.org Comprehensive information on the history, and political and social implications of the US atomic bombings of Hiroshima and Nagasaki. CBC Digital Archives - Bóng đen Hiroshima
đội tuyển bóng đá nữ quốc gia hoa kỳ.txt
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa Kỳ, hay còn được gọi ngắn gọn với tên USWNT, đại diện cho Hoa Kỳ tại các giải đấu quốc tế. Đội do Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ quản lý và thi đấu tại khu vực CONCACAF. Đội là một trong những đội bóng đá nữ hàng đầu thế giới với 3 chức vô địch thế giới (trong đó có chức vô địch giải đầu tiên năm 1991), 4 huy chương vàng bóng đá nữ Olympic, bảy lần vô địch Cúp vàng nữ CONCACAF và 10 Cúp Algarve.. Cùng với Đức, Hoa Kỳ là đội tuyển duy nhất từng đứng đầu bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. Đội hiện đang đứng vị trí số hai sau khi mất vị trí này vào tay đội tuyển Đức ngày 24 tháng 3 năm 2017. Đội được bầu là Đội tuyển của năm của Ủy ban Olympic Hoa Kỳ vào năm 1997 và 1999, còn Sports Illustrated bầu chọn cả đội tuyển là các Nữ vận động viên của năm 1999. == Lịch sử == Đội có trận đấu đầu tiên tại giải Mundialito vào ngày 12 tháng 8 năm 1985, dưới quyền của huấn luyện viên Mike Ryan, trận đấu mà họ thua 1-0 trước Ý. Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất là tại World Cup 1999 khi họ vượt qua Trung Quốc 5-4 ở loạt luân lưu trong trận chung kết.. Trên 90.000 người (con số lớn nhất cho một sự kiện thể thao nữ) đã lấp đầy sân Rose Bowl để theo dõi trận đấu. Trong loạt luân lưu, Brandi Chastain là người sút thành công quả quyết định và pha ăn mừng của cô trở thành hình ảnh đáng nhớ khi cô quỳ gối xuống mặt cỏ, vẫy chiếc áo thi đấu ăn mừng và để lộ chiếc áo ngực thể thao, hình ảnh sau đó xuất hiện trên bìa tạp chí Sports Illustrated và trang nhất của nhiều tờ báo trong và ngoài nước Mỹ. Chiến thắng này giúp đội trở nên nổi tiếng hơn đồng giúp cho bóng đá nữ nhận được nhiều sự chú ý hơn, cũng như tạo động lực cho những cô gái trẻ tham gia vào các môn thể thao. Vào tháng 3 năm 2004, 2 trong số các cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử của bóng đá nữ Hoa Kỳ nói riêng và bóng đá nữ thế giới nói chung, Mia Hamm (người sẽ giải nghệ trong năm 2004 sau khi kết thúc Thế vận hội Mùa hè 2004) và Michelle Akers (người đã giải nghệ), là 2 cầu thủ nữ cũng như 2 người Mỹ duy nhất có tên trong danh sách FIFA 100 gồm 125 cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé bầu chọn nhân kỷ niệm 100 năm FIFA ra đời. Tại Thế vận hội Mùa hè 2012, Hoa Kỳ giành huy chương vàng thứ 4 trong 5 lần dự Olympic khi hạ Nhật Bản 2-1 ở trận chung kết trước 80.203 cổ động viên có mặt trên sân Wembley. Trước đó trong trận bán kết gặp Canada, các cầu thủ Mỹ đã 3 lần vươn lên dẫn trước trước khi cú đánh đầu thành bàn của Alex Morgan ở phút thứ 3 thời gian bù giờ hiệp phụ thứ 2 ấn định chiến thắng 4-3. Bàn thắng của Morgan (phút thứ 123) là bàn thắng được ghi muộn nhất trong một trận đấu do FIFA tổ chức. Vào năm 2013, Hoa Kỳ giữ kỉ lục bất bại với 14 thắng và 2 hòa và là một phần trong chuỗi 43 trận kéo dài trong 2 năm. Chuỗi 43 trận bất bại kết thúc sau thất bại 1-0 trong trận gặp Thụy Điển ở Cúp Algarve 2014. Chuỗi trận bắt đầu bằng trận thắng 4-0 trước chính Thụy Điển tại Cúp Algarve 2012 sau trận thua 1-0 trước Nhật Bản. Vào tháng 12 năm 2013, USSF công bố đội hình 11 cầu thủ nữ xuất sắc nhất mọi thời đại của đội tuyển quốc gia USWNT All-Time Best XI. Ngày 5 tháng 7 năm 2015, Hoa Kỳ đánh bại Nhật 5-2 trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015, giành chức vô địch World Cup thứ ba của mình. Carli Lloyd ghi 3 bàn trong vòng 16 phút đầu tiên của trận đấu, trong đó có một bàn từ khoảng cách 52 mét, trở thành hat-trick nhanh nhất kể từ lúc bắt đầu trận đấu. Sau chức vô địch thế giới 2015, đội tuyển được tổ chức buổi diễu hành tung hoa giấy ở thành phố New York, buổi diễu hành tung hoa giấy đầu tiên của một đội thể thao nữ, và nhận giải Outstanding Team tại ESPY Awards 2015 và một giải Teen Choice Award cho Nữ vận động viên yêu thích. Đội một lần nữa được vinh danh vào ngày 27 tháng 10 năm 2015 khi tổng thống Barack Obama tiếp đón họ tại Nhà Trắng. Một năm sau tại Rio de Janeiro, Hoa Kỳ bước vào hành trình bảo vệ tấm huy chương vàng bóng đá nữ Thế vận hội. Tuy vậy họ để lại thất vọng lớn khi bị Thụy Điển hạ gục trong loạt penalty ở trận tứ kết. Sau giải, thủ môn chính của đội là Hope Solo bị Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ chấm dứt hợp đồng sau khi có phát ngôn coi thường đối thủ. == Hình ảnh của đội == === Truyền thông === Việc truyền hình trực tiếp tại Mỹ cho 5 kì World Cup nữ từ 1995 tới 2011 được cung cấp bởi ESPN/ABC và Univision, trong khi bản quyền của ba kì World Cup nữ từ 2015 tới 2023 được trao cho Fox Sports và Telemundo. Vào tháng 5 năm 2014 một hợp đồng được ki kết để phân chia bản quyền phủ sóng truyền hình của các trận đấu của đội tuyển nữ Hoa Kỳ giữa ESPN, Fox Sports, và Univision cho tới cuối năm 2022. Các trận của đội tuyển tại Giải vô địch bóng đá nữ CONCACAF 2014 và Cúp Algarve 2015 được Fox Sports phát sóng. Trận đấu được nhiều người theo dõi nhất của đội là trận chung kết World Cup 1999 với Trung Quốc, với kỉ lục số người tới sân xem cao nhất cho một sự kiện thể thao nữ: 90.185 người có mặt tại Rose Bowl ở California. Trận đấu giữ kỉ lục số người xem cao nhất tại Mỹ cho một trận đấu bóng đá nữ với trung bình 17.975 triệu người xem và ước tính ít nhất 40 triệu lượt người xem, và là trận đấu bóng đá (cả nam và nữ) phát sóng bằng tiếng Anh được nhiều người xem nhất cho tới trận chung kết World Cup 2015 giữa Mỹ và Nhật. === Trang phục === Màu trang phục của đội tuyển Mỹ kể từ khi thành lập hầu hết là xen kẽ giữa đỏ, trắng, hoặc xanh lam (màu quốc kỳ), với một số ngoại lệ như màu vàng ánh kim vào năm 2007, màu đen vào năm 2011, hay viền đen cùng tất màu xanh neon tại World Cup 2015. Năm 2012 đội bắt đầu mặc cùng màu áo với đội tuyển nam Hoa Kỳ, bắt đầu với bộ trang phục sọc ngang đỏ và trắng. Nike là nhà cung cấp trang phục thi đấu của LĐBĐ Mỹ vào năm 1995, và có thỏa thuận cung cấp trang phục cho tới năm 2022. Đội tuyển nữ Hoa Kỳ bắt đầu mang hai ngôi sao trên huy hiệu kể từ 1999 để tượng trưng cho hai chức vô địch thế giới. Ngôi sao thứ ba được thêm vào tháng 7 năm 2015. == Thành tích == === Giải vô địch bóng đá nữ thế giới === === Thế vận hội Mùa hè === == Đội hình hiện tại == Danh sách triệu tập cho trận gặp România ngày 13 tháng 11 năm 2016. Số trận và bàn thắng tính đến 13 tháng 11 năm 2016. == Ban huấn luyện == === Ban huấn luyện hiện tại === Nguồn: === Các đời huấn luyện viên trưởng === Số liệu thống kê chính xác tới 13 tháng 11 năm 2016 == Kết quả và lịch thi đấu == === 2016 === === 2017 === Lịch thi đấu Kết quả Lịch thi đấu và kết quả trên FIFA.com == Kỉ lục cá nhân == Đội tuyển nữ Hoa Kỳ là đội tuyển sở hữu 6 cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng đá khoác áo đội tuyển quốc gia đủ 200 lần (cả nam và nữ) gồm: Kristine Lilly, Christie Rampone, Mia Hamm, Julie Foudy, Joy Fawcett, Tiffeny Milbrett. Sau này còn có nhiều cầu thủ nữ của các quốc gia khác lặp lại thành tích này cũng như 4 cầu thủ Mỹ gồm: Kate Markgraf, Abby Wambach, Heather O'Reilly và Carli Lloyd. Kristine Lilly và Christie Rampone là những cầu thủ duy nhất có trên 300 trận quốc tế. Các cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu. Số liệu tính tới 15/9/2016 === Danh sách đội trưởng === == Danh hiệu khác == == Xem thêm == Danh sách các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đội tuyển bóng đá U-17 nữ quốc gia Hoa Kỳ Đội tuyển bóng đá U-20 nữ quốc gia Hoa Kỳ Đội tuyển bóng đá U-23 nữ quốc gia Hoa Kỳ National Women's Soccer League Bóng đá tại Hoa Kỳ Đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Thông tin trên FIFA
lạng sơn.txt
Lạng Sơn còn gọi là xứ Lạng là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam. == Địa lý == === Vị trí === Có vị trí 20°27'-22°19' vĩ Bắc và 106°06'-107°21' kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng: 55 km, Phía đông bắc giáp Sùng Tả (Quảng Tây, Trung Quốc): 253 km, Phía nam giáp tỉnh Bắc Giang: 148 km, Phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh: 49 km, Phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn: 73 km, Phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên: 60 km. Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu Ga đường sắt Đồng Đăng huyện Cao Lộc và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị; có một cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (Huyện Lộc Bình)và 10 lối mở biên giới với Trung Quốc. === Địa hình === Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh. Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông. === Khí hậu, thời tiết === Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng. Nhiệt độ trung bình năm: 17-22 °C Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200–1600 mm Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85% Lượng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió nói chung không lớn, trung bình 0,8–2 m/s song phân hoá không đều giữa các vùng trong tỉnh. === Hệ thống sông ngòi === Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trung bình đến khá dày, qua địa phận có các sông chính là: Sông Kỳ Cùng Độ dài: 243 km, Diện tích lưu vực: 6660 km², bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc huyện Đình Lập, sông Kỳ Cùng thuộc lưu vực sông Tây Giang Trung Quốc. Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, do vậy mảnh đất xứ Lạng còn được gọi là "nơi dòng sông chảy ngược". Sông Bản Thí, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 52 km, Diện tích lưu vực: 320 km², bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc Quảng Tây (Trung Quốc) đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùng ở xã Khuất Xá huyện Lộc Bình. Sông Bắc Giang, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 114 km, Diện tích lưu vực: 2670 km², Sông Bắc Khê, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, Độ dài: 54 km, Diện tích lưu vực: 801 km² Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (huyện Chi Lăng) chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang, Độ dài: 157 km, Diện tích lưu vực: 6640 km² Sông Hoá, Độ dài: 47 km, Diện tích lưu vực: 385 km² Sông Trung, Độ dài: 35 km, Diện tích lưu vực: 1270 km² == Các đơn vị hành chính == Lạng Sơn có một 1 thành phố và 10 huyện. Lạng Sơn có 226 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 207 xã, 5 phường và 14 thị trấn == Thay đổi hành chính == Sau khi Thăng long thất thủ 1592 nhà Mạc chạy về Cao bằng trong thời gian từ 1593-1677 đã xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng sơn để chống lại tiến công của Nhà Lê Trịnh. Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831). Từ ngày 9 tháng 9 năm 1891 đến ngày 20 tháng 6 năm 1905, là Tiểu quân khu Lạng Sơn thuộc Đạo Quan binh II Lạng Sơn. Sau đó tái lập tỉnh. Ngày 7 tháng 6 năm 1949, huyện Lộc Bình của tỉnh Hải Ninh nhập vào tỉnh Lạng Sơn. Trong kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1950, tỉnh Lạng Sơn có 9 huyện: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Văn Uyên. Ngày 1 tháng 7 năm 1956, huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang nhập vào tỉnh Lạng Sơn, đồng thời chuyển huyện Tràng Định của tỉnh Cao Bằng về tỉnh Lạng Sơn quản lý và tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc (được thành lập cùng ngày). Khu tự trị Việt Bắc tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975. Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Chi Lăng. Đến thời điểm này, huyện Bằng Mạc không còn tồn tại; hợp nhất 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng thành huyện Văn Lãng. Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978 nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, rồi lại tách ra như cũ. Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh về Lạng Sơn vừa tái lập. Ngày 17 tháng 10 năm 2002, chuyển thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn. Như vậy tỉnh Lạng Sơn có 1 thành phố và 10 huyện với tên gọi như hiện nay. == Giao thông == Có quốc lộ 1A, quốc lộ 1B, quốc lộ 31, quốc lộ 279, đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, sông Kỳ Cùng đi qua. == Dân cư == Dân số 831.887 người (điều tra dân số 01/04/2009));có 7 dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%,Kinh 16,5%,còn lại là các dân tộc Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông... == Kinh tế == Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lạng Sơn xếp ở vị trí thứ 53/63 tỉnh thành. == Văn học == Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, được nhắc đến nhiều trong thi ca Việt Nam, ví dụ như bài ca dao truyền khẩu dưới đây Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mảng vui quên hết lời em dặn dò. == Lễ hội == Theo số liệu khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn, đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với tính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Bủng Kham: được tổ chức vào mùng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm ở thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định. Tương truyền, Bủng Kham là nơi vui chơi giải trí của thần tiên. Lễ hội Lồng Tồng: được tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch hàng năm, một trong những lễ hội lớn nhất vùng với nghi lễ tín ngưỡng cầu thành hoàng và thần nông. Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hoá - thông tin Lạng Sơn, toàn tỉnh có khoảng hơn 200 lễ hội Lồng Tồng với quy mô tổ chức theo một thôn, bản, một xã, một khu vực hay vài xã. Lễ hội Pác Mòng: được tổ chức vào ngày 5 tháng giêng âm lịch hàng năm với quy mô lớn ở thành phố Lạng Sơn. Đình Pác Mòng thờ vua Đinh Tiên Hoàng và các tướng lĩnh nhà Đinh đã từng lên đánh giặc phương Bắc và dẹp loạn biên giới thời xưa. Nhiều đời sau, dân trong vùng cám ơn công lao của triều vua Đinh đã cùng nhau góp tiền của công sức, lập đình thờ phụng. Lễ hội Nàng Hai: được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 âm lịch hàng năm ở bản Nà Cạo, xã Chí Minh để cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu, cuộc sống yên vui. Lễ hội Ná Nhèm là nghi thức, nghi lễ thờ cúng thành hoàng làng gắn liền với sự tích đánh giặc, giữ làng của người Tày (Trấn Yên). Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa: Tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng riêng âm lịch tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, xã Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn. Lễ hội đền Bắc Lệ là tín ngưỡng thờ Mẫu điển hình, được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm. Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước. Lễ tắm ngai diễn ra trước lễ rước. == Ảnh == == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn
người cơ tu.txt
Người Cơ Tu (còn gọi là người Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang) là một dân tộc sống ở trung phần Việt Nam và Hạ Lào. Dân số người Cơ Tu có khoảng trên 76 nghìn người. Tại Việt Nam người Cơ Tu là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Cơ Tu nói tiếng Cơ Tu, một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer trong Hệ ngôn ngữ Nam Á. == Dân số và địa bàn cư trú == === Tại Việt Nam === Tại Việt Nam, theo điều tra dân số 1999 thì dân tộc này có dân số 50.458 người, cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn, tại các huyện Đông Giang, Tây Giang, (Quảng Nam), A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cơ Tu ở Việt Nam có dân số 61.588 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cơ Tu cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam (45.715 người, chiếm 74,2% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), Thừa Thiên-Huế (14.629 người, chiếm 23,8% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), Đà Nẵng (950 người), thành phố Hồ Chí Minh (54 người). === Tại Lào === Tại Lào, theo Ethnologue thì năm 1998 dân tộc này có 14.700 người, cư trú chủ yếu tại thượng nguồn sông Xê Kông, trong các tỉnh Xekong, Saravan, Champasak. == Kinh tế == Người Cơ Tu trồng cây lương thực theo lối phát rừng làm rẫy, thu hái các lâm thổ sản. Công cụ lao động khá nghèo nàn như rìu, dao, gậy chọc lỗ tra hạt. Các hoạt động kinh tế khác gồm có chăn nuôi, dệt, đan lát, hái lượm, đánh cá, săn bắn và trao đổi hàng hóa theo cách vật đổi vật. Trong năm chỉ có đúng 1 mùa làm rẫy, gieo vào tháng 3-4 và gặt vào tháng 10-11. Cây lương thực chủ yếu là lúa, ngô, sắn. == Hôn nhân và gia đình == == Văn hóa - Nhà cửa == Lễ hội đâm trâu hàng năm thường diễn ra trước mùa tỉa lúa, dựng lều giữa sân. Khi mặt trời ló dạng bắt đầu thủ tục cúng Giàng và các vị thần linh, hòa tấu khúc nhạc cúng từ nhạc cụ. Mọi người cùng nhau nhảy múa chung quanh con trâu, một người được cho là có công cho làng cho trâu uống nước. Đánh dấu điểm đâm, thịt trâu được chia cho cả làng cung nhau nướng ăn. Trong làng người Cơ Tu, các nếp nhà sàn tạo dựng theo hình vành khuyên hoặc gần giống thế. Ngôi nhà rông cao, to, đẹp, hơn cả là nơi tiếp khách chung, hội họp, cúng tế, tụ tập chuyện trò vui chơi. == Trang phục == Có cá tính riêng trong tạo hình và trang trí trang phục, khác các tộc người khác trong khu vực, nhất là trang phục nữ. Nam giới người Cơ Tu đóng khố, ở trần, đầu hoặc vấn khăn hoặc để tóc ngắn bình thường. Khố có các loại bình thường (không trang trí hoa văn và ít màu sắc), loại dùng trong lễ hội dài rộng về kích thước và trang trí đẹp với màu sắc và hoa văn trên nền chàm. Mùa rét, họ khoác thêm tấm choàng dài hai, ba sải tay. Tấm choàng màu chàm và được trang trí hoa văn theo nguyên tắc bố cục dải băng truyền thống với các màu trắng đỏ, xanh. Người ta mang tấm choàng có nhiều cách: hoặc là quấn chéo qua vai trái xuống hông và nách phải, thành vài vòng rồi buông thõng xuống trùm quá gối. Lối khoác này tay và nách phải ở trên, tay và vai trái ở dưới hoặc quấn thành vòng rộng từ cổ xuống bụng, hoặc theo kiểu dấu nhân trước ngực vòng ra thân sau. Phụ nữ Cơ Tu để tóc dài búi ra sau gáy, hoặc thả buông. Xưa họ để trần chỉ buộc một miếng vải như chiếc yếm che ngực. Họ mặc váy ngắn đến đầu gối, màu lanh khoác thêm tấm chăn. Họ thường mặc áo chui đầu khoét cổ, thân ngắn tay cộc. Về kỹ thuật đây có thể là một trong những loại áo giản đơn nhất (trừ loại áo choàng chỉ là tấm vải). Aáo loại này chỉ là hai miếng vải khổ hẹp gập đôi, khâu sườn và trừ chỗ tiếp giáp phía trên làm cổ. Khi mặc cổ xòe ra hai vai thoạt tưởng như áo cộc tay ngắn. Áo được trang trí ở vai, ngực, sườn, gấu, với các màu đỏ, trắng trên nền chàm. Váy ngắn cũng được cấu tạo tương tự như vậy: theo lối ghép hai miếng vải khổ hẹp gập lại thành hình ống. Họ ưa mang các đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay đồng hồ (mỗi người có khi mang tới 5,6 cái), khuyên tai bằng gỗ, xương, hay đồng xu, vòng cổ bằng đồng, sắt cũng như các chuỗi hạt cườm, vỏ sò, mã não.. Nhiều người còn đội trên đầu vòng tre có kết nút hoặc những vòng dây rừng trắng (rơnơk) và cắm một số loại lông chim. Một vài vùng có trục cưa răng cho nam nữ đến tuổi trưởng thành khi đó làm tổ chức lễ đâm trâu. Ngoài ra người Cơ Tu còn có tục xăm mình, xăm mặt. Đồ trang sức phổ biến là vòng tay, vòng cổ, khuyên tai. Các phong tục xăm mặt, xăm mình, cưa răng, đàn ông búi tóc sau gáy đã dần được loại bỏ. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
baku.txt
Baku (tiếng Azerbaijan: Bakı, IPA: [bɑˈcɯ]), đôi khi cũng viết Baki hay Bakou, là thủ đô và thành phố lớn nhất của Azerbaijan, cũng như thành phố lớn nhất nằm bên bờ biển Caspi và vùng Kavkaz. Baku tọa lạc tại nơi có độ cao 28 mét (92 ft) dưới mực nước biển, khiến nó trở thành thủ đô thấp nhất thế giới và cũng là thành phố lớn nhất nằm dưới mực nước biển. Baku nằm bên bờ năm của bán đảo Absheron, dọc theo vịnh Baku. Năm 2009, dân số Baku được ước tính là hơn hai triệu người. Khoảng 25% dân số đất nước sống trong vùng đô thị Baku. Baku được chia thành 7 quận hành chính (raion) và 48 thị trấn. Trong số này, có những thị trấn trên các đảo ở quần đảo Baku và thị xã Neft Daşları xây trên cọc ở biển Caspi, 60 km (37 mi) so với Baku. Trung tâm phố cổ Baku với cung điện của Shirvanshah và tháp Maiden đã được đưa vào di sản thế giới UNESCO năm 2000. Theo xếp hạng Lonely Planet thị Baku thuộc nhóm 10 điểm đến hàng đầu về cuộc sống về đêm. Thành phố là trung tâm khoa học, văn hóa và công nghiệp của Azerbaijan. Nhiều cơ quan quy mô của quốc gia nằm ở đây, bao gồm Công ty dầu khí quốc gia Azerbaijan, nằm trong nhóm 100 công ty hàng đầu thế giới. Hải cảng thương mại quốc tế Baku nằm trên các đảo của về phía đông quần đảo Baku và phía bắc bán đảo Absheron có thể xử lý 2 tấn hàng rời và hàng khô mỗi năm. Bởi những cơn gió mạnh và thô ráp, thành phố có biệt danh "Thành phố của gió" (Küləklər şəhəri). == Kinh tế == Ngành công nghiệp lớn nhất của Baku là dầu khí, và xuất khẩu dầu khí có một đóng góp lớn để cân bằng cán cân thanh toán của Azerbaijan. Sự hiện diện của dầu khí tại khu vực đã được biết đến từ thế kỷ thứ 8. Trong thế kỷ thứ 10, lữ hành gia Ả Rập, Marudee, báo cáo rằng dầu cả hai màu trắng và đen được chiết xuất tự nhiên từ Baku. Vào thế kỷ 15, dầu dùng cho thắp đèn này được thu thập bằng cách đào tay từ các giếng bề mặt. Khai thác thương mại bắt đầu vào năm 1872, và đầu thế kỷ 20, các mỏ dầu Baku là lớn nhất thế giới. Đến cuối thế kỷ 20 nhiều dầu khí trên bờ đã cạn kiệt, và việc khoan thăm dò đã mở rộng ra ngoài khơi biển. Đến cuối thế kỷ 19 công nhân lành nghề và chuyên gia đổ xô đến Baku. Đến năm 1900 thành phố có hơn 3.000 giếng dầu, trong đó 2.000 sản xuất dầu ở các cấp độ công nghiệp. Baku xếp hạng là một trong những trung tâm lớn nhất cho việc sản xuất các thiết bị ngành công nghiệp dầu mỏ trước khi chiến tranh thế giới thứ II. Trận Stalingrad Chiến tranh thế giới thứ II đã được diễn ra để xác định xem ai sẽ có quyền kiểm soát của các mỏ dầu Baku. Năm mươi năm trước khi trận đấu, Baku sản xuất một nửa nguồn cung cấp dầu của thế giới: Azerbaijan và Hoa Kỳ là hai nước duy nhất đã được sản xuất phần lớn dầu của thế giới. Hiện tại, nền kinh tế dầu Baku trải qua một sự hồi sinh, với sự phát triển của mỏ dầu Azeri-Chirag-Guneshli lớn (nước nông Gunashli SOCAR, còn mỏ sâu hơn của một tập đoàn dẫn đầu là BP), phát triển mỏ khí Shah Deniz, việc mở rộng kho cảng Sangachal và xây dựng các đường ống BTC. Sở Giao dịch Chứng khoán Baku là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất Azerbaijan và lớn nhất trong khu vực Kavkaz tính theo giá trị vốn hóa thị trường. Một số lượng tương đối lớn của các công ty xuyên quốc gia đặt trụ sở chính tại Baku. Các ngân hàng quốc tế với chi nhánh tại Baku bao gồm HSBC, Société Générale và Crédit Suisse. == Địa lý == == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Baku tại Wikimedia Commons
bác sĩ.txt
Bác sĩ còn gọi là Thầy thuốc là người duy trì, phục hồi sức khỏe con người bằng cách nghiên cứu, chẩn đoán và chữa trị bệnh tật và thương tật dựa trên kiến thức về cơ thể con người. Thầy thuốc có thể là bác sĩ đa khoa hay bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ Tây y hay thầy thuốc Đông y (dùng thuốc Nam, thuốc Bắc). Thành ngữ Việt Nam có câu "Lương y như từ mẫu" ý nói thầy thuốc phải là người có y đức chăm sóc cho người bệnh giống như mẹ hiền. Ở nhiều nước, sinh viên ngành y trước khi tốt nghiệp trở thành thầy thuốc phải đọc lời thề Hippocrates. Ngày 27 tháng 2 là ngày thầy thuốc Việt Nam. Thầy thuốc còn gọi là thầy lang, những thầy thuốc giỏi được tôn xưng là thần y, ngược lại những thầy thuốc dổm bị gọi là lang băm. == Từ nguyên == "Bác sĩ" là từ Hán Việt. Chữ Hán "博士" hợp thành từ "博", chỉ sự sâu rộng về kiến thức (như trong "uyên bác", "bác học"), và "士", chỉ người trí thức. Cả hai yếu tố này đều không có liên tưởng gì về ngành Y, nên việc dùng từ "bác sĩ" để chỉ người làm nghề Y trong tiếng Việt là sai lầm. Thực tế trong các ngôn ngữ sử dụng từ gốc Hán khác, "bác sĩ" là từ chỉ một học vị, mà người Việt gọi là "tiến sĩ". Cách dùng sai của người Việt có thể là do ảnh hưởng từ các ngôn ngữ châu Âu. Chẳng hạn trong tiếng Anh, "doctor" là danh hiệu vừa dùng để gọi người đạt học vị "Doctor of Philosophy" ("tiến sĩ triết học") hoặc "doctor" trong các lĩnh vực khác, vừa dùng để gọi người làm nghề Y tức "physician". == Xem thêm == Bác sĩ Bác sĩ đa khoa Dược sĩ Nha sĩ Y tá Điều dưỡng viên == Tham khảo ==
webkit.txt
WebKit là một khung ứng dụng nguồn mở cung cấp các thành phần cần thiết để xây dựng một trình duyệt web. WebKit được Apple Inc. chính thức nhận từ thư viện phần mềm KHTML của trình duyệt Konqueror để sử dụng như là một cỗ máy cho trình duyệt của hệ điều hành Mac OS X là Safari và được tiếp tục phát triển bởi dự án KDE, Apple, Nokia, Google, Torch Mobile và một số khác. Nó đã được chuyển thể sang rất nhiều nền tảng khác và bây giờ được dùng như là cỗ máy kết xuất của rất nhiều phần mềm khác nhau. WebKit là nguồn mở; các thành phần WebCore và JavaScriptCore được sử dụng và được bảo hộ bởi giấy phép GNU Lesser General Public License, và cả bộ WebKit có thể sử dụng với giấy phép kiểu BSD. == Lịch sử == === Nguồn gốc === WebKit bắt đầu khởi công từ năm 2002 khi Apple Inc. tạo một dự án phần mềm fork từ dự án của KDE là cỗ máy bố cục HTML KHTML và Cỗ máy JavaScript của KDE (KJS). Các nhà phát triển Apple giải thích trong một e-mail gửi tới các nhà phát triển KDE rằng các bộ máy này cho phép phát triển dễ hơn các công nghệ khác vì tính nhỏ gọn (ít hơn 140,000 dòng mã nguồn), thiết kế sáng sủa và hợp chuẩn. KHTML và KJS đã được chuyển thể sang Mac OS X với sự giúp đỡ của thư viện chuyển đổi và đổi tên thành WebCore và JavaScriptCore. JavaScriptCore được thông báo đến danh sách thư của KDE vào tháng 6 năm 2002, cùng với bản ra mắt đầu tiên với những thay đổi của Apple. WebCore được thông báo tại Macworld Expo vào tháng 1 năm 2003 bởi Apple CEO Steve Jobs với đợt phát hành của trình duyệt Safari. JavaScriptCore lần đầu tiên được phát hành kèm với Mac OS X v10.2 để sử dụng như là một bộ khung riêng để chạy ứng dụng Sherlock, trong khi WebCore lần đầu đi kèm với bản beta đầu tiên của Safari. Mac OS X v10.3 là hệ điều hành đầu tiên của Apple có WebKit, mặc dù nó đã xuất hiện trước đó ở một số ít bản 10.2. Tuy vậy, việc trao đổi các bản vá mã nguồn giữa hai phiên bản KHTML đã trở nên khó khăn do hai bên có cách viết mã khác nhau. Một lý do nữa là vì Apple làm việc với phiên bản KHTML của họ một năm trước khi đưa fork cho công chúng. Khó chịu về điều đó, dự án KDE đã có thể kết hợp các thay đổi đó để củng cố tốc độ kết xuất của KHTML và thêm vào các chức năng, bao gồm việc vượt qua bài kiểm tra Acid2. Konqueror 3.5 đã vượt qua bài kiểm tra Acid2, phiên bản được ra mắt sau khi Apple mở hệ thống CVS và Cơ sở dữ liệu lỗi phần mềm cho WebKit. Theo Apple, một số thay đổi gặp rắc rối với các tính năng đặc trưng của Mac OS X (vd., Objective-C, KWQ, các hàm gọi Mac OS X) không có trong KHTML của KDE, cần có một chiến lược phát triển khác. === Tranh cãi === Tại một thời điểm các nhà phát triển KHTML nói rằng họ không thể chấp nhận được những thay đổi của Apple và cho rằng mối quan hệ hai bên là một "thất bại cay đắng". Apple đã gửi các sửa đổi của họ trong một gói các bản vá lỗi lớn chứa rất nhiều sửa đổi lớn với tài liệu không tương xứng, thường dùng để thêm vào các chức năng trong tương lai. Dù vậy, các bản vá này đã gây khó khăn cho các nhà phát triển KDE để tích hợp chúng vào KHTML. Đi xa hơn nữa, Apple còn đòi hỏi các nhà phát triển KDE ký vào bản cam kết không tiết lộ trước khi xem mã nguồn của Apple kể cả việc họ không truy cập được vào cơ sở dữ liệu lỗi của Apple. Trong khoảng thời gian ly khai được mọi người biết đến, nhà phát triển KDE pipitas gửi viết một bài cho rằng các nhà phát triển KHTML đã cố gắng thêm các sửa đổi tăng cường của Safari (nhưng không phải tất cả) từ WebCore về KHTML, và họ cũng luôn luôn ủng hộ các cải tiến của Apple và đến bây giờ vẫn thế. Bài viết cũng nói đến việc Apple đã bắt đầu liên hệ với các nhà phát triển KHTML để thảo luận về việc cải thiện mối quan hệ giữa hai bên và việc hợp tác trong tương lai. Từ khi tin tức về bản fork xuất hiện tren báo chí, Apple đã cung cấp bản chi tiết những thay đổi trong KHTML của họ ở một kho chứa CVS. Bắt đầu từ lúc mã nguồn của Apple xuất hiện trên CVS, các nhà phát triển của cả hai bên đã tăng cường hợp tác. Rất nhiều nhà phát triển KHTML đã trở thành nhà phê bình và là người gửi bản Apple WebKit lên kho chứa SVN. Đội phát triển WebKit cũng đã hồi sửa lại những sửa đổi đặc trưng của Apple về mã gốc của WebKit và củng cố khả năng tương thích đa nền tảng cho WebKit. === Nguồn mở === Vào ngày 7 tháng 6, 2005, nhà phát triển Safari Dave Hyatt thông báo trên blog của anh rằng Apple đã mở mã nguồn WebKit (trước đó, chỉ có WebCore và JavaScriptCore là nguồn mở) và cho phép truy cập vào cây CVS của WebKit và công cụ Bugzilla. Tin này cũng được thông báo trong Hội nghị các nhà phát triển thế giới của Apple năm 2005 bởi tổng chủ tịch kỹ sư phần mềm Apple Bertrand Serlet. Vào giữa tháng 12 năm 2005 việc hỗ trợ cho định dạng SVG đã được cho vào bản chuẩn và vào gần tháng 1 năm 2006 mã nguồn đã được chuyển từ CVS thành Subversion. Tháng tiếp theo trang mạng Ars Technica gửi một bài viết thông báo rằng đội ngũ phát triển KDE muốn chuyển từ KHTML sang WebKit. === Phát triển sau này === Vào tháng 11 năm 2007, dự án thông báo rằng đã hoàn thành hỗ trợ cho các phương tiện chức năng của HTML 5, cho phép các đoạn video nhúng được dựng hình và điều khiển trong WebKit. Vào ngày 2 tháng 6, 2008, dự án WebKit thông báo rằng họ đã viết lại JavaScriptCore thành "SquirrelFish", một trình thông dịch bytecode. Dự án tiếp tục phát triển nó thành SquirrelFish Extreme (viết tắt SFX), ra mắt vào ngày 18 tháng 9, 2008, hoạt động bằng cách biên dịch JavaScript thành mã máy, việc từ bỏ thông dịch bytecode đã giúp tăng tốc các đoạn mã JavaScript. Trước đây SFX chỉ hỗ trợ kiến trúc x86, nhưng vào cuối tháng 1 năm 2009 SFX đã có thể chạy trong Mac OS X với kiến trúc x86-64 và nó đã vượt qua tất cả các bài kiểm tra trên nền tảng này. == Sử dụng == WebKit được sử dụng như là một cỗ máy dựng hình cho Safari chạy trên Mac OS X, Windows và iPhone OS. Các ứng dụng khác trên Mac OS X cũng có thể sử dụng WebKit, như trình khách e-mail của Apple Mail và Entourage của Microsoft phiên bản 2008, cả hai dùng WebKit để dựng hình các nội dung HTML bên trong ứng dụng của mình. Các trình duyệt web mới cũng sử dụng WebKit là Shiira và Chrome, ngoài ra một số trình duyệt khác dùng WebKit để thay thế cỗ máy dựng hình mặc định của nó như OmniWeb, iCab và Epiphany. Epiphany hỗ trợ cả Gecko và WebKit ở một số thời điểm, nhưng đội ngũ phát triển cho rằng vòng đời ra mắt của Gecko và việc lập kế hoạch phát triển cho nó có thể trở nên nặng nề, kém hiệu quả. === Chuyển hệ === Vài tuần sau khi Hyatt công bố việc mở mã nguồn WebKit, Nokia thông báo rằng đã chuyển hệ WebKit để chạy trên hệ điều hành Symbian và phát triển một trình duyệt dựa tren WebKit cho các điện thoại của họ, sau này được đặt tên là Web Browser for S60. Apple cũng đã chuyển hệ WebKit để chạy trên iOS (Apple) dành cho iPhone và iPod Touch, được dùng để hiển thị nội dung trong trình duyệt và trình khách thư điện tử, Android sử dụng WebKit là nền tảng cho trình duyệt web của nó, và Palm Pre, ra mắt tháng 6 năm 2009, có giao diện dựa trên WebKit. Vào tháng 6 năm 2007, Apple thông báo rằng WebKit đã được chuyển hệ sang cho Microsoft Windows như là một phần của Safari. Việc chuyển hệ cũng đang được tiếp tục cho các hệ điều hành nguồn mở như Syllable, Haiku và AROS. WebKit cũng đã được chuyển thể sang rất nhiều bộ công cụ khác nhau, như bộ công cụ GTK+,, bộ công cụ Qt và Adobe Integrated Runtime. Qt Software đã đóng gói kèm WebKit trong phiên bản 4.4 của Qt. WebKit của Qt cũng được Konqueror sử dụng trong KDE 4.1. Cũng có một dự án đồng bộ hoá với WebKit (tài trợ bởi Pleyo) gọi là Origyn Web Browser, cung cấp một nền tảng thống nhất của WebKit để nhúng vào các ứng dụng hệ thống nhanh và dễ dàng hơn. Bản chuyển thể này được dùng trong các hộp set-top, PMP và cả AmigaOS và AROS. Bản chuyển cho MorphOS từ OWB đang được phát triển. == Các thành phần == === WebCore === WebCore là thư viện bố cục, dựng hình, và mẫu đối tượng văn bản (DOM) cho HTML và SVG, phát triển bởi dự án WebKit. Toàn bộ mã nguồn của nó được bảo hộ dưới giấy phép LGPL. Khung WebKit bọc WebCore và JavaScriptCore, cung cấp API C-hướng đối tượng trở thành dựa trên C++ của bộ máy WebCore và JavaScriptCore, cho phép kết nối đến các ứng dụng dựa trên Cocoa API; các phiên bản sau này bao gồm các đa nền tảng trừu tượng, và rất nhiều các bản chuyển thể cung cấp sử dụng các API. WebKit vượt qua bài kiểm tra Acid2, và vào tháng 9 năm 2008, các bản cập nhật hàng đêm (bao gồm Safari 4) vượt qua bài kiểm tra Acid3 một cách dễ dàng, với cách dựng hình pixel-perfect và không có vấn đề không phụ thuộc vào phần cứng. === JavaScriptCore === JavaScriptCore là một khung cung cấp một cỗ máy JavaScript để yểm trợ cho WebKit, và cung cấp sử dụng kiểu ngôn ngữ này bên trong Mac OS X. JavaScriptCore có nguồn gốc chính thức từ cỗ máy JavaScript của KDE (KJS) (là một phần của dự án KDE) và thư viện biểu thức chính quy PCRE. Từ khi khởi công từ KJS và PCRE, JavaScriptCore được bổ trợ rất nhiều cùng với hiệu năng vượt trội. === Drosera === Drosera là trình dò bọ cho JavaScript đi kèm với các bản cập nhật hàng đêm của WebKit. Nó được đặt tên theo Drosera, một họ cây ăn thịt (v.d. cây ăn bọ). Drosera đã được thay thế bởi chức năng tương tự có trong Web Inspector. === SunSpider === Một bộ ứng dụng dùng để kiểm tra hiệu năng của JavaScript trong các tác vụ khác có liên quan đến JavaScript ở thế giới thực, như vẽ màn hình, mã hoá và trộn chữ. Bộ công cụ này tỏ ra cân đối và ổn định. Nó được phát hành bởi đội ngũ phát triển Apple WebKit vào tháng 12 năm 2007. Ứng dụng được đón nhận nồng nhiệt, và các nhà phát triển trình duyệt khác dùng nó để so sánh hiệu năng JavaScript giữa các trình duyệt. == Xem thêm == So sánh các cỗ máy bố cục Danh sách các trình duyệt dựa trên KHTML và WebKit Danh sách các cỗ máy bố cục đồ hoạ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức của dự án nguồn mở WebKit
chiến tranh biên giới việt–trung 1979.txt
Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước. Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm (xem Xung đột Việt–Trung 1979–90). Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa. == Tên gọi == Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc, 1979 hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989), bởi vì cho đến bây giờ họ vẫn cho là chỉ chống trả cuộc tấn công của Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3. == Bối cảnh == === Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô === Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước. Và hơn thế nữa, Hà Nội muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối. Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: "Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta". Năm 1974, Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa trong sự làm ngơ của Hoa Kỳ. Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu ra vấn đề Hoàng Sa, phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm nhà lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, ông cũng phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng "chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á". Ông rút ngắn thời gian thăm Trung Quốc và rời nước này mà không tổ chức tiệc đáp lễ Trung Quốc theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung, không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược". Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô. Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc. Ngày 1/11/1977, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc, trong một bài xã luận đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 30/7/1977, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa phát biểu: "Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia... và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể". Trung Quốc đòi quân đội Liên Xô phải hoàn toàn triệt thoái khỏi Mông Cổ, đồng thời giảm số lượng các lực lượng vũ trang trên suốt tuyến biên giới Trung-Xô. Sau đó, vào đầu tháng 4/1978, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev khi đi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, tuyên bố rằng sẽ triển khai trên tuyến biên giới các hệ thống vũ khí mới, ngoài những hệ thống vũ khí trang bị hiện đại đã có sẵn trên biên giới Trung-Xô. Ngày 12/4/1978, chính phủ Mông Cổ cũng công khai bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc, tuyên bố rằng lực lượng quân đội Liên Xô được tăng cường và triển khai dọc biên giới Mông Cổ - Trung Quốc là theo yêu cầu của Mông Cổ nhằm đáp trả việc tăng cường lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trên biên giới. Ngày 26/4/1978. Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu bổ sung thêm vào điều kiện công nhận sự tồn tại các vấn đề tranh chấp khu vực trên biên giới Trung-Xô. Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ (72 trong số 111 công trình viện trợ) không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút bớt chuyên gia về nước. Ngày 29/6/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. Ngày 3/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có những thoả thuận về quốc phòng như một hiệp ước về "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham khảo ý kiến ​​chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an ninh quốc phòng của cả hai nước". Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bị cắt. Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8/1978, Việt Nam có 4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến 5.000-8.000. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển. Liên Xô cũng tăng cường áp lực lên Trung Quốc với mục đích đạt được sự kéo dài Hiệp định Xô – Trung có giới hạn 30 năm về quan hệ Liên minh, Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày 14/2/1950 (hết hạn vào ngày 15/2/1979). Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trên tổng số quân thường trực chiến đấu là 3,6 triệu người, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn Hồng quân. Tháng 5/1979 trên biên giới Liên Xô - Trung Quốc xảy ra một xung đột quân sự nghiêm trọng có sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu. Cũng trong tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Ít lâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh xuống Cam Ranh. Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn với Việt Nam để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978) có giá trị trong 25 năm, trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự. Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô. Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng cường quan hệ đối với Việt Nam. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979 từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự kiện xung đột Việt Nam Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600 triệu năm 1978 và 890 triệu năm 1979). === Quan hệ Việt Nam - Campuchia - Trung Quốc === Năm 1975, sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ bác bỏ đề nghị đàm phán xây dựng mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại nước này âm mưu áp đảo Campuchia và lôi kéo Campuchia vào một Liên bang Đông Dương. Khmer Đỏ tìm đến Trung Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung Quốc từng ủng hộ Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt những năm 1960 và không nhiệt tình ủng hộ họ chống Lon Nol. Trung Quốc đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố rằng chính phủ mới sẽ được dẫn dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ do nước này cần một đồng minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc quan hệ Việt - Trung ngày càng xấu đi, đồng thời Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ bành trướng ở Đông Dương nên cần phải ngăn chặn "nguy cơ bá quyền của Việt Nam". Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của chính phủ Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc, “[Ngoại trưởng Trung Quốc] Hoàng Hoa lưu ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ lâu những kế hoạch cho một Liên bang Đông Dương”. Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố "kiên quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia". Đại sứ quán Trung Quốc ở Phnom Penh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến Campuchia thành vệ tinh của Trung Quốc. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các nước láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh thổ thuộc đế quốc Khmer đã bị các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Việt Nam chiếm từ thế kỷ 18 trở về trước. Hành động này bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc được khơi dậy từ thời Pháp thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk, Lon Nol và sau này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì đã tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung đột lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các vùng lãnh thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet và Surin, bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài tranh chấp biên giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng Khmer Serei chống Khmer Đỏ sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để tấn công Khmer Đỏ. Đáp lại, Khmer Đỏ cũng hỗ trợ những người cộng sản Thái Lan thiết lập "Angka Siam" chống đối chính quyền Thái Lan, và huấn luyện lực lượng này từ các tỉnh tỉnh Sisaket, Buriram và tỉnh Surin trên biên giới Thái. Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự. Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, song Trung Quốc im lặng. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia, Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam. Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn xược của Việt Nam. Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh viện trợ kinh tế cho Việt Nam, cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978. Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976. Tháng 2 năm 1976, trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen, Trung Quốc đã đồng ý viện trợ quân sự cho Campuchia 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978). Chính sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của nước này đối với các đảng cộng sản ở đông nam Á. Tháng 2 năm 1977, Trung Quốc nói với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấp viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh. Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977, Pol Pot có chuyến thăm tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước. Ngày 20/11/1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông qua việc "chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam". Lê Duẩn cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc đáp lễ Trung Quốc. Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi". Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa". Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng 1 năm 1978, bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnom Penh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu cũng tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự với Việt Nam. Ngày 17/6/1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam". Ngày 4/11/1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng sang Campuchia để bày tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Campuchia. Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R. Sardesai, từ năm 1975-1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn luyện quân đội Polpot". Theo Marish Chandona, tháng 7 năm 1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, nhưng đến tháng 1 năm 1978, Campuchia có 25 sư đoàn. Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả Campuchia cũng như Trung Quốc đều lên một đỉnh mới. Cùng lúc căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía tây nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam. Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành. Sau khi Phnompenh thất thủ, ngày 27/1/1979 tờ Nhân dân Nhật báo có bài viết, trong đó có đoạn: "Sự thất thủ của Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu" và "vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa". Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt Nam bài học". Tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia. Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công. Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với Việt Nam. === Vấn đề biên giới và hải đảo === ==== Biên giới ==== Cuộc đàm phán đầu tiên về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam - Trung Quốc được tiến hành từ ngày 15/8/1974 đến ngày 2/11/1974 ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Những xung đột ở biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng - Lạng Sơn vào cuối năm 1976 làm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng xấu đi. Tháng 3 năm 1977, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán lần thứ hai về vấn đề biên giới Cao Lạng - Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó đoàn Trung Quốc muốn giữ nguyên trạng để bàn về các biện pháp ngăn ngừa xung đột, trong khi chờ Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, hoạt động vũ trang mang tính khiêu khích tại biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15/2/1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, trong tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2 năm 1979 là 230 vụ. Không những vậy, Trung Quốc còn cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam. Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm biên giới Việt Nam tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc. ==== Hải đảo ==== Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh ký kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước họ. Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này. Ngày 10/9/1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa). Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24/9/1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn đề. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Ngày 10/11/1975, Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố ngày 24/9 của Đặng Tiểu Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến tranh chấp về các quần đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương thảo. Tuy nhiên trong công hàm trả lời ngày 24/12/1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề nghị này. Ngày 3/12/1975, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Kinh khẳng định với Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố này. Ngày 30/7/1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) mà không cần phải thương lượng gì hết". Ngày 7/10/1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên giới. Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối. Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. === Vấn đề Hoa Kiều === Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam. Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng ở miền Nam Việt Nam, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, "người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam" và dần dần chuyển thành công dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tự nguyện nhập quốc tịch Việt Nam. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách buộc người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc họ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ, ngược lại, Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc cho phép Hoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình. Cho đến năm 1975, giữa Việt Nam - Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở miền Bắc Việt Nam. Tháng 4 năm 1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam. Trung Quốc coi việc Việt Nam trong quá trình tiến hành cải tạo công thương nghiệp, tịch thu tài sản của giới công thương người Hoa ở miền Nam Việt Nam là một sự thách thức chính sách bảo vệ Hoa kiều của Trung Quốc. Phản ứng lại chính sách cải tạo công thương của nhà nước Việt Nam, một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam nổi lên. Trung Quốc đưa ra chính sách "đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều", kêu gọi chống lại chính sách "bài Hoa" của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt gốc Hoa về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam - Trung Quốc khiến cộng đồng người Hoa hoảng hốt. Chính sách của Việt Nam từ năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn thuần. Chính sách một quốc tịch bắt đầu, Hoa kiều nếu không nhập quốc tịch Việt Nam sẽ bị cho thôi việc, các báo và cơ sở giáo dục tiếng Hoa cũng bị đóng cửa. Do ảnh hưởng của những yếu tố trên, trong năm 1978 cộng đồng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc. Từ năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Ngày 30/4/1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ "sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt", hứa hẹn "sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng". Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước. Sau đó, tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại tại biên giới. Do có quá nhiều người Hoa xin nhập cảnh vào Trung Quốc, nước này đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những "nạn kiều người Hoa" đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ không nhận về "người Việt gốc Hoa", hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam. == Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc == Theo hồi ký của tướng Châu Đức Lễ, tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, tháng 9 năm 1978, tại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc diễn ra một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng". Mối quan tâm ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới. Đề xuất đầu tiên tại cuộc họp muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, Cao Bằng, Việt Nam giáp với Quảng Tây, Trung Quốc. Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cần có một cuộc tấn công tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn. Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào. Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước này rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia. Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra chỉ thị cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10 tháng 1 năm 1979 để thực hiện chiến dịch tấn công Việt Nam. Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc "phản công" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt chẽ biên giới của tổ quốc." Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia - một đồng minh của Trung Quốc và là một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông. Tiến sĩ Xiaoming Zhang, từ trường Air War College, Hoa Kỳ cho rằng Đặng Tiểu Bình quyết định tấn công Việt Nam vì "Nguyên do trước tiên và quan trọng nhất là cách Đặng phản ứng trước đe dọa của Liên Xô với Trung Quốc khi đó. Liên minh của Hà Nội với Moscow khiến Đặng tin rằng đe dọa của Liên Xô không chỉ từ phía bắc mà cả từ phía nam... Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng tấn công trừng phạt Việt Nam sẽ là cú đòn đánh vào chiến lược bành trướng toàn cầu của Liên Xô. Rốt cuộc có lẽ Trung Quốc đã phản ứng thái quá trước đe dọa của Liên Xô. Nhưng vào lúc đó, Đặng Tiểu Bình thực sự tin vào nó. Còn có những yếu tố khác tác động quyết định gây chiến của Đặng, gồm chính trị trong nước và quan hệ với Mỹ. "Hành vi sai trái" của Việt Nam, đặc biệt là liên minh với Liên Xô, làm người Trung Quốc giận dữ. Họ muốn trừng phạt đồng minh phản bội sau nhiều năm Trung Quốc phải hy sinh giúp đánh Mỹ. Các va chạm biên giới cũng khích động tình cảm người Trung Quốc. Yếu tố tình cảm đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự đồng thuận trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự ủng hộ Đặng gây chiến... Đặng tin rằng liên minh với phương Tây sẽ chứng tỏ Trung Quốc có giá trị trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô bành trướng và rằng để đổi lại, phương Tây sẽ giúp Trung Quốc cải tổ kinh tế. Ngoài ra, đấu tranh quyền lực trong đảng, cộng thêm phe nhóm trong quân đội, cũng khiến Đặng càng sẵn sàng có hành động quân sự chống Việt Nam. Theo ông ta, làm thế sẽ khuấy động ủng hộ trong nước và nước ngoài, tạo nên môi trường an toàn và ổn định để Trung Quốc hiện đại hóa.". Theo Carl Thayer, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Trung Quốc muốn "dạy cho Việt Nam một bài học" vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ. Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía nam của Trung Quốc. Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những kế hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làm thế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục. Theo phân tích của phía Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần này gồm: Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt-Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam. Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị quân độc lập khác của Việt Nam. Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ. == Tương quan lực lượng tham chiến == Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch., chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn. Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741. Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu. Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân. == Diễn biến == === Chuẩn bị === ==== Quân sự ==== Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, thì từ giữa năm 1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị quân đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, chỉ cần thời cơ đến là phát động chiến tranh. Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 đến cuối năm 1978, nhiều biện pháp trừng phạt Việt Nam bằng quân sự được đưa ra bàn thảo. Từ giữa tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung - Việt. Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam. Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc (khoảng 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979. Từ ngày 9 đến ngày 12/2/1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung. Ngày 16/2/1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp nước này. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian. Để cảnh báo Liên Xô và cũng nhằm ngăn chặn bị tấn công từ hai mặt, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung-Xô vào tình trạng báo động đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300.000 dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô. Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại thời điểm đó vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ chiến tranh và sẽ phản đối chiến tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu Bình chỉ một tuần trước khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962 với Ấn Độ, cộng với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân sự này "giới hạn về không gian và thời gian", khiến Hà Nội tin tưởng họ có khả năng cầm chân quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới. Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân tại các tỉnh biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương. Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến leo thang. ==== Ngoại giao ==== Ngày 12/8/1978, trước khi tấn công Việt Nam, Trung Quốc ký với Nhật Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau đó nhằm tạo sự ổn định tại khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc. Ngày 5/11/1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong chuyến đi ngày Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt - Xô ngày 3/11/1978 là mối đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam. Các nước ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Trung Quốc là "nhân tố không ổn định đối với hoà bình khu vực". Tuy nhiên, vì Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô nên các nước ASEAN nhận thấy cần phải nhích lại gần Trung Quốc hơn nữa. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. Theo Nayan Chanda, liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái then chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia. Sau đó, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật. Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam. Tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung Quốc, nếu xảy ra, sẽ nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam với mong muốn có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động". Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Trong chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, Đặng đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo. Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng A. Gromyko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1 năm 1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam chiếm đóng Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: "Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô", "Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục", cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học". Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin thì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản "tuyên bố chiến tranh với Việt Nam". Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia yêu hòa bình "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này". Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung-Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung-Xô, Đặng Tiểu Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam. === Giai đoạn 1 === 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn lực lượng tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập sở chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo. Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần quá lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự tinh nhuệ có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai. Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân đội Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt. Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn. Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn. Cùng ngày, một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do đại tướng G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấn cho bộ tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân còn Đại tướng G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng. Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến tranh hạn chế" và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn, và gây khó hiểu cho Việt Nam. Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt Nam. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí, khí tài bay tới Hà Nội. Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Sau khi thị sát chiến trường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch. Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã tiến hành không vận Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn. Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác. Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối. === Giai đoạn 2 === Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện. Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng. Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã. Đến đây, phía Việt Nam đã điều động các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14. === Trung Quốc rút quân === Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Ngày 6 tháng 3 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị này khẳng định: "Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa (...) Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (...) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược (...) cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam". Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố rằng để thể hiện "thiện chí hòa bình", Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn,... Sư đoàn 337 của Việt Nam, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã. Ngày 16 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam. === Việt Nam phản kích === Phía Việt Nam cũng phản kích đánh vào hai thành phố biên giới của Trung Quốc là Malipo và Ninh Minh. == Diễn biến liên quan == === Chiến dịch dân vận của Trung Quốc === Theo truyền thống, Trung Quốc đề cao việc tuyên truyền chính trị cho binh sĩ và dân chúng của mình về chính nghĩa của họ trong việc cần thiết tiến hành cuộc chiến trừng phạt Việt Nam. Ngay từ trước khi quân Trung Quốc vượt biên giới đánh vào Việt Nam, cả hai bên đã lớn tiếng cáo buộc nhau có các hành vi gây hấn trên tuyến biên giới. Theo phía Trung Quốc, quân Việt Nam đã tiến hành hơn 1100 vụ xâm nhập trên biên giới. Đối lại, Việt Nam cho biết việc quân Trung Quốc tiến hành khiêu khích diễn ra hàng ngày. Cùng với việc quan hệ chính trị trở nên căng thẳng, số vụ xung đột vũ trang tại biên giới cũng tăng lên, từ khoảng 100 vụ năm 1974 lên tới hơn 900 vụ năm 1976. Việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974 cũng như việc Việt Nam đưa quân tiếp quản Trường Sa cũng góp phần khiến nguyên nhân bất đồng giữa hai phía trở nên sâu sắc. Trung Quốc tuyên truyền trong nhân dân rằng đây là cuộc chiến phản công chống Việt Nam để bảo vệ lãnh thổ quốc gia; tuyên truyền với quân đội rằng chiến dịch quân sự này được tiến hành để trừng phạt nhà cầm quyền Việt Nam, cụ thể là "bè lũ Lê Duẩn", và rằng quân đội cần giành được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam. Chiến dịch vận động quần chúng của Trung Quốc tỏ ra có kết quả với dân chúng và cán bộ Trung Quốc tại vùng biên, khiến họ có thể huy động hàng chục vạn dân công tham gia các hoạt động bảo đảm an ninh và tiếp tế cho quân đội. Hiện tại sau 34 năm vẫn có tới trên 90% người dân Trung Quốc quan niệm rằng, năm 1979 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã vượt biên giới sang tấn công Trung Quốc và bắt buộc Trung Quốc phải tự vệ đánh trả, cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của Việt Nam. Đối với dân thường Việt Nam, Trung Quốc bỏ ra nhiều công sức tuyên truyền lôi kéo người dân vùng biên, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số sống vắt qua biên giới hai nước như Tày, Nùng (ở Trung Quốc gọi là dân tộc Choang), Dao, Hmong và các nhóm người thiểu số gốc Hoa. Kết quả là trong ngày đầu của cuộc chiến, có nơi, quân Trung Quốc đã được dẫn vòng qua đồn biên phòng tiến sâu vào đất Việt Nam mà không bị phát hiện. Phục vụ công tác dân vận tại các khu vực chiến sự, Trung Quốc còn thành lập các đơn vị đặc biệt mà nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cũng như kiểm tra hoạt động của các đội vận động quần chúng trong tất cả các đơn vị quân. Theo đó, quân Trung Quốc tiến sang Việt Nam phải giảm tối thiểu những hành động gây xáo trộn, phiền hà đến dân chúng, tôn trọng phong tục tập quán, tài sản, cung cấp gạo, muối, dầu thắp, thuốc chữa bệnh... cho dân cư bản địa. Chính sách này được một số đơn vị Trung Quốc ở vùng Lào Cai thực hiện. Tuy nhiên, quân Trung Quốc đã thực hiện nhiều hành động như giết chóc, đốt phá, ngay cả sau khi đã tuyên bố rút quân. Hầu hết các thị xã thị trấn mà Trung Quốc chiếm được đều bị phá hủy một cách có hệ thống. Tại thị xã Cao Bằng, quân Trung Quốc dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ đến cầu. Tại Đồng Đăng, quân Trung Quốc lấy đi tất cả những gì có thể mang theo, từ xe đạp cho đến thanh ray tàu hỏa, những gì không mang được đều bị đập phá. Tại thị xã Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới khoảng 10 km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân Trung Quốc còn cho đốt cả mỏ apatit. O'Dowd tổng kết là chính sách dân vận của quân Trung Quốc tỏ ra không thành công đối với người dân Việt Nam. Ông lý giải rằng "người Việt Nam rất yêu nước, thấm nhuần tư tưởng chính trị, giỏi chịu đựng, không dễ bị lung lạc,...".. Ngoài ra, những hành động tàn phá, giết chóc dân thường, cũng như ngược đãi tù binh của quân Trung Quốc đã gây hại cho nỗ lực dân vận của họ. Những hoạt động này một phần là do binh lính Trung Quốc sang Việt Nam bị sốc vì sự khốc liệt, sức kháng cự của quân đội Việt Nam cũng như của dân bản địa, một phần nằm trong các phá hoại có kế hoạch và tổ chức, ví dụ như tại thị xã Lạng Sơn. Hoạt động lôi kéo người thiểu số tại biên giới của Trung Quốc cũng không đạt được kết quả mong đợi. Khi quân Trung Quốc từ quân khu Vân Nam rút về nước, tất cả những điệp viên và quân du kích người thiểu số mà họ gây dựng được khi chiếm đóng các khu vực biên giới trong thời gian chiến dịch đều bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và xử tử. Chiến tranh tâm lý của Trung Quốc với các lực lượng phòng thủ của Việt Nam cũng thất bại. Trong suốt cuộc chiến, không có đơn vị nào của Việt Nam không đánh trả quyết liệt quân Trung Quốc. Quân Trung Quốc cuối cùng cũng hiểu rằng ngoài việc sử dụng sức mạnh quân sự, họ không có hy vọng giành thắng lợi trong chiến tranh tuyên truyền chính trị. === Chiến dịch hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam === Vào năm 1979, trước việc Trung Quốc tấn công Việt Nam, Liên Xô đã khẳng định kiên quyết: Quân đội và nhân dân Xô Viết sẵn sàng sử dụng các giải pháp cuối cùng để thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình với Việt Nam. Ý định bảo vệ Việt Nam của Liên Xô là hết sức nghiêm túc nhưng nếu cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn nằm trong phạm vi đối phó của Việt Nam thì Liên Xô sẽ không can thiệp quân sự, chỉ khi Trung Quốc tiếp tục leo thang chiến tranh, ví dụ như uy hiếp Hà Nội và Hải Phòng, hoặc đồn trú lâu dài trên những vùng đất chiếm được, thì Liên Xô mới tham gia giải quyết xung đột. Mặc dù không có một tuyên bố chính thức nào đưa ra, nhưng Việt Nam sẽ không nhờ Liên Xô can thiệp quân sự trực tiếp, bởi truyền thống lịch sử của Việt Nam chưa bao giờ cầu viện bất cứ nước nào giúp đánh đuổi ngoại xâm. Tinh thần tự tôn của Việt Nam là một yếu tố quan trọng khiến Liên Xô không can thiệp quân sự nếu cuộc chiến vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát được, họ sẽ chỉ can thiệp trực tiếp nếu Việt Nam không còn khả năng chống trả (ví dụ như nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí hạt nhân để hủy diệt lãnh thổ Việt Nam) Từ ngày 12 đến 26/3, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên biển Thái bình dương tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật. Trong cuộc diễn tập lớn nhất lịch sử quân sự có sử dụng lực lượng của 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân với 200 nghìn quân nhân, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm. Kế hoạch diễn tập đã tiến hành tổ chức các cụm chủ lực không quân công kích trên các quân khu gần biên giới Trung Quốc. Sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula được vận chuyển vào khu vực Chita trên quãng đường dài 5.500 km bằng máy bay vận tải quân sự một đợt bay trong thời gian 2 ngày. Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ucraina và Belarusia được cơ động trực tiếp đường không đến các sân bay của Mông cổ. Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc, gần 50 chiến hạm của Liên Xô, trong đó có 6 tàu ngầm, tiến hành các hoạt động sẵn sàng chiến đấu và đồng loạt triển khai diễn tập các hoạt động tác chiến nhằm tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương. Riêng vùng biển Primorie tiến hành diễn tập đổ bộ đường biển. Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian có tới 10 trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5.000 giờ, đã sử dụng tới 1.000 quả bom và tên lửa trong diễn tập bắn đạn thật. Những đợt diễn tập lớn nhất được thực hiện tại Mông Cổ, với sự tham gia của 6 sư đoàn Bộ binh cơ giới và tăng-thiết giáp, 3 trong số các đơn vị được điều động từ Siberia và Zabaikalia. Một bộ phận không quân đảm bảo vận tải trên lãnh thổ Việt Nam. Trong không đầy một tháng, Liên Xô đã tiến hành cơ động 20 nghìn quân của Việt Nam, hơn 1.000 đơn vị trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh từ Campuchia trở về miền Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột đến tháng 3/1979, theo đường vận tải biển, Liên Xô đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích. Trữ lượng xăng dầu tiêu hao trong thời gian thực hiện các hoạt động diễn tập và giúp đỡ Việt Nam, Bộ quốc phòng Liên Xô đã phải mất hai năm để phục hồi lại dự trữ. Trong báo cáo tổng kết ghi nhận "Quân đội Liên bang Xô viết đã chứng minh được khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đáp ứng được những yêu cầu tác chiến hiện đại và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế". == Phản ứng quốc tế == Ngay khi cuộc chiến nổ ra, Hoa Kỳ tuyên bố giữ vị trí trung lập và kêu gọi "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", nói rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia". Nhưng theo đánh giá của Nayan Chanda, Hoa Kỳ đã là quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định trong khu vực", tuyên bố của Mỹ về cuộc tấn công của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc thâm nhập biên giới Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hành động quân sự của phía Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó. Ngày 18 tháng 2, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam: "Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á". Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với Việt Nam, thúc giục Trung Quốc "ngừng trước khi quá muộn" và đòi Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt "cuộc chiến tranh xâm lược", và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Liên Xô - Việt Nam. Ngoài ra, Liên Xô không có hành động can thiệp quân sự mà chỉ hỗ trợ vận chuyển bằng hàng không, triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam và tăng cường gửi cố vấn và chuyên gia quân sự sang Việt Nam nhằm tránh đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc. Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về việc đặt các lực lượng vũ trang Xô Viết ở Siberi vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu số 1 đồng thời cung cấp cho Việt Nam các thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân chính quyền Hà Nội, vốn giữ chiến thuật phòng thủ trong cuộc chiến, cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh. Do không tham gia về quân sự, ngày 10 tháng 3, Liên Xô hứa sẽ tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam. Đêm hôm Trung Quốc tuyên bố rút quân, Cuba cảnh báo Trung Quốc là nước này sẽ hỗ trợ Việt Nam, kể cả việc đưa quân đến nếu cần. Sau khi biết tin Trung Quốc rút quân, nhật báo Pravda của Liên Xô cũng đưa ra bình luận rằng "Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã không đáp lại những khiêu khích quân sự của Trung Quốc với mục đích duy nhất là làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ". Tại Liên Hiệp Quốc, tranh cãi kịch liệt xảy ra xung quanh vấn đề an ninh ở Đông Nam Á. Hai sự kiện Việt Nam đánh vào Campuchia lật đổ chế độ Khmer Đỏ và Trung Quốc đánh vào Việt Nam cùng được đưa ra bàn luận. Hội đồng Bảo An bị chia rẽ sâu sắc sau các cuộc họp vào các ngày cuối tháng 2. Các nước ASEAN muốn tất cả các lực lượng quân sự nước ngoài rút quân về nước. Mỹ ủng hộ lập trường này. Liên Xô tuyên bố không ủng hộ bất cứ nghị quyết nào không lên án Trung Quốc và đòi Trung Quốc rút quân. Ngày 23 tháng 2, Liên Xô cùng Tiệp Khắc đưa dự thảo nghị quyết trong đó lên án Trung Quốc xâm lược, đòi Trung Quốc rút quân và bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, và kêu gọi cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc. Còn Trung Quốc thì chỉ trích Liên Xô "khuyến khích Việt Nam tấn công Trung Quốc và xâm lược Campuchia". Ngày 24 tháng 2, Trung Quốc đưa dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam "lập tức rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia". Cuối cùng, Liên Hợp Quốc không đi đến được một nghị quyết nào. Lên án Trung Quốc, hỗ trợ Việt Nam: Liên Xô, Cuba, Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Albania, Mông Cổ, Afghanistan, Ethiopia, Angola, Mozambique, Cộng hòa Nhân dân Campuchia và các quốc gia đồng minh của Liên Xô Lấy làm tiếc và yêu cầu Trung Quốc rút quân: Lào, Miến Điện, Ấn Độ Phản đối hành động quân sự của Việt Nam và Trung Quốc: Thụy Điển, Canada, New Zealand Yêu cầu Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia: Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines、 Iraq, Bắc Yemen、 Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, Anh, Hà Lan, Italy, Nam Tư, Romania, Hoa Kỳ, Australia Lấy làm tiếc với Việt Nam và Trung Quốc, hy vọng Việt Nam và Campuchia có thể được tự quyết định vận mệnh của mình: Tây Đức, Áo, Thụy Sĩ, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp Kêu gọi thương lượng: Bangladesh, Síp, Iceland, Ireland, Ai Cập, Libya, Mali, Madagascar Không tuyên bố công khai: Bồ Đào Nha Hỗ trợ Trung Quốc: Campuchia Dân chủ, CHDCND Triều Tiên == Kết quả cuộc chiến == Tuy Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến nhưng cả hai bên đều phải chịu thiệt hại nặng nề về người và của. Cuộc chiến đặc biệt để lại nhiều tác hại lớn cho phía Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế. Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao,... === Thương vong và thiệt hại === Tướng Ngũ Tu Quyền (伍修权), phó tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000. Một nguồn khác của Trung Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng 21.000 bị thương. Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc. Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000). Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn. Theo tuyên bố của Việt Nam, kết quả chiến đấu của họ như sau: Mặt trận Lạng Sơn: diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác biệt so với ký sự Sư đoàn Sao Vàng). Mặt trận Cao Bằng: diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn. Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn. Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: diệt 14.000 lính Trung Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn. Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Để được Liên Xô tăng cường viện trợ, từ 27 tháng 3 năm 1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh. Về phía Trung Quốc, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế. Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này. === Đánh giá === Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng. Phía Việt Nam: Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam năm 1980 khẳng định "Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình." Phía Trung Quốc: Đặng Tiểu Bình khẳng định mặc dù có nhiều thất bại về quân sự nhưng Trung Quốc "đã đạt được chiến thắng về chính trị và chiến thắng chung cuộc". Ông còn khẳng định quân Trung Quốc "đã có thể tiến thẳng tới Hà Nội nếu muốn". Quan điểm ít phổ biến hơn là của Trần Vân (Phó Thủ tướng, một trong 5 nhân vật quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức) rằng việc chiếm được Hà Nội không phục vụ được mục đích gì, cuộc chiến sẽ có chi phí nặng nề quá sức chịu đựng nếu kéo dài thêm 6 tháng nữa, và vì lý do tài chính không nên lặp lại một cuộc chiến không phân thắng bại như vậy. Trong bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình tại hội nghị quân chính nội bộ ngày 16-3-1979 (sau khi rút quân về nước 1 tháng), Đặng Tiểu Bình chỉ trích gay gắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội về những sai lầm trong chiến dịch: "Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…" nhưng "…thương vong của chúng ta gấp 4 lần so Việt Nam. Thần thoại của chúng ta đã bị hủy diệt” (ý nói về uy thế của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc). Tướng Trương Chấn - chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần nhớ lại rằng, vấn đề tồi tệ nhất gặp phải trong giai đoạn Trung Quốc chuẩn bị chiến đấu là sự thiếu đạn dược và chất lượng kém. Kiểm tra ban đầu cho thấy rằng không ít đạn pháo xịt, và 1/3 số lựu đạn lép. Trong cuộc chiến, trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Tính tổng cộng cả cuộc chiến, Trung Quốc đã sử dụng tới 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân và nhiều loại trang bị cá nhân. Với một số lượng đáng kể các thiết bị kỹ thuật quân sự, Trung Quốc bị thiếu kỹ sư bảo trì. Do thiếu xe vận tải và đường sá kém, Trung Quốc phải huy động hàng chục vạn dân công nhưng vẫn không vận chuyển kịp hàng hóa, hệ thống cung cấp luôn trong tình trạng quá tải, làm giảm đáng kể hiệu quả chiến đấu của binh lính và vũ khí trên chiến trường H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này: "Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của phong trào cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc". Theo đánh giá của tác giả King C. Chen, quân Trung Quốc có lẽ đã đạt được 50-55% các mục tiêu có giới hạn của mình. Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch tiến quân và rút quân, quân Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu đã công bố: họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam; không chấm dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới; không buộc được Việt Nam rút quân khỏi Campuchia; không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong vấn đề Hoa kiều. Điểm yếu của quân Trung Quốc là vũ khí và phương tiện lạc hậu. Ngoài ra, họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Việt Nam. Cuối tháng 12 năm 1978, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Túc Dụ (粟裕) báo cáo tại Kì họp thứ ba của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng chỉ cần dùng một phần lực lượng của các quân khu Quảng Châu và Côn Minh là đủ để đánh chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần. Trong thực tế, quân Trung Quốc đã cần tới 16 ngày với 10 sư đoàn từ 6 quân khu (lực lượng bằng tổng hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh) để đánh chiếm thị xã Lạng Sơn, một thị xã chỉ cách biên giới 15 km và còn cách xa Hà Nội tới 135 km. Trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc chỉ tiến được 0,9 km và họ đã mất 16 ngày chỉ để chiếm được 1/10 quãng đường tới Hà Nội Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân Trung Quốc. Về quân sự, tác giả Edward C. O'Dowd đánh giá rằng quân Trung Quốc đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc chiến. Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần đến 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường - hai đô thị cách biên giới không đến 15 km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2.800 của trung đoàn này. Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân Trung Quốc đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" (速战速决 tốc chiến tốc quyết). Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950. Thất bại về mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội nước này. Trên phương diện quan hệ quốc tế, cuộc chiến Việt-Trung cho thấy rằng Trung Quốc, với sự ủng hộ từ phía Hoa Kỳ, sẵn sàng can thiệp quân sự vào Việt Nam - một quốc gia cộng sản từng là đồng minh trong nhiều năm, kết quả chiến tranh cũng cho thấy Việt Nam đủ sức chống lại sự can thiệp quân sự đó mà không phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam Việt Nam. Những sự kiện từ cuộc chiến cho thấy mối quan hệ ngoại giao phức tạp Liên Xô - Trung Quốc - Việt Nam với kết quả là Trung Quốc không thể tung toàn bộ lực lượng vào cuộc chiến nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học" vì chịu sức ép từ phía Liên Xô, đồng thời Liên Xô cũng không sẵn sàng tung quân đội vào tham chiến bảo vệ đồng minh mà chỉ tập trung viện trợ kinh tế, quân sự. Điều này đã khiến cho rất nhiều người Việt Nam sau đó nghi ngờ về đồng minh Liên Xô cũng như đối với Liên Xô thật sự là một sự thất bại về uy tín. Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy Trung Quốc bất lực trong việc hỗ trợ đồng minh Khmer Đỏ trong cuộc chiến với Việt Nam và thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Nhiều quan điểm khác cho rằng Trung Quốc đã thất bại về quân sự nhưng lại đạt được một số thành công về chiến lược, trong đó có việc chứng tỏ cho các nước Đông Nam Á rằng họ sẵn sàng dùng vũ lực nếu vị thế và uy lực của mình bị thách thức. Tiến sĩ Xiaoming Zhang, từ trường Air War College, Hoa Kỳ, là tác giả cuốn sách Deng Xiaoping's Long War: The Military Conflict between China and Vietnam 1979-1991, ra mắt năm 2015 đánh giá "Đối với Đặng, dạy Việt Nam "bài học" là thông điệp không chỉ gửi cho Việt Nam mà cả cho Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây. Phản ứng của Việt Nam trước cuộc xâm lược là phòng thủ biên giới phía bắc, tiếp tục chính sách thù địch với Trung Quốc, dựa vào Liên Xô để có hỗ trợ tài chính và kinh tế. Để đáp lại, Mỹ và phương Tây từ 1979 có vẻ quan tâm hơn việc cung cấp hỗ trợ tài chính và công nghệ giúp Trung Quốc cải cách kinh tế. Mỹ không còn nghĩ Trung Quốc là đe dọa, tuy chưa phải là đồng minh. Vì thế Mỹ có thể dốc toàn lực để đánh bại Liên Xô trong thập niên cuối cùng của Chiến tranh Lạnh. Bên trong Trung Quốc, Đặng không chỉ củng cố được quyền lực chính trị mà cũng thực hiện cả nghị trình cải tổ kinh tế. Liên Xô ở trong tình thế nhiều khó khăn trong thập niên cuối của Chiến tranh Lạnh. Vừa phải cạnh tranh với Mỹ trên toàn cầu, Moscow cũng đối diện thách thức của Trung Quốc ở châu Á. Từ góc nhìn chiến lược, cả Việt Nam và Liên Xô đều gặp khó khăn hơn Trung Quốc. Vì thế Liên Xô rốt cuộc nhận ra họ không thể tiếp tục hỗ trợ Việt Nam vào cuối thập niên 1980. Việt Nam phải tìm đến Trung Quốc, thừa nhận sai lầm chính sách từ 1978. Rốt cuộc, Trung Quốc đã vượt mặt Việt Nam cả về chính trị và chiến lược." Báo Nhân dân trích lại quan điểm của một người nghiên cứu chủ nghĩa xã hội tại Campuchia khi đó: "Thế là rõ cả. Có người cách mạng nào trên thế giới đến nay còn phân vân những người lãnh đạo Trung Quốc có còn là cách mạng không? Tiến công Việt Nam, chúng nó vứt hết mọi mặt nạ giả dối, hiện ra nguyên hình là bọn đế quốc mới, bọn phản cách mạng, và cái chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng chỉ là giả hiệu!" == Hậu chiến == Khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam". Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, quân Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Trung Quốc nối lại đàm phán về vấn đề biên giới. Cuộc đàm phán Việt – Trung lần ba diễn ra vào năm 1979 với hai vòng đàm phán. Trong vòng đàm phán thứ nhất phía Việt Nam cho rằng, trước hết cần vãn hồi hòa bình, tạo không khí thuận lợi để giải quyết những vấn đề khác. Đoàn Việt Nam đưa ra phương án ba điểm để giải quyết vấn đề biên giới: chấm dứt chiến sự, phi quân sự hóa biên giới; khôi phục giao thông, vận tải bình thường trên "cơ sở tôn trọng đường biên giới lịch sử mà các Hiệp định Trung - Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập". Phía Trung Quốc kiên quyết từ chối những đề nghị của Việt Nam, đưa ra đề nghị tám điểm của mình, bác bỏ việc phi quân sự hóa biên giới, đề nghị giải quyết các vấn đề lãnh thổ trên "cơ sở những công ước Trung - Pháp" chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các Hiệp định đó đưa lại. Trung Quốc cũng đòi Việt Nam thừa nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc"; Việt Nam phải rút quân ra khỏi Trường Sa, thay đổi chính sách với Lào và Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia. Trung Quốc cũng yêu cầu Việt Nam nhận lại những người Hoa đã ra đi. Trong quan hệ với các nước khác: "Không bên nào sẽ tham gia bất cứ khối quân sự nào chống bên kia, cung cấp căn cứ quân sự hoặc dùng lãnh thổ và các căn cứ các nước khác chống lại phía bên kia"; "Việt Nam không tìm kiếm bá quyền ở Đông Dương hay ở bất cứ nơi nào" làm điều kiện để tiến hành thương lượng. Vòng đàm phán thứ hai được tổ chức tại Bắc Kinh từ ngày 8/6/1979. Đoàn đại biểu Việt Nam đề nghị hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động thám báo và trinh sát dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của nhau; không tiến hành bất cứ hoạt động tiến công, khiêu khích vũ trang nào, không nổ súng từ lãnh thổ bên này sang bên kia, cả trên bộ, trên không, trên biển; không có bất cứ hành động gì uy hiếp an ninh của nhau. Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm của mình về "chống bá quyền" với ba nội dung chính: Không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ hình thức nào, chấm dứt ngay việc chiếm đoạt đất đai của nước kia, không xâm lược, không dùng vũ lực để "trừng phạt" hoặc để "dạy bài học"; không can thiệp vào quan hệ của một nước với nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho nước khác; không liên minh với các thế lực phản động khác chống lại hòa bình, độc lập dân tộc. Trong vòng đàm phán này, Trung Quốc chủ yếu chỉ trích Việt Nam về việc "buộc" Trung Quốc phải thực hiện "chiến tranh tự vệ", đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quan hệ hai nước và lập trường tại khu vực, không tập trung giải quyết thực chất vấn đề biên giới. Đầu năm 1980, Trung Quốc đơn phương đình chỉ vòng ba, không nối lại đàm phán. Việt Nam liên tiếp gửi công hàm yêu cầu họp tiếp vòng ba, nhưng Trung Quốc làm ngơ. Trong những năm 1979-1982, Việt Nam nhiều lần đề nghị nối lại các cuộc đàm phán đã bị Trung Quốc đơn phương bỏ dở, nhưng Trung Quốc vẫn một mực khước từ. Từ tháng 3/1979 đến hết tháng 9/1983, Trung Quốc đã cho lực lượng vũ trang xâm nhập biên giới Việt Nam 48.974 vụ, trong đó xâm nhập biên giới trên bộ 7.322 vụ có nổ súng, khiêu khích; xâm nhập vùng biển 28.967 vụ; xâm nhập vùng trời biên giới 12.705 vụ (với hơn 2.000 tốp máy bay). Trung Quốc bắn pháo thường xuyên vào các vùng dân cư, tiếp tục lấn chiếm đất đai, xâm canh, xâm cư, di chuyển, đập phá cột mốc, dựng bia, chôn mộ trong đất Việt Nam. Tính đến tháng 3/1983, Trung Quốc còn chiếm giữ 89 điểm của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, lên cao vào các năm 1984-1985. Trong tháng 5 - tháng 6 năm 1981, quân Trung Quốc mở cuộc tấn công vào đồi 400 (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn - 法卡山) ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn, xa hơn về phía tây, quân Trung Quốc cũng vượt biên giới đánh vào các vị trí quanh đồi 1688 ở tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng. Ngày 1/2/1984, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang cùng đoàn cán bộ cao cấp đã đến thăm cao điểm 400 (mà Trung Quốc đặt tên là Pakhason) để động viên quân đội. Tới năm 1984, quân Trung Quốc lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn công lớn vào Lạng Sơn. Đặc biệt tại Hà Tuyên, trong tháng 4 - tháng 7 năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Quân Trung Quốc chiếm một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù quân đông hơn nhiều. Các nhà quan sát nước ngoài ghi nhận từ tháng 7/1980 đến tháng 8/1987, dọc biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã xảy ra 6 cuộc xung đột vũ trang lớn vào các tháng 7/1980, tháng 5/1981, tháng 4/1983, tháng 6/1985, tháng 12/1986 và tháng 1/1987. Theo tuyên bố của Ngoại Trưởng Trung Quốc Ngô Ngọc Khiêm trong buổi họp báo ở Singapore ngày 29/1/1985, trong năm 1985, Trung Quốc đã điều thêm 8 sư đoàn bộ binh cùng gần 20 sư đoàn tại chỗ áp sát biên giới Việt – Trung; đồng thời, triển khai hơn 650 máy bay chiến đấu, ném bom các sân bay gần biên giới. Còn theo Báo Nhật Bản Sankei Shimbun ra ngày 14/1/1985, Trung Quốc đã đưa số máy bay đến gần biên giới Việt - Trung lên gần 1.000 chiếc. Đài BBC ngày 6/2/1985 cho biết: Trung Quốc có 400.000 quân đóng dọc biên giới Việt – Trung. Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế của Trung Quốc số 2/1982 lý giải mục đích của việc bố trí một lực lượng lớn quân đội ở sát biên giới với Việt Nam "là để kìm giữ một phần binh lực của Việt Nam ở tuyến biên giới phía Bắc, do đó làm lợi cho cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Campuchia". Trung Quốc cũng thường xuyên khiêu khích vũ trang, lấn chiếm, phá hoại phòng tuyến bảo vệ biên giới, tung gián điệp, thám báo, biệt kích vào nội địa, kích động các dân tộc thiểu số dọc biên giới Việt Trung ly khai, xây dựng cơ sở vũ trang, gây phỉ. Từ cuối năm 1980, Trung Quốc hỗ trợ Fulro và tàn quân Polpot, lập căn cứ ở Đông Bắc Campuchia, lập hành lang Tây Nguyên- Campuchia –Thái Lan. Trong các ngày 22/2/1980, 27/2/1980 và 2/3/1980 tại vùng biển Tây Nam quần đảo Hoàng Sa, Hải quân Trung Quốc bắt giữ một số thuyền đánh cá của ngư dân hai tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và Nghĩa Bình. Từ năm 1979 đến năm 1982, diễn ra các sự kiện đáng chú ý như Tổng cục Hàng không Dân dụng Trung Quốc công bố một thông cáo quy định "bốn vùng nguy hiểm" ở Tây Nam đảo Hải Nam, trong đó có vùng trời của quần đảo Hoàng Sa và buộc máy bay dân dụng của các nước khác phải bay qua đây vào những giờ do Trung Quốc quy định; thành lập lữ đoàn Hải quân đầu tiên ở đảo Hải Nam (12/1979); cho máy bay ném bom H-6 của Hải quân Trung Quốc thực hiện cuộc tuần tra trên không đầu tiên ở quần đảo Trường Sa (1/1980); năm 1982, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí viếng thăm quần đảo Hoàng Sa và tàu hải quân của Trung Quốc, Việt Nam đã đụng độ ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15/4/1987, Trung Quốc đã ra tuyên bố lên án quân đội Việt Nam chiếm đóng đảo đá Ba Tiêu thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cho rằng mục đích của Việt Nam khi triển khai quân đội một cách bất hợp pháp ở đảo Ba Tiêu là để chiếm hữu thềm lục địa gần đó và mở đường cho việc khai thác dầu trong tương lai. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút khỏi Ba Tiêu và 9 hòn đảo khác, bảo lưu quyền thu hồi các đảo này vào một thời điểm thích hợp. Từ ngày 15/5 đến ngày 6/6/1987, Hải quân Trung Quốc diễn tập lớn và tổ chức các cuộc nghiên cứu hải dương học ở khu vực quần đảo Trường Sa. Tháng 1/1988, một lực lượng lớn tàu chiến của Trung Quốc hoạt động xâm chiếm tại bãi đá Chữ Thập và Châu Viên, xây nhà, cắm cờ Trung Quốc trên hai đảo này. Ngày 26/2/1987, lực lượng của Trung Quốc đã đổ bộ lên hai đảo san hô trong quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3 năm 1988 xảy ra Hải chiến Trường Sa giữ Việt Nam và Trung Quốc gần cụm đảo Sinh Tồn, khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người chết và 74 người khác bị mất tích. Trong năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, xây dựng hệ thống nhà giàn. Tháng 5/1988, tờ Nhật báo Quân đội Nhân dân thuộc quân đội Trung Quốc có bài viết, trong đó tuyên bố: Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý. Các ngày 17 và 23, 26 tháng 3 năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã liên tục gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh, đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để không làm tình hình xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình trạng tranh chấp giữa hai bên song phía Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm giữ các nơi đã chiếm được và khước từ thương lượng, giữ quan điểm về "chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với quần đảo Nam Sa" (Trường Sa). Ngày 13/4/1988, Quốc hội Trung Quốc khóa VI đã phê chuẩn thành lập Khu hành chính Hải Nam, có địa giới hành chính rộng lớn trên biển Đông, bao trùm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 4/1988, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sáp nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam - Trung Quốc. Từ tháng 1/1989 đến tháng 9/1990, Trung Quốc liên tục có các hành động như: đặt bia chủ quyền trên các đảo đã chiếm được; tập trận, khảo sát khoa học trong lãnh hải quần đảo Trường Sa. Những năm 1982, 1983 và 1984, tại diễn đàn đàm phán bình thường hóa quan hệ Xô – Trung ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Trung Quốc nêu vấn đề quân đội Việt Nam ở Campuchia, đề nghị Liên Xô phải thúc đẩy Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia, coi việc Liên Xô tiếp tục ủng hộ quân đội Việt Nam tại Campuchia là trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hóa quan hệ Trung - Xô. Cuộc chiến năm 1979 cho Trung Quốc thấy sự lạc hậu của vũ khí cũng như chiến thuật mà quân đội nước này sử dụng, do đó, sau cuộc chiến là bắt đầu của một cuộc cải cách và hiện đại hóa mạnh đối với Quân giải phóng Trung Quốc, ngày nay công cuộc hiện đại hóa này vẫn tiếp tục. Ảnh hưởng trực tiếp có thể thấy là ngân sách dành cho quốc phòng của Trung Quốc tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979. Quan hệ xấu với Trung Quốc đã làm Việt Nam đã phải trả một cái giá rất đắt. Việc Trung Quốc duy trì áp lực quân sự tại vùng biên giới trong suốt mười năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì lực lượng phòng thủ lớn ở biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị sa lầy với chiến sự dai dẳng ở Campuchia mà Trung Quốc muốn kéo dài, Việt Nam bị cô lập trong mười năm đó trên trường quốc tế. Nền kinh tế yếu kém và bị Mỹ cấm vận phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn, và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau năm 1979, tình hình kinh tế miền Bắc Việt Nam tệ hại đi rất nhiều so với thời kỳ trước đó. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển mạnh từ năm 1978 do công cuộc cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình. 7 năm sau chiến tranh biên giới, Việt Nam bắt đầu thời kì Đổi Mới. Sau khi Liên Xô tan rã và Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước chính thức được bình thường hóa. Từ khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được cải thiện, cuộc chiến hầu như không còn được nhắc đến trong các phương tiện truyền thông đại chúng, không được nói đến trong sách giáo khoa lịch sử ở Trung Quốc và một cách hạn chế tại sách giáo khoa của Việt Nam. Tại Trung Quốc, các phương tiện truyền thông gần như lãng quên nó, các tuyển tập bài hát không còn in các ca khúc nói về cuộc chiến, sách nghiên cứu viết về cuộc chiến bị từ chối xuất bản, đa số cựu chiến binh từng tham gia cuộc chiến không muốn nhắc đến nó. Ở Việt Nam, một số ca khúc có nội dung về cuộc chiến, ví dụ "Chiến đấu vì độc lập tự do" của Phạm Tuyên, không còn được lưu hành trên các phương tiện truyền thông chính thống, đó là theo một thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai nước. Chính phủ Việt Nam để ý chặt chẽ các nội dung báo chí liên quan đến quan hệ Việt - Trung, và báo chí hầu như không nhắc đến cuộc chiến. Theo giải thích của ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, thì Việt Nam "không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên". Khi được hỏi về cuộc chiến từ 30 năm trước, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng từ nhiều năm trước lãnh đạo hai nước đã "thỏa thuận gác lại quá khứ và mở ra tương lai". Năm 2014, nhân kỷ niệm 35 năm Chiến tranh biên giới Việt-Trung, nhiều báo tại Việt Nam có bài viết về đề tài này. Năm 2009, 30 năm sau cuộc chiến, Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành việc cắm 1971 mốc phân định biên giới sau khi hai chính phủ ký kết hiệp định biên giới, kết thúc đàm phán về các khu vực tranh chấp dọc biên giới. == Tưởng niệm hàng năm == === 2014 === Trong hội nghị bàn về quy chế phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc và Chính phủ, khi một số đại biểu đã đề cập tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời: "Đảng, Nhà nước không bao giờ quên công lao của đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979". Thủ tướng cho biết, tất cả chiến sĩ hy sinh đều nằm ở nghĩa trang, được nhang khói và nhấn mạnh: “Chúng ta làm gì cũng phải tính lợi ích cao nhất của đất nước". Chính sách cho cán bộ, chiến sĩ tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc được hưởng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, năm 2011 của Thủ tướng và Nghị định 23/2012/NĐ-CP của Chính phủ. === 2016 === Tiếp tục chuyến công tác tại các tỉnh biên giới phía Bắc, sáng 17/2, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác Trung ương đã đến dâng hương tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Trà Lĩnh - nơi yên nghỉ của hơn 300 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh ngay trong những ngày đầu nổ súng của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Để ghi nhớ công lao và bày tỏ tấm lòng biết ơn vô hạn đến các anh hùng liệt sĩ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các thành viên trong đoàn đã thắp hương từng ngôi mộ. Hiện nay, Nghĩa trang huyện Trà Lĩnh được các đơn vị bộ đội biên phòng, chính quyền địa phương, thân nhân các liệt sĩ và các tổ chức xã hội như Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh thường xuyên chăm sóc, hương khói. Một số tỉnh phía Bắc và Bộ Quốc phòng đang xây dựng đề án tiếp tục tìm kiếm và quy tập hài cốt các liệt sĩ trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1988. === 2017 === Vài chục người tụ tập lại tại tượng đài vua Lý Thái Tổ ở Hà Nội để tưởng niệm cuộc chiến tranh trong sự hiện diện của rất đông cảnh sát. Nhà cầm quyền đã dùng loa để thúc dụng đám đông giải tán. Khoảng một chục người, trong đó có các nhà hoạt động và văn nghệ sĩ, cáo buộc đã bị câu lưu trong lễ tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt - Trung 17/2/1979 tại Hà Nội và TP. HCM. Bên cạnh đó là cáo buộc xảy ra tình trạng phá đám, bắt cóc người trái pháp luật, phá rối những người đi tưởng niệm. Theo trang web của Quốc hội Việt Nam một số hoạt động tưởng niệm đã bị một số đối tượng xấu lợi dụng để tổ chức biểu tình trái phép, gây rối trậ tự. Cũng trong ngày 17/02/2017, đoàn cựu chiến binh Hà Nội từng tham chiến ở chiến trường phía Bắc do Trung tướng Nguyễn Như Hoạt- Anh hùng LLVT, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô, nguyên Sư đoàn trưởng sư đoàn 3 dẫn đầu đã lên tận Nghĩa trang Cao Lộc (huyện Cao Lộc), nghĩa trang Hoàng Đồng (TP Lạng Sơn) để thắp hương và cầu nguyện cho những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến. Theo AP, không có hoạt động chính thức của chính phủ đánh dấu sự kiện này, nhưng thông tin về cuộc chiến đã được tường thuật rộng rãi trong các phương tiện truyền thông nhà nước. báo Asia Times cho việc nhiều hãng tin do nhà nước kiểm soát của Việt Nam những ngày gần đây nhắc lại chiến tranh biên giới năm 1979, cho đến bây giờ là một chủ đề cấm kỵ, có thể là tín hiệu Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam cuối cùng cũng đã nới lỏng sự kiểm duyệt tin tức về cuộc xung đột quân sự này. == Phản ánh trong văn nghệ == === Việt Nam === Chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 đã được nhắc tới trong hai bộ phim Đất mẹ (1980) của đạo diễn Hải Ninh và Thị xã trong tầm tay (1982) của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Với câu chuyện về chuyến đi của một phóng viên lên Lạng Sơn tìm người yêu trong thời gian chiến tranh biên giới nổ ra, Thị xã trong tầm tay - tác phẩm đầu tay của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã giành giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6, và nằm trong cụm tác phẩm của ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt III năm 2005. Năm 1982, một bộ phim tài liệu với tựa đề Hoa đưa hương nơi đất anh nằm do Trường Thanh thực hiện để nói về một nhà báo người Nhật chết trong thời gian đưa tin chiến tranh biên giới, bộ phim này sau đó đã được đánh giá cao ở Nhật Bản. Trong thời gian chiến tranh biên giới nổ ra và những năm sau đó, hàng loạt bài hát Việt Nam về đề tài chiến tranh và bảo vệ tổ quốc cũng ra đời như Chiến đấu vì độc lập tự do của nhạc sĩ Phạm Tuyên, Lời tạm biệt lúc lên đường của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối, Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận của nhạc sĩ Hồng Đăng, Những đôi mắt mang hình viên đạn của nhạc sĩ Trần Tiến và Hát về anh của nhạc sĩ Thế Hiển. Về văn học có tiểu thuyết Đêm tháng Hai (1979) của Chu Lai và Chân dung người hàng xóm (1979) của Dương Thu Hương. Tiểu thuyết “Mình và họ” của nhà văn Nguyễn Bình Phương do Nhà xuất bản Trẻ phát hành đã giành giải thưởng ở Hạng mục Văn xuôi. Tác phẩm này được thực hiện trong khoảng thời gian 2007-2010. Một trong các tác phẩm nổi bật trong những năm đầu Thế kỷ XXI về chủ đề Chiến tranh biên giới phía Bắc là “Xác phàm” của nhà văn quân đội Nguyễn Đình Tú. Tác phẩm mô tả hình ảnh kiên cường của những người lính Việt Nam trên chiến trường. Đặc biệt, hình ảnh những người lính pháo binh ở Đồng Đăng, Lạng Sơn chiến đấu tới hơi thở cuối cùng đã gây nhiều ấn tượng cho người đọc. Về âm nhạc, một trong các tác phẩm gây nhiều ấn tượng là "Về đây đồng đội ơi" của cựu binh Trương Quý Hải. Tác phẩm kể về tình cảm của người còn sống với những chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh trong trận Vị Xuyên (1984). Ma chiến hữu, một tác phẩm đề cập đến lính Trung Quốc hy sinh trong cuộc chiến này của nhà văn Mạc Ngôn, do Trần Trung Hỷ dịch, đã được in và phát hành tại Việt Nam năm 2009 . Trong tác phẩm, nhà văn Mạc Ngôn đã mô tả sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh đối với Trung Quốc. Tác phẩm đã đặt ra một câu hỏi lớn đối với cái được gọi là "chủ nghĩa anh hùng của Trung Quốc". Mạc Ngôn đã mô tả về tâm trạng bàng hoàng, cay đắng của hàng ngàn hồn ma lính Trung Quốc. ==== Xây đài tưởng niệm và tên đường ==== Bà Phạm Thị Hải Chuyền, bộ trưởng Bộ Lao động - thương binh và xã hội, trong một cuộc nói chuyện với báo Tuổi Trẻ đã tán đồng đề nghị của các cựu chiến binh sư đoàn 356, qua kiến nghị đưa lên Chủ tịch nước, về việc xây dựng một đài tưởng niệm vinh danh các chiến sĩ đã hi sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc. Một khu phố mới của khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường nằm trên đường N11 nối với đại lộ Trần Hưng Đạo thuộc địa bàn của phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai được đặt theo tên liệt sĩ Quách Văn Rạng, Trung đội phó đồn Biên phòng 125 (Lào Cai) đã hy sinh trong trận chiến với quân Trung Quốc ngày 17/2/1979. === Trung Quốc === ==== Trung Quốc đại lục ==== Khải hoàn giữa đêm khuya [凯旋在子夜 Khải hoàn tại tý dạ] (Kịch truyền hình) Vòng hoa dưới núi cao [高山下的花环 Cao sơn hạ để hoa hoàn] (Phim truyện). Đội biệt kích Hắc Báo [黑豹突击队 Hắc Báo đột kích đội] (Kịch truyền hình) Phong thái nhuốm máu [血染的风采 Huyết nhiễm để phong thái] (Ca khúc). Với nội dung ban đầu là tưởng niệm các binh sĩ Trung Quốc chết trong cuộc chiến, Phong thái nhuốm máu sau này lại được dùng rộng rãi để tưởng niệm những người đã chết trong Sự kiện Thiên An Môn. Trăng rằm [十五的月亮 Thập ngũ để nguyệt lượng] (ca khúc) Xe thiết giáp 008 [铁甲008 Thiết giáp linh bát bát] (Phim truyện) Tân binh Mã Cường [新兵马强 Tân binh Mã Cường] (Phim truyện) Nhành hoa đẹp 花枝俏 ''Hoa chi tiếu'' (Phim truyện) Hàng động chớp nhoáng [闪电行动 Thiểm điện hành động] (Phim truyện) Trận chiến ở núi Trường Bài [长排山之战 Trường Bái sơn để chiến] (Phim truyện) Cây tương tư ở bãi mìn [雷场相思树 Lôi trường tương tư thụ] (Phim truyện) Tiểu thuyết Ma chiến hữu (战友重逢, viết năm 1992 của Mạc Ngôn). Tác phẩm có "cách nhìn khác về chủ nghĩa anh hùng" và nói đến "những điều ngớ ngẩn và phi lý" của cuộc chiến. ==== Hồng Kông ==== Phim Câu chuyện của Hồ Việt (胡越的故事 Hồ Việt để cố sự) (1981, Châu Nhuận Phát vào vai nạn dân Việt Nam Hồ Việt, Chung Sở Hồng vào vai nạn dân Việt Nam Thẩm Thanh Đẳng). Phim Đồng chí thương dân (爱人同志 Ái dân đồng chí) (Lưu Đức Hoa vào vai phóng viên Hương Cảng, Chung Sở Hồng vào vai phiên dịch viên Việt Nam, Thành Khuê An vào vai chiến sĩ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bị Việt Nam bắt làm tù binh) == Xem thêm == Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc Chiến tranh biên giới tây nam Hải chiến Trường Sa 1988 == Chú thích == == Tham khảo == Tiếng Việt Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (1980), Lịch sử Sư đoàn 3 Sao vàng Tiếng Anh Colonel G.D. Bakshi (Tháng 11, 12 năm 2000). The Sino-Vietnam War-1979: Case Studies in Limited Wars. Volume 3(3). Bharat Rakshak Monitor. Nayan Chanda (1986). Brother Enemy. The War after the War.. Harcourt Brace Jovanovich. ISBN 0-15-114420-6. King C. Chen (1987). China's War with Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications. Hoover Press. ISBN 0817985727. Grant Evans, Kelvin Rowley (1984). Red Brotherhood at War - Indochina since the Fall of Saigon. London: Verso. ISBN 0860910903. Bruce Elleman (ngày 20 tháng 4 năm 1996). “Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict”. 1996 Vietnam Symposium - Vietnam Center and Archive, Texas Tech University. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2007. Nguyen Huu Thuy (1979). Chinese Aggression: How and Why it failed. Nhà xuất bản Ngoại ngữ. Edward C. O'dowd (2007). Chinese Military Strategy in the Third Indochina War. Routledge. ISBN 9780415414272. Mark A. Ryan, David Michael Finkelstein, Michael A. McDevitt (2003). Chinese Warfighting: The Pla Experience Since 1949. M.E. Sharpe. ISBN 0765610876. Carlyle A. Thayer, Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina War, Conference on Security and Arms Control in the North Pacific, Australian National University, Canberra, August 1987. Odd Arne Westad (2006). The Third Indochina War conflict between China, Vietnam and Cambodia, 1972-79. London; New York: Routledge. ISBN 9780415390583. Tiếng Pháp Bùi Xuân Quang (2000). La troisième guerre d'Indochine, 1975-1999 sécurité et géopolitique en Asie. Harmattan. ISBN 2738491847. Laurent Cesari (1995). L'Indochine en guerres 1945-1993. Paris: Belin. ISBN 2-7011-1405-5. Gilles Férier (1993). Les trois guerres d'Indochine. Lyon: Presse universitaire de Lyon. ISBN 2-7297-0483-3. François Joyaux (1994). La Tentation impériale - Politique extérieure de la Chine depuis 1949. Paris: Imprimerie nationale. ISBN 2-11-081331-8. == Liên kết ngoài == Lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 4/3/1979 Bản lưu thư viện Quốc gia 15 Tháng Ba 1979 == Tham khảo ==
samsung ativ odyssey.txt
ATIV Odyssey là thiết bị Windows Phone 8 sản xuất bởi Samsung. Nó được cung thấp thông qua Verizon Wireless. Brian Bennett từ CNET mô tả nó là thiết bị: "Windows Phone 8 giá rẻ, nhưng cũng không có khác gì nhiều" == Tham khảo ==
arizona.txt
Arizona (phát âm như E-ri-dôn-nơ trong tiếng Anh Mỹ hay được biết đến là A-ri-xô-na trong tiếng Việt, tiếng Navajo: Hoozdo Hahoodzo [xòːztò xɑ̀xòːtsò]; tiếng O'odham: Alĭ ṣonak [ˡaɺi ˡʃonak]) là một tiểu bang tại tây nam Hoa Kỳ. Đây cũng là một bang Tây Hoa Kỳ và thuộc vùng núi. Nó là bang lớn thứ sáu về diện tích và đông dân thứ 14. Thủ phủ và thành phố lớn nhất là Phoenix. Arizona là một trong bốn bang Four Corners. Nó tiếp giáp với New Mexico, Utah, Nevada, California, và México, và có một điểm chung với Colorado. Biên giới giữa Arizona và México dài 389 dặm (626 km), với các bang Sonora và Baja California của México. Arizona là bang thứ 48 và bang cuối cùng tại Hoa Kỳ lục địa tham gia vào Liên bang; chính thức trở thành một tiểu bang ngày 14 tháng 2 năm 1912. Về lịch sử, nó từng là một phần của lãnh thổ Alta California tại Tân Tây Ban Nha, rồi trở thành một phần của México năm 1821. Sau khi bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-México, México đã nhượng phần lớn lãnh thổ này cho Hoa Kỳ năm 1848. Phần nam tiểu bang được mua năm 1853 qua thương vụ Gadsden. Kiểu khí hậu Nam Arizona là hoang mạc, với mùa hè rất nóng và mùa đông dịu. Bắc Arizona có những rừng thông, linh sam Douglas, và vân sam; cao nguyên Colorado; vài dãy núi (như dãy San Francisco); với những hẽm núi lớn, sâu, với mùa hè mát hơn và mùa đông tuyết rơi. Có những khu trượt tuyết tại khu vực Flagstaff, Alpine, và Tucson. Ngoài vườn quốc gia Grand Canyon nổi tiếng, Arizona còn có nhiều rừng quốc gia, vườn quốc gia, và tượng đài quốc gia. Khoảng một phần tư diện tích tiểu bang là các khu dành riêng cho người bản địa đóng vai trò là nơi cư ngụ của 27 bộ tộc bản địa châu Mỹ được công nhận liên bang, trong đó có xứ Navajo, khu dành riêng lớn nhất Hoa Kỳ. == Tên == "Arizona" có vẻ xuất phát từ một tên cũ trong tiếng Tây Ban Nha, Arizonac, mà tự nó lại xuất phát từ alĭ ṣonak trong tiếng O'odham, nghĩa là "mùa xuân nhỏ", mà ban đầu được dùng để chỉ vùng khai mỏ bạc gần Planchas de Plata, Sonora. Với người châu Âu, từ này nghe giống như "Arissona". Tiểu bang vẫn được gọi là alĭ ṣonak trong tiếng O'odham. Một giả thuyết cả thi khác là từ haritz ona ("cây sồi tốt") trong tiếng Basque. Từng có nhiều người nuôi cừu gốc Basque tại đây. Có một giả thuyết sai rằng tên bang đến từ Árida Zona ("Khu khô cằn") trong tiếng Tây Ban Nha. == Địa lý và địa mạo == Arizona là một tiểu bang Tây Nam Hoa Kỳ, nằm trong nhóm Four Corners. Arizona là bang lớn thứ sáu theo diện tích, đứng sau New Mexico và trước Nevada. Trong tổng diện tích 113.998 dặm vuông Anh (295.000 km2), khoảng 15% là sở hữu tư nhân. Phần còn lại là rừng công cộng, công viên, khu bản tồn, lãnh thổ ủy trị của bang và khu dành riêng cho người bản địa. Tại miền nam Arizona là cảnh quang hoang mạc, phong phú về cây chịu hạn như xương rồng. Địa hành được tạo hình bởi hoạt động núi lửa thời tiền sử. Nơi này có mùa hè rất nóng và mùa đông dịu. Bang còn có những khu rừng thông miền trung-bắc ít được biến đến hơn tại cao nguyên Colorado. Như những tiểu bang tây nam khác, Arizona phong phú về rừng và cao nguyên. Mặc cho sự khô cằn, 27% đất Arizona phủ rừng, tỉ lệ cao ngang của Pháp hay Đức ngày nay. Rừng cây Pinus ponderosa lớn nhất thế giới là ở Arizona. Mogollon Rim, một dốc núi cao 1.998 foot (609 m), cắt dọc phần trung tâm của bang và đánh dấu rìa tây nam của cao nguyên Colorado. Năm 2002, tại đây diễn ra vụ cháy Rodeo–Chediski, vụ cháy tồi tệ nhất trong lịch sử bang. Nằm ở bắc Arizona, Grand Canyon là khe núi sâu, và dốc, được tạo nên bởi sông Colorado sói mòn qua hàng triệu năm. Grand Canyon là một trong bảy kì quan thiên nhiên thế giới và chủ yếu nằm trong lãnh thổ vườn quốc gia Grand Canyon—một trong những vườn quốc gia đầu tiên tại Hoa Kỳ. Tổng thống Theodore Roosevelt là một một người đề xướng quan trọng trong việc thiết lập khu Grand Canyon làm vườn quốc gia. Nó dài 277 dặm (446 km), rộng từ 4 đến 18 dặm (6 đến 29 km) và đạt độ sâu hơn 1 dặm (1,6 km). == Chú thích == == Liên kết ngoài == Arizona @ Your Service – Trang chủ của tiểu bang Arizona Hướng dẫn Arizona – Bộ Du lịch Arizona Bộ Công viên Tiểu bang Arizona Thư viện, Lưu trữ, và Hồ sơ Công cộng Tiểu bang Arizona
ban tuyên giáo trung ương đảng cộng sản việt nam.txt
Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, về chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và một số lĩnh vực xã hội; đồng thời là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về các lĩnh vực công tác này của Đảng. == Lịch sử == Tiền thân của Ban Tuyên giáo Trung ương là Ban Tuyên truyền và Cổ động. Ban Tuyên truyền và Cổ động được thành lập ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930. Do điều kiện khách quan cần thiết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền hơn nữa. Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I họp từ ngày 14-30/10/1930 tại Hương Cảng, hội nghị đã ra nghị quyết lập Bộ Tuyên truyền, Bộ Tổ chức và Bộ Công nhân vận động. Nhiệm vụ ban đầu của Bộ Tuyên truyền là tuyên truyền và cổ động chủ nghĩa cộng sản. Giữa năm 1941, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Ban Tuyên truyền tại các Ban Tỉnh ủy, nhằm mục đích tuyên truyền đường lối của Đảng, gây dựng cơ sở bền vững chuẩn bị cách mạng toàn quốc sau này. Đầu năm 1944, Bộ Tuyên truyền cổ động Việt Minh ra đời. Ban Tuyền truyền cổ động Trung ương là cơ quan tham mưu cho Bộ. Sau cách mạng tháng 8, Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương đảm nhiệm nhiệm vụ mới, tuyên truyền chủ trương chính quyền cách mạng mới, ngày độc lập, xóa mù chữ... Đặc biệt là tuyên truyền đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 14/5/1950 Ban Tuyên truyền Trung ương và Ban Giáo dục Trung ương được thành lập. Ngày 16/4/1951, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập Ban Tuyên huấn Trung ương. Ngày 1/12/1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng hợp nhất Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban Văn giáo Trung ương thành Ban Tuyên huấn văn giáo, gọi tắt là Ban Tuyên giáo Trung ương. Ngày 30/l/1968, Bộ Chính trị ra Nghị quyết chia tách Ban Tuyên giáo Trung ương làm Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Ngày 11/4/1989, Bộ Chính trị quyết định sáp nhập Ban Văn hoá - Văn nghệ Trung ương (thành lập năm 1980) với Ban Tuyên huấn Trung ương, lấy tên là Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương. Ngày 11/4/2007, Bộ Chính trị ra quyết định sát nhập Ban Khoa giáo Trung ương và Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương hợp nhất thành Ban Tuyên giáo Trung ương. == Nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương == Nghiên cứu, đề xuất: Chủ trì, phối hợp nghiên cứu, tham mưu về chủ trương, quan điểm, chính sách và giải pháp của Đảng thuộc lĩnh vực tuyên truyền và giáo dục. Tham gia chuẩn bị dự thảo nghị quyết Đại hội Đảng; các nghị quyết, chỉ thị và quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thuộc lĩnh vực tuyên giáo. Chủ trì, phối hợp nghiên cứu, cụ thể hóa Cương lĩnh, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng thuộc lĩnh vực tuyên giáo; tham mưu về nghiên cứu, phát triển lý luận chính trị, tổ chức tổng kết thực tiễn, nghiên cứu một số đề án thuộc lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục. Tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước trong việc thể chế hoá và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng thuộc lĩnh vực tuyên giáo. Nghiên cứu tình hình tư tưởng trong Đảng và trong xã hội, đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, giải pháp xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Nghiên cứu và tham gia đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp, các ngành, các đoàn thể. Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ Việt Nam của các thế lực thù nghịch, kịp thời đề xuất đối sách và biện pháp chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Thẩm định: Thẩm định các đề án, văn bản liên quan đến chủ trương, chính sách thuộc lĩnh vực tuyên giáo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, tổ chức đoàn thể và các địa phương trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hướng dẫn, kiểm tra: Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng đối với các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương. Chủ trì, phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư phân công. Hướng dẫn, kiểm tra các tỉnh uỷ thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương về nội dung đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng ngoài đối tượng thuộc hệ thống trường chính trị - hành chính của Trung ương, của các tỉnh uỷ, thành uỷ; kiểm tra về phương hướng chính trị, tư tưởng trong giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội – nhân văn trong hệ thống trường chính trị - hành chính, hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống các trường ngành, đoàn thể. Hướng dẫn, kiểm tra, định hướng nội dung tuyên truyền và bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động cho hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, hệ thống cộng tác viên dư luận xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Hướng dẫn, kiểm tra, định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, các cơ quan thông tin, tuyên truyền đối ngoại ở Trung ương và địa phương. Khi cần thiết chủ trì hoặc phối hợp kiểm tra về mặt quan điểm chính trị, tư tưởng các công trình nghiên cứu khoa học; các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản... Hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng về lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa học - công nghệ, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao... Tổ chức biên soạn, phối hợp phát hành các tài liệu nội bộ phục vụ học tập nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng và tài liệu phổ biến kiến thức về giáo dục lý luận chính trị... Tham gia công tác xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo: Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cho ban tuyên giáo các cấp. Tham gia với các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương về phương hướng công tác xây dựng Đảng thuộc lĩnh vực tuyên giáo; về tổ chức bộ máy, về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, miễn nhiệm, kỷ luật đối với đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực tuyên giáo theo danh mục phân cấp quản lý của Trung ương. Thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế: Mở rộng tuyên truyền thông tin đối ngoại. Tăng cường hợp tác quốc tế về lĩnh vực tuyên giáo đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân và một số đảng cầm quyền trên thế giới. Thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư uỷ quyền: Chủ trì, phối hợp đề xuất chủ trương, kế hoạch nghiên cứu, chỉ đạo, quản lý công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục lý luận chính trị. Chủ trì, phối hợp chỉ đạo nội dung giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống trường chính trị - hành chính, hệ thống trường của các ngành, đoàn thể và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện. Chủ trì chỉ đạo định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, các cơ quan thông tin, tuyên truyền đối ngoại, các hội văn học - nghệ thuật, Hội nhà báo, Hội xuất bản, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật. Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương trong công tác tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ của các cơ quan, đơn vị trên. Nghiên cứu và tham gia xây dựng chủ trương, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý và đãi ngộ nhân tài. Xây dựng kế hoạch và quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của các ban Đảng Trung ương. Được Bộ Chính trị, Ban Bí thư phân công thường trực và tham gia một số ban chỉ đạo Trung ương. Thực hiện những công việc khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao. == Lãnh đạo Ban hiện nay == === Trưởng ban === Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. === Các Phó Trưởng ban === Mai Văn Ninh, Phó Trưởng ban thường trực. Võ Văn Phuông, Ủy viên Trung ương Đảng. Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng. Trương Minh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng ban kiêm nhiệm Phạm Văn Linh Bùi Thế Đức == Lãnh đạo Ban các thời kỳ == Ban Văn hóa Trung ương (1949-1950) Trưởng ban: Trần Huy Liệu Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng (1950-1951) Phụ trách ban: Trường Chinh Trưởng ban: Tố Hữu Phó Trưởng ban: Trần Văn Giàu Ủy viên: Lê Quang Đạo, Xuân Thuỷ, Lê Liêm Ban Giáo dục Trung ương Đảng (1950-1951) Phụ trách: Phạm Văn Đồng Trưởng ban: Hà Huy Giáp Phó trưởng ban: Nguyễn Khánh Toàn Ủy viên: Trần Huy Liệu, Đào Duy Kỳ, Hoàng Hữu Nhân, Nguyễn Hữu Đang, Hoài Thanh Ban Tuyên huấn Trung ương (1951-1954) Trưởng ban: Trường Chinh Ủy viên: Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Trần Quang Huy, Hoàng Tùng, Xuân Thuỷ, Lê Quang Đạo, Nguyễn Chương, Nguyễn Khánh Toàn, Minh Tranh Ban Tuyên huấn Trung ương (1954-1955) Trưởng ban: Trường Chinh Phó trưởng ban thường trực: Tố Hữu Phó trưởng ban: Nguyễn Chương, Nguyễn Huy, Trần Tống Ban Tuyên huấn Trung ương (1955-1959) Trưởng ban: Tố Hữu Phó trưởng ban: Nguyễn Kỉnh, Nguyễn Huy, Nguyễn Chương Ban Văn hoá giáo dục Trung ương/Ban Văn giáo Trung ương (1958-1959) Trưởng ban: Hà Huy Giáp Phó trưởng ban: Trần Quang Huy Ban Tuyên huấn văn giáo Trung ương/Ban Tuyên giáo Trung ương (1959-1968) Trưởng ban: Trường Chinh (đến 1960) Phó trưởng ban: Tố Hữu (từ 1960 là trưởng ban), Hà Huy Giáp, Nguyễn Chương, Trần Tống, Trần Quang Huy Ban Tuyên huấn Trung ương (1968-1989) Trưởng ban: Tố Hữu Phó trưởng ban: Hoàng Tùng, Đào Duy Tùng, Nguyễn Vịnh, Hà Huy Giáp, Trần Độ Từ 1976 Trưởng ban: Tố Hữu Phó trưởng ban: Hoàng Tùng, Đào Duy Tùng, Hà Huy Giáp, Nguyễn Minh Vỹ, Vũ Đình Liệu Từ 1980 Trưởng ban: Hoàng Tùng Phó trưởng ban: Đào Duy Tùng, Nguyễn Minh Vỹ, Lê Xuân Đồng, Nguyễn Vịnh, Võ Quang Trinh Từ 1982 Trưởng ban: Đào Duy Tùng Phó trưởng ban: Lê Xuân Đồng, Vũ Thị Thanh, Nguyễn Hoàng, Trần Trọng Tân Từ 1987 Trưởng ban: Trần Trọng Tân Phó trưởng ban: Lê Xuân Đồng, Nguyễn Hoàng, Vũ Thị Thanh, Võ Quang Trinh, Nguyễn Thái Ninh, Hà Học Hợi, Cao Xuân Long Ban khoa học giáo dục Trung ương/Ban Khoa giáo Trung ương (1968-2007) Trưởng ban: Tố Hữu Phó trưởng ban: Trần Quang Huy, Trần Tống, Trần Quỳnh, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Liêm, Hoàng Đài (bổ sung 1976), Phạm Văn Kiết (bổ sung 1976) Từ 1980 Trưởng ban: Bùi Thanh Khiết (đến 1984)Lê Quang Đạo (1984-1987)Đặng Quốc Bảo (1987-1991)Nguyễn Đình Tứ (1991-1996)Đặng Hữu (1996-2002)Đỗ Nguyên Phương (2002-2007) Phó trưởng ban: Đặng Quốc Bảo (Phó trưởng ban thứ nhất đến 1987), Võ Thuần Nho, Phạm Như Cương (đến 1985), Trịnh Văn Tự (đến 1988), Hồ Trúc (đến 1984), Nguyễn Duy Quý (bổ sung 1985), Phạm Tất Dong (bổ sung 1988), Hoàng Đài (nghỉ hưu 1989), Vũ Đình Cự (từ 1991), Nguyễn Hữu Tăng (bổ sung 1994), Phạm Minh Hạc (Phó trưởng ban thứ nhất từ 1996), Trần Ngọc Tăng Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương (1980-1989) Trưởng ban: Trần Độ (đến 1982, 1986-1989)Hà Xuân Trường (1982-1986) Phó trưởng ban: Nguyễn Văn Hạnh, Trần Hoàn, Ca Lê Thuần Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (1989-2007) Trưởng ban: Trần Trọng Tân (đến 1991)Nguyễn Thái Ninh (1991-1992) Phó trưởng ban: Lê Xuân Đồng, Nguyễn Hoàng, Vũ Thị Thanh, Võ Quang Trinh, Nguyễn Thái Ninh, Hà Học Hợi, Cao Xuân Long Từ 1992-1996 Trưởng ban: Hà Đăng Phó trưởng ban: Hà Học Hợi, Hồ Anh Dũng, Lê Thanh Nhàn, Phạm Quang Nghị Từ 1996-2001 Trưởng ban: Hữu Thọ Phó trưởng ban: Phạm Quang Nghị, Hà Học Hợi, Trần Hoàn, Đào Duy Quát, Võ Hồng Nhân, Nguyễn Ngô Hai, Trần Văn Luật Từ 2001-2006 Trưởng ban: Nguyễn Khoa Điềm (đến 2006) Phó Trưởng ban: Đào Duy Quát, Phùng Hữu Phú Ban Tuyên giáo Trung ương (2007-nay) 2006-2011 Trưởng ban: Tô Huy Rứa Phó trưởng ban: Phùng Hữu Phú, Đào Duy Quát, Nghiêm Đình Vỳ, Vũ Ngọc Hoàng. 2011-2016 Trưởng ban: Đinh Thế Huynh Phó trưởng ban: Vũ Ngọc Hoàng, Mai Văn Ninh, Võ Văn Phuông, Nguyễn Bắc Son, Phạm Văn Linh, Nguyễn Thế Kỷ, Bùi Thế Đức, Lâm Phương Thanh 2016-2021 Trưởng ban: Võ Văn Thưởng Phó trưởng ban: Mai Văn Ninh, Võ Văn Phuông, Bùi Thế Đức, Lâm Phương Thanh, Phạm Văn Linh, Trương Minh Tuấn. == Cơ cấu Tổ chức == Vụ Lý luận chính trị Vụ Tuyên truyền Vụ Báo chí - Xuất bản Vụ Văn hoá - Văn nghệ Vụ Khoa học và Công nghệ - Môi trường Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề Vụ Các vấn đề xã hội Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác quốc tế Vụ Tổng hợp Vụ Tổ chức và Cán bộ Viện Nghiên cứu dư luận xã hội Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo Trung tâm Nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ và tư liệu Tạp chí Tuyên giáo Cơ quan thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh Cơ quan thường trực tại thành phố Đà Nẵng Văn phòng Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Tạp chí Thông tin Đối ngoại. Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tạp chí điện tử Ban Tuyên giáo Trung ương
thời kỳ đồ đá cũ ở nhật bản.txt
Thời kỳ đồ đá cũ (旧石器時代, kyū-sekki-jidai, "Cựu thạch khí thời đại") ở Nhật Bản bao trùm thời kỳ khoảng 100.000 đến 30.000 năm trước công nguyên, khi những công cụ bằng đá sớm nhất được tìm thấy, khoảng 14.000 năm TCN, vào cuối thời kỳ băng hà, tương ứng với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá giữa Jōmon. Thời gian 35.000 năm TCN được phần lớn mọi người chấp nhân: mọi niên đại của sự hiện diện con người trên đảo quốc này trước 30.000-35.000 năm TCN đều vẫn còn bàn cãi, với các đồ tạo tác ủng hộ cho sự hiện diện con người trước năm 35.000 TCN về mặt khảo cổ học vẫn còn bị nghi ngờ về tính xác thực. == Những công cụ đá sớm nhất == Công cụ đá sớm nhất của người Nhật, rìu và dao đá mài, được tìm thấy tại di chỉ Kamitakamori ở tỉnh Miyagi, có niên đại 500.000 năm TCN, nhưng sau đó phát hiện ra rằng đây là sự giả mạo của Fujimura Shinichi. Tuy vậy, phần lớn phát hiện về sơ kỳ đồ đá Nhật Bản bắt đầu sau năm 35.000 TCN, khiến cho niên đại này được phần lớn chấp nhận như là thời gian con người đã tiến tới Nhật Bản. Xương người sớm nhất được phát hiện ở Hamamatsu thuộc Shizuoka. Phương pháp phóng xạ cacbon đã cho thấy hóa thạch này có niên đại 14.000-18.000 năm tuổi. == Đá móng và công cụ được mài nhẵn == Thời kỳ đồ đá Nhật Bản cũng có sự độc đáo là sự xuất hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế giới, niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá mới, khoảng 10.000 năm TCN, tại phần còn lại của thế giới. Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại được làm ra sớm đến thế ở Nhật Bản, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm lên toàn cầu (cách ngày nay khoảng 30.000-20.000 năm), và các hòn đảo có lẽ đã hưởng lợi từ nó. Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài). Các công cụ thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản do đó thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới từ những năm 30.000 TCN. == Cổ nhân chủng học == Dân cư thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản, cũng như dân cư thời Jōmon sau này, có liên quan đến các nhóm người châu Á cổ sinh sống trên những phần rộng lớn của châu Á sau sự gia tăng dân số cấu thành bộ phần người ngày nay là người Trung Quốc, Triều Tiên, và Nhật Bản. Các đặc điểm tiêu biểu của xương có rất nhiều điểm tương đồng giữa những nhóm người bản địa trên lục địa châu Á. Cấu trúc răng thuộc về nhóm Sundadont (răng Sunda), chủ yếu phân bố trong dân cư cổ ở Đông Nam Á (nơi dân cư hiện nay thuộc về nhóm Sinodont (răng Trung Quốc)). Đặc điểm hộp sọ có xu hướng khỏe hơn, với đôi mắt sâu. Dân cư bản địa người Ainu, ngày nay phần lớn hạn chế trên hòn đảo phía Bắc Hokkaidō, có lẽ là hậu duệ của dân cư thời đồ đá cũ, và thể hiện các đặc điểm trong quá khứ được chỉ rõ là của đại chủng Âu, nhưng ngày nay có khuynh hướng nói chung coi họ là một phần của nhóm người sơ kỳ đồ đá cũ. Phân tích gen dân cư ngày nay không hoàn toàn rõ ràng và có xu hướng thể hiện sự pha trộn gen giữa dân cư tối cổ Nhật Bản với những người mới đến (Cavalli-Sforza). Ước tính rằng 10 đến 20% gen chủ yếu của người Nhật hiện nay nhận được từ người bản địa cổ đại thời kỳ đồ đá cũ-Jōmon, với phần còn lại đến từ những người nhập cư từ lục địa, đặc biệt là trong thời kỳ Yayoi. == Khảo cổ học về thời kỳ đồ đá cũ == Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản không bắt đầu cho đến khá gần đây: di chỉ đồ đá cũ đầu tiên được phát hiện ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Do những giả định trước đó rằng con người không sống ở Nhật Bản trước thời Jōmon, các hố khai quật thường chỉ dừng lại ở các vỉa đất thời Jōmon (14.000 năm TCN), và không được tiến hành xa hơn. Tuy vậy, từ khi phát hiện đầu tiên về thời kỳ đồ đá cũ, khoảng 5.000 di chỉ đồ đá cũ đã được phát hiện, một số trong số đó tại những di chỉ khảo cổ thời Jōmon. Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản được mô tả từ số lượng thông tin lớn của địa tầng học vì hoạt động tự nhiên của núi lửa ở hòn đảo này: các vụ phun trào lớn có xu hướng bao phủ các hòn đảo với các lớp bụi núi lửa, có thể dễ dàng xác định ngày tháng và có thể được tìm thấy trên khắp đất nước làm dữ liệu tham khảo. Một tầng đất quan trọng như thế là đá bọt AT (Aira-Tanzawa), bao phủ toàn bộ Nhật Bản khoảng 21.000-22.000 năm. Năm 2000, danh tiếng của ngành khảo cổ học Nhật Bản về thời kỳ đồ đá cũ bị tổn hại nặng nề vì một vụ scandal. Tờ Mainichi Shimbun phanh phui chuyện các bức ảnh theo đó Shinichi Fujimura, một nhà khảo cổ học nghiệp dư tại tỉnh Miyagi, là những đồ tạo tác sắp đặt trước tại di chỉ Kamitakamori, nơi ông ta "tìm thấy" các đồ tạo tác ngày hôm sau. Ông này đã thừa nhân sự bịa đặt trong một cuộc phỏng vấn trên một tờ báo. Viện Khảo cổ học Nhật Bản hủy bỏ tư cách thành viên của Fujimura. Một đội điều tra đặc biệt của Hội khám phá ra rằng gần như mọi đồ tạo tác mà ông này đã tìm ra đều là đồ giả. Kể từ khi vụ giả mạo bị khám phá, chỉ một vài di chỉ có thể phỏng đoán rằng có hoạt động của con người ở Nhật Bản từ 40.000-50.000 năm TCN, và thời gian đầu tiên được chấp nhận rộng rãi về sự hiện diện của con người trên hòn đảo này có thể tin được là 35.000 năm TCN. == Xem thêm == Danh sách các di chỉ khảo cổ xếp theo lục địa và thời đại Danh sách thời kỳ khảo cổ học == Chú thích == === Tham khảo thêm === Lịch sử và Địa lý gen nguowif, Cavalli-Sforza, Nhà xuất bản Đại học Princeton, ISBN 0-691-08750-4 Ainu:Tinh thần của người phương Bắc, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Quốc gia, Viện Smithsonian, ISBN 0-9673429-0-2 Shoh Yamada (2002). Harvard Asia Quarterly "Đời sống chính trị và tính cách: Scandal khảo cổ học tồi tệ nhất của Nhật Bản ", Tập VI, Số 3. Mùa hè
quốc kỳ.txt
Quốc kỳ là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia. Những công trình công cộng và tư nhân như trường học và cơ quan chính phủ thường treo quốc kỳ. Ở một vài nước, quốc kỳ chỉ được treo ở những công trình phi quân sự vào những ngày treo cờ cụ thể. Có ba loại quốc kỳ phân biệt để sử dụng trên đất liền, và ba loại để sử dụng trên biển, mặc dù nhiều nước sử dụng cùng một kiểu thiết kế cho vài (đôi khi tất cả) các loại cờ. == Nguồn gốc quốc kỳ == Từ xa xưa, người ta đã biết dùng lá cờ để biểu trưng cho một nhân vật lãnh đạo hay một gia tộc lãnh chúa. Trong quân sự, các vị thống lãnh đều dùng lá cờ của bên mình làm điểm hội tập binh sĩ, nơi xuất phát các hiệu lệnh hành quân. Trong các cuộc giao chiến, việc cắm được cờ của mình trên đất địch hay cướp đoạt được cờ của địch đều được xem là một chiến công rạng rỡ. Thời quân chủ chuyên chế, lá cờ của nhà vua cũng là biểu tượng của quốc gia, nhưng chỉ được dựng lên tại những nơi có vua ở. Ở những nơi khác thì dựng cờ của các vị lãnh chúa địa phương. Ý niệm quốc kỳ là biểu tượng chủ quyền quốc gia trên toàn thể lãnh thổ chỉ mới xuất hiện về sau này. == Quốc kỳ sử dụng trên đất liền == Trên đất liền, có sự phân biệt giữa cờ dân sự (ký hiệu FIAV ), cờ chính quyền () và cờ chiến tranh hay quân sự (). Cờ chính quyền là những loại cờ được sử dụng chính thức bởi những cơ quan chính phủ, trong khi cờ dân sự có thể được treo bởi bất cứ ai bất kể họ có liên quan đến chính phủ hay không. Cờ chiến tranh (hay cờ quân sự) được sử dụng bởi những tổ chức quân sự như quân đội. Trong thực tế, nhiều quốc gia (trong đó có Hoa Kỳ và Anh) dùng chung một loại cờ cho ba mục đích trên; "quốc kỳ" đôi khi được dùng như một thuật ngữ trong môn kỳ học để chỉ loại cờ dùng chung cho ba mục đích () như vậy. Tuy nhiên, ở một số quốc gia—đặc biệt là ở Châu Mỹ Latinh—có một sự khác nhau rõ ràng giữa cờ dân sự và cờ chính quyền. Đa phần cờ dân sự là phiên bản đơn giản hóa của cờ chính quyền, sự khác nhau thường ở chỗ cờ chính quyền có hình huy hiệu của chính quyền, còn cờ dân sự thì không có. Một số rất ít quốc gia sử dụng lá cờ quân sự khác với cờ chính quyền; Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một ngoại lệ đáng chú ý. == Cờ hiệu quốc gia trên biển == Nhiều quốc gia có những quốc kỳ đặc biệt để sử dụng trên biển gọi là cờ hiệu quốc gia. Cũng như vậy, có ba loại khác nhau: cờ hiệu dân sự (), được treo trên các tàu tư nhân; cờ hiệu chính quyền (còn được gọi là cờ hiệu chính phủ ), được treo trên tàu thủy của chính quyền; và cờ hiệu chiến tranh (còn được gọi là cờ hiệu hải quân ), được treo trên tàu hải quân. Cờ hiệu được treo trên một cột cờ hiệu nằm ở đuôi tàu, hoặc từ một cây lao khi di chuyển. Cả hai vị trí này phải là điểm cao nhất trên con tàu, ngay cả đỉnh cột buồm cao hơn. Khi không có cột cờ, cờ hiệu có thể được treo trên mũi tàu. Quốc kỳ cũng có thể được treo trên hàng không mẫu hạm và những phương tiện đi lại của những quan chức quan trọng. Ở một vài quốc gia, như Hoa Kỳ và Pháp, cờ hiệu quốc gia đồng nhất với quốc kỳ, trong khi ở những nước khác, như Anh và Nhật Bản, có những cờ hiệu riêng để sử dụng trong hàng hải. Đa số các quốc gia không có cờ hiệu chính quyền riêng biệt, mặc dù Anh là một ngoại lệ hiếm hoi, cờ hiệu đỏ dùng cho dân sự, cờ hiệu trắng dùng cho hải quân và cờ hiệu xanh dương dùng cho những con tàu phi quân sự của chính quyền. == Những lá cờ tương tự nhau == Mặc dù quốc kỳ đồng nghĩa với một biểu tượng độc nhất của một quốc gia, nhiều quốc gia có những lá cờ khá giống và do đó rất dễ nhầm với nhau. Ví dụ như cờ của Monaco và Indonesia, chỉ khác nhau rất ít về tỷ lệ cờ; của Hà Lan và Luxembourg, khác nhau về tỷ lệ và độ đậm nhạt của màu xanh trên cờ; và của România và Tchad, gần như giống hệt nhau. Trong khi một vài sự tương đồng là tình cờ, những sự tương đồng khác lại xuất phát từ những lịch sử chung. Ví dụ như lá cờ của Venezuela, Colombia và Ecuador tất cả đều là những biến thể của lá cờ Đại Colombia, một đất nước bao gồm các quốc gia trên cho đến khi họ độc lập khỏi Tây Ban Nha, được lập nên bởi anh hùng giải phóng người Venezuela Francisco de Miranda; còn lá cờ của Ai Cập, Iraq, Syria và Yemen đều là những biến thể tương tự nhau từ lá cờ của cuộc khởi nghĩa Ả rập vào 1916–1918. Nhiều sự tương đồng khác có thể được tìm thấy giữa những quốc kỳ hiện thời, nếu xem xét đến sự đảo thứ tự các màu (như cờ của Bờ Biển Ngà với cờ Ireland, cờ Ba Lan với cờ Indonesia, Monaco và Serbia với cờ Liên Bang Nga). Còn nhiều sự đồng nhất hoặc gần giống nhau hơn nữa nếu so sánh những lá cờ hiện nay và trong lịch sử; ví dụ như, quốc kỳ hiện nay của Albania chính là cờ chiến tranh của Đế chế Byzantine (Đông Roma). Ngoài ra có thể tìm thấy một vài điểm tương đồng như nền cờ đỏ và ngôi sao vàng trên cờ những nước khối xã hội chủ nghĩa là Việt Nam (5 tháng 9 năm 1945 đến nay), Trung Quốc (27 tháng 9 năm 1949 đến nay) và Liên Xô (12 tháng 11 năm 1923 đến 25 tháng 12 năm 1991). Mặt khác, nền đỏ cùng búa, liềm vàng vốn là biểu tượng của sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân trên thế giới. == Quy ước chung của quốc kỳ == Có rất nhiều quy ước liên quan đến cách trình bày quốc kỳ sao cho đúng. Ví dụ như, quốc kỳ không bao giờ được treo ngược trừ khi như một biểu hiện của treo cờ rủ. Có nhiều quy định liên quan đến sự trình bày quốc kỳ, nhưng quy tắc chung đó là quốc kỳ phải được treo ở vị trí danh dự, và không bao giờ ở vị trí thấp hơn các lá cờ khác (mặc dù vài quốc gia có ngoại lệ dành cho những tiêu chuẩn hoàng gia). Những quy định sau là tiêu biểu. Khi lá quốc kỳ được treo cùng với những lá cờ khác, nó phải được kéo lên đầu tiên và hạ xuống cuối cùng. Khi lá quốc kỳ được treo cùng với các quốc kỳ của quốc gia khác, tất cả các lá cờ phải có kích thước xấp xỉ bằng nhau và phải được treo ở cùng độ cao, mặc dù quốc kỳ của quốc gia chủ nhà có thể được đặt ở vị trí danh dự (ở trung tâm của số lẻ các cột cờ hoặc ở ngoài cùng bên phải – tức là bên trái từ vị trí một người quan sát – của số chẵn các cột cờ). Khi lá quốc kỳ được treo cùng với những lá cờ khác không phải là quốc kỳ, nó phải được treo trên cột cờ riêng, hoặc cao hơn hoặc phải đứng ở vị trí danh dự. Khi lá quốc kỳ được treo cùng với bất cứ lá cờ nào khác trên cùng một cột cờ, nó phải nằm trên cùng, mặc dù sử dụng cột cờ phân biệt thường được dùng nhiều hơn. Khi lá quốc kỳ được treo cùng với một lá cờ khác trên cột chéo, quốc kỳ phải nằm ở phía trái người quan sát và cột treo quốc kỳ phải ở phía trước cột cờ còn lại. Khi lá quốc kỳ được treo cùng với một hoặc nhiều lá cờ khác trong cuộc diễn hành, quốc kỳ phải ở bên phải nhóm diễu hành. Nếu có một hàng cờ, quốc kỳ nên nằm ở vị trí danh dự. Khi lá quốc kỳ, trong vài trường hợp ngoại lệ, được treo ngược, đó là biểu hiện của lá cờ rủ. == Thông tin khác == Dannebrog, quốc kỳ của Đan Mạch, là lá cờ chính quyền cổ nhất còn tồn tại. Quốc kỳ Nepal là lá cờ hình tam giác duy nhất trên thế giới. Cờ Scotland là một trong những lá cờ cổ xưa nhất trên thế giới, xuất hiện từ thế kỷ 9, và là quốc kỳ cổ xưa nhất còn được dùng ngày nay. Lá cờ của Thụy Sĩ và Thành quốc Vatican là những lá cờ vuông duy nhất. Cờ của Philippines là lá cờ độc nhất được treo ngược (màu đỏ ở trên cùng) khi đất nước có chiến tranh. Sự phối hợp các màu phổ biến nhất là: Đỏ, trắng, xanh dương (chủ yếu các nước châu Âu và phương Tây) Đỏ, vàng, xanh lá cây (chủ yếu các nước châu Phi) Đỏ, trắng, đen (chủ yếu các nước Trung Đông/Hồi giáo) Vòng tròn Olympic – xanh dương (Châu Âu), vàng (Châu Á), đen (Châu Đại Dương), xanh lá cây (Châu Phi) và đỏ (Châu Mỹ) đại diện cho những màu được sử dụng ít nhất một lần ở tất cả các quốc kỳ trên thế giới. Cờ của Đại dân quốc Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Ảrập Libya (sử dụng trong thời gian 1977–2011) là lá cờ duy nhất chỉ gồm một màu, xanh lá cây. Cờ Đảo Síp và Kosovo là những lá cờ vẽ bản đồ quốc gia mà nó đại diện. == Xem thêm == Danh sách quốc kỳ Lá cờ == Tham khảo == Flags of the World, lưu trữ một lượng lớn thông tin về quốc kỳ và các loại cờ khác The World All Countries Flags, website về các biểu tượng của quốc gia OpenClipart.org bộ sưu tập các lá cờ trên thế giới ở định dạng vector SVG Dữ liệu về lịch sử các lá cờ Bản mẫu:Nationalflags
tiếng ả rập.txt
Tiếng Ả Rập (tiếng Ả Rập: العَرَبِيَّة, Al-ʻarabiyyah [ʔalʕaraˈbijːah] ( listen) or tiếng Ả Rập: عَرَبِيّ ʻarabiyy [ʕaraˈbijː] ( listen)) là một ngôn ngữ Trung Semit đã được nói từ thời kỳ đồ sắt tại tây bắc bán đảo Ả Rập và nay là lingua franca của thế giới Ả Rập. Ả Rập là một thuật ngữ ban đầu được dùng để mô tả những nhóm người sống trong vùng từ Lưỡng Hà ở phía đông tới dãy núi Anti-Liban ở phía tây, và từ tây bắc bán đảo Ả Rập tới Sinai ở phía nam. Một số dạng tiếng Ả Rập không thể thông hiểu lẫn nhau. Điều này có nghĩa là nếu chỉ xem xét về mặt ngôn ngữ học, tiếng Ả Rập thực chất gồm nhiều hơn một ngôn ngữ, nhưng chúng thường được gộp chung vào nhau vì lý do chính trị và tôn giáo. Nếu xem như một ngôn ngữ, tiếng Ả Rập được nói bởi 422 triệu người (bản ngữ và phi bản ngữ) trong thế giới Ả Rập, khiến nó trở thành một trong những ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới. Nếu được chia ra nhiều ngôn ngữ, thì thứ tiếng phổ biến nhất sẽ là tiếng Ả Rập Ai Cập với 89 triệu người nói—vẫn nhiều hơn bất kỳ ngôn ngữ Phi-Á nào. Tiếng Ả Rập còn là ngôn ngữ hành lễ của 1,6 tỷ người Hồi giáo. Đây cũng là một trong sáu ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc. Ngôn ngữ viết hiện đại (Tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại) xuất phát từ tiếng Ả Rập kinh Qur’an (được gọi tiếng Ả Rập cổ điển hay tiếng Ả Rập Qur’an). Nó được giảng dạy rộng rãi trong trường học và đại học, và được dùng ở nhiều mức độ tại nơi làm việc, chính phủ, và trong truyền thông. Hai dạng ngôn ngữ viết này (tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại, và tiếng Ả Rập cổ điển) được gọi chung là tiếng Ả Rập văn học, là ngôn ngữ chính thức của 26 quốc gia và ngôn ngữ hành lễ của Hồi giáo. Tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại phần nhiều có cùng ngữ pháp với tiếng Ả Rập Qur'an, với phần từ vựng không thay đổi nhiều. Tuy vậy, nó đã loại bỏ những từ vựng không còn tồn tại trong ngôn ngữ nói nữa, đồng thời tiếp nhận từ vựng cho các khái niệm trong thời kỳ hậu Qur'an và đặc biệt thời hiện đại. Tiếng Ả Rập được viết bằng chữ Ả Rập, một hệ chữ abjad và được viết từ phải sang trái. == Tham khảo == Bateson, Mary Catherine (2003), Arabic Language Handbook, Georgetown University Press, ISBN 0878403868 Gregersen, Edgar A. (1977), Language in Africa, CRC Press, ISBN 0677043805 Grigore, George (2007), L'arabe parlé à Mardin. Monographie d'un parler arabe périphérique, Bucharest: Editura Universitatii din Bucuresti, ISBN 9789737372499 Hanna, Sami A.; Greis, Naguib (1972), Writing Arabic: A Linguistic Approach, from Sounds to Script, Brill Archive, ISBN 9004035893 Hetzron, Robert (1997), The Semitic languages , Taylor & Francis, ISBN 9780415057677 Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Haywood; Nahmad (1965), A new Arabic grammar, London: Lund Humphries, ISBN 085331585X Kaplan, Robert B.; Baldauf, Richard B. (2007), Language Planning and Policy in Africa, Multilingual Matters, ISBN 1853597260 Kaye, Alan S. (1991), “The Hamzat al-Waṣl in Contemporary Modern Standard Arabic”, Journal of the American Oriental Society (American Oriental Society) 111 (3): 572–574, doi:10.2307/604273, JSTOR 10.2307/604273 Lane, Edward William (1893), [[Arabic English Lexicon]] , New Delhi: Asian Educational Services, ISBN 8120601076 Mumisa, Michael (2003), Introducing Arabic, Goodword Books, ISBN 8178982110 Procházka, S. (2006), “"Arabic"”, Encyclopedia of Language and Linguistics (ấn bản 2) Thelwall, Robin (2003), “Handbook of the International Phonetic Association a guide to the use of the international phonetic alphabet”, Handbook of the International Phonetic Association (Cambridge, UK: Cambridge), ISBN 0-521-63751-1 Steingass, F. (1993), Arabic-English Dictionary, Asian Educational Services, ISBN 9788120608559 Traini, R., Vocabolario di arabo, Rome: I.P.O. Versteegh, Kees (1997), The Arabic Language, Edinburgh University Press, ISBN 9004177027 Vaglieri, Laura Veccia, Grammatica teorico-pratica della lingua araba, Rome: I.P.O. Watson, Janet (2002), The Phonology and Morphology of Arabic, New York: Oxford University Press, ISBN 0198241372 Wehr, Hans (1952), Arabisches Wörterbuch für die Schriftsprache der Gegenwart: Arabisch-Deutsch , Harassowitz, ISBN 3447019980 Wright, John W. (2001), The New York Times Almanac 2002, Routledge, ISBN 1579583482 == Liên kết ngoài == Tài liệu An encyclopedic reference work cataloging all of the world’s 6,909 known living languages including Arabic Arabic grammar online A Review of Arabic Language Books and Methods Arabic natural language processing publications Arabic: a Category III language Languages which are exceptionally difficult for native English speakers Dr. Habash's Introduction to Arabic Natural Language Processing Dr. Shaalan's talk about Rule-based approach in Arabic NLP: Tools, Systems and Resources Công cụ Lane's Arabic-English Lexicon - An 8-volume, 3000-page dictionary in PDF format. Google Ta3reeb – Google Transliteration Transliteration Arabic language pronunciation applet Realtime Arabic transliteration