text stringlengths 1 148k | label int64 0 2 | __index_level_0__ int64 0 113k ⌀ |
|---|---|---|
hay JOGMEC (viết tắt từ "Japan Oil, Gas and Metals National Corporation"), là một cơ quan chính phủ Nhật Bản tổ chức hành chính độc lập đã được tạo lập vào năm 2004 khi cựu Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Nhật Bản sáp nhập với Cơ quan khai thác mỏ kim loại Nhật Bản.
JOGMEC tích hợp các chức năng của hai đơn vị cũ vào trong một thực thể hành chính. Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Nhật Bản (JNOC) cũ đã được giao nhiệm vụ đảm bảo một nguồn cung cấp ổn định dầu và khí tự nhiên cho sử dụng của Nhật Bản. Cơ quan khai thác mỏ kim loại cũ của Nhật Bản (MMAJ) đã được giao nhiệm vụ đảm bảo một nguồn cung cấp ổn định kim loại màu và tài nguyên khoáng sản để sử dụng của Nhật Bản. JOGMEC được thành lập vào năm 2004 theo Luật liên quan đến Tổng công ty quốc gia dầu, khí và kim loại năm 2002.
Trong tháng 3 năm 2013 JOGMEC trở thành đơn vị đầu tiên thành công trích xuất hyđrat mêtan (băng cháy) từ trầm tích đáy biển. | 1 | null |
Chi Galanthus hay có tên thông thường là Hoa tuyết hay hoa tuyết điểm (tiếng Pháp: "perce-neige"), còn gọi là hoa giọt tuyết, hoa xuyên tuyết (tiếng Anh là "Snowdrop", trong tiếng Hy Lạp "gála" có nghĩa là "sữa", "ánthos" có nghĩa là "hoa"). Đây là một chi nhỏ bao gồm khoảng 20 loài thuộc dạng cây thân thảo, có hành củ, trong họ Amaryllidaceae, phân họ Amaryllidoideae. Hầu hết các cây trong loài hoa nhỏ này có màu trắng và hương thơm, nở hoa vào mùa đông, thường trước Xuân phân (20 hay 21 Tháng Ba ở Bắc Bán cầu), tuy nhiên cũng có một số loài nở hoa vào đầu mùa xuân hay cuối mùa thu. Sinh thành trong mùa băng tuyết đang sắp sửa tan và là một trong các dấu hiệu báo xuân về, hoa xuyên tuyết ở phương Tây là biểu tượng của niềm an ủi và hy vọng.
Hoa tuyết điểm thường dễ bị nhầm lẫn với một loài hoa cùng họ hàng là hoa chuông (hoa linh lang hay snowflakes), loài hoa này là "Leucojum" hay loài họ hàng xa hơn "Acis".
Hình thái thực vật.
Tất cả các loài của chi "Galanthus" đều là cạy thân thảo lâu năm, phát triển từ thân hành. Từ mỗi thân hành sẽ mọc ra từ hai đến ba lá mọc dọc theo thân. Trên đĩnh của các cành mọc trực tiếp từ thân hành là các cành mang hoa, hoa mọc đơn độc, có màu trắng rủ xuống hình chuông. Hoa không có lá đài, nó bao gồm sáu tràng hoa, bên ngoài lớn hơn và lồi hơn so với các tràng xếp bên trong. Sáu bao phấn mở lỗ hay khe hở ngắn. Bầu nhuỵ xẻ ba, chia thành ba nang bào. Mỗi hạt màu trắng có một cái đuôi nhỏ, nhiều thịt (elaiosome) có chứa các chất hấp dẫn kiến phân phối hạt. Các lá héo sau một vài tuần sau khi hoa đã rụng.
Các loài hoa tuyết.
, Hiệp hội "World Checklist of Selected Plant Families" đã công nhận 19 loài mới. Loài thứ 20, "Galanthus panjutinii" (hoa tuyết Panjutin's), được công nhận vào năm 2012. Người ta đã phát hiện ra thêm năm địa điểm (với tổng điện tích 20km2) ở Bắc Colchis (phía Tây Transcaucasus) của Georgia và Russia, đây là lìa được xếp và cấp Endangered (có nguy cơ tuyệt chủng). Một trong 5 địa điểm trên, Sochi, đã bị phá huỷ để tổ chức Thế vận hội Olympics mùa Đông 2014.
Các loài phổ biến bao gồm:
Biểu tượng văn hóa.
Các thổ dân vùng thảo nguyên thuộc thượng lưu sông Mississippi coi hoa xuyên tuyết là biểu tượng của lòng dũng cảm, sự bền bỉ và chịu đựng, lòng trung kiên sắt đá.
Tại Việt Nam, nhân vật bất đồng chính kiến người Việt, đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Tín, đã dựa trên cảm hứng về loài hoa xuyên tuyết để sáng tác nên tác phẩm mà về sau nó đã trở thành nổi tiếng tại hải ngoại, tác phẩm Hoa xuyên tuyết. Theo lời của tác giả, những dòng chữ đầu tiên của tác phẩm khởi đầu trong ngày đầu xuân Tân Mùi 1991 ở Paris, khi những lớp tuyết dày mùa đông tan dần và vô vàn đóa hoa bật dậy từ những hạt mầm im dưới băng giá. Và từ đó hình ảnh của hoa xuyên tuyết cổ vũ tác giả suốt cuộc hành trình đi ngược dòng cuộc đời, cũng là đi ngược một phần nào cuộc hành trình của đất nước, để nhớ lại và suy ngẫm. | 1 | null |
Google Nexus là một dòng thiết bị di động chạy hệ điều hành Android do Google hợp tác sản xuất cùng một đối tác OEM. Các thiết bị trong dòng Nexus đều sử dụng Android không bị thay đổi bởi nhà sản xuất hoặc nhà mạng (như bị thay đổi giao diện người dùng đồ họa chẳng hạn), và có bootloader có thể dễ dàng mở khóa để cho phép người dùng lập trình hoặc điều chỉnh sâu hơn. Các thiết bị Nexus luôn là thiết bị Android đầu tiên nhận được bản cập nhật hệ điều hành. Galaxy Nexus là một trong số ít điện thoại thông minh mà Dự án mã nguồn mở Android khuyến cáo nên sử dụng khi muốn phát triển phần mềm cho Android.
Điện thoại thông minh.
Nexus One.
Nexus One do HTC sản xuất và được ra mắt vào tháng 1 năm 2010 với vai trò là chiếc điện thoại Nexus đầu tiên. Nexus One được phát hành cùng với Android 2.1 Eclair, và được cập nhật vào tháng 5 năm 2010 để trở thành điện thoại đầu tiên chạy Android 2.2 Froyo. Sau này điện thoại còn được cập nhật lên Android 2.3 Gingerbread. Google đã thông báo ngừng hỗ trợ Nexus One, do GPU (Adreno 200) của nó quá yếu để phân giải bộ tăng tốc 2D mới trong giao diện của Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Nexus S và các mẫu mới hơn đều có phần cứng được thiết kế để xử lý bộ phân giải mới này.
Nexus S.
Nexus S, do Samsung sản xuất, được phát hành vào tháng 12 năm 2010 trùng với dịp ra mắt Android 2.3 Gingerbread. Trong tháng 12 năm 2011, nó được cập nhật lên Android 4.0 Ice Cream Sandwich, và đa số các biến thể về sau lại tiếp tục được cập nhật lên Android 4.1 Jelly Bean vào tháng 7 năm 2012.
Galaxy Nexus.
Galaxy Nexus, do Samsung sản xuất, ra mắt vào tháng 11 năm 2011 (phiên bản GSM, Mỹ phát hành phiên bản Verizon ngày 15 tháng 12 cùng năm) ngay dịp phát hành Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Nó được nâng cấp lên phiên bản phần mềm Android 4.1 mới nhất vào giữa tháng 7 năm 2012. Thiết bị này tại Brasil có tên gọi là Galaxy X do đã có hãng khác sử dụng thương hiệu "Nexus".
Nexus 4.
Nexus 4 là điện thoại thông minh dòng Google Nexus do LG sản xuất. Nó là thiết bị Android đầu tiên chạy phiên bản cập nhật Android 4.2 Jelly Bean. Nexus 4 có màn hình cảm ứng 4.7" Corning Gorilla Glass 2 (phân giải 1.280 x 768 pixel), bộ xử lý bốn nhân Qualcomm Snapdragon S4 Pro APQ8064 1.5 GHz, máy ảnh chính 8 MP, máy ảnh trước 1.3 MP, và là thiết bị Nexus đầu tiên có khả năng sạc không dây, và cũng là điện thoại thông minh Nexus đầu tiên được bán với giá thấp hơn giá sản xuất, một kiểu bán hàng đã từng thực hiện với máy tính bảng Nexus 7.
Nexus 5.
Nexus 5 là điện thoại thông minh, một lần nữa được sản xuất bởi LG, được lên lịch bán vào 31 tháng 10 năm 2013 giá $349 tại cửa hàng Google Play. Nó là thiết bị đầu tiên chạy Android 4.4 KitKat. Nexus 5 có những đặc điểm sau đây:
Nexus 6.
Nexus 6 là điện thoại thông minh phát triển bởi Motorola Mobility, chạy Android Lollipop 5.0. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014.
Nexus 5X.
Nexus 5X là điện thoại thông minh cũng do LG sản xuất, chạy Android 6.0 Marshmallow. Nó chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 9 năm 2015. Đây là sản phẩm điện thoại Nexus cuối cùng của Google trước khi ra mắt dòng Pixel vào năm 2016
Nexus 6P.
Nexus 6P là điện thoại thông minh do Huawei sản xuất, chạy Android 6.0 Marshmallow. Nó được công bố vào ngày 29 tháng 9 năm 2015, cùng với Nexus 5X
Máy tính bảng.
Nexus 7.
Thế hệ đầu tiên.
Vào 27 tháng 6 năm 2012, tại buổi thuyết trình I/O 2012, Google giới thiệu Nexus 7, một máy tính bảng 7-inch với độ phân giải 1.280×800 pixel, phát triển và sản xuất với Asus. Phát hành vào tháng 7 /2012, nó là thiết bị đầu tiên chạy Android 4.1, và cung cấp nội dung có sẵn thông qua Google Play, bao gồm e-book, ứng dụng, nhạc, và video.
Thế hệ thứ hai.
Vào 24 tháng 7 năm 2013, tại buổi họp báo "Bữa sáng cùng với Sundar Pichai" của Google, Pichai giới thiệu Nexus 7 thế hệ thứ hai, một lần nữa đồng phát triển với Asus. Vẫn duy trì với Google Nexus truyền thống, nó được phát hành cùng với phiên bản OS mới nhất, Android 4.3. Nó được bán ra vào 26 tháng 7 năm 2013 tại một số nhà bán lẻ và trên cửa hàng Google Play ở Mỹ. Vào 20 tháng 11 năm 2013, nó có sẵn trên cửa hàng Google Play ở Hồng Kông và Ấn Độ. Cùng ngày, sạc không dây Nexus có sẵn tại Mỹ và Canada.
Nexus 10.
Nexus 10, máy tính bảng 10-inch do Samsung sản xuất, được giới thiệu vào cuối tháng 10 năm 2012 qua bức ảnh chụp của giám đốc điều hành Google, Vic Gundotra, cùng với nhiều thông tin rò rỉ về cấu hình và loạt ảnh của nó. Thiết bị có thiết kế tương tự Samsung Galaxy Note 10.1, với màn hình 10.1 inch 2560×1600, lưu trữ 16 GB hoặc 32 GB, chạy Android 4.2, và bộ xử lý hai nhân 1.7 GHz Exynos 5. Nexus 10 ban đầu được dự kiến ra mắt trong hội nghị của Google vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, nhưng sau đó bị hoãn do sự cố Bão Sandy.
Nexus 9.
Nexus 9 là máy tính bảng 9-inch chạy Android 5.0, phát triển hợp tác giữa Google và HTC. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014.
Các thiết bị khác.
Nexus Q.
Nexus Q là thiết bị giải trí thu phát trực tiếp qua Internet chạy Android và tích hợp với Google Play, bán với giá 299 USD tại Mỹ.
Sau những phàn nàn về tính năng không tương xứng với giá cả, Nexus Q đã bị Google ngưng bán vô thời hạn với lời giải thích Google muốn làm cho nó thành một sản phẩm "còn tốt hơn nữa".
Nexus Player.
Nexus Player là một thiết bị TV của Google và ASUS. Nó là thiết bị đầu tiên chạy Android TV. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014.
Tên gọi.
Tên gọi "Nexus" xuất phát từ động từ Latin "nectere", nghĩa là "gắn kết". | 1 | null |
Tép cọp (Danh pháp khoa học: "Caridina cf. cantonensis var. tiger") là một loài tép thủy sinh phân bố tại các vùng nước ngọt ở vùng Đông Nam Á và là một trong những loài sinh vật cảnh phổ biến ở vùng này. Ở Việt Nam, bên cạnh những loài tép nội, tép cảnh ngoại đang giành được sự ưu ái đặc biệt của giới sành chơi, có giá từ vài USD đến vài chục USD. Thú chơi tép cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh khá thịnh hành và thành trào lưu
Đặc điểm.
Kích thước của tép cọp bé, chiều dài toàn thân cỡ khoảng từ 25–38mm (1–1.5 in) con cái có kích thước lớn hơn con đực. Tên gọi cọp được đặt vì thân hình loài tép này có những vệt sọc xám đen như nhưng vằn đen trên bộ da của hổ. Tép cọp sống trong vùng nước có độ PH dao động từ 6.2-7.5. Tuổi thọ của loài tép này từ 1 đến 2 năm tuổi. Tuy tên gọi là cọp nhưng tép cọp là loài hiền lành, không có tính gây hấn với các loài vật khác. | 1 | null |
Trình Thanh (1411-1463) là đại thần nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.
Thân thế.
Trình Thanh tên tự là Trực Khanh, vốn mang họ Hoàng. Ông còn có hiệu là Trúc Khê tiên sinh. Ông người làng Huyền Khê, xã Trung Thanh Oai, phủ Ứng Thiên; nay là thôn Đa Sĩ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Thân phụ là người họ Hoàng từng mở trường dạy học.
Sự nghiệp.
Năm 20 tuổi (1431), ông đỗ khoa Hoành từ. Tài văn học của ông được Lê Thái Tổ biết đến và được vào làm Ngự tiền học sinh.
Năm 1434 đời Lê Thái Tông ông được thăng làm Cục trưởng cục Ngự tiền học sinh. Năm 1443 đời Lê Nhân Tông ông được phong làm Thị độc Viện hàn lâm, coi cục Ngự tiền học sinh.
Năm 1459, ông làm Phó sứ sang nhà Minh cống và giải quyết việc mò hạt châu. Năm 1462 đời Lê Thánh Tông, Trình Thanh được thăng làm Lang trung ở Hữu ty tòa môn hạ, trông coi sổ sách quân dân đạo Hải Tây.
Khi Lê Thánh Tông cầu lời nói thẳng, ông dâng sớ 7 điều kiến nghị như sau:
Vua Lê Thánh Tông chấp thuận cả bảy kiến nghị của ông.
Đầu năm 1463, ông qua đời, thọ 53 tuổi.
Vua Lê Thánh Tông vô cùng thương tiếc, phong tặng ông là Tham chính Thái bảo Triều liệt đại phu, để ghi công lao của một vị quan đại thần trải 4 triều vua, với một đời hết mình vì dân vì nước. Triều đình đã tổ chức lễ tang ông long trọng tại quê nhà, đại thần Lê Hoàng Dục cùng với 50 vị quan đầu triều đã về làm lễ tang.
Triều đình và nhân dân ai cũng kính trọng, suy tôn là bậc “Nho lâm kỳ thụ-Cây cổ thụ trong rừng nho”, Nho thần sự nghiệp độc công cao”…
Ông có nhiều công lao to lớn với dân với nước, không những được sử sách lưu danh, mà còn được nhiều nơi lập đền thờ, trong đó có đình Chi Nội và đình Tư Vi, thôn Tư Chi, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thờ làm Thành Hoàng.
Di tích.
Hiện vẫn còn mộ của ông tại phường Phú La, quận Hà đông, TP Hà nội. Tại phường Kiến Hưng quận Hà đông có trường mầm non mang tên danh nhân Hoàng Trình Thanh.
Từ chỉ Đống Dấm là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng Tiến sĩ Hoàng Trình Thanh trưởng thành thành đạt, hiện còn lăng thờ và tấm bia ghi sự tích lập vào đời Gia Long thứ 14 (1815), nhà thờ tiến sĩ Hoàng Trình Thanh ở giữa làng Đa Sỹ, xây dựng từ đời Nguyễn đã bị giặc Pháp tàn phá và đã được con cháu dựng lại từ 1952, phần mộ tiến sĩ Hoàng Trình Thanh, trạng nguyên Hoàng Nghĩa Phú, Hoàng Giáp, Hoàng Du, được con cháu giữ gìn truyền đời từ thuở các vị quy tiên. Tất cả đều là di tích cổ truyền, tuy nhiên theo thời gian cũng đã bị xuống cấp nay lại đang trong thời kỳ đô thị hóa nên đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Dòng họ.
Ông được coi là ông Tổ khai khoa họ Hoàng ba chi của làng Đa Sỹ. Sau này con cháu ông kế tục truyền thống khoa cử, có nhiều người đỗ đạt. Họ nhà ông là một họ có tiếng ở kinh thành Thăng Long.
Cháu ông là Hoàng Thiên đỗ Tiến sĩ năm 1526 và làm đến chức Ngự sử. Chắt ông là Hoàng Du đỗ Hoàng giáp đời Mạc Thái Tông, làm đến chức Tả thị lang bộ Lại.
Cháu họ ông là Hoàng Khắc Minh cũng đỗ tiến sĩ thời Lê Thánh Tông năm 1484 và làm đến chức Thượng thư bộ Lễ. Con Khắc Minh là Hoàng Nghĩa Phú đỗ trạng nguyên năm 1511, làm tới chức Đô ngự sử. Cháu Khắc Minh là Hoàng Tế Mỹ đỗ tiến sĩ năm 1538 đời Mạc Thái Tông, làm đến chức Chính thừa sử.
Nhận định.
Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau:
Lương Như Hộc có bài tán dương ông, trong đó có câu: | 1 | null |
Trần Danh Ninh (1703-1767) là đại thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
Thân thế.
Trần Danh Ninh người làng Bảo Triện huyện Gia Định, nay là huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Cha ông là Trần Phục Dực đỗ đồng tiến sĩ năm 1683 làm tới chức Tham chính Lạng Sơn.
Trong 10 người con của Trần Phục Dực, Trần Danh Ninh là con thứ 8.
Sự nghiệp.
Trần Danh Ninh ham học từ nhỏ, lớn lên nổi tiếng với tài văn chương. Năm 1723 đời Lê Dụ Tông, ông thi Hương đỗ giải nguyên. Năm 1731 đời Lê Duy Phường, ông đỗ Hoàng giáp. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ cao nhất.
Năm 1740 đời Lê Hiển Tông, ông làm Thị giảng Viện hàn lâm, được vào phủ chúa Trịnh làm Bồi tụng và thăng tước Bảo Huy bá.
Năm 1743 ông được phong làm Tế tửu Quốc Tử Giám, sau đó vì có lỗi nên phải rút lui khỏi chức Bồi tụng. Ít lâu sau ông theo chúa Trịnh Doanh đi đánh dẹp có công, được thăng làm Đại học sĩ Đông các. Năm 1744, ông đi đánh dẹp phía đông, có công lao nên được hồi phục chức Bồi tụng và tham gia việc ở Viện khu mật.
Năm 1745, ông được thăng làm Thiêm đô ngự sử. Năm 1746, Trịnh Doanh dùng ông vào chức làm Hữu thị lang bộ Công.
Năm 1747, ông được thăng tước hầu, Hữu thị lang bộ Lại. Lúc đó quân nổi dậy Nguyễn Hữu Cầu đang đánh phá phía đông dữ dội. Trần Danh Ninh được sai đi làm Tán lý, cùng với chức kiêm Thống lý, Cần quận công, mang quân đi đánh, giành thắng lợi. Phía đông tạm yên, ông được thăng làm Phó đô ngự sử.
Năm 1752, ông theo chúa Trịnh Doanh đi dẹp phía tây. Năm 1753 dẹp yên vùng phía tây, ông được thăng làm Hữu thị lang bộ Công.
Trần Danh Ninh làm việc trong phủ chúa 16 năm, là người ngay thẳng, không a dua nên các quyền thần ganh ghét. Ông bị người khác gièm pha nên năm 1756 bị giáng tội phải tụt đi một "tư" (như 1 bậc).
Sang năm 1757 ông lại vào bộ Công. Cuối năm 1760, ông lại được hồi phục chức Bồi tụng. Năm sau, ông làm Tả thị lang bộ Lễ, rồi Tả thị lang bộ Hình, kiêm Tổng tài sử quán. Vì có công đánh dẹp, Trần Danh Ninh lại được thăng làm Tả thị lang bộ Lễ.
Năm 1766, ông xin cáo lão, được thăng làm Thượng thư bộ Lễ. Đầu năm 1767, ông mất, thọ 65 tuổi. Khi đó ông chưa kịp về làng. Triều đình truy tặng ông làm Thái bảo, thụy là Mẫn Đạt.
Gia đình.
Em ông là Trần Danh Lâm cùng ông đỗ đạt trong khoa cử và cùng làm đại thần trong triều, rất có danh tiếng. Con trai thứ tư của Trần Danh Ninh là Trần Quang Trạch nổi tiếng là thần đồng, năm 13 tuổi đã làm Nội học sĩ, năm 15 tuổi đã cùng sứ nhà Thanh xướng họa, được người đời gọi là Trạng nguyên.
Nhận định.
Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau: | 1 | null |
Lưu Tị (Trung văn giản thể: 刘濞, phồn thể: 劉濞, bính âm: "Liú Pì", 216 TCN-154 TCN), hay Ngô vương Tị (吳王濞), là tông thất nhà Hán, vua của nước Ngô, chư hầu nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người khởi xướng loạn bảy nước năm 154 TCN nhưng thất bại và bị giết.
Thân thế.
Cha của Lưu Tị là Lưu Trọng (Lưu Hỉ), con trai thứ hai của Lưu Thái Công, thái thượng hoàng nhà Hán và là anh của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Năm thứ bảy đời Hán Cao Tổ đã phong Lưu Trọng làm Đại vương, Lưu Tị cũng được phong làm Bái hầu. Tuy nhiên sau đó quân Hung Nô sang xâm lấn, Lưu Trọng không chống lại, phải chạy sang Lạc Dương. Hán Cao Tổ nể tình là cốt nhục nên không giết, chỉ phế làm Cáp Dương Hầu. Năm 193 TCN, Lưu Trọng mất khi Lưu Tị đã thụ phong ở đất Ngô nên được tôn thụy hiệu là Khoảnh vương.
Sử ký ghi lại rằng Lưu Tị là người dũng mãnh và có dã tâm lớn, có nét giống với Hán Cao Tổ.
Thụ phong ở đất Ngô.
Năm 196 TCN, Hoài Nam vương Anh Bố làm phản, đem quân vượt sông Hoài đánh vào nước Sở. Lưu Tị đi theo Hán Cao Tổ đánh Anh Bố, hai bên gặp nhau ở đất Tụy, Anh Bố thua trận bỏ chạy về Giang Nam, bị Trường Sa vương lừa giết. Lưu Tị có công đánh Anh Bố nên được Hán Cao Tổ phong làm Ngô vương, đóng ở Quảng Lăng, cai quản ba quận, 53 thành. Nước Ngô ở vị trí thuận lợi, có nhiều tài nguyên, đồng núi muối biển, dân cư đông đúc, kinh tế nhanh chóng phát triển mạnh.
Xung đột với nhà Hán.
Năm 174 TCN, con Lưu Tị là Ngô thế tử Lưu Hiền vào kinh đô triều kiến Hán Văn Đế, uống rượu đánh cờ với thái tử Khải. Hai bên xảy tranh chấp, Ngô thế tử tính cách thô bạo, không cung kính Hoàng Thái tử. Lưu Khải tức giận cầm bàn cờ đánh chết Ngô thế tử.
Hán Văn đế sai đem thi hài Ngô thế tử được bỏ vào quan tài mang về nước Ngô để chôn. Lưu Tỵ vô cùng căm giận nói rằng:
"Thiên hạ này là của chung một họ, đã chết ở Trường An thì chôn ở Trường An, hà tất đem về đây làm gì".
Rồi đem trả quan tài về Trường An chôn cất.
Ngô vương Tị từ đó sinh lòng oán hận triều đình, từ đó bỏ lễ phiên thần, cáo bệnh không triều kiến thiên tử. Trong triều nhiều người đoán được ý Ngô vương, nên thẩm vấn sứ giả nước Ngô. Ngô vương Tị hay tin có ý lo sợ, sai sứ đến triều kiến. Cùng lúc đó có người hỏi Ngô sứ giả về bệnh của Ngô vương, sứ giả nói thật với triều đình là Ngô vương không có bệnh. Hán Văn Đế muốn làm dịu tình hình, không trách tội Ngô vương không triều kiến, lại gửi sứ giả mang về cho Ngô vương chiếc ghế ngồi và gậy chống, vì Ngô vương đã cao tuổi nên vua chuẩn cho không cần vào triều. Ngô vương Tị từ bấy giờ lo sợ, nảy sinh ý định làm phản.
Tiều Thố là người nhà của thái tử Lưu Khải, được trọng dụng, tâu với Hán Văn đế trị tội Ngô vương nhưng Văn đế không nỡ phạt. Tiều Thố lại có kiến nghị cắt đất phong của hai nước Ngô, Sở nhưng Văn đế không nghe. Ngô vương Lưu Tị từ bấy giờ bỏ vào triều suốt 20 năm.
Khởi loạn bảy nước.
Năm 157 TCN, Hán Văn đế qua đời, thái tử Lưu Khải lên nối ngôi, tức Hán Cảnh đế. Cảnh đế phong Tiều Thố làm Ngự sử. Tiều Thố muốn triệt bỏ thế lực của Ngô vương và Sở vương, tâu với Hán Cảnh đế:
"Lúc Cao Đế mới bình thiên hạ, các em có ít, con thì nhược, sau phong con trưởng là Tề Điệu Huệ vương hơn 70 thành, em là Sở Nguyên vương hơn 40 thành, lại phong cho con anh là Ngô vương hơn 50 thành. Ba nước được phong đất quá nhiều đã chia thiên hạ làm đôi mất. Nay Ngô vương oán giận cái chết của con, đã lâu không vào triều, theo pháp thì phải giết đi, nhưng tiên đế không nỡ làm, lại ban cho ghế trượng. Cái ơn đó là quá hậu. Nay Ngô vương dụ vong nhân thiên hạ để mưu đồ tác loạn. Nếu tước đất đi thì Ngô vương sẽ phản, mà không tước thì cũng phản. Chi bằng tước đi thì là họa nhỏ, không tước sẽ thành đại họa."
Mùa đông năm 155 TCN, Sở vương Lưu Mậu vào triều kiến thiên tử. Tiều Thố lấy cớ Sở vương trước đây vô lễ với Bạc thái hoàng thái hậu, xin Cảnh đế giết đi. Hán Cảnh đế tuy không giết nhưng cắt mất quận Đông Hải của Sở, lại tước Dự Chương, Cối Kê của nước Ngô. Trong khi đó Triệu vương Lưu Toại và Giao Tây vương Lưu Ngang cũng bị cắt đất Thường Sơn và Lục Huyền.
Ngay sau đó, triều thần tiếp tục kiến nghị tước thêm đất của Ngô vương. Ngô vương Tị hoảng sợ sau này sẽ bị mất hết đất đai quyền hành nên quyết định làm phản.
Ngô vương Tị nghe tiếng Giao Tây vương Lưu Ngang dũng mãnh thiện chiến, chư hầu thường nể sợ, sai đại phu Ưng Cao kêu gọi Lưu Ngang cùng làm phản. Sau đó Lưu Tị đích thân đến gặp Lưu Ngang ước hẹn kế hoạch tây tiến.
Quần thần Giao Tây biết ý đồ của Lưu Ngang, khuyên không nên làm phản, vì thế lực chư hầu yếu hơn thiên tử; giả sử thành công lại dễ dẫn đến tranh chấp thiên hạ giữa Ngô và Giao Tây. Lưu Ngang không nghe, hợp tác với Lưu Tị. Ngoài ra Lưu Tị còn mời thêm các nước Sở, Tề, Tri Xuyên, Giao Đông, Tế Nam, Tế Bắc, Triệu ước hẹn cùng làm phản.
Không lâu sau, lệnh tước đất các đất Dự Chương, Cối Kê của Ngô từ Tràng An ban ra. Bảy nước chư hầu tức giận, bắt đầu khởi binh tiến về phía Tây. Tề Hiếu vương lúc đầu định theo bảy nước, nhưng sau nghe quần thần can nên không theo nữa, uống thuộc độc tự sát.
Ép vua Hán giết Tiều Thố.
Lưu Tị công bố hịch văn, giương cao khẩu hiệu diệt trừ gian thần Tiều Thố, "thanh quân trắc" (làm sạch chỗ cạnh vua) bố cáo cho thiên hạ biết. Ngô vương Tỵ hiệu triệu thêm hai nước Mân Việt và Đông Việt cùng tham gia; Triệu vương Toại sai sứ sang Hung Nô xin cấp quân trợ giúp.
Sau khi tập hợp đủ binh lực, Ngô vương Tị giết hết các quan lại nhà Hán phản đối mình từ thái thú trở xuống và ra lệnh tổng động viên trong nước, nói rằng mình đã 60 tuổi, người con trai út lên 16, do đó huy động đàn ông trong nước Ngô từ 16 đến 60 tuổi phải ra trận đi đánh Hán. Tổng số quân Ngô huy động được hơn 20 vạn người. Ngô vương khởi binh ở Quảng Lăng, rồi tây tiến đến đất Hoài thì gặp quân Sở, viết thư cho triệu tập các chư hầu. Ngô vương có một môn khách là Chu Khâu, người Hạ Bì, dùng mưu cầm cờ tiết nhà Hán về quê, lấy danh nghĩa là sứ giả nhà Hán triệu tập huyện lệnh. Khi huyện lệnh đến nơi, Chu Khâu liền chém chết và tập hợp gia tộc lại, kêu gọi mọi người hàng Ngô. Toàn bộ thành Hạ Bì nghe theo, bèn đầu hàng Lưu Tỵ.
Chu Khâu tập hợp được 3 vạn quân, sai người báo với Ngô vương và tiến đánh lên phía bắc. Chu Khâu tiến đến Thành Dương, đại phá quân Hán tại đây, lực lượng đã lên đến 10 vạn người.
Hán Cảnh Đế lo lắng thế lực bảy chư hầu. Tiều Thố vốn giám sát và hạch tội các quan đại thần và chư hầu, do đó bị nhiều người oán hận, trong đó có Viên Áng. Ngô vương lại đút lót của cải cho Viên Áng nên Áng tâu với Cảnh Đế rằng Lưu Tỵ sẽ không làm phản. Tiều Thố tố cáo Áng nhận đút lót của với Cảnh Đế. Cảnh Đế không giết Viên Áng mà chỉ hạ lệnh cách chức, phế làm thứ dân.
Sau khi 7 nước làm phản, Tiều Thố bàn nên bắt Viên Áng nhưng có người đi báo cho Viên Áng biết. Viên Áng bèn đến cầu cạnh xin Đậu Anh (cháu Đậu thái hậu) cứu giúp. Theo lời Đậu Anh, Hán Cảnh Đế triệu tập Viên Áng khuyên Hán Cảnh Đế nên bắt giết Tiều Thố thì quân chư hầu sẽ lui, vì chư hầu chỉ oán một mình Tiều Thố.
Cảnh Đế trong tình hình nguy cấp, vội vã nghe theo Viên Áng, bèn sai viên trung úy triệu kiến Tiều Thố. Tiều Thố đến nơi, quân lính lập tức bắt giữ và chém ngang lưng ở chợ Đông.
Hán Cảnh Đế sai Viên Áng làm thái thường, cùng Đức hầu Lưu Thông là người từng quen biết với Ngô vương Tị lãnh trách nhiệm sứ giả đi báo với Ngô vương việc giết Tiều Thố và phục lại đất đai cho chư hầu.
Lưu Thông và Viên Áng đến nơi, lệnh cho Ngô vương Tị quỳ tiếp chỉ. Ngô vương cười lớn nói rằng:
"Ta bây giờ đã là hoàng đế phía đông, chẳng lẽ còn phải lạy người khác hay sao?"
Rồi Ngô vương không những không lui binh mà bắt luôn Viên Áng, ép phải theo mình làm phản. Viên Áng không nghe theo. Ngô vương định giết Áng, nhưng nhân lúc đêm tối, Áng trốn thoát được ra ngoài, tìm đến trại quân Lương và trở về báo lại cho Hán Cảnh Đế. Hán Cảnh đế sai Chu Á Phu làm Thái úy ra trận đánh Ngô. Chu Á Phu tiến lên trấn giữ Xương Ấp, xây đồn lũy phòng thủ, cắt đứt đường liên lạc giữa quân Ngô, Sở và quân 4 nước đang vây đánh Tề; bỏ mặc quân nước Lương giao chiến với quân Ngô, khiến quân Ngô bị hao tổn sức lực.
Đánh Lương và Hán.
Quân Ngô và Sở bao vây nước Lương trong khi bốn nước khác đánh Tề. Quân Ngô-Sở tiến tới đất Hoài, đánh bại quân Hán ở Cức Bích. Lương vương Lưu Vũ sai 6 viên tướng ra chống cự nhưng bị đánh bại, sau dùng Hàn An Quốc và Trương Vũ làm tướng ra trận, đánh thắng quân Ngô được mấy lần.
Quân Ngô vây đánh nước Lương không hạ được. Ngô vương Tị muốn tiến vào Trường An nhưng vì chưa hạ được nước Lương nên không dám bỏ thành tây tiến vì sợ bị truy kích. Vì vậy Ngô vương bỏ nước Lương, quay sang đánh Hán. Hai bên giao chiến ở Hạ Ấp. Chu Á Phu cắt đứt đường vận chuyển của quân Ngô rồi giữ vững trận thế không giao chiến, mặc cho quân Ngô khiêu chiến nhiều lần.
Thất bại và bị giết.
Nhân lúc quân Ngô, Sở dao động vì thiếu lương, Á Phu mang đại quân phản kích. Quân Ngô, Sở bị đói không còn sức chiến đấu, nhanh chóng bị thua tan tác. Quân Ngô phần lớn đầu hàng Hán và Lương.
Ngô vương Tỵ bỏ chạy qua sông Trường Giang, đến Đang Đồ, có ý giữ Đông Việt để thế thủ. Có hơn 1 vạn quân Đông Việt, Lưu Tỵ sai người đi thu thập tàn quân.
Triều đình treo giải thưởng 1000 cân vàng cho ai lấy được đầu Lưu Tị và sai sứ giả đến Đông Việt thuyết phục giết Ngô vương. Người Đông Việt bèn lừa Ngô vương, dụ ra ủy lạo quân sĩ rồi sai người hành thích giết chết Ngô vương, sai người cắt đầu ngày đêm mang về Trường An dâng Hán Cảnh Đế. Ít lâu sau, quân Hán tiến đánh các chư hầu còn lại, chấm dứt loạn bảy nước.
Lưu Tỵ ở ngôi Ngô vương 42 năm, thọ 63 tuổi. Hán Cảnh đế lúc đầu định lập em ông là Đức hầu làm Ngô vương nhưng sau đổi ý, phế bỏ nước Ngô, sáp nhập vào nhà Hán. Nước Ngô bị diệt vong. | 1 | null |
Amphisbaenidae là một họ bò sát có vảy. Chúng được tìm thấy ở Bắc và Nam Mỹ, một số trên các đảo vùng Caribbe, và vùng châu Phi cận Sahara.
Các loài trong họ này không thể leo trèo, chúng có khả năng đào hang, bò sát giống thằn lằn có khả năng ăn thịt. Một số loài có đầu giống như các xuổng, trong khi những loài khác có mào hẹp trên đầu.
Các chi.
Có khoảng 161 loài trong họ này, chúng được xếp vào 16 chi: | 1 | null |
Dead Silence (tạm dịch: Sự im lặng chết người hay Im lặng là sống sót) là một bộ phim tâm lý, kinh dị năm 2007 của Mỹ do James Wan làm đạo diễn với phần kịch bản của Leigh Whannell - người tạo ra loạt phim "Saw". Phim "Dead Silence" có mác phim chính thức là You scream. You die
Cốt truyện.
Tại thị trấn Ravens Fair, một người phụ nữ làm nghề múa rối tiếng bụng tên Mary Shaw, đã giết một bé trai tên Michael Ashen vì đã tỏ ra không tin vào màn múa rối của bà, nhà Ashen cùng nhiều người khác trong vùng đã thỏa thuận với chính quyền rồi giết và cắt luôn lưỡi Mary Shaw, những con rối của bà cũng được chôn xuống mộ. Từ đó thị trấn Ravens Fair mắc phải lời nguyền kinh hoàng, người dân trong thị trấn bị giết, điều trùng hợp là những nạn nhân đó khi chết đều bị cắt lưỡi. Nhiều năm sau, Jamie Ashen nhận được một con rối gỗ, không lâu sau vợ anh bị giết, anh luôn bị cảnh sát buộc tội giết vợ nên quyết tâm tìm hiểu chuyện này rõ ràng để chứng minh mình vô tội. Qua quá trình tìm hiểu, Jamie Ashen biết được rằng bé trai bị mất tích năm xưa - Michael Ashen chính là em trai của ông nội mình. Cùng lúc đó, Jamie Ashen nhận được một cuộc gọi từ Henry Walker - nhân viên nhà tang lễ (đã bị Mary Shaw giết chết và giả giọng) hẹn anh đến nhà hát ở hồ Lost sẽ sáng tỏ mọi việc. Tại đây, Jamie Ashen cùng với thanh tra Jim Lipton (do đuổi bắt anh nên cũng cùng tới đây) đã phát hiện ra những con rối bị biến mất dưới mộ của Mary Shaw và tiêu diệt gần như toàn bộ số rối trừ con rối số 57 - Billy. Sau khi rời khỏi nhà hát, Jamie Ashen đến nhà của Henry Walker thì mới biết được rằng ông ta đã bị giết và con rối Billy cũng bị chính cha anh mang đi. Jamie Ashen về nhà và biết được sự thật rằng cha mình đã bị giết và biến thành con rối từ lâu và người điểu khiển con rối không ai khác chính là mẹ kế của anh, cũng chính là Mary Shaw, bà ta đã tạo ra con rối hoàn chỉnh cuối cùng. Anh hét lên đau khổ và số phận của anh cũng giống như những người đã bị Mary Shaw giết vì đã quên mất bài thơ cổ xưa được lưu truyền: "Cẩn thận với ánh nhìn của Mary Shaw. Bà ta không có con, chỉ có búp bê. Và nếu gặp bà ta trong giấc mơ, hãy chắc rằng không bao giờ được thét lên" (Beware the stare of Mary Shaw. She had no children only dolls. And if you see her in your dreams. You must never, ever scream) | 1 | null |
Quý Thắng (chữ Hán: 季勝) là tên 1 nhân vật sống vào cuối thời nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc, theo Sử Ký Tư Mã Thiên - Triệu thế gia thì ông là thủy tổ của các tông chủ họ Triệu ở nước Tấn thời Xuân Thu và các quân chủ của nước Triệu thời Chiến Quốc.
Cũng theo Sử Ký thì Quý Thắng là cháu nội Trung Quyết (中潏) một vị quan thanh liêm có tiếng thời đế Ất, ông cũng là chính con thứ của Phi Liêm và đồng thời là em của Ác Lai (恶来). Cha và anh của ông đều làm quan thời Trụ vương nhưng lại chuyên xu nịnh để lấy lòng vị hôn quân này, Quý Thắng không tán thành với việc làm sai trái của cha anh vì chỉ thấy hại nước hại dân. Ông có can gián nhưng cha và anh của ông không nghe, Quý Thắng bất mãn nhìn thấy cơ nghiệp nhà Thương sắp sụp đổ liền dời chỗ ở đến khu vực Hoàng Hà định cư. Ông noi gương theo ông nội mình ăn ở cần kiệm tích cực giúp đỡ kẻ nghèo khó bần cùng, điều này khiến ông được nhân dân quanh vùng ông mới đến lập nghiệp ủng hộ và tán thưởng.
Sau khi Chu Vũ Vương đánh bại vua Trụ có đem cha và anh của Quý Thắng ra trảm thủ, Quý Thắng lặng lẽ đến pháp trường đứng từ xa nhìn theo tiễn biệt. Khi việc hành quyết đã xong ông ra nhận xác người thân đem đi chôn cất tử tế, sau đó ông nuôi cháu ruột mình là con của Ác Lai đến lúc trưởng thành rồi tổ chức xây dựng gia đình cho cháu đường hoàng. Người cháu đó có tên Nữ Phòng (女防), Nữ Phòng sinh Bàng Cao (旁皋), Bàng Cao sinh Thái Kỷ (太几), Thái Kỷ sinh Đại Lạc (大骆), Đại Lạc sinh Phi Tử. Phi Tử được xem là quân chủ đầu tiên của nước Tần thời Xuân Thu Chiến Quốc sau này, còn hậu duệ 4 đời của Quý Thắng là Tạo Phụ (造父) đến đời Chu Mục Vương do lập không ít công to được thưởng đất Triệu thành làm thực ấp mà đổi sang họ Triệu từ ấy. | 1 | null |
Danh sát này liệt kê các chư hầu vương của triều Tây Hán.
Trong trường hợp một chư hầu quốc bị trừ bỏ vì các lý do như mưu phản, phạm tội, hay không có người thừa kế, bảng liệt kê sẽ chấm dứt. Nếu sau đó có một chư hầu quốc khác được phong có cùng tên thì được ghi trong bảng mới.
Hằng Sơn quốc, Thường Sơn quốc.
Dọ kị húy Hán Văn Đế Lưu Hằng nên đã đổi Hằng Sơn thành Thường Sơn | 1 | null |
Robert Victor "Bobby" Tambling (sinh 18 tháng 9 năm 1941 tại Storrington, Sussex) là cựu danh thủ bóng đá người Anh. Sự nghiệp của ông tỏa sáng khi khoác áo hai câu lạc bộ của Anh là Chelsea và Crystal Palace, vào những năm 1960 và 1970..Ông là một trong những cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ bóng đá Chelsea.
Sự nghiệp thi đấu.
Chelsea.
Là một cầu thủ chạy cánh biết ghi bàn, Tambling được Chelsea ký hợp đồng khi còn đang học trung học cơ sở vào năm 1957, và có trận ra mắt lần đầu tiên sau đó hai năm. Tambling khi đó 17 tuổi đã ghi một bàn thắng trong chiến thắng của Chelsea trước West Ham United. Với sự ra đi của cây săn bàn chủ lực, Jimmy Greaver (đến AC Milan năm 1961), Tambling đã có nhiều cơ hội hơn để khẳng định bản thân. Ông ghi 22 bàn trong mùa giải sau đó, và kết hợp ăn ý với một cầu thủ khác từ đội trẻ Chelsea, Barry Bridges. Mặc dù vậy, câu lạc bộ vẫn xuống hạng mùa 1961-1962..
Mùa giải kế tiếp chứng kiến sự xuất hiện của huấn luyện viên Tommy Dochesty, người đã giao băng đội trưởng cho Tambling và đôn lên đội một hàng loạt những tài năng trẻ, chẳng hạn như Terry Venables, Peter Bonetti và Eddie McCreadie. Tambling ghi được 35 bàn – chiếm một nửa số bàn thắng của CLB – giúp Chelsea lên Fisrt Division (ngoại hạng bây giờ) ngay sau đó. Tambling trở thành người đội trưởng trẻ tuổi nhất dẫn dắt đồng đội thăng hạng. Những kỳ công đó giúp Tambling được gọi vào đội tuyển lần đầu tiên trong trận gặp xứ Wales, ngày 21 tháng 10 năm 1962.
Khi trở về, Tambling ghi 18 bàn giúp Chelsea cán đích ở vị trí thứ năm mùa giải 1963-1964. Mùa 1964-1965, Chelsea đứng trước cơ hội giành cú ăn ba trong nước. Tambling cũng đóng góp 25 bàn thắng, trong đó có một bàn giúp "The Blues" giành chức vô địch League Cup, sau chiến thắng 3 – 2 trước Leicester City. Hai năm sau, Tambling và các đồng đội cuối cùng cũng vào tới trận chung kết FA cup. Thế nhưng dù Tambling đã ghi bàn, Chelsea vẫn phải ngậm ngùi nhìn Tottenham Hotspur giương cúp sau thất bại 2 – 1 trên sân Wembley. Trong mùa giải đó, Tambling cũng thiết lập kỷ lục ghi năm bàn trong một trận đấu, trong trận thắng Aston Villa 6 – 2 ở Villa Park vào tháng 9..
Tambling tiếp tục thi đấu ấn tượng ở các mùa giải tiếp theo, mặc dù cơ hội ra sân bị ảnh hưởng. Do chấn thương cũng như sự xuất hiện của các tài năng trẻ, chẳng hạn như bộ đôi tiền đạo Peter Osgood và Tommy Baldwin. Mùa giải cuối cùng ông đóng góp 7 bàn thắng cho CLB.
Crystal Palace.
Năm 1970, Tambling chuyển đến Crystal Palace với giá trị 40.000 bảng, sau khi đóng góp cho Chelsea 202 bàn thắng sau 370 trận. Ông cũng thi đấu 3 trận cho tuyển Anh và ghi một bàn. Thời gian Tambling ở Palace không mấy thành công, CLB luôn phải chiến đấu ở nữa dưới bảng xếp hạng của giải First Division. Crystal cuối cùng cũng rớt hạng vào cuối mùa 1972-1973, Tambling ghi được 12 bàn trong 68 trận cho CLB trong những 1970-1973.
Ireland.
Tambling rời Crystal tháng 10 năm 1973 để đến Ireland, nơi ông thi đấu cho Cork Celtic. Trong mùa giải đầu tiên, ông giúp CLB này về nhất ở giải vô địch Ireland (đầu tiên và duy nhất). Ông sau đó tiếp nhận cương vị huấn luyện viên kiêm cầu thủ trước khi ra đi năm 1977.
Sau một mùa giải ở WaterFord, Tambling đến Shamrock Rovers mùa 1978-1979. Ông có trận đầu ra mắt vào ngày 30 tháng 8 năm 1978, ghi bàn duy nhất giúp "The Hoops" thắng Athletic St Patrick’s. Ông có tổng cộng 9 lần ra sân cho Hoops, ghi 5 bàn.
Tambling sau đó đến Cork Alberts FC, nơi ông chơi 88 trận, ghi 22 bàn thắng.
Năm 1984, Tambling đồng ý trở thành huấn luyện viên của Cork City, nhưng triều đại của ông chỉ kéo dài 13 trận.
Sự nghiệp huấn luyện viên.
Ông tiếp tục sống ở Crosshaven, Ireland, sau đó nhận lời trở lại dẫn dắt Cork City. Trong vài năm, Tambling đã giúp Cork vô địch League Julior 1 Division và Premier Division. Tên tuổi Tambling được vinh danh tại phòng truyền thống sân Stamford Bridge, gần đây ông có tên trong đội hình câu lạc bộ vĩ đại nhất của XI, và được lựa chọn vào đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại của Chelsea.. | 1 | null |
Chúc (chữ Hán: 祝) là một nước chư hầu từng tồn tại trong thời kỳ Tây Chu trong lịch sử Trung Quốc, địa bàn quốc gia này hiện tại nằm ở khu vực thành cổ Chúc A vùng đông bắc quận Trường Thanh thành phố Tế Nam tỉnh Sơn Đông ngày nay.
hình thành.
Theo ghi chép của nhiều thư tịch khác nhau thì vị quân chủ đầu tiên của nước Chúc mang họ Cơ, tương truyền là hậu duệ xa đời thuộc chi thứ của Hiên Viên Hoàng Đế thời thượng cổ. Sử Ký Tư Mã Thiên - Ngũ Đế bản kỷ nói rằng Hoàng Đế sinh được 25 người con trai, không rõ vua nước Chúc là dòng dõi trực hệ của con thứ mấy. Chỉ biết rằng sau khi Chu Vũ Vương đánh bại nhà Ân được chư hầu tôn làm thiên tử, nhà vua bởi tưởng nhớ đến công đức của các bậc đế vương ngày trước đã sai người đi tìm hậu duệ của Hoàng Đế để phân phong. Khi tìm ra chi thứ của hậu duệ Hoàng Đế thì Vũ Vương phong cho làm vua nước Chúc, bởi nhà Chu chính là dòng trưởng tông của họ Cơ đã thờ Hoàng Đế rồi do vậy các quân chủ nước Chúc chịu trách nhiệm phụng sự thủy tổ phân ngành của họ mà thôi. Suốt giai đoạn Tây Chu nước Chúc luôn phục tùng mệnh lệnh thiên tử gửi quân tham gia bất kỳ chiến trường nào, hàng năm nước này giữ lễ nghĩa rất khuôn phép tiến cống cỏ mao đúng kỳ hạn không sai một ngày nào.
diệt vong.
Năm 771 tr.CN Chu U Vương đốt lửa ở Ly Sơn để lừa chư hầu rồi bị quân Khuyển Nhung giết chết, con U Vương là Chu Bình Vương được chư hầu tôn lập ở Hạo Kinh thì tại đất Huề nước Chúc và nước Quắc lại ủng hộ em của U Vương là Cơ Dư Thần lên làm vua lấy hiệu là Chu Huề Vương. Bấy giờ cục diện của nhà Chu bị phân liệt gọi là nhị vương cùng lập và 2 bên chẳng bên nào chịu kém bên nào, đến năm 768 tr.CN Tề Trang công theo lệnh của Chu Bình Vương phát binh tiến đánh nước Chúc. Tuy quân đội nước Chúc chống trả quyết liệt nhưng thế cô lực mỏng nên cuối cùng vẫn bị đánh bại, lãnh thổ nước này từ đó sáp nhập trở thành 1 ấp của nước Tề. Nói chung nước Chúc hầu như không tồn tại vào thời Xuân Thu vì mới qua thời Tây Chu có 3 năm đã diệt vong rồi, còn về phần Chu Huề Vương vì mất dần vây cánh nên cũng chỉ tồn tại thêm được 7 năm nữa thì cũng bị Chu Bình Vương dẹp yên chấm dứt cục diệt phân liệt thống nhất vương thất. | 1 | null |
Cởi truồng nghĩa là không mặc bất cứ loại trang phục gì như quần, váy... để che vùng kín và bộ phận sinh dục của cơ thể. Khi cởi truồng người ta không mặc quần áo để che phần dưới cơ thể, khác với khỏa thân là lộ toàn thân thể không mặc quần áo. Cởi truồng dễ thấy nơi công cộng được xem là hành vi chỉ của trẻ con.
Trừ các trường hợp thật cần thiết như khi tắm hay chuyện phòng the, con người từ lâu đã rất hiếm khi cởi truồng ở nơi công cộng. Các trường hợp rất đặc biệt mà người ta cởi truồng trước sự hiện diện của người khác là các bãi tắm tiên, quy trình kiểm tra sức khỏe quân ngũ, cởi vì nghệ thuật, ví dụ như một số cảnh phim, kịch yêu cầu một mức độ khỏa thân nhất định, hoặc để bày tỏ sự phản đối, chẳng hạn phản đối chính trị.
Từ "cởi truồng" cũng được sử dụng cho việc "khỏa thân" hoàn toàn.
Dân gian.
Thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
Người Việt Nam có câu nói "Người dại cởi truồng. Người khôn xấu hổ". Câu này để chỉ người khôn không nên giao thiệp với kiểu người dại này, những kẻ có thể làm mất mặt, làm xấu hổ, nhục nhã họ.
Người xưa cũng có câu "Có chồng như gông mang cổ, Không chồng cởi lổ (cởi truồng) mà đi".
Phong tục.
Ngày xưa, tại Thanh Hóa, có một số phong tục như là các hội tế thần, các cô gái đồng trinh được làng chọn cởi truồng tắm dưới ao làng, sau đó múa trước bàn thờ thánh cũng trong tình trạng ở truồng như thế.
Một vài nơi có tục thờ cúng ông Táo nhưng chỉ mua áo giấy cho ông chứ không mua quần.
Ở suối Thần Nông, Ba Đông, Hồ Bắc, Trung Quốc có một phong tục địa phương những người phu kéo thuyền, kéo bè, kéo mảng đều trần truồng, không mặc bất cứ thứ gì trên người khi làm việc.
Câu đố.
Người Kinh có câu đố "Con đóng khố, bố cởi truồng", chỉ tình trạng nghèo khổ, túng thiếu quá mức. Dân tộc Tày và Nùng thì có câu đố "Con bé mặc áo chắp này, chắp nọ, lớn bằng bố bằng mẹ thì cởi truồng".
Sách.
Văn chương.
Chế Lan Viên đã sử dụng từ "cởi truồng" như dụng ngôn cho sự lột bỏ đối với tâm hồn: "Ta cởi truồng ra, ta cởi truồng ra. Ngoài kia trăng sáng chảy bao la. Ta nhảy vào quay cuồng thôi lăn-lộn...".
Lịch sử.
Có nhiều giai thoại ghi lại vào thời Pháp thuộc, các quan lại bắt 4 cô gái chống đối phải cởi truồng diễu phố. Dưới thời Việt Nam cộng hòa có một cuộc biểu tình chống chính quyền bằng cách cởi truồng tại Cần Giuộc, sự kiện này được ghi lại trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số phát hành 137-153 vào năm 1971. Trong quyển "Bảy Viễn: thủ lĩnh Bình Xuyên" có nhắc đến việc mỗi khi vào tù, người tù phải cởi truồng, giang hai tay, hai chân cho lính xét coi có giấu thuốc phiện trong người không.
Phê phán.
Tác giả Phong Thu trong quyển sách "THE RAIN STILL FALLS IN SAIGON: Short Stories" xuất bản năm 2011, chỉ trích tình trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với một bộ phận người Hàn Quốc, Đài Loan...có nhắc đến hình ảnh này.
Truyện tranh.
Cuốn "Trưng Nữ Vương khởi nghĩa Mê Linh" nằm trong bộ sách của NXB Giáo dục Việt Nam, được xuất bản năm 2009, trong đó dùng hình ảnh và lời nói về chi tiết Mã Viện bắt quân sĩ “cởi truồng” để chiến đấu với các nữ binh của Hai Bà Trưng. Chi tiết này khiến Hai Bà Trưng thua trận. Theo GS.TSKH sử học Vũ Minh Giang: "Trong các sách lịch sử không có cuốn sách nào nói đến chi tiết như vậy. Đó là chi tiết bịa đặt lịch sử..."
Pháp lý.
Cởi truồng đôi khi là một hình thức trừng phạt trẻ con, như việc phơi nắng phơi mưa, nhưng hành vi này cùng nhiều kiểu hành vi khác ngày càng bị xã hội lên án. Các hình phạt này được xem là xúc phạm và có thể xếp vào tội bạo hành, cha mẹ của đứa trẻ có thể sẽ phải hầu tòa và ngồi tù.
Một số cơ sở chữa bệnh mê tín dị đoan yêu cầu bệnh nhân "cởi truồng để chữa bệnh", một sự việc đã được truyền thông đưa tin từ huyện Thanh Chương, Nghệ An vào năm 2009.
Vào năm 2015, một cô giáo tại trường mẫu giáo ở Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc bắt 20 em nhỏ cởi truồng cởi trần xếp hình trái tim và nhiều hình khác, chụp hình và đăng lên mạng. Hành động này dẫn đến phản ứng xã hội dữ dội.
Hành vi cởi truồng hoặc lõa thể hoàn toàn xuất hiện trên 1 số trang mạng xã hội từ tài khoản của một số cá nhân, nhóm...nhân danh bảo vệ môi trường bị truyền thông chỉ trích. Việc cởi truồng được sử dụng để đánh bóng tên tuổi.
"Khoản 1 Điều 10 Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định Hành vi vi phạm quy định về nếp sống văn minh, theo đó phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong những hành vi không mặc quần, áo hoặc mặc quần áo lót ở nơi hội họp đông người, các địa điểm văn hóa, tín ngưỡng, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội." Tuy vậy, Nghị định 167/2013/NĐ-CP thay thế đã bỏ hình phạt này. | 1 | null |
Physician's Desk Reference (Từ điển tân dược thế giới, viết tắt PDR) là một trình biên tập thương mại tập hợp đầy đủ thông tin bắt buộc về mặt pháp lý và chuyên môn về các sản phẩm tân dược đặc trị theo toa và sản phẩm chăm sóc sức khỏe bổ sung. Được phát hành dưới sự chấp thuận của FDA(Food and Drug Administration - Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ). Các thông tin về sản phẩm cung cấp bởi nhà sản xuất, và được cập nhật hằng năm. PDR được thiết kế để cung cấp cho bác sĩ với sự uỷ quyền hợp pháp và các thông tin đầy đủ bằng văn bản theo quy định của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ.
PDR được phân phối trực tiếp cho phần lớn các bác sĩ tại Mỹ, cũng như được phổ biến trong các nhà sách, thư viện và có giá trị lưu hành và sử dụng trên toàn cầu. Các sản phẩm để liệt kê trong PDR, cần vượt qua được các kiểm tra về chất lượng, hiệu quả sử dụng nghiêm ngặt nhất, đồng thời phải không có tác dụng phụ và đạt quy định về thời gian lưu hành những tiêu chuẩn của FDA, tại những phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu hàng đầu trực thuộc hệ thống y tế quốc gia Hoa Kỳ. Do đó PDR có thể được xem là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất cho việc xem xét, tham khảo và lựa chọn sản phẩm để tư vấn cho bệnh nhân sử dụng, phục vụ cho việc điều trị hay hỗ trợ điều trị bệnh lý, hay hỗ trợ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Theo thống kê, chỉ riêng tại nước Mỹ, trung bình mỗi tuần có hàng triệu triệu lượt tham khảo thông tin sản phẩm trong PDR từ các bác sĩ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe nhằm tư vấn cho bệnh nhân của mình.
Việc phát hành PDR được hỗ trợ tài chính một phần là từ các công ty sản xuất dược phẩm, những công ty đã nỗ lực để có được những sản phẩm có thể nằm trong PDR.
Bố cục.
Phiên bản 2014 là phiên bản thứ 68, gồm 2000 thông tin về 1500 loại dược phẩm và 500 sản phẩm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe bổ sung.
Các thông tin cung cấp trong PDR bao gồm các thành phần: | 1 | null |
Phóng xạ nhân tạo là hiện tượng phóng xạ sinh ra khi bắn phá các vật chất không phóng xạ bởi những hạt mang điện. Frédéric Joliot-Curie, người đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1935 đã có những đóng góp về tìm ra hiện tượng phóng xạ nhân tạo và nghiên cứu về phản ứng dây chuyền. Ông nhận Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin năm 1950.
Curie và Joliot đã cho thấy rằng khi các nguyên tố nhẹ như boron và nhôm bị bắn phá bằng hạt α, thì có sự phát ra các tia phóng xạ liên tục, thậm chí sau khi cắt nguồn tia α. Họ cũng cho thấy rằng phóng xạ là do sự giải phóng một hạt mang 1 điện tích dương với khối lượng bằng với khối lượng electron. | 1 | null |
Tại các nước phát triển, nhà bếp hay nhà ăn trong khách sạn, bệnh viện, nơi làm việc, trường học hay trại lính đều là đối tượng của luật y tế công cộng. Nhà bếp tại những nơi này sẽ được nhân viên y tế kiểm tra định kỳ, và nếu như không đạt yêu cầu vệ sinh thì bếp ăn và nhà bếp của những nơi này bắt buộc phải đóng cửa.
Khu bếp là nơi đầu tiên được ứng dụng những công nghệ mới, ví dụ như bếp lò tiết kiệm năng lượng của Benjamin Thomson vào đầu thế kỷ 19. Kiểu lò này được làm bằng sắt và đóng kín hoàn toàn, có thể sử dụng một ngọn lửa để đun nóng nhiều nồi và được thiết kế cho nhưng khu bếp rộng. Và 30 năm sau đó, kiểu bếp này được đưa vào sử dụng trong các hộ gia đình
Ngày nay, trong khu bếp tại các nhà hàng người ta thường dùng gạch ốp tường hay sàn nhà hoặc dùng inox để bao phủ các bề mặt như bàn chế biến, cửa hay ngăn kéo vì những chất liệu này bền và dễ lau chùi. Những khu bếp chuyên nghiệp thường được trang bị lò nướng băng ga để trong khi nấu nướng có thể điều chỉnh nhiệt độ nhanh hơn và dễ dàng hơn là dùng lò nướng điện. Ngoài ra, một vài thiết bị đặc biệt được dùng cho các khu bếp chuyên nghiệp như những chảo rán lớn, nồi hấp,nồi đun cách thủy. (Kể từ năm 2004, người ta không còn nhầm lẫn giữa nồi hấp và nồi áp suất nữa mà họ bắt đầu tìm cách phát triển các thiết bị gia dụng mới).
Trong thời đại công nghiệp, đồ ăn nhanh trở nên phổ biến và nó cũng thay đổi cách hoạt động của khu bếp trong các nhà hàng, quán ăn. Các nhà hàng hiện nay thường có xu hướng chuẩn bị sẵn các món ăn và chỉ việc hâm nóng lại khi có khách gọi món, hoặc phòng bếp tại các nhà hàng hiện nay chỉ dùng để làm các món nướng, hamburger hay bít tết.
Ngoài ra, còn có nhiều kiểu nhà bếp như bếp trong toa ăn uống trên tàu, trên tàu thủy, du thuyền hay máy bay v...v. Khu bếp trên tàu hỏa thường có những hạn chế như không gian hạn chế và nhân viên phục vụ phải phục vụ lượng lớn thực khách trong thời gian ngắn. đặc biệt trong thời gian đầu của lịch sử đường sắt, việc phục vụ ăn uống trên tàu yêu cầu sự sắp xếp hoàn hảo của các quá trình, tuy nhiên, hiện nay, lò vi sóng đã giúp công việc đó nhanh hơn và dễ dàng hơn. khu bếp trên các du thuyền cũng khá chật hẹp và thường chỉ có 1 hoặc 2 bếp đun, tuy nhiên, bếp trên tàu du lịch hay tàu chiến lại khá rộng và có diện tích như khu bếp của các nhà hàng hoặc nhà ăn.khu bếp trên máy bay có diện tích như tủ để đồ ăn và chỉ có chức năng duy nhất là đun nóng bữa ăn trong giữa chuyến bay cho hành khách. Ngoài ra, một kiểu " tối giản" nhất trong các kiểu bếp đó là bếp dùng ngoài không gian như trên tàu con thoi hoặc trạm vũ trụ quốc tế. thức ăn của các nhà du hành đều được chuẩn bị sẵn và hầu như bị khử hết nước rồi bọc kín trong những túi nhựa, vì chỉ có chức năng bù lại nước và hâm nóng lại thức ăn, nên những khu bếp này được giảm diện tích tối đa.
Khi nấu nướng ngoài trời, người ta không coi đó là một nhà bếp hoàn chỉnh, ví dụ như khi đi cắm trại, người ta có thể coi đó như một " nhà bếp ngoài trời". trong các trại quân đội hay các nơi định cư tạm thời, người ta sẽ dành riêng một căn lều để làm nhà bếp.
Tại các trường giảng dạy môn kinh tế gia đình hoặc công nghệ thực phẩm, người ta sẽ trang bị một loạt các nhà bếp với nhiều thiết bị với mục đích duy nhất là để giảng dạy. nhưng khu bếp này sẽ bao gồm từ 6 tới 12 khu làm việc, và mỗi khu sẽ trang bị bếp lò, bồn rửa và các dụng cụ nhà bếp khác.
Định nghĩa bếp công nghiệp.
Bếp công nghiệp có thể hiểu đơn giản là nơi chế biến thức ăn với số lượng lớn trong một khoản thời gian ngắn nhằm phục vụ cho nhiều người sử dụng ở những nơi như nhà hàng, quán ăn, canteen tại xí nghiệp, trường học v…v. Các cơ sở chế biến và phục vụ thức ăn này phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Để hạn chế việc nhiễm bẩn có thể xảy ra,các công đoạn trong khu bếp công nghiệp được khép kín từ khâu sơ chế tới khi thức ăn đã được hoàn thành. Các công đoạn chế biến thực phẩm cho công cộng này được chia ra làm các khu riêng biệt gồm: Khu vực nhận thực phẩm, phòng lạnh, bảo quản chung thực phẩm, khu vực sơ chế, khu vực đun nấu, khu giữ mắt và phân chia thức ăn, khu rửa bát. Bếp công nghiệp thường bao gồm cả các phòng ăn, trong một vài trường hợp việc chế biến thức ăn được tiến hành ở gần khu phân chia thức ăn và khu cà phê. Bếp công nghiệp đầu tiên được đưa vào hoạt động tại Ivanovo vào năm 1925.
Nguyên liệu.
Nguyên liệu khu bếp công nghiệp phải được đơn giản hóa nhằm dễ dàng lau chùi và bảo trì.
Thép không gỉ (inox) là vật liệu thường được sử dụng để phủ bề mặt cố định của máy móc, thiết bị. Do môi trường trong khu bếp thường ẩm nóng và nhiều dầu mỡ nên các thiết bị làm bằng các vật liệu khác dễ bị gỉ, bám bẩn và hỏng nhanh chóng. Các thiết bị inox trong bếp bao gồm: Bàn Inox, Giá kệ Inox, Bàn chậu Inox, Xe inox, Quầy Inox.
Khu bếp công nghiệp được xây dựng với cửa sổ và cửa ra vào cách ly với bên ngoài cũng với việc sử dụng điều hòa không khí sẽ giúp giảm bớt nguy cơ thực phẩm bị nhiễm khuẩn. Khi các quy trình chế biến thức ăn trở nên phức tạp hơn thì yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng trở nên khắt khe hơn và khoảng cách giữa khu bếp với thực khách trở nên xa hơn.
Thiết bị bếp công nghiệp.
Thiết bị bếp công nghiệp được chia thành năm loại chính đó là: thiết bị nấu, thiết bị sơ chế, thiết bị bếp inox, thiết bị lạnh công nghiệp, thiết bị điện bếp công nghiệp. Các thiết bị này được dùng để phục vụ, chế biến, trưng bày thực phẩm hay được sử dụng vào việc làm sạch thực phẩm, dụng cụ, bát đĩa trong nhà bếp. | 1 | null |
Tơ nhện là sợi protein mà nhện tạo ra và xe sợi. Nhện sử dụng tơ của chúng để tạo nên mạng nhện hoặc các cấu trúc khác, có chức năng như lưới để bắt các loài động vật khác, hoặc như tổ kén để bảo vệ cho con của chúng. Chúng cũng có thể đình chỉ sử dụng tơ của mình. Nhiều loài nhện nhỏ sử dụng sợi tơ phình to để bay lên như diều, nhện nhỏ sử dụng tơ phát tán. Chúng phun ra một số sợi tơ vào trong không khí và nhờ gió mang di. Mặc dù hầu hết các chuyến đi sẽ kết thúc sau đó vài thước, nó có vẻ là một cách phổ biến để nhện xâm chiếm các hòn đảo. Nhiều thủy thủ đã báo cáo rằng nhện đã bị bắt trong các cánh buồm tàu của họ, ngay cả khi xa đất liền. Trong một số trường hợp, nhện thậm chí có thể sử dụng lụa như một nguồn thực phẩm. Người ta đã phát triển các phương pháp tạo tơ nhện bằng cách ép buộc.
Nhiều thành tựu nghiên cứu về tơ nhện đã được đăng tải ở tạp chí "Biomacromolecules".
Ứng dụng.
Các nhà nghiên cứu của Đại học Wyoming Hoa Kỳ đã tạo ra tằm có thể nhả tơ chắc chắn như tơ nhện. Thành công trên nhờ vào sự phát hiện một loài nhện đặc biệt ở Madagascar vào năm 2009, được gọi là nhện Caerostris darwini. Loài nhện này không những tạo ra mạng lưới lớn nhất (với các tấm lưới trải dài đến 25m), mà tơ của nó được công nhận chắc chắn nhất trong loài (có thể hấp thu năng lượng cao gấp 3 lần sợi Kevlar).
Ứng dụng của tơ nhện lai tằm mới được trải rộng qua nhiều lĩnh vực, từ vật dụng như dù, túi khí xe hơi, trang phục thể thao, đến các mục đích điều trị y khoa, như băng phủ vết thương, chỉ khâu, dây chằng và gân nhân tạo, hỗ trợ các khớp lành sau đợt chấn thương, thậm chí còn giúp dây thần kinh phục hồi và tái tạo. Tơ nhện được sử dụng làm áo giáp chống đạn. Nhà khoa học Huby thuộc Viện vật lý Rennes, Pháp cùng nhóm nghiên cứu của mình đã thành công trong việc chuyển ánh sáng laser trên một đoạn tơ trong mạch của con chip. Sợi tơ có thể truyền tải thông tin tới các thiết bị điện tử.
Sợi tơ có đường kính nhỏ hơn 10 lần so với 1 sợi tóc nên có thể được dùng trong các thiết bị nội soi của y tế. Ngoài ra, tơ không gây phản ứng phụ với cơ thể con người nên có thể dùng để cấy ghép vào cơ thể. Nhà khoa học Fiorenzo Omenetto thuộc trường Đại học Tufts, tiểu bang Massachusetts có ý định tạo ra một loại băng gạc bằng tơ, có gắn thiết bị quan sát điện tử để theo dõi hiện tượng nhiễm trùng ở bệnh nhân sau khi thực hiện phẫu thuật. | 1 | null |
Ito Toyo (伊东豊雄, Itō Toyoo?, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1941) là một kiến trúc sư Nhật Bản nổi tiếng với việc tạo ra kiến trúc khái niệm, trong đó ông tìm cách đồng thời thể hiện thế giới vật chất và ảo. Ông là một số nhân vật tiêu biểu hàng đầu của kiến trúc chú tâm các khái niệm hiện đại của một thành phố "mô phỏng", và đã được gọi là "một trong những kiến trúc sư sáng tạo và có ảnh hưởng nhất của thế giới."
Vào năm 2013, Ito đã được trao tặng giải Pritzker, một trong những giải thưởng kiến trúc uy tín nhất. Ban giám khảo nêu lý do chính cho sự lựa chọn của Toyo Ito trong lần trao giải năm 2013 "Trong suốt sự nghiệp của mình, Toyto Ito đã tạo nên một khối lượng tác phẩm mà kết hợp được những ý tưởng đổi mới với những công trình hoạt động tuyệt vời. Sáng tạo nên những tuyệt phẩm trong suốt 40 năm, ông đã thực hiện thành công các loại công trình như thư viện, nhà ở, công viên, nhà hát, của hàng, văn phòng và các gian hàng, mỗi thể loại công trình ông đều đã mở rộng tính chất của công trình đó. Là một kiến trúc sư có tài năng tuyệt vời, ông đã tập trung cho quá trình tìm kiếm những tiềm năng ở mỗi dự án và mỗi khu đất".
Ito sinh ra ở Seoul trong gia đình cha mẹ là người Nhật Bản vào ngày 01 tháng 6 năm 1941. Năm 1943, ông chuyển đến Nhật Bản cùng với mẹ và hai chị em gái, và tốt nghiệp từ trường Đại học Tokyo khoa Kiến trúc vào năm 1965. Toyo Ito bắt đầu sự nghiệp tại công ty Kiyonori Kikutake & Associates. Vào năm 1971, ông thành lập văn phòng của mình tại Tokyo và đặt tên là Urban Robot (Urbot). Vào năm 1979 ông đổi tên văn phòng thành Toyo Ito & Associates, Architects.
Ông đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế, trong năm 2010, ông đoạt giải Praemium Imperiale lần 22 vinh danh hoang tử Takamatsu, năm 2006, Huy chương Vàng của Hiệp hội kiến trúc sư Hoàng gia Anh, năm 2002 giải thưởng Sư tử vàng dành cho thành tựu trọn đời trong Venice Biennale International Exhibition lần thứ 8. Gọi ông là "tác giả của những công trình vượt thời gian" ban giám khảo Pritzker trích dẫn: "đưa các thiết kế tới một chiều tâm linh và vị chất thơ khiến chúng vượt qua các tác phẩm của chính mình".
Một số công trình tiêu biểu: Nhà chữ U, một trong những dự án đầu tiên của ông vào năm 1971 là một ngôi nhà ở ngoại ô Tokyo có tên gọi "Nhà nhôm", đó là một cấu trúc bao gồm các khung gỗ bao phủ bới vỏ nhôm. Hầu hết các tác phẩm đầu tiên của ông là nhà ở. Sendai Mediatheque, hoàn thành năm 2001 tại thành phố Sendai, Miyagi, Nhật Bản
Một dự án khác của Ito được nhận xét bởi ban giám khảo là tòa nhà TOD’S Omotesando tại Tokyo. | 1 | null |
Lý Quá (chữ Hán: 李过, ? – 1649), có thuyết ghi là Lý Cẩm (李錦), tên tự là Bổ Chi, xước hiệu là Nhất chích hổ, người Mễ Chi, Thiểm Tây, tướng lãnh nghĩa quân Đại Thuận, về sau liên kết chính quyền Nam Minh kiên trì kháng Thanh, được Long Vũ Đế ban tên là Lý Xích Tâm (李赤心).
Cuộc đời và sự nghiệp.
Ông là cháu của Đại Thuận Đế Lý Tự Thành, theo ông ta chinh chiến 15 năm. Khi Tự Thành kiến lập chính quyền Đại Thuận, Lý Quá được ban chức Chế Tướng quân, Đô đốc. Tự Thành rút khỏi Bắc Kinh, lấy ông giữ Duyên An, Thiểm Bắc. Tự Thành mất (1644), Lý Quá tiếp nhận quân đội của ông ta, cùng các tướng lãnh nghĩa quân đề cử Cao Nhất Công làm thủ lĩnh, tiếp tục kháng Thanh . Chỉ trong năm Thuận Trị thứ 2 (1645), nhà Thanh đã 6 lần chiêu dụ ông, nhưng sứ giả đều có đi không về.
Tháng 7 cùng năm (1645), bọn Cao Nhất Công, Lý Quá thỏa hiệp với bọn Tuần phủ Hà Đằng Giao, Thượng thư Đổ Dận Tích, chấp nhận quy thuận chính quyền Nam Minh cùng kháng Thanh, chịu sự quản hạt của Đổ Dận Tích; ông được Long Vũ Đế ban tên Xích Tâm, phong Hưng Quốc hầu , nhận chức Tổng binh; còn lực lượng Đại Thuận gọi là "Trung Trinh Doanh". Mùa đông, Đổ Dận Tích đưa Trung Trinh Doanh đến Kinh Châu, trong lúc đó quân Thanh tập kích căn cứ Công An, bọn Xích Tâm hoang mang chạy đi Xuyên Đông.
Mùa hạ năm Vĩnh Lịch thứ 4 (1648), Đổ Dận Tích mệnh Trung Trinh Doanh đánh Thường Đức, bức Mã Tiến Trung lui chạy. Tiếp đó tấn công Trường Sa, không hạ được, lui về Tương Đàm.
Mùa xuân năm sau (1649), Trung Trinh Doanh phụng mệnh đi cứu Kim Thanh Hoàn ở Nam Xương, đến giao giới Trà Lăng, Hành Sơn, lần lữa không tiến. Trong lúc này, Hà Đằng Giao bị quân Thanh bắt ở Tương Đàm, bọn Xích Tâm rút về phía đông Hành Châu. Quân Thanh đuổi đến, bọn họ lại chạy đi huyện Hạ, rồi đi Ngô Châu. Tháng 7, Xích Tâm bệnh mất, Cao Tất Chính kiêm lãnh quân đội của ông.
Tồn nghi.
Ngày 13 tháng 5 năm 2012, chương trình "Tìm tòi. Phát hiện", kênh CCTV10 thông báo tại Thông Thành, Hồ Bắc tìm thấy một lượng lớn tài liệu của quân nông dân Đại Thuận, đa phần là ghi chép của Lý Quá. Căn cứ vào những ghi chép này, Lý Quá không chết, mà ẩn cư tại núi Hoàng Long ở giao giới của 3 huyện Tu Thủy, Giang Tây, huyện Bình Giang, Hồ Nam và huyện Thông Thành, Hồ Bắc làm đạo sĩ, đổi tên là Lý Tú, hiệu là Hoàng Long chân nhân. Tuy vậy, những tài liệu này vẫn chưa được giới sử học Trung Quốc công nhận. | 1 | null |
Ngụy Nhiễm (chữ Hán: 魏冉, bính âm: "Wèi Rǎn",?-?), hay còn được biết với tước hiệu Nhương hầu (穰侯), là tướng quốc nước Tần thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Gia đình của Ngụy Nhiễm vốn mang họ Mị (羋), vương thất họ xa của nước Sở, sau lưu lạc đến nước Tần. Người chị khác cha của ông là Mị Bát Tử, được gả làm thiếp của Tần Huệ Văn vương, vua thứ 31 của nước Tần, sinh ra công tử Doanh Tắc. Ngoài ra Ngụy Nhiễm còn có một người anh em khác là Mị Nhung, sau được phong làm Hoa Dương quân. Sử ký chỉ ghi ông là em khác cha của Mị Bát Tử, không nói rõ cha của Nguỵ Nhiễm là ai.
Giúp cháu đoạt ngôi.
Năm 311 TCN, anh rể Ngụy Nhiễm là Tần Huệ Văn vương qua đời, thái tử Đãng (con Huệ Văn vương với chính thê là Huệ Văn hậu) lên nối ngôi, tức Tần Vũ vương. Tần Vũ vương phong cho Ngụy Nhiễm làm Đại phu, tham gia triều chính. Năm 307 TCN, Tần Vũ vương bị đè chết, không có con nối ngôi. Những người con khác của Tần Huệ Văn vương tranh giành ngôi vua. Ngụy Nhiễm vốn có thế lực trong triều, ủng hộ cháu mình là Doanh Tắc. Cùng lúc đó Triệu Vũ Linh vương cũng can thiệp vào nước Tần, hợp sức với Ngụy Nhiễm đưa Doanh Tắc lên ngôi, tức Tần Chiêu Tương vương. Chị ông là Mị Bát Tử được tôn làm Tuyên thái hậu.
Tần Chiêu Tương vương phong Ngụy Nhiễm làm tướng quân, coi giữ kinh đô Hàm Dương. Ông đuổi Tần Vũ vương hậu sang nước Ngụy, còn các công tử con của Tần Huệ Văn vương đa số bị Ngụy Nhiễm giết để trừ hậu hoạn. Tần Chiêu Tương vương lên ngôi còn nhỏ tuổi, việc triều chính do Tuyên Thái hậu quyết đoán. Ngụy Nhiễm thế lực ngày một lớn, uy chấn khắp nước Tần.
Thừa tướng nước Tần.
Năm 300 TCN, Tả thừa tướng nước Tần là Sư Lý Tật qua đời, chức thừa tướng bị bỏ trống. Tần Chiêu Tương vương phong Ngụy Nhiễm làm Thừa tướng. Ngụy Nhiễm muốn giết đại phu là Lã Lễ, Lã Lễ hoảng sợ, trốn sang nước Tề.
Năm 294 TCN, hai nước Triệu, Hàn liên hợp chống Tần. Ngụy Nhiễm sai cử Bạch Khởi, Hướng Thọ đánh Ngụy-Hàn, đánh bại liên quân ở Y Khuyết, chém 24 vạn quân, bắt sống tướng Ngụy là Công tôn Hỉ. Cùng năm đó, Ngụy Nhiễm bị bệnh, xin trả lại tướng ấn, xin phong khách khanh Thọ Chúc làm thừa tướng. Nhưng cũng không lâu sau, Ngụy Nhiễm khỏi bệnh, trở lại làm tướng quốc. Tần Chiêu Tương vương lại phong cho ông ăn lộc ở đất Nhương, gọi là Nhương hầu.
Năm 289 TCN, Ngụy Nhiễm đem quân đánh nước Ngụy, buộc nước Ngụy cắt đất Hà Đông, rồi lại chiếm hết của nước Ngụy 16 thành.
Năm 278 TCN, Ngụy Nhiễm cử Bạch Khởi đánh Sở, chiếm được Dĩnh Đô.
Theo Sử ký, trong thời gian làm thừa tướng, Ngụy Nhiễm được tin dùng, tiền của còn nhiều hơn cả vương thất.
Năm 275 TCN, Ngụy Nhiễm lại cùng Bạch Khởi đánh Ngụy, chiếm Hoa Dương, rồi đánh vào Bắc Trạch, bao vây Đại Lương. Đại phu nước Ngụy là Tu Giả dùng lời lẽ thuyết phục, Ngụy Nhiễm mới lui quân.
Năm 274 TCN, Ngụy An Ly vương bỏ Tần để thân với Tề. Tần Chiêu Tương vương sai Ngụy Nhiễm đánh Ngụy chiếm 4 thành, giết bốn vạn quân Ngụy, chiếm đất Tam Huyền, phong cho Ngụy Nhiễm
Năm 273 TCN, Ngụy cùng nước Triệu hợp binh đánh Hàn, vây Hoa Dương. Ngụy Nhiễm cùng Bạch Khởi, Khách khanh Hồ Dương cứu Hàn, đánh bại Ngụy ở thành Hoa Dương (nay là Trịnh Châu, Hà Nam), giết 13 vạn quân Ngụy, Ngụy An Ly vương phải cầu hòa.
Mất chức.
Năm 271 TCN, Ngụy Nhiễm xin Tần Chiêu Tương vương đánh Tề, chiếm ấp Đào. Cùng lúc đó, người nước Ngụy là Phạm Thư bị tội phải giả danh Trương Lộc sang Tần, được Tần Chiêu Tương vương trọng dụng. Phạm Thư lại tâu với vua rằng Tuyên Thái hậu chuyên quyền đã lâu, Nhương hầu thì lại uy danh khắp chư hầu, còn Kính Dương quân và Cao Lăng quân thì giàu hơn cả vương thất, e sẽ có ngày gây họa. Tần Chiêu Tương vương lo sợ, bèn bãi chức của Ngụy Nhiễm, bắt phải lui về ấp phong. Lúc Nhương hầu rời kinh đô đem theo xe hơn 1000 chiếc. Vua Tần phong Phạm Thư làm thừa tướng.
Sau không rõ Ngụy Nhiễm mất năm nào. Sau khi Ngụy Nhiễm mất, nước Tần thu lại ấp phong của ông. | 1 | null |
Quan Long Phùng (chữ Hán: 关龙逢) hoặc Quan Long Bàng (chữ Hán: 关龙逄), là một tên nhân vật huyền sử sống vào cuối thời nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, ông là hậu duệ của Hoạn Long thị đồng thời là tổ tiên của Quan Vũ. Tương truyền ông là một vị quan thanh liêm chính trực và mẫu mực thương dân, do can ngăn vua Hạ Kiệt và bị Hạ Kiệt giết chết.
Khi Hạ Kiệt mới lên ngôi bất kỳ việc làm nào của nhà vua ông cũng đều can gián thẳng thắn, nhà vua nghe ông phân tích hợp lý nên đều nghe theo khiến quốc gia tương đối phồn thịnh một thời. Đến lúc vua Kiệt đem quân tiến đánh nước Hữu Thi được nước này dâng mĩ nữ Muội Hỷ để cầu hòa, vua Kiệt ngày đêm đắm say sủng ái nàng nên dần dần những lời khuyên ngăn của Quan Long Phùng bị vô hiệu hóa. Đôi khi nhà vua còn không thèm nghe ông mà hễ thấy ông vào là lập tức đuổi ông ra ngay tức khắc, tình trạng đó kéo dài trong nhiều năm việc chính sự dần dần bị bỏ bê khiến dân tình ca thán trăm họ lầm than. Quan Long Phùng nhìn thấy cảnh đất nước sắp suy vong không cầm lòng nổi nhưng ông không có cách nào để gặp nhà vua, bởi nhà vua đã ra sắc lệnh hễ thấy ông thì quân lính không được phép cho vào cung.
Thế rồi Kiệt vương xây dựng nên một cái cột đồng cho bôi mỡ trơn rồi nung nóng, hễ ai trái ý nhà vua lập tức bắt họ trèo lên cái cột đó gọi là "bào lạc". Hình phạt này quá dã man làm cho nhiều người bất mãn bàn tán xôn xao nhất là những gia đình có tù nhân phạm tội nhẹ, Quan Long Phùng không chịu nổi nữa liều mạng xông thẳng vào cung vua nói rằng hãy dỡ bỏ "bào lạc" đi. Nhà vua nổi giận lôi đình sai người bắt ngay Quan Long Phùng chém đầu thị chúng vì tội hỗn hào, sau khi ông chết chẳng bao lâu thì vua Thành Thang nhà Thương đánh tới đô thành bắt sống Kiệt vương đày ra Nam Sào kết liễu vai trò hơn 400 năm trên vũ đài chính trị của nhà Hạ. | 1 | null |
Lương Tuấn tên thật Nguyễn Hồng Lạc (1957 - 2008) là một nghệ sĩ cải lương được nhiều người biết đến với vai trò là một kép chánh có giọng ca trầm ấm, thành công sau 2 vai diễn là Tô Châu trong vở "Áo cưới trước cổng chùa" và Chu Bình trong vở "Lôi vũ".
Sự nghiệp.
Năm 1977, Thị xã Châu Đốc thành lập đoàn hát Tiếng Ca Miền Biên Giới, Lương Tuấn liền xin gia nhập, nhờ có giọng ca tốt, hơi rộng và sắc diện đẹp trai, ông được các nhạc sĩ Tư Thuận, Tư Nhung dạy ca cổ nhạc và nghệ sĩ Hoàng Ẩn dạy điệu bộ để hát các vai tuồng chánh. Ông còn được nghệ sĩ Bích Thu chỉ dạy thêm, và được hát cặp với bà qua các tuồng "Kiếm Thép Giữa Rừng Xanh, Lưu Bình Dương Lễ, Anh Hùng Lam Sơn". Sau này ông và bà Bích Thu kết hôn. Chỉ trong một năm hoạt động tại đoàn Tiếng Ca Miền Biên Giới, Lương Tuấn nổi danh là một kép chánh được khán giả yêu quý. Giữa năm 1977, khi biểu diễn ở đình Bình Hòa, Long Xuyên, đoàn hát bị một nhóm các du kích địa phương say rượu tấn công, cả đoàn hát phải thu dọn gấp, khi về đến Châu Đốc thì giải tán.
Năm 1978, Lương Tuấn về hát cho đoàn cải lương Cao Văn Lầu trong một thời gian ngắn, rồi cùng vợ về hát cho đoàn hát Tiếng Ca Đất Mũi của tỉnh Cà Mau do soạn giả Điền Long làm trưởng đoàn. Lúc mới gia nhập đoàn Tiếng Ca Đất Mũi, Lương Tuấn hát vai kép nhì, chỉ qua hai tuồng "Bên Dòng Nhị Nguyệt" và "Lục Vân Tiên", Lương Tuấn được nâng lên hát vai kép chánh. Vợ chồng nghệ sĩ Lương Tuấn và Bích Thu, hát ở đoàn Tiếng Ca Đất Mũi hơn bốn năm, được khán giả ở miền Hậu Giang và miền Trung quý mến.
Năm 1983, nghệ sĩ Lương Tuấn và Bích Thu cộng tác với đoàn cải lương Lâm Đồng, do nghệ sĩ Vũ Linh thành lập. Đây là bước ngoặt lớn trong nghề nghiệp của Lương Tuấn vì anh được hai nghệ sĩ bậc thầy trong lối hát Hồ Quảng (cải lương tuồng cổ), Vũ Linh và Ngọc Đáng truyền dạy nghệ thuật hát Hồ Quảng. Khi đoàn Lâm Đồng về hát ở Thành Phố , Sở Văn Hóa Thông Tin rút ông về giúp cho đoàn hát Trần Hữu Trang 1.
Năm sau Lương Tuấn được điều sang tăng cường cho đoàn Trần Hữu Trang 2, ông đã hoạt động trong đoàn Trần Hữu Trang từ năm 1984 đến năm 1988. Sau đó vì lương hát ở đoàn nhà nước không đủ sống, Lương Tuấn ký hợp đồng, hưởng một số lương rất cao để đi hát với đoàn Phước Sơn tỉnh Bình Định.
Năm 1989, Lương Tuấn được mời về hát ở đoàn 2/84, là đoàn hát cải lương đặc biệt của thành phố, tập trung nhiều diễn viên loại A như Lệ Thủy, Diệp Lang, Phương Quang... Tại đây ông đóng cặp với nghệ sĩ Lệ Thủy.
Năm 1990, nghệ sĩ Lương Tuấn đoạt được Huy chương vàng "Hội diễn sân khấu cải lương toàn quốc" qua vai Thắng của tuồng "Lời Ru Của Biển". Từ sau năm 1992, sân khấu cải lương mất dần khán giả, anh cộng tác với nhóm Câu Lạc Bộ Sân Khấu do nghệ sĩ Út Bạch Lan tổ chức và anh được Saigon audio mời thu thanh nhiều tuồng cải lương.
Qua đời.
Nghệ sĩ Lương Tuấn đã từ trần hồi 11 giờ 20 ngày 23 tháng 12 năm 2008, hưởng dương 52 tuổi, Sau thời gian điều trị căn bệnh ung thư bao tử. Linh cữu nghệ sĩ Lương Tuấn quàn tại nhà riêng ở địa chỉ C7/27 D13 đường Phạm Hùng, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. | 1 | null |
Coptis teeta, còn có các tên tiếng Việt như vàng đắng, hoàng liên, hoàng liên Vân Nam, hoàng đằng, là một loài thực vật thuộc chi Hoàng liên, là loài bản địa Trung Quốc. Cần lưu ý là một số loài trong chi Fibraurea thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) cùng bộ Mao lương cũng có tên gọi là hoàng đằng hay nam hoàng liên. Tên gọi hoàng đằng còn là tên gọi của một họ thực vật khác là Gelsemiaceae thuộc bộ Long đởm (Gentianales). | 1 | null |
Tây Lương là một xã thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.
Địa lý - Hành chính.
Xã nằm về phía Tây bắc huyện Tiền Hải. Phía Bắc giáp sông Trà Lý, có con cầu sang huyện Thái Thụy, tuyến đi dài 1.000 mét từ cống Đại Hoàng (gốc Ruối) đến cống Lương Phú đường 39B; phía Nam giáp thị trấn Tiền Hải, kéo dài đến sông Hàng Huyện; phía Đông giáp xã Đông Quý và Tây Ninh; phía Tây giáp sông Hàng Huyện, bên kia là xã Vũ Lăng.
Xã Tây Lương có tổng diện tích đất tự nhiên là 634,54 ha, trong đó diện tích đất canh tác có 365,684 ha (chủ yếu là đất hai lúa, còn đất màu chiếm 6,916 ha).
Dân số xã hiện có 7.015 người, gồm 1.780 hộ, trong đã 6.732 khẩu nông nghiệp.
Lịch sử.
Địa bàn xã Tây Lương trước kia là vùng bãi mới được bồi tô, lau lác mọc đầy, đất đai chua mặn, việc trồng cấy gặp rất nhiều khó khăn. Những cư dân đầu tiên đến đây lập thành những ấp, trại lẻ và sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước (riêng thôn Nghĩa có nghề bắt tôm, cá thủ công - nội đồng). Thiên nhiên nhiều ưu đãi nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt, lại thêm bọn cướp biển ngày đêm cướp phá quấy nhiễu.
Vào khoảng XVI, các làng Đại Hoàng, Lương Phú, Tam Đồng được thành lập bởi những người lưu dân khẩn hoang lập ấp. Về sau các làng được hợp thành tổng Đại Hoàng, huyện Chân Định, trấn Sơn Nam. Đến năm Mậu Tý 1828 (Minh Mạng năm thứ 9), Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ cho lập huyện Tiền Hải. Từ đó tổng Đại Hoàng thuộc huyện Tiền Hải, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam (đến năm 1831 - 1832, Minh Mạng đổi thành tỉnh Nam Định).
Sau Cách mạng tháng 8, tháng 3 năm 1946, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho hợp nhất các làng Lương Phú, Trà Lý, Tam Đồng thành xã Duy Tân; các thôn Thượng, Hiên, Nghĩa (làng Đại Hoàng) thành xã Đại Hoàng. Đầu năm 1947, các xã Duy Tân, Đại Hoàng và Tân Định (nay là xã Tây Ninh) hợp nhất thành xã Hưng Đạo. Đến năm 1955, xã Hưng Đạo lại tách ra, thôn Trà Lý chuyển về xã Đông Quý, các thôn Lạc Thành, Đại Hữu, Vĩnh Ninh là xã Tây Ninh. Các thôn Lương Phú, Tam Đồng, thôn Nghĩa, các xóm trại Hoàn Khê, Nhượng Bạn và Trung Tiến hợp nhất thành xã Tây Lương. Các thôn Thượng và thôn Hiên sáp nhập với thôn An Khang thành xã Tây Đô. Không lâu sau, thôn Thượng và thôn Hiên được nhập trở lại vào xã Tây Lương.
Năm 1977, thôn Tam Đồng chuyển về xã Vũ Lăng theo Quyết định 1.507 ngày 18/12/1976 của Hội đồng Bộ trưởng. Xã Tây Lương còn lại 5 thôn là thôn Thượng, Hiên, Nghĩa, Trung Đồng (sau đổi thành thôn Trung Tiến) và Lương Phú ổn định đến ngày nay.
Giao thông.
Chạy dọc theo hướng Bắc - Nam của xã (từ cầu Trà Lý đến xã Tây Sơn) là đường 39B dài 4 km. Ngoài ra xã còn có ba trục đường chính:
Bên cạnh các Trục đường chính, trong các thôn, xóm còn có hệ thống đường xương cá, tạo thuận lợi cho việc giao thông đi lại của nhân dân trong xã. | 1 | null |
Dưới đây là danh sách các phiên vương thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Đông Hải quốc (41-220).
Chú: vào năm 41, Lưu Dương (sau đổi tên thành Trang, tức Hán Minh Đế) được phong làm Đông Hải vương, năm 43 Lưu Dương được lập làm thái tử, nguyên thái tử Lưu Cường bị cải phong làm Đông Hải vương.
Ngụy quốc (216-220).
Chú: năm 213, Hán Hiến Đế phong Tào Tháo làm Ngụy công, cho kiến quốc trên 10 quận gồm Hà Đông, Hà Nội, Ngụy quận, Triệu quốc, Trung Sơn, Thường Sơn, Cự Lộc, An Bình, Cam Lăng, Bình Nguyên. Năm 216, Tào Tháo được tấn phong làm Ngụy vương. | 1 | null |
Kevlar là nhãn hiệu đăng ký cho một sợi tổng hợp para-aramid, liên quan đến aramit khác như Nomex và Technora. Được phát triển tại DuPont vào năm 1965, vật liệu cường độ cao này đã được sử dụng thương mại đầu tiên vào đầu năm 1970 như là một thay thế cho thép trong lốp xe đua. Thông thường nó được se thành sợi dây thừng hoặc tấm vải có thể được sử dụng như thế hoặc như một thành phần trong các thành phần vật liệu composite.
Kevlar là một loại sợi có cấu trúc mạch dài và định hướng cao. Sợi Kevlar có độ bền gấp 5 lần thép nhưng cũng rất dẻo dai nên thường được sử dụng làm vật liệu chế tạo áo giáp chống đạn. Hiện nay, Kevlar có nhiều ứng dụng khác nhau, từ lốp xe đạp và đua, thuyền buồm, áo giáp, vì tỷ lệ sức bền kéo so với trọng lượng cao, mạnh hơn 5 lần thép trên cơ sở cùng trọng lượng. Kevlar cũng được sử dụng để làm cho các mặt trống hiện đại chịu được tác động cao. Khi được sử dụng như một vật liệu dệt, nó phù hợp cho các dây buộc tàu và các ứng dụng dưới nước khác.
Một sợi tương tự được gọi là Twaron với cùng một cấu trúc hóa học đã được phát triển bởi Công ty Akzo vào những năm 1970, sản xuất thương mại bắt đầu vào năm 1986, và Twaron hiện được sản xuất bởi Teijin. | 1 | null |
Bùi Thúy Hạnh (sinh ngày 4 tháng 2 năm 1978). Cô được biết đến với vai trò là Siêu mẫu, người dẫn chương trình, giám đốc chuyên môn cho công ty người mẫu Elite đồng thời còn là giám khảo của chương trình . Cô có một người chị song sinh là người mẫu Thúy Hằng. Cô kết hôn với nhạc sĩ Minh Khang và đã có hai con là gái Suli và Suti.
Với vị trí giám đốc chuyên môn Elite Việt Nam, cô đại diện cho Việt Nam tại cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2004 để tìm hiểu công tác tổ chức và tiêu chí cử thí sinh phù hợp.
Cô đã trở lại cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2009 với vai trò là Ban giám khảo. | 1 | null |
Binh đoàn thây ma (tựa gốc tiếng Na Uy: Død snø, tựa tiếng Anh: Dead Snow - "Tuyết chết") là một bộ phim kinh dị,hài năm 2009 của Na Uy do Tommy Wirkola làm đạo diễn. Bộ phim kể về một nhóm bạn trẻ bị tấn công bởi các thây ma Đức Quốc xã trên núi tuyết.
Nội dung.
Một cô gái tên Sara đang đi trong khu rừng tuyết Na Uy thì bị những sinh vật bí ẩn đuổi theo. Sau đó cô bị ăn thịt bởi những thây ma mặc quân phục SS của Đức Quốc xã trong Thế chiến hai.
Bảy người sinh viên trong kỳ nghỉ Lễ Phục Sinh đã đến căn nhà nhỏ gần Øksfjord. Căn nhà là của Sara, bạn gái của Vegard. Cả nhóm bắt đầu uống rượu và tiệc tùng đến khi có một ông già lang thang xuất hiện. Ông già kể cho họ nghe về lịch sử đen tối của vùng này: trong thời Thế chiến hai, lực lượng Đức Quốc xã do sĩ quan Standartenführer Herzog chỉ huy đã xâm chiếm khu vực này. Trong ba năm, quân phát xít đã hành hạ và tra tấn người dân địa phương. Gần kết thúc chiến tranh, người dân đã nổi dậy chống lại quân Đức. Herzog cùng một số binh lính khác rút lên vùng núi và bị đóng băng đến chết. Ông già lang thang kể xong câu chuyện thì rời đi. Ông dựng lều trên núi, lúc ông đang ăn tối thì nghe tiếng động bên ngoài. Ông ra ngoài kiểm tra liền bị một thây ma giết chết.
Sáng hôm sau, Vegard đi tìm Sara, phát hiện thi thể của ông già lang thang. Anh bị rơi xuống cái hang dưới lòng đất và bất tỉnh. Lúc tỉnh lại, Vegard đi vòng quanh trong hang, khám phá ra vũ khí và nón sắt của quân Đức, có cả cái đầu bị đứt của Sara. Anh bị hai con thây ma tấn công, nhưng anh đã đánh bại chúng. Anh leo lên chỗ chiếc xe chạy tuyết, khâu vết thương trên cổ lại và gắn khẩu súng máy MG-34 lên xe.
Ở chỗ căn nhà, những người bạn còn lại cũng bị bọn thây ma tấn công. Erlend bị giết chết khi đang cố bảo vệ căn nhà. Bốn người còn lại quyết định tách ra. Hai chàng trai Martin và Roy lo đánh lạc hướng bọn thây ma, trong khi hai cô gái Hanna và Liv lo chạy đến chỗ xe hơi để đi tìm người giúp đỡ. Hai cô gái bị phục kích. Liv bị con thây ma móc ruột ra, cô liền dùng quả lựu đạn cho nổ tung chính mình và thây ma kia.
Martin và Roy vô tình châm lửa đốt cháy căn nhà. Cả hai lấy dụng cụ trong nhà kho trang bị vào người. Vegard lúc đó quay về giúp họ tiêu diệt bọn thây ma, nhưng Vegard cũng bị giết chết. Martin vô tình giết chết Hanna, người đã bất ngờ quay về căn nhà. Thây ma của sĩ quan Herzog xuất hiện và dẫn theo nhóm "binh lính". Martin bị cắn ở cánh tay, anh cắt đứt cánh tay mình với chiếc máy cưa để không bị biến thành thây ma. Martin và Roy định tấn công Herzog, nhưng hắn gọi thêm hàng trăm thây ma từ dưới tuyết lên.
Trong lúc cả hai đang bỏ chạy thì Roy bị giết chết. Martin hiểu ra bọn thây ma đang muốn gì, anh tìm lại được cái hộp kho báu trong căn nhà bị thiêu rụi. Martin đưa cái hộp cho Herzog và chạy thoát đến chỗ xe hơi. Nhưng anh quên rằng vẫn còn sót lại một đồng vàng ở trong túi anh, đúng lúc đó Herzog đập vỡ cửa kính của chiếc xe. | 1 | null |
Tội ác sau ô cửa hay Sát nhân cận kề (tựa gốc tiếng Anh: Disturbia) là một bộ phim tâm lý, kinh dị Mỹ của đạo diễn D. J. Caruso thực hiện, được phát hành vào năm 2007. "Disturbia" có câu tagline chính thức là "Every killer lives next door to someone" (dịch tiếng Việt: "Mỗi tên sát nhân đều sống kế bên nhà ai đó").
"Disturbia" dựa theo một bộ phim kinh dị năm 1954 có tên "Rear Window" của đạo diễn Alfred Hitchcock.
Nội dung.
Bộ phim mở đầu bằng cảnh cậu thanh niên Kale đi câu cá với người bố, lúc đang trên đường lái xe về nhà thì gặp tai nạn, Kale còn sống và bố của cậu ta chết. Từ khi bố chết, Kale trở nên suy sụp hẳn đi, học hành sa sút. Nghe thầy giáo có lời nói xúc phạm bố mình, Kale đã đấm vào mặt thầy giáo, sau đó bị kiện ra tòa. Tòa tuyên phạt Kale phải ở nhà và không được ra đường trong vòng ba tháng.
Cảnh sát gắn một chiếc vòng vào chân Kale, để nếu như Kale chạy ra khỏi nhà thì chiếc vòng sẽ kêu lên, lúc đó cảnh sát sẽ đến lập biên bản. Hằng ngày Kale làm việc nhà giúp mẹ, thời gian còn lại thì cậu ta lấy những máy game ra chơi. Sau này mẹ Kale là bà Julie đã dẹp hết những máy game để tiết kiệm điện, Kale đành phải giải trí bằng cách lấy ống nhòm nhìn trộm hàng xóm. Người bạn thân nhất của Kale là Ronnie thường hay đến nhà chơi với Kale.
Kale bắt đầu chú ý cô hàng xóm Ashley Carlson, Kale và Ronnie lén nhìn Ashley tắm hồ bơi. Khi Ashley qua nhà Kale, cô ta giao tiếp vui vẻ với Kale và Ronnie. Buổi tối, Kale thấy ông Robert Turner sống ở bên đường đưa gái điếm về nhà, nhưng sau đó cô gái điếm bị Turner rượt đuổi trong nhà. Kale cũng thấy Turner mang cái bao nặng dính máu vào garage. Kale nghi ngờ Turner chính là kẻ sát nhân hàng loạt bí ẩn mà TV cũng như báo chí đang đăng tin. Kale, Ashley và Ronnie hợp tác điều tra Turner. Chờ cho Turner đi siêu thị thì Ashley bám theo, tuy nhiên Ashley bị Turner bắt gặp. Turner chỉ nói với Ashley rằng ông ta cần riêng tư và không thích bị theo dõi. Khi Ronnie lẻn vào garage của Turner thì cửa garage bỗng dưng đóng lại, Ronnie chạy vòng vòng trong nhà Turner y như có ai đó đuổi theo cậu ta. Kale chạy qua nhà Turner để tìm Ronnie, chiếc vòng dưới chân Kale kêu lên và cảnh sát xuất hiện.
Kale cố gắng giải thích rằng Turner là kẻ sát nhân, nhưng cảnh sát không tìm thấy bằng chứng, cái bao dính máu trong garage cũng chỉ đựng xác con hươu chết. Bà Julie sợ Turner kiện Kale nên đã qua nhà Turner để nói chuyện với ông ta. Ronnie vẫn còn sống và trở về nhà Kale, Ronnie đưa Kale xem đoạn phim quay được trong nhà Turner, nhờ xem đoạn phim mà Kale phát hiện Turner giấu xác người trong lỗ thông gió. Ở nhà Turner, bà Julie bị Turner đánh gục, sau đó Turner qua nhà Kale, đập Ronnie bất tỉnh rồi bắt trói Kale.
Ashley chạy vào cứu Kale đúng lúc Turner định giết Kale, Kale và Ashley nhảy xuống hồ bơi của Ashley. Chiếc vòng dưới chân Kale lại kêu lên, một cảnh sát được lệnh đến phạt Kale. Một mình Kale xông vào nhà Turner để tìm mẹ, người cảnh sát vào kiểm tra nhà Turner cũng bị Turner giết. Đánh nhau với Turner một hồi, Kale nhặt kéo cắt cỏ đâm chết Turner, cứu được bà Julie. Ngày hôm sau, cảnh sát tháo chiếc vòng ra khỏi chân Kale vì Kale đã làm một việc tốt. Bộ phim kết thúc với cảnh Ronnie quay phim Kale và Ashley hôn nhau. | 1 | null |
Trong Dược lý học, Sinh khả dụng là một đại lượng chỉ tốc độ và mức độ hấp thu dược chất từ một chế phẩm bào chế vào tuần hoàn chung một cách nguyên vẹn và đưa đến nơi tác dụng.
Được ký hiệu bằng chữ "f" (hay nếu ở dạng phần trăm là "F").
Định nghĩa.
Trong Dược lý học, Sinh khả dụng (tiếng Anh là bioavailability, viết tắt: BA) là đại lượng chỉ tốc độ và mức độ hấp thu dược chất từ một chế phẩm bào chế vào tuần hoàn chung một cách nguyên vẹn và đưa đến nơi tác dụng, từ đó tiếp tục được chuyển hoá và thải trừ. Từ định nghĩa, thuốc theo đường tiêm tĩnh mạch có sinh khả dụng là 100%. Tuy vậy, khi thuốc được dùng bằng các cách thức khác nhau (như đường uống) thì sinh khả dụng của thuốc thường giảm (do hấp thu không hoàn toàn và các giai đoạn đầu của quá trình trao đổi chất) hay thay đổi tuỳ thuộc thể trạng bệnh nhân. Sinh khả dụng được xem là một công cụ thiết yếu trong sinh dược học, đây là đại lượng quan trọng để xác định và tính toán liều dùng cho các dạng bào chế không theo đường tĩnh mạch.
Sinh khả dụng tuyệt đối.
Sinh khả dụng tuyệt đối được xác định khi so sánh sinh khả dụng của thuốc có hoạt tính lưu hành trong hệ tuần hoàn theo con đường không phải tiêm tĩnh mạch (ví dụ như theo đường uống, đường trực tràng, thẩm thấu qua da, tiêm dưới da hay đặt dưới lưỡi), với sinh khả dụng của cùng dạng thuốc theo đường tiêm tĩnh mạch. Do chỉ có một phần của thuốc hấp thụ theo đường không tiêm tĩnh mạch so với cũng dạng thuốc đó khi tiêm tĩnh mạch, nên sự so sánh này phải được thực hiện trên các liều khác nhau (ví dụ, khảo sát các liều dùng khác nhau hay trên các đối tượng có trọng lượng khác nhau). Từ đó, nồng độ chất hấp thụ sẽ dần được nâng cao bằng cách chia liều lượng dùng hợp lý.
Để xác định được sinh khả dụng tuyệt đối của một loại thuốc ta cần xác định được mối liên hệ giữa thời gian và nồng độ của thuốc lưu hành trong huyết tương. Để biết được mối tương quan trên trước hết phải xác định được liều dùng theo đường tiêm tĩnh mạch (IV) và cả đường không tiêm tĩnh mạch (ví dụ: đường uống). Sinh khả dụng là liều dùng xác định thể hiện bằng diện tích dưới đường cong (AUC) theo đường không tiêm tĩnh mạch chia cho diện tích dưới đường cong AUC theo đường tiêm tĩnh mạch. Ví dụ, công thức tính "F" (sinh khả dụng) của một loại thuốc được dùng theo đường uống (po) được cho như sau. | 1 | null |
Cửu vĩ thiên hồ, cửu vĩ hồ (chữ Hán: 九尾狐), thông thường gọi Cáo chín đuôi hay Hồ ly chín đuôi, là một trong những hình dạng tiêu biểu nhất của loài hồ ly tinh, một trong những loại yêu tinh phổ biến và nổi tiếng nhất trong văn hóa các nước Đông Á.
Hình tượng cửu vĩ thiên hồ trở nên rất phổ biến từ xa xưa trong thần thoại Trung Quốc, được cho là có từ tận thời Tiên Tần, khoảng đời nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Đặc biệt, qua tác phẩm Phong thần diễn nghĩa, nhân vật Đát Kỷ được cho là do cửu vĩ hồ hóa thân thành, cùng với sự nổi tiếng nhanh chóng của Đát Kỷ càng khiến hình tượng của Cửu vĩ hồ bất tử trong nghệ thuật.
Cùng với sự phổ biến rộng rãi trong nghệ thuật và yếu tố dân gian, các truyền thuyết về Cửu vĩ hồ cũng được thêu dệt và lưu truyền sang Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản.
Phiên bản Trung Quốc.
Cửu vĩ hồ được miêu tả trong "Nam Sơn Kinh" (南山經), "Hải Ngoại Đông Kinh" (海外東經) và "Đại Hoang Đông Kinh" (大荒東經) trong "Sơn Hải Kinh" (山海經); nó được miêu tả là có giọng nói của một trẻ thơ. Con người có thể ăn thịt nó, và ai ăn được nó sẽ được bảo vệ khỏi ác quỷ.
Trong các thư tịch sau này như Chu thư hay các bộ sưu tập truyện kể như Thái Bình quảng ký (太平廣記), cửu vĩ hồ được mô tả là một thú vật may mắn. Cửu vĩ hồ được xem là do thượng đế cử xuống trần gian, được nhìn nhận là một dấu hiệu của thịnh vượng, hòa bình và vận may. Vào thời nhà Hán, nó là vật bảo vệ dòng máu hoàng tộc. Tuy nhiên, nó cũng có thể tượng trưng cho một điềm báo về khởi nghĩa khi Hoàng đế không có tài đức.
Hình tượng nổi tiếng nhất của Cửu vĩ hồ có lẽ là lần xuất hiện trong tiểu thuyết "Phong thần diễn nghĩa" vào thời nhà Minh, theo đó nó là một yêu tinh, do Nữ Oa kiểm soát và được ra lệnh mê hoặc Trụ Vương của nhà Thương. Cửu vĩ hồ đã chiếm hữu thân thể Đát Kỷ và buộc nàng phải làm theo lệnh. Cuối cùng, Đát Kỷ bị Khương Tử Nha giết chết còn cửu vĩ hồ đã bị Nữ Oa trừng phạt do nó đã làm những việc tàn ác và đã không tuân theo mệnh lệnh ban đầu là mê hoặc Trụ vương song không làm hại những người khác.
Trong các câu chuyện sau này, một con cửu vĩ hồ lại bị đổ lỗi là đã chiếm hữu thân thể Bao Tự giống như nó đã làm với Đát Kỷ và dẫn đến sự sụp đổ của triều Tây Chu, khiến Chu thiên tử phải dời đô về phía Đông và mở ra thời kỳ Đông Chu.
Phiên bản của Việt Nam.
Trong sách Lĩnh Nam chích quái, hồ ly chín đuôi cũng được nhắc đến với hình ảnh là con vật hay gây hại cho dân lành, sau đó bị Lạc Long Quân giết chết để trừ hại cho dân. Hồ Tây chính là lăng mộ chôn xác cáo chín đuôi. Câu chuyện kể rằng:
Thời đầu Lê sơ, Lê Thái Tổ Lê Lợi cũng từng có truyện thuyết liên quan đến hồ ly tinh. Ấy là khi còn lẩn trốn quân Minh ở Lam Sơn, ông bị truy đuổi gắt gao, bỗng lúc đó ông thấy một cô gái mặc váy trắng chết trôi trên sông, ông chôn cất cô gái tử tế và lẩn trốn tiếp. Đến khi suýt bị quân Minh tìm ra, có một con cáo trắng chạy từ đâu ra làm quân Minh đổi hướng. Lê Thái Tổ cho rằng đó là cô gái đã cứu mình, về sau ông phong cô gái làm thần hộ quốc và cho làm một bức tượng hình một cô gái có nửa thân là cáo chín đuôi, đấy gọi là Hồ ly phu nhân (狐狸夫人).
Cuối thế kỷ 18, nhà thơ Phạm Đình Hổ có thuật lại trong "Vũ trung tùy bút" của ông về bức tượng: "Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng Hộ quốc phu nhân. Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm."
Phiên bản Triều Tiên.
Trong tiếng Triều Tiên, Cửu vĩ hồ được gọi là Gumiho (구미호), được mô tả là loài cáo có thể hoá thân dưới lốt con người, thường là những mĩ nhân xinh đẹp. Chúng sống cách biệt với con người trong những khu rừng rậm rạp, những nơi âm thịnh dương suy.
Gumiho có thể sống hàng trăm, hàng nghìn năm, khi cần thiết chúng sẽ ăn gan người để tồn tại. Trong các bộ phim Hàn Quốc, Gumiho là đề tài rất thu hút người xem. Những con cáo chín đuôi ở trong phim không hại con người, hoặc chỉ làm hại đến con người khi chúng bị loài người đe doạ.
Phiên bản Nhật Bản.
Tại Nhật Bản, cửu vĩ hồ được gọi là "Kyūbi no Kitsune". Vào thời kỳ Muromachi, Otogizōshi đã viết và sưu tập các câu chuyện về Tamamo-no-Mae ("Ngọc Tảo Tiền"), và nó cũng được Toriyama Sekien đề cập đến trong Konjaku Hyakki Shūi (今昔百鬼拾遺, "Kim tích bách quý thập di"). "Tamamo-no-Mae" là một kỹ nữ của Thiên hoàng Konoe.
Cô được cho là một tuyệt thế mỹ nữ và đồng thời cũng cực kỳ thông minh. Cô đã khiến cho Thiên hoàng trở nên rất ốm yếu, sau khi Abe no Yasuchika đến để chẩn đoán nguyên nhân gây ra tình trạng sức khỏe kém của Thiên hoàng, cô đã bị người này đuổi đi. Abe no Yasuchika đã khám phá ra bản chất thực sự của Tamamo-no-mae. Một vài năm sau đó, trong khu vực Nasu, người ta đã trông thấy cửu vĩ hồ ăn thịt các phụ nữ và lữ khách. Thiên hoàng Konoe do đó đã sai Kazusa-no-suke và Miura-no-suke cùng 8 vạn quân đi giết cửu vĩ hồ. Cuối cùng, cửu vĩ hồ đã bị giết chết trên các đồng bằng của Nasu và nó hóa thân thành một tảng đá gọi là "sesshoseki" ("Sát Sinh thạch"). Tảng đá liên lục thoát ra khí độc, giết chết tất cả mọi sinh vật mà nó tiếp xúc. Tảng đá được xem là đã bị phá hủy trong thời kỳ Nam-Bắc triều, và các mảnh đá của nó đã bay đến các phần khác nhau tại Nhật Bản.
Trong câu chuyện mà Hokusai thuật lại trong "Tam Quốc yêu hồ truyện" được hình thành vào thời kỳ Edo, cửu vĩ hồ chiếm hữu thân thể Đát Kỷ song sau đó đã không bị giết chết, thay vào đó nó chạy trốn đến Ma Kiệt Đà ở Thiên Trúc (Ấn Độ cổ đại). Ở đó, cửu vĩ hồ trở thành thiếp của một vương tử, khiến ông hạ lệnh cho chém đầu 1000 nam giới. Sau đó, nó lại bị đánh bại, và phải chạy trốn khỏi nước này. Khoảng năm 780 TCN, chính con cửu vĩ hồ này đã chiếm đoạt thân thể Bao Tự và lại bị lực lượng quân sự của con người đánh đuổi. Cửu vĩ hồ đã không hoạt động một khoảng thời gian.
Đến năm 753, cửu vĩ hồ biến thành một thiếu nữ 16 tuổi tên là Wakamo, nó đã lừa phỉnh Kibi Makibi, Abe no Nakamaro, và Giám Chân; và đã lên con tàu đoàn sứ thần Nhật Bản đến triều Đường khi con tàu chuẩn bị quay trở về Nhật Bản. Năm 1113, Sakabe Yukitsuna (坂部行綱), một samurai không có gia đình, đã gặp một bé gái bị bỏ rơi là Mizukume (藻女, "Tảo nữ") mà thực ra là cửu vĩ hồ biến thành, và đã nuôi đứa bé này trong 17 năm. Vào năm 18 tuổi, cô gái đổi tên thành Tamamo-no-Mae.
Theo truyền thuyết Nhật Bản, Cửu vĩ hồ ly có một viên ngọc gọi là "Hoshi no tama" (ほしのたま?, quả cầu ngôi sao). Truyền thuyết miêu tả nó phát sáng với ngọn lửa hồ ly. Một số câu chuyện cho rằng nó thực sự là viên ngọc trai hoặc đá quý ma thuật. Khi trong hình dạng thực, cửu vĩ hồ giữ viên ngọc trong miệng hoặc trên chiếc đuôi của nó. Viên ngọc ấy chứa sức mạnh huyền bí và linh hồn của cửu vĩ hồ, nếu không có viên ngọc cửu vĩ hồ sẽ chết. Nếu một người nào đó có được viên ngọc ấy thì có thể trao đổi và được giúp đỡ bởi cửu vĩ hồ.
Tác phẩm văn học.
Đồ Sơn Cảnh (cáo chín đuôi) là một trong 3 nhân vật nam chính trong tiểu thuyết Trường Tương Tư của tác giả Đồng Hoa.
Đồ Sơn Cảnh (chữ Hán: 涂山璟 - trong đó Đồ Sơn là họ kép; còn “Cảnh” nghĩa là “ánh ngọc”). Đây là một nhân vật giả tưởng xuất hiện trong tác phẩm “Trường Tương Tư” của nhà văn ngôn tình nổi tiếng Trung Quốc Đồng Hoa.
Trong Trường Tương Tư, Đồ Sơn Cảnh chỉ là nhân vật phụ nhưng có tình yêu và nên duyên cũng nữ chính Tiểu Yêu - đây là một tình yêu chữa lành tâm hồn lẫn nhau và đã được cả 2 nhân vật cùng xác nhận.
Tên thường gọi: Cảnh, Đồ Sơn Cảnh; Cáo.
Thân phận khác: Diệp Thập Thất.
1. Thân thế.
- Quê quán: THANH KHÂU
Tộc Đồ Sơn là 1 trong 4 gia tộc lớn nhất Đại Hoang (Đồ Sơn - Xích Thuỷ - Tây Lăng - Quỷ Phương). Tộc Đồ Sơn cho vay nặng lãi, buôn bán vũ khí, cho thuê cửa hàng cửa hiệu, kinh doanh từ ngọc ngà châu báu trang sức đến váy áo phụ nữ đến cung tên, đến hàng chuyển phát nhanh, tiếp đến vật tư y tế. Ngọc dạ minh châu cỡ nghìn viên, băng pha lê siêu quý giá chỉ để rảnh làm chuông gió,… Gia sản giàu sánh ngang với một nước.
Con trai dòng chính, bố mẹ đều xuất thân gia đình môn đăng hậu đối. Mẹ là con gái tộc trưởng họ Thẩm - bố là tộc Đồ Sơn, cậu ruột là tộc trưởng họ Thẩm đương nhiệm, ông ngoại cũng là tộc trưởng họ Thẩm. Bà ngoại người Xích Thủy, là chị họ tộc trưởng Xích Thủy.
Cha mất sớm, gia đình còn có bà nội và mẹ cùng nuôi dạy Cảnh và một người anh trai cùng cha khác mẹ là Đồ Sơn Hầu. Hầu là con của tỳ nữ, sinh trước Cảnh 8 ngày nên làm anh, sau được công bố bên ngoài là anh em song sinh cùng Cảnh. Hai anh em từ nhỏ yêu thương nhau, lớn lên vì thân thế khác biệt, Hầu tìm mọi cách hại Cảnh.
2. Mối quan hệ cá nhân.
Mối tình đầu/ Vợ duy nhất cả về mặt tình cảm/thể xác: Tây Lăng Cửu Dao (còn được biết đến là Tiểu Yêu hay Văn Tiểu Lục).
Vợ trên danh nghĩa (không có quan hệ tình cảm/ xác thịt): Phòng Phong Ý Ánh.
Con trên danh nghĩa (con của anh trai - không có quan hệ cha con ruột): Đồ Sơn Chấn
Thị nữ/ người hầu/ ám vệ chính: Lan Hương - Hồ Á - Hồ Trân - U - Tĩnh Dạ.
Thức thần: Cáo nhỏ
Thú cưỡi: Li Li (Hạc trắng)
Bạn thân nhất là Xích Thuỷ Phong Long (tộc gia thế nhất trong Đại Hoang)..
Bạn thân tiếp là Ly Nhung Sưởng, tộc Ly Nhung - chủ sòng bài bạc.
Hinh Duyệt tộc Thần Nông (anh em song sinh với Xích Thủy Phong Long)..
Có mối quan hệ liên hôn từ trước với Phòng Phong Ý Ánh của tộc Phòng Phong (chưa gặp gỡ trước đó).
3. Hình tượng nhân vật:.
Nhân vật Đồ Sơn Cảnh được tác giả Đồng Hoa xây dựng trong tác phẩm Trường Tương Tư là một nhân vật chữa lành tới bạn đọc - một hình ảnh về một người quân tử người cũng như ý nghĩa cái tên “Mạch thượng nhân như ngọc, công tử thế vô song”; ngoài ra còn là bản tình ca mà tác giả muốn gửi tới những cô gái về một người đàn ông để gửi gắm cả đời. Hình tượng “công tử Cảnh” luôn xuất hiện trong truyện với bộ đồ sắc xanh, thoắt ẩn thoắt hiện, nhẹ nhàng mềm mại như dòng suối chảy trong lòng người đọc, dáng hình như trúc, khí cốt như mai.
- Giỏi cầm kỳ thi hoạ, là lang quân trong mơ của nhiều cô gái Đại Hoang:.
Do xuất thân gia đình trâm anh thế phiệt, có kinh tế cũng như học hành bài bản, Cảnh được xây dựng hình ảnh công tử thế gia, một tiếng đàn, chữ viết, giỏi thư pháp, cầm kỳ thi họa đều thuộc hàng thượng thừa. Trong đó tiếng đàn được chính Hinh Duyệt khen ngợi, tài năng chơi cờ ẩn ý qua ván cờ thiên hạ khi chơi cùng cả Hoàng đế và Chuyên Húc (2 người đàn ông làm Hoàng đế rất giỏi chính trị).
- Đầu óc rất nhanh nhạy trong kinh doanh:.
Do xuất thân từ tộc Đồ Sơn, Cảnh được đi học kinh doanh từ sớm và rất giỏi trong kinh doanh. Ngoài ra sau này Cảnh cũng làm tộc trưởng Đồ Sơn, trong lễ nhậm chức tộc trưởng, biểu tượng Cáo chín đuôi đã xuất hiện mang báo hiệu sự thịnh vượng cho gia tộc.
- Tôn trọng phụ nữ:.
Cảnh dù không có tình cảm với Phòng Phong Ý Ánh nhưng luôn có sự tôn trọng nhất định với Ý Ánh, không để Ý Ánh mất mặt trước mặt mọi người cũng như tìm cách bù lại đủ cho cả Ý Ánh và tộc Phòng Phong khi muốn đề nghị hủy hôn ước; ngoài ra Cảnh tôn trọng Tiểu Yêu (người mình yêu) cả về mặt cảm xúc lẫn thân thể, tuyệt đối tôn trọng đối phương.
- Có trách nhiệm với gia đình - dòng tộc/ không bao giờ phản bội tình thân ruột thịt:.
Mặc dù bị chính người anh cùng cha khác mẹ là Hầu 5 lần 7 lượt hại nhưng Cảnh vẫn không bao giờ tìm cách trả thù lại anh trai mình. Với Cảnh, tình cảm anh em 400 năm thân thiết gắn bó cũng như đó chính là tình thân ruột thịt không thể phản bội lại. Ngoài ra dù trong lòng không muốn, nhưng trước sứ mệnh của bản thân, trách nhiệm gia tộc cùng với đó là cả đại gia tộc biết bao con người, lời của bà nội - Cảnh vẫn chấp nhận làm tộc trưởng Đồ Sơn, điều này đã khiến tuyến tình cảm của Cảnh và Tiểu Yêu rơi vào khó khăn.
- Một con người tinh tế - chu đáo:.
Cảnh luôn đối xử chan hòa, quan tâm tới mọi người - điều này được thể hiện qua các chi tiết như khi ở trấn Thanh Thủy giúp đỡ mọi người việc nhà cửa; Cảnh chăm lo cho cả Chuỗi Hạt, Lão Mộc... sau khi rời khỏi trấn Thanh Thủy một cách âm thầm, thậm chí còn thay cả phần Tiểu Yêu, chính thế chàng cũng biết “họ ra đi rất thanh thản”; Khi Tuấn Đế bị bệnh, gặp Chuyên Húc và Tiểu Yêu cùng Cảnh, ông kể chuyện thấm mệt, chỉ có Cảnh dâng lên một chén trà, mời ngài dùng để Tuấn Đế tỉnh táo hơn...
- Mạnh mẽ và giàu lòng vị tha, bao dung:.
Mặc dù bị rất nhiều tổn thương từ quá khứ đến hiện tại và sau này (từ người thân ruột thịt đến việc cả Chuyên Húc làm hại), Cảnh vẫn lựa chọn cách tha thứ cho tất cả những người làm thương mình, đó cũng là cách để bản thân mình sống thanh thản nhẹ nhàng không chìm sâu trong hận thù, là một cách bảo vệ tâm hồn mình, cho tâm hồn và con người mình lành lặn và trọn vẹn. Đây là đỉnh cao nhất của sự mạnh mẽ: tha thứ cho người khác cũng là tha thứ cho chính bản thân mình.
- Thông minh và có tài năng:.
Đầu óc thông minh của Cảnh không chỉ ở trong chuyện kinh doanh mà còn được ẩn ý trong ván cờ giang sơn. Hoàng đế cảm thán về khả năng chơi cờ của Cảnh, nếu Cảnh chí đặt ở giang sơn ắt đã làm nên chuyện, nhưng cũng may chí của Cảnh không đặt ở nơi này. Cảnh chính là người dâng kế sách "bỏ Hiên Viên đến Thần Nông" cho Chuyên Húc (thông qua Phong Long) - đây chính là một bước đi quan trọng giúp Chuyên Húc thống nhất Trung Nguyên.
4. Sự phát triển tuyến tình cảm Đồ Sơn Cảnh - Tiểu Yêu.
Như lời giới thiệu, tuyến tình cảm của Cảnh - Tiểu Yêu là một mối quan hệ tình cảm có nền tảng vững chắc từ trấn Thanh Thủy.
Tiểu Yêu (lúc đó là Văn Tiểu Lục) cùng Cảnh (lúc đó là Diệp Thập Thất) đã nảy sinh tình cảm từ những ngày còn ở trấn Thanh Thủy, trong đó chủ yếu là từ phía Cảnh chủ động. Tiểu Yêu đã cứu một chàng trai bị tra tấn một thời gian dài nghiệm trọng là Cảnh, đặt cho chàng một cái tên là Diệp Thập Thất. Sau những năm tháng vất vả bôn ba cùng một trái tim nhiều tổn thương, Tiểu Yêu sợ nhất là bị bỏ rơi, cô đã thử thách Cảnh rất nhiều lần và thấy Cảnh luôn chọn lựa đồng hành cùng với mình, từ đó Tiểu Yêu đồng ý lời hẹn ước 15 với Cảnh: "15 năm đừng để ai bước vào trái tim nàng... 15 năm ta sẽ trả lại Diệp Thập Thất cho nàng." Lời hẹn ước đó đã mở ra một con đường cho tuyến tình cảm của Cảnh - Tiểu Yêu.
Thế sự khó lường, rất nhiều chông gai trở ngại phía trước cho cả hai. Cảnh và Tiểu Yêu được tác giả xây dựng với những rắc rối, những mắt xích trong mối quan hệ đều dễ gặp trong cuộc sống hằng ngày của các cặp đôi: hi vọng, đổ vỡ, hiểu lầm, xa cách, gương vỡ lại lành, hờn trách, ghen tuông, nhớ nhung... để rồi cuối cùng hai người có một cái kết hoàn hảo: người có tình sẽ đến với nhau.
- Tình cảm chữa lành từ hai phía:.
Ai cũng nói Tiểu Yêu đã cứu Cảnh, nhưng chính Tiểu Yêu đã nói Cảnh chính là người "cứu mình". Tiểu Yêu cứu Cảnh về mặt thể xác, xoa dịu tâm hồn của Cảnh, khuyến khích Cảnh chơi đàn lại, dùng tình yêu để sưởi ấm con tim của Cảnh, khiến chàng không còn nghe thấy những lời phỉ báng, sỉ nhục trong quá khứ nữa. Cảnh lại dùng chính sự vị tha của mình, dùng tình cảm kiên trì bên bỉ đó để cứu rỗi lại trái tim chai sạn của Tiểu Yêu, hướng dẫn cô đối xử chan hòa với thế giới, chấp nhận cho đi trước để nhận được sự tin tưởng, nhận được tình cảm chân thành từ Tiểu Yêu. Cả hai người đều là người chữa lành cho nhau, tình cảm nam nữ hòa quyện cùng sự thấu hiểu trong tâm hồn trở thành một thứ tình cảm quấn quýt gắn bó không xa rời.
- Tình yêu thấu hiểu và xoa dịu vết thương trong lòng đối phương:.
Trong lòng Tiểu Yêu, việc bản thân bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ và xuất thân là đứa con hoang của Xi Viu chính là nỗi đau lớn nhất trong lòng cô. Cảnh không làm gì đao to búa lớn, Cảnh không phải và chưa bao giờ là người thể hiện bên ngoài nên mọi người sẽ thấy chàng nhạt nhòa, nhưng Cảnh chính là người đủ tình yêu lớn, đủ sự thấu hiểu từ đáy lòng những tâm tư tình cảm của Tiểu Yêu, đó không phải là việc cứ nói “dù nàng là ai đi nữa ta vẫn bên cạnh”, mà Cảnh đã cho cô một câu trả lời qua việc xin Tuấn Đế cho cô một câu trả lời về thân thế của Tiểu Yêu. Dù cô là ai, cô vẫn là người chàng yêu nhất. Tiểu Yêu đến với Cảnh là sự rung động của tình yêu nam nữ, của việc Cảnh không bao giờ bỏ rơi mình, nhưng… để thực sự hai người đến với nhau trọn vẹn, nó còn là việc trong lòng Tiểu Yêu đón nhận sự tình cảm gia đình hoàn chỉnh, cô không còn gợn sóng, không còn vướng mắc.
- Tình yêu trân trọng đối phương:.
Khi Cảnh bị đổ oan là có quan hệ với Ý Ánh, một thời gian sau, Cảnh và Tiểu Yêu khi nói chuyện với nhau. Cảnh đã nói bản thân mình rất tôn trọng Tiểu Yêu, không bao giờ làm thế dù có ham muốn như nào đi nữa, bởi vì "nếu là nàng chủ động, có nghĩa là nàng tin tưởng ở ta, ta lại càng không thể đánh mất lòng tin nơi nàng. Ta luôn muốn dành cho nàng những gì tốt nhất, hoàn mỹ nhất. Tiểu Yêu, hôm đó ta đến thăm Ý Ánh vì nghe tin cô ấy tự vẫn. Nơi đấy là phòng ngủ, giường ngủ của một người phụ nữ khác. Ta luôn khát khao được đường hoàng sống bên nàng thì sao ta có thể tùy tiện làm việc đó với nàng TRÊN GIƯỜNG MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ KHÁC? Hành vi ấy sẽ là sự sỉ nhục và tổn thương cho nàng! Dù thần trí của ta có u mê đến đâu, ta vẫn tin, ta sẽ không làm việc đó trái ngược với khát vọng mãnh liệt trong tim mình.” Sau đó chính Tiểu Yêu cũng tin Cảnh, cô hiểu rằng “Cảnh yêu nàng, tình yêu càng sâu đậm, chàng càng trân trọng, tôn trọng người mình yêu. Nàng tin rằng, chàng tuyệt đối không thể làm việc đó với nàng trên giường của một người phụ nữ khác.”
- Tình yêu tôn trọng sự nghiệp đối phương:.
Sau khi giải tỏa hiểu lầm, Cảnh và Tiểu Yêu đã có thể kết hôn luôn sau hơn 70 năm khó khăn, nhưng Tiểu Yêu muốn bản thân sau khi hoàn thành xong sự nghiệp nghiên cứu thu thập về thuốc, chính sửa sách sẽ kết hôn. Cảnh tôn trọng và đồng ý. Việc này đã khiến Cảnh và Tiểu Yêu trải qua thêm hơn 40 năm. Tư tưởng đàn ông tôn trọng sự nghiệp phụ nữ đã được tác giả Đồng Hoa cài cắm rất khéo léo.
- Cảnh đặt những mong muốn - tâm tư của Tiểu Yêu lên đầu:.
Đây cũng chính là một trong những yêu cầu cao nhất của Tiểu Yêu trong tình cảm, cô muốn một người không bao giờ bỏ rơi mình, một người coi cô lên đầu. Cảnh luôn là người ủng hộ cô, yêu cô, dùng tình yêu của mình để tha thứ cho lỗi lầm của Chuyên Húc để không đẩy Tiểu Yêu vào cảnh khó xử. Cảnh tôn trọng các cảm xúc của Tiểu Yêu: tình thân, tình bạn... Kết thúc truyện, Cảnh và Tiểu Yêu đã cùng nhau quy ẩn giang hồ, Cảnh trở về làm Diệp Thập Thất của Tiểu Yêu. Người có tình cùng nắm tay nhau phiêu bạt bốn phương. Đồ Sơn Cảnh cũng là nhân vật được tác giả Đồng Hoa ưu ái dành 2 bài thơ riêng nói về phẩm cách con người trong Trường Tương Tư Bài thơ Tiểu Yêu hát bày tỏ tình cảm với Đồ Sơn Cảnh: ""Chàng là gió thoảng mặt hồ," "Thiếp là sen nở bên bờ, gió lay"
"Gặp nhau tuy chỉ thoáng mây"
"Nhưng lòng thương mến kiếp này đã trao"
"Chàng là mây trắng trên cao"
"Thiếp là trăng tỏ nép vào mây kia"
"Yêu nhau thề chẳng xa lìa"
"Sắt son gắn bó, sẻ chia ngọt bùi"
"Chàng là cây lớn ngất trời"
"Dây leo là thiếp, trọn đời quấn quanh"
"Sánh đôi như lá với cành"
"Tựa nương như thể môi răng cận kề"
"Nhân gian vui lắm, buồn ghê"
"Đời người tan hợp, chốn về nơi đâu?"
"Nguyện cùng chàng mãi bên nhau"
"Không rời xa, mãi bên nhau, không rời…"
Bài thơ Chuyên Húc nghĩ khi nhìn thấy Cảnh ở cuối truyện:
""Có chàng văn nhã anh hào"
"Như vàng như thiếc luyện trau tinh thần."
"Như khuê như bích ôn nhuần."
"Xem người hoà nhã, thêm phần khoan thai.”"
Trích trong Kinh Thi - Vệ Phong, bài Kỳ Úc 3.
5. Phim chuyển thể Trường Tương Tư.
Nhân vật Đồ Sơn Cảnh được diễn viên trẻ Đặng Vi (sinh năm 1995) người Nội Mông, Trung Quốc thủ vai. Bộ phim Trường Tương Tư lên sóng phần 1 vào ngày 24/7/2023 với 39 tập (phần 2 dự kiến 21 tập) đã thu về lượng khán giả theo dõi rất đông trên khắp châu Á.
Vai diễn Đồ Sơn Cảnh được đánh giá là một vai diễn thành công của Đặng Vi so với các vai trước đây của anh, đưa anh tới gần hơn với khán giả. | 1 | null |
Trần Phong là tên 1 quốc gia bộ lạc từng tồn tại vào thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế trong lịch sử Trung Quốc, các thư tịch cổ chỉ nhắc đến quốc gia một lần duy nhất vào đời đế Khốc họ Cao Tân.
Những ghi chép trong sử sách.
Bấy giờ đế Khốc Cơ Tuấn lên ngôi thiên tử cũng đã được một thời gian, lúc ấy ông đang có 3 vợ mỗi vợ sinh được 1 người con trai. Vợ cả họ Hữu Thai sinh ra Hậu Tắc là thủy tổ nhà Chu, vợ hai họ Hữu Nhưng sinh ra Tử Tiết là thủy tổ nhà Thương, vợ 3 họ Tu Ty sinh ra đế Chí sau này kế nhiệm ông làm thủ lĩnh liên minh bộ lạc.
Lần ấy đế Khốc đi tuần du thiên hạ có ghé qua nước Trần Phong và vào thăm nước ấy tiện thể xem xét dân tình, ông vô tình gặp người con gái là Khánh Đô ngang đường đem lòng yêu mến mà nạp làm vợ thứ tư. Khánh Đô hoài thai 14 tháng mới sinh ra một người con trai ở đất Đan Lăng, đế Khốc hay tin xa giá đến tận nơi thăm con và ban cho họ Y Kỳ tên chữ là Phòng Huân. Phòng Huân từ nhỏ đã được mẹ dạy dỗ những điều nhân nghĩa và tư tưởng đạo đức của tổ tiên là Hiên Viên Hoàng Đế, ông cũng gần gũi dân chúng nên thấu hiểu được cảnh cơ cực và nỗi vất vả của người dân lao động. Sau này lớn lên Phòng Huân giúp vua cha lập nhiều công to được thụ phong ở đất Đào, đến khi đế Chí đăng cơ thì cải phong ở đất Đường nên mới gọi kép là Đào Đường thị.
Còn về nước Trần Phong từ đó trở đi sử sách không thấy nhắc đến lần nào nữa, tuy nhiên chỉ cần biết rằng nước ấy là quê ngoại của đế Nghiêu cũng đủ cho đời sau không bao giờ lãng quên. | 1 | null |
Sintel (tên gọi khác: Durian) là một bộ phim hoạt hình đồ họa vi tính của Blender Institute, một nhánh của hãng Blender Foundation.
Giống như những bộ phim trước đó của cùng nhà sản xuất là "Elephants Dream" và "Big Buck Bunny", bộ phim được tạo ra bằng Blender, một phần mềm làm phim hoạt hình nguồn mở, được Blender Foundation sản xuất và hỗ trợ.
Ton Roosendaal, chủ tịch của Blender Foundation là nhà sản xuất và Colin Levy, nghệ sĩ của hãng Pixar Animation Studios là đạo diễn cho "Sintel".
Tên gọi của bộ phim bắt nguồn từ từ một trong tiếng Hà Lan là "sintel", có nghĩa là than hồng., theo như lời khẳng định của Ton Roosendaal từ một lời bình luận trong blog:
Tổng quan.
Công việc thực hiện bộ phim bắt đầu vào tháng 5 năm 2009. Bộ phim được chính thức phát hành vào ngày 27 tháng 9 năm 2010 tại liên hoan phim Hà Lan. Phiên bản phát hành trực tuyến cho phép download ra mắt vào ngày 30 tháng tháng 9 năm 2010.
Bộ phim đã có lượt xem đạt hơn 1 triệu trong vòng khoảng 1 tuần.
Nội dung.
Bộ phim mở màn với cảnh một cô gái có tên gọi là Sintel bị tấn công khi đang đi qua rìa núi trong mùa đông băng giá. Sau khi đánh bại kẻ đã tấn công cô và đoạt lấy cây giáo của hắn, cô ẩn náu trong một túp lều của một vị pháp sư. Ông hỏi cô lý do vì sao đến đây và cô thú nhận rằng đang tìm kiếm một con rồng, sau đó bộ phim chuyển sang cảnh hồi tưởng. Sintel vốn là một cô gái đơn côi, không gia đình. Trong lúc đang tìm kiếm thức ăn, cô phát hiện ra một con rồng con bị thương. Cô chữa trị cho đến khi nó khoẻ mạnh lại và đặt tên nó là Scales. Cả hai ngày càng trở thân thân thiết. Một ngày kia, trong khi đang bay, Scales bị một con rồng trưởng thành bắt đi. Với quyết tâm đưa Slaces trở về, Sintel bắt đầu chuyến hành trình dài và nguy hiểm đã dẫn cô đến túp lều của vị pháp sư.
Ngay khi cô có ý định bỏ cuộc thì người pháp sư nói cho cô biết rằng họ đang ở trong vùng đất của rồng, và bằng chứng là hình khắc trên cây giáo cô vừa đoạt được. Cô tìm kiếm hình ảnh cái cây được khắc trên thân giáo và phát hiện ra một cái động gần đó, với một con rồng trưởng thành và rồng con ở bên trong. Cô lẻn vào nói chuyện với rồng con nhưng nó kêu lên và chạy xa khi nhìn thấy Sintel. Rồng lớn nghe vậy tấn công về phía cô. Một trận đánh ngắn ngủi đã diễn ra, con rồng ghìm chặt Sintel xuống mặt đất, nhưng lại thoáng sững sờ và dừng lại khi nhìn thấy khuôn mặt cô. Sintel lợi dụng cơ hội này và đâm vào tim con rồng. Ngay khi cô sắp giáng xuống cú đánh đoạt mệnh cuối cùng, cô nhận thấy vết sẹo trên đôi cánh của nó giống hệt như người bạn cũ của mình mà bấy lâu nay cô tìm kiếm. Sintel nhận ra trong khoảnh khắc kinh hoàng rằng cô vừa tự tay giết chết Scales.
Scales mất máu nhanh chóng, Sintel nhìn chằm chằm trong cơn choáng váng vào hình ảnh phản chiếu của mình trong vũng máu dần chảy ra từ ngực Scales. Hình ảnh phản chiếu đó cho thấy cô rõ ràng già hơn vẻ bề ngoài được thể hiện trong suốt bộ phim. Cô có nhiều tóc bạc, làn da nhăn nheo và một vài vết sẹo trên người. Cuộc tìm kiếm Scales đã kéo dài nhiều năm và cô chưa bao giờ nhận ra điều đó. Hang động bắt đầu sụp đổ khi Scales trút hơi thở cuối cùng. Sintel chạy về phía lối ra.
Sau khi khóc thương cho người bạn mà cô đã giết chết, Sintel rời khỏi nơi đó với trái tim tan vỡ. Rồng con của Scales, không còn nơi nào để đi, theo bước về hướng Sintel.
Công bố.
Một vài phần đã được tung ra vào ngày 25 tháng 10 năm 2009,
đoạn clip giới thiệu được công bố vào ngày 13 tháng 5 năm 2010, trong khi đó, phiên bản gần như hoàn thiện cuối cùng của bộ phim được đưa ra vào ngày 19 tháng 7 năm 2010. Toàn bộ phim ra mắt tại Liên hoan phim Hà Lan vào 27 tháng 9 năm 2010, sau đó được chính thức phát hành trực tuyến vào ngày 30 tháng 9.
Thông tin kĩ thuật.
Tiếp theo sau "Elephants Dream", "Big Buck Bunny" và "Yo Frankie", bộ phim ngắn là dự án thứ tư của hãng Blender Foundation. "Sintel" là do "Blender Institute" chế tác, một chi nhánh của hãng Blender Foundation, được thành lập đặc biệt để tạo ra những bộ phim và game nội dung mở.
Bộ phim được chi trả bởi hãng Blender Foundation, các khoản đóng góp từ cộng đồng Blender, chi phí thu được từ DVD của bộ phim được bán trước và quảng cáo thương mại. Sản phẩm hoàn thiện cuối cùng và dữ liệu thông tin sản phẩm, bao gồm dữ liệu hoạt hình, nhân vật và vật liệu đều được phát hành dưới Giấy phép Creative Commons.
Cải thiện với Blender.
Cũng như với các dự án phim mở sử dụng phần mềm Blender trước đây, những nhà phát triển Blender làm việc cao độ để cải tiến phần mềm theo kịp nhu cầu của đội ngũ làm phim. Những cải thiện bao gồm giao diện sử dụng, hệ thống phân tách, điêu khắc tao hình, đổ bóng, render và mô phỏng khói. Những tính năng này được đưa ra sử dụng công khai rộng rãi trong phiên bản "Blender v. 2.50 alpha" cho đến bản "2.54 beta".
Đánh giá.
Nhật báo Hà Lan "Het Parool" mô tả một cảnh của bộ phim trên trang bìa, cùng với một bài bình luận ngắn đánh giá bộ phim rằng "đau buồn và khó tiếp cận hơn những bộ phim thân thiện trẻ em trước đó", nhưng đồng thời cũng nhận định rằng trong "chất lượng hình ảnh, chi tiết và nhân vật, bộ phim xứng đáng so sánh với những sản phẩm hoạt hình của Hollywood".
Trò chơi điện tử.
"Xem thêm: Sintel The Game."
Một game dựa trên phim Sintel được chính thức thông báo trên trang "Blenderartists.org" vào ngày 12 tháng 5 năm 2010. Game này có tên là "Sintel The Game". | 1 | null |
Marcus Aurelius Severus Alexander Augustus thường được gọi là Alexander Severus hay Severus Alexander (1 tháng 10 năm 208 - 21 hoặc 22 tháng 3 năm 235) là Hoàng đế La Mã từ năm 222 cho đến năm 235. Alexander là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Severus. Ông lên ngôi sau khi ám sát người anh họ của mình, Elagabalus vào năm 222, và cuối cùng chính ông cũng bị quân đội sát hại. Cái chết của ông đánh dấu sự bắt đầu của Cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba với gần năm mươi năm nội chiến, ngoại xâm, và sự sụp đổ của nền kinh tế nội địa.
Alexander là người thừa kế chính thức của người anh họ ông, người đã bị giết chết cùng với mẹ mình khi bà đang cố bảo vệ ông, thi hài của họ bị vứt dưới sông Tiberis, dấu hiệu của sự khinh miệt của nhiều người. Ông và người anh họ đã mất của ông là cháu của Julia Maesa, một người phụ nữ nắm nhiều quyền lực trong triều thời bấy giờ, bà đã sắp xếp để đưa Elagabalus lên ngôi và cũng là người đã thuyết phục Elagabalus nhận Alexander làm con nuôi. Có nhiều tin đồn về việc Alexander có dính dáng trong vụ ám sát Elagabalus và mẹ của ông ta.
Trong thời kỳ trị vì của mình với tư cách là hoàng đế, triều đại của Alexander đánh dấu một thời đại thái bình và thịnh vượng. Một vài cuộc xung đột quân sự chống lại Đế chế Sassanid đang trỗi dậy mạnh mẽ đã nổ ra ở biên giới phía đông. Tuy vậy, trong công cuộc chống lại các bộ tộc người Giéc-man, việc Alexander ủng hộ việc thiết lập lại hòa bình bằng cách mua chuộc và bằng phương pháp ngoại giao khiến cho binh lính trở nên căm phẫn với ông và dẫn đến việc ông bị ám sát và thay thế.
Thiếu thời và khởi đầu sự nghiệp.
Alexandros Severus sinh vào ngày 1 tháng 10 năm 208 ở Arca Caesarea, tỉnh Syria Phoenicia (nay thuộc Liban) với tên gọi Marcus Julius Gessius Bassianus Alexianus. Cha của ông là Marcus Julius Gessius Marcianus, một "pro magistratu" tại Syria. Mẹ của ông là Julia Avita Mamaea, người con gái thứ hai của Julia Maesa và một quý tộc người Syria tên là Julius Avitus, và là dì ruột của hoàng đế Elagabalus. Alexandros có một chị tên là Theoclia, nhưng hiện có rất ít điều được biết đến về bà. Dì của mẹ Alexandros là Julia Domna (em gái của Maesa), hoàng hậu của hoàng đế Lucius Septimius Severus. Như vậy, Hoàng đế Caracalla và Geta Publius Septimius đều là anh chị em họ bên ngoại của mẹ ông.
Năm 221, bà của Alexandros, Maesa, đã thuyết phục Hoàng đế nhận người em họ của mình thành người thừa kế và với việc được tấn phong trở thành "Caesar" sau đó, ông đã được Bassianus đổi tên thành Alexandros. Trong năm sau, tức vào ngày 11 tháng 3 năm 222, Elagabalus đã bị ám sát, Alexandros được tấn phong làm hoàng đế bởi đội cận vệ Praetoriani và được chấp thuận bởi Viện Nguyên lão.
Khi Alexandros trở thành hoàng đế, ông đang còn rất trẻ, chỉ mới 13 tuổi, và hoàn toàn nằm dưới quyền nhiếp chính của mẹ ông. Julia Mamaea là một người phụ nữ đức hạnh, và bà cho nhiều cố vấn có tài theo hầu hoàng đế, dưới chính quyền của pháp quan thái thú Ulpian. Bà nhìn nhận rất rõ sự phát triển về tính cách của con trai mình và nâng cao phong thái của chính quyền thời bấy giờ.
Về mặt khác, Julia là một mẫu phụ nữ ghen tuông. Bà sắp xếp cuộc hôn nhân giữa Alexandros và Sallustia Orbiana, con gái của một quý tộc cao quý. Nhưng nhận thấy sự ảnh hưởng của Sallustia tới Alexandros là quá lớn và cha cô ta đã tham gia vào một vụ ám sát hụt hoàng đế nên bà đã quyết định trục xuất con dâu mình ra khỏi triều. Ngoài ra, bà cũng cố gắng xa lánh quân đội, bà cũng biết rằng, con trai bà cũng chưa đủ mạnh để có thể áp đặt nền kỷ luật lên quân đội.
Những cuộc nổi dậy trở nên thường xuyên trên toàn đế quốc, ở Roma, đội cận vệ Praetoriani đã nổi loạn do không hài lòng những hành động của Pháp quan thái thú Ulpian. Một cuộc bạo loạn diễn ra ba ngày đã nổ ra tại Roma giữa dân chúng và Praetoriani, nó chỉ kết thúc sau cái chết của Ulpian, người đã bị săn lùng và giết chết ngay dưới chân của vị Hoàng đế. Tại nhiều tỉnh của đế quốc, điển hình là Illyricum, Mauritania, Armenia, Mesopotamia và tại Germania, đã nổ ra nhiều cuộc nổi loạn, và chúng chỉ kết thúc khi viên chỉ huy của mình bị sát hại và quyền lợi của mình được tăng lên.
Trong suốt triều đại của mình, Alexandros đã cho xây dựng một số công trình lớn cuối cùng tại Roma trước thời của Diocletian. Ông đã xây dựng hệ thống dẫn nước cuối cùng của La Mã cổ đại, "Aqua Alexandrina", với chiều dài 22 km, dẫn nước về Thermae Nero, nó đã được đổi tên thành "Thermae Alexandrinae" sau khi hoàng đế bằng hà.
Đăng quang ở tuổi 13, Alexandros Severus trở thành hoàng đế trẻ nhất trong lịch sử La Mã.
Chiến tranh với Ba Tư và Giéc-man.
Triều đại của Alexander là một trong những triều đại thịnh vượng nhất thời giờ cho đến khi đế quốc Sassanid nổi lên mạnh mẽ ở phía đông. Về cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia này, đã có nhiều tài liều viết về nó nhưng theo các kiểu khác nhau. Theo Herodian, quân đội La Mã đã bị quân Ba Tư đánh bại thê thảm trong một số trận đánh, trong khi theo "Historia Augusta", các công văn được gửi tới Alexander bởi Viện Nguyên lão La Mã, lại ghi rõ là họ đã dành nhiều chiến thắng lớn. Lấy Antiochia làm cơ sở của mình, ông đã dẫn một đội quân lớn viễn chinh tới Ctesiphon, nhưng tuy nhiên, một đội quân La Mã thứ hai đã bị người Ba Tư đánh tan tác, và thiệt hại hơn nữa đã bị phát sinh bởi những người La Mã rút lui tại Armenia.
Tuy nhiên, mặc dù cuộc chiến với Sassanid đã dừng lại trong một thời gian, nhưng những việc mà quân đội La Mã đã thực hiện trong thời gian này đã cho thấy một sự thiếu kỷ luật bất thường. Vào năm 232, đã có một cuộc nổi loạn nổ ra trong quân đoàn Lê dương Syria, và chỉ huy của họ là Taurinus được tôn lên làm hoàng đế. Alexander đã thực hiện nhiều biện pháp để ngăn chặn các cuộc nổi dậy, và Taurinus bị chết đuối khi đang cố gắng chạy trốn qua sông Euphrates. Hoàng đế trở về Roma và đã cho cử hành một lễ khải hoàn vào năm 233.
Năm sau, đế quốc của ông lại phải đối mặt với những kẻ xâm lược người Giéc-man ở Gaul, họ đã tấn công vào vùng biên giới nằm dọc theo sông Rhein, và đã đốt phá nhiều vùng nông thôn và cả nhiều pháo đài được phòng vệ cẩn mật. Alexander đã cho tập trung quân đội, đưa nhiều quân đoàn từ các tỉnh miền đông, và vượt qua sông Rhine để tiến vào Germania qua một cây cầu phao. Tuy vậy, theo lời khuyên của mẹ mình, thay vì dùng sức mạnh quân sự ông lại dùng tiền để mua chuộc các bộ lạc Giéc-man nhằm kéo dài thời gian. Cho dù đây là một chính sách khôn ngoan hay không, thì nó đã khiến các Đạo Binh La Mã cho rằng, hoàng đế không ưa họ.
Có nhiều cuộc thảo luận nhằm tìm một nhà lãnh đạo mới của quân đội. Sau đó, họ đã chọn Gaius Iulius Verus Maximinus, một người lính đến từ Thracia, người đã được thăng chức nhờ vào chính tài năng đã thể hiện ra của mình.
Sau khi đề xuất Maximinus làm hoàng đế, Alexander đã bị ám sát vào ngày 18 hoặc 19 tháng 3 năm 235 cùng với mẹ của mình, trong một cuộc nổi loạn của Quân đoàn Lê dương XXII "Primigenia" tại Moguntiacum (Mainz). Vụ ám sát này được thực hiện nhằm bảo đảm ngai vàng của Maximinus.
Cái chết của Alexander được nhiều nhà sử học xem như là dấu chấm hết của Chế độ Nguyên thủ được thiết lập bởi Augustus hơn 200 năm về trước. Mặc dù thuật ngữ "Chế độ Nguyên thủ" còn tiếp tục tồn tại trên lý thuyết cho đến thời Diocletianus, nhưng cái chết của Alexander báo hiệu cho khởi đầu của một thời kỳ hỗn loạn, mà được giới sử học gọi là cuộc Khủng hoảng ở thế kỷ thứ 3, đưa La Mã đến bên bờ vực sụp đổ.
Hôn nhân.
Alexander từng kết hôn 3 lần. Người vợ yêu thích nhất của ông là Sallustia Orbiana, sau này được tôn làm "Augusta", họ kết hôn với nhau vào năm 225, khi bà mới chỉ có 5 tuổi. Tuy nhiên, ông đã ly hôn và trục xuất bà vào năm 227 khi cha bà, Seius Sallustius, bị xử trảm sau khi dính dáng đến một vụ ám sát hụt hoàng đế. Người vợ khác của ông là Sulpicia Memmia. Cha của bà là một người vào hạng Chấp chính quan của La Mã, ông nội bà có tên là Catulus. | 1 | null |
Đình Mỹ Lương tọa lạc trên bờ sông Cái Cối thuộc ấp Lương Nhơn, xã Mỹ Lương, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam.
Giới thiệu.
Theo các tài liệu cũ, năm 1836 tên đình Mỹ Lương được ghi trong sổ bộ đất triều Nguyễn, như vậy ngôi đình đã được thành lập trước đó (khoảng cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19).
Ngôi đình có quy mô xây dựng lớn, với diện tích 790,875 m² gồm Võ ca, Võ quy và Chánh điện (chánh tẩm), thờ Thần hoàng Bổn cảnh (thờ chính) và những vị Tiền hiền và Hậu hiền đã có nhiều đóng góp cho vùng đất Mỹ Lương.
Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật quý giá, được chạm trổ công phu có niên đại từ thế kỷ 18-19. Đáng chú ý còn có các bức tranh tường và tranh gỗ được chế tác vào đầu thế kỷ 20, rất có giá trị.
Trước năm 1975, đình Mỹ Lương còn là cơ sở cách mạng của địa phương. Hiện trong đình còn giữ một bàn thờ thần, mà bên trong là một hầm bí mật của xã suốt từ năm 1965 đến năm 1975.
Do ý thức bảo quản tốt của người dân địa phương đình Mỹ Lương vẫn giữ nguyên được giá trị sử dụng ban đầu. Hằng năm, lễ Kỳ yên được tổ chức vào ngày 15, 16 tháng 3 âm lịch; và lễ Thượng điền được tổ chức vào ngày 15, 16 tháng 11 âm lịch .
Ngày 1 tháng 11 năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 3528/QĐ-BVHTTDL, công nhận Đình Mỹ Lương là "di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia" . Hiện nay, ngành chủ quản cũng đang xem xét để đầu tư kinh phí trùng tu và tôn tạo ngôi đình . | 1 | null |
Lê Kim Khánh (sinh ngày 24 tháng 12 năm 1981), thường được biết đến với nghệ danh Lê Khánh, là một nữ diễn viên kiêm người dẫn chương trình truyền hình người Việt Nam. Là một trong những diễn viên hiếm hoi của Việt Nam từng giành được 5 giải Mai Vàng và hàng loạt danh hiệu cao quý khác, cô cũng là một diễn viên kịch nói lâu năm của sân khấu kịch Idecaf.
Tiểu sử.
Lê Khánh tên thật là Lê Kim Khánh sinh ngày 24 tháng 12 năm 1981 tại Bến Tre, cô xuất thân từ một xóm lao động nghèo, trong một gia đình đông đúc nhiều thế hệ, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của cha. Với người khác, đó có thể là một bất hạnh nhưng Lê Khánh luôn nhìn cuộc đời bằng con mắt màu hồng, bằng tinh thần lạc quan, vui vẻ.
Tuổi thơ của Lê Khánh không thực sự trọn vẹn, quá trình trưởng thành của nữ diễn viên thiếu đi sự chở che của người cha. Năm 10 tuổi, bố cô qua đời, mẹ ở vậy tảo tần nuôi cô khôn lớn. Tuy cuộc sống vất vả nhưng Lê Khánh luôn trân trọng và biết ơn những hi sinh mẹ đã dành trọn cho cô trong những năm tháng tuổi trẻ.
Sau này, cô lên Thành phố Hồ Chí Minh để theo học khoa diễn viên tại trường Cao đẳng Sân khấu Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh (nay là trường Đại học Sân khấu Điện ảnh) cũng là nơi mà cô và diễn viên Tuấn Khải (chồng của nữ diễn viên) gặp gỡ và quen nhau. Cô tốt nghiệp vào năm 2003 mặc dù đã đóng phim từ 2002, khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Sự nghiệp.
Lê Khánh bước vào nghề năm 2002, bộ phim truyền hình đầu tiên mà Lê Khánh tham gia là "Long xích lô" của đài TFS do Võ Việt Hùng đạo diễn. Năm đó, Lê Khánh đang học năm nhất trường Sân khấu Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ duyên có được vai diễn này hết sức tình cờ. Hồi đó, Lê Khánh còn là diễn viên "quần chúng có thoại" ở sân khấu kịch Phú Nhuận. Lê Khánh được giao vai một cô đầm trong vở "Xuân tóc đỏ", chỉ xuất hiện với... cái bóng, cởi đồ cho Xuân tóc đỏ ngắm, làm cớ để bà Phó Đoan kéo Xuân về. Vai của Lê Khánh chỉ xuất hiện vài phút trên sân khấu lại không được lộ mặt cho khán giả thấy. Ấy vậy mà đạo diễn Võ Việt Hùng đi xem về đã nhắm ngay cô cho vai tiểu thư Ly trong phim "Long xích lô" mà anh đạo diễn.
Bởi vậy, Lê Khánh vẫn luôn nói, cô rất may mắn. May mắn hơn nữa là, nhiều người vào nghề phải đánh đổi, trả giá tình tiền mới có được thành công thì Lê Khánh chưa từng gặp những chuyện như thế. Cô đi lên từ phim truyền hình rồi từ truyền hình bước qua sân khấu cũng rất thành công.
Lê Khánh có hàng trăm vai diễn trên sân khấu kịch Phú Nhuận, Idecaf... vai nào cũng khiến khán giả khi thì cười "rụng rốn" khi thì khóc hết nước mắt. Để có thể đem tới những cảm xúc đó cho khán giả, Lê Khánh có một vốn sống rất đời cùng sự quan sát tinh tế.
Cô bắt đầu sự nghiệp bằng những vai diễn hài hay trong những vở kịch lớn. Hiện nay, Lê Khánh vẫn là thành viên gạo cội của sân khấu kịch Idecaf - Đây là mái nhà thứ hai của cô suốt từ những năm chập chững bước vào nghề.
Là một diễn viên kịch và diễn viên hài, cô bắt đầu nổi tiếng sau các vở kịch như Một cuộc đời bị đánh cắp, Sát thủ hai mảnh, Vùng đất cấm, Thuốc đắng dã tật... Lê Khánh đoạt giải "Diễn viên phụ xuất sắc nhất" của HTV Awards trong 2 năm liên tiếp và đoạt 5 giải "Nữ diễn viên sân khấu được yêu thích nhất" tại 5 giải Mai Vàng liên tiếp.
Ngoài diễn hài và diễn kịch thì Lê Khánh bắt đầu bén duyên với những bộ phim điện ảnh và truyền hình. Từ những vai nhỏ, nhưng duyên, cô luôn khiến khán giả ghi nhớ tên tuổi. Các bộ phim truyền hình, điện ảnh Lê Khánh tham gia đều đạt được nhiều thành tích tốt. Lê Khánh từng nhận được nhiều giải thưởng uy tín về diễn xuất. Cô được nhận xét là "diễn như không diễn”., sự nghiệp của cô bắt đầu tiến triển sau khi đóng các bộ phim như Hướng nghiệp, Mùi ngò gai, Cuộc chiến hoa hồng, Dù gió có thổi, Cô dâu đại chiến...
Sau nhiều năm hoạt động nghệ thuật, Lê Khánh vinh dự được xếp vào hàng ngũ các diễn viên thực lực của Việt Nam. Dù ít xuất hiện trước công chúng hơn trước, cô nàng mỗi lần góp mặt vào tác phẩm nào cũng đều thu về doanh thu "khủng", khẳng định vị trí "nữ hoàng phòng vé" của mình. 20 năm vào nghề, Lê Khánh là một trong những diễn viên hiếm hoi của Vbiz xuất sắc giành được 5 giải Mai Vàng và hàng loạt danh hiệu cao quý khác.
Đời tư.
Năm 2014, Lê Khánh kết hôn cùng diễn viên Tuấn Khải quê ở Tiền Giang, một cuộc tình gần 20 năm đầy viên mãn. Chồng cô thường tháp tùng vợ đi diễn và chăm sóc vợ một cách chu đáo sau các buổi diễn. Tình cảm của vợ chồng Lê Khánh luôn được đồng nghiệp hâm mộ. Được biết, Lê Khánh và diễn viên Tuấn Khải bắt đầu hẹn hò khi học cùng trường sân khấu điện ảnh. Cả hai cùng làm việc tại sân khấu kịch Idecaf. Như cô từng chia sẻ rằng vợ chồng làm cùng nghề và cùng sân khấu nên việc hỗ trợ nhau trong công việc khá tốt đẹp.
Sau 4 năm kết hôn, cô và chồng vui mừng chào đón con trai đầu lòng tên là Tuấn Khang. Cô dành nhiều thời gian chăm sóc gia đình và con cái hơn. Lê Khánh và Tuấn Khải luôn chia sẻ những khoảnh khắc ngọt ngào cùng con trai trên mạng xã hội.
Ngoài hoạt động nghệ thuật, Lê Khánh còn sở hữu một chuỗi quán ốc hải sản nổi tiếng tại Sài Gòn.
Danh sách kịch.
Hài kịch.
Tiêu biểu:
Kịch thiếu nhi.
Tiêu biểu:
Kịch nói.
Tiêu biểu:
Đời tư.
Nữ diễn viên Lê Khánh đã lên xe hoa với nam diễn viên Nguyễn Tuấn Khải - một diễn viên đồng nghiệp của sân khấu kịch Idecaf (trong đó có "Ngày xửa ngày xưa") cũng là bạn học chung khóa K5 của trường Cao đẳng Sân khấu, Điện ảnh TP HCM (nay là ĐH Sân khấu Điện ảnh TP HCM) vào năm 2014
Lê Khánh và Tuấn Khải có hai con trai là Nguyễn Tuấn Khang (6/10/2018) và Nguyễn Tuấn Kha (31/12/2021). | 1 | null |
Trung hưng ("chữ Hán" 中興) có khi gọi là Chấn hưng (振興) hoặc Phục hưng (复興). Là danh từ dùng để chỉ việc khôi phục lại hình ảnh của một triều đại, một quốc gia hay một chế độ sau thời kỳ bị khủng hoảng hoặc suy thoái gây mất niềm tin đối với dân chúng.
Trung hưng có thể là một trong những sự kiện lịch sử sau: | 1 | null |
Thác Dray Dlông hay thác Drai Dlông là thác ở vùng đất xã Ea M'Droh và Quảng Hiệp huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam.
Nơi đây được biết đến với nhiều con suối và thác đẹp. Năm 2004 thác Dray Dlông được công nhân danh thắng cấp quốc gia năm 2004.
Điều kiện tự nhiên.
Từ trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột, đi quãng đường 35 km mới đến được thác Dray Dlông. Vẻ đẹp kỳ vĩ của thác Dray Dlông (hay còn gọi là Thác Cao) đã từng được ghi chép lại: "Đây là nơi gặp nhau của hai con suối Ea M’dróh (con suối lớn) và Ea M’drách (suối nhỏ). Từ trên độ cao 30m, hai dòng suối đổ vào nhau, bị đá chắn lại chia thành 3 dòng trải dài như 3 dải lụa trắng dội mạnh xuống chân thác ầm ầm suốt ngày đêm, những hạt nước dội tung, bắn lên tạo thành những làn khói trắng lung linh huyền ảo. Từ dưới nhìn lên thấy ngọn thác cao với, lấp lánh bạc. Xung quanh là một cánh rừng nguyên sinh với đủ các loại cây rừng mọc trên đá, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: sao, hương, cà chít, bằng lăng tím… Gần chân thác là một rừng bạt ngàn tre và le rừng…".
Từ trung tâm hành chính xã Ea M'Droh đi hướng tây nam chừng 18 km theo đường liên huyện, là Thác Bảy Nhánh trên sông Serepôk ở xã Ea Huar huyện Buôn Đôn. | 1 | null |
"Radio" là một bài hát của nữ nghệ sĩ người Mỹ Lana Del Rey thu âm cho album phòng thu thứ hai của cô, "Born to Die" (2012).
Âm nhạc và ca từ.
Được biên soạn bởi Del Rey và Justin Parker, "Radio" là một bài hát thuộc dòng nhạc indie pop với tổng độ dài ba phút và ba mươi tư giây (3:34). Lindsay Zoladz từ Pitchfork Media đã nhấn mạnh rằng đây là một bài hát khá "trơn tru" và tình cảm, và gọi đấy là một "tuyên bố thẳng thắn về mục đích" của album, "Born to Die" (sinh ra để chết đi), mà trong đó, Del Rey đã hát: "Baby love me 'cause I'm playing on the radio/How do you like me now?" ("Cưng yêu em vì em đang nói trên đài phát thanh/Làm thế nào để anh thích em bây giờ!"). Andrew Hampp từ tạp chí "Billboard" cũng bình luận rằng thật "khó khăn để nói dù cho cô ấy đang hát về một người đàn ông hay về cái danh vọng mà cô ấy đã không màng mệt mỏi theo đuổi và sau đó bị sa thải trong vài tháng qua." | 1 | null |
Giới thiệu.
Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An (tên đối ngoại: Dong An Polytechnic) được thành lập theo quyết định số 615/QĐ-BLĐTBXH ngày 7 tháng 5 năm 2008 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để cung cấp cho các doanh nghiệp, trong dó phần lớn là các doanh nghiệp công nghệ cao về điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí... cho hai khu công nghiệp Đồng An 1 và Đồng An 2 do Công ty làm chủ đầu tư và các khu công nghiệp khác của tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng tàu và TP. Hồ Chí Minh.
Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An là cơ sở dạy trình độ hệ cao đẳng chính quy và hệ cao đẳng 9+4 (gồm 2 giai đoạn: Trung cấp từ 2,0 – 2,5 năm tuỳ theo ngành/nghề và chuyển tiếp liên thông Cao đẳng 2 năm) thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật . Ban đầu thành lập, trường có tên "Cao đẳng nghề Đồng An", là đơn vị sự nghiệp, có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Ngày 30 tháng 5 năm 2011, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ký quyết định số 649/QĐ-LĐTBXH đổi tên Trường Cao đẳng nghề Đồng An thành Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An ( DAP). Với diện tích 30 ha, DAP là một trong những trường Cao đẳng có diện tích lớn nhất Việt Nam. Toạ lạc ở vị trí đắc địa, nơi giao nhau của khu vực tứ giác kinh tế phát triển năng động nhất nước: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu: tiếp giáp làng Đại học Quốc gia, Bến xe Miền Đông mới và nằm trên tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên; Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An có điạ lợi để phát triển thành một cơ sở giáo dục lớn trong tương lai.
Với tôn chí ”Thạo nghề - Vững nghiệp – Kiến tạo tương lai”, trường luôn chú trọng đào tạo sinh viên phát triển toàn diện kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, năng động - bản lĩnh - tự tin trong nhịp sống trong xã hội hiện đại, cùng lúc có khả năng hòa nhập nhanh với cộng đồng quốc tế, đảm nhận tốt công việc trong môi trường đa lĩnh vực, đa văn hoá.
Thành tích.
- Liên tục 5 năm liền trường được chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương tặng Bằng khen.
- 2016: Dẫn đầu thi đua khối trường đại học, cao đẳng, được tặng cơ thi đua của tỉnh Bình Dương.
- 2017: Bằng khen của Thủ dướng Chính phủ.
- 2018: Huân Chương Lao động hạng Ba
Các khoa và ngành đào tạo.
Khoa Công nghệ điện
Khoa Y - Dược
Khoa Du lịch
Khoa Kinh tế
Khoa Ngoại ngữ
Khoa Công nghệ cơ khí
Khoa Công nghệ ô tô
Khoa Công nghệ thông tin
Khoa Chăm sóc sắc đẹp - May thời trang
Cơ sở vật chất.
Trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An là trường tiên phong trong việc đưa tiêu chuẩn cao cấp về cơ sở vật chất nhằm đem lại cho sinh viên sự tiện nghi trong học tập, sự trải nghiệm thực tế trong nghề nghiệp, tiện ích trong sinh hoạt. Tất cả nằm trong một môi trường xanh mát, an toàn, vệ sinh với khuôn viên rộng 30 ha, tọa lạc giữa khu đô thị đại học quốc gia, khu Công nghệ cao TP.HCM và các khu công nghiệp thuộc 2 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương.
Cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều hạng mục, khang trang, hiện đại với tổng diện tích sàn là 55.738 m2 như: Giảng đường, Văn phòng, Trung tâm công nghệ cao, Thư viện, Nhà thi đấu đa năng, Ký túc xá, Khách sạn, nhà hàng, hội trường, nhà truyền thống, sân bóng đá…
Trang thiết bị cho giảng dạy và học tập được đầu tư đồng bộ, hiện đại, cho các ngành đào tạo tại trường. Các thiết bị ngoại nhập từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc,… Đặc biệt Trung tâm Công nghệ cao của trường được trang bị hiện đại với các loại máy gia công cơ khí CNC theo chuẩn công nghiệp. thuộc các dòng máy Nhật Bản thương hiệu Mazak, dòng máy Hàn Quốc thương hiệu Doosan.
Tham quan toàn cảnh tại :
http://360campus.dongan.edu.vn/ | 1 | null |
Địa chất của Sao Hỏa là nghiên cứu bề mặt, lớp vỏ, và lõi bên trong hành tinh Sao Hỏa. Nó nhấn mạnh các thành phần, cấu trúc, lịch sử, và các quá trình vật lý hình hành tinh. Nó hoàn toàn tương tự như các lĩnh vực địa chất trên Trái Đất. Trong khoa học hành tinh, thuật ngữ địa chất được sử dụng trong nghĩa rộng của nó có nghĩa là các nghiên cứu của các phần cứng rắn của các hành tinh và Mặt Trăng. Thuật ngữ này kết hợp các khía cạnh của địa vật lý, địa hóa học, khoáng vật, đo đạc và bản đồ. Một từ mới, areology "Sao Hỏa học", từ tiếng Hy Lạp Ares (Mars), đôi khi xuất hiện như một từ đồng nghĩa với địa chất của Sao Hỏa trong các phương tiện truyền thông phổ biến và các công trình khoa học viễn tưởng (ví dụ, bộ ba Sao Hỏa của Kim Stanley Robinson), nhưng hiếm khi được sử dụng bởi các nhà địa chất và các nhà khoa học nghiên cứu hành tinh.
Hầu hết các kiến thức hiện tại của chúng ta về địa chất trên Sao Hỏa xuất phát từ việc nghiên cứu địa hình và các tính năng suy luận (địa hình) nhìn thấy trong hình ảnh được chụp bởi các vệ tinh nhân tạo. Sao Hỏa có một số đặc điểm bề mặt khác biệt, ở quy mô lớn cho biết các quá trình địa chất đã hoạt động trên hành tinh này theo thời gian. Phần này chỉ ra một số khu vực địa chất học lớn hơn của Sao Hỏa. Cùng với nhau, các khu vực này chỉ ra các hoạt động địa chất chủ yếu liên quan đến các hoạt động núi lửa, kiến tạo địa tầng, nước đóng băng, và tác động lên hình thành hành tinh trên quy mô toàn cầu.
Hệ thống núi lửa Tharsis Montes và Elysium.
Trải dài ranh giới phân đôi ở phía bán cầu tây Sao Hỏa là một hệ thống lớn núi lửa kiến tạo được gọi là Tharsis Montes và Tharsis đang to dần lên. Cấu trúc cao bao la trải rộng với đường kính lên đến hàng nghìn cây số và chiếm khoảng 25% bề mặt của hành tinh. Có độ cao trung bình 7–10 km, Tharsis có cao độ cao nhất trên các hành tinh trong Hệ Mặt Trời. Ba ngọn núi lửa khổng lồ gồm: Ascraeus Mons, Pavonis Mons và Arsia Mons (được gọi chung là Tharsis Montes), nằm liên tục theo hướng Đông Bắc - Tây Nam dọc theo đỉnh đang cao lên. Alba Mons rộng lớn (trước đây được gọi là Alba Patera) chiếm phần phía bắc của khu vực. Núi lửa dạng khiên lớn Olympus Mons nằm cách xa khối nhô chính, ở rìa phía tây của hệ thống. Sức nặng lớn của khối núi Tharsis đã tạo một áp lực lớn trên thạch quyển của hành tinh. Kết quả là hình thành các hình thành các đứt gã phát triển rộng (địa hào và thung lũng tách giãn) tỏa ra ngoài từ trung tâm Tharsis, kéo dài nửa vòng cầu hành tinh. Một trung tâm núi lửa nhỏ hơn nằm vài ngàn cây số về phía tây Tharsis là Elysium. Núi lửa Elysium phức tạp có đường kính khoảng 2.000 km và bao gồm ba núi lửa chính, Elysium Mons, Hecates Tholus và Albor Tholus. Nhóm núi lửa Elysium được cho là có sự khác biệt hơn Tharsis Montes, trong đó phát triển cổ của nó có liên quan đến cả dung nham và pyroclastics. | 1 | null |
Zidovudine hay còn gọi là azidothymidine (AZT) là một loại dược phẩm. Vào ngày 20 tháng 3 năm 1987, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ công nhận thuốc AZT, một loại thuốc điều trị có thể làm chậm tiến trình của bệnh HIV/AIDS.
Zidovudine là một chất tương tự thymidin có tác dụng ức chế in vitro sự sao chép của các retrovirus, bao gồm cả virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Thuốc được chuyển thành zidovudin monophosphat bởi thymidin kinase của tế bào, rồi sau cùng thành zidovudin triphosphat nhờ một số enzym khác của tế bào. Dạng này tác dụng trên polymerase DNA của virus (enzym phiên mã ngược) bằng cách cạnh tranh với các deoxynucleosid khác và bằng cách tác dụng như một chất kết thúc chuỗi tổng hợp DNA. | 1 | null |
Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm hay Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Thuốc Hoa Kỳ (, viết tắt là FDA hay USFDA) là cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ, thuộc Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ. Trụ sở đóng tại Washington DC, Hoa Kỳ. Cục được lập năm 1906.
Phạm vi hoạt động.
FDA chịu trách nhiệm cho việc bảo vệ và thúc đẩy sức khỏe cộng đồng thông qua các quy định và giám sát an toàn thực phẩm, các sản phẩm thuốc lá, sản phẩm bổ sung chế độ ăn uống, dược phẩm phải theo toa và không cần kê toa, vắc xin, dược sinh học, truyền máu, các thiết bị y tế, bức xạ điện từ các thiết bị phát, và các sản phẩm thú y.
FDA cũng thực thi các quy định khác của pháp luật, đặc biệt là Mục 361 của Đạo luật Dịch vụ Y tế công cộng và các quy định kèm theo, nhiều quy định trong số đó không trực tiếp liên quan đến thực phẩm hoặc thuốc. Chúng bao gồm các yêu cầu về vệ sinh môi trường về du lịch giữa các bang và kiểm soát dịch bệnh trên các sản phẩm khác nhau, từ vật nuôi hộ gia đình nhất định đến việc hiến tinh trùng để hỗ trợ sinh sản.
Lịch sử.
Tháng 6 năm 1906, Tổng thống Theodore Roosevelt đã ký Đạo luật Thực phẩm và Dược phẩm, còn được gọi là "Đạo luật Wiley" sau tên người ủng chính, tiến sĩ Harvey Washington Wiley, người đã thu hút sự chú ý của đất nước và cuối cùng sự chú ý của Quốc hội Hoa Kỳ về các cuộc biểu tình vệ sinh công cộng. Đạo luật này là cơ sở cho USDA ngày nay, ban đầu có tên là Cơ quan Thực phẩm, Thuốc và Thuốc trừ sâu. Cái tên cuối cùng đã được rút ngắn thành Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) một vài năm sau đó.
Người đứng đầu FDA là Cục trưởng thực phẩm và dược phẩm, do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm sau khi tham vấn và sự chấp thuận của Thượng viện Hoa Kỳ. Cục trưởng báo cáo với Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ. Cục trưởng thứ 21 và hiện nay là Tiến sĩ Margaret A. Hamburg. Bà đã từng là Ủy viên kể từ tháng 2 năm 2009.
Cục này cũng có 223 văn phòng hiện trường và 13 phòng thí nghiệm trên khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ, United States Virgin Islands, và Puerto Rico. Trong năm 2008, FDA bắt đầu mở văn phòng ở nước ngoài, bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ, Costa Rica, Chile, Bỉ, và Vương quốc Anh.
Cơ cấu tổ chức.
FDA bao gồm một số văn phòng và các trung tâm:
Chương trình *** Ủy ban nghiên cứu thuốc phóng xạ (RDRC)
Trong những năm gần đây, cơ quan này đã bắt đầu thực hiện một nỗ lực quy mô lớn để củng cố hoạt động của nó trong vùng đô thị Washington từ trụ sở chính của nó ở Rockville và một số tòa nhà văn phòng bị phân mảnh trong vùng lân cận các địa điểm cũ Phòng hậu cần quân nhu hải quân trong khu vực White Oak của Silver Spring, Maryland. | 1 | null |
Bùi Huy Đường (18 tháng 3 năm 1937 – 29 tháng 5 năm 2013) là Giáo sư - Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Lĩnh vực nghiên cứu của ông bao gồm cơ học vật rắn, cơ học vết nứt và bài toán nghịch đảo trong cơ học. Ông nguyên là cố vấn cao cấp chiến lược cho Tập đoàn Điện lực của Pháp (Électricité de France), đặc biệt trong lĩnh vực điện hạt nhân. Ông cũng là người Việt đầu tiên và duy nhất cho đến nay được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp.
Sự nghiệp.
Bùi Huy Đường sinh 18 tháng 3 năm 1937 ở Hà Nội. Năm 1955, lúc 18 tuổi, ông sang Pháp. Năm 1959, ông là Sinh viên của trường École Polytechnique (Đại học Bách khoa Paris, thuộc ParisTech). Năm 1961, ông học tại Nationale École Supérieure des Mines de Paris (Đại học Mỏ Quốc gia Paris, thuộc ParisTech). Năm 1969, Bùi Huy Đường bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học.
Từ năm 1973 đến 1985, Tiến sĩ Bùi Huy Đường là giảng viên tại Đại học Bách khoa Paris. Năm 1978, Ông làm Giám đốc nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Cơ học rắn, trường Đại học Bách khoa Paris. Năm 1961, Giáo sư Bùi Huy Đường làm cố vấn khoa học cho Tập đoàn Điện lực của Pháp.
Năm 2013, ông qua đời tại Paris, thọ 76 tuổi.
Thành viên cộng tác.
Giáo sư Bùi Huy Đường là thành viên của Ban biên tập của Tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học, Tạp chí Cơ khí và Công nghiệp (Paris), Tạp chí Cơ học Vật liệu và các cấu trúc (Stanford).
Thành tích.
Bùi Huy Đường có nhiều cống hiến quan trọng trong lĩnh vực cơ học chất rắn của Pháp và thế giới.
Năm 1995, Bùi Huy Đường được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (ngày 13 tháng 11).
Năm 2008, Giáo sư Bùi Huy Đường được nhà nước Pháp trao Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh.
Cộng tác tại Việt Nam.
Trong nhiều năm, ông đóng góp cho quê hương Việt Nam thông qua nỗ lực đón tiếp và tận tình hướng dẫn các sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam sang Pháp học tập. Ông đã trao tặng bản quyền một số quyển sách chuyên ngành mà ông viết cho các trường Đại học của Việt Nam dịch sang tiếng Việt làm phương tiện giảng dạy và nghiên cứu cho sinh viên.
Thời gian gần đây, Giáo sư Bùi Huy Đường thường về Việt Nam và tham gia giúp đỡ phát triển trong các lĩnh vực cơ học và năng lượng nguyên tử. Ông đã tham gia thảo luận Tại hội nghị quốc tế "Những thành tựu tiên tiến trong cơ học tính toán (Acome 2012)" do Trường Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức.
Giáo sư Bùi Huy Đường quan tâm đến việc hỗ trợ Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân sẽ được xây dựng trong tương lai tại đây. Trước mắt, ông đang tập hợp nhiều tài liệu cần thiết trong lĩnh vực này để hỗ trợ Việt Nam khi cần. | 1 | null |
Giấy không thấm mỡ, giấy chống thấm dầu (giấy simili sunphua hóa) (tiếng Anh: Greaseproof papers hay "wax paper") là giấy thu được giản đơn bằng cách thanh lọc đặc biệt bột giấy (thường là bột ngâm bi-sun-phat), các sợi giấy đã được cán nát và được thủy phân bằng cách đập, lâu dài trong nước, thường có dạng trong mờ, không thấm như giấy sunphua hóa nhưng vì lý do giá thành thấp hơn, được dùng nhiều hơn để bao gói các sản phẩm thực phẩm có mỡ. Nó giống như giấy sunphua hóa, nhưng chịu nước kém hơn.
Giấy sunphua hóa và giấy không thấm mỡ, thông thường được dùng làm cho mềm hơn và trong bởi một lớp quét nhẹ glycerol, glucose... trong quá trình hoàn thiện.
Giấy không thấm mỡ khác với giấy sunphua hóa bởi độ bền khi tan trong nước: ngâm nhiều phút thì giấy sunphua hóa tự xé rách khó khăn và chỗ rách lại không có rìa xờm, trong khi giấy không thấm mỡ được xử lý cùng cách như vậy thì tự xé tách dễ dàng và chố rách tua tủa những sợi bị xé. | 1 | null |
Hiến tinh trùng là việc một người đàn ông tặng tinh trùng của mình cho trung tâm hay ngân hàng tinh trùng để họ sử dụng cho thụ tinh trong ống nghiệm. Người hiến tinh trùng có thể được trả thù lao hoặc không và phải được xét nghiệm đảm bảo không bị bệnh, được kiểm tra có tình trạng tinh trùng tốt có thể thụ thai, không có gene mắc các bệnh nguy hiểm và có trình độ học thức nhất định. Người hiến tinh trùng xuất tinh vào dụng cụ chứa và tinh trùng được bảo quản đông lạnh.
Những người nhận tinh trùng không được phép biết danh tính người hiến.
Tinh trùng được sử dụng để thụ thai một người phụ nữ không phải là đối tác tình dục của người hiến tinh trùng. Trong khi những người hiến tinh trùng là cha đẻ tự nhiên hay sinh học của mọi trẻ em được sinh do kết quả của sự đóng góp của người hiến, người hiến thường không có ý định là cha hợp pháp hay "de jure". Tùy thuộc vào thẩm quyền và pháp luật, người hiến có thể hoặc có thể không muộn có đủ điều kiện để tìm kiếm quyền của cha mẹ hoặc chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của cha mẹ đối với đứa trẻ sinh ra nhờ tinh trùng của anh ta.
Tinh trùng thường được tặng thông qua một ngân hàng tinh trùng hoặc phòng khám, có thể quy định ở mỗi quốc gia khác nhau, bao gồm các hạn chế đối với những người hiến tinh trùng giấu tên và số con cái. Bởi có tinh trùng cung cấp bởi cá nhân và trực tiếp chuyển đến người mẹ đã định, những người hiến tinh trùng và người nhận có thể tránh được giới hạn pháp lý mà còn bị mất những lợi ích của pháp luật bảo vệ quyền và trách nhiệm của người nhận và các nhà tài trợ.
Các cặp dị tính bị vô sinh nam, các cặp vợ chồng đồng tính nữ, và phụ nữ độc thân là người nhận chính tinh trùng được hiến. Khi đi qua một ngân hàng tinh trùng, họ có thể chọn người hiến tinh trùng để sử dụng cho họ trên cơ sở ngoại hình, tính cách, khả năng học tập, chủng tộc, và nhiều yếu tố khác. Một số ngân hàng tinh trùng, hoặc bằng cách lựa chọn hoặc quy định, giới hạn số lượng thông tin đến người nhận tiềm năng, mong muốn có được thêm thông tin về những người hiến là một trong những lý do tại sao người nhận có thể chọn để sử dụng một người hiến được biết và/hoặc tặng tư nhân.
Quá trình thụ thai thường được thực hiện bằng cách sử dụng tinh trùng hiến tặng bằng thụ tinh nhân tạo (hoặc ICI hoặc IUI tại một phòng khám, hoặc thụ tinh Intravaginal ở nhà) và ít phổ biến hơn trong thụ tinh ống nghiệm (IVF), thường được biết trong bối cảnh này là ART nhưng thụ tinh cũng có bằng cách người hiến có quan hệ tình dục với một phụ nữ vì mục đích duy nhất để thụ thai. Phương pháp này được gọi là thụ tinh tự nhiên, hoặc NI. | 1 | null |
Kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa 11 là một đợt tổng kiểm điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong vòng năm 2012. Theo đó, quận, huyện, thị ủy, các Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng, Ban thường vụ các đảng ủy trực thuộc Thành ủy/Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành thành phố/tỉnh đã tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể và cá nhân các đảng viên trong ban thường vụ, đảng đoàn, ban cán sự Đảng, tập thể lãnh đạo, ban giám đốc . Đỉnh điểm của đợt phê bình và tự phê bình này là Hội nghị 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội, trong đó có vấn đề phê bình và cách chức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng .
Nội dung Nghị quyết.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) " Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" được ban hành ngày 16/1/2012 do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành.
Nghị quyết Trung ương 4 với tiêu đề ""Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" chỉ tập trung vào ba vấn đề thực sự cấp bách, cần làm ngay, đó là:
Nghị quyết TW 4 có viết " một bộ phận không nhỏ" đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất. Cụ thể: "trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc..."
Ông Trương Tấn Sang phát biểu: "Dứt khoát phải tiến hành thành công. Đó là mệnh lệnh của nhân dân. Không thể để Nghị quyết Trung ương 4 không thành công, là phụ lòng tin của dân, của Đảng, là không vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Chúng ta không có con đường nào khác, chỉ có một lựa chọn duy nhất là phải thành công. Cho dù phải chấp nhận những biện pháp đau đớn cũng phải làm, vì đó là sự sống còn của Đảng, của chế độ và tương lai tươi sáng của đất nước này".
Kết quả.
Quá trình tiến hành phê bình và tự phê bình đã diễn ra tại Ban cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban cán sự đảng các bộ và từng thành viên Chính phủ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận lỗi trước quốc hội .
Ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc khu di tích Phủ Chủ tịch nói Nghị quyết trung ương 4 khóa 11 của Đảng đã chỉ rõ bộ mặt thật của một "bộ phận không nhỏ" những kẻ tranh thủ một thời làm quan, cậy quyền vơ vét, đục khoét tiền của dân, của nước, nhưng lo ngại cho Nghị quyết này cũng như Luật Phòng chống tham nhũng sửa đổi, bởi "nếu làm không làm triệt để thì mọi thứ lại trở về như cũ, thậm chí còn tồi tệ hơn". "theo dõi bước tự phê bình, phê bình vừa qua thì như hòa cả làng, chẳng biết ai tốt ai xấu".
Đồng chí X.
Chiều ngày 15/10/2012, hội nghị lần 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chính thức bế mạc sau 15 ngày họp kín căng thẳng tại Hà Nội. Trong phát biểu cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thông báo Ban chấp hành Trung ương quyết định "không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị". Ông Trọng nghẹn ngào khi thừa nhận: "Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu."
Khi tiếp xúc cử tri ở TP Hồ Chí Minh hôm thứ Tư 17/10, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói về quyết định không kỷ luật một ủy viên Bộ Chính trị, mà ông gọi là 'đồng chí X': "Chỉ có cân nhắc tình hình hiện nay, cân nhắc lợi hại thì quyết nghị là không thi hành kỷ luật. Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải là cá nhân đồng chí ‘X’ không có lỗi."
Sau đó blogger Trương Duy Nhất đặt câu hỏi: ""Tại sao cái tên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - người bị Bộ chính trị yêu cầu kỷ luật cũng không dám công khai, phải nói trại ra là "một đồng chí ủy viên BCT... Chủ tịch nước vẫn không dám nêu tên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà phải gọi là "đồng chí X""." | 1 | null |
Benjamin Graham (8 tháng 5 năm 1894 - 21 tháng 9 năm 1976) là một nhà kinh tế học, doanh nhân và là nhà đầu tư nổi tiếng và chuyên nghiệp người Anh-Mỹ. Không những thế, Graham được coi là người khai sinh ra trường phái đầu tư giá trị. Ông bắt đầu giảng dạy về trường phái này tại Trường Columbia vào năm 1928 và sau đó cộng tác với David Dodd xuất bản cuốn sách nổi tiếng Phân tích chứng khoán (Security Analysis). Học trò của Benjamin bao gồm: Warren Buffett, William J. Ruane, Irving Kahn, Walter J. Schloss và những người khác. Warren Buffett mô tả ông là người có ảnh hưởng lớn thứ hai trong cuộc sống của mình. Thậm chí, Warren Buffet và Irving Kahn có lấy họ Graham làm tên đệm cho con trai của mình là Howard Graham Buffett và Thomas Graham Kahn.
Sau khi Benjamin Graham tốt nghiệp Đại học Columbia vào năm 1914 (năm ông 20 tuổi), ông bắt đầu sự nghiệp của mình trên đường Wall, cuối cùng ông thành lập quan hệ đối tác Graham-Newman. Sau khi thuê cựu sinh viên của mình và người quản lý tương lai của Berkshire Hathaway, Warren Buffett, ông đã giảng dạy các vị trí tại trường cũ của mình, và sau đó tại trường quản lý Anderson tại Đại học California, Los Angeles.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Tuổi trẻ.
Tên khai sinh của Benjamin Graham là Benjamin Grossbaum, bố mẹ ông là người Do Thái. Gia đình ông chuyển tới NewYork khi ông một tuổi. Khi đó những họ nghe giống Đức không được ưa thích, nên ông được đổi họ thành Graham. Cha ông là nhà buôn đĩa sứ và tượng nhỏ. Hồi đầu, gia đình ông sống tương đối đầy đủ, nhưng sau khi cha ông mất vào năm 1903, ông bắt đầu sống trong nghèo đói. May mắn thay, ông giành được học bổng tại đại học Columbia, ông tốt nghiệp năm 1914, đứng thứ nhì lớp. Ông được mời dạy Anh ngữ, Triết và Toán nhưng ông quyết định làm việc ở phố Wall và cuối cùng thì thành lập công ty của riêng mình là Công ty hợp doanh Graham - Newman.
Sự nghiệp.
Ông có hai tác phẩm để đời là: Phân tích chứng khoán (Security Analysis, xuất bản năm 1934, viết cùng David Dodd) và Nhà đầu tư thông minh (The intelligent investor, xuất bản năm 1949, tái bản lần 4 của Jason Zweig vào năm 2003). Phân tích chứng khoán được coi như một cuốn kinh thánh cho mọi nhà đầu tư nghiêm túc kể từ lúc nó được phát hành. Còn quyển Nhà đầu tư thông minh được Warren Buffet miêu tả: "Cuốn sách hay nhất về đầu tư từng được viết cho đến nay". Benjamin Graham kêu gọi bất cứ ai tham gia thị trường chứng khoán, trước tiên, phải phân biệt rõ ràng giữa đầu tư và đầu cơ (investment và speculation). Trong cuốn Phân tích chứng khoán, ông đã định nghĩa rõ ràng đầu tư và đầu cơ như sau: "Hoạt động đầu tư là một quá trình, thông qua phân tích kỹ lưỡng và cẩn trọng, có thể đảm bảo an toàn vốn và thu lời thỏa đáng. Tất cả những hoạt động không đáp ứng được những yêu cầu trên là đầu cơ."
Benjamin Graham cũng khuyên người nắm giữ cổ phiếu nên quan niệm rằng họ đang nắm giữ một phần quyền sở hữu công ty. Vì thế, họ sẽ không phải bận tâm về những biến động khó lường của thị trường, bởi vì trong ngắn hạn, thị trường là máy biểu quyết (hoàn toàn phụ thuộc vào thị hiếu của những người tham gia). Trong dài hạn, thị trường là bàn cân (trong dài hạn, giá trị thực sự sẽ được phản ánh vào giá cổ phiếu). Benjamin Graham cũng phân biệt nhà đầu tư bị động và nhà đầu tư chủ động. Nhà đầu tư bị động (hay còn gọi là nhà đầu tư phòng vệ) sẽ đầu tư thận trọng, tìm kiếm những chứng khoán có giá trị, và nắm giữ chúng khá lâu. Ngược lại, nhà đầu tư chủ động là người có nhiều thời gian, niềm yêu thích và kiến thức chuyên sâu hơn để tìm kiếm những cơ hội bất thường trên thị trường. Graham khuyến nghị những nhà đầu tư dạng này cần bỏ thời gian công sức phân tích tình hình tài chính của công ty. Khi giá thị trường thấp hơn giá trị nội tại, biên an toàn hình thành, đấy là lúc thích hợp để đầu tư.
Benjamin Graham nhận định: "Đầu tư thông minh nhất là khi nó có tính kinh doanh nhất", Warren Buffet nhận xét đây là tuyên ngôn quan trọng nhất từng được viết về đầu tư. Graham cho rằng: Nhà đầu tư không đúng hay sai bởi vì người khác đồng ý hay phản đối anh ta; Nhà đầu tư đúng bởi vì nhận định và phân tích của anh ta đúng. Nhân vật hình tượng mà Graham yêu thích là Ngài Thị trường, người ngày ngày gõ cửa để đề nghị mua và bán chứng khoán với những giá khác nhau. Thường thường, giá do Ngài Thị trường đưa ra rất hợp lý, nhưng đôi khi chúng lại rất nực cười. Nhà đầu tư có thể đồng ý với giá Ngài Thị trường đưa ra, có thể không, tùy ý. Ngài Thị trường chẳng để ý đến ai, mỗi ngày Ngài lại đưa ra một giá mới. Nhà đầu tư không nên nghe theo ý thích kỳ quặc của Ngài Thị trường và xác định giá trị chứng khoán của mình theo giá mà Ngài đưa ra. Anh ta nên kiếm tiền từ sự ngớ ngẩn của Ngài Thị trường chứ không nên nhập bọn với Ông ta. Tốt nhất, nhà đầu tư nên chú ý vào tình hình hoạt động của công ty và cổ tức nhận được, thay vì quá quan tâm đến những hành động bất thường của Ngài Thị trường.
Graham hết sức lên án những doanh nghiệp thời bấy giờ xáo trộn và gián đoạn việc công bố báo cáo tài chính, khiến các nhà đầu tư khó nhận biết tình trạng thực sự của doanh nghiệp. Ông ủng hộ việc trả cổ tức cho cổ đông thay vì để doanh nghiệp giữ lại toàn bộ lợi nhuận sau thuế. Benjamin Graham cũng cực lực phản đối ý kiến: "Một số loại chứng khoán là khoản mua tốt dù với bất cứ giá nào bởi chúng có triển vọng lên giá lâu dài. Vì thế, không cần xem xét tình hình hoạt động thực sự của công ty.". Những nhận định trên của Graham vẫn còn nguyên giá trị thực tế cho đến ngày nay.
Di sản.
Gần đây, cách tiếp cận kiểu "Ngài Thị trường" của Benjamin Graham gặp thử thách lớn từ MTP (lý thuyết danh mục cổ phiếu hiện đại). Nền tảng của MTP là giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH). MTP được giảng dạy tại hầu hết trường kinh doanh của Anh và Mỹ, nó cho rằng không có chuyện mọi cá nhân đều có thể liên tục "đánh bại" thị trường. Do đó, MTP phủ nhận khả năng có bất kỳ sai lệch nào giữa giá thị trường và giá trị của một chứng khoán.
Tuy nhiên, lịch sử đã ghi nhận rất nhiều môn đệ của Graham đã thành công rực rỡ, tính theo lợi nhuận đầu tư. Ngoài ra, rất nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: cổ phiếu giá trị vượt trội so với cổ phiếu tăng trưởng và toàn thị trường nói chung trong hầu hết các thời kỳ nhiều năm.
Trích lời Warren Buffet:
"…ngày nào ông cũng hy vọng làm được "một điều gì đó ngốc nghếch, một điều gì đó sáng tạo, một điều gì đó hào phóng."…Nhưng điều mong muốn thứ ba của ông – sự hào phóng – là điều ông làm tốt nhất…"
"...Trong lĩnh vực nơi nhiều thứ sẽ trở nên ngớ ngẩn chỉ trong một vài tuần hay một vài tháng sau khi công bố, những nguyên tắc của Ben vẫn bền vững - giá trị của chúng thường được nâng cao và hiểu rõ hơn trong thời kỳ của những cơn bão tài chính, những cơn bão phá tan những nền tảng trí tuệ mỏng manh hơn."
Sách.
Phân tích chứng khoán (Security Analysis) cộng tác với David Dodd
, Nhà đầu tư thông minh (The Intelligent Investor) | 1 | null |
Kỳ giông lửa Cận Đông (danh pháp khoa học: Salamandra infraimmaculata) là một loài kỳ giông. Loài này được tìm thấy ở Iran, Iraq, Liban, Syria, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ. Môi trường sinh sống của loài này là sông, suối, bụi cây khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Chúng đang bị đe dọa mất môi trường sống.
Thức ăn của chúng là côn trùng, giun, giáp xác, ốc sên và thậm chỉ các con kỳ giông nhỏ của loài kỳ giông khác. | 1 | null |
Ốc Đăng (chữ Hán: 握登) là tên của 1 người phụ nữ được cho là sống vào thời Đường Nghiêu trong lịch sử Trung Quốc, theo nhiều tư liệu cổ điển ghi chép thì bà chính là mẹ đẻ của đế Thuấn.
Tương truyền Ốc Đăng là con người: hiền thục, đoan trang, trung hậu, đảm đang, bất khuất, kiên cường...Không rõ phụ mẫu bà là ai và xuất xứ từ nước nào chỉ biết chồng bà tên Cổ Tẩu - con trai của Kiều Ngưu - dòng dõi đế Chuyên Húc, xét về phẩm hạnh của bà thì dân chúng quanh vùng đều đánh giá: nết na, thùy mị, chính trực, khẳng khái...
Truyền thuyết dân gian.
Một lần Ốc Đăng đi cấy ngoài đồng cách nhà tương đối xa gặp ngay trời đổ mưa giông bất ngờ không chạy về kịp, bà núp vội dưới gốc cây vệ đường để tạm trú ẩn cho qua cơn bão tố. Chợt bà thấy trên bầu trời xuất hiện cây cầu vồng bảy sắc óng ánh rất đẹp mắt, bà mải chăm chú nhìn lên ngắm hiện tượng thiên nhiên này say mê đến nỗi mưa tạnh mây tan lúc nào cũng không hay biết. Khi người đi đường ngang qua thấy lạ liền gọi thì bà mới giật mình bừng tỉnh, sau hôm ấy bà thụ thai rồi sinh ra một bé trai kháu khỉnh đặt tên là Đô Quân. Vì lúc sinh con thì bà đang ở đất Diêu nên lấy luôn tên đất mà xưng họ Diêu tự là Trọng Hoa, bà vừa làm lụng vừa nuôi con thơ tất bật vất vả khiến thân hình càng ngày càng tiều tụy. Chẳng bao lâu bà mắc bạo bệnh rồi qua đời khi ấy còn quá trẻ để lại cho chồng là Cổ Tẩu cảnh "gà trống nuôi con", nhưng chưa mãn tang Cổ Tẩu đã vội đi lấy vợ hai rồi đem Trọng Hoa sang cho ông nội là Kiều Ngưu. Thế rồi Kiều Ngưu nuôi dạy cháu cũng chỉ hơn 10 năm thì già yếu mà từ giã cõi thế gian, Trọng Hoa phải về ở với cha đẻ và mẹ kế lúc này đã sinh được 1 trai là Tượng và 1 gái là Hệ. Lần đầu tiên trong lịch sử câu ca dao:"mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời gì ghẻ có thương con chồng" được người đời chiêm nghiệm thực tế, kết quả mọi thủ đoạn mánh khóe của cha đẻ và mẹ kế cùng em khác mẹ đều được Trọng Hoa vượt qua một cách khéo léo tài tình.
Chính vì lẽ trên làm đế Nghiêu cảm mến đức hạnh phẩm chất cao thượng của Trọng Hoa mà thiện nhượng trở thành thánh quân Ngu Thuấn nổi tiếng vậy, đó cũng chính bởi gen di truyền hình thành từ mẹ sang con của người phụ nữa tên Ốc Đăng. | 1 | null |
Pierre René, Viscount Deligne (;sinh 3 tháng 10 năm 1944) là một nhà toán học người Bỉ. Ông nổi tiếng với chứng minh phỏng đoán Weil, với một chứng minh hoàn thiện vào năm 1973. Nhờ chứng minh này mà ông nhận huy chương Fields năm 1978. Ông cũng được trao giải Wolf Toán học năm 2008 và Giải Abel năm 2013. | 1 | null |
Quỳ Đông thập tam gia (chữ Hán: 夔東十三家) còn gọi là Xuyên Đông thập tam gia (川東十三家) hay Quỳ Đông tứ gia (夔東四家) là những cánh nghĩa quân kháng Thanh, hoạt động ở các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Thiểm Tây, Hà Nam, từng hội họp ở phía đông Quỳ Châu (nay là Phụng Tiết, Trùng Khánh).
Bối cảnh.
Năm Thuận Trị thứ 2 (1645), Đại Thuận đế Lý Tự Thành bị hại ở núi Cửu Cung, huyện Thông Thành, Hồ Bắc, dư đảng nghĩa quân chạy về các huyện Hưng Sơn, Quy Châu, Ba Đông, Đại Ninh ở giao giới Tứ Xuyên, Hồ Bắc, liên kết với chính quyền Nam Minh tiếp tục kháng Thanh.
Năm Thuận Trị thứ 4 (1647), Lý Xích Tâm (tức Lý Quá), Cao Tất Chánh (tức Cao Nhất Công) phụng mệnh của chính quyền Nam Minh đánh Kinh Châu hơn tháng, vì quân Thanh tăng viện, không chống nổi, nên chuyển sang đánh Hoành Khảm thuộc Đại Xương, rồi đánh Nhị Đặng Nham thuộc Vu Sơn, giết tri huyện của nhà Thanh, tháng 5 vượt Trường Giang, tiến vào Thi Châu Vệ (Ân Thi), cùng quân đội của Thổ ti địa phương giao chiến ở phía nam thành, dời quân đi Dung Mỹ Tư (Hạc Phong). Năm thứ 5 (1648), dời đến Thi Nam Tư (Lợi Xuyên).
Cùng năm, đại thần nhà Nam Minh là Đổ Dận Tích đến khu vực biên giới Tứ Xuyên – Hồ Bắc, chủ động liên hiệp với quân nông dân chống Thanh, cùng Lý Xích Tâm, Cao Tất Chánh thương thảo vấn đề tấn công quân Thanh ở Hồ Bắc. Các lộ quân đội hăng hái chiến đấu, thu phục các nơi Toàn Châu, Hành Châu của Hồ Nam. Nhưng nội bộ triều đình Nam Minh không đoàn kết, các phe phái phân tranh, tranh quyền đoạt lợi. Tháng giêng năm Thuận Trị thứ 6 (1649), Tương Đàm thất thủ, Hồ Quảng tổng đốc Hà Đằng Giao bị bắt rồi tự sát, Lý Xích Tâm bị bức chuyển đi Quảng Tây, không lâu sau bệnh mất. Cao Tất Chính kế thừa quân đội của Lý Xích Tâm, cùng nhóm Đảng Thủ Tố, Lý Lai Hanh vào năm Thuận Trị thứ 8 (1651), từ Quý Châu chạy sang Tứ Xuyên trở về khu vực biên giới Tứ Xuyên – Hồ Bắc. Cùng năm, Cao Tất Chính bị tướng lĩnh quân nông dân Đại Tây là Tôn Khả Vọng giết hại.
Quá trình hoạt động.
Mùa đông năm Thuận Trị thứ 7 (1650), Trung Trinh doanh (danh hiệu mà nhà Nam Minh dành cho quân đội của Lý Xích Tâm, Cao Tất Chính) được Lý Lai Hanh và Đảng Thủ Tố soái lãnh, từ Quảng Tây chuyển đến đông bộ Quý Châu, hội họp với tàn dư quân Đại Thuận đã ở đây từ trước là bọn Lưu Thể Thuần, Hác Vĩnh Trung (Hác Diêu Kỳ), Viên Tông Đệ, "Tháp thiên bảo", Mã Đằng Vân, liên kết với bọn tướng lãnh Nam Minh là Vương Quang Hưng, Hạ Trân, Dương Khải Minh cùng bọn thủ lĩnh vũ trang đại phương là Đàm Văn, Đàm Nghệ, Đàm Hoành. Cả thảy 13 cánh quân, đồng lòng ủng hộ chính quyền Vĩnh Lịch kháng Thanh, dân gian quen gọi là "Quỳ Đông thập tam gia".
Lực lượng nghĩa quân lúc mạnh nhất lên đến hơn 20 vạn, lấy Mao Lộc Sơn thuộc huyện Hưng Sơn làm trung tâm, phạm vi hoạt động trùm qua 4 dãy núi Đại Ba Sơn, Vũ Đương Sơn, Vu Sơn, Kinh Sơn, hơn 20 huyện. Bọn Lưu Thể Thuần, Viên Tông Đệ đóng ở khu vực Ba Đông cùng Quỳ Châu, gọi là Tây tuyến. Bọn Hác Vĩnh Trung đóng ở khu vực huyện Phòng làm trung tâm, gọi là Bắc tuyến. Bọn Lý Lai Hanh đóng ở khu vực Mao Lộc Sơn thuộc Hưng Sơn, gọi là Đông tuyến.
Vì vùng này dân cư thưa thớt, đất đai khô cằn, quân đội của Thập tam gia vỗ về trăm họ, khôi phục làm ăn sanh hoạt, tổ chức khai khẩn đồn điền, phát triển buôn bán, giải quyết vấn đề vật chất thiếu thốn. Tuy họ tiếp nhận phong tước của chính quyền Vĩnh Lịch, nhưng về mặt chiến lược, chủ lực của nhà Nam Minh lúc này là tàn dư của quân nông dân Đại Tây, nên không thể tránh khỏi có sự tranh chấp về mặt phái hệ, dẫn đến khiếm khuyết về mặt chỉ huy. Dù vậy, Quỳ Đông thập tam gia đã thành công trong việc ngăn trở con đường giao thông bằng đường thủy dựa vào Trường Giang, khiến quân Thanh từ phía bắc Lục Lộ đi qua Thiểm Tây hoặc từ phía nam đi qua Quảng Tây tiến đánh vùng Tây nam, hạn chế đáng kể binh lực nam hạ của nhà Thanh.
Kết cục.
Tháng giêng năm Thuận Trị thứ 16 (1659), Vĩnh Lịch đế chạy đến Vĩnh Xương, tể tướng nhà Nam Minh là Văn An Chi soái liên quân theo đường thủy tập kích Trùng Khánh, Đàm Văn bị Đàm Nghệ giết chết. Mọi người đều bất bình, Đàm Nghệ sợ, bèn cùng Đàm Hoành hàng Thanh.
Năm Khang Hi đầu tiên (1662), quân đội Nam Minh với chủ lực là quân nông dân Đại Tây thất bại. Tháng 9 cùng năm, nhà Thanh tập trung binh lực, 3 lộ vây đánh Quỳ Đông thập tam gia. Đông nam lộ có 3 vạn quân do Hồ Quảng đề đốc Đổng Học Lễ thống lãnh, Tây bắc lộ có 3 vạn quân do Thiểm Tây đề đốc Vương Nhất Chánh thống lãnh, Tây lộ do Tứ Xuyên tổng đốc Lý Quốc Anh thống lãnh.
Ngày 3 tháng 1 năm thứ 2 (1663), Lý Quốc Anh soái quân vượt Đại Ninh Hà (nay là phía đông Vu Khê, Tứ Xuyên), Viên Tông Đệ bị bức rời bỏ Đại Xương, rút vào Trà Viên Bình trong núi sâu. Giữ Đại Ninh (nay là Vu Khê) là Hạ Đạo Ninh đưa nghĩa quân ra hàng. Quân Thanh thừa cơ tấn công Trà Viên Bình, nghĩa quân thương vong hơn 2000 người, Viên Tông Đệ đưa tàn quân chuyển đến tây bộ Hồ Bắc cùng Hác Vĩnh Trung hội họp. Trong lúc này, Đổng Học Lễ đánh chiếm thông đạo của Trường Giang là Hương Khê Khẩu (nay là phía tây Tỷ Quy, Hồ Bắc). Thượng tuần tháng giêng, Vương Nhất Chính soái quân tấn công Hác Vĩnh Trung, chiếm lãnh Trúc Sơn, Trúc Khê. Tháng 2, Hác Vĩnh Trung thua liền 2 trận ở Xích Thổ Pha, Đặng Xuyên Dục thuộc huyện Phòng, vào tháng 6 phải chạy vào Ngô Gia Viên Tử thuộc khu vực biên giới Tứ Xuyên – Hồ Bắc cùng Lưu Thể Thuần hội họp.
Lưu Thể Thuần, Hác Vĩnh Trung liên hiệp với Lý Lai Hanh phản kích quân Thanh. Ngày 23 tháng 7, Lý, Lưu, Hác tập kích đánh bại Đổng Học Lễ ở huyện Hưng Sơn, Học Lễ đưa tàn quân chạy về Di Lăng (nay là Nghi Xương, Hồ Bắc). Lý, Lưu, Hác thừa thắng đi thuyền lên phía tây, tấn công Lý Quốc Anh. Ngày 25 tháng 8, bọn Lý Lai Hanh soái quân làm thang mây, đào địa đạo, tấn công thành Vu Sơn, mấy ngày chưa hạ được. Sáng sớm ngày 7 tháng 9, Lý Quốc Anh ra thành phản kích, nghĩa quân đại bại, thương vong hơn 7000 người, hôm sau phải rút lui.
Mùa thu năm ấy, nhà Thanh lại phái thêm Bát Kỳ Mãn Châu tham chiến, mệnh cho Tây An tướng quân Phó Khách Thiện đưa quân trú phòng từ Thiểm vào Xuyên; lấy Mục Lý Mã làm Tĩnh tây tướng quân, Đồ Hải làm Định tây tướng quân thống lãnh 1 vạn tinh binh ở Kinh sư đi Hồ Quảng. Hạ tuần tháng 12, Lưu Thể Thuần tại Trần Gia Pha thuộc huyện Ba Đông liên tiếp thất bại, treo cổ tự sát. Tiếp đó, Hác Vĩnh Trung, Viên Tông Đệ trong lúc tác chiến tại Hoàng Thảo Bình bị bắt giết.
Mùa đông, Vương Quang Hưng, Mã Đằng Vân, Đảng Thủ Tố, "Tháp thiên bảo" nối nhau hàng Thanh. Lý Lai Hanh bị 20 vạn quân Thanh vây chặt ở Mao Lộc Sơn, giằng co mấy tháng, lương thảo cạn dần, vào mùa hạ năm thứ 3 (1664) hai lần đột vây không thành công. Đầu tháng 8, Lý Lai Hanh không chịu hàng, họp cả nhà lại tự thiêu, phần lớn bộ hạ bị giết.
Đánh giá.
Nghĩa quân Quỳ Đông thập tam gia kế tục truyền thống lưu động tác chiến của quân nông dân cuối đời Minh, kiên trì chống chọi trong 14 năm. Nhưng lực lượng thua sút, lại thêm khiếm khuyết sự chỉ huy thống nhất, nên bị quân Thanh lần lượt đánh bại. | 1 | null |
Nông nghiệp tự nhiên (tiếng Anh: "Natural Farming") là một thuật ngữ nói về việc tiếp cận nông nghiệp sinh thái, được đưa ra bởi Masanobu Fukuoka (1913-2008), một nông dân người Nhật và cũng là một nhà triết học đã mô tả cách canh tác của mình là "Nông hóa tự nhiên" (theo tiếng Nhật).
Thuật ngữ.
Nông nghiệp tự nhiên là một khái niệm mới ở Việt Nam, nơi hầu hết các hoạt động nông nghiệp luôn gắn liền với các hóa chất bảo vệ cây trồng khỏi dịch hại và sâu bệnh. Nó còn được biết đến như là "phương pháp Fukuoka", "Con đường nông nghiệp tự nhiên", hay "Nông nghiệp không tác động". Thuật ngữ này gợi ý về việc thiếu lao động, nhưng tránh sử dụng các thành phần đầu vào và dụng cụ lao động. Nông nghiệp tự nhiên cũng được xem như là nông nghiệp sinh thái và có liên quan đến canh tác màu mỡ, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp bền vững, nông lâm nghiệp, nông nghiệp sinh thái và canh tác vĩnh cửu nhưng cần được phân biệt với Nông nghiệp năng động sinh học.
Nhiều người nhầm lẫn Nông nghiệp tự nhiên với Nông nghiệp hữu cơ, một phương pháp canh tác hạn chế sử dụng tối đa hóa chất bảo vệ. Thậm chí, Nông nghiệp tự nhiên cũng không phải là Nông nghiệp bền vững (substainable agriculture).
Ở Việt Nam, nhiều người đang chuyển dần sang canh tác theo con đường Nông nghiệp hữu cơ và coi đó là phương pháp canh tác than thiện với môi trường, bền vững nhất. Thực ra hệ thống Nông nghiệp tự nhiên khai thác sự phức tạp của các sinh vật sống tạo nên hình thái sinh thái riêng. Fukuoka nhận thấy nông nghiệp không chỉ là để sản xuất lương thực mà còn là cuộc sống về tinh thần và thẩm mĩ, mà mục tiêu cuối cùng là "canh tác và hoàn thiện con người". Ông gợi ý nông dân có thể hưởng lợi từ những quan sát chặt chẽ với điều kiện địa phương. Nông nghiệp tự nhiên là một hệ thống kín, một trong những yêu cầu là không có đầu vào và bắt chước tự nhiên.
Các ý tưởng của Fukuoka đã thách thức những giá trị cốt lõi của ngành Công nghiệp nông nghiệp hiện đại, thay vì thúc đẩy tiếp cận môi trường. Nông nghiệp tự nhiên cũng khác với nông nghiệp hữu cơ, mà Fukuoka coi là một kỹ thuật khác hủy hoại thiên nhiên. Fukuoka cho rằng phương pháp tiếp cận của ông ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước, biến dạng đa dạng sinh học và xói mòn trong khi vẫn cung cấp lương thực phong phú cho con người.
Bốn nguyên tắc.
Fukuoka đưa ra bốn nguyên tắc:
Rõ ràng đây là những nguyên tắc nhằm hạn chế tối đa tác động của con người, nói cách khác là ông muốn tạo cho cây trồng phát triển một cách tự nhiên nhất có thể.
Mặc dù các giống cây trồng và cách thực hành của ông liên quan chủ yếu đến điều kiện đặc thù của Nhật Bản, thậm chí là các địa phương trong khi vực Tây Shikoko, thế nhưng những triết lý của ông và nguyên tắc canh tác của mình đã được áp dụng từ châu Phi đến Bắc bán cầu ôn đới.
Tại Ấn Độ, nông nghiệp tự nhiên thường được gọi là "Kheti Rishi". Về nguyên tắc, nông nghiệp tự nhiên sẽ giảm sức lao động con người, và như thực tế, các sản phẩm như gạo, lúa mạch, củ cải trắng, cam, quýt trong hệ thống đa dạng sinh thái nông nghiệp. Không cày xới, các hạt giống vẫn nảy mầm tốt trên bề mặt nếu gặp điều kiện thuận lợi. Fukouka sử dụng sự hiện diện của nhện như một chỉ số cho sự bền vững.
Với lúa hè và các loại cây trồng lúa mạch đông, mặt đất bao phủ bởi tăng cường cố định đạm. Rơm rạ từ vụ trước được lưu giữ vào đất. Mỗi mùa vụ được gieo trồng trước khi một vụ khác được thu hoạch bằng cách phát tán các hạt giống giữa các cây trồng. Sau này, phương pháp này được thay đổi bằng trồng một mùa trực tiếp lúa mạch, cỏ ba lá và lúa khi lúa đang đứng. Kết quả là mật độ cây trồng dày hơn, nhỏ hơn nhưng có năng suất cao hơn và cây khỏe mạnh hơn.
Mặt đất thì luôn bao phủ bởi cỏ dại, cỏ trắng ba lá, cỏ linh lăng, thân thảo họ đậu, và đôi khi cây thân cỏ còn được gieo trồng. Việc che phủ mặt đất hiện tại cùng ngũ cốc, hay các loại rau và vườn cây ăn trái. Gà chạy tự do trong vườn, vịt và cá chép bơi lội trong ruộng lúa.
Định kỳ lớp đất thực vật kể cả cỏ dại có thể được bắt và bỏ lại trên bề mặt, tạo chất dinh dưỡng cho đất, khi loại bỏ cỏ dại phát triển. Điều này cũng tạo điều kiện gieo hạt tốt hơn cho cùng một khu vực.
Những thực hành và lý thuyết của Fukuoka nhấn mạnh đến hoạt động quy mô nhỏ và thách thức nhu cầu công nghệ kỹ thuật trong nông nghiệp để có năng suất và hiệu quả cao. Trong khi nông trại gia đình ông lớn hơn phần lớn gia đình khác, ông sử dụng một cánh đồng để canh tác ngũ cốc theo cách của mình.
Nông nghiệp tự nhiên là ít được áp dụng trên thế giới do nhưng nguyên tắc ngặt nghèo của nó. Rõ ràng nó yêu cầu con người phải nắm rõ những quy luật và mối quan hệ của cây trồng với cỏ dại, với môi trường và con người. Con người ngoài việc mong chờ năng suất cây trồng cao còn cần phải lưu ý đến việc bảo tồn giá trị thiên nhiên vốn có. | 1 | null |
Louis-Alexandre Taschereau (5 tháng 3 năm 1867 - 6 tháng 7 năm 1952) là Thủ tướng thứ 14 của tỉnh Québec ở Canada 1920-1936. Ông được bầu bốn lần, lần đầu tiên vào năm 1900, vượt qua Montmorency. Ông cũng là một thành viên của Đảng Tự Québec.
Sinh ra ở thành phố Québec, con trai của Jean-Thomas Taschereau, luật sư và thẩm phán tại Tòa án tối cao, và Marie-Louise-Josephine Caron.
Ông đã nhận được bằng đại học luật từ Đại học Laval và đã được nhận vào Barreau du Quebec vào ngày 09 tháng 7 năm 1889. Sau khi tham gia vào đời sống chính trị, ông làm chief lieutenant trong chính phủ Tự do của Sir Lomer Gouin. Ông đã làm luật sư trong công ty luật của Charles Fitzpatrick và Simon-Napoléon Parent. Ông cũng là nhà báo tại Action Libérale và chủ tịch và phó chủ tịch của Banque d'Economie de Québec. Ngày 21/3/1929, Alexandre Taschereau tuyên bố luật tự do báo chí. | 1 | null |
Kiến Tường là một thị xã thuộc tỉnh Long An, Việt Nam.
Thị xã Kiến Tường được thành lập vào ngày 18 tháng 3 năm 2013 trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của huyện Mộc Hóa. Mộc Hóa từng là tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Tường cũ trong giai đoạn 1956 - 1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa (tỉnh lỵ có tên là "Mộc Hóa", nay là khu vực trung tâm thị xã Kiến Tường). Năm 1976, tỉnh Kiến Tường bị giải thể và sáp nhập vào tỉnh Long An. Sau 37 năm bị mất tên gọi hoàn toàn, vào năm 2013, địa danh Kiến Tường trở thành tên gọi của một thị xã thuộc tỉnh Long An.
Địa lý.
Vị trí địa lý.
Thị xã Kiến Tường nằm ở phía tây tỉnh Long An, cách thành phố Tân An 68 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 121 km, nằm ở trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, có vị trí địa lý:
Thị xã Kiến Tường có diện tích 204,36 km², dân số năm 2021 là 51.620 người, mật độ dân số đạt 253 người/km².
Điều kiện tự nhiên.
Địa hình.
Thị xã Kiến Tường nằm trong khu đất trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, đất trũng ngập nước hằng năm.
Khí hậu.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nắng và Mùa mưa. Hàng năm, Kiến Tường đều phải chịu ảnh hưởng của lũ lụt trên hệ thống sông Vàm Cỏ.
Tài nguyên đất.
Đất đai thị xã chủ yếu là đất phèn, thích hợp cho trồng lúa và tràm. Nước ngọt quanh năm được cung cấp bởi sông Vàm Cỏ Tây và một số phụ lưu của sông Vàm Cỏ Tây như sông Cả Môn, Gò Ớt, rạch Cá Rô, rạch Bích... và hệ thống kênh rạch thông với sông Tiền.
Lũ lụt trên sông Vàm Cỏ lên chậm, ngâm lâu, vun bồi phù sa cho đất đai ở đây.
Hành chính.
Thị xã Kiến Tường có 8 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 3 phường: 1, 2, 3 và 5 xã: Bình Hiệp, Bình Tân, Thạnh Hưng, Thạnh Trị, Tuyên Thạnh.
Lịch sử.
Thời phong kiến.
Vào thời nhà Nguyễn, Mộc Hóa chỉ là tên gọi một tổng thuộc huyện Quang Hóa, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định. Vùng đất Mộc Hóa ngày nay khi ấy vừa thuộc tổng Mộc Hóa, huyện Quang Hóa, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định và thuộc tổng Hưng Long, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Tổng Mộc Hóa gồm cả vùng rộng lớn nằm hai bên sông Vàm Cỏ Tây.
Thời Pháp thuộc.
Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (gồm Biên Hòa, Gia Định và Định Tường), đến năm 1867 thực dân Pháp bãi bỏ phân chia hành chính cũ của thời nhà Nguyễn và đặt ra các hạt Thanh tra mới. Hai tổng Mộc Hóa (nguyên thuộc huyện Quang Hóa, tỉnh Gia Định) và Hưng Long (nguyên thuộc huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường) khi đó cùng thuộc hạt Thanh tra Tân An. Năm 1872, tổng Hưng Long gồm 25 làng và tổng Mộc Hóa gồm 9 làng.
Năm 1876, Pháp đổi tên các hạt Thanh tra thành hạt tham biện. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1900, lại đổi các hạt tham niện thành tỉnh. Hai tổng Hưng Long và Mộc Hóa khi đó cùng thuộc tỉnh Tân An. Năm 1910, hai tổng Hưng Long và Mộc Hóa có các làng trực thuộc như sau:
Quận Mộc Hóa được thành lập từ ngày 15 tháng 5 năm 1917, thuộc tỉnh Tân An, gồm có 2 tổng: Thanh Hoà Thượng với 9 làng, Thanh Hoà Hạ với 8 làng. Hai tổng cũ là Mộc Hóa và Hưng Long đều bị giải thể. Quận lỵ Mộc Hóa đặt tại làng Tuyên Thạnh vốn trước đó thuộc tổng Mộc Hóa.
Thời Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Sài Gòn tách quận Mộc Hóa khỏi tỉnh Tân An để thành lập tỉnh Mộc Hóa theo sắc lệnh số 21/NV.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh 143/NV đổi tên tỉnh Mộc Hóa thành tỉnh Kiến Tường bao gồm 4 quận: Châu Thành, Kiến Bình, Tuyên Nhơn, Tuyên Bình. Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Tường khi đó có tên là Mộc Hóa, về mặt hành chánh thuộc xã Tuyên Thạnh, quận Châu Thành.
Về phía chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, để chỉ đạo sát đúng với thực tế tình hình địa phương, tháng 7 năm 1957 tách Mộc Hóa ra khỏi tỉnh Tân An, lập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vẫn lấy tên là tỉnh Kiến Tường như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, bên dưới tỉnh Kiến Tường chia làm bốn vùng, mỗi vùng tương ứng với một quận của phía Việt Nam Cộng hòa:
Sau năm 1975.
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Kiến Tường giải thể, sáp nhập với tỉnh Long An và trở thành một huyện của tỉnh Long An với tên gọi mới là huyện Mộc Hóa. Huyện Mộc Hóa lúc đó bao gồm 5 huyện và 1 thị xã vùng Đồng Tháp Mười ngày nay (thuộc tỉnh Long An) và có diện tích tự nhiên 2.296 km², gồm có 1 thị trấn Mộc Hóa (huyện lỵ) và 29 xã: Bắc Hòa, Bình Hiệp, Bình Hòa, Bình Phong Thạnh, Hậu Thạnh, Hưng Điền A, Hưng Điền B, Kiến Bình, Nhơn Hòa Lập, Nhơn Ninh, Tân Đông, Tân Hòa, Tân Lập, Tân Ninh, Thái Bình Trung, Thái Trị, Thạnh Phú, Thạnh Phước, Thạnh Trị, Thuận Nghĩa Hòa, Thủy Đông, Tuyên Bình, Tuyên Thạnh, Vĩnh Châu A, Vĩnh Châu B, Vĩnh Đại, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thanh, Vĩnh Trị.
Vùng đất thị xã Kiến Tường ngày nay khi đó tương ứng thị trấn Mộc Hóa và 3 xã: Bình Hiệp, Thạnh Trị, Tuyên Thạnh thuộc huyện Mộc Hóa. Huyện lý huyện Mộc Hóa khi đó là thị trấn Mộc Hóa.
Ngày 4 tháng 4 năm 1989, chia xã Bình Hiệp thành 2 xã: Bình Hiệp và Bình Tân; chia xã Tuyên Thạnh thành 2 xã: Tuyên Thạnh và Thạnh Hưng.
Ngày 19 tháng 4 năm 2007, thị trấn Mộc Hóa được công nhận là đô thị loại IV.
Ngày 18 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP. Theo đó:
Sau khi thành lập, thị xã Kiến Tường có 20.428,20 ha diện tích tự nhiên và 64.589 người với 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 3 phường và 5 xã.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 879/QĐ-BXD<ref name=879/QĐ-BXD>Quyết định số 879/QĐ-BXD ngày 23/08/2023 của Bộ Xây Dựng về việc công nhận thị xã Kiến Tường là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Long An.</ref> về việc công nhận thị xã Kiến Tường là đô thị loại III.
Kinh tế - xã hội.
Kinh tế.
Thị xã Kiến Tường là trung tâm của khu vực Đồng Tháp Mười về nhiều mặt, trong đó kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển chung của toàn khu vực Đồng Tháp Mười. Thị xã có cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp để giao thương hàng hóa với Vương quốc Campuchia, có tuyến quốc lộ 62 chạy qua giúp cho việc vận chuyển hàng hóa thuận lợi hơn.
Chợ Mộc Hóa cũ đã được nâng cấp thành trung tâm thương mại Kiến Tường nguy nga tráng lệ, đóng vai trò đầu tàu cho ngành dịch vụ không chỉ của thị xã Kiến Tường mà còn là đầu tàu cho toàn vùng Đồng Tháp Mười. Hàng hóa bày bán trong chợ rất đa dạng, được cung cấp chủ yếu từ thị trường đầu mối Thành phố Hồ Chí Minh nên giá cả hợp lý và phong phú.
Toàn thị xã hiện nay có 1 trung tâm thương mại, 1 siêu thị mini, 3 chợ quy mô lớn (Phường 1, Phường 2, xã Bình Hiệp), 1 siêu thị miễn thuế cửa khẩu Bình Hiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm, trao đổi hàng hóa của bà con nhân dân thị xã và người dân nước bạn Campuchia.
Cơ cấu kinh tế của thị xã đang dịch chuyển dần theo hướng giảm tỷ lệ nông nghiệp, tăng dần phi nông nghiệp. Khu kinh tế cửa khẩu Bình Hiệp đang dần chuyển mình thành khu công nghiệp tập trung, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khu công nghiệp phi thuế quan Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp đi vào hoạt động đã tạo cơ hội việc làm ổn định cho hàng ngàn người lao động trên địa bàn thị xã và các địa phương lân cận. Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp được phép thông quan hàng hóa với nước bạn Campuchia càng làm thị trường trao đổi hàng hóa thêm sôi động. Có thời điểm mỗi ngày hàng trăm xe container xếp hàng chờ thông quan hàng hóa. Đây là tín hiệu khởi sắc của một cửa khẩu quốc tế mới được thành lập như cửa khẩu Bình Hiệp.
Xã hội.
Giáo dục.
Thị xã Kiến Tường có tổng số 26 cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn, bao gồm 1 trường Cao đẳng (Phường 3), 2 trường THPT (THPT Kiến Tường ở Phường 1 và THPT Chất lượng cao Thiên Hộ Dương ở Phường 2), 5 trường Trung học cơ sở (Võ Duy Dương, Nguyễn Hồng Sến, Trần Văn Trà, Lê Quí Đôn, Lê Văn Tám), 7 trường tiểu học (Nguyễn Tấn Kiều, Huỳnh Việt Thanh, Nguyễn Thái Bình, Ngô Quyền, Tuyên Thạnh, Thạnh Hưng, Đặng Thị Mành), 2 trường TH&THCS (Võ Văn Kiệt, Trần Văn Giàu) và 10 trường Mầm non. Đa số các cơ sở giáo dục từ mầm non đến THCS trên địa bàn đều đã đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 trở lên. Trong đó, trường Tiểu học Nguyễn Tấn Kiều trên địa bàn phường 1 đã 2 lần được tặng thưởng Huân chương Lao động (hạng nhì, ba).
Trường THPT Kiến Tường được thành lập từ thập niên 60 của thế kỷ trước, nay được xây dựng mới theo định hướng chuẩn quốc gia, đi vào hoạt động tại cơ sở mới từ năm 2009. Trường THPT Kiến Tường đạt chuẩn đánh giá ngoài mức độ 1 vào năm 2016 và đang tiến đến công nhận chuẩn quốc gia vào năm 2019.
Tháng 11 năm 2019, thị xã Kiến Tường khởi công xây dựng trường THPT chất lượng cao Thiên Hộ Dương. Đây là ngôi trường được xây dựng từ nguồn vốn xã hội hóa do đồng chí Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vận động và tài trợ. Ngày 06 tháng 11 năm 2021, lễ khánh thành trường THPT Thiên Hộ Dương đánh dấu mốc son cho ngôi trường mới chính thức đi vào hoạt động. Các đồng chí nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên phó thủ tướng Truong Hòa Bình cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh, thị xã đã cùng nhau cắt dải băng đỏ khánh thành ngôi trường.
Y tế.
Thị xã Kiến Tường có 1 bệnh viện đa khoa với quy mô 150 giường bệnh, 1 Trung tâm y tế, 1 phòng y tế trực thuộc ủy ban nhân dân thị xã và 8 trạm y tế xã - phường. Đội ngũ y, bác sĩ có tay nghề cao và có những thiết bị kỹ thuật cao để chữa trị những căn bệnh hiểm nghèo, góp phần giảm tải cho cơ quan y tế tuyến trên.
Hiện tại, bệnh viện đang xây dựng mới 1 bệnh viện với quy mô với 500 giường bệnh và sẽ đi vào hoạt động từ ngày 30/4/2021.
Ngoài ra, trên địa bàn còn có 3 phòng khám tư nhân với quy mô lớn: Phòng khám Sài Gòn - Kiến Tường, Phòng khám An Lộc Thành phố và Phòng khám Tâm An. Bên cạnh đó, bệnh viện Xuyên Á cũng đang trong quá trình xây dựng trên địa bàn xã Bình Hiệp.
Văn hóa - du lịch.
Tôn giáo.
Các tôn giáo chính trên địa bàn thị xã bao gồm Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài và ngoài ra còn có một số tôn giáo chưa có nhiều tín đồ. Hệ thống đình - chùa - miếu, nhà thờ... được chỉnh trang, xây dựng khang trang, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo trên địa bàn.
Vui chơi, giải trí.
Điều kiện vui chơi, giải trí ở thị xã Kiến Tường còn hạn chế rất nhiều. Các em thiếu nhi có thể đến tham gia các trò chơi tại Nhà thiếu nhi, tuy nhiên, các trò chơi này chỉ hoạt động vào buổi tối.
Toàn thị xã chỉ có 1 địa điểm tạm gọi là thắng cảnh: Núi Đất. Đây là cụm 3 ngọn núi nhân tạo được xây dựng từ giữa thế kỷ XX. Theo lời kể của những người lớn tuổi thì công trình Núi Đất được khởi công xây dựng vào năm 1959. Nhân công thực hiện là tù binh bị bắt lao động khổ sai, họ đào đất đắp thành ngọn núi giả rồi gắn đá ong lên trên. Đây là công trình phục vụ cho nhu cầu nghỉ mát của tỉnh trưởng tỉnh Kiến Tường chế độ cũ. Công trình được hoàn thành vào năm 1963, được tổng thống Ngô Đình Diệm về thăm trước khi bị ám sát vào ngày 02 tháng 11 năm 1963.
Hiện tại Núi Đất đang được quản lý bởi ngành văn hóa thông tin nhưng qua năm tháng không được đầu tư, Núi Đất đã bị xuống cấp rất nhiều. Núi Đất hiện nay chỉ còn là hoài niệm trong lòng những người lớn tuổi.
Đặc sản.
Kiến Tường có món đặc sản Bún Xiêm Lo độc đáo, đã được giới thiệu trên kênh truyền hình Vĩnh Long và Đồng Tháp, chương trình Đặc Sản Miền Sông Nước. Bên cạnh đó, trái Cà Na, một loại trái thiên nhiên chỉ có vào mùa nước nổi, được chế biến theo nhiều cách khác nhau cũng là loại quà vặt ưa thích của cư dân địa phương. Một loại đặc sản khác là mắm. Tuy không nổi tiếng bằng mắm Châu Đốc, Tân Châu nhưng ở đây có loại mắm cá rút xương: cá trèn, cá chốt, cá rô, cá sặc... Các loại mắm này được ủ theo cách gia truyền, xương cá tan hết, con cá còn nguyên hình dạng mà không bị rã.
Tiềm năng du lịch.
Trên địa bàn thị xã tuy không có địa điểm du lịch hấp dẫn du khách nhưng thị xã có thể dựa vào lợi thế liên thông của các điểm du lịch chung quanh để thu hút khách du lịch. Có thể lấy vài ví dụ như sau: Tour 1: Khu du lịch sinh thái Làng Nổi Tân Lập (Mộc Hóa) - Trung tâm thương mại Kiến Tường (Mua sắm) - Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp; Tour 2: Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (Tân Hưng) - Trung tâm thương mại Kiến Tường (Mua sắm) - Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp; Tour 3: Du thuyền trên Sông Vàm Cỏ Tây. Khu Núi Đất nếu được cải tạo cảnh quan và đầu tư xây dựng thì có thể trở thành khu nghỉ dưỡng cho khách tham quan.
Giao thông.
Trên địa bàn thị xã có tuyến quốc lộ 62 đi ngang qua, đây là 1 trong 4 trục ngang Đông - Tây chiến lược của Đồng bằng sông Cửu Long. Dự kiến trong giai đoạn 2021 - 2025, quốc lộ 62 sẽ được nâng cấp mở rộng mặt đường bằng nguồn vốn trung ương đầu tư. Ngoài ra thị xã còn có tỉnh lộ 831, tuyến lộ liên xã Tuyên Thạnh - Thạnh Hưng, Bình Hiệp - Thạnh Trị.
Về giao thông đường thủy có các tuyến kênh mương chằng chịt và sông Vàm Cỏ Tây chảy qua, là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, trao đổi hàng hóa với các địa phương trong và ngoài khu vực.
Tuy nhiên, đoạn quốc lộ 62 hiện nay đã xuống cấp trầm trọng, cần phải được sửa chữa để tạo điều kiện thuận tiện cho việc giao thông và lưu thông hàng hóa từ thị xã đi các nơi và ngược lại..
Các trục đường chính trong thị xã.
Ngoài ra còn có các con đường nhỏ hơn nằm ngang dọc trong lòng thị xã như đường Lê Quốc Sản, Lê Văn Dảo, Đặng Thị Mành, Nguyễn Thị Quãng, Lê Thị Khéo, Ung Văn Khiêm, Huỳnh Châu Sổ, Nguyễn Thái Bình, Hồ Ngọc Dẫn, Nguyễn Hồng Sến, Phạm Ngọc Thuận, Võ Văn Tần...
Sân bay Mộc Hóa.
Trên địa bàn thị xã Kiến Tường từng có Sây bay quốc tế Mộc Hóa. Sân bay được xây dựng từ năm 1965 và phục vụ cho mục đích quân sự kết hợp dân sự, là cửa ngõ đi vào vùng Đồng Tháp Mười bằng đường hàng không. Sau năm 1975 thì bỏ hoang phế. Sân bay có hai đường băng song song rải nhựa nóng, dài 1.800m rộng 120m nếu không bị bỏ hoang và được đầu tư thích đáng thì có thể trở thành sân bay nội địa.
Thời gian đầu sau 1975, Nông trường Lúa Vàng (Nông trường quốc doanh) sử dụng sân bay để đáp máy bay trực thăng cho mục đích nông nghiệp (xạ lúa, rải phân, phun thuốc...). Tuy nhiên, sau đó nông trường giải thể, sân bay chính thức bị bỏ hoang cho đến ngày nay. Đường băng số 1 được chuyển thành đường Lê Duẩn, đường băng số 2 được chuyển thành đường Lý Thường Kiệt nối dài. Nhà ga sân bay đã được tháo dỡ hoàn toàn, tọa lạc tại vị trí của trường Mầm non Hoa Sen hiện tại.
Sân bay Mộc Hóa đã từng xuất hiện trong bối cảnh của các bộ phim Cánh Đồng Hoang, Mùa Gió Chướng, Chiến Trường Chia Nửa Vầng Trăng... của đạo diễn Hồng Sến.
Đến năm 2013, sân bay đã trở thành khu dân cư đường Lý Thường Kiệt nối dài và đường Lê Duẩn, trong đó đường băng trở thành đường phố, không còn dấu vết gì của sân bay cũ. | 1 | null |
Phường 3 là một phường thuộc thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, Việt Nam.
Địa lý.
Phường 3 có vị trí địa lý:
Phường có diện tích 7,96 km², dân số năm 2013 là 4.239 người, mật độ dân số đạt 533 người/km².
Lịch sử.
Phường 3 được thành lập vào ngày 18 tháng 3 năm 2013 trên cơ sở điều chỉnh 796,04 ha diện tích tự nhiên và 4.239 người của xã Tuyên Thạnh. | 1 | null |
Phường 1 là một phường thuộc thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, Việt Nam.
Địa lý.
Phường 1 nằm ở trung tâm thị xã Kiến Tường, có vị trí địa lý:
Phường có diện tích 8,06 km², dân số năm 2013 là 19.544 người, mật độ dân số đạt 2.425 người/km².
Lịch sử.
Phường 1 được thành lập vào ngày 18 tháng 3 năm 2013 trên cơ sở điều chỉnh 806,22 ha diện tích tự nhiên và 19.544 người của thị trấn Mộc Hóa. | 1 | null |
Phường 2 là một phường thuộc thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, Việt Nam.
Địa lý.
Phường 2 có vị trí địa lý:
Phường có diện tích 9,47 km², dân số năm 2013 là 17.208 người, mật độ dân số đạt 1.818 người/km².
Lịch sử.
Phường 2 được thành lập vào ngày 18 tháng 3 năm 2013 trên cơ sở điều chỉnh 946,50 ha diện tích tự nhiên và 17.208 người của thị trấn Mộc Hóa. | 1 | null |
Hậu cung Nhà Thanh (chữ Hán: 清朝後宮; "Thanh triều Hậu cung") là quy định và trật tự của hậu cung dưới thời nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.
Ngoài bản thân Hoàng đế là chủ nhân, bên cạnh đó còn có Hoàng thái hậu, Hoàng hậu cùng Phi tần, Thái giám và Cung nữ, tất cả đều tham gia vào sự vận động cuộc sống sinh hoạt hằng ngày trong cung. Triều đại nhà Thanh có tương quan ghi chép nhiều nhất trong các đời phong kiến Trung Quốc.
Hậu Kim sơ khai.
Thời kỳ Thiên Mệnh và Thiên Thông.
Khi Hậu Kim thành lập, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn chưa thành lập trật tự các vị Thê thiếp của mình, vẫn gọi là Phúc tấn. Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng Đại hãn, các Thê thiếp gọi chung là Chúng Phúc tấn (众福晋; Fujisa). Đời sau, tuy lấy danh xưng "Hậu phi" để gọi các bà Thê thiếp của Hãn thời kỳ này, song thực tế lúc đó không gọi như vậy.
Lúc này, nội trướng của Hậu Kim tạm có trật tự một chút. Có hai bậc có thể xem là ngang nhau:
Dưới hai hàng Phúc tấn có thân phận ngang nhau trên, thì là các dạng Thứ Phúc tấn (庶福晋; Buya fujin), tức những "Thứ phi", là các tiểu thiếp trải trong nội trướng, thân phận kém xa Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn. Có rất nhiều tên gọi:
Trên thực tế, lúc đó trong hậu cung sinh hoạt tuy rằng đồng dạng thuộc về cấp bậc Thứ phi, nhưng là căn cứ xưng hô bất đồng mà cũng có địa vị cao thấp khác nhau. Tỷ như nói "“Ajige fujin”" thân phận liền phải so cao hơn các "“Buya sargan”", nhưng các "“Ajige fujin”" vẫn như cũ không thể bị xếp vào hàng Trắc Phúc tấn được.
Khi Hoàng Thái Cực lên ngôi, ông cho lập Trung cung Phúc tấn (中宮福晉), Đông cung Phúc tấn (東宮福晉) và Tây cung Phúc tấn (西宮福晉). Hoàng Thái Cực trước hết sắc lập Trung cung Phúc tấn và Tây cung Phúc tấn, lại ở Thiên Thông năm thứ 6 (1632) sách lập Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (扎鲁特博尔济吉特氏) làm "Đông cung Phúc tấn". Thiên Thông năm thứ 9 (1635), ngày 7 tháng 10, sau khi vừa hạ sinh Cửu cách cách, Hoàng Thái Cực đem Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị ban cho Nam Chử (南褚) của Diệp Hách, cho thấy thái độ khinh mạn của Hoàng Thái Cực với chúng tần thiếp.
Thời kỳ Sùng Đức.
Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế ở Thịnh Kinh, lập ra Đại Thanh, do vậy đem hậu cung sửa lại định chế, gọi là Ngũ cung chế (五宮制), Ngũ cung Phúc tấn (五宫福晋) hay Sùng Đức Ngũ cung (崇德五宮). Nhưng khi ấy Hoàng thái Cực tuy phỏng theo quy chế Trung nguyên, học theo nhà Minh, nhưng vẫn có tình trạng ba phải thế nào cũng được, trộn lẫn danh xưng Hán song song danh xưng theo lối Mãn.
Sắc phong cho 5 vị Hậu phi này, bên cạnh Hán văn là Hậu và phi, thì còn có cách gọi theo truyền thống của Hậu Kim là Phúc tấn, trong đó:
Sau khi nhập quan.
Thời kỳ Thuận Trị.
Dưới thời Thuận Trị, hậu cung nhà Thanh lại có biến chuyển. Hậu cung thời Thuận Trị, theo khảo chứng hồ sơ thì đã từng muốn thiết lập Hoàng phi (皇妃) cùng Cửu tần (九嫔) theo kiểu người Hán, song rốt cuộc cũng như chế độ nữ quan, đều bị bãi bỏ. Vào lúc đó, trong hậu cung vẫn hay giữ kiểu gọi tương ứng Hoàng hậu (ứng với "Đích Phúc tấn"), Phi (ứng với "Trắc Phúc tấn") và Cách cách (ứng với "Thứ thiếp") mà xưng hô cùng thiết đặt đãi ngộ, không khác thời Hậu Kim. Sau đó, triều đình Thuận Trị đã phân định rõ thứ bậc hơn một chút dựa theo quy chế Trung nguyên, dưới Hoàng hậu có hàng Hoàng quý phi, Phi và Tần đều thực sự đã được đề cập khi quy định đãi ngộ, nhưng không rõ vì lý do gì vẫn rất nhiều hậu cung không có danh vị chính thức. Đặc biệt là danh vị "Hoàng quý phi", được dùng để sách phong sủng thiếp Đổng Ngạc phi. Ngoài ra thì, chỉ có Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu cùng Phế hậu Tĩnh phi là từng được ghi nhận có đãi ngộ hàng Phi, riêng hàng Tần vẫn để trống.
Tóm gọn lại, hậu cung triều Thuận Trị có 7 định mức, được gọi là "Cấp" (級), trình tự có:
Các định cấp này là quy định về đãi ngộ, cho nên "Hoàng hậu cấp" chính là nói về đãi ngộ, Tam cung Hậu vị có đãi ngộ mặc định của "Hoàng hậu cấp", tương tự thì Hậu phi đều dựa vào đãi ngộ từng cấp mà phân định. Theo thói quen triều Thuận Trị, phi tần có thân phận đặc thù, bao gồm công chúa Mông Cổ Minh kỳ hoặc cách cách Mãn Châu gia thế lớn, đều sẽ được đãi hàng "Phúc tấn"; hàng "Tiểu Phúc tấn" dành cho những người sinh con và hàng "Cách cách" đều là những người chưa sinh con.
Trước mắt, đại lượng hồ sơ Mãn văn khi gọi các Hậu phi thời Thuận Trị chỉ xưng 「"Phúc tấn"」 cùng 「"Cách cách"」, còn 「"Tiểu Phúc tấn"」 rất hay bị gọi thành "Cách cách" dù hạng đãi ngộ có khác hơn hẳn. Nhưng mà có một lượng bộ phận hồ sơ cùng ký lục đời sau còn có chênh lệch, như một số Phúc tấn hay bị gọi thành Cách cách và ngược lại, nên hiện tại thông tin thân phận các Hậu phi triều Thuận Trị tương đối hỗn loạn.
Ngoài ra, vào năm Thuận Trị thứ 15 (1658), quan viên tấu thỉnh thiết lập:
Bên cạnh đó, hệ thống Hậu cung cũng đề nghị có thêm Nữ quan, y theo 「Lục cục nhất Ti; 六局一司」của nhà Minh. Phần nội dung thiết đại tước vị ở hai cung, lẫn hệ thống Nữ quan, trước mắt chỉ là nghị định biên soạn trên giấy tờ mà chưa bao giờ thấy có trường hợp chấp hành.
Tuy nhiên, căn cứ việc Ngụy Nguyên (魏源) trong "Cổ Vi đường thi tập" (古微堂詩集), cuốn 4 tựa "Đô trung ngâm" (都中吟) lại dẫn chứng Càn Long Đế từng ngự chế thơ đề cập sự tồn tại của Nữ quan, có đoạn:「"Quốc sơ nữ nhạc duyên minh quý, Khang Hi nữ nhạc bất doanh thiên, Ung Chính cận tồn thập chi thất, Càn Long vô nhất nữ nhạc yên"」. Thời Càn Long, Cao Tông còn tự nói rằng:「"Đến nỗi Nữ nhạc, (Trẫm) từ khi đăng vị đã không dùng"」, không chỉ khẳng định triều Càn Long đã không còn chế độ này, mà đồng thời khẳng định đến tận triều Ung Chính vẫn còn hệ thống này, chỉ là phai dần thôi.
Khang Hi hoàn bị.
Qua thời Khang Hi, đại để thời gian đầu vẫn giữ danh xưng triều Thuận Trị. Ngoại trừ vị trí độc tôn là Hoàng hậu, các vị Phi tần còn lại vẫn giữ đãi ngộ làm tiêu chuẩn về thân phận, đa phần dựa vào số lượng lụa, gấm được cấp hàng tháng mà nhìn nhận xem ai trên ai dưới. Họ đều được xem là Thứ phi - tuy là hàng Phi tần trong hậu cung nhưng danh phận của họ đều chưa được định rõ ràng.
Vào năm Khang Hi thứ 10 (1671), xuất hiện ghi chép về "Lục cách cách", sự xuất hiện của họ đã góp phần thay đổi lịch sử Hậu cung. Do tiếng Mãn của "Cách cách" là danh từ xưng hô chỉ chung các cô gái đàng hoàng xuất thân Bát kỳ, cho nên họ cũng được gọi là 「"Lục nữ tử"; 六女子」. Cả 6 vị này, ở Khang Hi năm thứ 10, được Thánh Tổ dùng lễ mà cưới hỏi vào thẳng Nội đình. Cụ thể có:
Trong đó, vị thứ tư - Cách cách nhà Hoa Thiện - về sau chính là Kính tần Hoàn Nhan thị ("cũng phiên thành Vương Giai thị"), mà vị thứ sáu - Cách cách nhà Lý Hiện Tông - lại chính là An tần. Nhìn nhận theo phương hướng "lịch sử Hậu cung" mà đánh giá, sự kiện Thánh Tổ nghênh thú 6 vị Cách cách này vào cung đã khiến Nội đình Thanh sơ kỳ chuyển biến lớn, ảnh hưởng rất nhiều đến lịch sử Nội đình của triều Thanh về sau. Cụ thể mà nói thì:
Nhưng cả 6 vị Cách cách này, về sau cũng không có gì nổi bật dù có xuất phát điểm có thể nói là cao nhất kể từ khi nhà Thanh nhập quan. Trừ hai vị Kính tần cùng An tần, thì cả 4 vị kia đều được trả về nhà. Trong đó có con gái của Át Tất Long, đây là vị Tiểu chủ nhân được đưa vào cung nhưng còn quá nhỏ đến nỗi phải có Nhũ mẫu kèm theo. Trải qua 2 giai đoạn mấy chục năm thích ứng cùng điều chỉnh, từ triều Khang Hi bắt đầu chính thức xác lập chế độ Bát đẳng Hậu phi (八等后妃) mà đời sau hay nhắc đến, hơn nữa lấy các loại tiền lệ làm căn cứ, hình thành chế độ cố định.
Tuy nhiều Hậu phi thời Khang Hi không có danh vị, nhưng đã có chế độ thiện đãi nhất định tương ứng với các danh vị chính thức. Sau khi lập nên chế độ "Bát đẳng Hậu phi", trong Hậu cung đều dùng mức đãi ngộ được quy định để đãi các Thứ phi, có hiện tượng tạm lấy mức đãi ngộ để gọi thân phận của họ. Ví dụ có Thứ phi Vương thị (庶妃王氏), tuy rằng đãi ngộ hàng Tần nhưng lại không có Lễ sách phong ban phong hiệu, cho nên trong tấu chỉ gọi 「Vương tần; 王嬪」. Và cũng vì chỉ có đãi ngộ, một khi có Lễ sách phong chính thức hoặc Lễ truy phong sau khi qua đời, thì vị hiệu ấy cùng đãi ngộ có chênh lệch lớn, ví dụ như trường hợp của Bình phi Hách Xá Lý thị, bà tuy có đãi ngộ Quý phi nên xưng gọi 「Quý phi; 貴妃」, nhưng khi qua đời bà chỉ được truy phong làm Phi. Một ít Thứ phi khác cũng có đãi ngộ của Tần vị và Phi vị dù không có hoạch phong, ví dụ Tuyên phi cùng Khác Huệ Hoàng quý phi đồng dạng là hưởng đãi ngộ hàng Phi trong một thời gian dài.
Bên cạnh đó, lại có một hiện tượng khó hiểu là một mức đãi ngộ lại được chia ra cách gọi khác nhau. Như trong hồ sơ triều Khang Hi thấy có một trường hợp gọi đãi ngộ hàng Tần chia ra 「"Tần cấp Quý nhân"; 嬪級貴人」, 「"Tần cấp"; 嬪級」 cùng 「"Vô hiệu Tần"; 無號嬪」. Cả ba hạng này đều dùng đãi ngộ tước Tần, quần áo lẫn chu cấp, trong đó "Tần cấp Quý nhân" thấy ở trường hợp Tuyên phi, "Tần cấp" cùng "Vô hiệu Tần" phân biệt ở người vừa vào cung đã đãi ngộ hàng Tần và người từ hạng dưới lại được tăng lên đãi ngộ hàng Tần. Ngoài ra, thời kỳ này thường xuyên có trường hợp đãi ngộ và danh xưng không đồng nhất, khi còn dùng chế độ cũ thì đã có trường hợp có một Thứ phi vào cung với danh xưng "“Tiểu Phúc tấn”" thế nhưng lại được Hoàng đế định quy cách cung cấp ẩm thực theo bậc "“Phúc tấn”", không lâu sau vị Thứ phi ấy được thăng cách ăn mặc cũng y như "Phúc tấn", nhưng lại bảo tồn danh xưng "Tiểu Phúc tấn" như cũ. Có lẽ "Tần cấp Quý nhân" trong trường hợp của Tuyên phi cũng là dạng này.
Năm Khang Hi thứ 57 (1718), Thánh Tổ dụ bộ Lễ, chọn lựa làm Lễ sách phong cho 6 vị hậu cung tuy đã sinh dục Hoàng tự nhưng chưa được tấn phong chính thức. Từ đấy về sau, Hậu cung triều Thanh mới nhất nhất quy định Hậu phi đều nên có danh phận.
Hậu cung phân vị.
Hoàng đế Đại Thanh cũng như mọi người đàn ông trong xã hội Mãn Thanh, đều theo thể chế thê thiếp và đưa thê thiếp vào trong khu nhà riêng, gọi là Hậu trạch. Sau khi Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế chế định Bát đẳng Hậu phi (八等后妃), các vị trí chính thê hay thứ thiếp trong hậu cung nhà Thanh về căn bản được chia làm các cấp bậc chính:
Tất cả bọn họ, bao gồm cả nhóm Tiền triều, trong Hồ sơ đời Thanh thường gọi chung là Nội đình chủ vị (內廷主位) hay Hậu cung chủ vị (後宮主位), đều được các Thái giám và Cung nữ phụ trách hầu hạ. Một khi nhập cung và nhận gia phong của Hoàng đế, họ sẽ sống cả đời trong hậu cung. Theo quy định thời gian đầu của nhà Thanh, ngoài Càn Thanh cung dành cho Hoàng đế, Khôn Ninh cung dành cho Hoàng hậu, thì các nhóm phi tần đều ở 12 cung hai bên sườn của Càn Thanh cung, gồm Đông lục cung và Tây lục cung, gọi gộp lại là [Đông Tây lục cung; 東西六宮]. Tuy rằng về chính thức thì Hậu phi sẽ dàn trải ở Đông Tây lục cung, nhưng từ thời Khang Hi, một số Hậu phi lại ở khu vực Càn Tây ngũ sở, cho thấy việc cấp cho chỗ ở thế nào cũng tùy vào sắp xếp.
Hoàng hậu.
Hoàng hậu là chính thê của Hoàng đế, vì vậy luôn luôn chỉ có một Hoàng hậu tại vị. Trong lịch sử, Hoàng hậu nhà Thanh được lập trong các trường hợp sau:
Trong hậu cung thì Hoàng hậu là độc nhất, thân phận 「"Chủ nội trị"; 主内治」, là người trên danh nghĩa chủ trì tất cả mọi việc. Theo quan niệm đa thê, Hoàng hậu là chính thê, cho nên được coi là 「Hoàng đích mẫu; 皇嫡母」 hay 「Hoàng hậu ngạch niết; 皇后額捏」 của tất cả các Hoàng tử và Hoàng nữ trong hậu cung, bất luận đó là con của phi tần nào đi nữa. Đầu nhà Thanh, Hoàng hậu sống ở Khôn Ninh cung, từ thời Ung Chính thì dọn sang một trong mười hai cung ở hậu cung. Theo quy định của triều Thanh thì một phi tần cũng được truy phong thụy hiệu Hoàng hậu nếu là 「Đế mẫu; 帝母」. Trường hợp này xuất hiện rất nhiều vào thời nhà Thanh, điển hình là Hiếu Trang Văn Hoàng hậu hay cả Từ Hi Hoàng thái hậu (thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu). Cũng có hai trường hợp độc nhất vô nhị, khi không phải Hoàng hậu của Tiên Đế cũng không phải Đế mẫu của Tân Hoàng đế mà vẫn được truy phong làm Hoàng hậu, ấy là trường hợp của Đổng Ngạc phi - sủng phi của Thanh Thế Tổ và Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu - dưỡng mẫu của Thanh Văn Tông.
Trong việc thờ cúng Hoàng đế cùng Hoàng hậu, thứ tự về xuất thân, ai đầu ai sau cũng rất quan trọng. Vị đầu tiên thường là nguyên phối thê tử của Hoàng đế, tức là "Người đầu tiên được cưới hỏi đàng hoàng", họ đa phần là Nguyên thú Đích Phúc tấn khi còn ở Tiềm để hay được trực tiếp cưới vào, khi ấy họ được gọi là 「Nguyên hậu; 元后」, có địa vị tôn quý trong hoàng thất, còn được gọi là Đích hậu (嫡后). Còn người được lập tiếp theo sau khi nguyên phối qua đời được gọi là 「Kế hậu; 繼后」, thứ cận là các Hoàng hậu được truy phong, tức gọi Đế mẫu.
Trong vị thứ hoàng gia, Nguyên hậu là tôn quý nhất trên thứ tự bài vị lẫn quy cách ghi chép. Khi an táng vào Địa cung cùng Hoàng đế trong Hoàng lăng, Nguyên hậu và Kế hậu tuy có thể cùng dùng ["Phụng an"; 奉安] hoặc ["An táng"; 安葬], nhưng chỉ có Nguyên hậu là có tư cách dùng chữ ["Hợp táng"; 合葬], còn nếu Kế hậu và Đế mẫu lẫn Phi tần nếu được đưa vào Địa cung trong Hoàng lăng cùng Hoàng đế thì đều dùng những từ như ["Tòng táng"; 从葬] hay ["Phụ táng"; 附葬] mà thôi, như vậy có nghĩa chỉ có Nguyên hậu là "chủ nhân", cùng Hoàng đế sánh vai, còn những người khác chỉ có ý nghĩa hầu cận. Từ thời Gia Khánh trở về sau, gia đình của Nguyên hậu có thể trực tiếp được hưởng tước hiệu ngoại thích là "Thừa Ân công" (承恩公), mà Kế hậu cùng Đế mẫu thường chỉ phong "Thừa Ân hầu" (承恩侯), chỉ truy phong tước Công khi qua đời. Địa vị bài tự trong Thái Miếu cũng cho thấy thứ tự là Nguyên hậu, rồi tới Kế hậu và Đế mẫu theo hàng phụ thờ cùng Hoàng đế. Từ thời Ung Chính, dường như để tôn vinh mẹ đẻ Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu, Thanh Thế Tông chỉ cho Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu cùng Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu được bày chân dung cùng với Khang Hi Hoàng đế thờ phụng trong Thọ Hoàng điện (壽皇殿) vào các dịp kị. Từ đó về sau, Thọ Hoàng điện chỉ bày vị cho Nguyên hậu cùng Đế mẫu.
Theo dòng lịch sử, triều đại nhà Thanh có 13 Hoàng đế và tổng cộng 25 Hoàng hậu.
Phi tần.
Phi tần là thiếp của Hoàng đế, cấp bậc đều dưới Hoàng hậu.
Các phi tần là những thị thiếp chính thức của Hoàng đế, không giống như các bậc tì thiếp không có danh phận rõ ràng, việc sắc phong của phi tần cấp cao được tổ chức long trọng dưới sự sắp xếp của Nội vụ phủ. Theo cuốn Quốc triều cung sử (国朝宫史) do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và Trương Đình Ngọc soạn thảo, phi tần được chia làm các cấp và có hạn định như sau:
Từ vị trí "Hoàng quý phi" đến "Tần" đều được hoàng gia nhà Thanh xem là Hậu phi chính thức, mà từ "Quý nhân" trở xuống tuy có hạng ngạch riêng nhưng lại đều bị xem là những "Ngự thiếp" có địa vị thấp. Điều này biểu thị ở việc từ tước Tần trở lên đã có Lễ sách phong để cấp "Phong hiệu", có được ban áo mũ theo cấp bậc để tham dự các nghi thức đại lễ. Còn từ "Quý nhân" trở xuống không có Lễ sách phong, không có áo mũ quy định nên cũng không thể tham dự các đại lễ.
Theo quy định cũng ghi trong Quốc triều cung sử, Hoàng quý phi đến Tần vị thứ cao, giúp Hoàng hậu 「"Tá nội trị"; 佐内治」, có nghĩa là có thể đứng ra làm một số việc "phụ giúp" Hoàng hậu, còn từ vị trí Quý nhân trở xuống, họ chỉ có thể 「"Cần tu nội chức"; 勤修内职」, tuân thủ nghiêm ngặt cung quy. Bên cạnh đó, từ Tần trở lên ngoài áo mũ thì có thể dùng một loại tùy tùng khi ra ngoài được gọi là Thải trượng (采仗), riêng bậc Quý phi và Hoàng quý phi là Nghi trượng (儀仗). Còn Hoàng hậu cùng Hoàng thái hậu có địa vị tôn quý, đoàn tùy tùng của họ cũng như Hoàng đế, được gọi là Nghi giá (儀駕). Từ Quý nhân trở xuống không được phép sử dụng.
Dù đã có định số từng tước, nhưng triều Khang Hi và Càn Long vẫn thường phá lệ phong vượt số lượng đã định, cụ thể như:
Từ thời Khang Hi, phi tần chính thức đã có thể có tên gọi riêng, gọi là 「Phong hiệu; 封號」. Các phong hiệu này đều do quan viên Nội các hoặc bộ Lễ soạn, mỗi phong hiệu sẽ được chọn từ 3 chữ Hán và 3 nghĩa chữ Mãn do Hoàng đế tự quyết định, đây đều là các chữ mang ý cát tường, đem đến may mắn cho hậu cung nên đều có ý nghĩa thiên về mỹ đức. Có một vấn đề về phong hiệu, chính là âm Mãn đôi khi có trùng nhau. Ví dụ Hoa phi Hầu Giai thị của Thanh Nhân Tông, sau khi qua đời, các Nha môn khi làm bài vị phát hiện phong hiệu "Hoa" của bà ban đầu Mãn văn là 「Yangsangga」, ý là "Tiếu lệ", cùng phong hiệu của Tề phi Lý thị cũng có Mãn văn tương tự, nên dâng Tấu lên hỏi Nhân Tông có cần xem xét để thay đổi không. Tuy rằng Nhân Tông phê rằng "Không cần để ý", nhưng cuối cùng vẫn cho đổi thành 「Gincihiyan」, ý rằng "Tú mỹ". Tuy nhiên, đời Thanh về sau vẫn xem chuyện này không có gì to tát mà tránh né, vì như Trân phi có phong hiệu âm Mãn là 「Ujengge」, lặp lại Mãn văn với Trang phi Vương Giai thị của Nhân Tông mà cũng không thay đổi. Sau khi qua đời, trừ Hoàng quý phi, còn Quý phi trở xuống đều lấy phong hiệu xem như thụy hiệu (xem Nghi tần và Tuân tần).
Khác với tước Tần trở lên, từ Quý nhân trở xuống được gọi bằng 「Xưng hiệu; 稱號」. Khái niệm này khác với phong hiệu, bởi vì một khi chọn phong hiệu là do Hoàng đế tự chọn, do bộ Lễ xem ý nghĩa mà soạn ra, có chữ Hán lẫn âm Mãn, trong khi đó "Xưng hiệu" chỉ tồn tại dạng phiên âm tiếng Mãn, mà chữ phiên âm ấy phần nhiều là tên chữ đầu của người cha, âm khác của dòng dõi hay bản thân tên riêng của vị Hậu phi ấy. Từ Quý nhân trở xuống, Hậu phi về cơ bản không đủ tư cách làm Lễ sách phong, không có áo mũ, nên cũng không có phong hiệu. Có trường hợp phong hiệu lại lấy từ xưng hiệu, ví dụ có Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu với xưng hiệu cũng là "Toàn", sau giải nghĩa Mãn và dùng làm phong hiệu. Hoặc còn có Ân tần Ô Nhã thị, phong hiệu "Ân" của bà là lấy từ xưng hiệu [En] trước đó, về sau giải nghĩa Mãn và dùng làm phong hiệu luôn.
Ngoài ra, khi hậu cung chủ vị qua đời, do thân phận cùng bối cảnh đặc biệt mà từ ngữ Hán văn để mô tả cũng không bình thường, mà phải biểu thị rõ thân phận thuộc hoàng cung của mình, cũng như trong văn bản không thể xuất hiện các loại chữ ý nghĩa xấu. Trong khi Hoàng hậu với Hoàng đế đồng dạng, đều được dùng 「Băng thệ; 崩逝」, thì phi tần đều chỉ dùng 「Hoăng; 薨」, ngoài ra còn một số từ khác nữa như 「Mộng du; 夢遊」 hay 「Thoát thệ; 脫逝」.
Các thân phận khác.
Dù thời Khang Hi đã lập ra "Bát đẳng Hậu phi", nhưng trong hồ sơ hậu cung triều Thanh vẫn thường xuyên xuất hiện những danh xưng khác hẳn vượt ra khỏi quy chế hậu cung. Những danh xưng này thường ám chỉ đến các hạng Thị thiếp không chính thức trong hậu cung, còn được gọi chung chung là Thứ phi hoặc Cung nhân. Những danh vị này gồm:「Đại Đáp ứng; 大答應」, 「Tiểu Đáp ứng; 小答應」, 「Cách cách; 格格」 và 「Học sinh; 學生」.
Những "Đại Đáp ứng" cùng "Tiểu Đáp ứng" đều thuộc dạng cung nữ đặc biệt, từng cùng thuộc bậc Đáp ứng hàng thấp nhất. Trong khi Đại Đáp ứng có tư cách xuất hiện trong hồ sơ phân vị, thậm chí có thể được an táng vào Phi viên tẩm, thì Tiểu Đáp ứng không được đãi ngộ này. Còn hạng "Cách cách" cùng "Học sinh", địa vị của họ tạm thời không tra rõ được, chỉ biết đến tận thời Càn Long vẫn có những vị Cách cách cùng Học sinh, như Hoắc Cách cách (霍格格), Phượng Học sinh (鳳學生) cùng Học sinh Kim Quan (金官), họ đều trú tại Ninh Thọ cung. Sau triều Càn Long, cung đình triều Thanh không còn những danh vị này nữa, những ai chưa được sủng hạnh cũng được thả ra khỏi cung.
Ngoài ra, từ thời Ung Chính, có xưng hô 「Quan nữ tử; 官女子」, cũng gọi 「Cung nữ tử; 宫女子」, đây thực chất là cách gọi các cung nữ trong cung đình nói chung, bởi vì các cung nữ được Hoàng đế sủng hạnh cũng dùng danh xưng này nên hay bị nhầm thành một thứ bậc hậu cung. Do ảnh hưởng của Chân Hoàn truyện, "Quan nữ tử" từng bị nhầm là một vị hiệu chính thức của hàng phi tần. Thế nhưng căn cứ vào hồ sơ ghi lại, trừ bỏ các cung nữ được Hoàng đế thụ sủng, thì cũng chỉ có phi tần bị biếm xuống làm "Quan nữ tử", chưa từng thấy việc Hậu phi hoặc cung nữ được sủng hạnh lại được thụ phong danh vị này, có thể thấy đây là dạng danh xưng chứ không phải vị hiệu trong hậu cung. Các vị Hoàng tử khi chưa phân phủ còn ở trong cung, ngẫu nhiên cũng được ban thưởng Thị tỳ xuất thân từ cung nữ để hầu hạ, làm nhiệm vụ "Thông phòng" giúp Hoàng tử giải quyết nhu cầu sinh lý trước khi cưới vợ, và những người này cũng được gọi là Quan nữ tử. Nếu vị Hoàng tử tương lai làm Hoàng đế, vị "Quan nữ tử" ấy cũng có tư cách được vào hàng Phi tần chính thức trong hậu cung. Ví dụ cho chuyện này có Tề phi Lý thị của Thanh Thế Tông; Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao thị, Triết Mẫn Hoàng quý phi Phú Sát thị và Nghi tần Hoàng thị của Thanh Cao Tông; cùng Hòa phi Na Lạp thị của Thanh Tuyên Tông.
Nhóm Tiền triều.
Từ thời nhà Hán, Hoàng hậu của Tiên Đế sẽ trụ lại hoàng cung, phi tần sẽ tùy theo hoàn cảnh mà lên lăng của Tiên đế sống, hoặc cho về nhà, một số cá biệt lại bắt tuẫn táng, tức là ép chết theo Tiên đế với ý niệm hầu hạ theo sang bên kia thế giới. Đến thời kì nhà Thanh, chế độ triều đình Mãn Thanh đã khác so với các triều đại trước. Trong khi nhà Minh thời đầu tiếp tục giữ tục tuẫn táng, bắt ép các phi tần chôn theo Tiên đế, thì đến thời nhà Thanh các phi tần được ưu đãi hơn, có phẩm vị và nơi ở riêng.
Pháp độ nhà Thanh, Hoàng tổ mẫu tôn Thái hoàng thái hậu, Hoàng mẫu tôn Hoàng thái hậu, sau khi Tiên đế ngự băng, từ Hoàng thái hậu cùng phi tần của Tiên đế đều phải dọn đến bên ngoài Long Tông môn (隆宗門), nơi có một dãy kiến trúc được gọi nôm na là Quả phụ viện (寡妇院) của Tử Cấm Thành. Dãy kiến trúc này lấy Từ Ninh cung (慈寧宮) làm đầu, bên cạnh đó còn có Thọ Khang cung (壽康宮), Ninh Thọ cung (寧壽宮) và Thọ An cung (壽安宮). Tuy nói các Thái hậu phải đến Từ Ninh cung hay Thọ Khang cung, nhưng không nhất thiết phải như vậy, sinh thời Từ Hi Hoàng thái hậu thường đều ở xen kẽ các cung thuộc Tây lục cung, và bà hay ở Trữ Tú cung.
Các vị Thái hậu.
Thái hoàng thái hậu (太皇太后) là tôn hiệu dành cho bà nội, còn Hoàng thái hậu (皇太后) là tôn hiệu dành cho mẹ của Hoàng đế triều Thanh. Lịch sử Thanh cung chỉ có 2 vị Thái hoàng thái hậu, là Hiếu Trang Văn Hoàng hậu cùng Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu (tức Từ Hi Hoàng thái hậu).
Trong hậu cung, với vai trò là trưởng bối và là bà nội của Hoàng đế, Thái hoàng thái hậu có bối phận cao nhất đương thời, khi Hiếu Trang Văn Hoàng hậu là Thái hoàng thái hậu thì ý chỉ của bà được xem là tối cao nhất, nếu không có Thái hoàng thái hậu thì chỉ dụ của Hoàng thái hậu mới được xem là cao nhất. Đương thời, Hiếu Trang Văn Hoàng hậu trú tại Từ Ninh cung, còn Hoàng thái hậu là Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu trú tại Ninh Thọ cung. Từ đó về sau, nơi mà Hoàng thái hậu có thể ở được luôn không cố định, đa phần là Thọ Khang cung, đôi khi là Từ Ninh cung hoặc Ninh Thọ cung. Dù ở đâu đi nữa, thì tước vị cao hơn luôn ở cung điện có địa vị lớn nhất.
Không giống như Hoàng hậu, có thể có nhiều hơn một Hoàng thái hậu tại vị một lúc. Đó là khi Hoàng đế là con thứ xuất, thì lúc đó theo Chế pháp đích-thứ sẽ cùng tồn tại cả hai người mẹ của đương kim Hoàng đế. Một người là Hoàng hậu của Tiên đế, tức 「Hoàng đích mẫu; 皇嫡母」; còn người kia là sinh mẫu của Hoàng đế nhưng vốn chỉ là phi tần của Tiên đế, tức 「Hoàng sinh mẫu; 皇生母」.
Vào thời nhà Minh, triều đại đầu tiên công nhận có thể tôn cùng lúc hai vị Hoàng thái hậu, quy định khá đơn giản rằng Hoàng đích mẫu sẽ có tôn hiệu, còn Hoàng sinh mẫu chỉ được gọi là Hoàng thái hậu, mà không có tôn hiệu. Sang đến đời nhà Thanh, triều đại này quy định dùng tôn hiệu cho cả hai vị Hoàng thái hậu, nhưng có sự khác biệt về ý nghĩa danh hiệu để phân chia.
Lần đầu tiên nhà Thanh xảy ra trường hợp có cả hai Hoàng thái hậu là thời Khang Hi, nếu bỏ qua sự mập mờ không rõ ràng thời Thuận Trị (có thể xem rõ mục "Con trai được lập" trong bài về Hiếu Trang Hoàng thái hậu). Khi ấy, Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu là Đích mẫu của Khang Hi Đế, huy hiệu 「Nhân Hiến Hoàng thái hậu」, còn mẹ sinh của Khang Hi Đế là Hiếu Khang Chương Hoàng hậu vốn chỉ là tần phi, được Khang Hi Đế tôn huy hiệu là 「Từ Hòa Hoàng thái hậu」.
Sau đó suốt thời nhà Thanh, các vị Hoàng thái hậu thường chỉ có một người. Đến thời Đồng Trị, Hoàng đế vừa có Đích mẫu Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, vừa có sinh mẫu Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị. Việc tôn phong Hoàng đích mẫu và Hoàng sinh mẫu được quy định như sau:
Sang năm sau, Đồng Trị Đế mới dâng tôn hiệu cho Mẫu hậu Hoàng thái hậu làm 「Từ An Hoàng thái hậu」, còn Thánh mẫu Hoàng thái hậu là 「Từ Hi Hoàng thái hậu」. Nhưng đích-thứ phân biệt, người đời thường gọi quen Từ An là Đông Thái hậu (東太后) do phía Đông là quý, còn Từ Hi được gọi là Tây Thái hậu (西太后) do phía Tây là vị trí phụ.
Việc tôn phong của hai vị Thái hậu là Từ An cùng Từ Hi đã thành một đặc trưng khi người khác nói về "Lưỡng cung Thái hậu" của triều Thanh, khiến nhiều quan điểm ngộ nhận cho rằng ngay triều Thanh từ thời kỳ đầu thì đã có quy định 「"Lưỡng cung tại vị, Đích mẫu tôn Mẫu hậu Hoàng thái hậu, Sinh mẫu tôn Thánh mẫu Hoàng thái hậu"」, rồi nảy sinh đánh giá tôn xưng "Mẫu hậu cao quý, Thánh mẫu kém hơn" đại loại như vậy. Thực tế, việc gọi "Mẫu hậu" hay "Thánh mẫu" trong tôn hiệu Hoàng thái hậu không quy định ở việc là Đích mẫu hay Sinh mẫu, như Sùng Khánh Hoàng thái hậu trong bài Sách văn tôn huy hiệu được gọi là "Mẫu hậu"; còn Cung Từ Hoàng thái hậu lại là "Thánh mẫu" trong Sách văn. Có thể thấy rất rõ ràng quy định ["Mẫu hậu Hoàng thái hậu"] và ["Thánh mẫu Hoàng thái hậu"], ai cao quý hơn ai, chỉ tồn tại từ thời Đồng Trị và là một liệu pháp phân biệt nhất thời.
Các vị Di phi.
Phi tần của Hoàng đế đời trước, thường được gọi là Di phi (遺妃), đều sẽ được gom lại ở một nhóm cung điện và cùng nhau sinh hoạt. Khi có đại yến tổ chức ở Từ Ninh cung, họ mới tập hợp lại mà vui vẻ, ngày thường thì họ đến các Phật đường được xây cất trong Từ Ninh cung để dâng hương, yên ổn mà sống qua kiếp người. Có trường hợp nếu Di phi có con trai được phong tước và mở phủ đệ, thì họ đều sẽ được đi theo con đến phủ và an hưởng đến già, như Ninh Khác phi, Huệ phi, Nghi phi cùng Định phi. Từ thời Ung Chính trở đi, Di phi bất luận có con hay không, cũng đều trú tại nhóm Quả phụ viện cùng các Thái hậu.
Trong văn bản chữ Hán, Hoàng đế sẽ gọi chung các phi tần này là 「Thái phi; 太妃」, nhưng đó chỉ là cách gọi chung chứ không phải tước vị chính thức. Theo cách chính xác nhất, Hoàng đế sẽ gọi phi tần của Hoàng phụ theo yếu tố 「Hoàng khảo; 皇考」 để phân biệt với Hậu phi của đương kim Hoàng đế, tương tự với những phi tần của Hoàng tổ phụ, thì Hoàng đế sẽ tôn với huy hiệu 「Hoàng tổ; 皇祖」. Ngoài ra, Hoàng đế vì lý do gì đó cũng có thể tấn phong họ lên một cấp bậc cao hơn, có đãi ngộ tốt hơn, và những đãi ngộ ấy đều theo mức tước vị quy định trong hệ thống phi tần.
Ví dụ như:
Nếu khi đó không có Hoàng thái hậu, thì vị Di phi có địa vị cao nhất sẽ được tôn làm "Thái phi" bởi Sách văn chính thức, chứ không phải kính gọi thông thường. Lệ này có từ thời Khang Hi, khi Thánh Tổ tôn Thọ Khang Thái phi làm Hoàng tổ Thọ Khang Thái phi (皇祖壽康太妃). Từ đây có lệ bất thành văn, Hoàng đế đương triều sẽ tấn tôn vị Di phi có địa vị tôn quý nhất trong hàng Góa phụ danh hiệu "Thái phi", như sau đó Cao Tông tôn Đôn Di Hoàng quý phi làm Ôn Huệ Hoàng quý thái phi (温惠皇貴太妃). Khi Cao Tông thoái vị làm Thái thượng hoàng, Nhân Tông vẫn gọi các Uyển Quý phi cùng Dĩnh Quý phi là "Thái phi" để tôn trọng, dù huy hiệu chính thức của bà là 「Hoàng khảo Quý phi」.
Nếu trường hợp có các Di phi của Hoàng tổ còn sống, thì các Hoàng tổ Di phi đó sẽ có thể trở thành Thái phi cao hơn là các Hoàng khảo Di phi. Sau thời Càn Long, có Trang Thuận Hoàng quý phi thời Đồng Trị hay Đoan Khác Hoàng quý phi thời Tuyên Thống đều trở thành các Thái phi. Cũng có trường hợp thiện đãi, nên dù có Thái hậu thì vẫn có thể trở thành "Thái phi", như Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị, trở thành Hoàng quý thái phi theo chỉ dụ của Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu.
Thân phận của Hậu phi.
Khái quát.
Xã hội triều Thanh được phân ra hai loại thân phận chính, và hai loại thân phận này có ảnh hưởng trực tiếp đến xuất thân của Hậu phi triều Thanh:
Thời Thanh cũng như các triều trước đó không phân biệt nặng về dân tộc tính, mà phân biệt về quy chế Hộ tịch. Cho dù là người Hán, thì có phân vào Kỳ phân Tá lĩnh hay Bao y cũng đều được xem là "Kỳ nhân", cũng chính là 「Người Mãn」 theo cách nói chính thức. Những người theo quy chế Mông Cổ Minh kỳ tuy có thể xem là dạng riêng biệt, nhưng khi chiếu theo đãi ngộ thì cũng đều được xem như là Kỳ nhân bình thường. Bên cạnh đó, dù đều là Mông Cổ, thế nhưng "Mông Cổ Minh kỳ" vào triều Thanh đều là những người Mông Cổ có gốc du mục, phần lớn là Vương công bộ tộc, khác với "Mông Cổ Bát kỳ" đã sớm thành thục theo cách ăn nói của người Mãn.
Trong các loại thân phận này, dễ nhầm lẫn nhất chính là 「"Hán Quân"」 cùng 「"Hán nhân"」. Như đã nói, dù là người Hán hay người Mãn, chỉ cần được phân vào Kỳ tịch thì tức là "Kỳ nhân", đều được đối đãi như nhau. Phim truyện về triều Thanh đặc biệt rất hay nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Đời Thanh có quy tắc「Mãn-Hán không thể liên hôn」 , trong đó "Hán" chính là nói đến Hán nhân, không phải người Hán Quân Bát kỳ. Ngoài ra, những người có thể có gốc Hán mà được phân vào Bao y, cũng đều là "Kỳ nhân", không còn là "Hán nhân" nữa. Giữa Kỳ phân và Bao y đôi khi cũng dễ bị nhầm lẫn, điểm dễ nhận biết nhất giữa Kỳ phân và Bao y là:
Tuyển tú nữ.
Sau khi nhập quan, Hậu phi nhà Thanh chủ yếu là từ tầng lớp Bát kỳ của Mãn Châu Bát kỳ, Mông Cổ Bát kỳ và Hán Quân Bát kỳ, tức Kỳ phân Tá lĩnh. Các nàng sẽ thông qua cái gọi là [Bát kỳ tuyển tú; 八旗选秀], đường đường chính chính nhập cung dưới sự chỉ định của Hoàng đế hoặc Hoàng thái hậu. Những cô gái dự tuyển trong Bát kỳ tuyển tú được gọi là Tú nữ (秀女), đầu tiên cần thiết là huyết thống thuần khiết con gái nhà quan viên, bảo trì tôn nghiêm cùng đặc quyền của giai cấp quý tộc Mãn Thanh. Sau khi bảo đảm huyết thống cùng địa vị xã hội, thì mới tới dung mạo của nữ tử. Chế độ [Bát kỳ tuyển tú] không chỉ để chọn tần phi, mà còn để chọn con cái mà chỉ hôn cho Hoàng tử tông thân, nên xét về gia thế cơ bản của bất cứ quý tộc Mãn Thanh nào, cũng đều sẽ có con gái dự tuyển trúng.
Cứ mỗi 3 năm, quan viên bộ Hộ phối hợp Nội vụ phủ sẽ tiến hành tuyển chọn con gái nhà đàng hoàng trong Bát kỳ, độ từ 14 tuổi đến 16 tuổi và không tàn tật để tham gia đợt tuyển lựa Tú nữ. Khi chọn lựa Tú nữ, thì em gái của Hoàng hậu và tước Tần trở lên đều được miễn. Về tiêu chuẩn thân phận, phàm là quan viên Bát kỳ đến Lính lệ, trong nhà nếu có con gái hợp tuyển thì đều bị đưa tên vào thi tuyển. Từ năm Gia Khánh năm thứ 11, cho mệnh Hán Quân Bát kỳ từ "Bút thiếp thức" trở lên có con gái đến tuổi, đều dự tuyển. Năm thứ 18, mệnh Mãn Châu, Mông Cổ từ Hộ quân trở lên đều bị tuyển. Theo thông lệ, mỗi ngày tuyển hai kỳ, lấy nhân số nhiều ít đều xứng, không tự ý phân. Trước một ngày, Cai kỳ Tham lĩnh, Lĩnh thôi tập bày xe. Như chọn [Tương Hoàng kỳ] và [Chính Hoàng kỳ], xét mỗi kỳ Mãn - Mông - Hán thì phân ra 3 cỗ, mỗi cỗ ghi tuổi tác, phân ra trước sau thứ tự, [Tương Hoàng kỳ] trước rồi [Chính Hoàng kỳ] theo sau, các xe cứ thế đi theo hình đuôi cá, xa thụ song đăng. Buổi chiều tối bắt đầu, nửa đêm nhập cửa sau đến bên ngoài Thần Vũ môn (神武門), theo thứ tự xuống xe mà vào. Các xe ấy sau khi để người xuống thì đi từ Thần Vũ môn ra đến Đông Hoa môn (東華門), qua đến Sùng Văn môn (崇文門) rồi ra đến Bắc phố xá, sau lại vòng cửa sau chạy ngược lại đến Thần Vũ môn, lúc này đã tầm giờ Tị giờ Ngọ hôm sau, đã qua quá trình Tuyển tú, các Tú nữ lần lượt ra xe mà về.
Các Tú nữ đi từ Thần Vũ môn đến Thuận Trinh môn (順貞門) thì xin đợi, có Hộ bộ Tư quan quản lý. Đến khi, Thái giám Ấn ban dẫn vào, mỗi ban 5 người, lạy mà không quỳ. Khi đến trước mặt Hoàng đế và Hoàng thái hậu, Tú nữ được đọc tên sẽ đứng lên trước, mắt cúi xuống, không nhìn trực diện Lưỡng Cung, hoàn toàn không được nói gì cả, cho đến khi người Tú nữ kế tiếp được đọc tên thì lui về hàng sau. Khi được chọn, nàng đó sẽ là [Lưu bài tử; 留牌子], sau đó lại tham gia "Phục tuyển", nếu không gọi lưu lại thì là bị rớt, còn lưu lại thì tiếp tục. Khi phục tuyển lần thứ hai, các Tú nữ sẽ có hai vận mệnh, một là chỉ hôn cho Hoàng thân, hai là lưu lại dự trù làm cung phi. Tuy nhiên, Lưu bài tử để vào cung cũng trải qua nhiều quá trình khác, nhiều lần "Phục khán", "Ký danh", lại được Hoàng đế đích thân lựa chọn thì "Thượng ký danh", bắt đầu quá trình "Lưu cung trụ túc" để tỉ mỉ khảo sát, ai hoàn thiện được sẽ là Hậu phi, còn không sẽ bị loại, gọi là [Lược bài tử; 撂牌子].
Sau khi vào cung, Tú nữ như nhau sơ phong Đáp ứng, Thường tại hay Quý nhân tùy vào ý định của Hoàng đế. Tước vị "Quý nhân" đa số xuất thân từ cao môn tử đệ qua nhiều thế hệ, còn "Thường tại" cùng "Đáp ứng" chỉ cần là con gái chức "Bái đường a" là có thể được phong, thân phận tương đối không hiển hách mới bị liệt vào hàng này. Đặc biệt rằng trong quá trình lịch sử cùng hồ sơ ghi nhận, hầu như không Tú nữ nào tham gia Bát kỳ tuyển tú bị chỉ định làm "Đáp ứng", mà tước này thường là từ Cung nữ tử tiến phong mới phải qua mà thôi. Vào thời kì cuối như Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự; cung đình nhà Thanh lại có nhiều phá lệ, phong Tú nữ làm Tần ngay khi tuyển tú (như Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu, Cẩn phi cùng Trân phi).
Tuyển chọn cung nữ.
Cung nữ nhà Thanh, được gọi bằng những danh xưng như Cung nữ tử (宮女子), Quan nữ tử (官女子), Hạ quan nữ tử (下官女子), Sử lệnh nữ tử (使令女子), Hạ nữ tử (下女子) hay Sử nữ (使女), thậm chí là Đáp ứng (答应). Họ chủ yếu đến từ đợt xét tuyển của Nội vụ phủ mà vào cung, chế độ này được gọi là Nội vụ phủ tuyển tú (內務府選秀).
Căn cứ Thanh cung trung dĩ Cung nữ vi Chủ đích nữ phó giai tằng (清宫中以宫女为主的女仆阶层), tuyển chọn cung nữ thời Thanh đã sớm ở năm Thuận Trị thứ 8 (1661), ghi lại:「""Phàm nữ tử từ Nội phủ Tá lĩnh (tức Bao y Tá lĩnh), Nội phủ Quản lĩnh (tức Tân giả khố), khi được 13 tuổi, thì Tá lĩnh cùng Quản lĩnh tạo danh sách để kê trình, giao Tổng quản Thái giám duyệt xem”"」. Nói cách khác, khi tuyển chọn cung nữ, các nàng cần phải đủ tuổi và có kỳ tịch thuộc Nội vụ phủ Tá lĩnh và Quản lĩnh của 「Thượng Tam kỳ Bao y」, gồm Tương Hoàng kỳ, Chính Hoàng kỳ và Chính Bạch kỳ. Người Bao y cơ bản chia ra làm hai dạng, thuộc Tá lĩnh hoặc "Nội Quản lĩnh" - cũng gọi là Tân giả khố.
Rất nhiều người hiện đại cho rằng giai cấp "Bao y" đều là nô lệ, thế nhưng trên thực tế thì không phải như vậy. Trong giai cấp Bao y cũng có cũng có quan lại mức "Thế gia", chia ra nhà làm quan viên hoặc là người bình dân. Đặc biệt ở Trung kỳ và Vãn kỳ triều Thanh, giai cấp Bao y có rất nhiều nhà đều thuộc hàng Nhất đẳng Thế gia trong xã hội Bát kỳ, về chức quyền hay tài lực cũng không hề thua kém các thế gia Kỳ phân Tá lĩnh, điển hình là gia tộc Nội vụ phủ Tương Hoàng kỳ Hoàn Nhan thị, hậu duệ nhà Kim khi xưa, vị Cách cách Vương Mẫn Đồng nổi tiếng thời Thanh mạt cũng xuất thân từ gia tộc này. Theo lệ triều Thanh, tất cả con gái nhà Bao y, cho dù là quan lại hay bình dân, tất cả đều phải qua tuyển chọn của Nội vụ phủ và nếu trúng tuyển thì vào cung làm Cung nữ phục vụ Hậu phi. Chỉ là từ triều Càn Long trở đi, giới quan lại Bao y ngày càng cường đại nên dần dần cũng có quy tắc ngầm, con gái nhà quan viên hạng cao chỉ cần nộp tên lên dự tuyển, quá trình còn lại sẽ được "âm thầm" gạch tên đi, từ đó trở đi đại đa số cung nữ triều Thanh vào cung chỉ còn là con nhà bình thường trong tầng lớp Bao y, không còn tình trạng con gái nhà Bao y cao cấp phải vào cung nữa.
Tất cả nữ tử Bao y đều phỏng vấn ở Ngự hoa viên trong Tử Cấm Thành, mỗi lượt chọn 5-6 người, sau đó trở thành cung nữ, ngay lập tức được phân phối đến các cung điện phục vụ cho Hậu phi, những ai không được chọn thì có thể về nhà kết hôn. Sau đó họ phải trải qua quá trình kiểm tra kỹ năng, trong đó "Thêu" (繡) là loại kĩ nghệ hàng đầu của cung nữ, và cũng là công việc chủ yếu của họ sau khi vào cung. Bên cạnh đó, triều đình còn quan sát thân thể và dáng vẻ, người nào không hợp tắc sẽ trả về, ai được chọn sẽ được học lễ nghi, đọc sách và viết chữ, ai ưu tú thì được hầu hạ Thái hậu hoặc Hoàng hậu, không thì Phi tần và Quý nhân trở xuống. Quy trình tuyển Tú nữ của Nội vụ phủ giống như Kỳ phân Tá lĩnh, chỉ là địa điểm đỗ xe là ở Địa An môn (地安門).
Như đã đề cập ở trên, bởi vì là "Nội vụ phủ tuyển tú" là tuyển chọn cả con gái quan viên lẫn nhà bình dân trong tầng lớp Bao y, cho nên cũng có trường hợp tiểu thư nhà quan phải vào hầu cận, mà chủ tử lại có thân phận còn kém hơn cung nữ, hoặc cung nữ có thân phận quá kém không xứng hầu hạ những vị cao quý như Thái hậu cùng Hoàng hậu. Từ thời kỳ Ung Chính thì triều đình đã nhận thấy vấn đề này nên đã ra ghi định, căn cứ theo Quốc triều cung sử (国朝宫史) ghi lại, các cung nữ hầu hạ cho tước Tần trở lên tắc phải được tuyển từ con nhà Thế gia trong tầng lớp Bao y, còn những Hậu phi chỉ là dạng Ngự thiếp như Quý nhân và Thường tại thì mới tuyển các con gái Bái đường a, Giáo úy, Hộ quân hay Phi giáp có thân phận nhàn tản vào hầu hạ. Tới triều Càn Long, con gái nhà quan chính thức sẽ không được chọn. Khác với các triều đại trước, thì các Hoàng đế triều Thanh không có cung nữ hầu mà chỉ có Thái giám, như bản thân Thanh Thánh Tổ trong Đình huấn cách ngôn (庭训格言) có nói:「"Vào thời Minh, cung nữ trong cung có mấy nghìn người, tiền son phấn phải đến trăm vạn. Nay Trẫm định, Sử nữ trong cung dừng mức 300 người, những người chưa hầu cận Trẫm, tuổi khi 30, xuất cung và cho hôn phối"」. Cho nên, việc tuyển chọn cung nữ thời Thanh vào chỉ là để hầu cận Hậu phi hoặc Thái hậu và Thái phi, hoặc cùng lắm là các Hoàng tử còn ở trong cung, vì thế số lượng cung nữ triều Thanh thông thường rất ít, cao lắm là hơn 300 người một chút trong tổng thời gian, do vậy mỗi lần tuyển chọn cung nữ đều không quá 100 người. Căn cứ hồ sơ tuyển cung nữ thời Đồng Trị và Quang Tự có ghi lại, mỗi lần tuyển cung nữ thì nhân số đại khái 80 người.
Phân phối cung nữ triều Thanh không cố định, gần như mỗi triều lại có mức khác nhau. Đây là mức thường thấy nhất:
Đời sống của cung nữ thời Thanh tương đối hạn chế, bởi vì số lượng rất ít, thời điểm cao nhất thì toàn bộ Tử Cấm Thành chỉ có khoảng 300 người, mà công việc của họ chỉ phục vụ Hậu phi, cho nên quy tắc kiềm chế cho họ cũng gắt gao. Sách Cung nữ đàm vãn lục (宫女谈往录) thời Dân Quốc, tuy thông tin phần nhiều bị nghi ngờ về độ khả tín, thế nhưng đại khái cũng có ý đúng về cuộc sống nghiêm ngặt của cung nữ triều Thanh. Trong sách có một quy tắc chuẩn xác được ghi lại, cung nữ không được tùy tiện rời khỏi cung điện mà mình phục vụ, khi rời khỏi thì nhất thiết phải có ít nhất 2 người cùng đi.
Khác với các chủ nhân ở hậu cung, cung nữ đời nhà Thanh chỉ phải ở trong cung đến 25 tuổi là có thể xuất cung, được ban hôn cho quan viên Bao y và sống như những người phụ nữ bình thường khác, lấy chồng sinh con... Cũng có những trường hợp cung nữ không có chỗ để đi, triều đình cũng sẽ sắp xếp cho họ ở trong một dãy phòng riêng trong Tử Cấm Thành. Khi ấy, họ trở thành những cung nữ lớn tuổi với kính xưng "Cô cô" (姑姑), không cần làm việc gì mà chỉ nhận mức chu cấp theo quy định, thỉnh thoảng họ còn sẽ được giao hướng dẫn nghiệp vụ cho các cung nữ trẻ tuổi. Cá biệt có một số cung nữ sẽ được lâm hạnh mà trở thành Hậu phi, ví dụ như Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy thị vốn là một cung nữ của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, được Hiếu Hiền hậu "tiến cử" mà trở thành Hậu phi; hoặc là được phái hầu hạ phòng the cho Hoàng tử và khi Hoàng tử ấy đăng cơ thì cũng trở thành Hậu phi, giống như Hòa phi Na Lạp thị triều Đạo Quang. Còn có những trường hợp như được ban làm nha hoàn hồi môn cho Công chúa, hoặc ban làm thiếp cho quan thần Kỳ phân Tá lĩnh, ví dụ Kỷ Hiểu Lam từng được ban hai cung nữ làm thiếp. Sau khi ra khỏi cung, người cung nữ đó không được phục tiến, không được đến cửa cung thỉnh an, nhưng cũng có lệ cung nữ được sủng ái, sau khi ra khỏi cung cũng được triệu về trở lại trong một thời gian. Lời đồn rằng, cung nữ Song Hỉ (雙喜) của Từ An Thái hậu từng được gọi vào trở lại. Hay cung nữ Vinh Tử (荣子) của Từ Hi Thái hậu, từng chỉ hôn cho một viên Thái giám, sau được triệu hồi trở lại.
Tuy thân phận hầu hạ, nhưng người Bao y trong xã hội đời Thanh đều là "Lương dân", cho nên không thể tự tiện lăng nhục. Theo quy định trong cung đình nhà Thanh, các cung nữ nếu bị tội thì sẽ bị phạt quỳ, phạt trượng đánh, nếu phạm đại tội bất nghịch thì cao lắm là đuổi khỏi cung, không thể tự ý giết chết. Dù cho bị phạt, thì có một quy tắc chính là không thể phạt đánh vào mặt cung nữ, còn ngoài ra thì dùng trượng đánh, hay bị kim chích làm đau cũng thường xuyên xảy ra. Hành hạ cung nữ quá mức sẽ khiến Hậu phi bị luận tội, như Đôn phi Uông thị của Cao Tông từng đánh chết cung nữ mà bị trách phạt và giáng xuống làm Tần. Ngoài ra, tuy các vị Hậu phi có quyền xử phạt cung nữ của mình, nhưng đối với cung nữ của người khác thì chỉ có 「"Quyền hạch tội"」, tất cả những chuyện đưa ra phán quyết đều phải chờ Hoàng đế quyết định, đến cả Thái hậu cũng không thể tùy tiện thay Hoàng đế quyết định. Nếu cung nữ bị tội danh xác đáng, tất cả phải thông qua lấy khẩu cung từ Thận hình ty, sau đó quan viên cấp cao của Nội vụ phủ dâng lên và Hoàng đế mới ra quyết định sau cùng. Bởi vì cung nữ đều là "Lương dân", hầu như rất ít hình phạt giết chết. Trong cung đình triều Thanh đặc biệt có một việc, khi Đổng Ngạc phi chết, Thế Tổ từng đem 30 cung nữ tuẫn tang, về sau thời Khang Hi thì triệt để bỏ đi quy tắc này.
Hán phi.
Trong hậu cung triều Thuận Trị, Khang Hi và Càn Long, bên cạnh các Tú nữ và các Cung nữ tử, hậu cung triều Thanh còn có xuất hiện một dạng Hậu phi xuất thân không phải người Bát kỳ, tức không thuộc Bao y hay Kỳ phân Tá lĩnh. Với xuất thân này, họ không vào cung qua các đợt tuyển chính thức như Bát kỳ tuyển tú hay Nội vụ phủ tuyển tú, mà đều được dâng vào cung làm Cung nữ tử, sau mới được sủng hạnh làm Hậu phi, rồi mới được nâng thân phận gia tộc thành Bao y. Khi thảo luận về Hậu phi triều Thanh, các thành viên mạng xã hội Trung Quốc hiện đại gọi họ là các Hán phi (汉妃). Cần lưu ý rằng đây không phải thuật ngữ chính thức xuất hiện trong thư tịch cổ, mà nó được người hiện đại dùng để chỉ đến những Hậu phi có xuất thân kể trên.
Khái niệm 「"Hán phi"」 này có khác với cái khái niệm 「"“Hậu phi vốn là người Hán”"」. Như ở phần "Khái quát" bên trên đã đề cập qua, vào đời Thanh cho dù là Hán Quân Bát kỳ, Mông Cổ Bát kỳ hay Mãn Châu Bát kỳ, thì trên phương diện gốc tích họ đều được xem là "Người Bát kỳ" hoặc 「Kỳ nhân」. Theo ý tứ này, không cần xét dân tộc tính là người Mãn, người Hán hay người Mông Cổ đi nữa, người đời Thanh khi đã có Kỳ tịch thuộc Bát kỳ thì đều đã là người Bát kỳ, đều hưởng quyền lợi bình đẳng như nhau. Còn những người khác đều không có Kỳ tịch, mà hộ khẩu của họ là "Dân tịch" do bộ Hộ quản lý, do đó họ còn gọi là "Dân nhân", và cũng vì đại đa số trường hợp có Dân tịch đều là người Hán nên họ còn được gọi là「Hán nhân」, dù thực tế trong tầng lớp "Dân nhân" còn có các dân tộc khác, như người Hồi Hột, người Tây Tạng hay thậm chí là người dân tộc thiểu số. Cho nên, Hậu phi xuất thân Hán Quân Bát kỳ, ví dụ Đôn Túc Hoàng quý phi Niên thị cùng Ninh phi Võ thị của Ung Chính, hoặc có xuất thân là dân tộc Hán thuộc Kỳ tịch Bao y như Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy thị của Càn Long, đều không thể xem là "“Hán phi”" được.
Trên mạng xã hội Trung Quốc đầy truyền thuyết về Hán phi trong cung đình triều Thanh, có hai thuyết chính hay được nói nhiều nhất là ["Không thể lập Hán phi làm Hậu"] và ["Đời Thanh không tồn tại Hán phi bởi vì khi nhập quan Hiếu Trang Thái hậu đã ra chỉ dụ cấm Hán nữ nhập cung"]. Tuy nhiên trong hồ sơ Mãn văn được tìm thấy, chỉ dụ này không thấy tồn tại, thứ hai thì "“Hán phi”" thực sự được ghi nhận trong cung đình triều Thanh. Đời Thanh, cả ba vị Hoàng đế là Thuận Trị, Khang Hi và Càn Long đều nổi tiếng có nạp Hán phi. Với Thuận Trị, là nói đến Khác phi Thạch thị, năm Thuận Trị thứ 5, Thuận Trị Đế hạ hai đạo ý chỉ về Mãn-Hán liên hôn, có nói:「"“Quan Mãn Châu cưới con gái người Hán làm vợ đều báo lại. Còn người thường không cần báo”"」, đặc biệt sau đó Thuận Trị Đế còn tự "“thử nghiệm”" mà tuyển Hán nữ nhập cung phong làm phi tần. Khi ấy, Thạch thị từ Loan Châu xứ Hà Bắc, Trung Quốc mà được chọn, vào cung phong Phi, cư ngụ tại Vĩnh Thọ cung, còn cho phép dùng quần áo người Hán.
Từ thời Khang Hi, vì quan niệm 「"Môn đăng hộ đối"」, việc hai loại "Kỳ nhân" và "Hán nhân" không liên hôn dần thành lệ bất thành văn, cho nên tình huống quang minh chính đại nghênh thú các Hán phi triều Thanh cũng dần thu hẹp. Một ít hồ sơ trong cung cho thấy, Khang Hi Đế cùng Càn Long Đế, đã thông qua các quan viên địa phương ở Giang Nam mà mua về một số cô gái trẻ, đều xuất thân là con nhà nghèo hèn, vào cung dạy dỗ mà làm Cung nữ tử. Những cô gái ấy lớn lên, liền được mệnh cho Hoàng đế lâm hạnh mà trở thành Hậu cung chủ vị hay ban cho Hoàng tử làm Tỳ thiếp. Nhưng do vấn đề về tính chất bảo quản hồ sơ thời Thanh sơ kỳ, nhiều xuất thân của các Hậu cung chủ vị triều Khang Hi rất không rõ ràng. Căn cứ theo suy đoán mà đại đa số nghi ngờ, thì "“Hán phi”" triều Khang Hi có Hy tần Trần thị hoặc Tương tần Cao thị, đều có thể là Cung nữ tử người Hán được lâm hạnh. Trái lại, việc Càn Long Đế nạp các vị "Hán phi" lại có khá nhiều hồ sơ ghi lại rõ ràng, ai cũng đều có thể tra ra và biết đến, cụ thể phải kể đến Thuần Huệ Hoàng quý phi, Khánh Cung Hoàng quý phi, Phương phi, Di tần, Cung tần và Lộc Quý nhân. Các vị trên sau đó đều được Càn Long Đế tạo hồ sơ giả, cả nhà đều được đưa vào thân phận Nội vụ phủ Bao y và trở thành người Bát kỳ có kỳ tịch chính thức. Ngoài ra, cũng có một số xuất thân từ Bộ tộc gốc Duy Ngô Nhĩ hoặc Mông Cổ đến quy phụ, bọn họ đều trải qua vị trí Cung nữ tử trước rồi sau đó mới được sách phong, nếu xét theo ý nghĩa đều có thể xem là một dạng của "Hán phi". Ví dụ có Dung phi Hòa Trác thị, Dự phi Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị và Tuân tần Quách thị triều Càn Long.
Phương thức mua Hán nữ từ Giang Nam đến triều Gia Khánh thì bãi bỏ. Với cách làm này của các vị Hoàng đế nhà Thanh cũng đã thấy rõ, Hán nữ xuất thân bình dân có thể mắt nhắm mắt mở đưa vào, còn ghi vào hồ sơ và thậm chí là cải hồ sơ thành người Bát kỳ chính gốc. Thế nhưng cuối cùng họ đều phải đưa về hệ thống Kỳ tịch, hơn nữa phương thức có phần không hề quang minh chính đại như Bát kỳ tuyển tú, cái khái niệm "“Hán phi”" đời Thanh cũng không tồn tại chính thức nhưng lại là một loại "“Ngầm đồng ý”" vậy.
Sinh hoạt.
Vai trò Hậu phi.
Trong phim ảnh và tiểu thuyết, lối sống của Hậu phi nhìn chung bị lý tưởng hóa quá mức. Do ảnh hưởng từ cách đối đãi từ hậu cung nhà Minh, triều Thanh cũng khắt khe với Hậu phi. Tuy rằng họ căn bản là ăn uống không lo, nhưng họ căn bản không có quyền hành, cũng không có ảnh hưởng chính trị nếu không có địa vị như Từ Hi Thái hậu, cuộc sống của họ phụ thuộc vào quyết định từ Hoàng đế.
Sách Thanh triều xuyên việt chỉ nam (清朝穿越指南) của học giả Quất Huyền Nhã (橘玄雅) có chỉ ra rằng, sau khi vào cung thì Hậu phi không thể liên lạc với nhà mẹ. Việc người nhà thăm Hậu phi là gần như không thể, mà chỉ tùy theo "Đặc chỉ" trong một dịp nào đó, Hậu phi mới có thể cùng nhà mẹ gặp một chút. Khi Hậu phi có thai, ngoài việc được triều đình chu cấp bà đỡ (Lão lão) và các Thái y, Hoàng đế sẽ thường ân chuẩn cho người nhà của Hậu phi vào thăm, đây được xem là một đặc ân vì có công lao sinh hạ Hoàng tự cho hoàng thất. Còn ngoài ra, dẫu gia đình có chuyện đến tan cửa nát nhà, Hậu phi chỉ có thể được cho phép phái một thái giám hay một cung nữ thân cận đến nhà mẹ đẻ mà an ủi. Đến khi Từ Hi Thái hậu nắm quyền, những quy tắc này tuy cũng giảm bớt nhưng không thể hoàn toàn bị bãi bỏ, cho thấy đến cả Thái hậu cũng không có tư cách bỏ là bỏ.
Về vấn đề tài sản và lương bổng, sau khi vào cung thì Hậu phi không thể mang bất cứ vật gì hoặc người hầu riêng từ nhà mẹ vào cung, và Hậu phi mỗi tháng nhận lương thường chỉ có thể dùng ban cho thái giám hay cung nữ, không thể mang ra ngoài đưa cho nhà mẹ. Cao Tông từng có một chỉ huấn về việc này:
Chỉ dụ trên rõ ràng cho thấy, Hậu phi triều Thanh 「Chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu」 với bất kỳ vật dụng nào trong cung. Đây cũng là một đặc điểm cực kỳ gắt gao trong lối sống của cung đình triều Thanh. Đến mỗi khi hậu cung chủ vị có sinh nhật, Hoàng đế đều chỉ đặc biệt gia ân ban thưởng.
Về phương diện sự vụ Nội đình, tuy rằng Hoàng hậu là 「"Chủ nội trị"」 và Phi tần là 「"Tá nội trị"」, thế nhưng các Hậu phi triều Thanh hoàn toàn không có quyền can thiệp như nhiều sự ngộ nhận cùng lầm tưởng qua tiểu thuyết hay phim ảnh. Thực tế, mọi việc vận hành trong Nội đình đều do Nội vụ phủ quản lý cùng phân phối, từ vấn đề lương thực, sinh hoạt, nhu phẩm và nhân sự như cung nữ đều rơi vào sự xử lý của Nội vụ phủ. Ví dụ như thông lệ cung nữ phục vụ đến 25 tuổi thì có thể xuất cung, cả quá trình đều sẽ do Nội vụ phủ đến trực tiếp từng cung điện mà lên danh sách những ai đạt tiêu chuẩn, tiến hành đối chiếu cùng xác thực, sau đó mới dâng lên cho Hoàng đế ra quyết định sau cùng. Quy trình hoàn toàn không dính dáng một chút gì đến Hoàng hậu có tiếng "Chủ nội trị" hay một Phi tần có quyền "Tá nội trị" nào cả. Những điều này có thể thấy được vai trò Hậu phi trong triều Thanh không liên hệ gì đến 「"Xử lý nội sự"」 một cách thực tế, mà chủ yếu ở phương diện lễ tế (như Thân tàm lễ), hầu hạ Hoàng thái hậu và Hoàng đế, duy trì nếp sống tiết kiệm trong hậu cung, và còn vai trò thiên về hình thức là "làm gương" cho phụ nữ trong thiên hạ. Bỏ qua những khía cạnh gò bó và nặng giáo điều sáo rỗng này, thì cuộc sống của Hậu phi triều Thanh tương đối sung sướng khi ăn mặc cơ bản không cần lo, họ có thể tiếp cận nhiều loại hình giải trí như thăm Ngự hoa viên, đánh đàn, trò chuyện, hay nếu trong cung có tổ chức Kinh kịch thì đều có thể cùng với Hoàng đế thưởng thức.
Về phương diện gia đình, khi con gái một nhà nào đó vào cung làm Hậu cung chủ vị, đặc biệt là Hoàng hậu, thì rất có cơ hội cho gia tộc được đề cao dòng dõi. Đây chính là việc được nâng Kỳ tịch, được ban đất đai cùng các loại tước vị, từ đây cũng trở thành tiền đề cho nhiều nhà tiến vào hàng Thế gia và có con đường hôn nhân "“Vòng luân Thế gia”" trở nên rộng mở. Có thể thấy, thiện đãi nhà ngoại của Hậu phi là thiên về phú quý mà không có thực quyền như ngoại thích đời Hán, họ nhìn nhận đây là bàn đạp để một nhà bình thường cũng có thể trở thành Thế gia, từ đó có thể duy trì sung túc qua liên hôn với các nhà Thế gia chính gốc của Bát kỳ, hoặc tiếp tục thông hôn với Vương phủ hoàng tộc. Cho nên ở đời Thanh, cũng không phải không có nhà muốn đưa nữ nhân của mình hầu trong cung, nhưng đó đều là các Thế gia hết thời xuống dốc, hay các nhà không có căn cơ muốn đổi đời, muốn làm 「"“Tân quý”"」 mà thôi. Còn đại đa số gia đình người Bát kỳ không hy vọng con gái mình vào cung làm chủ vị làm gì, bởi vì tuy vào cung là hưởng phú quý, song là cả đời vĩnh viễn mất cha mẹ cùng nhà cửa, chưa kể nhà Thanh luôn đề phòng ngoại thích, gia tộc đang hưng thịnh còn bị hạn chế đường thăng tiến nếu có con gái làm Hậu phi, họ chỉ thắng về "quý" chứ không có "quyền" như ngoại thích triều Hán.
Ngoài ban tước hiệu và nhà cửa cùng đất đai, nhà ngoại thích của Hậu phi đều phải dựa vào thực lực để có thực quyền, chẳng hạn như Sa Tế Phú Sát thị của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu có thể có nhiều người đạt chức quan cao do tự bản thân người trong tộc có chiến công, nhất là Phó Hằng. Dân gian có câu nói về các vị Tú nữ như sau:「"“Khứ thất gia, từ phụ mẫu, dĩ nhập cung cấm. Quả đương tuyển, tức chung thân u bế, bất phục kiến kỳ thân, sinh ly tử biệt”"; 去室家,辞父母,以入宫禁。果当选,即终身幽闭,不复见其亲,生离死别」. Cho nên mới nói, người Bát kỳ có rất nhiều thơ mừng em gái, con gái nhà mình được "may mắn" cho lược thẻ bài.
Xưng hô.
Vấn đề xưng hô, Thanh triều xuyên việt chỉ nam chỉ ra, các Thái giám cung nữ đều gọi Hậu phi với hậu tố 「Chủ tử; 主子」, như Hoàng hậu thì là "Hoàng hậu chủ tử", nếu là Phi tần thì là danh vị hoặc phong hiệu kèm theo, như Hoàng quý phi thì là "Hoàng quý phi chủ tử", Huệ phi thì là "Huệ phi chủ tử" hoặc "Huệ chủ tử". Một số ghi chép khác còn cho thấy 「Tiểu chủ; 小主」 (từ "Cung nữ đàm vãng lục"), 「Tiểu chủ nhi; 小主兒」 (từ "Trân phi mệnh án") hoặc 「Chủ phi; 主妃」 (từ "Hai vị cô mẫu Cẩn phi, Trân phi của tôi"), dù những danh xưng này không thông dụng lắm và có ý kiến tranh cãi, có thể chỉ dành riêng cho Thái giám, cung nữ thuộc về cá nhân Hậu phi ấy gọi như vậy.
Căn cứ theo một số hồ sơ về việc dùng than và Để đương ghi chép về phân vị trong cung, thì từ Hoàng hậu lẫn Phi tần ngẫu nhiên được các nô tài gọi chung là 「Nương nương; 娘娘」, không phân biệt dù cho là Thường tại hay Hoàng hậu. Các Hoàng tử, Công chúa hay ngoại thần đối với các vị Hậu phi có Hoàng tử đều sẽ gọi là 「Ngạch niết; 额捏」 kèm vị hiệu của Hậu phi ấy, và điều này duy trì tận khi các vị Hậu phi đã là góa phụ. Ví dụ như Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy thị trong thời gian còn là Hoàng quý phi, đã được gọi là "Hoàng quý phi ngạch niết" vì bà là sinh mẫu của các Hoàng tử, Lương phi Giác Thiền thị từng được Ung Chính Đế gọi là "Lương phi ngạch niết" trong văn bản chữ Mãn. Trong văn bản chữ Hán, cách gọi "Ngạch niết" thường được dịch thành 「Mẫu phi; 母妃」 hoặc 「Phi mẫu; 妃母」, bởi vì "Ngạch niết" có nghĩa là mẹ. Nếu Hậu phi không có con hoặc chỉ có con gái, họ đều sẽ được gọi là "Nương nương", ví dụ có Dĩnh Quý phi Ba Lâm thị từng được Nhân Tông gọi là "Dĩnh phi nương nương" trong bức thư hỏi về may mặc cho Thái thượng hoàng Càn Long. Bên cạnh đó, Hoàng hậu dù có con hay không, thì vẫn là 「"Hoàng hậu ngạch niết"」 đối với tất cả Hoàng tử Công chúa.
Về phương diện tự xưng, các vị Hậu phi khi trước mặt Hoàng đế và Thái hậu, hoặc Phi tần đứng trước Hoàng hậu, cũng nhất loạt tự xưng 「Nô tài; 奴才」 - một dạng xưng hô của người dưới với "chủ nhân" vào đời Thanh, điều này xuất phát từ ảnh hưởng của chế độ Bát kỳ. Riêng trong sinh hoạt hằng ngày, các Hậu phi đều tự xưng theo Đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất, phiên ra Hán ngữ tương ứng là 「Dư; 予」 hoặc 「Ngô; 吾」, hoặc thân thiết hơn thì gọi nhau là chị em, còn những từ tự xưng rất thông dụng trên phim ảnh hoặc tiểu thuyết là 「"Bổn cung"」 cùng 「"Thần thiếp"」 lại hoàn toàn không có cứ liệu ghi lại.
Đến với hai người cao nhất trong cung là Hoàng đế và Hoàng thái hậu, thì Hoàng đế được nhóm Hậu phi gọi 「Hoàng thượng; 皇上」, trong khi các nhóm hầu hạ là Thái giám cung nữ lại gọi bằng các xưng hô 「Chủ tử; 主子」, 「Thánh chủ; 圣主」 hoặc 「Vạn tuế gia; 万岁爷」. Bản thân Hoàng đế liền tự xưng là 「Ngã; 我」 tức xưng hô ngôi thứ nhất "Ta", bởi vì trong sinh hoạt thì đời Thanh đều nói âm Mãn, mà âm Mãn tự xưng ngôi thứ nhất đều là "Pi", kiểu xưng 「Trẫm; 朕」 chỉ là hình thức trên văn viết. Đối với Thái hậu, hai từ ["Ngô"] và ["Dư"] cũng được ghi nhận được Thái hậu triều Thanh dùng để tự xưng. Từ Hi Thái hậu được ghi nhận hay tự dùng từ 「Cha gia; 咱家」 để tự xưng, và được phiên thành ["zá jiā"] hoặc ["zǎ jiā"] theo bính âm. Riêng từ 「Ai gia; 哀家」 phổ biến trên phim ảnh và tiểu thuyết lại không hề được ghi chép, từ này được cho là xuất phát từ nghệ thuật sân khấu Hí khúc vào cuối đời Thanh.
Hậu cung đối với Hoàng thái hậu đều gọi 「Thái hậu ngạch niết; 太后额捏」 hoặc "Ngạch niết" bình thường, sang cuối thời Thanh thì lại thịnh hành dùng một danh từ trộn lẫn Hán-Mãn là Hoàng ngạch nương (皇额娘). Riêng những người hầu như Thái giám và Cung nữ tử, họ đều gọi là 「Thái hậu chủ tử; 太后主子」 cùng 「Lão tổ tông; 老祖宗」. Sang thời kỳ cuối của nhà Thanh, Từ Hi Thái hậu được các quan viên và nô tài trong cung gọi bằng một danh từ gây tranh cãi là 「Lão Phật gia; 老佛爷」. Xuất xứ của danh xưng này có nhiều tranh cãi, trước mắt theo nhận định của nhóm học giả Thanh sử thì có lẽ là một dạng xưng hô biến hóa của danh xưng ["Chủ tử"] và ["Phật gia"], những danh xưng đặc thù của người Mãn Châu gọi riêng Hoàng đế, như vậy "Lão Phật gia" biểu thị địa vị của Từ Hi Thái hậu ngang bằng hoặc vượt trội hơn Hoàng đế. Trong khi đó, Đức Tông lại đặc biệt gọi bà là 「Thân ba ba; 亲爸爸」, đây được cho là do ảnh hưởng kiểu 「"Nữ dĩ nam luận"」, tức hiện tượng đem vai vế phụ nữ cao hơn hoặc bằng đàn ông đối với người gọi, một hiện tượng khá phổ biến trong các gia đình Bát kỳ, nhất là từ Trung kỳ về sau.
Các hạ nhân.
Trong hậu cung triều Thanh, ngoài Thái giám và Cung nữ, thì còn vô số các hạng người khác. Trong khi các Cung nữ tử có nhiệm vụ hầu hạ gần gũi với Hậu phi, công việc chủ yếu là thêu thùa và sắp xếp đồ vật, thì Thái giám có thân phận rất thấp nên phải xử lý các vấn đề tạp dịch linh tinh, như quét tước dọn dẹp trong sân đình. Bên cạnh đó, Hậu phi triều Thanh không chỉ có mỗi Thái giám và Cung nữ trực thuộc mình, với một nơi lớn như Tử Cấm Thành thì không thể chỉ dựa vào Thái giám mà vận hành những công việc nặng hoặc quá mức phức tạp như làm đồ thủ công, cho nên mọi vấn đề đều có các thân phận chuyên môn.
Chu cấp cho sinh hoạt của Hậu phi là nhóm Nội Quản lĩnh (內管領), hay còn gọi là nhóm Tân giả khố. Khái niệm "Tân giả khố" ý chỉ đến "Một nửa Tá lĩnh", là nói đến những người Bao y được phân vào hộ tịch Quản lĩnh. Nguyên nghĩa của Tân giả khố ý là "“hộ khẩu ăn lương bằng đấu gạo”", thiên về phụ trách mảng lương thực trong hoàng thất. Bên trong giai cấp Bao y, có "Tá lĩnh" cùng "Quản lĩnh" là hai dạng hộ tịch, đều có thể làm quan và làm việc chân chính. Thế nhưng trong khi Tá lĩnh thiên về thân phận "“Tư binh”", thân phận sánh được với nhóm Kỳ phân Tá lĩnh, thì Quản lĩnh lại là "“Gia thần”" đối với hoàng thất. Cho nên, những công việc "“Tiện vụ”" hoặc "“Khổ sai”" trong Hoàng cung hay Vương công phủ đệ đều do những người Quản lĩnh này đảm nhiệm. Đây cũng chính là lý do vì sao, thời Sơ kỳ nhà Thanh thường cho rằng những người Tân giả khố là tương đối đê tiện, dù thực chất họ còn cao hơn Tiện dân gia nô bên ngoài xã hội. Trong cung, nhóm Quản lĩnh được gọi là "Nội Quản lĩnh", phụ trách không chỉ vấn đề vận chuyển lương thực mà còn là gánh củi, gánh nước, nhân sự chuẩn bị các đồ Lỗ bộ như Nghi giá cùng Nghi trượng, thời gian đảm nhiệm là luân phiên theo ca trực. Ngoài ra trong cung còn có một nhóm đàn ông làm tạp dịch được gọi là Tô lạp (苏拉; "sula"), có nghĩa là "Những người nhàn nhã", chỉ đến hạng người thất nghiệp trong Bát kỳ. Trong hệ thống Nội vụ phủ, ngoài hơn 3.000 Thái giám, thì các Tô lạp chính là nòng cốt làm những việc nặng nhọc trong ngoài cung. Khác với Thái giám đã bị hoạn và phục vụ trực tiếp trong Nội cung, các Tô lạp đều là đàn ông có gia đình bình thường, xuất thân từ Nội vụ phủ Bao y. Vì lý do này, khi trong cung có các việc cần đến Tô lạp, hồ sơ trong cung đều phải ghi rõ chỗ nào dùng Tô lạp bao nhiêu người, tốn bao nhiêu tiền ăn, sau đó đều phải báo lên Hoàng đế. Ví dụ hồ sơ năm Càn Long thứ 26, tháng 10, việc dùng Tô lạp được ghi lại hơn 40 lần, chẳng hạn:「"“Thu thập đồ vật ở Mậu Cần điện dùng Tô lạp 4 tên... Đưa tế phẩm đến Khôn Ninh cung vãng đường dùng Tô lạp 12 tên”"」.
Căn cứ cuốn sách Khâm định Đại Thanh hội điển tắc lệ (欽定大清會典則例) quy định, cung thất của Hậu phi đều có số Nội Quản lĩnh và Tô lạp cố định, cụ thể thì:
Ngoài ra là các nhóm Phụ nhân (婦人) cùng Tố công nữ tử (做工女子). Đây là hai khái niệm do nhà nghiên cứu Quất Huyền Nhã tạm thời đưa ra, bởi vì văn bản triều Thanh hoàn toàn không gọi chung như vậy mà là rất nhiều khái niệm riêng, có những khái niệm bị trộn với nhóm cung nữ.
Tuy rằng Thái giám có chuyên chức hầu hạ và sai dịch lặt vặt, phần nhiều không là những việc không đụng đến kỹ thuật, những chuyện cần kỹ thuật căn bản không thể sử dụng Thái giám. Số lượng Thái giám trong cung nhà Thanh, tuy có hơn 3.000 người nhưng lại là con số rất bé nhỏ nếu so với nhà Minh, cũng là bởi vì nhà Thanh có một lượng lớn "Nội vụ phủ Bao y hạ nhân" chuyên việc tạp vụ như vậy, đây cũng là điểm đặc biệt của cung đình triều Thanh.
Quy trình lễ sách.
Sách lập Hoàng hậu.
Lễ sách lập của Hoàng hậu triều Thanh, theo Quốc triều cung sử do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và Trương Đình Ngọc soạn thảo.
Sách phong Phi tần.
Lễ sách phong của Phi tần triều Thanh, theo Quốc triều cung sử do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và Trương Đình Ngọc soạn thảo.
Trở lên là quy trình chung của [Hoàng quý phi] đến Tần, Quý nhân trở xuống không có lễ sách phong. Những thay đổi của từng phân vị khác nhau:
Niên hiệu Sùng Đức thời Hoàng Thái Cực, sách lập Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu cùng sách phong Tứ phi là Thần phi Hải Lan Châu, Quý phi Na Mộc Chung, Thục phi Ba Đặc Mã Tảo và Trang phi Bố Mộc Bố Thái, Hoàng Thái Cực đã cho làm lễ [Khánh hạ; 慶賀] cho cả triều đình chúc mừng. Trong dịp ấy, Công chúa, Vương phi và Mệnh phụ nhập triều bái lạy Hoàng hậu bằng [Lục túc tam quỵ tam bái lễ; 六肃三跪三拜礼], đồng thời cũng bái lạy Tứ phi bằng [Tứ túc nhị quỵ nhị khấu lễ; 四肃二跪二叩礼]. Sang thời Ung Chính, ông lập Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu và cử hành Khánh hạ, do đó Đôn Túc Hoàng quý phi Niên thị cũng được vinh dự nhận lễ từ các mệnh phụ vào triều bái. Đến triều Càn Long, lễ sắc phong của Cao thị được làm ngay lễ sách lập của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, do đó Càn Long Đế căn cứ theo tiền lệ của Đôn Túc Hoàng quý phi, cho phép Quý phi Cao thị được hưởng quy lễ nhận bái kiến của Công chúa, Thân vương Phúc tấn và Cáo mệnh phu nhân với lễ bái [Tứ túc nhị quỵ nhị khấu lễ].
Năm Càn Long thứ 14 (1749), sách phong Nhàn Quý phi Na Lạp thị làm "Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự", nghi thức [đều như sách lập Hoàng hậu], do đó có được hưởng Khánh hạ, chúc mừng từ quan viên và hưởng lễ bái lạy [Lục túc tam quỵ tam bái lễ] từ Phi tần, Công chúa, Vương phi và các Mệnh phụ. Đây là lần đầu tiên và duy nhất, một Phi tần triều Thanh có được lễ tuyên sách vị hiệu chính thức lại dùng đại điển như của một Hoàng hậu.
Phân vị trong cung.
Lương bổng.
Cứ theo Cung trung tạp kiện (宫中杂件), Hậu phi nhà Thanh có lương bổng và thiện đãi nhất định, ngoài lượng bạc thì còn có các nhu yếu phẩm, hơn kém tùy vào cấp độ.
Đơn vị đo lường:
Hồng La than (红罗炭): loại than đá chuyên sử dụng trong cung đình thời nhà Minh và nhà Thanh, làm bởi xưởng Hồng La ngay ngoài cổng Tây An. Than Hồng La được làm từ các cây gỗ cứng của phủ Thuận Thiên, làm theo quy trình nghiêm ngặt được giám sát bởi bộ Lễ. Tính chất của loại than này là cháy lâu, lửa nóng, khi cháy không mùi không khói phù hợp yêu cầu của cung đình.
Phẩm phục.
Triều phục.
Đối với một Hậu phi nhà Thanh, trang phục vào dịp sắc phong hoặc đại lễ luôn được yêu cầu, không chỉ thể hiện vinh quang của nhà Thanh, mà còn thể hiện địa vị của vị phi tần đó. Theo quy định nhà Thanh, một lễ phục cơ bản của Hậu phi là: Triều quan (朝冠), Kim ước (金约), Nhị ước (珥约), Lãnh ước (领约), Triều châu (领约), Thải thuế (彩帨), Triều quái (朝褂), Triều bào (朝袍), Triều váy (朝裙) cùng Triều ủng (朝靴) mười loại tạo thành.
Chủ yếu quần áo từ ngoài vào trong, phân biệt là: Triều quái, Triều bào và Triều váy 3 thứ. Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều giống nhau, đơn giản vì danh xưng Thái hậu ý chỉ "“Hoàng hậu của Tiên đế”" nên trang phục cùng Hoàng hậu đồng dạng. Xuống dưới tần phi tước Tần trở lên và mệnh phụ cấp cao mới cùng giống, và cũng chỉ có Tần trở lên mới có Triều quái, Triều bào, Triều quan mà thôi.
Cát phục.
Khác với Triều phục phải dịp trọng đại vinh hiển mới được mặc, còn thì những việc hỉ hay cần trang trọng một chút, các Hậu phi đều mặc một thứ phục sức gọi là Cát phục (吉服). Trong các triều đại Trung Quốc, chỉ có nhà Thanh là chính thức quy định loại phục sức này, dù trước đó nhà Minh đã hình thành khái niệm rồi. Loại phục sức này cơ bản giống loại tiếp theo gọi Thường phục, nhưng hoa văn trang sức mỹ lệ, nên còn gọi là Thải phục (彩服) hay Hoa y (花衣). Một bộ Cát phục bao gồm: Long quái (龙褂) mặc ngoài và Long bào (龙袍) mặc bên trong.
Quy định về Cát phục của các bậc Hậu phi cụ thể như sau:
Án theo lễ chế, Cát phục sẽ có Cát phục quan (吉服冠). Loại Cát phục quan này, có thể thấy giống với mũ nam giới, đầu là dạng mũ chóp lông đỏ, có thể tùy theo cấp bậc mà có điểm trang sức. Song trong các tranh họa thời kỳ này cũng có người không đội mũ mà chỉ biện tóc, tùy ý cài thêm hai ba loại trang sức. Lại có người dùng khăn đen phủ đầu, cài trâm. Sau này, loại khăn đó hình thành và đỉnh điểm ở thời Càn Long, đã ra Điền tử (钿子), một trong những loại phúc sức tiêu biểu của phụ nữ quý tộc nhà Thanh.
Điền tử về sau ngày càng gắn lên đó nhiều trang sức, trở thành một loại "“Cát phục quan”" không có trong điển lễ. Điền tử này trải qua quá trình biến đổi hình dạng, cuối cùng thành hình thể "“thiên can”" (挑杆) là hoàn chỉnh. | 1 | null |
Molluscum contagiosum (MC) là một bệnh nhiễm da do virus hoặc đôi khi màng nhầy, đôi khi được gọi là mụn cóc nước. Nó được gây ra bởi một poxvirus DNA được gọi là "molluscum contagiosum virus" (MCV. MCV không có natural reservoir không phải con người (chỉ lây nhiễm cho con người). Có bốn loại của MCV, MCV-1 đến -4; MCV-1 là phổ biến nhất và MCV-2 thường được nhìn thấy ở người lớn và thường lây truyền qua đường tình dục. Bệnh do virus phổ biến này có một tỷ lệ cao hơn ở trẻ em, người lớn có hoạt động tình dục, và những người suy giảm miễn dịch, và nhiễm trùng phổ biến nhất ở trẻ em từ 1-10 tuổi. MC có thể ảnh hưởng đến bất kỳ khu vực của da. nhưng phổ biến nhất trên các thân cây của cơ thể, tay và chân. Nó được lan truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc các mục được chia sẻ như quần áo hoặc khăn tắm.
Virus này truyền thông qua tiếp xúc da với nhau. Điều này bao gồm quan hệ tình dục hoặc chạm hoặc gãi da gà và sau đó chạm vào da. Xử lý các đối tượng có virus nào (fomite), chẳng hạn như một chiếc khăn, cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng. Virus có thể lây lan từ một phần của cơ thể khác hoặc cho người khác. Vi rút này có thể lây lan ở trẻ em chăm sóc ban ngày hoặc ở trường. Molluscum contagiosum lây truyền nhiễm cho đến khi chỗ da sưng không còn nữa (đó, nếu không được điều trị có thể kéo dài đến 6 tháng hoặc lâu hơn).
Thời gian từ nhiễm trùng đến sự xuất hiện các tổn thương có thể dao động lên đến 6 tháng, với thời gian ủ bệnh trung bình giữa 2 và 7 tuần.
Phụ nữ cạo lông mu dễ bị lây nhiễm bệnh này khi quan hệ tình dục. | 1 | null |
Sở thú Bronx nằm ở the Bronx của Thành phố New York, trong công viên Bronx. Đây là một trong những vườn thú đô thị lớn nhất thế giới, với khoảng 4.000 loài động vật đại diện cho khoảng 650 loài từ khắp nơi trên thế giới. Sở thú có diện tích 265 mẫu Anh (107 ha) đất công viên và môi trường sống tự nhiên, thông qua đó sông Bronx chảy.
Sở thú Bronx là một phần của một hệ thống tích hợp của các vườn thú và bể nuôi cá được quản lý bởi Hiệp hội bảo tồn Động vật hoang dã (WCS), và được công nhận bởi Hiệp hội các vườn thú và bể thủy sinh Hoa Kỳ (AZA, Association of Zoos and Aquariums).
Lịch sử.
Đại học Fordham sở hữu đất mà đã trở thành vườn thú Bronx và vườn Bách thảo New York. Fordham bán đất cho Thành phố New York với giá chỉ 1000 đô la Mỹ với điều kiện đất được sử dụng cho một sở thú và vườn thực vật, điều này là để tạo ra một bộ đệm tự nhiên giữa sân trường đại học và mở rộng đô thị đã đến gần. Vào những năm 1880, tiểu bang New York dành đất cho phát triển trong tương lai như các công viên. Năm 1895, tiểu bang New York thuê với mục đích thành lập một Hội động vật học New York (sau này đổi tên thành Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã).
Sở thú (ban đầu được gọi là Vườn động vật Bronx và Vườn thú Bronx mở cửa cho công chúng vào ngày 08 tháng 11 năm 1899, có 843 loài động vật trong 22 cuộc triển lãm. Giám đốc sở thú đầu tiên là Heins & LaFarge thiết kế các tòa nhà thường trực ban đầu như là một loạt các gian hàng Beaux-Arts nhóm lại xung quanh hồ bơi sư tử biến tròn lớn. Năm 1934, các cổng tưởng niệm Rainey, được thiết kế bởi nhà điêu khắc nổi tiếng Paul manship, đã được dành riêng như là một đài tưởng niệm để ghi nhận trò chơi lớn thợ săn Paul James Rainey.. Các cánh cổng được liệt kê vào Sổ đăng ký quốc gia các địa danh lịch sử vào năm 1972.
Tháng 11 năm 2006, vườn thú đã mở cửa các nhà vệ sinh thân thiện với môi trường mới bên ngoài cổng sông Bronx. Theo công ty multrum Clivus, việc xây dựng nhà vệ sinh ủ phân được lựa chọn bởi sở thú, các cơ sở này sẽ phục vụ 500.000 người và tiết kiệm 1.000.000 US gallons (3.800.000 l) nước mỗi năm. | 1 | null |
Móng bò tím, lan móng bò hay móng bò hoa tím (danh pháp hai phần: Bauhinia purpurea) là loài thực vật có hoa thuộc họ Đậu, bản địa của Hoa Nam và Đông Nam Á.
Mô tả.
Cây gỗ hoặc cây bụi mọc thẳng, cao 7-10 m. Vỏ màu xám đến nâu sẫm, dày, nhẵn; cành có lông khi còn non, sau nhẵn. Cuống lá 3-4 cm; phiến lá hình tròn, 10-15 × 9-14 cm, cứng như giấy, trục gần như nhẵn, gần trục nhẵn, gân sơ cấp 9-11, gân bậc hai và bậc cao nhô ra, gốc có hình tim nông, đỉnh xẻ đôi đến 1/3-1/2 , thùy hơi nhọn hoặc hiếm khi tròn ở đỉnh. Cụm hoa dạng chùm có ít hoa hoặc chùy có tới 20 hoa, ở nách lá hoặc ngọn. Nụ hoa hình thoi, có 4 hoặc 5 gờ, đỉnh tù. Cuống 7-12 mm. Đài hoa mở thành 2 thuỳ, một thuỳ có 2 răng, thuỳ kia có 3 răng. Cánh hoa màu hồng nhạt, hình thuôn, dài 4-5 cm, có vuốt. Nhị hoa màu mỡ 3 sợi khoảng dài bằng cánh hoa. Nhị lép 5 hoặc 6, 6-10 mm. Bầu nhụy có cuống, mượt như nhung; phong cách cong; đầu nhụy hơi to, có hình vảy. Cây họ đậu tuyến tính, dẹt, 12-25 × 2-2,5 cm; van gỗ. Hạt nén, hình tròn, đường kính 12-15 mm.
Cảnh quan.
Được trồng rộng rãi làm cây cảnh. Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Đài Loan, Vân Nam có lẽ chỉ có nguồn gốc từ Nepal qua gió mùa lục địa châu Á, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam.
Công dụng.
Người bản địa thường dùng loại lan này trị các bệnh về hệ tim. Bằng cách nấu lá,cành,hoa thành thuốc nước uống. Nhân giống bằng cách chiết cành Các hợp chất đã phân lập được từ cây móng bò gồm 5,6-dihydroxy-7-methoxyflavone 6-O-β-D-xylopyranoside, bis [3',4'-dihydroxy-6-methoxy-7,8-furano-5',6'-mono-methylalloxy]-5-C-5-biflavonyl và (4'-hydroxy-7-methyl 3-C-α-L-rhamnopyranosyl)-5-C-5-(4'-hydroxy-7-methyl-3-C-α-D-glucopyranosyl) bioflavonoid, bibenzyl, dibenzoxepin, hỗn hợp phytol fatty ester, lutein, β-sitosterol, isoquercitin và astragalin. | 1 | null |
Cơm nguội rừng hay sếu hôi, riều (danh pháp hai phần: Celtis timorensis) là loài thực vật có hoa thuộc họ Gai dầu. Tên khoa học của loài này lấy từ tên đảo Timor, nơi thu thập được mẫu vật đặc trưng của loài này.
Phân bố.
Cây cơm nguội rừng phân bố ở Nam Á đến Đông Nam Á: từ Ấn Độ và Sri Lanka, qua bán đảo Đông Dương, Hoa Nam và bán đảo Mã Lai đến Philippines. | 1 | null |
Vectidraco là một chi khủng long azhdarchoid từ Hạ Cretaceous của Anh. Nó chỉ được biết đến từ một mẫu xương hông được tìm thấy trên Isle of Wight năm 2009. Mẫu đầu tiên đã được đặt tên "Vectidraco daisymorrisae" theo người tìm ra nó, Daisy Morris của Whitwell, Isle of Wight. | 1 | null |
Pulp Fiction (còn có tên tiếng Việt là "Chuyện tào lao") là một bộ phim tâm lý tội phạm của Mỹ phát hành năm 1994 có bối cảnh quay tại Los Angeles. Phim có sự tham gia của đạo diễn Quentin Tarantino và các diễn viên John Travolta, Bruce Willis, Uma Thurman và Samuel L. Jackson. Bộ phim là một thành công lớn trong sự nghiệp làm phim của Quentin Tarantino và là phim độc lập đầu tiên có doanh thu hơn 200 triệu USD<ref name='vanityfair.com 3/2013'> </ref>. Về mặt giải thưởng, phim giành 1 giải Oscar cho kịch bản gốc xuất sắc (cùng 6 đề cử khác), 1 Quả cầu vàng, 1 cành cọ vàng và rất nhiều giải thưởng khác.<ref name='Thống kê của imdb.com (tới 3/2013)'> </ref><ref name='Thống kê của metacritic.com (tới 3/2013)'> </ref> Viện điện ảnh Mỹ xếp phim này đứng thứ 7 trong cuộc bình chọn những bộ phim gangster hay nhất mọi thời đại. Pulp Fiction được xếp loại R vì bạo lực đẫm máu và sử dụng ma túy, lời thoại tục tĩu và cảnh tình dục.
Nội dung của Pulp Fiction bao gồm nhiều sự "trái khoáy", là một tập hợp các câu chuyện rời rạc, tào lao mà lại vô cùng gắn kết, nó phá vỡ rất nhiều trật tự của điện ảnh đặc biệt khi nói về thế giới tội phạm nước Mỹ nhưng hoàn toàn không có tuyến nhân vật đại diện cho phe chính nghĩa và không thể bỏ qua phần hội thoại gồm nhiều những câu chuyện tào lao và có phần bậy bạ.
Tarantino tuyển Travolta vào "Pulp Fiction" chỉ vì Michael Madsen, người thủ vai Vic Vega trong phim trước của ông là "Reservoir Dogs", từ chối và quyết định sang đóng phim "Wyatt Earp" thay vì Pulp Fiction. Madsen vẫn hối hận vì quyết định này gần 10 năm sau.. Travolta dù chấp nhận thù lao không béo bở - các nguồn cho biết vào khoảng $100,000 và $140,000 — nhưng chính thành công của bộ phim và đề cử Oscar cho nam chính xuất sắc nhất đã hồi sinh sự nghiệp của anh.
Nội dung.
Nội dung của phim xoay quanh những câu chuyện tào lao của các nhân vật trong phim.
Ảnh hưởng.
Nhiều cảnh trong phim đã nhanh chóng trở thành dấu ấn kinh điển; năm 2008, báo "Entertainment Weekly" nói rằng, "You'd be hard-pressed, by now, to name a moment from Quentin Tarantino's film that isn't iconic." (tạm dịch: "Việc tìm kiếm một khoảnh khắc kém hình tượng trong phim của Quentin Tarantino sẽ khiến bạn rất khốn khổ"). Đoạn hội thoại "Hoàng gia và phô mai" của Jules và Vincent trở nên nổi tiếng. Nó được nhắc đến sau gần một thập kỷ rưỡi về sau trong "From Paris with Love". Màn tiêm adrenalin vào tim Mia Wallace lọt vào danh sách 100 khoảnh khắc phim điện ảnh tuyệt nhất do tạp chí "Premiere" chọn.
"Pulp Fiction" được nhiều tổ chức ca ngợi là phim hay mọi thời đại. Năm 2008, báo "Entertainment Weekly" tôn vinh Pulp Fiction là phim hay nhất 25 năm qua. Cùng năm, Viện phim Mỹ qua khảo sát "Ten Top Ten" xếp phim đứng hạng 7 mọi thời trong thể loại gangster. Năm 2007, Phim đạt hạng 94 trong danh sách 100 phim của AFI. Năm 2005, Pulp Fiction lọt vào danh sách phim hay mọi thời đại của tạp chí "Time"'s.
Cho đến tháng 1/ 2010, phim đạt điểm cao hạng 10 của trang Metacritic. Pulp Fiction đạt hạng rất cao trong các khảo sát nổi tiếng. Năm 2008, tạp chí "Empire" sau khi tổng hợp ý kiến khán giả, giới làm phim và giới phê bình ghi nhận "Pulp Fiction" là phim hay hạng 9 mọi thời đại. Tạp chí Anh "Total Film" năm 2006 xếp phim đứng hạng ba toàn lịch sử. Phim cũng đạt danh hiệu phim hay hạng tư toàn nước Anh qua bình chọn khán giả trên kênh Channel 4 năm 2001.
Giải thưởng.
"Pulp Fiction" thắng các giải thưởng sau, trong đó thành công nhất là kịch bản gốc (thắng ở cả ba giải thưởng là giải Oscar, BAFTA và Quả Cầu Vàng cho Quentin Tarantino và Roger Avary). Trong lễ trao giải Quả Cầu Vàng, khi lên nhận giải, Tarantino quên mất việc nhắc đến Avary trong diễn văn nhận giải của mình. Trong suốt mùa trao giải, Pulp Fiction được vinh danh Phim hay nhất bởi Hiệp hội phê bình phim quốc gia, Hiệp hội phê bình phim Los Angeles, Hội phê bình phim Boston, Hội phê bình phim Texas, Hiệp hội phê bình phim Đông Nam và Diễn đàn phê bình phim Kansas. Tarantino được vinh danh là đạo diễn xuất sắc nhất bởi cả bảy tổ chức trên cũng như bởi Diễn đàn phê bình phim New York và Hiệp hội phê bình phim Chicago. | 1 | null |
Mohammed Zillur Rahman (tiếng Bengal: মোঃ জিল্লুর রহমান, 09 tháng 3 năm 1929 - 20 tháng 3 năm 2013) là Tổng thống thứ 19 của Bangladesh giai đoạn 2009-2013. Là một nhà lãnh đạo cấp cao của Liên đoàn Awami, ông hoạt động trong đời sống chính trị Bangladesh trong hơn 50 năm và là một nhân vật chủ chốt trong phong trào dân tộc chủ nghĩa Bengal. Năm 2009, Rahman đã được Quốc hội bầu làm Tổng thống trong một cuộc bỏ phiếu không có phiếu chống. Ông là tổng thống thứ ba của Bangladesh qua đời khi đương nhiệm, sau Sheikh Mujibur Rahman và Ziaur Rahman.
Mohammed Zillur Rahman qua đời ngày 20/3/2013 tại bệnh viện Mount Elizabeth Singapore do bệnh thận và các vấn đề về hô hấp. | 1 | null |
Ngày Quốc tế xóa bỏ Kỳ thị chủng tộc được xác định kỷ niệm vào ngày 21 tháng 3 hàng năm. Vào ngày này năm 1960, cảnh sát đã nổ súng và giết chết 69 người trong một cuộc tuần hành hòa bình ở Sharpeville, Nam Phi nhằm chống lại việc thông qua đạo luật apartheid. Công bố lựa chọn ngày vào năm 1966, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế tăng gấp đôi nỗ lực để loại bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc.
Ngày Nhân quyền ở Nam Phi - 21 tháng 3.
Ở Nam Phi, Ngày Nhân quyền là một ngày lễ quốc gia vào ngày 21 tháng 3 hàng năm. Đây là ngày kỷ niệm những người đã hy sinh cuộc sống để đấu tranh cho dân chủ và bình đẳng nhân quyền ở Nam Phi trong thời gian tồn tại chế độ Apartheid (một chế độ chấp nhận sự phân biệt chủng tộc). Sự kiện thảm sát Sharpeville trong thời kỳ apartheid xảy ra vào ngày 21 tháng 3 năm 1960 cũng nằm trong chuỗi những sự kiện tưởng niệm của ngày lễ này. | 1 | null |
Tùy Đường Diễn Nghĩa () dài 62 tập, dựa theo tác phẩm cùng tên của tác gia Chử Nhân Hoạch. Bộ phim khởi chiếu từ 14.1.2013 trên các đài vệ tinh HD, đồng thời được đài TVB mua bản quyền phát sóng trên kênh HD Phỉ Thúy. Bộ phim được đầu tư kinh phí lớn, là một trong ba tác phẩm bom tấn cổ trang truyền hình trong năm 2013 được bảo chứng về dàn diễn viên thực lực, chỉ đạo võ thuật Quốc Kiến Dũng, đặc biệt phần nội dung được cố vấn bởi nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Đơn Điền Phương—người nổi tiếng với các tác phẩm bình thư trong đó có Tùy Đường Diễn Nghĩa.
Chi tiết.
Tên tiếng Việt: Tùy Đường Diễn Nghĩa
Tên tiếng Trung: 隋唐演义/隋唐演義/Sui Tang Yan Yi
Tên tiếng Anh: Heroes in Sui & Tang Dynasties/Heroes of Sui and Tang
Thể loại: dã sử, hành động
Số tập: 62
Mạng công chiếu: Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Đài Loan...
Khởi chiếu: 14.1.2013
Thời gian công chiếu: 1 tháng
Nguyên tác: Tùy Đường Diễn Nghĩa
Biên kịch: Viên Suất
Nhà sản xuất: Trình Lực Đống
Đạo diễn: Chung Thiếu Hùng
Trợ lý đạo diễn: Lưu Phong
Đạo diễn võ thuật: Quốc Kiến Dũng
Cố vấn nghệ thuật: Đơn Điền Phương
Thành Tựu.
Tùy Đường Diễn Nghĩa không hổ là bom tấn truyền hình, kết thúc công chiếu với những thành tích đáng nể: về nhất trong cuộc chạy đua rating, hoàn toàn vượt qua các bom tấn cùng hạng khác. No.1 trong top 10 phim truyền hình ăn khách nhất năm 2013, thống kê lượt xem online đợt 1 trên 5 trang web phim lớn nhất theo thống kê lượt đầu vào khoảng 700 triệu, điểm rate trung bình từ 8.1-9.0...Hai diễn viên tuyến đầu Nghiêm Khoan, Trương Hàn trở thành một trong 15 nam diễn viên quyền lực nhất đầu 2013. | 1 | null |
Hãy chăm sóc mẹ (viết theo tiếng Triều Tiên: 엄마를 부탁해) là một tiểu thuyết của tác giả Hàn Quốc Shin Kyung-sook phát hành năm 2008.
Cốt truyện.
Bà Park So-nyo không may đi lạc ở nhà ga tàu điện ngầm Seoul và cả gia đình bà phải bổ đi tìm kiếm bà khắp nơi. Trong quá trình tìm kiếm, mỗi người day dứt và tự vấn lương tâm trước sự mất tích của người mẹ, người vợ của họ, rằng liệu họ có thực sự hiểu gì về bà không ?
Phát hành.
Trong vòng 10 tháng kể từ khi phát hành, "Hãy chăm sóc mẹ" đã bán được 1 triệu bản riêng tại Hàn Quốc. Truyện còn đạt giải thưởng "Man Asian Literary Prize", giúp tác giả trở thành tác giả nữ đầu tiên đạt giải thưởng này. Tiểu thuyết còn được chuyển thể thành kịch sân khầu và nhạc kịch. Đến tháng 04 năm 2012, tiểu thuyết bán được 2 triệu bản.
Tại Việt Nam, tiểu thuyết được Nhã Nam mua bản quyền và được dịch bởi Lê Hiệp Lâm, Lê Nguyễn Lê từ nguyên tác tiếng Triều Tiên, có đối chiếu bản tiếng Anh "Please Look After Mom" | 1 | null |
Shin Kyung-sook là một nữ nhà văn, tiểu thuyết gia người Hàn Quốc trở nên nổi tiếng khắp thế giới năm 2009 với tiểu thuyết "Hãy Chăm Sóc Mẹ".
Tiểu sử.
Shin Kyung-sook sinh năm 1963 tại tỉnh Jeolla, Hàn Quốc, là con thứ tư trong một gia đình làm nghề nông. Năm 16 tuổi, do gia đình không có khả năng cho bà học cấp 3 nên bà phải chuyển lên Seoul làm việc tại một nhà máy điện tử trong khi học tại chức ban đêm. Năm 1985, bà viết tác phẩm đầu tiên sau khi tốt nghiệp "Học viện Nghệ thuật Seoul". Bà là một thành viên của "Thế hệ 386" (Hangul: 386 세대), chỉ những người Nam Hàn sinh vào thập niên 60 thế kỉ XX và hoạt động chính trị sôi nổi.
Liên kết ngoài.
Trang của Shin Kyun-sook tại KLIT | 1 | null |
Nowrūz (, , nghĩa là "Ngày mới") là tên gọi Năm mới của người Iran/Ba Tư, theo lịch Iran với các lễ kỷ niệm truyền thống. Nowruz cũng được gọi một cách rộng rãi là "Năm mới Ba Tư", "Tết Ba Tư".
Nowruz đánh dấu ngày đầu tiên của mùa xuân và bắt đầu năm mới theo lịch Iran. Nó được tổ chức vào ngày Xuân phân ở Bắc bán cầu, thường rơi vào ngày 21 tháng 3 hay ngày trước hoặc ngày sau đó, tùy theo nơi cử hành. Nowruz cũng là một ngày lễ Hỏa giáo và có ý nghĩa quan trọng trong nguồn gốc Hỏa giáo của người Iran hiện nay, nó cũng được tổ chức ở nhiều phần khác tại tiều lục địa Nam Á với vị thế là Năm mới. Thời điểm Mặt Trời đi qua xích đạo địa cầu và cân bằng ngày đêm được tính chính xác hàng năm và các gia đình người Iran khi đó quây quần bên nhau để cử hành các nghi lễ.
Nowruz cũng là một ngày linh thiêng của người Sufi, người Ismail, người Alawi, người Alevi, người Babi và các môn đồ Bahá'í, và là ngày nghỉ lễ chính thức tại nhiều quốc gia như Kurdistan, Albania, Azerbaijan, Gruzia, Kosovo, Kyrgyzstan, Iran, Iraq, Kazakhstan, Mông Cổ, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan... và người Kurd hải ngoại.
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 2010 đã công nhận Ngày Quốc tế Nowruz, miêu tả đây là một lễ hội mùa xuân có nguồn gốc Ba Tư và đã được tổ chức trong trên 3.000 năm. Trong cuộc họp của "Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể" của Liên Hợp Quốc, được tổ chức từ ngày 28 tháng 9 – 2 tháng 10 năm 2009 tại Abu Dhabi, Nowrūz đã chính thức được liệt vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại của UNESCO.
Nguồn gốc.
Có nguồn gốc là một lễ hội Hỏa giáo, và là lễ hội thiêng liêng nhất trong tôn giáo này, Nowruz được cho là do người Hỏa giáo sáng lập nên, mặc dù không rõ về thời điểm xuất xứ. Từ thời kỳ Achaemenes, một năm chính thức được bắt đầu bằng Năm mới- thời điểm Mặt Trời dời khỏi cung Song Ngư và tiến vào cung Bạch Dương, dấu hiệu của Xuân phân. Nowruz cũng là một ngày linh thiêng của người Sufi, người Ismail, người Alawi, người Alevi, người Babi và các môn đồ Bahá'í.
Thuật ngữ Nowruz xuất hiện lần đầu trong các ghi chép Ba Tư vào thế kỷ 2 SCN, song nó đã là một ngày quan trọng từ thời Achaemenes (), khi vào ngày Nowruz, các quốc vương từ những nước khác nhau thuộc Đế quốc Ba Tư đem cống phẩm cho Hoàng đế- cũng gọi là Vua của các vua (Shahanshah) của Ba Tư. Tầm quan trọng của Nowruz trong Đế quốc Achaemenes có thể được minh họa khi Đại vương Ba Tư Cambyses II chỉ có thể trở thành Vua hợp pháp của Babylon sau khi ông tham gia vào lễ hội Năm mới (Nowruz).
Phong tục.
Haft Sin và Haft Mewa.
Phần quan trọng nhất của năm mới là việc chuẩn bị của "Haft-Sin" (tiếng Ba Tư: هفت سین) "7 S", các thành phần trong đó nhất thiết phải bắt đầu bằng chữ cái "S" của Ba Tư "S" (س), đó là: "Sekke" - tiền kim loại; "Sib" - trái táo; "Somach" - một loại gia vị (từ cây Rhus coriaria); "Sombol" - Hyacinthus; "Sir" - tỏi; "Sabsi" - nghĩa là "cây xanh", chủ yếu là cải xoong, và "Serke" - giấm), và một loại nước uống "Haft Mewa" bao gồm bảy loại trái cây. Bảy loại thực phẩm được chuẩn bị cũng nên bắt đầu bằng chữ "S" càng tốt và tượng trưng cho bảy đức tính của Hỏa giáo, và cùng với "Samanak" (cây giống hay là mầm xanh từ bảy loại hạt), một tấm gương, một ngọn nến và một cuốn sách thánh (Qur'an cho người Hồi giáo, Kinh Thánh giữa các Kitô hữu, Avesta hoặc hình ảnh của Hỏa giáo) và đặt trên một mặt bàn.
Lửa.
Vào đêm trước của ngày thứ tư cuối cùng "Chahar Schanbe Suri" ("Thứ tư lửa"), lửa được đốt lên. Tập quán này thực tế là một trong những nghi lễ quan trọng nhất của năm mới. | 1 | null |
Trong đại số tuyến tính, ma trận giả nghịch đảo của ma trận là một tổng quát hóa của ma trận nghịch đảo.. Loại ma trận giả nghịch đảo phổ biến nhất là giả nghịch đảo Moore–Penrose, tìm ra một cách độc lập bởi E. H. Moore năm 1920, Arne Bjerhammar năm 1951 và Roger Penrose năm 1955. Trước đó, Fredholm đã định nghĩa khái niệm giả nghịch đảo của biến đổi tích phân năm 1903. Khi dùng cho ma trận, khái niệm giả nghịch đảo nếu không có chú thích thêm thường được dùng để chỉ giả nghịch đảo Moore–Penrose. Một tên gọi khác cho khái niệm này là ma trận nghịch đảo tổng quát.
Ký hiệu.
Phần dưới của trang sử dụng các ký hiệu sau.
Định nghĩa.
Với formula_21,
ma trận giả nghịch đảo Moore–Penrose (sau đây viết gọn là giả nghịch đảo) của formula_22 được định nghĩa là ma trận
formula_23
thỏa mãn cả bốn tính chất sau:
Tính chất.
Tích.
Nếu formula_41 và một trong các điều kiện sau được thỏa mãn,
thì formula_48.
Các phép chiếu.
formula_49 và formula_50 là các phép chiếu vuông góc --- nghĩa là chúng đều là ma trận Hermite (formula_51, formula_52) và thỏa mãn formula_53 và formula_54). Chúng có các tính chất sau: | 1 | null |
Trận Kasserine là một chuỗi trận đánh trong Chiến dịch Tunisia thời Chiến tranh thế giới thứ hai, diễn ra từ ngày 19 cho đến ngày 22 tháng 2 năm 1943 quanh đèo Kasserine – một khe hở rộng 3,2 km trong dãy Tây Dorsal thuộc miền núi Atlas ở tây trung bộ Tunisia. Lực lượng tham chiến bên khối Trục dưới sự thống lĩnh của Thống chế Erwin Rommel - "Cáo Sa mạc" bao gồm các đội quân Đức-Ý thuộc Tập đoàn Thiết giáp châu Phi và Tập đoàn Thiết giáp số 5; còn bên phe Đồng Minh là một lực lượng Mỹ-Anh-Pháp Tự do (với thành phần chủ yếu là Quân đoàn II Mỹ) thuộc Tập đoàn quân số 1 Anh do Trung tướng Kenneth Anderson cầm đầu. Đây được coi là là cuộc đọ sức quy mô lớn đầu tiên giữa quân đội Hoa Kỳ với Đức và là một trong những thất bại tàn tệ nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20.
Sau khi Tập đoàn Thiết giáp số 5 Đức-Ý do Đại tướng Hans-Jürgen von Arnim chỉ huy phá được một bộ phận Quân đoàn II Hoa Kỳ dưới quyền Thiếu tướng Lloyd Fredendall trong trận Sidi Bou Zid (14 – 17 tháng 2 năm 1943), Tư lệnh Tập đoàn Thiết giáp châu Phi Rommel dự định khai thác cuộc hoảng loạn của đối phương bằng một cú thọc vào trung tâm tiếp tế của Đồng Minh tại Tebessa. Tuy rằng Thống chế Albert Kesselring – Tổng tư lệnh Chiến trường phía Nam của phe Trục – tán đồng với kế hoạch của Rommel, Bộ Tư lệnh Tối cao Ý tại Roma lại hạ lệnh cho Rommel thúc quân băng qua hai đèo Kasserine và Sbiba trong dãy núi Tây Dorsal rồi đánh lên Le Kef sau lưng Tập đoàn quân số 1 Anh trên mạn bắc. Kesselring cũng đem 2 sư đoàn thiết giáp thuộc biên chế Tập đoàn quân số 5 chi viện cho Rommel để đảm bảo thắng lợi của cuộc tiến công sắp tới. Mặc dù những bất đồng giữa các tướng chỉ huy phe Trục đã câu giờ cho quân Đồng Minh củng cố phòng tuyến của mình trên dãy Tây Dorsal, họ vẫn bị choáng ngợp khi quân đội phe Trục nổ súng tấn công Kasserine và Sbiba ngày 19 tháng 2. Song sự chống cự mạnh mẽ của quân Đồng Minh đã khiến cho các binh đoàn Đức chỉ thu được kết quả hạn chế trong ngày hôm đó.
Được sự phối hợp nhuần nhuyễn của pháo binh và không quân, bộ binh cùng thiết giáp Đức-Ý do Trung đoàn Bộ binh Cơ giới châu Phi dẫn đầu xông lên nghiền nát các đơn vị quân Mỹ, Pháp và Anh cố thủ Kasserine trong ngày hôm sau. Cuối chiều ngày 20, toàn bộ đèo này đã nằm gọn trong quyền kiểm soát của Rommel. Từ đây, ông tung thêm một mũi tiến công sang Tebessa ở phía tây và một mũi khác lên Thala trên mạn bắc. Cả hai mũi tấn công này đều đã bị chùn lại vào thời điểm đêm ngày 21. Mặc dù bị hao hụt tinh thần sau thất bại ban đầu của mình, Đồng minh Anh-Mỹ đã trấn tĩnh được lực lượng và cố sức chặn đánh các đợt công kích của quân Đức. Do thấy quân mình bị kéo căng và thiếu hụt tiếp tế, Rommel đành tiến hành triệt binh về hậu cứ vào ngày 22 tháng 2 năm 1943. Kết thúc trận đánh, Rommel đã đạt được một thắng lợi chiến lược rõ rệt và gây tổn thất ghê gớm cho liên quân Anh-Mỹ-Pháp, nhưng sự đề kháng của phe Đồng Minh cùng với các vấn đề tiếp tế hậu cần đã ngăn cản ông phát triển thành công về chiến thuật của mình thành một thắng lợi chiến lược. Các cơ sở tiếp tế của Đồng Minh vẫn còn nguyên vẹn trong khi Tập đoàn quân số 1 Anh không hề bị cô lập và cục diện mặt trận Bắc Phi đã xoay chuyển theo hướng hoàn toàn có lợi của Đồng Minh.
Bối cảnh.
Tham vọng của nước Ý phát xít nhằm mở rộng hệ thống thuộc địa của mình ở châu Phi đã châm ngòi cho chiến sự bùng nổ trên mặt trận Bắc Phi năm 1940 khi quân Ý xâm lược Ai Cập thuộc Anh. Quân Ý ban đầu đạt được thắng lợi hạn chế, nhưng chẳng bấy lâu sau thì thế chủ động rơi vào tay quân Anh. Để lật lại thế cờ cho đồng minh Ý của mình, Quốc trưởng Đức Adolf Hitler sai Đại tướng Erwin Rommel kéo Binh đoàn châu Phi ("Afrika Korps") vào Bắc Phi tiếp chiến. Về danh nghĩa thì Rommel phải chịu sự điều khiển của Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Ý tại Roma, nhưng trên thực tế ông luôn tự do hành động. Sau khi đặt chân lên Tripoli thuộc địa phận Libya vào tháng 2 năm 1941, Rommel dẫn dắt Binh đoàn châu Phi đảo ngược thế trận bằng hàng loạt chiến thắng ngoạn mục trước quân đội Liên hiệp Anh. Lực lượng Đức-Ý dưới quyền Rommel được phát triển thành Tập đoàn Thiết giáp châu Phi ("Panzerarmee Afrika") vào ngày 30 tháng 1 năm 1942. Nhưng những khó khăn về tiếp tế cùng với sự sa sút sức khỏe của ông và chủ trương xoáng trọng tâm vào chiến trường Đông Âu của Bộ Tư lệnh Tối cao Lục quân Đức đã khiến cho Thống chế Rommel không duy trì thành quả của mình được lâu: sau khi bị Tập đoàn quân số 8 Anh do Đại tướng Bernard Montgomery chỉ huy đánh bại trong trận El Alamein lần thứ hai trên đất Ai Cập năm 1942, ông đành rút quân về phía tây qua Lybia vào miền nam Tunisia.
Thất bại tại El Alamein cùng với cuộc đổ bộ thành công của liên quân Anh-Mỹ dưới quyền Đại tướng Dwight D. Eisenhower lên Maroc và Algérie đã đẩy quân Rommel vào thế bị kẹp giữa hai khối quân Đồng Minh. Lo ngại sự thất bại của khối Trục tại Bắc Phi sẽ dọn đường cho quân Đồng Minh xâm chiếm Ý và các lãnh thổ của Đức tại Nam Âu, Hitler điều một lực lượng lớn từ Pháp và Sicilia xuống Tunisia. Thống chế Albert Kesselring – Tư lệnh Chiến trường Phía Nam của Đức từ cuối năm 1941 – được giao quyền chỉ huy toàn bộ lực lượng quân Trục tại châu Phi. Vào thời điểm cuối năm 1942, Tập đoàn Thiết giáp số 5 tân lập của Đức-Ý do Đại tướng Hans-Jürgen von Arnim chỉ huy đã ngăn chặn được ý đồ của quân Đồng Minh hòng tiến ra eo biển trung bộ Tunisia và cô lập Rommel khỏi Tập đoàn Thiết giáp số 5. Bằng việc quét sạch quân Anh khỏi Tébourba trên mạn bắc rồi tấn công dồn dập vào đội quân Anh-Mỹ-Pháp trấn giữ đồi Djebel el Ahmera cho đến khi đoạt được đồi này trong Giáng sinh 1942, Arnim và người tiền nhiệm là Thượng tướng Thiết giáp Walther Nehring cũng đã tăng cường chiều sâu của đầu cầu quân Trục tại Tunisia đồng thời khóa chặt các nẻo đường đến thủ đô Tunis xứ này. Phía Đồng Minh sau đó phải tạm ngưng các hoạt động quân sự trên bộ của mình do những cơn mưa mùa đông đã biến địa hình Bắc Phi thành một mớ bãi bùn lầy lội.
Các cuộc tấn công của Arnim.
Nehring và sau đó là Arnim buộc phải dùng Sư đoàn Superga yếu kém của Ý để che chắn sườn phía nam của quân mình vào cuối tháng 12 năm 1942. Trong một cuộc tấn công đầu năm 1943, 3 sư đoàn Pháp Tự do do Đại tướng Alphonse Juin chỉ huy đã phối hợp với Sư đoàn Thiết giáp 6 Tập đoàn quân số 1 Anh đánh bại Sư đoàn Superlag và chiếm giữ dãy núi Tây Dorsal cùng phần lớn dãy Đông Dorsal trong miền núi Atlas. Để chỉnh đốn tình hình, Arnim huy động một chiến đoàn gồm các thành phần thuộc 2 sư đoàn Bộ binh 334 và Thiết giáp 10 cùng 17 xe tăng Tiger của Tiểu đoàn Thiết giáp Hạng nặng 501 ồ ạt phản công vào ngày 18 tháng 1. Mặc dù quân Anh giữ được phần lớn trận địa của mình, quân Pháp đã bị đập tan với thương vong rất nặng nề. Lính Đức đã dọn sạch quân Pháp ra khỏi đèo Fondouk, tóm giữ được 4.000 tù binh đồng thời bắn cháy hoặc tịch thu 24 xe tăng, 55 đại bác, 27 pháo chống tăng cùng 228 xe quân sự. Trong những ngày tới, quân Đức cùng sư đoàn Ý nói trên tiếp tục đánh tan các đơn vị Pháp, Mỹ và chỉ dừng quân vào đêm ngày 23–24 tháng 1 do thiếu hụt tiếp tế. Đến ngày 30 tháng 1, Arnim lại xua hai chiến đoàn thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 21 (Đại tá Hans-Georg Hildebrandt chỉ huy) bất ngờ tấn công đèo Faid và bao vây diệt gọn đồn binh Pháp trên đèo. Thêm 1.047 quân nhân, 25 xe bọc thép và 15 pháo chống tăng của Pháp rơi vào danh sách tù binh và chiến lợi phẩm của Đức.
Đáp lời cầu viện của Juin, Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn II Hoa Kỳ Lloyd Fredendall sai Chuẩn tướng Raymond Quillin đem Liên đoàn Thiết giáp A, Sư đoàn Thiết giáp số 1 phản công nhưng bị pháo binh chống tăng của Hilderbrandt phối hợp với các chiến đấu cơ Stuka của Không quân Đức đè bẹp. Vài ngày sau, Arnim lại mở một trận đột kích vào Lữ đoàn Constantine (Pháp) dưới quyền tướng Joseph Welvert và một số thành phần thuộc Quân đoàn II Hoa Kỳ. Quân Đức lại thắng lớn, Lữ đoàn Constantine bị hủy diệt và hơn 1.000 lính Pháp bị bắt sống trong khi Trung đoàn Bộ binh 168 Sư đoàn Bộ binh 34 Hoa Kỳ tổn hao gần 1.100 quân. Đến đây, Arnim đã chiếm hầu hết dãy Đông Dorsal và mở rộng đáng kể đầu cầu Tunisia vừa đúng lúc Rommel mang quân chủ lực của mình vào xứ này Tập đoàn Thiết giáp châu Phi và lập thế trận phòng ngự trên phòng tuyến Mareth dọc theo biên giới Libya và Tunisia.
Những chiến thắng giòn dã của Tập đoàn Thiết giáp số 5 trước liên quân Pháp-Mỹ đã cổ vũ các chỉ huy quân Đức mở một chiến dịch tấn công mới trên đất Tunisia. Rommel hy vọng tập trung hai tập đoàn quân Trục đánh dứt điểm các đội quân Mỹ-Anh-Pháp thuộc Tập đoàn quân số 1 Anh dưới quyền Đại tướng Kenneth Anderson ở mạn tây trước khi quay sang phía đông để giải quyết Tập đoàn quân số 8 Anh. Thủ trưởng của ông là Kesselring cũng có suy nghĩ chiến lược tương tự và lên kế hoạch tận diệt quân đội Mỹ tại Bắc Phi. Cụ thể, Kesselring định điều động Tập đoàn Thiết giáp châu Phi tiến đánh quân Mỹ tại thị trấn ốc đảo Gafsa trong khi Tập đoàn Thiết giáp số 5 công kích thị trấn Sbeitla trên mạn bắc. Sau khi vượt xong các ngọn đèo ở hướng đông, quân thiết giáp Đức sẽ quành lên phía bắc và thẳng tiến ra cảng Borne trên biển Địa Trung Hải. Nếu thành công, chiến dịch này có lẽ sẽ đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của Tập đoàn quân số 1 Anh, hoặc ít ra thì cũng đem lại cho người Đức một thắng lợi cần thiết giúp họ rửa nhục sau thảm họa Stalingrad. Nhưng khác với Rommel và Kesselring, Arnim chỉ đề xuất khai thác chiến thắng Faid và chiếm gọn dãy Dorsal bằng một cuộc tấn công quy mô nhỏ vào Sidi Bou Zid.
Trận Sidi Bou Zid.
Để giải quyết bất đồng giữa hai thuộc cấp vốn chẳng ưa nhau, Kesselring kết hợp các thành phần trong kế hoạch của cả Rommel lẫn Arnim để quyết định tiến hành hai cuộc hành quân riêng biệt gồm Chiến dịch Gió xuân ("Fruehlingswind") – trong đó Tập đoàn Thiết giáp số 5 sẽ tiến chiếm Sidi Bou Zid trên hướng bắc, và Chiến dịch Gió sáng ("Morganluft") – trong đó Tập đoàn Thiết giáp châu Phi tiến đánh dọc theo tuyến Gafsa-Feriana-Kasserine. Sau đó, Kesselring nhanh chóng đề ra một kế hoạch cụ thể quy định Tập đoàn Thiết giáp số 5 đánh thọc qua đèo Faid lên Sidi Bou Zid để chiếm gọn dãy Đông Dorsal. Trong đợt tấn công ban đầu, các Sư đoàn Thiết giáp số 10 và 21 sẽ được đặt dưới quyền thống lĩnh của Thượng tướng Pháo binh Heinz Ziegler. Một khi quân Đồng minh bị dọn sạch khỏi khu vực quanh Faid, hai sư đoàn này cùng Tiểu đoàn Thiết giáp Hạng nặng 501 sẽ được chuyển sang biên chế của Tập đoàn Thiết giáp châu Phi. Tiếp theo đó, kế hoạch yêu cầu Arnim từ Pirchon tràn quân từ Pichon lên phía bắc trong khi Rommel đánh thốc vào Gafsa-Tozeur, tiêu diệt Quân đoàn II Hoa Kỳ rồi mở rộng tấn công ra Tebessa. Do mưa lớn kéo dài nên thống chế Kesselring cho Arnim hoãn tiến công đến ngày 14 tháng 2 còn Rommel sẽ xuất quân vào ngày 15. Tổng cộng, lực lượng tấn công của khối Trục lên đến 100.000 quân – với 74.000 lính Đức và 26.000 lính Ý – cùng chưa đầy 300 xe tăng, trong khi riêng Sư Thiết giáp 1 Hoa Kỳ đã có tới 300 thiết giáp.
Được sự yểm hộ chặt chẽ của các chiến đấu cơ Stuka và Messerschmitt , các chiến xa Tiger của Tiểu đoàn Thiết giáp Hạng nặng 501 dẫn đường cho 2 chiến đoàn thuộc Sư đoàn Thiết giáp 10 vượt đèo Faid tấn công Sư đoàn Thiết giáp 1 và Trung đoàn 168 Hoa Kỳ vào buổi sáng ngày 14 tháng 2, mở màn trận Sidi Bou Zid. Quân Mỹ bị đánh thảm bại và Đại tá Thomas Drake – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 168 cùng phần lớn ban tham mưu của ông bị bắt sống. Hôm sau, Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn Thiết giáp 1 Orlando Ward tung quân dự bị phản công nhưng bị các Sư đoàn Thiết giáp 10 và 21 của Đức bẻ gãy với thương vong ghê gớm. Cũng trong ngày 15, Đại tá Otto Menton chỉ huy Cụm Đặc nhiệm 288 Sư đoàn Khinh chiến 90 dẫn đầu đoàn quân của Rommel tiến chiếm làng Gafsa nhưng phát hiện ra rằng quân Mỹ đã rút hết khỏi nơi này. Tin rằng Arnim sẽ tăng viện Sư Thiết giáp số 21 cho mình, Rommel lên kế hoạch đánh tới ngôi làng kế tiếp là Ferriana, nơi con đường chia ngả và đem lại cho ông hai phương án khả thi: hoặc là thọc lên phía bắc đánh Tebessa thuộc xứ Algérie, hoặc là thọc qua Theplete đánh Kasserine trên mạn đông bắc. Ông sai Menton dẫn một lực lượng trinh sát được trang bị mạnh vào Ferriana để tìm sự lựa chọn tốt nhất cho kế hoạch mới của ông.
Cuộc bại trận tại Sidi Bou Zid đã buộc Anderson phải phát lệnh rút toàn bộ Quân đoàn II Hoa Kỳ từ dãy Đông Dorsal về trấn giữ khu vực phía tây. Bên kia chiến tuyến, Arnim quyết định duy trì chiến dịch tấn công của mình và huy động Sư Thiết giáp 21 tiếp tục tiến công Sbeitba trong khi Sư Thiết giáp 10 đánh về Fondouk. Ông viện cớ Rommel đã chiếm được mục tiêu của mình (Gafsa) và Sư Thiết giáp 21 còn bận chiến đấu quanh Sidi Bou Zid để từ chối tiếp viện. Mặc dù quân thiết giáp Đức giành được thắng lợi, sự truy kích chậm chạp của Ziegler đã tạo điều kiện cho quân Đồng Minh di tản an toàn khỏi dãy Đông Dorsal trong đêm ngày 17–18.
Sau khi rút chủ lực Sư đoàn Thiết giáp 1 Mỹ về Tebessa, Fredendall chia một bộ phận quân Mỹ-Pháp đi đóng giữ đèo Kasserine trong dãy Tây Dorsal. Lực lượng này bao gồm Trung đoàn Công binh số 19 của đại tá Anderson Moore, Tiểu đoàn I Trung đoàn Bộ binh số 26 Sư đoàn Bộ binh số 1 "Anh cả Đỏ", 2 khẩu đội bích kích pháo 105 ly thuộc Tiểu đoàn Pháo dã chiến 33 Mỹ, 1 khẩu đội pháo 75 ly do ngựa kéo có niên đại từ Chiến tranh thế giới thứ nhất của Pháp và Tiểu đoàn Pháo tự hành chống tăng 894 Mỹ. Đại tá Alexander N. Stark, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Bộ binh 26, được Fredendall cử làm chỉ huy trưởng đội quân này. Trong khi đó, tại Sbiba, bộ chỉ huy Tập đoàn quân số 1 bố trí Lữ đoàn Vệ binh số 1 Anh, Trung đoàn 18 Mỹ, 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 34 Mỹ, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Hampshire, 3 tiểu đoàn pháo dã chiến Mỹ, các thành phần thuộc 2 trung đoàn pháo chống tăng Anh, một vài binh đội Pháp và Trung đoàn Thương kỵ 16/5 Lữ đoàn Thiết giáp 26 Anh vừa được trang bị xe tăng M4 Sherman. Thị trấn Thala, cách đèo Kasserine 24 km về mạn bắc, được trấn thủ bởi 2 trung đoàn thiết kỵ thuộc Lữ đoàn Thiết giáp 26 của Chuẩn tướng Charles A. L. Dunphie, Tiểu đoàn 10 Lữ đoàn Súng trường, Tiểu đoàn 2/5 Trung đoàn Leicestershire,3 khẩu đội pháo dã chiến, 1 khẩu đội pháo phòng tăng và 1 khẩu đội pháo cối hạng nặng của Anh. Toàn bộ lực lượng Đồng Minh phía bắc và tây bắc Kasserine được đặt dưới sự thống lĩnh của Chuẩn tướng C. G. G. Nicholson, Sư đoàn phó Sư đoàn Thiết giáp 6 Anh.
Kế hoạch của khối Trục.
Vào buổi sáng ngày 17 tháng 2, Rommel điều quân đánh chiếm làng Feriana và Thelepte – nơi đặt căn cứ không quân chính của Đồng Minh trong khu vực phía nam của Tập đoàn quân số 1. Các đơn vị lính Mỹ cản đường quân ông đều bị đè bẹp. Sau đó, Rommel đánh điện gợi ý Arnim hiệp lực cùng ông đánh Tebessa, nhưng Arnim hồi đáp rằng do dãy núi Đông Dorsal rất khó giữ nên quân ông chỉ được bám trụ trên dãy chứ không được tiến đâu xa hơn. Câu trả lời này làm Rommel phẫn nộ vì ông cảm thấy Arnim đang để yên cho đội quân non kinh nghiệm của Mỹ chạy thoát. Lúc 14h30 ngày 18 tháng 2, Rommel đánh điện thỉnh cầu Kesselring giao ông chỉ huy các Sư đoàn Thiết giáp 10 và 21 đồng thời cho hai sư này di chuyển đến khu vực Theplete để Rommel thực hiện kế hoạch vượt đèo Kasserine và tiến công quân Mỹ tại Tebessa cách Theplete 72,4 km trên hướng tây bắc. Bằng cách đó, Rommel sẽ thu được một lượng hàng tiếp tế lớn của Mỹ ở phía tây dãy Atlas, xóa sổ nguy cơ quân Đồng Minh tấn công hành lang eo biển nối liền Mareth với Tunis và đồng thời uy hiếp mạn sườn phía nam của Tập đoàn quân số 1 Anh. Cá nhân Kesselring rất tán đồng với kế hoạch này và ông đệ trình nó lên Bộ Tư lệnh Tối cao Ý tại Roma để xin sự chấp thuận tối hậu của các thủ trưởng Ý.
Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, Kesselring chính thức cử Rommel làm tư lệnh tất cả mọi lực lượng cơ động của phe Trục ở châu Phi, kể cả các Sư đoàn Thiết giáp số 10 và 21. Mừng rỡ, Rommel lập tức phát lệnh tổng tấn công Kasserine trong buổi sáng ngày 19 tháng 2. Nhưng vị thống chế không thể phấn khởi được lâu: trong một chỉ thị vào sáng hôm sau, Bộ Tư lệnh Tối cao Ý đồng ý chuyển giao hai sư đoàn thiết giáp cho Rommel nhưng lại ra lệnh ông đem quân vượt các đèo Kasserine, Sbiba nhằm đánh thọc lên Thala và Le Kef (1 thị trấn tọa lạc sau lưng Quân đoàn XIX Pháp và cách Tebessa 161 km trên phía bắc), chiếm giữ toàn bộ dãy Tây Dorsal và uy hiếp sườn của Tập đoàn quân số 1 Anh. Đây chính là phương án tấn công mà các chỉ huy cấp cao của Anh-Mỹ dự đoán Rommel sẽ tiến hành. Trái lại, Rommel muốn đánh lên mạn tây bắc chứ không phải mạn bắc vì ông hiểu rằng một mũi thọc theo hướng Thala và Le Kef sẽ buộc ông phải chia nhỏ quân mình và dễ dàng bị hở sườn sau khi vượt xong các đèo. Mặc dù Rommel hiểu rằng kế hoạch đánh Tebessa của ông có ẩn chứa một số rủi ro, thành công của kế hoạch này sẽ mang lại cho quân Trục những hàng tiếp tế hết sức cần thiết, đồng thời thủ tiêu nguy cơ quân Đồng Minh mở rộng hoạt động quân sự vào miền trung Tunisia và có lẽ sẽ đem lại cho Không quân Đức một căn cứ tiền tiêu tại Youks-les-Bains về hướng tây Tébessa. Do đó, vị thống chế cay đắng chỉ trích đường lối của Bộ Tư lệnh quân Ý là thiển cận đến mức "đáng kinh ngạc và ghê sợ". Dù cho Rommel có tuân thủ thượng lệnh hay không, thì ông vẫn phải tấn công và chiếm đèo Kasserine, nơi người Mỹ đang tập trung và chỉnh đốn lực lượng của mình.
Trận đánh.
Đèo Kasserine có hình dạng chữ X, chỉ rộng 732 m ở khu vực hẹp nhất của nó. Mặc dù địa hình con đèo không phải là bất khả xâm phạm, việc tấn kích Kasserine mang lại rủi ro cho quân Đức do nó dễ bị gài mìn và phạm vi tiến công có thể bị thu hẹp vào các con đường đèo. Bên phía Đồng Minh, Fredendall đã thỉnh cầu bộ chỉ huy cấp trên đem hết mìn sẵn có tại Bắc Phi chi viện cho chiến trường Tunisia và Eisenhower đã nhanh chóng đáp ứng đề nghị này. Chớp lấy cơ hội, đại tá Moore cùng 1.400 công binh thuộc quyền ông đã xây dựng một vành đai 3 vòng gồm các bãi mìn chống tăng và chống người. Đằng sau hệ thống mìn bẫy dày đặc ấy là trận địa phòng ngự chính của Lực lượng Stark ("Stark Force" - tên gọi các đơn vị Mỹ-Pháp dưới sự chỉ huy chung của đại tá Stark).
Diễn biến ngày 19 tháng 2.
Với hy vọng hàng ngũ quân Mỹ còn tơi tả sau các thất bại trước đó và dễ dàng bị đánh dứt điểm, Rommel xua Tiểu đoàn Trinh sát số 33 do Đại tá Hans von Luck chỉ huy, thuộc Chiến đoàn Binh đoàn Phi châu dưới quyền Thiếu tướng Karl Bülowius, xông vào tấn công đèo Kasserine lúc 6h30 sáng ngày 19 tháng 2. Do bộ chỉ huy Đồng Minh tưởng rằng Rommel sẽ đánh theo hướng bắc chứ không phải là hướng tây bắc, sự xung phong ào ạt của quân Đức ban đầu đã khiến cho phía Mỹ choáng ngợp. Tuy vậy, quân Mỹ đã kịp thời chỉnh đốn hàng phòng ngự của mình và các đơn vị bộ binh, thiết giáp cùng pháo tự hành chống tăng ở trung tâm con đèo tập trung hỏa lực cản phá đà tiến công của tiểu đoàn Luck. Bị hao tổn nặng nề, Tiểu đoàn Trinh sát số 33 đành phải thoái lui sang hướng tây nam đèo Kasserine, mang theo một số tù binh Mỹ thuộc Lực lượng Stark. Sau bước khởi đầu không mấy suôn sẻ này, Buelowius ra lệnh cho Đại tá Menton đem 40 xe vận tải chở lính Trung đoàn Bộ binh Cơ giới Phi châu vào cuộc và 2 tiểu đoàn của Menton ào ạt tấn công Tiểu đoàn I Trung đoàn Bộ binh 26 Mỹ vào lúc 9h30 sáng. Quân cơ giới Đức đánh cho quân Mỹ thiệt hại nặng nề và buộc nhiều đơn vị bộ binh Mỹ phải lùi bước, nhưng vẫn không thể mở được cửa đột phá qua tuyến phòng ngự quân Mỹ. Điều này buộc Buelowius phải thảy cả đơn vị tăng chủ lực của mình là Tiểu đoàn Thiết giáp Stotten vào trận trong buổi trưa ngày hôm ấy. Sau cả một ngày giao chiến, các mũi tấn công của Chiến đoàn Binh đoàn Phi châu chỉ thu được kết quả hạn chế và đèo Kasserine vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân Mỹ khi màn đêm buông xuống.
Trong khi đó, Sư đoàn Thiết giáp số 21 do Đại tá Hildebrandt chỉ huy cũng không đạt được kết quả tốt đẹp hơn khi tiến đánh quân Đồng Minh ở Sbiba. Rommel hết sức bất bình với Hildebrandt vì ông này phải mất 4 tiếng đồng hồ mới chiếm được 24 km đất trước khi vấp phải sự đề kháng quyết liệt của quân Đồng Minh và bị 1 bãi mìn buộc phải dừng bước. Rommel bèn phát lệnh cho Hildebrant tràn quân sang phía tây rồi đánh thọc lên phía bắc để tiêu diệt bộ binh Mỹ. Trong mưa to gió lớn, Hildebrandt đem 25 xe tăng Pz.Kpfw. IV và một số đơn vị bộ binh cơ giới tiêu diệt một toán quân được trang bị xe tăng Mk III của Trung đoàn Thương kỵ 16/5 Anh. Nhưng vào cuối buổi chiều hôm đó, quân ông lọt vào một ổ phục kích của Đồng Minh và chiến đoàn của ông bị Tiểu đoàn Pháo dã chiến 151 Mỹ bắn cho tan tác. Hildebrandt đành phải thu quân về hậu cứ, bỏ lại 13 xe tăng ở ngoài trận địa. Cùng ngày hôm đó, Sư đoàn Thiết giáp số 10 tổ chức tiến công phòng tuyến Anh-Mỹ nhưng chỉ đạt được những bước tiến chậm chạp do lực lượng tấn kích mỏng yếu. Trái với thượng lệnh của Kesselring, Arnim đã giữ lại phân nửa sư đoàn – với những chiếc tăng Tiger mà Rommel mong mỏi trông đợi – trong địa bàn hoạt động của mình. Đến đêm, Rommel phát lệnh cho lực lượng tấn công của Sư đoàn Thiết giáp số 11 chuyển trục hành quân sang Kasserine và theo chân chiến đoàn Bülowius đánh chiếm đèo vào hôm sau.
Đằng sau mặt trận Kasserine, bộ tổng tư lệnh Đồng Minh đã hợp nhất các Tập đoàn quân số 1 và 8 Anh thành Cụm Tập đoàn quân 18 vào ngày 19 tháng 2 năm 1943. Đại tướng Anh Harold Alexander được phân công làm tư lệnh cụm tập đoàn quân này. Kể từ đây, các lực lượng lục quân Đồng Minh tại Bắc Phi được hoạt động dưới sự điểu khiền của một bộ chỉ huy thống nhất. Vừa mới nhậm chức xong, Alexander liền phát lệnh cho quân sĩ phải tử thủ dãy Tây Dorsal bằng mọi giá Để tăng cường tăng cường lực lượng cho Stark, Lữ trưởng Lữ Thiết giáp 26 Anh Dunphie đã sai Trung tá A. C. Gore dẫn 1 khối xe tăng bộ binh Valentine (gồm 10 chiếc), 1 khẩu đội pháo dã chiến, một số khẩu pháo phòng tăng và 1 đại đội bộ binh đến chốt giữ điểm đầu phía bắc đèo Kasserine. Việc thực thi mệnh lệnh của Alexander là không hề dễ dàng: cuối buổi chiều hôm ấy, quân Đức tập trung súng cối phản lực 6 nòng Nebelwerfer bắn phá phòng tuyến Kasserine, làm tiêu hao nhiều sinh lực quân Mỹ. Đây là lần đầu tiên loại loại "vũ khí thần kỳ" ("Wunderwaffe") này được sử dụng trên chiến trường Bắc Phi. Âm thanh đặc biệt chói tai của pháo cối Nebelwerfer đã khiến cho tinh thần lính Mỹ xuống dốc trầm trọng. Tình hình càng trở nên tồi tệ cho lực lượng phòng thủ đèo Kasserine vào nửa đêm, khi quân Đức tổ chức tập kích diệt gọn Đại đội A Tiểu đoàn I Mỹ và đánh tơi tả các đại đội bộ binh khác của Stark.
Diễn biến các ngày 20-21 tháng 2.
Sáng hôm sau, Rommel quyết định ngưng đánh Sbiba và thọc mũi chủ công của mình vào đèo Kasserine, nhưng quân ông triển khai tấn công một cách lề mề. Rommel bèn đích thân ra trận và đề nghị tướng Friedrich von Broich - Sư đoàn trưởng Sư đoàn Thiết giáp 10 - giải thích về thái độ chần chừ của ông ta. Broich lý giải rằng ông ta đang chờ lực lượng bộ binh cơ giới đến yểm trợ cho cuộc tiến quân của Sư Thiết giáp 10. Rommel cả giận quát: "Hãy tự đi mà tìm tiểu đoàn bộ binh cơ giới về đây. Và anh phải dẫn tiểu đoàn ấy vào trận chiến luôn!" Nghe vậy, Broich liền đem xe tăng Panzerkampfwagen IV đánh thọc vào đèo Kasserine mà không cần đợi sự tiếp viện của bộ binh cơ giới, mặc dù Trung đoàn Bộ binh Cơ giới Phi châu (Đức) và Trung đoàn Bersaglieri số 5 (Ý) xuất hiện trên trận địa không lâu sau đó.
Được sự yểm hộ đắc lực của pháo binh cùng không quân, bộ binh và thiết giáp phe Trục do Trung đoàn Bộ binh Cơ giới Phi châu dẫn đầu nhanh chóng xuyên thủng hàng phòng ngự của quân Mỹ. Sở chỉ huy của Đại tá Moore sớm bị tràn ngập và mọi liên lạc giữa Trung đoàn Công binh 19 với ban chỉ huy của Stark đều bị cắt đứt. Không những thế, một số đại đội công binh Mỹ bỏ chạy bán sống bán chết khỏi đèo và quân thiết giáp Đức tức tốc cô lập các đơn vị Mỹ thuộc 2 sư đoàn Bộ binh 1 và "Anh cả Đỏ" ở lối vào phía bắc của Kasserine. Các pháo thủ Pháp thuộc quyền Stark cũng đua nhau chạy tứ tán về hướng tây và bỏ lại hết đại bác 75 ly của mình trận địa. Để vãn hồi thế trận, Thiếu tá Biebly được lệnh mang khối xe tăng Valentine của Lực lượng Gore phản kích vào các mũi tấn công của đối phương. Quân Trục nhanh chóng loại phần lớn đội hình xe tăng này ra ngoài vòng chiến đấu, làm bị thương Biebly và buộc Lực lượng Gore dần dần lùi bước. Sau đó, quân Đức tiếp tục tiến như vũ bão và chỉ còn cách sở chỉ huy của Stark 18 m trong buổi chiều hôm ấy, buộc Stark cùng ban tham mưu phải dời về phía sau. Ngoại trừ Lực lượng Gore và một số ổ kháng cự đơn lẻ, lực lượng phòng thủ Kasserine coi như đã bị tiêu diệt. Trong cơn tuyệt vọng, quân Anh mở thêm một cuộc phản công nữa vào Sư đoàn Thiết giáp số 10, nhưng chẳng bấy lâu sau thì xe tăng chỉ huy của Biebly bị trúng đạn trực tiếp và ông lập tức thiệt mạng. Trước tình hình đó, quân Đồng Minh huy động 6 chiến xa M3 Grant của Sư đoàn Thiết giáp số 1 Mỹ phối hợp với các tổ pháo thủ chống tăng Anh chặn đánh đoàn chiến xa Panzerkampfwagen IV để yểm trợ cho cuộc thối lui của tàn binh Lực lượng Gore. Trong một trận giao chiến ngắn ngủi, quân Đức bắn cháy được 4 chiếc Grant và đè bẹp hoàn toàn Lực lượng Gore: cả ba chiếc Valentine còn lại đều bị loại khỏi vòng chiến và chỉ một khẩu pháo chống tăng duy nhất của Gore là không bị phá hủy. Vào thời điểm đêm xuống, quân đội phe Trục đã khai thông hoàn toàn đèo Kasserine.
Sau thắng lợi giòn giã trên mặt trận Kasserine, Rommel tiếp tục chia quân làm 3 mũi tấn công: ở hướng tây, Chiến đoàn Binh đoàn Phi châu của Buelowius tiến đánh các chốt phòng ngự của quân Mỹ tại Tebessa; ở hướng bắc, Sư đoàn Thiết giáp số 10 tiến công Le Kef theo đường Thala; Sư đoàn Thiết giáp số 21 tiến theo hướng tây bắc và vòng lên mạn bắc để đánh Le Kef theo con đường Sbeitla-Sbiba. Trong những ngày kế tiếp của trận đánh, quân Trục tấn công rất chậm trên cả ba hướng và chỉ có cánh quân trung tâm (Sư Thiết giáp 10) do Broich chỉ huy là giành được thắng lợi. Bên cánh phải của Rommel, các đợt tấn công của Chiến đoàn Binh đoàn Phi châu vào Tebessa đều bị các thành phần quân Mỹ thuộc Liên đoàn Thiết giáp B và Sư đoàn Bộ binh 1 đẩy lùi. Tình hình cánh quân bên trái của Đức cũng không khá gì hơn khi Lữ đoàn Vệ binh 1 Anh, Trung đoàn Bộ binh 18 Mỹ và nhiều đơn vị Mỹ-Anh-Pháp chặn đứng hoàn toàn Sư đoàn Thiết giáp số 21 ở phía nam Sbiba. Mặc dù Rommel rất bất bình với sự kém tài của đại tá Hildebrandt và đe dọa huyền chức ông ta, vị thống chế không thể làm vậy ngay vì quân Đức ở Bắc Phi hiện không còn người nào đủ năng lực thay Hildebrandt chỉ huy Sư Thiết giáp 21. Dù vậy, Hildebrandt sẽ không thể duy trì cương vị này được lâu.
Tàn cuộc.
Tờ mờ sáng ngày 22 tháng 2, Đại tá French Blacke vô tình dẫn tàn binh của Trung đoàn thiết kỵ Lothian số 2 Anh vào địa bàn đóng quân của Sư đoàn Thiết giáp số 10 Đức. Ngay lập tức, quân thiết giáp Đức phá hủy 7 chiếc Valentine trong vòng 7 phút và Trung đoàn Lothian số 2 bị xóa sổ. Tuy vậy, sự hiện diện của trung đoàn này giữa sư đoàn ông đã gây quan ngại lớn cho Broich, người vừa được dân Ả Rập thân Đức thông báo về việc quân Mỹ chi viện 3 tiểu đoàn pháo binh cho Sư đoàn Thiết giáp số 6 Anh tại Thala và Lữ đoàn Vệ binh số 1 Anh đang tiến gấp từ Sbiba tới Thala. Họ khẳng định với Broich rằng quân Đồng Minh đang chuẩn bị tổ chức một cuộc phản kích quy mô lớn. Mặc dù thông tin này là không chính xác, điều không thể chối cãi là phía Đồng Minh đang tập trung những lực lượng dự binh hùng hậu của mình để chặn đánh Tập đoàn Thiết giáp Phi châu và tốc độ tấn công của quân Trục đang suy giảm trên khắp mặt trận. Do vậy, Broich quyết định chuyển sang thế phòng ngự.
Trong khi Trung đoàn Pháo binh Thiết giáp số 90 đấu pháo với liên quân Anh-Mỹ, Rommel thân hành ra mặt trận để đánh giá tình hình và đề ra quyết định phù hợp. Mưa lớn trong suốt 3 ngày liền đã biến chiến trường Tunisia thành 1 bãi lầy lội, gây trở ngại không nhỏ cho các cuộc hành quân cơ động của Đức và Ý. Thêm vào đó, quân Trục đang bị kéo căng và thiếu hụt trầm trọng về xăng dầu, đạn dược trong khi phía Đồng Minh tận dụng tiềm lực vượt trội về nhân lực và tài lực của họ để tăng cường phòng thủ. Do vậy, trong cuộc hội kiến với thủ trưởng Kesselring và Đại tá Siegfried Westphal – Trưởng phòng tác chiến Bộ Tư lệnh Chiến trường phía Nam vào chiều hôm đó, Rommel cho rằng thời tiết xấu, sự kiệt sức của Tập đoàn Thiết giáp Phi châu và việc Arnim giữ lại dàn xe tăng Tiger cùng một số tiểu đoàn bộ binh ở dãy Đông Dorsal đã khiến ông không còn cơ hội đánh thọc ra Borne. Do vậy, Rommel khẳng định giải pháp tốt nhất lúc này là chấm dứt tấn công Tập đoàn quân số 1 và chuyển trọng tâm xuống miền nam Tunisia để đánh dứt điểm Tập đoàn quân số 8 khi Montgomery còn chưa hội đủ lực lượng của mình. Mặc dù Kesselring và Westphal gắng sức thuyết phục Rommel tiếp tục đánh dãy Tây Dorsal, họ không thể lay chuyển quyết định của vị thống chế và đành phải bỏ cuộc.
Ngay trong đêm ngày 22, Rommel bắt đầu rút toàn bộ binh lực khỏi dãy Tây Dorsal. Quân Mỹ thuộc Trung đoàn Bộ binh 16 Sư đoàn Bộ binh 1 và Liên đoàn Thiết giáp B – đơn vị duy nhất còn nguyên vẹn của Sư đoàn Thiết giáp số 1 – trở lại đóng giữ đèo Kasserine vào ngày 24 tháng 2.
Kết cục.
Các trận đánh ngày 19 – 22 tháng 2 năm 1943 ở Tunisia, gọi chung là trận đèo Kasserine, đã kết thúc với thắng lợi chiến thuật không nhỏ của quân đội Đức-Ý. Bên phía Đồng Minh, chỉ riêng Quân đoàn II Hoa Kỳ đã bị hao tổn đến 20% sinh lực chiến đấu với 300 quân nhân tử trận, 3.000 bị thương, 183 xe tăng, 194 xe háp-trắc, 208 khẩu đại bác cùng 512 xe tải và jeep bị phá hủy. Quân Anh và quân Pháp cũng bị thương vong rất nặng nề. Không những thế, Tập đoàn Thiết giáp Phi châu đã bắt được 4.026 tù binh đồng thời thu giữ 61 xe tăng và háp-trắc, 161 phương tiện mô tô, 45 tấn đạn dược, 36 khẩu pháo và vô số khí tài, trang thiết bị khác. Thiệt hại về nhân lực của phe Trục chỉ bao gồm 989 sĩ quan và binh lính, trong số đó 201 tử trận, 536 bị thương và 252 mất tích.
Trận đèo Kasserine thường được xem là trong những thảm họa ghê gớm nhất trong suốt chiều dài lịch sử quân sự Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, sự kháng cự bền bỉ của quân Đồng Minh cùng với những rắc rối về tiếp tế của quân Đức-Ý và thái độ bất hợp tác của Arnim – một người có hiềm khích với Rommel
– đã biến trận đánh thành một thất bại về tác chiến và chiến lược của Tập đoàn Thiết giáp Phi châu. Các kế hoạch của Kesselring, Rommel và Bộ Tổng tư lệnh Ý nhằm đánh chiếm các căn cứ tiếp tế quân Đồng Minh và cô lập Tập đoàn quân số 1 Anh coi như bị phá sản. Ngay sau khi trận đánh kết thúc, Bộ Tổng tư lệnh Ý thành lập Cụm Tập đoàn quân Phi châu và phân công Rommel làm tư lệnh của cụm quân này vào ngày 23 tháng 2 năm 1943. Tuy vậy, sự kiện này không thể ngăn chặn việc cục diện Mặt trận Bắc Phi đang thay đổi theo chiều hướng có lợi cho Đồng Minh phương Tây.
Liên kết ngoài.
Facing The Fox In The Kasserine Pass
Entry in the Leaders & Battles Database | 1 | null |
Nguyễn Quang Hiếu, thường được biết đến với nghệ danh Hồ Quang Hiếu (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1983), là một nam ca sĩ và diễn viên người Việt Nam.
Anh sở hữu khuôn mặt điển trai, chất giọng đẹp, ấm áp phù hợp với các ca khúc ballad nhẹ nhàng, thành công sau bài hit đầu tiên trong sự nghiệp âm nhạc của mình trích từ album cùng tên "Chỉ cần em hạnh phúc". Hiếu còn nổi tiếng với các ca khúc trở thành hit như "Không cảm xúc", "Con bướm xuân", "Đừng buông tay anh", "Tìm em", "Em là của anh", "Đổi thay", "Nơi ấy con tìm về".
Cuộc đời và sự nghiệp.
1983 - 2013: Thời thơ ấu và khởi nghiệp.
Hồ Quang Hiếu sinh ra tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Hiếu tốt nghiệp trường Văn hóa Nghệ thuật Quân đội Hà Nội nhưng sau đó lại vào Thành phố Hồ Chí Minh để lập nghiệp. Hồ Quang Hiếu tham gia vòng sơ tuyển cuộc thi "Thần tượng Âm nhạc Việt Nam" năm 2007, ca khúc được Hiếu thể hiện là "Đôi mắt Pleiku" được vé vào vòng trong nhưng kết quả dừng bước ở top 60. Năm 2010, Hồ Quang Hiếu nhận giải quán quân trong cuộc thi "Hãy tỏa sáng".
Khác với nhiều ca sĩ trẻ mới bắt đầu khởi nghiệp với lợi thế có người lăng xê, đỡ đầu, Hồ Quang Hiếu đã 'tự lực cánh sinh' trong nghề. Không có manager, tự chọn ca khúc, viết kịch bản MV, book show… một tay Hồ Quang Hiếu làm hết. Sở hữu chất giọng đẹp, phù hợp với các ca khúc ballad nhẹ nhàng, Hồ Quang Hiếu đã chiếm được cảm tình của nhiều người.
Năm 2011, Hiếu cho ra mắt album "Chỉ cần em hạnh phúc", trong đó ca khúc chủ đề cùng tên "Chỉ cần em hạnh phúc" được sự ủng hộ tích cực của người nghe, nhiều tuần liên tiếp giữ vị trí đứng đầu trên bảng xếp hạng Zing MP3, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp ca hát của Hiếu.. Ca khúc giữ vị trí đầu tiên trong nhiều tuần trên bảng xếp hạng Zing và nằm vững ở Top 20. Trước đó, Hồ Quang Hiếu đã từng tham gia hát tại Nhà văn hóa quận 8. Hiếu còn ra mắt nhiều ca khúc trở thành hit như "Còn lại gì sau cơn mưa", "Đừng buông tay anh", "Nơi ấy con tìm về", "Mẹ", "Không cảm xúc".
2014 - 2015: "Con bướm xuân" và "Em là của anh".
Ca khúc cha cha cha "Con bướm xuân" năm 2014 được rất nhiều khán giả hát và cover lại. Ca khúc đạt 10,7 triệu lượt nghe trên trang âm nhạc online và 14 triệu lượt xem trên YouTube trong năm 2014. Ca khúc còn được Hiền Thục remix lại trở nên sinh động và vui nhộn hơn. Không chỉ dừng lại ở đó, Hồ Quang Hiếu còn thể hiện nhiều bài hát về quê hương như "Nỗi nhớ cao nguyên", "Miền Trung quê tôi". Ngày 2 tháng 3 năm 2014, Hồ Quang Hiếu chính thức phát hành đĩa đơn "Tìm em" do nhạc sĩ Trịnh Đình Quang sáng tác. Ca khúc kể về một câu chuyện buồn về tình yêu của một đôi trai gái. Cả hai cùng nhau có những khoảnh khắc hạnh phúc, yên bình bên nhau và rồi cô gái quyết định bỏ chàng trai ra đi để đến với một người khác giàu có hơn, điều này đã khiến chàng trai vô cùng đau khổ. Đóng cặp cùng Hiếu là cô gái 19 tuổi Rima Thanh Vy. Hiếu cũng vừa thực hiện xong chuyến lưu diễn 10 ngày ở châu Âu (Ba Lan, Na Uy, Ý, Áo, Nga, Hungari) và Mỹ.
"Một tình yêu đúng nghĩa" là bài hát do nhạc sĩ trẻ Trịnh Đình Quang sáng tác và được Trần Gia Lạc lên toàn bộ ý tưởng cho MV. Nội dung của bài hát dựa trên chuyện tình có thật của một người bạn rất thân của nhạc sĩ này. Nói về sự không trọn vẹn trong tình yêu ở mối tình tay ba đau khổ giữa Hồ Quang Hiếu và hai bạn diễn là Trương Quý Nhi và Gin. "Một tình yêu đúng nghĩa" là một trong tám bài hát nằm trong album "Làm những gì mình thích" được phát hành vào giữa tháng 6. Hồ Quang Hiếu đã tổ chức buổi họp fan vào chiều ngày 2 tháng 11 năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh để ra mắt bài hát "Mambo Italiano", buổi biểu diễn còn có sự tham gia của DJ Thúy Khanh, Hồ Việt Trung, Hồ Tuấn Anh, v.v... Đây là sản phẩm đánh dấu sự trở lại của anh sau dự án album "Mình cưới nhau nhé" cùng nữ ca sĩ Lương Bích Hữu. "Mambo Italiano" là một bài hát nhạc ngoại lời Việt được Hiếu trình diễn lần đầu tiên trong chương trình Cùng nhau tỏa sáng và được nhiều khán giả yêu thích, do đó Hiếu quyết định thực hiện MV cho bài hát này. Hồ Quang Hiếu cùng bạn thân Hồ Việt Trung ra mắt phim ca nhạc "Giải cứu tiểu thư". Phim ca nhạc dài hơn 46 phút, phát hành vào ngày 8 tháng 2 năm 2015. Sản phẩm đã lập kỷ lục với hơn 11 triệu lượt xem trên Youtube sau một tháng phát hành, đến bảy tháng thì cán mốc hơn 51 triệu lượt xem. Sau đó trở thành bộ phim ca nhạc đầu tiên ở Việt Nam cán mốc 100 triệu lượt xem trên YouTube.
Ngày 17 tháng 4 năm 2015, Hồ Quang Hiếu tổ chức họp báo để ra mắt MV "Chỉ còn trong ký ức". Buổi họp báo còn có sự tham gia của Cường Seven, nhóm FB Boiz và Hằng BingBoong. Ca khúc là một bản ballad nhẹ nhàng do nhạc sĩ Nguyễn Đình Vũ sáng tác. Hiếu còn ra mắt thêm một album mới nữa là "Chỉ còn trong ký ức". Sau nhiều năm chạy show, Hồ Quang Hiếu đã mua được một ngôi nhà trị giá 3 tỷ đồng. Ngôi nhà bốn tầng nằm ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, được mua với giá 2,7 tỷ đồng. Ngoài ra, Hiếu còn tự mua cho mình một chiếc xe hơi để tiện đi diễn phục vụ cho khán giả cả nước. Ngày 24 tháng 5, Hồ Quang Hiếu và Thanh Lam cùng nhiều nghệ sĩ khác (như Nguyên Vũ, Phạm Trưởng, Vân Khánh, Hồng Tơ) biểu diễn tại Đà Nẵng nhằm góp quỹ từ thiện cho nạn nhân chất độc màu da cam, buổi biểu diễn mang tên "Nước mắt Da Cam".
Tháng 8 năm 2015, Hồ Quang Hiếu cho ra mắt 2 MV mới. "Nhìn lại dấu chân" là ca khúc Hiếu dành tặng cho mẹ nhân lễ Vu Lan, "Chỉ là anh đang mơ" là sản phẩm cổ trang với hình tượng hoàn toàn mới của Hiếu. Ngày 4 tháng 11, Hiếu phát hành MV "Hết rồi", ca khúc chủ đề của phim "Dịch vụ tình yêu" do chính Hiếu đầu tư sản xuất và thủ vai chính. Theo kế hoạch, phim sẽ ra mắt vào dịp Tết Âm lịch 2016. Hiếu cho biết: "Hiếu từng diễn xuất trong nhiều MV hay gần đây nhất là phim ca nhạc Giải cứu tiểu thư nên Hiếu rất muốn được thử sức mình ở lĩnh vực điện ảnh trong một vai diễn. Thêm vào đó, Hiếu thích làm những việc mà mình chưa từng làm để thử thách bản thân". Cuối năm 2015, Hiếu phát hành ca khúc "Chúc mừng năm mới".
2016 - nay: "Vô vọng" và "Chia tay tuổi học trò".
"Vô vọng" - đĩa đơn của Hồ Quang Hiếu được trích từ những cảnh quay trong phim do Hiếu đầu tư sản xuất và thủ vai chính - "Dịch vụ tình yêu". Hiếu đã thể hiện được sự đau khổ trong tình yêu khi yêu hết mình nhưng lại không được đền đáp. "Vô vọng" được nhạc sĩ Nguyễn Hùng sáng tác, bạn diễn của Hiếu là hotgirl Trang Phi (từng tham gia series hài ngắn Ghiền Mì Gõ). "Sẽ nói dối để em vui" và "Chia tay tuổi học trò" - hai đĩa đơn được Hồ Quang Hiếu ra mắt với hai thể loại âm nhạc, nội dung khác nhau. Hiếu chia sẻ về "Chia tay tuổi học trò": "MV về tình yêu không quá đặc biệt, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thực hiện một sản phẩm về tuổi học trò, tặng các bạn học sinh khi mùa chia ly sắp đến với lời cầu chúc các bạn sẽ thi thật tốt". Tháng 12 năm 2016, Hiếu tổ chức cuộc thi cover hit Đổi Thay của mình trên Youtube và phần thắng thuộc về thí sinh Trần Quốc Thắng với giải thưởng 20 triệu đồng. Tháng 1 năm 2017, với sự hợp tác cùng Hoàng Rapper, Hiếu tung ra ca khúc Ăn Tết mang giai điệu sôi động. Ngoài ca hát, Hồ Quang Hiếu cũng thử diễn xuất trong một số MV ca nhạc. Sau sự kết hợp thành công của anh và ca sĩ Hồ Việt Trung trong "Giải cứu tiểu thư phần 1", Hồ Quang Hiếu cho ra mắt sản phẩm phim ca nhạc "Hổ Phụ Nuôi Hổ Tử" cùng kết hợp với nghệ sĩ gạo cội Tấn Beo.
Năm 2018, Hồ Quang Hiếu tung loạt series "Thiếu niên ra giang hồ" gồm 3 tập. Sản phẩm được đầu tư chỉn chu về nội dung, hình ảnh, cùng thông điệp về tình mẹ cao cả đã chiếm trọn trái tim người hâm mộ. Chính vì thế không lạ gì khi "Thiếu niên ra giang hồ" đứng đầu top thịnh hành trên youtube sau 7 ngày công chiếu, giúp Hồ Quang Hiếu nhận được nút vàng youtube. Bên cạnh đó nhạc phim "Chúng ta là anh em" cũng được đông đảo khán giả đón nhận.
Năm 2019, Hồ Quang Hiếu tiếp tục đầu tư làm một bộ phim WebDrama dài 10 tập mang tên Hiếu Bến Tàu được đông đảo khán giả đón nhận. Bộ phim kể về cuộc đời của một thiếu niên có một gia đình yên ấm với sự yêu thương của người mẹ nhưng bất ngờ biến cố ập đến khiến cho cuộc đời của Hiếu có nhiều thay đổi.
Trước đó vào tháng 4/2019, Hồ Quang Hiếu cho ra mắt cuốn tự truyện "Đổi thay" nói về quá khứ giang hồ, ăn chơi của mình. Tự truyện gồm bốn phần: Thời nông nổi, Hoàn lương, Những người tình trong cuộc đời, Thành công và thất bại và tên tự truyện được đặt tên theo 1 bản hit của Hồ Quang Hiếu. | 1 | null |
Bitcoin (ký hiệu: BTC, XBT, ) là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi một cá nhân hoặc tổ chức vô danh dùng tên Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009. Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào.
Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: không có một ngân hàng trung ương nào quản lý nó và hệ thống hoạt động dựa trên một giao thức mạng ngang hàng trên Internet. Sự cung ứng Bitcoin là tự động, hạn chế, được phân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán. Bitcoin được cấp tới các máy tính "đào" Bitcoin để trả công cho việc xác minh giao dịch Bitcoin và ghi chúng vào cuốn sổ cái được phân tán trong mạng ngang hàng, thông qua công nghệ blockchain. Cuốn sổ cái này sử dụng Bitcoin là đơn vị kế toán. Mỗi bitcoin có thể được chia nhỏ tới 100 triệu đơn vị nhỏ hơn gọi là satoshi.
Phí giao dịch có thể áp dụng cho giao dịch mới tùy thuộc vào nguồn tài nguyên của mạng. Ngoài phí giao dịch, các thợ đào còn được trả công cho việc tạo ra các khối (block) chứa nhật ký giao dịch. Cứ mỗi 10 phút, một khối mới được tạo ra kèm theo một lượng Bitcoin được cấp phát. Số bitcoin được cấp cho mỗi khối phụ thuộc vào thời gian hoạt động của mạng lưới. Vào tháng 5 năm 2020, 6,25 bitcoin được cấp phát cho mỗi khối mới. Tốc độ lạm phát sẽ giảm một nửa còn 3,125 bitcoin vào khoảng tháng 5 năm 2024 và tiếp tục giảm một nửa sau mỗi chu kỳ 4 năm cho tới khi có tổng cộng 21 triệu Bitcoin được phát hành vào năm 2140. Ngoài việc đào Bitcoin, người dùng có thể có Bitcoin bằng cách trao đổi lấy Bitcoin khi bán tiền tệ, hàng hoá, hoặc dịch vụ khác.
Bitcoin là loại tiền mã hoá điển hình nhất, ra đời đầu tiên, và được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử. Các doanh nghiệp có xu hướng muốn thanh toán bằng Bitcoin để giảm thiểu chi phí. Đến tháng 2 năm 2021, lượng tiền cơ sở của Bitcoin được định giá hơn 1.2 nghìn tỷ đô la Mỹ - là loại tiền mã hóa có giá trị thị trường lớn nhất. Những biến động lớn trong giá trị của mỗi bitcoin đã tạo nên những lời chỉ trích về tính phù hợp kinh tế của Bitcoin như là một loại tiền tệ.
Lưu ý rằng, thuật ngữ Bitcoin được viết hoa khi nhắc tới như một giao thức, phần mềm, hoặc cộng đồng và được viết thường khi được nhắc tới như một đơn vị tiền tệ.
Lịch sử.
Bitcoin bắt đầu được Satoshi thiết kế từ 2007 khi ông tin rằng có thể thiết kế được một hệ thống giao dịch mà các thành viên không cần tin tưởng nhau. Tên miền bitcoin.org được đăng ký vào ngày 18 tháng 8 năm 2008.
Bitcoin lần đầu được nhắc đến vào ngày 31 tháng 10 năm 2008 trong bản cáo bạch về giao thức thanh toán ngang hàng của nhân vật ẩn danh Satoshi Nakamoto. Nó bắt đầu được đưa vào sử dụng từ ngày 9 tháng 1 năm 2009 với khối Bitcoin khởi thủy được ra đời (genesis block). Đoạn văn sau được nhúng trong nội dung của khối khởi thủy:The Times 03/Jan/2009 Chancellor on brink of second bailout for banks - Trích dẫn tới một bài báo của tờ Times of London chỉ ra rằng chính phủ Anh đã thất bại trong việc kích thích nền kinh tế và chuẩn bị phải đưa ra gói cứu trợ thứ hai cho các ngân hàng, gây ra bởi hệ thống ngân hàng dự trữ một phần.Giao dịch Bitcoin đầu tiên được thực hiện khi Satoshi Nakamoto gửi 10 bitcoin cho nhà mật mã học Hal Finney vào ngày 12 tháng 1 năm 2009, ngay khi phần mềm Bitcoin được phát hành lần đầu.
Ngày 5 tháng 10 năm 2009, lần đầu tiên giá trị của Bitcoin được ấn định trên sàn giao dịch, khởi điểm ở mức 1 đô la Mỹ tương đương 1.309,03 Bitcoin (hoặc 1 Bitcoin = 0,00076 USD). Giá trị này được tính bởi chi phí tiền điện của một máy tính hao tốn khi đào ra Bitcoin.
Cộng đồng phát triển Bitcoin dần dần mất hoàn toàn liên lạc với Satoshi từ giữa năm 2010, sau khi ông đưa cho Gavin Andresen khóa báo động khi mạng lưới Bitcoin bị tấn công. Khóa này có thể dùng để báo động tới toàn mạng lưới ngừng lưu lại giao dịch. Khóa báo động này sau đó được hủy bỏ để tăng tính phân tán của hệ thống Bitcoin. Cho tới nay, danh tính chính xác của Satoshi Nakamoto vẫn còn là một ẩn số.
Ngày 22 tháng 5 năm 2010, lần đầu tiên Bitcoin được sử dụng để mua hàng hóa - 2 bánh pizza với giá 10000 bitcoin, tương đương 25 đô la Mỹ tại thời điểm đó.
Trong vòng 5 ngày từ ngày 12 tháng 7 năm 2010, giá của Bitcoin tăng lên 10 lần từ 0,008 đô la Mỹ lên 0,08 đô la Mỹ.
Trong năm 2011, giá trị của đồng Bitcoin tăng từ 0,30 đô la Mỹ lên 32 đô la Mỹ, trước khi giảm xuống còn 2 đô la Mỹ.
Bitcoin bắt đầu thu hút dư luận từ năm 2012, khi có rất nhiều bài báo nhắc đến nó. Năm 2013, một số dịch vụ lớn như OKCupid, Baidu, Reddit, Humble Bundle, Foodler và Gyft bắt đầu sử dụng nó. Tại Canada đã có máy ATM mua bán Bitcoin đầu tiên trên thế giới.
Tháng 12 năm 2013, tại Việt Nam, đại lý mua, bán Bitcoin đầu tiên ra đời với tên gọi là Bitcoin Vietnam cho phép mua hoặc bán bitcoin dễ dàng sau khi thực hiện thủ tục xác minh danh tính. Bitcoin Vietnam giao dịch trực tiếp với các đối tác tại Singapore, Mỹ, Israel để cân bằng kho Bitcoin và VNĐ của mình. Sau đó, việc cân bằng này được thực hiện qua sàn giao dịch VBTC.
Tháng 1 năm 2014, Dịch vụ bảo hiểm đầu tiên sử dụng Bitcoin được ra mắt, ngay sau đó Overstock tuyên bố họ là nhà phát hành bán lẻ đầu tiên chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin tại Mỹ. Một tháng sau, chính phủ Anh đưa ra dự thảo về việc sẽ tính thuế với giao dịch Bitcoin.
Ngày 27 tháng 2 năm 2014, Ngân hàng Nhà nước khuyến cáo về việc sử dụng Bitcoin trong "Thông cáo báo chí về Bitcoin và các loại tiền số khác", có đoạn như sau: "Về việc sử dụng bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau: Theo các quy định của pháp luật hiện hành về tiền tệ và ngân hàng, bitcoin (và các loại tiền số tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Do vậy, việc sử dụng bitcoin (và các loại tiền số tương tự khác) làm phương tiện thanh toán không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ".
Ngày 28 tháng 2 năm 2014, sàn giao dịch Bitcoin Mt.Gox đã nộp đơn phá sản tại Nhật Bản do để mất 750.000 bitcoin của khách hàng và 100.000 Bitcoin của chính Mt.Gox tương đương 473 triệu đô la Mỹ. Vụ việc đã làm giảm uy tín của loại đồng tiền số này, khiến giá Bitcoin giảm từ đỉnh điểm 1.242 đô la Mỹ xuống còn mức thấp nhất là 152 đô la Mỹ.
Tháng 6 năm 2014, Cục Điều Tra Liên Bang FBI thông báo về việc thu hồi 29.000 bitcoin sau chiến dịch truy quét thị trường web chìm Silk Road. Việc này đã xoa dịu hình ảnh một đồng tiền chuyên dùng bởi các tổ chức tội phạm trước kia của Bitcoin. Ngay sau đó 1 tháng, Sở Tài chính New York dự định đưa Bitcoin vào diện những đồng tiền được pháp luật bảo hộ với BitLicence.
Tháng 7 năm 2014, tại Việt Nam, sàn giao dịch Bitcoin trực tuyến đầu tiên ra đời với tên gọi là VBTC, vận hành bởi đội ngũ Bitcoin Vietnam hợp tác cùng công ty Blinktrade tại New York, Mỹ. VBTC là một sàn giao dịch tập trung. VBTC hoạt động theo chuẩn của các sàn giao dịch lớn trên thế giới, bao gồm các API mở theo giao thức FIX của Nasdaq, cho phép robot giao dịch tần suất cao hoạt động để tạo lập thị trường.
Tháng 1 năm 2015, Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) trở thành nhà đầu tư chính cho khoản đầu tư 75 triệu đô la Mỹ cho Coinbase. NYSE nhắm tới việc khai thác một loại tài sản mới mang tính minh bạch, an toàn và tin tưởng cho Bitcoin.
Tháng 8 năm 2015, Barclays trở thành ngân hàng lớn đầu tiên tại Anh Quốc chấp nhận Bitcoin, khởi đầu bằng cách cho phép người dùng đóng góp từ thiện bằng cách sử dụng đồng tiền này. Cũng trong thời gian này, thủ tướng Vương quốc Anh David Cameroon đã mang theo đại diện công ty Blockchain tới Việt Nam để tổ chức hội nghị bàn tròn FinTech tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Tháng 10 năm 2015, tại Việt Nam, dịch vụ mua bán tiền số SanTienAo bắt đầu mua bán Bitcoin. Tiền thân của SanTienAo là dịch vụ mua bán các loại tiền số gắn với đô la Mỹ như WMZ, LR, PM, BTC-e. SanTienAo sử dụng kho BTC-e của mình để chuyển đổi trực tiếp ra Bitcoin khi có lệnh mua và ngược lại.
Tháng 11 năm 2015, ký hiệu Bitcoin () đã được chính thức đưa vào bộ mã Unicode tại vị trí U+20BF trong bảng mã này.
Tháng 3 năm 2016, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đứng đầu là ngoại trưởng John Kerry, đã dẫn một đoàn đại biểu tới các nước ASEAN trong đó có Việt Nam để thảo luận về phát triển Fintech và đặc biệt là về công nghệ Blockchain.
Ngày 5 tháng 6 năm 2016, chiếc máy Bitcoin ATM đầu tiên tại Việt Nam bắt đầu được đưa vào thử nghiệm tại cửa hàng Italiani's Pizza tại địa chỉ 290 Lý Tự Trọng, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh - đối diện Starbucks vòng xoay Phù Đổng. Chiếc máy này được sản xuất bởi BitAccess, điều hành bởi Bitcoin Vietnam và Bspend và được kết nối trực tiếp tới sàn giao dịch VBTC để mua, bán Bitcoin và các loại Altcoin khác như Ethereum, Monero, Tron, Golem... bằng tiền mặt (Đồng). Sau đó, chiếc Bitcoin ATM thứ 2 được đưa vào sử dụng tại quán cafe Bitcoin tại 74 Bùi Viện, thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2016.
Ngày 15 và 16 tháng 6 năm 2016, hội thảo về công nghệ Blockchain và Fintech đầu tiên tại Việt Nam, với tên gọi là BlockFin.Asia, được tổ chức tại khách sạn Duxton tại thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo được tổ chức bởi Viet Youth Entrepreneur, Bitcoin Vietnam, Fintech Club, với sự tham gia của các đại diện bao gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ, ngân hàng ADB, VIB, VPBank, Standard Chartered, công ty VISA, MoMo, FPT Ventures, 500 Startups, Dragon Capital, và rất nhiều công ty Bitcoin khác đến từ Singapore, Hong Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Ngày 2 tháng 8 năm 2016, sàn Bitcoin Bitfinex tại Hong Kong bị hacker tấn công và đã để mất 119.756 bitcoin, tương đương khoảng 72 triệu đô la Mỹ và chiếm 0.75% tổng lượng Bitcoin đang lưu hành. Giá Bitcoin ngay lập tức sụt giảm 20% từ 607 đô la Mỹ xuống còn 480 đô la Mỹ, và hồi phục dần dần lại mức 600 đô la Mỹ cho tới thời điểm ngày 8 tháng 8 năm 2016. Tất cả khách hàng của Bitfinex đều bị mất 36% số tài sản của mình trên sàn này.
Tháng 12 năm 2016, tại Việt Nam, Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tư pháp phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương và các bộ ngành khác rà soát thực trạng pháp luật, thực tiễn về tiền số, tài sản số, tiền điện tử trước tháng 12/2017, nghiên cứu lập 3 nghị định về tài sản số, tiền điện tử, tiền số trình Chính phủ trong năm 2018. Đồng thời, đề xuất các biện pháp thu thuế, xử phạt hình sự với các vi phạm liên quan đến các giao dịch này thông qua việc học tập kinh nghiệm quản lý ở Mỹ, EU, Nhật Bản. Đây là bước đi đầu tiên của Chính phủ trong việc công nhận Bitcoin và dần đưa Bitcoin vào hệ thống pháp luật.
Ngày 1 tháng 4 năm 2017, Nhật Bản đã công nhận Bitcoin là một phương thức thanh toán chính thức. Sau đó, ngày 9/5/2017, Úc đã bãi bỏ việc thu thuế đối với Bitcoin và nó được đối xử như một loại tiền tệ cho mục đích thuế.
Ngày 25 tháng 7 năm 2017, chính phủ Mỹ đã đánh sập sàn giao dịch BTC-e thông qua việc bắt giữ người điều hành Alexander Vinnik. BTC-e bị cáo buộc là đã cố ý trợ giúp rửa tiền cho vụ hack sàn giao dịch Mt. Gox, các virus tống tiền, các giao dịch phạm pháp trên chợ đen, và khuyến khích việc rửa tiền tại đây mặc dù biết nguồn gốc của những giao dịch đó. Báo cáo từ New York University cho biết 95% việc rửa tiền của các virus tổng tiền được xảy ra tại BTC-e. Sự kiện này là một đòn giáng cực mạnh tới cộng đồng giao dịch ngầm trực tuyến và một số người sử dụng Bitcoin tại Việt Nam, từ những người đào Bitcoin, người giao dịch Bitcoin hoặc voucher BTC-e, cho tới các dịch vụ chuyển đổi tự động thông qua BTC-e. Phần đông người giao dịch ngầm tại Việt Nam sử dụng BTC-e vì sàn này không có bất kỳ yêu cầu và hạn chế nào cho việc xác minh danh tính khách hàng (KYC), chống rửa tiền (AML) và lịch sử giao dịch đồng BTC-E - một đồng tiền neo theo đô la Mỹ được giới kinh doanh ngầm tại Việt Nam sử dụng phổ biến, dẫn tới việc mất toàn bộ số tiền đang lưu trữ tại đây. Thống kê từ SimilarWeb cho thấy Việt Nam là quốc gia có lưu lượng truy cập BTC-e nhiều nhất. Sự kiện này đánh dấu sự chấm hết cho các sàn giao dịch Bitcoin lớn không tuân thủ pháp luật, đặc biệt là không có KYC/AML và không đăng ký, và được ví như sự kiện Liberty Reserve bị chính phủ Mỹ đánh sập từ năm 2013.
Ngày 1 tháng 8 năm 2017, một phiên bản chia nhánh của Bitcoin được ra đời với tên gọi là Bitcoin Cash do không đạt được đồng thuận trên 50% trong mạng Bitcoin nguyên thủy về việc nâng giới hạn khối lên 8MB. Tất cả những ai đang sở hữu Bitcoin đều nhận được lượng Bitcoin Cash tương ứng trong ví của mình.
Ngày 15 tháng 8 năm 2017, công ty Blockstream bắt đầu sử dụng các vệ tinh để truyền tải dữ liệu chuỗi khối Bitcoin tới người dùng toàn cầu, kể cả việc họ không có Internet. Trước đó, một công ty Thụy Sĩ đã đưa một số trạm Bitcoin vào các hầm trú bom nguyên tử dưới lòng đất. Hai giải pháp này nhằm mục đích bảo toàn hệ thống Bitcoin toàn cầu trong mọi trường hợp.
Ngày 21 tháng 8 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý các loại tài sản số, tiền điện tử, tiền số, trong đó có Bitcoin. Đây là tín hiệu chính thức từ phía Chính phủ rằng các giao dịch Bitcoin sẽ được hợp pháp hóa bằng cách học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước tiên tiến khác. Thời gian để các bộ ngành hoàn thiện đề án này là tháng 8 năm 2018.
Ngày 10 tháng 12 năm 2017, sàn CBoE chính thức mở bán hợp đồng tương lai Bitcoin. Sau đó 1 tuần, sàn Chicago Mercantile Exchange (CME - sở giao dịch quyền chọn lớn nhất thế giới) cũng sẽ phát hành sản phẩm này. Sàn Nasdaq cũng thông báo cũng sẽ triển khai dịch vụ này từ nửa đầu năm 2018.
Giá Bitcoin trong năm 2017 đã biến động rất mạnh, bắt đầu từ 998 đô la Mỹ và tăng 1,245% lên 13.412,44 đô la Mỹ vào ngày 1 tháng 1 năm 2018. Vào ngày 17 tháng 12, giá bitcoin đạt mức cao kỷ lục 19.666 đô la Mỹ và sau đó giảm 70% còn 5.920 đô la Mỹ vào ngày 6 tháng 2 năm 2018.
Trung Quốc bắt đầu hạn chế giao dịch bằng bitcoin từ tháng 9 năm 2017, và lệnh hạn chế hoàn toàn bắt đầu từ ngày 1 tháng 2 năm 2018. Giá Bitcoin sau đó giảm từ 9.052 đô la Mỹ xuống còn 6.914 đô la Mỹ vào ngày 5/2/2018. Tỷ lệ giao dịch bitcoin bằng Nhân dân tệ giảm từ trên 90% vào tháng 9/2017 xuống còn dưới 1% vào tháng 6.
Ngày 2 tháng 5 năm 2018, Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định 72-QĐ-XPVPHC tịch thu tên miền bitcoin.vn vì lý do không liên quan tới giao dịch Bitcoin: "thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội tại tên miền bitcoin.vn nhưng không có giấy phép". Công ty Bitcoin Vietnam sau đó đã đổi địa chỉ dịch vụ của mình tới tên miền bitcoinvn.io.
Ngày 3 tháng 8 năm 2018, Intercontinental Exchange - chủ sở hữu Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) công bố hợp tác với Microsoft, Starbucks, Boston Consulting Group để mở sàn giao dịch Bitcoin có tên là Bakkt vào tháng 11 năm 2018. Mục tiêu là để dọn đường cho các nhà quản lý tiền lớn cung cấp các quỹ tương hỗ Bitcoin, các quỹ hưu trí và các quỹ ETF như các khoản đầu tư được điều tiết cao. Bakkt có khả năng đưa Bitcoin trở thành một kênh đầu tư chính thống dễ dàng tới tất cả các nhà đầu tư tại phố Wall cũng như mọi người dân bình thường.
Ngày 21 tháng 10 năm 2020, Paypal thông báo cho phép mua, bán, lưu trữ, thanh toán bằng Bitcoin trên dịch vụ của mình sau khi nhận được giấy phép BitLicence từ Sở Tài chính New York vào cùng ngày, hứa hẹn mở ra một chuỗi sự kiện chấp nhận Bitcoin từ các tổ chức tài chính toàn cầu khác.
Ngày 8 tháng 2 năm 2021, sau cuộc trao đổi giữa 2 tỉ phú Michael Saylor và Elon Musk trên Twitter trước đó, Tesla công bố đã mua 1,5 tỷ đô la Mỹ Bitcoin trong hồ sơ gửi lên SEC, hứa hẹn một chuỗi sự kiện chấp nhận Bitcoin từ các tập đoàn công nghệ lớn khác.
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, Coinbase - sàn giao dịch tiền điện tử lớn nhất ở Hoa Kỳ, trở thành công ty đại chúng với mã COIN trên sàn giao dịch Nasdaq.
Ngày 12 tháng 6 năm 2021, bản nâng cấp Taproot chính thức được khoá để kích hoạt vào tháng 11 năm 2021. Bản nâng cấp lớn nhất kể từ 2017 này giúp mạng lưới Bitcoin hoạt động hiệu quả hơn, rẻ hơn, tăng tính riêng tư, và cho phép chạy được các hợp đồng thông minh phức tạp hơn.
Ngày 7 tháng 9 năm 2021, El Salvador trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận Bitcoin là một đồng tiền hợp pháp, đưa Bitcoin vào ngân khố quốc gia, và bắt buộc tất cả doanh nghiệp trong nước chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin. Ngoài ra, Chính phủ El Salvador sẽ tổ chức khai thác Bitcoin bằng năng lượng địa nhiệt (geothermal) tái tạo và chi 150 triệu đô la Mỹ chỉ để mua Bitcoin.
Ngày 14 tháng 11 năm 2021, bản nâng cấp Taproot của Bitcoin chính thức được kích hoạt tại block 709632, giúp đưa thêm một số dạng hợp đồng thông minh tới Bitcoin, đồng thời giúp mạng lưới hoạt động hiệu quả, an ninh và bảo mật cao hơn.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định số 343/QĐ-BNV được Bộ Nội vụ phê duyệt, Hiệp hội Blockchain Việt Nam được phép thành lập. Hiệp hội Blockchain Việt Nam sẽ là tổ chức vận động hành lang pháp lý cho công nghệ blockchain nói chung và Bitcoin nói riêng.
Ngày 12 tháng 12 năm 2021, giá Bitcoin đang ở mức 49,685.40 Đô La Mỹ - tức bằng 1tỷ173 triệu Việt Nam Đồng cho mỗi Bitcoin.
Hiện tại,giá Bitcoin đang ở mức 20148,20 Đô La Mỹ - tức bằng 471.810.399,40 triệu Việt Nam Đồng cho 1 Bitcoin.
Thiết kế.
Tích hợp sẵn trong giao thức Bitcoin là công nghệ blockchain. Tất cả giao dịch mua và bán đều được cập nhật trên hệ thống lưu trữ máy tính ngang hàng, được gọi là blockchain (chuỗi khối) - là một cuốn sổ cái ghi lại số dư của mỗi tài khoản và lịch sử tất cả tài khoản tham gia giao dịch trước đó.
Blockchain - Chuỗi khối.
Mọi dữ liệu trên mạng Internet đều rất dễ dàng bị sao chép, mỗi giao dịch Bitcoin cũng chỉ là một khối thông tin. Bình thường, khi giao dịch trực tuyến, chúng ta sẽ cần đến một bên trung gian thứ ba mà chúng ta tin tưởng (ví dụ ngân hàng hay một người trung gian được tin cậy) với một cơ sở dữ liệu tập trung để xác minh giao dịch nhằm chống gian lận khi kẻ gian sử dụng lại khối thông tin này nhiều lần. Công nghệ blockchain đã giải quyết được bài toán này (double-spending) mà không cần tới bên trung gian thứ ba tin cậy. Blockchain là một cuốn sổ cái ghi lại tất cả các giao dịch. Dữ liệu trong cuốn sổ cái liên tục được mạng lưới máy tính ngang hàng trên thế giới cập nhật và bảo trì. Giao dịch khi A gửi X bitcoin cho B được ghi lại trên toàn hệ thống, tất cả các máy tính trong mạng này sẽ xác minh và ghi lại giao dịch đó vào cuốn sổ cái rồi cấp phát dữ liệu này tới các máy tính khác. Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân tán vô chủ; các máy tính liên tục thực hiện việc kiểm toán độc lập bằng cách xác minh dữ liệu nhận tới và so sánh với chữ ký của giao dịch đó.
Về công nghệ, các giao dịch được xác minh bởi thuật toán chữ ký số dựa trên đường cong Elliptic (ECDSA) và được xác nhận bởi chuỗi các quá trình xử lý lần lượt các hàm băm SHA256 bởi các thợ đào Bitcoin. Mỗi khối trong blockchain chứa tất cả thông tin giao dịch trong khối đó trong 1 cây Merkle - là một cây nhị phân có thứ tự được xây dựng từ một dãy các đối tượng dữ liệu sử dụng hàm băm - để đạt hiệu quả cao trong việc lưu trữ và xác minh với lượng dữ liệu lớn các giao dịch. Khi có một giao dịch không hợp lệ, hệ thống sẽ loại bỏ nó bằng cách chọn theo số đông. Cách giải quyết về sự đồng thuận này của công nghệ blockchain là lời giải cho bài toán các vị tướng Byzantine trong ngành khoa học máy tính. Càng có nhiều máy tính tham gia vào hệ thống ngang hàng cho blockchain thì sức mạnh xử lý và độ an toàn của hệ thống blockchain đó càng cao.
Công nghệ blockchain có rất nhiều ứng dụng khác mà tiền tệ Bitcoin chỉ là một trong số đó, ví dụ: ứng dụng cho việc đăng ký sử dụng đất đai, các loại công chứng, hợp đồng thông minh (tự động cho phép hoặc hủy giao dịch với một số điều kiện được lập trình sẵn), đăng ký tên miền, quy trình bỏ phiếu... khi các thuật toán trở nên đáng tin cậy hơn các bên trung gian thứ ba, công nghệ blockchain cho phép những người lạ có thể giao dịch an toàn với nhau mà không cần tin tưởng nhau.
Đào Bitcoin.
Để có thể được cả mạng lưới chấp nhận, khối mới cần phải chứa bằng chứng công việc (proof-of-work). Proof-of-work yêu cầu thợ đào tìm kiếm một số nonce, mà khi nội dung của khối được hash (hàm băm mật mã học) cùng nonce, kết quả tạo ra một số nhỏ hơn số target của mạng lưới (số target càng nhỏ thì độ khó càng cao). Nói cách khác: Proof-of-work rất dễ cho các máy tính xác nhận, nhưng cực kỳ mất nhiều thời gian để có thể tạo ra. Thợ đào phải thử rất nhiều giá trị nonce khác nhau trước khi đạt được độ khó mà mạng lưới yêu cầu.
Quá trình khai thác Bitcoin được ngữ cảnh hóa tốt nhất về mặt khai thác các khối tiền điện tử, trái ngược với các đơn vị đơn lẻ, chẳng hạn như một Bitcoin (BTC). Lý do rất đơn giản: Bitcoin mới chỉ được khai thác bất cứ khi nào một khối mới trên chuỗi khối Bitcoin được xác thực.
Cứ mỗi 2016 khối được tạo ra (mất khoảng 14 ngày), độ khó lại được mạng lưới tự động tinh chỉnh dựa trên khả năng của toàn bộ mạng lưới, với mục đích là để giữ khoảng thời gian giữa các khối mới được tạo ra là 10 phút. Từ tháng 3 năm 2014 tới tháng 3 năm 2015, số lượng nonce trung bình mà máy đào phải hash thử trước khi tạo được ra khối mới đã tăng từ 16,4 tỷ tỷ lên 200,5 tỷ tỷ.
Cách hệ thống proof-of-work hoạt động, kèm theo việc xâu chuỗi lại các khối khi dữ liệu của khối mới bao gồm hash của khối cũ, giúp cho việc thay đổi blockchain cực kỳ khó, khi mà kẻ tấn công cần phải thay đổi tất cả các khối phía sau để việc thay đổi một khối được chấp nhận. Điều này đòi hỏi kẻ tấn công cần có hơn 50% sức mạnh xử lý của toàn mạng Blockchain. Các khối mới liên tục được tạo ra, và độ khó của việc thay đổi 1 khối tăng dần theo thời gian với số lượng khối cần thay đổi (còn được gọi là mức xác thực của một khối - confirmations) tăng lên.
Thợ đào (hoặc mỏ đào) Bitcoin tìm được ra khối mới sẽ được thưởng số bitcoin thưởng trong khối đó cộng toàn bộ phí giao dịch được xử lý trong khối đó. Tại thời điểm cuối năm 2016, phần thưởng đang là 12,5 bitcoin cho mỗi khối. Để nhận được phần thưởng này, một giao dịch đặc biệt có tên là coinbase được đưa vào thanh toán. Tất cả Bitcoin tồn tại được khởi tạo từ những giao dịch nguồn (coinbase) đó. Giao thức Bitcoin quy định rằng phần thưởng sẽ giảm một nửa sau mỗi 210.000 khối (khoảng 4 năm). Cuối cùng, phần thưởng sẽ tiệm cận tới 0 khi số bitcoin trên thị trường đạt ngưỡng 21 triệu bitcoin vào năm 2140. Lúc đó, thợ đào sẽ chỉ có phần thưởng là phí giao dịch. Nói cách khác, Satoshi đã tạo ra một chính sách tiền tệ dựa trên sự khan hiếm nhân tạo khi sáng tạo ra Bitcoin rằng sẽ chỉ có tổng cộng 21 triệu bitcoin được lưu hành.
Trong thực tế, các thợ đào thường sẽ tham gia vào các mỏ đào lớn để tập hợp được khả năng tính toán của máy đào thành viên trong mỏ đó nhằm tăng xác suất tạo được ra khối mới, và sau đó tiền công sẽ được chia đều theo khối lượng công việc cho thành viên trong mỏ đào. Việc đào mỏ đã tạo ra một loạt công nghệ chuyên biệt để đào Bitcoin. Hiện tại, hệ thống đào Bitcoin hiệu quả nhất sử dụng vi mạch tích hợp chuyên dụng ASIC vì chúng xử lý tính toán số học nhanh hơn bộ vi xử lý máy tính (kể cả trong bo mạch đồ họa) mà lại khi sử dụng ít điện năng hơn.
Tại Việt Nam, trước năm 2014, các thợ đào tiền mã hóa tại Việt Nam chủ yếu sử dụng bo mạch đồ họa của AMD để đào Bitcoin vì hiệu suất tính toán cao của chúng, khiến cho giá các loại bo mạch đồ họa này tăng cao. Tuy nhiên, sau đó họ chuyển sang đào các loại tiền mã hóa khác như Ethereum, Zcash, Litecoin... vì khó cạnh tranh được với các mỏ đào ASIC chuyên nghiệp. Giới đào mỏ trong nước hoạt động tương đối khép kín vì tính chất nhạy cảm của Bitcoin và một phần trong số họ sử dụng nguồn điện không hợp pháp và không đóng thuế thu nhập.
Tài khoản.
Mỗi tài khoản Bitcoin được biểu diễn dưới dạng 1 ví Bitcoin. Mỗi ví Bitcoin bao gồm địa chỉ Bitcoin công khai (hash của public key) và khóa riêng tư (private key). Một địa chỉ có 160 bit dữ liệu, vì vậy có thể tạo ra tổng cộng 2160 địa chỉ Bitcoin - tương đương 1048 địa chỉ (để so sánh: có tổng cộng khoảng 1047 phân tử nước trên trái đất). Ngoài ra địa chỉ còn bao gồm 4 byte checksum nên xác suất mạng lưới chấp nhận địa chỉ Bitcoin gõ sai cực kỳ thấp.
Bất kỳ ai cũng có thể gửi Bitcoin đến một chiếc ví bằng địa chỉ công khai, còn khoá riêng tư phải được nhập khi chủ ví muốn gửi Bitcoin đi. Vì vậy, việc sở hữu Bitcoin được định nghĩa là sự nắm giữ khoá riêng tư của 1 địa chỉ Bitcoin. Một khi khoá riêng tư bị mất, mạng lưới Bitcoin sẽ không thể xác nhận được việc sở hữu số bitcoin đó, và số bitcoin trong địa chỉ đó sẽ vĩnh viễn bị mất. Khoảng 20% số bitcoin đang lưu hành được cho là bị mất vĩnh viễn do người dùng bị mất khóa riêng tư. Số tiền bị mất có giá trị thị trường khoảng 20 tỷ đô la Mỹ vào tháng 7 năm 2018. Ngoài ra, có khoảng 1 triệu bitcoin đã bị đánh cắp, tương đương 7 tỷ đô la Mỹ vào tháng 7 năm 2018.
Ví cho phép người dùng hoàn tất thanh toán giữa các địa chỉ khác nhau bằng cách cập nhật vào blockchain. Khi thực hiện giao dịch bằng thiết bị di động, người dùng có thể sử dụng mã QR để đơn giản hoá quy trình thanh toán.
Có nhiều loại công cụ quản lý Ví Bitcoin hiện hành. Điển hình: Ví trên nền tảng Web dễ sử dụng nhất, bao gồm: Coinbase, Blockchain.info, BitGo, Xapo; Ví phần mềm: Armory, Bitcoin Core; Ví cho thiết bị di động: breadwallet, Blockchain.info; Ví phần cứng: Ledger Nano S, Trezor; Hoặc bạn có thể tự in ví giấy cho mình để cất trong tủ an toàn từ một trong các ví trên.
Giao dịch.
Một giao dịch là một sự dịch chuyển Bitcoin được phát tán tới mạng lưới Bitcoin và gom vào khối. Mỗi giao dịch đều bao gồm đầu vào (là đầu ra trong giao dịch cũ của số Bitcoin đó), đầu ra (chứa thông tin giao dịch) và một đoạn script chứa các điều kiện giao dịch. Đoạn script được viết bằng ngôn ngữ tương tự như ngôn ngữ Forth này được thiết kế một cách tối giản bởi Satoshi, là một chương trình không Turing-complete để tránh vòng lặp vô hạn. Việc sử dụng script trong giao dịch giúp tích hợp các tính năng nâng cao như hợp đồng thông minh, chỉ cho thanh toán nếu 2 trong 3 bên đồng ý. Giao dịch chỉ được mạng lưới chấp nhận cho vào khối nếu scriptSig kết hợp scriptPubKey trong chương trình đó trả về giá trị true và tổng giá trị trong đầu ra không cao hơn tổng giá trị đầu vào. Chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào chính là phí giao dịch trả cho mạng lưới.
Tính bảo mật.
Cũng giống như các chính phủ phụ thuộc vào quyền lực của quân đội và cơ quan hành pháp để đảm bảo an ninh tiền tệ, qua đó mang lại lòng tin và giá trị cho tiền pháp định, thì độ an toàn của hệ thống Bitcoin phụ thuộc vào khả năng xử lý (hashing power) của toàn bộ mạng lưới blockchain để chống lại các nguy cơ phá hoại đồng thời mang lại giá trị, niềm tin cho Bitcoin. Đã có nhiều vụ trộm Bitcoin thành công xảy ra nhưng tất cả đều có một đặc điểm chung là do nạn nhân để lộ khóa riêng tư cho kẻ tấn công. Cho tới nay, giao thức Bitcoin vẫn chưa hề có lỗ hổng bảo mật nào để làm mất Bitcoin của người dùng mà không dùng đến khóa riêng tư.
Tính riêng tư.
Bitcoin là loại tiền tệ bán ẩn danh, tức là số tiền không gắn với thực thể trong thế giới thật, mà gắn với địa chỉ Bitcoin. Tuy chủ sở hữu địa chỉ Bitcoin không được xác định rõ ràng, nhưng bù lại các giao dịch lại được công khai. Ngoài ra, các giao dịch có thể được liên kết với cá nhân hoặc công ty thông qua việc phân tích dòng giao dịch (ví dụ: nếu các giao dịch chi tiêu từ nhiều nguồn đầu vào thì có thể các nguồn đó đều chung chủ) và kết hợp dữ liệu đến từ các nguồn đã được định danh (các sàn giao dịch Bitcoin có thể được yêu cầu lưu trữ thông tin cá nhân người sử dụng). Mặc dù vậy, cũng như tiền mặt, việc xác định địa chỉ Bitcoin nào gắn với người nào là tương đối khó. Để tăng tính riêng tư, mỗi giao dịch cần sử dụng một địa chỉ Bitcoin mới.
Sự tiến hoá của phần mềm Bitcoin.
Phần mềm Bitcoin được phát hành dưới dạng mã nguồn mở, tức là ai cũng có thể xem được mã nguồn và thay đổi nó. Khi có một tính năng mới cần đưa vào Bitcoin, nhà phát triển phần mềm sẽ đưa ra 1 BIP (Bitcoin Improvement Proposals), bao gồm 1 pull request trên Github. Người sử dụng sẽ bình chọn những tính năng mà họ đồng ý bằng cách tải phiên bản Bitcoin chứa chúng về. Kể cả khi Satoshi đề xuất một thay đổi mà người dùng không muốn, họ có thể chọn cách không tải về và chạy nó. Bitcoin, cũng như các dự án mã nguồn mở khác, là một loại dân chủ không thủ lĩnh - một phương pháp mới để chi phối hành vi trực tuyến của con người. Mỗi máy tính là một phiếu bầu, và ai cũng có thể đưa ra luật mới. Vì Bitcoin là phần mềm tiến hoá được, nên những đồng tiền mã hoá khác rất khó để có thể cạnh tranh được với nó.
Quản trị.
Bitcoin là một phần mềm mã nguồn mở mà ban đầu được điều hành bởi Satoshi Nakamoto. Nakamoto rời vị trí này vào năm 2010 và giao chìa khóa cảnh báo mạng cho Gavin Andresen. Andresen tuyên bố ông đã tìm cách phân quyền kiểm soát và cho biết: "Ngay khi Satoshi rời đi và đặt dự án lên vai tôi, một trong những điều đầu tiên tôi làm là cố gắng phân quyền cho điều đó. Vì vậy, kể cả trong trường hợp tôi bị xe buýt đâm, dự án vẫn sẽ rõ ràng được tiếp tục". Khóa báo động này sau đó đã được chính Gavin hủy bỏ để biến Bitcoin thành một mạng lưới hoàn toàn phân quyền.
Việc quản lý một cách phân quyền đã mang tới nhiều tranh cãi về con đường mà Bitcoin sẽ được phát triển trong tương lai. Phần mềm Bitcoin nguyên thủy với tên gọi là Bitcoin Core đã có nhiều phiên bản cạnh tranh (fork) để đề xuất giải quyết các vấn đề quản trị khác nhau và gây tranh cãi. Lựa chọn thay thế phổ biến nhất hiện nay là Bitcoin Cash - đã tạo ra một cuộc nội chiến chính trị trong mạng lưới Bitcoin với Bitcoin Core suốt từ năm 2015 tới nay. Cụ thể, cuộc chiến bắt nguồn từ những người cố gắng tăng khả năng xử lý giao dịch của mạng lưới Bitcoin, để có thể xử lý được nhiều giao dịch hơn so với giới hạn ban đầu là 7 giao dịch mỗi giây. Những phiên bản khác nhau của Bitcoin chính là những kỹ thuật giải quyết vấn đề này khác nhau: Bitcoin Cash loại bỏ giới hạn cứng 1MB cho mỗi khối và cho phép mạng lưới điều chỉnh giới hạn này. Bitcoin Core giữ nguyên giới hạn 1MB và tạo ra các sidechain bên ngoài chứa các giao dịch nhỏ, và nhúng chữ ký của các sidechain này vào blockchain chính - còn được gọi là Lightning Network.
Lightning Network - Bài toán về mở rộng mạng lưới.
Mỗi khối trong blockchain được giới hạn ở kích thước 1MB nhằm tăng tính phân cấp của mạng lưới, tuy nhiên điều này cũng hạn chế khả năng xử lý giao dịch của mạng Bitcoin, làm phí giao dịch tăng và các giao dịch bị xử lý chậm. Vào ngày 24 tháng 8 năm 2017, Segregated Witness đã được đưa vào sử dụng, là tiền đề cho Lightning Network - là một lớp giao dịch con của mạng lưới Bitcoin blockchain chính với tính năng hợp đồng thông minh như của Ethereum. Điều này giúp khả năng xử lý các giao dịch trên Bitcoin blockchain tăng lên gần như vô hạn với chi phí rất thấp, bằng cách định tuyến giao dịch qua mesh network của các kênh thanh toán. Lightning Network đã được đưa vào thử nghiệm với phiên bản 1.0 từ tháng 12 năm 2017 với giao dịch đầu tiên tại Bitrefill, và được chính thức triển khai trong năm 2018.
Bản nâng cấp Taproot.
Taproot bao gồm việc đưa vào sử dụng chữ ký Schnorr thay cho thuật toán ECDSA, với các đặc tính toán học như cung cấp mức độ đúng đắn cao, xác minh nhanh, và tránh được malleability. Lợi ích đáng chú ý nhất của chữ ký Schnorr là sử dụng "toán học tuyến tính" cho phép một loạt dạng hợp đồng thông minh mới khi tận dụng các thủ thuật mật mã như Merkle tree. Điều này cho phép người dùng kết hợp mã hoá nhiều điều kiện chi tiêu vào một đầu ra duy nhất, được đơn giản hóa vào một "địa chỉ" duy nhất.
Trước bản nâng cấp, dữ liệu các hợp đồng thông minh Bitcoin phải được đưa vào blockchain một cách đầy đủ khi chúng được chi tiêu. Phí giao dịch được trả cho mỗi byte dữ liệu giao dịch, vì vậy các hợp đồng thông minh lớn không khả thi vì quá tốn kém. Với Taproot, các hợp đồng thông minh có thể được xây dựng theo cấu trúc giống như cây, khi chỉ cần tiết lộ một số nhánh nhất định, qua đó tăng tính riêng tư cho Bitcoin. Vì Taproot cho phép giữ phần lớn dữ liệu của hợp đồng thông minh bên ngoài blockchain, chúng ta có thể tạo ra các hợp đồng thông minh phức tạp hơn nhiều so với trước.
Kinh tế.
Hiện tại Bitcoin đang được xem là có những tính chất sau của tiền tệ: Đáng giá, lưu thông, dự trữ, thanh toán.
Khác với những đồng tiền được ban hành bởi chính phủ (tiền pháp định), Bitcoin có những ưu điểm sau:
Tuy nhiên, cũng vì không phải đồng tiền được ban hành bởi chính phủ (tiền pháp định) nên Bitcoin có những nhược điểm sau:
Theo giám đốc của Viện Nghiên cứu Tiền Tệ, Công nghệ và Tài chính thuộc Đại học California - Irvine, hiện tại người ta vẫn đang tranh luận xem Bitcoin có phải là tiền tệ hay không. Bitcoin thường được nhắc tới bằng các thuật ngữ: Tiền số, tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa. Các nhà báo và học giả cũng đang tranh cãi về việc nên gọi Bitcoin thế nào. Một số tờ báo tìm cách phân biệt tiền "thật" và Bitcoin, trong khi một số báo chí khác gọi Bitcoin mới là đồng tiền thực thụ.
Đầu tư Bitcoin.
Có nhiều cách để có thể mua hoặc bán Bitcoin: đặt lệnh mua hoặc bán Bitcoin trên sàn giao dịch trực tuyến, hoặc trực tiếp thông qua người môi giới, hoặc tại các máy Bitcoin ATM.
Bitcoin thường được giao dịch như một dạng đầu tư. Có một số quỹ đầu tư đã quan tâm đến Bitcoin. Điển hình là: Công ty Bitcoin 21 Inc đã nhận 116 triệu đô la Mỹ đầu tư; Coinbase nhận 106,7 triệu đô la Mỹ; cá nhân Peter Thiel đã đầu tư 3 triệu đô la Mỹ và anh em nhà Winklevoss đã đầu tư 1,5 triệu đô la Mỹ. Những nhà đầu tư bao gồm các tên tuổi lớn như: quỹ Andreessen Horowitz, quỹ Khosla Ventures, quỹ Google Ventures, RRE Ventures, sàn NYSE, quỹ Pantera Capital, ngân hàng Goldman Sachs, sàn Nasdaq, ngân hàng BBVA.
Tại thời điểm cuối năm 2015, các nhà đầu tư lớn trên thế giới đã đầu tư tổng cộng trên 1 tỷ đô la Mỹ để phát triển các công ty Bitcoin. Theo một nghiên cứu của Đại học Cambridge vào năm 2017, có khoảng 2,9 triệu đến 5,8 triệu người dùng toàn cầu sử dụng ví tiền mã hóa mà chủ yếu là Bitcoin.
Việc đầu tư Bitcoin, cũng như các kênh vàng hay ngoại tệ, chứa đựng nguy cơ rủi ro và những lo ngại về một loại bong bóng tài chính trong lĩnh vực tiền tệ trên Internet. Barry Silbert, giám đốc điều hành Nasdaq Private Market, nhận định: Bitcoin là kênh đầu tư có rủi ro và lợi nhuận thuộc loại cao nhất hiện tại. Các nhà kinh tế khuyến cáo các ngân hàng trung ương nên dành từ 0.01% tới 5% dự trữ ngoại hối của mình cho Bitcoin để phòng hộ các rủi ro về tiền tệ.
Các doanh nghiệp chấp nhận Bitcoin.
Trong năm 2016, số lượng các doanh nghiệp chấp nhận Bitcoin đã vượt qua 122.000. Tính đến tháng 12 năm 2014, các công ty lớn chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin bao gồm: Atomic Mall, Clearly Canadian, Dell, Dish Network, Dynamite Entertainment, Expedia, Microsoft, Newegg, PrivateFly, Overstock.com, Sacramento Kings, TigerDirect, Time Inc., Virgin Galactic, Valve và Zynga. Tính đến tháng 9 năm 2014, PayPal đã cho phép các doanh nghiệp ở Bắc Mỹ sử dụng hệ thống của họ để nhận thanh toán bằng Bitcoin.
Tại Việt Nam, chỉ có một số ít dịch vụ chấp nhận Bitcoin. Tuy nhiên có rất nhiều doanh nghiệp toàn cầu cho phép người Việt Nam thanh toán bằng Bitcoin cho dịch vụ của họ, tiêu biểu là: Dịch vụ nạp thẻ điện thoại BitRefill, dịch vụ mua vé máy bay, đặt khách sạn và thuê ô tô tại Expedia, mua hàng trực tuyến tại OverStock, OpenBazaar hoặc tại các Dark Net Market, mua thẻ quà tặng tại Gyft, mua tên miền và dịch vụ máy chủ tại NameCheap, mua VPN tại BitVPN, mua quần áo thời trang tại ASOS, và một loạt các dịch vụ nhỏ khác tại Fiverr.
Tại thời điểm cuối năm 2016, đã có trên 800 máy Bitcoin ATM trên toàn cầu, phần lớn (500+) nằm tại Mỹ, và có 3 máy Bitcoin ATM tại Việt Nam.
Tỉ giá Bitcoin.
Tỉ giá của Bitcoin không được neo theo bất kỳ loại tiền tệ nào khác mà hoàn toàn phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường. Bitcoin là một trong những loại tài sản có tính chất thị trường tự do thuần khiết nhất vì được giao dịch tự do với khối lượng rất lớn trên toàn cầu mà không bị kiểm soát.
Theo giáo sư Mark T. Williams, trong năm 2014, biến động giá của Bitcoin cao gấp 7 lần vàng, 8 lần S&P 500 và gấp 18 lần đô la Mỹ. Giá trị của Bitcoin đã trải qua nhiều chu kỳ bong bóng, ví dụ: Trong năm 2011, giá Bitcoin đã tăng lên từ 0,30 đô la Mỹ lên đỉnh điểm là 32 đô la Mỹ trước khi trở về mức 2 đô la Mỹ. Nửa cuối năm 2012 và trong đợt khủng hoảng tài chính tại Cyprus, giá Bitcoin lại lên tới 266 đô la Mỹ trước khi trở về mức 50 đô la Mỹ. Vào ngày 29 tháng 11 năm 2013, giá Bitcoin lên đỉnh điểm 1.242 đô la Mỹ. Chỉ trừ năm 2014, từ năm 2009 tới 2016, Bitcoin là đồng tiền có giá trị tăng nhanh nhất thế giới. Tính từ năm 2009 tới năm 2016, giá Bitcoin đã tăng giá lên 1,269,730 lần.
Có một số ứng dụng của Bitcoin không phụ thuộc vào biến động tỉ giá, ví dụ như là cá cược trực tuyến, trả tiền tip, hoặc thanh toán quốc tế. Những quỹ đầu tư mạo hiểm ủng hộ Bitcoin lập luận rằng việc tạo thêm tính thanh khoản bằng cách sử dụng những sàn giao dịch tần suất cao là cần thiết để giảm sự biến động của giá Bitcoin.
Có rất nhiều nguồn để theo dõi tỉ giá Bitcoin. Google đã tích hợp sẵn tỉ giá Bitcoin khi bạn điền vào công cụ tìm kiếm: . Tuy nhiên đây là giá Bitcoin tại thị trường quốc tế, lấy trung bình từ các sàn giao dịch lớn như: Bitstamp, Coinbase, OKCoin.
Thanh toán.
Không giống như thẻ tín dụng, chi phí gửi Bitcoin hoàn toàn tự nguyện trả bởi người gửi (không phải người nhận). Phí gửi Bitcoin càng cao thì giao dịch đó càng được mạng lưới ưu tiên xử lý trước. Phí thanh toán bằng Bitcoin rẻ hơn rất nhiều so với việc thanh toán thẻ tín dụng hoặc chuyển khoản. Nếu thanh toán quốc tế qua thẻ tín dụng, phía doanh nghiệp sẽ mất 2-3% chi phí thanh toán thẻ và khách hàng sẽ mất khoảng 5% phí chuyển đổi ngoại tệ. Chi phí gửi tiền qua Bitcoin không phụ thuộc số lượng gửi, giúp cho Bitcoin trở nên rất hấp dẫn với những người muốn gửi tiền số lượng lớn. Ví dụ: Lượng bitcoin trị giá hàng triệu đô la Mỹ có thể gửi đi bất kỳ đâu trên thế giới chỉ với vài xu trả cho các thợ đào.
Tính thanh khoản.
Tại thời điểm ngày 7 tháng 12 năm 2017, tổng vốn hóa của Bitcoin là hơn 241 tỷ đô la Mỹ, tổng khối lượng giao dịch trong 24 giờ của các sàn lớn tính phí là hơn 13,3 tỷ đô la Mỹ. Để so sánh: Tổng vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đang là 101 tỷ đô la Mỹ và tổng khối lượng giao dịch là 334 triệu đô la Mỹ.
Kinh tế chính trị.
Sự phân tán của tiền Bitcoin có nguồn gốc lý tưởng dựa trên trường phái kinh tế học Áo, đặc biệt được thể hiện trong cuốn sách "Tiền tệ không quốc hữu hóa" ("Denationalisation of Money: The Argument Refined)" của Friedrich von Hayek, khi mà ông ta tin tưởng vào một nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do trong việc sản xuất, phân phát, điều hành đồng tiền để chấm dứt sự độc quyền của các ngân hàng trung ương. Hệ tư tưởng này đối nghịch với kinh tế học Keynes, là lý do giải thích việc có một số nhà kinh tế được giáo dục trong hệ tư tưởng này không ủng hộ Bitcoin.
Bitcoin được xem là có động lực chính trị hoặc tư tưởng bắt nguồn từ bản cáo bạch được viết bởi Satoshi Nakamoto. Ông nói: "Vấn đề gốc rễ với các loại tiền tệ thông thường là cần phải có sự tin tưởng để cho nó hoạt động. Ngân hàng trung ương phải được tin cậy rằng sẽ không phá giá tiền tệ, nhưng lịch sử tiền tệ pháp định đã cho thấy họ liên tục vi phạm điều này.
Bitcoin có sức hút mạnh tới những người am hiểu công nghệ thuộc chủ nghĩa tự do cá nhân, bởi nó tồn tại ngoài tầm kiểm soát của hệ thống tài chính cổ điển và các chính phủ. Chính phủ càng cấm hoặc đánh thuế nó thì họ sẽ càng mất kiểm soát Bitcoin vì các giao dịch sẽ hoàn toàn chìm trong nền kinh tế ngầm, tương tự như thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên, khi xem xét số liệu tìm kiếm từ Google, các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho sự liên quan giữa việc yêu thích Bitcoin và chủ nghĩa tự do cá nhân.
Tại Mỹ, Bitcoin có sức hút từ phe cánh tả - những người cho rằng chính phủ và các ngân hàng là đại diện quyền lợi của giới tinh hoa, và các chính sách tiền tệ là để phục vụ những người đó, cho tới phe cánh hữu - những người chỉ trích chính phủ Mỹ trong đợt khủng hoảng kinh tế 2008, bởi chính phủ không điều hành được tốt đồng tiền của chính họ tạo ra. Bitcoin được mô tả như là một thứ có thể cân bằng được lợi ích của những tập đoàn lớn với những người kinh doanh nhỏ. Hai nhà báo Wall Street Journal đã nói về Bitcoin như là thứ có thể "giải phóng con người khỏi sự thống trị của niềm tin tập trung." Sự tồn tại của Bitcoin chính là một lực đẩy bắt buộc tất cả các quốc gia quản lý tốt hơn nền kinh tế của mình.
Tranh cãi về lừa đảo Ponzi.
Bản chất của mô hình Ponzi là lấy tiền của người sau trả lãi cho người trước. Có rất nhiều nhà báo khác nhau từ Việt Nam và quốc tế đã bày tỏ lo ngại rằng Bitcoin có thể là một mô hình lừa đảo đa cấp dạng Ponzi. Tuy nhiên, báo cáo từ World Bank năm 2014 kết luận rằng "trái với ý kiến của nhiều người, Bitcoin không phải là mô hình lừa đảo Ponzi". Trái với mô hình Ponzi, Bitcoin không có một chủ thể quản lý, không tồn tại các lời hứa đặc trưng cho lợi nhuận, và người dùng có thể bắt đầu với một số lượng nhỏ Bitcoin mà không tồn tại các gói đầu tư tối thiểu.
Mặc dù mạng lưới Bitcoin không phải là mô hình đa cấp, tuy nhiên, cần nhận biết rõ rằng các chủ thể có thể lợi dụng Bitcoin cho các hình thái lừa đảo riêng của họ như một dạng hàng hoá hoặc phương tiện thanh toán. Tại Việt Nam, hình thức lừa đảo Ponzi phổ biến nhất là kinh doanh đa cấp, chơi hụi, mô hình cho - nhận, chương trình đầu tư lợi suất cao (HYIP). Để lợi dụng uy tín có sẵn của Bitcoin trên thế giới, những mô hình này thường trá hình bằng cách gọi tên mạng lưới của mình là 1 sàn giao dịch Bitcoin mặc dù mô hình đó không có chức năng chính để chuyển đổi tiền tệ, qua đó làm cho công chúng nhầm lẫn với mạng lưới Bitcoin thực sự. Về bản chất thì những mô hình Ponzi này chỉ sử dụng Bitcoin giống như đô la Mỹ hay vàng để nhận đầu tư một cách lừa đảo và sẽ đột nhiên biến mất vào một thời điểm khó biết trước. Bitcoin là 1 phương tiện thanh toán yêu thích của các mô hình Ponzi vì phương thức thanh toán này ẩn danh, không thể bị bồi hoàn, và không bị các quy định pháp luật ràng buộc. Vào tháng 9 năm 2014, Ủy ban Chứng Khoán và Sàn Giao Dịch Mỹ (SEC) đã tuyên phạt công ty và chủ tịch Bitcoin Savings and Trust 40 triệu đô la Mỹ vì đã điều hành 1 mạng lưới Ponzi sử dụng Bitcoin trả lãi 7% mỗi tuần từ năm 2011 tới năm 2012.
Cáo phó.
Có rất nhiều cá nhân, mặc dù không hiểu rõ về Bitcoin, yêu thích việc bôi xấu hình ảnh Bitcoin khi cố ý gắn liền nó với lừa đảo đa cấp, lừa đảo Ponzi, đồng tiền tài trợ khủng bố... bằng những luận điểm không khoa học. Việc này được giải thích trên tâm lý chối bỏ sự sợ hãi khi phải đối mặt với sự thay đổi, với thứ không quen thuộc của con người. Họ yêu thích việc tuyên bố rằng Bitcoin "đã chết". Tính tới tháng 1 năm 2016, Bitcoin đã được cáo phó tới 89 lần trong 7 năm tồn tại. Tạp chí Forbes công bố Bitcoin "chết" vào tháng 6 năm 2011, tiếp theo là Gizmodo Úc vào tháng 8 năm 2011. Tạp chí Wired tuyên bố nó đã "hết hạn" vào tháng 12 năm 2012. Reuters công bố một "cáo phó" cho Bitcoin trong tháng 1 năm 2014. Tháng 1 năm 2015, báo Telegraph tuyên bố "thí nghiệm Bitcoin đã kết thúc". Giám đốc phát triển kinh doanh điện tử của Isle of Man cho rằng: "Các báo cáo về cái chết của Bitcoin đã bị thổi phồng quá đáng".
Phân loại Bitcoin trong danh mục tiền tệ.
Tiền điện tử là một dạng tiền tệ mà được trao đổi và lưu trữ bằng hệ thống điện toán, thay vì các đồng tiền vật lý như là các đồng xu hay tiền giấy. Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu, tiền số thường là "tiền điện tử", mặc dù có một số ngoại lệ như coupon, phiếu mua hàng và thẻ cào điện thoại có kèm theo cả định dạng vật lý.
Tiền số là một lớp con của tiền điện tử nhằm chỉ những đồng tiền điện tử không pháp định. Tiền ảo là tiền số, chủ yếu được sử dụng trong truyền thông để nhắc tới một số loại tiền số một cách tiêu cực khi phân biệt với tiền pháp định.
Tiền mã hoá là một loại tiền điện tử mà sử dụng thuật toán mã hoá để đảm bảo an ninh cho các giao dịch và để điều khiển việc phát hành tiền. Bitcoin là một loại tiền mã hoá.
Không phải tất cả tiền số đều là tiền mã hoá. Bitcoin là loại tiền mã hoá phân cấp. Bản chất của Bitcoin khác hẳn các loại tiền tập trung mà được một tổ chức đứng ra điều hành, do đó tránh được khả năng lừa đảo do tổ chức đó độc quyền quản lý việc phát hành tiền.
Tính hợp pháp.
Vì tính chất ẩn danh trong giao dịch, Bitcoin được tội phạm mạng quan tâm. Tuy nhiên, cũng giống như các loại tiền tệ khác, Bitcoin cũng như vàng hay tiền mặt, đều được dùng như vật trung gian để rửa tiền. Trong phiên điều trần trước Thượng viện Mỹ về Bitcoin ngày 18 tháng 11 năm 2013, Cục Phòng Chống Tội Phạm Tài chính Hoa Kỳ (FinCen) đã nói rằng: Tiền mặt vẫn là công cụ rửa tiền chính. Bitcoin không phải là kênh rửa tiền lý tưởng vì tất cả giao dịch đều được công khai. Cũng trong cùng ngày, chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ Ben Bernanke đã nêu ra quan điểm rằng giữ Bitcoin về lâu dài mang lại nhiều hứa hẹn.
Tháng 9 năm 2015, Ủy ban giao dịch hàng hoá tương lai Mỹ (CFTC) công bố, Bitcoin đã chính thức được đưa vào danh sách hàng hóa được phép giao dịch tại Mỹ. Phần lớn các cơ quan trong chính phủ Mỹ đều đã tán thành việc sử dụng Bitcoin. Đơn cử, Ủy ban bầu cử liên bang Mỹ (FEC) muốn chấp nhận quyên góp qua Bitcoin. Theo phán quyết của Tòa án tối cao châu Âu vào tháng 10 năm 2015, Bitcoin sẽ được phép giao dịch như các đơn vị tiền tệ thông thường mà không bị đánh thuế tại châu Âu.
Tháng 11 năm 2015, truyền thông tại Việt Nam rộ lên tin tổ chức khủng bố ISIS có thể nhận viện trợ bằng Bitcoin. Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 1 năm 2016, Cơ quan Cảnh sát châu Âu (Europol) đã ra báo cáo chính thức rằng họ không tìm thấy bất cứ một sự liên hệ nào giữa Bitcoin và tổ chức khủng bố này. Tại thời điểm đầu năm 2017, Malta đã đưa Bitcoin và công nghệ blockchain vào chiến lược quốc gia.
Tính hợp pháp tại Việt Nam.
Hiện tại, chưa có bất kỳ quy định hay khung pháp lý nào để quản lý việc giao dịch Bitcoin từ phía Chính phủ: Tháng 2 năm 2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra thông cáo báo chí, trong đó nêu rõ: việc sử dụng Bitcoin làm phương tiện thanh toán không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ngoài ra, Bộ Công Thương hiện tại vẫn chưa công nhận Bitcoin là hàng hoá hay dịch vụ, phủ nhận thẩm quyền của mình đối với Bitcoin. Việc này cũng đồng thời bãi bỏ cơ sở để thu thuế Bitcoin vì không thể đưa được Bitcoin vào danh mục hàng hóa hay dịch vụ để thu thuế trong một vụ án đầu tiên tại Việt Nam liên quan đến tiền số xảy ra tại Bến Tre năm 2017.
Ngày 21 tháng 8 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý các loại tài sản số, tiền điện tử, tiền số, trong đó có Bitcoin. Đây là tín hiệu chính thức từ phía Chính phủ rằng các giao dịch Bitcoin sẽ được hợp pháp hóa vào tháng 8 năm 2018 với khả năng phân loại Bitcoin vào danh mục tài sản số. | 1 | null |
là một bộ phim Nhật Bản sản xuất năm 2006 được đạo diễn bởi Naoto Kumazawa, nhà sản xuất phim là Shunji Iwai, ông cũng đồng thời là người viết kịch bản với nghệ danh Aminosan. Đạo diễn Kumazawa trước đây đã từng hợp tác với nhà sản xuất Shunji Iwai trong bộ phim tài liệu "Swallowtail Butterfly".
Nội dung phim.
Tomoya Kishida (Hayato Ichihara) là một nhân viên làm việc cho một hãng phim nhỏ. Sau một buổi quay anh bất ngờ nhận được tin về cái chết của cô bạn thân Aoi Sato (Ueno Juri). Cái chết bất ngờ của cô làm anh hồi tưởng lại những ký ức trong quá khứ giữa hai người, khi lần đầu tiên họ gặp nhau trong một cửa hàng băng đĩa, cùng nhau thực hiện một bộ phim ngắn cho câu lạc bộ phim ảnh trong trường đại học, hay những lời chia tay trước khi Aoi bay sang Mỹ. Mặc dù hai người đều có tình cảm trên mức tình bạn tuy nhiên cả hai lại không đủ can đảm để thú nhận điều này, cho đến khi Tomoya nhận ra điều đó thì tất cả đã quá muộn. | 1 | null |
Đạo luật tem là đạo luật quy định phải có thuế phải nộp về việc chuyển các tài liệu nhất định. Những người nộp thuế nhận được một con tem chính thức trên các tài liệu của họ, làm cho văn bản hợp pháp. Các loại thuế được thu theo một đạo luật tem được gọi là thuế tem. Hệ thống thuế này lần đầu tiên được nghĩ ra tại Hà Lan vào năm 1624 sau một cuộc cạnh tranh công khai để tìm một hình thức mới của thuế. Một loạt các sản phẩm đã được đưa vào phạm vi áp dụng của các đạo luật tem bbao gồm các thẻ chơi, thuốc bằng sáng chế, kiểm tra, thế chấp, hợp đồng và báo chí. Các mặt hàng thường có thể chất đóng dấu tại cơ quan Chính phủ phê duyệt sau khi nộp thuế, mặc dù phương pháp liên quan đến thanh toán hàng năm một khoản tiền cố định hoặc mua tem dính thực tế và phổ biến hơn. Đạo luật tem đã được thi hành ở nhiều nước, trong đó có Australia, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Canada, Ireland, Ấn Độ, Malaysia, Israel, Anh và Hoa Kỳ.
Sau khi Anh là chiến thắng Pháp trong Chiến tranh Bảy năm (được biết đến ở Mỹ là cuộc chiến tranh Pháp và Anh Điêng), một Đạo luật tem nhỏ được ban hành có phạm vi bao gồm tất cả các loại giấy tờ từ các tờ báo văn bản quy phạm pháp luật và thậm chí cả bài chơi. Người Anh đã đánh thuế người dân thuộc địa để tăng doanh thu, nhưng người Mỹ tuyên bố các quyền hiến định của họ đã bị vi phạm, vì chỉ có các cơ quan lập pháp thuộc địa của họ có thể đánh thuế. [Trên khắp các thuộc địa Mỹ, phe đối lập cho cơ quan thuế các hình thức bạo lực và hăm dọa. Một cách tiếp cận hợp lý đã được thực hiện bởi một số yếu tố. James Otis, Jr đã viết cuộc biểu tình có ảnh hưởng nhất, "Quyền của các thuộc địa Anh được xác nhận và chứng minh." Otis, các nhà lãnh đạo cấp tiến tại bang Massachusetts, đã thuyết phục nghị viện Massachusetts gửi một thông tư tới các thuộc địa khác, kêu gọi cho một cuộc họp liên thuộc địa để lên kế hoạch chống tại thuế mới. Hội nghị thuế tem triệu tập tại Thành phố New York vào ngày 7 tháng 10 với chín thuộc địa tham dự, những thuộc địa khác đã có khả năng sẽ tham gia nếu họ nhận thông báo sớm hơn. Các đại biểu đã thông qua một Tuyên bố 14 điểm của quyền và yêu sách, được hình thành chủ yếu bởi John Dickinson của Pennsylvania. Tuyên bố lặp lại các nghị quyết gần đó của Nhà Virginia của Burgesses, lập luận thuế thuộc địa chỉ có thể được thực hiện bởi hội đồng riêng của họ. Các đại biểu đã chỉ ra Đạo luật tem và sử dụng của các tòa án vice admiralty chỉ trích đặc biệt, nhưng kết thúc tuyên bố của họ với một lời cam kết trung thành với nhà vua.
Hội nghị đạo luật tem là một bước trong quá trình cố gắng giải quyết vấn đề phổ biến, trong đó gần đây nhất đã cố gắng trong Hội nghị Albany năm 1754. Rằng cuộc họp trước đó đã được tổ chức do sự thúc đẩy của các quan chức hoàng gia, nhưng sau này là hoàn toàn là một mối quan hệ thực dân. Đại hội là một diễn đàn để bày tỏ mối quan tâm của hiến pháp, không phải là một điểm tập hợp cho cuộc cách mạng và độc lập. Trong thực tế, cuộc họp dành các nhà phê bình bảo thủ của chính sách một số hy vọng giành lại kiểm soát các sự kiện từ các mobs ngang bướng trong các đường phố của nhiều thành phố của Anh. | 1 | null |
Đạo luật tem năm 1765 là một đạo luật được chính quyền thuộc địa Anh ban hành áp dụng ở xứ thuộc địa Bắc Mỹ thuộc Anh vào ngày 22 tháng 03 năm 1765.
Đạo luật tem quy định rằng phải đánh thuế lên các văn bản pháp luật, giấy phép và những thứ khác. Đây là thuế trực tiếp đầu tiên của người Anh đánh lên các thuộc địa Bắc Mỹ, được bãi bỏ vào một năm sau.
Đạo luật tem 1765 đòi hỏi các văn kiện, giấy phép, hợp đồng, báo, cuốn sách nhỏ và quân bài phải có tem. Đạo luật này là để bù trả ngân khoản dùng để đóng quân bảo vệ các thuộc địa. Những người thuộc địa xem đạo luật này không công bằng, và nhiều người lên tiếng phản đối. Tại Boston, hình nộm của người thu thuế bị treo cổ và đốt cháy. Nhiều người ở mọi thuộc địa bắt đầu tẩy chay hàng hóa Anh. Một hội nghị để viết ra một đơn thỉnh cầu cho nhà vua được 27 đại biểu từ 9 thuộc địa tham dự. Trong mùa xuân năm 1767, Nghị viện Anh bãi bỏ đạo luật vì không thi hành được cũng như bị áp lực của những công ty bị tẩy chay. | 1 | null |
Euphausia superba là một loài giáp xác sinh sống ở các vùng nước Nam Cực. Loài này được con người đánh bắt làm dầu krill. Nó là một loài động vật giáp xác bơi nhỏ, sống thành đàn lớn, đôi khi đạt mật độ 10.000-30.000 cá thể trong một mét khối. Nó ăn trực tiếp các phytoplankton, do đó sử dụng năng lượng sản xuất sơ cấp mà phytoplankton ban đầu lấy từ mặt trời để duy trì vòng đời ở biển mở của chúng. Loài này dài , nặng đến , và có thể sống đến 6 năm. Loài này là một loài chính của hệ sinh thái Nam Cực và tính theo sinh khối, có lẽ là loài động vật có nhiều nhất trên hành tinh (khoảng 500 triệu tấn). | 1 | null |
Grapsus grapsus là một loài cua phổ biến nhất dọc theo bờ biển phía tây của Mỹ. Nó được biết đến với khác nhau trong tiếng Anh như, "red rock crab", "abuete negro".
Phân bố.
"Grapsus grapsus" được tìm thấy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ (xa về phía nam tới miền bắc Peru), và trên các đảo gần đó, bao gồm cả quần đảo Galápagos. Nó cũng được tìm thấy dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Nam Mỹ, nhưng ở phía đông Đại Tây Dương (Đảo Ascension và Tây Phi) được loài họ hàng của nó là "Grapsus adscensionis" chiếm lĩnh. | 1 | null |
Cua nâu (Danh pháp khoa học: "Cancer pagurus") thường được gọi là cua thịt là một loài cua biển được tìm thấy ở Biển Bắc, Bắc Đại Tây Dương và có lẽ ở Địa Trung Hải. Đây là một loài cua chắc thịt có màu nâu đỏ, có cái mai hình bầu dục với một cạnh "vỏ bánh" đặc trưng và mũi càng màu đen. Một con cua trưởng thành có thể có cái mai rộng lên đến và nặng tới . Cua nâu (C. pagurus) là một động vật ăn thịt sống về đêm, ăn một loạt các động vật thân mềm và động vật giáp xác. Cua nâu là đối tượng của nghề khai thác cua lớn nhất ở Tây Âu, tập trung vào các bờ biển của nước Anh, với hơn 60.000 tấn đánh bắt hàng năm. Cua nâu Na Uy là sản phẩm thông dụng trên thị trường | 1 | null |
Lý Quí Chung (1940 – 3 tháng 3 năm 2005), bút danh Chánh Trinh, là một nhà báo, và cũng là một dân biểu và nghị sĩ đối lập dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Tổng trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại 2 ngày của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối cùng Dương Văn Minh.
Tiểu sử.
Ông sinh năm 1940 tại tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), nhưng hầu hết thời thơ ấu của ông theo gia đình về Biên Hòa ở từ 3 đến 12 tuổi (1943 - 1952), nơi cha ông làm công chức cho cơ quan hành chánh tỉnh.
Giống như cha mình ông rất yêu chuộng thể thao. Mẹ ông đặt nhiều hy vọng vào tương lai của ông, nên sau khi ông học được 2 năm trường Việt, được chuyển sang trường Pháp học. Không hài lòng với trường này sau 2 năm học bà cho ông lên học nội trú trường Chasseloup Laubat tại Sài Gòn bắt đầu niên học 1951-1952, lớp 8ème (nay là lớp 5). Năm 1954 sau Hiệp định Genève, trường Albert Sarraut từ Hà Nội chuyển vào Sài Gòn sáp nhập vào trường Chasseloup Laubat. Để có đủ lớp học cho học sinh từ Hà Nội vào, trường hủy bỏ chế độ nội trú, mẹ ông chuyển ông lên Đà Lạt vào học nội trú tiếp lại trường Lycée Yersin. Sau khi lấy tú tài I tại đây, năm 1959 ông trở về học tại trường Chasseloup Laubat, lúc bấy giờ đã đổi tên thành trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ là trường Lê Quý Đôn), để lấy tú tài II ban Triết.
Sau khi tốt nghiệp trung học ông thi tuyển vào Học viện Quốc gia Hành chánh, học khóa 10 (1963), khóa cuối cùng do Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm chủ tọa lễ khai giảng. Tuy nhiên, ông cảm thấy mình không thích hợp với ngành này cho lắm, và thường bỏ học la cà ở một số tòa soạn các tờ báo, nơi mà ông có viết bài cộng tác. Trong hai năm cuối trung học, ông đã có bài đăng trên báo thể thao Đuốc Thiêng, bắt đầu từ các bài dịch từ các báo và các tạp chí Pháp. Cũng vì mê say làm báo mà ông đã bị ở lại lớp năm đầu, rồi bỏ học luôn.
Bắt đầu từ những bài báo về thể thao, từ môi trường báo chí, Chung được tiếp cận với đời sống chính trị Sài Gòn, ông đã đi vào con đường hoạt động chính trị, vì " bức xúc trước những bất công, những việc làm phi dân chủ, độc tài của chính quyền Sài Gòn. Rồi phẫn nộ trước sự can thiệp thô bạo của chính quyền Mỹ vào nội bộ của Việt Nam và sự áp đặt các ý muốn và quyền lợi của họ lên đất nước Việt Nam."
Theo nghiệp báo chí.
Khởi đầu từ tờ "Đuốc Thiêng", ông được ông Thiệu Võ, chủ nhiệm tờ báo kiêm phụ trách trang thể thao của tờ "Tiếng Dội Miền Nam", mời vào tờ báo sau làm việc. Sau đó khi được 21 tuổi, ông được ông Phan Như Mỹ rủ về cùng phụ trách phần thể thao cho tờ báo Buổi Sáng. Ông cũng được ông Mỹ giới thiệu viết bài cho tờ báo tiếng Pháp "Journal d’ Extrême Orient". Nhưng chính tại tờ Thanh Việt của ông Tô Yến Châu mới là ông khởi đầu học nghề phóng viên. Sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi được phép xuất bản tờ Bình Minh, ông bầu Ứng kéo cả ê kíp Thanh Việt về làm. Đây là lần đầu tiên ông ăn lương phóng viên và hành nghề phóng viên đúng nghĩa.
Sau khi Thượng Hội đồng Quốc gia chỉ định ông Trần Văn Hương làm Thủ tướng vào ngày 29 tháng 10 năm 1964, ông được cha ông khuyến khích xin ra tờ Sài Gòn Tân Văn. Mặc dù chưa đủ tuổi (25 tuổi), ông (24 tuổi) vẫn được cấp giấy phép. Tiền làm tờ báo, là do cha ông, nhưng có lẽ do nhiều bạn bè của cha ông trong Hội Liên trường góp lại, một tổ chức chính trị trá hình của một số trí thức miền Nam dựa vào lá bài Trần Văn Hương. Nhưng tờ này chỉ tồn tại 4 tháng, lâu hơn chính phủ của Trần Văn Hương một tháng.
Sau khi tờ Sài Gòn Tân Văn bị đóng cửa, ông trở lại làm tổng thư ký tòa soạn cho tờ Bình Minh của ông Võ Văn Ứng, lúc này tờ báo không còn ra hàng ngày nữa mà chỉ ra hàng tuần.
Con đường chính trị.
Vào năm 1965 khi đang làm cho tờ Bình Minh, Chung có viết loạt bài vận động sự thành lập một đại học ở miền Tây. Kỹ sư Võ Long Triều, người tự đứng ra phối hợp các cuộc vận động, mời ông nhập nhóm và tham gia các cuộc hội thảo tổ chức ở Cần Thơ để gây áp lực với chính quyền. Khi Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó đang muốn lôi kéo trí thức miền Nam) mời Võ Long Triều vào nội các của mình với tư cách Bộ trưởng Thanh niên, thì Chung được Triều cho làm giám đốc Nha Tác động tâm lý. Nhờ vậy mà Chung lúc đó đang trốn quân dịch, được cấp giấy tạm hoãn 4 tháng.
Nhờ tham dự vào liên danh của Võ Long Triều, lúc đó vừa là người đứng đầu một tập hợp chính trị có tên Phong trào Phục hưng Miền Nam (PTPHMN) trong cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến năm 1966, Chung trở thành Dân biểu quốc hội lúc mới tròn 26 tuổi (một trong 7 người thuộc liên danh này). Ông tiếp tục làm dân biểu 3 nhiệm kỳ liên tiếp: 1966-1967, 1967-1971 và 1971-1975 cho tới ngày đất nước thống nhất.
Sau đó nhờ sự tiếp tay của dân biểu Phan Xuân Huy, đơn vị Đà Nẵng, ông được bầu làm trưởng khối Dân tộc, gồm 3 thành phần: các dân biểu Phục hưng miền Nam, các dân biểu Phật giáo và một số dân biểu độc lập. Khối Dân tộc trở thành khối dân biểu đối lập đầu tiên trong quốc hội Sài Gòn, do lập trường chống chính quyền quân sự và chống chiến tranh.
Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Lý Quí Chung được đề cử làm Tổng trưởng Thông tin trong Chính phủ của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Lý Quý Chung thuộc thành phần thứ 3, tức là trung lập, không theo Chính quyền Thiệu cũng như theo Cộng sản.
Sau ngày thống nhất.
Lý Quý Chung là một trong những nhân vật chế độ cũ được miễn đi học tập cải tạo. Sau đó ông tiếp tục viết báo, "đó là cái nghề tôi yêu và say mê – cái nghề duy nhất tôi chọn lựa cho đời mình", ban đầu là phó chủ bút đặc trách văn hóa xã hội cho tờ Tin Sáng đến khi nó được cho là "đã hoàn thành nhiệm vụ". Sau đó ông chuyển sang làm cho tờ báo "Tuổi Trẻ" đồng thời cũng phụ trách trang thể thao của "Sài Gòn Giải Phóng". Làm cho "Tuổi Trẻ" được 10 năm, khi có một số người cho rằng ông đã là ‘‘quả chanh đã hết nước rồi’‘, ông chuyển sang làm cho tờ "Lao động", rồi sau đó Tia Sáng, Kiến Thức Gia đình (thuộc báo Nông nghiệp Việt Nam).
Tác phẩm.
Hồi ký không tên Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM, 2004 | 1 | null |
Hồng Tơ tên thật Cao Văn Tơ (sinh ngày 11 tháng 12 năm 1963 tại xã Điều Hòa, thị xã Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho, nay là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) từng là một diễn viên hài, diễn viên điện ảnh và nghệ sĩ cải lương người Việt Nam. Ông được khán giả biết đến qua các vai diễn trong các vở cải lương như Lý trưởng (vở Hòn Vọng Phu), ông bầu và Xuyên (vở Bàn thờ tổ một cô đào), Mã Nàm (vở Tình yêu và tướng cướp)...
Bị bắt giữ vì hành vi đánh bạc.
Ngày 7/5/2019, Hồng Tơ bị công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ vì hành vi đánh bạc. | 1 | null |
Thác nước Yosemite nằm trong vườn quốc gia Yosemite ở Sierra Nevada, bang California. Đây là một điểm thu hút số lượng lớn khách du lịch khi đến với vườn quốc gia này, đặc biệt là vào cuối mùa xuân khi lưu lượng nước ở trạng thái cao nhất.
Thác nước này cao 739 mét tính từ đỉnh trên cùng của thác xuống đến chân của tầng thác dưới cùng khiến nó là thác nước cao nhất ở Bắc Mỹ cao thứ 6 trên thế giới, mặc dù với những khám phá gần đây về thác nước Gocta Cataracts khiến nó xuất hiện trên một số danh sách ở vị trí thứ 7.
Mô tả.
Thác nước Yosemite bao gồm 3 tầng thác.
Trong những năm ít tuyết, thác ít nước và gần như là ngừng chảy vào cuối mùa hè hoặc mùa thu. Một số ít các nhà leo núi nhân cơ hội để leo lên các khu vực núi đá mà họ không thể tiếp cận được khi thác chảy siết, mặc dù đây là việc cực kỳ nguy hiểm khi một cơn giông buổi chiều có thể thổi bay họ khỏi những vách đá cheo leo.
Thác hạ có thể dễ dàng tiếp cận được ở vị trí gần Yosemite Lodge ở thung lũng Yosemite. Còn đỉnh của thác thượng có thể tới được thông qua một con dốc đứng, hiểm trở, thác trung cũng có thể lại gần được thông qua một số tuyến đường từ Tioga ở phía bắc.
Tại thung lũng Yosemite có ngôi làng của người Ahwahneechee bản địa. Người dân gọi thác Yosemite là "Cholock" (có nghĩa là "mùa thu") và tin rằng hồ nước ở dưới chân thác là nơi sinh sống tinh thần của một số phù thủy, gọi là Poloti. Một câu chuyện dân gian của người Ahwaneechee kể rằng có một người phụ nữ đi tới hồ này để lấy nước. Ngay đêm hôm đó, khi người phụ nữ đã xâm phạm vào lãnh thổ, thì một cơn gió mạnh đã hút người phụ nữ và đứa con mới sinh đã bị vào đó. | 1 | null |
Hiếu Hiền tên thật Phạm Hiếu Hiền (sinh ngày 2 tháng 7 năm 1977) là một nam diễn viên hài, diễn viên điện ảnh và MC người Việt Nam.
Tiểu sử.
Hiếu Hiền sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh là con trai út của cố nghệ sĩ Kim Ngọc và cố nghệ sĩ Đức Lang. Hiếu Hiền từng nhiều năm đi diễn hài cùng mẹ và nhóm hài Kim Ngọc, với các vở tiêu biểu "Tuyển tiếp viên", "Bà bầu liều mạng" và đóng nhiều vai phụ trong các bộ phim.
Tháng 12 năm 2010, Hiếu Hiền kết hôn với Thùy Liên. Ngày 16 tháng 1 năm 2011, nghệ sĩ Kim Ngọc - mẹ của Hiếu Hiền đột ngột qua đời do bị đột quỵ. Năm 2012, hai vợ chồng anh sinh một bé trai và đặt tên là Hiếu Nhân. Năm 2015, hai vợ chồng anh sinh một bé gái và đặt tên là Kim Hậu.
Ngày 13/4/2021, nghệ sĩ Đức Lang (tên thật là Phạm Hiếu Đức) (sinh 1940) (ba của Hiếu Hiền) qua đời do nhiều bệnh tuổi già và sức khỏe yếu. | 1 | null |
Gecarcinus quadratus là một loài cua trong họ. Loài cua này được tìm thấy trong rừng ngập mặn, cồn cát và rừng mưa dọc theo bờ biển Thái Bình Dương từ phía nam Mexico đến Peru. Phân loại liên quan đến Gecarcinus Đại Tây Dương "lateralis" đang bị tranh cãi, với nhiều xem xét nó và G. quadratus là cùng loài.
Mai của G. quadratus có thể đạt tới chiều dài 5 cm. Nó có một đôi càng lớn màu tím, chân màu cam đỏ, và mai gần như hoàn toàn màu đen với một cặp màu vàng, các đốm màu cam hoặc màu hạt dẻ phía sau mắt, và một cặp bổ sung các điểm màu trắng trên mai thấp hơn đỉnh mai.
Cua ban đêm đào hang - đôi khi sâu đến 1,5 m - trong rừng nhiệt đới ven biển Trung Mỹ, và phổ biến dọc theo bờ biển của Costa Rica, Panama, và Nicaragua. Nó sống trong rừng ít nhất một giai đoạn trưởng thành của chúng, nhưng cần phải quay trở lại biển để sinh sản. Chúng phần lớn ăn cỏ, và tiêu thụ lá rụng và cây giống. | 1 | null |
Carpilius convexus là một loài cua trong họ Carpiliidae. Loài cua này phân bố ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, từ Hawaii đến Biển Đỏ và Nam Phi. Loài này đã được miêu tả khoa học lần đầu bởi Peter Forsskål vào năm 1775 với danh pháp "Cancer convexus", và một số tác gia đã xem loài này là một biến thể của loài lớn hơn "Carpilius maculatus". Người ta ít biết về thông tin sinh học của chi "Carpilius". | 1 | null |
Cua mặt trăng, tên khoa học Carpilius maculatus, là một loài cua trong họ Carpiliidae. Loài cua này phân bố ở Ấn Độ Dương và bờ biển phía tây Thái Bình Dương ở độ sâu 10 mét, các rạn san hô ven biển. Loài cua này dài đến 18 cm.
Tại Việt Nam, loài cua này chỉ xuất hiện theo mùa tài vùng biển đảo Phú Quý (Bình Thuận) và được xem là một đặc sản ẩm thực. | 1 | null |
Charles Frank Bolden, Jr. (19/8/1946) là giám đốc NASA Hoa Kỳ. Ông là tướng nghỉ hưu của thủy quân lục chiến Hải quân Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 1968, ông trở thành một phi công thủy quân lục chiến và phi công thử nghiệm. Sau khi làm phi hành gia, ông trở thành Phó Chỉ huy trưởng Midshipmen tại Học viện Hải quân. Ngày 23 tháng 5 năm 2009, Tổng thống Barack Obama công bố sự đề cử Bolden làm Giám đốc NASA và Lori Garver làm Phó giám đốc NASA. Bolden đã được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn vào ngày 15 tháng 7 năm 2009. Ông là người châu Phi đầu tiên của Mỹ đứng đầu cơ quan trên cơ sở lâu dài. | 1 | null |
Hành chính Việt Nam thời Đinh phản ánh bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương của nước Đại Cồ Việt từ năm 968 đến năm 979 trong lịch sử Việt Nam.
Chính quyền trung ương.
Sử sách ghi chép rất vắn tắt và không hệ thống về bộ máy chính quyền nhà Đinh. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại ý kiến của sử gia Lê Văn Hưu về triều Đinh:
Chế độ quan chức nhà Đinh nêu trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau:
Mùa xuân năm 975, Đinh Tiên Hoàng ra quy định áo mũ cho các quan văn võ.
Ngoài ra, không thấy sử sách nói về bộ máy chính quyền với các chức danh một cách hệ thống. Các sử gia hiện đại cho rằng tổ chức bộ máy nhà Đinh cũng như nhà Ngô, còn giản đơn, hoạt động chưa được thể chế hóa, việc lựa chọn quan lại chưa có chế độ rõ ràng, pháp luật chưa thành văn. Những người làm quan, nắm quyền hành phần lớn là các tướng lĩnh có công lao trong quá trình đánh dẹp.
Kinh đô nhà Đinh đóng tại Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình), thuộc về Trường Châu thời thuộc Đường. Dựa vào các khối đá vôi cao dựng đứng ôm lấy vùng đất cao không bị ngập do thủy triều và nước lũ, lại có Hoàng Giang thuận lợi giao thông, Đinh Tiên Hoàng đã cho hoàn thiện những kè lũy có từ thời cát cứ thành những đoạn tường thành kiên cố bảo vệ cung vua bên trong.
Việc Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư mà không chọn Cổ Loa của nhà Ngô hay Đại La thời Bắc thuộc được Lê Văn Siêu xem là quyết định khôn ngoan. Với hoàn cảnh đương thời, sau nhiều năm loạn lạc, Hoa Lư là địa điểm chiến lược, khống chế được cả khu vực sơn cước từ Thanh Hóa đổ ra, sông Đà đổ xuống, thêm địa thế vừa hùng vừa hiểm có thể cầm cự với Trung Hoa, nếu có cuộc xâm lăng của phía này tới. Nhà địa chất, đồng thời là nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương cũng cho rằng: tính hiểm yếu của Hoa Lư không chỉ nhờ phần thành lũy, nền điện mà chính bởi hệ thống các thung lũng núi sâu hơn bên trong có thể liên thông với nhau bởi các khe ngách mà ngày nay do nước biển dâng cao đã biến thành những lạch nước ngầm.
Kiến trúc xây dựng cung thất trong kinh thành Hoa Lư còn sơ khai, chưa có những công trình kiên cố, bề thế mà chỉ nhà Tiền Lê kế tiếp mới bắt đầu thực hiện được. Lê Văn Siêu cho rằng cung điện nhà vua chưa đúng nghĩa một cung điện như các triều đình phương Bắc đương thời mà giống một nhà lớn nhiều gian, có sân, ao và hào lũy bao bọc phòng thủ.
Chính quyền địa phương.
Lãnh thổ.
Trên đại thể, Đinh Tiên Hoàng quản lý toàn bộ nước Đại Cồ Việt, tuy nhiên tại từng vùng mức độ quản lý cũng khác nhau. Những nơi quá xa kinh đô Hoa Lư, đặc biệt là vùng dân tộc ít người vẫn chỉ có phụ thuộc lỏng lẻo với triều đình trung ương.
Lãnh thổ nhà Đinh kế tục nhà Ngô trở về sau nằm trên 8 châu thời thuộc Đường là Giao, Lục, Phong, Ái, Hoan, Phúc Lộc, Trường, Diễn. Trong các bộ sử cũ, chỉ có Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo, nhưng không ghi chép rõ tên và vị trí các đơn vị hành chính ra sao.
Các bộ sử khác như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư đều không ghi chép điều này. Tuy nhiên, Đại Việt sử ký toàn thư lại ghi sự kiện "đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu" thời Tiền Lê, các nhà nghiên cứu cho rằng điều đó cho thấy chính Toàn thư đã mặc nhiên thừa nhận nước Đại Cồ Việt từng được chia làm 10 đạo trong thời Đinh. Việc đổi đạo làm phủ, lộ, châu này cũng được Khâm định Việt sử thông giám cương mục xác nhận. Mặt khác, do chia nước thành 10 đạo mới có chức "Thập đạo tướng quân" của Lê Hoàn.
Việc tổ chức các đơn vị trong nước thành 10 đạo của Đinh Tiên Hoàng mang ý nghĩa chính trị to lớn, cùng việc đặt tên nước Đại Cồ Việt: nhà Đinh khẳng định chủ quyền độc lập của mình bằng cách xóa bỏ hay thay đổi các đơn vị hành chính do nhà Đường của Trung Quốc đặt ra, thực hiện quyền quản lý và quyền phân chia hành chính đối với quốc gia trong tay mình cai trị.
Sử cũ không ghi chép các địa danh địa phương thời kỳ này một cách hệ thống và vẫn ghi một số địa danh như thời thuộc Đường như châu Ái, châu Hoan. Các nhà nghiên cứu lý giải điều này rằng: nhà Đinh dựa trên cơ sở các châu cũ của thời thuộc Đường, có thêm bớt điều chỉnh nhỏ để thành lập các đạo, nhưng cách gọi "châu" trước đó đã khá thông dụng và quen thuộc. Mặt khác, thời gian tồn tại của hệ thống hành chính 10 đạo của nhà Đinh được duy trì chỉ hơn 20 năm (từ năm 974 đến năm 1002, do đó các sử gia đời sau vẫn dùng đơn vị "châu" theo nếp cũ.
Tại mỗi đạo trong nước, triều đình tổ chức các đơn vị quân đội địa phương như sau: mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người.
Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi cho rằng thời Trần có 310 vạn đinh, nhưng các sử gia hiện nay cho rằng con số này cao hơn thực tế và thế kỷ 10 chưa cho phép tổ chức một lực lượng quân đội đông tới 1 triệu người.
10 Đạo thời Đinh.
Sử sách không chép cụ thể các đơn vị hành chính. Một số đơn vị hành chính lớn được sử nhắc đến trong thời kỳ này, không đầy đủ, bao gồm.
Căn cứ tư liệu Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại thời điểm điều chỉnh về hành chính của Lê Đại Hành vào tháng 3 năm 1002: ông đổi mười đạo thời Đinh làm lộ, phủ, châu và danh sách các địa danh thời Tiền Lê có thể bổ sung các đạo khác thời Đinh như sau:
Nguyễn Danh Phiệt cho rằng hệ thống hành chính cấp dưới được kế tục từ thời họ Khúc, họ Dương và họ Ngô: gồm có giáp, xã. Đứng đầu giáp là Quản giáp, đứng đầu xã là 2 xã quan.
Chưa thấy tài liệu nào ghi cụ thể 10 đạo thời Đinh, căn cứ vào những ghi chép về thời Đinh, và thời Tiền Lê có thể suy đoán các tên các đạo của đất nước khi này như: Đạo Bắc Giang, Đạo Quốc Oai, Đạo Hải Đông, Đạo Hoan "(Châu)", Đạo Ái "(Châu)", Đạo Lâm Tây, Đạo Đại Hoàng, Đạo Đằng "(Châu)", Đạo Thái Nguyên, Đạo Phong "(Châu)". | 1 | null |
Quan hệ Việt-Chăm xem như bắt đầu từ năm 968, khi Đinh Tiên Hoàng lập ra nước Đại Cồ Việt, với tư cách là quốc gia độc lập đến năm 1832, khi vua Minh Mạng xóa bỏ chế độ tự trị của người Chăm, đổi Thuận Thành trấn thành phủ Ninh Thuận và đặt quan lại cai trị trực tiếp.
Dưới thời nhà Trần.
Thời Đại Việt cường thịnh.
Nguyên do: ""Chiêm Thành từ khi nhà Lý suy yếu, thường đem thuyền nhẹ đến cướp bóc dân cư ven biển. Vua lên ngôi, lấy đức vỗ về, sai sứ sang dụ, tuy họ có thường sang cống, nhưng lại đòi xin lại đất cũ, và có ý dòm ngó (nước ta). Vua giận, nên có việc thân chinh này"." | 1 | null |
Fruit Ninja (Fruit Ninja HD trên iPad và Fruit Ninja THD trên các thiết bị Android chạy Nvidia Tegra 2) (còn được biết đến ở Việt Nam với tên gọi Chém hoa quả) là một trò chơi do Halfbrick Studios phát triển tại Brisbane, Australia, được phát hành vào ngày 21 tháng 4 năm 2010 trên iPod Touch và iPhone, ngày 12 tháng 7 năm 2010 trên iPad, ngày 17 tháng 9 năm 2010 trên các thiết bị Android và ngày 22 tháng 12 năm 2010 trên Windows Phone. Sau đó, vào tháng 3 năm 2011, các phiên bản dành cho hai hệ điều hành Bada của Samsung và Symbian của Nokia cũng được phân phối trên các kênh ứng dụng của chúng. Ngay trước khi E3 2011 diễn ra, Fruit Ninja Kinect được phát hành trên hệ máy Xbox 360 vào ngày 10 tháng 8 năm 2011. "Fruit Ninja" cũng được phát hành cho Windows 8 vào ngày 7 tháng 6 năm 2012. Ngoài ra còn có một phiên bản arcade tên là Fruit Ninja FX. Người chơi phải chặt đôi các loại trái cây được tung lên không bằng cách trượt ngón tay trên màn hình cảm ứng của thiết bị. Trò chơi hỗ trợ các chế độ nhiều người chơi và bảng xếp hạng.
Trò chơi nhận được những phản ứng tích từ phía giới phê bình và người sử dụng; doanh số bán ra lần lượt vượt ngưỡng 3 triệu, 4 triệu và 20 triệu lượt tải về trên mọi hệ máy vào tháng 11 năm 2010, tháng 12 năm 2010 và tháng 3 năm 2011. Tháng 5 năm 2012, "Fruit Ninja" đạt mức 300 triệu lượt tải về và có mặt trên một phần ba tổng số điện thoại iPhone ở Mỹ. Trò chơi được đánh giá là sự kết hợp tuyệt vời giữa giá thành rẻ và lối chơi gây nghiện. Ngoài ra trò chơi còn được khen ngợi bởi sự hỗ trợ và các cập nhật từ phía nhà phát triển Halfbrick.
Lối chơi.
Trong "Fruit Ninja", người chơi chém các loại trái cây với một lưỡi kiếm được điều khiển thông qua màn hình cảm ứng. Khi trái cây được tung lên, người chơi trượt ngón tay qua màn hình để tạo ra một đường chém nhằm chẻ đôi chúng. Người chơi sẽ được cộng điểm thưởng nếu chẻ được nhiều trái cây trong một lần chém và có thể dùng thêm các ngón tay khác để thực hiện nhiều đường chém cùng một lúc.
Trong chế độ Classic, người chơi phải chém được tất cả số trái cây được tung lên và nếu chém trượt 3 quả thì trò chơi sẽ kết thúc. Nhưng khi đạt được số điểm là cấp số nhân của 100, người chơi sẽ được thêm một mạng (trừ khi họ chưa chém trượt quả nào). Thỉnh thoảng bom sẽ được tung lên và trò chơi cũng sẽ kết thúc nếu chúng bị chém trúng. Chế độ Zen cho phép người chơi không bị bom cản trở và có 90 giây. Còn trong chế độ Arcade thì người chơi sẽ chỉ có 60 giây nhưng được bổ sung các loại chuối cho phép nhân đôi số điểm (Double Points), tăng số quả được tung lên (Frenzy) hoặc làm trái cây chuyển động chậm lại và đóng băng thời gian trong một khoảng thời gian ngắn (Freeze). Quả lựu (Multi-slice Pomegranate) có thể được chém nhiều lần, đôi khi xuất hiện trong chế độ Classic và luôn xuất hiện khi mỗi màn chơi ở chế độ Arcade kết thúc. Bên cạnh đó còn có quả thanh long, xuất hiện trong chế độ Classic, rất hiếm khi có và có giá trị 50 điểm.
Vào lễ kỷ niệm 2 năm ngày ra mắt của "Fruit Ninja", Halfbrick cho ra mắt bản cập nhật với một tính năng mới gọi là Gutsu's Cart. Người chơi có thể thu thập quả khế trong các màn chơi để mua những vật phẩm có ở Gutsu's Cart, bao gồm Berry Blast (khiến quả dâu tây nổ tung khi bị chém và người chơi được cộng thêm 5 điểm), Peachy Time (chém một quả đào trong hai chế độ Zen hoặc Arcade sẽ kéo dài thời gian thêm 2 giây), Bomb Deflect (khiến bom không phát nổ khi bị chém phải và đánh bay quả bom ấy đi) và mua khế (bằng tiền thật, US$ cho máy dùng iOS và đ cho máy dùng Android). Người chơi sẽ nhận được số khế tương ứng với điểm số khi màn chơi kết thúc.
Chế độ nhiều người chơi được hỗ trợ trên các thiết bị iOS thông qua ứng dụng Game Center của Apple, cho phép lối chơi cạnh tranh cũng như các bảng xếp hạng. Trong các màn chơi nhiều người, lưỡi kiếm và trái cây của người chơi có màu đỏ, khác với màu xanh dương của đối thủ. Người chơi chỉ được chém trái cây của mình và phải tránh trái cây của đối thủ. Những loại trái cây có màu trắng có thể được chém bởi cả hai người và có giá trị 3 điểm. Phiên bản dành cho iPad của trò chơi có chất lượng đồ họa được cải tiến và cho phép hai người chơi trên cùng một thiết bị. Người chơi có thể chia sẻ điểm số của mình thông qua Open Feint, Twitter và Facebook.
Vào lễ kỷ niệm 5 năm ngày ra mắt của Fruit Ninja, Halfbrick cho ra mắt bản cập nhật mới (2.3.3), sẽ xuất hiện táo vàng và 1 phần chơi gọi là Festival. Trong phần Festival có 2 chế độ chơi là Tournament và Mini Games. Trong Tournament, người chơi sẽ phải đấu với 6 ninja (Truffles, Nobu, Mari, Han, Katsuro và Rinjin) và mất 10 quả táo vàng (nhận Golden Ember Blade sẽ được miễn phí). Người chơi chỉ được chém quả màu xanh (1 điểm, nếu đạt combo sẽ được số điểm gấp 3 lần số điểm trong phần chơi thường, nếu ninja chém vào sẽ mất 5 điểm và người chơi được 1 điểm), quả màu trắng (10 điểm), không chém quả màu đỏ (mất 5 điểm, ninja được 1 điểm) và không chém bom (mất 20 điểm). Thắng Rinjin, bạn sẽ được Golden Ember Blade (chém 1 quả được chém quả đó thêm 1 lần nữa, nếu sau 3 giây không chém thì nó sẽ tự tách ra và không có điểm). Còn trong Mini Games, có 6 kiểu chơi là Cherry Bomb, Swarm, Time Attack, Juggle, Fortune và Quick Draw. Mỗi lượt chơi một trong 6 kiểu sẽ mất 100 quả khế. Cứ chém 1 quả bom là mất 10 hoặc 20 điểm và thời gian chơi của mỗi game là 45 giây (trừ Time Attack - 20 giây). Trong phần Cherry Bomb, chém những quả sơ-ri gần bom để được 10 điểm và được Combo Blitz (+5 điểm). Chém được 1 quả nữa sẽ được Great Blitz (+10 điểm) và sau đó cứ cộng thêm 5 điểm vào Blitz (Awesome Blitz (+15), Super Blitz (+20), Hyper Blitz (+25) và cao nhất là Unbelieveable Blitz (+30)). Phần chơi này được dùng Northern Light Blade. Trong phần Swarm, người chơi phải chém quả và đẩy bom ra chỗ khác. Mỗi lượt sẽ xuất hiện 1 quả. Phần chơi này được dùng Flame Blade. Trong phần chơi Time Attack, sẽ có những quả chanh sáng (+1 giây). Cách chơi giống như chơi phần Arcade. Phần chơi này được dùng Firework Blade. Trong phần chơi Juggle, sẽ có những quả thanh long vàng. Người chơi phải chém thanh long vàng và chém quả Berry Blast để làm nổ thanh long vàng. Khi hết thời gian, những quả thanh long vàng sẽ tự động nổ. Phần chơi này được dùng Wind Blade. Trong phần chơi Fortune, sẽ xuất hiện những chiếc bình (bên trong có 3 trái cây, có cơ hội được 1 bình khác ở trong. Phần chơi này dùng Caligraphy Brush Blade. Trong phần chơi Quick Draw, sẽ xuất hiện nhiều bom và có ít quả. Phần chơi này được dùng Lightning Blade.
Phát triển và quảng bá.
Trong một bài phỏng vấn với GameSpot, Phil Larsen, giám đốc marketing của Halfbrick cho biết, "Chúng tôi đã theo dõi nhiều kênh khác nhau [...] game indie, PSN, XBLA, [...] và nghiên cứu rất nhiều về các xu hướng trên iPhone để có thể tạo ra một trò chơi hiệu quả." Sau đó ông nói về quá trình lên ý tưởng cho các trò chơi mới của công ty, ""Fruit Ninja" cũng được xuất phát từ quá trình [đó], nhưng chúng tôi coi nó là một cái gì đó đặc biệt hơn [và] quyết định tập trung vào trò chơi." Luke Muscat, trưởng bộ phận thiết kế của trò chơi, cho biết nét độc đáo của màn hình cảm ứng cũng như lượng thời gian phát triển ngắn đã góp phần thúc đẩy Halfbrick phát triển trò chơi.
Trò chơi ban đầu được phát hành trên iPod Touch và iPhone vào ngày 21 tháng 4 năm 2010S, và sau đó là trên iPad với tên gọi "Fruit Ninja HD" vào ngày 12 tháng 7 năm 2010. Ngày 17 tháng 9 năm 2010, "Fruit Ninja" được phát hành trên các thiết bị Android. Ngày 2 tháng 11 năm 2011, chế độ Arcade với một lối chơi mới được công bố và được ra mắt sau 2 ngày. Tháng 12 năm 2010, phiên bản "Lite" cũng như "Fruit Ninja HD" được phát hành trên các thiết bị iOS. Trò chơi cũng đã được phát hành trên Windows Phone 7 vào ngày 22 tháng 12 năm 2010. Phil Larsen cho biết do đặc điểm của các ứng dụng trên iOS, họ cần có một chiến lược quảng bá khác. "Trò chơi của bạn có thể đứng đầu bảng để rồi tuột hạng chỉ trong 3 ngày. Bạn cần cho nó ra mắt vào đúng thời điểm đồng thời có những kế hoạch để duy trì nó." Ngày 21 tháng 10 năm 2011, một bản cập nhật dành cho phiên bản Android được ra mắt, bổ sung chế độ Arcade, các bảng xếp hạng và lưỡi kiếm băng. Tháng 6 năm 2011, phiên bản dành cho PC cũng đã được phát hành Ngoài ra còn có một phiên bản dựa trên bộ phim Puss in Boots.
Tháng 3 năm 2011, Halfbrick công bố phiên bản trên Facebook với tên gọi "Fruit Ninja Frenzy". Đến ngày 18 tháng 11 năm 2012, phiên bản này đã có thể được chơi trên Facebook. Giữa năm 2011, phiên bản arcade của trò chơi với tên gọi "Fruit Ninja FX" được ra mắt. Tháng 3 năm 2012, Halfbrick công bố việc hợp tác với BlueStacks để phát hành "Fruit Ninja" trên hệ điều hành Microsoft Windows. Trò chơi nhận được 1 triệu lượt tải về chỉ trong 10 ngày.
Sự đón nhận.
"Fruit Ninja" nhận được những phản hồi tích cực từ phía giới phê bình và người sử dụng. Phiên bản trên iOS bán được hơn 200,000 bản trong tháng đầu tiên. Đến tháng thứ ba hơn 1 triệu bản đã được bán. Trò chơi vượt ngưỡng 2 triệu bản vào tháng 9 năm 2010 và đạt mức 4 triệu bản vào tháng 9 năm 2010. Đến tháng 3 năm 2011 số lượt tải về trên tất cả các hệ máy vượt ngưỡng 20 triệu. Tháng 5 năm 2012, trò chơi đạt mức 300 triệu lượt tải về, đồng thời có mặt trên một phần ba tổng số điện thoại iPhone ở Mỹ. Phiên bản dành cho Windows Phone 7 trở thành ứng dụng được tải về nhiều nhất trong tuần từ 28 tháng 12 năm 2010. Trò chơi lọt vào danh sách 50 ứng dụng xuất sắc nhất trên iPhone năm 2011 của tạp chí Time. Phiên bản Xbox Live Arcade bán được hơn 739,000 bản trong năm đầu tiên.
Các nhà phê bình hầu hết đều khen ngợi yếu tố vui nhộn của "Fruit Ninja". Levi Buchanan của IGN gọi trò chơi là "một niềm vui tức thì". Chris Reed của Slide to Play cho rằng trò chơi là lựa chọn hoàn hảo cho những lúc buồn chán. Jim Squires của GameZebo cảm thấy lối chơi của "Fruit Ninja" đơn giản nhưng dễ gây nghiện. Geoff Gibson của DIYGamer nhận xét rằng "Fruit Ninja" có khả năng "trở thành một hiện tượng mới trên App Store." Một số nhà phê bình khen ngợi mức giá của trò chơi cũng như sự tâm huyết của Halfbrick. James Pikover của GameZone đánh giá rằng "có lẽ điều tuyệt vời nhất chính là trò chơi còn chưa hoàn thiện" bởi những chế độ chơi sẽ được ra mắt trong tương lai. Andrew Nesvadba của App Spy cũng đánh giá cao những cập nhật liên tiếp của Halfbrick cũng như chất lượng đồ họa của trò chơi.
Hệ thống tính điểm và độ khó của trò chơi nhận được những phản ứng trái chiều. Chris Reed cảm thấy đáng lẽ nên có nhiều lựa chọn về độ khó. Andrew Nesvadba và Geoff Gibson thì cho rằng do cơ hội điểm thưởng xuất hiện một cách ngẫu nhiên, việc phá kỷ lục về điểm số trở nên khó khăn hơn. | 1 | null |
Crood, hoặc Cuộc phiêu lưu của nhà Croods (tựa gốc tiếng Anh: The Croods) là một phim hoạt hình 3D thể loại hài phiêu lưu của Mỹ do hãng DreamWorks Animation sản xuất và hãng 20th Century Fox phân phối. Phim được lồng tiếng bởi các diễn viên Nicolas Cage, Ryan Reynolds, Emma Stone, Catherine Keener, Clark Duke và Cloris Leachman. Phim lấy bối cảnh thời tiền sử, khi vị trí "dẫn đầu cuộc săn" của một người đàn ông trụ cột gia đình bị đe doạ bởi sự xuất hiện của một chàng trai tài giỏi, khởi đầu bằng một phát minh mang tính cách mạng như có thể tạo ra ngọn lửa.
"The Croods" được biên kịch bởi Kirk DeMicco, Chris Sanders đạo diễn, Kristine Belson và Jane Hartwell sản xuất. Phim được công chiếu tại các rạp vào 22 tháng 3 năm 2013. Theo một phần của thoả thuận phân phối, đây sẽ là bộ phim đầu tiên của hãng hoạt hình DreamWorks đặt dưới sự phân phối của hãng 20th Century Fox, sau khởi điểm trước đó là bộ phim "Rise of the Guardians" năm 2012 do hãng Paramount Pictures phân phối.
Nội dung.
Bộ phim mở màn với Eep (Emma Stone), cô gái trong một gia đình sống trong hang động thời tiền sử, kể lại cách mà gia đình cô đã vượt qua để trở thành một trong số ít những người còn sống sót, phần lớn nguyên nhân là nhờ dựa vào những quy định gắt gao của cha cô, Grug (Nicolas Cage). Khi ở trong ngôi nhà hang động của họ, Grug kể một câu chuyện với các thành viên trong gia đình, gồm vợ của ông, Ugga, cô con gái nhỏ Sandy, cậu con trai lớn Thunk và bà mẹ vợ. Câu chuyện mô phỏng một nhân vật có tính tình hiếu kì như Eep. Ông dùng câu chuyện này để cảnh báo gia đình rằng sự phiêu lưu thám hiểm và 'những thứ mới mẻ' đem lại mối đe doạ cho sự sống còn của họ. Điều này khiến cho cô bé thích phiêu lưu và đang chán nản Eep tức giận. Và khi gia đình đã ngủ say trong đêm tối, cô phớt lờ lời cảnh báo của cha và rời khỏi hang động, đi theo một ánh sáng bí hiểm trong đêm.
Trong lúc khám phá thứ ánh sáng kì lạ kia, cô gặp Guy, một chàng trai tiền sử thông minh. Cô bị mê hoặc bởi ngọn lửa mà Guy tạo ra, háo hức muốn biết nhiều hơn nữa. Cậu bé kể với cô về viễn cảnh thế giới đang sắp bị diệt vong và hối thúc phải đi ngay nhưng cô từ chối. Sau đó Guy đưa cho cô một cái kèn bằng vỏ ốc, nói rằng hãy gọi cậu khi cần giúp đỡ rồi rời đi. Grug thức dậy lúc nửa đêm, phát hiện Eep đã biến mất, điên cuồng đuổi theo tìm kiếm và đưa cô về trong sự giận dữ. Trên đường về, khi gần đến hang động, họ chứng kiến cảnh nó bị đè sập trong một trận động đất và đá lở. Cả gia đình leo lên từ trong đống đổ nát để khám phá ra một vùng đất, một thế giới mới, khác xa so với vùng núi đá khô cằn quen thuộc mà họ đã quen sống từ trước đến nay.
Khi trở nên cảnh giác với hoàn cảnh mới xung quanh, cả gia đình bị tấn công bởi những con chim lông đỏ ăn thịt theo bầy đàn. Trong lúc sợ hãi, Eep thổi tiếng kèn cầu cứu sự giúp đỡ của Guy. Nghe thấy điều này, Guy lao về phía Eep. Suy nghĩ nhanh chóng, cậu bắt đầu đánh lửa thắp lên một ngọn đuốc và giơ cao, những con chim đang lao đến sợ ánh lửa dạt hẳn về một bên và gia đình được cứu thoát. Các thành viên trong gia đình trở nên say mê ánh lửa vì họ chưa từng nhìn thấy nó trước đó bao giờ. Họ giành lấy ngọn đuốc của Guy và vô ý để lửa lan khắp nơi. Vô tình một vài quả bắp khổng lồ bị bén lửa, nổ tung tạo thành tên lửa bay thẳng trên bầu trời, tạo thành khung cảnh như một màn trình diễn pháo hoa. Sau khi bị ấn tượng với trí thông minh của Guy và khó chịu với vấn đề "ý tưởng" mà anh đưa ra, Grug nhốt Guy vào trong một khúc thân cây rỗng và mang theo, đưa cả gia đình đi về hướng ngọn núi xa theo lời đề nghị của Guy để tìm kiếm một hang động mới làm nơi trú ẩn. Guy bị buộc đi theo cùng họ và nhanh chóng nhận ra lối sống của gia đình Croods, một kiểu sống mà anh cho rằng vốn không bình thường.
Khi cuộc săn bắn tìm thức ăn thất bại, Guy cùng Eep và thú cưng bất ly thân là Belt tạo một con rối để lừa con thú gần đó vào bẫy. Sau khi bắt được con mồi, cả gia đình ngấu nghiến bữa ăn. Khi bữa ăn kết thúc, Grug kể một câu chuyện cho cả gia đình, nội dung mô phỏng lại sự kiện trong những ngày qua họ vừa trải, đề cập đến một cô gái từng rời khỏi hang động đi khám phá và đã chết. Guy liền kể một câu chuyện về chính mình, về việc phám phá một nơi mà anh gọi tên là "ngày mai".
Vào buổi sáng, cả gia đình thức giấc bên vách núi bị sụp xuống trong đêm. Tiếp tục cuộc hành trình, Guy đem đến một phát minh là "giày" cho mọi thành viên trong gia đình, đổi lấy tự do di chuyển trong cuộc hành trình cho bản thân thay vì bị vác trên vai trong khúc gỗ. Các thành viên nhà Croods bắt đầu ngưỡng mộ tài năng của cậu, trừ Grug, ông bắt đầu cảm thấy ghen tức với sự thông minh của Guy.
Sau những ý tưởng của Guy, gia đình Croods vượt qua những khó khăn và tiếp tục cuộc hành trình. Họ leo lên một cái cây lớn để dừng lại qua đêm. Mọi người quyết định đi theo con đường đến "ngày mai", nhưng không bao gồm Grug. Ngày tiếp theo, Grug trong sự tuyệt vọng vì bị mọi người phót lờ và bỏ lại đêm qua, cố chứng tỏ một vài ý tưởng của mình. Tất cả đều kết thúc trong thất bại. Grug không thể nào thuyết phục gia đình rằng trú ẩn trong một hang động vừa tìm được trên hành trình của họ là một lựa chọn đúng đắn, ông vô cùng tức giận và tấn công Guy. Trong cuộc rượt đuổi, cả hai rơi vào vũng nhựa cây và không thể tự thoát ra được, Guy kể lại rằng gia đình anh cũng từng chết như thế này. Grug sau cuộc nói chuyện trở nên có cảm tình với Guy. Sau đó cả hai tìm được đường thoát ra ngoài theo mưu kế mới nảy sinh của Guy dưới sự động viên của Grug.
Khi gần đạt đến vùng đất ánh sáng của "ngày mai", sự sụp lún diễn ra tạo một vực thẳm trước mặt. Khói bụi bốc lên không thấy ánh sáng trước mặt nữa. Mọi người quyết định quay lại hang động để trú ẩn nhưng lúc này Grug bỗng đổi ý khi cố nhìn về phía trước và thấy hy vọng ở xa. Ông ném từng thành viên trong gia đình về phía bờ bên kia. Trước khi ném người cuối cùng là Eep, không quên nói rằng ông rất yêu cô. Sụp lún diễn ra tiếp tục và khoảng cách vực thẳm bên dưới là dung nham ngày càng lớn hơn. Grug quay đầu chạy trốn đá lở trên cao đổ xuống và chui vào một hang động tối tăm. Tại đây ông đánh lên ngọn lửa và gặp được một con thú dữ cũng đang lạc lối, hiền hoà nằm cạnh ông. Lát sau, ý tưởng sinh tồn trỗi dậy, ông nghĩ ra cách dùng đàn chim đỏ ăn thịt người đưa qua bờ bên kia, trong lúc Eep đang tuyệt vọng thổi lên tiếng kèn trong nước mắt của cuộc chia ly và chần chờ không muốn bước tiếp. Grug xuất hiện cùng đàn thú ông kéo theo trong lúc trốn chạy và cả gia đình đoàn tụ vui vẻ nơi vùng đất mới, chạy dưới ánh mặt trời và bỏ lại sau lưng bóng đêm của hang động cũ, thứ một thời họ cho rằng là nơi an toàn nhất.
Sản xuất.
Bộ phim lúc ban đầu là do hãng Aardman Animations chế tác, như một phần trong 5 bộ phim thoả thuận với hãng DreamWorks, từng được thông báo vào năm 2005 dưới tiêu đề "Sự thức tỉnh của Crood" ("Crood Awakening"), như một bộ phim dạng "stop motion" (kỹ thuật chụp liên tiếp chuỗi hành động rồi ghép lại thành video), do John Cleese và Kirk DeMicco viết những kịch bản đầu tiên cho bộ phim. Cùng với sự khởi đầu của bộ phim vào năm 2007, bản quyền bộ phim đã được chuyển nhượng sang DreamWorks.
Vào tháng 3 năm 2007, Chris Sanders, đạo diễn của "Lilo & Stitch", tham gia DreamWorks trong vai trò đạo diễn bộ phim, cùng với dự định viết lại kịch bản. Tháng 9 năm 2008, có tin tức rằng Sanders bận tham gia "How to Train Your Dragon" nên đã hoãn lại "The Croods" và sau đó trì trệ kế hoạch ban đầu của bộ phim hàng năm sau cho đến khi kế hoạch được lên lại vào tháng 3 năm 2012. Tựa đề cuối cùng của phim, "The Croods", được tiết lộ vào tháng 5 năm 2009 cùng với đạo diễn cộng tác là Kirk DeMicco. Tháng 3 năm 2011, bộ phim tiếp tục bị trì hoãn, đẩy tiến độ lùi lại một năm nữa vào ngày 1 tháng 3 năm 2013, cuối cùng kết thúc vào 22 tháng 3, cũng ngày công chiếu chính thức.
Âm nhạc.
Alan Silvestri soạn những bản nhạc chính cho phim, phiên bản điện tử được phát hành vào 15 tháng 3 năm 2013, do công ty Relativity Music Group phát hành, tiếp đó CD được ra mắt vào 26 tháng 3 năm 2013, do hãng Sony Classical phát hành. Đĩa nhạc bao gồm những bản nhạc do Owl City và Yuna thể hiện.
Phát hành.
"The Croods" ra mắt lần đầu tại Liên hoan Phim Quốc tế Berlin lần thứ 63 vào ngày 15 tháng 3 năm 2013. Phim công chiếu tại Mỹ và các quốc gia khác từ 22 tháng 3 năm 2013.
Trò chơi điện tử.
Một trò chơi điện tử dựa trên bộ phim có tên là "The Croods: Prehistoric Party!", do D3 Publisher phát hành cho dòng Wii U, Wii, Nintendo 3DS và Nintendo DS vào ngày 19 tháng 3 năm 2013. Trò chơi cho phép người tham gia trở thành các nhân vật của gia đình Croood, hành trình vào chuyến phiêu lưu thông qua 20 trò chơi con.
Một trò chơi điện tử trên điện thoại có tên là "The Croods" phát hành vào 14 tháng 3 năm 2013 dùng cho dòng iOS và Android do hãng chế tạo "Angry Birds" Rovio phát hành. | 1 | null |
Điệp vụ Valkyrie (tựa tiếng Anh: Valkyrie) là một bộ phim điện ảnh Mỹ năm 2008 lấy bối cảnh tại Đức Quốc Xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nội dung phim mô tả kế hoạch ám sát Adolf Hitler và sử dụng Điệp vụ Valkyrie vào ngày 20 tháng 7 năm 1944 của các sĩ quan quân đội Đức nhằm kiểm soát đất nước. "Điệp vụ Valkyrie" do Bryan Singer đạo diễn cho hãng phim United Artists, với sự tham gia của Tom Cruise trong vai Đại tá Claus von Stauffenberg, một trong những người bày mưu chính, cùng với Kenneth Branagh, Bill Nighy, Eddie Izzard, Terence Stamp và Tom Wilkinson vào vai các nhân vật phụ.
Việc chọn Cruise vào vai diễn này đã dấy lên nhiều tranh luận giữa các nhà chính trị gia của Đức và các thành viên trong gia đình von Stauffenberg vì nam diễn viên có tham gia vào Khoa luận giáo. Cũng chính vì điều này, các nhà làm phim ban đầu gặp khá nhiều khó khăn trong việc tìm địa điểm quay phim tại Đức, nhưng sau đó họ cũng được cấp phép quay phim tại một số địa điểm, bao gồm tòa nhà phức hợp Bendlerblock ở Berlin. Báo chí và các nhà làm phim Đức ủng hộ bộ phim này và nội dung liên quan tới von Stauffenberg cũng tạo ra nhiều quan tâm dư luận.
"Điệp vụ Valkyrie" thay đổi lịch công chiếu khá nhiều lần, từ ngày 27 tháng 6 năm 2008 ban đầu, sang ngày 14 tháng 2 năm 2009. Việc đổi lịch chiếu liên tục cùng chiến dịch quảng cáo nghèo nàn của hãng United Artists khiến nhiều người lo ngại cho tình hình kinh doanh của hãng phim. Sau buổi chiếu thử thuận lợi, ngày công chiếu của "Điệp vụ Valkyrie" tại Bắc Mỹ được đẩy lùi đến ngày 25 tháng 12 năm 2008. Hãng United Artists thay đổi chiến lược quảng bá để giảm bớt tập trung vào hình ảnh Cruise và nhấn mạnh hơn vai trò đạo diễn của Singer. Bộ phim nhận được nhiều ý kiến trái chiều nhau tại cả Mỹ và Đức.
Nội dung.
Trong Thế chiến thứ hai, Đại tá Claus von Stauffenberg đang đóng quân ở Tunisia, anh suy nghĩ về vận mệnh của nước Đức nếu còn dưới sự lãnh đạo của Adolf Hitler. Những chiếc máy bay Anh bất ngờ bay đến bắn phá Quân đoàn châu Phi của Đức. Stauffenberg đã bị thương trong cuộc không kích và được đưa về Đức Quốc Xã. Sau đó anh được Tướng quân Friedrich Olbricht tuyển chọn vào tổ chức kháng chiến Đức bí mật chống lại Hitler. Trong tổ chức còn có Tướng quân Ludwig Beck, Tiến sĩ Carl Goerdeler, và Erwin von Witzleben.
Stauffenberg đưa ra ý tưởng về chiến dịch Valkyrie, sử dụng quân đội dự bị vào chuyện khẩn cấp quốc gia để kiểm soát đất nước. Nhóm đảo chính dự định sẽ hủy bỏ đế chế phát xít sau khi ám sát Hitler. Nhận ra rằng chỉ có Tướng quân Friedrich Fromm - người chỉ huy quân dự bị - mới có thể bắt đầu chiến dịch Valkyrie, nhóm đảo chính thuyết phục ông tham gia, nhưng ông từ chối.
Stauffenberg được lệnh ám sát cả Hitler và Heinrich Himmler ở khu căn cứ Hang Sói (Wolf's Lair). Anh thuyết phục Tướng quân Erich Fellgiebel cắt đứt liên lạc ở Hang Sói sau vụ ám sát. Ngày 15 tháng 7 năm 1944, Stauffenberg đem quả bom đến cuộc họp ở Hang Sói nhưng không hành động vì Himmler vắng mặt. Trong khi đó ở thủ đô Berlin, Olbricht cho huy động quân dự bị. Stauffenberg rời đi với quả bom và quân dự bị được lệnh rút về. Fromm đe dọa sẽ bắt giữ Olbricht và Stauffenberg nếu họ dám điều khiển quân dự bị lần nữa.
Ngày 20 tháng 7 năm 1944, Stauffenberg và Trung úy Werner von Haeften quay trở lại Hang Sói. Vì thời tiết nóng nên cuộc họp được tổ chức trong căn nhà có nhiều cửa sổ mở, sẽ làm giảm sức công phá của quả bom. Stauffenberg đặt cái cặp chứa quả bom gần chỗ Hitler trước khi đi ra ngoài. Tuy nhiên một sĩ quan đã đặt cái cặp qua chỗ khác, vô tình bảo vệ Hitler khỏi vụ nổ. Khi quả bom phát nổ, Stauffenberg tin rằng Hitler đã chết và nhanh chóng bỏ đi. Trước khi cắt đứt liên lạc, Fellgiebel đã nghe tin Hitler vẫn còn sống.
Stauffenberg quay về Berlin. Với chiến dịch Valkyrie đang tiến hành, nhóm đảo chính ra lệnh bắt giữ các thủ lĩnh Đảng Quốc Xã và các sĩ quan SS. Nhiều tin đồn tiết lộ rằng Hitler vẫn còn sống, nhưng Stauffenberg cho rằng đó chỉ là lời tuyên truyền của quân SS. Từ thông tin của Thống chế Wilhelm Keitel, Fromm biết được Hitler vẫn còn sống thật sự. Fromm từ chối tham gia nhóm đảo chính nên họ buộc phải giam giữ ông.
Thiếu tá Otto Ernst Remer của quân dự bị định bắt giữ Joseph Goebbels, nhưng dừng lại khi Goebbels cho anh nghe cuộc điện thoại của Hitler. Remer nhận ra rằng quân dự bị đã bị lợi dụng. Các sĩ quan SS được thả ra và nhóm đảo chính bị bắt giữ ngay tại tòa nhà Bendlerblock. Beck tự tử và các sĩ quan khác bị đem ra xử bắn. Hành động cuối cùng trước khi chết của Stauffenberg là hét lên "Nước Đức muôn năm". | 1 | null |
Thiên tuế hay tuế lược (danh pháp hai phần: Cycas pectinata là loài thực vật phân bố ở đông bắc Ấn Độ, Nepal, Bhutan, bắc Myanmar, Hoa Nam, bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam. Đây là loài thứ tư của chi "Cycas"được đặt tên khoa học với mô tả lần đầu năm 1826. Thiên tuế cao đến với tán rộng. | 1 | null |
Cò ke hay bung lai, mé, gie la, chua ke, dan ke, don sai, bố trà diệp (danh pháp hai phần: Microcos paniculata) là loài thực vật có hoa bản địa Đông Nam Á và Trung Quốc. Loài này đôi khi được thêm vào trà thảo mộc để tạo vị chua dịu. Trong đông y, cò ke dùng để chữa các bệnh tiêu hóa cũng như một số bệnh khác. | 1 | null |
Lớp tàu phóng lôi "Shershen" (tiếng Anh:’’ Turya class torpedo boat’’,tiếng Nga:’’Торпедные катера проекта 206’’) là tên ký hiệu của NATO cho loại tàu phóng lôi lớp T-3 do Liên Xô nghiên cứu và sản xuất vào thập niên 1960. Tên thiết kế của nó là Đề án 206 "Shtorm".
Thiết kế.
Tàu phóng lôi lớp Shershen được thiết kế dựa trên tàu phóng lôi thuộc Đề án 183.Nó được thiết kế lại nhằm đảm bảo có giá thành rẻ hơn và dễ bảo trì.Chúng sử dụng loại động cơ giống với các lớp tàu Osa,Mol, Bogomol, và Turya.Vỏ tàu được đóng bằng duralumin, thích hợp để tuần tra gần bờ,trong điều kiện thời tiết tốt và khi không khí ít sương mù,tầm nhìn tốt.Nó có hệ thống phòng thủ EW, mức tối thiểu để tham gia vào bất kỳ cuộc hải chiến nào.
Vũ khí chính trên tàu bao gồm bốn ống phóng ngư lôi OTA-53-206M đặt ở hai bên có khả năng tấn công với tốc độ cao các tàu nổi và cả tàu ngầm, loại ngư lôi 53-VA cỡ 533mm có chiều dài 7,9m, nặng 2 tấn và lắp đầu nổ nặng 210 kg. Ngư lôi có độ sâu chiến đấu 6-8m, độ sâu sục sạo 12-16m, tốc độ 29 km/h, cự li bắn 11 km. Nó được điều khiển bởi hệ thống điều khiển hỏa lực OTA-53-206 .Ngư lôi Type 53-56 của Khối Warszawa có khả năng bám theo mục tiêu,tuy nhiên,phiên bản 53-65 xuất khẩu cho các nước Trung Đông (như Ai Cập, Syria, Iran, Iraq) lại chỉ có thể phóng thẳng.Mặc dù được thiết kế để mang vũ khí tấn công ra vùng nước sâu nhưng tàu lại không có Sonar còn giá mìn thì thường xuyên bị tháo ra. Ngoài ra,trên tàu còn có 2 pháo cao tốc AK-230 2 nòng 30 mm,1 đặt ở đầu và 1 đặt ở cuối tàu.4 tên lửa đất đối không tầm thấp Strela-2, NATO gọi là SA-7 Grail,phiên bản hải quân gọi là SA-N-5. Ở Việt Nam,tên lửa Strela-2 được gọi là tên lửa A-72.
Phiên bản nâng cấp của tàu phóng lôi lớp Shershen sau này là tàu phóng lôi lớp Turya (tên của Liên Xô là tàu phóng lôi lớp T-68 thuộc đề án lớp 206M Shtorm).Nó có lắp đặt sonar,là loại tàu cánh ngầm có tốc độ cao và có pháo AK-257 57 mm nhưng không có tên lửa Strela 2.Chữ "M" trong tên "Đề án 206M Shtorm" viết tắt của từ "Modernizirovannyj" trong tiếng Nga có nghĩa là hiện đại hóa.
Các nhà khai thác.
Đề án 206.
Hiện nay nhiều tàu phóng lôi lớp "Shershen" và cả tàu phóng lôi lớp "Turya" đã bị cho ngừng hoạt động do đã cũ kỹ.Các loại tàu phóng lôi trên thế giới nói chung hiện nay đã lạc hậu,chỉ đảm bảo các nhiệm vụ tuần tra bảo vệ vùng nước nông,vùng ven bờ và các cửa sông.Chúng đã được thay thế bằng các tàu hộ vệ tên lửa có tốc độ cao và hỏa lực mạnh.
Đề án 206E.
Một phiên bản đơn giản hóa được Liên Xô thiết kế, chế tạo để xuất khẩu có tên là Đề án 206E. Tên ký hiệu của NATO là lớp "Mol". Chúng được xuất khẩu cho các quốc gia ngoài khối xã hội chủ nghĩa. Một chiếc được Liên Xô giữ lại để huấn luyện cho thủy thủ đoàn nước ngoài. | 1 | null |
Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh là tổ chức thanh niên của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, hoạt động từ 1962 đến 1976. Đây là một trong những tổ chức tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Lịch sử.
Sau Phong trào Đồng khởi (1959 - 1960), phạm vi kiểm soát của các tổ chức thân Đảng Lao động Việt Nam được mở rộng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20 tháng 12 năm 1960) đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào thanh thiếu niên phát triển mạnh mẽ. Vào năm 1962, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam được thành lập và tổ chức mang tên Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam cũng ra đời nhằm liên kết mọi hội nhóm thanh niên hoạt động manh mún dưới ngọn cờ duy nhất.
Đến năm 1973, tổ chức này được đổi tên thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh tồn tại cho đến năm 1976 thì sáp nhập với Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trụ sở ban đầu của tổ chức đặt tại khu rừng Chàng Riệc, xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (1962 - 1975), sau đó chuyển về Sài Gòn (1975 - 1976).
Kết thúc.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 12 năm 1976, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh hợp nhất với Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. | 1 | null |
Dẻ tùng nam hay sam bông nam (danh pháp: Amentotaxus poilanei) là loài thực vật thuộc họ Thông đỏ.
Đây là loài đặc hữu của Việt Nam.
Môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng núi đá vôi ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sam bông nam đang bị đe dọa mất môi trường sống. | 1 | null |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.