Search is not available for this dataset
text
stringlengths
1
25.3k
Đại diện E&Y; tại tòa là ông Nguyễn Quốc Tuấn cho biết mới nhận được văn bản triệu tập từ HĐXX vào trưa ngày 31/1 nên ban lãnh đạo chưa sắp xếp được công việc.
Vì vậy, ông Tuấn có mặt tòa để tiếp thu các ý kiến về trình ban lãnh đạo để phản hồi chính thức cho tòa.
Ông Tuấn cũng cho biết thêm các kiểm toán viên kiểm toán báo cáo VNCB năm 2014 đã không còn làm việc tại E&Y.
; Luật sư Hà Hải bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh đặt một số câu hỏi liên quan tới báo cáo kiểm toán VNCB năm 2014, ông Tuấn trả lời như đã trình bày, ông đến tòa để ghi nhận các ý kiến của HĐXX chứ không thể trả lời ngay.
HĐXX nhắc nhở trong giấy triệu tập đã ghi rất rõ là nhằm làm rõ báo cáo kiểm toán VNCB 2014 do E&Y; thực hiện.
Chỗ nào trả lời được luật sư thì ông Tuấn hãy trả lời.
Chủ tọa phiên tòa hỏi ông Tuấn đã chuẩn bị nội dung trả lời chưa?
Ông Tuấn trả lời vì thời gian gấp gáp chưa thể chuẩn bị, cũng chưa trả lời được, sẽ trao đổi lại với lãnh đạo và có ý kiến trả lời cho HĐXX xung quanh nội dung đó.
Luật sư Trần Minh Hải bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh tiếp tục đặt câu hỏi với đại diện E&Y.
; - E &Y; là công ty kiểm toán xếp thứ hạng như thế nào trong các công ty kiểm toán hiện nay ở Việt Nam?
- Theo quan điểm cá nhân tôi, ở Việt Nam chưa có bảng xếp hạng nào đánh giá các cơ quan kiểm toán.
- E &Y; đã kiểm toán bao nhiêu doanh nghiệp tại Việt Nam?
- Vấn đề này chúng tôi xin tiếp thu ý kiến và sẽ trả lời sau.
- Vấn đề này anh phải trả lời rất nghiêm túc vì ở đây liên quan tới câu chuyện báo cáo tài chính ở ngân hàng.
Anh là đại diện cho một hãng kiểm toán, từ trước đến nay E &Y; luôn công bố là 1 trong những hãng kiểm toán "big4" (4 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới - PV) nên tôi đề nghị anh trả lời có trách nhiệm.
Những lời anh trả lời tại phiên tòa thể hiện nhận thức và hiểu biết của một hãng kiểm toán chuyên đi kiểm toán ngân hàng.
Tôi tiếp tục hỏi anh là đại diện E&Y;, vốn điều lệ của ngân hàng được kiểm tra trên các căn cứ giấy tờ pháp lý chuẩn mực nào?
- Tôi sẽ ghi nhận ý kiến của luật sư và sẽ phản hồi lại cho quý tòa sau khi đã trao đổi với ban lãnh đạo.
- Đây là một phiên tòa công khai, các vấn đề tôi hỏi với trình độ một kiểm toán viên mới vào nghề đều có thể nắm được.
Tôi hỏi tiếp, vốn hoạt động của ngân hàng có phải bao gồm vốn chủ sở hữu và tổng nợ phải trả không?
- Vấn đề này tôi sẽ ghi nhận và phản hồi lại sau với luật sư.
- Khi đi kiểm tra về tính chất pháp lý báo cáo tài chính của một ngân hàng, các anh có căn cứ vào giấy chứng nhận kinh doanh và giấy phép hoạt động của ngân hàng nhà nước không?
- Đây là vấn đề chung, không liên quan vụ án nên tôi không trả lời.
- Chỉ bằng từng đó câu hỏi nhưng tôi cho rằng đại diện E &Y; có mặt tại phiên tòa hôm nay với tư cách đại diện 1 công ty kiểm toán.
Mặc dù tôi chưa hỏi các vấn đề phiền phức chi tiết liên quan báo cáo tài chính nhưng qua đó, tôi đề nghị HĐXX xem xét bãi bỏ tư cách của vị đại diện này.
Vì ông ta không hiểu một chút nào về kiểm toán kế toán, liên quan đến nghiệp vụ tài chính ngân hàng.
Do đó, xin mời lãnh đạo E&Y; hiểu biết về các nghiệp vụ này có mặt tại phiên tòa.
HĐXX nhắc nhở ông Tuấn trình lại ban lãnh đạo chiều nay có trả lời hoặc có thể phải có văn bản trả lời.
Luật sư Trương Quốc Hòe bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh hỏi ông Tuấn: - Tài liệu để E &Y; kiểm toán VNCB có phải là báo cáo kế toán của VNCB năm 2014 không?
- Tôi không phải người phụ trách chính cho kiểm toán VNCB nên tôi sẽ tiếp thu, lấy ý kiến ban lãnh đạo và trả lời sau.
Vì vậy, luật sư Hòe nói xin gửi 3 câu hỏi tới ban lãnh đạo E&Y;: - Dựa vào tài liệu nào làm báo cáo kiểm toán?
- Trách nhiệm của kiểm toán viên với tài liệu trong báo cáo trước hội đồng kiểm toán?
- Trong trường hợp chuyển đổi sở hữu của loại hình doanh nghiệp thì trách nhiệm của kế toán và kiểm toán phải làm gì?
Trước diễn biến trên, luật sư Trần Minh Hải cho rằng có vấn đề tế nhị nào đó mà đại diện E&Y; không muốn bày tỏ quan điểm trước tòa.
Tuy nhiên luật sư Hải nói theo luật định, báo cáo tài chính có ý kiến kiểm toán phải được công bố công khai.
Do đó, luật sư Hải kiến nghị HĐXX yêu cầu công khai báo cáo tài chính năm 2014 của VNCB để tiếp cận, xét xử phục vụ vụ án.
Liên quan tới số tiền 4.500 tỷ đồng tăng vốn VNCB, các luật sư cho rằng số tiền này phải được hạch toán vào khoản mục nợ phải trả chứ không phải trong mục vốn điều lệ của VNCB.
Sở dĩ NHNN chưa có văn bản đồng ý cho VNCB tăng vốn điều lệ.
Trong khi đó, CBBank (VNCB sau khi được NHNN mua lại 0 đồng) lại cho rằng số tiền này đã được chi dùng hết cho các mục đích của ngân hàng và đã bị hòa chung dòng tiền, không thể thu hồi lại.
Các luật sư bào chữa cho Phạm Công Danh cho rằng điều này là trái pháp luật, do số tiền chỉ ở mục nợ phải trả nên chưa thuộc sở hữu của CBBank, cần phải hoàn trả lại để khắc phục thiệt hại vụ án theo cáo trạng (6.126 tỷ đồng).
Khổng Chiêm
Cuộc chiến chưa hồi kết.
Dù đánh giá cao những nỗ lực của các bộ, ngành năm qua trong việc cắt giảm ĐKKD, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, những thay đổi về ĐKKD vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế và cộng đồng DN.
Thường xuyên biến động Theo CIEM, qua kết quả rà soát ĐKKD cho thấy các bộ hiện vẫn lúng túng trong phân biệt ĐKKD đối với ngành nghề và quản lý chuyên ngành đối với sản phẩm, hàng hóa.
Do vậy, nhiều điều kiện về quản lý chuyên ngành đối với sản phẩm, hàng hóa được quy định thành ĐKKD.
Bên cạnh đó, các quy định về điều kiện chung (giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, môi trường, an toàn lao động ) dù đã được quản lý bởi các cơ quan như Kế hoạch - Đầu tư, Công an, Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội nhưng các bộ khác vẫn quy định quản lý những điều kiện này.
Nhiều bộ vẫn còn giữ lại ĐKKD không cần thiết, hoặc được quy định chung chung, không rõ ràng, không cụ thể.
Không những vậy, trong số ĐKKD đề xuất bãi bỏ, sửa đổi khoảng 1/2 số điều kiện thuộc diện sửa đổi.
Có điều kiện sửa đổi chỉ đơn thuần diễn đạt lại từ ngữ, chưa thực chất tạo thuận lợi cho DN.
Các ĐKKD đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động và sự phát triển của DN Việt Nam.
Nó làm thui chột ý chí kinh doanh, gây cản trở việc gia nhập thị trường, đặc biệt cản trở việc khởi nghiệp, sáng tạo của các DN.
Không những vậy, các ĐKKD còn ngăn chặn xu hướng liên kết giữa các DN, trong khi đây chính là điểm yếu của các DN Việt Nam.
Ông Vũ Tiến Lộc,Chủ tịch VCCI Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng CIEM, từng bày tỏ lo lắng về việc Nhà nước can thiệp quá nhiều vào hoạt động kinh doanh của người dân, DN.
Một trong những bằng chứng là việc ban hành nhiều ĐKKD chồng chéo giữa các bộ, ngành khiến DN tư nhân bị trói .
Thí dụ, điều kiện quy định chứng chỉ về kế toán viên ở nghị định, nhưng trình tự thủ tục hồ sơ, thi tuyển lại quy định ở thông tư.
Cơ quan quản lý nói đó không phải ĐKKD nên có thể đưa vào thông tư.
Nhưng chúng tôi cho rằng yêu cầu DN, cá nhân phải đáp ứng là ĐKKD, đó là né tránh và gọi đó là giấy phép con - ông Hiếu nói.
Cũng theo chuyên gia này, thách thức đáng lo ngại nhất hiện nay là ĐKKD đang chuyển sang các hình thức khác như quy chuẩn và tiêu chuẩn.
Nội dung có sự trùng lặp nhưng bản chất khác nhau.
Quy chuẩn là bắt buộc, tiêu chuẩn là DN tự xây dựng, công bố, nếu kiểm soát không tốt ĐKKD sẽ bị lạm dụng.
Cuộc đấu tranh với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện là cuộc chiến thay đổi liên tục, biến động.
Cho đến nay, không ai có thể thống kê chính xác bao nhiêu ĐKKD và được ban hành ở văn bản nào.
ĐKKD biến đổi hàng ngày, hàng giờ - ông Hiếu nhấn mạnh.
Tại hội nghị Chính phủ với các địa phương vừa qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, cho biết tương ứng với 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tổng số điều kiện đầu tư kinh doanh hiện khoảng 4.284.
Tuy nhiên, hệ thống quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh hay thay đổi và khó theo dõi, thống kê, cập nhật một cách chính xác, kịp thời.
Thậm chí có ngành nghề đầu tư kinh doanh các điều kiện được quy định ở nhiều nghị định khác nhau, theo phạm vi quản lý bộ, ngành về sản phẩm, dịch vụ liên quan.
Thí dụ, ĐKKD thực phẩm được phân chia theo lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và được quy định tại 1 luật và 4 nghị định khác nhau, gồm Luật An toàn thực phẩm cùng các nghị định 38/2012/NĐ-CP, 77/2016/NĐ-CP, 66/2016/NĐ-CP và 67/2016/NĐ-CP.
Theo Ban Pháp chế, Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điều lo ngại hiện nay là biến tướng của ĐKKD.
Các ĐKKD được ban hành dường như ngày càng tinh vi hơn khi xuất hiện dưới dạng thông báo, phương án kinh doanh đã được duyệt thay vì giấy phép như trước đây.
Thậm chí, có hiện tượng một số cơ quan ban hành ĐKKD con để loại đối thủ cạnh tranh, tạo lợi ích nhóm Kiên quyết xóa rào cản Trong một báo cáo tổng hợp ý kiến từ DN, VCCI đã khuyến nghị Chính phủ cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ ĐKKD và thủ tục hành chính, trước hết tập trung cải cách danh mục ngành nghề kinh doanh có điề...
Tại Nghị quyết 01 (về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018) ban hành đầu năm nay, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa 50% ĐKKD nhằm cải thiện căn bản các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh.
Những yêu cầu về cắt giảm ĐKKD liên tục được Chính phủ đưa ra gần đây cho thấy, Chính phủ nhìn nhận rõ tầm quan trọng của các lực cản này với nền kinh tế.
Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), cần lưu ý đến những thay đổi trong môi trường kinh doanh, giám sát chéo lộ trình ban hành các ĐKKD, cũng như tiếp tục rà soát để cắt giảm những quy định không phù hợp, không cần thiết.
Cùng với đó, chú ý đến tình trạng giảm số lượng giấy phép con tại bộ chuyên ngành nhưng lại có thêm nhiều điều kiện mới ở các cơ quan cấp thấp hơn, hoặc chuyển điều kiện từ bộ chuyên ngành này sang bộ chuyên ngành khác.
Luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật Basico, cho rằng nhiều đối tượng liên quan, từ cán bộ nhà nước cho tới DN, không muốn bỏ ĐKKD vì những đặc quyền đặc lợi mang lại.
Thí dụ, một loạt ĐKKD của ngành công thương quy định về quy mô, nhiều DN lớn không muốn bỏ vì điều kiện này có thể giúp loại bỏ đối thủ quy mô nhỏ hơn.
Theo ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế, kết quả khảo sát 7 năm gần đây, cho thấy DN Việt Nam nhỏ và xu hướng nhỏ dần, trong khi lẽ ra càng phải lớn trong cạnh tranh.
Vậy câu hỏi đặt ra là môi trường kinh doanh có thực sự khuyến khích?
Có vấn đề về gia nhập thị trường hay đăng ký DN có vấn đề?
Cải cách nhanh nhưng ĐKKD để DN tham gia một số ngành nghề đang là câu hỏi đặt ra.
Hiến pháp nói quyền tự do kinh doanh chỉ bị giới hạn bởi quy định pháp luật, có căn cứ rõ ràng nhưng hiểu thế nào để có điều kiện hợp lý lại không đơn giản.
Quyền tự do kinh doanh không phải tuyệt đối nhưng nghiêng về mặt này cũng sẽ bóp nghẹt quyền tự do kinh doanh, hạn chế quá mức cần thiết và gây khó khăn.
Để DN có quyền tự do kinh doanh, phát triển và hướng đến mục tiêu 1 triệu DN hoạt động có hiệu quả vào năm 2020, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN, là vấn đề cấp thiết đang đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp mạnh để xóa bỏ các rào cản trên.
Quang Minh
Tiếp tục xóa bỏ ung nhọt, râu ria.
Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) được coi như điểm nhấn đáng kể trong nỗ lực cải cách thể chế kinh tế thời gian gần đây của các bộ, ngành, địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh việc ghi nhận nỗ lực, cần tiếp tục duy trì động lực cải cách, bởi dư địa cải cách còn rất lớn, vẫn còn hàng ngàn ĐKKD bất hợp lý cần được loại bỏ.
Hàng trăm thủ tục được cắt bỏ Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ và kết quả kiểm tra của Tổ công tác Thủ tướng (Văn phòng Chính phủ) trong năm 2017, đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực.
Theo đó, Tổ công tác Thủ tướng đã thực hiện 9 cuộc kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại 13 bộ quản lý chuyên ngành và 2 địa phương, cơ quan liên quan.
Kết quả kiểm tra đã phát hiện nhiều bất cập, tồn tại liên quan đến công tác KTCN gây tốn kém thời gian, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp (DN) và xã hội.
Ước tính hàng năm các DN phải bỏ ra khoảng 30 triệu ngày công và 14.300 tỷ đồng để thực hiện các thủ tục về KTCN khi xuất nhập khẩu hàng hóa.
Việc cắt giảm các ĐKKD, tháo gỡ khó khăn cho DN là công việc trọng tâm suốt quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện bộ máy, thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh vì mục tiêu Chính phủ kiến tạo.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục lắng nghe cộng đồng DN để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh; tiếp tục rà soát để giảm bớt danh mục hàng hóa thuộc diện KTCN, bao gồm cả trước thông quan và sau thông quan.
Với các mặt hàng bắt buộc phải kiểm tra, bộ sẽ tăng cường hình thức hậu kiểm và đẩy mạnh việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro.
Đồng thời, bộ tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị tư nhân tham gia vào hoạt động KTCN.
Ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương Cụ thể, các bộ đã khẩn trương phân loại, tách bạch danh mục hàng hóa phải KTCN còn chồng chéo; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với danh mục sản phẩm, hàng hóa phải thực hiện KTCN; đẩy mạnh công nhận lẫn nhau, xã hội hóa công tác kiểm tra, kiểm nghiệm, không còn tì...
Các bộ đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý rủi ro, đẩy mạnh sang hậu kiểm, thực hiện cải cách, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính còn nhiêu khê, chồng chéo.
Hầu hết danh mục hàng hóa được ban hành đã gắn kèm mã số HS (phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu trên toàn thế giới).
Nhiều mã hàng thuộc diện phải KTCN đã được cắt giảm hoặc xỏa bỏ trong năm 2017.
Đáng chú ý, Bộ Công Thương đã xóa bỏ 420/720 mã hàng phải kiểm tra trước thông quan, công bố danh mục sản phẩm hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật và an toàn thực phẩm trước khi thông quan.