text stringlengths 1 148k | label int64 0 2 | __index_level_0__ int64 0 113k ⌀ |
|---|---|---|
Triệu Vũ hầu (chữ Hán: 趙武侯, trị vì: 399 TCN - 387 TCN), cũng gọi là Triệu Vũ Công (趙武公), là vị vua thứ hai của nước Triệu - chư hầu nhà Chu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Triệu Vũ hầu là con thứ của Triệu Hiến tử - quan thượng khanh nước Tấn và là em của Triệu Liệt hầu – vua đầu tiên nước Triệu.
Năm 400 TCN, Triệu Liệt hầu qua đời. Triệu Vũ hầu lên nối ngôi.
Sử sách không chép về các sự kiện liên quan đến nước Triệu trong thời gian ông làm vua.
Năm 387 TCN, Triệu Vũ hầu qua đời. Ông tại vị 13 năm. Người nước Triệu lập con Triệu Liệt hầu là Triệu Chương lên nối ngôi, tức là Triệu Kính hầu. | 1 | null |
Chiến dịch Compass là hoạt động quân sự lớn đầu tiên của phe Đồng Minh trong Chiến dịch Sa mạc Tây thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung đã tấn công đội quân Ý tại miền tây Ai Cập và đông Libya trong thời gian từ tháng 12 năm 1940 đến tháng 2 năm 1941. Lực lượng Sa Mạc Tây của trung tướng Sir Richard O'Connor với khoảng 30.000 quân đã tiến đến Mersa Matruh (Ai Cập) trong một cuộc đột kích kéo dài 5 ngày nhằm vào các vị trí của quân Ý thuộc Tập đoàn quân số 10 của Thống chế Rodolfo Graziani có đến khoảng 150.000 quân trong các đồn trại quanh Sidi Barrani và miền đông Libya (Cyrenaica).
Chiến dịch này là một thắng lợi tuyệt đối cho quân Đồng Minh. Tập đoàn quân số 10 Ý nhanh chóng bị đánh bại và người Anh đã mở rộng chiến dịch, truy kích tàn quân Ý đến tận Beda Fomm và El Agheila trên Vịnh Sirte. Phía Anh mất 1.900 người chết và bị thương, chiếm 10% lực lượng bộ binh của họ, đổi lấy việc bắt được 138.298 tù binh Ý và Libya, 420 xe tăng cùng hơn 845 khẩu pháo và máy bay. Tuy nhiên sau đó quân Anh đã không thể tiếp tục tiến qua El Agheila do tình trạng xe cộ hỏng hóc và hao mòn, cũng như việc các đơn vị được trang bị tốt nhất bị điều đi tham gia trận Hy Lạp.
Bối cảnh.
Tập đoàn quân số 10 Ý.
Khi chiến tranh bùng nổ, Tập đoàn quân số 5 của tướng Italo Gariboldi đóng ở tây Libya tại Tripolitania còn Tập đoàn quân số 10 của tướng Mario Berti đóng ở phía đông tại Cyrenaica. Đến khi quân Pháp ở Tunisia không còn đe dọa Tripolitania sau trận chiến nước Pháp, nhiều đơn vị thuộc Tập đoàn quân số 5 được dùng để tăng cường cho Tập đoàn quân số 10. Tháng 6 năm 1940, Balbo chết trong một vụ tai nạn, Thống chế Graziani lên thay ông ta làm Toàn quyền Libya. Graziani tỏ ra nghi ngờ khả năng đánh bại người Anh của lực lượng phi cơ giới dưới quyền mình, mặc dù số lượng đã được cơ giới hóa phần lớn của họ ít hơn. Sau khi được tăng cường từ lực lượng của Tập đoàn quân số 5, Tập đoàn quân số 10 đã nắm trong tay tương đương 4 quân đoàn với 150.000 bộ binh, 1.600 khẩu pháo, 600 xe tanket và xe tăng cùng 331 máy bay. Quân đoàn XX có Sư đoàn Bộ binh số 60 "Sabratha". Quân đoàn XXI có Sư đoàn Áo đen số 1 "23 Marzo", Sư đoàn Áo đen số 2 "28 Ottobre" và Sư đoàn Bộ binh số 63 "Cirene". Quân đoàn XXII có Sư đoàn Bộ binh số 61 "Sirte". Quân đoàn XXIII có Sư đoàn Áo đen số 4 "3 Gennaio" và Sư đoàn Bộ binh số 64 "Catanzaro".
"Cụm Sư đoàn Libya" ("Gruppo Divisioni Libiche") mới gồm có Cụm Maletti, Sư đoàn Libya số 1 "Sibelle" của thiếu tướng Luigi Sibelle và Sư đoàn Libya số 2 "Pescatori" của thiếu tướng Armando Pescatori. Đơn vị duy nhất không phải sư đoàn bộ binh mà Berti có trong tay là Cụm Maletti thiết giáp hạng nhẹ được cơ giới một phần. Cụm "Raggruppamento Maletti" (Đại tướng Pietro Maletti) được thành lập tại Derna ngày 8 tháng 7 năm 1940 để làm đơn vị cơ giới chính của Tập đoàn quân số 10, bao gồm 7 tiểu đoàn bộ binh cơ giới Libya, một đại đội xe tăng Fiat M11/39, một đại đội xe tanket L3/33, các đơn vị pháo binh cơ giới và tiếp tế. Ngày 29 tháng 8, thêm nhiều xe tăng chuyển từ Ý đến nơi, Bộ chỉ huy Xe tăng Libya ("Comando carri della Libia") được thành lập dưới quyền Đại tá Valentini với 3 "Raggruppamenti". Cụm "Raggruppamento Aresca" (Đại tá Aresca) với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung I, các Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ số 31, 61 và 62, Cụm "Raggruppamento Trivioli" (Đại tá Antonio Trivioli), với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung II, một đại đội thiếu và các Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ IX, XX, LXI; còn cụm "Raggruppamento Maletti" với Tiểu đoàn Xe tăng Hạng nhẹ LX và đại đội M11/39 còn lại đến từ Tiểu đoàn Xe tăng Hạng trung II. Cụm "Raggruppamento Maletti" trở thành một phần của Quân đoàn Hoàng gia Quân Thuộc địa Libya ("Regio Corpo Truppe Coloniali della Libia") với Sư đoàn Libya số 1 "Sibelle" và Sư đoàn Libya số 2 "Pescatori".
Lực lượng Sa Mạc Tây.
Bộ tư lệnh Trung Đông dưới quyền Đại tướng Archibald Wavell có khoảng 36.000 lính, 120 khẩu pháo, 275 xe tăng và 142 máy bay với 2 phi đội Hawker Hurricane, 1 phi đội Gloster Gladiator, 3 phi đội Bristol Blenheim, 3 phi đội Vickers Wellington và 1 phi đội Bristol Bombay, với khoảng 46 máy bay tiêm kích và 116 máy bay ném bom. Lực lượng Sa Mạc Tây do trung tướng Richard O'Connor làm tư lệnh, bao Sư đoàn Bộ binh số 4 (Ấn Độ) của thiếu tướng Noel Beresford-Peirse và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của thiếu tướng Sir Michael O'Moore Creagh. Từ ngày 14 tháng 12, quân lính thuộc Sư đoàn Bộ binh số 6 Úc của thiếu tướng Iven Giffard Mackay thay thế Sư đoàn Ấn Độ số 4 được điều đi Đông Phi, có không đến một lữ đoàn. Quân Anh sở hữu một số xe tăng tốc độ nhanh Cruiser Mk I, Cruiser Mk II và Cruiser Mk III được trạng bị pháo Ordnance QF 2 pao ưu việt hơn so với tăng Fiat M11/39. Quân Anh còn có một số lượng nhỏ tăng bộ binh Matilda II tốc độ chậm nhưng giáp mạnh và cũng được trang bị pháo 2 pao. Lớp giáp của xe tăng Matilda không thể bị xuyên thủng bởi súng chống tăng hay pháo dã chiến của Ý.
Đụng độ tại biên giới.
Ý tuyên chiến với Anh và Pháp vào ngày 10 tháng 6 năm 1940. Trong thời gian vài tháng sau đó, những cuộc đột kích và đụng độ giữa quân Ý với quân Anh và lực lượng Khối Thịnh vượng chung đã nổ ra ở Ai Cập. Ngày 12 tháng 6 năm 1940, Hạm đội Địa Trung Hải bắn phá Tobruk. Các tàu tuần dương HMS "Liverpool" và HMS "Gloucester" cũng đấu súng với tàu tuần dương "San Giorgio" của Ý. Máy bay ném bom của Hải quân Hoàng gia Anh thuộc các phi đội số 45, 55 và 211 đã đánh 1 quả bom trúng tàu "San Giorgio". Ngày 19 tháng 6, tàu ngầm HMS Parthian của Anh phóng 2 quả ngư lôi vào tàu "San Giorgio" nhưng trượt. Vai trò của "San Giorgio" sau đó là hỗ trợ cho các đơn vị phòng không địa phương và tuyên bố đã bắn rơi hoặc làm bị thương 47 máy bay Anh. Cũng chính tàu "San Giorgio" đã bắn hạ nhầm chiếc máy bay Savoia-Marchetti SM.79 chở Italo Balbo, toàn quyền Libya và tổng tư lệnh các lực lượng Ý tại Bắc Phi.
Mở màn.
Quân Ý tiến vào Ai Cập.
Ngày 13 tháng 9 năm 1940, Tập đoàn quân số 10 Ý tiến vào Ai Cập trong Chiến dịch E ("Operazione E"). Khi người Ý tiến lên, lực lượng nhỏ của Anh đóng tại Sollum rút lui về vị trí phòng ngự chính ở phía đông Mersa Matruh. Cuộc tiến quân của Ý bị quấy nhiễu bởi Trung đoàn Bảo vệ Coldstream số 3, cùng với pháo binh và các đơn vị khác. Sau khi chiếm lại Đồn Capuzzo, quân Ý tiến khoảng 95 km trong 3 ngày và đến 16 tháng 9 thì dừng lại tại Maktila, vượt qua Sidi Barrani 16 km. Quân Ý đào hào lập trại để chờ đợi tiếp viện và tiếp tế dọc theo Via della Vittoria, đoạn mở rộng của con đường Balbo được xây dựng từ biên giới. Năm trại quân được dựng lên trong khoảng xung quanh Sidi Barrani từ phía Maktila, chạy dọc 24 km dọc theo bờ biển về phía đông, phía nam tới Tummar East, Tummar West và Nibeiwa, phía tây nam đến Sofafi trên đoạn công sự dốc đứng.
Kế hoạch của phía Anh.
Sau khi người Ý tiến quân, Wavell đã ra lệnh cho tư lệnh quân đội Anh tại Ai Cập là trung tướng Sir Henry Maitland Wilson vạch kế hoạch một chiến dịch hạn chế nhằm đẩy lui quân Ý. Chiến dịch Compass, do những lý do hành chính, ban đầu chỉ được dự định là một cuộc đột kích kéo dài 5 ngày nhưng có xem xét đến việc tiếp tục tiến hành các hoạt động nhằm khai thác chiến thắng. Ngày 28 tháng 11, Wavell đã viết cho Wilson như sau:
Cụm Yểm trợ số 7 sẽ theo dõi động tĩnh các trại quân của Ý trên đoạn công sự dốc đứng quanh Sofafi nhằm ngăn cản quân đồn trú ở đó can thiệp, trong khi phần còn lại của sư đoàn và Sư đoàn Ấn Độ số 4 vượt qua khe hở Sofafi–Nibeiwa. Một lữ đoàn Ấn Độ và các xe tăng bộ binh thuộc Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 (7th RTR) sẽ tấn công Nibeiwa từ phía tây, còn Sư đoàn Thiết giáp số 7 bảo vệ sườn phía bắc của họ. Một khi Nibeiwa bị chiếm, lữ đoàn Ấn Độ thứ hai cùng với Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 sẽ tiến đánh Tummars. Lực lượng Selby (gồm Tiểu đoàn Bảo vệ Coldstream số 3 cùng với một số pháo binh) đồn trú tại Matruh sẽ kiềm chế các trại quân địch tại Maktila trên bờ biển còn Hải quân Hoàng gia Anh sẽ oanh tạc Maktila và Sidi Barrani. Việc chuẩn bị được giữ bí mật và chỉ có vài sĩ quan được biết trong bài tập huấn luyện được tổ chức ngày 25–26 tháng 11, rằng những mục tiêu được đánh dấu gần Matruh là ám chỉ Nibeiwa và Tummar; quân lính cũng chỉ được báo là sẽ có một bài huấn luyện thứ hai tiếp theo và không hay biết rằng chiến dịch đã trở thành thực tế cho đến ngày 7 tháng 12, khi họ tới các điểm xuất phát.
Quân Anh tập hợp.
Cuối ngày 8 tháng 12, một phi công trinh sát Ý báo cáo rằng cuộc tấn công vào Maktila và Nibeiwa đã sắp xảy ra, nhưng tướng Maletti lại không nắm được. Vào thời điểm ngày 9 tháng 12, Sư đoàn Libya số 1 "Sibelle" đóng tại Maktila và Sư đoàn Libya số 2 "Pescatori" đóng tại Tummar. Cụm Maletti đóng tại Nibiewa và Sư đoàn Áo đen số 4 "3 Jennaio" cùng tổng hành dinh Quân đoàn Libya đóng tại Sidi Barrani. Sư đoàn Bộ binh 63 "Cirene" và tổng hành dinh quân đoàn XXI đóng tại Sofafi, còn Sư đoàn Bộ binh 64 "Catanzaro" đóng ở Buq Buq. Tổng hành dinh Quân đoàn XXIII và Sư đoàn Áo đen số 2 "28 Ottobre" lần lượt đóng ở Sollum và Đèo Halfaya còn Sư đoàn Bộ binh 62 "Marmarica" đóng ở Sidi Omar, phía nam Sollum. Lúc này tướng Berti đang nghỉ ốm; tướng Gariboldi, Sư đoàn Áo đen số 1 "23 Marzo" và tổng hành dinh Tập đoàn quân số 10 đã lại trở về Bardia (khi Berti đến Libya thì nó còn trong tay người Anh). Chiến dịch Compass (người Ý gọi là "la battaglia della Marmarica"/Trận Marmarica) bắt đầu vào đêm ngày 7/8 tháng 12. Lực lượng Sa mạc Tây có Sư đoàn Thiết giáp số 7, Sư đoàn Ấn Độ số 4 và Lữ đoàn Bộ binh số 16 đã tiến 113 km đến tuyến xuất phát. Không quân Hoàng gia Anh công kích các sân bay của Ý và phá hủy hoặc làm hư hại 29 máy bay trên mặt đất. Lực lượng Selby (lữ đoàn trưởng A. R. Selby) với 1.800 quân (số lượng lớn nhất từng thấy cho một nhóm vận tải) tiến đến từ Matruh, lập một lữ đoàn xe tăng bằng cao su trên sa mạc và tới một vị trí ở đông nam Maktila trong chiều 9 tháng 12. Maktila bị tiểu chiến hạm HMS "Terror" và pháo hạm HMS "Aphis" oanh tạc; Sidi Barrani cũng bị pháo hạm HMS "Ladybird" pháo kích.
Diễn biến.
Trận chiến của các trại.
Nibeiwa.
"Bài chi tiết: Trận Nibeiwa"
Vào lúc 5 giờ sáng ngày 9 tháng 12, pháo binh bắt đầu bắn pháo nghi binh từ phía đông vào khu căn cứ kiên cố ở Nibeiwa trong một giờ, do Cụm Maletti trấn giữ và lúc 7 giờ 15 sáng, các đơn vị pháo binh của sư đoàn bắt đầu bắn phá sơ bộ. Lữ đoàn bộ binh Ấn Độ số 11, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7, đã tấn công Nibeiwa từ phía tây bắc, nơi trinh sát báo cáo là khu vực yếu nhất. Đến 8:30 sáng, Nibeiwa thất thủ; tướng Maletti tử trận trong cuộc giao tranh cùng với 818 người, 1.338 người bị thương; 2.000 quân Ý và Libya bị bắt làm tù binh. Một số lượng lớn đồ tiếp tế đã rơi vào tay quân Anh, thương vong của quân Anh là 56 người.
The Tummars.
Cuộc tấn công vào phía Tây Tummar bắt đầu lúc 1 giờ 50 phút, sau khi Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 được tái tiếp tế nhiên liệu và pháo binh đã bắn phá vào các tuyến phòng thủ trong một giờ. Một hướng tấn công khác từ phía tây bắc được thực hiện và những chiếc xe tăng bắt đầu phá vỡ vòng vây, hai mươi phút sau đó là bởi bộ binh. Quân phòng thủ Ý đã kháng cự lâu hơn quân phòng thủ ở Nibeiwa nhưng đến 4 giờ chiều. Tummar Tây bị tràn ngập ngoại trừ phía đông bắc. Những chiếc xe tăng bắt dầu tiến về phía Đông Tummar, phần lớn bị bắt làm tù binh khi màn đêm buông xuống. Lữ đoàn thiết giáp số 4 đã tiến đến Azziziya, nơi mà 400 quân Ý đầu hàng và các đội tuần tra hạng nhẹ của đơn vị Kỵ binh số 7 tiến lên để cắt đứt con đường từ Sidi Barrani đến Buq Buq, trong khi những chiếc xe thiết giáp của đơn vị Kỵ binh số 11 di chuyển xa hơn về phía tây. Các xe tăng của Lữ đoàn thiết giáp số 7 được đưa vào lực lượng dự bị sẵn sàng đánh chặn một cuộc phản công của quân Ý. Sư đoàn 2 Libya mất 26 sĩ quan và 1.327 người, 32 sĩ quan và 804 lính bị thương, những người sống sót bị bắt làm tù binh.
Maktila.
Không biết về tình hình tại Tummars, Selby cử các đơn vị chiếm các lối ra phía tây khỏi Maktila nhưng Sư đoàn 1 Libya đã đi qua và trốn thoát thành công.Lực lượng của Selby tiếp tục rút lui khi Sư đoàn 1 Libya di chuyển 15 dặm (24 km) từ Maktila đến Sidi Barrani và di chuyển một phần đội hình vào cồn cát ở phía bắc đường ven biển. Những chiếc xe tăng tuần tra của Trung đoàn xe tăng Hoàng gia số 6 đã di chuyển trong một cơn bão cát và tràn qua cồn cát có quân Ý vào khoảng 5:15 chiều, sau đó gia nhập vào Lực lượng Selby để tiếp tục truy đuổi. Các lực lượng phòng thủ Ý đã bị bắt làm tù binh tại Sidi Barrani, trong một cái túi có diện tích là 10 x 5 dặm (16,1 x 8,0 km) lùi về phía biển. Khi quân Anh tấn công lần nữa vào rạng sáng ngày 11 tháng 12, quân Ý đầu hàng hàng loạt ở khắp nơi, ngoại trừ Điểm 90, nơi đơn vị Sư đoàn 2 Libya kháng cự trong một thời gian ngắn, sau đó là đầu hàng với 2.000 quân bị bắt làm tù binh.
Sidi Barrani, Buq Buq và Sofafi.
"Bài chi tiết: Trận Sidi Barrani"
Vào ngày 10 tháng 12, Lữ đoàn bộ binh 16 được điều động từ lực lượng dự bị của Sư đoàn 4 Ấn Độ cùng với một phần lực lượng của Lữ đoàn 11 Ấn Độ dưới quyền chỉ huy, di chuyển bằng xe tải để tấn công vào Sidi Barrani. Trong khi di chuyển qua bãi đất trống, có một số thương vong đã xảy ra nhưng với sự yểm trợ của pháo binh và đơn vị Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7, lực lượng tấn công đã chặn đường ra ở phía nam và tây nam đến Sidi Barrani lúc 1:30 chiều. Quân Anh tấn công lúc 4:00 chiều dưới sự hỗ trợ bởi lực lượng pháo binh của sư đoàn và thị trấn thất thủ vào lúc hoàng hôn; các đơn vị còn lại của hai Sư đoàn Libya và 4 CC.NN. Sư đoàn "3 Gennaio" bị mắc kẹt giữa Lữ đoàn bộ binh 16 và Lực lượng của Selby. Vào ngày 11 tháng 12, Lực lượng của Selby cùng một số xe tăng đã tấn công và áp đảo được Sư đoàn 1 Libya và đến tối, Sư đoàn 4 CC.NN "3 Gennaio" đầu hàng. Vào ngày 11 tháng 12, Lữ đoàn thiết giáp số 7 được lệnh di chuyển để giải vây cho Lữ đoàn thiết giáp số 4 ở khu vực Buq Buq, càn quét và bắt được một số lượng lớn tù binh và vũ khí. Một đội tuần tra từ Đội hỗ trợ số 7 tiến vào Rabia và không tìm thấy quân Ý; Sư đoàn bộ binh 63 "Cirene" đã rút khỏi Rabia và Sofafi ngay trong đêm. Lữ đoàn thiết giáp số 4 nhận được mệnh lệnh phải chặn đường rút lui của quân Ý ở phía tây Sofafi nhưng đã quá muộn, quân Ý rút lui thành công theo các vách đá và gia nhập vào lực lượng Ý tại Halfaya. Thương vong của quân Ý là 2.184 người chết, 2.287 người bị thương và 38.000 người bị bắt.
Khai thác.
Trong vài ngày tiếp theo, Lữ đoàn thiết giáp số 4 ở trên vách đá và Lữ đoàn thiết giáp số 7 trên bờ biển, đã cố gắng truy đuổi quân địch nhưng các vấn đề về tiếp tế và số lượng lớn tù binh (gấp hai mươi lần số lượng dự kiến) đã cản trở cuộc tiến công. Quân Ý tập trung đông đúc dọc theo con đường ven biển và rút lui khỏi Sidi Barrani và Buq Buq, bị Terror và hai pháo hạm bắn phá, vốn đã bắn vào khu vực Sollum cả ngày và đêm 11 tháng 12. Vào cuối ngày 12 tháng 12, các vị trí duy nhất còn lại của Ý ở Ai Cập là còn tiếp cận được Sollum và khu vực của Sidi Omar.
Quân Ý thiệt hại 38.289 người thương vong, hầu hết đều bị bắt làm tù binh, 73 xe tăng và 237 khẩu súng các loại, trong khi đó 634 quân Anh chịu thương vong. Lực lượng Sa mạc Tây tạm dừng tấn công để tái tổ chức và sau đó di chuyển nhanh chóng về phía tây dọc theo Via della Vittoria, qua đèo Halfaya và tái chiếm Pháo đài Capuzzo ở Libya. Vào ngày 7 tháng 12, các máy bay ném bom Wellington từ Malta và các máy bay ném bom Blenheim từ Ai Cập đã thực hiện các cuộc ném bom vào các căn cứ không quân của Ý tại Castel Benito, Benina và El Adem, cuộc tấn công vào Castel Benito là đặc biệt thành công, với các cuộc tấn công vào năm nhà chứa máy bay và bắn phá nhiều máy bay Ý; các cuộc tấn công vẵn tiếp tục cho đến cuối năm.
Truy đuổi.
Sollum, Halfaya và Pháo đài Capuzzo.
"Bài chi tiết: Pháo đài Capuzzo"
Việc khai thác được tiếp tục bởi hai lữ đoàn thiết giáp và Đội hỗ trợ số 7, với các đơn vị bộ binh của Lữ đoàn bộ binh 16 (đã tách ra từ Sư đoàn 4 Ấn Độ) theo sau. Đến ngày 15 tháng 12, Sollum và đèo Halfaya thất thủ và quân Anh đã đi qua các đơn vị phòng thủ của Ý ở xa hơn về phía nam trong sa mạc. Pháo đài Capuzzo, cách 64 km (40 dặm) trong đất liền ở cuối giới tuyến, đã bị Sư đoàn Thiết giáp số 7 đánh chiếm vào tháng 12 năm 1940, khi họ tiến về phía tây đến Bardia. Sư đoàn thiết giáp số 7 tập trung về phía tây nam Bardia, chờ đợi Sư đoàn 6 Úc xuất hiện. Tính đến thời điểm này, WDF đã bắt được 38.300 tù binh và thu được 237 khẩu súng các loại và 73 xe tăng, trong khi đó thương vong của WDF là 133 người chết, 387 người bị thương và 8 người mất tích.
Bardia.
"Bài chi tiết: Trận Bardia"
Sư đoàn 6 Úc (Thiếu tướng Iven Mackay) tấn công Quân đoàn XXIII Ý (Trung tướng [Generale di Corpo d’Armata] Annibale Bergonzoli) tại Bardia từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 1 năm 1941, được yểm trợ bằng không quân, hải quân và pháo binh. Lữ đoàn bộ binh Úc 16 tấn công vào lúc bình minh sáng từ phía tây, nơi hệ thống phòng thủ được cho là yếu. Công binh đã thổi tung những khoảng trống trên hàng rào dây thép gai bằng ngư lôi Bangalore, sau đó lấp đầy và phá vỡ các mặt của hào chống tăng bằng cuốc và xẻng. Bộ binh Úc và 23 xe tăng Matilda II của Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7, vượt qua hệ thống phòng thủ của Ý và bắt sống 8.000 người. Lữ đoàn bộ binh Úc số 17 đã khai thác lỗ thủng được tạo ra trong vành đai và áp sát về phía nam, xa đến tận một tuyến phòng thủ thứ cấp được gọi là tuyến Switch. Vào ngày thứ hai, Lữ đoàn bộ binh Úc 16 chiếm được Bardia, chia cắt pháo đài ra làm đôi. Hàng ngàn người đã bị bắt làm tù binh và tàn quân phòng thủ Ý chỉ giữ phần phía bắc và cực nam của pháo đài. Vào ngày thứ ba, Lữ đoàn bộ binh Úc 19 tiến về phía nam từ Bardia, được hỗ trợ bởi pháo binh và 6 xe tăng Matilda còn lại. Lữ đoàn 17 Bộ binh Úc tấn công và hai lữ đoàn đã thu hẹp khu vực phía nam của pháo đài. Các đơn vị phòng thủ của Ý ở phía bắc đầu hàng trước Lữ đoàn bộ binh Úc 16 và Đội yểm trợ số 7 bên ngoài pháo đài; khoảng 25.000 binh sĩ đã bị bắt, cùng với 400 khẩu súng các loại, 130 xe tăng hạng nhẹ và hạng trung và hàng trăm phương tiện cơ giới. Thương vong của quân Ý cũng bao gồm 1.703 người chết và 3.740 người bị thương.
Chiếm đóng Tobruk.
"Bài chi tiết: Quân Anh chiếm đóng Tobruk"
Derna–Mechili.
"Bài chi tiết: Cụm Babini và Các hoạt động quân sự tại Mechili, 24 tháng 1 năm 1942"
Khu vực phía đông dãy núi Jebel Akhdar do Quân đoàn XX (trung tướng Annibale Bergonzoli) trấn giữ cùng Sư đoàn bộ binh 60 "Sabratha" và Tập đoàn quân Babini, có 120 xe tăng. Lực lượng tăng - thiết giáp bao gồm 82 xe tăng M.13/40 mới, cần mười ngày để có thể đủ sức chiến đấu nhưng dù sao cũng đã được gấp rút tiến về phía trước. Sư đoàn Sabratha tổ chức phòng tuyến từ Derna, dọc theo Wadi Derna đến Mechili, cùng với quân của Babini tại Mechili, Giovanni Berta và Chaulan, bảo vệ bên sườn và hậu phương bộ binh. Vào ngày 23 tháng 1, Tư lệnh Tập đoàn quân 10, Tướng Giuseppe Tellera ra lệnh phản công chống lại quân Anh để tránh sự bao vây của Quân đoàn XX từ phía nam. Ngày hôm sau, quân Babini, với mười đến mười lăm chiếc M.13 / 40, tấn công đơn vị Kỵ binh số 7 khi họ tiến về phía tây để cắt đứt con đường mòn Derna-Mechili ở phía bắc Mechili. Quân Anh nhanh chóng rút lui, kêu gọi sự trợ giúp từ Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 2, tuy nhiên đơn vị này đã tự ý bỏ qua các tín hiệu. Người Anh bị mất một số xe tăng và bắn hạ 2 chiếc M.13, cho đến cuối cùng, đơn vị Trung đoàn Xe tăng hoàng gia số 2 được huy động, bắt được những chiếc xe tăng Ý dàn hàng ngang trên một sườn núi và bắn hạ 7 chiếc M.13, mất một xe tăng tuần tra và 6 xe tăng hạng nhẹ.
Ở phía bắc, Tiểu đoàn 2/11 Úc giao tranh với Sư đoàn Sabratha và các đại đội Bersaglieri của Tập đoàn quân Babini tại sân bay Derna, tiến chậm hơn trước sự kháng cự quyết liệt. Lữ đoàn 19 Úc bắt đầu di chuyển vào buổi sáng và các máy bay ném bom và máy bay tiêm kích của Ý đã tấn công quân Úc. Quân Ý bắt đầu càn quét bằng pháo dã chiến và súng máy, ngăn chặn bước tiến của quân Úc cách mục tiêu 3.000 yd (2.700 m). Vào ngày 26 tháng 1, Tiểu đoàn 2/4 Úc cắt con đường Derna – Mechili và một đại đội vượt qua Wadi Derna trong đêm chống lại các cuộc phản công táo bạo của Ý. Quân Ý đã có được sự yên tĩnh vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 1, trước khi quân phòng thủ bị mắc kẹt và các đơn vị phía sau của Tập đoàn quân Babini đã phá hủy các con đường, gài mìn và bẫy chông và tìm cách tiến hành một số cuộc phục kích khéo léo, làm chậm bước tiến của quân Anh. Derna thất thủ vào ngày 29 tháng 1 mà không gặp sự kháng cự và quân Úc bắt đầu truy đuổi dọc theo Via Balbia, áp sát Giovanni Berta trong ngày 31 tháng 1.
Trận Beda Fomm.
"Bài chi tiết: Trận Beda Fomm"
Vào cuối tháng 1, quân Anh biết được rằng quân Ý đang rút lui dọc theo Litoranea Balbo (Via Balbia) từ Benghazi. Sư đoàn Thiết giáp số 7 được điều động để đánh chặn tàn quân của Tập đoàn quân 10 bằng cách di chuyển qua sa mạc, phía nam Jebel Akhdar (Núi Xanh) qua Msus và Antelat, khi Sư đoàn 6 Úc đang truy đuổi quân Ý dọc theo con đường ven biển, phía bắc của jebel. Địa hình đã làm chậm tốc độ di chuyển xe tăng Anh và Lực lượng Combe (Trung tá John Combe). Cuối ngày 5 tháng 2, Lực lượng Combe đã đến Via Balbia ở phía nam Benghazi và thiết lập các chốt chặn đường bộ gần Sidi Saleh, cách Ajedabia khoảng 32 km (20 dặm) về phía bắc và cách Antelat 30 dặm (48 km) về phía tây nam; các đơn vị đi đầu của Tập đoàn quân 10 đến sau ba mươi phút. Ngày hôm sau, quân Ý tấn công để phá vỡ rào cản và tiếp tục tấn công cho đến ngày 7 tháng 2. Khi quân tiếp viện của Anh đến và quân Úc tiến xuống con đường từ Benghazi, tàn quân của Tập đoàn quân 10 đầu hàng. Từ Benghazi đến Agedabia, quân Anh bắt 25.000 người làm tù binh, 107 xe tăng và 93 khẩu súng các loại.
Các diễn biến trên sa mạc.
Giarabub, Kufra và Uweinat.
"Bài chi tiết: Cuộc vây hãm Giarabub và Chiếm đóng Kufra"
Quân đồn trú Ý đóng tại Giarabub cách Sollum 240 km về phía nam, ở Ốc đảo Kufra, Jalo tại cực tây Biển Cát Lớn và ở Murzuk cách Tripoli 800 km về phía nam. Ốc đảo Giarabub bị Trung đoàn Kỵ binh số 6 Úc cùng một tiểu đoàn bộ binh Úc tấn công vào tháng 1 năm 1941 và thất thủ trong tháng 3. Xa hơn về phía nam, ở phía bên kia Biển Cát, ốc đảo Kufra bị lực lượng Pháp quốc Tự do tấn công từ phía Châu Phi Xích Đạo thuộc Pháp, phối hợp với quân tuần tra Cụm Sa mạc Tầm xa (LRDG). Xa hơn về phía tây, trên biên giới với Tchad, căn cứ của quân Ý tại Murzuk cũng bị tập kích trong tháng 1, khi 1 đội tuần tra thuộc Đơn vị Tuần tra Tầm xa mới và 1 tù trưởng địa phương di chuyển 2.100 km để đến gặp nhau tại nơi hẹn gần Kayugi với 1 phân đội nhỏ Pháp Tự do. Lực lượng này đã tấn công Murzuk và phá hủy 3 máy bay cùng 1 nhà chứa máy bay; viên chỉ huy người Pháp bị giết, phần lớn quân Ý đầu hàng và bị bắt làm tù binh. Những người đột kích sau đó đã bắn phá 3 vị trí công sự rồi rời đi.
Tại Jebel Uweinat, một khối núi cao 1.800 mét và sâu 970 km trong nội địa, nằm giữa ngã ba biên giới Ai Cập, Libya và Sudan, có những khu đổ bộ với 1 đồn quân Ý. Căn cứ này là tiền đồn Ý ở gần Đông Phi thuộc Ý nhất và từ đây có thể tiến hành đột kích vào Wadi Halfa thuộc Sudan. Việc phá hủy các xưởng sửa chữa và trạm đường sắt, cũng như đánh đắm các tàu trên sông Nin có thể dẫn đến cắt đứt liên lạc giữa Khartoum và Cairo. Các đội tuần tra Anh đã ghé Faya và gặp một phân đội Pháp khác của tướng Philippe Leclerc để tiến đánh Kufra. Quân Anh bị máy bay bắn phá và bị các xe thiết giáp thuộc Ý thuộc Đại đội Ô tô Sahara tấn công và thiệt hại nhiều xe tải. Leclerc quyết định rằng tấn công Kufra là không khả thi và số quân Anh còn lại liền trở lại Cairo, sau chuyến hành trình dài 45 ngày qua 6.900 km. Kufra bị quân Pháp chiếm ngày 1 tháng 3 và trở thành căn cứ mới của Cụm Sa mạc Tầm xa từ tháng 4.
Hậu quả.
Thương vong.
Lực lượng Sa mạc Tây tổn thất 500 người chết, 55 mất tích và 1.373 bị thương. Không quân Hoàng gia Anh mất 26 máy bay, gồm 6 chiếc Hurricane, 5 chiếc Gladiator, 3 chiếc Wellington, một chiếc Valentia và 11 chiếc Blenheim. Số lượng máy bay không còn có thể hoạt động lớn hơn nhiều do những tổn hại không thể sửa chữa nhanh chóng vì thiếu phụ tùng thay thế, một vấn đề ngày càng trở nên trầm trọng do việc quân Ý sử dụng đạn nổ (vì lý do này mà trong một cuộc tập kích vào Bardia ngày 14 tháng 12 do 9 máy bay Blenheim thực hiện, đã có tổn thất 1 máy bay bị bắn hạ và 7 chiếc khác bị thương). Tập đoàn quân số 10 Ý mất 133.298 bị bắt, 420 xe tăng và 845 pháo.
Các hoạt động tiếp theo.
Một tuần sau khi quân Ý ở Beda Fomm đầu hàng, Ủy ban Quốc phòng ở London đã ra mệnh lệnh tới Cyrenaica là chỉ giữ lại lực lượng tối thiểu và chuyển số quân còn lại đến Hy Lạp. Lực lượng Sa mạc Tây (giờ là Quân đoàn XIII), Sư đoàn Úc số 6 được trang bị đầy đủ và không có nhiều tổn thất đến thay thế. Sư đoàn Thiết giáp số 7 đã hoạt động được 8 tháng, các trang thiết bị máy móc đã bị hao mòn và được rút về để sửa chữa trang bị lại. 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 cùng với Lực lượng Sa mạc Tây cũng bị hao mòn, sư đoàn này chỉ còn lại 4 trung đoàn xe tăng. Sư đoàn Úc số 6 tới Hy Lạp trong tháng 3 với một cụm lữ đoàn thiết giáp của Sư đoàn Thiết giáp số 2; phần còn lại của sư đoàn này và Sư đoàn Úc số 9 mới đến (trừ 2 lữ đoàn và hầu hết lực lượng vận tải đã phái đến Hy Lạp) được thay thế bởi 2 lữ đoàn trang bị kém thuộc Sư đoàn Úc số 7. Sư đoàn này tiếp quản Cyrenaica, với giả định rằng quân Ý sẽ không thể bắt đầu phản công cho đến tháng 5, cho dù có được Đức tiếp viện đi nữa.
Sư đoàn Thiết giáp số 2 tại có Lữ đoàn Thiết giáp số 3, với 1 trung đoàn xe tăng hạng nhẹ không đủ lực lượng, 1 trung đoàn thứ hai sử dụng các xe tăng bắt được của Ý và 1 trung đoàn xe tăng hành trình từ giữa tháng 3, với các xe tăng đã bị hao mòn. Cụm Yểm trợ số 2 chỉ có 1 tiểu đoàn mô tô, 1 trung đoàn pháo dã chiến, 1 khẩu đội chống tăng và 1 đại đội súng máy; phần lớn lực lượng vận tải của sư đoàn đã bị điều đến Hy Lạp. Chỉ vài ngàn quân của Tập đoàn quân số 10 Ý thoát khỏi thảm họa tại Cyrenaica, nhưng Tập đoàn quân số 5 ở Tripolitania vẫn có 4 sư đoàn. Các đồn lũy Sirte, Tmed Hassan và Buerat được tăng viện từ Ý, nâng tổng quân số 2 tập đoàn quân số 10 và số 5 lên khoảng 150.000 người. Quân tiếp viện của Đức đã được phái tới Libya để tạo nên một phân đội chặn ("Sperrverband") theo Chỉ thị 22 của Hitler (ngày 11 tháng 1), đây là những đơn vị đầu tiên của "Quân đoàn châu Phi" do tướng Erwin Rommel chỉ huy. Ngày 25 tháng 3 năm 1941, Graziani bị thay thế bằng tướng Gariboldi. | 1 | null |
Triệu vương Gia (chữ Hán: 趙王嘉, trị vì: 227 TCN - 223 TCN), hay Đại vương Gia (代王嘉), tên thật là Triệu Gia (趙嘉), là vị vua thứ 11 và là vua cuối cùng của nước Triệu - chư hầu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Duy trì nước Triệu.
Triệu Gia là con trưởng của Triệu Điệu Tương vương. Vua cha yêu người vợ thứ vốn làm nghề hát xướng, sinh ra người em là Triệu Thiên. Triệu Thiên được vua cha yêu mến nên lập làm thái tử. Năm 236 TCN, Triệu Điệu Tương vương mất, Triệu Thiên lên nối ngôi, tức là Triệu U Mục vương.
Năm 229 TCN, Tần vương Chính sai Vương Tiễn đánh Triệu. Triệu U Mục vương tin dùng gian thần Quách Khai, nghe lời Quách Khai đã nhận tiền của nước Tần gièm pha tướng Lý Mục. Triệu vương Thiên giết Lý Mục khiến quân Triệu không còn tướng giỏi, bị quân Tần đánh bại. Vương Tiễn tiến vào Hàm Đan bắt Triệu vương Thiên (228 TCN).
Lúc Hàm Đan thất thủ, Triệu Gia không chịu đầu hàng quân Tần, cùng với vài trăm quý tộc nước Triệu bỏ chạy lên đất Đại ở phía bắc. Ông tự xưng là Đại vương làm vua đất Đại, sai sứ sang nước Yên liên minh với Yên vương Hỉ và thái tử Đan, đóng quân ở Thượng Cốc, tiếp tục duy trì nước Triệu chống Tần.
Thất bại.
Sau khi thích khách Kinh Kha do thái tử Đan phái đi giết Tần vương Chính không thành công, Kinh Kha bị giết, Tần vương Chính căm giận nước Yên, dốc quân đánh Yên. Năm 227 TCN, các tướng Tần là Vương Tiễn và Tân Thắng tiến quân đến nước Yên. Đại vương Gia ra quân, hợp sức với quân Yên cùng chống Tần. Hai bên đánh nhau 3 trận phía tây sông Dịch không phân thắng bại.
Năm 226 TCN, Tần vương Chính sai con Vương Tiễn là Vương Bí mang quân tiếp viện cho Vương Tiễn. Có thêm quân, Vương Tiễn đánh bại liên quân Yên – Đại. Yên vương Hỉ sợ hãi, phải bỏ Kế đô chạy sang Liêu Đông. Đại vương Gia lui quân về nước.
Sau đó trước sức ép của nước Tần, Yên vương Hỉ phải giết thái tử Đan nộp đầu cho Tần vương Chính để tạ tội hành thích. Vua Tần quay sang đánh Ngụy và Sở nên 2 nước Yên, Đại được yên một thời gian nữa.
Năm 223 TCN, sau khi diệt Ngụy và Sở, vua Tần lại đánh Yên. Vương Tiễn tiến quân vào Bình Nhưỡng bắt sống Yên vương Hỉ. Trên đường về nước, Vương Tiễn mang quân đánh vào nước Đại. Đại vương Gia không chống nổi, bị quân Tần bắt. Không chịu nhục, ông bèn tự sát.
Đại vương Gia làm vua được 6 năm thì mất nước. Nước Triệu được duy trì thêm 6 năm sau khi Hàm Đan thất thủ, gồm có 11 đời vua thì bị Tần diệt hoàn toàn.
Đời Tần mạt–Hán Sở, một công tộc nước Triệu là Triệu Yết xưng vương chống nhà Tần. | 1 | null |
Marin Mersenne, Marin Mersennus hay Cha Mersenne (8 tháng 9 năm 1588 – 1 tháng 9 năm 1648) là một nhà thần học, triết học, toán học và lý thuyết âm nhạc người Pháp, thường được coi là "cha đẻ của âm học" . Mersenne được đánh giá là "trung tâm của thế giới khoa học và toán học nửa đầu thế kỷ 17" . | 1 | null |
Đòn ân huệ (Tiếng Pháp: "goup de grâce") là đòn kết liễu một người hoặc con vật bị thương nặng để chấm dứt sự đau đớn của người hoặc con vật đó. Nó được coi như là một cái chết nhân đạo.
Nó có thể là giết hại dân thường hoặc một binh sĩ, bạn bè hay kẻ thù, có hoặc không có sự đồng ý của người bị thương. Khi một binh sĩ đang bị thương trong tình trạng không thể cứu chữa và đang chịu đau đớn. người đồng minh của họ sẽ chấp nhận từ bỏ người binh sĩ đó bằng một đòn ân sủng. việc này hay thường thực hiện bằng cách sử dụng súng bắn vào hộp sọ. Nhưng trong quá khứ, khi một samurai đã phạm lỗi sẽ tiến hành mổ bụng tự sát, có khi sẽ có người quan sát kết liễu họ bằng cách chặt đầu họ để nhanh chóng kết thúc cái chết đau đớn sau khi mổ bụng tự sát. | 1 | null |
Dẫn con từng bước, tên gốc tiếng Anh: "Lead, Kindly Light", là một bài thánh ca nổi tiếng được viết vào năm 1833 bởi Linh mục John Henry Newman dựa trên bài thơ "The pillar of cloud". Tại Việt Nam, lời bài hát được chuyển ngữ bởi Duy Minh và được nhạc sĩ Kim Long phổ lại, thường được dùng trong ca nguyện và hiệp lễ. Tuy nhiên không nên nhầm lẫn với một bài hát cùng tên khác, do nhạc sĩ Nguyễn Duy sáng tác.
Lịch sử.
Khi Newman là vị linh mục, ông trở thành đau yếu khi ở Ý, và không du lịch được cho đến gần ba tuần. Trong lời nguyên một của ông: | 1 | null |
Trận chiến Mactan (Tiếng Filipino: "Labanan sa Mactan"; Tiếng Cebu: "Gubat sa Mactan"; Tiếng Tây Ban Nha: "Batalla de Mactán") là một trận giao tranh diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1521 giữa những thổ dân bản địa ở đảo Mactan thuộc đảo Cebu do chiến binh Lapu-Lapu làm thủ lĩnh giao tranh với đoàn thủy thủ thám hiểm của Tây Ban Nha do Ferdinand Magellan làm trưởng đoàn kiêm chỉ huy trận chiến.
Trận chiến đã kết thúc với thắng lợi thuộc về người dân bản địa. Trong trận chiến này, bản thân Ferdinand Magellan đã bị giết chết trong trận chiến này do khi đang chiến đấu ông bị trúng một mũi giáo tre và sau đó bị tấn công tới tấp bởi nhiều loại vũ khí khác, tuy nhiên, đoàn thủ thủ Tây Ban Nha tuy mất chỉ huy tại trận đánh nhưng đã kịp rút chạy và sống sót trở về, kết thúc chuyến hành trình đã đề ra. | 1 | null |
Các bãi cạn Frigate Pháp (tiếng Anh: "French Frigate Shoals"; tiếng Hawaii: "Kānemilohai") là rạn san hô vòng lớn nhất quần đảo Tây Bắc Hawaii. Nơi này nằm cách Honolulu về phía tây bắc. Tên gọi "Frigate Pháp" là để tưởng nhớ sự kiện hai tàu frigate dưới sự chỉ huy của nhà thám hiểm người Pháp Jean-François de La Pérouse "tìm ra" rạn vòng này vào năm 1786. Về mặt hành chính, khu vực này thuộc quận Honolulu, Hawaii. Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ quản lý nơi này như một "field station" nằm trong Khu bảo vệ hải dương quốc gia Papahānaumokuākea.
Tên gọi.
Ngày 6 tháng 11 năm 1786, hai tàu frigate của Pháp là "Astrobale" và "Boussole" dưới sự chỉ huy của bá tước La Pérouse đã suýt bị mắc cạn tại rạn san hô vòng này nhưng đã kịp thời tránh được tai nạn. Họ gọi nó là "basse des Frégates Françaises", nghĩa là "bãi cạn Các Tàu Frigate Pháp".
Địa lý.
Các bãi cạn Frigate Pháp gồm một rạn san hô hình lưỡi liềm dài , mười hai đê cát ("đảo") và một hòn đá nổi mang tên "đỉnh nhọn La Perouse". Tổng diện tích đất của các đảo nhỏ chỉ là 248.914 m², trong khi tổng diện tích rạn san hô là hơn 938.870.690 m². Đảo Tern với diện tích có một đường băng và nơi định cư cho một số ít người.
Đỉnh nhọn La Perouse (tiếng Anh: "La Perouse Pinnacle", đặt theo tên của bá tước La Pérouse) là một hòn đá nổi nằm giữa rạn san hô vòng. Đây là khối đá núi lửa cổ nhất và xa xôi nhất của chuỗi đảo Hawaii. La Perouse cao và được bao quanh bởi những rạn san hô đẹp mắt. Khi nhìn từ xa, khối đá này thường bị nhầm lẫn với một con tàu do hình dáng riêng có của mình.
"Đảo" Whale-Skate (gồm hai "đảo" là Whale và Skate) là đối tượng địa lý chìm dưới biển. Các đảo này phải gánh chịu tình trạng xói mòn nghiêm trọng bắt đầu từ giữa thập niên 1960. Đến cuối thập kỉ 1990 thì đảo Whale-Skate chìm ngập hoàn toàn dưới nước.
1) Hải đảo Whale và Skate (đảo Whale-Skate) được liệt kê vào chung một lô với diện tích là 32.020 m² theo tài liệu thống kê đất đai. Tỉ lệ diện tích giữa hai đảo là 2:3.
2) Các đảo Round và Mullet được tài liệu thống kê đất đai xếp chung vào một lô có số hiệu là 1006 với tổng diện tích đạt 5540 m². Theo báo cáo năm 1971 thì mỗi đảo có diện tích lần lượt là 0,4 and 0,5 mẫu Anh (khoảng 1619 m² và 2023 m²).
3) Có thể thấy đảo Bare trên ảnh vệ tinh nhưng đảo lại không được liệt kê trong dãy điều tra ("census tract") đất đai quận Honolulu, Hawaii. Amerson Jr (1971) cho rằng đảo có diện tích là 0,1 mẫu Anh (khoảng 400 m²).
4) Theo báo cáo năm 1971 thì "đảo" Near thực chất chìm dưới biển.
Sinh thái.
Hệ thống rạn san hô ở các bãi cạn Frigate Pháp bao gồm 41 loài san hô cứng, bao gồm vài loài không thể tìm thấy ở các đảo chính trong quần đảo Hawaii. Ngoài ra còn có hơn 600 loài động vật không xương sống biển - trong đó có nhiều loài đặc hữu - sinh sống tại đây.
Hơn 150 loài tảo sống giữa các rạn san hô, và khu vực sát cạnh đỉnh nhọn La Perouse có những khu hệ tảo biển đặc biệt đa dạng. Điều này dẫn người ta đến một suy đoán rằng dòng chảy vào mang theo chất dinh dưỡng bổ sung - dưới dạng phân chim - là nhân tố góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học và năng suất sinh học của tảo trong môi trường này. Vùng nước tại các rạn san hô là ngôi nhà cho rất nhiều loài cá. Loài cá đặc hữu của Hawaii là "Genicanthus personatus" cũng tương đối phổ biến tại đây. Phần lớn đồi mồi dứa của Hawaii tìm đến đây làm tổ. Các hòn đảo nhỏ trong các bãi cạn Frigate Pháp là nơi trú ẩn cho cộng đồng hải cẩu thầy tu Hawaii lớn nhất còn sống sót.
Các đảo tại đây cũng là các sân chim quan trọng của chim biển. 18 loài chim biển - trong đó có "Phoebastria nigripes", "Phoebastria immutabilis", "Pterodroma hypoleuca", "Bulweria bulwerii", "Puffinus pacificus", "Puffinus nativitatis", "Oceanodroma tristrami", "Onychoprion lunatus", "Procelsterna cerulea", "Anous stolidus", "Anous minutus", "Phaethon rubricauda", "Sula dactylatra", "Sula sula", "Sula leucogaster", "Fregata minor", "Onychoprion fuscatus" và "Gygis alba" - làm tổ tại nơi đây, hầu hết (16) là trên đảo Tern. Hai loài còn lại là "Procelsterna cerulea" và "Anous minutus" chỉ làm tổ trên đỉnh nhọn La Perouse. Hòn đảo cũng là nơi trú đông của vài loài chim lội.
Trong chuyến nghiên cứu vào tháng 10 năm 2006 của Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA), các nhà khoa học đã xác định thêm 100 loài chưa bao giờ thấy ở vùng này, trong đó có nhiều loài hoàn toàn mới. | 1 | null |
Rắn cây nâu (danh pháp hai phần: Boiga irregularis) là một loài rắn sống trên cây có răng nanh sau thuộc họ Colubridae có nguồn gốc từ phía đông và ven biển phía Bắc Australia, Papua New Guinea, và một số lượng lớn các hòn đảo ở tây bắc Melanesia. Chúng được Bechstein mô tả khoa học đầu tiên năm 1802.
Rắn cây nâu thường dài khoảng hơn một mét, nhưng cũng có thể phát triển đến độ dài 3 mét. Đây là rắn khét tiếng là một loài xâm lấn tàn phá phần lớn dân số loài chim trên đảo Guam. Loài rắn cây nâu ăn chim, thằn lằn, dơi và các loài gặm nhấm nhỏ trong phạm vi phân bố gốc của nó. Nó ăn chim và chuột chù ở Guam.
Loài rắn này vô tình được nhập nội vào Guam vào khoảng ngay sau Thế chiến thứ hai và trước năm 1952 trên những tàu hàng . Hơn 60 năm qua, chúng trở thành nguyên nhân chính làm tuyệt chủng dần một loài chim bản địa trên đảo. Hiện có khoảng 2 triệu con rắn nâu ở Guam. Chúng không chỉ phá hoại môi trường hoang dã mà còn cắn người dân, thậm chí phá hỏng các đường dây điện, điện thoại.
Loài rắn này không có thiên địch. Chính quyền địa phương đã lên phương án thả chuột diệt rắn dự kiến bắt đầu vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm 2013, trong đó những con chuột con đã chết sẽ được tẩm acetaminophen, hoạt chất chính trong các thuốc giảm đau phổ biến với con người nhưng là độc hại với loài rắn cây nâu này. | 1 | null |
Marc-Antoine Charpentier (; 1643 – ngày 24 tháng 2 năm 1704) là nhà soạn nhạc thuộc thời kỳ ba rốc Pháp.
Cuộc đời.
Charpentier được sinh ra tại hoặc gần Paris. Tại đây ông được hưởng một nền giáo dục tốt và đăng ký học luật ở Paris khi ông bước vào tuổi 18. Ông có thể đã ở Rome hai hoặc ba năm khoảng 1667 đến 1669 và học nhạc với Giacomo Carissimi. Sau đó ông trở về Pháp, trở thành nhà soạn nhạc cho Marie de Lorraine, duchesse de Guise. Trong mười bảy năm tiếp theo, Charpentier sáng tác một số lượng đáng kể các công trình thanh nhạc cho bà ta. Các loại nhạc tôn giáo như Psalm, hymn, motet, một magnificat, một mass
Sự nghiệp sáng tác.
Tác phẩm của ông bao gồm oratorio, mass, opera và nhiều thể loại khác nữa khó có thể phân loại. | 1 | null |
Sở thích là những hoạt động thường xuyên hoặc theo thói quen để đem lại cho con người niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời gian thư giãn. Sở thích cũng chỉ về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định khiến tâm tư của họ được thoải mái, hạnh phúc, hoặc có thể qua đó tạo thành động lực lớn để theo đuổi.
Đối tượng.
Sở thích của con người thường có đối tượng rất rộng và không giống nhau ở mỗi người, như có những trường hợp có hứng thú về các hoạt động sáng tạo, nghệ thuật (hội họa, làm thơ, làm vườn, nghe nhạc), nhưng cũng có sở thích về thể thao (chơi bóng đá, xem bóng đá), ẩm thực (uống trà, uống cà phê), giải trí (chơi điện tử, xem ti vi, lướt Internet, đọc truyện tranh) hoặc những sở thích mày mò, kỹ thuật, liên quan đến nghiên cứu (đọc sách, viết văn) hoặc những sở thích bộc bạch, tự sự cá nhân (viết nhật ký, tự truyện, blog), những sở thích sưu tập đồ vật quý của giới thượng lưu và đôi khi còn có những sở thích mang tính quái đản, biến thái như sưu tập đồ lót, sưu tập tranh ảnh khiêu dâm, sàm sỡ nơi công cộng, hoặc những sở thích như trộm, cắp...
Nói chung người ta tham gia vào các hoạt động này để giải trí hoặc cho thư thái vui vẻ như một người nghiệp dư trái ngược với những người tham gia vào các công việc, các hoạt động để được trả tiền, thù lao hay nhận lương. Một tay nghiệp dư có thể có tay nghề hoặc trình độ cao hơn những người chuyên nghiệp nhưng họ tham gia vào công việc, hoạt động một cách tùy hứng cho vui chứ không phải bắt buộc hoặc nhằm đạt thù lao. | 1 | null |
Kullaberg () là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên một bán đảo đất nhô ra vào Kattegat ở Höganäs, Mölle, Skåne, ở phía tây nam Thụy Điển. Đây là một khu vực đa dạng sinh học đáng kể hỗ trợ một số loài quý hiếm và đã được chỉ định là một khu vực chim quan trọng ở Thụy Điển cũng như là một Khu vực bảo vệ đặc biệt. Địa hình chủ yếu là vách đá dựng đứng vươn lên từ biển và các mỏm đá trên sườn núi ở trên, cao nhất là núi Håkull với độ cao 188 mét. Thảm thực vật trên các chỏm đá bao gồm một khu rừng gỗ cứng lá rộng hỗn hợp bao gồm bạch dương, fagus, sồi và thông với một thực vật tầng dưới là táo gai, cây bách xù, cây kim ngân hoa hoang dã và mận gai. Trong số các loài cây quý hiếm đáng chú ý là "Lathyrus sphaericus".
Có người sinh sống ở đây sớm nhất là thời kỳ đồ đá, có những vòng tròn đá, gò mộ, còn lại làng cổ và đặc điểm khảo cổ khác. Kullaberg được quản lý bởi Hội đồng Lâm nghiệp Höganäs và Quỹ Gyllenstierna Krapperup. Hải đăng Kullen, được thiết kế bởi kiến trúc sư Magnus Dahlander vào năm 1898, được coi là sáng nhất ở Thụy Điển, nằm tại điểm cực tây của khu bảo tồn, hướng dẫn tàu thông qua điều này một phần bận rộn của Kattegat. Trong phạm vi 75 kilômét vuông khu bảo tồn dự trữ là con đường đi bộ đường dài rộng đan chéo băng qua đỉnh núi và cung cấp tuyến đường truy cập đến hàng chục bãi biển vịnh nhỏ nép mình ở dưới chân các thành vách đá. | 1 | null |
Đức Mẹ Trà Kiệu là tên gọi mà người công giáo Việt Nam dùng để gọi Đức Maria trong đền thờ được xây dựng năm 1898, trên Đồi Bửu Châu, phía đông Trà Kiệu, thuộc Xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Tỉnh Quảng Nam. Đền thờ được dâng kính Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu, với mục đích ghi nhớ sự kiện Đức Mẹ phù hộ cho giáo hữu nơi đây trong cuộc chiến chống lại Phong trào Cần Vương năm 1885 .
Tên gọi.
Theo một thuyết, chữ Trà được lý giải do người xưa gọi người Chiêm Thành là Chùm Chà, chữ Chà được đọc trại ra là Trà, gợi ý nhắc nhở đó là phần đất xưa của người Chàm. Còn chữ Kiệu, do chữ Kiều đọc trại ra, vì kiều nghĩa là người ở xa đến, tức dân Đàng Ngoài di cư lập nghiệp tại đây.
Lịch sử.
Cùng với phong trào di dân từ Miền Bắc và Miền Trung vào phía Nam, vùng đất Trà Kiệu trở thành nơi dừng chân của nhiều đoàn người di dân. Làng công giáo Trà Kiệu đã được dựng lên vào khoảng năm 1628.
Từ năm 1883, sau khi Vua Tự Đức băng hà nổi lên Phong Trào Cần Vương nhằm đánh đuổi quân Pháp và tàn sát người Công giáo. Ngày 1 tháng 9 năm 1885, quân lính Văn Thân kéo đến vây làng Trà Kiệu, trong khi linh mục Bruyère (thuộc Hội Thừa sai Paris) và giáo dân không kịp chuẩn bị.
Cuộc giao tranh giữa làng công giáo Trà Kiệu và quân lính văn thân kéo dài trong nhiều ngày. Tương quan lực lượng chênh lệch, phe Văn Thân mạnh hơn cả về nhân lực và vũ khí nên những người công giáo đã bày tượng Đức Mẹ trên bàn thờ để cầu nguyện. Trong khi thanh niên lâm chiến, thì người già và trẻ con tập trung đọc kinh trước ảnh Đức Mẹ. Khi xong trận, họ lại quay về tạ ơn Mẹ. Khẩu hiệu tiến quân của giáo dân là 3 tên thánh: Giêsu, Maria, Giuse. Mỗi khi quân Văn thân tiến đến giáp lũy tre phóng thủ, thì đồng loạt tất cả giáo dân hô to khẩu hiệu và ào ra giao chiến.
Sau đó quân Vân Thân tăng viện thêm đại bác. Họ đặt đại bác trên Đồi Kim Sơn và Bửu Châu để bắn vào nhà thờ, nơi được xem như là trung tâm xuất phát các trận phản công, đồng thời là biểu tượng của tinh thần kháng chiến của giáo hữu. Nhà thờ bị trúng đạn 1 lần nhưng tổn thất không đáng kể. Một khẩu đại bác đặt cách nhà thờ chừng 100 thước nhưng không sao bắn trúng được nhà thờ. Theo truyền tục thì võ quan chỉ huy đã thú nhận rằng ông ta cố tình nhắm bắn thì thấy "một người đàn bà xinh đẹp, bận áo trắng, đứng trên nóc nhà thờ nên không thể nào nhắm trúng được". Thông tin này đã khiến quân lính trong phe Văn Thân xôn xao.
Vị linh mục và giáo dân nghe vậy đều nghĩ rằng phép lạ Đức Mẹ làm, cũng mong được nhìn thấy, nhưng không ai trông thấy ngoại trừ một người đàn bà, tên là Chỉnh. Đồng thời phe Văn Thân còn thấy nhiều trẻ nhỏ mặc áo đỏ áo trắng từ trên không trung bay xuống qua lũy tre xanh, tay cầm gươm bạc sáng ngời vả đánh giúp giáo dân.
Ngày 21 tháng 9 năm 1885, phe giáo dân chiếm lại bộ chỉ huy của Văn Thân đặt trên Đồi Bửu Châu. Trà Kiệu được giải vây từ đó. Đêm đến, mọi người họp nhau trong nhà thờ sốt sắng tạ ơn Thiên Chúa, nhất là Thánh Mẫu Maria.
Năm 1898, giáo dân Trà Kiệu xây cất một đền Thờ trên ngọn Đồi Bửu Châu để ghi nhớ công ơn Đức mẹ. Từ ấy đến nay, Linh địa Đức Mẹ Trà Kiệu vốn nổi tiếng là linh thiêng, nhiều người đều đến cầu khẩn Mẹ lành và thường đều được ban ơn. Nhiều người tự cho rằng đã được khỏi bệnh bằng lá Non Trược trên Đồi Bửu Châu.
Ngày 31 tháng 5 năm 1971, Giám mục Đà Nẵng Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi đã chọn Trà Kiệu làm Trung tâm Thánh Mẫu của Giáo phận Đà Nẵng. Và hằng năm , Giáo phận sẽ tổ chức ngày "Đại hội Đức Mẹ Trà Kiệu" vào ngày 31 tháng 5 | 1 | null |
Lễ trao giải Oscar lần thứ 85 được tổ chức bởi Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (Academy of Motion Picture Arts and Sciences - AMPAS) nhằm tôn vinh của điện ảnh Hoa Kỳ diễn ra vào tối Chủ nhật, 24 tháng 2 năm 2013 tại nhà hát Dolby số 6801 đường Hollywood thuộc khu Hollywood, thành phố Los Angeles, quận Los Angeles, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Seth MacFarlane lần đầu đảm nhiệm giới thiệu chương trình. Đệ Nhất phu nhân Michelle Obama là người công bố phim chiến thắng ở hạng mục Phim hay nhất tại Nhà trắng. Kênh truyền hình chính thức ABC với số người theo dõi lúc 8 giờ tối lên tới 42,4 triệu đã đạt kỷ lục số người xem đông nhất kể từ sau giải lần thứ 76 năm 2004.
Bộ phim Life of Pi của đạo diễn Lý An đoạt 4 giải thưởng trong số 11 đề cử. Phim Lincoln của đạo diễn Steven Spielberg với 12 đề cử là phim có nhiều đề cử nhất. "Argo" của đạo diễn Ben Affleck và Những người khốn khổ (phim 2012) của đạo diễn Tom Hooper đồng đoạt ba giải. Tử địa Skyfall lần đầu tiên rinh giải Oscar với phần thưởng giọng hát chính trao cho Adele Laurie Blue Adkins với Paul Epworth và biên tập âm thanh cho Per Hallberg cùng Karen Baker Landers.
Đề cử và giành giải thưởng.
Người dẫn chương trình của lễ trao giải Oscar 85 Seth MacFarlane và nữ diễn viên Emma Stone đã công bố các đề cử vào lúc 05:30 PST (13:30 UTC) (8:30 EST) sáng ngày 10 tháng 1 năm 2013 tại Nhà hát Samuel Goldwyn ở Beverly Hills, California. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1973 người dẫn chương trình lễ trao giải kiêm luôn việc công bố các đề cử của giải thưởng.
Bộ phim nhận được nhiều đề cử nhất là Lincoln với mười hai giải và kế đó là Cuộc đời của Pi với mười một giải.
Các giải thưởng.
Người và phim thắng giải được in đậm.
Phim với nhiều đề cử và đoạt nhiều giải thưởng.
15 bộ phim sau đây nhận được nhiều đề cử:
6 bộ phim sau đây đoạt được nhiều giải thưởng: | 1 | null |
Soprano là một loại giọng nữ và có âm vực cao nhất trong tất cả các loại giọng. Âm vực của loại giọng này trải dài từ nốt C trung (C4) tới nốt A cao (A5) trong dàn hợp xướng, hoặc tới nốt "C soprano" (C6) hoặc cũng có thể cao hơn trong các buổi opera.
Thông thường, thuật ngữ "soprano" giúp ta gợi tới các nữ ca sĩ, nhưng ngày nay cũng có thành ngữ "soprano nam" cũng được dành cho những nam ca sĩ hát được lên tới âm vực của soprano với giọng the thé (giả thanh).<br>Tuy nhiên các trường hợp này rất ít. Chỉ có nam ca sĩ Michael Maniaci được coi là người có giọng "soprano nam" thực sự vì anh ta có thể hát tới âm vực của giọng soprano với giọng bình thường (không phải giọng gió) bởi dây thanh quản của anh ta có cấu tạo khá đặc biệt.
Phân loại và vai trò trong các vở opera.
Nốt cực kỳ thấp trong loại giọng soprano là khoảng B♭3 hoặc nốt A3 (ở dưới nốt C4 một chút). Trong opera, vở opera được viết ở nốt thấp nhất là "Ich Gehe, Doch Rate Ich Dir" của Wolfgang Amadeus Mozart, viết ở nốt A♭3. Còn nốt cực kỳ cao là nốt "C soprano" (tức C6) và cao hơn nữa là C♯6 hoặc D6.
Các nhánh giọng Soprano.
"Về cơ bản, Dramatic Soprano và Wagnerian Soprano là một, nhưng "Wagnerian" là những tên tuổi gắn liền với trường phái Wagner (trường phái opera đặc biệt, luôn đòi hỏi ca sĩ phải hát kịch tính) phân biệt với những "Dramatic" trong Bel canto (trường phái opera đòi hỏi ca sĩ phải hát đẹp)." | 1 | null |
Thục vương (chữ Hán: 蜀王, trị vì: ?-316 TCN) hoặc Lô Tử Bá Vương (芦子霸王) là thụy hiệu của vị quân chủ cuối cùng Khai Minh thị nước Thục thời Xuân Thu Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc ở khu vực Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên ngày nay, không rõ tên thật ông là gì nhưng có thể biết chắc rằng ông là hậu duệ đời thứ 12 của Thục Tùng đế Biết Linh.
Theo nhiều tư liệu cổ ngày nay vẫn còn lưu trữ được thì Thục vương là một ông vua tham lam ngu tối, ông có sở thích sưu tầm những đồ vật lạ quý hiếm mà phải là hàng độc có một không hai trên đời. Trong cung điện nhà vua chẳng thiếu gì những trân châu, mã não hay những chuỗi ngọc trai khảm vàng ròng óng ánh, lại có cả những cống phẩm của lân bang như: sừng tê giác, ngà voi..v..v..Bấy giờ Tần Huệ Văn Vương đang có kế hoạch đánh chiếm nước Thục nhưng ngặt nỗi đường đi vào nước này rất khó khăn phải qua nhiều khe vách núi rất hiểm trở, nếu muốn tiến quân phải len lỏi từng người mới có thể đi qua chứ không ồ ạt tấn công được. Bấy giờ có người hiến kế cho nhà vua rằng:"vua nước Thục rất tham lam, ta nên sai thợ điêu khắc giỏi trong nước lấy đá khối tạc thành hình con trâu đặt ở giữa biên giới Tần và Thục. Hàng ngày ta sai người đem một thỏi vàng ra đặt dưới đít trâu rồi phao tin ầm nên rằng "trâu đá ỉa ra vàng", vua Thục là người hám của lạ tất nhiên sẽ không thể ngồi yên mà sẽ cho quân dọn đường để lấy bằng được con trâu đá đó. Lúc bấy giờ có sẵn đường ta cứ việc đem binh tràn sang khỏi phải nhọc công làm đường vừa dễ lộ cơ mưu lại vừa mệt sức lính, đấy chính là sách lược lưỡng toàn một tên trúng hai đích vậy".
Tần Huệ Văn Vương nghe xong lập tức y lệnh thực hiện ngay lời cố vấn trên, quả nhiên Thục đế phái dân công làm việc cật lực trong mấy tháng trời cuối cùng cũng san phẳng con đường dẫn tới chỗ có "trâu đá". Tuy nhiên Thục đế chưa kịp mang con "trâu đá" về lấy vàng thì quân đội nước Tần đã bất thình lình tràn theo con đường đó tiến thẳng vào kinh đô nước Thục, vua Thục không chống cự nổi phải mở cửa thành đầu hàng rồi bị phế truất thành Thục hầu, từ đó người ta đặt tên con đường này là Thạch Ngưu đạo nghĩa là đường Trâu đá để kỉ niệm sự kiện lịch sử trên. | 1 | null |
Bụi đời Chợ Lớn là một bộ phim tâm lý - hành động - võ thuật Việt Nam do Charlie Nguyễn làm đạo diễn và viết kịch bản. Phim có sự tham gia của Johnny Trí Nguyễn, Hoàng Phúc, Hà Hiền, Long Điền và Huỳnh Bích Phương. "Bụi đời Chợ Lớn" mô tả sống động và chân thật về những cuộc giao chiến đẫm máu giữa các băng nhóm giang hồ ở vùng Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh để tranh giành địa bàn với nhau. Ngày 7 tháng 6, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ra quyết định cấm lưu hành bộ phim vì vi phạm Luật điện ảnh. Tuy vậy, cho đến nay, việc cấm chiếu phim đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều về hệ thống kiểm duyệt tại Việt Nam.
Lịch sử.
Phim ban đầu dự kiến trình chiếu vào ngày 19 tháng 4 năm 2013 tại các rạp trên toàn quốc, tuy nhiên đã bị hoãn chiếu do không qua được kiểm duyệt của Cục Điện ảnh Việt Nam. Việc Cục Điện ảnh Việt Nam không đồng ý thông qua nội dung của bộ phim "Bụi đời Chợ Lớn" đã gây ra những ý kiến trái chiều trên cộng đồng mạng, báo chí và những người yêu điện ảnh. Ngày 7 tháng 6 năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định cấm lưu hành bộ phim này vì vi phạm Luật điện ảnh Việt Nam.
Nội dung.
Bộ phim mở đầu với cảnh Lâm chở người yêu mình là Hương chạy thoát khỏi sự truy bắt của một số đàn em của tên trùm giang hồ Tài "nhớt". Khi không biết phải trốn đi đâu, Lâm đã đến cầu cứu anh trai là Hùng Chợ Lớn - trùm giang hồ của khu vực Chợ Lớn. Hùng bảo Lâm và Hương ẩn náu trong căn phòng nhỏ trong khi Hùng đi nói chuyện với Tài "nhớt". Còn về phía Tài "nhớt" thì hắn đã nhờ một người bạn thân võ nghệ cao cường là Phong "bụi" giúp hắn đi giết anh em Hùng, nhưng Phong đã từ chối bởi vì anh từng hứa với người yêu rằng sẽ rút khỏi thế giới giang hồ.
Trong vòng nửa giờ sau, Tài "nhớt" cùng hàng chục đàn em tiến vào Chợ Lớn, Hùng cũng dẫn hàng chục đàn em kéo ra, hai phe gặp nhau tại khu bùng binh nhỏ để thương lượng. Vốn từ lâu có âm mưu lấy Chợ Lớn làm nơi kinh doanh ma túy khổng lồ nên Tài "nhớt" bảo nếu Hùng giao lại khu Chợ Lớn cho hắn thì hắn sẽ bỏ qua chuyện Lâm cướp người tình của hắn. Hùng không đồng ý khiến Tài "nhớt" giận dữ, cả hai phe lao vào chém giết nhau, xác người và máu đầy trên đường. Lâm một mình chạy ra nơi đó rồi hỗ trợ phe Chợ Lớn giúp anh mình. Trong cuộc giao chiến, lẽ ra Hùng đã giết được Tài "nhớt" nhưng Phong "bụi" đã đến cứu hắn kịp thời. Từ khi Phong xuất hiện thì phe Chợ Lớn bị yếu thế hơn nên Hùng ra lệnh cho anh em rút về. Một người bạn thân của Lâm là Nghĩa đã phải bỏ mạng trong cuộc giao chiến này.
Hùng và Lâm sau đó nghĩ ra mưu kế để giết Tài "nhớt", ngờ đâu một thanh niên trẻ tuổi tên Bi bị dính bẫy. Bi nghe lời Tài "nhớt" xông vào định chém Hùng nhưng lại bị Hùng đâm chết. Bi chính là em trai của người yêu Phong "bụi". Sau khi Tài "nhớt" cho Phong thấy xác chết của Bi, Phong tức giận đến nhà Hùng rồi đánh nhau dữ dội với Hùng. Phong đâm một nhát dao vào bụng Hùng rồi bỏ đi. Trong cơn hấp hối Hùng bảo đàn em đưa cô vợ Yến đang mang thai của mình trốn khỏi Chợ Lớn thật nhanh để tránh sự truy sát của Tài "nhớt". Hùng kêu Lâm đưa mình lên tầng cao nhất của khu chung cư để ngồi chứ không chịu đi bệnh viện. Kỳ - một đàn em dũng cảm của Hùng đã dẫn một nhóm anh em đi giết Phong nhằm mục đích trả thù cho Hùng. Cả hai phe tiếp tục lao vào đánh nhau, Kỳ cùng với những anh em khác bị Phong và đàn em của Tài "nhớt" giết sạch.
Tài "nhớt" cho Phong biết rằng hắn đang bắt giữ Trang - người yêu của Phong và bắt buộc anh chiếm khu vực Chợ Lớn cho hắn, nếu không thì Trang sẽ chết. Phong đành dẫn bọn đàn em còn lại của Tài "nhớt" đến khu chung cư để giết nốt Lâm cùng nhóm anh em Chợ Lớn cuối cùng. Hai phe giết nhau tiếp tục, đến khi hai phe đều chết sạch thì Lâm xông vào đánh Phong nhưng bị Phong đánh trả dữ dội. Tài "nhớt" lúc này xuất hiện, hắn tiết lộ rằng hắn đã giết Trang rồi bất ngờ rút dao đâm chết Phong. Tài "nhớt" định giết luôn Lâm nhưng Hương đã lao vào lãnh trọn nhát dao của Tài "nhớt" để cứu Lâm. Nhìn thấy cái chết của Hương, Lâm giận dữ xô Tài "nhớt" từ tầng lầu cao rơi xuống đất chết. Hùng nói chuyện với Lâm vài lời cuối cùng rồi cũng ngã ra chết do mất quá nhiều máu từ vết thương trên bụng. Sau đêm đẫm máu đó, Lâm đã phải ở tù mười năm. Bộ phim kết thúc với cảnh Lâm gặp lại vợ con của Hùng sau khi được ra tù.
Sản xuất.
Hơn 80% phân cảnh của "Bụi đời Chợ Lớn" được thực hiện tại khu vực Chợ Lớn, gồm phần lớn tại quận 5, quận 6, quận 10 và một phần quận 11. Khu vực xung quanh chợ Kim Biên, chợ Bình Tây được sử dụng nhiều nhất cho những cảnh hành động lớn trong phim, với nhiều phân cảnh có đường dây kịch bản ly kỳ phức tạp, nhiều cảnh chiến đấu, có khi số lượng diễn viên lên đến gần 150 người cùng nhiều đạo cụ phức tạp.
Đạo diễn Charlie Nguyễn nói: ""Chợ Lớn không chỉ đóng vai trò là bối cảnh phim mà còn là một "nhân vật" đặc biệt, và rất quan trọng trong câu chuyện này. Nó có một ý nghĩa rất quan trọng với các nhân vật mà khi xem phim các khán giả nếu tinh ý sẽ nhận ra được"".
Kiểm duyệt phim.
Bộ phim đã phải hoãn lịch chiếu vô thời hạn do không được cấp phép của Cục Điện ảnh Việt Nam. Bộ phim dự kiến ra mắt trên toàn quốc từ ngày 19 tháng 4 nhưng phải lùi ngày chiếu để biên tập, cắt gọt. Theo yêu cầu của Hội đồng Trung ương Thẩm định Phim truyện – Cục Điện ảnh, nhà sản xuất và đạo diễn sẽ chỉnh sửa lại để "Bụi đời Chợ Lớn" phù hợp hơn với văn hóa phương Đông. Thông tin đưa ra từ phía Cục Điện ảnh, ngày 26 tháng 10 năm 2012, Cục Điện ảnh đã có văn bản Giám định kịch bản phim truyện "Bụi đời Chợ Lớn", Cục yêu cầu Hãng phim Chánh Phương (đơn vị sản xuất) phải sửa chữa kịch bản, cắt bỏ hoặc tiết chế những cảnh thể hiện tính chất bạo lực gây hoảng loạn, ghê sợ hoặc phản cảm… để tránh vi phạm Luật Điện ảnh. Cục cũng khuyến cáo nhà sản xuất không đưa vào phim các băng Đảng xã hội đen ngang nhiên hoành hành, dàn trận thanh toán nhau đẫm máu bằng dao kiếm, lưỡi lê trên các đường phố Thành phố Hồ Chí Minh mà tuyệt nhiên không có sự can thiệp nào của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, phía công ty Chánh Phương đã tiến hành sản xuất bộ phim mà không trình thẩm định lại kịch bản theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Ngày 19 tháng 3 năm 2013, Hội đồng Trung ương thẩm định phim truyện gồm 8 thành viên đã tiến hành thẩm định bộ phim, theo đó, 4 người bỏ phiếu "không phổ biến", 4 người yêu cầu nhà sản xuất muốn phổ biến phim phải chỉnh sửa lại nội dung phim theo chiều hướng giảm bớt tính bạo lực, đẫm máu. Bà Nguyễn Thị Hồng Ngát - Phó chủ tịch thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam, ủy viên Hội đồng Trung ương thẩm định phim truyện cho biết: "Sau khi bàn bạc, Hội đồng thẩm định đã quyết định yêu cầu nhà sản xuất phim phải chỉnh sửa lại nội dung phim bởi phim có quá nhiều cảnh bạo lực. Phim xoay quanh cuộc chiến tranh giành địa bàn giữa 2 băng Đảng xã hội đen với những màn thanh toán, chém giết lẫn nhau đẫm máu. Phim lấy bối cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hiện thực phản ánh trong phim không đúng với hiện thực cuộc sống của Thành phố Hồ Chí Minh. Những cảnh chém giết diễn ra liên miên mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ phía cơ quan chức năng… Những nhân vật có tính hướng thiện trong phim lại xuất hiện rất yếu ớt, mờ nhạt. Chính vì những vấn đề nêu trên, Hội đồng yêu cầu nhà sản xuất sửa phim để không vi phạm Luật Điện ảnh của Việt Nam".
Ngày 7 tháng 6 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ra quyết định cấm lưu hành bộ phim vì vi phạm Luật điện ảnh.
Tranh cãi về việc duyệt phim.
Sau khi có thông tin hoãn chiếu "Bụi đời Chợ Lớn" vì không qua kiểm duyệt, khán giả cũng tranh luận sôi nổi trên mạng xã hội, diễn đàn về vấn đề này. Ban đầu, ý kiến số đông hùa theo việc đả kích lại sự khắt khe của Hội đồng duyệt phim nhưng sau đó, những luồng ý kiến khác cũng xuất hiện càng khiến câu chuyện kiểm duyệt trở nên phức tạp hơn trước.
Phim bị rò rỉ trên Internet.
Ngày 5 tháng 7 năm 2013, bộ phim "Bụi đời Chợ Lớn" với thời lượng 1 tiếng 27 phút bị rò rỉ lan truyền với tốc độ chóng mặt. Phản ứng trước thông tin này, đạo diễn Charlie Nguyễn rất sốc vì đứa con tinh thần của mình bị đưa tràn lan lên mạng. Việc lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh Việt Nam, một bộ phim không được cơ quan quản lý văn hóa cấp phép phổ biến xuất hiện trên mạng khiến số người tìm kiếm từ khóa "Bụi đời Chợ Lớn" tăng vọt. Đĩa phim DVD lậu của "Bụi đời Chợ Lớn" cũng được bày bán khắp nơi, đáng chú ý nhất là ở thị trường Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Những đĩa phim có in bìa rất đẹp và bắt mắt, rất nhiều người đổ xô đi mua đĩa và đặc biệt đa số người mua lại là những bạn trẻ. | 1 | null |
Tượng Đức Mẹ trên núi Phượng Hoàng (gọi tắt là tượng Đức Mẹ Phượng Hoàng nằm ở Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đây là một trong 5 tượng đài Đức Mẹ Maria mà tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm chỉ đạo xây dựng ở miền Nam Việt Nam.
Lịch sử.
Năm 1959, Lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội được tổ chức rất long trọng tại các Giáo phận miền Nam Việt Nam nhằm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, được gọi là Đại hội Thánh Mẫu Toàn quốc. Dịp này, tổng thống Ngô Đình Diệm - một người theo đạo Công giáo - chỉ thị cho Phủ Tổng uy dinh điền xây dựng năm tượng đài Đức Mẹ ở Miền Trung, Miền Nam và Cao nguyên Trung phần trong các năm 1959, 1960 và 1961 bao gồm: Đức Mẹ Giang Sơn (Darlac), Đức Mẹ Thác Mơ (Phước Long), Đức Mẹ Phượng Hoàng (Công Tum), Đức Mẹ Trinh Phong (Ninh Thuận) và Đức Mẹ Tà Pao (Bình Tuy nay thuộc Bình Thuận).
Núi Phượng Hoàng có ba ngọn, tượng Đức Mẹ được dựng trên ngọn núi ở giữa cao nhất vào khoảng năm 1960. Một vị linh mục tham gia nghi lễ khánh thành kể lại: "Dân chúng lên đèo rất vất vả, các vị chỉ huy quân sự đến bằng máy bay trực thăng. Giám mục Paul Seitz(Kim), Giám mục Giáo phận, chủ sự Nghi thức làm phép" . | 1 | null |
Đức Mẹ Trinh Phong là tên gọi tượng đài Đức Mẹ được xây dựng tại Eo gió, điểm cao nhất của Đèo Ngoạn Mục, ranh giới giữa 2 tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng. Vị trí tượng hiện nay ở xã Lâm Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Đây là một trong 5 tượng đài Đức Mẹ Maria mà tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm chỉ đạo xây dựng ở miền Nam Việt Nam.
Lễ Khánh Thành Tượng Đức mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội diễn ra vào ngày 8 tháng 12 năm 1961. Tượng Đức Mẹ cao 6 thước thuộc quyền quản nhiệm của cha sở giáo xứ Sông Pha, hạt Ninh Thuận, giáo phận Nha Trang. Tham dự buổi lễ nầy có Linh mục Bề trên địa phận Nha Trang, Trung tá tỉnh trưởng Ninh Thuận và trên 3000 giáo dân địa phương. Nhân dịp này, Linh mục bề trên địa phận Nha Trang đã cử hành một thánh lễ tại kỳ đài thiết lập trên đồi để cầu nguyện cho quốc thái dân an.
Sau năm 1975, Tượng đài trở nên hoang vắng! Thỉnh thoảng các linh mục quản xứ Sông Pha và các giáo xứ lân cận hoặc giáo dân có nương rẫy gần đó lặng lẽ tới kính viếng.
Ngày 15 tháng 4 năm 2007, Linh mục quản xứ giáo xứ Sông Pha, Anrê Lê Văn Hải và chừng 500 giáo dân cùng với cả những anh chị em lương dân của các vùng Sông pha, Lạc Lâm, Lạc viên, Lạc Nghiệp, Kađô…đã đến dâng thánh lễ lần đầu tiên dưới chân Mẹ sau 31 năm.
Hiện nay, tượng đài Đức Mẹ Trinh Phong trở thành một địa điểm hành hương của người Công giáo ở Việt Nam. | 1 | null |
Lê Đình Thám (1897 – 1969) là bác sĩ, cư sĩ Phật giáo, là nhà hoạt động hoà bình và là người sáng lập Gia đình Phật tử Việt Nam; quê làng Đô Mỹ/La Kham? nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quý nhiều đời làm quan. Thân sinh là Binh bộ Thượng thư Lê Đỉnh ở triều Tự Đức.
Cùng với anh là Y sĩ Lê Đình Dương trực tiếp học chữ Nho với cha. Cả hai anh em đều tỏ ra thông minh xuất chúng ngay từ thuở niên thiếu. Riêng ông từ nhỏ, đã tỏ ra là người có năng khiếu văn chương thi phú.
Trong những năm theo học tại các trường tiểu học, trung học và đại
học, ông đã chiếm được cảm tình cả thầy và bạn. Luôn luôn giành thứ vị
thủ khoa trong các kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp.
Ông tốt nghiệp Y sĩ Đông Dương (đậu Thủ Khoa) tại Hà Nội năm 1916, và sau đó đậu Y khoa Bác sĩ năm 1930, ngạch Pháp quốc, tại Y khoa Đại học đường Hà Nội.
Khi ra trường với danh hiệu Y sĩ, đúng lúc phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị thất bại, anh trai ông là Y sĩ Lê Đình Dương bị Pháp tù đày tại Buôn Mê Thuột. Ông bị tình nghi và luôn bị theo dõi. Từ năm 1916 đến năm 1923, ông được bổ nhiệm và làm việc tại các bệnh viện Hội An, Bình Thuận, Sông Cầu, Quy Nhơn, Tuy Hòa. Chính trong thời gian này, ông nghiên cứu thêm về triết lý Đông phương như Khổng, Lão và Phật giáo... Năm 1926, ông phụ trách điều trị tại bệnh viện Hội An (Quảng Nam). Nhân một buổi viếng cảnh tại chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn, ông đọc được bài kệ của Tổ Huệ Năng ghi trên vách chùa:
Bồ đề bổn vô thọ <br>Minh cảnh diệc phi đài <br>Bổn lai vô nhất vật <br>Hà xứ nhạ trần ai.
Đây là lần đầu tiên ông tiếp xúc với triết lý Phật giáo, bài kệ trên đã gieo vào tâm thức ông một ấn tượng sâu sắc về đạo Phật, mặc dầu thời điểm lúc ấy chưa cho phép ông đến gần với cửa thiền.
Nhân cụ Phan Chu Trinh mất, được tin ấy ông và những người yêu nước khác, đã làm lễ truy điệu tại nơi đang làm việc, tỉnh Quảng Nam. Mật thám Pháp biết được nên chuyển ông ra làm việc ở Hà Tĩnh.
Năm 1928, ông lại được thuyên chuyển về Huế, đảm trách Y sĩ trưởng Viện bào chế và vi trùng học Louis Pasteur, ông phát minh ra Sérum Normet. Chính năm này, ông mới lên chùa Trúc Lâm, cách kinh đô Huế khoảng 7 cây số ở sau đàn Nam Giao, để thỉnh tôn ý về bài kệ trên với Hòa thượng trụ trì là Ngài Giác Tiên. Sau khi hiểu thấu đáo bài kệ, ông đã thực sự chuyển hướng đời mình: Phát nguyện quy y Tam bảo, ăn trường trai từ đó và nghiên cứu học hỏi kinh điển Phật giáo để hoằng hóa giúp đời. Với chí nguyện như trên, ông được thọ tam quy ngũ giới với Hòa thượng Giác Tiên, pháp danh là Tâm Minh, pháp tự là Chiêu Hải.
Năm 1929, ông thọ học thêm với Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp, Bình Định. Hòa thượng chỉ đạo ông nghiên cứu các bài giảng của Ngài Thái Hư đại sư ở Trung Hoa về cách thức tổ chức Phật giáo, và suy nghĩ cải cách thế nào cho phù hợp với tình hình Phật giáo nước nhà. Ông đã đề đạt ý kiến của mình lên chư Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết... và đã được các Ngài chấp thuận.
Năm 1930, ông trở ra Hà Nội thi bằng Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp. Khi trở về, ông vừa học Phật vừa làm ngành y mà vẫn vượt xa các bạn đồng học trong thời gian ấy.
Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, do các vị Hòa thượng và ông đứng ra chịu trách nhiệm gánh vác công cuộc hoằng dương chánh pháp. Trụ sở hội đầu tiên đặt ở chùa Trúc Lâm, sau đó là chùa Từ Đàm. Ông làm Hội trưởng và các Hòa thượng trong Ban Chứng minh là cố vấn cho Hội. Hội bắt đầu truyền đạo với nhiều hình thức:
- Thuyết pháp mỗi nửa tháng cho tín đồ nghe tại chùa Từ Quang.
- Mở trường đào tạo tăng tài cho Giáo hội sau này.
- Mở thêm các chi hội để gánh vác trách nhiệm hoằng dương chánh pháp khắp các tỉnh.
- Thành lập Thanh Niên Đức Dục (Phật học).
- Xuất bản tờ báo Phật giáo (Nguyệt san Viên Âm).
- Thiết lập các tòng lâm để chư tăng tu học, và đào tạo tăng tài.
Từ năm 1930, bắt đầu xuất hiện những bài viết của ông trên tờ nguyệt san Viên Âm. Ông tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M), truyện dài (ký tên Châu Hải) và truyện hài hước (ký tên Ba Rảm).
Từ năm 1934-1945 là những năm hoàn chỉnh các tổ chức của Phật giáo và hệ thống đào tạo tăng tài, các lớp Phật học cho thanh niên. Kết quả mà ông đã đóng góp được trong những năm tháng ấy, vẫn mãi mãi được ghi nhớ:
Một thế hệ tăng sĩ tài ba đã nở rộ, làm nền tảng tuyên truyền phát huy chánh pháp, đoàn kết Tăng Ni và Phật tử, bảo vệ Phật giáo trước những khó khăn lúc bấy giờ. Chùa Từ Quang, nơi làm giảng đường bước đầu để tuyên dương chánh pháp cũng đã thấy bóng dáng của ông trong chiếc áo dài màu đen và chiếc khăn đóng tươm tất, thành kính đảnh lễ chư Tăng trước khi bước lên Pháp tòa để giảng kinh cho họ.
Năm 1946, cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, ông cùng gia đình di tản về Quảng Nam.
Từ 25 tháng 1 năm 1948 đến 16 tháng 6 năm 1950 ông Lê Đình Thám làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung bộ. Tại Liên khu V của vùng kháng chiến, ông tập họp một số đoàn viên của đoàn Phật học Đức Dục có mặt trong vùng và thành lập tổ chức "Phật giáo và Dân chủ mới" tại Bồng Sơn - Bình Định, nghiên cứu việc tổng hợp giáo lý Phật giáo và triết học Mác-Lê Nin.
Mùa hè năm 1949, ông tập kết ra Bắc. Sau đó được đề cử làm Chủ tịch phong trào vận động Hòa Bình thế giới. Năm 1956, ông và Hòa thượng Trí Độ tham dự phái đoàn sang dự đại hội Phật giáo Buddha Jayanti tại Ấn Độ.
Năm 1961, toàn bộ kinh Lăng Nghiêm mà ông đã dày công phiên dịch và chú giải trong nhiều năm, đã được đăng tải trên báo Viên Âm trước đây được ông hoàn tất và xuất bản tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Sau đó, sách được gia đình ông tái bản lưu hành rộng rãi ở miền Nam.
Năm 1965, Hội Cờ tướng Việt Nam (tiền thân của Liên đoàn Cờ Việt Nam) được thành lập, Lê Đình Thám được bầu làm Chủ tịch Hội.
Trong những năm ở Bắc, ngoài ngày giờ làm việc cho nhà nước, ông đến chùa Quán Sứ để dịch kinh và giảng kinh, hướng dẫn việc tu học giúp nhà chùa. Kết quả của những năm tháng dày công quả vì đạo pháp và dân tộc ấy còn được thể hiện qua các kinh sách uyên thâm như:
1. Kinh Thủ Lăng Nghiêm<br>2. Luận Nhơn Minh<br>3. Đại Thừa Khởi Tín Luận<br>4. Bát Thúc Qui Củ Tụng<br>5. Phật học thường thức<br>6. Bát Nhã Tâm Kinh<br>7. Lịch sử Phật giáo Việt Nam và Phật Tổ Thích Ca<br>8. Tâm Minh - Lê Đình Thám tuyển tập (gồm 5 tập)
Đời người là vô thường, ông đã ngộ lý ấy và đã bình thản ra đi ngày 23-4-1969 (nhằm 7-3 âl, năm Kỷ Dậu), sau khi đã đàm đạo lần cuối cùng với Hòa thượng Đôn Hậu, tại bệnh viện Việt - Xô, Hà Nội, thọ 73 tuổi và 42 năm phụng sự Tam Bảo.
Để ghi nhớ những công lao của một cư sĩ ưu tú của Phật giáo, chư vị Tôn Đức Giáo phẩm Thừa Thiên-Huế đã tạc một bức tượng bán thân cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám trong khuôn viên Tổ đình Từ Đàm, Huế. Ông là một trong 2 vị Đại Cư sĩ có vinh hạnh lớn được chư vị Tôn Đức quý mến và dựng tượng tưởng niệm (người còn lại là Chánh Trí - Mai Thọ Truyền). Kể từ năm 1999, Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam đã chọn ngày mất của ông làm ngày Hiệp kỵ GĐPT Toàn quốc nhằm tưởng niệm chư Thánh Tử đạo; chư liệt vị Tiền bối Hữu công; Tiền bối Sáng lập; Ân Sư; Cố vấn; Bảo trợ; Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPTVN quá cố. | 1 | null |
Ngụy Kỹ (chữ Hán: 魏錡) là một nhân vật lịch sử của nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Ông cũng được xem là một nhân vật trong điển tích "kết cỏ ngậm vành" trong điển cố dân gian Trung Quốc.
Cuộc đời.
Ngụy Kỹ là con trai Ngụy Vũ tử Ngụy Sưu. Năm sinh và năm mất của ông không rõ. Một số tài liệu lịch sử chép ông là anh trai Ngụy Điệu tử Ngụy Khỏa, nhưng trong điển cố "kết cỏ ngậm vành" thì ông là em trai.
Ngụy Kỹ nguyên họ Cơ, thuộc dòng công thất nhà Chu, do tổ tiên được phong ở đất Ngụy nên lấy Ngụy làm họ. Nguyên tên là Ngụy Kỹ, sau được truy thụy là Vũ (武). Do Ngụy Kỹ từng được phong đất ăn lộc ở 2 ấp Lữ, Trù, nên còn được gọi là Trù Vũ tử (厨武子), Trù tử (厨子), Lữ Kỹ (呂錡).
Trận chiến ở đất Bật.
Năm 597 TCN, Tấn Cảnh công sai Tuân Lâm Phủ giữ chức Trung quân nguyên soái dẫn binh giao chiến với quân Sở tại đất Bật.
Điển tích "kết cỏ".
Bấy giờ Tấn Cảnh Công sai Ngụy Khỏa đi theo đại tướng Tuân Lâm Phủ đem quân đánh chiếm thành trì nước Lỗ, sau khi vào được thành thì Tuân Lâm Phủ về trước còn Ngụy Khỏa được cử ở lại đóng giữ. Lúc bấy giờ Tần Hoàn Công thấy nước Lỗ nguy cấp bèn sai đại tướng Đỗ Hồi phát binh cứu trợ, Đỗ Hồi to khỏe nên chiến đấu rất hăng khiến Ngụy Khỏa không chống nổi phải rút vào thành cố thủ chờ viện binh. Vua Tấn hay tin phái Ngụy Kỹ đến thành nước Lỗ giúp Ngụy Khỏa phá vây, thế nhưng 2 anh em phối hợp kẻ trong đánh ra người ngoài đánh vào mà cũng không phải là đối thủ của Đỗ Hồi. Ngụy Kỹ cùng anh lại chạy vào thành đóng chặt cổng thương nghị kế sách ứng phó, hai người bàn luận phân tích chán cũng chẳng thể nghĩ ra cách nào để vô hiệu hóa được cây búa Khai Sơn trong tay viên tướng Bạch Địch đó.
Trong lúc mệt mỏi thiu thiu ngủ thì Ngụy Khỏa chợt thấy có 1 ông già đầu râu tóc bạc hiện lên nhắc đi nhắc lại 3 từ "thanh thảo pha", sáng dậy Ngụy Khỏa kể lại giấc mộng này cho Ngụy Kỹ nghe mà vẫn lấy làm lạ lắm. Bất chợt Ngụy Kỹ nhớ ra cách thành này mấy chục dặm có vùng gọi là "thanh thảo pha" bèn nói với anh, 2 anh em đoán chắc có thần tiên giúp đỡ mình chăng nên mới nhắc đi nhắc lại như vậy. Lập tức Ngụy Kỹ dẫn thuộc hạ đến vùng đồng cỏ ấy mai phục còn Ngụy Khỏa lên ngựa ra trước doanh trại quân Tần khiêu chiến, hai bên đấu được vài hiệp thì Ngụy Khỏa bỏ chạy một mạch đến chỗ "thanh thảo pha". Đỗ Hồi cậy khỏe xách búa quất ngựa đuổi theo rất gắt gao, khi chạy đến "thanh thảo pha" thì bất ngờ quân Tấn phục kích từ 4 hướng ập đến. Đỗ Hồi một mình tả xung hữu đột chém giết quân Tấn nhiều vô kể, đang chiến đấu hăng thì bỗng nhiên ngựa của viên tướng này vướng phải cỏ dài quấn vào chân lên ngã chổng vó lăn kềnh ra. Quân Tấn ùa vào bắt sống Đỗ Hồi rồi đóng cũi cho vào từ xa giải về thành nước Lỗ, về đến nơi Ngụy Khỏa chẳng cần hỏi han hạ lệnh chặt đầu viên tướng này ngay để trừ hậu họa.
Tối hôm ấy Ngụy Khỏa lại nằm mơ thấy ông già hôm trước hiện ra nói rằng ông ấy trả ơn vì đã không chôn sống con gái lão là nàng Tố Cơ, ông lão cho biết các cọng cỏ đó là do ông lão hiện thân kết lại để vướng chân ngựa của Đỗ Hồi làm y ngã đó. Sáng ra Ngụy Khỏa lại tường thuật lại giấc chiêm bao trên cho Ngụy Kỹ, hai anh em hồi tưởng lại chuyện cũ mới vỡ lẽ ông già nọ là cha của nàng Tố Cơ. Nàng Tố Cơ nói trên chính là ái thiếp của cha 2 người là Ngụy Sưu, sinh thời Ngụy Sưu rất yêu quý nàng ấy và có dặn lại các con rằng nếu cha mất thì đem nàng ấy gả cho gia đình quyền quý để nàng khỏi phải vất vả quãng đời còn lại. Nhưng đến lúc lâm chung trong cơn hấp hối Ngụy Sưu lại dặn khi nào cha chết hãy đem theo Tố Cơ chôn sống theo cha, tuy nhiên Ngụy Khỏa đã không nghe lời cha mà sau 3 năm mãn tang đã gả Tố Cơ cho một gia đình danh vọng ở nước Tấn lúc bấy giờ. Ngụy Ý lúc đó thắc mắc với Ngụy Khỏa rằng tại sao anh lại làm trái lời trăng chối của cha, Ngụy Khỏa giải thích vì lời nói lúc tỉnh táo mới là lời nói thật tự đáy lòng còn lời nói khi hấp hối thì lúc ấy đầu óc đã bị lẫn thần trí đâu còn minh mẫn nên không thể nghe.
Trận đánh này tuy chiến tích do Ngụy Khỏa làm chủ tướng nhưng Ngụy Kỹ lại là nhân vật quan trọng lập công đầu, bởi Ngụy Kỹ là người biết đến vùng "thanh thảo pha" kia và chính ông là người đưa quân mai phục để bắt Đỗ Hồi vậy. | 1 | null |
Đức Mẹ Giang Sơn là tên gọi tượng đài Đức Mẹ nằm trên đồi Giang Sơn, cách thành phố Buôn Ma Thuột 30 km về phía đông nam theo Quốc lộ 27 đường đi Đà Lạt. Đây là trung tâm hành hương Công giáo thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột.
Lịch sử.
Vào năm 1960, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm chỉ thị cho tỉnh Darlac tìm địa điểm để đặt một tượng Đức Mẹ. Tòa hành chánh và các linh mục Giáo hạt Ban Mê Thuột đã chọn núi Giang Sơn, vốn là một địa điểm núi sông hữu tình. Từ mặt sông Krông Ana đến tượng đài khoảng 100 mét cao. Tượng đứng trên bệ nhìn về hướng thành phố Buôn Ma Thuột .
Tượng đài Đức Mẹ Giang Sơn được linh mục Giuse Nguyễn Hữu Nghị khởi công năm 1961. Sau hai năm xây dựng, linh mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn chủ sự làm phép và long trọng tổ chức lễ khánh thành trong 3 ngày (từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1963), có rất đông giáo dân về tham dự.
Tượng Đức Mẹ cao 6,32 mét, do điêu khắc gia Đinh Văn Lượng ở giáo xứ Phát Diệm, thuộc Giáo phận Sài Gòn đảm trách, nét mặt Đức Mẹ hiền từ nhân hậu, trên đầu Đức Mẹ mang triều thiên 12 ngôi sao. Tượng đài xây dựng trên đồi đá xếp tự nhiên ở độ cao 823m so với mặt biển. Đường từ quốc lộ lên đến tượng đài dốc đứng, rộng hơn 3m, dài khoảng 1,5 km, lát đá hộc.
Năm 2000, linh mục Phêrô Bùi Văn Thục cho trùng tu, tôn tạo lại bệ tượng Đức Mẹ bằng đá hoa cương, mở rộng mặt bằng, gia cố bờ tường chung quanh lễ đài, xây dựng bốn gian nhà và hai phòng cơm dành cho khách hành hương. Tháng 11 năm 2002, xây dựng nhà Bát Phúc và hoàn thành công trình trùng tu vào ngày 31 tháng 12 năm 2002. Dọc bên đường có sẵn ghế đá để khách hành hương nghỉ chân.
Vào các ngày mồng 3 Tết Nguyên đán, 15.8 hàng năm và các ngày thứ bảy đầu tháng, có rất đông khách hành hương từ khắp nơi về dự Thánh lễ tôn vinh Đức Mẹ.
Ngày 15 tháng 8 năm 2011, Lễ Đức Mẹ Lên Trời, tại đồi Đức Mẹ Giang Sơn, có khoảng 40.000 khách hành hương đến với Đức Mẹ và tham dự thánh lễ do giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản chủ tế.
Ngày 13 tháng 9 năm 2011, Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam đã tới viếng thăm tượng đài Đức Mẹ Giang Sơn. | 1 | null |
Nguồn gốc của nước trên Trái Đất, hay lý do tại sao có nước trên Trái Đất chứ không có ở hành tinh khác gần Trái Đất như sao Hỏa và sao Kim trong hệ Mặt trời, hiện vẫn chưa được làm rõ.
Các lý thuyết cho rằng các đại dương trên thế giới được hình thành cách đây cỡ từ 4,5 tỷ năm đến 4,4 tỷ năm. Chúng nằm trong nghiên cứu dựng lại Lịch sử Trái Đất và nguồn gốc sự sống.
Các nguồn có thể.
Nguồn nước trên Trái Đất được cho là có nguồn ngoài hành tinh, nguồn nội, hoặc cả hai. Những nghiên cứu nước trên sao Hỏa sẽ cung cấp tư liệu cho việc tìm hiểu nguồn gốc của nước.
Nguồn ngoài hành tinh.
Các sao chổi, các Thiên thể bên ngoài Sao Hải Vương hoặc thiên thạch giàu nước (protoplanets) từ vành đai tiểu hành tinh va chạm với Trái Đất có thể đã mang nước đến Trái Đất. Các phép đo tỷ lệ của các đồng vị hydro là deuteri và proti chỉ ra rằng các tiểu hành tinh, có tỉ lệ tạp chất tương tự trong chondrit giàu cacbon đã được tìm thấy trong nước đại dương, trong khi đo lường trước đó nồng độ của các đồng vị trong sao chổi và các Thiên thể bên ngoài Sao Hải Vương tương ứng với nước trên Trái Đất .
Nguồn nội.
Nguồn nội được coi là từ thành phần hóa học của vật chất vũ trụ khi tụ lại hình thành ra Trái Đất. Nước ở vành khí quyển khi vỏ rắn hình thành, nước thoát dần dần từ các khoáng chất hydrate của Trái Đất, nước thoát ra từ các vụ phun trào núi lửa, có thể đã hình thành một phần lượng nước hiện có. Khi Trái Đất càng nguội đi thì lượng nước ngưng tụ tạo ra các đại dương càng tăng lên . | 1 | null |
I = PAT là một công thức bằng chữ miêu tả tác động của hoạt động của con người tới môi trường.
I = P × A × T
Trong đó:
Công thức được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ XX, trong một tranh luận giữa Barry Commoner, Paul R. Ehrlich và John Holdren. Commoner cho rằng những thay đổi trong công nghệ sản xuất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 là nguyên nhân chính của những tác động đến môi trường ở Mỹ. Trong khi đó, Ehrlich và Holdren cho rằng cả ba yếu tố này đều quan trọng và đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò của sự gia tăng dân số.(PR Ehrlich, JP Holdren, Tác động của gia tăng dân số, Science, 1971)
Đồng nhất thức Kaya có quan hệ chặt chẽ với phương trình I = PAT nhưng phương trình I = PAT chung chung hơn khi chỉ nói về một "Tác động" (Impact) trừu tượng còn đồng nhất thức Kaya thể hiện rõ về tác động của tác động của hoạt động của con người đến lượng phát thải CO2.
Dân số.
Trong phương trình I = PAT, biến P thể hiện dân số của một vùng, ví dụ như dân số thế giới. Từ khi có sự gia tăng số lượng của các xã hội công nghiệp, dân số thế giới đã tăng trưởng mạnh theo cấp số nhân. Do đó, Thomas Malthus và nhiều học giả đã mặc nhiên công nhận rằng sự tăng trưởng này sẽ tiếp tục cho đến khi bị nạn đói cản trở (xem Mô hình tăng trưởng Malthus)
Liên hợp quốc và Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ dự đoán rằng dân số thế giới sẽ tăng từ 7 tỷ người hiện nay lên khoảng 9.2 tỷ người vào năm 2050. Những tiên đoán này đã tính đến sự giảm tốc độ gia tăng dân số những năm gần đây, khi mà phụ nữ có ít con hơn. Hiện tượng này được tin rằng là kết quả của sự chuyển dịch dân số ở những nước phát triển. Theo đó, Liên hợp quốc tin rằng dân số thế giới sẽ ổn định quanh mức 9 tỷ người vào năm 2100. Tuy nhiên, trong khi dân số thế giới vẫn sẽ tiếp tục gia tăng trong những thập kỷ tới, yếu tố này của phương trình I = PAT sẽ vẫn tiếp tục khiến tác động của con người lên môi trường gia tăng trong tương lai gần.
Tác động đến môi trường.
Dân số gia tăng đã làm tăng tác động đến môi trường theo nhiều cách, ví dụ như:
Sự sung túc.
Biến A, trong công thức I = PAT là viết tắt chữ cái đầu của Affluence (Sự sung túc). Nó được tính bằng mức tiêu thụ trên mỗi cá thể. Khi tiêu dùng đầu người tăng thì tổng tác động lên môi trường cũng gia tăng. Tiêu dùng thường được tính qua GDP đầu người. Khi GDP đầu người được dùng để tính năng suất, ta thường giả định rằng tiêu dùng tăng khi năng suất tăng. GDP đầu người đã và đang tăng trưởng vững chắc trong vài thế kỷ gần đây, do đó tăng tác động của con người trong phương trình I = PAT lên.
Tác động đến môi trường.
Tiêu dùng gia tăng đã làm gia tăng đáng kể tác động của con người đến môi trường. Đó là bởi vì mỗi sản phẩm được tiêu dùng có những phổ tác động rộng đến môi trường.
Công nghệ.
Biến T, trong công thức I = PAT là viết tắt chữ cái đầu của Technology (Công nghệ). Nó thể hiện tác động đến môi trường do việc sản xuất, vận chuyển, thanh lý hàng hóa, dịch vụ tạo ra. Cải thiện về tính hiệu quả giúp làm giảm nhu cầu về vốn tài nguyên, giảm thừa số T. Do công nghệ có thể ảnh hưởng đến môi trường theo nhiều cách khác nhau, đơn vị của T thường phụ thuộc từng trường hợp cụ thể mà công thức I = PAT được áp dụng. Ví dụ như khi tính toán tác động của con người lên biến đổi khí hậu, đơn vị phù hợp cho T có thể là lượng phát thải khí nhà kính trên một đơn vị GDP.
Tác động đến môi trường.
Sự gia tăng tính hiệu quả có thể giảm tổng tác động lên môi trường. Tuy nhiên, khi P tăng theo cấp số nhân, T sẽ giảm mạnh (tính hiệu quả tăng gấp đôi khi dân số tăng gấp đôi) nhằm giữ nguyên I và A. Vài năm trở lại đây, số liệu từ Ngân hàng Thế giới cho thấy T đang giảm và sẽ tiếp tục giảm trong tương lai. Tuy nhiên, do P gia tăng theo cấp số nhân và A giảm mạnh nên tổng tác động lên môi trường I vẫn giảm.
Tham khảo.
Bài viết được dịch từ bài viết tương tự ở trang Wikipedia Tiếng Anh | 1 | null |
Tất Phi Vũ (chữ Hán: 毕飞宇, tiếng Anh: Bi Feiyu, sinh 1964) là một trong những nhà văn trẻ, tài hoa, đóng góp rất nhiều cho văn học Trung Quốc đương đại. Ông cũng giành được không ít giải thưởng danh dự của văn học Trung Quốc như: Giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần thứ nhất dành cho truyện ngắn, Giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần thứ ba, Giải thưởng văn học FengMu, Giải thưởng Tiểu thuyết Nhật báo, Giải tiểu thuyết được chọn đăng báo, Giải thưởng của Hội văn học cho tiểu thuyết hay của Trung Quốc lần thứ nhất... Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm Bình Nguyên, Tẩm Quất. | 1 | null |
Chùa Huỳnh Đạo tọa lạc tại khóm Vĩnh Đông II, thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một danh thắng và là danh lam của tỉnh.
Giới thiệu.
Chùa được xây dựng năm 1996, trong một khuôn viên rộng rãi. Lúc đầu, chùa chỉ có ngôi Tam bảo. Những năm tiếp theo, xây thêm gác chuông, Quan Âm các và nhiều công trình khác tạo nên một khuôn viên hoành tráng và đẹp đẽ. Chùa được xây dựng theo kiến trúc Trung Hoa.
Trụ trì: Thượng tọa Thích Tôn Trấn. | 1 | null |
Trung Sơn Văn công (chữ Hán: 中山文公, trị vì: ? - 415 TCN) hay Tiên Ngu Văn Quân, là vị quân chủ đầu tiên của nước Trung Sơn thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Không rõ tên thật ông là gì nhưng các sử liệu có chép lại rằng ông vốn là thủ lĩnh của bộ Tiên Ngu (鮮虞) thuộc dòng Bạch Địch (白狄).
Tổ tiên.
Theo nhiều thư tịch cổ ghi chép thì bộ Tiên Ngu ngày trước vốn là một giống dân ngoại tộc mà cổ sử Trung Quốc gọi là "man di" ở phía bắc của cương thổ vương triều nhà Chu - ngày nay thuộc khu vực phía bắc tỉnh Hà Bắc - vùng Thái Hành Sơn. Thiên tử nhà Chu gọi miệt thị các dân tộc thiểu số ở ngoài biên giới theo các phương hướng là: Đông Di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch.
Tổ tiên của Trung Sơn Văn Công vốn là Miên Thần, thủ lĩnh của bộ lạc Hữu Dịch, sau khi Miên Thần bị Thượng Giáp Vi đánh bại thì hậu duệ chạy lên phương Bắc mà đổi tên thành Tiên Ngu.
Lập nước và trị nước.
Từ khi nên nắm quyền lãnh đạo bộ Tiên Ngu thì Trung Sơn Văn công rất chú trọng tiếp thu nền văn hóa Trung Nguyên, ông bắt chước các nước chư hầu đặt ra thể chế quan lại và cơ cấu lại bộ máy chính trị của Tiên Ngu. Ông lại chăm lo khuyến khích người dân bộ Tiên Ngu học chữ Hán và đề cao tư tưởng đạo đức Khổng Tử. Do thực thi cải cách, bộ Tiên Ngu dần dần lớn mạnh phát triển kinh tế nhanh chóng. Sau đó ông xây dựng mô hình kiểu nhà nước tự mình xưng làm vua chư hầu như các nước khác rồi đặt quốc hiệu là "Trung Sơn", nguyên nhân là vì toàn bộ quốc gia của ông đều nằm gọn giữa những dãy núi non hiểm trở. Tiếp theo, Trung Sơn Văn công cũng sai sứ sang nhà Chu để cầu phong và được thiên tử chấp nhận. Khi ấy các chư hầu đều lấn át quyền lực trung ương chẳng coi vua Chu ra gì nên có người còn nhớ đến thiên tử thì thiên tử chẳng có gì phải từ chối cả, mà dù có từ chối không phong thì người ta vẫn đã tự xưng chư hầu rồi. Kể từ thời điểm này nước Trung Sơn chính thức được thành lập, trở thành một thành viên mới trong hệ thống chư hầu của nhà Chu.
Năm 415 TCN Trung Sơn Văn công lâm bệnh qua đời, con là Trung Sơn Vũ công nối nghiệp cha trị vì đất nước. | 1 | null |
Đức Mẹ Thác Mơ là một trung tâm hành hương cấp giáo phận của người Công giáo dành kính Đức Mẹ Maria, tọa lạc trên một ngọn đồi dưới chân núi Bà Rá thuộc phường Thác Mơ, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước; cách nhà thờ Phước Long chừng 3 km về hướng Đông. Đây là một trong ba Trung Tâm Hành Hương của Giáo phận Ban Mê Thuột.
Đây là một trong 5 tượng đài Đức Mẹ Maria mà tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm chỉ đạo xây dựng ở miền Nam Việt Nam.
Tên gọi.
Tượng đài Đức Mẹ Thác Mơ được bao quanh bởi ngọn Bà Rá hùng vĩ và dòng sông Đăk R’lấp. Tên gọi Thác Mơ xuất phát từ dòng thác ở đây nay được ngăn thành thủy điện Thác Mơ.
Lịch sử hình thành.
Năm 1959, Lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội được tổ chức rất long trọng tại các Giáo phận miền Nam Việt Nam nhằm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, được gọi là Đại hội Thánh Mẫu Toàn quốc. Dịp này, tổng thống Ngô Đình Diệm một người theo đạo Công giáo đã chỉ thị cho Phủ Tổng uy dinh điền xây dựng năm tượng đài Đức Mẹ ở Miền Trung, Miền Nam và Cao nguyên Trung phần trong các năm 1959, 1960 và 1961 bao gồm: Đức Mẹ Giang Sơn (Dắk Lắk), Đức Mẹ Thác Mơ (Phước Long), Đức Mẹ Phượng Hoàng (Kon Tum), Đức Mẹ Trinh Phong (Ninh Thuận) và Đức Mẹ Tà Pao (Bình Tuy nay thuộc Bình Thuận).
Ngày lễ kính Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội 8 tháng 12 năm 1960, Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi làm lễ đặt tượng và khánh thành trung tâm hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Thác Mơ .
Chiến cuộc năm 1975 đã làm hư hỏng khuôn mặt của bức tượng Mẹ, đến năm 1977, có một số ít giáo dân đến viếng đã tu sửa lại. Thời gian dài sau chiến tranh, tượng đài Đức Mẹ Thác Mơ hầu như ít người ghé thăm, trở nên hoang phế và rêu phong. Từ năm 1991, khi hai cha Phaolô Võ Quốc Ngữ và Micae Trần Thế Hải thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột đến mục vụ tại giáo hạt Phước Long, và Giáo phận Buôn Mê Thuột tiếp nhận giáo hạt Phước Long, thì cũng từ đó chương trình hành hương tại trung tâm hành hương Đức Mẹ Thác Mơ mới bắt đầu được tái lập. Vào mỗi dịp lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 hàng năm, Đức Giám Mục Giáo Phận về chủ sự Thánh lễ cách trọng thể. .
Ngày 25 tháng 5 năm 1995, linh mục Phaolô Võ Quốc Ngữ đã tiến hành trùng tu, trồng thêm cây xanh, sửa sang lối đi, sân vườn… Năm 2004, linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Huy Bắc cho xây dựng lễ đài, tường rào và cổng chính của trung tâm hành hương.
Theo thời gian, mỗi ngày càng có thêm nhiều tín hữu và các anh chị em lương dân đến kính viếng Mẹ, lượng người ngày càng tăng trong những dịp lễ biệt kính Mẹ hàng năm. Ngày 1 tháng 9 năm 2006, Tòa Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột đã ra văn thư số 12/06/VT về việc nâng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Thác Mơ trở thành Trung tâm hành hương cấp Giáo phận và trao quyền Phụ trách Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Thác Mơ cho Linh mục Quản xứ giáo xứ Phước Long.
Từ năm 2010-2016, cha Giuse Lưu Thanh Kỳ, quản xứ Phước Long kiêm đặc trách Trung Tâm Hành Hương, đã cho xây nhà mặc áo dưới chân đồi để phục vụ cho các dịp lễ lớn.
Từ năm 2016, cha Phêrô Ngô Anh Tấn, quản xứ Phước Long kiêm đặc trách trung tâm Hành Hương, đã xúc tiến công cuộc tái thiết và xây dựng nhiều hạng mục công trình mới cho Trung Tâm Hành Hương.
Năm 2017 được UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận đề nghị giao đất và năm 2018 cấp phép xây dựng, thì cũng từ đó công trình xây dựng Trung Tâm Hành Hương bắt đầu được tiến hành cách khẩn trương.
Một trong những dấu ấn quan trọng trong công cuộc xây dựng này là vào thứ năm ngày 13 tháng 9 năm 2018, lúc 9h00 tại trung tâm hành hương Đức Mẹ Thác Mơ ghi dấu một ngày đặc biệt quan trọng. Đức Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, Giám mục Giáo phận đã long trọng dâng Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên khởi động chương trình xây dựng Trung Tâm Hành Hương.
Ngày 13 tháng 05 năm 2022 hai giáo hạt Phước Long, Đồng Xoài long trọng tổ chức lễ khánh thành Trung Tâm Hành Hương (TTHH) Đức Mẹ Vô Nhiễm Thác Mơ sau gần 4 năm trùng tu, xây dựng. Vượt qua bao khó khăn của đại dịch, TTHH nay đã hoàn thành trong sự quan phòng của Thiên Chúa và sự bảo trợ của Mẹ Maria.
Thánh lễ trong năm.
Từ đầu năm 2008 đến nay, vào ngày 13 hàng tháng, các giáo xứ trong Giáo hạt Phước Long luân phiên phụ trách thánh lễ đồng tế cho các phái đoàn hành hương từ các nơi đổ về tôn kính Mẹ. Cùng với Đức Mẹ Giang Sơn, đây là 2 trung tâm hành hương cấp giáo phận của Giáo phận Buôn Mê Thuột .
Trong năm thường có 2 Thánh lễ lớn (các Thánh lễ thường diễn ra vào lúc 9h00 sáng)
Ngoài ra có các Thánh lễ vào ngày 13 hàng tháng. | 1 | null |
Một vũ khí phản vật chất là một thiết bị hạt nhân bằng cách sử dụng phản vật chất làm nguồn năng lượng, nhiên liệu đẩy, chất nổ cho một vũ khí. Vũ khí phản vật chất hiện tại không tồn tại do chi phí sản xuất và công nghệ hạn chế có sẵn để sản xuất và chứa phản vật chất với số lượng đủ để làm vũ khí hữu ích. Tuy nhiên, Không lực Hoa Kỳ, đã quan tâm đến việc sử dụng - bao gồm các ứng dụng phá hoại của kể từ chiến tranh Lạnh, khi họ bắt đầu tài trợ nghiên cứu vật lý liên quan đến phản vật chất. Các lợi thế lý thuyết chính của vũ khí như vậy một là rằng các va chạm giữa phản vật chất và vật chất, mặc dù bị hạn chế đáng kể bởi các thiệt hại neutrino, vẫn chuyển đổi một phần lớn hơn khối lượng của vũ khí thành năng lượng nổ hơn so với một phản ứng nhiệt hạch trong một quả bom khinh khí.
Ngày 24 tháng 3 năm 2004, quan chức Munitions Directorate căn cứ không quân Eglin Kenneth Edwards phát biểu tại Viện các ý tưởng tiên tiến NASA. Trong bài phát biểu, Edwards bề ngoài có vẻ nhấn mạnh đặc tính tiềm năng của các loại vũ khí positron, một loại vũ khí phản vật chất: Không giống như các loại vũ khí nhiệt hạch, các loại vũ khí positron sẽ để lại đằng sau "không có dư lượng hạt nhân", chẳng hạn như bụi phóng xạ hạt nhân được tạo ra bởi các phản ứng phân hạch hạt nhân đó tạo ra năng lượng các vũ khí hạt nhân. Theo một bài báo trên San Francisco Chronicle, Edwards đã cấp tài trợ đặc biệt cho sự phát triển công nghệ vũ khí positron, tập trung nghiên cứu về các cách thức để lưu trữ các positron trong thời gian dài, một khó khăn kỹ thuật và khoa học đáng kể.
Đã có thái độ hoài nghi đáng kể trong cộng đồng vật lý về sự tồn tại của vũ khí phản vật chất. Theo một bài viết trên trang web của các phòng thí nghiệm CERN, thường xuyên sản xuất phản vật chất, "không có khả năng để làm cho quả bom phản vật chất với cùng lý do bạn không thể sử dụng nó để lưu trữ năng lượng: chúng ta không có thể tích lũy đủ của nó với mật độ đủ cao. (...) Nếu chúng ta có thể tập hợp tất cả các phản vật chất chúng ta đã từng tạo ra tại CERN và tiêu diệt nó bằng vật chất, chúng ta sẽ có năng lượng đủ để thắp sáng một bóng đèn điện trong một vài phút", nhưng điều này sẽ là một kỳ công đáng kể vì các phản vật chất tích lũy được sẽ nặng ít hơn một phần tỷ gram.
Khó khăn tiếp theo nữa là vấn đề chi phí, việc sản xuất ra phản vật chất đòi hỏi chi phí cực kỳ lớn. Cho đến nay, cách duy nhất để sản xuất ra phản vật chất là sử dụng máy gia tốc hạt. Các nhà khoa học ước tính muốn có được lượng phản vật chất nặng 1/10.000 gram, người ta phải bỏ ra khoảng 6 tỷ USD. Năm 1999, NASA tính toán phải bỏ ra tới 62.500 tỷ USD để tạo ra 1 gam phản vật chất. Trung tâm phản hạt lớn nhất thế giới hiện nay là Phòng thí nghiệm Fermi của Mỹ cũng chỉ sản xuất được một phần tỷ gam phản hạt mỗi năm với giá 80 triệu USD. | 1 | null |
Tố Cơ (chữ Hán: 祖姬) là tên một nhân vật trong điển tích "kết thảo hàm hoàn" (结草衔环), nàng là tiểu thiếp của Ngụy Vũ Tử Ngụy Sưu.
Tiểu sử.
Bấy giờ gia đình họ Tố ở nước Tấn sinh được mỗi mụn con gái vừa đẹp lại vừa tài, Ngụy Sưu là danh tướng đương thời nghe tiếng sai người sắm đồ sính lễ đến Tố gia xin cưới về làm thiếp. Từ khi có được Tố Cơ thì Ngụy Sưu rất yêu mến và chiều chuộng nàng hết mức, ông có dặn dò hai con trai là Ngụy Khỏa và Ngụy Kỹ rằng nếu chẳng may ta có "da ngựa bọc thây" nơi chiến địa thì hãy đem nàng Tố Cơ gả vào gia đình tử tế để nàng có nơi chốn nương tựa lúc tuổi già. Nhưng Ngụy Sưu không chết ngoài mặt trận mà lại ốm liệt giường nằm tại nhà, trước lúc lâm chung ông bảo với 2 người con rằng hãy chôn sống nàng Tố Cơ theo để ta xuống âm phủ còn có người bầu bạn. Đối với người con gái lúc bấy giờ mà nói thì khi đã xuất giá thì số phận sẽ do nhà chồng quyết định mà chẳng thể có ý kiến gì được, còn Ngụy Khỏa sau khi an táng cha thì đợi đến đúng 3 năm mãn tang lập tức tìm người mai mối rồi gả nàng Tố Cơ cho một danh gia vọng tộc. Nàng Tố Cơ nhờ vậy mà thoát chết về sau cũng được hưởng an nhàn suốt quãng đời còn lại, khi Ngụy Kỹ thắc mắc tại sao anh không nghe lời cha thì Ngụy Khỏa giải thích rằng lời cha nói lúc còn khỏe mạnh mới là lời nói tự đáy lòng còn lúc hấp hối thần trí rối loạn làm sao mà chuẩn mực được.
Cha nàng Tố Cơ cảm kích trước hành động của Ngụy Khỏa nên đã hiển linh dùng những cây có kết lại cho vướng chân ngựa giúp đỡ 2 anh em họ Ngụy bắt sống đại tướng Đỗ Hồi của nước Tần, từ đó về sau trong văn chương cổ điển người ta thường dùng tích "kết thảo hàm hoàn" để nói đến sự nhớ ơn sâu sắc. | 1 | null |
GMM, viết tắt của Generalized Method of Moments, là tên chung của một họ phương pháp hồi quy/ước lượng (estimation) để xác định các thông số của mô hình thống kê hoặc mô hình kinh tế lượng. GMM được sử dụng để tìm/dự tính các thông số của mô hình parametric và non-parametric.
GMM được phát triển bởi Lars Peter Hansen năm 1982 từ việc tổng quát hóa phương pháp hồi quy theo moments.
GMM được sử dụng nhiều cho dự liệu mảng (panel data), đặc biệt khi T nhỏ hơn N nhiều lần, hoặc dữ liệu không đồng nhất. | 1 | null |
Serbu Super-Shorty là loại súng shotgun được chế tạo bởi công ty vũ khí tư nhân Serbu tại Tampa, Florida, Hoa Kỳ. Loại shotgun ngắn ngủn và hơi mập này được thiết kế bởi Mark Serbu như một mẫu biến thể của Mossberg 500 và Remington 870 nhưng ngắn và cơ động nhất có thể. Thiết kế được thông qua và Super-Shorty được sản xuất với số lượng lớn cho cả mục đích dân sự, quân sự và thực thi pháp luật. Súng được thiết kế sử dụng trong tác chiến tầm gần với xác suất cao cho "Một phát hạ một" trong khi vẫn duy trì kích thước nhỏ gọn dễ xoay trở. Trong quân đội và thi hành công vụ thì nó khá hữu ích trong việc bắn đạn phá cửa và dùng để tuần tra. Ngoài ra súng cũng được sử dụng trong các cảnh của một số phim Hollywood.
Thiết kế.
Serbu Super-Shorty sử dụng cơ chế nạp đạn kiểu bơm sử dụng đạn 12 gauge nhưng cũng có mẫu sử dụng đạn 20 gauge nhưng mẫu này chỉ được chế tạo khi có đặt hàng. Và tùy theo từng đơn hàng mà súng được chế tạo như nòng sẽ được chế tạo sử dụng hiệu quả các loại đạn shogun đặc, độ dài ống đạn, có thêm báng súng hay không. Súng có một tay cầm chữ I phía trước dùng để cầm cũng như lên đạn. Với mục đích quân sự và phản ứng nhanh thì súng có thêm bộ phận chống giật đầu nòng.
Do là súng cận chiến tầm gần nên không có điểm ruồi. Ống đạn tiêu chuẩn của súng chứa được 2 viên nhưng súng cũng có mẫu hơi dài hơn với ống đạn chứa được từ 3 đến 4 viên. | 1 | null |
Phạm Thị Thanh Hằng được biết đến với nghệ danh Thanh Hằng (sinh ngày 22 tháng 7 năm 1983) là một siêu mẫu, hoa hậu, diễn viên và nhà sản xuất phim người Việt Nam. Được biết đến sau khi giành vương miện Hoa hậu Người mẫu qua ảnh 2002, cô gây ấn tượng trên sàn diễn thời trang và một số bộ phim được chú ý như Nụ hôn thần chết (2008), Mỹ nhân kế (2013). Thanh Hằng được xem là một trong những người mẫu hàng đầu Việt Nam hiện nay.
Sự nghiệp.
Năm 2002 – 2007: Sự nghiệp ban đầu.
Sự nghiệp người mẫu của Thanh Hằng bắt đầu với Hoa hậu Người mẫu qua ảnh 2002. Lọt vào vòng chung kết và vượt qua 27 đối thủ, cô đăng quang ngôi vị hoa hậu ngày 12 tháng 1 năm 2002. Thanh Hằng đầu quân cho PL Model Agency, công ty người mẫu do Anh Thư cùng chồng là cựu người mẫu Trần Thanh Long điều hành và quản lí. Năm 2003, cô nhận được lời mời đóng vai chính trong bộ phim Những cô gái chân dài từ người bạn thân Vũ Ngọc Đãng ngay sau khi anh được hãng phim tư nhân Thiên Ngân mời làm đạo diễn. Tuy nhiên, vì diễn xuất chưa thật sự tốt so với các bạn diễn cùng đến buổi thử vai nên Thanh Hằng đã bị thay thế bởi Anh Thư, thay vào đó, cô được vào vai Ngọc Mai, một vai phụ nhỏ nhưng lại thuộc tuyến đối trọng với vai chính, đồng thời cũng là lần chạm ngõ đầu tiên của cô với bộ môn nghệ thuật thứ bảy.
Năm 2005, cô đại diện Việt Nam dự thi Hoa hậu Liên lục địa. Năm 2006, cô tiếp tục được Vũ Ngọc Đãng mời đóng trong bộ phim truyền hình Tuyết nhiệt đới, nhân vật do Thanh Hằng thủ vai được đặt đối trọng với nữ chính, đây cũng là vai diễn đầu tiên của cô ở lĩnh vực truyền hình. Cùng năm, cô nhận giải "Người mẫu xuất sắc nhất" thuộc khuôn khổ Giải thưởng Người mẫu Việt Nam 2006.
Năm 2007, cô tham gia bộ phim Tôi là Ngôi sao với vai diễn hai chị em sinh đôi. Dù là lần đầu tiên đảm nhận một vai chính trong một bộ phim truyền hình nhưng Thanh Hằng không may vấp phải nhiều tranh cãi khi cô lên tiếng đấu tố với Hồng Ngân, đạo diễn của bộ phim, vì phân cảnh của mình bị cắt, một số kênh truyền thông thậm chí còn đưa tin rằng cô đã viết đơn gửi lên Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh. Phản hồi Thanh Hằng, Hồng Ngân cho rằng ngay từ đầu người cô chọn không phải Hoa hậu Người mẫu qua ảnh 2001 và luôn khẳng định Thanh Hằng không phù hợp với vai diễn cũng như khả năng diễn xuất chưa đủ tốt nhưng bị phía đơn vị sản xuất phim là HK Film ép phải chọn. Sự việc sau đó chuyển thành kiện cáo song phương giữa đạo diễn và phía sản xuất vì Hồng Ngân cho rằng mình không được thực hiện các quyền của một đạo diễn và đòi thay thế diễn viên. Lùm xùm bên lề một phần đã tác động đến bộ phim nói chung và Thanh Hằng nói riêng, khiến hình ảnh của cô bị ảnh hưởng.
Năm 2008 – 2018: Giai đoạn hoàng kim trong sự nghiệp.
2008 được xem là năm có nhiều bước ngoặt tối trọng nhất trong sự nghiệp của Thanh Hằng khi cô vào hai vai chính: Hạnh trong bộ phim truyền hình Gia tài bác sĩ và An trong tác phẩm điện ảnh Nụ hôn thần chết - vai chính đầu tiên của cô trên màn ảnh rộng, bộ phim đạt giải Cánh diều bạc lần thứ 6 cho phim truyện điện ảnh năm 2007. Nhanh chóng giành lấy ngôi vị hiện tượng phòng vé và thành công vang dội về mặt thương mại, Nụ hôn thần chết trở thành bàn đạp thăng hạng đưa tên tuổi của Thanh Hằng vụt sáng trở thành một trong những vedette đắt giá nhất của làng mẫu Việt. Ngày 18 tháng 1 năm 2009, Thanh Hằng được xướng tên tại hạng mục "Nữ diễn viên điện ảnh – truyền hình của năm" của Giải Mai Vàng 2008, là "nữ người mẫu Việt Nam đang hoạt động thứ năm trong lịch sử được vinh danh tại một giải thưởng điện ảnh", lần lượt sau Anh Thư, Bằng Lăng, Ngô Thanh Vân và Trương Ngọc Ánh.
" Mỹ Nhân Của Năm" 2013
Đoạt giải Biểu tượng Thời Trang do tạp chí ELLE bầu chọn.
Trình diễn tại Tokyo Fashion Week với bst ‘Em Hoa’ của Ntk Nguyễn Công Trí.
Thanh Hằng tiếp tục được mời sang milan dự Milan Fashion Week ở hàng ghế đầu của show Salvatore Ferragamo và cô cũng là ngôi sao đầu tiên của Việt Nam được đến tổng hành dinh của nhà mốt Salvatore Ferragamo để Fitting trang phục thảm đỏ,
Trở thành mentor (HLV) trong chương trình The Face Vietnam 2018 và trở thành team chiến thắng cuộc thi.
Trở thành bà chủ của nhà hàng món Thái ‘May Restaurant Đồng Khởi’.
Trở thành gương mặt đại diện của Bệnh viện World Wide Aesthetic Clinic.
Đầu tháng 4 Thanh Hằng tham gia bộ phim Chị chị em em của Đạo Diễn Kathy Uyên và sẽ được công chiếu trên toàn quốc vào dịp Giáng Sinh 24.12. Bộ phim xoay quanh cuộc đời của Thiên Kim nhân vật chính được Thanh Hằng thủ vai.
Làm giám khảo tại Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2019 | 1 | null |
Bristol T.B.8 là một loại máy bay hai tầng cánh của Anh đầu thập niên 1910, do công ty Bristol Aeroplane Company chế tạo. Đầu tiên nó được dùng làm máy bay huấn luyện, sau đó Cục Không quân Hải quân Hoàng gia (RNAS) sử dụng nó làm máy bay ném bom vào thời gian đầu của Chiến tranh thế giới I. | 1 | null |
Argo là một bộ phim Mỹ sản xuất năm 2012 do Ben Affleck làm đạo diễn kiêm diễn viên chính. Tại giải Oscar năm 2013, phim "Argo" nhận được 7 đề cử trong đó có đề cử cho Phim hay nhất. Tại giải Oscar, "Argo" nhận được 3 giải Giải Oscar cho phim hay nhất, giải Oscar cho biên tập và Giải Oscar cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.
Kịch bản phim dựa vào hai tác phẩm chính là bài báo "The Great Escape" của tác giả Joshuah Bearman trên tờ Wired hồi năm 2007 và cuốn tiểu thuyết "Master of Disguise: My Secret Life in the CIA" (tạm dịch: "Bậc thầy cải trang: Cuộc sống bí mật của tôi trong CIA") kể về những hồi ức của tác giả Antonio Joseph "Tony" Mendez khi còn là một cựu điệp viên CIA, kể về một sự kiện có thật về sáu con tin người Mỹ ở Iran được giải cứu dưới sự giúp đỡ của một đoàn làm phim cải trang và sự dẫn đầu của một điệp viên CIA - Tony Mendez. Phim đã lột tả khủng hoảng ở đất nước Trung Đông Iran vào cuối thập niên 1970. Khán giả đều nhận định "Argo" đây là một bộ phim dễ xem và có nhiều tình huống giải trí thú vị.
Bộ phim có các vai chính là Affleck trong vai Mendez với Bryan Cranston, Alan Arkin, và John Goodman, và được phát hành ở Bắc Mỹ để thành công quan trọng và thương mại vào ngày 12 tháng 10 năm 2012. Bộ phim được sản xuất bởi Grant Heslov, Ben Affleck, và George Clooney. Câu chuyện giải cứu này cũng đã được đưa vào phim truyền hình Escape năm 1981 phim truyền hình từ Iran: "The Canadian Caper", đạo diễn bởi Lamont Johnson.
Argo nhận được bảy đề cử cho lễ trao giải Oscar lần thứ 85 và thắng ba giải trong số đó. Phim cũng giành được phim xuất sắc nhất, Biên tập xuất sắc nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất (cho Affleck) tại lễ trao giải British Academy Film 66. | 1 | null |
Đức Mẹ Banneux là một trong nhiều tước hiệu dành cho Đức Maria của người Công giáo. Tước hiệu bắt nguồn từ đền thờ kính Đức Mẹ người nghèo ở làng Banneux gần thành phố Liège thuộc Flanders, nước Bỉ. Việc tôn sùng này là do do Đức Maria được cho là đã hiện ra với một bé gái người Bỉ tên là Mariette Beco, 12 tuổi, rất nghèo tại khu vườn nhà em vào ngày 16 tháng 1 năm 1933.
Đức Mẹ cho cô bé ấy biết rằng ngài đã từng xoa dịu bệnh tật và đau khổ của biết bao người nghèo trên khắp thế giới. Người ta đã vẽ một bức tranh trên tường của ngôi nhà nguyện theo lời mô tả của em: Đức Maria mặc áo trắng, thắt dây lưng xanh, tay phải cầm Chuỗi Mân Côi. Ngày 18 tháng 1 năm 1933, cha của em, một người không tin vào thần thánh đi với em ra vườn và dù không trông thấy Đức Mẹ nhưng ông đã được phép ăn ăn trở lại vì người ông như bị một sức mạnh vô hình nào đó xâm chiếm.
Năm 1942, sau nhiều năm điều tra, Tòa thánh đã cho phép công khai sùng kính Đức Mẹ Banneux, bổn mạng của những người nghèo. Năm 1949, Giám mục giáo phận Liège đã chính thức chấp nhận và năm 1956, một bức tượng mang tước hiệu Đức Mẹ Banneux đã được long trọng suy tôn tại đây.
Từ đó đến nay, Linh địa Banneux trở thành địa điểm hành hương của nhiều người Công giáo từ khắp nơi. Ngày nay có đến hơn 100 đền thờ dâng kính Đức Mẹ Banneux được xây dựng trên khắp thế giới. | 1 | null |
Trung Sơn Vũ công (chữ Hán:中山武公, trị vì: 414 TCN - 406 TCN) là vị quân chủ thứ hai của nước Trung Sơn thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc, không rõ tên thật ông là gì chỉ biết rằng ông là con trai của Trung Sơn Văn công.
Sau khi vua cha băng hà, Vũ công lên nối ngôi tiếp tục mở mang cơ nghiệp nước Trung Sơn, ông trực tiếp chỉ đạo dân chúng khai khẩn những vùng đất hoang sơ ở xung quanh khu vực Thái Hành Sơn. Ngoài ra ông còn dẫn quân đội tiến đánh những bộ lạc lân cận làm cho cương vực nước Trung Sơn càng thêm được mở rộng. Trong những lần chinh chiến, nước Trung Sơn vấp phải một đối thủ nặng ký là nước Ngụy. Hai nước đã va chạm nhau trong các cuộc hành quân xâm lấn và liên tục xung đột để tranh giành ảnh hưởng, trong những cuộc chiến trên thì tình hình vẫn chưa ngã ngũ.
Năm 407 TCN lợi dụng Trung Sơn Vũ công đem quân chiến đấu ở miền biên viễn, Nhạc Dương nước Ngụy bất ngờ đem binh tập kích đánh thẳng vào đô thành nước Trung Sơn. Bấy giờ con Nhạc Dương là Nhạc Thư đang làm quan ở Trung Sơn, Vũ Công hay tin tức giận sai bắt trói Nhạc Thư giết chết, nấu thành món ăn rồi sai người đem dâng lên Nhạc Dương. Nhạc Dương ăn xong cho quân tàn phá hết thành quách và đuổi giết người dân Trung Sơn rất gắt gao, Vũ công đưa quân quay trở về thì đất nước đã bị chiếm đóng liền chỉ đạo dân chúng rút lui vào rừng sâu tổ chức chiến tranh du kích nhằm kháng Ngụy lâu dài.
Năm 406 TCN Trung Sơn Vũ công bị bắn chết trong một trận chiến đấu với quân Ngụy ở căn cứ địa kháng chiến, con trai ông là Trung Sơn Hoàn công lên kế nhiệm cha lãnh đạo nhân dân tiếp tục chiến đấu với quân Ngụy. | 1 | null |
Lưu Ngu (chữ Hán: 劉虞; ?-193) là tông thất, tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông tham gia cuộc chiến quân phiệt đầu thời Tam Quốc và cuối cùng thất bại.
Trấn trị U châu.
Lưu Ngu có tên tự là Bá An, người đất Đàm quận Đông Hải. Là tông thất nhà Hán, Lưu Ngu được phong làm Thứ sử U châu.
Sau khi khởi nghĩa Khăn Vàng bị dẹp (184), Lưu Ngu kiến nghị Hán Linh Đế đặt chức châu mục cai quản các châu để tăng cường khống chế các địa phương. Ý kiến của ông được Hán Linh Đế chấp thuận. Vì Lưu Ngu có nhiều ân nghĩa với người dân phía bắc nên triều đình bổ nhiệm ông làm Châu mục U châu.
Khi đến trấn trị, Lưu Ngu thi hành nhiều việc nhân đức, giảm đồn trú khiến U châu được yên ổn.
Năm 187, thủ lĩnh Ô Hoàn là Khâu Lực Cư nổi dậy chống nhà Hán, liên hợp với Trương Thuần ở Ngư Dương tấn công Kế Trung. Trương Thuần dựng Trương Cử làm hoàng đế còn tự mình xưng là An Hán vương.
Trương Thuần lại cùng Khâu Lực Cư mang quân đánh Ngư Dương, Hà Gian, Bột Hải và tiến vào quận Bình Nguyên. Lưu Ngu bèn sai tướng Liêu Đông là Công Tôn Toản mang quân truy kích Trương Thuần. Tháng 11 năm 188, hai bên giao chiến ở Thạch Môn. Trương Thuần và Trương Cử đại bại, phải bỏ cả vợ con tháo chạy ra biên ải.
Công Tôn Toản trở về, được triều đình phong làm Hàng lỗ hiệu úy, Đô đình hầu, kiêm chức Trưởng sử ở thuộc quốc Liêu Đông. Ít lâu sau Trương Thuần bị thủ hạ giết chết, mang đầu tới chỗ Lưu Ngu, vì vậy Lưu Ngu được phong làm Đại tư mã, Công Tôn Toản được phong làm Tô hầu, Phấn uy tướng quân.
Năm 189, ông được phong làm Thái úy, tước Dung Khưu hầu khi vẫn trấn trị U châu.
Tháng 4 năm 189, Hán Linh Đế mất, Hán Thiếu Đế lên thay. Trong triều xảy ra loạn lạc. Đổng Trác mang quân vào kinh thành, phế rồi giết Thiếu Đế, lập Hán Hiến Đế lên ngôi. Lưu Ngu được Đổng Trác vỗ về bằng cách phong làm Đại tư mã. Ông đẩy mạnh khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở chợ để trao đổi hàng hóa với người Hung Nô, lưu thông sắt và muối. U châu năm nào cũng được mùa. Nhân dân Thanh châu và Từ châu chạy loạn đều tới U châu xin nương tựa hơn 1 triệu người. Lưu Ngu dung nạp và tạo chỗ ở cho họ, cuộc sống yên ổn đầy đủ khiến họ vui vẻ không muốn về quê cũ.
Bản thân Lưu Ngu làm U châu mục nhưng tiêu dùng giản dị tiết kiệm, thường mặc áo vá, đi giày cỏ, ăn không có thịt.
Từ chối ngôi vua.
Năm 190, các chư hầu do Viên Thiệu cầm đầu tập hợp đánh Đổng Trác, họp nhau ở quận Hà Nội.
Trong lúc chiến sự đang giằng co, Viên Thiệu định tìm lập một người tông thất khác làm hoàng đế để tổ chức triều đình riêng chống Đổng Trác, và muốn lập Lưu Ngu làm vua. Tháng giêng năm 191, Viên Thiệu sai sứ đến U châu gặp Lưu Ngu đề nghị tôn ông làm vua. Lưu Ngu cho rằng điều đó là loạn nghịch nên từ chối đề nghị của Viên Thiệu, mắng sứ giả của Thiệu. Viên Thiệu sai sứ đến U châu lần thứ 2 để thuyết phục ông, nhưng ông nhất quyết cự tuyệt rằng:
Sứ giả đành trở về nói với Viên Thiệu. Việc từ chối làm vua trong bối cảnh loạn lạc và quyền thần Đổng Trác nắm triều chính của Lưu Ngu bị các sử gia xem là sai lầm, không hiểu đại nghĩa.
Mâu thuẫn với Công Tôn Toản.
U châu tiếp giáp với bộ lạc Ô Hoàn, bộ lạc này thường xuyên quấy nhiễu biên giới nhà Hán. Trong khi Lưu Ngu chủ trương dùng chính sách khoan hòa để vỗ về người Ô Hoàn thì Trưởng sử nước Liêu Đông (thuộc U châu) là Công Tôn Toản (dưới quyền Lưu Ngu) chủ trương đánh dẹp. Hai người bất đồng ý kiến, từ đó nảy sinh mâu thuẫn.
Đổng Trác bị các chư hầu theo Viên Thiệu đánh bại, bèn đốt bỏ kinh thành Lạc Dương, cưỡng bức vua Hán Hiến Đế cùng dân chúng chạy sang Trường An. Lúc đó con trai Lưu Ngu là Lưu Hòa đang làm Thị trung bên cạnh Hán Hiến Đế, vua Hiến Đế muốn quay trở về đông đô Lạc Dương, sai Lưu Hòa cải trang, trốn thoát khỏi Trường An, định tìm đến U châu gọi Lưu Ngu về hộ giá.
Nhưng Lưu Hòa ra khỏi Quan Trung tới Nam Dương thì bị sứ quân Viên Thuật giữ lại. Viên Thuật bắt Lưu Hòa viết thư cho ông, ra điều kiện Lưu Ngu phải điều quân giúp Viên Thuật cùng tây tiến đánh Đổng Trác. Lưu Hòa làm theo. Lưu Ngu bèn lệnh điều vài ngàn kị binh tới chỗ Lưu Hòa.
Công Tôn Toản biết Viên Thuật có ý đồ mượn quân U châu xây lực lượng riêng, bèn can ngăn ông không nên phát binh cho Viên Thuật, nhưng Lưu Ngu không nghe. Công Tôn Toản sợ Viên Thuật biết việc này sẽ oán mình nên cũng phái em họ là Công Tôn Việt mang 1000 kị binh tới chỗ Viên Thuật ở Nam Dương, đồng thời lại ngầm xui Thuật tước binh quyền của Lưu Hòa. Viên Thuật nghe theo, liền giữ bắt giữ Lưu Hòa và đoạt quân.
Lưu Hòa trốn thoát khỏi chỗ Viên Thuật, định lên U châu với Lưu Ngu nhưng đi tới Ký châu thuộc Hà Bắc (chưa tới U châu) thì lại bị anh Thuật là Viên Thiệu bắt giữ. Quả nhiên Viên Thuật muốn mượn quân nơi khác nhằm mục đích riêng; vì Thuật về phe với Tôn Kiên và mâu thuẫn với Viên Thiệu, bèn sai Công Tôn Việt đi giúp Tôn Kiên đánh Viên Thiệu. Việt trúng tên của quân Viên Thiệu và tử trận, Toản hận Viên Thiệu giết em mình nên mang quân bản bộ đánh nhau với Thiệu nhiều trận, gây chết chóc rất nhiều.
Lưu Hòa thoát khỏi chỗ Viên Thiệu ở Ký châu lên U châu gặp cha, kể lại sự việc. Lưu Ngu biết việc Công Tôn Toản xui Viên Thuật giam Lưu Hòa và cướp quân nên càng căn hận Công Tôn Toản.
Bại trận bị hại.
Lưu Ngu không bằng lòng cho Công Tôn Toản tự ý mang quân Bình Nguyên đi đánh nhau vì thù riêng, tìm cách khống chế Toản. Toản không nghe lệnh, cố ý làm trái và sai quân cướp bóc của dân.
Lưu Ngu dâng biểu lên triều đình Trường An, tố cáo Công Tôn Toản làm trái phép, cướp bóc nhân dân. Toản cũng làm biểu kể tội ông không cấp đủ lương nên mới phải đi cướp. Hai người liên tiếp gửi thư về triều kể tội nhau khiến triều đình chưa biết phân xử ra sao.
Để chống lại Lưu Ngu, Công Tôn Toản trú lại trong một thành nhỏ gần thành Kế. Lưu Ngu triệu tập Toản tới gặp mặt, Toản cáo bệnh không đến. Lưu Ngu sợ Công Tôn Toản làm loạn, bèn dẫn 10 vạn quân đi đánh.
Lúc đó binh mã của Công Tôn Toản thường xuyên đi chinh chiến, quen việc chiến trận và đang rải rác ngoài thành. Quân lính của Lưu Ngu ít chiến đấu, khi ra trận không tề chỉnh. Hơn nữa Lưu Ngu lại là người nhân ái, không muốn hại dân lành nên thấy nhà cửa của dân ở những nơi xung yếu bèn hạ lệnh cho quân sĩ không được đốt phá nhà dân, không được giết hại người khác, chỉ giết một mình Công Tôn Toản.
Vì lệnh này của Lưu Ngu, lực lượng của Công Tôn Toản không bị tổn hại, hơn nữa Công Tôn Toản là mãnh tướng, quân sĩ tinh nhuệ khiến Lưu Ngu không đánh nổi. Toản thừa cơ mượn chiều gió phóng hỏa, trực tiếp xông vào trận đánh Lưu Ngu. Quân Lưu Ngu thua chạy tan tác. Lưu Ngu bỏ chạy đến Cư Dung phía bắc. Công Tôn Toản mang quân đuổi đánh, vây thành Cư Dung.
Sau 3 ngày, Công Tôn Toản hạ được thành, bắt giữ Lưu Ngu mang về đất Kế giam lỏng, vẫn giả bộ để ông coi việc trong châu.
Vừa lúc đó triều đình Trường An sai Đoàn Huấn đến hòa giải và phong chức cho cả Lưu Ngu và Công Tôn Toản: tăng ấp cho Lưu Ngu và thăng Công Tôn Toản làm Tiền tướng quân, tước Dịch hầu. Nhân cơ hội gặp Đoàn Huấn, Toản vu cáo Lưu Ngu đồng mưu với Viên Thiệu để xưng làm hoàng đế. Sau đó Toản cưỡng ép Đoàn Huấn giết ông. Vì Lưu Ngu làm nhiều điều nhân nghĩa với dân U châu nên khi nghe tin ông bị sát hại, dân chúng U châu rất thương xót.
Công Tôn Toản chiếm toàn bộ U châu, cát cứ xưng hùng, nhưng 2 năm sau (195) thủ hạ của Lưu Ngu là Tiên Vu Phụ mang quân bản bộ liên kết với bộ lạc Ô Hoàn và Viên Thiệu, đánh báo thù cho ông khiến Công Tôn Toản bị thiệt hại nặng nề. Công Tôn Toản phải lui về cố thủ ở Dịch Kinh và cuối cùng bị Viên Thiệu tiêu diệt hoàn toàn vào năm 199.
Trong Tam Quốc diễn nghĩa.
Dù Lưu Ngu có quan hệ với một số nhân vật quan trọng trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa như Đổng Trác, Hán Hiến Đế, Công Tôn Toản, Viên Thuật, Viên Thiệu nhưng ông chỉ được La Quán Trung đề cập rất mờ nhạt trong tác phẩm này: Lưu Ngu được nhắc đến đúng 1 lần ở hồi 1 khi đứng ra chiêu binh chống Khăn Vàng mà Lưu Bị đến ứng mộ.
La Quán Trung bỏ qua tất cả những tình tiết liên quan tới ông sau đó như: dẹp Trương Thuần, được Viên Thiệu định lập làm vua, Hán Hiến Đế cầu cứu, mâu thuẫn với Viên Thuật và giao tranh với Công Tôn Toản. | 1 | null |
Đức Mẹ Knock là một trong những tước hiệu mà người Công giáo dùng để chỉ hình tượng Đức Maria tại Đền thờ được xây dựng ở quận Mayo, Ailen. Tước hiệu này bắt nguồn từ sự kiện ngày 21 tháng 8 năm 1879, Đức Maria được cho là đã hiện lên trong ánh sáng chói lòa ở mặt tường đầu nhà thờ của ngôi làng cùng với Thánh Giuse và Thánh Gioan trong lúc trời đang mưa như trút.
Theo mô tả thì bên cạnh các ngài còn có một bàn thờ, với một thánh giá cắm bên trên và một Chiên con nằm dưới chân thánh giá. Ba người hiện ra không nói lời nào. Mãi tới tối ngày hôm sau, linh mục chính xứ mới biết tin vì những người trông thấy ngỡ ngàng đến nỗi không rời khỏi chỗ đó.
Vào năm 1880, phép lạ ấy đã diễn ra hai lần, nhưng trong những lần này ánh sáng quá mạnh đến nỗi người ta chỉ có thể nhận ra khuôn mặt của Đức Maria.
Nhiều phép lạ được xác nhận đã thu hút hàng trăm người đến thị trấn nhỏ bé này. Tổng giám mục Giáo phận Tuam đã bắt đầu các cuộc điều tra. Có khoảng 15 người đã làm chứng rằng cảnh tượng mà họ đã trông thấy không phải do vẽ ra hay do ảo giác. Giáo quyền đã xác nhận lời chứng ấy và tuyên bố rằng những lần hiện ra của Đức Maria tại đó là "đáng tin và hữu ích".
Địa điểm này hiện nay đã trở thành nơi hành hương của cả nước Ailen và của nhiều người công giáo trên thế giới. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm đền thờ Đức Mẹ Knock vào ngày 30 tháng 7 năm 1979 nhân dịp 100 năm ngày Đức Mẹ hiện ra và một lần nữa dâng dân tộc Ireland cho Đức Mẹ. | 1 | null |
Hữu Cùng (chữ Hán: 有窮) là tên một bộ lạc Đông Di, một trong các chư hầu của nhà Hạ, địa bàn của nó ngày nay thuộc khu vực Lạc Dương tỉnh Hà Nam.
Những ghi chép trong sử sách.
Không rõ trước khi vua Hạ Vũ lên ngôi nước Hữu cùng đã tồn tại chưa, trong các thư tịch cổ chỉ thấy nhắc đến nước này trong giai đoạn trong nước không vua. Theo Sử ký thì quân chủ cuối cùng của nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ, bấy giờ vua Thái Khang chỉ ham mê săn bắn không lo gì đến công việc triều chính. Hậu Nghệ thừa cơ một lần vua đi săn ở mãi miền nam Hoàng Hà liền đem binh đánh úp vào đô thành rồi đóng giữ luôn ở đó, Thái Khang đi săn về thấy cung điện đã mất bèn chuyển đến vùng Dương Hạ rồi ở đó suốt 27 năm cho đến lúc chết. Trong thời gian này Hậu Nghệ nắm hết quyền bính điều hành đất nước là vị quyền thần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, sau khi nghe tin Thái Khang chết Hậu Nghệ lập em của nhà vua là Trọng Khang lên thay. Trọng Khang không cam tâm làm vua bù nhìn từng phái người ám sát Hậu Nghệ nhưng sự việc bất thành nên uất hận mà chết, con trai Trọng Khang là đế Tướng chạy từ Châm Tầm thị sang Châm Quan thị nối ngôi cha tổ chức kháng chiến chống quân Hữu Cùng. Hậu Nghệ sai một trợ thủ là Hàn Trác dẫn quân đánh đuổi đế Tướng, đế Tướng thua to chạy trốn khắp nơi cuối cùng bí lối phải tự vẫn mà chết. Vợ của đế Tướng là Hậu Mân đang mang thai được các trung thần tin cẩn đưa đi lẩn trốn về quê ngoại là nước Hữu Nhưng, còn Hậu Nghệ sau mấy chục năm thao túng chính trị đã ngồi lên ngai vàng tự mình xưng đế.
Hậu Nghệ ở ngôi được 8 năm thì cảm thấy mình đã già yếu nên giao hết quyền lực cho Hàn Trác, không ngờ Hàn Trác làm phản tập trung thân tín tiến thẳng vào cung bắt giết Hậu Nghệ mà tự lập làm vua. Chẳng biết nước Hữu Cùng trải qua bao nhiêu đời thủ lĩnh và hiện diện trong thời gian bao lâu, nhưng khi Hậu Nghệ bị Hàn Trác cướp chính quyền thì cũng là lúc nước ấy đến hồi cáo chung. | 1 | null |
Mạng điện sinh hoạt của các hộ tiêu thụ là mạng điện một pha. Nhận điện từ mạng phân phối ba pha điện áp thấp, để cung cấp cho các thiết bị đồ dùng và chiếu sáng.
Mạng điện sinh hoạt thường có trị số áp pha định mức là 127v đến 220v.
Mạng điện sinh hoạt gồm mạch chính và mạch nhánh, Mạch chính giữ vai trò là mạch cung cấp, còn mạch nhánh được rẽ từ đường dây chính và được mắc song song để có thể điều khiển độc lập, là mạch phân phối điện tới các đồ dùng điện.
Các thiết bị điện, đồ dùng điện phải có điện áp định mức phù hợp với điện áp mạng điện cung cấp.
Mạng điện sinh hoạt còn có các thiết bị đo lường, điều khiển, bảo vệ và các vật cách điện khác.
Mạng điện sinh hoạt gồm mạch chính và mạch nhánh. Mạch chính giữ vai trò là mạch cung cấp, còn mạch nhánh rẽ từ đường dây của mạch chính, được mắc song song để có thể điều khiển độc lập và là mạch phân phối điện tới các đồ dùng điện | 1 | null |
Đức Mẹ Beauraing hay còn được biết đến với tên gọi Đức Trinh nữ trái tim vàng là một tước hiệu mà người Công giáo dùng để gọi Đức Maria ám chỉ đến 33 lần Đức Mẹ hiện ra tại Beauraing, Bỉ, nước Bỉ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 1932 đến tháng 1 năm 1933 với 5 trẻ em từ 9 đến 15 tuổi. Hiện nay Đền thánh Đức Mẹ Beauraing đã trở thành một trung tâm hành hương của người Công giáo trên toàn thế giới.
Beauraing là một làng quê hẻo lánh nằm cách thủ đô Bruxelles chừng 60 dặm về phía đông nam. Đức Trinh Nữ được cho là đã hiện ra lần đầu tiên vào đêm 29 tháng 11 năm 1932, với năm trẻ nhỏ là Fernande Voisin, 15 tuổi; Gilberte Voisin, 13 tuổi; Albert Voisin, 11 tuổi; Andrée Degeimbre, 14 tuổi và Gilberte Degeimbre, 9 tuổi .
Chiều tối hôm ấy, Fernande và Albert đi đến trường học của các nữ tu dòng Giáo Lý Kitô Giáo để đón em gái. Sau hồi chuông tu viện, Albert nhìn ra sân và kinh ngạc khi thấy một người đang đi trên cây cầu cạn đối diện. Albert la lên, tất cả các trẻ khác nhìn theo và đều thấy như thế. Tối hôm sau, bọn trẻ trở lại khoảng sân và được nhìn thấy người thiếu nữ. Tối thứ ba, người ấy hiện đến trong khu vườn gần hang đá Lộ đức, trên cành cây táo gai .
Vào ngày 2 tháng 12, khi Albert hỏi người phụ nữ có phải là Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm và xin cho chúng được ơn luôn luôn sống tốt, bà đã gật đầu. Từ ngày 4 tháng 12, Đức Trinh Nữ cầm một cỗ chuỗi tràng hạt mân côi và yêu cầu xây dựng một thánh đường tại đó. Bà cũng cho các trẻ nhìn thấy trái tim bừng cháy rực rỡ bằng vàng.
Ngày 8 tháng 12, trước sự hiện diện của hơn mười ngàn người, một phái đoàn y khoa do bác sĩ Maistriaux đã thí nghiệm thể lý khi các em được thị kiến khi Đức Mẹ hiện ra. Nhưng chúng không cảm nhận những cái bấu, châm chích và cả những ngọn lửa cháy vào lòng bàn tay và không hề có dấu vết gì của thương tích để lại trên da bọn trẻ.
Trong lần hiện ra cuối cùng, Mẹ đã hỏi Fernande: "Con có yêu mến con trai của Mẹ không?" và khi em thưa "có", mẹ lại hỏi tiếp "con có yêu mến Mẹ không", em thưa "có" và lời sau cùng của Đức Mẹ là, "Con hãy hy sinh cho Mẹ".
Ngay trong năm đầu tiên, có hơn hai triệu người đến viếng khu vườn của tu viện, kể lại nhiều sự kiện được chữa lành và các hồng ân nhờ Đức Mẹ Beauraing. Một thị nhân khác là Tilman Come đã nhiều lần được thị kiến Đức Trinh Nữ với Trái Tim Vàng và được chữa lành chứng bệnh cột sống.
Giám mục giáo phận Namur đã mở cuộc điều tra. Vào năm 1943, tòa thánh Vatican đã chuẩn nhận việc sùng kính Đức Mẹ Beauraing. Ngày 2 tháng 7 năm 1949, trích dẫn sự kiện được chữa lành kỳ diệu của Marie Van Laer và của Marie Madeleine Acar Group, Giám mục Namur xác nhận, "Nữ Vương Thiên Đàng đã hiện ra với các trẻ làng Beauraing trong mùa đông 1932-1933, đặc biệt để tỏ cho chúng ta biết lời kêu gọi đầy ưu tư của Trái Tim Từ Mẫu Mẹ là hãy cầu nguyện và hứa sẽ dùng sứ vụ trung gian quyền thế của Mẹ để hoán cải các tội nhân".
Kể từ đó, hàng năm có hàng triệu người đến kính viếng ngôi thánh đường được xây dựng gần nơi Đức Mẹ hiện ra. | 1 | null |
Châm Tầm () là tên một quốc gia bộ lạc từng tồn tại ở khu vực thuộc địa phận tỉnh Sơn Đông ngày nay trong suốt thời kỳ nhà Hạ, tổ tiên các quân chủ nước này có công giúp Hạ Vũ trị thủy nên đã được thụ phong trong hội nghị Miêu Sơn.
Những dấu ấn trong lịch sử.
Sau khi vua Trọng Khang nhà Hạ bị Hậu Nghệ đánh bại uất hận mà chết, con trai là đế Tướng chạy đến nước Châm Tầm nhờ vả vua nước này. Quân chủ nước này hết sức giúp đỡ nhà vua phát triển lực lượng và chỉ huy quân đội, đế Tướng ở đây từng đem quân chinh phạt thu phục một số bộ lạc man di để gian tăng thế lực. Lúc Hậu Nghệ sai Hàn Trác đem quân tiến đánh Châm Tầm thì đế Tướng lại chạy sang Châm Quán thị, một thời gian sau Hậu Nghệ lại xuất binh tấn công Châm Quán thị và đế Tướng lại chạy sang vùng Châm Tầm từng là quốc đô của vua Thái Khang ngày trước. Ở nơi đây đế Tướng lại tiếp tục xây dựng lực lượng tổ chức chiến tranh nhân dân với mục tiêu trường kỳ kháng chiến, tuy nhiên Hậu Nghệ không để yên cho nhà vua thời gian mà chuẩn bị tức tốc xua quân đánh dồn dập khiến đế Tướng thua to phải tự vẫn mà chết.
40 năm sau vua Thiếu Khang khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hạ nhớ ơn nước này trước đã cưu mang cha mình bèn sai người đi tìm hậu duệ của Châm Tầm để tái phong, nước Châm Tầm nhờ đó được khôi phục và tiếp tục làm chư hầu phên dậu cho nhà Hạ. Không rõ sau khi vua Thành Thang nhà Thương đánh đuổi vua Hạ Kiệt ra Nam Sào thì nước Châm Tầm còn tiếp tục duy trì nữa không, ta chỉ có thể biết rằng nước này có mặt trên vũ đài lịch sử không dưới 400 năm. | 1 | null |
là một tước hiệu của Đức Maria. Tước hiệu này bắt nguồn từ báo cáo về các cuộc hiện ra của Đức Mẹ vào năm 1973 bởi chị Agnes Katsuko Sasagawa ở Yuzawadai, gần thành phố Akita, Nhật Bản. Các thông điệp nhấn mạnh đến việc cầu nguyện và sám hối. Sasagawa nói rằng Maria nói: "Hãy cầu nguyện rất nhiều bằng lời cầu nguyện của Kinh Mân Côi, Chỉ một mình Mẹ có thể cứu con khỏi thiên tai sắp tới. Những người đặt niềm tin nơi Mẹ sẽ được cứu".
Các cuộc hiện ra bất thường trong đó có cả tiếng khóc của bức tượng Maria đã được phát sóng trên truyền hình quốc gia Nhật Bản.
Agnes Katsuko Sasagawa có một cơ thể rất yếu đuối. Năm 19 tuổi, chị bị bại liệt. Sau đó, Agnes Katsuko Sasagawa vào dòng nữ Junshin ở Nagasaki. Nhưng bốn tháng sau bệnh tình tái phát, chị phải vào nhà thương Myoko. Katsuko Sasagawa bị hôn mê trong 10 ngày liên tiếp và được cho uống nước suối Đức Mẹ Lộ Đức . Sau khi bình phục,chị về Tu Hội Nữ Tỳ Thánh Thể ở Yuzawadai vùng Akita..
Biến cố lạ lùng xuất hiện lần đầu tiên vào ngày 12 tháng 6 năm 1973, Agnes trông thấy những luồng ánh sáng phát ra từ nhà tạm. Những hiện tượng tương tự như thế tiếp tục xảy ra hai ngày sau đó.
Vào ngày 28 tháng 6 năm 1973, một vết thương hình thập giá xuất hiện trên bàn tay trái của Agnes. Vết thương chảy máu nhiều làm chị rất đau đớn.
Ngày 6 tháng 7 năm 1973, Agnes nghe một giọng nói từ tượng Maria trong nhà nguyện nơi mà chị đang cầu nguyện. Bức tượng được điêu khắc từ một khúc gỗ từ cây Katsura và cao khoảng gần một mét. Cùng ngày này, một vài nữ tu khác thấy những giọt máu chảy ra từ tay phải của bức tượng.
Vào ngày 29 tháng 9 khi vết thương trên tay phải bức tượng biến mất, người ta thấy bức tượng bắt đầu chảy nước nơi trán và cổ. Chị Agnes báo cáo rằng trong thông điệp đầu tiên Maria đã hỏi cô có chịu khó cầu nguyện không và tiên báo rằng bệnh điếc của cô sẽ được chữa khỏi. Các thông điệp yêu cầu phải cầu nguyện, đọc Kinh Mân Côi để chữa lành những tội lỗi của người khác.
Ngày 3 tháng 8, Agnes nhận được thông điệp thứ hai:
Ngày 13 tháng 10 năm 1973, chị nhận được thông điệp thứ ba cũng là thông điệp cuối cùng. Thông điệp này cảnh báo những thiên tai kinh hoàng sẽ xảy ra nếu người ta không cầu nguyện và lần chuỗi Mân Côi. Kết thúc của thông điệp là câu: "Những người đặt niềm tin nơi Mẹ sẽ được cứu".
Hai năm sau vào ngày 4 tháng 1 năm 1975, bức tượng Trinh Nữ Maria bắt đầu khóc. Bức tượng tiếp tục khóc trong 6 năm 8 tháng kế tiếp. Tất cả là 101 lần bức tượng khóc. "Con số 0 ở giữa tượng trưng cho Thiên Chúa là Đấng hằng hữu. Con số 1 phía trước số 0 là biểu tượng của bà Evà, con số 1 phía sau số 0 là biểu tượng của Maria."Các giọt nước mắt của Đức Mẹ đã được thí nghiệm ở trường Đại học Akita và Difu. Kết quả cho biết là nước mắt thật của con người, và máu thuộc loại máu O.
Trong một Thánh lễ chủ nhật vào năm 1982, Agnes Sister đã được chữa khỏi hoàn toàn bệnh điếc.
Ngày 27 tháng 2 năm 1978, Giáo hoàng Phaolô VI chấp nhận bản phê duyệt của Thánh Bộ Giáo Lý Đức về Tiêu chuẩn và Thủ tục liên quan đến Hiện ra và Mạc khải. Ngày 22 Tháng 4 năm 1984, Giám mục John Shojiro Ito của Niigata công nhận "tính cách siêu nhiên của một loạt các sự kiện mầu nhiệm liên quan đến bức tượng Thánh Đức Mẹ và cho phép toàn thể giáo phận được tôn kính Đức Mẹ Akita, trong khi chờ đợi Tòa Thánh công bố phán quyết cuối cùng về vấn đề này" .
Vào tháng 6 năm 1988, Hồng y Joseph Ratzinger (sau là Giáo hoàng Biển Đức XVI) là Tổng Trưởng của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã đưa ra phán quyết dứt khoát về Đức Mẹ Akita rằng sự kiện và sứ điệp đáng tin cậy và xứng đáng với niềm tin. | 1 | null |
Süderoogsand (tiếng Bắc Frisia: "Saruug Söön") là bãi cát lớn nhất trong đảo chắn Bắc Frisia thuộc Vườn quốc gia biển Wadden Schleswig-Holstein. Bãi cát này nằm về phía tây nam đảo Süderoog và Pellworm và về phía tây bắc của đô thị Westerhever thuộc bán đảo Eiderstedt. Süderoogsand nằm ở phía nam Norderoogsand và phía bắc dòng triều Rummelloch, có chiều dài khoảng 7 kilômét và chiều rộng tối đa vào khoảng 3,7 km. Diện tích của bãi ước chừng 16,6 km². Hiện bãi cạn đang dần bồi tụ về phía đông và đã "dịch chuyển" đến 40 mét về hướng này.
Đèn báo hiệu.
Năm 1867, chính quyền Phổ xây dựng một đèn báo hiệu bằng xà gỗ quét nhựa cây với chiều cao 24 m trên Süderoogsand để làm nơi trú ẩn cho người có tàu thuyền bị đắm. Năm 1891, đèn hiệu bị bão phá hủy và được người ta xây mới tại một địa điểm cách nơi cũ 20 m về phía nam. Năm 1940, phần đèn được thay thế và cấu kiện này trở thành một ngọn hải đăng. Gần đây nhất, một đèn biển được xây dựng xong vào mùa thu năm 1985 tại toạ độ . Cả tháp cao 19 m trong khi đèn cao 18 m so với mức triều trung bình. Hải đăng có đèn halogen 24V/100W hoạt động nhờ điện năng từ pin mặt trời. Cơ quan Đường thủy và Vận tải biển Tönning (tiếng Đức: "Wasser- und Schifffahrtsamt Tönning") là đơn vị điều hành và bảo dưỡng hải đăng này.
Loài chim cắt lớn đến làm tổ trên ngọn đèn từ năm 1995 và đó là lần đầu tiên kể từ khi loài này biến mất khỏi địa phận bang Schleswig-Holstein. Năm 2010, có ba cặp cắt lớn đến sinh sản tại Süderoogsand.
Xác tàu đắm.
Vào thời điểm cuối năm 2012 - đầu năm 2013, người ta phát hiện ba xác tàu đắm gần hải đăng trên Süderoogsand. Đó là một xác tàu gỗ niên đại khoảng năm 1700, một xác tàu thép và một xác thuyền ba buồm "Ulpiano" của Tây Ban Nha. Chiếc "Ulpiano" bị mắc cạn vào đêm Giáng sinh năm 1870 khi đang trong chuyến hải hành đầu tiên của mình. | 1 | null |
Hậu Mân () là vợ của đế Tướng và mẹ của Thiếu Khang - các vua nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc.
Căn cứ vào nhiều thư tịch cổ ghi chép thì Hậu Mân vốn là con gái một gia đình quyền thế của nước Hữu Nhung, thời kỳ đế Tướng nhà Hạ bị Hậu Nghệ đánh đuổi chạy từ nước Châm Tầm sang nước Châm Quan có qua nước Hữu Nhung được cha mẹ bà giúp đỡ rồi gả bà cho nhà vua.
Ít lâu sau Hậu Nghệ mở cuộc truy sát tổng lực vây đánh rất gắt gao khiến đế Tướng cùng đường phải tự vẫn chết, Hậu Mân khi đó đang có mang phải chui qua lỗ tường rồi được các đại thần thân tín của nhà Hạ dẫn đi trốn thoát về quê ngoại là nước Hữu Nhung.
Tại quê nhà Hậu Mân sinh được người con trai đặt tên là Thiếu Khang. Từ nhỏ bà đã kể cho con nghe công tích của tổ tiên là Hạ Vũ trị thủy ra sao; tiếp đến đời Thái Khang ham mê săn bắn mất nước thế nào, rồi ông nội là Trọng Khang và cha là đế Tướng đều chết một cách uất hận. Bà dạy dỗ con phải nuôi ý chí phục hưng cơ nghiệp và luôn nhắc nhở con không quên mối thù nợ máu.
Sau này vua Thiếu Khang sở dĩ đánh bại được Hàn Trác ổn định quốc gia cũng nhờ vào phần lớn công lao giáo dục của bà. | 1 | null |
Châm Quán (斟灌) là tên 1 nước chư hầu của nhà Hạ từng tồn tại ở khu vực phía nam huyện Thanh Phong tỉnh Hà Nam ngày nay, trong lịch sử Trung Quốc thì quốc gia bộ lạc này được nhắc đến chi tiết nhất vào thời kỳ Nghệ Trác chi loạn.
Những dấu ấn trong lịch sử.
Căn cứ vào nhiều sử sách ghi chép thì khi sau khi vua Trọng Khang nhà Hạ bị Hậu Nghệ đánh bại uất hận qua đời thì con là Hạ Tướng đã chạy đến nước Châm Tầm nhờ vả, được một thời gian thì Hậu Nghệ lại phát binh đuổi đánh sang tận nước Châm Tầm và Hạ Tướng lại bỏ chạy đến nước Châm Quán. Tại đây vua nước Châm Quán hết lòng giúp đỡ nhà vua - vì nước này có cùng huyết thống với nhà Hạ - Hạ Tướng có quyền hành chỉ huy quân đội và lãnh đạo đất nước chẳng khác nào vua Châm Quán cả. Từ Châm Quán nhà Hạ đã từng đem quân thảo phạt nước Hoàng, thủ lĩnh của Vưu Di và một số man tộc khác cũng phải cứ sứ giả sang chầu phục Hạ Tướng. Hậu Nghệ biết tình hình như vậy e rằng để lâu thiên hạ sẽ quay về với nhà Hạ liền lập tức sai Hàn Trác mở cuộc tổng công kích nhằm thẳng nước Châm Quán tiến đánh, Hạ Tướng thua to lại chạy về nước Châm Tầm rồi đường cùng bí lối đã tự vẫn mà chết.
Còn về nước Châm Quán đến giai đoạn Thiếu Khang trung hưng cũng có gửi quân tham gia vào công cuộc đánh Hàn Trác, từ ấy về sau không thấy thư tịch nào nhắc tới quốc gia này nữa. Không rõ nước này bị diệt vong trong trường hợp nào và ở thời điểm nào, nhưng có thể biết rằng thủ lĩnh đầu tiên của nước này bởi có công giúp vua Hạ Vũ trị thủy mà được phân phong vậy. | 1 | null |
Ichiban Ushiro no Daimaou (いちばんうしろの大魔王, いちばんうしろのだいまおう) là loạt light novel do Mizuki Shotaro thực hiện và minh họa bởi Itō Souichi. Loạt tiểu thuyết được xuất bản bởi Hobby Japan dưới nhãn HJ Bunko thẳng thành các tập từ ngày 01 tháng 2 năm 2008. Cốt truyện xoay quanh Sai Akuto người có mục đích sẽ trở thành một trong pháp sư hùng mạnh nhất và đóng góp giúp đỡ cho nơi mà anh sống, nhưng sau khi đậu vào trường pháp thuật thì số phận của Sai được tiên đoán là sẽ trở thành "chúa quỷ" vì thế cuộc sống của anh trở nên rối tung lên khi bị các nữ sinh cũng như các tổ chức chính trị muốn sử dụng quyền lực tương lai này nhắm đến.
Mizuki Shotaro và Itō Souichi cũng thực hiện chuyển thể manga của loạt tiểu thuyết và đăng trên tạp chí Champion Red của Akita Shoten từ ngày ngày 19 tháng 9 năm 2008. Artland đã thực hiện chuyển thể anime và phát sóng từ ngày 02 tháng 4 đến ngày 18 tháng 6 năm 2010.
Truyền thông.
Light novel.
Loạt light novel do Mizuki Shotaro thực hiện và minh họa bởi Itō Souichi. Hobby Japan đã xuất bản tiểu thuyết thẳng thành các tập từ ngày 01 tháng 2 năm 2008 dưới nhãn HJ Bunko, tính đến tháng 2 năm 2013 thì đã có 11 tập được phát hành. J-Novel đã đăng ký bản quyền phát hành loạt tiểu thuyết này tại hàn Quốc còn Tong Li Publishing thì đăng ký tại Đài Loan và Hồng Kông.
Manga.
Mizuki Shotaro và Itō Souichi cũng thực hiện chuyển thể manga cho loạt tiểu thuyết và đăng trên tạp chí dành cho shōnen là Champion Red của Akita Shoten từ ngày ngày 19 tháng 9 năm 2008. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành các tankōbon, tính đến tháng 2 năm 2013 thì đã có 4 tập được phát hành. Ban đầu chuyển thể này bám sát cốt truyện trong tập tiểu thuyết đầu tiên nhưng sau đó đến nửa cuối tập thứ hai thì bắt đầu mở rộng ra và có một số thay đổi nhỏ. TOHAN Corporation đã đăng ký bản quyền phát hành bộ manga tại Đài Loan.
Drama CD.
Edge Records đã thực hiện chuyển thể drama CD gồm hai đĩa phát hành vào ngày 25 tháng 2 và ngày 30 tháng 9 năm 2009.
Anime.
Artland đã thực hiện chuyển thể anime của loạt tiểu thuyết với sự đạo diễn của Watanabe Takashi và phát sóng trên kênh Tokyo MX từ ngày 02 tháng 4 đến ngày 18 tháng 6 năm 2010 với 12 tập, bộ anime này cũng phát trên các kênh Chiba TV, TV Kanagawa, AT-X, Sun TV, TV Aichi, Nico Nico Channel và ShowTime, Inc. Phiên bản DVD/BD của bộ anime cũng đã được phát hành gồm 6 đĩa từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 25 tháng 11 năm 2010, mỗi đĩa có chứa một đoạn phim thêm ngắn. Sentai Filmworks giữ bản quyền phát hành phiên bản tiếng Anh của bộ anime này còn Muse Communication thì đăng ký tại Đài Loan.
Âm nhạc.
Bộ anime có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tên "REALOVE:REALIFE" được trình bày bởi Sphere, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 21 tháng 4 năm 2010 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đính kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Bài hát kết thúc có tên "Everyday sunshine line!" do Asō Natsuko trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 12 tháng 5 năm 2010. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 23 tháng 6 năm 2010. Album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 26 tháng 5 năm 2010. | 1 | null |
Bão hòa carbon dioxide (CO2) là quá trình hòa tan carbon dioxide vào chất lỏng. Để làm được điều này, quá trình cần thực hiện với carbon dioxide dưới áp suất, áp lực cao. Khi giảm áp suất, carbon dioxide thoát ra khỏi sản phẩm dưới dạng bóng khí nhỏ làm nước "sủi bọt". Hiệu ứng này thường thấy ở nước ngọt có ga.
Cacbon cũng có thể mô tả một phản ứng hóa học và một ví dụ trong số đó là một bước quan trọng trong quang hợp.
Hóa học.
Carbon dioxide ít tan trong nước và thường tách ra thành khí trở lại. Quá trình của khí carbon dioxide gây "sủi bọt" trong chất lỏng được giải thích bởi phản ứng hóa học sau, trong đó dung dịch axit cacbonic phân hủy ra carbon dioxide và nước:
Hóa sinh học.
Bão hoà CO2 cũng mô tả sự hợp nhất của khí carbon dioxide thành các hợp chất hóa học. Sự sống hữu cơ bắt nguồn từ một phản ứng cacbonat hóa thường được xúc tác bởi các enzyme RuBisCO. Quá trình này rất quan trọng, một phần đáng kể của khối lượng lá cây bao gồm các enzyme RuBisCO. | 1 | null |
Hàn Kiêu () là tên một nhân vật sống vào thời nhà Hạ ở Trung Quốc, theo Sử Ký Tư Mã Thiên - Hạ bản kỷ thì Kiêu là con trai trưởng của Hàn Trác.
Cha con Hàn Trác vốn là người nước Hàn, nhưng vì làm một số việc bất nhẫn khiến vua nước ấy là Bá Minh bất bình trục xuất khỏi tổ quốc. Kiêu cùng cha và em là Ế chạy sang nước Hữu Cùng nương nhờ Hậu Nghệ, khi Hậu Nghệ chấp chính lũng đoạn quyền lực trong cung nhà Hạ thì Hàn Trác rất được tin cẩn thường được giao những việc quan trọng. Đến khi Hậu Nghệ chính thức xưng đế thì Hàn Trác được phong làm tướng quốc, bấy giờ Hàn Trác mới tiến cử hai con là Kiêu và Ế vào trong triều đình để làm vây cánh. Sau khi Hàn Trác đảo chính Hậu Nghệ thì phong cho Kiêu làm vua nước Quá còn Ế làm vua nước Qua, nhiệm vụ của 2 nước này làm lá chắn và tai mắt của Hàn Trác để khống chế sự trỗi dậy phục quốc của dòng dõi nhà Hạ.
Nhận được tin Thiếu Khang đang ở nước Hữu Nhưng lập tức Hàn Trác sai Kiêu và Ế chia quân làm hai mũi vây đánh tức thì, Thiếu Khang vừa đánh vừa lùi rồi rút chạy dần sang nước Hữu Ngu làm bào chính. Nhận thấy đánh bại Thiếu Khang quá dễ Kiêu và Ế đều tỏ ra ngạo mạn không đề phòng gì cả, Thiếu Khang tranh thủ tập hợp lực lượng tích trữ lương thảo chờ thời cơ để tổng phản công. Khi nghe tin Hàn Trác sắp lâm chung Kiêu chuẩn bị về triều để tiếp quản đế vị thì Thiếu Khang bất ngờ cho quân ồ ạt tiến đánh vào đất Quá, Kiêu không kịp trở tay bị đánh bại rất chóng vánh và bị chết trong đám loạn quân. | 1 | null |
Cuộc vây hãm Tobruk là một cuộc đối đầu dai dẳng kéo dài 241 ngày đêm giữa các lực lượng Phe Trục và phe Đồng Minh tại Bắc Phi trong Chiến dịch Sa mạc Tây thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc vây hãm bắt đầu ngày 11 tháng 4 năm 1941, khi đội quân Ý-Đức của trung tướng Erwin Rommel tấn công Tobruk, và tiếp diễn 240 ngày cho đến 27 tháng 11 năm 1941, khi thành phố được Tập đoàn quân số 8 Anh giải vây trong Chiến dịch Crusader.
Đối với Đồng Minh, việc nắm giữ thành phố cùng bến cảng của nó có vai trò then chốt đối với việc bảo vệ Ai Cập và Kênh đào Suez, bởi như vậy sẽ buộc đối thủ của họ phải vận chuyển phần lớn các hàng tiếp tế bằng đường bộ từ cảng Tripoli qua quãng đường 1500 km sa mạc, cũng như phải phân tán bớt binh lính không thể tham gia tiến công. Tobruk đã phải hứng chịu những đòn tấn công trên bộ lặp đi lặp lại cũng như các cuộc pháo kích và oanh tạc gần như là liên tục. Bộ máy tuyên truyền Quốc xã đã gọi đội quân phòng thủ ngoan cường tại đây là 'những con chuột cống', một thuật ngữ mà binh lính Úc chấp nhận như một lời khen ngợi mỉa mai. | 1 | null |
Công viên kỷ Jura (tên gốc tiếng Anh: Jurassic Park) là phim điện ảnh phiêu lưu khoa học viễn tưởng của Mỹ năm 1993 do Steven Spielberg đạo diễn và Kathleen Kennedy cùng Gerald R. Molen phụ trách sản xuất. Đây là phần phim đầu tiên của thương hiệu điện ảnh "Công viên kỷ Jura", dựa theo nguyên tác tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Michael Crichton xuất bản năm 1990, với Crichton và David Koepp đảm nhiệm vai trò biên kịch. Phim lấy bối cảnh tại hòn đảo giả tưởng Isla Nublar nằm ở vùng ven biển Thái Bình Dương thuộc Trung Mỹ, gần Costa Rica, nơi nhà triệu phú John Hammond và một nhóm các nhà di truyền học đã tạo ra một công viên hoang dã gồm nhiều chủng loại khủng long được dòng hóa. Khi hệ thống an ninh và năng lượng của công viên bị vô hiệu hóa, một nhóm những khách tham quan công viên, bao gồm cháu ruột của Hammond, đã phải tìm cách sinh tồn và trốn thoát khỏi hòn đảo nguy hiểm.
Trước khi tiểu thuyết của nhà văn Crichton được xuất bản, bốn hãng phim đã trả giá cho bản quyền chuyển thể điện ảnh. Với sự giúp đỡ của Universal Studios, Spielberg có được bản quyền phim với giá 1,5 triệu USD trước khi quyển sách được ra mắt vào năm 1990; Crichton cũng được thuê với mức lương 500.000 USD để chuyển thể tiểu thuyết lên màn ảnh rộng. Koepp đảm nhiệm phần kịch bản cuối cùng, và phiên bản này đã tỉnh lược nhiều chi tiết bạo lực trong nguyên tác, đồng thời thay đổi nhiều yếu tố về phần nhân vật. Phim được bấm máy tại California và Hawaii vào khoảng từ tháng 8 tới tháng 11 năm 1992, với phần hậu kỳ được kéo dài tới tháng 5 năm 1993, dưới sự giám sát của Spielberg tại Ba Lan khi ông đang trong quá trình thực hiện "Bản danh sách của Schindler" (1993).
Các loài khủng long được hãng Industrial Light & Magic tạo dựng bằng công nghệ CGI và đồng thời với mô hình khủng long kích thước thực do Stan Winston và đội của anh chuẩn bị. Để khắc họa phần thiết kế âm thanh trong phim, bao gồm sự pha trộn giữa âm thanh của các loài động vật cũng như tiếng gầm của khủng long, Spielberg đã đầu tư vào DTS, một công ty chuyên về các định dạng âm thanh vòm kỹ thuật số. Cùng với chiến dịch quảng bá 65 triệu USD, trong đó bao gồm hợp đồng với 100 công ty khác nhau, "Công viên kỷ Jura" đã thu về hơn 914 triệu USD toàn cầu trong lần chiếu chính thức, trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao nhất năm 1993 và phim điện ảnh có doanh thu cao nhất mọi thời đại tại thời điểm đó, và nắm giữ danh hiệu này trong bốn năm, cho tới khi "Titanic" (1997) được công chiếu. "Công viên kỷ Jura" nhận được nhiều ý kiến tích cực từ giới chuyên môn, đề cao phần kỹ xảo hình ảnh, phần nhạc nền của John Williams và chỉ đạo sản xuất của Spielberg. Sau khi được chiếu lại dưới định dạng 3D vào năm 2013 để kỷ niệm 20 ngày ra mắt, "Công viên kỷ Jura" trở thành phim điện ảnh thứ 17 trong lịch sử cán mốc 1 tỉ USD doanh thu phòng vé.
"Công viên kỷ Jura" đã giành chiến thắng tổng cộng hơn 20 giải thưởng, bao gồm ba giải Oscar cho các hạng mục kỹ thuật như kỹ xảo hình ảnh và thiết kế âm thanh. Phim cũng được nhớ đến như một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của công nghệ CGI và kỹ xảo mô hình cơ khí. Vào năm 2018, nó đã được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn để bảo quản trong Cơ quan đăng ký phim quốc gia Hoa Kỳ vì " có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử hoặc thẩm mỹ". Các phần phim tiếp theo của phim là ' (1997) và "Công viên kỷ Jura III" (2001), "Thế giới khủng long" (2015), ' (2018) và "" (2022).
Nội dung.
Nhờ những tiến bộ trong khoa học, người ta có thể trích xuất DNA của khủng long từ máu mà muỗi đã hút được trong hổ phách, và nhân bản thành công chúng. John Hammond đã mở Công viên kỉ Jura trên Isla Nublar, một hòn đảo gần Costa Rica, với hy vọng đem loài khủng long phổ biến tất cả mọi người và trẻ em. Sau khi một nhân viên bị khủng long sát hại, những nhà đầu tư, đại diện là luật sư Donald Gennaro và tiến sĩ Toán học Ian Malcom, đến tham quan công viên để kiểm tra độ an toàn. Để có thêm tiếng nói và mang tính thuyết phục, John Hammond mời tiến sĩ Alan Grant và tiến sĩ Ellie Sattler, những nhà nghiên cứu về động thực vật thời tiền sử. Trong đoàn tham quan còn có hai người cháu của ông Hammond là Lex và Tim Murphy.
Buổi chiều hết giờ làm việc, tất cả nhân viên đã lên tàu về đất liền, đúng lúc có một cơn bão nhiệt đới sắp tiến vào đảo nên chuyến tham quan vòng quanh công viên đã không diễn ra như dự tính: Các con khủng long không xuất hiện khi được gọi. Một con "Triceratops" bị ốm, nên tiến sĩ Ellie đã rời khỏi đoàn và khám bệnh cho nó. Cô may mắn thoát nạn.
Dennis Nedry, kĩ sư phần mềm vận hành hệ thống an ninh của công viên, lấy trộm các phôi khủng long để bán lấy tiền. Lấy cớ "bộ nhớ mà Linux cấp phát cho hệ thống quá hạn chế, một vài dịch vụ có thể bị tắt đi", Nedry đã vô hiệu hoá một phần quan trọng hệ thống an ninh. Thật ra phần bộ nhớ bị hạn chế chính là những tiến trình mà gã cài vào cho mục đích xấu đó. Hắn tắt một phần hàng rào điện trong công viên để tẩu thoát. Vì hàng rào điện này đã bị vô hiệu hóa, con khủng long "Tyrannosaurus" sổng chuồng tấn công đoàn tham quan, lúc này vẫn đang mắc kẹt trong hai chiếc xe vì hết điện. Nó giết chết Gennaro và làm cho Malcom bị thương nặng. Nedry trên đường chuồn khỏi đảo cũng bị một con khủng long Dilophosaurus giết. Chỉ còn tiến sĩ Grant, Lex và Tim may mắn chạy thoát.
Tiến sĩ Sattler, sau khi ở lại khám cho con khủng long bị ốm, đã lên xe về phòng điều khiển trung tâm. Cô và ông Muldoon đi tìm những người sống sót, tuy nhiên chỉ tìm được Malcolm. Do không biết mật khẩu tái kích hoạt hệ thống an ninh, nhóm Hammond phải tắt nguồn toàn bộ công viên. Arnold nhận nhiệm vụ khởi động lại hệ thống điện, nhưng bị khủng long ăn thịt trong nhà kho. Sattler và Muldoon, trên đường đến trạm điện tìm Arnold, bị khủng long "Velociraptor" tấn công; Muldoon bị giết, nhưng Sattler đã kích hoạt được mạch điện và thoát hiểm.
Sau một đêm trong công viên, Grant đưa Lex và Tim về trung tâm tham quan, còn anh đi tìm những người khác. Hai đứa trẻ bị những con "Velociraptor" tấn công nhưng đã may mắn trốn thoát, gặp lại Grant và Sattler. Nhờ kĩ năng sử dụng máy vi tính của mình, Lex đã khôi phục toàn bộ hệ thống phần mềm trên đảo. Bốn người lại bị lũ khủng long "Velociraptor" truy sát một lần nữa, nhưng may mắn trốn thoát nhờ sự xuất hiện bất ngờ của con T-Rex của công viên. Cuối cùng, Hammond, Malcolm, Grant, Sattler, Lex và Tim lên trực thăng rời đảo.
Sản xuất.
Phát triển.
Ý tưởng ban đầu của nhà văn Michael Crichton là về một học sinh mới tốt nghiệp tìm cách làm hồi sinh các loài khủng long; ông tiếp tục vật lộn với những ý tưởng về khủng long, cho tới khi viết nên cuốn tiểu thuyết "Jurassic Park". Trước khi cuốn tiểu thuyết được xuất bản, Steven Spielberg đã biết tới nó vào tháng 10 năm 1989 khi ông và Crichton đang thảo luận về một kịch bản khác, vốn sau đó trở thành phim truyền hình "ER". Spielberg cho rằng điều cuốn hút ông chính là việc "Công viên kỷ Jura" là "một cái nhìn tuyệt vời về cách mà loài khủng long được đưa trở lại thế giới hiện đại", và vượt qua giới hạn của một bộ phim quái vật thông thường.
Trước khi cuốn sách được xuất bản, Crichton yêu cầu một khoản thù lao không đàm phán ở mức 1,5 triệu USD cũng như phần trăm hoa hồng từ doanh thu của phim. Warner Bros. và Tim Burton, Columbia Pictures và Richard Donner, cùng 20th Century Fox và Joe Dante đã trả giá cho bản quyền này, nhưng Universal Studios đã mua được bản quyền phim vào tháng 5 năm 1990 cho Spielberg. Sau khi hoàn thành "Hook", Spielberg muốn thực hiện "Bản danh sách của Schindler". Chủ tịch của Music Corporation of America (sau nay là công ty mẹ của Universal Pictures) là Sid Sheinberg đã bật đèn xanh cho bộ phim với điều kiện Spielberg phải thực hiện "Công viên kỷ Jura" trước. Vị đạo diễn sau đó đã công khai rằng, với việc lựa chọn "Công viên kỷ Jura", "tôi sẽ chỉ việc cố gắng thực hiện một phần tiếp nối thật tốt cho "Hàm cá mập", nhưng là trên đất liền mà thôi."
Kịch bản.
Universal trả Crichton 500.000 USD để chuyển thể cuốn tiểu thuyết của chính ông, và ông đã hoàn thành nó trong thời gian Spielberg đang ghi hình phim "Hook". Crichton cho biết vì quyển sách "khá dài" nên phần kịch bản chỉ bao quát được khoảng từ 10 tới 20 phần trăm nội dung gốc; nhiều cảnh quay đã bị hủy vì cả lí do kinh phí lẫn thực tiễn, và dù phần kịch bản gốc bao gồm nhiều cảnh máu me, thì những hình ảnh bạo lực này đã được giảm thiểu. Malia Scotch Marmo sau đó đã dành ra 5 tháng, từ tháng 10 năm 1991, để bắt đầu viết lại phần kịch bản.
Tuyển diễn viên.
William Hurt ban đầu được đề nghị cho vai diễn Tiến sĩ Alan Grant, nhưng ông đã từ chối và không đọc kịch bản. Harrison Ford cũng được đề nghị vào vai diễn này. Sam Neill cuối cùng được chọn vào vai diễn Grant trong khoảng thời gian ba tới bốn tuần trước khi phim được bấm máy. Neill cho biết "mọi thứ diễn ra khá nhanh. Tôi chưa từng đọc cuốn sách, chẳng biết gì về nó, chưa từng nghe qua về nó, và chỉ trong vài tuần nữa thôi tôi sẽ làm việc với Spielberg." Janet Hirshenson, người chịu trách nhiệm tuyển vai cho bộ phim, sau khi đọc xong cuốn sách đã cảm thấy rằng Jeff Goldblum sẽ là lựa chọn đúng đắn cho vai diễn Ian Malcolm. Jim Carrey cũng đã được thử vai cho vai diễn này. Theo Hirshenson, Carrey "cũng thật là kinh khủng, nhưng tôi đã nghĩ rất nhanh rằng chúng ta đều yêu quý Jeff."
Quay phim.
Sau 25 tháng tiền kỳ, phim bắt đầu được bấm máy vào ngày 24 tháng 8 năm 1992 tại đảo Kauai thuộc Hawaii. Trong khi Costa Rica là bối cảnh của câu chuyện thì những mối bận tâm của Spielberg về cơ sở hạ tầng cũng như tính tiếp cận của địa điểm đã khiến ông phải lựa chọn lại một địa điểm mà ông đã từng làm việc trước đây. Quá trình ghi hình kéo dài ba tuần bao gồm nhiều phân cảnh ngoài trời trong khu rừng của Isla Nublar. Ngày 11 tháng 9 năm 1992, Bão Iniki đi qua đảo Kauai khiến đoàn làm phim bị mất một ngày quay. Nhiều cảnh quay bão trong phim đều là những cảnh quay diễn ra dưới cơn bão Iniki này. Lịch ghi hình cho phân cảnh rượt đuổi cùng đàn "Gallimimus" được chuyển tới khu Kualoa Ranch trên đảo Oahu và một trong những cảnh đầu phim phải được tạo dựng kỹ thuật số từ một cảnh phong cảnh. Cảnh mở đầu phim được quay tại khu vực Haiku trên đảo Maui, với một số phân cảnh bổ sung được thực hiện tại "hòn đảo lãng quên" Niihau. Samuel L. Jackson đúng ra phải quay một cảnh bị giết rất dài, trong đó nhân vật Ray Arnold của anh bị loài raptor rượt đuổi và giết chết, những phân cảnh này đã bị hủy bỏ do sự xuất hiện của Bão Iniki.
Các loài khủng long trong phim.
Mặc dù tựa đề của phim có nhắc tới kỷ Jura, "Brachiosaurus" và "Dilophosaurus" là hai loài khủng long duy nhất thực sự sống trong thời kỳ đó; các loài khủng long khác đều chỉ xuất hiện ở kỷ Creta. Điều này được thừa nhận ngay trong bộ phim, trong phân cảnh Tiến sĩ Grant miêu tả sự tàn bạo của loài "Velociraptor" với một cậu bé, với lời thoại "Hãy tưởng tượng nếu cháu đang sống trong kỷ Creta..."
Âm nhạc.
Nhà soạn nhạc John Williams bắt đầu biên soạn các bản nhạc vào tháng 2 năm 1993, và thực hiện công tác thu âm vào một tháng sau đó. Tương tự như với "Close Encounters of the Third Kind", bộ phim của Spielberg mà ông cũng tham gia biên soạn phần nhạc nền, Williams cảm thấy rằng ông cần phải viết nên "những nhạc phẩm có thể truyền tải được cảm giác 'kinh sợ' và mê hoặc" chia đều với "niềm hạnh phúc và thích thú tột độ" mà khán giả có thể có được khi nhìn thấy những loài khủng long sống. Ngoài ra, trong các phân cảnh hồi hộp như cảnh "Tyrannosaurus" tấn công, phần nhạc chủ đề lại mang âm sắc kinh hãi hơn. Album nhạc phim đầu tiên được phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 1993.
Để kỷ niệm 20 năm ngày công chiếu bộ phim, một phiên bản nhạc phim mới được phát hành trên các phương tiện số vào ngày 9 tháng 4 năm 2013, bao gồm bốn bản nhạc tặng kèm được chọn lọc bởi Williams. | 1 | null |
Two Steps From Hell là công ty âm nhạc có trụ sở tại San Francisco thuộc bang California, Hoa Kỳ. Công ty được thành lập bởi Nick Phoenix và Thomas J. Bergersen vào năm 2006.
Lĩnh vực chính của Two Steps From Hell là sáng tác nhạc cho trailer phim, ngoài ra công ty cũng sáng tác nhạc cho trailer một số trò chơi điện tử. Các sản phẩm của công ty thường được sử dụng trong trailer của các bộ phim nổi tiếng như "Interstellar", "Harry Potter"", Cướp biển vùng Caribbean "và "X-men."
Lịch sử.
Two Steps From Hell được thành lập vào năm 2006 khi Thomas Bergersen và Nick Phoenix cùng tham gia đội ngũ viết nhạc trailer cho một số bộ phim. Bergersen đã chuyển từ Trondheim, Na Uy tới Hoa Kỳ vào năm 2003, cùng với Phoenix, người bắt đầu sáng tác vào năm 1997, trước khi chuyển tới Los Angeles. Hai người thành lập công ty vào đầu năm 2006, và đã sáng tác nhạc phim chính thức cho hơn 1.000 bản trailer.
Tên gọi.
Khi thành lập công ty năm 2006, Begersen muốn một cái tên sẽ thu hút sự chú ý của mọi người. Cái tên này được anh lấy từ tên của một câu lạc bộ đêm ở Na Uy mà theo Begersen có chủ đề tương tự.
Những năm 2006 - 2014.
Two Steps From Hell chủ yếu sản xuất nhạc trailer, mặc dù gần đây các bản nhạc của họ cũng được dùng cho các chương trình truyền hình và một số video game.
Mặc dù công ty luôn tìm kiếm sự thành công cho các bản nhạc của mình, mãi cho đến tháng 5 năm 2010 các bản nhạc mới lần đầu chính thức phát hành ra công chúng, khi album thương mại "Invincible" được phát hành. "Invincible" trở thành album đầu tiên của công ty lọt vào bảng xếp hạng "Top 100 Soundtracks" của iTunes. Tính đến tháng 7 năm 2014, Two Steps From Hell đã xuất bản 8 album tới công chúng, trong số hơn 20 album trình diễn, với gần 1.000 bản nhạc.
Album "Sun", được phát hành vào 30 tháng 9 năm 2014, là album solo thứ hai của Thomas Bergersen. Bản nhạc âm xem trước được phát hành từ album có tên "Cry" và "Sun", có thể tải về từ website chính thức của Bergersen. Một MV chính thức cho "Sun" cũng được phát hành trên YouTube, trước khi Thomas công bố việc phát hành giới hạn một bản CD cao cấp có các bản nhạc âm mở rộng cũng như ghi chú từ chính Thomas, cũng như một tấm poster khổ rộng là một tác phẩm nghệ thuật của anh.
Ngoài ra, vào tháng 7 năm 2014, Two Steps From Hell phát hành một cuốn e-book với tên Colin Frake on Fire Mountain, có tính năng như một cuốn tiểu thuyết 75.000 từ, được viết bởi Nick Phoenix và minh họa bởi Otto Bjornik, và phần nhạc của cuốn sách cũng được phát hành dưới dạng một album soundtrack.
Họa sĩ thiết kế đồ họa chính của Two Steps From Hell là Steven Gilmore, người đã tạo bìa album cho hầu hết các bản quảng cáo và các album được phát hành ra công chúng, bao gồm cả logo công ty, với một ngoại lệ duy nhất là đĩa DVD được phát hành vào năm 2009, bìa album đó đã được thiết kế bởi Paul Zeaiter. Ngoài ra, đồ họa trong album solo "Illusions" của Thomas Bergersen được thiết kế bởi Jesper Krijgsman, trong khi phần tiếp theo "Sun", bìa album được thiết kết bởi chính Thomas.
Những dấu ấn chính.
Tác phẩm của Two Steps From Hell xuất hiện trong:
Ấn phẩm nổi bật khác.
Âm nhạc của "Two Steps From Hell" hiện nay được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi, từ các sự kiện toàn cầu để các buổi hòa nhạc địa phương, một số trong đó được ghi dưới đây:
Buổi hòa nhạc.
Two Steps From Hell đã tổ chức một buổi hòa nhạc trực tiếp vào ngày 14 tháng 6 năm 2013 tại Nhà hát Walt Disney, ở Los Angeles, California, biểu diễn một số bài nhạc nổi tiếng của họ, chẳng hạn như "Heart of Courage", "Protectors of the Earth", "To Glory", "Strength of a Thousand Men", "Black Blade" và "Breathe", cũng như các bài "Ocean Princess", "Age of Gods" and "Remember Me" từ album của Bergersen. Illusions. Ngày hôm sau, họ xác nhận trên Facebook rằng sẽ tiếp tục các buổi hòa nhạc, với địa điểm và ngày tháng sẽ được công bố. Ngày 26 tháng 6 năm 2013, Bergersen xác nhận buổi hòa nhạc tiếp theo sẽ diễn ra ở châu Âu, và có ý định bắt đầu chuyến lưu diễn tại một số thời điểm trong năm 2016.
Danh sách các ấn phẩm.
Các album được phát hành tới công chúng.
Nguồn:
Các album biểu diễn.
Source:
Album khác.
Có một số album được thực hiện bởi các nhà soạn nhạc khác từ công ty, không được coi là một phần của thư viện chính và do đó không được xuất hiện trên các kênh chính thức của Two Steps From Hell. Chúng bao gồm:
Ngoài ra, nhà soạn nhạc Troels Folmann đóng góp một số ca khúc cho album "Dynasty", "Dreams & Imaginations", và "Legend", dù ông chỉ được ghi tên cho album "Legend".
Các đĩa đơn thương mại.
Các bản nhạc (bài hát đơn - single) không nằm trong bất cứ album nào hay được phát hành như là bản xem trước (preview) Tất cả các bài sau đây được viết bởi Thomas Bergersen:
Các bài nhạc độc lập.
Những bài hát không thuộc bất cứ album nào hay đã được phát hành như là các bản nhạc xem trước thông qua Facebook. Tất cả các phần sau đây được viết bởi Bergersen, trừ mục nào được ghi chú riêng:
Danh sách Album.
Sinners
Faction
Solaris
Invincible
Illusions
Archangel
Demon's Dance
Halloween
Speed of Sound
Colin Frake on Fire Mountain
Sun
Shadows and Nightmares
Dynasty
All Drums Go to Hell
Nemesis
Pathogen
Dreams & Imaginations
Ashes
The Devil Wears Nada
All Drones Go to Hell
Illumina
Balls to the Wall
Cyanide
Crime Lab
Open Conspiracy
Too Big to Fail
Empire
Stronger Faster Braver
Hammerfist
SkyWorld
Legend
Burn
Amaria
Battlecry
Nero
Miracles
Classic (Vol.1)
Classic (Vol.2)
Quarantine
Legacy
Vanquish
Power Of Darkness Anthology
Unleashed
Orion (2013)
Two Steps From Heaven
Xem thêm.
Để biết thêm các ban nhạc, thể loại hoặc thông tin liên quan đến Two Steps From Hell, xem thêm "Trailer". | 1 | null |
Quá () là tên một nước chư hầu do Hàn Trác phong cho con trai trưởng là Hàn Kiêu để làm phên dậu che chắn cho chính quyền của ông ta, địa bàn quốc gia trên ngày nay nằm ở khu vực thuộc tỉnh Sơn Đông.
Sau khi cướp ngôi của Hậu Nghệ lập tức Hàn Trác phong cho 2 người con trai là Hàn Kiêu ở nước Quá và Hàn Ế ở nước Qua, mục đích và nhiệm vụ chính để thành lập hai nước ấy là để ngăn chặn sự trỗi dậy của tôn thất nhà Hạ. Khi biết tin Thiếu Khang đang ở nước Hữu Nhưng thì cả hai nước Quá và Qua đều phát binh truy sát, Thiếu Khang phải lẩn tránh sang nước Hữu Ngu ẩn mình chờ cơ hội phục quốc.
Hàn Kiêu thấy đánh Thiếu Khang quá dễ nên mất cảnh giác không phòng bị gì, đến lúc Thiếu Khang phối hợp với Thần Mi từ nước Hữu Cách đánh tập hậu vào nước Quá thì Hàn Kiêu trở tay không kịp rồi bị giết chết. Như vậy nước Quá từ khi hình thành đến lúc diệt vong tồn tại khoảng chừng hơn 30 năm, nghĩa là từ lúc Hàn Trác cướp ngôi Hậu Nghệ đến khi bị Thiếu Khang đánh bại với vẻn vẹn duy nhất 1 đời vua. | 1 | null |
Plzeňský Prazdroj (, tạm dịch là "bia nguyên gốc kiểu Plzeň") hay còn được biết dưới cái tên tiếng Đức là Pilsner Urquell () là một thương hiệu bia lên men chìm nổi tiếng của vùng Plzeň (ngày nay thuộc Cộng hòa Séc), có mặt trên thị trường từ năm 1842. Plzeňský Prazdroj là bia kiểu Plzeň (hay kiểu Plisner, viết theo tiếng Đức) đầu tiên có mặt trên thế giới. Hiện nay nó là một trong những thương hiệu chủ lực của công ty bia đa quốc gia SABMiller. | 1 | null |
Jeroo Billimoria (sinh ngày 20 tháng 7 năm 1965) là một doanh nhân xã hội và là người sáng lập của nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế đã nhận được nhiều giải thưởng danh dự lớn. Với việc đưa các dự án quản lý các dự án xã hội của mình lên phạm vi toàn cầu, bà đã trở thành thành viên của , và . Ngoài ra, những hoạt động của bà còn được đăng trên các Business Week, The Economist và xuất bản trên các ấn phẩm sách khác. Thành tựu gần đây nhất của bà phải kể đến (Child Savings International), và . Hiện tại, bà đang là người sáng lập kiêm giám đốc quản lý của Child and Youth Finance International.
Tiểu sử.
Jeroo Billimoria sinh ra ở Mumbia, Ấn Độ, trong 1 gia đình mẹ làm kế toán và bố làm công tác xã hội. Được nuôi lớn trong 1 gia đình với nền tảng cống hiến cho các hoạt động xã hội, sự ra đi sớm của người cha đã tạo động lực cho bà quyết tâm theo đuổi con đường hoạt động xã hội của mình. Billimoria nhận bằng cử nhân thương mại của (vốn được biết đến với cái tên trường đại học Bombay) vào năm 1986, bằng thạc sĩ về hoạt động xã hội của , Ấn Độ vào năm 1988 và bằng thạc sĩ nghiên cứu về quản lý phi lợi nhuận của trường ở New York vào năm 1992. Từ năm 1991 đến năm 1999, bà tham gia giảng dạy tại Học viện khoa học xã hội Tata.
Doanh nhân xã hội.
Vào năm 1996, với kinh nghiệm làm việc của mình với trẻ em đường phố Ấn Độ, Billimoria đã quyết định thành lập Childline India Foundation, một đường dây nóng kết nối 24h cho trẻ em. Tiếp nối thành công của đường dây nóng này ở Ấn Độ, một đường dây nóng quốc tế đã được đi vào hoạt động dưới tên Child Helpline International (CHI). Đường dây quốc tế này đã tiếp nhận 140 cuộc gọi từ 133 quốc gia trên thế giới. Với những thông tin được ghi lại từ đường dây nóng này, CHI đã chỉ ra hiện trạng và xu thế của trẻ em trên toàn thế giới, đồng thời truyền những thông điệp này tới các nhà chức trách và tổ chức phi chính phủ.
Theo số liệu thu thập được từ đường dây nóng này, rất nhiều cuộc gọi xuất phát từ nguyên nhân chính là do nghèo đói gây ra. Để giải quyết vấn đề này, Billimoria đã thành lập Aflatoun, 1 tổ chức phi chính phủ với mục tiêu giáo dục trả em về quyền và nghĩa vụ kinh tế cũng như để phát triển những thói quen và kĩ năng quản lý tài chính cơ bản ở trẻ nhỏ. Hiện nay, tổ chức này đã có mặt tại 94 nước trên thế giới và giúp đỡ 1.3 triệu trẻ em.
Vào tháng 7/ 2011, Billimoria thành lập Child and Youth Finance International, 1 mạng lưới hoạt động với quy mô toàn cầu nhằm tập hợp các tổ chức tài chính, giáo dục có chung mục tiêu nâng cao nâng lực tài chính và đưa giáo dục tài chính toàn diện tới trẻ em và thanh thiếu niên dựa trên cơ sở liên hiệp và chia sẻ các nguồn vốn sẵn có.
Các đóng góp, ghi nhận và giải thưởng.
Billimoria được thế giới biết đến là một nhà phát ngôn tín nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực thúc đẩy giáo dục tài chính trẻ em. Những hoạt động xã hội và nhân đạo của bà đã giúp đỡ cuộc sống của hàng triệu trẻ em trên toàn thế giới. Bà từng là phát ngôn viên tại Diễn đàn Kinh tế thế giới, Hội thảo Skoll cho các doanh nghiệp xã hội và nhiều doanh nghiệp, đại học quốc tế khác. Các đóng góp cho xã hội của bà được ghi nhận bao gồm: | 1 | null |
Jacob Joseph "Jack" Lew (sinh ngày 29 tháng 8 năm 1955) là một luật sư, nhà chính trị Hoa Kỳ. Ông là Bộ trưởng tài chính thứ 76 của Hoa Kỳ từ năm 2013 đến 2017. Chức vụ trước đó của ông là Chánh văn phòng Nhà Trắng. Sinh ra tại thành phố New York, New York, Lew tốt nghiệp cử nhân từ Đại học Harvard và Tiến sĩ luật từ Trung tâm Luật của đại học Georgetown. Lew đã bắt đầu sự nghiệp của mình với vị trí trợ lý pháp lý cho Hạ nghị sĩ Joe Moakley và làm cố vấn chính sách cao cấp cho cựu Chủ tịch Hạ viên Tip O'Neill. Sau đó Lew làm luật sư hành nghề tư nhân trước khi làm phó văn phòng trong văn phòng quản lý và ngân sách của Boston. Năm 1993, ông bắt đầu làm việc cho chính quyền Clinton là trợ lý đặc biệt cho Tổng thống. Năm 1994, Lew làm Phó giám đốc về các vấn đề lập pháp và Phó giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách, nơi ông từng là Giám đốc của cơ quan đó từ 1998 đến 2001 và từ 2010 đến 2012. Sau khi rời khỏi chính quyền Clinton, Lew làm Phó chủ tịch điều hành cho các hoạt động tại Đại học New York từ 2001 để 2006, và là Giám đốc điều hành của Citigroup từ 2006 đến 2008. Lew sau đó làm Phó thứ nhất quốc vụ khanh quản lý và Tài nguyên, từ 2009 đến 2010.
Ngày 10 tháng 1 năm 2013, Lew đã được Tổng thống Hoa Kỳ đề cử thay thế cho Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner, để phục vụ trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barack Obama. Vào ngày 27 tháng 2 năm 2013, Thượng viện Hoa Kỳ đã phê chuẩn Lew cho vị trí này, tỷ lệ bỏ phiếu là 71-26, với sự ủng hộ của 20 nghị sĩ Đảng Cộng hòa. Sau kết quả bỏ phiếu ở Thượng viện, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama mô tả ông Jack Lew là người xứng đáng nhất trong thời điểm nền kinh tế Mỹ đang đối mặt với vô vàn khó khăn. "Ông ấy luôn bên cạnh tôi khi chúng tôi đối mặt với những thách thức cực lớn - ông Obama nhấn mạnh - Jack là bậc thầy về các vấn đề tài chính". | 1 | null |
Dòng chảy rút xa bờ (tiếng Anh: rip current), còn gọi là dòng chảy xa bờ, dòng rip hay dòng rút bờ, là một dòng nước mạnh chảy từ bờ hướng ra biển. Sóng đánh và đưa nước biển vào bờ, nhưng khi nước biển được liên tục đưa vào bờ thì chúng tập hợp lại thành một dòng đi ngược ra biển. Vận tốc trung bình của dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy rút xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic.
Dòng chảy rút xa bờ thường hẹp, có chiều ngang khoảng 1–3 m. Tuy nhiên, có khi dòng chảy này rộng đến cả chục mét. Trong một ngày chúng có thể di chuyển đến những vị trí khác nhau trong vùng đới sóng đổ. Hiện tượng này có thể xảy ra ở bất cứ vùng đới sóng đổ nào của đại dương, biển, và những hồ lớn.
Nguyên nhân.
Sóng đập vào bờ khiến nước rẽ sang hai bên, dòng nước này di chuyển dọc theo bờ cho đến khi tìm ra lối thoát ngược ra khơi. Thường thì dòng chảy rút xa bờ hoạt động trong phạm vi hẹp và xảy ra trong vùng nước có những dải cát, dưới cầu tàu, hoặc dọc những đê chắn sóng.
Nhiều người hiểu lầm rằng dòng chảy rút xa bờ đủ mạnh để kéo nạn nhân xuống dòng nước sâu, nhưng thật ra dòng chảy này chỉ mạnh khi hoạt động trên mặt nước. Chính vì dòng chảy mạnh trên mặt nước nên nó có khuynh hướng nhấn chìm những đợt sóng khiến người ta nghĩ rằng đây là vùng biển lặng và thu hút nhiều người đến tắm.
Đã có những thí nghiệm với mục đích dò ra dòng chảy rút xa bờ bằng cách đổ nước nhuộm màu vào đầu dòng chảy ngay tại bờ biển.
Nguy cơ.
Dòng chảy rút xa bờ là nguy cơ rình rập những ai thích tắm, bơi lội, hoặc lướt sóng ở biển và hồ. Chúng kéo họ ra xa bờ. Cái chết do đuối nước sẽ đến khi họ kiệt sức vì cố bơi ngược dòng chảy.
Dòng chảy rút xa bờ cũng gây nguy hiểm cho những người không biết bơi: một người đứng tắm ở mực nước ngang hông vẫn có thể bị kéo ra xa, bị chết đuối vì không biết bơi hoặc do không mang phao cứu sinh. Phụ thuộc vào địa hình, có những bãi biển thường có dòng chảy rút xa bờ, một vài bãi biển khét tiếng vì thường xuyên có dòng chảy loại này.
Tính trung bình trong một thập niên, tại Hoa Kỳ có 46 người mất mạng vì dòng chảy rút xa bờ. Chiếm 80% trường hợp cứu hộ bãi biển là có nguyên nhân liên quan đến dòng chảy rút xa bờ.
Theo MacMahan, Thornton, và Reniers, tại tiểu bang Florida, hiểm họa lớn nhất trong số những mối nguy hiểm tự nhiên xảy ra tại các bãi tắm là do dòng chảy rút xa bờ. Còn theo tư liệu của Luschine (1991) và Lascody (1998), con số tử vong do dòng chảy rút xa bờ ở tiểu bang này còn lớn hơn số người thiệt mạng trong những trường hợp hỏa hoạn, bão tố, hoặc những biến loạn khác.
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Úc, đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu về dòng chảy rút xa bờ nhằm tìm ra những phương pháp dự báo, cảnh báo ngắn hạn hoặc dài hạn, hướng dẫn cách đề phòng và xử lý tình huống. Ở những khu nghỉ dưỡng ven biển và tại các bãi tắm đều có những đội tuần tra, cứu hộ, các vọng gác, cờ hiệu, và nhiều tấm pa-nô, áp-phích cảnh báo.
Mặc dù chưa có thống kê chính thức số nạn nhân của dòng chảy rút xa bờ tại Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy tại nhiều bãi biển đều xuất hiện những dòng chảy rút xa bờ, trong đó có những bãi tắm thu hút đông người như Cửa Lò, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Nha Trang, Bắc Hòn Chồng, Bãi Dài (Cam Ranh), Vũng Tàu...
Ích lợi.
Dù vậy, những vận động viên lướt ván và bơi xuồng kayak thường sử dụng dòng chảy rút xa bờ để ra khơi mà không tốn nhiều sức.
Biện pháp.
Một khi bị kẹt vào dòng chảy rút xa bờ thì chớ nên cố bơi ngược dòng để vào bờ. Bạn sẽ bị kiệt sức và đuối nước. Chẳng ích gì khi gắng sức chống cự với dòng chảy vì nó luôn luôn thắng. Nên nhớ rằng dòng chảy không nhấn chìm bạn xuống nước, nó chỉ kéo bạn ra xa khỏi bờ, và nó chỉ hoạt động trong một phạm vi hẹp. Điều bạn cần làm là tìm cách thoát khỏi nó. Mau chóng nhận ra tình trạng của mình (đang bị kẹt trong dòng chảy rút xa bờ), giữ bình tĩnh, và bơi theo hướng song song với bờ cho đến khi bạn thoát khỏi dòng chảy. Tùy theo từng trường hợp, có thể bạn phải bơi hàng trăm mét hoặc hơn rồi mới có thể thoát khỏi nó và bắt đầu bơi vào bờ. Khi bơi vào bờ - để tránh khỏi bị rơi vào một dòng chảy rút xa bờ khác - cần nhắm vào những địa điểm có sóng đập vào bờ, cũng nên quan sát để nhận ra những vật thể trôi nổi trên mặt nước đang dạt dần vào bờ.
Nếu gặp phải một dòng chảy xiết, và không thể nào bơi thoát khỏi nó, bạn nên thư giãn, thả nổi trên mặt nước hoặc chỉ đứng nước để giữ sức. Dần dà thì dòng chảy rút xa bờ cũng suy yếu, lúc đó bạn bắt đầu bơi chéo góc để thoát khỏi nó mà vào bờ.
Những ai thích tắm biển cần phải hiểu rõ mức độ nguy hiểm của dòng chảy rút xa bờ, học biết cách nhận ra chúng, và biết cách thoát khỏi chúng, nếu có thể chỉ nên đến những bãi tắm có lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp. Nên học bơi, còn nếu đã biết bơi thì không nên bơi một mình. | 1 | null |
Jeong Gyeong-ho hay còn được viết là Jeong Kyung-ho (Hàn ngôn: 정경호, Hán-Việt: Trịnh Kính Hào) sinh ngày 31 tháng 8 năm 1983) tại Hàn Quốc, là nam diễn viên Hàn Quốc. Cha anh là đạo diễn Jeong Eul-young.
Jeong Gyeong-ho tốt nghiệp Đại học Chung-ang và khởi nghiệp từ năm 2004 qua phim 5 Stars.
Anh nhập ngũ ngày 30/11/2010 và thực hiện nghĩa vụ quân sự trong 21 tháng tại Uijeongbu, Gyeonggi. Ngày giải ngũ của anh là 4/9/2012.
Hiện nay anh đang hẹn hò với Choi Soo Young (SNSD), cặp đôi đã công khai vào 03/01/2014. | 1 | null |
Nước giải khát có ga (còn gọi là nước ngọt có ga hay nước ngọt) là một loại thức uống thường chứa nước cácbon dioxide bão hòa, chất làm ngọt, và thường có thêm hương liệu. Chất làm ngọt có thể là đường, xirô bắp giàu gluctose, chất làm ngọt thay thế (thường thấy trong các loại sản phẩm đề là "không đường").
Một số nước giải khát có ga khác còn chứa caffeine, phẩm màu, chất bảo quản và các thành phần khác.
Nước giải khát có ga thường gọi là nước ngọt vì nó thường có vị ngọt, không nên nhầm lẫn với nước ngọt ở các sông, suối, ao hồ (đối nghĩa với nước mặn ở các đại dương). Lượng nhỏ cồn có thể tồn tại trong các loại nước giải khát có ga, tuy nhiên, nồng độ cồn phải nhỏ hơn 0.5% tổng thể tích nếu đồ uống được coi là không cồn. nước trái cây, trà, và các thức uống không cồn khác vẫn về mặt lý thuyết xem là nước ngọt dù không phù hợp trong thực tiễn.
Mỹ là một trong trong số quốc gia duy nhất trên thế giới sử dụng HFCS (xirô bắp giàu gluctose) thay vì đường mía trong các sản phẩm Coca-Cola tại nước này. Vì vậy có thể nói, Coca-Cola là loại nước ngọt ngoại lệ tại nước này.
Các loại nước giải khát có ga nổi tiếng là cola, cherry, soda hương chanh, root beer, hương cam, hương nho, vanilla, soda gừng, hương trái cây, và nước chanh.
Nước giải khát có ga thường uống lạnh, thêm đá hoặc ở nhiệt độ phòng, rất hiếm khi uống nóng.
Việc uống quá nhiều nước ngọt có ga cũng có thể là nguyên nhân tăng cân không kiểm soát.
Ngoài đường, chúng còn chứa ba axit là citric, carbonic và photphoric nữa.
Những axit này đều có PH trung bình là 2,5, tức là mạnh hơn axit trong dạ dày một chút. Những axit này sẽ làm mòn men răng, khiến răng dễ bị vi khuẩn tấn công và dẫn đến sâu răng.
Nhà sản xuất.
Ở mỗi vùng trên thế giới đều có những nhà sản xuất nước ngọt có ga lớn. Tuy nhiên một vài công ty chính Bắc Mỹ là có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, như Pepsi và Coca Cola. Những nhà sản xuất lớn ở Bắc Mỹ ngoài hai cái tên vừa được nhắc đến bao gồm Cott, Tập đoàn Keurig Dr Pepper và Jones Soda. | 1 | null |
Ivan Janša (Janez Ivan Janša, sinh ngày 11 tháng 9 năm 1958) được rửa tội và biết đến nhiều hơn với tên Janez Janša là một chính khách Slovenia. Ông là Thủ tướng Slovenia kể từ tháng 2 năm 2012. Ông từng là Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2004-2008, và đã lãnh đạo Đảng Dân chủ Slovenia từ năm 1993. Janša là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 1990-1994, giữ chức vụ này trong chiến tranh độc lập Slovenia (tháng 6 - tháng 7 năm 1991). Ngày 28 tháng 2 năm 2013, Quốc hội Slovenia đã bỏ phiếu bất tín nhiệm lật đổ Thủ tướng Janez Janša vì những cáo buộc tham nhũng
Quốc hội Slovenia đã bỏ phiếu bãi nhiệm Thủ tướng Janez Jansa theo đường lối bảo thủ của nước này sau khi các đảng nhỏ rời khỏi liên minh cầm quyền của thủ tướng.
Tháng 1 năm 2013, ông Jansa bị cơ quan giám sát chống tham nhũng của Slovenia cáo buộc gian lận thuế. Ông Jansa cũng bị phản đối vì triển khai nhiều biện pháp chi tiêu khắc khổ để chống lại cuộc khủng hoảng tài chính quốc gia của Slovenia.
Quốc hội Slovenia đã đề nghị lãnh đạo đối lập Alenka Bratusek thành lập chính phủ mới. | 1 | null |
Vũ Xuân Chiêm (1923 – 2012) là một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Trung tướng. Ông từng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Chính trị – Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chính ủy Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn. Đại biểu Quốc hội các khóa IV, V và VI. Huân chương Độc lập hạng Nhất
Thân thế sự nghiệp.
Ông sinh tháng 2 năm 1923 tại xã Trung Đông, huyện Nam Ninh (nay là xã Trung Đông,huyện Trực Ninh), tỉnh Nam Định.
Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, năm 14 tuổi, ông đi làm thợ thủy tinh. | 1 | null |
Nguyễn Trung Hoài, tức Lê Linh (24 tháng 12 năm 1924 - 14 tháng 6 năm 1998) là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Chính ủy Sư đoàn 308, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 – Tây Nguyên, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn, Chính ủy Mặt trận 31, Chính ủy (đầu tiên) kiêm Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 2, Phó Viện trưởng Học viện Quân sự Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).
Thân thế và sự nghiệp.
Ông sinh ngày 24 tháng 12 năm 1924 tại xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Tháng 10 năm 1944, ông tham gia hoạt động Cách mạng trong Thanh niên Xung kích thành Hoàng Diệu. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tháng 8 năm 1945, Tiểu đội trưởng Tự vệ thành Hoàng Diệu, sau đó chuyển sang Vệ quốc đoàn.
Tháng 11 năm 1945, Chính trị viên Đại đội Sơn Tây. Tháng 12 năm 1945,
Từ tháng 5 năm 1946 đến năm 1949, ông lần lượt là Chính trị viên Tiểu đoàn, Trưởng ban Kiểm tra Đảng, Trưởng ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La, Trung đoàn 209 Sông Lô.
Tháng 8 năm 1950, Chính uỷ Trung đoàn 36, Trung đoàn 102 Sư đoàn 308.
Tháng 8 năm 1954, giảng viên trường Trung cao Quân sự.
Từ tháng 11 năm 1955 đến tháng 5 năm 1966, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 4, Chính uỷ Sư đoàn 308, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 3.
Tháng 6 năm 1966, Chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên.
Tháng 3 năm 1968, Chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc.
Tháng 9 năm 1970, Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh Đoàn 559.
Từ năm 1971 - 1974, Phó chính uỷ, Chính uỷ Mặt trận 31.
Tháng 4 năm 1974, Chính uỷ Quân đoàn 2, Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn
Tháng 8 năm 1979, ông được cử đi học tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 2 năm 1981, giữ chức Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng)
Năm 1992, ông được Nhà nước Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam cho nghỉ để chữa bệnh.
Ông qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1998 tại Hà Nội, hưởng thọ 74 tuổi. Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984). | 1 | null |
Hữu Hùng (chữ Hán: 有熊) là tên một quốc gia bộ lạc thời viễn cổ trong lịch sử Trung Quốc, địa bàn của nước này nằm ở khu vực huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay.
Những dấu ấn trong truyền thuyết dân gian.
Nước Hữu Hùng là một trong những chư hầu có kinh tế phồn thịnh nhất của họ Thần Nông, vị trí của nó có hai con sông chảy qua nên giao thông đường thủy rất thuận lợi. Không rõ cội nguồn của nước này từ đâu mà ra nhưng tên tuổi và tầm ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế là có 1 vị thủ lĩnh kiệt xuất đó là Công Tôn Hiên Viên, trước khi được chư hầu tôn làm thiên tử thì Công Tôn Hiên Viên từng lãnh đạo bộ lạc này một thời gian dài.
Bấy giờ vua cuối cùng của triều đại Thần Nông là Đế Du Võng nhu nhược và bại hoại khiến trăm họ ca thán, gặp lúc thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê là Xi Vưu không chịu phục đã nổi dậy chống đối gây ra chiến tranh tang tóc trong nhân gian. Công Tôn Hiên Viên thấy vậy lập tức phất cao ngọn cờ cần vương, các nước chư hầu đều ủng hộ ông tập hợp ở Phản Tuyền cùng nhau hợp sức lật đổ Thần Nông, lập liên quân Viêm Hoàng. Sau nhiều trận quyết đấu cam go cuối cùng liên quân đã đánh bại được Xi Vưu ở trận Trác Lộc nổi tiếng, Xi Vưu thua chạy bị bắn chết trong đám loạn quân còn Công Tôn Hiên Viên được chư hầu nhất trí bầu làm thủ lĩnh liên minh bộ lạc.
Lúc ấy đế Du Võng biết mình bất tài nên đành thoái vị nhượng lại ngôi vị thiên tử cho Công Tôn Hiên Viên, Hiên Viên chính thức đăng cơ thay thế Thần Nông thị cai trị thiên hạ. Sau khi Hiên Viên lên ngôi báu không rõ nước Hữu Hùng còn tiếp tục tồn tại hay không thì sử sách không hề nhắc đến nữa, Sử Ký Tư Mã Thiên - Ngũ đế bản kỷ chỉ thấy nói rằng Hoàng Đế sinh được 25 người con trai mà thôi. | 1 | null |
Kim Thiên (chữ Hán: 金天氏) là tên một quốc gia bộ lạc tồn tại vào thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế trong lịch sử Trung Quốc, trung tâm hoạt động của nước này nằm ở huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông ngày nay.
Những dấu ấn trong lịch sử.
Theo nhiều tài liệu sử sách ghi chép thì tên tuổi quốc gia này gắn liền với Thiếu Hạo, ông là con trai của Hiên Viên Hoàng Đế và bà thứ phi Nữ Tiết. Trước đây Thiếu Hạo cũng theo vua cha đánh dẹp Xi Vưu lập được đại công nên sau khi lên ngôi thiên tử thì cha ông phân phong cho ông làm vua nước Kim Thiên, quốc gia này thờ thần điểu nên các quan chức của bộ lạc đều lấy tên các loài chim. Quan cao nhất là Phượng Hoàng, quan quản lý binh quyền gọi là Cưu, quan về hình pháp gọi là Ưng..v..v..địa bàn quốc gia này có khí hậu thiên nhiên rất tốt nên kinh tế phát triển phồn thịnh một thời.
Sau khi Hiên Viên Hoàng Đế băng hà thì Thiếu Hạo được chọn là người kế vị, việc này Sử Ký không hề đề cập tới nhưng lại nói ở trong các sách như: Thượng Thư, Lễ Ký..v..v..Không rõ nước Thiên Kim lúc Thiếu Hạo đi rồi có ai thay thế ngôi vị hay không thì không thấy thư tịch nào nhắc đến nữa, chỉ biết rằng trong lịch sử tỉnh Sơn Đông từng xuất hiện một quốc gia như vậy từ hơn 4000 năm về trước. | 1 | null |
Cao Dương (chữ Hán: 高陽氏) là tên một quốc gia bộ lạc từng tồn tại ở khu vực huyện Kỷ tỉnh Hà Nam ngày nay, quốc gia này là một trong những chư hầu trong thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế.
Những ghi chép trong sử sách.
Vua đầu tiên của nước Cao Dương chính là Xương Ý con trai thứ của Hiên Viên Hoàng Đế, Xương Ý trước từng giúp vua cha đánh dẹp giặc Xi Vưu lập công to nên được cha ông cho kiến địa khai quốc. Theo Sử ký Tư Mã Thiên - Ngũ đế bản kỷ thì đế Chuyên Húc trước khi làm thiên tử đã có thời gian nối ngôi Xương Ý cai trị quốc gia này, theo các tư liệu lịch sử khác thì Chuyên Húc từ lúc lên 10 tuổi đã giúp chú mình là Thiếu Hạo cai trị đất nước. Thiếu Hạo thấy cháu mình có tài kinh bang tế thế nên rất quý mến và trọng dụng, Chuyên Húc làm vua nước này chăm lo cải cách phát triển kinh tế khiến nước ấy làm ăn phồn vinh. Ông là người thâm uyên cơ mưu trí tuệ và thông đạt nên làm việc cẩn thận quy củ đâu ra đấy khiến dân chúng rất thán phục, sau khi Thiếu Hạo băng hà thì Chuyên Húc được chọn làm người kế tục làm thiên tử.
Con trưởng Chuyên Húc là Xứng thay cha lãnh đạo nước Cao Dương, sau Xứng thì đến Quyển Chương rồi Trọng Lê nối tiếp nhau duy trì sự thế tập. Trọng Lê được đế Cốc triệu hồi về kinh giữ nhiệm vụ hỏa chính thì con cháu ông vẫn kế tục nước Cao Dương, còn nước Cao Dương tồn tại đến giai đoạn nào thì sử sách không thấy nhắc đến nó ở các đời sau nữa.
Các đời quân chủ nước Cao Dương: | 1 | null |
Vũ Cao (sinh 1927), tên thật là Vũ Đức Cao, là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ tổng Tham mưu; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long).
Thân thế và sự nghiệp.
Ông sinh tháng 6 năm 1927 tại xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1945, ông tham gia Việt Minh, giành chính quyền ở huyện Giao Thủy, Xuân Trường, Lạc Quần, Nam Định.
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946, ông là Chiến sĩ Đại đội 3 Chiến khu Lạc Quần.
Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 6 năm 1948, ông là Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng bảo vệ Kho Quân giới, thuộc Trung đoàn 19, 34.
Từ tháng 7 năm 1948 đến tháng 8 năm 1949, ông là Chính trị viên Đại đội, bảo vệ Công binh xưởng, Kho Quân giới Liên khu 3.
Từ tháng 9 năm 1949 đến tháng 5 năm 1951, ông là Đại đội trưởng Đại đội 18, Đại đội 64, Tiểu đoàn 632, Trung đoàn 34.
Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 5 năm 1955, ông là Phó Ban Tác chiến Trung đoàn 45, Tiểu đoàn phó Trung đoàn 45.
Tháng 6 năm 1955 đến tháng 11 năm 1958, ông là Cán bộ khung Trường Sĩ quan Pháo Binh (400).
Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 9 năm 1964, ông là Trợ lý Tham mưu Bộ Tư lệnh Pháo binh 351.
Từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 9 năm 1966, ông là Phó phòng Nghiên cứu khoa học Bộ Tư lệnh Pháo binh 351, Tham mưu phó Lữ đoàn 364.
Tháng 10 năm 1966 đến tháng 7 năm 1971, ông là Trợ lý Pháo binh Quân khu 4, Trung đoàn phó Trung đoàn 271, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 166 Quân khu 4.
Từ tháng 8 năm 1971 đến tháng 11 năm 1972, ông là Phó phòng và Trưởng phòng Pháo binh Quân khu 4.
Từ tháng 11 năm 1972 đến tháng 2 năm 1979, ông là Phó Sư đoàn 341 Quân đoàn 4, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 341, Quân đoàn 4.
Từ tháng 3 năm 1979 đến tháng 5 năm 1985, ông là Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 4
Từ tháng 5 năm 1985 đến tháng 7 năm 1991, ông là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.
Từ tháng 9 năm 1991 đến tháng 10 năm 1997, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.
Tháng 10 năm 1997, ông nghỉ hưu.
Thiếu tướng (12.1984), Trung tướng (06.1992).
Khen thưởng.
Huân chương Độc lập hạng Nhì
Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba)
Huân chương Chiến thắng hạng Nhì
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
Huân chương Chiến công hạng Ba
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)
Huân chương Hữu nghị Campuchia hạng Nhất
Huy chương Quân kỳ quyết thắng
Huy hiệu Vì thế hệ trẻ
Huy hiệu vì nghĩa vụ Quốc tế
Huy hiệu 50 tuổi Đảng | 1 | null |
Paris japonica là một loài thực vật trong họ Melanthiaceae. Đây là loài bản địa các khu vực cận núi cao Nhật Bản. Đây là loài cây lâu năm sinh trưởng chậm và nở hoa vào tháng 7. Loài cây này thích các nơi râm, mát và ẩm. Loài này có bộ gen lớn nhất của bất kỳ thực vật nào chưa qua khảo nghiệm, dài khoảng 150 tỷ cặp cơ sở. Nó có 40 nhiễm sắc thể. | 1 | null |
Sân bay Các bãi cạn Frigate Pháp là một sân bay tư trên đảo Tern thuộc các bãi cạn Frigate Pháp, một rạn san hô vòng thuộc quần đảo Tây Bắc Hawaii, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Phi trường này là tài sản của Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ.
Mặc dù nhiều sân bay tại Mỹ sử dụng mã định danh gồm ba ký tự giống nhau cho cả Cơ quan Hàng không dân dụng Liên bang (FAA) và Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) nhưng sân bay này được FAA cấp mã định danh là HFS trong khi IATA lại cấp mã này cho sân bay Hagfors ở Hagfors, Thụy Điển..
Cơ sở vật chất.
Sân bay Các bãi cạn Frigate Pháp có một đường băng hướng 06/24 với bề mặt san hô có kích thước 3.000 x 200 foot (914 x 61 m) và cao độ 6 foot (2 m) so với mực nước biển. Đường băng chỉ phục vụ khi có tình huống khẩn cấp hay có sự cho phép từ trước của Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ. | 1 | null |
Cao Tân (chữ Hán: 高辛氏) là tên một quốc gia bộ lạc thời viễn cổ trong lịch sử Trung Quốc, vị trí của nước này nằm trên địa bàn phía tây huyện Hào Ấp tỉnh Hà Nam ngày nay.
Những dấu ấn trong lịch sử.
Sau khi đánh bại nước Cửu Lê giết chết Xi Vưu thì Hoàng Đế được đế Du Võng thiện nhượng làm thiên tử, ông phong cho con trai trưởng là Huyền Hiêu làm vua nước Cao Tân. Huyền Hiêu chết truyền ngôi cho Kiểu Cực, Kiểu Cực chết thì chuyển đến con là Cơ Tuấn. Giai đoạn Cơ Tuấn tại vị là thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của nước Cao Tân, ông đã ban bố ân trạch rất rộng rãi cho dân chúng và làm lợi cho vạn vật mà không hề nghĩ đến lợi ích riêng của cá nhân mình nên được thiên hạ hết sức hoan nghênh. Sắc mặt của ông hiền hòa, phẩm chất cao thượng, cử chỉ đúng mực, ăn mặc giản dị nên chú họ ông là Chuyên Húc quý trọng quyết định trao ngai vàng cho ông.
Sau khi Cơ Tuấn lên ngôi thiên tử thì lấy hiệu là đế Khốc, còn về phần nước Cao Tân thì các thế hệ sau không nhắc đến nước này lần nào nữa. Theo nhiều tư liệu lịch sử thì đế Khốc có sáu người con trai: Hậu Tắc được phong ở đất Thai, Tử Tiết được phân đất Thương, đế Chí nối ngôi cha, Y Kỳ Phòng Huân được ban đất Đào. Còn 2 người con khác là Át Bá và Thực Trầm vì hay cãi chửi nhau mà bị vua cha bắt đi đày mỗi người một nơi, vậy nước Cao Tân sau khi Cơ Tuấn làm thiên tử do ai kế tục và nó bị diệt vong thời gian nào vấn đề này cần phải có thời gian để các nhà sử học xác định mới có thể kết luận được.
Các vua Cao Tân: | 1 | null |
Đào (chữ Hán: 陶) là tên một quốc gia bộ lạc tồn tại ở thời viễn cổ trong lịch sử Trung Quốc, địa bàn cư trú của nước này nằm ở khu vực thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay.
Những dấu ấn trong lịch sử.
Không rõ nước Đào hình thành từ bao giờ và diệt vong khi nào, nhưng sử sách còn phải nhắc mãi đến quốc gia này vì có một thời gian ngắn đế Nghiêu Y Kỳ Phòng Huân đã từng trị vì quốc gia nhỏ bé này. Lúc bấy giờ Phòng Huân mới có 16 tuổi còn rất trẻ, nhưng ông đã giúp cha mình là đế Cốc Cao Tân thị thực hiện một số cải cách trong triều đình lập công to nên được thụ phong nước Đào. Phòng Huân là người giàu có nhưng không kiêu căng, hiển quý nhưng không lười biếng. Phòng Huân thường đội mũ vàng mặc áo đen ngồi xe đỏ do ngựa trắng kéo rất giản dị, thần dân nước Đào do ông quản lý yên ổn thịnh vượng thái bình thịnh trị.
Phòng Huân làm vua nước Đào được vài năm thì đế Khốc qua đời, anh thứ ba của ông là đế Chí kế vị đã cải phong sang làm vua nước Đường. Tình hình nước Đào từ sau đó chẳng biết duy trì được bao lâu nữa, chỉ biết rằng sau này dân chúng lấy luôn tên 2 đất phong của ông mà tôn xưng là Đào Đường thị. | 1 | null |
Hữu Cách (chữ Hán: 有鬲氏) là tên một quốc gia bộ lạc tồn tại vào thời kỳ nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, tổ tiên của nước này có công giúp Hạ Vũ trị thủy hơn nữa lại là người cùng họ nên sau khi lên ngôi vua Vũ đã phong làm chư hầu.
Suốt chiều dài lịch sử nước Hữu Cách chỉ được nhắc đến một lần duy nhất vào thời kỳ vô vương chi thế và Thiếu Khang trung hưng, lúc bấy giờ Hạ Tướng bị Hàn Trác đánh bại phải tự vẫn mà chết. Các trung thần nhà Hạ phò tá Hậu Mân trốn về nước Hữu Nhung, một đại thần khác là Thần Mi lại chạy theo hướng khác là nước Hữu Cách. Tại đây Thần Mi đã chiêu tập lực lượng của nước sở tại và tích cực rèn luyện quân đội để chờ thời cơ khôi phục vương triều, sau khi nghe tin Thiếu Khang còn sống và đang ẩn mình ở nước Hữu Ngu thì Thần Mi đã sai người liên lạc với Thiếu Khang để bàn tính đại sự. Thiếu Khang sai con thứ là Vô Dư sang nước Hữu Cách để hoạch định chiến lược, hai người đã bàn bạc thống nhất về chủ chương và đường lối chính sách nhất quán rất ăn ý. Đầu tiên họ ra trận giả thua để cho Hàn Kiêu và Hàn Ế chủ quan khinh địch, sau đó họ mở cuộc tập kích bất ngờ đánh từ hai phía khiến cho quân nước Quá và Qua trở tay không kịp bỏ chạy toán loạn. Cuối cùng họ đã thành công và Thiếu Khang lên ngôi thiên tử mở ra thời kỳ thịnh vượng của nhà Hạ, còn về nước Hữu Cách thì sử sách không thấy nhắc đến nữa nên chẳng biết nước ấy diệt vong thời điểm nào. | 1 | null |
Lưỡi hái là 1 công cụ rất phổ biến được dùng trong nông nghiệp. Lưỡi hái thường làm bằng chất liệu như sắt và có chuôi cầm bằng gỗ. Lưỡi hái cũng có thể dùng như vũ khí. Theo quan niệm xưa, lưỡi hái Thần Chết dùng để gặt lấy linh hồn của người đã chết và đưa họ về địa ngục.
Lưỡi hái là một công cụ cầm tay nông nghiệp để cắt cỏ hoặc thu hoạch cây trồng. Trong lịch sử, nó được sử dụng để cắt hoặc gặt hái các loại ngũ cốc ăn được, trước quá trình đập lúa. Lưỡi hái đã được thay thế phần lớn bằng máy kéo và sau đó là xe ngựa, nhưng vẫn được sử dụng ở một số khu vực ở châu Âu và châu Á. Máy doa là máy có cánh tự động hóa việc cắt lưỡi hái, và đôi khi là các bước tiếp theo trong việc chuẩn bị ngũ cốc hoặc rơm hoặc cỏ khô.
Một lưỡi hái bao gồm một trục dài khoảng 180 cm, theo truyền thống được làm bằng gỗ nhưng hiện nay đôi khi là kim loại. Các chốt đơn giản là thẳng với tay cầm bù đắp, một số khác có đường cong chữ "C" hoặc hơi uốn cong theo ba chiều để đặt tay cầm theo cấu hình công thái học nhưng gần với trục. Lưới hái có một hoặc hai tay cầm ngắn ở góc vuông với nó, thường là một tay cầm ở gần đầu trên và luôn có một tay cầm khác gần ở giữa. Tay cầm thường có thể điều chỉnh để phù hợp với người sử dụng. Một lưỡi thép cong, dài từ 60 đến 90 cm được gắn ở đầu chốt dưới ở góc 90 ° hoặc thấp hơn. Lưỡi hái hầu như luôn có phần lưỡi nhô ra từ phía bên trái của lưỡi hái khi sử dụng, cạnh hướng về phía máy cắt; Lưỡi hái thuận tay trái cũng được chế tạo nhưng không thể sử dụng cùng lúc với lưỡi hái thuận tay phải vì máy cắt cỏ thuận tay trái sẽ cắt theo hướng ngược lại.
Sử dụng.
Trong quá khứ, lưỡi hái thường được dùng trong việc cắt cỏ, phát cây rừng, tuy nhiên đã không còn phổ biến vì sự xuất hiện bởi các dụng cụ mới hiện đại, và tiện lợi hơn như máy cắt cỏ, cước cắt cỏ.. | 1 | null |
Bùi Đức Tạm (1923 - 2016) - một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật BQP. Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 559 (Trường Sơn). Huân chương Độc lập hạng Nhì.
Thân thế sự nghiệp.
• Ông sinh ngày 10 tháng 10 năm 1923, tại xã Xuân Bảng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình địa chủ dân tộc.
• Từ tháng 2 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên chính trị Ủy ban Khởi nghĩa giành chính quyền huyện Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
• Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1947: ông tham gia cách mạng, rồi nhập ngũ, Chính trị viên Đội Trinh sát Lạc Quần; Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 44 Liên khu 3.
• Vào Đảng 28 tháng 2 năm 1946.
• Tháng 1 năm 1948, ông là Chính trị viên phó Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 44.
• Tháng 3 năm 1949, Phó ban Chính trị, kiêm Trưởng tiểu ban Cán bộ Trung đoàn 44.
• Tháng 12 năm 1950, Trưởng ban Chính trị Trung đoàn 64 (Đoàn Đồng Bằng) Sư đoàn 320.
• Tháng 3 năm 1952, ông là Phó Chính uỷ Trung đoàn 64, trực tiếp cùng tiểu đoàn 738 chiến đấu phản kích, đẩy lùi cuộc hành binh Amphibie (Ăm-phi-bi) do tướng Béc-su chỉ huy càn quyét vào Lý Nhân và Bình Lục, Hà Nam (tháng 3 năm 1952).
• 10/1953, Phó chính ủy, Chính ủy Phòng Cung cấp Sư đoàn 320, Bí thư Đảng ủy Phòng.
• Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 5 năm 1955, ông là Chính uỷ Trung đoàn 42, Quân khu Hữu Ngạn, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn.
• 6/1955, Chính uỷ Trung đoàn 248, Quân khu Đông Bắc, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn;
• 7/1958, ông là Chính uỷ Trung đoàn 53, Liên khu 3, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn.
• 9/1959, Phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320;
• 7/1963- 8/1964, học lớp Trung cao chính trị.
• Từ 8/1964 đến 6/1966, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320.
• 7/1966, Cục trưởng Cục Chính trị Đoàn 559.
• 3/1970, Phó chính uỷ Đoàn 559, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Đoàn 559, kiêm Chính uỷ Đoàn 470;
• 2/1973, Chính uỷ Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng uỷ Cục Vận tải;
• 10/1974, học tại học viện Hậu cần Lêningrát - Liên Xô.
• Từ tháng 6 năm 1976, Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ Quân sự Trung ương
• Tháng 9 năm 1989, ông nghỉ hưu và mất ngày 20/7/2016 tại Hà Nội
• Thiếu tướng (năm 1983). | 1 | null |
Đỉnh nhọn La Perouse (tiếng Anh: "La Perouse Pinnacle") là một hòn đá núi lửa nằm ở khoảng giữa các bãi cạn Frigate Pháp thuộc quần đảo Tây Bắc Hawaii, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Hòn đá này được đặt tên theo nhà thám hiểm người Pháp Jean-François de La Pérouse, vị chỉ huy của hai tàu frigate đã "tìm ra" rạn san hô vòng Frigate Pháp vào ngày 6 tháng 11 năm 1786.
Đỉnh nhọn La Perouse nằm cách đảo Tern khoảng 12 km về phía đông nam, được cấu tạo từ đá bazan tolêit và là phần còn lại của một núi lửa đã chìm xuống đại dương. Khối đá có chiều dài khoảng 55 m (60 yd), chiều rộng khoảng 18 m (20 yd) và cao khoảng 37 m (122 ft). Có thể quan sát được đỉnh nhọn La Perouse từ khoảng cách ít nhất là 8 hải lý. Trông từ xa, khối đá này trông như một con thuyền hai buồm. Về phía tây của đỉnh nhọn La Perouse còn có một hòn đá nhỏ khác (xem hình). | 1 | null |
Đảo Tern (tiếng Anh: "Tern Island") là một đảo san hô nhỏ nằm trong Các bãi cạn Frigate Pháp thuộc quần đảo Tây Bắc Hawaii, cách đảo Oahu xấp xỉ 490 dặm về phía tây tây bắc. Đảo này có diện tích khoảng 105.276 m² (26.014 mẫu Anh). Đảo là địa điểm sinh sản của rất nhiều chim biển cùng như đồi mồi dứa và hải cẩu thầy tu Hawaii. Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ duy trì đảo này như một trạm nghiên cứu thực địa trong Khu bảo vệ hải dương quốc gia Papahānaumokuākea.
Lịch sử.
Tháng 8 năm 1942, Đại đội B thuộc Tiểu đoàn Công binh Hải quân số 5 của Hoa Kỳ tiến hành kéo dài đảo từ thành , đồng thời chuẩn hoá chiều rộng đảo ở mức . Trạm hàng không hải quân này có chức năng chính là sân đỗ khẩn cấp cho các phi cơ bay giữa Hawaii và rạn san hô vòng Midway. Hiện thời tại đây vẫn còn di tích đê biển, đường băng và một số ngôi nhà xây từ giai đoạn lịch sử đó.
Sân bay trên đảo được điều hành bởi Hải quân Hoa Kỳ từ năm 1942 đến năm 1946. Sau khi hải quân rời đi, ngư dân làm việc cho Công ty Đánh cá Bờ biển ("Seaside Fishing Company") và Công ty Ngư nghiệp Hawaii-Hoa Kỳ ("Hawaiian-American Fisheries Company") sử dụng cảng và đường băng tại đây cho mục đích đánh bắt cá và rùa biển. Từ năm 1952 đến 1979, đảo Tern là trạm hoạt động của lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ đã tiến hành các hoạt động nâng cấp cơ sở hạ tầng trên đảo Tern như dọn dẹp rác thải, cải tiến các bồn chứa nước, lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời và máy lọc nước thẩm thấu ngược. | 1 | null |
Châm Tầm (chữ Hán: 斟鄩) là tên một trong những đô thành của nhà Hạ thời kỳ các vua Thái Khang, Hạ Tướng và Hạ Kiệt, ngày nay thuộc địa phận tỉnh Hà Nam.
Theo sách Vương triều và hoàng đế Trung Quốc do Trương Tự Văn biên soạn thì người ta thống kê được rằng nhà Hạ có tới 9 lần dời đô, trong 9 lần ấy thì 3 lần chuyển đến Châm Tầm và có một điều rất lạ là cả ba lần ở Châm Tầm nhà Hạ đều thảm bại trầm trọng: | 1 | null |
Trận Lundby là trận đánh cuối cùng của cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ hai giữa Đồng minh Áo - Phổ và Đan Mạch, đã diễn ra vào ngày 3 tháng 7 năm 1864, tại Lundby (trên bán đảo Jutland của Đan Mạch). Trong trận giao chiến này, một lực lượng nhỏ đến từ 2 đại đội của quân đội Phổ dưới quyền chỉ huy của Đại úy von Schlutterbach đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc tấn công của một đại đội Đan Mạch (với quân số đông đảo hơn) dưới quyền chỉ huy của Thượng tá H.C.J. Beck. Trên thực tế, đây chỉ là một trận đánh lẻ tẻ tuy nhiên nó đã gây chú ý trên khắp châu Âu vì thể hiện ưu thế vượt trội của súng trường nạp hậu "Dreyse" của các lực lượng Phổ so với súng trường nạp tiền của quân đội Đan Mạch: thương vong của quân Đan Mạch trong trận chiến này lớn hơn rất nhiều so với thiệt hại của phía Phổ.
Kể từ tháng 4 năm 1864, Đan Mạch thật sự đã thua trận trong Chiến tranh Schleswig lần thứ hai, và Thượng tá Beck đã được giao nhiệm vụ yểm trợ cuộc triệt thoái của quân đội Đan Mạch về phía đông nam. Vào ngày 1 tháng 7 năm 1864, khi 3 đội tuần tiễu nhỏ của Phổ tiến về Aalborg – gần nơi đóng trại của Beck – viên chỉ huy quân Đan Mạch quyết định tấn công. Đến ngày 2 tháng 7, khi nghe tin một đội tuần tiễu của Đan Mạch đã đụng độ với quân Phổ, Beck ra lệnh cho một lực lượng thuộc Đại đội số 5 (Trung đoàn Bộ binh số 1) cùng với bản thân ông kéo vào Aalborg phía nam. Hôm sau, ông ta hai lần dẫn quân vào Aalborg và nhận thấy rằng ông đã không thể bắt kịp đối phương. Tại làng Lundby, không xa Aalborg, một trong 3 đội hình của Phổ do Thiếu tá Krug von Nidda chỉ huy đã dừng chân vào buổi sáng ngày 3 tháng 7. Không nghĩ là Beck đang "săn lùng" ông, Krug dẫn phần lớn bộ binh của ông về hướng bắc. Ông chỉ để lại tại Lundby Đại úy von Schlutterbach – người chỉ huy một đội quân nhỏ với phần lớn binh lính thuộc Đại đội số 1 của ông (phần còn lại thuộc Đại đội số 2 của Thiếu úy von Wissell II).
Trong thời gian này, Beck mang quân đến Gunderup – cách Lundby không xa về phía nam – và được biết là quân Phổ đã đi qua đây. Trước tình hình đó, Beck quyết định đánh thọc về Lundby. Quân Phổ – vốn có tinh thần kỷ cương cao độ, và phòng ngự ở đằng sau bức tường đá, đã trở nên vô cùng hoảng loạn khi bị quân Đan Mạch tấn công. Nhưng rồi, tình hình không kéo dài lâu. Tấn công trên khoảng 600 m với lữơi lê cắm ở đầu súng, binh lính của Đan Mạch bị bắn hạ trong 3 loạt đạn nhanh như chớp của quân đội Phổ. Cuộc tấn công của quân Đan Mạch đã bị chặn đứng cách bức tường thành 30 m về phía trước. Khi ấy, thiệt hại của quân Đan Mạch đã lên tới 3/4 binh lực của Đại đội số 5. Quân Đan Mạch được ghi nhận là đã chiến đấu dũng cảm trong đợt tấn công đầy thảm họa này, song đến cả Beck cũng phải nhận thấy là cuộc tiến công đã thảm bại. Ông ta xuống lệnh cho tàn binh của mình triệt thoái về Kongehøf, và Schlutterbach không truy kích. Về phía Phổ, chỉ có 3 binh sĩ bị thương nhẹ trong trận đánh này, dù đây là một cuộc tàn sát đối với quân Đan Mạch. | 1 | null |
Cửu Lê (chữ Hán: 九黎) là tên một chi nhánh của đại chủng Bách Việt thời cổ đại trong lịch sử Việt Nam, địa bàn của chi nhánh này nằm ở khu vực huyện Trác Lộc tỉnh Sơn Tây ngày nay.
Những ghi chép trong sử sách.
Hoa tộc lúc đó dưới quyền của lãnh tụ Hiên Viên, còn dân Cửu Lê thì dưới quyền thống lãnh của Xuy Vưu mà sử Tàu gọi là “Xuy Vưu cổ thiên tử, Xuy Vưu bá thiên hạ”. Như thế, sử Tàu cũng công nhận là dân Cửu Lê sống ở đó đã lâu đời, tổ chức thành nước có vua, ông vua đó Tàu gọi là Xuy Vưu với nghĩa miệt thị.
"(Trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp thì cho Xuy Vưu là quân thần của Đế Lai : “Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến truyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ, Đế Lai bèn khiến Xuy Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ, thấy Long Quân dã về Thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu Cơ cùng bộ chúng thị thiếp ở lại hành cung.” bản dịch của Lê Hữu Mục,xb, Huế 1960, tr.43 )."
Hiên Viên kéo nhóm dân du mục hung dữ, tàn bạo đánh úp Xuy Vưu tại Trác Lộc, một địa điểm trên bờ sông Hoàng Hà, phía bắc tỉnh Hà Nam. Dân Cửu Lê, một chi nhánh của đại tộc Bách Việt, là dân vốn sống bằng nghề nông nghiệp, hiền lành, ít có chiến tranh, không phòng bị gặp phải thứ dân du mục quen nghề chém giết nên bị thua. Xuy Vưu bị giết, dân bị tàn sát, bị bắt làm nô lệ, một số chạy trốn.
Trong số bị bắt, đông nhất hẳn là đàn bà. Giống dân du mục lang thang đó đây theo bầy gia súc rất cần đàn bà nên khi đánh một bộ lạc nào, việc đầu tiên là tàn sát đàn ông và bắt đàn bà làm vợ, làm nô lệ. Ðám Hoa tộc của Hiên Viên cũng không ngoài thông lệ đó. Họ bắt đàn bà, giết người đau yếu, bắt người khỏe mạnh làm nô lệ. Nhưng dân Cửu Lê sau khi thua trận, những người khỏe mạnh đã bỏ chạy trốn. Họ chạy xuống miền nam sông Hoàng Hà để nương náu với đồng tộc của họ đang sinh sống ở đó. Họ cũng chạy ra biển, vượt biển, có lẽ là nơi trước đó họ đã đổ bộ vào đất liền. Họ chạy qua Ðại Hàn, Nhật Bản, Ðài Loan, Hải Nam, và Bắc Việt. Nhóm tới Bắc Việt, nhập vào dân Việt đã sống ở đó và đã lập quốc gọi là Văn Lang. | 1 | null |
A Lạp Sơn Khẩu () là một thành phố cấp phó địa khu vùng biên giới của châu tự trị dân tộc Mông Cổ Bortala (Bác Nhĩ Tháp Lạp), Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc. Thành phố có cửa khẩu đường sắt và đường bộ giữa Trung Quốc và Kazakhstan, là một phần của Cầu đại lục Á-Âu. Thành phố được đặt tên theo đèo Dzungaria (A Lạp Sơn khẩu), một đèo kết nối hai quốc gia qua dãy núi Alatau (A Lạp Sáo sơn). Phía tây của đèo, cửa khẩu bên phía Kazakhstan là Dostyk. A Lạp Sơn Khẩu cách Bác Lạc (Bortala) 73 km, cách Ürümqi 460 km, cách Almaty 580 km.
A Lạp Sơn Khẩu là một trong các cửa khẩu quốc gia cấp 1 của Trung Quốc. Khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua A Lạp Sơn Khẩu chiếm 90% tổng số hàng hóa xuất nhập khẩu của Tân Cương. Từ năm 2010, A Lạp Sơn Khẩu đã vượt qua Mãn Châu Lý ở Nội Mông để trở thành cửa khẩu trên bộ bận rộn nhất tại Trung Quốc.
A Lạp Sơn Khẩu nguyên là một trấn cửa khẩu Khu quản lý hành chính cửa khẩu cấp hương nằm dưới quyền quản lý của thành phố Bác Lạc, A Lạp Sơn Khẩu được nâng lên thành một phó địa cấp thị vào tháng 12 năm 2012. Thành phố quản lý một lãnh thổ rộng , bao gồm diện tích nhà cửa, và được phân thành hai nhai đạo: A Lạp Sáo (阿拉套街道) và Nghệ Bỉ Hồ (艾比湖街道). Thành phố có 10.000 cư dân thường trú và 30.000 cư dân lưu động.
Giao thông.
Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đạt được thỏa thuận sẽ kết nối CHXHCNXV Kazakhstan với miền Tây Trung Quốc bằng đường sắt vào năm 1954. Bên phía Liên Xô, đường sắt đã kéo dài đến thị trấn biên giới Druzhba (Dostyk) vào năm 1959. Tuy nhiên, bên phía Trung Quốc, tuyến đường sắt Lan-Tân mới chỉ được xây dựng về phía tây đến Urumqi vào năm 1962. Do chia rẽ Trung-Xô, việc kết nối đường sắt giữa hai bên phải chờ đến ngày 12 tháng 9 năm 1990 mới hoàn thành. Cửa khẩu xa lộ đã được mở cửa vào tháng 12 năm 1995.
Các hệ thống đường sắt kết nối hai quốc gia sử dụng khổ khác nhau (Trung Quốc dùng khổ tiêu chuẩn rộng , song bên phía Kazakhstan dùng khổ Nga rộng ). Có đề xuất về một tuyến đường sắt xuyên lục địa khổ tiêu chuẩn kết nối châu Âu và Trung Quốc để tránh hai lần lệch khổ. Kế hoạch này đã được ký kết vào năm 2004.
Ngày 10 tháng 7 năm 2010, Sân bay Bác Lạc A Lạp Sơn Khẩu đã mở cửa với các chuyến bay định kỳ đến Ürümqi. | 1 | null |
Chiến dịch tấn công Moravská–Ostrava (đặt theo tên cũ của thành phố Ostrava) diễn ra từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 5 tháng 5 năm 1945 là một chiến dịch quân sự lớn do Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tấn công vào Cụm tập đoàn quân Trung tâm của quân đội Đức Quốc xã trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Các cuộc tấn công của quân đội Liên Xô được triển khai ở vùng trung Tiệp Khắc với mục tiêu chọc thủng các phòng tuyến của quân Đức tại khu vực biên giới Slovakia-Séc, đánh vào miền Bắc Morava, tiến sâu vào nội địa Tiệp Khắc đến vùng phụ cận Praha. Tham gia chiến dịch này là các mũi tấn công chủ yếu của Phương diện quân Ukraina 4, được tăng cường thêm quân của Cụm tập đoàn quan Ukraina 1. Khi thực hiện chiến dịch, quân đội Liên Xô còn phải chú ý bảo vệ và chiếm giữ nguyên vẹn trung tâm công nghiệp Ostrava, một vùng kinh tế quan trọng giúp tái thiết đất nước Tiệp Khắc sau chiến tranh.
Chiến dịch bị kéo dài thành ba giai đoạn:
12 giờ trưa 5 tháng 5 năm 1945, tại Praha nổ ra cuộc khởi nghĩa chống lại quân đội Đức Quốc xã do những người yêu nước Tiệp Khắc tiến hành. Trong khi đó, Quân đội Liên Xô vẫn còn cách thành phố này từ 70 đến 100 km. Từ ngày 6 tháng 5 năm 1945, Phương diện quân Ukraina 4 phối hợp Phương diện quân Ukraina 1 mở Chiến dịch Praha giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Tiệp Khắc, bao vây và bức hàng phần lớn Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) ở phía Đông Praha.
Bối cảnh.
Trong giai đoạn tháng 3 năm 1945, các Phương diện quân Ukraina 1, 2, 3, 4 và Phương diện quân Byelorussia của quân đội Liên Xô đã kế tiếp nhau mở các cuộc tấn công lớn nhằm phát huy chiến quả và củng cố thế đứng của Hồng quân sau thắng lợi tại Chiến dịch Wisla-Oder. Vào thời gian này, Phương diện quân Ukraina 1 vừa mới hoàn thành xong việc giải phóng vùng công nghiệp tại Hạ Silesia và đang khẩn trương chuẩn bị thanh toán nốt các khối quân Đức đóng tại vùng Thượng Silesia. Nhằm mục đích hỗ trợ cho hoạt động của Phương diện quân Ukraina 1, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Liên Xô (STAVKA) đã yêu cầu Phương diện quân Ukraina 4 - lúc này đang bố trí tại sườn trái của Phương diện quân Ukraina 1 tại Tiệp Khắc - tổ chức một đợt tấn công nhằm vào quân Đức tại khu vực này.
Mục tiêu của Phương diện quân Ukraina 4 chính là tiêu diệt khối quân Đức đóng tại khu vực Moravská-Ostrava, một vùng công nghiệp có vai trò quan trọng đối với đất nước Tiệp Khắc. Với nhiều thành phố và điểm dân cư có vai trò là các trung tâm công nghiệp lớn về các ngành luyện kim, hóa chất, xây dựng, hóa dầu... cùng với trữ lượng than và sắt đồi dào, Moravská-Ostrava là một trong những nguồn cung cấp lớn về phương tiện chiến tranh cho bộ máy quân sự phát xít Đức. Một khu vực như vậy rõ ràng có tầm quan trọng cực lớn đối với sự sống còn của chế độ phát xít và cả hai bên Liên Xô và Đức đều hiểu rõ điều đó.
Khu vực tác chiến là một vùng núi già với các đỉnh tròn đặc trưng, độ cao từ 200 đến 425 m. Tuy thấp hơn dãy Carpath chính ở phía Đông nhưng vùng này lại có nhiều khối núi trải rộng từ 2 km ở phía Đông đến 10–15 km ở phía Tây. Moravská-Ostrava nằm trong một thung lũng lớn, nơi hợp lưu của ba con sông Odra, Opava và Ostravice (các chi lưu hợp thành sông Oder). Thung lũng này được bao bọc bởi các dãy núi Hạ Ecenik ở phía Tây, Oder ở phía Tây Nam, Morava-Silesia ở phía Nam và Tây Nam. Hai lối đi thuận lợi vào thung lũng này nằm ở phía Bắc qua đường đứt gãy sông Oder và phía Đông qua vùng đất trên thượng nguồn sông Wisla. Đây là vùng đất có tiềm năng cho phòng thủ trên hướng Đông do các dãy núi đều chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và nhiều con sông thượng nguồn cũng chảy theo hướng Bắc - Nam qua các khe sâu và rừng rậm ôn đới. Trên đường tấn công, Phương diện quân Ukraina 4 phải vượt qua các dãy núi Slovacki Beskid, Tiểu Fatra, Hạ Tatra, Javorník và Morava-Silesia nằm vắt ngang đường tiến công từ phía Đông đến Moravská-Ostrava. Thành phố Moravská-Ostrava có lịch sử từ thế kỷ thứ 13. Đến thế kỷ thứ 16, nghề thủ công và chế biến nông sản ở đây đã khá phát triển. Kể từ năm 1753, khi phát hiện ra các mỏ than đến năm 1919, Moravská-Ostrava trở thành một khu công nghiệp than-thép quan trọng nhất của nền quân chủ Habsburg và Đế quốc Áo-Hung. Sau khi quân đội Đức Quốc xã thôn tính Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939, Moravská-Ostrava trở thành khu công nghiệp phục vụ cho Đế chế thứ ba.
Ngoài ra, trong vùng Morava còn có nhiều thành phố quan trọng và một hệ thống giao thông khá phát triển, trong đó có con đường sắt và đường bộ song song từ Racibórz qua Fryštát rồi chạy theo bờ Tây con sông Olza đến Žilina. Từ đó theo sông Váh đến Považská Bystrica. Đây là con đường chiến lược để cơ động binh lực, vũ khí, phương tiện chiến tranh từ Bắc Morava xuống Nam Morava và ngược lại.
Binh lực và kế hoạch.
Quân đội Liên Xô.
Binh lực.
Phương diện quân Ukraina 4 do đại tướng I. Ye. Petrov làm tư lệnh. Từ ngày 26 tháng 3, đại tướng A. I. Yeryomenko thay thế. Tham mưu trưởng: trung tướng F. K. Korzhenyevich, từ ngày 2 tháng 4 là thượng tướng L. M. Sandalov). Gồm các đơn vị:
Lực lượng tăng viện từ Phương diện quân Ukraina 1: (từ ngày 6 tháng 4 năm 1945)
Tổng số binh lực ban đầu gồm 255.000 người, 180 xe tăng và pháo tự hành, 3.000 đại bác và súng cối, 408 máy bay. Từ ngày 6 tháng 4 tăng lên 317.000 người, 6.000 pháo và súng cối, 300 xe tăng và pháo tự hành, 438 máy bay.
Kế hoạch.
Kế hoạch tấn công ban đầu của quân đội Liên Xô có mũi tấn công chính do Tập đoàn quân cận vệ số 1 và Tập đoàn quân 38 phụ trách, tiến công theo hướng Olomouc, Pardubice và tiếp cận tuyến sông Vltava để từ đó giải phóng Praha. Theo dự tính, mũi tấn công sẽ phải đột phá sâu khoảng 350 cây số. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch, các đơn vị xung kích ở tuyến đầu sẽ phải tiến đến tuyến Český Šternberk - Olomouc. Trong trường hợp này, Tập đoàn quân 38 sẽ phải hoàn thành việc làm chủ Moravská-Ostrava trong vòng 4 ngày, và Tập đoàn quân cận vệ 1 sẽ phải đánh chiếm Cieszyn cũng trong khoảng thời gian đó. Trong khi đó, các lữ đoàn xe tăng 5, 31 và 42 sẽ được đưa vào cửa mở để khai thác chiến quả sau khi các mũi xung kích đã đột phá được từ 5 đến 6 km.
Tuy nhiên, đây là một kế hoạch không mấy phù hợp với khả năng của Phương diện quân Ukraina 4 tại thời điểm đó. Trong khi các tập đoàn quân 38 và cận vệ 1 tập trung vào hướng Moravská-Ostrava, Cieszyn, Bohumín, Karviná, Troppau (Opava), Fryštát và Frýdek-Místek với binh lực đã bị sứt mẻ đáng kể sau chiến dịch Tây Carpath và những lực lượng mới tăng viện còn chưa quen với chiến trường rừng núi thì Tập đoàn quân 18 với vỏn vẹn 6 sư đoàn (bao gồm cả hai sư đoàn Tiệp Khắc) phải phụ trách một chính diện tấn công lên đến 70 km. Mỗi sư đoàn chỉ có từ 3.000 đến 4.000 sĩ quan và binh sĩ. Tập đoàn quân 38 cũng trong tình trạng hao quân tương tự. Chỉ có sư đoàn của tập đoàn quân này có 5.000 người. Ở tập đoàn quân cận vệ 1, tình hình có khá hơn. Quân số trung bình của mỗi sư đoàn ở đây đạt khoảng 4.000 đến 5.500 người. Với binh lực tổng cộng 255.000 quân, chiến dịch tấn công đã dàn mỏng Phương diện quân Ukraina 4 trên tổng chính diện mặt trận dài hơn 140 km. Trong khi các tướng I. Ye. Petrov và F. K. Korzhenyevich đang tìm lối thoát thì Ủy viên hội đồng quân sự Phương diện quân, thượng tướng L. Z. Mekhlis lại một mực đòi "phải chuyển sang tấn công không muộn hơn ngày 10 tháng 3" thể theo yêu cầu của STAVKA. Kết quả là Phương diện quân Ukraina 4 phải tổ chức tấn công trong điều kiện chưa được chuẩn bị đầy đủ về người, vũ khí, đạn dược và phương tiện.
Sau thất bại ở giai đoạn 1, STAVKA một mặt thay đổi nhân sự chỉ huy Phương diện quân Ukraina 4, mặt khác, tổ chức tăng viện cho nó khá lớn về người và phương tiện. Ở giai đoạn 2, do có sự phối hợp với Phương diện quân Ukraina 1 bắt đầu mở Chiến dịch Thượng Silesia trong cùng thời gian, chiến thuật tấn công cũng được thay đổi từ đánh vỗ mặt sang đánh vu hồi. Tuy nhiên, các tuyến phòng ngự của quân Đức xung quanh vẫn chịu đựng được. Chỉ đến giai đoạn cuối cùng, khi Berlin thất thủ, Phương diện quân Ukraina 4 mới hoàn thành nhiệm vụ sau gần 2 tháng tấn công thay vì chỉ 4 đến 5 ngày theo kế hoạch ban đầu của L. Z. Mekhlis.
Quân đội Đức Quốc xã.
Binh lực.
Cánh phải Cụm Tập đoàn quân Trung tâm (Đức) phòng thủ tại khu vực Tiệp Khắc và Nam Ba Lan do thống chế Ferdinand Schörner chỉ huy. Binh lực gồm có:
Binh lực ban đầu gồm 150.000 người, 100 xe tăng và pháo tự hành, 120 máy bay. Đến cuối chiến dịch tăng lên 305.000 người, 3.000 pháo và súng cối, 280 xe tăng và pháo tự hành, 270 máy bay.
Kế hoạch.
Căn cứ tình hình thực tế trong tháng 3 năm 1945, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Đức Quốc xã cho rằng không thể giữ vững được lâu hơn các tuyến phòng thủ trên sông Oder và các khu vực khác nếu không sử dụng các đòn phản công từ hai bên sườn vào cánh quân chủ lực của quân đội Liên Xô trên hướng Berlin gồm các phương diện quân Byelorussia 1, 2 và Phương diện quân Ukraina 1. Giống như cánh quân Đức tại vùng Đông Pomerania, cánh quân tại vùng Thượng Silesia có vai trò uy hiếp bên sườn trái Phương diện quân Ukraina 1. Liên quan đến nó có cánh trái của Cụm tập đoàn quân Trung tâm mà trực tiếp là Tập đoàn quân xe tăng 1, có nhiệm vụ khép chặt sườn trái với Tập đoàn quân 17 (Đức) đang phòng ngự tại khu vực Đông Nam Breslau (Wrocław). Với thế bố trí thành 1 cánh cung lồi về phía Đông dựa vào vùng núi non Morava, Bộ Tổng tư lệnh Đức Quốc xã hy vọng cầm chân quân đội Liên Xô để tạo thế cho các cuộc đàm phán bí mật với các đồng minh chống phát xít ở phương Tây bắt đầu được khởi sự tại Thụy Sĩ. Trong trường hợp không thể chống giữ được, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Đức Quốc xã còn hy vọng cứu được càng nhiều càng tốt các quân nhân Đức khỏi bị quân đội Liên Xô bắt làm tù binh cho dù có phải đầu hàng Anh - Mỹ ở mặt trận phía Tây và mặt trận Ý.
Biết rõ tầm quan trọng của khu vực Moravská-Ostrava, quân Đức đã tổ chức một hệ thống bố phòng chặt chẽ trong vùng. Toàn bộ hệ thống phòng ngự của phát xít Đức bao gồm ba phòng tuyến chính chạy dọc theo các sông Olza, Ostravice và Oder, và một phòng tuyến khác nằm ở phía Bắc tại tuyến sông Opava - Morava - Ostrava. Mỗi khu vực phòng thủ đều được bố trí bốn tuyến công sự bao gồm các hỏa điểm súng máy, pháo, súng cối, lô cốt và công sự ngầm. Các tuyến phòng thủ đều được ken dày bởi các hỏa điểm pháo chống tăng, súng cối và súng máy hạng nặng. Tất cả các công trình phòng thủ đều được ngụy trang kỹ lưỡng sao cho chúng được trông giống như cảnh vật rừng và đồi núi xung quanh. Các nhà máy công nghiệp cũng được sử dụng để xả khói mù, nhằm cản trở xạ giới của pháo binh, đồng thời gây khó khăn cho sự quan sát mục tiêu các phi công ném bom và cường kích.
Tại Moravská-Ostrava và các thành phố lân cận, mỗi công trình xây dựng kiên cố đều được bố trí thành các ổ đề kháng mạnh. Các cây cầu bắc qua các con sông Olza, Orava, Opava và Ostravice đều bị gài mìn. Trên hướng Moravská-Ostrava, quân Đức bố trí ba tuyến phòng thủ chính, bao gồm cả thành phố Racibórz được coi như pháo đài tiền tiêu che chở cho phía Bắc Moravská-Ostrava. Trên hướng Tây Slovakia, cũng có hai tuyến phòng thủ chạy dọc theo các con sông Orava (tuyến đầu) và Olza nối với tuyến sông Rajčanka (tuyến chính). Hai tuyến phòng thủ dự bị phía sau dọc theo các sông Ostravice và Odra ở phía Nam Moravská-Ostrava. Quân Đức hy vọng không những giữ được Moravská-Ostrava mà còn có thể ngăn chặn, không cho quân đội Liên Xô tiến đến gần Praha, một trong những địa điểm mà Bộ Tổng tư lệnh lục quân Đức Quốc xã dự định rời đến đó trong trường hợp không giữ được Berlin.
Tư lệnh Tập đoàn quân 38 (Liên Xô), thượng tướng K. S. Moskalenko đã miêu tả hệ thống phòng ngự của quân Đức như sau:
Diễn biến.
Giai đoạn I: từ ngày 10 đến 23 tháng 3.
Cơ quan tình báo Đức lần này không thu thập được đầy đủ thông tin về binh lực cũng như thời điểm quân đội Liên Xô có thể tấn công mà chỉ ước đoán phỏng chừng. Vì vậy, rút kinh nghiệm xương máu từ các chiến dịch trước đó, đêm 9 rạng ngày 10 tháng 3, Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) hạ lệnh cho các đơn vị có nguy cơ bị tấn công triệt thoái khỏi các tuyến chiến hào thứ nhất về các tuyến chiến hào phía sau nhằm tránh thương vong do pháo binh.
8 giờ 55 phút ngày 10 tháng 3, cuộc tấn công của quân đội Liên Xô triển khai trong thời tiết cực kỳ xấu. Một trận bão tuyết quét qua các trận địa của quân đội hai bên. Tầm nhìn sụt xuống chỉ còn 100-200 mét, vô hiệu hóa khả năng yểm hộ của không quân cũng như hạn chế đáng kể độ chính xác của pháo binh. Trước tình hình đó, thượng tướng K. S. Moskalenko - chỉ huy Tập đoàn quân số 38 - đã đề nghị hoãn cuộc tấn công lại cho đến khi thời tiết khá hơn. Ý kiến của ông nhận được sự ủng hộ của Thượng tướng A. A. Grechko, tư lệnh Tập đoàn quân cận vệ 1. Tuy nhiên, đại tướng I. Ye. Petrov, tư lệnh Phương diện quân Ukraina 4, đã bác bỏ đề nghị này:
Không chỉ thời tiết tồi tệ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ chính xác của pháo binh Liên Xô, biện pháp rút lui sớm của quân Đức đã làm cho phần lớn trận pháo kích của Tập đoàn quân 38 và Tập đoàn quân cận vệ 1 bắn vào chỗ trống. Quân Đức đã bảo tồn được lực lượng ở tuyến sau, nơi mà pháo binh Liên Xô chưa với tới. Thiệt hại của quân Đức trong các đợt pháo kích được giảm thiểu, nhiều boong ke, lô cốt, hỏa điểm không bị áp chế và hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy vẫn hầu như còn nguyên. Trong ngày tấn công đầu tiên, các Quân đoàn bộ binh sơn chiến 126, 127 (Tập đoàn quân 38) và Quân đoàn bộ binh cận vệ 3 (Tập đoàn quân cận vệ 1) mặc dù có 2 lữ đoàn xe tăng và 3 trung đoàn pháo tự hành tăng cường nhưng chỉ lấn vào tuyến phòng thủ của quân Đức từ 3 đến 4 km thay vì 23 đến 25 km như kế hoạch đề ra. Tính bất ngờ của cuộc tấn công bị mất.
Ngày 12 tháng 3, tình hình trở nên phức tạp. Tướng Gotthard Heinrici điều các sư đoàn bộ binh 68, 253 và Sư đoàn xe tăng 18 SS "Horst Wessel" từ Wodzisław và Fryštát kéo ra phản kích liên tục vào đội hình tấn công của Tập đoàn quân 38. Tướng K. S. Moskalenko buộc phải tung Lữ đoàn xe tăng hạng nặng 42 vào trận nhưng tốc độ tấn công cũng chỉ nhích lên 5 km trong ngày. Tại dải tấn công của Tập đoàn quân cận vệ 1, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Các trung đoàn pháo tự hành và các sư đoàn bộ binh sơn chiến chìm ngập trong tuyết tiến lên từng mét một trên các sườn núi. Ngày 13 tháng 3, tướng A. A. Grschko điều các đại đội súng phun lửa lên phía trước để khắc phục các hỏa điểm của quân Đức nhưng kết quả rất hạn chế. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch, quân Đức liên tục điều chuyển Quân đoàn xe tăng 24 tới khu vực và tổ chức phản kích quyết liệt. Chỉ tính riêng từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 3, Tập đoàn quân 38 phải chống lại 39 cuộc phản kích của 3 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn xe tăng Đức để giữ được khu vực tiền duyên mới chiếm lĩnh chỉ rộng 15 km và sâu 5 km. Ngày 17 tháng 3, quân đội Liên Xô buộc phải ngừng tấn công và điều chỉnh lại chiến thuật và bố trí lực lượng.
Ngay ngày 17, Đại bản doanh gửi trực tiếp đến Bộ chỉ huy Phương diện quân Ukraina bốn bản tổng kết các sai lầm trong chiến thuật của Hội đồng quân sự phương diện quân như sau:
Từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 3, Tập đoàn quân 38 tiến hành các trận đánh trinh sát để thăm dò các tuyến phòng thủ của quân Đức trong điều kiện thời tiết tạnh ráo hơn. Ngày 22 tháng 3, tư lệnh Tập đoàn quân 38, tướng K. S. Moskalenko đề xuất một kế hoạch mới, trong đó hướng tấn công chính được điều chỉnh lên phía thành phố Żory cách Moravská-Ostrava khoảng 40 km về phía Đông Bắc thay vì đánh vỗ mặt từ hướng Strumień. Mũi tấn công này được cho là thuận lợi hơn vì địa hình tại đây ít phức tạp hơn, phòng tuyến của quân Đức yếu hơn và tầm nhìn của pháo binh từ hướng này cũng tốt hơn. Thêm vào đó, phía Đông Bắc của thành phố là một vùng rừng thích hợp cho việc che giấu và ngụy trang lực lượng. Kế hoạch của Moskalenko nhanh chóng được I. Ye. Petrov chấp thuận. Từ ngày 21 đến 23 tháng 3, Tập đoàn quân 38 di chuyển các đơn vị tăng và pháo nặng lên hướng Żory. Tập đoàn quân cận vệ 1 tiếp quản trận tuyến của Tập đoàn quân 38 trên hướng Strumień, chỉ để lại Sư đoàn bộ binh 237 phòng thủ trên hướng Żywiec. Cuộc tấn công thứ hai của Tập đoàn quân 38 và Tập đoàn quân cận vệ 1 còn có vai trò yểm hộ sườn trái cho Tập đoàn quân 60 (Phương diện quân Ukraina 1) đang tấn công Racibórz trong giai đoạn đầu của Chiến dịch Thượng Silesia được khởi sự ngày 15 tháng 3.
Giai đoạn II: từ 24 tháng 3 đến 5 tháng 4.
Đông Bắc Morava.
Sáng 24 tháng 3, sau 45 phút pháo binh bắn chuẩn bị, Tập đoàn quân số 38 tiếp tục tấn công. Thời tiết tốt lên đã tạo điều kiện cho Tập đoàn quân không quân 8 huy động nhiều máy bay ném bom và cường kích yểm hộ cho cuộc tấn công này. Ngay trong ngày đầu tiên, các quân đoàn sơn chiến 126, 127 và Quân đoàn bộ binh 95 đã phá vỡ ba lớp hầm hào phòng ngự của Quân đoàn bộ binh 59 (Đức) và đột phá sâu đến 7 km. Ngày 24 tháng 3, các quân đoàn sơn chiến và bộ binh Liên Xô tiếp tục tấn công sau một loạt pháo kích dài 20 phút. Chiều cùng ngày, các chi đội phái đi trước của Quân đoàn sơn chiến 127 đã tiếp cận ngoại vi thị trấn Loslau (nay là Wodzisław Śląski). Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 3, tướng Gotthard Heinrici điều Sư đoàn xe tăng 19 và 2 sư đoàn bộ binh ra phản kích để giải tỏa Loslau. Sang 25 tháng 3, tướng K. S. Moskalenko huy động Lữ đoàn pháo chống tăng 6 và các trung đoàn pháo chống tăng 1506, 1642, 1663, 1672 lên phía trước yểm hộ cho các quân đoàn bộ binh 95 và 101 tiến hành phản đột kích, đánh lùi Sư đoàn xe tăng 8 (Đức). Trong ngày 25 tháng 3, các quân đoàn sơn chiến nhẹ 126 và 127 đã mở rộng cửa đột phá lên đến 20 km chiều rộng và 15 km chiều sâu. Sáng ngày 26 tháng 3, Tập đoàn quân số 38 giải phóng Loslau. Trên cánh phải của Tập đoàn quân 38, Quân đoàn bộ binh 28 (Tập đoàn quân 60) cũng giải phóng thành phố Rybnik, mở đường tấn công sang Racibórz. Tuyến phòng thủ Đông Bắc Morava của quân Đức bị vỡ một mảng lớn. Ngày 1 tháng 4, Bộ tư lệnh Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) phải tăng viện cho tướng Gotthard Heinrici Quân đoàn xe tăng 24 gồm các sư đoàn xe tăng 8, 17 và các sư đoàn bộ binh 75 và 253 để cứu vãn tình thế.
Ngày 26 tháng 3, đại tướng A. I. Yeryomenko thay thế đại tướng I. Ye. Petrov làm tư lệnh Phương diện quân Ukraina 4. Sau khi nghiên cứu tình hình, ông yêu cầu Tập đoàn quân 18 và Tập đoàn quân cận vệ 1 tiếp tục tấn công nhằm kéo bớt quân Đức ra khỏi mũi công kích chính của Tập đoàn quân 38. Ngày 29 tháng 3, sau 45 phút pháo binh bắn chuẩn bị, lúc 11 giờ 45 phút, các quân đoàn bộ binh 107 và cận vệ 3 của Tập đoàn quân cận vệ 1 triển khai tấn công trên hướng Fryštát. Ngay trong ngày 29 tháng 3, Quân đoàn bộ binh 107 đã đánh chiếm thị trấn Drogomyśl và điểm cao 259,3 trên bờ sông Olza. Từ điểm cao này, Lữ đoàn hỏa tiễn và Lữ đoàn pháo nòng dài cận vệ 24 có thể triển khai trận địa và bắn trực chỉ vào Fryštát. Tận dụng lúc quân Đức tập trung binh lực vào hướng Đông Bắc Morava, ngày 1 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 237 (Quân đoàn 107) đã mở cuộc tấn công từ Žilina, vượt qua vùng núi thấp giữa sông Soła và thượng nguồn Wisla, đánh chiếm Głębce và Istebna. Bị Sư đoàn 237 tấn công từ sau lưng trong khi đang phải đối phó với Quân đoàn tăng cường 159 (Liên Xô) trên hướng Raiša (Rajcza), Cụm tác chiến sư đoàn xung kích 87 (Đức) buộc phải bỏ phòng tuyến sông Soła rút về phía Tây.
Ở trên tuyến tấn công chính, tại khu vực tác chiến của Tập đoàn quân số 38 và Tập đoàn quân cận vệ số 1, quân Đức tiếp tục chống cự kịch liệt dựa trên một hệ thống phòng ngự cứng rắn quy mô lớn. Chỉ có những mũi đột kích chính của Tập đoàn quân số 38 là có thể tiếp tục tiến lên trước. Vào đầu tháng 4 năm 1945, Quân đoàn sơn chiến 126 và Quân đoàn bộ binh số 95 đã tiếp cận sông Oder, đánh chiếm và mở rộng một số đầu cầu vượt sông. Đến đây, sự chống cự kịch liệt của quân Đức cùng với hình thái chiến trướng buộc quân đội Liên Xô phải dừng cuộc tấn công và điều chỉnh kế hoạch. Ngày 5 tháng 4, Tập đoàn quân 38 được lệnh chuyển sang phòng ngư, chuẩn bị cho các trận đánh mới.
Ở phía Nam dãy núi Slovashki Beskid.
Đối diện với 6 sư đoàn của Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) là 4 sư đoàn của Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 (Đức). Địa hình phía Nam dãy núi Slovashki Beskid phức tạp nên quân Đức chủ yếu dựa vào các triền núi để bố trí các tuyến phòng thủ. Hai con sông Orava, Orava Trắng và thượng nguồn sông Váh tạo thành các thung lũng chạy dọc theo hướng tấn công tạo nên sự thuận lợi cho các cuộc tấn công. Cuộc tấn công ở đây tiến hành muộn hơn. Ba ngày sau khi Tập đoàn quân 38 phải dừng lại trên hướng Morava, Tập đoàn quân 18 mới phát động các trận tấn công theo hướng chung đến Žilina.
Ngày 20 tháng 3, Quân đoàn bộ binh cận vệ 17 bắt đầu tấn công dọc theo thượng nguồn sông Orava về xuôi. Thời tiết tốt trên khu vực đã tạo điều kiện cho Tập đoàn quân không quân 8 yểm hộ cho các trận công kích trên mặt đất. Cuối ngày 21 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 138 đánh lui Sư đoàn bộ binh sơn chiến 4 (Đức), chiếm thị trấn Tvrdosin nằm trên ngã ba sông Orava chính và sông Orava Đen, Sư đoàn bộ binh 8 cũng đánh chiếm thị trấn Trstena. Ở phía Bắc, Quân đoàn tăng cường 159 cũng tấn công dọc theo sông Orava Trắng và đánh chiếm các điểm dân cư Oravská Polhora và Námestovo, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn bộ binh 16 (Hungary).
Ở phía Nam, ngày 30 tháng 3, Quân đoàn Tiệp Khắc 1 được tăng cường Sư đoàn bộ binh cận vệ 24 và Trung đoàn xe tăng cận vệ 1 (Liên Xô) bắt đầu tấn công dọc theo thượng nguồn sông Váh. Sư đoàn 320 (Đức) bị tổn thất nặng sau 4 ngày kháng cự và phải rút lui về thành phố. Chiều 3 tháng 4, công binh Đức làm nổ tung cây cầu ở phía Tây Liptovský Mikuláš trên con lộ nối thành phố này với Ružomberok để chặn đường truy kích của liên quân Liên Xô-Tiệp Khắc. Chỉ hai ngày sau, Lữ đoàn công binh 9 và Tiểu đoàn công trình 897 đã làm xong ba cây cầu treo và một đường ngầm qua sông Orava. Quân đội Liên Xô và Tiệp Khắc lại tiếp tục tiến sang phía Tây. Sáng ngày 3 tháng 4, các lữ đoàn bộ binh Tiệp khắc 3, 4 và Sư đoàn bộ binh cận vệ 24 (Liên Xô) giải phóng thành phố Liptovský Mikuláš. Ngày 5 tháng 4, đến lượt Ružomberok được Quân đoàn Tiệp Khắc 1 giải phóng.
Ngày 6 tháng 4, tướng Karl von Le Suire ra lệnh rút lui toàn bộ Quân đoàn sơn chiến 49 (Đức) khỏi phía Nam sườn núi Slovashki Beskid. Trên đường rút quân, lính Đức phá hủy các cầu bắc qua sông Váh ở Ružomberok, Kralevaci (???) và Vrútky. Các tuyến đường sắt và đường bộ dọc ngang chạy qua Ružomberok cũng bị phá hoại nặng nề. Tuy nhiên, lực lượng công binh sơn chiến Liên Xô đã khôi phục các tuyến đường sắt, đường bộ và làm cây cầu mới chỉ sau một tuần. Ngày 7 tháng 4, Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) đã tiếp cận tuyến phòng thủ mới của quân Đức trên sườn phía Tây dãy núi Fatra Lớn.
Trong giai đoạn cuối tháng 3 đầu tháng 4, tuy Phương diện quân Ukraina 4 đột phá được một số khu vực trên trận tuyến, nhiệm vụ đánh chiếm khu công nghiệp Moravská-Ostrava vẫn chưa hoàn thành được. Tuy nhiên hoạt động tích cực của Phương diện quân Ukraina 4 đã góp phần củng cố đáng kể vị thế của cánh trái Phương diện quân Ukraina 1 và giúp Phương diện quân này giải phóng khu vực Thượng Silesia.
Giai đoạn III: từ 6 tháng 4 đến 5 tháng 5.
Giải phóng Moravská-Ostrava.
Đến đầu tháng 4, hình thái trận tuyến của Phương diện quân Ukraina 4, 1 và 2 tại Tiệp Khắc có dạng giống như một cung lõm về phía Đông, bao quanh lấy Tập đoàn quân xe tăng 1 của quân đội Đức Quốc xã. Bộ chỉ huy quân đội Liên Xô quyết định tận dụng hình thái này để thực hiện một kế hoạch bao vây nguyên một khối quân lớn của Đức Quốc xã. Nhằm tăng cường binh lực cho Phương diện quân Ukraina 4, Đại bản doanh quyết định điều chuyển Tập đoàn quân 60 cho Phương diện quân. Tập đoàn quân này cùng với Tập đoàn quân 38 và Tập đoàn quân cận vệ 1 được giao nhiệm vụ tấn công dọc theo tả ngạn sông Oder về hướng Olomouc để hội quân với Phương diện quân Ukraina 2 đang tấn công Olomouc từ hướng Tây Nam. Ngày mở màn cuộc tấn công được ấn định là 15 tháng 4 năm 1945, đúng 1 ngày trước khi chiến dịch Berlin mở màn. Để thực hiện ý đồ này, ngày 7 tháng 4, Tập đoàn quân 38 được tăng cường Lữ đoàn xe tăng Tiệp khắc 1 vượt sông Oder ở phía Nam Racibórz và bố trí tại sườn trái của Tập đoàn quân 60. Tập đoàn quân cận vệ 1 thay thế Tập đoàn quân 38 chiếm lĩnh dải tấn công ở phía Bắc Nový Bohumín. Tập đoàn quân 60 được tăng cường Quân đoàn xe tăng 31 bố trí ở phía Bắc Opava. Đòn tấn công chính dự đinh giáng vào hướng Tây Bắc Morava.
Về phía quân Đức, trong một nỗ lực cuối cùng nhằm chống giữ sự kiểm soát của chế độ Hitler đối với vùng mỏ than cuối cùng còn sót lại của Đế chế thứ Ba cũng như cụm công nghiệp than - thép Moravská-Ostrava, trong tháng 4 năm 1945, Bộ chỉ huy tối cao Đức Quốc xã đã điều một lượng lớn viện binh đến khu vực này. Cho đến đầu tháng 4 năm 1945, thành phần Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã tăng lên 22 sư đoàn, trong đó có 5 sư đoàn xe tăng. Tại Morava, quân Đức đã bố trí nhiều khu vực phòng thủ cứng rắn với các công sự được củng cố kỹ càng, chạy dọc theo các con sông Opava, Oder, Olza. Hệ thống công sự này dựa trên các hệ thống lô cốt và hỏa điểm cũ tại vùng biên giới Tiệp Khắc-Đức xây dựng từ thập niên 1920-1930 dưới sự hướng dẫn của các kỹ sư Pháp. Chính vì vậy, việc phá vỡ các phòng tuyến vững chắc này đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh và pháo binh và việc tái chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. Các thông tin tình báo thu thập được cho thấy đóng đối diện các vị trí của Tập đoàn quân 60 và 38 (Liên Xô) là Quân đoàn bộ binh 11 và 3/4 Quân đoàn đoàn xe tăng 24 (Đức) gồm 3 sư đoàn xe tăng, 1 sư đoàn trượt tuyết, 1 sư đoàn biệt kích, 1 sư đoàn và 2 cụm tác chiến sư đoàn bộ binh. Đối diện với Tập đoàn quân cận vệ 1 (Liên Xô) trên hướng Bắc Morava là Quân đoàn bộ binh 59 (Đức) gồm 1 sư đoàn xe tăng SS, 2 sư đoàn và 2 cụm tác chiến sư đoàn bộ binh. Cụm phòng thủ Thượng Silesia (tương đương sư đoàn) cũng được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Ernst Sieler. Mật độ binh lực phòng ngự trên hướng Bắc Morava của quân Đức không thua kém hướng Berlin về người và xe tăng.
Từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4, tướng Ernst Sieler tập trung các sư đoàn bộ binh 68 và 544 cùng Sư đoàn xe tăng 18 SS mở cuộc phản kích vào khu vực đầu cầu Tunskirkha (Trawniki) do các quân đoàn bộ binh 11 (Tập đoàn quân cận vệ 1) và 95 (Tập đoàn quân 38) đang chiếm giữ. Sư đoàn bộ binh 715 mới được diều từ mặt trận Ý đến cũng tham gia cuộc phản công. Chiều ngày 7 tháng 4, xe tăng Đức đã đột phá đến cách bờ sông Oder 500 mét. Sáng ngày 8 tháng 4, tướng A. A. Grechko điều động các trung đoàn pháo chống tăng cận vệ 4, cận vệ 317 và 1646 cùng Quân đoàn bộ binh cận vệ 3 đến khu vực đầu cầu để phản kích. Ngày 9 tháng 4 đã diễn ra trận giao chiến ác liệt giữa hơn 60 xe tăng hạng nặng của quân Đức và các trung đoàn pháo chống tăng Liên Xô. Chiều tối ngày 9 tháng 4, khi trận đánh kết thúc, 34 xe tăng và pháo tự hành, 4 xe bọc thép và hơn 600 lính Đức đã nằm lại trên bãi chiến trường. Quân Đức buộc phải dừng cuộc phản công và căn cứ đầu cầu Tunskirkha vẫn nằm trong tay quân đội Liên Xô.
Đợt tấn công mới của quân đội Liên Xô bắt đầu ngày 15 tháng 4 năm 1945 sau một loạt pháo bắn chuẩn bị kéo dài 35 phút. Pháo binh của các Tập đoàn quân 60 và 38 khai hỏa vào lúc 9 giờ 15 phút, pháo binh của Tập đoàn quân cận vệ 1 triển khai hỏa lực lúc 9 giờ 30 phút. Không chịu nổi sức ép của các đòn tấn công trên bộ và trên không, Quân đoàn bộ binh 11 (Đức) buộc phải bỏ các vị trí tiền tiêu và rút về phía Nam. Trong ngày đầu tiên, các quân đoàn bộ binh 15, 28, 101 và các quân đoàn sơn chiến nhẹ 126, 127 (Liên Xô) đã đột phá sâu 8 km trên hướng Donki-Benecov (Dolni Benesov), Tây Bắc Moravská-Ostrava 30 km. Ngày 16 tháng 4, cuộc chiến diễn ra với cường độ rất ác liệt với nhiều trận đột kích và phản đột kích từ hai phía. Mặc dù không quân Xô Viết gần như làm chủ bầu trời và tích cực yểm hộ cho bộ binh nhưng Quân đoàn 11 (Đức) đã dựa vào các hệ thống phòng thủ chuẩn bị từ trước để tổ chức chống cự kịch liêt hơn và làm chậm cuộc tấn công của quân đội Liên Xô.
Ngày 17 tháng 4, sau một đợt tấn công dữ dội tại khu vực tiếp giáp giữa hai tập đoàn quân số 60, 38; Quân đoàn xe tăng 31 của tướng G. G. Kuznetsov được đưa vào cửa đột phá, đến chiều 17 tháng 4, các lữ đoàn xe tăng 237, 242, Lữ đoàn cơ giới 65 cùng các trung đoàn pháo tự hành 367 và 1442 đã tiếp cận sông Opava tại Kravaře và bắt đầu vượt sông đánh chiếm các đầu cầu ở bờ Nam. Ngày hôm sau đầu cầu đã được mở rộng đến 10 cây số và trận tuyến dần dần tiếp cận tuyến phòng thủ cứng rắn của quân Đức trong khu vực. Đây là một tuyến phòng ngự khó nuốt đốt với phe tấn công khi nó bao hàm những hỏa điểm với tầm bao quát có thể che phủ cho nhau, các công sự bê tông có lớp vách cấu tạo rất cứng chắc, khó đục thủng (kể cả với đạn pháo 152 ly) được bố trí dày đặc và ngụy trang kỹ lưỡng. Để phá vỡ tuyến phòng thủ này, quân đội Liên Xô đã thành lập những tổ xung kích bao hàm một tiểu đội bộ binh kèm với công binh mang bộc phá, 2-3 khẩu đội chống tăng và một số binh sĩ mang lựu đạn khói. Tham gia trong thành phần các tổ xung kích là những sĩ quan Tiệp Khắc từng phục vụ tại khu vực này trước chiến tranh: họ cung cấp vị trí các hỏa điểm, lô cốt, công sự cho các tổ xung kích và giúp họ tìm ra các chỗ yếu trên hàng phòng thủ. Mặc dù đã sử dụng nhiều biện pháp nhằm đối phó với loại hệ thống công sự như vậy, việc chọc thủng phòng tuyến quân Đức vẫn diễn ra rất khó khăn. Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 4, Quân đoàn bộ binh sơn chiến 126 của Tập đoàn quân 38 chỉ mới hạ gục được 10 lô cốt và 18 hỏa điểm súng máy. Sau hơn một tuần kịch chiến, ngày 22 tháng 4, quân đội Liên Xô cuối cùng cũng đã vượt qua lớp phòng tuyến cứng rắn này và giải phóng thành phố Troppau (nay là Opava) tại vùng biên giới Tiệp-Đức. Đó cũng là ngày mà quân đội Liên Xô bắt đầu đột nhập vào thành phố Berlin.
Trên chính diện phía Bắc, Tập đoàn quân cận vệ 1 sử dụng 3/4 quân đoàn tấn công theo hướng Nam và đến cuối ngày 16 tháng 4 đã chiếm được Ocina (???), Hať và Bohumín. Ngày 19 tháng 4, Quân đoàn bộ binh cận vệ 3 có Lữ đoàn xe tăng Tiệp Khắc 1 cùng đi đánh chiếm thành phố Hlučín, cách Ostrava 10 km về phía Bắc. Ngày 19 tháng 4, tướng Ernst Sieler điều động Sư đoàn dự bị 154 là lực lượng dự trữ cuối cùng của Quân đoàn bộ binh 59 (Đức) cùng với Sư đoàn xe tăng 17 mở hai cuộc phản kích lớn vào Bohumín để đỡ đòn cho Quân đoàn xe tăng 24 đang bị cô lập ở phía Tây Moravská-Ostrava. Ngày 22 tháng 4, các quân đoàn bộ binh 107, 11 và Lữ đoàn xe tăng Tiệp Khắc 1 đánh lui cuộc phản kích của Quân đoàn bộ binh 59 (Đức), tiếp tục đánh chiếm Nowy Bohumín (Bohumín) và tiến đến sát ngoại ô phía Bắc Moravská-Ostrava. Cùng ngày, Tập đoàn quân 38 đánh chiếm các thị trấn Svinov và Klimkovice. Moravská-Ostrava bị bao vây từ ba hướng. Cánh quân Đức tại đây chỉ còn con đường rút lui duy nhất dọc theo các con sông Odra và Bečva về Přerov.
Ở phía Nam, Tập đoàn quân 18 tấn công song song với các binh đoàn của Phương diện quân Ukraina 2 trong Chiến dịch tấn công Bratislava-Brno nhưng vẫn bị Quân đoàn bộ binh sơn chiếm 49 (Đức) chặn lại trên phòng tuyến sông Rajčanka cho đến ngày 29 tháng 4. Sư đoàn sơn chiến 4 và Cụm tác chiến sư đoàn xung kích 78 (Đức) bố trí phòng thủ rất chặt chẽ trên các ngọn núi Minol cao 1.364 m, Grun cao 1.165 m và Polom cao 1.069 m với các công trình boong ke bằng bê tông và đá, tạo thành một tam giác phòng thủ chắn ngang đường tấn công của Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) đến sông Váh. Để cơ động pháo binh trên địa hình rừng núi, Tập đoàn quan 18 đã phải dùng đến sức kéo thô sơ. Cứ 6 cặp bò hoặc ngựa kéo một khẩu sơn pháo 76 mm trên sườn núi dốc đến 30 độ. Ngày 29 tháng 4, sau khi tập trung đủ các lữ đoàn và trung đoàn pháo, súng cối, Quân đoàn bộ binh cận vệ 17 và Quân đoàn Tiệp Khắc 1 tấn công Žilina. Chỉ sau một ngày, liên quân Liên Xô - Tiệp Khắc đã đánh bại hai sư đoàn Đức. Ngày 30 tháng 4, khi Sư đoàn bộ binh 79 (Liên Xô) cắm lá cờ lên nóc nhà Quốc hội Đức cũng là ngày Žilina và Nové Město (Kysucke Nové Město) được giải phóng. Ngày 1 tháng 5, Quân đoàn xung kích 159 (Liên Xô) đánh chiếm Čadca, một trung tâm phòng ngự quan trọng của quân Đức bên bờ sông Kysuca.
Nhiệm vụ chính của Phương diện quân Ukraina 4 không gì khác hơn là giải phóng khu công nghiệp Moravská-Ostrava với trung tâm là thành phố Ostrava. Nhằm giảm thiểu hết mức những thiệt hại đối với các cơ sở kinh tế trong vùng, Bộ Tư lệnh phương diện quân không tấn công trực diện vào thành phố mà hành tiến vòng qua nó. Theo kế hoạch này, Tập đoàn quân cận vệ 1 sẽ tiến vòng qua Ostrava từ phía Bắc và Tập đoàn quân số 38 tiến qua từ phía Tây. Tập đoàn quân 60 và Quân đoàn xe tăng 31 sau khi chiếm Opava và Fulnek sẽ bẻ mũi tấn công sang phía Tây, tạo thành một hướng công kích vào Praha. Sau vài ngày thanh toán các cứ điểm mạnh án ngữ các con đường dẫn vào Ostrava, ngày 29 tháng 4 quân đội Liên Xô đã tiếp cận vùng ngoại vi thành phố. Cuộc tổng tấn công vào Ostrava bắt đầu vào sáng ngày 30 tháng 4 sau một trận oanh kích của pháo binh và không quân. Đến 13 giờ, quân đội Liên Xô vượt qua khu ngoại vi thành phố và đến 18 giờ Ostrava được giải phóng. Quân đội Liên Xô tiến vào thành phố trong sự hoan nghênh nồng nhiệt của nhân dân địa phương.
Trong cái túi Přerov - Olomouc.
Để mất Moravská-Ostrava, quân đội Đức Quốc xã đã mất đi một phòng tuyến cứng rắn và vững chắc tại Bắc Morava nhằm cản chân quân đội Liên Xô. Không những thế, tin Berlin thất thủ đã làm cho binh lính Đức tại Cụm tập đoàn quân Trung tâm hoang mang và giảm sút tinh thần chiến đấu. Chỉ có các đơn vị SS là chống trả quyết liệt đến cùng. Sau khi để mất Moravská-Ostrava, các khu vực phòng thủ khác của quân Đức xung quanh thành phố như Karviná, Fryštát, Cieszyn, Frýdek-Místek lần lượt thất thủ. Tập đoàn quân 38 (Liên Xô) tiến chiếm Fulnek và cùng với Tập đoàn quân 60, Quân đoàn xe tăng 31 hướng đòn tấn công về Šternberk và tiếp cận ngoại vi Olomouc. Tập đoàn quân cận vệ 1 sau khi đánh chiếm Fryštát, Frýdek-Místek cũng dồn quân Đức về phía Glavniče (Hranice). Trên hướng Đông, Tập đoàn quân 18 cũng tăng tốc độ tấn công. Chỉ trong 5 ngày, họ đã tiến lên được từ 50 đến 80 km, đánh chiếm các thành phố Vsetín và Rožnov. Các tập đoàn quân 40 và 53 của Phương diện quân Ukraina 2 cũng hiệp đồng chặt chẽ với cánh trái của Phương diện quân Ukraina 4 trong Chiến dịch tấn công Bratislava-Brno. Chỉ trong một tuần, các thành phố Považská Bystrica, Zlín, Uherský Brod, Uherské Hradiště và Kroměříž lần lượt bị đánh chiếm. Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) thu nhận Quân đoàn bộ binh 72 từ Cụm tập đoàn quân Áo (nguyên là Cụm tập đoàn quân Nam) và được tăng viện thêm Sư đoàn xe tăng 19, các sư đoàn bộ binh 304, 371, 545. Cánh quân này co cụm về khu vực Přerov - Olomouc để chống cự với hy vọng có thể đầu hàng các nước đồng minh phương Tây khi Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ) đã tiến đến biên giới Tiệp Khắc. Ngày 6 tháng 5, quân đội Liên Xô giải phóng Šternberk và tiếp cận ngoại vi Olomouc. Đó cũng là ngày mà Phương diện quân Ukraina 1 cùng với Phương diện quân Ukraina 4 mở Chiến dịch Praha, đánh tan khối quân chủ lực cuối cùng của quân đội Đức Quốc xã đang đóng tại Tiệp Khắc. Cũng trong ngày này, người dân Praha bắt đầu phát động cuộc khởi nghĩa lớn cuối cùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.
Kết quả, đánh giá và ảnh hưởng.
Kết quả.
Tổn thất của Phương diện quân Ukraina 4 (Liên Xô) trong các hoạt động chiến đấu từ tháng 3 đến hết tháng 4 năm 1945 tại khu vực Morava lên đến 23.964 người chết (chiếm 7,6% tổng quân số), 88.657 người khác bị thương. Về tỷ lệ thương vong trong cùng thời gian ở các hoạt động quân sự ngoài khuôn khổ các cuộc tấn công chiến lược, thương vong của Phương diện quân Ukraina 4 trong chiến dịch này chỉ đứng thứ hai sau Phương diện quân Byelorussia 1 trong các hoạt động đột phá vào khu vực pháo đài Küstrin, phía Đông Berlin từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 30 tháng 3 năm 1945. Tuy nhiên, bình quân thương vong trong một ngày của Phương diện quân Ukraina 4 còn xếp sau Phương diện quân Ukraina 1 trong các chiến dịch Hạ Silesia, Thượng Silesia và Phương diện quân Ukraina 3 trong các trận đánh phòng thủ tại khu vực Hồ Balaton từ ngày 6 đến ngày 15 ngày 3 năm 1945. Quân đội Liên Xô đã đánh chiếm được Moravská-Ostrava, khu công nghiệp lớn cuối cùng của nước Đức Quốc xã tại Đông Nam nước Đức, mở ra con đường tiến đánh Praha từ phía Đông.
Tổn thất của quân đội Đức Quốc xã không được xác định tuyệt đối chính xác nhưng các số liệu từ phía Đức cho thấy quy mô tổn thất tăng lên bất thường. Thống kê lưu trữ của Cộng Hòa Liên Bang Đức cho biết từ ngày 10 tháng 3 đến 20 tháng 4 năm 1945, chỉ riêng Tập đoàn quân xe tăng 1 và Tập đoàn quân 17 (Đức) đã mất 16.275 người chết, 74.808 bị thương, 27.098 người mất tích. Từ 10 ngày cuối tháng 4 đến 10 ngày đầu tháng 5 năm 1945, Bộ chỉ huy tối cao Đức Quốc xã không còn tập hợp được các báo cáo thương vong từ các mặt trận gửi về. Thống kê của Phương diện quân Ukraina 4 và Phương diện quân Ukraina 2 tập hợp từ báo cáo của các tập đoàn quân gửi về trong tháng 3 và tháng 4 năm 1945 cho biết tổn thất của quân đội Đức Quốc xã vào khoảng 428.000 sĩ quan và binh sĩ, trong đó có khoảng 120.000 tù binh. 15 sư đoàn Đức đã vĩnh viễn bị loại khỏi vòng chiến đấu. Chỉ riêng trong ngày 30 tháng 4 năm 1945, tại thành phố Moravská-Ostrava, quân Đức đã mất 2.500 sĩ quan và binh lính tử trận, hơn 3.000 người bị bắt làm tù binh, 57 khẩu pháo, 25 súng cối, 118 đại liên, 251 trung liên, 2 đoàn tàu bọc thép, 15 xe tăng, 150 xe bọc thép, 1.800 ô tô, 45 máy kéo bị phá hủy. Quân đội Liên Xô thu giữ 129 pháo, 34 súng cối, 151 đại liên, 604 trung liên, 3.340 tiểu liên, 117 ô tô, 335 mô tô, 18 xe tăng và pháo tự hành.
Trong toàn bộ chiến dịch, Phương diện quân Ukraina 4 đã tiến về phía Tây từ 150 km đến 350 km. Tốc độ tấn công từ 1,5 đến 2 km/ngày trong tuần đầu đã tăng lên đên 25–30 km/ngày ở cuối chiến dịch. Quân đội Liên Xô đã giải phóng hơn 2.000 điểm dân cư tại Tây Slovakia và Đông Morava, trong đó có 18 thành phố lớn và trung tâm công nghiệp Moravská-Ostrava.
Đánh giá.
Chiến dịch Moravská-Ostrava trong giai đoạn đầu đã được tiến hành một cách vội vàng, thiếu sự chuẩn bị chu đáo cả về người và phương tiện cũng như về kế hoạch phối hợp hành động. Theo thời hạn mà STAVKA chỉ định thì nếu như cấp Tập đoàn quân còn có ba ngày để chuẩn bị thì đến cấp sư đoàn, thời hạn này chỉ vỏn vẹn còn lại 6 giờ. Đó chính là nguyên nhân đã gây nên tình hình thất lợi cho cánh phải của Phương diện quân Ukraina 4 trên hướng Moravská-Ostrava trong tuần tấn công đầu tiên. Việc thay thế các tướng chỉ huy chủ chốt của Phương diện quân Ukraina 4 cũng không đem lại kết quả tích cực và nó chứng mình rằng I. Ye. Petrov cũng như F. K. Korzhenyevich không phải là nguyên nhân chủ yếu của tình hình thất lợi này. Mặc dù I. Ye. Petrov là người phê duyệt kế hoạch chuyển mũi tấn công chủ yếu sang hướng Żory nhưng người gặt hái thành tích là A. I. Yeryomenko cũng chỉ thu được kết quả hạn chế là đánh chiếm tiền đồn này và phải tạm dừng chiến dịch sau khi đánh chiếm Wodzisław Śląski một cách chật vật.
Tình hình chỉ xoay chuyển rõ rệt khi STAVKA thể hiện rõ quyết tâm đánh chiếm khu công nghiệp than-thép Moravská-Ostrava bằng cách điều chuyển Tập đoàn quân 60 đang tấn công thắng lợi trên hướng Racibórz từ Phương diện quân Ukraina 1 sang Phương diện quân Ukraina 4. Sử dụng dải tấn công hẹp trên bờ Tây sông Oder từ phía Nam Racibórz 15 km đến phía Đông Krnov, các tập đoàn quân 38 và 60 với sự tăng cường của Quân đoàn xe tăng 31 đã tạo ra một quả đấm xung kích rất mạnh từ hướng Tây Bắc Moravská-Ostrava đột kích xuống phía Nam. Đòn tấn công này không những đã loại toàn bộ các tuyến phòng thủ của Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) và cánh phải của Tập đoàn quân 17 (Đức) trên khu vực Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc khu công nghiệp Moravská-Ostrava mà còn uy hiếp phía Bắc thành phố đầu mối giao thông Olomouc, đe dọa cắt đứt con đường rút lui sang phía Tây của cụm quân này cũng như của Quân đoàn sơn chiến 49 và cánh trái của Quân đoàn bộ binh 72 (Đức) đang phòng ngự trên sườn phía Nam dãy núi Moravska-Silesian Beskids và dãy núi Fatra Lớn, buộc các quân đoàn này phải rút lui về khu vực "cái túi" Přerov - Olomouc để trụ lại tại đây.
Giai đoạn cuối của chiến dịch được diễn ra thuận lợi hơn đối với Phương diện quân Ukraina 4 còn do ảnh hưởng của sự kiện Berlin thất thủ. Mặc dù cố gắng ổn định tình hình nhưng Bộ chỉ huy tối cao Đức Quốc xã do Đô đốc Karl Dönitz lãnh đạo vẫn không thể có biện pháp khả thi để chống lại sự sụp đổ quân Đức tại Mặt trận Xô-Đức. Tin đồn về việc Tòa nhà Quốc hội Đức bị chiếm, về việc Adolf Hitler tự sát đã gây nên nhiều hoang mang trong hàng ngũ quân Đức ở mặt trận phía Đông và làm giảm sút đáng kể năng lực chiến đấu của quân Đức.
Ảnh hưởng.
Mặc dù tiến quân chậm hơn hai phương diện quân "láng giềng" Ukraina 1 và Ukraina 2 nhưng các hoạt động của Phương diện quân Ukraina 4 trong chiến dịch này đã thu hút về phía họ một bộ phận đáng kể binh lực quân đội Đức của Cụm tập đoàn quân Trung tâm và Cụm tập đoàn quân Nam (từ ngày 20 tháng 3 là Cụm tập đoàn quân Áo). Các đòn tấn công liên tục trên hướng Moravská-Ostrava do các tập đoàn quân 38, cận vệ 1 và từ ngày 6 tháng 4 có thêm Tập đoàn quân 60 tiến hành đã buộc Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) phải ném vào đây thêm 3 sư đoàn xe tăng (ngoài các sư đoàn xe tăng 8 và 18 SS đã có mặt từ trước). Động thái này đã làm giảm mật độ xe tăng của quân Đức trên hướng Thượng Silesia và không cho Bộ chỉ huy tối cao Đức Quốc xã có thể rút thêm nhiều đơn vị xe tăng hơn về phòng thủ Berlin.
Kết quả đột kích sâu của các tập đoàn quân 38, 60, cận vệ 1 và Quân đoàn xe tăng 31 trong giai đoạn cuối của chiến dịch đã tạo ra một mũi tấn công thứ hai, uy hiếp Cụm quân Đức gồm hơn 900.000 người đang co cụm tại phía Đông Praha. Một phần lớn cụm quân đó gồm các quân đoàn bộ binh 11, 72 và Sơn chiến 49 có nguy cơ bị bao vây tại khu vực tam giác Olomouc - Prostějov - Přerov. Sau khi Salzburg ở Áo bị Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ) đánh chiếm, Bộ chỉ huy tối cao Đức do Đô đốc Karl Dönitz đứng đầu đã xúc tiến thực hiện phương án thứ hai cho việc di chuyển trọng tâm kháng chiến của nước Đức Quốc xã xuống phía Nam và Praha được chọn làm địa điểm chính. Tuy nhiên, sự kiện Phương diện quân Ukraina 4 đánh chiếm Moravská-Ostrava và Žilina đã đe dọa làm thất bại phương án này. Và Bộ chỉ huy Đức không phải chờ đợi lâu. Ngày 6 tháng 5, các chi đội phái đi trước của Quân đoàn xe tăng 31 đánh chiếm Šternberk và tiếp cận ngoại vi Olomouc, những người yêu nước Tiệp Khắc ở Praha đã nổi dậy khởi nghĩa.
Sau chiến dịch, 92 đơn vị cùng hàng nghìn cá nhân sĩ quan, binh sĩ Liên Xô và Tiệp Khắc đã được khen thưởng. Trong đó, Lữ đoàn xe tăng Tiệp Khắc 1 được tặng Huân chương Suvorov hạng nhì, Lữ đoàn bộ binh Tiệp Khắc 3 được tặng Huân chương Aleksander Nevsky. Nhiều sĩ quan và binh sĩ Liên Xô được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, trong đó có Thiếu tướng M. I. Koldubov, Sư đoàn trưởng Sư đoàn sơn chiến cận vệ 128; Trung tá G. K. Bagyan, Trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 71 thuộc Sư đoàn bộ binh 30, Thiếu tá N. I. Sidorov, Tham mưu trưởng Trung đoàn pháo binh cận vệ 93 (Katyusha); Trung úy N. P. Chernov, đại đội trưởng bộ binh của Sư đoàn bộ binh 81; Trung sĩ V. M. Bezgolosov, chiến sĩ bắn tỉa của Sư đoàn bộ binh 183; Trung úy A. M. Yakovlev, phi công lái máy bay IL-2 thuộc Sư đoàn cường kích 227 và nhiều người khác.
Năm 1946, một khu tượng đài kỷ niệm sự kiện Hồng quân Liên Xô và Quân đội nhân dân Tiệp Khắc đã được khánh thành tại Công viên Komenska thuộc quận Přívoz của thành phố Moravská-Ostrava. Công trình do kiến trúc sư Josef Jírovec thiết kế và chỉ đạo thi công. Năm 1978, công trình này được xếp hạng là di tích văn hóa quốc gia của Cộng hòa Séc và còn tồn tại đến ngày nay.
Năm 1976, một khu phức hợp tưởng niệm nhằm tôn vinh quân đội Liên Xô và Tiệp Khắc trong Chiến tranh thế giới thứ hai được khởi công tại làng Hrabyně nằm trên con đường từ Moravská-Ostrava đến Opava. Đây là nơi đã diễn ra các trận đánh khốc liệt nhất trong giai đoạn III của Chiến dịch tấn công Moravská–Ostrava với sự tham gia của Lữ đoàn xe tăng Tiệp Khắc 1, hơn 13.000 quân nhân Xô Viết và Tiệp Khắc đã ngã xuống trong các trận đánh tại Hrabyně và các khu vực lân cận. Một tượng đài về chủ đề liên minh chiến đấu Tiệp Khắc - Liên Xô cũng được dựng lên. Năm 1980, công trình được khánh thành và được công nhận là di tích văn hóa quốc gia nhân kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Tiệp Khắc. Năm 1990, tượng đài đổ nát và bị phá hủy. Năm 1995, Chính phủ Cộng hòa Séc ra Nghị quyết số 262/1995 Sb bãi bỏ quy chế di tích văn hóa quốc gia đối với khu phức hợp tưởng niệm này. Phần cơ sở vật chất còn lại của nó được giao cho Bảo tàng Silesia quản lý. Khi đó, đã có người gọi khu phức hợp tưởng niệm này là "con quái vật cộng sản". Năm 2006, Bảo tàng Silesia tiến hành phục hồi và trùng tu toàn bộ khu di tích này với kinh phí 192 triệu Koron do Bộ Văn hóa Tiệp Khắc cấp. Ngày 29 tháng 4 năm 2009, khu phức hợp tưởng niệm này lại tiếp tục mở cửa để đón khách tham quan.
Tại nhiều thành phố, thị trấn trong vùng Morava như Slavkov u Brna, Nové Město (quận Liberec), làng Chuchelná (quận Opava).. đều có các đài tưởng niệm Hồng quân Liên Xô. | 1 | null |
Qua (chữ Hán: 戈) là tên một nước chư hầu do Hàn Trác phong cho con trai thứ là Hàn Ế với mục đích ngăn chặn và khống chế sự trỗi dậy của tôn thất nhà Hạ, địa bàn nước này nằm ở khu vực tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay.
Cùng chung nghĩa vụ với nước Quá thì nước Qua chịu trách nhiệm làm phên dậu để che chắn 2 mặt trước sau cho triều đình trung ương, khi vua Hạ Tướng ở nước Châm Tầm nước Qua và nước Quá đã hợp binh vây hãm khiến nhà vua phải chạy sang nước Châm Quán. Sau đó Hàn Ế lại nhận lệnh của cha tiến đánh sang Châm Quán làm đế Tướng tiếp tục bỏ chạy đến đất Châm Tầm và dựng đô ở đây để tổ chức kháng chiến, tuy nhiên Hàn Trác không để Hạ Tướng có thời gian khôi phục điều ngay quân nước Qua ở gần đó tràn sang truy kích. Lần này Hạ Tướng thua to thế cùng lực kiệt phải tự vẫn mà chết, vợ là Hậu Mân chui qua lỗ tường bỏ trốn về nước Hữu Nhung quê ngoại.
Khi biết tin Thiếu Khang đang ở nước Hữu Nhung thì Hàn Trác chỉ thị ngay cho quân 2 nước Qua và Quá cùng tiến đánh nước này, Thiếu Khang vừa đánh vừa lùi rồi rút dần tàn quân về nước Hữu Ngu. Hàn Kiêu và Hàn Ế cho rằng quân Thiếu Khang không đáng sợ nên từ đó nảy sinh kiêu ngạo, sau này do chủ quan không đề phòng nên cả hai nước đều bị tiêu diệt. Nước Quá mất về tay Hạ Trữ còn nước Qua mất về tay Vô Dư đều là con của Thiếu Khang, Kiêu và Ế đều tử trận còn số phận của 2 nước trên chỉ tồn tại được hơn 30 năm với vẻn vẹn 1 đời vua. | 1 | null |
Thiết Môn Quan () là một thành phố cấp huyện tại Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc. Thành phố nằm cách Korla (Khố Nhĩ Lặc) về phía tây, cách thủ phủ khu tự trị là Ürümqi về phía tây nam.
Thành phố nguyên là những nơi định cư và canh tác của Sư đoàn nông nghiệp 2 thuộc Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương, và được chuyển thành một huyện cấp thị vào tháng 12 năm 2012, khi Quốc vụ viện phê chuẩn việc thành lập thành phố Thiết Môn Quan. Đây là thành phố thứ sáu tại Tân Cương được chuyển đổi từ đất của Binh đoàn, sau Thạch Hà Tử, Aral (A Lạp Nhĩ), Tumxuk (Đồ Mộc Thư Khắc), Ngũ Gia Cừ, và Bắc Đồn. Giống như các thành phố cùng loại, Thiết Môn Quan là một huyện cấp thị chịu sự quản lý trực tiếp của Khu tự trị mà không có cấp địa khu ở giữa. Thành phố được đặt tên theo Thiết Môn quan.
Thành phố Thiết Môn Quan quản lý một lãnh thổ có diện tích và có số cư dân là 200.000 người. Trung tâm đô thị của thành phố là khu định cư của Đoàn trường 29 thuộc Sư đoàn nông nghiệp 2. Khu định cư của Đoàn trường 28 được đặt tên là trấn Bác Cổ Kỳ (博古其镇), và của Đoàn trường 30 được đặt tên là trấn Song Phong (双丰镇), cả hai đều nằm dưới quyền quản lý hành chính của Thiết Môn Quan. | 1 | null |
Alenka Bratušek (sinh năm 1970) là một nhà chính trị Slovenia. Bratušek nữ là thủ tướng nữ đầu tiên của Slovenia, tại vị từ tháng 3 năm 2013 cho đến tháng 5 năm 2014. Bà đã là Chủ tịch lâm thời Positive Slovenia từ tháng 1 năm 2013 cho đến tháng 4 năm 2014. Ngày 5 tháng 5 năm 2014, Bratušek nộp đơn xin từ chức Thủ tướng.
Tiểu sử.
Bratušek sinh ra ở Celje. Bà học tại Khoa Khoa học Tự nhiên và Công nghệ tại Đại học Ljubljana. Bà cũng nhận được bằng thạc sĩ quản lý tại Khoa Khoa học Xã hội tại trường đại học này. Trước khi tham gia chính trị, bà giữ chức vụ người đứng đầu của Cục Ngân sách Nhà nước tại Bộ Tài chính. Năm 2008, bà chạy đua nhưng không thành công vào Quốc hội trong danh sách đảng Tự do Xã hội Zares.
Trong các cuộc bầu cử nghị viện sớm năm 2011, bà được bầu trên danh sách của Đảng Slovenia Tích cực. Từ năm 2011, bà đã là Chủ tịch của Ủy ban Kiểm soát Ngân sách Quốc hội.
Vào tháng 1 năm 2013, bà được bổ nhiệm làm Chủ tịch lâm thời của đảng Slovenia Tích cực, sau khi lãnh đạo của và là người sáng lập đảng này là Zoran Jankovic tạm thời từ bỏ tất cả các chức vụ trong đảng, sau những cáo buộc do Ủy ban Phòng chống Tham nhũng của nước Cộng hòa Slovenia chống lại ông.
Ngày 27 tháng 2 năm 2013, bà đã được bầu là Thủ tướng Chính phủ chỉ định để hình thành một chính phủ mới của Slovenia, khi chính phủ của Janez Janša đã bị bỏ phiếu bất tín nhiệm. Bratušek có 15 ngày, kể từ ngày để đề xuất một danh sách của các bộ trưởng trước Quốc hội. Các phương tiện truyền thông nước ngoài cho rằng sẽ khó cho Bratušek hình thành một chính phủ mới và đặt câu hỏi liệu bà sẽ tiếp tục với những cải cách được khởi xướng bởi chính phủ Janša | 1 | null |
Chiến dịch Crusader là một hoạt động quân sự lớn do Tập đoàn quân số 8 Anh tiến hành từ ngày 18 tháng 11 đến 30 tháng 12 năm 1941, một phần của Chiến dịch Sa mạc Tây trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến dịch này đã giải vây thắng lợi cho thành phố Tobruk đang bị phong tỏa trong cuộc vây hãm Tobruk năm 1941.
Kế hoạch ban đầu của Tập đoàn quân số 8 là tiêu diệt lực lượng thiết giáp của phe Trục trước khi đưa bộ binh tiến lên đã bị thất bại sau khi Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh đã bị "Quân đoàn châu Phi" của Đức đánh thua thê thảm tại Sidi Rezegh, sau một số trận giao chiến bất phân thắng bại. Tiếp đó, trung tướng Erwin Rommel đã thúc các sư đoàn thiết giáp của mình tiến đến các vị trí pháo đài của phe Trục trên biên giới Ai Cập nhưng không tìm được bộ binh chủ lực của Đồng Minh, vì họ đã bỏ qua các pháo đài và tiến về Tobruk. Do đó, Rommel phải rút các đơn vị thiết giáp về để hỗ trợ chiến sự tại Tobruk. Dù đã giành được một số thắng lợi chiến thuật tại đây, nhưng sự cần thiết phải bảo toàn phần lực lượng còn lại đã làm Rommel phải rút quân về tuyến phòng thủ tại Gazala, phía tây Tobruk, rồi đưa tất cả lên đường quay lại El Agheila. Đây là thắng lợi trên bộ đầu tiên của các lực lượng do Anh cầm đầu trước quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. | 1 | null |
Thần Mi (chữ Hán: 臣靡) là tên một trọng thần có công rất lớn trong việc trung hưng nhà Hạ, ông vốn làm quan thời kỳ Trọng Khang bị Hậu Nghệ lấn lướt khuynh loát quyền hành.
Bấy giờ Trọng Khang có ý đồ hành thích Hậu Nghệ nhưng trong triều mọi người đều là tay chân thân tín của y, duy nhất có mỗi Thần Mi là bề tôi trung thành thường xuyên vào cung để nghị sự với nhà vua. Tuy nhiên mưu kế của vua tôi bất thành vì bị Hậu Nghệ phát giác từ sớm, Thần Mi đưa Trọng Khang chốn chạy ra ngoài bị Hậu Nghệ truy kích khắp nơi. Cuối cùng Trọng Khang nghĩ ngợi buồn rầu nhiều nên phẫn quất quá mà ốm chết trên đường đi, Thần Mi chạy sang nước Châm Tầm phò tá Hạ Tướng mưu đồ phục quốc. Trong thời gia ở đây Thần Mi cầm quân chinh phục một số bộ lạc Đông Di khiến họ phải thuần phục nhà Hạ, nhưng sau đó Hậu Nghệ lại sai Hàn Trác phát binh đánh sang Châm Tầm làm kịch liệt làm Thần Mi phải cùng Hạ Tướng chạy qua nước Châm Quan rồi về nơi Châm Tầm mà Thái Khang trước đã từng đóng đô ở đây xây dựng căn cứ. Hậu Nghệ vẫn không tha tiếp tục xua quân càn quét dồn dập để rồi Hạ Tướng cùng đường phải tự vẫn, còn Thần Mi chạy trốn sang nước Hữu Cách ẩn thân chờ đợi thời cơ.
Khi nhận được tin Thiếu Khang đang ở nước Hữu Ngu thì Thần Mi phái sứ giả sang liên lạc, Thiếu Khang cử con thứ là Vô Dư đến nước Hữu Cách bàn bạc phương án tác chiến. Hai người hoạch định ra nhiều kế hoạch chủ yếu là liên tục giả thua để Hàn Kiêu và Hàn Ế chủ quan khinh địch, sau đó họ phối hợp trong ngoài chia ra 2 mũi tấn công tập hậu tiêu diệt hai nước Quá và Qua. Vì thời đại đó quá xa so với các bộ chính sử sau này nên chi tiết những cuộc hành quân này chỉ không được ghi chép đầy đủ mà chúng ta chỉ tóm lược đại khái như vậy, nhưng nói về công đầu trong việc phục hưng của nhà Hạ thì lịch sử không thể không nhắc đến nhân vật Thần Mi. | 1 | null |
Đế Ly (帝釐) hay Đế Lai (chữ Hán: 帝來) hoặc Đế Khắc (帝克) được xem là vị vua thứ sáu của Thần Nông thị được ghi trong huyền sử Trung Quốc. Theo Tư Mã Trinh bổ sung vào Sử ký phần Tam Hoàng bản kỷ và "Tư trị thông giám" thì tên ông là Ly, là con của Đế Trực và là cháu nội Đế Minh. Các sách khác, như "Thái Bình ngự lãm" (dẫn "Đế vương thế kỷ"), "Thông giám tục biên" hay "Sử toản thông yếu" đều chép tên ông là Lai. Sách "Tư trị thông giám" và "Thông giám tục biên" còn gọi ông là Khắc, con trai của Đế Nghi (còn được gọi là Đế Trực). Cả "Tư trị thông giám" và "Thông giám tục biên" đều chép là ông làm vua 48 năm. Đế Lai nạp con gái Xích Thủy thị là Thính Yêu làm phi.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì Đế Lai từng đem binh xuống phương nam tuần du nước Xích Quỷ mang theo cả con gái, Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, đẻ ra trăm con trai (tục truyền là đẻ ra trăm trứng), là tổ của Bách Việt.
Sau khi Đế Ly tạ thế con là Đế Ai kế nhiệm. | 1 | null |
Trung Sơn Hoàn công (chữ Hán: 中山桓公, trị vì 388 TCN - 350 TCN) là thụy hiệu của vị quân chủ thứ ba của nước Trung Sơn thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Không rõ tên thật ông, ông chính là con của Trung Sơn Vũ công và là cha của Trung Sơn Thành công.
Năm 407 TCN, quân nước Ngụy mở cuộc tập kích bất ngờ đánh vào đô thành nước Trung Sơn, khiến Trung Sơn Vũ công trở tay không kịp. Ông dẫn tàn quân rút vào rừng kháng chiến, nhưng không may một năm sau đó ông bị bắn chết trong đám loạn tiễn. Trung Sơn Hoàn công khi ấy còn nhỏ được các bề tôi thân tín đưa vào tận hang sâu trú ẩn, khi lớn lên chiêu tập binh mã tiếp tục sự nghiệp của cha.
Ông chia quân thành từng nhóm thỉnh thoảng quấy rối đánh tỉa quân Ngụy khiến quân Ngụy ăn không ngon ngủ không yên, khi quân Ngụy đem quân vào rừng truy kích thì ông lại lẩn trốn vào những vùng hang động sâu thẳm khiến quân Ngụy chẳng biết đâu mà lần. Tình trạng đó kéo dài suốt 18 năm, khiến cho quân Ngụy bị sa lầy và cảm thấy chán nản mệt mỏi, lợi dụng tình hình trên ông ra lệnh tổng động viên toàn quân toàn dân mở chiến dịch đánh úp bất ngờ tiến thẳng doanh trại địch. Quân Ngụy đang quen với cách thức đánh du kích của Trung Sơn Hoàn công nên vẫn lơ là phòng bị, bất chợt từ đâu quân dân Trung Sơn bốn hướng bủa vây tới tấp khiến chúng hoảng hốt nháo nhào dẫm đạp lên nhau mà chạy tán loạn.
Trung Sơn Hoàn công vừa về nước thì bị nước Triệu xâm lược trên diện rộng. " Vào năm Triệu Kính hầu thứ mười một (377 TCN), ông ta Trung Sơn", "Năm thứ mười (376 TCN), ông ta tấn công Trung Sơn và chiến đấu chống lại người Trung Sơn." . Ngôi nhà là thành phố biên giới phía nam Trung Sơn, và Trung Nhân là thị trấn quan trọng ở phía bắc Trung Sơn. Hoàn công đã lãnh đạo nhân dân Trung Sơn vùng lên chống giặc và cống hiến hết mình cho cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, thể hiện đầy đủ sức mạnh quân sự của đất nước mới khôi phục. Sau một trận chiến khốc liệt, Trung Sơn đã đánh bại cuộc xâm lược của nước Triệu, bảo vệ lãnh thổ vốn có, chiến thắng trong cuộc chiến với nước Triệu. Triệu Kính hầu định dùng sự phân chia kẻ mạnh để ức hiếp kẻ yếu, và bị quân đội Trung Sơn đuổi ra khỏi đất nước
Từ đó, lãnh thổ Trung Sơn đã sạch bóng quân Ngụy, Hoàn công đưa dân trở về nơi cố hương xây dựng lại thành trì nhà cửa kiến thiết đất nước. Ông cho bố trí những hệ thống phòng thủ chắc chắn hơn trước và khôi phục tất cả mọi thứ bị quân Ngụy từng tàn phá trước đây, dưới thời ông chấp chính nước Trung Sơn đạt đến độ phát triển cường thịnh nhất.
Năm 350 TCN, Trung Sơn Hoàn công già yếu, ốm nặng tạ thế, con là Trung Sơn Thành công kế vị. Ông cầm quyền nước Trung Sơn trong vòng 38 năm, nếu tính cả thời gian 18 năm ẩn dật trong chiến khu thì cả thảy ông làm vua trong 56 năm. | 1 | null |
Bông ổi tím hay trâm ổi tím (danh pháp hai phần: Lantana montevidensis) là một loài trâm ổi có màu tím, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Đây là loài đặc hữu của Nam Mỹ.
Miêu tả.
Bông ổi tím là một loài cây bụi thấp, mọc leo nếu như có giá đỡ và che phủ mặt đất nếu mọc trên đất. Chùm hoa bao gồm các hoa nhỏ hình phễu có màu từ trắng vàng ở trong đến tím, tím sẫm ở rìa. Các lá có hình bầu dục nhọn ở đỉnh, mặt lá xù xì, có lông, mép lá có răng cưa. Quả nằm trong lá đài, chứa hai hạch cứng, xù xì.
Gieo trồng và hạn chế.
Trâm ổi tím xuất hiện gần như trên toàn thế giới. Nó được trồng rộng rãi làm cây cảnh vì có màu sắc đẹp và chịu hạn. Ở các nơi thuộc vùng nhiệt đới, cây có thể ra hoa quanh năm.
Tuy nhiên tại vài nơi ở Úc và Hawaii, nó được coi là một loài thực vật xâm lấn. Loài này cũng có chất độc nên có thể gây hại cho vật nuôi. | 1 | null |
Etrich "Taube là một loại máy bay cánh đơn trước Chiến tranh thế giới I, do có nhiều hãng chế tạo nên nó cũng được gọi với những cái tên khác nhau, ví dụ như Rumpler "Taube. Đây là loại máy bay quân sự được sản xuất hàng loạt đầu tiên ở Đức. | 1 | null |
Tấn công tự sát hay tấn công liều chết là phương pháp tấn công và thủ phạm (người hoặc nhiều người) dự định giết chết một số lượng người, tính luôn chính thủ phạm. Trong các cuộc tấn công tự sát, người tấn công sẽ chết sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Một dạng phổ biến nhất là đánh bom liều chết.
Từ năm 1981 đến năm 2006, 1200 cuộc tấn công tự sát đã xảy ra trên khắp thế giới, chiếm 4% tất cả các cuộc tấn công khủng bố, nhưng chỉ làm chết 32% (14.599 người) các phần tử khủng bố có liên quan. 90% vụ tấn công xảy ra tại Iraq, Israel, Afghanistan, Pakistan, Sri Lanka.
Lịch sử.
Mặc dù việc sử dụng các cuộc tấn công tự sát đã xảy ra trong suốt lịch sử cận đại - đặc biệt là các phi công cảm tử kamikaze của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ II (cố ý lái máy bay đâm thẳng vào lực lượng địch) - nó chỉ chính thức được công nhận thành một kiểu tấn công cụ thể từ những năm 1980 bao gồm việc sử dụng vật liệu nổ nhắm vào mục tiêu là người hoặc phương tiện di chuyển dân sự mang tính chất bất ngờ. Sau sự thành công của một vụ đánh bom năm 1983 nhắm vào hai công trình doanh trại ở Beirut đã giết chết 300 người và ảnh hưởng tới lực lượng đa quốc gia của Mỹ và Pháp, chiến thuật nhanh chóng được các nhóm nổi dậy như Hổ Tamil của Sri Lanka, và các nhóm Hồi giáo như Hamas tiến hành.
Gần đây, số lượng các cuộc tấn công tự sát đã gia tăng đáng kể, từ mức trung bình dưới năm lần một năm trong những năm 1980 lên 180 lần một năm trong nửa đầu của những năm 2000 và từ 81 vụ tấn công tự sát trong 2001 tăng lên 460 vào năm 2005. Đặc biệt ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc tấn công là các mục tiêu quân sự và dân sự ở Sri Lanka, các mục tiêu nhắm vào người Israel ở Israel từ năm 1993, người dân Iraq kể từ khi cuộc xâm lược do Mỹ dẫn đầu diễn ra vào năm 2003, Pakistan và Afghanistan kể từ năm 2005.
Đặc điểm.
Ngày nay, tấn công tự sát thường sử dụng hình thức gây nổ như bom hoặc các vật thể gây nổ khác (như xe hơi, máy bay chứa thuốc nổ) hoặc cả bom và vật thể gây nổ. Nếu mọi việc diễn ra đúng như kế hoạch, người chủ mưu tấn công chết ngay khi việc tấn công hoàn tất.
Những nơi đông người là địa điểm lý tưởng cho việc tấn công tự sát nhằm đưa số thương vong lên mức tối đa. Ngày nay, đánh bom tự sát và các hình thức tấn công tự sát khác xảy ra phổ biến tại Trung Đông.Phần nhiều các vụ tấn công tại Israel, thực hiện bởi người Hồi Giáo Hamas và các phần tử khủng bố Palestine là đánh bom tự sát.
Cơ chế tâm lý.
Hành vi tấn công tự sát có nhiều nguyên nhân (như bệnh tâm thần, hận thù, chủ nghĩa cực đoan, mục đích quân sự, v.v.). Tuy nguyên nhân khác nhau tùy theo cá nhân và tình huống, nhìn chung tấn công tự sát xảy ra khi kẻ tấn công xem giá trị tiêu cực chủ quan của cái chết nhỏ hơn giá trị tích cực chủ quan của hành vi tấn công . Yếu tố tôn giáo thường bị truyền thông gắn với hành vi tấn công tự sát; tuy nhiên cần lưu ý rằng trong điều kiện bình thường, các tôn giáo lớn trên thế giới đều cổ vũ hòa bình; chỉ trong trường hợp các tổ chức cực đoan lợi dụng bóp méo giáo lý, cơ chế tâm lý - tôn giáo của ý định tự sát mới dẫn đến hành bi bạo lực . | 1 | null |
Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ (chữ Hán: 竹林大士出山圖) là một bức trường quyển trên giấy quyến bao gồm họa phẩm tranh thủy mặc kết hợp nghệ thuật thư pháp đặc sắc, và miêu tả cảnh Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tông) từ động Vũ Lâm xuất du. Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ được vẽ trên một trường quyển (长卷) có kích thước 961×28 cm, trong đó bao gồm một bức họa rộng 316×28 cm.
Năm 1922, bức thư họa được hoàng đế Phổ Nghi bí mật đưa ra ngoài và lưu lạc cho đến năm 1949 mới được đem về cất giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh, thành phố Thẩm Dương. Cho đến trước tháng 4 năm 2012 những gì được biết về bức thư họa vẫn chỉ là những lời miêu tả, ghi chép trên văn bản. Vào tháng 4 năm 2012, trong một cuộc đấu giá, bản phục chế của bức thư họa được bán với giá 1,8 triệu đô la Mỹ.
Tác giả bức họa.
Trước đây, bức họa được cho là của họa sư Trần Giám Như (陳鑑如), một họa sĩ Trung Quốc thời nhà Nguyên của Mông Cổ vẽ năm 1363, theo dòng lạc khoản trên tranh. Nhưng dựa vào giám định của bảo tàng Liêu Ninh và những công trình khảo cứu của các nhà nghiên cứu khác, được đề cập trong cuốn "Ngàn năm áo mũ", thì chắc chắn bức tranh không phải do Trần Giám Như thực hiện, mà dòng lạc khoản đó chứa đựng những thông tin sai lầm của người đời sau bồi vào. Thay vào đó, dựa theo những lời bình chú của các danh sĩ trong tranh thời đó, cho thấy tác giả chắc chắn là người Việt.
Học giả Trần Quang Đức trích dẫn "Liêu Ninh tỉnh bác vật quán tàng – Thư họa trước lục – Hội họa quyển" do Nhà xuất bản. Mỹ thuật Liêu Ninh xuất bản năm 1999 cho biết: "“Sách Bí điện chu lâm thời Thanh nhận định Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ là do Trần Giám Như vẽ, thực ra đã lầm. Bởi vết tích cắt xén ở phần cuối tranh vẫn có thể thấy rõ, vả lại dòng lạc khoản ‘Chí Chính chấp tam niên xuân Trần Giám Như tả’ sau này mới điền vào cũng hết sức rõ rệt. Theo Quyển 5 sách Đồ hội bảo giám của Hạ Văn Ngạn thời Nguyên cho biết ‘Trần Giám Như sống ở Hàng Châu, tinh thông vẽ truyền thần, là cao thủ số một của quốc triều’. Song trước mắt chúng ta chưa thấy tác phẩm nào của ông, nên không có cách nào so sánh với bức tranh này được, riêng dòng lạc khoản sau này mới điền đã đủ chứng minh đây không phải họa phẩm được vẽ ra từ tay bút Trần Giám Như. Dựa vào bốn nửa con dấu giáp lai như Ký Ngao, Tây Sở Vương Tôn của Hạng Nguyên Biện ở phần cách thủy sau tranh, có thể thấy rõ ràng việc này phát sinh trong lúc người ta cắt xén tranh khi bồi biểu. Từ đó có thể đoán rằng, thời gian điền lạc khoản phải rơi vào quãng sau khi họ Hạng đóng ấn và trước khi được đưa vào cung nhà Thanh.""
Cũng theo Trần Quang Đức trong "Ngàn năm áo mũ", những người viết lời bình của các danh sĩ ở cuối tranh đều không nhắc đến danh họa Trần Giám Như. Trong số những lời bình đó, có Dư Đỉnh viết: ""Từ triều trước đến nay, tên tuổi ngài không được biết đến ở Trung châu [...] Nay may gặp thánh triều, khôi phục cương thổ thời Hán Đường, thu hết đất ấy, nhập vào bản đồ, khiến phong tục đồng văn đồng quỹ, nên tranh này mới được truyền bá ở kinh sư. Bằng không, tên tuổi của đại sĩ cũng chỉ lưu truyền ở một vùng Nam Giao mà thôi [...] Người Nam Giao vẽ lại sự việc nhất thời, hoan hỷ truyền xem"”, Phó Hiệp viết: “"Người trong nước hâm mộ, làm ra tranh này"”. Vì vậy, rất có khả năng tranh do họa sĩ người Việt vẽ.
Theo giáo sư Phan Huy Lê năm 2016, những giám định gần đây khẳng định bức tranh vẽ tại Việt Nam và do những họa sĩ Việt Nam vẽ.
Mô tả.
Toàn bộ thư quyển có kích thước 961×28 cm, trong đó bao gồm một bức họa rộng 316×28 cm, phần còn lại là phần thư pháp.
Bức họa.
Với diện tích 316×28 cm của bức tranh, họa sĩ bức tranh đã vẽ tổng cộng 82 người: 61 người ở bên phải thuộc đoàn tiếp đón của Vua Trần Anh Tông và các tùy tùng, hộ giá; 21 người bên trái thuộc đoàn của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, được chia làm 2 nhóm: Nhóm rước kiệu, tất cả đều đi chân đất và nhóm Vua quan, gồm 5 quan văn và 2 quan võ đứng trước vua. Bức tranh mô tả không gian với mây, núi, sông, cây cổ thủ xen lẫn cây cỏ dại ven đường. Màu sắc đen trắng của thủy mặc, giãn cùng các điểm nhấn là con người, những cây tùng cổ thụ, núi và mây tạo nên hiệu ứng thẩm mỹ về không gian và thời gian. Người, voi, ngựa, trâu, hạc cùng võng lọng, ngai, nghi trượng tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh về bố cục của bức tranh. Từ núi ra có 21 người gồm Trần Nhân Tông, đạo sĩ Trung Quốc Lâm Thời Vũ. 5 tăng nhân ngoại quốc với đặc trưng về dị tộc rất đặc thù của người Nam Á rất có thể đây là tăng nhân Ấn Độ, tay cầm tích trượng, bình bát, kinh quyển. 8 đệ tử của Nhân Tông và 6 người khiêng kiệu đều có mày dài, có râu, tai to, tay lần tràng hạt.
Phần thư pháp.
Được cho là thêm vào thời nhà Minh do Trần Quang Chỉ, chủ nhân của bức họa đã mời các danh sĩ thời đó viết thêm lời bình dẫn và đề thơ.
Các lời bình về bức tranh được thực hiện vào khoảng năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420). Bao gồm Triện phía đầu tranh và các bài bạt tựa phía sau tranh. Dưới đây là đoạn trích từ lời bình trên bức tranh của tiến sĩ Dư Đỉnh đời nhà Minh:
Dưới đây là danh sách các danh sĩ thời này đã đưa ra lời bình dẫn trong tranh:
Tác phẩm phái sinh.
Tại Việt Nam, họa phẩm “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” cũng được nhân bản và chuyển thể, tiêu biểu như: | 1 | null |
Đế Ai (chữ Hán: 帝哀), còn gọi là Đế Lý hay Đế Cư, được xem là vị vua thứ 7 của Thần Nông thị. Ông là con của Đế Ly (còn gọi là Đế Lai). Cả "Tư trị thông giám" và "Thông giám tục biên" đều chép là ông làm vua 43 năm.
"Sử ký tác ẩn" chép là ông sinh ra Khắc và Khắc là vị vua nối ngôi, nhưng "Thông giám tục biên" lại chép rằng Khắc chỉ là cháu của Đế Lý (tức Đế Ai): Lai sinh Đế Lý lại viết là Đế Cư tại vị 43 năm, Cư sinh Tiết Hành, Tiết Hành sinh Khắc và Hí, đều không làm vua, Khắc sinh Đế Du Võng.
Cả "Tư trị thông giám" và "Thông giám tục biên" cũng gọi Đế Ly (hay Đế Lai) là Đế Khắc, với chữ Khắc trong "Tư trị thông giám" dùng chỉ Đế Ly và trong "Thông giám tục biên" dùng chỉ Đế Lai và Khắc con của Tiết Hành cùng đều là chữ 克. | 1 | null |
Công viên kỷ Jura III hoặc Công viên khủng long III (tựa gốc tiếng Anh: Jurassic Park III) là một bộ phim kinh dị - viễn tưởng - phiêu lưu Mỹ do Joe Johnston làm đạo diễn. Phim phát hành năm 2001, là phần tiếp theo của hai bộ phim "Công viên kỷ Jura" (1993) và "" (1997).
Steven Spielberg không làm đạo diễn trong phần này, ông giao lại cho Joe Johnston đạo diễn. Bộ phim cũng không còn dựa theo tác phẩm của Michael Crichton như hai phim trước, chỉ có một vài nhân vật trong cuốn tiểu thuyết được đưa vào phim.
Tại Việt Nam phim được Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Truyền thông Purpose mua bản quyền, lồng tiếng và phát sóng trên kênh HTV3 - DreamsTV vào ngày 27/10/2018.
Nội dung.
Cậu bé Eric Kirby 12 tuổi đang chơi nhảy dù ở vùng biển gần hòn đảo Isla Sorna. Một sinh vật bí ẩn tấn công con thuyền, làm Eric rơi vào hòn đảo. Erik gặp nạn cùng với ông bố dượng Ben, khi cha cậu là Paul và mẹ là Amada đã chia tay nhau. Điều này góp phần giúp đôi vợ chồng tái hợp nhau, trong khi lên kế hoạch cứu cậu nhóc.
Ở đất liền, Tiến sĩ Alan Grant đã trở nên nổi tiếng sau chuyến phiêu lưu ở Công viên kỷ Jura. Phụ tá của Grant là Billy Brennan tạo ra một ống thanh quản có thể giả tiếng kêu của Velociraptor. Tuy có danh tiếng là vậy, Alan vẫn gặp khó khăn về nguồn tài trợ cho dự án. Còn Ellie Sattler đã kết hôn và có hai đứa con, nhưng bà vẫn cùng Grant theo dõi các nghiên cứu về loài khủng long ăn thịt.
Hai vợ chồng Paul và Amanda Kirby mời Grant đi cùng họ đến hòn đảo Isla Sorna làm hướng dẫn viên du lịch. Họ cùng nhau lên máy bay đến hòn đảo Isla Sorna. Trên chuyến bay gồm có: Grant, Billy, Paul, Amanda, trợ lái Udesky, trưởng đoàn Cooper và phi công Nash. Khi họ xuống hòn đảo, con khủng long Spinosaurus đã ăn thịt Cooper và Nash. Nó làm cho chiếc máy bay đâm thẳng vào rừng. Cả nhóm bỏ chạy thì gặp con T.rex, họ để cho hai con khủng long lao vào đánh nhau. Con Spinosaurus giết chết con T.rex.
Grant biết được hai vợ chồng Kirby đang muốn tìm đứa con trai Eric của họ đang mất tích trên hòn đảo này. Cả nhóm tìm thấy một cái dù và một xác người chết. Cả nhóm lấy cái dù, và đến tổ của bọn Velociraptor. Họ vào trong trụ sở bỏ hoang của InGen, nơi mà Amanda bị một con Velociraptor tấn công. Con raptor gọi những con Veciloraptor khác đến đuổi theo họ. Cả nhóm bỏ chạy cùng với đám Corythosaurus và Parasaurolophus, tạo nên cuộc chạy tán loạn, làm Grant chạy tách ra khỏi nhóm. Những người khác đã leo lên cây kịp lúc, trong khi Udesky bị bọn raptor bắt được và bị xé xác.
Grant sắp bị bọn raptor bao vây, nhưng cậu bé Eric đã cứu anh và đưa anh về nơi ẩn náu. Sáng hôm sau, Grant và Eric gặp lại Billy và vợ chồng Kirby. Paul kể rằng anh đã đưa cái điện thoại cho Nash trước khi anh ta bị ăn thịt, trước khi cả nhóm bị con Spinosaurus tấn công. Grant phát hiện Billy đã lấy cắp hai quả trứng của bọn raptor, điều này làm bọn raptor đuổi theo họ. Cả nhóm vô tình đi vào khu vực của thằn lằn bay Pteranodon, nó tấn công họ và gắp Eric bay đi. Billy sử dụng cái dù giải cứu Eric, rồi chính anh bị con thằn lằn bay tấn công. Những người còn lại chạy thoát trên một con thuyền.
Đêm đó, cả nhóm nghe tiếng điện thoại vang lên trong đống phân của con Spinosaurus, và họ tìm thấy cái điện thoại. Mưa bắt đầu rơi, Grant cố gắng gọi điện cho Sattler, con Spinosaurus tấn công con thuyền. Grant tạo ra một ngọn lửa lớn làm con Spinosaurus phải bỏ chạy. Ngày hôm sau, cả nhóm đang ra bờ biển thì bị bọn raptor bao vây. Grant trả lại hai quả trứng cho bọn raptor, rồi dùng ống thanh quản thổi ra tiếng kêu giả để đuổi chúng đi. Lúc ra đến bờ biển, cả nhóm được quân đội Mỹ đón về. Họ phát hiện Billy vẫn còn sống và đang quân y cứu thương. Trực thăng đưa họ rời khỏi hòn đảo, họ nhìn thấy một đám thằn lằn bay, Grant cho rằng chúng "đang đi tìm tổ mới". | 1 | null |
King Kong là một bộ phim kinh dị khoa học viễn tưởng năm 2005 của Mỹ do đạo diễn kiêm biên kịch và nhà sản xuất Peter Jackson thực hiện làm lại từ bộ phim gốc cùng tên năm 1933,kịch bản gốc dựa trên ý tưởng của Merian C. Cooper và Edgar Wallace.
"King Kong" có sự tham gia của Naomi Watts, Jack Black và Adrien Brody vào ba vai chính trong phim.Đồng thời trong các cảnh quay hành động kỹ xảo, Andy Serkis vào vai khỉ đột khổng lồ Kong.
Chi phí sản xuất bộ phim đã phát sinh thêm rất nhiều đến mức kỷ lục là 207 triệu đôla so với dự tính ban đầu là 150 triệu đôla. Ra mắt vào ngày 14 tháng 12 năm 2005,bộ phim đạt doanh thu phòng vé mở màn là 50,1 triệu đôla.Sau đó, doanh thu phòng vé nội địa và toàn cầu của "King Kong" đạt mức 550,5 triệu đôla, trở thành bộ phim có doanh thu phòng vé cao thứ tư trong lịch sử hãng Universal Pictures. Đồng thời bộ phim cũng đã thu về 100 triệu đôla tiền bán đĩa DVD. Dù bị phê bình về việc thời lượng phim quá dài (3 tiếng 7 phút),bộ phim vẫn nhận được nhiều đánh giá tích cực và đứng trong "top ten" của nhiều bảng xếp hạng năm 2005. Bộ phim được đề cử bốn giải Oscar và thắng ba trong số đó là Biên tập âm thanh xuất sắc nhất, Hòa âm hay nhất và Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất.
Nội dung.
Tại một hòn đảo rộng lớn nằm đâu đó trên biển Ấn Độ Dương, được gọi là Đảo Đầu Lâu, có rất nhiều sinh vật lạ sinh sống nhưng đặc trưng nhất là con khỉ đột khổng lồ tên Kong được thổ dân bản xứ tôn thờ như là một quái vật ăn thịt linh thiêng. Hòn đảo này trước đây không ai dám đặt chân đến, nhưng một hôm có đoàn phim của ông đạo diễn Carl Denham đến đây quay phim vì họ biết nơi đây có nhiều sinh vật lạ, rất thích hợp cho những cảnh ngoạn mục trong phim.
Cô diễn viên Ann Darrow xinh đẹp trong đoàn phim bỗng bị bộ tộc bản xứ bắt và tế sống cho Kong, thế là tất cả mọi người trong đoàn phim cũng như những thủy thủ phải trang bị vũ khí để đi cứu Ann. Suốt thời gian đó, họ phải đối mặt với nhiều chuyện kinh hoàng như là côn trùng to lớn, khủng long... và hậu quả là 17 người mất mạng. Còn về phần Kong, khi nó đưa Ann về hang thì nó không ăn thịt cô mà rất yêu mến cô, nó xem cô như người tình nhỏ bé của mình. Kong còn dám giết chết ba con khủng long Tyrannosauridae (một giống nòi của T-rex) để bảo vệ Ann.
Tối hôm đó, Jack Driscoll - người yêu của Ann đã đến cứu cô chạy trốn khỏi Kong trong lúc nó đang ngủ, khi tỉnh dậy thì nó giận dữ vô cùng rồi đuổi theo cả hai, nhưng không may Carl và nhiều thủy thủ khác đã bẫy nó và đem nó về Mỹ. Về đến New York, Carl cho hàng ngàn khán giả của mình thưởng lãm Kong và ông gọi nó là "kỳ quan thứ tám của thế giới". Sau đó Kong cố gắng thoát ra khỏi xiềng xích, nó phá tan nhà hát rồi chạy khắp nơi trong thành phố tìm Ann, nó gây ra một cảnh huyên náo chưa từng thấy khiến người dân phải khiếp sợ.
Ann nghe tin Kong thoát ra liền chạy đến với nó, cô và Kong đang chơi đùa vui vẻ với nhau thì lính chính phủ xuất hiện, họ dùng súng máy và đại bác tiêu diệt Kong nhưng nó vẫn tránh được. Kong đưa Ann lên tận đỉnh của tòa nhà Empire State nhằm mục đích an toàn, một lát sau có 6 chiếc máy bay tiêm kích cơ của quân đội bay đến bắn đạn như mưa vào Kong mặc dù Ann hết sức gào hét ngăn cản. Kong ráng lắm mới phá được 3 chiếc máy bay. Do trúng quá nhiều đạn, Kong đành nhìn người đẹp Ann lần cuối rồi rơi xuống đất chết, Jack tìm thấy Ann và đưa cô về. Bộ phim kết thúc với cảnh Carl nhìn xác Kong rồi nói với mọi người xung quanh rằng: "Không phải do máy bay đâu, mà chính người đẹp đã giết chết quái thú". | 1 | null |
Đan Chu (chữ Hán: 丹朱) là tên một nhân vật truyền thuyết sống vào thời Ngũ Đế trong lịch sử Trung Quốc, theo nhiều tư liệu ghi chép thì Đan Chu là con trai trưởng của đế Nghiêu.
Theo nhận xét của đế Nghiêu thì Đan Chu là người thông minh nhưng tính cách không khoan hòa lại hay cãi cọ với người khác, nghĩa là ông rất bảo thủ khăng khăng cho mình là đúng và không chịu nhận khuyết điểm với ai bao giờ. Bấy giờ vua Nghiêu trị vì thiên hạ đã 100 năm, lúc này ông cảm thấy mình đã già yếu cần phải tìm người thay thế. Tuy rằng tổ tiên đã có tục lệ cha truyền con nối, nhưng ông cảm thấy Đan Chu là kẻ bất tiếu nên quyết định không truyền ngôi, sau này đế Nghiêu đã tìm được người ưng ý là Diêu Trọng Hoa rồi thiện nhượng ngôi vị cho.
Nhà vua giải thích với quần thần rằng: "Ta đem giang sơn trao cho Diêu Trọng Hoa thì toàn dân sẽ được lợi riêng chỉ mỗi mình Đan Chu là không có lợi, do đó ta không thể nào lấy sự đau khổ của mọi người để làm nên cái lợi cho một mình Đan Chu được".
Tuy nhiên từ lúc vua cha lên ngôi thì Đan Chu đã và đang tiếp quản làm thủ lĩnh nước Đường rồi, ông có bất mãn đôi chút nhưng sau khi được cha phân tích hợp lý nên cũng vỡ lẽ mà yên tâm với vị trí quân chủ một nước chư hầu.
Theo ghi chép của một thư tịch quan trọng khác là Trúc thư kỷ niên thì Ngu Thuấn lợi dụng Đường Nghiêu già yếu đã lừa bắt rồi giam vào trong ngục và cướp ngôi, Đan Chu không gặp được cha bất bình khởi binh tạo phản bị Thuấn đánh bại giết chết. | 1 | null |
là chữ viết biểu âm cổ của tiếng Nhật, hiện chỉ được dùng cho mục đích thẩm mỹ. Nó là trung gian giữa chữ viết cổ man'yōgana và chữ hiragana hiện đại.
Sogana xuất hiện chủ yếu trong các văn bản thời kỳ Heian, đáng chú ý là và . Bắt nguồn từ nét chữ phác thảo của man'yogana, sogana được tiếp tục điều chỉnh vào đầu thế kỷ 11 và đã phát triển thành các ký tự Hiragana hiện đại.
Sogana bây giờ chỉ còn dùng trong nghệ thuật. Nó thường được sử dụng trong thơ ca, như trong tác phẩm Fujiwara Kozei, có phong cách được xem là hình mẫu của sogona. | 1 | null |
Tây Chu Văn công (chữ Hán: 西周文公, trị vì: ? - 256 TCN) là vị quân chủ cuối cùng của nước Tây Chu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc, tên húy của ông là Cơ Cữu (姬咎) và ông là con trai thứ của Tây Chu Vũ công Cơ Cộng Chi.
Thân thế.
Nguyên Tây Chu Vũ công có hai người con trai là Cơ Cộng và Cơ Cữu, Cơ Cộng được lập làm thái tử còn Cơ Cữu thời gian đó được đưa sang làm con tin nước Sở để đổi lấy một số viện trợ về kinh tế và quân giới. Cơ Cữu ở nước Sở được vài năm thì hay tin anh trai là Cơ Cộng qua đời, ông được vua Sở phát binh đưa về nước để nhận ngôi thái tử thế tập.
Nỗ lực phục hưng Chu thất.
Thời gian Cơ Cữu tại vị cũng là lúc vương thất nhà Chu đã đến hồi mạt vận, Chu Noãn Vương tuy vẫn ở nhờ cung điện của ông nhưng lại nợ tiền dân chúng không trả nổi phải chạy trốn vào sau ghế ẩn núp. Cơ Cữu chứng kiến cảnh quân nước Tần thắng thế đang có ý đồ thâu tóm các nước khác mà chẳng chịu cam tâm, ông quyết định thay mặt thiên tử đứng ra hợp tung với các nước chư hầu tấn công Tần nhằm ngăn chặn bước tiến mở rộng tiềm lực của nước này.
Năm 256 TCN, Tây Chu Văn công đứng đầu liên minh thảo phạt nước Tần, không ngờ liên quân chỉ là một đám ô hợp kẻ dùng dằng chưa dám tiến kẻ không đánh đã rút lui người thì chờ thủ thế nên thất bại nhanh chóng. Quân Tần đánh thẳng tới kinh đô nước Tây Chu khiến Cơ Cữu thua, phải bỏ chạy sang đất Đan (nay thuộc thành phố Nhữ Châu tỉnh Hà Nam), Chu Noãn Vương bị cắt mất nguồn lương thực buộc lòng phải đầu hàng quân Tần khiến nhà Chu đến đây kết liễu. Tiếp theo quân Tần lại tổ chức hành quân càn quét sang đất Đan vây bắt bằng được Tây Chu quân, Cơ Cữu cùng đường bí lối đành phải cúi đầu xưng thần và dâng cho Tần 36 ấp cùng với 30.000 dân đất Đan và nước Tây Chu cũng cáo chung sau 184 năm tồn tại với 5 đời chúa. | 1 | null |
Science Channel là kênh truyền hình cáp, vệ tinh và truyền hình tương tác ở Hoa Kỳ do hãng truyền thông Discovery Inc. sở hữu. Các chương trình chính của kênh Science bao gồm thiên văn học, công nghệ, thời tiền sử và thế giới động vật.
Lịch sử.
Kênh Discovery Science Network bắt đầu phát sóng từ tháng 10 năm 1996, là một trong bốn kênh kỹ thuật số của Discovery được khởi động đồng thời với nhau. Kế hoạch cho những kênh này đã được chuẩn bị từ tháng 11 năm 1994. Ban đầu kênh có tên gọi là "Quark!", nhưng đã bị thay đổi trước khi phát sóng.
Từ đó đến nay kênh truyền hình này đã nhiều lần đổi tên như Discovery Science Channel (1998), và The Science Channel (2002), tuy vậy phiên bản quốc tế vẫn giữ nguyên tên gọi 'Discovery Science'. Sau đó nó có thêm tên ngắn gọn là Science Channel vào năm 2007 với một logo mới tựa bảng tuần hoàn, và tên gọi Science đổi từ năm 2011 cũng như logo mới do hãng Imaginary Forces thiết kế.
Phiên bản HD 1080i có từ 1 tháng 9 năm 2007, cùng với các kênh khác bao gồm Discovery Channel HD, TLC HD và Animal Planet HD. | 1 | null |
Kiểm ngư Việt Nam (KNVN), gọi tắt là Kiểm ngư (KN), là lực lượng chuyên trách thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, được thành lập ngày 25 tháng 01 năm 2013 theo Nghị định số 102/2012/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 29/11/2012. Lực lượng này thực hiện chức năng tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và thanh tra chuyên ngành thủy sản trên các vùng biển Việt Nam. Tuy là lực lượng dân sự nhưng kiểm ngư có thể phối hợp với hải quân, biên phòng và cảnh sát biển.
Tổ chức.
Lực lượng Kiểm ngư VN được tổ chức từ Trung ương đến các Vùng. Cục Kiểm ngư có trụ sở chính tại Hà Nội; năm Chi cục Kiểm ngư Vùng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật trên các vùng biển Việt Nam.
Trang bị.
Sáng 10/7/2013 Quốc hội đã khai mạc phiên họp thứ 19, trong đó Chính phủ đã có tờ trình đề xuất trang bị vũ khí cho lực lượng kiểm ngư. Theo đề xuất này, kiểm ngư là lực lượng hoạt động độc lập, có nhiệm vụ trực tiếp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam... Đây là lực lượng thường xuyên phải đối mặt với các hành vi vi phạm pháp luật, nhưng hiện nay mới chỉ được trang bị công cụ hỗ trợ. Vì thế, Chính phủ đề nghị trang bị vũ khí quân dụng cho kiểm ngư khi thi hành nhiệm vụ. Sáng ngày 12/7/2013 UBTVQH chính thức chấp thuận đề nghị này.28/3/2014
Ngày 15/4/2014, Bộ NN&PTNT tổ chức lễ ra mắt lực lượng Kiểm ngư VN. Kiểm ngư Việt Nam được trang bị gồm tàu cỡ lớn nhất là tàu KN-781. Đây là biến thể của thiết kế tàu tuần tra DN-2000 đóng cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam với một số khác biệt nhỏ.
Ngoài ra còn có hàng loạt tàu cỡ lớn và cỡ trung, trong đó có tàu KN-762 cùng hàng loạt tàu Kiểm ngư cỡ nhỏ tại các tỉnh. Về vũ khí ngoài súng bắn đạn nhựa, hơi cay, dùi cui điện, lực lượng Kiểm ngư sẽ được trang bị thêm một số loại vũ khí quân dụng như súng ngắn, súng trường, súng liên thanh…
Các nhiệm vụ chấp pháp, đấu tranh và đụng độ nổi bật trên biển.
Trung Quốc.
Vụ HD-981.
Mới chính thức thành lập được nửa tháng thì vào ngày 01/05/2014, Kiểm ngư Việt Nam đã phát hiện giàn khoan dầu Hải Dương 981 và lực lượng bảo vệ của Trung Quốc tiến hành khoan thăm dò tại một vị trí cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa 17 hải lý về phía nam, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Theo thông tin do báo "die Welt" của Đức lấy từ Phó tư lệnh tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam Ngô Ngọc Thu tại buổi họp báo quốc tế chiều 7/5, Việt Nam đã gửi tổng cộng 29 tàu, gồm tàu của lực lượng Cảnh sát biển và tàu của Kiểm ngư Việt Nam, đấu tranh buộc giàn khoan của Trung Quốc phải rời khỏi vùng biển Việt Nam.
Phía Trung quốc từ ngày 2 cho tới 5/5 đã dùng tàu đâm húc nhiều lần và phun nước áp lực cao làm hư hại 8 tàu Kiểm ngư Việt Nam. Có sáu kiểm ngư viên Việt Nam bị mảnh kính văng vào gây thương tích phần mềm.
Các sự kiện đối đầu Việt - Trung sau năm 2014.
Sau sự kiện HD-981, Việt Nam và Trung Quốc liên tục có các pha đụng độ ở khu vực Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhưng may mắn là đã chưa có va chạm xảy ra. Trong đó có sự kiện ngày 26 tháng 3 năm 2023 khi tàu KN-278 đã di chuyển ở hướng đối đầu với tàu Hải cảnh Trung Quốc với khoảng cách chỉ 10m nhưng chưa va chạm, đánh dấu sự kiện căng thẳng và nguy hiểm hiếm hoi giữa 2 bên 2 bên
Indonesia.
Nhằm ngăn chặn phía Indonesia bắt giữ tàu và ngư dân Việt Nam ở vùng chồng lẫn giữa Indonesia và Việt Nam, vào ngày 28 tháng 4 năm 2019, tàu KN-213 của Kiểm ngư Việt Nam đã chủ động đâm vào mạn trái của tàu hộ vệ săn ngầm KRI "Tjiptadi" của Hải quân Indonesia, thành công trong việc giải thoát 2 trong số 14 ngư dân của phía Việt Nam; trong khi một tàu KN khác chủ động tìm cách đâm chìm chính tàu cá của phía Việt Nam để phía Indonesia không thể thu giữ.
Đây không phải là vụ việc duy nhất mà lực lượng KNVN can thiệp để giải cứu ngư dân khỏi các hoạt động bắt giữ gây bất đồng từ phía Indonesia.
Malaysia.
Kiểm ngư Việt Nam đã có ít nhất 2 lần đối đầu với Tuần duyên Malaysia để giải cứu các tàu cá và ngư dân Việt Nam bị bắt trong vùng chồng lấn.
Nhận xét.
Trung Quốc.
Trả lời phỏng vấn Thời báo Hoàn Cầu, Đái Húc - một Đại tá không quân Trung Quốc - bình luận: "Việt Nam thành lập lực lượng Kiểm ngư là nhằm đối phó với Hải giám và Ngư chính Trung Quốc. Trên thực tế, Kiểm ngư Việt Nam là lực lượng bán quân sự được thành lập một mặt nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc, một mặt gia tăng tần suất phát sinh va chạm với Trung Quốc. Có thể dự đoán, những vụ va chạm trên Biển Đông trong tương lai sẽ gia tăng nhưng sẽ không dẫn đến xung đột quân sự." | 1 | null |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.