text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Hội quán Nghĩa An (chữ Hán: 義安會館), thường được gọi là Miếu Quan Đế hay Chùa Ông, là một cơ sở tín ngưỡng của người Tiều tại 678 đường Nguyễn Trãi, thuộc phường 11, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Đây không chỉ là nơi chiêm bái của người Tiều tại Sài Gòn, mà còn là một công trình có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật ở nửa cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Vì vậy, ngày 7 tháng 11 năm 1993, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký quyết định số 43-VH/QĐ công nhận ngôi miếu là "di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia". Lịch sử. Tên gọi. Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Vũ, một nhân vật thời Tam Quốc. Đối với người Hoa, ông là người tài đức vẹn toàn. Vì vậy, miếu có tên là miếu Quan Đế. Và vì đây cũng là nơi hội họp của người Tiều, nên còn gọi là Nghĩa An Hội Quán (Nghĩa An là tên cũ của người Tiều để chỉ Triều Châu). Tuy nhiên, ngôi thờ này thường được gọi là chùa Ông theo thói quen của nhiều người. Lược sử. Hội quán Nghĩa An được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, do cộng đồng người Tiều và người Hẹ tại Triều Châu sang sinh sống tại Đề Ngạn xưa thành lập. Trong "Gia Định thành thông chí" soạn khoảng năm 1820, tác giả Trịnh Hoài Đức đã có nhắc đến hội quán này: Theo nội dung văn bia tại đây, hội quán được trùng tu vào các năm 1866, 1902, 1966, 1984 và lần trùng tu gần đây nhất kéo dài từ năm 2009 đến năm 2014. Kiến trúc. Như phần lớn các đền miếu của người Hoa, miếu Quan Đế (Nghĩa An Hội Quán) có kiến trúc tổng thể hình chữ khẩu (囗) hay chữ quốc (国) với các dãy nhà khép kính vuông góc. Nhìn chung, kiến trúc và trang trí ở miếu thể hiện rõ nét phong cách Triều Châu qua thiết kế, qua màu sắc (màu đỏ là màu chủ đạo). Tất cả đã thể hiện những giá trị nghệ thuật về thư pháp, chạm đá, chạm gỗ, ghép mảnh sành sứ...ở nửa cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Lược kể từ ngoài vào trong: Mái ngôi miếu có 3 cấp: giữa cao, hai bên thấp hơn. Trên nóc có gắn tượng sành hình lưỡng long tranh châu. Sân miếu khá rộng, gần 2.000 m², chiếm hơn phân nửa diện tích khuôn viên. Phần còn lại gồm tiền điện, sân thiên tỉnh, chính điện và văn phòng hội quán dọc hai bên các điện thờ. Từ hai cổng lớn vào đến cửa miếu có năm cặp kỳ lân lớn nhỏ bằng đá đặt đối xứng nhau. Đẹp hơn cả là cặp "lân hàm châu" (lân ngậm ngọc) chầu hai bên cửa. Phía trên, trước biển chữ "Nghĩa An hội quán" treo bức nghi môn làm năm 1903, chạm nổi cảnh "Lục Quốc phong tướng". Trên vách mặt tiền hai bên cửa miếu chạm chìm các chữ Hán và sáu bức chạm cành trúc khác nhau. Từ ngoài sân bước vào là tiền điện. Chính giữa tiền điện bày một hương án, trên đặt chiếc lư hương bằng đồng làm vào năm Đạo Quang thứ 5 (1825). Bên trái tiền điện là bệ cao thờ Phúc Đức chính thần (phần lớn người Hoa quan niệm vị thần này là ông Bổn hay là thần Thổ Địa). Bên phải là tượng Mã Đầu tướng quân (người giữ ngựa Xích Thố cho Quan Công) đứng bên ngựa Xích Thố (bằng gỗ sơn đỏ cao trên 2 m). Ngoài ra, ở đây còn có một quả chuông cao 39 cm, đường kính 46 cm, 2 bên đúc 2 đầu lân, đường nét tinh xảo, phía trước có hàng chữ "Quan Thánh đế quân". Sân Thiên tỉnh (giếng Trời) ở giữa chùa rộng rãi và khoáng đãng với những chậu cây cảnh. Dọc theo dãy hành lang hai bên sân đặt các bia đá ghi niên đại trùng tu chùa và tên tuổi những người đóng góp vào việc trùng tu đó. Trong chính điện được thiết kế trang nghiêm với những tượng thờ, những cột gỗ cao treo câu đối, cùng với những bao lam, hoành phi và khám thờ chạm trổ tinh tế. Ở giữa điện có gian thờ Quan Thánh đế quân (Quan Vũ) trang trí bao lam lưỡng long tranh châu. Tượng làm bằng thạch cao sơn màu, cao 3 m, mặc áo gấm xanh, ngồi trên ngai, đặt trong khám thờ chạm viền nhiều lớp tùng - hạc, mai - điểu, mẫu đơn - trĩ, Bát Tiên giao chiến với thủy quái... Hình tượng Quan Công thể hiện ở đây mang những chi tiết đã trở thành qui ước: mặt đỏ, râu năm chòm dài đến ngực, tư thế đưa tay vuốt râu, đầu đội mão gắn kim hoa, mặc giáp trụ bên trong và áo bào xanh lá cây bên ngoài (để chỉ ông là người văn võ song toàn). Đứng hầu hai bên trước bệ thờ là tượng Quan Bình và Châu Xương cao gần 2 m . Thờ tự. Vì Quan Đế là vị thần được thờ chính nên phần lớn trong hơn 50 hoành phi, câu đối chạm chữ Hán rất mỹ thuật đều có nội dung ca ngợi ông như: "Vạn cổ tinh huy" (Sao sáng muôn đời), "Thiên cổ nhất nhân" (Người xưa nay chỉ có một), "Nghĩa khí trung tâm nguy nguy đế đức tham thiên địa" (Khí nghĩa lòng trung, đức ngài cao sánh trời đất), v.v... Hai bên tả hữu có gian thờ Thiên Hậu nguyên quân (tức Thiên Hậu Thánh mẫu) và Tài Bạch tinh quân (Thần Tài). Tượng Bà Thiên Hậu bằng gỗ cao 60 cm, ngồi trên ghế chạm, theo hầu Bà có hai thị nữ và hai vị Thiên lý nhãn, Thuận phong nhĩ. Thần Tài được thể hiện bằng tượng gỗ, cao 60 cm, cũng ngồi trên ghế chạm đầu rồng, hai bên có Chiêu Tài đồng tử đứng hầu. Bày trí ở hai gian thờ này giống nhau với bao lam chạm hình chim phượng hoàng và khám thờ chạm nhiều cảnh vật, như: vinh qui bái tổ, đánh cờ, chèo thuyền, giăng lưới, mục đồng cưỡi trâu, mai-điểu, trúc-điểu... Sát hai bên góc tường đặt hai bộ chuông trống đối xứng nhau. Chuông bên trái bằng gang, đúc ở Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) vào năm Canh Tuất (1850?). Chuông còn lại làm bằng hợp kim, có chạm nổi hàng chữ "Gia Định tỉnh, Minh Hương xã, Tân Trường Châu, Nghĩa An hội quán..." (chuông do Tân Trường Châu dâng cúng, phỏng chừng được đúc ở giữa thế kỷ 19). Hàng năm lễ cúng Quan Đế được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 (âm lịch) và rằm tháng giêng (lớn nhất). Ngoài ra, còn các lễ cúng Bà Thiên Hậu, Phúc Đức chính thần, v.v...
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự T. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự U. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự V. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự W. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự X. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự Y. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Danh sách dưới đây liệt kê các đảo bắt đầu bằng ký tự Z. A - B - C - D - Đ - E - F - G - H - I - J - K - L - M - N - O - P - Q - R - S - T - U - V - W - X - Y - Z
1
null
Sierra Nevada (có nghĩa là "dãy núi tuyết" trong tiếng Tây Ban Nha) là một dãy núi ở vùng Andalusia, tỉnh Granada và Almeria ở Tây Ban Nha. Nó có chứa các điểm cao nhất của lục địa Tây Ban Nha, Mulhacen với độ cao 3.478 mét (11.411 ft) trên mực nước biển. Sierra Nevada ở California được đặt tên theo Sierra Nevada của Tây Ban Nha. Đây là điểm đến du lịch nổi tiếng, do đỉnh cao của nó làm cho trượt tuyết có thể trong một trong những khu nghỉ mát trượt tuyết phía nam nhất của châu Âu, trong một khu vực dọc theo biển Địa Trung Hải Chủ yếu được biết đến với nhiệt độ ấm áp và nhiều nắng. Ở chân của nó có thành phố Granada và, xa hơn một chút là Almeria và Malaga. Phần của dãy núi này đã được đưa vào vườn quốc gia Sierra Nevada. Phạm vi đã được công bố thì một dự trữ sinh quyển. Đài quan sát Sierra Nevada nằm trên sườn phía bắc ở độ cao 2.800 mét (9.200 ft).
1
null
Sa Đà (), còn gọi là Xử Nguyệt (處月), Chu Da (朱邪 hay 朱耶) vốn là một bộ lạc Tây Đột Quyết vào thời nhà Đường, sinh sống theo lối du mục ở khu vực đông nam bồn địa Chuẩn Cát Nhĩ thuộc Tân Cương (nay thuộc Ba Lý Khôn), tên gọi Sa Đà có nguồn gốc từ việc vùng đất này có các gò cát lớn. Tây Vực tranh hùng. Người Sa Đà có nguồn gốc từ người Xử Nguyệt. Năm Trinh Quán thứ 7 (633) thời Đường Thái Tông, thủ lĩnh bộ lạc Xử Nguyệt từng theo quý tộc Tây Đột Quyết A Sử Na Di Xạ đến Trường An. Sau đó, Xử Nguyệt bộ lệ thuộc Ất Bì Đốt Lục khả hãn. Năm 642, Ất Bì Đốt Lục khả hãn tiến công Y châu (伊州, nay là Cáp Mật, Tân Cương), cũng phái Xử Nguyệt bộ và Xử Mật bộ bao vây Thiên Sơn quân (trị sở ở tây bắc Thác Khắc Tốn, Tân Cương), song đều bị quân Đường đánh bại. Những năm Vĩnh Huy (653 hoặc 654) thời Đường Cao Tông, quân Đường tiêu diệt quân Tây Đột Quyết của A Sử Na Hạ Lỗ, Xử Nguyệt bộ cũng bị đánh bại. Năm 702, tại Đình châu (庭州, nay thuộc Cát Mộc Tát Nhĩ, Tân Cương), triều Đường thiết lập Bắc Đình đô hộ phủ, thủ lĩnh Sa Đà bộ Chu Da Kim Sơn do có công cùng quân Đường đánh bại người Thiết Lặc, được phong là "Kim Mãn châu đô đốc", thuộc quyền quản hạt của Bắc Đình đô hộ. Sau đó, con của Chu Da Kim Sơn là Chu Da Phụ Quốc do chịu áp lực từ Thổ Phồn nên đã đưa bộ lạc di cư về phía bắc đến Đình châu. Sau loạn An Sử, Hồi Hột chiếm giữ khu vực Tân Cương ngày nay, Thổ Phồn cũng tận dụng thời cơ chiếm cứ Hà Tây, Lũng Hữu (nay thuộc Cam Túc). Người Sa Đà bị Hồi Hột áp bức nên chuyển sang nương tựa vào Thổ Phồn, đến năm 789 thì liên quân công chiếm Đình châu. Để ngăn ngừa Sa Đà và Hồi Hột câu kết, Thổ Phồn đã buộc người Sa Đà di cư đến Cam châu (甘州, nay thuộc Trương Dịch, Cam Túc), phong con của Chu Da Phụ Quốc là Chu Da Tận Trung (cụ của Lý Khắc Dụng) là "thống quân đại luận", thường dẫn quân Thổ Phồn tiên phong. Dời đến Trung Nguyên. Khoảng năm 800, Hồi Hột công chiếm Lương châu, Thổ Phồn thấy vùng đất của người Sa Đà gần sát Lương châu nên lại muốn buộc họ phải di cư đến vùng cao nguyên phía tây Hoàng Hà. Năm 809, người Sa Đà không muốn di cư về phía tây nên Chu Da Tận Trung đã suất toàn thể bộ chúng chạy sang nương nhờ triều Đường. Thổ Phồn tiến hành truy sát, người Sa Đà vừa chiến vừa chạy, trong ba vạn người thì chỉ có gần hai nghìn người đến được Linh châu (靈州, nay thuộc Linh Vũ, Ninh Hạ), Chu Da Tận Trung cũng chiến tử, con là Chu Da Chấp Nghi kế vị. Linh Diêm tiết độ sứ Phạm Hi Triêu (范希朝) cho người Sa Đà an định tại Diêm châu (鹽州, nay là Diêm Trì, Ninh Hạ), Chu Da Chấp Nghi được phong chức Âm Sơn đô đốc phủ binh mã sử, chiêu nạp cựu bộ. Sau đó, Phạm Hi Triêu đến nhậm chức ở Thái Nguyên phủ, để đề phòng người Sa Đà làm phản, triều đình đã lệnh cho họ phải di cư đến Hoàng Hoa Đôi (黃花堆, nay thuộc Sơn Âm, Sơn Tây), sau lại phân binh lính của người Sa Đà lệ thuộc các bộ, trở thành một nguồn lính quan trọng của quân Đường. Đến thời Đường Ý Tông, con của Chu Da Chấp Nghi là Chu Da Xích Tâm do có công trấn áp cuộc nổi dậy của Bàng Huân nên được ban danh tính là Lý Quốc Xương. Nổi lên cuối thời Đường. Năm 876, con của Lý Quốc Xương là Lý Khắc Dụng chống lại triều Đường, công chiếm Đại Đồng. Năm 880, Lý Khắc Dụng bị quân Đường đánh bại, phụ tử phải suất bộ chúng chạy về phía bắc nương nhờ Thát Đát. Đến khi Hoàng Sào nhập Trường An, các phiên trấn của triều đình Đường không xuất viện quân ứng cứu, Đường Hi Tông phải nhờ Lý Khắc Dụng tiến binh đánh Hoàng Sào, đến năm 883 thì Hoàng Sào chết. Triều đình Đường phong Lý Khắc Dụng là Hà Đông (tức tỉnh Sơn Tây) tiết độ sứ. Sau khi Hoàng Sào chết, cựu tướng Chu Toàn Trung có thế lực ngày càng lớn mạnh, tranh chiến với Lý Khắc Dụng tại Hoa Bắc. Năm 907, Chu Toàn Trung kiến lập triều Hậu Lương, diệt nhà Đường, Trung Hoa vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Lý Khắc Dụng là một sứ quân không thần phục nhà Lương. Ba họ xưng đế. Năm 923, triều Hậu Lương bị con của Lý Khắc Dụng là Tấn Vương Lý Tồn Úc tiêu diệt, Lý Tồn Úc kiến lập triều Hậu Đường, đánh bại cha con Lưu Nhân Cung, chiếm cứ U châu (幽州, thuộc Bắc Kinh ngày nay). Sau khi lập nước, Lý Tồn Úc si mê hí kịch và săn bắn, phó thác chuyện quốc gia đại sự cho con hát và hoạn quan. Năm 926, con nuôi của Lý Khắc Dụng là đại thái bảo Lý Tự Nguyên khởi binh ở Ngụy châu (魏州, nay thuộc Hàm Đan, Hà Bắc), sau đó lên ngôi, trở thành Hậu Đường Minh Tông. Năm 933, Hậu Đường Minh Tông qua đời, Mẫn Đế ở ngôi được một năm thì bị con nuôi của Lý Tự Nguyên là Lý Tùng Kha soán vị. Lý Tùng Kha biếm chức một viên tướng người Sa Đà là Thạch Kính Đường. Thạch Kính Đường chạy đến chỗ Khiết Đan, tự xưng là "hoàng đế con" ("nhi hoàng đế"), mượn quân Khiết Đan diệt Hậu Đường. Năm 936, Thạch Kính Đường lập ra triều Hậu Tấn, gọi Liêu Thái Tông của triều Liêu là cha, cắt đất cống nạp. Sau khi Thạch Kính Đường qua đời, người kế vị là Thạch Trọng Quý phản Liêu, bị Liêu đánh bại và bắt giữ, Hậu Tấn diệt vong. Sau đó, nguyên đại tướng của Hậu Tấn, cũng là một người Sa Đà, tên là Lưu Tri Viễn tiến hành khởi binh ở Thái Nguyên, lập ra triều Hậu Hán vào năm 947. Nhưng chỉ cuối năm đó Tri Viễn bị bệnh qua đời, con là Lưu Thừa Hưu lên thay suy yếu, bị Quách Uy thay thế lập ra nhà Hậu Chu vào năm 950. Một thành viên hoàng tộc Hậu Hán là Lưu Sùng đã xưng đế tại Thái Nguyên, tuyên bố kế tục Hậu Hán, sử gọi là nước Bắc Hán. Bắc Hán được sự che chở của triều Liêu. Năm 979, Tống Thái Tông (triều đại kế tục Hậu Chu) xuất quân tiêu diệt Bắc Hán, toàn thể họ Lưu bị bắt giải đến kinh thành Khai Phong. Sau đó, tộc Sa Đà dung hợp với người Khiết Đan và người Hán, không còn là một dân tộc độc lập. Người Hắc Xa Tử Thất Vi sống du mục tại Âm Sơn Trường Thành và Uông Cổ bộ thời Nguyên là hậu duệ của người Sa Đà. Hậu duệ của những người Sa Đà theo Tấn Vương Lý Khắc Dụng đến Thát Đát sau dần dần dung hợp vào người Mông Cổ.
1
null
Grigory Mikhailovich Pozhenyan (tiếng Nga: Григо́рий Миха́йлович Поженя́н), 20 tháng 9 năm 1922 – 20 tháng 9 năm 2005 – Nhà văn, nhà thơ Nga – Xô Viết, người hai lần đoạt Giải thưởng Nhà nước Liên bang Nga. Tiểu sử. Grigory Pozhenyan sinh tại thành phố Kharkov (nay là Cộng hòa Ukraina). Bố là giám đốc một Viện nghiên cứu, người Armenia, mẹ là bác sĩ người Do Thái. Năm 1939 tốt nghiệp trung học phổ thông và gia nhập quân đội, phục vụ tại Hạm đội Hắc hải. Pozhenyan tham gia chiến đấu từ ngày đầu tiên của Chiến tranh Vệ quốc trong đội biệt kích chuyên phá hoại các cây cầu để cản đường tiến quân của Phát xít Đức. Tháng 8 năm 1941, một nhóm biệt kích dưới sự chỉ huy của Pozhenyan đã dũng cảm chiếm được trạm cấp nước của quân Đức để cung cấp nước cho thành phố Odessa. Hầu hết các thành viên của nhóm đã hy sinh, Pozhenyan bị thương nhưng sau đó người ta tưởng là ông đã hy sinh nên trong bảng tưởng niệm sau này đặt trên đường Pauster ở thành phố Odessa có ghi tên ông. Grigory Pozhenyan bắt đầu làm thơ từ những năm tháng chiến tranh. Năm 1946 ông vào học trường Viết văn Maxim Gorky và tốt nghiệp năm 1952. Năm 1955 in quyển thơ đầu tay với tên gọi “"Gió từ biển cả"”. Grigory Pozhenyan là tác giả lời của 50 bài hát. Rất nhiều bài trong số này đã trở thành những bài hát nổi tiếng như: “"Đôi bờ"” (Два берега), “"Bài ca về người bạn"” (Песня о друге) vv… Ông tham gia dựng 4 bộ phim: “"Khát"” (Жажда - 1959), "Không bao giờ cả"” (Никогда - 1962), “"Giã biệt"” (Прощай - 1966), “"Tàu đi về tháng Tám xa xôi"” (Поезд в далёкий август - 1971) và là đạo diễn của phim “"Giã biệt"”. Ngoài thơ và kịch bản phim, ông còn là tác giả của một số tác phẩm văn xuôi. Đối với bạn đọc Việt Nam thì từ lâu bài hát “"Đôi bờ"” đã chinh phục biết bao con tim đang yêu bởi giai điệu mượt mà, thiết tha mà say đắm. Mặc dù lời dịch có phần chưa thể hiện đúng tình cảm của cô gái trong một tình yêu có phần tuyệt vọng vì những cách trở nào đấy nhưng một khi người ta đã yêu thì khó có bản dịch nào khác có thể thay thế. Vì rằng, nói như Moses Saphir, thì bản dịch thơ (mà đặc biệt là dịch lời của bài hát) cũng giống như phụ nữ vậy, nếu đẹp thì không chung thủy, mà nếu chung thủy thì không đẹp. Grigory Pozhenyan mất tại Moskva ngày 20 tháng 9 năm 2005, trong ngày sinh nhật lần thứ 83 của mình.
1
null
Chu Tuấn (chữ Hán: 朱儁; ?-195) là tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông tham gia dẹp cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng cuối thế kỷ 2 và cuộc nội chiến đầu thời Tam Quốc. Thời trẻ. Chu Tuấn có tên tự là Công Vĩ, người Thượng Ngu, quận Cối Kê. Cha mẹ ông làm nghề bán vải. Cha ông mất sớm. Do ông hiếu thảo phụng dưỡng mẹ nên được nhiều người biết đến. Quan huyện bổ nhiệm ông làm người phụ tá thư sách trong huyện. Hiệp nghĩa cứu người. Chu Tuấn trọng nghĩa khinh tài, được mọi người trong thôn kính trọng. Có người bạn cùng quận là Chu Quy nợ tiền công quỹ của triều đình không trả được. Chu Tuấn bèn lấy trộm hàng tơ lụa của mẹ bán đi giúp Chu Quy trả nợ. Vì vậy mẹ ông bị mất sản nghiệp, giận mắng ông. Chu Tuấn trấn an mẹ rằng sẽ có ngày ông làm giàu được. Huyện lệnh Đỗ Thượng thấy chuyện này rất phục Chu Tuấn, bèn tiến cử ông với Thái thú Vi Nghị. Vi Nghị cho ông làm quan trong quận. Vị Thái thú kế nhiệm là Doãn Đoan bổ nhiệm Chu Tuấn làm chủ bạ. Doãn Đoan đi đánh dẹp quân nổi dậy Hứa Chiêu thất bại, bị quan trên dâng tấu về triều hạch tội, đáng bị xử chém. Chu Tuấn bí mật đến kinh thành Lạc Dương, dùng mấy trăm lạng vàng mua chuộc viên quan chủ trì việc tấu chương trong triều. Nhờ đó tấu chương của vị quan hạch tội bị sửa chữa, Doãn Đoan chỉ bị hạ chức làm Tả hiệu. Doãn Đoan mừng rỡ nhưng không hiểu vì sao mình được nhẹ tội, còn Chu Tuấn không nhắc đến chuyện cứu người khác. Chinh chiến ở Giao Chỉ. Thái thú kế nhiệm là Từ Khuê tiến cử Chu Tuấn làm Hiếu liêm. Sau đó ông được thăng làm huyện lệnh Lan Lăng. Vì Chu Tuấn có tài, năm 181, ông lại được tướng quốc Đông Hải tiến cử. Lúc đó tại bộ Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam và Lưỡng Quảng) có lực lượng nổi dậy do thủ lĩnh người Việt là Lương Long cầm đầu từ năm 178. Lương Long liên kết với người Ô Hử và Thái thú quận Nam Hải là Khổng Chi công phá nhiều huyện thuộc quận Giao Chỉ, Hợp Phố, được dân các quận lân cận là Cửu Chân, Nhật Nam hưởng ứng theo hàng vạn người. Lực lượng nhà Hán tại đây do Chu Ngung đứng đầu không chống nổi. Hán Linh Đế bèn bổ nhiệm Chu Tuấn làm Thứ sử bộ Giao Chỉ, sang đánh Lương Long. Chu Tuấn nhận lệnh, đi qua quê nhà tuyển chọn binh sĩ được 5000 người. Ông chia quân làm 2 đường tiến sang Giao Chỉ cứu Chu Ngung. Đến biên giới, ông chỉnh đốn quân sĩ, đóng trại bất động, rồi phái sứ giả đến xem xét động tĩnh, đồng thời dụ người bản địa. Sau đó Chu Tuấn tập hợp tướng sĩ 7 quận nội địa thuộc bộ Giao Chỉ cùng tiến đánh. Cuối cùng Chu Tuấn chém được Lương Long, bức hàng người Việt hàng vạn người. Từ khi Chu Tuấn giao chiến tới khi thắng được Lương Long chỉ có 1 tháng. Ông được Hán Linh Đế phong làm Đô Đình hầu, hưởng lộc 1500 hộ, được ban cho 50 cân vàng. Ông làm Thứ sử bộ Giao Chỉ từ năm 181 đến năm 183, sau đó được mời vào triều bổ nhiệm làm Gián nghị đại phu. Phá Khăn Vàng. Năm 184, ba anh em Trương Giác, Trương Bảo, Trương Lương cầm đầu cuộc nổi dậy Khăn Vàng ở quận Cự Lộc. Chu Tuấn được tiến cử cùng Hoàng Phủ Tung đi đánh dẹp. Chu Tuấn theo Hoàng Phủ Tung lần lượt đánh bại quân Khăn Vàng nhiều trận tại Dĩnh Xuyên, Nhữ Nam và nước Trần. Sau khi diệt được ba anh em Trương Giác, Hoàng Phủ Tung dâng biểu lên Hán Linh Đế kể công Chu Tuấn. Ông được phong làm Trấn tặc trung lang tướng. Lực lượng tàn dư của Khăn Vàng còn khá mạnh. Triệu Hoằng được tôn làm tướng, tập hợp được vài vạn quân. Chu Tuấn cùng Thứ sử Kinh châu là Từ Cù và Thái thú Nam Dương là Tần Hiệt hợp binh được 18.000 người cùng tấn công Triệu Hoằng. Ba tướng vây đánh từ tháng 6 đến tháng 8 năm 185 vẫn không thắng được. Có người tâu Chu Tuấn không được việc, nên gọi về kinh, nhưng Tư không Trương Ôn dâng sớ khuyên Hán Linh Đế nên tin tưởng Chu Tuấn. Linh Đế nghe theo, kiên nhẫn chờ tin Chu Tuấn. Quả nhiên không lâu sau ông phá được Uyển Thành, giết chết Triệu Hoằng. Quân Khăn Vàng lại tôn Hàn Trung làm tướng, tái chiếm Uyển Thành. Chu Tuấn ít quân hơn, không thể giao tranh đối diện, bèn cho mở vòng vây, cắm doanh trại và dựng núi đất đối diện với thành. Ông cho quân làm nghi binh giả cách muốn đánh mặt nam, quân Khăn Vàng dồn quân ra ứng chiến. Chu Tuấn tự mình lĩnh 5000 tinh binh tấn công phía đông bắc. Quân Hán hăng hái trèo lên mặt thành đánh vào trong. Hàn Trung vội bỏ chạy vào trong Tiểu thành cố thủ, sau đó liệu thế không chống được bèn sai người ra cầu xin đầu hàng. Các tướng định cho Hàn Trung đầu hàng. Chu Tuấn không nghe, cho rằng: Vì vậy Chu Tuấn thúc quân công phá nhưng liên tiếp mấy tháng không hạ được. Ông lên núi quan sát doanh lũy quân địch và bàn với Tư mã Trương Siêu rằng Hàn Trung bị dồn đường cùng nên liều chết kháng cự; vì vậy ông dự định cởi bỏ vòng vây cho Hàn Trung chạy ra rồi sẽ truy kích. Hàn Trung thấy vòng vây được mở, bèn mang quân ra ngoài. Chu Tuấn thừa cơ tấn công, đại phá quân Khăn Vàng, truy kích hơn 10 dặm, giết hơn 1 vạn người. Hàn Trung không chống cự được đành phải đầu hàng, bị Tần Hiệt giết chết. Những người còn lại của Khăn Vàng lại tập hợp tôn Tôn Hạ làm chủ, lại chiếm đóng Uyển Thành. Chu Tuấn tấn công lần thứ 3, hạ được thành. Tôn Hạ bỏ chạy, Chu Tuấn lại truy kích giết hơn 1 vạn người nữa. Quân Khăn Vàng tan vỡ chạy tứ tán. Đầu năm 186, Chu Tuấn được Hán Linh Đế bổ nhiệm làm Hữu xa kỵ tướng quân. Ông dẫn quân về kinh đô Lạc Dương, được phong làm Quang lộc đại phu, tăng ấp lên 5000 hộ, cải phong làm Tiền Đường hầu. Ít lâu sau mẹ ông mất. Chu Tuấn về nhà để tang rồi mới ra làm quan tiếp. Ông được bổ nhiệm làm Thiếu phủ (phụ trách tài chính), Thái bộc. Quân Khăn Vàng vẫn không chấm dứt hoạt động, nông dân tại các vùng bị bóc lột nặng nề vẫn nổi lên theo các tướng Khăn Vàng chống triều đình, tập hợp từng nhóm nhỏ thì 6-7000 người, nhiều thì 2-3 vạn người. Trong các lực lượng này, quân Trương Yên là mạnh nhất. Trương Yên chiếm cứ Hắc Sơn, có hàng chục vạn người đi theo, nhà Hán không thể chế ngự được. Mãi về sau Trương Yên quy phục triều đình, được phong làm Bình nam trung lang tướng, coi việc quân ở Hà Bắc. Trương Yên lại cất quân chống triều đình, tiến sát đến kinh thành. Triều đình bổ nhiệm Chu Tuấn làm Thái thú Hà Nội, mang quân đánh Trương Yên. Chu Tuấn xuất quân nhanh chóng đánh bại Trương Yên, được thăng làm Đồn kỵ, Hiệu úy cổng thành, Hà Nam doãn. Chống Đổng Trác. Năm 189, Hán Linh Đế qua đời, Hán Thiếu Đế lên thay. Đổng Trác mang quân từ Hà Đông vào triều, phế Thiếu Đế, lập Hán Hiến Đế. Đổng Trác tuy không ưa Chu Tuấn nhưng vì ông có tài và có công trận nên vẫn để ông giữ chức cũ. Năm 190, các chư hầu do Viên Thiệu cầm đầu đánh tới Lạc Dương. Đổng Trác muốn mang vua Hiến Đế chạy về Trường An, bèn mang việc ra bàn. Chu Tuấn kịch liệt phản đối nên hai người nảy sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên vì uy tín của ông rất lớn nên Đổng Trác vẫn sai sứ giả đi phong ông làm Thái bộc để giúp mình. Khi gặp sứ giả, Chu Tuấn kiên quyết không tiếp nhận chức vụ, chỉ nói về cái dở khi thiên đô. Sứ giả trở về báo lại cho Đổng Trác. Việc phong chức cho ông gác lại. Giữa lúc đó cánh quân chư hầu của Tôn Kiên áp sát Lạc Dương. Đổng Trác điều quân ra chống cự bị thất bại nên quyết ý thiên đô, đốt cháy kinh thành và mang vua Hiến Đế và dân Lạc Dương chạy về Trường An. Đổng Trác sai Chu Tuấn ở lại trấn thủ chặn hậu. Nhưng khi Đổng Trác vừa đi khỏi, Chu Tuấn bèn sai sứ đi liên lạc với các lực lượng chống Đổng Trác, tuyên bố chống lại Trác. Sợ bị Đổng Trác tập kích, Chu Tuấn mang quân về Kinh châu. Đổng Trác bèn bổ nhiệm Dương Ý người Hoằng Nông làm Hà Nam doãn trấn thủ Lạc Dương. Chu Tuấn bèn mang quân về tấn công Lạc Dương, Dương Ý bỏ chạy. Chu Tuấn thấy Lạc Dương bị tàn phá, bèn mang quân sang phía đông đóng ở huyện Trung Mâu, đồng thời truyền tin đến các châu quận phát động đánh Đổng Trác. Thứ sử Từ châu là Đào Khiêm phái 3000 quân, các châu quận khác cũng phái vài trăm quân tới giúp ông. Đào Khiêm dâng biểu lên Hán Hiến Đế đề nghị phong Chu Tuấn làm Xa kỵ tướng quân. Đổng Trác được tin bèn sai bộ tướng là Lý Thôi, Quách Dĩ mang vài vạn quân ra đóng ở Hà Nội đánh Chu Tuấn. Chu Tuấn ra quân nhưng bị Lý Thôi đánh bại. Tuy nhiên Lý Thôi biết quân Chu Tuấn đông và mạnh hơn nên không dừng lại không truy kích. Về Trường An. Năm 192, Đổng Trác bị Tư đồ Vương Doãn và tướng Lã Bố giết chết. Bộ tướng của Đổng Trác là Lý Thôi, Quách Dĩ mang quân báo thù, đánh vào Trường An giết Vương Doãn, đuổi Lã Bố, trở thành quyền thần mới nắm vua Hiến Đế. Đào Khiêm mến mộ tài năng của Chu Tuấn, bèn liên kết với các chư hầu như Thứ sử Dương châu là Chu Càn, Tướng quốc Bắc Hải là Khổng Dung, Thái thú quận Thái Sơn là Ứng Thiệu cùng và Bác sĩ Trịnh Huyền gửi thư cho Chu Tuấn, tôn ông làm Thái sư, hứa cấp phát binh mã và quân lương trong nửa năm để Chu Tuấn đi đánh Lý Thôi và Quách Dĩ. Lý Thôi bèn theo kế của mưu sĩ Giả Hủ, dùng danh nghĩa Hiến Đế sai người đi gặp Chu Tuấn mời ông vào triều. Tướng sĩ dưới quyền kêu gọi ông nên theo Đào Khiêm đánh Lý Thôi. Sau khi cân nhắc, Chu Tuấn quyết định không cầm quân chống Lý Thôi nữa mà vào Trường An, cho rằng Lý Thôi và Quách Dĩ tài năng tầm thường sẽ trở giáo đánh nhau, tới lúc đó ông có thể lợi dụng tình hình để giúp nhà Hán. Vì vậy ông từ tạ Đào Khiêm vào Trường An nhận chức Thái bộc. Đào Khiêm đành phải hủy bỏ ý định đánh Lý Thôi cứu thiên tử. Năm 193, Chu Tuấn được Lý Thôi mời làm Thái úy thay Chu Trung và kiêm việc Thượng thư. Hán Hiến Đế bị Lý Thôi và Quách Dĩ khống chế, phải dựa vào các lão thần như Chu Tuấn, Triệu Khiêm, Dương Bưu, Hoàng Phủ Tung, Mã Nhật Đê, Triệu Trung để kiềm chế một phần uy thế của Lý và Quách. Năm 194, do có nhật thực bị xem là điềm tai ương, ông bị cách chức. Năm 195, Lý Thôi giết chết Phàn Trù. Để lợi dụng ông, Lý Thôi phong ông làm Phiêu kỵ tướng quân, mang quân ra khỏi Hàm Cốc dẹp các chư hầu chống đối. Nhưng khi Chu Tuấn chưa kịp lên đường thì Lý Thôi và Quách Dĩ cùng muốn một mình làm chủ triều đình nên trở mặt đánh nhau. Ông ở lại Trường An, bị giáng làm Đại tư nông. Hán Hiến Đế và Phục hoàng hậu bị Lý Thôi kéo từ trong cung mang vào doanh trại giam lỏng. Hiến Đế sai Chu Tuấn, Dương Bưu cùng Trương Hỷ tất cả hơn 10 người sang doanh trại Quách Dĩ đề nghị hai bên nên giảng hòa không nên đổ máu. Nhưng khi ông và các đại thần đến nơi thì Quách Dĩ cho rằng họ có ý thiên vị Lý Thôi, bèn bắt giữ làm con tin để đối kháng với Lý Thôi. Chu Tuấn là người nóng nảy không chịu nhục. Do bị bắt giữ, ông uất ức sinh bệnh mà qua đời trong trại Quách Dĩ, không rõ năm đó bao nhiêu tuổi. Trong Tam quốc diễn nghĩa. Chu Tuấn được La Quán Trung đề cập trong tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa từ hồi 1 tới hồi 13. Vai trò của Chu Tuấn trong việc dẹp khởi nghĩa Khăn Vàng khá nổi bật trong hồi 1. Sau đó ông ít được nhắc tới và chỉ xuất hiện trở lại trong loạn Lý Thôi – Quách Dĩ ở hồi 13.
1
null
Tiêu Xước (萧綽, 953–1009), hay Tiêu Yến Yến (萧燕燕), là một hoàng hậu, hoàng thái hậu và chính trị gia triều Liêu. Bà là hoàng hậu của Liêu Cảnh Tông, và sau khi Cảnh Tông qua đời năm 982, bà trở thành hoàng thái hậu và người nhiếp chính cho nhi tử là Liêu Thánh Tông cho đến năm 1009. Thân thế. Tổ tiên của bà nguyên mang họ Bạt Lý, sau được Liêu Thái Tổ Gia Luật A Bảo Cơ ban cho họ Tiêu. Cha của bà là Tiêu Tư Ôn (蕭思溫)- Bắc phủ tể tướng và phò mã của triều Liêu, mẹ của bà là Yên quốc đại trưởng công chúa Gia Luật Lã Bất Cổ, cũng là hoàng tỉ của Liêu Mục Tông. Tiêu Xước có hai tỉ tỉ, ba tỉ muội cách biệt lớn về năm sinh theo ghi chép. Nhị tỉ Y Lặc Lan (萧伊勒蘭) được gả cho Tống vương Gia Luật Hỉ Ẩn (耶律喜隱), từng được phong là Tống vương phi, song sau khi Tống vương tiến hành chính biến thì bị phế làm phu nhân. Trưởng tỉ Tiêu Hòa Hãn (萧和罕) được gả cho chú của bà là Tề vương Gia Luật Yểm Triệt Cát (耶律罨撤葛), trở thành Tề vương phi. Làm hoàng hậu. Từ nhỏ, Tiêu Xước đã có tính thông minh tài trí, mĩ lệ, và thành thục từ rất sớm. Có một lần, Tiêu Tư Ôn trông thấy ba nữ nhi của mình quét dọn, Tiêu Xước (con gái út) là người quét sạch nhất, cao hứng nói: "Con bé này sau đã có thành gia được rồi". Sau khi Liêu Cảnh Tông kế vị năm 969, do Tiêu Tư Ôn có công giúp đỡ, Tiêu Xước được tuyển làm 'quý phi'. Năm Bảo Ninh thứ 1 (969), Tiêu Xước được Liêu Cảnh Tông sách phong làm hoàng hậu. Trưởng tỉ của Tiêu Xước là Tiêu Hòa Hãn đã kết hôn với Gia Luật Yểm Triệt Cát. Liêu Cảnh Tông vừa lên ngôi thì phong cho Gia Luật Yểm Triệt Cát làm "Tề vương" và Tiêu Hòa Hãn làm "Tề vương phi". Nhị tỉ Y Lặc Lan của Tiêu Xước có chồng là Gia Luật Hi Ẩn đang bị giam cầm 9 năm qua vì tội mưu phản. Khi em rể của Y Lặc Lan là Liêu Cảnh Tông lên ngôi, Gia Luật Hi Ẩn lập tức được thả ra. Vào năm 969 hoặc năm sau đó, Tiêu hoàng hậu sinh hạ trưởng nữ cho Liêu Cảnh Tông, đặt tên là Quan Âm Nữ. Năm Bảo Ninh thứ 4 (972), Tiêu hoàng hậu sinh hạ trưởng tử cho Liêu Cảnh Tông, đặt tên là Long Tự, sau này trở thành Liêu Thánh Tông. Cùng năm 972, Tề vương Gia Luật Yểm Triệt Cát qua đời và Tề vương phi Tiêu Hòa Hãn (trưởng tỉ của Tiêu Xước) trở thành "Tề vương thái phi". Sau khi chồng qua đời, Tiêu Hòa Hãn đã đảm nhận vị trí người đứng đầu quân đội của Gia Luật Yểm Triệt Cát. Tiêu hoàng hậu còn sinh hạ được hai hoàng tử: Long Khánh và Long Hựu cùng hai công chúa: Trường Thọ Nữ và Diên Thọ Nữ. Theo "Tục tư trị thông giám trường biên" (續資治通鑑長編), hoàng tử chết yểu là Gia Luật Trịnh Ca có khả năng là hoàng tử thứ 4 mà Tiêu hoàng hậu hạ sinh. Gia Luật Hi Ẩn sau khi được Liêu Cảnh Tông thả ra khỏi ngục được vài năm thì lại lên kế hoạch cho một cuộc nổi dậy khác chống lại Liêu Cảnh Tông. Gia Luật Hi Ẩn lại bị bắt, con trai ông ta và Tiêu phu nhân Y Lặc Lan (Nhị tỉ của Tiêu Xước) bị quân Liêu sát hại. Liêu Cảnh Tông thể nhược đa bệnh, có những lúc không thể thượng triều, việc quốc gia đại sự nhiều phần nhiều do Tiêu hoàng hậu thay mặt giải quyết. Năm Bảo Ninh thứ 8 (975), Liêu Cảnh Tông nói với sử quán học sĩ: "Trong thư tịch hãy ghi hoàng hậu xưng "trẫm" hoặc "dư"". Rất nhiều chính tích của Liêu Cảnh Tông đều có công lao của Tiêu hoàng hậu. Trong năm 975 Liêu Cảnh Tông phát động một cuộc xâm lược lớn vào hậu duệ của vương quốc Bột Hải là Định An Quốc (đời vua Liệt Vạn Hoa). Tuy nhiên quân Khiết Đan của Cảnh Tông đã bị quân Định An Quốc của Liệt Vạn Hoa đánh bại. Quân Khiết Đan của Cảnh Tông phải lui quân. Sau cuộc chiến này, một số tướng lĩnh người Bột Hải của nhà Liêu đã nổi dậy đánh chiếm thành Phù Châu (nay là Khai Nguyên, Liêu Ninh, Trung Quốc) của nhà Liêu, lập ra vương quốc Yên Pha (頗頗 Yeonpa), tuyên bố chống lại nhà Liêu của vua Liêu Cảnh Tông. Kinh đô của vương quốc Yên Pha đặt tại Phù Châu. Gia tộc họ Liệt cai trị Định An Quốc bị thay thế bởi gia tộc họ Ô vào năm 976 sau một cuộc binh biến lớn trên khắp vương quốc. Vua Liệt Vạn Hoa (cũng có thể là con trai của Liệt Vạn Hoa) bị giết chết. Nhiều vương tộc họ Liệt cũng bị giết. Vương quốc Định An nằm dưới quyền của Ô Huyền Minh (오현명, 烏玄明, Oh Hyeon-myeong). Ô Huyền Minh tự lập làm vua của Định An Quốc và bổ nhiệm dòng tộc họ Ô của mình vào các chức vụ quan trọng của Định An Quốc. Thành Tây Kinh (nay là Lâm Giang, Cát Lâm, Trung Quốc) tiếp tục được vua Ô Huyền Minh chọn làm kinh đô của vương quốc. Hàn Đức Nhượng hầu hạ Liêu Cảnh Tông, nhờ cẩn thận mà nổi tiếng, được Liêu Cảnh Tông phong làm Đông đầu thừa phụng quan, bổ chức Khu mật viện thông sự. Rồi sau đó Hàn Đức Nhượng được chuyển sang làm Thượng kinh hoàng thành sứ, diêu thụ Chương Đức quân tiết độ sứ, nhận chức cũ của cha là Thượng kinh lưu thủ, quyền Tri kinh sự. Uy tín của Hàn Đức Nhượng rất được khen ngợi. Cuộc xung đột đầu tiên của Liêu Cảnh Tông với triều đại Bắc Tống là cuộc xâm lược của nhà Tống với triều đại Bắc Hán. Đầu năm 979, vua Tống Thái Tông quyết định xuất quân, lệnh Phan Mĩ làm thống soái, cùng Thôi Tiến, Lý Hán Quỳnh, Tào Hàn, Mễ Tín, Lưu Ngộ, Điền Trọng Tiến... đánh Thái Nguyên; Quách Tiến đóng quân ở Thạch Lĩnh ngăn chặn viện binh nhà Liêu. Liêu Cảnh Tông sai sứ đến Tống, ngăn cản việc bắc phạt, Tống Thái Tông không theo. Biết thế nào người Liêu cũng sẽ ra quân, Tống Thái Tông quyết định thân chinh ra Hà Bắc, để Thẩm Luân, Vương Nhâm Thiện ở lại trấn thủ Biện Kinh. Quân Tống tiến đến Thái Nguyên. Liêu Cảnh Tông được tin, cử Gia Luật Sa và Gia Luật Địch Lý đến cứu viện Bắc Hán. Hai quân giao chiến một trận lớn ở Bạch Ma Lĩnh, quân Liêu thảm bại trước Quách Tiến, Gia Luật Địch Lý tử trận, Gia Luật Sa phải tháo chạy. Lúc này Tống Thái Tông đang ở Trấn châu, được tin thắng trận, mệnh Phan Mĩ đưa đại quân tới công thành Thái Nguyên. Tiết độ sứ Kiến Hùng của Bắc Hán là Lưu Kế Nghiệp quyết tâm tử thủ. Bấy giờ có Quách Siêu ra hàng, nhưng quân Tống cho là gian trá, liền giết Phạm Siêu. Về sau Tống Thái Tông mới hối hận, cho hậu táng chu đáo. Các tướng trong thành biết tin đưa nhau ra hàng, thành Thái Nguyên thế cùng lực kiệt, không còn giữ được bao lâu. Vua Bắc Hán Lưu Kế Nguyên trước tình thế đó, đành phải ra đầu hàng, được phong tước quận công. Từ thời điểm đó, Trung Quốc được thống nhất làm một dưới triều Bắc Tống. Khi đó Hàn Đức Nhượng phục vụ nhà Liêu như một tướng lĩnh quân đội cùng năm 979. Ông ta dần dần được thăng chức. Hàn Đức Nhượng ở lại Nam Kinh và trở thành Thượng thư có ảnh hưởng và quyền lực nhất không lâu sau khi được thăng chức. Mùa hạ năm 979, sau khi diệt Bắc Hán, vua Tống Thái Tông muốn thừa cơ đánh Liêu, khôi phục 16 châu Yên Vân nên đã xuất quân từ Thái Nguyên, tiến vào Yến, Vân; nhanh chóng lấy được hai châu Trác, Dịch. Quân Tống thừa thắng đánh sang U châu. Tướng Liêu Gia Luật Hi Đạt và Tiêu Thảo Cố dẫn quân ra chống, song không thành công, thua trận bỏ chạy. Thành Nam Kinh bị quân Tống bao vây, người Tống vừa đánh vừa gọi hàng, tình thế khẩn trương, lòng người hoang mang, tướng Liêu là Hàn Đức Nhượng lên thành đốc thúc quân sĩ chống đỡ, đêm ngày phòng bị khiến quân Tống không phá nổi thành. Tống Thái Tông mệnh bọn Tống Ốc đánh mạnh vào thành Yến Kinh; lại chia quân đánh các châu Kế, Thuận. Tướng Liêu là Gia Luật Học Cổ Đa Phương ra sức giữ thành, quân Tống công phá đã lâu vẫn không chiếm được. Gia Luật Sa đem quân tới cứu U châu. Tháng 8, hai bên giao chiến tại Cao Lương hà. Ban đầu quân Tống chiếm ưu thế, liền thừa cơ truy đuổi; bỗng rơi vào ổ mai phục của quân Liêu, do hai tướng Gia Luật Hưu Ca, Gia Luật Tà Chẩn chỉ huy. Quân Tống đại bại, quân Liêu thừa thắng kéo vào giải vây U châu. Tống Thái Tông kinh hoàng thất sắc; may nhờ có Hô Duyên Tán, Phụ Siêu đưa quân đến cứu mới có thể an toàn mà rút về Trác châu. Hàn Đức Nhượng cũng dẫn quân Liêu xông ra khỏi Nam Kinh đón đán quân Tống và đại phá quân Tống. Nhờ công lao đó, Hàn Đức Nhượng được bái làm Liêu Hưng quân tiết độ sứ, gọi về làm Nam Viện xu mật sứ. Gia Luật Hưu Ca cho quân đuổi tới, quân Tống bị đánh tan tác, bỏ chạy về hướng nam. Giữa đường, ngựa của Tống Thái Tông rơi vào vũng lầy không kéo lên được, tình thế vô cùng nguy cấp, nhưng lúc đó có Dương Nghiệp (tức Lưu Kế Nghiệp, đã hàng Tống) đến cứu giá kịp lúc. Dương Nghiệp tình nguyện ở lại chặn đường quân Liêu, thắng được một trận, đẩy lui truy binh Liêu. Tống Thái Tông về Định châu, lệnh Mạnh Huyền Triết giữ nơi này, Thôi Ngạn Triết giữ Quan Nam, Lưu Đình Hàn và Lý Hán Quỳnh giữ Chân Định rồi xa giá về Biện Kinh. Cuối tháng 9 năm 979, Cảnh Tông nhân vừa mới thắng trận thì lệnh Hàn Khuông Tự (cha của Hàn Đức Nhượng) làm Đô thống, Gia Luật Sa, Gia Luật Hưu Ca dẫn 50.000 quân tiến đánh Trấn châu của nhà Tống. Lưu Đình Hàn, Thôi Ngạn Tiến bàn nhau dùng kế trá hàng, dụ quân Liêu vào rồi đặt mai phục. Gia Luật Hưu Ca có đề phòng từ trước, nhưng quân Liêu vẫn thiệt hại hơn 10.000 người. Đầu năm 980, Liêu Cảnh Tông lại cử Gia Luật Sa, Gia Luật Tà Chẩn dẫn 100.000 quân tiến thẳng tới Nhạn Môn quan của nhà Tống, uy hiếp Đại châu. Vua Tống Thái Tông cử Dương Nghiệp làm tướng giữ Đại châu. Quân Tống ra giao chiến, giết được phò mã nước Liêu là Tiêu Đốt Lý, quân Liêu phải tháo chạy. Dương Nghiệp cho quân chiếm lại Nhạn Môn quan, từ đó người Liêu đều sợ danh tiếng của ông ta. Liêu Cảnh Tông được tin liên tiếp thua trận, tức giận vô cùng. Ngày 30 tháng 11 năm 980 (2 tháng 10 ÂL), Cảnh Tông đích thân dẫn đại quân tiến xuống phía nam, trước hết là đánh Ngõa Kiều quan. Quân Tống chủ quan, khinh địch, nên bị quân Liêu của Gia Luật Hưu Ca đánh bại, phải lui về Mạc châu. Gia Luật Hưu Ca cho quân đuổi tới Mạc châu, bắt và giết nhiều quân, tướng Tống. Tin bại trận bay về Biện Kinh. Vua Tống Thái Tông hạ lệnh thân chinh, đưa quân đến phủ Đại Danh, Liêu Cảnh Tông nghe tin thì cho lui quân, đó là vào ngày 20 tháng 12 (11 tháng 11 ÂL). Năm 981, vua Ô Huyền Minh phái quân Định An Quốc tấn công vương quốc Yên Pha. Quân Yên Pha liên tục bại trận. Quân Định An Quốc bao vây kinh thành Phù Châu (nay là Khai Nguyên, Liêu Ninh, Trung Quốc) của vương quốc Yên Pha. Vua của vương quốc Yên Pha tuyên bố đầu hàng quân Định An Quốc. Vua Ô Huyền Minh sáp nhập lãnh thổ của vương quốc Yên Pha vào lãnh thổ Định An Quốc của mình. Việc này đe dọa đến nhà Liêu của vua Liêu Cảnh Tông. Một số quý tộc và dân chúng Bột Hải của vương quốc Yên Pha đã di tản sang vương quốc Hậu Bột Hải ở kinh thành Hốt Hãn (nay là Ninh An, Hắc Long Giang, Trung Quốc). Cùng năm 981, vua Ô Huyền Minh của Định An Quốc đã cử một sứ giả đến nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông) và đưa ra chiến dịch gọng kìm chống lại nhà Liêu (đời vua Liêu Cảnh Tông). Nhiếp chính quốc. Năm Can Hanh thứ 4 (982), Liêu Cảnh Tông băng hà trên đường trở về sau một chuyến đi săn, Liêu Thánh Tông kế vị, tôn Tiêu Xước làm hoàng thái hậu, trở thành người nhiếp chính. Khi đó, Tiêu Xước 30 tuổi, còn Thánh Tông 12 tuổi. Bà phong cho Hàn Đức Nhượng làm Tổng túc vệ sự. Ông ta càng được bà sủng nhiệm. Từ năm Bảo Ninh thứ 2 (970), Tiêu Tư Ôn bị hại, không có nhi tử kế tự, vì thế không còn ngoại thích có thể dựa dẫm Tiêu Xước. Nhưng chư vương tông thất hơn 200 người nắm giữ quyền binh, khống chế triều đình, tạo thành mối đe dọa lớn với Tiêu thái hậu và Thánh Tông. Bà than khóc và nói: "Mẹ góa con yếu, người trong tộc thì hùng cường, biên phòng chưa yên, phải làm sao đây?", Gia Luật Tà Chẩn, Hàn Đức Nhượng hồi đáp: "Chỉ cần tín nhiệm chúng thần, chẳng có gì phải lo lắng", vì thế Tiêu hoàng hậu cho hai người tham quyết đại chính, ủy thác vấn đề quân sự ở mặt nam cho Gia Luật Hưu Ca. Sau đó, Tiêu hoàng hậu lại cho Hàn Đức Nhượng tổng quản túc vệ sự, gánh vác an nguy của mẫu tử Thánh Tông. Hàn Đức Nhượng rất được Tiêu thái hậu sủng tín, đã tiến hành thay thế một số đại thần, và hạ lệnh cho chư vương không được mời tiệc lẫn nhau, yêu cầu họ không có việc gì thì không được ra khỏi cửa, cố gắng giải trừ binh quyền của họ. Vì thế, địa vị của Thánh Tông và Tiêu hoàng hậu được ổn định. Tiêu thái hậu đổi tên nước trở lại là Đại Khiết Đan như cũ (tuy nhiên trên phương diện ngoại giao thì vẫn dùng tên nước là Đại Liêu), tiến hành một loạt cải cách, phát triển đất nước. Năm Thống Hòa thứ 1 (983), Liêu Thánh Tông suất quần thần phong tôn hiệu cho Tiêu Xước là "Thừa Thiên hoàng thái hậu". Hàn Đức Nhượng được Tiêu thái hậu gia phong thành Khai phủ nghi đồng tam tư, kiêm Chính sự lệnh. Thời thơ ấu, Tiêu Xước từng được hứa gả cho Hàn Đức Nhượng, tuy nhiên hôn ước đã không được thực hiện. Sau khi Cảnh Tông qua đời, Tiêu Xước nhận thấy Hàn Đức Nhượng rất có tài năng chính trị, quyết định cải giá Hàn Đức Nhượng. Tuy nhiên theo phong tục Khiết Đan đương thời thì không được phép làm như vậy, bà nói với Hàn Đức Nhượng: "Ta từng được hứa gả cho ngươi, nay nguyện làm theo hôn ước cũ, nay ấu chúa đương cai trị, hãy xem như là con của ngươi". Sau đó, Tiêu hoàng hậu phái người bí mật hạ độc sát hại thê tử Lý thị của Hàn Đức Nhượng. Để tránh bàn tán về việc xuất nhập cung, Hàn Đức Nhượng giả vờ đi săn bắn để bàn chính sự, ông cùng thái hậu bày đồ ăn lên bàn, ngồi cạnh nhau, đến đêm ngủ chung một trướng. Tiêu thái hậu trị quốc tốt đẹp, nếu là kiến nghị hợp lý thì tất sẽ được chuẩn thuận, thưởng phạt phân minh. Để lung lạc quần thần, Tiêu thái hậu đã gia quan tiến tước cho rất nhiều đại thần, hoặc là vẽ hình Càn lăng của Cảnh Tông, khiến quần thần tận trung và dốc hết sức lực. Để thủ đắc nhân tâm, bà cũng phải rất nhiều lần tiến hành bình phản. Chẳng hạn như vào tháng 12 năm Thống Hoà thứ 1 (983), bà hạ lệnh rằng người bị kết án nếu thấy oan uổng có thể đến thẳng ngự sử đài thượng tố. Tháng 4 năm Thống Hòa thứ 2 (984), từ mùng một đến cuối tháng, cùng với tháng 6 năm sau (985), Tiêu thái hậu đã tự mình thẩm quyết các vụ án tồn đọng. Trước đó, triều Liêu quy định rằng nếu người Khiết Đan và người Hán phát sinh tranh chấp thì người Hán bị trách phạt nặng hơn, Tiêu thái hậu đã đổi thành người Khiết Đan và người Hán nếu cùng tội thì phải chịu hình phạt như nhau, điều chỉnh quan hệ giữa hai tộc. Được biết đến với những kỹ năng tuyệt vời trong quản lý dân sự, Tiêu thái hậu sẽ giữ được ảnh hưởng lớn cho đến khi bà qua đời. Cùng năm 985, Hàn Đức Nhượng trở thành chính trị gia kiêm Thừa tướng nhà Liêu. Từ đó Hàn Đức Nhượng đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và ổn định tình hình chính trị trong những năm đầu của vua Liêu Thánh Tông. Chinh phục Định An Quốc. Khi đó hậu duệ của vương quốc Bột Hải (quốc gia kình địch của của nhà Liêu) là Định An Quốc (đời vua Ô Huyền Minh) vẫn đang tồn tại trong lãnh thổ cũ của vương quốc Bột Hải. Điều đó khiến cho nhà Liêu e ngại về việc người Bột Hải của quốc gia này sẽ gây họa phía sau cho họ. Năm 985 Tiêu thái hậu phái quân Khiết Đan chinh phục Định An Quốc (đời vua Ô Huyền Minh). Tuy nhiên quân Khiết Đan đã bị quân Định An Quốc đánh bại. Không thể trừ khử mối đe dọa, nhà Liêu quyết định dựng nên ba pháo đài với quân đồn trú ở khu vực thung lũng sông Áp Lục. Biết được sức mạnh quân sự của nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông) yếu hơn so với nhà Liêu (đời vua Liêu Thánh Tông) và thường thua trận trước họ, cùng năm 985, vua Ô Huyền Minh của Định An Quốc cử sứ giả đến Cao Ly (đời vua Cao Ly Thành Tông) và cầu cứu. Nhưng vua Cao Ly Thành Tông đã từ chối lời đề nghị đó và đã dùng vũ lực đuổi sứ giả Định An Quốc ra ngoài hoàng cung. Tháng 12 năm 985 Tiêu thái hậu lại phái quân Khiết Đan chinh phục Định An Quốc (đời vua Ô Huyền Minh). Thành Phù Châu (nay là Khai Nguyên, Liêu Ninh, Trung Quốc), thành Hà Châu (nay là Hoa Điện, Cát Lâm, Trung Quốc) và thành Nô Châu (nay là Thông Hóa, Cát Lâm, Trung Quốc) của Định An Quốc nhanh chóng bị quân Khiết Đan đánh hạ. Nhân dân Bột Hải trong lãnh thổ Định An Quốc đều không thần phục vua Ô Huyền Minh (do Ô Huyền Minh từng làm binh biến lớn cướp ngôi vua của vua Liệt Vạn Hoa vào 10 năm trước) nên họ đã quy hàng và dẫn dắt quân Khiết Đan công hạ kinh đô Tây Kinh (nay là Lâm Giang, Cát Lâm, Trung Quốc) của Định An Quốc. Kinh đô Tây Kinh thất thủ vào tháng 1 năm 986. Nhân dân Bột Hải dẫn quân Khiết Đan đi bắt vua Ô Huyền Minh. Định An Quốc bị sụp đổ và bị sáp nhập vào lãnh thổ nhà Liêu (đời vua Liêu Thánh Tông). Xung đột phía đông và phía tây. Năm 990, Liêu Thánh Tông đem một cô gái họ Tiêu (gọi là Tiêu thị) thuộc vương tộc Bột Hải (cháu gái của hoàng gia Bột Hải) gả cho em trai mình là Gia Luật Long Khánh (耶律隆庆). Sang năm 991, Tiêu thị đó đã hạ sinh Gia Luật Tông Giáo (991 - 1053). Gia Luật Tông Giáo trở thành một tướng Liêu mang hai dòng máu hoàng gia Bột Hải và hoàng gia Khiết Đan. Sau khi chồng là Gia Luật Yểm Triệt Cát qua đời, Tề vương thái phi Tiêu Hòa Hãn (trưởng tỉ của Tiêu Xước) kết hôn với Han Yu, tuy nhiên, Han Yu qua đời vào năm 987. Năm 994 Tề vương thái phi Tiêu Hòa Hãn trở thành tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh của nhà Liêu chống lại các bộ lạc biên giới ở phía tây và lãnh đạo quân đội của mình trong chiến dịch chống lại người Đảng Hạng, nơi bà ta được ghi nhận là người thành lập của thành phố phía tây bắc Kodun. Vương quốc Hậu Bột Hải của vương tộc họ Đại tại thành Hốt Hãn (nay là Ninh An, Hắc Long Giang, Trung Quốc) thuộc Long Tuyền phủ vẫn duy trì tồn tại cho đến tận năm 994 thì bị một thuộc tướng có nguồn gốc từ vương quốc Yên Pha tên là Ô Chiêu Đạc (烏昭度, Oh So-do) lật đổ, đổi quốc hiệu sang Ô Nha (올야, 兀惹, Olya). Kinh thành Hốt Hãn trở thành kinh thành Ô Xá của vương quốc Ô Nha. Sang năm 996, vương quốc Ô Nha (đời vua Ô Chiêu Đạc) trở thành quốc gia chư hầu của nhà Liêu (đời vua Liêu Thánh Tông). Sau đó vua Ô Chiêu Đạc mất, con là Ô Chiêu Khánh (烏昭慶, Oh So-gyeong) lên kế vị ngôi vua. Từ năm 1004 đến năm 1022 người Nữ Chân và người Thiết Lợi Mạt Hạt đã bắt bớ những người dân Bột Hải của vương quốc Ô Nha và cống nạp hết mình cho nhà Liêu (đời vua Liêu Thánh Tông), khiến cho vương quốc Ô Nha bị suy yếu nhanh chóng do thiếu con người làm việc, thiếu nhân lực lao động. Cùng năm 1022 vua Ô Chiêu Khánh mất, dòng họ Ô tiếp tục cai trị vương quốc Ô Nha cho đến năm 1114 thì bị bộ tộc Nữ Chân (đời thủ lĩnh Hoàn Nhan A Cốt Đả) tiêu diệt và bị sáp nhập vào bộ tộc Nữ Chân. Chiến tranh với Cao Ly. Việc nhà Liêu tiêu diệt Định An Quốc (đời vua Ô Huyền Minh) và sáp nhập Định An Quốc vào lãnh thổ nhà Liêu khiến Cao Ly (đời vua Cao Ly Thành Tông) lo lắng. Các hành động quân sự này của nhà Liêu diễn ra rất gần với lãnh thổ Cao Ly, cộng thêm nhà Liêu từng dự tính xâm lược vào Cao Ly năm 947 (song hủy bỏ), cùng quan hệ ngoại giao và văn hóa bền chặt giữa Cao Ly và nhà Tống, quan hệ nhà Liêu-Cao Ly do vậy cực kỳ kém. Cả nhà Liêu và Cao Ly đều nhìn nhận đối phương như một mối đe dọa quân sự; nhà Liêu sợ rằng Cao Ly sẽ cố gắng kích động các cuộc nổi loạn trong số cư dân Bột Hải sống tại lãnh thổ Liêu, trong khi Cao Ly lo sợ bị nhà Liêu xâm lược. Năm 991 Tiêu thái hậu phái quân Khiết Đan tấn công người Nữ Chân ở hạ lưu sông Áp Lục. Khi đó nhà Liêu đã bắt đầu các cuộc tấn công chống lại Cao Ly (đời vua Cao Ly Thành Tông). Vào cuối tháng 8 năm 993, theo các nguồn tin tình báo Cao Ly dọc biên giới cho biết, một cuộc xâm lược từ nhà Liêu sắp xảy ra. Cao Ly Thành Tông nhanh chóng huy động quân đội Cao Ly và chia lực lượng của mình thành ba cụm quân để đảm nhận các vị trí phòng thủ ở phía tây bắc. Các đơn vị tiên tiến của quân đội Cao Ly hành quân về phía tây bắc từ sở chỉ huy của họ gần Anju ngày nay ở bờ nam sông Thanh Xuyên. Mức độ nghiêm trọng của tình hình buộc Cao Ly Thành Tông phải đi từ kinh đô Khai Thành đến Seoyeong (nay là Bình Nhưỡng) để đích thân chỉ huy toàn quân. Tiêu thái hậu phái quân Liêu xâm lược Cao Ly. Tháng 10 năm 993, một đội quân Liêu khổng lồ dưới sự chỉ huy của Tiêu Tốn Ninh tràn ra khỏi Liao từ thành Naewon-song và tràn qua sông Áp Lục vào Cao Ly. Làn sóng quân Liêu tràn qua sông và tỏa ra khắp một vùng nông thôn. Tháng 11 năm 993, quân Liêu tiến đến thành Pongsan, biên giới tây bắc của Cao Ly với khoảng 60.000 lính. Trong cuộc chiến đẫm máu giữa quân Liêu và quân Cao Ly, sự kháng cự quyết liệt của binh lính Cao Ly lúc đầu bị chậm lại, sau đó đã cản trở đáng kể bước tiến của quân Liêu vào thành Pongsan. Cuối thành Pongsan vẫn thất thủ, quân Liêu tràn xuống phía nam. Quân Cao Ly bị quân Khiết Đan do Tiêu Tốn Ninh (蕭遜寧) chỉ huy liên tiếp đánh bại, thành Hưng Hóa (Heunghwa) của Cao Ly cũng rơi vào tay quân Liêu và quân Cao Ly bị quân Liêu dồn xuống phía nam sông Đại Đồng. Các tướng lĩnh nhà Liêu tuyên bố rằng họ có 80 vạn quân, yêu cầu Cao Ly nhượng cho nhà Liêu một số lãnh thổ quanh sông Áp Lục. Quân Liêu tiến quân vững chắc về phía nam, đến khu vực sông Thanh Xuyên. Nhưng quân đội của Cao Ly không bao giờ đầu hàng. Họ đã đứng vững trước các cuộc tấn công trực diện của quân Liêu. Họ đột phá vào doanh trại quân Liêu để rút lui và tiến hành phục kích quân Liêu, đồng thời phát động các cuộc tấn công bên sườn chống lại quân Liêu. Các tướng sĩ Cao Ly cuối cùng đã chặn đứng được quân đội của Tiêu Tốn Ninh tại sông sông Thanh Xuyên. Trước sự kháng cự nhanh chóng và kiên quyết như vậy, Tiêu Tốn Ninh cho rằng những nỗ lực tiếp theo nhằm chinh phục toàn bộ bán đảo Cao Ly sẽ khiến quân Liêu bị tổn hao binh lực nghiêm trọng, và thay vào đó ông ta tìm cách đàm phán để giải quyết về vấn đề Cao Ly. Tại sông Thanh Xuyên, quân Liêu kêu gọi tiến hành các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo quân sự của hai bên Liêu và Cao Ly. Tiêu Tốn Ninh đã viết thư yêu cầu Cao Ly Thành Tông phải đầu hàng: ""Đất nước vĩ đại của chúng tôi sắp thống nhất đất đai bốn phương" và để biện minh cho cuộc xâm lược này bằng cách buộc tội Cao Ly: "Đất nước của ngài không quan tâm đến nhu cầu của người dân, chúng tôi thay mặt nó long trọng thực hiện hình phạt của trời"". Cao Ly Thành Tông kêu gọi đồng minh quân sự là nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông) giúp đỡ, song không có sự hỗ trợ nào của nhà Tống đối với Cao Ly. Quân Liêu yêu cầu Cao Ly đầu hàng và dâng những vùng đất thuộc vương quốc Bột Hải ngày xưa cho nhà Liêu. Thoạt đầu, họ yêu cầu Cao Ly đầu hàng hoàn toàn. Sau một sự bế tắc quân sự, các cuộc đàm phán bắt đầu giữa hai nước, đưa đến những nhượng bộ sau: Thứ nhất, Cao Ly chính thức chấm dứt mọi quan hệ với nhà Tống, đồng ý cống nạp cho nhà Liêu và dùng niên hiệu của nhà Liêu. Thay vì bác bỏ thẳng thừng yêu cầu của Tiêu Tốn Ninh, triều đình Cao Ly ở Khai Thành bắt đầu tranh luận sôi nổi về tối hậu thư quân Liêu. Các quan chức triều đình Cao Ly tin rằng việc ngồi lại đàm phán với Tiêu Tốn Ninh sẽ ngăn chặn các cuộc xâm lược tiếp theo của nhà Liêu và kêu gọi triều đình Cao Ly hãy xoa dịu vua Liêu Thánh Tông của nhà Liêu. Nhiều chỉ huy quân sự cấp cao của Cao Ly gần đây đã đối đầu với quân Liêu trên chiến trường đã phản đối việc chấp nhận các điều khoản của Tiêu Tốn Ninh, trong đó có Từ Hi ("Seo Hui"), chỉ huy một cụm quân Cao Ly ở phía bắc Anju. Trong khi các quan lại đang tranh cãi ở Khai Thành, Tiêu Tốn Ninh đã bất ngờ lệnh cho quân Liêu qua sông sông Thanh Xuyên, đánh thẳng vào tổng hành dinh quân đội Cao Ly ở Anju. Cuộc tấn công của quân Liêu nhanh chóng bị quân Cao Ly đẩy lui, nhưng nó đã khiến triều đình Cao Ly rơi vào tình trạng gần như hoảng loạn. Ban đầu, vua Cao Ly Thành Tông định chấp nhận dâng đất cầu hòa, lên kế hoạch theo lời khuyên của những nhà đàm phán để nhường lãnh thổ phía bắc Bình Nhưỡng ngày nay cho nhà Liêu và vẽ biên giới Liêu-Cao Ly theo một đường thẳng giữa Hoàng Châu và P'aryŏng. Tuy nhiên, Từ Hi ("Seo Hui") tin rằng quân Liêu đang hành động với tư thế họ "sợ hãi chúng ta" và cầu xin nhà vua "trở về kinh đô và để chúng tôi, các tướng sĩ của ngài, tiến hành thêm một trận chiến nữa". Vì vậy, gọi một cách khoa trương vùng đất mà Cao Ly Quang Tông đã chinh phục từ người Nữ Chân và vùng đất mà người Khiết Đan nhà Liêu hiện nắm giữ là "lãnh thổ Cao Câu Ly cũ". Kết quả, Từ Hi ("Seo Hui") đã thuyết phục được vua Cao Ly Thành Tông nên ra sức chiến đấu. Quân Liêu tiến đánh Quy Châu (Gwiju). Quân Cao Ly ở đây nỗ lực chống trả đến cùng khiến quân Liêu phải chia quân bao vây Quy Châu (Gwiju) và nam hạ tấn công thành An Nhung (Anyung). Tướng Liêu thống lĩnh cánh quân Liêu đi đánh An Nhung là Xiao Hengde. Sau đó, hậu duệ của vương quốc Bột Hải là Đại Đạo Tú (con trai của thái tử Đại Quang Hiển, hậu duệ đời thứ 11 của Đại Dã Bột - đệ của Bột Hải Cao Vương) cùng Phó trung lang tướng Yu Bang đã lãnh đạo quân dân Cao Ly tại thành An Nhung (Anyung) đánh bại quân Liêu do Xiao Hengde chỉ huy. Sau trận đánh thành An Nhung (Anyung), quân Khiết Đan đã bị chặn lại. Đại quân Cao Ly từ phía nam cũng đến chi viện cho thành An Nhung. Trong nỗ lực xoa dịu giới quý tộc trong triều đình Cao Ly, Khương Hàm Tán (Gang Gam-chan) đã đề nghị Cao Ly Thành Tông tiến hành đàm phán với quân Liêu đế tránh chiến tranh kéo dài. Từ Hi ("Seo Hui") đã tình nguyện ra đàm phán trực tiếp với tướng Liêu là Tiêu Tốn Ninh. Cả hai bên đều biết rằng yếu tố then chốt ảnh hưởng đến cuộc đàm phán là áp lực nặng nề mà nhà Tống gây ra cho nước Liêu. Từ Hi ("Seo Hui") đã sang doanh trại quân Khiết Đan. Trong cuộc đàm phán trực tiếp với người đồng cấp, Từ Hi đã thẳng thắn nói với Tiêu Tốn Ninh rằng nhà Liêu không có cơ sở để tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ Bột Hải trước đây, vì Cao Ly chắc chắn là người kế thừa vương quốc Cao Câu Ly trước đây nên vùng đất đó hoàn toàn thuộc về lãnh thổ của Cao Ly. Trong một lời đe dọa được che đậy một cách khéo léo, Từ Hi nhắc nhở Tiêu Tốn Ninh rằng bán đảo Liêu Đông cũng từng nằm dưới sự thống trị của Cao Câu Ly và các lãnh thổ của Mãn Châu, bao gồm cả kinh đô của nhà Liêu tại Liêu Dương, đều phải thuộc về Cao Ly một cách hợp pháp. Trong một kết luận đáng chú ý, Từ Hi đã nhận được sự đồng ý của Tiêu Tốn Ninh cho phép sáp nhập khu vực đến sông Áp Lục vào lãnh thổ Cao Ly. Quân Liêu của Tiêu Tốn Ninh sau đó rút lui. Tiêu Tốn Ninh và quân Liêu không những phải quay trở về nhà Liêu khi không đạt được mục tiêu, cộng với việc cuộc xâm lược này còn phải kết thúc với việc nhà Liêu phải nhường lãnh thổ dọc theo phía nam sông Áp Lục cho Cao Ly. Vì vậy, thủ đoạn ngoại giao xuất sắc của Từ Hi ("Seo Hui") đã nhấn mạnh sự hiểu biết đúng đắn của ông ta về cả tình hình quốc tế đương thời lẫn vị thế của Cao Ly trong khu vực. Cao Ly được phép lấy lại được phần đất bị người Khiết Đan chiếm và vùng thượng du sông Áp Lục (lúc đó đang bị chiếm giữ bởi các bộ tộc Nữ Chân chuyên gây rắc rối cho nhà Liêu, với lý do rằng trong quá khứ vùng đất này thuộc về Cao Câu Ly) được hợp nhất vào lãnh thổ Cao Ly. Tuy nhiên Cao Ly trở thành chư hầu của nhà Liêu. Quân Liêu rút lui vào tháng 12 năm 993 và nhượng lại lãnh thổ phía đông sông Áp Lục sau khi Cao Ly đồng ý chấm dứt liên minh với nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông). Năm 994, trao đổi ngoại giao theo thường lệ giữa nhà Liêu và Cao Ly được bắt đầu, còn mối quan hệ giữa Cao Ly và nhà Tống không thể ấm lên. Tuy nhiên, Cao Ly sau đó vẫn tiếp tục giao thiệp với nhà Tống cùng năm 994 và đã củng cố vị thế của mình bằng cách xây dựng Thiên Lý Trường Thành và 6 thành trì tại các vùng lãnh thổ phía bắc mới giành được. Từ Hi ("Seo Hui") được Cao Ly Thành Tông cử đến để củng cổ các vùng lãnh thổ mới được mở rộng này. Giao tranh với Bắc Tống. Năm Thống Hòa nguyên niên (982), Tiêu thái hậu lệnh 10 vạn quân Liêu tái xâm phạm Nhạn Môn Quan của nhà Tống. Quân Liêu bị phụ tử Dương Nghiệp và Dương Diên Lãng đánh cho đại bại, lại còn bị họ chinh phạt khắp vùng Sơn Tây. Tiêu thái hậu buộc phải từ bỏ ý định nam xâm. Năm Thống Hòa thứ 4 (986), vua Tống Thái Tông của nhà Tống thấy nhà Liêu có hoàng thượng nhỏ tuổi và thái hậu nhiếp chính, vì thế đã phái quân Bắc phạt vào kinh đô phía nam của triều đại Liêu (Bắc Kinh ngày nay) để thu phục Yên Vân thập lục châu mà Thạch Kính Đường từng dâng cho người Khiết Đan khi xưa. Tháng 1 năm 986, Tống Thái Tông bàn việc bắc chinh, cử Tào Bân, Thôi Ngạn Tiến, đưa quân ra Hùng châu gọi là quân Đông lộ; Điền Trọng Tiến đánh Phi Hồ là quân trung lộ; Phan Mĩ, Dương Nghiệp đánh Nhạn Môn gọi là quân Tây lộ, sử xưng là Ung Hi bắc phạt. Quân Tống phân làm 3 lộ để đến ba địa điểm chiến lược khác cách tiếp cận thủ đô phía Nam của nhà Liêu. Theo đó thì Đông lộ công U châu, Trung lộ công Uý châu, Tây lộ công Vân châu và Sóc châu; trong đó danh tướng Dương Nghiệp nằm trong Tây lộ. Tiêu thái hậu lệnh Gia Luật Hưu Ca thủ U châu, Gia Luật Tà Chẩn ngăn Trung lộ quân và Tây lộ quân của Tống, còn Tiêu thái hậu cùng Liêu Thánh Tông, Hàn Đức Nhượng đến trú trát tại Đà La Khẩu (nay thuộc Bắc Kinh) ứng phó. Trước khi ra quân đánh Liêu, Tống Thái Tông căn dặn chư tướng tiến quân từ từ, vờ nói là lấy U châu, đợi khi quân cứu viện của nhà Liêu tới cứu thì vòng ra đánh mặt sau chặn đường tiếp lương của quân Liêu. Quân Tống nhanh chóng công hãm Kì Câu Quan. Tháng 3, tướng tiên phong Lý Kế Long của quân Đông lộ lấy hai huyện Cố An, Tân Thành và tiến đến Trác châu, giết tướng Liêu. Sang tháng 4, nhà Liêu đưa quân đến Tân Thành, Mễ Tín được sự trợ giúp của Thôi Ngạn Tiến, Đỗ Ngạn Khuê đánh lui quân Liêu. Về cánh quân trung lộ, Điền Trọng Tiến đánh bại quân Liêu ở cửa bắc Phi Hồ. Khi đó phòng ngự sứ Ký châu bên Liêu là Đại Bằng Dực đưa quân tới chặn. Điền Trọng Tiến và Kinh Tự bắt sống được Đại Bằng Dực, quân Tống giành chiến thắng. Phi Hồ, Linh Khâu, các thành đều xin hàng quân Tống. Điền Trọng Tiến đánh tiếp Úy châu. Bọn tướng Liêu bắt giữ sứ Liêu Cảnh Thiệu Trung rồi hàng Tống. Về cánh quân phía tây, cũng vào tháng 3, Phan Mĩ ra quân đánh thắng quân Liêu ở Hoàn châu, thứ sử của Liêu là Triệu Ngạn Tân dâng châu đầu hàng. Phan Mĩ lại tiến đánh hai châu Sóc, Ứng châu của nhà Liêu. Tướng Liêu giữ các thành này đều hàng phục quân Tống của Phan Mĩ. Tháng 4, Phan Mĩ dẫn quân Tống đánh sang Vân châu của nhà Liêu. Việc quân Tống đánh nhanh thắng nhanh nên quân lương vận chuyển đã không thể theo kịp. Quân Liêu cũng biết việc đó nên đã đưa quân ngăn cản đường lương thực của quân Tống. Tào Bân vì lương cạn định lui về Hùng châu nên gửi tấu cho Tống Thái Tông. Tống Thái Tông xem tấu, mặt biến sắc, nói nếu lui quân thì người Liêu sẽ tập kích, vì thế không được lui. Lúc đó Phan Mĩ, Điền Trọng Tiến đang hợp quân Tống cùng đánh U châu. Bộ tướng của Tào Bân sợ người khác giành mất công nên đã dẫn quân Tống lên đường thẳng tới Trác châu, đánh bại quân Liêu của Gia Luật Hưu Ca. Gia Luật Hưu Ca phải lui quân. Tào Bân chuẩn bị dẫn quân Tống đi đánh Phạm Dương. Gia Luật Hưu Ca một mặt chặn đường tiếp lương của Tống, mặt khác sai sứ về kinh cầu cứu. Tiêu thái hậu cùng Liêu Thánh Tông, Hàn Đức Nhượng dẫn kỵ binh chi viện cho miền nam. Trại của [Liêu Thánh Tông]] cách thành Trác châu 50 dặm về phía đông. Gia Luật Hưu Ca và Gia Luật Bồ Ninh suất binh tập kích doanh trại quân Tống nhiều lần khiến lòng quân của quân Tống bị hoang mang. Lại thêm giữa hạ trời nóng, thiếu nước, thiếu thức ăn, quân Tống không còn tinh thần chiến đấu. Tào Bân định vượt sông Cự Mã thì bị quân Liêu của Gia Luật Hưu Ca đuổi đánh, bị thiệt hại rất nhiều. Tào Bân, Mễ Tín lui quân về Dịch châu. Đang đến gần sông Sa Hà thì quân Liêu của Hàn Đức Nhượng đuổi kịp, quân Tống của Tào Bân bị dìm xuống sông và chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Tháng 7 năm 986, Tiêu thái hậu lại lệnh cho Gia Luật Tà Chẩn phản kích Đông lộ quân và Trung lộ quân của Tống. Tống Thái Tông được tin thất kinh, bèn triệu Tào Bân, Mễ Tín về triều, lệnh Điền Trọng Tiến về Định châu, Phan Mĩ giữ Đại châu, di dời dân chúng ở các vùng Vân, Ứng, Hoàn, Sóc vừa chiếm được về nam. Quân Liêu nhanh chóng đánh bại lực lượng của quân Tống, thu hồi hai châu Ứng, Úy. Phan Mĩ bàn việc giữ hai châu Vân, Sóc; cử Dương Nghiệp ra chống cự quân Liêu. Dương Nghiệp xuất quân từ Thạch Kiệt khẩu, giao chiến với tướng Liêu là Gia Luật Tà Chẩn. Trước khi đi, Dương Nghiệp đã cùng Vương Thẩm (giám quân của Đông Lộ Quân) cãi nhau hơn chục lần. Phan Mĩ thì nhút nhát không quả quyết, còn Dương Nghiệp thì muốn lấy quân kỵ di dời dân chúng, sau đó dùng quân mai phục mà đánh Liêu. Tuy nhiên, Vương Thẩm lại cười chê Dương Nghiệp mang danh là "Dương Vô Địch" mà không dám xuất quân. Dương Nghiệp chỉ còn thở dài mà xin viện quân tại Trần Gia Cốc, để nếu lỡ việc quân bị thì thu binh không bị quân Liêu truy giết. Phan Mĩ tán thành. Dương Nghiệp sau đó dẫn quân đánh quân Liêu ở đèo Kì Câu, có tướng Hà Hoài Phổ đi theo hỗ trợ. Tuy nhiên, quân Tống ít, quân Liêu nhiều, Đông lộ quân của nhà Tống bị thảm bại tại đèo Kì Câu. Tướng Tống là Hà Hoài Phổ tử chiến. Con trai trưởng của Dương Nghiệp là Dương Diên Chiêu lại bị tên bắn xuyên khuỷu tay, do đó mà Dương Nghiệp lệnh kỵ binh rút lui về Trần Gia Cốc. Chẳng dè đâu, phục binh của Phan Mĩ thì không thấy đâu, mà chỉ thấy quân Liêu tiến sát đến nơi. Gia Luật Tà Chẩn dụ Dương Nghiệp vào ổ phục kích ở Trần Gia Cốc, phục binh từ hai phía xông ra đánh giết. Con thứ của Dương Nghiệp là Dương Diên Ngọc tử trận tức thì, còn con trưởng của Dương Nghiệp là Dương Diên Chiêu thì bị cắt khỏi tầm nhìn của ông ta. Kết quả, toàn quân Tống bị quân Liêu tiêu diệt, còn Dương Nghiệp thì giết hơn chục quân địch rồi chạy vào rừng trốn. Hơn một ngày sau, Gia Luật Hề Đệ dùng cung bắn chết con ngựa của Dương Nghiệp, còn bản thân Dương Nghiệp thì bị quân Liêu bắt sống, để rồi ba ngày sau Dương Nghiệp tuyệt thực tự sát. Phan Mĩ vội đưa quân Tống về Đại châu. Hai châu Vân, Sóc cũng nhanh chóng tan rã, bị quân Liêu tái chiếm. Vua Tống Thái Tông hạ lệnh toàn tuyến triệt thoái về nam. Cuộc bắc phạt này của nhà Tống thất bại nặng nề. Hàn Đức Nhượng được Tiêu thái hậu gia phong chức Tư không và được phong làm Sở quốc công (楚国公). Sau khi trở về, Hàn Đức Nhượng được cùng Bắc phủ tể tướng Thất Phưởng cùng nắm quốc chánh nhà Liêu. Hàn Đức Nhượng dâng tấu rằng 4 châu Sơn Tây mấy lần gặp việc binh, lại thêm mất mùa, đề nghị giảm thuế để dân khỏi lưu tán, triều đình nhà Liêu nghe theo. Tiêu Thái hậu bổ nhiệm Gia Luật Hưu Ca làm tướng quân cấp cao của mình để tiếp tục dẫn quân Liêu đi tấn công nhà Tống để trả đũa việc nhà Tống vừa bắt phạt vào đất Liêu. Quân Tống bị quân Liêu đánh cho tơi bời. Cho đến tận năm sau (năm 987), Gia Luật Hưu Ca mới lui quân về Liêu. Quân Tống ở biên cương bị tổn thất nặng nề ở đợt tấn công này của quân Liêu. Sự tự tin mù quáng và ngang ngạnh cố chấp của Tống Thái Tông cho thấy ông ta kém xa Tống Thái Tổ về khả năng tác chiến. Sau hai lần bắc phạt vào lãnh thổ nhà Liêu bất thành, Tống Thái Tông bắt đầu rơi vào tình thế khó xử: nên chiến hay nên hòa với nhà Liêu. Vì sự chần chừ của ông ta nên các tướng Tống trấn giữ biên ải cũng chỉ cầm cự qua ngày, từ đó lực lượng tác chiến với quân Liêu giảm dần, tinh thần chiến đấu của quân đội nhà Tống ngày càng sa sút. Năm Thống Hòa thứ 6 (988), Hàn Đức Nhượng nhận chiếu đem quân đánh nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông), vây Sa Đôi. Quân Tống nhân đêm tối đến tập kích, Hàn Đức Nhượng giữ nghiêm quân để đợi, sau đó đánh đuổi được quân Tống. Khi về, Hàn Đức Nhượng được Tiêu thái hậu phong làm Sở vương (楚王). Năm 989 quân Tống tiếp tục xâm phạm biên giới nhà Liêu. Tiêu thái hậu phái quân Liêu đi chống cự. Kết quả quân Tống lại đại bại và phải rút về phía nam. Năm 991, Hàn Đức Nhượng nói người Yên gian trá, tìm cách tránh nộp thuế, quý tộc cũng cấu kết với họ và đề nghị sai Bắc Viện tuyên huy sứ Triệu Trí răn dạy. Triều đình nhà Liêu nghe theo. Năm 993, Hàn Đức Nhượng đang để tang mẹ thì nhận chiếu của Liêu Thánh Tông cưỡng ép nhận chức trở lại. Sang năm 994, Thất Phưởng nghỉ hưu, Đức Nhượng được thay làm Bắc phủ tể tướng (北府宰相), Kiêm lĩnh Xu mật sứ (兼领枢密使), Giám tu quốc sử, được Tiêu thái hậu ban hiệu là Hưng Hóa công thần. Tháng 6 ÂL năm 994, Hàn Đức Nhượng tâu rằng quan lại thẩm lý án kiện ở 3 kinh có nhiều lỗi lầm, đề nghị cấm ngặt. Triều đình nhà Liêu nghe theo. Ông ta lại dâng biểu xin nhiệm dụng người hiền, đuổi kẻ gian tà, Tiêu thái hậu vui vẻ nói: "Tiến cử người giúp nước, là chức phận của bậc đại thần chân chính". Rồi ông ta được khen ngợi và được ban thưởng. Sau khi về triều, ông ta được Tiêu thái hậu gia phong chức Thái bảo, kiêm Chính sự lệnh. Gặp lúc Bắc Viện khu mật sứ Gia Luật Tà Chẩn qua đời, Liêu Thánh Tông có chiếu cho Hàn Đức Nhượng kiêm chức ấy, trở thành Kiêm Bắc viện xu mật sứ (兼北院枢密使). Sau đó ông ta được Liêu Thánh Tông bái làm Đại thừa tướng, tiến tước Tề vương (齐王), Tổng lưỡng khu phủ sự. Hàn Đức Nhượng cho rằng Nam Kinh, Bình Châu không được mùa, tâu xin cho trăm họ miễn nộp tiền nông cụ, rồi xin bình ổn giá cả các quận. Triều đình nhà Liêu đều nghe theo. "Tề vương thái phi" Tiêu Hòa Hãn (Trưởng tỉ của Tiêu thái hậu) hiện đang góa chồng và đi làm gián điệp chống lại nhà Tống (đời vua Tống Thái Tông) dưới thời trị vì của cháu trai bà là Liêu Thánh Tông. Trong chuyến hành trình quân sự của mình, bà ta đã yêu một nô lệ tên là Thát Lãm A Bát (挞览阿钵). Mối quan hệ của bà ta với ông này không được Tiêu thái hậu ủng hộ, và mối quan hệ của giữa Tiêu Hòa Hãn với Tiêu thái hậu ngày càng trở nên ghẻ lạnh. Mùa thu năm 999, Tiêu thái hậu nghe tin nhà Tống mới có vua mới là Tống Chân Tông, lại thêm Tào Bân vừa mất, thì quyết định đánh xuống phía nam. Quân Liêu đánh vào hai châu Trấn, Định của nhà Tống. Tướng giữ thành Phó Tiềm giữ mà không ra. Tướng dưới quyền Phạm Đình Triệu nhận được thánh chỉ từ Biện Kinh của Tống Chân Tông, buộc Phó Tiềm ra quân. Phó Tiềm chỉ phát cho 8000 quân. Phạm Đình Triệu cầu cứu Khang Bảo Duệ ở Tinh châu. Khang Bảo Duệ đưa quân Tống tới giúp nhưng bị quân Liêu giết chết. Phạm Đình Triệu phải lui về Doanh châu. Tướng giữ Toại thành là Dương Diên Chiêu dùng kế tưới nước lên thành, đợi tới mùa đông nước đóng băng, quân Liêu phá mãi không được, bèn đổi hướng, vượt sông từ Đức, Lệ. Giữa mùa đông, Tống Chân Tông hạ chiếu thân chinh đến Hà Bắc chống Liêu, để Lý Hãng làm lưu thủ Đông Kinh. Đầu năm 1000, Tống Chân Tông đến trú tại phủ Đại Danh, hạ lệnh cách chức Phó Tiềm, chiếu theo tội chém đầu mà giảm một bậc, đày ra Phòng châu; đày Trương Chiêu Doãn ra Đạo châu, cử Cao Quỳnh thay Phó Tiềm. Quân Liêu nghe tin Chân Tông thân chinh, bèn rút lui. Quân Tống thừa cơ đuổi theo đến tận Mạc châu, giết hơn 10.000 quân Liêu, thu lại nhiều của cải bị cướp. Tống Chân Tông phong cho Dương Diên Chiêu làm thứ sử Mạc châu, ban thưởng nhiều vàng bạc; sau đó xa giá về kinh. Mùa đông năm 1000, Tiêu thái hậu lại phái quân Liêu đến xâm lấn nhà Tống (đời vua Tống Chân Tông). Tướng Tống là Dương Diên Chiêu cùng thứ sử Đăng châu là Dương Tự dùng kế mai phục, đánh lui được quân Liêu. Tháng 9 nhuận năm Thống Hòa thứ 22 (1004), Tiêu thái hậu (khi đó đã 51 tuổi) ra yêu sách đòi lại vùng Quan Nam mà Hậu Chu Thế Tông đã từng thu phục, rồi cùng Liêu Thánh Tông và Hàn Đức Nhượng đem 200.000 quân Liêu đi thảo phạt nhà Tống. Sở vương Gia Luật Long Hựu được lệnh trấn giữ kinh đô của nhà Liêu. Đích thân Tiêu thái hậu chỉ huy 10.000 kỵ binh của riêng bà ra chiến trường và bà cũng là tổng chỉ huy của cuộc chiến này. Một cuộc xâm lược quy mô lớn của nhà Liêu đã diễn ra trên lãnh thổ của nhà Tống. Quân Liêu cướp bóc ở hai quận Uy Lỗ, Thuận An của nhà Tống. Tướng Tống là Ngụy Năng và Thạch Phổ ra ứng chiến nhưng bị quân Liêu đánh bại. Tướng Liêu là Tiêu Thát Lãm đánh phá Bảo châu và Bắc Bình của nhà Tống, song chưa thành công. Tống Chân Tông triệu tập quần thần bàn kế; Khấu Chuẩn chủ chiến, Tất Sĩ An và Vương Khâm Nhược chủ hòa. Ban đầu quân Tống nắm ưu thế, đẩy lui quân Liêu ở Uy Lỗ, Khả Lâm, An Thuận, Định châu. Liêu Thánh Tông sai sứ đến chỗ Thạch Phổ ở Mạc châu, xin được hòa nghị (do Liêu Thánh Tông chủ hòa với Tống). Tống Chân Tông sai Tào Lợi Dụng cầm quốc thư đến trại Liêu. Tuy nhiên giữa đường thì người Liêu đổi ý (do Tiêu thái hậu muốn chiến với Tống). Quân Liêu lập tức tấn công Đức Thanh quân, Ký châu, Đàn châu của nhà Tống. Sau đó, tướng Liêu là Tiêu Thát Lãm tiến công Toại Thành, bắt giữ Tiết độ sứ Thiên Hùng của Tống là Vương Tiên Tri. Tiêu thái hậu được tin thắng trận, liền cùng Liêu Thánh Tông, Hàn Đức Nhượng đích thân suất quân Liêu tấn công Định châu, bắt sống tướng Tống giữ chức quan sát sứ Vân châu là Vương Kế Trung. Tướng Tống giữ Định châu là Vương Siêu đóng cửa thành cố thủ. Sau khi từ chối hàng Liêu, Vương Kế Trung bị quân Liêu xử tử. Trừ việc bị quân Tống ngăn cản tại Doanh châu, quân Liêu đánh đâu thắng đó, thế như chẻ tre. Sau đó, quân Liêu tiến đến Thiền châu. Đây là cửa ngõ vào Biện Kinh (kinh đô Khai Phong của nhà Tống), địa thế rất quan trọng. Quân Liêu cắm trại tại thị trấn Thiền Uyên, khoảng 100 dặm về phía bắc của kinh đô Khai Phong. Tin bại trận lũ lượt bay về, cả triều đình nhà Tống bàng hoàng, chấn động. Tống Chân Tông lo sợ, muốn dời đô về phương nam nên đã đích thân đến phủ Khấu Chuẩn hỏi ý kiến, Khấu Chuẩn xin nhà vua đích thân ra trận, đốc thúc quân sĩ. Tống Chân Tông sợ phải ra trận, dùng dằng không muốn đi. Tất Sĩ An cũng đến khuyên vua ra trận, Tống Chân Tông buộc phải nghe theo. Khi Tống Chân Tông triệu tập quần thần, Vương Khâm Nhược bàn nên dời đô về Kim Lăng, Trần Nghiêu Tẩu khuyên dời đô ra Thục. Khấu Chuẩn biết tin, đòi chém những kẻ nghị hòa, xin Tống Chân Tông thân chinh. Tống Chân Tông vờ tỏ ý bằng lòng, sau đó cử Vương Khâm Nhược ra Thiên Hùng quân đốc sư kháng Liêu. Tháng 11 âm lịch năm 1004, quân Liêu bị quân Tống đánh bại ở Sóc châu. Lúc này đại quân Liêu của Tiêu thái hậu, Liêu Thánh Tông và Hàn Đức Nhượng đang tập trung tại Doanh châu. Hai tướng Liêu là Tiêu Thát Lãm và Tiêu Quan Âm Nô suất quân Liêu đi đánh Kỳ châu, Tiêu thái hậu đích thân chỉ huy đại quân hỗ trợ, tiến đánh Ký châu, Bối châu. Quân Liêu còn công phá Đức Thanh, ba mặt bao vây Thiền châu của nhà Tống. Lúc này quân Liêu đánh mạnh vào Thiền châu của nhà Tống. Đại tướng tiên phong của Liêu là Tiêu Thát Lẫm (蕭撻凜) dẫn quân Liêu đi xem xét địa hình đốc chiến ở tiền tuyến. Tướng Tống giữ thành Thiền châu là Lý Kế Long biết Tiêu Thát Lãm sẽ đến cướp trại của mình, bèn cho quân mai phục bốn phía, Tiêu Thát Lãm quả nhiên trúng kế và bị trúng tên của tướng Tống là Trương Hoàn vào đầu, quân Liêu rút lui. Đến tối thì Tiêu Thát Lẫm chết tại doanh trại quân Liêu. Sĩ khí của quân Liêu vì thế mà suy giảm. Lúc này Tống Chân Tông đang ngự giá ra Hà Bắc, có kẻ tả hữu khuyên nên lui về Kim Lăng, Tống Chân Tông đã định nghe theo, nhưng bởi có Khấu Chuẩn một mực khuyên can nên đành thôi. Khấu Chuẩn lại cùng Cao Quỳnh liên danh đề nghị Tống Chân Tông vượt sông, ra Hà Bắc khích lệ tướng sĩ. Tống Chân Tông đồng tình. Có kẻ tả hữu dâng áo lông cừu, Tống Chân Tông từ chối, bảo đem cho tướng sĩ ngoài sa trường. Quân Tống nghe được, vô cùng phấn khích, càng đánh càng hăng. Tống Chân Tông được Cao Quỳnh hộ giá, vượt sông đến phía bắc Thiền châu, ngự trên thành lâu. Quân sĩ Tống gặp được vua thì phấn chấn lên, hô to vạn tuế, tiếng la vang cả chục dặm, vang đến cả doanh trại của quân Liêu. Tiêu thái hậu nghe tin, liền phái quân Liêu đến đánh thành Thiền châu hòng bắt Tống Chân Tông. Chân Tông sai sứ đến quan sát, thấy Khấu Chuẩn vẫn bình thản uống rượu, mới tỏ ra yên tâm hơn. Khấu Chuẩn mở cổng thành nghênh chiến, quân Tống hăng hái chiến đấu và đại thắng quân Liêu, giết hơn một nửa quân Liêu. Số quân Liêu còn lại buộc phải tháo chạy. Sau đó quân Tống lại liên tục cướp trại quân Liêu khiến quân Liêu rất mệt mỏi. Ngoài ra, quân Tống còn tấn công hậu lộ của quân Liêu. Tiêu thái hậu liền tận dụng tâm lý muốn cầu hòa của vua Tống Chân Tông, phái sứ giả sang Thiền châu yêu cầu nghị hòa. Khi đó Tào Lợi Dụng cùng sứ Liêu tới trại Tống, sứ Liêu yêu cầu nhà Tống trả lại Quan Nam cho nhà Liêu thì có thể nghị hòa giữa hai nước. Khấu Chuẩn vào tâu, nói với Tống Chân Tông rằng quân ta đang thắng lớn, cứ buộc người Liêu trả lại Yên Vân thập lục châu và dâng biểu xưng thần với nhà Tống rồi mới cho hòa. Tống Chân Tông chán nản việc binh đao nên không muốn theo kế đó. Chân Tông sai Tào Lợi Dụng đi sứ, chỉ dặn không được cắt đất, còn tiền bạc thì sao cũng được. Khấu Chuẩn ra yêu cầu cho người Liêu đòi hỏi nhưng không được quá 30 vạn. Tào Lợi Dụng vào yết kiến Tiêu thái hậu, phía nhà Liêu đòi nhà Tống trả lại Quan Nam. Sau nhiều lần thương nghị, vào mùa xuân giữa tháng 1 năm 1005, hai bên định ra hòa ước với nội dung như sau: Sử gọi đây là bản hòa ước Thiền Uyên. Từ đó nam - bắc hòa hảo suốt hơn 100 năm. Sau đó Tiêu thái hậu, Liêu Thánh Tông và Hàn Đức Nhượng dẫn quân Liêu triệt thoái về bắc. Việc thực hiện hiệp ước Thiền Uyên chi minh này vẫn được duy trì cho đến cuối triều đại nhà Liêu. Sau khi trở về, Hàn Đức Nhượng được Liêu Thánh Tông phong là Tấn quốc vương (晋国王), được ban quốc tính Gia Luật, cho ra khỏi cung tịch , sau đó đổi thuộc Hoành trướng quý phụ phòng ; rồi ông ta được ban tên Long Vận (tức là Gia Luật Long Vận - 耶律隆运), địa vị ở trên thân vương, ban ruộng vườn cùng đất để sau này bồi táng cùng ông ta khi ông ta qua đời. Những năm cuối đời. Năm Thống Hòa thứ 24 (1006), vua Liêu Thánh Tông xuất quần thần phong tôn hiệu cho Tiêu Xước là Duệ Đức Thần Lược Ứng Vận Khải Hóa Pháp Đạo Hồng Nhân Thánh Vũ Khai Thống Thừa Thiên hoàng thái hậu (睿德神略應運啟化法道洪仁聖武開統承天皇太后). Bà là người có công trong việc sắp xếp cuộc hôn nhân giữa Liêu Thánh Tông với một cung nữ của bà là Tiêu Nậu Cân. Tiêu Nậu Cân sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó nhưng Liêu Thánh Tông đã đưa cô vào cung. Tuy nhiên, Liêu Thánh Tông chưa bao giờ coi cô như vợ lẽ mà thay vào đó lại giao cô cho Tiêu thái hậu như một cung nữ. Một ngày nọ, khi đang dọn giường cho Tiêu thái hậu, Tiêu Nậu Cân tình cờ gặp một con gà trống vàng. Khi Tiêu thái hậu bất ngờ bước vào lều, Tiêu Nậu Cân giật mình và nuốt chửng con gà trống vàng. Con gà trống vàng thực ra là một loại thuốc bí ẩn, và sau vài ngày, làn da của Tiêu Nậu Cân trở nên rạng rỡ. Tiêu thái hậu rất ngạc nhiên và nói với cung nữ rằng Tiêu Nậu Cân sẽ sinh ra một hoàng tử cho Liêu Thánh Tông trong tương lai. Sau đó Tiêu thái hậu ra sức khuyên bảo Liêu Thánh Tông hãy ngủ cùng giường với Tiêu Nậu Cân. Liêu Thánh Tông nghe và làm theo, sau này có con trai kế vị là Liêu Hưng Tông. Tiêu thái hậu lúc này đang mối quan hệ không hề tốt đẹp với hai chị gái của mình. Để trả thù cho chồng là Gia Luật Hi Ẩn và con trai bị giết từ nhiều năm trước, Tiêu phu nhân Y Lặc Lan (nhị tỉ của Tiêu thái hậu) đã âm mưu đầu độc Tiêu thái hậu. Y Lặc Lan đã thất bại và bị Tiêu thái hậu ép phải tự tử. Bất chấp lời cầu xin tha mạng cho Y Lặc Lan của "Tề vương thái phi" Tiêu Hòa Hãn (trưởng tỉ của Tiêu thái hậu), Tiêu thái hậu đã ra lệnh giam cầm Tiêu Hòa Hãn. Sau đó Tiêu Hòa Hãn bị Tiêu thái hậu kết án tử hình vào năm 1009. Trong năm Thống Hòa thứ 27 (1009), Tiêu thái hậu quy chính cho vua Liêu Thánh Tông, không tiếp tục làm nhiếp chính nữa. Tháng 12 cùng năm, Tiêu thái hậu bệnh mất ở hành cung, hưởng thọ 57 tuổi. Năm sau (1010), bà được táng ở Càn Lăng cùng với Liêu Cảnh Tông. Hàn Đức Nhượng qua đời sau cuộc chiến với Cao Ly những năm 1010 - 1011 và được Liêu Thánh Tông xây miếu bên cạnh Càn lăng của Tiêu thái hậu và Liêu Cảnh Tông. Trong văn hoá đại chúng. Nhân vật Tiêu Xước được diễn bởi các diễn viên sau:
1
null
Fan fiction hay fanfiction (cũng viết tắt là fan fic, fanfic, fic hoặc FF, tạm dịch: hư cấu của người hâm mộ) được đa số mọi người trên thế giới định nghĩa là thể loại truyện về một hoặc nhiều nhân vật dựa trên một tác phẩm gốc, không phải do tác giả gốc viết lên. Thường thì fan fiction ít khi được tác giả gốc, chủ sở hữu, hay nhà xuất bản của tác phẩm công nhận và phần lớn không được xuất bản một cách chuyên nghiệp. Chính vì điều này mà rất nhiều truyện có khuyến cáo rằng người viết fan fiction không sở hữu nhân vật nào trong truyện của họ. Đa số truyện sử dụng các chi tiết bao gồm cả chi tiết ảo "(không có thật)" lẫn chi tiết thực "(ví dụ: nhân vật)". Các tác giả truyện fan fiction là fan viết truyện của họ và thường hay chia sẻ truyện của họ cho các Fan khác Fan fiction được văn học coi như một quả bom bộc phá cho những fan hâm mộ cuồng nhiệt đang bị nhốt trong boong-ke. Họ không làm vì tiền bạc, đó không phải là cái fan quan tâm. Các tác giả fan fiction viết nó chỉ để đạt được mục đích duy nhất, đó là sự thỏa mãn. Họ là người hâm mộ, nhưng họ không muốn sống lặng lẽ. Văn hóa đã ăn sâu vào fan, và họ sử dụng văn hóa của chính họ để trao đổi lẫn nhau.
1
null
Saturn () là một vị thần trong tín ngưỡng La Mã cổ đại và là một nhân vật trong thần thoại La Mã, được xem là tương đương với Cronus trong thần thoại Hy Lạp. Saturn là một nhân vật phức tạp do có nhiều giai thoại và lịch sử lâu dài về ông. Ông là vị thần đầu tiên của Capitol, nơi mà trong hầu hết thời kỳ cổ đại gọi là "Saturnius Mons" và được xem là vị thần của sự sinh ra, chết, sung túc, giàu có, nông nghiệp, đổi mới định kỳ và tự do. Trong những phát triển về sau ông cũng trở thành vị thần của thời gian. Triều đại của ông được miêu tả như thời Vàng Kim của sự giàu có và hòa bình. Đền Saturn ở Công trường La Mã hiện là kho bạc nhà nước. Sao Thổ và thứ bảy trong tiếng Anh đều được đặt theo tên ông.
1
null
Nguyên tố hóa học heli tồn tại ở dạng lỏng ở nhiệt độ cực kỳ thấp là -269 độ C (khoảng 4 K hay -452,2 F). Điểm sôi và điểm tới hạn của nó phụ thuộc vào loại đồng vị heli có mặt: đồng vị phổ biến heli-4 hoặc đồng vị hiếm heli-3. Đây là hai đồng vị bền duy nhất của heli. Xem bảng bên dưới để biết giá trị các đại lượng vật lý của các đồng vị này. Tỷ trọng dạng lỏng của heli-4 ở điểm sôi với áp suất 1 atm (101,3 kilopascal) vào khoảng 125 gram/lít.
1
null
JSTOR (phát âm ;, viết tắt từ "Journal Storage") là một thư viện điện tử được thành lập năm 1995. Ban đầu nó chứa những kỳ cũ được số hóa của các tập san học thuật, hiện nay nó còn bao gồm sách và các nguồn sơ cấp, cũng như các kỳ hiện tại của các tập san. Thư viện này cung cấp bản toàn văn của khoảng 2.000 tập san Hơn 8.000 cơ quan nghiên cứu ở hơn 160 quốc gia có thể truy cập JSTOR; hầu hết truy cập ở dạng thuê bao, nhưng các nội dung công cộng cũ hơn được phát hành miễn phí cho tất cả mọi người, và vào năm 2012 JSTOR đưa ra một chương trình cung cấp truy cập hạn chế không tính phí đối với các bài viết cũ cho các học giả và nghiên cứu cá nhân đã đăng ký vào hệ thống.
1
null
Thượng Pannonia hoặc Pannonia Superior là tỉnh La Mã cổ đại với Carnuntum là thủ phủ của nó. Nó được thành lập vào năm 103 sau Công nguyên. Thượng Pannonia bao gồm các vùng đất ngày nay là Hungary, Áo, Croatia, Slovenia, Bosnia và Herzegovina, và Slovakia. Các thành phố. Một số thành phố quan trọng ở Thượng Pannonia là: Thời kì sau. Từ khoảng năm 796 tới năm 828/830, Thượng Pannonia là một vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của người Frank, ngày nay được coi là miền tây Hungary, tức là Pannonia ở phía bắc của Drava (và phía đông của Carantania và Krain). Từ năm 828/830 trở đi, Thượng Pannonia được coi là Pannonia ở phía bắc của sông Raba và phía đông của Tulln. Tên gọi này có thể được tìm thấy ngay cả thời kì sau này với cùng một ý nghĩa tương tự, nhưng rộng hơn. Ví dụ: Otto von Freising (Chron. 6, 15) sử dụng nó để chỉ Áo trong thế kỷ 12.
1
null
Trong toán học, căn bậc của một số là một số , mà lũy thừa bậc của sẽ bằng : trong đó là "bậc" của căn. Căn bậc của hai được gọi là căn bậc hai, căn bậc của ba được gọi là căn bậc ba. Các bậc cao hơn được gọi theo đúng tên số thứ tự, "căn bậc bốn", "căn bậc mười hai"..v.v. Phép tính căn bậc của một số được gọi là khai căn hay căn thức. Ví dụ: Một số thực hoặc số phức có căn của bậc . Trong khi căn của 0 không có sự khác biệt (tất cả đều bằng 0), căn bậc của bất cứ số thực hay số phức nào khác đều khác biệt nhau. Nếu là số chẵn và số dưới căn là số thực và số dương, một căn của nó là số dương và một căn là số âm, các số còn lại là số phức nhưng không phải số thực; nếu là số chẵn và số dưới căn là số thực và âm, không có căn nào của nó là số thực. Nếu là số lẻ và số dưới căn là số thực, một căn của nó sẽ là số thực và cùng dấu với số dưới căn, trong khi các căn khác không phải số thực. Trong vi tích phân, căn được biểu diễn dưới dạng lũy thừa, trong đó số mũ là một phân số: Định nghĩa và ký hiệu. Căn bậc n của một số , với là số nguyên dương, là một số với số mũ bằng : Tất cả các số thực dương có một căn dương duy nhất, được viết là formula_7. Với bằng 2 ta gọi đó là căn bậc hai và không cần phải viết . Căn có thể biểu diễn dưới dạng lũy thừa là 1/n. Với là giá trị chẵn, các số dương có cả căn âm, trong khi các số âm không có căn thực nào. Với là giá trị lẻ, tất cả các số âm có một căn âm thực. Ví dụ, -2 có căn bậc 5, formula_8 nhưng -2 không có căn bậc sáu thực. Tất cả các số khác không, dù là số thực hay số phức, có căn số phức khác nhau, bao gồm căn dương và căn âm. Căn bậc của 0 bằng 0. Với phần lớn các số, căn bậc là một số vô tỉ, ví dụ: Tất cả các căn bậc của số nguyên, hoặc của bất cứ một số đại số nào, đều thuộc đại số. Các mã ký tự cho các biểu tượng căn là Căn bậc hai. Căn bậc hai của một số là một số , mà khi bình phương, sẽ bằng : Tất cả các số thực dương có hai căn bậc hai, một số dương và một số âm. Ví dụ, căn bậc hai của 25 là 5 và -5. Căn bậc hai dương được gọi là căn bậc hai chính hoặc căn bậc hai số học hoặc căn bậc hai dương (principal square root), được biểu diễn bằng một ký hiệu căn: formula_11 Do bình phương của tất cả các số thực là một số thực dương nên các số âm không có căn bậc hai thực sự. Tuy nhiên, mọi số âm có hai căn bậc hai ảo. Ví dụ, căn bậc hai của -25 là và , với đại diện cho căn bậc hai của -1. Căn bậc ba. Căn bậc ba của một số là một số mà khi lũy thừa bậc ba, sẽ bằng : Mọi số thực có duy nhất một căn bậc ba thực, được viết là formula_13. Ví dụ: Mọi số thực có thêm hai căn bậc ba phức. Tính chất. Mọi số thực dương (a,b > 0) có một căn bậc dương, quy luật các phép tính như sau: Sử dụng dạng mũ formula_17 cũng giúp khử số mũ và số căn. Vấn đề cũng có thể xảy ra khi tính căn bậc của số âm và số phức. Ví dụ: trong khi Dạng giản lược của biểu thức căn. Một biểu thức căn được coi là giản lược nếu: Ví dụ, để biểu diễn biểu thức căn formula_21 dưới dạng giản lược, chúng ta có thể tiến hành như sau. Đầu tiên, tìm một số chính phương dưới dấu căn và bỏ ra ngoài. Tiếp theo, có một phân số dưới dấu căn, chúng ta có thể thay đổi như sau: Cuối cùng, chúng ta bỏ căn số khỏi mẫu số như sau: Khi ta có mẫu số với các số vô tỉ, ta có thể tìm một nhân tử để nhân cả tử số lẫn mẫu số nhằm giản lược biểu thức. Ví dụ, sử dụng phân tích nhân tử tổng của hai số có lũy thừa bậc ba: Chuỗi vô hạn. Căn thức hay căn có thể biểu diễn dưới dạng chuỗi vô hạn: với formula_27. Biểu thức này được rút ra từ chuỗi nhị thức.
1
null
Hạ Pannonia hay Pannonia Inferior là một tỉnh La Mã cổ đại. Nó được thành lập vào năm 103 CN. Hạ Pannonia bao gồm các vùng đất ngày nay thuộc Hungary, Serbia, Croatia và Bosnia và Herzegovina. Các thành phố. Một số thành phố quan trọng ở Hạ Pannonia là: Sirmium (ngày nay là Sremska Mitrovica), Cuccium (ngày nay là ILok), Cibalae (ngày nay là Vinkovci, Mursa (ngày nay là Osijek), Certissa (ngày nay là Đakovo), Marsonia (ngày nay là Slavonski Brod), Sopianae (ngày nay là Pécs), Aquincum (ngày nay là Buda), vv Thời kì sau. Từ khoảng năm 796-828 / 830, "Hạ Pannonia" là một vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của người Frank, được coi là vùng đất ngày nay là miền bắc Croatia, tức là Pannonia ở phía nam của Drava (và phía đông của Carantania và Krain). Từ năm 828/830 đến (ít nhất) khoảng năm 900, Hạ Pannonia được dùng để chỉ vùng đất ngày nay là miền tây Hungary và phía Bắc Croatia trừ các lãnh thổ xung quanh Neusiedler See, tức là khu vực Pannonia ở phía nam của sông Raba (và phía đông của Carantania và Krain). Tên gọi này cũng được dùng để gọi lãnh địa Balaton của người Xlavơ vào thế kỷ thứ 9.
1
null
Trận Sarmizegetusa (cũng được đánh vần là "Sarmizegethusa") là một cuộc vây hãm thành phố Sarmizegetusa, kinh đô của Dacia, nó diễn ra vào năm 106 SCN giữa quân đội của Hoàng đế La Mã Trajan, với người Dacia do vua Decebalus lãnh đạo. Bối cảnh. Do mối đe dọa của người Dacia đối với sự bành trướng về phía đông của đế quốc La Mã, trong năm 101, hoàng đế Trajan đã quyết định bắt đầu một chiến dịch chống lại họ. Cuộc chiến tranh đầu tiên bắt đầu vào ngày 25 tháng 3 và quân đội La Mã, bao gồm bốn quân đoàn chủ lực, các đơn vị X Gemina, XI Claudia, II Traiana Fortis và XXX Ulpia Victrix, đã đánh bại người Dacia và vì thế cuộc chiến tranh này đã kết thúc với chiến thắng dành cho người La Mã. Mặc dù người Dacia đã phải chịu một thất bại trong cuộc chiến tranh Dacia lần thứ nhất, hoàng đế đã hoãn lại các cuộc tấn công cuối cùng nhằm vào kinh đô Sarmizegetusa của họ để tổ chức lại quân đội của ông. Trajan đã yêu cầu người Dacia phải nhượng lại nhiều đất đai và phải chịu các điều kiện hòa bình rất nặng nề: Decebalus phải từ bỏ toàn bộ quyền hạn đối với một phần vương quốc của mình, bao gồm cả Banat, Tara Haţegului, Oltenia, và Muntenia ở khu vực phía tây nam của Transilvania. Ông ta cũng đã phải giao nộp tất cả các binh lính đào ngũ của người La Mã, những người lính bị bắt làm tù binh cũng như những thiết bị chiến tranh của người Dacia. Trên đường trở về Roma, Trajan được chào đón như một vị vua chiến thắng, và để tôn vinh chiến thắng của mình,ông đã lấy tên gọi Dacicus, một tiêu đề xuất hiện trên tiền đúc của ông trong giai đoạn này. Tuy nhiên, trong những năm 103-105, Decebalus đã không tôn trọng các điều kiện hòa bình bị Trajan áp đặt, và để trả đũa, Hoàng đế đã chuẩn bị cho việc tiêu diệt vương quốc Dacia và chinh phục hoàn toàn Sarmizegetuza. Cuộc vây hãm Sarmizegetuza đã diễn ra vào mùa hè năm 106. Người ta ước tính rằng người Dacia rất có thể có ít hơn 20.000 người có khả năng tham gia chiến đấu chống lại cuộc xâm lược. Tiến quân. Quân đội La Mã đã chia quân làm ba đường để tiến đánh thành Sarmizegetuza. Đạo quân đầu tiên vượt qua cây cầu được xây dựng bởi Apollodorus của Damascus, và sau đó tiến quân theo các thung lũng của sông Cerna và Timiş đến Tibiscum. Sau đó họ đổi hướng tiền về thung lũng của sông Bistra thông qua chỗ đất lún Tara Haţegului. Ở những nơi này, đã có các đơn vị đồn trú La Mã đóng quân từ cuộc chiến tranh đầu tiên. Họ đã hành quân qua Valea Cernei, Haţeg, và Valea Streiului cùng với đó họ đã phá hủy các pháo đài của người Dacia tại Costesti, Blidaru, và Piatra Rosie. Đạo quân thứ hai được cho là đã vượt qua sông Danube tại một nơi nào đó gần Sucidava và sau đó hành quân về phía bắc qua thung lũng Jiu, rồi tập kết lại với đạo quân La Mã đầu tiên ở Tara Haţegului. Lực lượng kết hợp của hai đạo quân sau đó bắt đầu tấn công các khu vực của dãy núi Şurianu, và họ chỉ gặp phải sự kháng cự lẻ tẻ một cách tuyệt vọng từ người Dacia. Đạo quân thứ ba của La Mã, rất có thể do đích thân Trajan chỉ huy, đã tiến qua miền đông Muntenia, vượt qua dãy Carpathian tại một địa điểm gần với nơi ngày nay là Bran, và hành quân về phía tây qua miền nam Transilvania. Phần còn lại của quân đội La Mã khởi hành từ Hạ Moesia và tiến quân qua Bran, Bratocea, và Oituz cùng với đó họ phá hủy các pháo đài của người Dacia giữa Cumidava (nay là Rasnov, thuộc Romania) và Angustia (nay là Breţcu, thuộc Romania). Trong trận đánh chinh phục Sarmizegetuza có sự tham gia của các các quân đoàn sau: II Adiutrix, IV Flavia Felix, và một vexillatio của VI Ferrata mà vào thời điểm này của cuộc chiến thì lại đang đóng quân ở Iudaea. Quân La Mã sau đó vây chặt thành Sarmizegetuza. Những đơn vị La Mã khác được cho là đã tấn công các khu định cư khác của người Dacia và hướng mũi nhọn của họ xa tới tận sông Tisa ở phía bắc, và Moldavia ở phía đông. Những khu định cư của người Dacia ở phía tây, chẳng hạn như Ziridava, đã hoàn toàn bị phá hủy trong thời kỳ này. Tuy nhiên, Moldavia và Maramureş, nằm ​​ở phía bắc Romania ngày nay, không bao giờ là một phần của tỉnh Dacia thuộc La Mã và sẽ được tự do khỏi ách thống trị của La Mã. Cuộc vây hãm. Ghi chép lịch sử duy nhất của cuộc vây hãm lại đến từ cột trụ của Trajan, mà vốn một nguồn gây tranh cãi. Có tranh luận về việc những người La Mã đã thực sự tiến đánh Sarmizegetuza, hoặc là người Dacia đã phá hủy kinh đô của họ trong khi chạy trốn trước các quân đoàn tiến đến. Hầu hết các nhà sử học đồng ý rằng một cuộc bao vây Sarmizegetuza thực sự đã diễn ra. Cuộc tấn công đầu tiên đã bị những người Dacia phòng thủ đẩy lùi. Người La Mã đã tiến hành bắn phá thành phố với các vũ khí công thành của họ và, cùng lúc đó họ xây dựng một ụ đất để có thể dễ dàng đánh chiếm các pháo đài. Họ cũng xây dựng một thành lũy bao quanh thành phố. Cuối cùng, những người La Mã đã phá hủy các đường ống nước của Sarmizegetuza và bắt buộc những người phòng thủ phải đầu hàng trước khi họ nổi lửa thiêu cháy thành phố. Sau khi kết thúc cuộc bao vây, Bicilis, một cận thần thân tín của Decebalus và cũng là người đã phản bội lại vị vua của mình, đã dẫn người La Mã đến chỗ kho báu của người Dacia, mà theo Jerome Carcopino (trang 73), bao gồm 165.000 kg vàng nguyên chất và 331.000 kg bạc ở lòng sông Sergetia (Cassius Dio 68.14). Kết quả. Decebalus và nhiều người trong số những người ủng hộ ông đã trốn thoát khỏi vòng vây của các quân đoàn trong cuộc vây hãm. Họ chạy trốn về phía đông, có lẽ là hướng về pháo đài Ranisstorum, vị trí của mà bây giờ đã mất, chỉ để bị kỵ binh La Mã bắt được. Biết được rằng những người La Mã sẽ đối xử tàn bạo đối với những tù binh chiến tranh của họ, Decebalus đã tự sát để tránh bị bắt làm tù nhân. Đầu và cánh tay phải của Decebalus sau đó đã được dâng lên cho Trajan. Người La Mã đã tổ chức lại Dacia như một tỉnh La Mã và xây dựng một thủ phủ mới cách Sarmizegetuza cũ khoảng 40 km. Thủ phủ này được đặt tên là "Colonia Ulpia Traiana Dacica Augusta Sarmizegetuza". Viện nguyên lão La Mã đã tôn vinh việc thành lập tỉnh mới này bằng cách ra lệnh đúc một loại sestertius dành riêng cho "optimus Princeps". Những mất mát trong cuộc chiến tranh này đối với người Dacia là rất nặng nề, nhưng quân đội La Mã cũng đã phải hứng chịu tổn thất đáng kể trong cuộc chinh phục Dacia. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Dacia chống lại sự cai trị của La Mã sẽ nổ ra trùng với thời điểm Trajan qua đời vào năm 117, cho thấy ảnh hưởng của vị hoàng đế đối với người Dacia sau chiến tranh.
1
null
New Plymouth (tiếng Maori Ngamotu) là một thành phố nhỏ, tỉnh Taranaki, miền tây của đảo bắc New Zealand. Nó được đặt tên theo thành phố Plymouth, nước Anh vì thực dân châu Âu đầu tiên đến từ đó. Huyện New Plymouth bao gồm thành phố New Plymouth (53 000 người), Waitara (6288 người), Inglewood (3090 người), Oakura (1359 người), Okato (531 người) và Urenui (429 người). New Plymouth là một trung tâm kính tế dịch vụ hoạt đọng của cả tỉnh Taranaki. Những lĩnh vực kinh tế bao gồm nông nghiệp (hầu hết là sữa bò), dầu thô, khí đốt và tài chính. Những nơi đặc biệt của New Plymouth là công viên Pukekura, đường đi bộ biển, đồi Paritutu và một tác phẩm nghệ thuật tên là Cây Đũa Gió (tiếng Anh "Wind Wand"). Thành phố cũng được nhận nhiều giải thưởng như "Cộng đồng lý tưởng" do chính phủ New Zealand vì nó làm đạp xe đạp và đi bộ tiện lợi. New Plymouth là một thành phố có cả hai bãi biển và ngọn núi gần kề và bạn có thể đi trượt tuyết và lướt sóng trong một ngày. Lịch sử. Năm 1828 Ông Richard "Dicky" Barrett đạt nơi buôn bán ở Ngamotu sau khi ông đến trên tàu "Adventure". Ông buon bán với người Maori địa phương và đàm phán mua đất cho một công ty tên Công ty New Zealand. Một công ty khác tên Công ty Plymouth thu hút được người di cư từ miền tây của Anh và người di cư đàu tiên đến bằng tàu "William Bryan" năm 1841. Sau khi người châu Âu đến họ bắt đàu tranh chấp với người Maori và một chiến tranh nhỏ bắt đầu năm 1860. Từ 1860 đến 1861 New Plymouth trở thành một cái pháo đài và có trên 3500 người lính của đế quốc Anh. Người Maori làm lính giởi hơn người Anh nhưng người Anh có quân đội chuyên nghiệp và sau một thời gian người Maori phải về nhà trồng trọt. Sau khoảng một năm người Anh đánh bại người Maori và cả tỉnh Taranaki dần dần hoà bình hoá. Trước người châu Âu đến New Plymouth, hầu hết tỉnh Taranaki đều là rừng hoặc cây dương xỉ. Người thực dân cắt và đốt rừng để làm trang trại. Năm 1865 một ít dầu thô được khám phá trên bờ biển và người ta bắt đầu khoan dầu năm sau. Thành phố có điện lần đầu tiên năm 1906 từ trạm thủy điện ở sông Waiwakaiho. Đường sắt được xây dựng xong giữa New Plymouth và Waitara năm 1875. Năm sau đó một cái đường sắt đi hướng nam đến Stratford được bắt đàu. Sau 11 năm nó kết nối với một đường sắt ở phía nam Taranaki và hành khách có thể đi cả đường đến thủ đô Wellington ở phía nam của đảo bắc New Zealand. Máy bay đầu tiên hạ cánh ở sân đua ngưa New Plymouth năm 1920 và chuyến bay thương mại bắt đầu năm 1937. Trong thế chiến thứ hai có một căn cứ không quân nhỏ và nó trở thành sân bay hiện đại năm 1966 khi thành phố xây dựng một đường băng bê tông. Những địa điểm hấp dẫn. New Plymouth có nổi danh vì những lễ hội như lễ hội đèn lồng, WOMAD (một lễ hội âm nhạc nghệ thuật và nhảy múa quốc tế) và nhiêu buổi ca nhạc của nhạc si quốc tế. Thành phố được xây trên đất núi lửa màu mỡ và có nhiều công viên xum xê. Quan trọng nhất là công viên Pukekura ở trung tâm thành phố và công viên Pukeiti. Pukekura là trung tâm của nhiều lễ hội trong thành phố. Vào mua hè hội đồng thành phố dặt nhiều đèn lòng trong cây công viên và tổ chức buổi ca nhạc miễn phí. Buổi tối mọi người đều đi bộ trong cây xem đèn lồng và nghe âm nhạc. Công viên Pukeiti nổi tiếng vì cây sơn lựu hoa. Mỗi năm nó lại tổ chức lễ hội cây sơn lựu hoa quốc tế. New Plymouth là thành phố bãi biển và nó có đường đi bộ đạp xe ở bờ biển dài 11 km. Nó cho người sử dựng cảnh quan ngoạn mục. Ở điểm bắt đầu của đường có nghệ thuật Cây Đũa Gió ("Wind Wand") do nghệ sẽ Len Lye. Bãi biển cũng có vài những nơi tốt nhất đi lướt sóng ở New Zealand. New Plymouth năm cách núi Taranaki 20 phút bằng xe oto. Ở đó bạn có thể đi leo núi và trượt tuyết trong mùa đông. Khí hậu. New Plymouth có khí hậu ôn hoà ẩm. Mùa hè nhiệt độ trung bình 21–22 °C và mùa đông 13 - 14 °C. Trong một năm có 1400 mm nước mưa. Nó rất ít khi có tuyết trong thành phố, chỉ một lần một thế hệ.
1
null
Các chất hoạt động bề mặt thường được đánh gia tính chất thông qua một chỉ số được gọi là Cân bằng ưa nước - ưa béo ("Hydrophilic-lipophilic balance"), viết tắt HLB. Chỉ số này được xác định bằng cách tính toán các giá trị cho các vùng của phân tử như đã được mô tả bởi Griffin trong năm 1949 và 1954. Các phương pháp khác cũng được đưa ra nhất là vào năm 1957 bởi Davies. Phương pháp của Griffin. Phương pháp của Griffin cho các chất hoạt động bề mặt không ion như đã được mô tả vào năm 1954 làm như sau: HLB = 20 x (Mh/M) Với: Mh là khối lượng phân tử của thành phần ưa nước của phân tử và M là khối lượng phân tử của toàn bộ phân tử, đưa ra kết quả trong dải từ 0-20. Giá trị HLB = 0 tương ứng với 1 phân tử ưa béo hoàn toàn. Và giá trị HLB = 20 tương ứng với 1 phân tử ưa nước hoàn toàn. Giá trị HLB có thể được sử dụng để tiên đoán các tính chất hoạt động bề mặt của 1 phân tử: HLB < 10: Có thể hòa tan béo (không thể hòa tan nước). HLB > 10: Có thể hòa tan nước (không thể hòa tan béo). Giá trị HLB từ 4-8 chỉ ra một tác nhân pha bọt. Giá trị HLB từ 7-11 chỉ ra một chất nhũ hóa hệ nước trong dầu (W/O) Giá trị HLB từ 12-16 chỉ ra một chất nhũ hóa hệ dầu trong nước (O/W) Giá trị LB từ 11-14 chỉ ra một tác nhân thấm ướt. Giá trị HLB từ 12-15 chỉ ra một tác nhân tẩy rửa. Giá trị HLB từ 16-20 chỉ ra một tác chất gây hòa tan hay hydrotrope (hợp chất mà hòa tan các hợp chất kỵ nước vào trong dung dịch nước). Phương pháp của DAVIES Vào năm 1957, Davies giới thiệu một phương pháp dựa trên cơ sở tính toán giá trị trên các nhóm của phân tử. Phương pháp này làm như sau: HLB = 7 + m * Hh - n*Hl Với: m là số các nhóm ưa nước trong phân tử. Hh là giá trị của các nhóm ưa nước. n: là số nhóm ưa béo trong phân tử. Hl là giá trị các nhóm ưa béo.
1
null
Zbigniew Preisner (phát âm gốc tiếng Ba Lan: [ˈzbiɡɲɛf ˈpɾajsnɛɾ]; sinh ngày 20 tháng 5 năm 1955 tại Bielsko-Biała, với tên khai sinh là Zbigniew Antoni Kowalski) là một nhà soạn nhạc phim người Ba Lan, được biết đến nhiều nhất qua những tác phẩm hợp tác với đạo diễn phim Krzysztof Kieślowski. Cuộc đời. Zbigniew Preisner học lịch sử và triết học tại Kraków. Cả đời chưa từng theo một đào tạo âm nhạc chính quy nào, ông tự học bằng thông qua nghe nhạc và dịch âm từ những bản nhạc sẵn có. Phong cách sáng tác của ông là một thể loại giản lược độc đáo của trường phái tonal neo-Romanticism. Ông nhận ảnh hưởng sâu sắc từ Paganini và Jean Sibelius.
1
null
Phó Toàn Hữu (; sinh tháng 11 năm 1930) là Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ("PLA"). Tiểu sử. Phó Toàn Hữu sinh tại huyện Quách (nay là Nguyên Bình), tỉnh Sơn Tây năm 1930. Ông gia nhập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tháng 10 năm 1946 và Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8 năm 1947. Ông gia nhập Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc tháng 2 năm 1953 và đã chiến đấu tại Triều Tiên cho đến tháng 10 năm 1958 khi ông trở về Trung Quốc. Năm 1960, ông tốt nghiệp Học viện Quân sự Cao đẳng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 6 năm 1985, Phó Toàn Hữu được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Thành Đô và chuyển sang giữ chức Tư lệnh Quân khu Lan Châu tháng 5 năm 1990. Ông là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khóa XII (1982 - 1987) đến khóa XV (1997 - 2002) và Đại biểu Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Quốc hội Trung Quốc) các khóa VIII và IX. Ông được thăng quân hàm Trung tướng năm 1988 và quân hàm Thượng tướng năm 1993. Tháng 10 năm 1992 đến tháng 9 năm 1995, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Ông được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tháng 9 năm 1995. Phó Toàn Hữu là Ủy viên Quân ủy Trung ương từ tháng 10 năm 1992 cho đến khi ông nghỉ hưu tháng 3 năm 2003.
1
null
Đỗ Phục Uy (杜伏威, 598?-624), sau khi quy phục triều Đường có tên là Lý Phục Uy (李伏威), là một thủ lĩnh nổi dậy chống lại sự cai trị của Tùy Dạng Đế. Ông từng có tham vọng chiếm cứ vùng Giang Hoài - khu vực bờ nam hạ du Trường Giang, song đã lựa chọn quy phục triều Đường, nhận tước hiệu Ngô Vương. Năm 622, ông đã đến kinh thành Trường An của Đường để khẳng định lòng trung thành, và ở lại. Năm 624, bộ tướng Phụ Công Thạch của ông đã nổi dậy chống Đường, còn bản thân ông qua đời đột ngột tại Trường An. Nổi dậy ban đầu. Đỗ Phục Uy là người Chương Khâu, Tề châu (齊州, nay gần tương ứng với Tế Nam, Sơn Đông). Ông được mô tả là có tính phóng khoáng khi còn trẻ tuổi, không lo kiếm sống, nhà nghèo, không thể tự nuôi sống bản thân. Hảo bằng hữu Phụ Công Thạch thường trộm cừu của thúc để trao cho Đỗ Phục Uy, khiến cả hai bị quan phủ chú ý. Hai người vì thế đã chạy trốn, và họ tập hợp người nổi dậy chống lại triều đình Tùy, ông 16 tuổi (15 tuổi tây) vào năm 613 hoặc một thời gian ngắn trước đó. Ông được mô tả là một người dũng mãnh, bất cứ khi nào quân nổi dậy giao chiến, Đỗ Phục Uy luôn ở trước tiên, và bất cứ khi nào rút lui, ông luôn đi sau cùng. Khi đó trong vùng còn có quân nổi dậy của Miêu Hải Triều (苗海潮), Đỗ Phục Uy phái Phụ Công Thạch đến nói với Miêu: Miêu Hải Triều sợ hãi, đem kì chúng quy phục Đỗ Phục Uy. Năm Đại Nghiệp thứ 9 (613), Đỗ Phục Uy suất chúng nhập Trường Bạch Sơn (長白山, nay thuộc Tân Châu, Sơn Đông), song sau đó lại tiến về phía nam, vượt Hoài Hà, tự xưng là tướng quân. Giang Đô lưu thủ khiển hiệu úy Tống Hạo (宋顥) suất binh tấn công Đỗ Phục Uy. Đỗ Phục Uy giả vờ bại trận và lừa quân Tùy mắc kẹt trong một đầm lầy, sau đó phóng hỏa đốt cháy cây cối trong đầm lầy, nhiều lính Tùy bị vây hãm trong đầm lầy và bị lửa thiêu chết. Ông giết chết một thủ lĩnh nổi dậy khác là Triệu Phá Trận (趙破陣), thu giữ binh mã của Triệu. Một thủ lĩnh nổi dậy khác là Lý Tử Thông hội quân với Đỗ Phục Uy vào năm 615, song sau đó lại cố gắng ám sát Đỗ Phục Uy. Đỗ Phục Uy thoát chết song bị thương nặng, được thuộc hạ là Vương Hùng Đản (王雄誕) cứu giúp kịp thời. Sau đó, tướng Tùy là Lai Chỉnh (來整) tiến công và đánh bại Đỗ Phục Uy, ông chạy trốn nhờ công của Vương Hùng Đản và Vương thị- thê của thuộc hạ là Tây Môn Quân Nghi (西門君儀). Quân của Đỗ Phục Uy tan rã, song ông đã tập hợp lại lực lượng ngay sau đó. Cũng trong khoảng thời gian này, Đỗ Phục Uy tuyển chọn 30 tráng sĩ trong số binh lính của mình, và xem họ là "dưỡng tử", mặc dù khi đó ông mới có 17 tuổi. Những người tài cán nhất trong số các "dưỡng tử" này là Vương Hùng Đản và Khám Lăng (闞稜). Do Đỗ Phục Uy và Phụ Công Thạch là hảo bằng hữu và xem nhau như huynh đệ, các binh sĩ xem Đỗ Phục Uy là "cha", và xem Phụ Công Thạch là "chú". Tranh giành vùng hạ du Trường Giang. Mùa thu năm 616, Đỗ Phụ Uy lập căn cứ địa tại Lục Hợp (六合, nay thuộc Nam Kinh, Giang Tô). Lý Tử Thông và Tả Tương Tài (左相才) cũng đóng quân gần đó, và Tùy Dạng Đế khi đó đang ở Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô) biết tin liền phái hữu ngự vệ tướng quân Trần Lăng (陳稜) suất 8.000 tinh binh đi đánh Đỗ Phục Uy. Thoạt đầu, Trần Lăng giành được một số chiến thắng, song đến mùa xuân năm 617, Đỗ Phục Uy đã cố ý chọc tức Trần Lăng khi gửi y phục phụ nữ cho Trần Lăng và trong thư gọi Trần Lăng là "Trần mỗ" ("bà già Trần"). Trần Lăng quả nhiên rất tức giận, vội vã tiến công trong khi chưa chuẩn bị kỹ, kết quả là bị Đỗ Phục Uy đánh bại song may mắn chạy thoát. Sau đó, Đỗ Phục Uy công chiếm Cao Bưu (高郵, nay thuộc Dương Châu) rồi Lịch Dương (歷陽, nay thuộc Sào Hồ, An Huy), biến Lịch Dương thành căn cứ địa và xưng là Lịch Dương tổng quản. Sau đó, ông tập hợp được thêm quân từ các phiến quân địa phương. Khoảng thời gian này, Đỗ Phục Uy lựa chọn ra 5.000 binh sĩ cảm tử và gọi họ là "thượng mộ" (上募), đối đãi tốt và đồng cam cộng khổ với họ. Bất cứ khi nào giao chiến, Thượng mộ sẽ đánh trước, và sau khi giao chiến thì họ sẽ canh chừng phía sau. Sau trận chiến, Đỗ Phục Uy sẽ kiểm tra lưng của các Thượng mộ, nếu ai có vết thương ở trên lưng thì sẽ bị xử tử vì bị quy tội đã thoát lui khi chưa được phép. Bản thân Đỗ Phục Uy không thu gom của cải, song ông chia các chiến lợi phẩm cho các binh sĩ. Nếu tướng sĩ nào chiến tử, Đỗ Phục Uy sẽ buộc thê thiếp của người đó tuẫn táng. Các hành động của ông đã nâng cao tinh thần chiến đấu cho binh sĩ. Vào mùa xuân năm 618, tướng Vũ Văn Hóa Cập tiến hành binh biến sát hại Tùy Dạng Đế rồi tôn Dương Hạo làm hoàng đế, từ bỏ Giang Đô và dẫn quân tiến về phía bắc. Trước khi Vũ Văn Hóa Cập rời Giang Đô, ông ta phái sứ giả đến chỗ Đỗ Phục Uy, bổ nhiệm Đỗ Phục Uy làm Lịch Dương thái thú. Đỗ Phục Uy từ chối quy phục Vũ Văn Hóa Cập, thay vào đó ông thượng biểu quy phục trên danh nghĩa Dương Đồng ở Lạc Dương. Dương Đồng phong cho Đỗ Phục Uy làm Đông đạo đại tổng quản, phong tước Sở Vương. Đỗ Phục Uy di cư đến Đan Dương, tiến dụng nhân sĩ, đại tu khí giới, thu thuế, bỏ luật tuẫn táng, những kẻ cướp bóc gian ác và quan lại tham ô bất kể nặng nhẹ đều bị giết. Trong khi đó, Đỗ Phục Uy tiến hành tranh giành quyền kiểm soát khu vực với Trần Lượng- người chiếm cứ Giang Đô sau khi Vũ Văn Hóa Cập rời đi; Lý Tử Thông có căn cứ ở Hải Lăng (海陵, nay thuộc Thái Châu, Giang Tô); và Thẩm Pháp Hưng có căn cứ ở Bì Lăng (毗陵, nay thuộc Thường Châu, Giang Tô). Vào mùa thu năm 619, Lý Tử Thông bao vây Trần Lăng ở Giang Đô, Trần Lăng cầu viện cả Thẩm Pháp Hưng và Đỗ Phục Uy, Đỗ Phục Uy đã đích thân dẫn quân đến giải vây cho Giang Đô, trong khi Thẩm Pháp Hưng phái con là Thẩm Quan (沈綸) dẫn quân đến. Lý Tử Thông đã mộ người Giang Nam giả làm binh lính của Thẩm để tiến công quân của Đỗ vào ban đêm, Đỗ Phục Uy không nhận ra nên đã phái binh tiến đánh quân Thẩm. Hai đội quân này tiến đánh lẫn nhau, không thể hỗ trợ được cho Trần Lăng nữa, Lý Tử Thông sau đó đã chiếm được Giang Đô, Trần Lăng chạy đến chỗ Đỗ Phục Uy. Cả Thẩm Quan và Đỗ Phục Uy đều triệt thoái, Lý Tử Thông chiếm được khu vực quanh Giang Đô, tự xưng đế. Tại Lạc Dương, Vương Thế Sung đã buộc Dương Đồng phải thiện nhượng, kết thúc triều Tùy và lập nên nước Trịnh, trước tình thế này, lại có sứ giả Đường đến chiêu hàng, Đỗ Phục Uy quyết định quy phục triều Đường. Năm 620, Đường Cao Tổ khiển sứ ban cho Đỗ Phục Uy làm Đông Nam đạo hành đài thượng thư lệnh, Giang Hoài dĩ nam an phủ đại sử, Thượng trụ quốc, phong làm Ngô Vương, ban cho họ Lý của hoàng tộc Đường, phong con của Phục Uy là Đức Tuấn làm Sơn Dương công, thưởng 5.000 tấm vải, 300 con ngựa. Quy phục triều Đường. Cũng trong năm 620, Lý Tử Thông tiến công Thẩm Pháp Hưng, chiếm được một số thành lớn, trong đó có Kinh Khẩu (京口, nay thuộc Trấn Giang, Giang Tô), Đan Dương (丹楊, nay thuộc Nam Kinh), và đô thành Bì Lăng của Thẩm Pháp Hưng. Sau đó Lý Phục Uy lại phái Phụ Công Thạch cùng Khám Lăng và Vương Hùng Đản đi đánh Lý Tử Thông. Lý Tử Thông chiến bại, phải bỏ Giang Đô và chạy về Kinh Khẩu, rồi sau lại tiếp tục tiến về phía đông, tiến công và đoạt lấy lãnh thổ còn lại của Thẩm Pháp Hưng. Vùng trung bộ và nam bộ Giang Tô về tay Lý Phục Uy, Lý Phục Uy rời căn cứ địa từ Lịch Dương đến Đan Dương. Vào mùa xuân năm 621, Tần Vương Lý Thế Dân của Đường cho quân bao vây kinh thành Lạc Dương của Trịnh, Đỗ Phục Uy đã phái các bộ tướng là Trần Chính Thông (陳正通) và Từ Thiệu Tông (徐紹宗) suất 2.000 binh đến hội với Lý Thế Dân. Trần và Từ đã chiếm được Lương Thành (梁城, nay thuộc Nhữ Châu, Hà Nam) của Trịnh. Vào mùa đông năm 621, Lý Phục Uy phái Vương Hùng Đản suất quân tiến công Lý Tử Thông. Vương Hùng Đản đã lừa cho Lý Tử Thông đưa quân trở về Hàng Châu, sau lại buộc Lý Tử Thông đầu hàng. Lý Phục Uy cho giải Lý Tử Thông và thượng thư tả bộc dạ Lạc Bá Thông (樂伯通) của người này đến kinh thành Trường An của Đường, song Đường Cao Tổ đã tha cho họ. Vương Hùng Đản sau đó cũng buộc hai thủ lĩnh nổi dậy lớn khác là Uông Hoa (汪華) và Văn Nhân Toại An (聞人遂安) phải đầu hàng. Vào thời điểm đó, Lý Phục Uy kiểm soát toàn bộ lãnh thổ hạ du Trường Giang và bờ nam Hoài Hà, xa về phía nam đến Tiên Hà Lĩnh (仙霞嶺, tức khoảng ranh giới giữa hai tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến ngày nay). Qua đời. Thời điểm này, mặc dù bề ngoài vẫn xem Phụ Công Thạch là huynh đệ, song Phục Uy trong lòng đã nghi ngờ Phụ Công Thạch, vì thế ông cho Vương Hùng Đản và Khám Lăng nắm binh quyền trên thực tế. Phụ Công Thạch nhận ra rằng Lý Phục Uy nghi ngờ mình, trở nên bực tức, song giả bộ mất hứng thú với sự đời, thay vào đó cùng với một cố nhân là Tả Du Tiên (左遊仙) vờ học giả kim thuật. Lý Phục Uy cũng được mô tả là quen thuộc với giả kim thuật nhằm cố gắng kéo dài tuổi thọ, ông thường xuyên dùng mica mặc dù trong đó có nhiều chất độc. Vào mùa thu năm 622, Lý Thế Dân tiến công và chiếm ưu thế trước Lỗ Vương Từ Viên Lãng, quân Đường ở ngay sát lãnh địa của Lý Phục Uy. Lý Phục Uy lo sợ triều Đường hoài nghi lòng trung thành của mình nên đã quyết định cùng Khám Lăng đến kinh thành Trường An yết kiến Đường Cao Tổ. Trước khi đi, Lý Phục Uy trao lại quyền thống lĩnh quân lính cho Phụ Công Thạch, Vương Hùng Đản làm phó song nắm quyền trên thực tế, Lý Phục Uy bí mật nói với Vương Hùng Đản cần đề phòng Phụ Công Thạch làm biến. Khi Lý Phục Uy đến Trường An, được Đường Cao Tổ đối đãi đặc biệt, như cho phép Phục Uy ngồi trên bảo tọa, và trong dịp khác đã tôn vinh ông còn cao hơn hoàng tử Lý Nguyên Cát. Tuy nhiên, Đường Cao Tổ không cho Phục Uy và Khám Lăng trở về Đan Dương. Vào mùa xuân năm 623, Đường Cao Tổ phong Đỗ Phục Uy làm 'thái tử thái bảo', 'hành đài thượng thư lệnh'. Trong khi đó, vàu mùa thu năm 623, Phụ Công Thạch đã đoạt lấy binh quyền của Vương Hùng Đản và nổi dậy, tuyên bố rằng Phục Uy đã bị bắt và bí mật hạ lệnh cho ông ta nổi dậy chống Đường. Vào mùa xuân năm 624, Phục Uy đột ngột qua đời, theo chính sử thì nguyên nhân cái chết là ông trúng độc do hậu quả từ những lần thực hiện giả kim thuật, nhưng cũng có quan điểm rằng ông bị Đường Cao Tổ ra lệnh ám sát. Sau khi Triệu quận vương Lý Hiếu Cung (một thành viên hoàng tộc Đường) đánh bại và giết chết Phụ Công Thạch, Lý Hiếu Cung tin vào lời khai của Phụ Công Thạch rằng hành động nổi dậy là theo lệnh của Phục Uy, vì thế đã thượng tấu Đường Cao Tổ. Đường Cao Tổ hạ lệnh bãi mọi tước hiệu của Phục Uy, thê tử của ông bị bắt làm nô bộc. Sau khi Lý Thế Dân đăng cơ, tức Đường Thái Tông, vào năm 626, do biết rằng Phục Uy không tham gia vào âm mưu nổi dậy của Phụ Công Thạch, Đường Thái Tông đã phục quan tước cho Phục Uy, phóng thích thê tử của ông, cải táng theo nghi lễ dành cho công tước.
1
null
Nghi phi Quách Lạc La thị (chữ Hán: 宜妃郭络罗氏, ? - 1733), Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là một phi tần rất được sủng ái của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế. Bà là một phi tần nổi tiếng được sủng ái của Khang Hi Đế và cũng là một trong những tần phi có nhiều con của triều Khang Hi. Con trai thứ của bà, Hoàng cửu tử Dận Đường, nổi tiếng bằng việc tham gia "Cửu vương đoạt đích" cuối thời Khang Hi, cùng Ung Chính Đế căng thẳng. Nghi phi trong tang lễ của Khang Hi Đế, từng công khai không nể mặt Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu - mẹ sinh của Ung Chính Đế, và điều này khiến tân Hoàng đế phải ra chỉ dụ trách cứ bà. Đại Thanh tần phi. Nghi phi có họ Quách Lạc La thị (郭络罗氏), xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, phụ thân là Chính tứ phẩm Tá lĩnh Tam Quan Bảo (三官保). Trong Bát kỳ thị tộc thông phổ (八旗氏族通谱) ghi rõ: ["A Khải, người Tương Hoàng kỳ, cháu tên Tam Quan Bảo nguyên nhậm Công bộ Thị lang kiêm Tá lĩnh"]. Chức vị của Tam Quan Bảo, thuộc hàng Tứ phẩm võ quan, ở tại Thịnh Kinh kiêm thêm "Nội vụ phủ Quan phòng ấn" (内务府关防印). Năm Khang Hi thứ 16 (1677), tháng 8, Khang Hi Đế đại phong hậu cung, sách lập Nữu Hỗ Lộc thị làm Hoàng hậu, Quách Lạc La thị cùng Lý thị, Vương Giai thị... được sách phong Tần, phong hiệu Nghi tần (宜嬪), là một trong 7 vị Tần đương thời khi ấy dù theo Hậu cung nhà Thanh chỉ có 6 Tần, nhưng Khang Hi Đế vẫn phá lệ. Tháng 12 năm thứ 18 (1679), Nghi tần Quách Lạc La thị hạ sinh Hoàng ngũ tử Dận Kì. Năm Khang Hi thứ 20 (1681), tấn phong Quý phi Đông thị làm Hoàng quý phi, bà được chính thức tấn phong Nghi phi (宜妃). Theo thứ tự chỉ dụ, thì bà chỉ xếp sau Huệ phi Na Lạp thị có tư lịch rất lâu, còn thì đều trên Đức phi Ô Nhã thị cùng Vinh phi Mã Giai thị - phi tần sinh nhiều con nhất và sủng ái nhất của Khang Hi Đế . Sinh thời bà cư ngụ Dực Khôn cung thuộc Tây lục cung. Sách văn viết: Năm Khang Hi thứ 22 (1683), Nghi phi hạ sinh Hoàng cửu tử Dận Đường. Đến năm thứ 24 (1685), Nghi phi hạ sinh Hoàng thập nhất tử Dận Tư. Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Khang Hi Đế băng hà, Ung Chính Đế nối ngôi, tấn phong sinh mẫu Đức phi Ô Nhã thị lên ngôi Nhân Thọ Hoàng thái hậu. Khi cử hành đại lễ tang nghi, Nhân Thọ Hoàng thái hậu là mẹ Tân đế, dĩ nhiên đứng đầu hàng khóc tang, thế nhưng Nghi phi Quách Lạc La thị ngã bạo bệnh, vẫn ngồi kiệu 4 người khiêng đến linh tiền trí tế Tiên đế, làm nhục mặt Thái hậu, điều này khiến Ung Chính Đế rất tức giận và ra chỉ trách cứ. Sau đó, vào năm đầu Ung Chính (1723), Nghi phi ra ở phủ đệ của Hoàng ngũ tử Hằng Thân vương Dận Kì. Năm Ung Chính thứ 11 (1733), ngày 25 tháng 8, Nghi phi Quách Lạc La thị qua đời tại phủ đệ Hằng Thân vương. Năm Càn Long thứ 2 (1737), quan tài của Nghi phi nhập táng Phi viên tẩm của Cảnh lăng (景陵), thuộc Thanh Đông lăng. Tương quan. Nghi phi từ khi phong Phi rất được Khang Hi Đế sủng ái, bà đã ỷ sủng sinh kiêu, tranh sủng với Đức phi Ô Nhã thị; dự vào một trong "Khang Hi Ngũ phi" thời kỳ đầu của Khang Hi Đế, bên cạnh Đức phi, Huệ phi Nạp Lạt thị, Vinh phi Mã Giai thị và Lương phi Vệ thị. Sau khi Lương phi qua đời, lại thay thế bằng Hòa phi Qua Nhĩ Giai thị, Tuyên phi Bác Nhĩ Tể Cát Đặc thị và Thành phi Đới Giai thị, đó gọi là [Khang Hi Thất phi]. Cha của bà Tam Quan Bảo tuy giữ chức Tá lĩnh hàng Tứ phẩm, song quyền lực lớn hơn nhiều, giữ Nội vụ phủ chưởng quản tại Thịnh Kinh (Thẩm Dương), điều hành nhiều việc quan trọng nên do đó trong số chúng phi, cũng dễ hiểu vì sao địa vị Nghi phi rất cao, và việc Nghi phi có sủng ảnh hưởng không nhỏ đến sự trọng dụng của Tam Quan Bảo. Trong 3 lần Đông tuần của Khang Hi Đế thì có tới 2 lần khi dừng chân tại Thịnh Kinh, ông đã ở tại nhà của Tam Quan Bảo. Tương truyền, khi Khang Hi Đế ra ngoài lâu, sẽ sai người đến Dực Khôn cung báo bình an thư, lại sai đưa sản vật địa phương đến cho bà. Sách Vinh hiến lục (永宪录) cũng nhận xét về Nghi phi đặc biệt được Khang Hi Đế chuyên sủng, là "Quyến cố tối thâm" (Nguyên văn: 眷顾最深). Nghi phi cũng có một người em gái được nhập cung, phong Quý nhân và sinh được Hoàng tử Dận Vũ (胤䄔) cùng Lục nữ Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa. Nghi phi là mẹ của Hoàng cửu tử Dận Đường, là địch thủ chính trị trong cuộc tranh đoạt Hoàng vị của Ung Chính Đế. Khi Khang Hi Đế vừa băng, Nghi phi dùng kiệu 4 người đến trước linh tiền của Tiên đế, vượt trên vị trí vốn có của Nhân Thọ Hoàng thái hậu (tức Đức phi), không hề kiêng dè, Ung Chính Đế phải ra chỉ trách cứ: Hậu cung bài tự. Căn cứ 《Khâm định đại thanh hội điển tắc lệ》cuốn 42, hậu phi bài vị trình tự ghi lại: Trong văn hóa đại chúng. Được diễn bởi Đặng Tiệp trong phim truyền hình Khang Hy vi hành.
1
null
Roberto Carvalho de Azevedo (sinh ngày 03 tháng 10 năm 1957) là một nhà ngoại giao Brasil và người đại diện của Brazil tại Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 2008. Trong tháng 5 năm 2013, ông được bầu làm Tổng giám đốc của Tổ chức Thương mại Thế giới, kế nhiệm Pascal Lamy sau ngày 1 tháng 9 năm 2013. Theo kết quả vòng cuối bỏ phiếu kín, ông Azevedo đã được bầu với tỷ lệ với 93/159 phiếu ủng hộ, cao hơn so với số phiếu cần thiết (80), ông Roberto Carvalho de Azevedo đã đánh bại đối thủ là cựu Bộ trưởng Thương mại Mexico Herminio Blanco trong cuộc họp kín diễn ra tại trụ sở WTO ở Genève, Thụy Sĩ. Ông thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha cũng như tiếng Bồ Đào Nha mẹ đẻ của ông, Azevedo Azevedo đã tốt nghiệp ngành kỹ sư điện tử tại Đại học Brasilia và ngành quan hệ quốc tế tại Viện Branco Rio. và làm việc tại Bộ Ngoại giao Brasil từ năm 1983. Ông là đại diện thường trực của Brazil tại WTO từ năm 2008 và là nhà thương lượng hàng đầu của Brazil tham gia vòng đàm phán Doha về tự do hóa thương mại vốn được khởi động từ năm 2001. Roberto vào ngành ngoại giao Brazil vào năm 1984 và đã phục vụ trong Đại sứ quán Brazil ở thủ đô Washington (1988-1991) và Montevideo (1992-1994) cũng như một phần của Phái đoàn thường trực của Brazil tại Geneva (1997-2001). Ông đã từng đảm nhận các chức vụ sau: Từ năm 2008 Azevedo đã đại diện cho Brazil tại Geneva trước các tổ chức kinh tế khác nhau, trong đó có WTO. Ông là một trong những nhà thương thuyết chính của Brazil trong tranh chấp bông vải Hoa Kỳ-Brasil và tranh chấp thương mại khác. Ông cũng là trưởng đoàn đàm phán của Brazil tại vòng đàm phán Doha..
1
null
Dreaming of You là album phòng thu thứ năm và cũng là cuối cùng của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Selena, phát hành ngày 18 tháng 7 năm 1995 bởi EMI Latin và EMI Records. Sau khi ký hợp đồng thu âm với EMI Latin vào năm 1989, họ đã từ chối kế hoạch cho Selena chéo sân nhạc tiếng Anh sau khi cô thực hiện ba bản thu nháp. Năm 1993, Selena ký hợp đồng với SBK Records để bắt đầu thu âm album chéo sân đầu tay sau khi được đề cử giải Grammy cho "Live" (1993), và trở thành tin tức trang nhất trên tạp chí "Billboard". Vào tháng 3 năm 1994, nữ ca sĩ phát hành album thứ tư "Amor Prohibido", đồng thời tiết lộ trong những cuộc phỏng vấn rằng dự án album tiếng Anh vẫn đang được phát triển. Quá trình thu âm cho "Dreaming of You" bắt đầu vào tháng 12 năm 1994; Selena đã thu âm bốn bản nhạc cho album. Vào ngày 31 tháng 3 năm 1995, cô bị sát hại bởi Yolanda Saldívar, một cựu quản lý cửa hàng Selena Etc. sau những tranh cãi liên quan đến cáo buộc biển thủ. "Dreaming of You" là tập hợp những bài hát từng phát hành trước đó, cũng như một số tác phẩm tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha chưa từng ra mắt vốn được thu âm từ năm 1992 đến 1995. Nó là sự pha trộn giữa nhạc pop Mỹ và nhạc Latinh, với nửa đầu bao gồm những bản R&B và pop ballad, trong khi nửa sau khai thác âm nhạc Latinh của Selena. Album ngay lập tức gặt hái những thành công lớn về mặt thương mại, ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng "Billboard" 200 với 331,000 bản, trở thành album đầu tiên với phần lớn tiếng Tây Ban Nha làm được điều này, đồng thời phá vỡ một số kỷ lục tiêu thụ lúc bấy giờ trong ngày đầu lẫn tuần đầu phát hành đối với một nghệ sĩ nữ kể từ khi Nielsen Soundscan bắt đầu theo dõi doanh số album vào năm 1991. "Billboard" mô tả đây là một sự kiện "lịch sử", trong khi "Time" cho biết bản thu âm đã nâng tầm âm nhạc của Selena đến với nhiều khán giả hơn. Nó chiến thắng giải Album của năm tại giải thưởng âm nhạc Tejano năm 1996 và Album Pop nữ của năm tại giải thưởng Âm nhạc "Billboard" Latinh lần thứ 3. Sáu đĩa đơn đã được phát hành từ "Dreaming of You", trong đó "I Could Fall in Love", "Tú Sólo Tú", "Techno Cumbia", và "Dreaming of You" vươn đến top 10 trên bảng xếp hạng Latinh ở Hoa Kỳ. Bài hát chủ đề cũng trở thành đĩa đơn xếp hạng cao nhất trong sự nghiệp của Selena trên "Billboard" Hot 100, đạt vị trí thứ 22. Kể từ khi phát hành, nó được liệt kê như là một những album hay nhất và quan trọng nhất kỷ nguyên rock and roll, và nhiều hãng truyền thông cũng xếp đĩa hát nằm trong số những tác phẩm di cảo tốt nhất. Khi "Dreaming of You" đạt vị trí số một, nhạc Tejano bắt đầu xâm nhập thị trường nhạc đại chúng, trong đó các nhà phê bình âm nhạc đánh giá rằng dân số chung của Hoa Kỳ sẽ không biết về Tejano hay nhạc Latinh nếu không có "Dreaming of You". Nó được chứng nhận 59 đĩa Bạch kim (thể loại Latinh) bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), công nhận doanh số tiêu thụ đạt 3.549 triệu đơn vị album tương đương tại đây, và vẫn là album Latinh bán chạy nhất mọi thời đại ở Mỹ tính đến tháng 12 năm 2020. Tổng quan. Vào những năm 1960, cha của Selena Abraham Quintanilla, Jr. trở thành giọng ca thứ ba của Los Dinos, một nhóm nhạc người Mỹ gốc México. Ban nhạc bắt đầu sự nghiệp khi chơi nhạc doo-wop bằng tiếng Anh, dẫn đến việc một bộ phận người Mỹ da trắng cảm thấy bị xúc phạm khi một ban nhạc người Mỹ gốc Mexico hát "loại nhạc của họ". Sau khi bị một đám đông người Mỹ gốc Mexico rượt đuổi khỏi hộp đêm vì hát những bài hát tiếng Anh, ban nhạc quyết định biểu diễn âm nhạc truyền thống của họ. Los Dinos bắt đầu thành công từ việc thu âm và trình diễn những bản nhạc tiếng Tây Ban Nha với độ nổi tiếng ngày càng tăng. Quintanilla, Jr. rời ban nhạc vào những năm 1970 sau khi có con thứ ba, Selena. Ngay khi phát hiện khả năng ca hát của Selena, ông nhanh chóng tập hợp những người con của mình để thành lập một ban nhạc có tên Selena y Los Dinos. Mặc dù muốn thể hiện những bài hát tiếng Anh, ban nhạc bắt đầu thu âm các tác phẩm nhạc Tejano; một thể loại tiếng Tây Ban Nha do nam giới thống trị với những ảnh hưởng từ Đức của polka, jazz và nhạc đồng quê vốn rất phổ biến trong cộng đồng người Mexico sống ở Hoa Kỳ. Ban nhạc bị các tụ điểm âm nhạc ở Texas từ chối hoạt động vì tuổi tác của các thành viên và vì Selena là ca sĩ chính. Rick Trevino, nhà sáng lập giải thưởng Âm nhạc Tejano, ban đầu tiếp cận La Sombra để mở màn cho lễ trao giải năm 1989, sau Selena y Los Dinos. Giọng ca chính của ban nhạc Frank Sunie đã từ chối lời đề nghị, nói với Trevino rằng ông "không mở màn cho bất kỳ ai". Trevino sau đó gọi cho Quintanilla, Jr. để ngỏ ý mở đầu buổi lễ. Quintanilla, Jr. ngay lập tức chấp nhận lời đề nghị, nói rằng đó là "thời điểm tốt nhất, bởi mọi người đều điềm tĩnh. Họ điềm tĩnh khi lắng nghe nghệ sĩ và âm nhạc." Vốn không biết đến Quintanilla, Jr. và Selena, người đứng đầu mới của Sony Music Latin và José Behar, người vừa thành lập EMI Latin Records, tham dự lễ trao giải và đang tìm kiếm những nghệ sĩ Latinh mới. Behar muốn ký hợp đồng với Selena cho Capitol Records của EMI, trong khi Sony Music Latin đề nghị Quintanilla, Jr. gấp đôi số tiền của Capitol. Behar nghĩ rằng ông vừa phát hiện ra Gloria Estefan tiếp theo, nhưng cấp trên ở hãng đĩa gọi điều đó là phi thực tế vì ông chỉ mới ở Texas được một tuần. Quintanilla, Jr. chọn EMI Latin bởi tiềm năng thâm nhập thị trường nhạc tiếng Anh, đồng thời muốn các con trở thành những nghệ sĩ đầu tiên ký hợp đồng với công ty. Trước khi Selena ký hợp đồng với EMI Latin vào năm 1989, Behar và Stephen Finfer đề nghị Selena thu âm một album đầu tay bằng tiếng Anh. Cô được yêu cầu thực hiện ba bản thu nháp cho Charles Koppelman, chủ tịch của EMI Records. Sau khi xem xét chúng, Koppelman từ chối một nỗ lực chéo sân, tin rằng Selena trước tiên nên củng cố nền tảng người hâm mộ của mình. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2007, Behar nói về khó khăn khi thu âm tác phẩm tiếng Anh đầu tiên cho Selena, tiết lộ rằng EMI "khiến tất cả chúng tôi tin rằng cô ấy sẽ hát nhạc tiếng Anh, nhưng cuối cùng lại không xảy ra dù bất cứ lý do gì". Behar cho biết hãng đĩa "không tin tưởng, họ không nghĩ điều đó có thể xảy ra", đồng thời liên tục nói với Selena và cha cô rằng "đây không phải là thời điểm thích hợp" cho màn ra mắt thị trường tiếng Anh. Selena ký hợp đồng thu âm với công ty con SBK Records của EMI vào tháng 11 năm 1993, sau khi cô được đề cử giải Grammy cho "Live" (1993). Tin tức về hợp đồng thu âm của nữ ca sĩ xuất hiện trên trang nhất của tạp chí "Billboard". Trong một cuộc họp năm 1994, Selena bày tỏ cảm giác có lỗi của mình với Behar; Selena đã nói với phóng viên về album chéo sân sắp tới của cô và tiết lộ rằng đĩa hát sẽ sớm được phát hành. Vào thời điểm đó, Selena chưa thu âm một bài hát nào cho kế hoạch ra mắt nhạc tiếng Anh. Behar sau đó nói với Koppelman rằng Selena và ban nhạc của cô sẽ rời EMI và tìm một hãng đĩa sẵn sàng thu âm một album tiếng Anh cho Selena. Behar đã nói dối chủ tịch nhằm thực hiện hóa kế hoạch cho một album chéo sân; EMI đồng ý và những buổi thu âm bắt đầu. Selena cho biết cô cảm thấy lo lắng trước thỏa thuận thu âm mới vì tình huống này còn quá mới mẻ với nữ ca sĩ và rất ít người tin rằng cô sẽ thành công ở thị trường nhạc pop. Thu âm và sản xuất. Theo Betty Cortina của tạp chí "People", "Dreaming of You" đánh dấu bước tiến lớn của Selena khi nữ ca sĩ được quảng bá như một ca sĩ hát đơn người Mỹ theo cách "nguyên bản nhất cho cô", thay vì là một phần của ban nhạc gia đình. Từ năm 1989, anh trai của Selena A.B. Quintanilla trở thành nhà sản xuất âm nhạc kiêm nhạc sĩ chính cho Selena, và điều đó vẫn tiếp diễn xuyên suốt sự nghiệp của cô. Do Quintanilla III đang thực hiện album tiếp theo của cô sau "Amor Prohibido" (1994), anh đã không thể tham gia sản xuất album chéo sân. Anh được yêu cầu gặp gỡ một số nhà sản xuất ở New York và chọn ra người "phù hợp nhất với phong cách của Selena". "Dreaming of You" là đĩa hát đầu tiên của Selena mà gia đình cô không sản xuất. Họ quyết định rút lui trước quá trình thu âm và cho phép các nhà sản xuất nhạc pop chuyên nghiệp làm việc với cô. Quintanilla III và Selena bay đến Nashville, Tennessee để gặp Keith Thomas, người đã chuẩn bị phần nhạc cho một bài hát có tên "I Could Fall in Love" nhưng chưa hoàn thiện phần giọng hát, vì vậy ông quyết định hát trực tiếp cho họ. Selena và Quintanilla III ngay lập tức thích nó; Quintanilla III cho biết anh muốn Selena đưa bản nhạc vào album của cô. Những buổi thu bắt đầu vào tháng 12 năm 1994 tại The Bennett House ở Franklin, Tennessee; Selena phải quay lại sau để Thomas bổ sung thêm một số phần hát. Selena và chồng của cô Chris Pérez đến phòng thu vào ngày 24 tháng 3 năm 1995 để hoàn tất việc thu âm nó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2002, Pérez nói rằng Thomas đã đưa cho Selena một cuộn băng của "I Could Fall in Love" và tiết lộ rằng cô nghe nó "lặp đi lặp lại" và cô "hẳn đã nghe bản nhạc cả trăm lần". Anh tin rằng nó có "ảnh hưởng đến cô ấy" bởi "ngày hôm sau Selena vào phòng thu để thu âm và tuần tự hoàn thiện mọi thứ và [Thomas] để cô ấy thể hiện theo cách riêng của mình; chứng kiến điều đó thực sự là một trải nghiệm rất tuyệt vời". EMI Records, một công ty có nhiều kinh nghiệm hơn trong thị trường nhạc pop, đã điều hành dự án và cho phép Selena chọn một bài hát mà cô thích. Chị gái cô và là tay trống của ban nhạc, Suzette Quintanilla, cho biết trong một cuộc phỏng vấn năm 1997 rằng nữ ca sĩ vô cùng thận trọng để chọn ra một bài hát đại diện cho "bản ngã của Selena là gì". Cô chọn "Dreaming of You", được viết bởi hai nhạc sĩ người Mỹ Franne Golde và Tom Snow vào năm 1989 cho nhóm nhạc R&B Mỹ The Jets nhưng bị từ chối. Theo Snow, Golde "không bao giờ từ bỏ bản nhạc và cuối cùng nó đã đến được với Selena". Khi Quintanilla III nghe bản thu nháp, anh nói với Selena rằng anh không thích bài hát, nhưng cô đáp lại rằng mình sẽ thu âm nó bởi cô thích nội dung và thông điệp trữ tình của nó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2002, Quintanilla III nói rằng anh "khắt khe" đối với bản thu nháp hơn là chính tác phẩm và chỉ ra rằng phần hòa âm, nội dung và cấu trúc bài hát đã thay đổi suy nghĩ của anh. Selena bắt đầu thu âm "Dreaming of You" vào ngày 5 tháng 3 năm 1995, tại hãng thu âm Q-Productions của Quintanilla, Jr. ở Corpus Christi, Texas. Trong buổi thu, Selena bị viêm phế quản. Quintanilla, Jr. muốn cô "chỉ cần thử" hát nó vì một số nhà sản xuất đến từ Los Angeles đang theo dõi nữ ca sĩ thu âm. Các nhà sản xuất đều thích chất giọng của Selena trong bài hát và quyết định sử dụng lần hát đầu tiên của cô. Nhà sản xuất người Mỹ Guy Roche đã sản xuất và cải biên tác phẩm cùng với "Captive Heart". Sau khi hoàn tất quá trình cải biên cho "Dreaming of You", Selena muốn Pérez nghe thành phẩm. Tuy nhiên, anh không thể có mặt bởi Quintanilla, Jr. muốn anh làm việc với một ban nhạc ông đang quan tâm. Năm 2012, Pérez chia sẻ trong cuốn sách về mối quan hệ của anh và Selena rằng bản thân rất tiếc vì không thể đến buổi thu âm. Album được lên kế hoạch hoàn tất để kịp phát hành dự kiến vào tháng 9 hoặc tháng 10 năm 1995, trong đó những bài hát được đánh dấu để thu âm và có thể đưa vào album bao gồm "Oh No (I'll Never Fall in Love Again)" và "Are You Ready to Be Loved?"; những đoạn băng hát thử hai bản nhạc sau đó được phát hành trên SelenaQRadio lần lượt vào tháng 9 và tháng 12 năm 2015. Selena thu âm "God's Child (Baila Conmigo)", một bản song ca với David Byrne để đưa vào phần nhạc của bộ phim hài năm 1995 "Blue in the Face". Byrne cho biết nó là tác phẩm cuối cùng được Selena thu âm trước khi cô bị sát hại bởi Yolanda Saldívar, một người bạn và cựu quản lý cửa hàng Selena Etc. vào ngày 31 tháng 3 năm 1995. Tiếp đó, EMI Records và EMI Latin đầu tư để hoàn thành "Dreaming of You". Behar cho biết kế hoạch quảng bá "sẽ ở tầm cỡ siêu sao" và tuyên bố "[chúng tôi] không xúc tiến chiến dịch quảng bá này chỉ để lợi dụng lý do rằng có một thảm kịch vừa xảy ra. Chúng tôi làm điều này vì tin rằng đây sẽ là một album vượt trội bởi chính âm nhạc của nó. Đây là bản thu mà chúng tôi sẽ làm việc trong 10 tháng sắp tới." Nhạc và lời. "Dreaming of You" là một tác phẩm đa thể loại thuộc nhạc pop Mỹ và nhạc Latinh. Nó kết hợp những ảnh hưởng đa dạng của techno, hip-hop, pop rock, dance-pop, nhạc khu vực Mexico, Tejano, R&B, disco và flamenco. Nửa đầu album bao gồm những bản R&B và pop ballad, trong khi phần còn lại khai thác những âm hưởng Latinh vốn định hình sự nghiệp của Selena trước đó. Nhiều nhà phê bình âm nhạc cho rằng các nhà sản xuất làm việc với Selena đã cố gắng khắc họa âm nhạc của cô tương tự như Paula Abdul, Amy Grant, Céline Dion, Whitney Houston, Mariah Carey và Madonna. Tạp chí "Newsweek" gọi những bản thu tiếng Anh của Selena là "sự pha trộn giữa nhạc pop đường phố và sự ấm áp của nhạc Latinh". Theo Stephen Erlewine của AllMusic, tâm trạng chung của album là sự cay đắng, hân hoan và cởi mở. "I Could Fall in Love" và "Dreaming of You" có sự tương đồng về mặt ca từ; được gọi là "bản ballad thú tội", cả hai bản thu âm đều nói về sự tuyệt vọng, đau đớn và sợ hãi khi một người đàn ông từ chối tình cảm của nhân vật chính trong bài hát. Phần lời của "Dreaming of You" còn khai thác cảm giác khao khát và hy vọng. Larry Flick của tạp chí "Billboard" viết rằng lý tưởng từ nội dung của "Dreaming of You" có một "ảnh hưởng đau xót vốn sẽ không bao giờ thất thế trên [đài phát thanh] adult contemporary." "God's Child (Baila Conmigo)" sử dụng tiết tấu lệch nhịp đầy năng lượng, đen tối, bí ẩn với lời bài hát gợi ý đến sự siêu phàm và phản bá chủ. Bài hát có các yếu tố của rumba, flamenco, rock, R&B, và nhạc Trung Đông. "Captive Heart" mang âm hưởng của thập niên 1980; Achy Obejas của "Chicago Tribune" cho biết nó được sản xuất để nhắm đến các đài phát thanh hit đương đại. Bản disco house "I'm Getting Used to You", vốn kết hợp với cha-cha, đề cập đến một mối quan hệ đầy biến động. Mario Tarradell của "The New London Day" cho biết "Captive Heart" và "I'm Getting Used to You" nằm trên ranh giới của new jack swing— một nhánh của R&B vốn được tạo tiền đề bởi Jade và Mary J. Blige. Các nhà sản xuất âm nhạc của bộ phim hài-chính kịch lãng mạn năm 1995 "Don Juan DeMarco"—trong đó Selena đóng vai ca sĩ ranchera— đã quyết định không sử dụng những bản nhạc của cô "Tú Sólo Tú" và "El Toro Relajo". Christopher John Farley của "Time" cho biết các nhà sản xuất sau khi loại những bài hát đều cảm thấy tiếc nuối về quyết định sau sự ra đi của Selena. Theo Denise Segura và Patricia Zavella trong cuốn sách "Women and Migration in the U.S.-Mexico Borderlands: A Reader" (2007), "Tú Sólo Tú" —một bản hát lại từ Pedro Infante— và "El Toro Relajo" nói về tình yêu đơn phương và được thu âm theo phong cách ranchera. Selena thể hiện "Tú Sólo Tú" một cách "con ganas"— một cụm từ tiếng Tây Ban Nha mang ý nghĩa về một ca sĩ hát với "cảm xúc không hối lỗi"; phổ biến với những giọng ca ranchera. EMI Records, muốn thêm bài hát năm 1992 "Missing My Baby" và đĩa đơn năm 1994 "Techno Cumbia" vào "Dreaming of You", và yêu cầu Quintanilla III gặp gỡ nhóm nhạc R&B Full Force tại Manhattan. Nhóm đã phối lại cả hai bài hát, thêm phần hát vào "Missing My Baby", và phối lại bài sau theo phong cách reggae. Quintanilla, Jr. quyết định bổ sung "Como la Flor" (1992), "Amor Prohibido" (1994) và "Bidi Bidi Bom Bom" (1994) cho "Dreaming of You". Ông đưa ra ý tưởng phối lại những bài hát như thể ban nhạc đang chơi chúng trong một buổi hòa nhạc, đồng thời thay đổi một chút giai điệu. Quintanilla III cho biết các phiên bản mới của bài hát sẽ mang đến cho người hâm mộ "một điều gì đó mới mẻ" và cho rằng đây là một ý tưởng "sáng suốt". "Como la Flor", được xem như đĩa đơn đột phá trong sự nghiệp của Selena, thể hiện nỗi buồn của một người phụ nữ bị người yêu bỏ rơi mặc dù cô mong muốn "không có gì ngoài những điều tốt nhất" cho anh ta. "Amor Prohibido" là một bản nhạc dance-pop tiếng Tây Ban Nha với câu chuyện theo mô tuýp Romeo & Juliet. "Bidi Bidi Bom Bom", được phối lại thành một bản reggae, nói về một cô gái luôn loạn nhịp mỗi khi người yêu bước qua cô. Barrio Boyzz được ngỏ ý thu âm một phiên bản song ngữ cho bản song ca tiếng Tây Ban Nha năm 1994 của họ với Selena "Donde Quiera Que Estés" mang tên "Wherever You Are". Đĩa đơn. Davitt Sigerson, chủ tịch và giám đốc điều hành của EMI, lo ngại rằng "I Could Fall in Love" có thể sẽ bán chạy hơn "Dreaming of You", nên nó không được phát hành dưới dạng đĩa đơn thương mại. "I Could Fall in Love" được phát hành quảng bá trên sóng phát thanh Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 6 năm 1995, cùng thời điểm với "Tú Sólo Tú" để đánh dấu bước chuyển đổi của Selena từ việc thu âm tiếng Tây Ban Nha sang tiếng Anh. Fred Bronson của tạp chí "Billboard" cho rằng nếu EMI Latin phát hành "I Could Fall in Love" theo hình thức thương mại, nó sẽ là đĩa đơn đầu tiên của một nghệ sĩ đã khuất ra mắt trên top 40 của bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 kể từ "Pledging My Love" của Johnny Ace vào năm 1955. "I Could Fall in Love" đạt vị trí thứ tám trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 Airplay, và thứ nhất trên bảng xếp hạng Latin Pop Songs. "Tú Sólo Tú" và "I Could Fall in Love" lần lượt nắm giữ hai thứ hạng đầu tiên bảng xếp hạng Hot Latin Tracks trong năm tuần liên tiếp, giúp Selena trở thành nghệ sĩ đầu tiên có hai bản nhạc tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh đều nằm trong top 10. "I Could Fall in Love" cũng trở thành bài hát có thứ hạng cao thứ năm trên bảng xếp hạng Latinh vào năm 1995 và vẫn là tác phẩm tiếng Anh có thứ hạng cao nhất trong hai năm, cho đến khi đĩa đơn năm 1998 của Céline Dion "My Heart Will Go On" vượt qua nó khi đạt vị trí số một. "Tú Sólo Tú" trụ vững ở ngôi vị trí quán quân trên Hot Latin Tracks trong mười tuần liên tiếp, trở thành đĩa đơn quán quân lâu nhất trong sự nghiệp nữ ca sĩ. Với "Tú Sólo Tú" và các đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Latinh khác của cô từ năm 1992 đến khi cô qua đời vào năm 1995, những bản thu âm của Selena trải qua 44 tuần ở vị trí quán quân; nhiều nhất so với bất kỳ nghệ sĩ gốc Tây Ban Nha nào tính đến năm 2011. Vào ngày 14 tháng 8 năm 1995, "Dreaming of You" được phát hành như là đĩa đơn chủ đạo của album, với phiên bản phối lại và chỉnh sửa của "Techno Cumbia" dưới dạng đĩa đơn mặt B. Nó đạt vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 và bán được 25.000 bản trong tuần đầu ra mắt, và vẫn là đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp của Selena với hơn 284,000 bản nhạc số được tiêu thụ tính đến năm 2010. "The Los Angeles Times" xếp "Dreaming of You" ở vị trí thứ năm trong số mười đĩa đơn hàng đầu năm 1995 của họ. "Techno Cumbia" đạt vị trí thứ tư trên Hot Latin Tracks và Regional Mexican Songs. Vào ngày 2 tháng 12 năm 1995, "El Toro Relajo" ra mắt và đạt vị trí thứ 24 trên Hot Latin Tracks. "I'm Getting Used to You", đĩa đơn thương mại thứ hai và thứ sáu tổng thể, được phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 1996. Nó ra mắt và đạt vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng "Billboard" Bubbling Under Hot 100 Singles và thứ nhất trên "Billboard" Dance/Electronic Singles Sales. Sau đó, "I'm Getting Used to You" đạt vị trí thứ 23 trên bảng xếp hạng "Billboard" Adult Contemporary Tracks vào tuần kết thúc ngày 8 tháng 6 năm 1996. Những nhà phê bình của "Billboard" bầu chọn bản phối lại của "I'm Getting Used to You" nằm trong số mười đĩa đơn hàng đầu năm 1996 của họ. "I Could Fall in Love", "Dreaming of You" và "I'm Getting Used to You" đều ít thành công hơn về mặt thương mại bên ngoài thị trường Bắc Mỹ. "I Could Fall in Love" đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng "RPM" Adult Contemporary Songs vào tuần kết thúc ngày 6 tháng 11 năm 1996. "I Could Fall in Love" đạt vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng "RPM" Top 100 Singles. Đây cũng là đĩa đơn duy nhất của Selena lọt vào bảng xếp hạng ở New Zealand, đạt vị trí thứ 10. Năm 1996, "Dreaming of You" cũng gặt hái thành công ở Canada, lần lượt đạt vị trí vị trí thứ bảy và ba muơi trên bảng xếp hạng "RPM" Adult Contemporary Songs và Top 100 Singles. "I'm Getting Used to You" ra mắt ở vị trí thứ 96 trên bảng xếp hạng "RPM" Top 100 Singles vào tuần kết thúc ngày 10 tháng 6 năm 1996, và trở thành đĩa đơn thứ ba của Selena xếp hạng ở Canada. Sau năm tuần có mặt trên bảng xếp hạng, nó đạt vị trí thứ 65. Ở vị trí thứ 95, "I'm Getting Used to You" rời khỏi bảng xếp hạng sau khi trải qua chín tuần có mặt. Đánh giá chuyên môn. Phần lớn các đánh giá chuyên môn cho "Dreaming of You" là tích cực. Stephen Thomas Erlewine của AllMusic viết rằng nó là bản thu âm đầu tiên của Selena được tiếp cận đến phần lớn người dân Hoa Kỳ bởi cái chết của cô đã thu hút sự quan tâm lớn đối với album. Điều này cũng được Alisa Valdes của tờ "The Boston Globe" lặp lại. Erlewine cảm thấy "Amor Prohibido" là "một đĩa hát nhất quán hơn" và "Dreaming of You" không phải là tác phẩm hay nhất của nữ ca sĩ, đồng thời gọi đây là một nỗ lực chào sân. Theo Erlewine, các bài hát tiếng Anh trong album "không khác gì các bản nhạc tiếng Tây Ban Nha của cô"; ông cũng nói rằng album "sẽ mạnh mẽ hơn" nếu nữ ca sĩ còn sống. Ông kết thúc bài đánh giá của mình bằng cách gọi album là một "minh chứng mạnh mẽ-và-cảm động cho tài năng của Selena". John Lannert của tạp chí "Billboard" gọi thành công thương mại của album là "khó có thể ăn may". Cộng tác viên cho tạp chí "Vibe" Ed Morales, mô tả nó như một bản tổng kết của nhiều bài hát chịu ảnh hưởng từ cumbia, "sự xuất sắc" của Tex-Mex (nhạc Mexico ở Texas) và "cái nhìn sâu sắc" về con đường sự nghiệp tương lai của nữ ca sĩ nếu cô còn sống. Viết cho tạp chí "Time", David Browne nhận xét việc phát hành "Dreaming of You" là "một trong những album di cảo được tổng hợp nhanh nhất". Ông nhìn nhận rằng các nhà sản xuất từng làm việc với Selena trong album đã dứt khoát ghép nối cô với những bài hát tạo liên tưởng đến phiên bản trong sáng hơn của Paula Abdul và gọi chúng là "kiểu tình cảm viết trên thiệp mừng". Browne công nhận nửa sau của "Dreaming of You" là "một Selena đích thực, không bị kiềm hãm", gọi chúng là "những bản ballad truyền thống và tropical thần tiên, giúp Selena toát lên dục vọng và đam mê"; phân tích rằng các phẩm chất được tìm thấy trong những tác phẩm tiếng Anh của nữ ca sĩ lại không tồn tại trong những bài hát tiếng Tây Ban Nha. Viết cho "Chicago Tribune", Achy Obejas gọi những bản thu là một thành quả rời rạc và nói rằng đó là "quá khứ của Selena và những gì có thể sẽ là [tác phẩm chính thức]". Obejas đánh giá album là "đầy hứa hẹn lẫn thiếu sót", cũng như cho rằng bản chất song ngữ có chủ đích của nó được thực hiện bởi "hoàn cảnh tất yếu hơn là có chủ đích". Cô cũng chia sẻ album không phải là một nỗ lực chéo sân từ nhạc Latinh đột phá, minh chứng rằng những tác phẩm đại chúng trước đó của Gloria Estefan là màn chéo sân đầu tiên; mặc dù Selena "không thực hiện bước tiếp theo" giống Estefan. Objeas cũng viết rằng "Dreaming of You" là sự đối lập của một "kiệt tác, hoặc định hình sự nghiệp, hoặc thậm chí là minh chứng cho tài năng của Selena", mà giống như một "bữa ăn nóng nguội kết hợp". Objeas khen ngợi Selena "hoàn toàn thăng hoa với các giai điệu R&B" và cho rằng nữ ca sĩ "trở nên sôi nổi và có hồn". Enrique Lopetegui của "The Los Angeles Times" cho rằng "Dreaming of You" là "một album nhiệt huyết và thỏa mãn nhất" của Selena, và nói rằng đây là một "văn bia" phù hợp nhất với cô. Lopetegui gọi những bài hát trong album là "giai điệu pop thân thiện với đài phát thanh" nhưng cảm thấy album "thiếu sự gắn kết" mặc dù cho rằng album song ngữ "thậm chí còn thú vị hơn ý tưởng ban đầu". Theo Lopetegui, Selena "tỏa sáng thành một ca sĩ nhạc soul toàn diện, với sự năng nổ hiếm khi thể hiện trước đây" trong tất cả bản nhạc tiếng Anh nhưng nhận thấy "Tú Sólo Tú" và "El Toro Relajo" là "ấn tượng nhất" mặc dù Selena còn thiếu kinh nghiệm với phong cách ranchera. Christopher John Farley của tạp chí "Time" viết rằng album đã nâng tầm âm nhạc của Selena "đến một lượng khán giả lớn hơn nhiều so với những gì cô từng sở hữu khi còn sống". Ông nói rằng nó kết hợp "những tác phẩm tuyệt vời nhất, thú vị nhất" của cô và gọi bản thu âm là "một thành tựu đáng khen ngợi nhưng đáng buồn". Đối chiếu những bản nhạc Tejano và tiếng Anh của cô, Farley viết rằng những bản thu Tejano của Selena đôi khi rất vụng về, trong khi các bài hát nhạc pop tiếng Anh của cô "ngọt ngào, thuần khiết và trong trẻo, và trong các bản nhạc mariachi, Selena thể hiện một giọng hát gợi cảm, mạnh mẽ và duyên dáng của một người trưởng thành". Viết cho tờ "New York Daily News", Mary Talbot cho biết việc thưởng thức "Dreaming of You" "giống như đang lật lại cuốn sổ lưu niệm của một người phụ nữ đã khuất" và gọi nó là "những đoạn ghi chép và chụp nhanh một cách nghệ thuật, nhẹ nhàng và tất cả đều mang nặng nỗi nhớ". Talbot thấy rằng album giới thiệu "quá khứ của Selena và phác thảo những gì có thể là tương lai của cô ấy", và vì sự ra đi của nữ ca sĩ, câu chuyện vẫn chưa hoàn chỉnh. Cô gọi những tác phẩm bằng tiếng Anh là "những bản nhạc pop chung chung, mạnh mẽ" vốn sẽ được ưa chuộng bởi những người theo dõi sự nghiệp Tejano của cô "nhưng không đủ chứng minh năng lực hoặc chiều sâu nghệ thuật của cô với tư cách một nghệ sĩ hát tiếng Anh". Talbot nhìn nhận Selena đã rất khéo léo khi đan xen giữa "âm nhạc truyền thống của Mexico với khả năng cảm thụ nhạc pop đương đại của Mỹ, nhưng lại không phù hợp với những bài hát này". Vào cuối bài đánh giá của mình, Talbot kết luận "Dreaming of You" là "tác phẩm nổi bật của thế hệ cô ấy". Mario Tarradell của "The Dallas Morning News" cho rằng album "thiếu sự truyền tải", nhận xét Selena "được chắp vá để nghe giống như một trong những giọng ca nữ phổ biến nhất trên sóng phát thanh nhạc pop" và các bản thu âm tiếng Anh thiếu "sự sôi nổi, quyến rũ của một cô nàng nhà bên" vốn được khắc họa trong nhiều tác phẩm Tejano trước đây của cô. Tarradell nhận xét những bài hát tiếng Anh là "một phiên bản bắt chước tẻ nhạt của Amy Grant và Abdul". Peter Watrous của "The New York Times" gọi "Dreaming of You" là "một tập hợp đồ ăn thừa" và cho rằng các bản nhạc tiếng Tây Ban Nha "nghe hay hơn" các bản tiếng Anh của Selena. Watrous cảm nhận rằng những nhà sản xuất đã không dồn sức để hoàn thiện phần nhạc tiếng Anh của Selena tốt hơn. Ông gọi âm nhạc của "Dreaming of You" là "một nỗ lực thương mại thiếu cá tính" nhưng được Selena thu âm "rất tốt trong album" nên nó cho thấy "cô có tiềm nặng thành công lớn, thể hiện những bản ballad tuyệt vời theo phong cách pop ẩn danh vốn là sở trường của Disney". Cộng tác viên nhạc rock Roger Catlin của "Hartford Courant" mô tả nó là "một tập hợp giúp khắc họa tài năng lẫn tiềm năng to lớn của một ngôi sao trẻ". Catlin cho biết các tác phẩm tiếng Anh của cô thiếu "những kỹ thuật đặc trưng vốn định hình [Selena] trong những năm 90" nhưng cảm giác rằng nữ ca sĩ "hoàn toàn tự tin" đối với mảng nhạc Tây Ban Nha. Ông cho rằng Selena "không hề hấp tấp" và những tác phẩm của cô dường như khắc họa điều đó bởi nữ ca sĩ chỉ ghi âm bốn bản nhạc bằng tiếng Anh trước khi qua đời. Thành tựu. "Dreaming of You" được tạp chí Time xếp thứ chín trong danh sách "Top 10 Album Di cảo" vào năm 2010. Nó được xếp hạng là Album di cảo tốt thứ ba mọi thời đại bởi BET, và được nhận xét là một "minh chứng đau lòng cho một tài năng trẻ đang trên đà thành siêu sao". Tạp chí "Vibe" xếp "Dreaming of You" là bản phát hành di cảo tốt thứ hai và mô tả nó "khá khái quát". Nó chiến thắng giải Album của năm tại giải thưởng âm nhạc Tejano năm 1996. Tại lễ trao giải Âm nhạc "Billboard" Latinh thường niên lần thứ 3 năm 1996, "Dreaming of You" giành giải Album Pop nữ của năm. Diễn biến thương mại. Ngày phát hành ở Hoa Kỳ của "Dreaming of You" được xác nhận vào ngày 10 tháng 6 năm 1995 là ngày 18 tháng 7 năm đó. Việc phát hành album ở thị trường châu Âu và châu Á bị trì hoãn bởi EMI Records lo ngại rằng vụ sát hại Selena—chứ không phải âm nhạc của cô—sẽ trở thành tâm điểm của bản thu âm. Adam Sexton, phó chủ tịch hãng đĩa, thông báo vào ngày 5 tháng 8 năm 1995 rằng nó sẽ được phát hành tại Đức vào ngày 14 tháng 8 và phần còn lại của Châu Âu vào tháng 9, trong khi việc phát hành tại châu Á được ấn định vào tháng 10. Người hâm mộ bắt đầu xếp hàng trong nhiều giờ trước khi các cửa hàng mở bán "Dreaming of You"; trong vòng 24 giờ, 75% lượng đĩa có sẵn của album đều được bán hết. Mặc dù những dự đoán ban đầu về doanh số ra mắt của "Dreaming of You" là 400,000 bản, album ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng "Billboard" 200 với 331,000 bản, trở thành album đầu tiên với phần lớn tiếng Tây Ban Nha làm được điều này. Đây là đĩa hát có số lượng tiêu thụ tuần đầu lớn thứ hai trong năm 1995, đứng sau ' của Michael Jackson, và lớn thứ hai trong lịch sử đối với một nghệ sĩ nữ lúc bấy giờ, chỉ sau "janet." (1993) của Janet Jackson kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu theo dõi doanh số bán album vào năm 1991. "Dreaming of You" phế truất "Cracked Rear View" của Hootie & Blowfish khỏi ngôi vị quán quân trên "Billboard" 200, đồng thời ra mắt trên đỉnh bảng xếp hạng "Billboard" Top Latin Albums và Latin Pop Albums, lần lượt thay thế "Amor Prohibido" của chính Selena và "Best of của Gipsy Kings. Trong tuần thứ hai, "Dreaming of You" rơi xuống vị trí thứ ba trên "Billboard" 200, và tiếp tục giữ nguyên vị trí trong hai tuần liên tiếp. Doanh số album tiếp tục giảm, rơi xuống vị trí thứ sáu trong tuần thứ tư. Trong tuần thứ năm, nó tụt xuống vị trí thứ tám. Bắt đầu từ tuần thứ sáu, "Dreaming of You" trụ vững trong top 20 của bảng xếp hạng. Vào tuần kết thúc vào ngày 28 tháng 10 năm 1995, doanh thu của "Dreaming of You" tăng 18% sau 18 tuần sụt giảm, xuất phát từ thông tin được quan tâm rộng rãi về vụ xét xử kẻ sát nhân. Album tồn tại trên "Billboard" 200 trong 44 tuần liên tiếp, rời khỏi bảng xếp hạng ở vị trí thứ 181 vào tuần kết thúc ngày 1 tháng 6 năm 1996. Lannert dự đoán "Dreaming of You" sẽ tiếp tục đứng đầu bảng xếp hạng nhạc Latinh cho đến khi sản phẩm di cảo tiếp theo của Selena được phát hành. Nó vẫn ở vị trí số một trong 42 tuần liên tiếp trước khi bị thay thế bởi album đầu tay của Enrique Iglesias mang chính tên anh vào tuần kết thúc ngày 25 tháng 5 năm 1996. "Dreaming of You" trở thành đĩa hát Latinh và Pop Latinh bán chạy nhất trong hai năm 1995 và 1996. Bản thu âm kết thúc ở vị trí thứ 44 trên bảng xếp hạng cuối năm của "Billboard" 200 năm 1995 và thứ 123 năm 1996. Hai năm sau khi Selena qua đời, "Dreaming of You" và "Siempre Selena" (1996) lần lượt nắm giữ vị trí thứ ba và thứ tư trên bảng xếp hạng "Billboard" Top Latin Albums. "Dreaming of You" bán được 420,500 bản từ năm 1997 đến 1999, bao gồm 190,000 bản chỉ riêng năm 1997. Bộ phim tiểu sử "Selena" (1997) đã góp phần tăng 65% doanh thu album trong năm đó. "Dreaming of You" cũng bán được nửa triệu bản ở riêng Texas. Một số nhà bán lẻ ở Texas đã chỉ trích số liệu bán hàng của tiểu bang vì album không bán chạy tại các cửa hàng của họ. Đến tháng 12 năm 1995, "Dreaming of You" được chứng nhận hai đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), công nhận lượng đĩa xuất xưởng đạt hai triệu bản. Trong vòng mười tháng kể từ khi phát hành, album cán mốc ba đĩa Bạch kim; trước khi được RIAA chứng nhận 59 đĩa Bạch kim (thể loại Latinh), ghi nhận 3.54 triệu đơn vị album tương đương được bán ra. Tính đến tháng 10 năm 2017, nó vẫn là album Latinh bán chạy nhất mọi thời đại ở Hoa Kỳ theo Nielsen SoundScan. Nó cũng bán được hơn 5 triệu bản trên toàn thế giới, tính đến tháng 1 năm 2015. Một phần trăm trích từ doanh thu bán album sau đó được quyên góp cho Quỹ học bổng Selena. Tại Canada, "Dreaming of You" ra mắt ở vị trí thứ 59 trên bảng xếp hạng "RPM" Top 100 Albums trong tuần ngày 4 tháng 9 năm 1995. Trong tuần thứ hai, nó tăng lên vị trí thứ 50, và đạt vị trí thứ 17 vào tuần ngày 30 tháng 10 năm 1995. Sau 29 tuần xuất hiện trên bảng xếp hạng, "Dreaming of You" trải qua tuần cuối cùng ở vị trí thứ 97 vào tuần ngày 25 tháng 3 năm 1996. Album được chứng nhận Vàng bởi Music Canada, ghi nhận 50.000 bản được tiêu thụ tại đây. Trong tuần đầu phát hành của "Dreaming of You" tại các cửa hàng băng đĩa ở Mexico, EMI đã vận chuyển 140.000 bản và nhận được đơn đặt hàng lại từ Monterrey, Guadalajara và Tijuana. Ảnh hưởng. "Dreaming of You" bán được 175,000 bản trong ngày đầu phát hành ở Hoa Kỳmột kỷ lục lúc bấy giờ của một giọng ca nữ. Nó cũng sở hữu lượng tiêu thụ ngày cao nhất so với bất kỳ album tiếng Tây Ban Nha nào từng ra mắt trên bảng xếp hạng "Billboard" Top Latin Albums. Theo Behar, số liệu do Nielsen SoundScan cung cấp chưa bao gồm doanh số tại các cửa hàng nhỏ chuyên về nhạc Latinh, nơi "Dreaming of You" bán rất chạy. Doanh số bán album giúp Selena trở thành nghệ sĩ hát đơn thứ ba sở hữu album di cảo ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng "Billboard" 200, sau Janis Joplin và Jim Croce. Nó cũng là bản thu âm tiếng Tây Ban Nha và nhạc Tejano đầu tiên và duy nhất ra mắt ở vị trí số một trên "Billboard" 200, và là bản phát hành đầu tiên của EMI Latin làm được điều này. Theo John Lannert của tạp chí "Billboard", "Dreaming of You" nằm trong số mười album đầu tay bán chạy nhất của một nghệ sĩ, tác phẩm đầu tay bán chạy nhất của một nữ ca sĩ, và theo Thom Duffy cũng từ tạp chí "Billboard", đây là album tiêu thụ nhanh nhất năm 1995 ở Mỹ. Nó giúp Selena trở thành nghệ sĩ nữ đạt lượng đĩa bán nhanh nhất trong lịch sử nền công nghiệp âm nhạc, và sau đó được liệt kê như là một trong số những bản thu âm quan trọng và hay nhất được sản xuất trong kỷ nguyên rock and roll. "Dreaming of You" cũng xuất hiện với năm album phòng thu của Selena trên bảng xếp hạng "Billboard" 200 cùng lúc, đưa cô trở thành nữ ca sĩ đầu tiên trong lịch sử "Billboard" làm được điều này. Album được đưa vào danh sách "Where Were You When the Music Played?: 120 Unforgettable Moments in Music History" (2008) của Michael Heatley. Nhà âm nhạc học Howard J. Blumenthal nói rằng nó "sẽ đưa [Selena] trở thành một ngôi sao nhạc rock lớn", và đưa nó vào cuốn sách của ông "The World Music CD Listener's Guide". Tạp chí "Billboard" cho biết "Dreaming of You" chủ yếu được tiêu thụ bởi những người Latinh ở Mỹ; thể hiện sức mua của người tiêu dùng âm nhạc gốc Tây Ban Nha. Album được cho là đã giúp "mở mang tầm mắt" cho các nhà bán lẻ vốn không bao giờ dự trữ đĩa nhạc Latinh; lượng đĩa bán ra của nó vượt xa mong đợi của các chủ cửa hàng âm nhạc người Mỹ da trắng. Doanh số tiêu thụ đối với những album trước của Selena và "Dreaming of You" còn thúc đẩy Best Buy và nhiều nhà bán lẻ khác trong việc thuê các chuyên gia âm nhạc Latinh. Trong vòng vài tuần, album được dự đoán sẽ vượt qua "1100 Bel Air Place" (1984) của Julio Iglesias, để trở thành album Latinh tiếng Anh bán chạy nhất. EMI Records tuyên bố trên tạp chí "Billboard" số ra ngày 2 tháng 12 năm 1995 rằng đây là đĩa nhạc bán chạy nhất của EMI ở Bắc Mỹ, đồng thời mang lại cho họ doanh thu cao nhất đối với một hãng đĩa trong nửa đầu năm 1995. Với việc "Dreaming of You" đạt vị trí số một, nhạc Tejano chính thức bước vào thị trường nhạc đại chúng. Nhiều nhà phê bình âm nhạc cho biết dân số chung của Hoa Kỳ sẽ không bao giờ biết về Tejano hoặc nhạc Latinh nếu không có "Dreaming of You". Sau khi album được phát hành, và bởi cái chết của nữ ca sĩ, sự nổi tiếng của nhạc Tejano hay về sau là nhạc pop Latinh bắt đầu thời kỳ thống trị trên sóng phát thanh Hoa Kỳ lẫn doanh thu thương mại. Vào tháng 3 năm 2015, Hội đồng Nhân văn & Nghệ thuật Chicano ở Denver, Colorado đã giới thiệu một cuộc triển lãm mang tên "Dreaming of You: The Selena Art Show", trong đó nổi bật là những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ Chicano nhằm bày tỏ lòng kính trọng với Selena. Danh sách bài hát. Ghi chú Thành phần thực hiện. Thành phần thực hiện được trích từ ghi chú của "Dreaming of You", EMI Latin và EMI Records. Chứng nhận. !scope="row"|Toàn cầu
1
null
Victoria Claflin Woodhull, sau này là Victoria Woodhull Martin, (23 tháng 9 năm 1838 - 09 tháng 6 năm 1927) là một nhà lãnh đạo của phong trào quyền bầu cử cho phụ nữ người Mỹ. Woodhull là một người ủng hộ "tự do yêu đương", mà cho rằng sự tự do kết hôn, ly hôn, và sinh con mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Bà là người phụ nữ đầu tiên khởi đầu một tờ báo hàng tuần, một nhà hoạt động cho quyền của phụ nữ và các cải cách lao động. Năm 1872, bà là nữ ứng cử viên đầu tiên tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ. Woodhull đi từ khốn khó lên giàu có hai lần, tài sản đầu tiên của bà kiếm được từ việc hành nghề chữa bệnh bằng từ tính trên đường rất thành công trước khi bà tham gia phong trào duy linh trong những năm 1870. Trong khi tác giả của nhiều bài báo của bà có tranh cãi (nhiều bài phát biểu của bà trên các chủ đề này là sự hợp tác giữa Woodhull, những người ủng hộ bà và người chồng thứ hai Đại tá Colonel James Blood), vai trò đại diện của bà ở phong trào này là mạnh mẽ. Cùng với em gái của mình, bà là người phụ nữ đầu tiên quản lý một công ty môi giới ở Phố Wall, và họ là những người phụ nữ đầu tiên thành lập một tờ báo, Woodhull & Weekly Claflin. Đỉnh cao nhất là hoạt động chính trị trong những năm đầu thập niên 1870, Woodhull được biết đến như là ứng cử viên phụ nữ đầu tiên của chạy đua chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, trong đó bà chạy đua cuộc bầu cử năm 1872 đại diện cho Đảng Quyền bình đẳng, ủng hộ quyền bầu cử và quyền bình đẳng của phụ nữ. Việc bà bị bắt giữ vì cáo buộc khiêu dâm một vài ngày trước khi cuộc bầu cử, vì đã cho xuất bản một bài viết về vụ ngoại tình được cho là giữa các bộ trưởng nổi bật, Henry Ward Beecher, và Elizabeth Tilton, thêm vào bản tin tức giật gân đối với việc ứng cử viên tổng thống của bà. Bà đã không nhận được bất kỳ phiếu đại cử tri nào, và có bằng chứng mâu thuẫn nhau về phiếu phổ thông. Nhiều cải cách và lý tưởng mà Woodhull ủng hộ cho giai cấp công nhân, chống lại những gì bà cho là tầng lớp tinh hoa tư bản tham nhũng, đã gây nhiều tranh cãi trong thời gian này. Các thế hệ sau rất nhiều những cải cách đã được thực hiện và hiện được xem là đương nhiên. Các ý tưởng khác của bà và các cải cách do bà kiến nghị vẫn còn đang tranh luận đến ngày hôm nay.
1
null
Grafton là thành phố quận lỵ quận Taylor, West Virginia, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra năm 2010 là 5.164 người. Một trong hai nghĩa địa quốc gia ở West Virginia nằm ở Grafton. Ngày của Mẹ được thiết lập ở Grafton vào ngày 10 tháng 5 năm 1908; thành phố có Đền thờ Ngày của mẹ quốc tế.
1
null
"I Could Fall in Love" là bài hát của ca sĩ nhạc pop người Mỹ, Selena. Bài hát được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên của Selena nằm trong album "Dreaming of you" (1995). Được sáng tác bởi Keith Thomas và sản xuất bởi Thomas, "I Could Fall in Love" được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào ngày 24 tháng 6 năm 1995, bởi hãng EMI Records. là một ca khúc R&B và soft rock. bài hát nói về một cô gái sợ hãi để rơi vào tình yêu với một chàng trai cô ấy thích. Bài hát đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, cũng như đạt được thành công trên toàn thế giới, đạt vị trí số một ở Latin Pop Songs (Ky) và Canadian Singles Chart. Bài hát không được phép trong bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100. Người ta tin nó có thể bán các bản sao hơn "Dreaming of You". Video của bài hát được đạo diễn bởi Hector Galan. nó đã giành và lễ trao giải các giải thưởng, trong đó có giải thưởng Tejano Music Awards năm 1996 và American Society of Composers, Authors and Publishers (ASCAP).
1
null
ZALA 421-08 là loại máy bay thám thính không người lái tầm gần do công ty ZALA Aero tại Izhevsk phát triển. Toàn bộ hệ thống chỉ nặng 9 kg bao gồm hai máy bay, một hệ thống điều khiển, hai bộ năng lượng dự trữ và một cái túi để bỏ tất cả vào cho việc vận chuyển. Nó được thiết kế cho việc trinh sát ở tiền tuyến trên mặt đất hay trên biển với 3-5 phút để chuẩn bị và phóng máy bay. Lực lượng quân độ Nga cũng đã phát triển hệ thống điều khiển mới cho loại máy bay này gắn trên xe bọc thép GAZ-2975. Thiết kế. Zala 421-08 sử dụng động cơ chong chóng điện có thể bay 90 phút với vận tốc 65–190 km/giờ trong bán kính kết nối với trạm điều khiển vô tuyến là 15 km với hệ thống trên xe bọc thép thì là 25 km, trần bay là 3600–4000 m. Máy bay được trang bị bộ máy ảnh điện quang học có độ phân giải cao và máy quay hồng ngoại cho việc thám thính hai bộ phận này sẽ được giữ ổn định bằng con quay hồi chuyển. Hệ thống điều khiển của máy bay có khả năng điều khiển tự động với hai chức năng: tự động và bán tự động. Nếu để ở chế độ lái tự động thì người sử dụng sẽ truyền vào vị trí cần bay đến trong không gian như độ cao và vị trí, máy bay sẽ tự động bay đến đó thông qua hệ thống định vị toàn cầu GLONASS hay GPS. Trong quá trình bay này máy bay sẽ gửi các thông tin về trạm điều khiển như tốc độ gió, lượng điện còn, độ cao... Nếu bị mất liên lạc máy bay sẽ tự động quay về điểm cất cánh thông qua hệ thống định vị. Trong qua trình bay này tốc độ tối đa của máy bay chỉ là 130 km/giờ. Zala 421-08 sẽ hạ cánh bằng dù, nếu nó phải hạ cánh khẩn cấp ở đâu đó hay bị gió thổi đi mất thì một ăng ten sẽ được kích hoạt vươn dài ra 170 mm và phát sóng giúp việc dò định vị máy bay trong khoảng cách 3 km. Phiên bản cho hải quân thì nó chỉ việc lao vào cái lưới được căng lên ở trên tàu.
1
null
Bạn tình là những người tham gia vào các hoạt động tình dục với nhau. Bạn tình hay còn gọi là đối tác tình dục có thể chỉ bất kỳ về số lượng người, giới tính, quan hệ tình dục, hoặc khuynh hướng tình dục (chẳng hạn như đồng tính. Bạn tình có thể trở thành bạn đời (thuật ngữ dùng để chỉ về những cặp chung sống trọn đời hoặc có tình dục có sự cam kết, ràng buộc bằng một cuộc hôn nhân mà rõ nhất là có hôn thú hoặc hôn ước) hoặc chỉ là quan hệ tình dục đơn thuần. Bạn tình cũng có thể được chuyển hóa từ tình bạn. Đối tượng. Thuật ngữ bạn tình thông thường được áp dụng để chỉ về quan hệ tình dục có sự đồng thuận, không dùng để những người bị ép buộc hoặc quan hệ từ một sự cưỡng ép như hiếp dâm hoặc quan hệ tình dục với súc vật. Trong những trường hợp tình dục cưỡng ép thì một bên gây ra thường được gọi là thủ phạm, và người chống lại người quan hệ tình dục bất thành hoặc thành công được gọi là một nạn nhân. Nói chung, một người bạn tình là một trong những người mà hiện nay tham gia vào một hoạt động tình dục, hoặc thường xuyên tham gia vào các hoạt động như vậy và hy vọng sẽ làm như vậy một lần nữa trong tương lai. Các đối tác tình dục có thể là trong một mối quan hệ, âu yếm riêng rẽ với nhau hoặc họ đơn thuần tham gia vào các hoạt động tình dục một cách bình thường. Những người có quan hệ trong những điều kiện thân mật gắn bó với nhau thì có thể gọi bằng thuật ngữ người yêu, người tình, nhân tình. Cũng có thể đó là quan hệ tình dục một cách chóng vánh không để lại danh tính ví dụ như trong trường hợp quan hệ tình dục với một người lạ, tình một đêm, hoặc quan hệ với gái mại dâm. Một người có thể là đối tác tình dục của người khác ngay cả khi hoạt động tình dục là bất hợp pháp, là một điều cấm kỵ trong xã hội hoặc vi phạm một sự tin tưởng hoặc cam kết ví dụ như ngoại tình, phản bội, lăng nhăng, lang chạ với người khác. Một người có thể có nhiều hơn một người bạn tình cùng một lúc ví dụ như tình tay ba, tình dục tập thể... Hoặc trường hợp hôn nhân đa thê, đa thiếp….. Một đối tác cũ của hoạt động tình dục hay người cũ là một người mà người mà không có ý định tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục này nữa, trong khi một người bạn tình tiềm năng là một trong những người mà tuy trước đây không tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục nào với nhau, nhưng có sự ham muốn chuyện này. Giới nữ luôn có sự mâu thuẫn nội tâm khi lựa chọn bạn tình và bạn đời, phần lớn phụ nữ dễ bị cuốn hút bởi những chàng trai có chất giọng trầm ấm, nhưng khi tìm kiếm một người chồng thì họ lại lựa những người đàn ông có chất giọng cao.
1
null
Nhân tình, hay bồ nhí, là một bạn tình nữ và bạn đồng hành tương đối dài hạn và không kết hôn với bạn đời của mình, đặc biệt là khi bạn đời của cô ấy đã kết hôn với người khác. Miêu tả. Một nhân tình có mối quan hệ lâu dài với người yêu gắn bó của mình, và thường được gọi là người phụ nữ khác. Nói chung, mối quan hệ ổn định và ít nhất là bán vĩnh viễn, nhưng cặp đôi không sống với nhau một cách cởi mở và mối quan hệ thường nhưng không phải lúc nào cũng bí mật. Cũng thường có ngụ ý rằng nhân tình đôi khi "được giữ lại" - tức là người yêu của cô ấy đang đóng góp vào chi phí sinh hoạt của cô ấy. Nhân tình thường không được coi là gái điếm: trong khi nhân tình, nếu "được giữ lại", theo một cách nào đó, có thể trao đổi tình dục để lấy tiền, sự khác biệt chính là nhân tình có quan hệ tình dục với ít đàn ông hơn và không có quá nhiều trao đổi ("quid pro quo pro)" giữa tiền và hành vi tình dục. Thường có một mối quan hệ tình cảm và có thể là xã hội giữa một người đàn ông và nhân tình của anh ta, trong khi đó mối quan hệ giữa một cô gái điếm và khách hàng của họ chủ yếu là tình dục. Điều quan trọng nữa là tình trạng "được giữ" tuân theo việc thiết lập mối quan hệ có thời hạn không xác định trái ngược với thỏa thuận về giá cả và các điều khoản được thiết lập trước bất kỳ hoạt động nào với gái mại dâm. Trong lịch sử, thuật ngữ này đã biểu thị một "người phụ nữ được giữ", người được một người đàn ông giàu có duy trì trong một lối sống thoải mái (hoặc thậm chí xa hoa) để cô ấy sẵn sàng cho niềm vui tình dục của mình. Một người phụ nữ như vậy có thể di chuyển giữa vai trò của một nhân tình và một courtesan (đĩ hạng sang) tùy thuộc vào tình huống và môi trường của cô ấy. Trong thời hiện đại, từ "nhân tình" được sử dụng chủ yếu để chỉ người yêu nữ của một người đàn ông đã kết hôn với người phụ nữ khác; trong trường hợp của một người đàn ông chưa lập gia đình, người ta thường nói về "bạn gái" hoặc "hợp tác gia đình" (domestic partnership). Thuật ngữ "nhân tình" (mistress) ban đầu được sử dụng như một đối trọng nữ tính trung tính với "Mr.".
1
null
Kẻ thù quốc gia (tựa tiếng Anh: Public Enemies) là một bộ phim hình sự, hành động và tâm lý Mỹ của đạo diễn Michael Mann thực hiện, phim được công chiếu vào năm 2009. "Public Enmies" dựa theo một câu chuyện có thật cũng như dựa theo một quyển sách tựa đề "Public Enemies: America's Greatest Crime Wave and the Birth of the FBI, 1933–34" của nhà văn Bryan Burrough. Phim có sự tham gia của Johnny Depp, Christian Bale và Marion Cotillard. Nội dung. Bộ phim lấy bối cảnh nước Mỹ vào năm 1933, trong thời gian này có một băng cướp khét tiếng chuyên đi cướp ngân hàng là băng cướp của John Dillinger cầm đầu. Băng cướp này rất thông minh, khôn ngoan và nhanh nhẹn, họ luôn đi trước cảnh sát một bước. Mặc dù cảnh sát coi Dillinger là mối nguy hiểm nhưng người dân lại coi anh ta như người hùng, bởi vì Dillinger thường cướp những ngân hàng trục lợi từ dân nghèo. Giám đốc FBI J. Edgar Hoover giao nhiệm vụ bắt Dillinger cho Đặc vụ Melvin Purvis sau khi Purvis giết "Pretty Boy" Floyd. Dillinger gặp cô nàng Billie Frechette tại nhà hàng, anh ta đã thích Frechette ngay từ cái nhìn đầu tiên, Dillinger tán tỉnh Frechette rồi mua tặng cô ta chiếc áo khoác lông. Dillinger và Frechette trở thành cặp đôi yêu nhau say đắm, Dillinger có tiết lộ mình là tên tội phạm đang bị truy nã, tuy nhiên Frechette vẫn yêu Dillinger. Đặc vụ Purvis dẫn vài người cảnh sát vào một căn hộ để tìm Dillinger, họ tin rằng Dillinger đang ở trong căn hộ đó, Đặc vụ Barton bị "Baby Face" Nelson bắn chết, sau đó Nelson tẩu thoát cùng Tommy Carroll. Purvis yêu cầu Hoover cử thêm cảnh sát chuyên nghiệp từ Texas đến Chicago hỗ trợ mình, ngày hôm sau, Purvis ra ga xe lửa đón hai Đặc vụ Charles Winstead và Clarence Hurt. Dillinger đang ở Arizona cùng đồng bọn thì bị cảnh sát ập vào bắt, do khách sạn Congress có hỏa hoạn nên lính cứu hỏa gọi cho cảnh sát. Dillinger được đưa về Indiana, anh ta bị giam trong nhà tù Crown Point. Dillinger và người tù nhân Herbert Youngblood hợp tác đánh cảnh sát, cướp chìa khóa rồi trốn ra ngoài. Giờ đây Dillinger rất khó gặp được Frechette, cảnh sát luôn để ý Frechette và canh chừng quanh nhà Frechette hằng ngày như muốn chờ Dillinger đến. Dillinger dự định giúp Pierpont và Makley vượt ngục, nhưng "Red" Hamilton khuyên Dillinger rằng đó là điều không thể. Dillinger cùng đồng bọn tiếp tục đi cướp ngân hàng, họ tấn công ngân hàng Sioux Falls, lúc bỏ chạy bỗng dưng Carroll bị trúng đạn, cả nhóm phải bỏ Carroll lại. Đội của Purvis tra khảo Carroll về nơi ẩn náu của Dillinger, Carroll khai ra nhóm Dillinger đang ở Little Bohemia, Wisconsin. Ngay lập tức, đội của Purvis lên máy bay đến Wisconsin, họ nhìn thấy nhóm của Dillinger trong căn nhà gỗ trong rừng, các Đặc vụ đồng loạt nổ súng. Dillinger và Hamilton chạy vào rừng; còn Nelson, Ed Shouse và Homer Van Meter chạy đường khác. Sau đêm đó, đồng bọn Dillinger đều bị giết, chỉ có Dillinger còn sống. Khi gặp lại Frechette, Dillinger nói anh ta sẽ cướp một ngân hàng nữa để có tiền cho cả hai trốn ra nước ngoài, Dillinger tính đi nhờ băng cướp Barker của Alvin Karpis giúp đỡ. Cảnh sát bắt được Frechette ngay sau khi Dillinger chở cô ta về nhà. Frechette bảo ông luật sư Louis Piquett chuyển lá thư của cô ta cho Dillinger, Frechette dặn Dillinger không cần phải giải cứu cô ta. Purvis yêu cầu một người quen của Dillinger là bà Anna Sage lừa Dillinger ra mặt, nếu bà Sage không chịu hợp tác thì sẽ bị trục xuất, bà Sage đành làm theo lời Purvis. Tối hôm đó, bà Sage rủ Dillinger đi xem phim, khi hết phim thì hai người ra về. Vừa ra khỏi rạp, Dillinger bị đội của Purvis bắn, trước khi chết Dillinger có thì thầm vài lời cho Đặc vụ Winstead nghe. Cái chết của Dillinger nhanh chóng được báo chí Mỹ đưa tin. Winstead đến nhà tù mà Frechette đang bị giam, ông ta bảo Frechette rằng những lời thì thầm của Dillinger chính là lời tạm biệt Frechette, Dillinger muốn Winstead nhắn lại Frechette.
1
null
Trận phòng thủ Riga là một trong các trận đánh phòng ngự của quân đội Liên Xô chống lại quân đội Đức Quốc xã tại thành phố cảng Riga và trên phòng tuyến sông Tây Dvina ở giai đoạn mở đầu cuộc Chiến tranh Xô-Đức. Cuộc chiến diễn ra từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 6 năm 1941 tại thành phố cảng Riga, thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia và dọc sông Tây Dvina từ Riga đến Jekabpils. Sau ba ngày giao chiến, Tập đoàn quân 18 của quân đội Đức Quốc xã đã tấn công vượt sông Tây Dvia, chọc thủng phòng tuyến của quân đội Liên Xô ở Jekabpils, đe dọa bao vây chủ lực Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) tại khu vực ven biển Baltic từ Riga đến Pyarnu. Để tránh nguy cơ bị bao vây, Tập đoàn quân 8 (Liên Xô phải rút bỏ phòng tuyến sông Tây Dvina, bỏ thành phố Riga và rút về hướng Tallin. Sau khi chiếm Riga, quân đội Đức Quốc xã đã hoàn toàn chiếm đóng lãnh thổ Latvia và chiếm được quân cảng Riga, một căn cứ hải quân quan trọng trong vùng Pribaltic. Bối cảnh và binh lực. Bối cảnh. Riga là thủ đô của Litva, được thành lập từ năm 1201. Thành phố nằm ở cửa sông Tây Dvina (cũng gọi là sông Daugava) ở phía Nam vịnh Riga. Trong 6 thế kỷ tiếp theo, thành phố được phát triển bởi giao thông đường biển, đường thủy nội địa và ngư nghiệp. Năm 1713, thành phố trở thành trung tâm tỉnh Riga thuộc Đế quốc Nga. Năm 1796, khi Đế quốc Nga lập tỉnh Liflyand, Riga trở thành trung tâm của tỉnh này. Năm 1918, Latvia độc lập và thành lập chế độ cộng hòa. Riga trở thành thủ đô của Litva. Năm 1940, khi Litva trở thành một nước cộng hòa trong Liên bang Xô Viết, Riga vẫn là thủ đô. Trước chiến tranh, thành phố có gần 400.000 dân, trong đó 63% là người Latvia, 37% còn lại gồm người Đức, Do Thái, Nga, Ba Lan, Belarus và Litva. Sau khi Latvia sáp nhập vào Liên Xô, Hải quân Liên Xô đã đặt tại đâu một căn cứ hậu cần lớn thứ ba của Hạm đội Baltic, sau Kronstadt và Tallinn. Tại Riga, ngoài quân cảng còn có hệ thống kho tàng hậu cần của hải quân, hệ thống pháo bờ biển, hệ thống phòng không... Tại Riga còn có Trường Hải quân mang tên "Đô đốc Nakhimov". Trong hệ thống phòng thủ của Quân khu đặc biệt Pribaltic (Liên Xô) sát trước chiến tranh, Riga cùng với Rembaty, Koknese, Krustpils, Jekabpils và Daugavpils là những cứ điểm phòng ngự quan trọng tuyến 2 trên sông Daugava. Binh lực. Sau khi đánh chiếm phần lớn lãnh thổ phía Tây Latvia, Tập đoàn quân 18 (Đức) gồm các quân đoàn bộ binh 1, 26, 38 gồm 9 sư đoàn bộ binh, được tăng cường Sư đoàn cơ giới 36 (từ Quân đoàn xe tăng 41) đã nhanh chóng vượt qua sông Venta, đánh lui Quân đoàn bộ binh 10 (Liên Xô) và đến ngày 27 tháng 6 đã có mặt ở bờ tả ngạn sông Daugava. Nhiều đơn vị bộ binh và xe tăng Đức vẫn còn sung sức sau các trận thắng đầu tiên ở khu vực biên giới Liên Xô - Đông Phổ. Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) phòng thủ trên tuyến sông Daugava gồm Quân đoàn bộ binh 10 (các sư đoàn 10, 90), Quân đoàn bộ binh 11 (các sư đoàn 28, 48, 125) và Quân đoàn cơ giới 12 thực chất chỉ còn lại Sư đoàn cơ giới 202. Số quân còn lại của quân đoàn này được dồn ghép thành cụm phòng thủ Guryev. Tại Riga còn có Sư đoàn bộ binh cơ giới 22 của NKVD do đại tá Andrey Sidorovich Golovko chỉ huy, 3 tiểu đoàn dân quân, Trung đoàn học viên trường Hải quân (thiếu 1 tiểu đoàn) và một số thủy binh của hạm đội Baltic. Do vịnh Riga chỉ có duy nhất một đường ra biển ở của vịnh nên các tàu chiến và tài ngầm của Hạm đội Baltic sau khi từ Liepaja và Venstpils rút về đây đã được sơ tán đến Tallinn và cảng Kyardla trên đảo Khyuma trước khi hải quân Đức Quốc xã bịt kín cửa vịnh Riga. Diễn biến. Cuộc chiến chống biệt kích Đức và các nhóm vũ trang dân tộc cực đoan. Thành phố Riga khá hỗn loạn khi nhiều đơn vị của Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) thua trận trên vùng biên giới Latvia - Đông Phổ rút quân qua đây. Trong đoàn người chạy nạn có nhiều lính biệt kích Đức được thả dù xuống Latvia ngay từ những ngày đầu chiến tranh. Những toán biệt kích này có nhiệm vụ ám sát các chỉ huy và chính ủy Liên Xô, cắt đứt các đường dây liên lạc điện thoại, dùng chất nổ đánh phá các kho tàng, gây rối loạn ở hậu phương của các tập đoàn quân Liên Xô trên vùng biên giới. Một trong số các toán đó đã lọt vào Riga và phối hợp hoạt động với các nhóm người Latvia chống Xô Viết tại thành phố. Các nhóm này chủ yếu gồm các thành viên của Aizsargi, tổ chức cảnh sát của Latvia được thành lập năm 1936 và bị chính quyền Xô Viết Latvia giải tán ngày 23 tháng 6 năm 1940 khi Latvia sáp nhập và Liên bang Xô Viết. Trong nửa cuối ngày 27 tháng 6, nhóm Aizsargi đã phối hợp với các toán biệt kích Đức Quốc xã và nhóm Pērkonkrusts (tổ chức dân tộc cực đoan bài Do Thái, thân phát xít tại Latvia) gây ra các vụ cháy nổ trong thành phố, chiếm giữ tòa thị chính và chợ trung tâm Riga. Các đơn vị cảnh sát của NKVD (Liên Xô) phối hợp với tiểu đoàn công nhân vũ trang Riga buộc phải tấn công và chiếm lại các mục tiêu này vào đêm 27 tháng 6. Diễn biến chiến sự tại Riga và các vùng phụ cận. Ngày 27 tháng 6, Hạm đội Baltic đã rút các tàu ngầm và tàu chiến khỏi cảng Riga. Tàu vận tải "Mariampol" được công binh hải quân đánh chìm tại cửa sông Tây Dvina để khóa cửa sông. Một tuyến thủy lôi cũng được rải thành một vòng cung trên vịnh Riga cách thành phố từ 8 đến 10 km để ngăn hải quân Đức đột nhập từ hướng biển. Tại cảng Riga chỉ còn lại 18 tàu của Liên Xô đang ở trên bờ để sửa chữa. 16 tàu vận tải, 8 tàu kéo và một số tàu vớt mìn đã được sơ tán về Tallin. Sáng 28 tháng 6, tướng P. P. Sobennikov điều Sư đoàn bộ binh 62, đơn vị duy nhất còn tương đối nguyên vẹn của Quân đoàn bộ binh 10 (Liên Xô) ra giữ cảng Riga. Sư đoàn bộ binh 125, đơn vị còn lại của Quân đoàn bộ binh 11 (Liên Xô) được điều ra phòng thủ cây cầu đường sắt Riga - Jelgava. Sư đoàn cơ giới 22 (NKVD) phòng thủ trong thành phố. Sư đoàn bộ binh 11, lực lượng dự bị cuối cùng của Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) được điều động đến trấn giữ bến vượt sông tại Rembate. Ngày 28 tháng 6, Quân đoàn bộ binh 26 (Đức) bắt đầu tấn công vào Sư đoàn bộ binh 10 (chỉ còn lại Trung đoàn 62 đủ sức chiến đấu) và đánh bật Sư đoàn này sang bờ Bắc sông Tây Dvina. Sư đoàn bộ binh 67 (chỉ còn lại trung đoàn 144) đã quá suy yếu không thể cản được cuộc tấn công của ba sư đoàn bộ binh Đức. Thành phố Riga bị không quân Đức dội bom liên tục trong ngày và bốc cháy dữ dội. Sau khi đánh chiếm khu Tây thành phố, Quân Đức bắc cầu phao tại khu vực Kamennog (nay là nơi có cây cầu Kamenogo) và đột nhập sang khu Đông thành phố. Ở phía Nam Riga, quân Đức cũng vượt sông Tây Dvina tại khu vực pháo đài Bauska và Ikšķile. Ngày 29 tháng 6, đã nổ ra các trận tao ngộ chiến giữa Sư đoàn bộ binh 61 (Đức) với quân Liên Xô tại khu vực chợ trung tâm thành phố. Quân đội Liên Xô không chỉ phải chống lại quân Đức mà còn bị những người của lực lượng bán vũ trang Aizsargi (một tổ chức cảnh sát Latvia bị giải thể ngày 23 tháng 6 năm 1940) bắn vào sau lưng. Tình hình của Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) tại khu vực Riga càng trở nên bất lợi khi Quân đoàn cơ giới 41 (Đức) đã chiếm được các bến vượt sông tại khu vực Krustpils - Livani vào ngày 28 tháng 6. Ngày 29 tháng 6, Sư đoàn xe tăng 6 và Sư đoàn bộ binh 269 của quân đoàn này đã đánh bại Sư đoàn cơ giới 202 (Liên Xô) tại khu vực Gerini và tiến vào sau lưng Quân đoàn bộ binh 11 (Liên Xô) đang phòng thủ tại tuyến sông Daugava từ Rembate đến Plavinas, uy hiếp sườn trái của Quân đoàn bộ binh 10 (Liên Xô) đang phòng thủ trên khu vực Riga - Rembate. Trong một cố gắng đơn độc, Sư đoàn mô tô cơ giới 22 (Liên Xô) đã tung ra các đòn tấn công vào Sư đoàn cơ giới 36 (Đức), phá hủy cây cầu đường sắt ở Zemgal, phía Nam Riga và cây cầu phao ở phía Bắc thành phố. 3 xe tăng hạng nhẹ cuối cùng của Sư đoàn cơ giới 22 (NKVD) đã bị bắn cháy trong trận đánh này. Ngày 30 tháng 6, các quân 26 và 38 Đức đồng loạt vượt sông Tây Dvina trên các cầu phao mới lắp dặt, buộc Tập đoàn quân 8 (Liên Xô phải rút khỏi phòng tuyến sông Tây Dvina lên phía Bắc, lập tuyến phòng thủ mới tại khu vực Pyarnu - Viljandi - Tartu để bảo vệ Tallinn. Kết quả. Quân sự. Thất bại của Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) tại khu vực Riga và toàn bộ phòng tuyến sông Tây Dvina đã đem lại một lợi thế lớn cho quân đội Đức Quốc xã trên vùng Pribaltic. Không còn bị những lực lượng lớn xe tăng Liên Xô ngăn chặn, Tập đoàn quân 18 (Đức) nhanh chóng tiến lên phía Bắc, đánh chiếm tuyến Tyrva - Pylva, trên eo đất giữa hồ Vyrtszyarv với hồ Chuskoye và giữa hồ Vyrtszyarv với biển Baktic. Lợi dụng sư chia cắt giữa Quân đoàn 10 và Quân đoàn 11 của Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) cùng với ưu thế trên bộ và trên không, Tập đoàn quân 18 (Đức) tiếp tục dồn Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) về hướng Tallinn, chiếm lĩnh tuyến Pyarnu - Viljandi - Tartu và bao vây Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) tại khu vực Tallinn. Thiệt hại dân sự. Thành phố Riga gánh chịu những thiệt hại lớn sau ba ngày chiến sự diễn ra tại đây. Đỉnh tháp chuông bằng gỗ cao 64,9 m (trong toàn bộ chiều cao 123,5 m) của nhà thờ Thánh Pētera được xây dựng từ năm 1690 tại Riga bị đạn pháo của quân Đức bắn cháy và sập đổ. Tòa nhà Melngalvju Nams, một công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ XIV nằm ở trung tâm Riga cũng bị phá hủy. Cùng chung số phận với tòa nhà này là Tòa thị chính Riga, một công trình kiến trúc cổ của Lavia. Kho nhiên liệu tại Riga bị ném bom và bốc cháy suốt mấy ngày. Nhiều nhà cửa trong thành phố bị bom đạn phá hủy, trong đó có phố Uzvaras, một trong các con phố cổ nhất của Riga.
1
null
Micaria sociabilis là một loài nhện thuộc họ Gnaphosidae. Loài này có đặc điểm là con đực có quyền lựa chọn bạn tình và nó sẽ ăn thịt bạn tình chỉ để thể hiện sự không đồng ý với bạn tình: một phần là vì hình dáng và đa phần là vì tuổi tác của nhện cái. Theo đó, nhện đực sẽ giết chết bạn tình là những con cái to lớn bởi điều đó đồng nghĩa với việc con cái đó đã già. Đây là trường hợp trái ngược lại với loài nhện góa phụ đen.
1
null
Steven Meisel (sinh năm 1954) là một nhiếp ảnh gia thời trang người Mỹ, nổi tiếng với những bức hình ông chụp cho tạp chí "Vogue" Mỹ và Ý và cho cô bạn Madonna trong quyển sách ảnh "Sex" của cô năm 1992. Ông được xem là một trong những nhiếp ảnh gia thành công nhất trong giới thời trang, thường xuyên chụp cho cả "Vogue" Mỹ và Ý, và gần đây là "W" (cũng do Condé Nast xuất bản). Tiểu sử. Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã trở nên thích thú, đam mê với vẻ đẹp của phụ nữ. Lúc đó, Meisel sẽ không chơi đồ chơi, mà thay vào đó, ông luôn lấy bút vẽ hình phụ nữ. Ông thường say mê những quyển tạp chí như "Vogue" và "Harper's Bazaar" và xem đó là nguồn cảm hứng cho những bức tranh mà mình vẽ. Meisel mơ màng đến những người phụ nữ của giới thượng lưu như Gloria Rubio y Alatorre và Babe Paley, họ được ông xem là đại diện cho cái đẹp và sự quý phái. Mẹ và chị gái của ông cũng là những hình tượng đặc biệt. Ông say mê với những người mẫu như Twiggy, Veruschka, và Jean Shrimpton, lúc 12 tuổi ông nhờ các cô bạn gái của mình gọi điện đến công ty quản lý người mẫu và, bằng cách giả vờ là thư ký của Richard Avedon, để nhận những bộ hình mới nhất của những người mẫu đó. Để gặp bằng được người mẫu nổi tiếng Twiggy, Meisel 12 tuổi đã đứng ở ngoài đợi cô tại studio của Melvin Sokolsky. Ông theo học tại trường Nghệ thuật và Thiết kế tại New York và Parsons, nơi ông học rất nhiều ngành nhưng, theo một cuộc phỏng vấn với Ingrid Sischy cho "Vogue" Paris, ông chuyên về minh họa thời trang. Sự nghiệp. Một trong những công việc đầu tiên của Meisel là minh họa thời trang cho nhà thiết kế Halston. Đồng thời, ông cũng dạy vẽ tại trường Parsons. Meisel chưa bao giờ nghĩ ông sẽ trở thành một nhiếp ảnh gia. Ông rất thích những nhà nhiếp ảnh Jerry Schatzberg, Irving Penn, Richard Avedon và Bert Stern. Ông cảm thấy rằng minh họa thời trang quá lỗi thời và đến với nhiếp ảnh, một phương tiện bền vững lâu dài. Sau đó, khi đang vẽ minh họa cho tờ "Women's Wear Daily", ông đến công ty quản lý người mẫu Elite nơi Oscar Reyes, người rất thích những bức hình ông vẽ, yêu cầu ông chụp hình cho một số cô người mẫu tại đó. Meisel thường chụp họ tại căn hộ của ông tại Gramercy Park hoặc ngay trên đường: vào những ngày trong tuần thì ông làm việc cho "Women's Wear Daily", còn cuối tuần thì làm việc với những người mẫu. Trong số đó có Phoebe Cates. Khi một số người mẫu đem hình của họ đến tạp chí "Seventeen" thì những người tại đó ngay lập tức gọi cho Meisel và hỏi nếu như ông muốn làm việc cho họ. Hiện giờ Meisel làm việc cho rất nhiều tạp chí thời trang, trong đó có "Vogue" Mỹ và đặc biệt là "Vogue" Ý, tạp chí mà ông đã chụp tất cả trang bìa trong suốt hai thập niên qua. Meisel cũng chụp hình bìa cho album và đĩa đơn nổi tiếng, gồm có hai album được RIAA chứng nhận đĩa kim cương là "Like a Virgin" của Madonna năm 1984 và "Daydream" của Mariah Carey năm 1995. Hình chụp của ông còn được thấy trên bìa đĩa đơn "Bad Girl" (một tấm hình khỏa thân) và phiên bản Anh của đĩa đơn "Fever" (một tấm hình bán khỏa thân) của Madonna, và "Fantasy" của Mariah Carey (một tấm hình được cắt ra từ bìa album "Daydream"). Các chiến dịch quảng cáo thời trang. Meisel đã chụp hình quảng cáo cho các thương hiệu như Versace, Valentino, Dolce & Gabbana, Louis Vuitton và Calvin Klein (các chiến dịch cho hãng này của ông thường hay gây tranh cãi). Meisel cũng chụp cho Prada suốt các mùa từ năm 2004. Vào tháng 4 năm 2008, ông chụp Madonna cho tờ "Vanity Fair", và sau đó trong năm, ông chụp cô cho chiến dịch quảng cáo xuân hè 2009 của Louis Vuitton tại Skylight Studio. Ông là bạn thân của nhà thiết kế Anna Sui, ông cũng chụp một số hình quảng cáo cho hãng của bà, mặc dù Sui rất hiếm sử dụng quảng cáo. Ông cũng thường xuyên làm việc với Pascal Dangin. Ảnh hưởng. Là một trong những nhiếp ảnh gia quyền lực nhất trong giới thời trang, Meisel còn nổi tiếng với việc khám phá ra rất nhiều người mẫu nổi tiếng, trong đó có Linda Evangelista, Naomi Campbell, Nadège du Bospertus, Christy Turlington, Kristen McMenamy, Amber Valletta, Snejana Onopka, Iris Strubegger, Lara Stone, Coco Rocha, Caroline Trentini, Liya Kebede, Karen Elson, Doutzen Kroes, và Raquel Zimmerman, đưa họ đến với danh vọng bằng cách thường xuyên cho họ lên "Vogue" và các chiến dịch thời trang, thường là cho Prada, một trong những chiến dịch được khao khát nhất trong giới thời trang. Tầm ảnh hưởng và cách đào tạo của ông dường như cũng kéo dài sự nghiệp của các người mẫu cũ. Ông dùng quyền lực của mình để tạo ra một ấn phẩm của "Vogue" chỉ đăng hình của các người mẫu da đen. Số này được phát hành vào tháng 7 năm 2008 nhằm phê phán sự phân biệt chủng tộc được thấy trong thời trang gần đây. Ông cũng dựng nên sự nghiệp cho Ross Van Der Heide, một nhà thiết kế thời trang trẻ, bằng cách cho Anna Sui xem những tác phẩm của anh. Ông đưa rất nhiều người mẫu đến với thời trang, nổi bật nhất khi ông thuyết phục người mẫu Anh Karen Elson cạo lông mày và điều này đem lại cho cô nickname 'Le Freak'. Meisel thường xuyên là nguồn lực tiềm ẩn cho sự nghiệp của những người làm việc với ông trong những buổi chụp hình cho "Vogue"; các nhà tạo mẫu tóc như Oribe Canales, Garren, Orlando Pita và Guido Palau, và các chuyên gia trang điểm François Nars, Laura Mercier, Pat McGrath và Kevyn Aucoin. Sự thành công của họ cũng một phần nhờ vào ông. Anna và Franca. Meisel đã từng là "đệ tử" của Franca Sozzani và Anna Wintour, lần lượt là tổng biên tập của "Vogue" Ý và Mỹ. Đối với Franca, ông chụp trang bìa cho tất cả các ấn phẩm, điều này hầu như chưa được nghe đến trong giới thời trang. Meisel thường tạo nên những tác phẩm gây tranh cãi, bằng cách đem thời trang hòa trộn cùng với các sự kiện chính trị và các tiêu chuẩn xã hội. Điển hình là trong số tháng 9 năm 2006 của "Vogue Ý", Meisel lấy ý tưởng là quyền tự do bị hạn chế gắt gao sau sự kiện 11/9 của Mỹ, với các cô người mẫu là những kẻ khủng bố và cảnh sát chuyên nghiệp. Nó gây xôn xao trong giới báo chí, vì trong đó có hình ảnh các người mẫu bị đối xử rất tàn nhẫn. Những người bênh vực bình quyền cho phụ nữ đưa ra các ý kiến tiêu cực khi thấy vai trò của phụ nữ bị đè nén bởi đàn ông. Công ty quản lý Art + Commerce đại diện Steven Meisel trong việc sử dụng hình ảnh và quảng cáo. Đời sống riêng tư. Meisel nổi tiếng với việc hiếm khi cho phép phỏng vấn hay chụp hình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ông được phỏng vấn bởi Ingrid Sischy cho "Vogue" Pháp. Năm sau đó, Meisel đồng ý trả lời phỏng vấn cho tờ 032c của Pierre-Alexandre de Looz. Bài báo mang tên "Who is Steven Meisel?" (Steven Meisel là ai?), được đính kèm cùng với 14 trang gập in hình tất cả các trang bìa mà ông chụp cho "Vogue" Ý trong vòng 20 năm. Album. Meisel là một trong số ít các nhiếp ảnh gia nổi tiếng mà chưa phát hành một quyển sách nào cho các tác phẩm của mình. Chỉ duy nhất có một quyển in một số các bức hình ông đã chụp mang tên "Steven Meisel" được phát hành bởi nhà xuất bản teNeues của Đức vào năm 2003, đến nay đã được bán hết.
1
null
Liudvikas Jakavičius (22 tháng 6 năm 1871 – 20 tháng 8 năm 1941) là một nhà văn, nhà báo, nhà xuất bản, đạo diễn nhà hát, chủ ngân hàng và nhà quý tộc. Ông sinh tại Akmene (Litva) và mất tại Anyksciai (Litva). Ông kết hôn với Honorata Grimalauskaitė-Jakavičienė, một nữ quý tộc và nhân vật công chúng người Litvan - Ba Lan. Cha của Honorata là Juozas Grimalauskas, một công tước Litvan - Ba Lan giàu có, có mối quan hệ gần gũi với Triều đại Drucki - Lubecki, Gia đình Hoàng gia của hoàng tộc xưa của Druckiai (Belarus), gia đình chính trị của Gia đình Hoàng gia Litva (Nhà Gediminas), gia đình chính trị của Gia đình Hoàng gia Ba Lan-Litva (Nhà Jagiellon) và là người sáng lập Ngân hàng Quốc gia Ba Lan. Liudvikas và Honorata có năm người con (Gražina; Liudas; Donatas Bronislovas, Juozas và Artūras), tất cả năm người con này đều là nghệ sĩ âm nhạc và sân khấu.
1
null
La Nghệ (, ? - 627), khi phụng sự cho triều Đường có tên là Lý Nghệ (李藝), tên tự Tử Diên (子延) hay Tử Đình (子廷), nguyên là một quan lại triều Tùy. Ông đã nổi dậy chống lại sự cai trị của Tùy Dạng Đế và chiếm cứ khu vực Bắc Kinh ngày nay. Sau đó, ông quy phục Đường Cao Tổ và được phong tước Yên Vương, được ban cho họ Lý của hoàng tộc Đường. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa Thái tử Lý Kiến Thành và Tần Vương Lý Thế Dân, ông về phe của Thái tử. Sau sự biến Huyền Vũ môn năm 626, Lý Nghệ lo sợ nên đã nổi dậy chống lại Đường Thái Tông Lý Thế Dân vào năm 627, kết quả thất bại và bị giết chết. Nổi dậy ban đầu. Gia tộc của La Nghệ có nguồn gốc từ Tương Dương (襄陽, nay thuộc Tương Dương, Hồ Bắc), song đã di cư đến kinh thành Trường An vào thời Tùy. Phụ thân của La Nghệ là La Vinh (羅榮)- giám môn tướng quân của triều Tùy (một chức quan nhỏ). La Nghệ được mô tả là người thông minh, tự tin và tài năng trên chiến trường, song ương bướng. Do có công lao trên chiến trường, đến những năm cai trị sau của Tùy Dạng Đế, La Nghệ được trao chức 'Hổ Bôn lang tướng', đốc quân ở Bắc Bình (北平, nay thuộc Tần Hoàng Đảo, Hà Bắc), dưới quyền 'hữu vũ vệ đại tướng quân' Lý Cảnh (李景). La Nghệ nghiêm khắc rèn luyện kỷ luật binh sĩ, song bản thân ông lại tỏ ra ngạo mạn ngay cả với Lý Cảnh. Lý Cảnh thường quở trách La Nghệ, vì thế La Nghệ tức giận trong lòng. Năm 616, Trác quận (涿郡, nay gần tương ứng với Bắc Kinh) lân cận liên tục bị quân khởi nghĩa nông dân cướp bóc do Tùy Dạng Đế cho tích trữ lương thực và để nhiều binh sĩ ở đây nhằm chuẩn bị tiến công Cao Câu Ly, và cũng do Lâm Sóc cung (臨朔宮) có nhiều đồ trân quý của hoàng gia. Các quan được giao nhiệm vụ lưu thủ thành gồm Triệu Thập Trụ (趙什住), Hạ Lan Nghị (賀蘭誼), và Tấn Văn Diễn (晉文衍) đều không thể ngăn nổi các cuộc tiến công cướp bóc, duy có La Nghệ xuất chiến là có thể chiếm ưu thế trước quân nổi dậy, vì thế uy thế của ông được nâng cao. Triệu Thập Trụ là người thống lĩnh, song ông ta rất nghi ngờ La Nghệ. La Nghệ tính đến chuyện nổi dậy chống lại triều đình Tùy, vì thế đã kích động binh sĩ khi tuyên ngôn: Đến khi La Nghệ trở về sau một cuộc tiến công quân nổi dậy, ông đã bắt giữ quận thừa, Triệu Thập Trụ lo sợ nên đã quy phục. La Nghệ mở kho phân phát của cải cho binh sĩ và phân phát lương thực cho người dân nghèo khó, giết chết Bột Hải thái thú Đường Y (唐禕) và một số người bất đồng với ông. Một số thành trì của Tùy, xa về phía bắc đến Liễu Thành (柳城, nay thuộc Triều Dương, Liêu Ninh) và Hoài Viễn (懷遠, nay thuộc Thẩm Dương, Liêu Ninh) đã quy phục La Nghệ, La Nghệ tự xưng là tổng quản U châu (幽州, tức Trác quận). Quy phục Đường. Vào mùa xuân năm 618, Vũ Văn Hóa Cập đã tiến hành binh biến sát hại Tùy Dạng Đế tại Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô), và tôn Dương Hạo làm hoàng đế. Khi tiến quân đến khu vực phía đông Thái Hành Sơn, Vũ Văn hóa Cập phái sứ giả đến chỗ La Nghệ để thuyết phục La Nghệ quy phục. La Nghệ đáp lại: "Ta là cựu thần Tùy thất", cho trảm sứ giả của Vũ Văn hóa Cập, phát tang Tùy Dạng Đế song chỉ trong ba ngày. Sau đó, hai thủ lĩnh nổi dậy là Đậu Kiến Đức và Cao Khai Đạo đều phái sứ giả đến thuyết phục La Nghệ quy phục, song La Nghệ xem họ chỉ là quân trộm cướp và từ chối. Thay vào đó, khi hay tin Lý Uyên đăng cơ ở Trường An và lập ra triều Đường, La Nghệ đã quyết định quy phục thông qua tướng Đường là Trương Đạo Nguyên (張道源). Khoảng tết năm 619, Đường Cao Tổ bổ nhiệm La Nghệ làm U châu tổng quản. Sau đó, La Nghệ đẩy lui một cuộc tiến công của Đậu Kiến Đức. Vào mùa đông năm 619, Đường Cao Tổ chiếu phong La Nghệ làm Yên vương, ban họ Lý của hoàng tộc Đường cho La Nghệ. Khoảng thời gian này, La Nghệ đẩy lui một cuộc tiến công khác của Đậu Kiến Đức. Sau đó, vào mùa hè năm 620, Đậu Kiến Đức lại tiến công U châu, La Nghệ được Cao Khai Đạo cứu viện và lại đẩy lui Đậu Kiến Đức. Sau đó, Cao Khai Đạo thông qua ông đã dâng biểu quy phục triều Đường. Năm 621, Tần vương Lý Thế Dân bắt được Đậu Kiến Đức, và Đường Cao Tổ đã quyết định xử tử Đậu. Trong một thời gian ngắn, lãnh địa của nước Hạ nằm dưới quyền kiểm soát của Đường, song sau đó các bộ tướng cũ của Đậu Kiến Đức đã nổi dậy chống Đường dưới sự lãnh đạo của Lưu Hắc Thát. Đường Cao Tổ phái một số tướng lĩnh suất quân tiến công Lưu Hắc Thát và lệnh cho La Nghệ công kích Lưu từ phía bắc. Tuy nhiên, Lưu Hắc Thát đã đánh bại tất cả các tướng Đường tiến đến, bao gồm cả La Nghệ, giành lấy các lãnh thổ nước Hạ khi trước. Vào mùa đông năm 621, U châu của La Nghệ rơi vào nạn đói, Cao Khai Đạo đồng ý cung cấp lương thực cho U châu. Khi La Nghệ phái những người già yếu đến Úy châu để tránh nạn đói, Cao Khai Đạo đã đối đãi tốt với họ. La Nghệ hài lòng, và đã phái 300 lính với hàng trăm cỗ xe và trên 1.000 ngựa và lừa đến Uý châu vận chuyển lương thực. Tuy nhiên, Cao Khai Đạo đã quay sang chống La Nghệ và đã giữ tất cả lại, từ bỏ quan hệ với Lý Nghệ và triều Đường. Cao Khai Đạo liên kết với Đông Đột Quyết ở phương bắc và Lưu Hắc Thát ở phương nam. Năm 622, Lý Thế Dân xuất quân tiến công Lưu Hắc Thát, La Nghệ dẫn quân hội với Lý Thế Dân tiến công đô thành của Lưu Hắc Thát tại Minh châu (洺州, nay thuộc Hàm Đan, Hà Bắc). Sau khi hai bên bế tắc trong vài tháng, Lý Thế Dân đánh bại Lưu Hắc Thát nhờ kế dùng nước Minh Thủy, buộc Lưu Hắc Thát phải chạy trốn đến Đông Đột Quyết, La Nghệ trở về căn cứ tại U châu. Tuy nhiên, cũng trong năm đó, Lưu Hắc Thát cùng quân tiếp viện của Đông Đột Quyết đã quay trở lại, La Nghệ không thể đẩy lui Lưu Hắc Thát, song Lưu Hắc Thát sau đó bị Thái tử Lý Kiến Thành giết chết vào đầu năm 623. Cũng vào mùa xuân năm 623, La Nghệ thỉnh cầu được nhập triều, Đường Cao Tổ chấp thuận và hậu đãi, bổ nhiệm ông làm 'tả dực vệ đại tướng quân'. Tham gia vào tranh chấp trong triều đình. Ngay sau khi đến kinh thành, La Nghệ liên kết chặt chẽ với Thái tử Lý Kiến Thành- đang tranh giành quyền lực với Lý Thế Dân. Có một lần, Lý Thế Dân sai người đến chỗ La Nghệ, song La Nghệ lại cho trói họ lại và đánh đập, khiến Đường Cao Tổ tức giận. Đường Cao Tỏ cho giam giữ La Nghệ trong một thời gian ngắn, song sớm phóng thích và đối đãi tốt như ban đầu. Trong một sự kiện khác vào năm 624, Lý Kiến Thành làm trái quy định của Đường Cao Tổ khi trưng dụng các tinh binh dưới quyền La Nghệ để tăng cường đội cận vệ của mình, và khi việc này bị phát giác, Đường Cao Tổ quở trách Lý Kiến Thành. Vào mùa hè năm 625, vùng Quan Trung nhiều lần bị Đông Đột Quyết tiến công, Đường Cao Tổ cho thay đổi vị trí một số tướng lĩnh để ngăn chặn các cuộc tiến công này. Trong đó, quân nằm dưới quyền chỉ huy của La Nghệ đóng ở Hoa Đình (華亭, nay thuộc Bình Lương, Cam Túc) và Đàn Tranh Hiệp (彈箏峽, nay thuộc Cố Nguyên, Ninh Hạ). Vào mùa hè năm 626, quân Đông Đột Quyết lại tiến công, Đường Cao Tổ phái Tề vương Lý Nguyên Cát (thuộc phe Thái tử) suất quân chống Đông Đột Quyết, La Nghệ là một bộ tướng dưới quyền Lý Nguyên Cát. Tuy nhiên, khi đó Lý Thế Dân đã ra tay trước, tiến hành phục kích giết chết Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát trong sự biến Huyền Vũ môn, sau đăng cơ làm hoàng đế, tức Đường Thái Tông. Bị hại. Đường Thái Tông tuyên bố đại xá cho các thuộc hạ của Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát, cũng sử dụng một số quân sư của Lý Kiến Thành. La Nghệ được trao chức "khai phủ nghi đồng tam ty", song do trước đây xung khắc với tân hoàng đế, trong lòng vẫn cảm thấy bất an. Trong khi đó, tên phù thủy Lý Ngũ Giới (李五戒)- có quan hệ mật thiết với thê Mạnh thị của La Nghệ- báo với Mạnh thị rằng bà sẽ trở thành "mẫu nghi thiên hạ", sau đó Mạnh thị và Lý Ngũ Giới đều thuyết phục La Nghệ nổi dậy. La Nghệ chấp thuận và đến mùa xuân năm 627, La Nghệ giả vờ phụng mật chỉ của Đường Thái Tông, đem quân từ căn cứ ở Nghi châu (宜州, nay thuộc Đồng Xuyên, Thiểm Tây) đến Trường An. Khi quân La Nghệ tiến đến Bân châu (豳州, nay thuộc Hàm Dương, Thiểm Tây), trị trung Triệu Từ Hạo (趙慈皓) không biết La Nghệ làm phản nên đã nghênh tiếp, La Nghệ chiếm cứ Bân châu. Đường Thái Tông lệnh cho 'lại bộ thượng thư' Trưởng Tôn Vô Kị 'hữu vũ hậu đại tướng quân' Uất Trì Kính Đức suất quân đánh La Nghệ. Tuy nhiên, trước lúc quân triều đình đến, Triệu Từ Hạo (慈皓) và thống quân Dương Ngập (楊岌) đã lập mưu đánh La Nghệ, song bị phát hiện, Triệu Từ Hạo bị tống giam. Dương Ngập ở thành ngoại tiến công, La Nghệ lo sợ, cùng vợ con và vài trăm kị binh chạy đến Đông Đột Quyết. Tuy nhiên, khi đến trạm Ô Thị (烏氏, nay thuộc Bình Lương), những thuộc hạ đi theo đã ám sát rồi đưa thủ cấp của ông về Trường An. Đường Thái Tông bêu thủ cấp của La Nghệ trên đường phố trong kinh thành, phục họ "La", loại ông khỏi 'tông chính thuộc tịch'. Mạnh thị, Lý Ngũ Giới và em trai của ông là La Thọ (羅壽)- đương giữ chức Lợi châu đô đốc- đều bị xử tử.
1
null
Học (hay còn gọi là học tập, hay học hành, hay học hỏi) là quá trình tiếp thu sự hiểu biết, kiến thức, hành vi, kỹ năng, giá trị, thái độ và sở thích mới. Khả năng học hỏi được thấy ở con người, động vật và một số máy móc; cũng có bằng chứng cho một số loại học tập ở một số loài thực vật. Một số việc học là ngay lập tức, do một sự kiện duy nhất gây ra (ví dụ như bị đứt tay khi chơi dao), nhưng nhiều kỹ năng và kiến thức tích lũy được từ trải nghiệm lặp đi lặp lại. Những thay đổi do học tập gây ra thường kéo dài suốt đời, và thật khó để phân biệt tài liệu đã học dường như bị "thất lạc" với tài liệu không thể lấy lại được. Quá trình học tập của con người bắt đầu từ khi mới sinh (thậm chí có thể bắt đầu trước khi sinh) và tiếp tục cho đến khi chết do hệ quả của những tương tác liên tục giữa con người và môi trường của họ. Bản chất và các quá trình liên quan đến học tập được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực, bao gồm tâm lý học giáo dục, tâm lý học thần kinh, tâm lý học thực nghiệm và sư phạm. Nghiên cứu trong các lĩnh vực như vậy đã dẫn đến việc xác định các loại hình học tập khác nhau. Ví dụ, việc học có thể xảy ra do môi trường sống, hoặc phản xạ có điều kiện cổ điển, phản xạ có điều kiện hoạt động hoặc kết quả của các hoạt động phức tạp hơn như vui chơi, vốn chỉ thấy ở những động vật tương đối thông minh. Việc học có thể xảy ra có ý thức hoặc không có ý thức. Biết rằng không thể tránh khỏi một sự kiện bất lợi cũng không thể trốn thoát nó có thể dẫn đến tình trạng được gọi là bất lực tập nhiễm. Có bằng chứng cho việc học tập hành vi của con người trước khi sinh, trong đó thói quen đã được quan sát sớm nhất là khi thai kỳ được 32 tuần, cho thấy rằng hệ thống thần kinh trung ương đã đủ phát triển và sẵn sàng cho việc học và ghi nhớ xảy ra rất sớm trong quá trình phát triển. Chơi đùa hay nô đùa đã được một số nhà lý thuyết tiếp cận như là hình thức học tập đầu tiên. Trẻ em thử nghiệm với thế giới, tìm hiểu các quy tắc và học cách tương tác thông qua chơi đùa. Lev Vygotsky đồng ý rằng vui chơi là then chốt cho sự phát triển của trẻ em, vì chúng tạo nên ý nghĩa của môi trường thông qua việc chơi các trò chơi giáo dục. Tuy nhiên, đối với Vygotsky, chơi là hình thức học ngôn ngữ và giao tiếp đầu tiên và là giai đoạn mà một đứa trẻ bắt đầu hiểu các quy tắc và ký hiệu. Thành công trên đường đời không chỉ là hành động mà còn là sự hiểu biết từ việc học hỏi từ cuộc sống và học hỏi không ngừng. "Đó mới thực sự là học. Bạn sẽ đột nhiên hiểu theo một cách mới mẻ điều gì đó mà bạn đã biết trong suốt cuộc đời" (Doris Lessing) Phân loại. Học không liên kết. "Học không liên kết" đề cập đến "một sự thay đổi tương đối lâu dài về cường độ phản ứng với một kích thích duy nhất do tiếp xúc nhiều lần với kích thích đó." Định nghĩa này miễn trừ những thay đổi do thích ứng giác quan, mệt mỏi hoặc chấn thương gây ra.. Học tập không liên kết có thể được chia thành học từ môi trường sống và sự nhạy cảm. Học từ môi trường. "Học từ môi trường" là một ví dụ về học tập không liên kết trong đó một hoặc nhiều thành phần của phản ứng bẩm sinh (ví dụ: xác suất phản ứng, thời gian phản ứng) đối với một kích thích giảm đi khi kích thích được lặp lại. Do đó, phải phân biệt sự sống lại với sự tuyệt chủng, là một quá trình liên kết. Ví dụ, trong trường hợp tuyệt chủng mở, một phản hồi giảm vì nó không còn được theo sau bởi phần thưởng. Một ví dụ về nơi cư trú có thể được nhìn thấy ở những con chim nhỏ biết hót - nếu một con cú nhồi bông (hoặc động vật ăn thịt tương tự) được đưa vào lồng, ban đầu những con chim phản ứng với nó như thể nó là một kẻ săn mồi thực sự. Ngay sau đó, những con chim phản ứng ít hơn, cho thấy sự quen thuộc. Nếu một con cú nhồi bông khác được đưa vào (hoặc cùng một con cú bị loại bỏ và tái xuất hiện), những con chim sẽ phản ứng với nó một lần nữa như thể nó là một kẻ săn mồi, chứng tỏ rằng đó chỉ là một kích thích rất cụ thể được tạo ra (cụ thể là một loài bất động cụ thể cú ở một nơi). Quá trình định cư nhanh hơn đối với các kích thích xảy ra ở mức cao hơn là đối với các kích thích xảy ra với tốc độ thấp cũng như đối với các kích thích yếu và mạnh, tương ứng. Môi trường sống đã được thể hiện ở hầu hết các loài động vật, cũng như thực vật nhạy cảm "Mimosa pudica" và sinh vật đơn bào lớn "Stentor coeruleus". Khái niệm này hoạt động đối lập trực tiếp với nhạy cảm. Nhạy cảm. "Sự nhạy cảm" là một ví dụ của học tập không liên kết, trong đó sự khuếch đại dần dần của một phản ứng sau khi thực hiện lặp đi lặp lại một kích thích (Bell et al., 1995). Điều này dựa trên quan điểm cho rằng phản xạ phòng thủ đối với một kích thích như rút lui hoặc trốn thoát trở nên mạnh hơn sau khi tiếp xúc với một kích thích có hại hoặc đe dọa khác. Một ví dụ hàng ngày của cơ chế này là sự kích thích trương lực lặp đi lặp lại của các dây thần kinh ngoại vi xảy ra nếu một người xoa cánh tay liên tục. Sau một thời gian, sự kích thích này tạo ra cảm giác ấm áp và cuối cùng chuyển sang đau đớn. Cơn đau là kết quả của phản ứng tiếp hợp được khuếch đại dần dần của các dây thần kinh ngoại vi cảnh báo rằng sự kích thích có hại. Sự nhạy cảm được cho là nền tảng của cả quá trình học tập thích nghi cũng như không thích nghi trong sinh vật. Học tập tích cực. "Học tập tích cực" xảy ra khi một người kiểm soát được kinh nghiệm học tập của mình. Vì hiểu thông tin là khía cạnh quan trọng của việc học, điều quan trọng là người học phải nhận ra những gì họ hiểu và những gì họ không hiểu. Bằng cách đó, họ có thể giám sát khả năng thành thạo các môn học của mình. Học tập tích cực khuyến khích người học có một cuộc đối thoại nội bộ trong đó họ diễn đạt bằng lời nói những gì họ hiểu biết. Điều này và các chiến lược nhận thức tổng hợp khác có thể được dạy cho trẻ theo thời gian. Các nghiên cứu trong siêu nhận thức đã chứng minh giá trị của việc học tập tích cực, cho rằng kết quả là việc học tập thường ở cấp độ mạnh hơn. Ngoài ra, người học có thêm động lực để học khi họ có quyền kiểm soát không chỉ cách họ học mà còn cả những gì họ học được. Học tập tích cực là đặc điểm chính của phương pháp học tập lấy người học làm trung tâm. Ngược lại, học tập thụ động và hướng dẫn trực tiếp là đặc điểm của phương pháp học tập lấy giáo viên làm trung tâm (hay giáo dục truyền thống). Học liên kết. "Học liên kết" là quá trình một người hoặc động vật học được mối liên hệ giữa hai kích thích hoặc sự kiện. Trong điều kiện cổ điển, một kích thích trung tính trước đây được ghép nối nhiều lần với một kích thích gây phản xạ cho đến khi cuối cùng kích thích trung tính tự tạo ra phản ứng. Trong điều kiện hoạt động, một hành vi được củng cố hoặc trừng phạt khi có kích thích trở nên ít nhiều có khả năng xảy ra khi có kích thích đó. Điều kiện vận hành. Trong "học tập kiểu vận hành", một sự củng cố (bằng phần thưởng) hoặc thay vào đó là một hình phạt được đưa ra sau một hành vi nhất định, hãy thay đổi tần suất và/hoặc hình thức của hành vi đó. Kích thích xuất hiện khi hành vi / hậu quả xảy ra để kiểm soát những thay đổi hành vi này. Phản xạ có điều kiện cổ điển. Mô hình điển hình cho "phản xạ có điều kiện cổ điển" liên quan đến việc ghép nối nhiều lần một kích thích không được điều chỉnh (vô tình tạo ra phản ứng phản xạ) với một kích thích trung tính khác trước đó (thường không tạo ra phản ứng). Theo sau điều kiện, phản ứng xảy ra đối với cả kích thích không điều chỉnh và kích thích khác, không liên quan (bây giờ được gọi là "kích thích có điều kiện"). Phản ứng đối với kích thích có điều kiện được gọi là "phản ứng có điều kiện". Ví dụ điển hình là Ivan Pavlov và những con chó của ông ấy. Pavlov cho những con chó của mình ăn bột thịt để làm cho những con chó tiết nước bọt một cách tự nhiên — chảy nước miếng là một phản ứng phản xạ với bột thịt. Bột thịt là tác nhân kích thích không điều chỉnh (Hoa Kỳ) và tiết nước bọt là phản ứng không điều kiện (UR). Pavlov rung chuông trước khi trình bày bột thịt. Lần đầu tiên Pavlov rung chuông, kích thích trung tính, những con chó không tiết nước bọt, nhưng một khi ông ấy cho bột thịt vào miệng chúng bắt đầu chảy nước miếng. Sau nhiều lần ghép nối tiếng chuông và thức ăn, những con chó biết rằng tiếng chuông báo hiệu thức ăn sắp đến, và bắt đầu chảy nước miếng khi chúng nghe thấy tiếng chuông. Một khi điều này xảy ra, chuông trở thành tác nhân kích thích có điều kiện (CS) và sự tiết nước bọt đối với chuông trở thành phản ứng có điều kiện (CR). Điều hòa cổ điển đã được chứng minh ở nhiều loài. Ví dụ, nó được thấy ở ong mật, trong mô hình phản xạ kéo dài vòi rồng. Gần đây nó cũng đã được chứng minh trên cây đậu vườn. Một người có ảnh hưởng khác trong thế giới điều hòa cổ điển là John B. Watson. Tác phẩm của Watson có ảnh hưởng rất lớn và mở đường cho chủ nghĩa hành vi cấp tiến của BF Skinner. Thuyết hành vi của Watson (và triết học khoa học) hoàn toàn trái ngược với Freud và các thuyết khác phần lớn dựa trên sự xem xét nội tâm. Watson cho rằng phương pháp nội quan là quá chủ quan và chúng ta nên giới hạn việc nghiên cứu sự phát triển của con người trong các hành vi có thể quan sát trực tiếp. Năm 1913, Watson xuất bản bài báo "Tâm lý học với tư cách là quan điểm hành vi", trong đó ông cho rằng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nên phục vụ tốt nhất cho tâm lý học như một môn khoa học. Thí nghiệm nổi tiếng và gây tranh cãi nhất của Watson, " Little Albert ", nơi ông đã chứng minh cách các nhà tâm lý học có thể giải thích việc học cảm xúc thông qua các nguyên tắc phản xạ có điều kiện cổ điển. Học bằng cách quan sát. "Học tập bằng cách quan sát" là học tập xảy ra thông qua việc quan sát hành vi của người khác. Nó là một hình thức học tập xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau, dựa trên các quá trình khác nhau. Ở người, hình thức học tập này dường như không cần sự củng cố để xảy ra, mà thay vào đó, đòi hỏi một mô hình xã hội như cha mẹ, anh chị em, bạn bè hoặc giáo viên với môi trường xung quanh. Dấu ấn. "Dấu ấn" là một loại hình học tập xảy ra ở một giai đoạn cuộc sống cụ thể diễn ra nhanh chóng và rõ ràng là độc lập với hậu quả của hành vi. Trong dấu ấn của lòng hiếu thảo, động vật non, đặc biệt là chim, hình thành mối liên kết với một cá thể khác hoặc trong một số trường hợp, một đối tượng, mà chúng đáp lại như cách chúng đối với cha mẹ. Vào năm 1935, nhà Động vật học người Áo Konrad Lorenz đã phát hiện ra rằng một số loài chim nhất định đi theo và hình thành liên kết nếu vật thể phát ra âm thanh. Chơi đùa. "Chơi đùa" thường mô tả hành vi không có kết thúc cụ thể, nhưng điều đó cải thiện hiệu suất trong các tình huống tương tự trong tương lai. Điều này được thấy ở nhiều loại động vật có xương sống ngoài con người, nhưng hầu hết chỉ giới hạn ở động vật có vú và chim. Mèo thường chơi với một sợi dây khi còn nhỏ, điều này mang lại cho chúng kinh nghiệm bắt mồi. Bên cạnh những đồ vật vô tri vô giác, động vật có thể chơi với các thành viên khác trong loài của chúng hoặc động vật khác, chẳng hạn như cá voi sát thủ chơi với hải cẩu mà chúng bắt được. Chơi đùa liên quan đến một chi phí đáng kể đối với động vật, chẳng hạn như tăng tính dễ bị tổn thương đối với những kẻ săn mồi và nguy cơ bị thương và có thể nhiễm trùng. Nó cũng tiêu tốn năng lượng, vì vậy phải có những lợi ích đáng kể liên quan đến việc chơi để nó phát triển. Chơi đùa thường thấy ở các động vật trẻ hơn, cho thấy mối liên hệ với việc học. Tuy nhiên, nó cũng có thể có những lợi ích khác không liên quan trực tiếp đến việc học, ví dụ như cải thiện thể chất. Chơi đùa là trung tâm cho việc học tập và phát triển của trẻ vì nó liên quan đến con người như một hình thức học tập. Thông qua vui chơi, trẻ em học được các kỹ năng xã hội như chia sẻ và hợp tác. Trẻ em phát triển các kỹ năng cảm xúc như học cách đối phó với cảm xúc tức giận, thông qua các hoạt động vui chơi. Vừa là hình thức vừa học, vừa chơi còn tạo điều kiện phát triển khả năng tư duy và ngôn ngữ ở trẻ. Có năm kiểu chơi đùa: Năm kiểu chơi đùa này thường đan xen với nhau. Tất cả các loại hình vui chơi đều hình thành tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề ở trẻ em. Trẻ em học cách suy nghĩ sáng tạo khi chúng học thông qua chơi. Các hoạt động cụ thể liên quan đến từng loại trò chơi thay đổi theo thời gian khi con người tiến bộ qua tuổi thọ. Chơi như một hình thức học tập, có thể diễn ra đơn lẻ hoặc liên quan đến việc tương tác với những người khác. Hội nhập văn hóa. "Hội nhập văn hóa" là quá trình mọi người học hỏi các giá trị và hành vi phù hợp hoặc cần thiết trong nền văn hóa xung quanh của họ. Cha mẹ, những người lớn khác và bạn bè đồng trang lứa định hình sự hiểu biết của cá nhân về những giá trị này. Nếu thành công, việc tiếp thu văn hóa dẫn đến khả năng sử dụng ngôn ngữ, giá trị và nghi lễ của nền văn hóa. Điều này khác với tiếp biến văn hóa, nơi một người áp dụng các giá trị và quy tắc xã hội của một nền văn hóa khác với nền văn hóa bản địa của họ. Có thể tìm thấy nhiều ví dụ về sự giao thoa văn hóa giữa các nền văn hóa. Thực hành hợp tác ở người Mazahua đã chỉ ra rằng việc tham gia vào các hoạt động tương tác hàng ngày và học tập sau này đã góp phần vào sự hội nhập văn hóa bắt nguồn từ trải nghiệm xã hội phi ngôn ngữ. Khi bọn trẻ tham gia vào các hoạt động hàng ngày, chúng học được ý nghĩa văn hóa của những tương tác này. Những hành vi hợp tác và hữu ích của trẻ em Mexico và di sản Mexico là một thực hành văn hóa được gọi là "acomedido". Các bé gái Chillihuani ở Peru mô tả mình đang dệt liên tục theo hành vi của những người lớn khác. Học theo giai đoạn. "Học theo giai đoạn" là một sự thay đổi trong hành vi xảy ra do một sự kiện. Ví dụ, nỗi sợ hãi của những con chó sau khi bị chó cắn là học theo từng giai đoạn. Học theo giai đoạn được đặt tên như vậy bởi vì các sự kiện được ghi lại vào bộ nhớ từng đoạn, là một trong ba hình thức học và truy xuất rõ ràng, cùng với trí nhớ tri giác và trí nhớ ngữ nghĩa. Bộ nhớ theo giai đoạn ghi nhớ các sự kiện và lịch sử gắn liền với kinh nghiệm và điều này được phân biệt với bộ nhớ ngữ nghĩa, cố gắng trích xuất các sự kiện ra khỏi bối cảnh trải nghiệm của chúng hoặc - như một số người mô tả - một tổ chức kiến thức vượt thời gian. Ví dụ, nếu một người nhớ Grand Canyon từ chuyến thăm gần đây, đó là một ký ức nhiều tập. Cô ta sẽ sử dụng trí nhớ ngữ nghĩa để trả lời ai đó sẽ hỏi cô ta thông tin chẳng hạn như Grand Canyon ở đâu. Một nghiên cứu tiết lộ rằng con người rất chính xác trong việc ghi nhận ký ức theo từng giai đoạn ngay cả khi không có chủ ý ghi nhớ nó. Điều này được cho là để chỉ ra một khả năng lưu trữ rất lớn của não đối với những thứ mà mọi người chú ý đến. Học đa phương tiện. "Học tập đa phương tiện" là nơi một người sử dụng cả kích thích thính giác và thị giác để tìm hiểu thông tin . Kiểu học tập này dựa trên lý thuyết mã hóa kép . Học trực tuyến và học tăng cường. "Học điện tử" hay e-learning là phương pháp học tập nâng cao bằng máy tính. Một hình thức học tập điện tử cụ thể và luôn lan tỏa hơn là học tập trên thiết bị di động (m-learning), sử dụng các thiết bị viễn thông di động khác nhau, chẳng hạn như điện thoại di động. Khi một người học tương tác với môi trường học tập điện tử, nó được gọi là học tập tăng cường. Bằng cách thích ứng với nhu cầu của từng cá nhân, hướng dẫn theo ngữ cảnh có thể được điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với môi trường tự nhiên của người học. Nội dung kỹ thuật số tăng cường có thể bao gồm văn bản, hình ảnh, video, âm thanh (âm nhạc và giọng nói). Bằng cách cá nhân hóa hướng dẫn, học tập tăng cường đã được chứng minh là cải thiện hiệu suất học tập suốt đời. Xem thêm giáo dục xâm lấn tối thiểu. Moore (1989) cho rằng ba loại tương tác cốt lõi là cần thiết cho việc học trực tuyến chất lượng và hiệu quả: Trong lý thuyết về khoảng cách giao dịch của mình, Moore (1993) hài lòng rằng cấu trúc và sự tương tác hoặc đối thoại thu hẹp khoảng cách trong hiểu biết và giao tiếp được tạo ra bởi khoảng cách địa lý (được gọi là khoảng cách giao dịch). Học vẹt. "Học vẹt" là ghi nhớ thông tin để người học có thể nhớ lại chính xác cách mà nó đã được đọc hoặc nghe. Kỹ thuật chính được sử dụng cho việc học vẹt là "học bằng cách lặp lại", dựa trên ý tưởng rằng người học có thể nhớ lại chính xác tài liệu (nhưng không phải ý nghĩa của nó) nếu thông tin được xử lý nhiều lần. Học vẹt được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ toán học, âm nhạc đến tôn giáo. Mặc dù nó đã bị chỉ trích bởi một số nhà giáo dục, học vẹt là tiền đề cần thiết để học có ý nghĩa. Học có ý nghĩa. "Học tập có ý nghĩa" là khái niệm cho rằng kiến thức đã học (ví dụ, một sự kiện) được hiểu đầy đủ ở mức độ liên quan đến kiến thức khác. Vì vậy, học tập có ý nghĩa trái ngược với học vẹt trong đó thông tin được thu nhận mà không liên quan đến sự hiểu biết. Mặt khác, học tập có ý nghĩa có nghĩa là có một kiến thức toàn diện về bối cảnh của các sự kiện đã học. Học dựa trên bằng chứng. Học tập dựa trên bằng chứng là việc sử dụng bằng chứng từ các nghiên cứu khoa học được thiết kế tốt để đẩy nhanh quá trình học tập. Các phương pháp học tập dựa trên bằng chứng như lặp lại cách nhau có thể làm tăng tốc độ học của học sinh. Học chính thức. "Học tập chính thức" là học tập diễn ra trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, chẳng hạn như trong hệ thống trường học. Thuật ngữ học chính thức không liên quan gì đến hình thức của việc học, mà là cách nó được định hướng và tổ chức. Trong học tập chính thức, các khoa học tập hoặc đào tạo đặt ra các mục tiêu và mục tiêu của việc học tập. Học không chính quy. "Học không chính quy" là "học tập" có tổ chức bên ngoài hệ thống học chính quy. Ví dụ, học tập bằng cách đến với những người có cùng sở thích và trao đổi quan điểm, trong các câu lạc bộ hoặc trong các tổ chức thanh niên (quốc tế), hội thảo. Học không chính thức (bối cảnh). "Học không chính thức" có cấu trúc ít hơn so với "không chính quy". Nó có thể xảy ra thông qua trải nghiệm của các tình huống hàng ngày (ví dụ, một người sẽ học cách nhìn về phía trước trong khi đi bộ vì sự nguy hiểm vốn có khi không chú ý đến nơi mình đang đi). Đó là học từ cuộc sống, trong bữa ăn cùng bàn với cha mẹ, vui chơi, khám phá, v.v. Học không chính quy và các phương pháp kết hợp. Hệ thống giáo dục có thể sử dụng kết hợp các phương pháp học chính thức, không chính quy và không chính quy theo bối cảnh. Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu công nhận các hình thức học tập khác nhau này (xem các liên kết bên dưới). Ở một số trường, sinh viên có thể nhận được điểm được tính trong hệ thống học chính thức nếu họ hoàn thành công việc trong các hệ thống học tập không chính thức. Họ có thể được dành thời gian để hỗ trợ các hội thảo và khóa đào tạo dành cho thanh niên quốc tế, với điều kiện họ chuẩn bị, đóng góp, chia sẻ và có thể chứng minh điều này mang lại cái nhìn sâu sắc mới có giá trị, giúp có được các kỹ năng mới, là nơi để có kinh nghiệm tổ chức, giảng dạy, v.v.. Để học một kỹ năng, chẳng hạn như giải một khối Rubik một cách nhanh chóng, một số yếu tố có tác dụng ngay lập tức: Học tiếp tuyến. "Học tiếp tuyến" là quá trình mọi người tự giáo dục nếu một chủ đề được tiếp xúc với họ trong bối cảnh mà họ đã thích thú. Ví dụ: sau khi chơi trò chơi điện tử dựa trên âm nhạc, một số người có thể có động lực để học cách chơi một nhạc cụ thực sự hoặc sau khi xem một chương trình truyền hình liên quan đến Faust và Lovecraft, một số người có thể được truyền cảm hứng để đọc tác phẩm gốc. Tự giáo dục có thể được cải thiện với hệ thống hóa. Theo các chuyên gia về học tập tự nhiên, đào tạo theo định hướng tự nhiên đã chứng minh là một công cụ hiệu quả để hỗ trợ người học độc lập với các giai đoạn học tập tự nhiên. Nhà văn kiêm nhà thiết kế trò chơi của "Extra Credits", James Portnow là người đầu tiên đề xuất trò chơi như một địa điểm tiềm năng để "học tiếp tuyến". Mozelius "và cộng sự." chỉ ra rằng sự tích hợp nội tại của nội dung học tập dường như là một yếu tố thiết kế quan trọng và rằng các trò chơi bao gồm các mô-đun để tự nghiên cứu thêm có xu hướng mang lại kết quả tốt. Các bách khoa toàn thư tích hợp trong trò chơi "Civilization" được trình bày như một ví dụ - bằng cách sử dụng các mô-đun này, người chơi có thể tìm hiểu sâu hơn kiến thức về các sự kiện lịch sử trong trò chơi. Tầm quan trọng của các quy tắc điều chỉnh mô-đun học tập và trải nghiệm trò chơi được Moreno, C., thảo luận trong một nghiên cứu điển hình về trò chơi di động Kiwaka. Trong trò chơi này, do Landka phối hợp với ESA và ESO phát triển, sự tiến bộ được thưởng bằng nội dung giáo dục, trái ngược với các trò chơi giáo dục truyền thống, nơi các hoạt động học tập được thưởng bằng trò chơi. Học bằng đối thoại. "Học bằng đối thoại" là một loại học tập dựa trên đối thoại. Học tập ngẫu nhiên. Trong "việc giảng dạy ngẫu nhiên, việc" học tập không được lên kế hoạch bởi người hướng dẫn hoặc học sinh, nó xảy ra như một sản phẩm phụ của một hoạt động khác - một trải nghiệm, quan sát, tự phản ánh, tương tác, sự kiện duy nhất hoặc nhiệm vụ thông thường. Việc học này diễn ra ngoài hoặc ngoài kế hoạch của người hướng dẫn và mong đợi của học viên. Một ví dụ về giảng dạy ngẫu nhiên là khi người hướng dẫn đặt một đoàn tàu lên trên tủ. Nếu đứa trẻ chỉ tay hoặc đi về phía tủ, người hướng dẫn sẽ nhắc học sinh nói "tàu hỏa". Một khi đứa trẻ nói "tàu hỏa", nó sẽ được chơi với đoàn tàu. Dưới đây là một số bước thường được sử dụng nhất trong giảng dạy ngẫu nhiên: Học tập ngẫu nhiên là một sự cố thường không được tính đến khi sử dụng các phương pháp truyền thống về mục tiêu giảng dạy và đánh giá kết quả. Loại hình học tập này xảy ra một phần như một sản phẩm của tương tác xã hội và sự tham gia tích cực vào cả các khóa học trực tuyến và tại chỗ. Nghiên cứu ngụ ý rằng một số khía cạnh chưa được đánh giá của học tập tại chỗ và học trực tuyến thách thức sự tương đương của giáo dục giữa hai phương thức. Cả học tại chỗ và học trực tuyến đều có những lợi thế khác biệt với sinh viên truyền thống trong khuôn viên trường trải nghiệm mức độ học tập ngẫu nhiên cao hơn trong nhiều lĩnh vực gấp ba lần so với sinh viên trực tuyến. Nghiên cứu bổ sung được yêu cầu để điều tra ý nghĩa của những phát hiện này cả về mặt khái niệm và sư phạm. Miền. Benjamin Bloom đã đề xuất ba lĩnh vực học tập: Các miền này không loại trừ lẫn nhau. Ví dụ, trong việc học chơi cờ vua, người đó phải học các quy tắc (lĩnh vực nhận thức) - nhưng cũng phải học cách sắp đặt các quân cờ và cách cầm và di chuyển một quân cờ đúng cách (tâm lý vận động). Hơn nữa, sau này trong trò chơi, người đó thậm chí có thể học cách yêu chính trò chơi, coi trọng các ứng dụng của nó trong cuộc sống và đánh giá cao lịch sử của nó (miền tình cảm).
1
null
Tư Mã Du (司馬攸; 248-283), con thứ của Tư Mã Chiêu, em ruột Tư Mã Viêm, về sau Tư Mã Chiêu thấy anh mình là Tư Mã Sư không có con nên tặng ông cho Tư Mã Sư (vốn gọi Tư Mã Sư là bác), được phong Tề Vương năm 265. Ông từng được Tư Mã Chiêu chọn làm Thái Tử kế vị Tấn Vương để sau đó lên làm hoàng đế (vì là con sau này của Tư Mã Sư) nhưng thực tế là vai em của Tư Mã Viêm nên cuối cùng đã không được chọn Thái Tử. Gia đình. Anh em ruột. Anh em ruột vì vậy tất cả anh em là con Tư Mã Chiêu
1
null
Tư Mã Quýnh (chữ Hán: 司马冏, ?-302), tên tự là Cảnh Trị (景治) là một thân vương của nhà Tấn. Ông là một trong những Vương gia nhà Tấn gây ra Loạn bát vương, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Tây Tấn. Trong Loạn bát vương. Tư Mã Quýnh là con trai và là thế tử của Tề vương Tư Mã Du. Tề vương Du là em ruột Tấn Vũ Đế, chú Tấn Huệ Đế nên Tư Mã Quýnh gọi Tấn Vũ Đế là bác và là vai em của Tấn Huệ Đế. Sau khi Tề vương Tư Mã Du chết năm 284, ông được kế vị làm Tề vương. Trong cuộc nổi loạn của Triệu vương Tư Mã Luân, Tề vương Quýnh đã giúp đỡ cho Tư Mã Luân lên ngôi hoàng đế thay Tấn Huệ Đế, tuy nhiên do Luân ban thưởng quá bạc bẽo, nên Tề vương Quýnh sinh lòng oán hận, truyền hịch đến một loạt các vị vương chư hầu khác nổi dậy định lật đổ Tư Mã Luân. Ông cùng với Hà Giang vương Tư Mã Ngung, Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh, Thường Sơn vương Tư Mã Nghệ và Tân Dã vương Tư Mã Hâm cùng khởi binh đánh Tư Mã Luân, được hơn 50 vạn người, thanh thế rất lớn. Tháng Tư (âm lịch) năm 301, các vương hội nhau làm loạn, đánh về triều. Tư Mã Luân chống không nổi, thua, bị bắt sống. Tấn Huệ Đế được rước về triều. Còn Luân bị tống giam ở thành Kim Dung, sau đó bị bức tử. Tề vương Quýnh sau đó làm nhiếp chính cho Tấn Huệ Đế. Do hoàng đế bệnh tâm thần nên ông nắm quyền hành của vua, kiêu ngạo, lấn át vua và bị quần thần oán ghét. Không lâu sau, các quan đại thần trong triều phát động đảo chính, giết chết Quýnh vào năm 302.
1
null
Chó Nhật (tiếng Nhật: 狆, chin) là giống chó của hoàng gia Nhật. Giống chó này thường được nuôi làm cảnh hoặc để bầu bạn. Ngoại hình. Khi đứng, chó Nhật cao khoảng 20 đến 27 cm (8 – 11 in) tính đến vai. Khối lượng của chúng rất đa dạng, từ 3 lbs cho đến 15 lbs, thông thường trung bình là 7 đến 9 pound. Giống chó phương Đông này có đầu lớn, mắt to, tai mọc lông dài và có khoang hoa văn ở mặt.
1
null
Chùa Lôi Âm là một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Quảng Ninh với phong cảnh rất đẹp và nổi tiếng linh thiêng. Tên gọi. Tên chữ của chùa là: "Linh Thứu Kỳ Sơn Lôi Âm tự" (靈鷲奇山雷音寺) tạm hiểu là "chùa Lôi Âm trên núi Linh Thứu". Theo truyền thuyết vẫn được lưu truyền tại chùa, tên chùa được giải thích như sau: Lịch sử và di tích. Theo Đại Nam nhất thống chí, phần giới thiệu về chùa quán, danh thắng của tỉnh Quảng Ninh có chép rằng: Qua các bia đá còn sót lại tới ngày nay có thể thấy rằng chùa Lôi Âm trước đây đã từng là một danh thắng nổi tiếng ở xứ Hải Đông và được xây dựng vào thời Trần. Chùa hiện còn lưu giữ được một số bia đá ghi chép lại các lần trùng tu chùa, như tấm bia tạo dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) có ghi: "Các chủ sãi, vãi ở các tổng thuộc huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Hoa Phong, phủ Hải Đông, đạo An Bang đóng góp công đức tu sửa 1 gian, 1 chái, nhà thượng điện, nơi thiêu hương... Trăm phúc ngàn lộc, tựa đẳng hà sa, để lại cho con cháu muôn đời." Năm Vĩnh Thuận thứ 3 (1660), các Phật tử lại thành tâm công đức tôn tạo 11 pho tượng Phật. Tấm bia ghi lại việc trùng tu lần thứ ba không còn đọc được niên đại nhưng cho biết rõ lần trùng tu này đã tu sửa 16 pho tượng, 3 gian thượng điện, tiền đường... "khiến cho ai đến đây, thấy cảnh chùa cũng phải khen ngợi". Một số tấm bia đá khác ở chùa Vạn Triều và chùa Sùng Đức (đã thành phế tích, cùng ở trong khu vực lân cận với chùa Lôi Âm) còn sót lại tới ngày nay, đều ca ngợi chùa Lôi Âm là một danh thắng của vùng Hải Đông thời bấy giờ. Trải qua mưa nắng, thời gian và chiến tranh chùa Lôi Âm đã bị hư hại và cho tới mấy năm gần đây đã được trùng tu lại trên nền chùa xưa. Những di vật của ngôi chùa cũ còn được giữ lại, đáng chú ý có 14 tháp mộ xây bằng đá xanh và gạch, 2 thống đá, 1 cây hương đá cao 2,48m được chạm hoa sen, hoa cúc, 5 bia đá với những hoa văn trang trí mang đậm dấu ấn mỹ thuật thời đại Lê - Mạc (thế kỷ XVII) và nhiều chân cột bằng đá. Ngoài ra, xung quanh chùa vẫn còn những cây muỗm cổ thụ đường kính thân tới hơn 1m và nhiều loại cây lớn khác. Cảnh quan và du lịch. Nằm bên cạnh chùa Lôi Âm, hồ Yên Lập là điểm nhấn cho cảnh quan nơi đây, như một bức tranh thủy mặc làm tôn thêm vẻ đẹp cho chùa. Xuất phát từ nhu cầu cung cấp nước tưới cho các huyện Hoành Bồ, Yên Hưng, hồ Yên Lập được hình thành từ năm 1975 và được coi là công trình thủy lợi lớn nhất của tỉnh. Trên hồ có các đảo nổi tự nhiên như đảo Bàn Tay, đảo Canh, đảo Cua, đảo Giáp Giới... cùng với những đồi thông xanh bao phủ xung quanh bờ như càng tăng thêm cảnh trí nơi đây. Trước khi vào đến chân núi để leo lên chùa, khách hành hương đi đò máy miễn phí qua hồ và ngắm nhìn cảnh quan tuyệt đẹp. Một trong những nét riêng của chùa Lôi Âm là du khách, phật tử đến lễ chùa, mỗi người thường xách theo đôi viên gạch đỏ để công đức cho nhà chùa. Gạch thì nhà chùa đã chuẩn bị sẵn, buộc dây từng đôi một cho những người có sức, có tâm. Có lệ như vậy bởi Lôi Âm là một ngôi chùa cổ đã xuống cấp. Thời gian vừa qua, chùa được đầu tư trùng tu, xây mới lại nhiều hạng mục công trình nhưng công sức để vận chuyển nguyên vật liệu vượt đồi núi cao quả là tốn sức người. Nên cách vận động tâm, sức người hành hương lễ Phật, góp ít thành nhiều, tích tiểu thành đại là một cách làm hay. Đã là thành tâm dâng công sức cho cửa Phật, dù ít dù nhiều cũng xách một đôi gạch để thể hiện lòng thành và ý chí của bản thân. Đến nay (2016) việc vận chuyển gạch đã hoàn thành, thập phương du khách không còn cảnh mỗi người xách một xách gạch lên chùa nữa nhưng khi nói đến chùa Lôi Âm nghĩa cử đó vẫn còn nhiều người nhớ mãi. Lễ hội. Ngày 27 tháng giêng hàng năm là ngày giỗ tổ chùa, vào ngày ấy rất đông du khách đến làm lễ cầu an lành. Theo Đại Nam nhất thống chí thì "trước đây cứ vào dịp tháng Giêng, trai gái dạo chơi, hội chùa Lôi Âm là hội lớn của một vùng". Nay lệ xưa vẫn được duy trì, có khác chăng là ngoài đi lễ Phật, xem hội chọi gà, đánh vật, đánh cờ... du khách còn có dịp bơi thuyền trên hồ Yên Lập, ngắm cảnh, hoà mình vào non nước, mây trời để cùng chiêm nghiệm chốn cửa thiền.
1
null
Bính Tý Hồ loạn hay còn được gọi là Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ hai của Mãn Châu diễn ra vào năm 1636 là sự tiếp nối lần xâm lược thứ nhất năm 1627, khi nhà Mãn Thanh mở rộng thế lực buộc nhà Triều Tiên phải thần phục. Tên gọi. Trong tiếng Hàn, cuộc xâm lược của nhà Thanh (1636–1637) được gọi là '"Byeongja Horan"' (), năm 1636 tương đương năm '"Bính Tí"' trong can chi và "'Hồ loạn"' nghĩa là sự náo loạn do người man di phía bắc hoặc tây gây ra, từ hồ 胡 ("ho"; phía bắc hoặc phía tây, thường chỉ người man di du mục) + loạn 亂 ("chạy "; nghĩa là hỗn loạn, xáo trộn, bất ổn, nổi dậy, nổi loạn). Bối cảnh. Sau cuộc xâm lược lần thứ nhất vào năm 1627, Triều Tiên vẫn là một thách thức đối với người Mãn Châu. Quan hệ thương mại Kim - Triều trở nên xấu đi và Triều Tiên bắt đầu trở mặt với Hậu Kim. Nhà Kim đã buộc tội Triều Tiên chứa chấp những kẻ chạy trốn và cung cấp cho quân đội nhà Minh ngũ cốc. Thậm chí, khi Hoàng Thái Cực xưng đế, cải quốc hiệu Đại Thanh, Triều Tiên vẫn giữ thái độ thách thức, không công nhận nhà Đại Thanh mới thành lập. Hoàng Thái Cực sai Anh Nga Nhĩ Đại và Mã Phúc Tháp đến Hán Thành thuyết phục Triều Tiên đầu hàng xưng thần, nhưng vua Triều Tiên là Nhân Tổ không những không nghe mà còn mai phục quân sĩ định ám sát sứ thần Đại Thanh. Anh Nga Nhĩ Đại và Mã Phúc Tháp thoát chết quay trở về Mãn Châu. Triều đình Triều Tiên quyết định tham chiến, mặc dù không tăng cường sức mạnh quân sự. Thông báo tuyên chiến của Triều Tiên được gửi tới Pyongan-do (Bình An đạo) còn bị Anh Nga Nhĩ Đại bắt giữ. Các Bối Lặc đã rất tức giận với phản ứng của Triều Tiên và đề nghị một cuộc xâm lược ngay lập tức, nhưng hoàng đế nhà Thanh Hoàng Thái Cực đã chọn tiến hành một cuộc đột kích chống lại nhà Minh trước tiên. Đã có lúc, lực lượng nhà Thanh dưới A Tế Cách tiến gần đến Bắc Kinh tại cầu Lư Câu. Mặc dù cuối cùng bị đẩy lùi, cuộc đột kích cho thấy rõ hàng phòng thủ của Minh không còn đủ khả năng đảm bảo biên giới. Sau cuộc hành quân thành công chống lại Minh, Hoàng Thái Cực quay sang Triều Tiên và tiến hành một cuộc tấn công vào tháng 12 năm 1636. Trước cuộc xâm lược, Hoàng Thái Cực đã cử A Ba Thái, Tế Nhĩ Cáp Lãng và A Tế Cách để bảo đảm các phương án tiếp cận ven biển tới Triều Tiên, ngăn chặn nhà Minh không thể gửi quân tiếp viện. Khổng Hữu Đức nổi dậy chống nhà Minh và sau đó đầu hàng nhà Thanh được phong là Cung Thuận Vương, tham gia các cuộc tấn công vào Ganghwa (Giang Hoa đảo) và Ka (Bì đảo). Những người đầu hàng nhà Thanh như Cảnh Trọng Minh và Thượng Khả Hỉ cũng đóng vai trò nổi bật trong cuộc xâm lược Triều Tiên. Mặt trận ngoại giao. Sau cuộc xâm lược năm 1627, Triều Tiên vẫn duy trì quan hệ trên danh nghĩa một cách miễn cưỡng với Hậu Kim. Tuy nhiên, một loạt các sự kiện liên quan đến ba quốc gia (Triều Tiên, Hậu Kim và Minh) đã làm xấu đi mối quan hệ giữa Hậu Kim và Triều Tiên cho đến khi cuộc xâm lược bắt đầu vào năm 1636. Sự đầu hàng của Khổng và Cảnh. Sau khi cuộc nổi loạn Ngô Kiều (Ngô Kiều binh biến) bị chấm dứt, Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh quy hàng nhà Kim, cả hai đã hỗ trợ Mãn Châu với lực lượng khá lớn với số lượng 14,000 binh sĩ và 185 tàu chiến. Đánh giá cao sự hữu ích của thủy quân của cả hai trong chiến tranh ở tương lai, nhà Kim đã ban thưởng rất hậu cho Khổng và Cảnh. Triều Tiên nhận được yêu cầu viện trợ từ cả nhà Kim và nhà Minh về cuộc nổi loạn. Một chiếu sắc phong cho cha của vua Nhân Tổ, Định Viễn quân, từ triều đình nhà Minh đã dẫn đến việc Triều Tiên đứng về phía nhà Minh và chỉ cung cấp cho binh lính nhà Minh. Điều này đã mang đến cho nhà Kim ấn tượng rằng Triều Tiên sẽ sát cánh cùng Minh khi chiến tranh nổ ra. Triệt tiêu Triều Tiên trở thành điều kiện tiên quyết cho một chiến dịch thành công trong tương lai chống lại Minh. Ngoài ra, sức mạnh thủy quân của những tường nhà Minh đầu hàng đã khiến triều đình nhà Kim tin tưởng rằng có thể dễ dàng tấn công triều đình Triều Tiên ngay cả khi di tản đến một hòn đảo gần đó như Giang Hoa đảo. Điều này cung cấp cho nhà Kim nền tảng quân sự trong việc duy trì một vị trí mạnh mẽ chống lại Triều Tiên. Chuẩn bị chiến tranh không đầy đủ của Triều Tiên. Một sứ thần nhà Minh, Lư Vĩ Ninh đã đến thăm Triều Tiên vào tháng 6 năm 1634 để chủ trì lễ đăng cơ Thế tử Triều Tiên. Tuy nhiên, sứ thần yêu cầu số tiền hối lộ quá mức để đổi lấy buổi lễ có thể được diễn ra. Ngoài ra, khá nhiều thương nhân nhà Minh tham dự cùng sứ thần đã tìm cách kiếm được khối tài sản khổng lồ bằng cách buộc các giao dịch bất bình đẳng đối với các thương nhân Triều Tiên. Chuyến thăm của sứ thần cuối cùng đã tiêu tốn của Triều Tiên hơn 100.000 lượng bạc. Với sự giúp đỡ từ Minh, giờ đây vua Nhân Tổ đã có thể đưa bài vị của Định Viễn Đại viện quân vào Tông miếu. Vì Định Viễn quân chưa bao giờ nắm quyền với tư cách là vua, nên nỗ lực này đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ các quan chức triều đình, kéo dài đến đầu năm 1635. Thêm vào đó, lăng mộ của vua Tuyên Tổ đã vô tình bị hư hại vào tháng 3 năm 1635 và cuộc tranh luận chính trị về trách nhiệm tiếp tục cho vài tháng tới Những vấn đề này đã ngăn cản Triều Tiên thực hiện đủ biện pháp để chuẩn bị cho một cuộc xâm lược có thể xảy ra từ Hậu Kim. Xung đột ngoại giao. Tháng 2/1636, Hậu Kim cử Tatara Ingguldai làm khâm sứ đến Triều Tiên để tham dự lễ tang của Nhân Liệt Vương hậu. Tuy nhiên mục đích chính của phái đoàn là tự hào về sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng gần đây của Hậu Kim và dò xét ý kiến ​​của Triều Tiên về sự lên ngôi của Hoàng Thái Cực với tư cách là "Hoàng đế" sắp tới. Điều này đã gây sốc cho Triều Tiên, vì Hoàng đế nhà Minh là hoàng đế hợp pháp duy nhất theo quan điểm của họ. Sau đó là những ý kiến ​​cực kỳ thù địch gia tăng về Hậu Kim trong triều đình và ngoài triều đình. Bản thân đoàn khâm sứ đã phải trải qua sự đe dọa đến tính mạng khi các học sĩ Thành Quân Quán (Sungkyunkwan) kêu gọi xử tử và các binh sĩ với vũ khí đã lảng vảng quanh các khu vực xung quanh nơi ở của đoàn khâm sứ. Cuối cùng, các sứ giả buộc phải sơ tán khỏi Triều Tiên và quay trở lại Hậu Kim. Mối quan hệ ngoại giao giữa sau đó Kim và Triều Tiên hầu như bị cắt đứt. Hoàng Thái Cực trở thành hoàng đế vào tháng 4 năm 1636 và đổi tên đất nước của mình từ Hậu Kim thành Đại Thanh. Các sứ giả từ Triều Tiên cũng có mặt tại buổi lễ đã từ chối cúi đầu trước hoàng đế. Mặc dù hoàng đế tha thứ cho họ, nhưng các sứ thần Triều Tiên vẫn phải mang theo thông điệp của Hoàng Thái Cực về nước. Thông điệp tố cáo các hoạt động trước đây của Triều Tiên đi ngược lại sự quan tâm của Đại Thanh. Thông điệp cũng tuyên bố ý định sẽ xâm chiếm Triều Tiên trừ khi họ thể hiện sự sẵn sàng thay đổi chính sách bằng cách cung cấp một trong những hoàng tử của nó làm con tin Sau khi nhận thông điệp, những người cứng rắn chống lại Thanh đã phản đối. Họ thậm chí còn yêu cầu xử tử các sứ thần vì không phá hủy ngay thông điệp trước mặt chính Hồng Thái Cực. Vào tháng 6 năm 1636, Triều Tiên cuối cùng đã gửi thông điệp của họ đến nhà Thanh, đổ lỗi nhà Thanh đã làm mối quan hệ giữa hai quốc gia xấu đi. Trước cuộc chiến. Bây giờ, chuẩn bị cho chiến tranh là tất cả những gì còn lại đối với Triều Tiên. Trái ngược với sức nóng của sự ủng hộ chiến tranh, tiếng nói của các đại thần đề xuất các kế hoạch và chiến lược khả thi đã không được coi trọng. Vua Nhân Tổ, người vẫn còn phần sợ cuộc đụng độ trực diện với quân đội nhà Thanh hùng mạnh, đã lắng nghe lời khuyên của Thôi Minh Cổ (Choi Myunggil - 崔鳴吉) và một cố vấn quân sự nhà Minh Hoàng Tôn Vũ, quyết định phái sứ giả đến Thẩm Dương vào tháng 9 năm 1636 với mục đích hòa bình. Mặc dù các sứ giả thu thập một số thông tin về tình hình của Thẩm Dương, họ đã bị từ chối không được gặp Hoàng Thái Cực. Điều này càng khiến những người theo đường lối cứng rắn ở Triều Tiên phẫn nộ và dẫn đến việc cách chức Thôi Minh Cổ. Mặc dù vua Nhân Tổ đã phái một nhóm sứ giả khác đến Thẩm Dương vào đầu tháng 12, nhưng đây là sau khi nhà Thanh đã lên kế hoạch xâm chiếm Triều Tiên vào ngày 25 tháng 11. Chiến tranh. Tháng 12 năm 1636, Hoàng Thái Cực đích thân xuất chinh, dẫn 12 vạn quân Bát kỳ Mãn Châu, Mông Cổ và Hán quân tiến đánh Triều Tiên. Để tránh lực lượng quân Triều Tiên do tướng Im Gyeong-eop đóng ở Uiju, Thân vương Đa Đạc dẫn quân tiên phong chặn đường rút của vua Nhân Tổ ra đảo Ganghwa, Mã Phúc Tháp dẫn một cánh quân đột kích Hán Thành, Đa Nhĩ Cổn dẫn binh tiếp ứng. Bên cạnh đó, để đề phòng nhà Minh tập kích, Tế Nhĩ Cáp Lãng ở lại bảo vệ Thịnh Kinh, A Tế Cách giữ cửa biển Liêu Hà. Hoàng Thái Cực đốc suất các cánh quân còn lại tiến thẳng vào Triều Tiên. Đầu cuộc chiến, quân Thanh tổ chức tấn công các pháo đài bảo vệ biên giới của Triều Tiên dọc biên giới Thanh - Triều. Do đã có sự chuẩn bị tốt, các pháo đài này đều thành công trong việc đẩy lui nhiều đợt tấn công của quân Thanh. Tại pháo đài Baengma, tướng Lâm Khánh Nghiệp (Im Gyeong Eop) chỉ với 3000 quân đã chống trả và đánh bại nhiều đợt tấn công của 30,000 quân Thanh. Sau khi nhận thấy việc tấn công và đánh hạ các pháo đài dọc biên giới không hiệu quả, quân Thanh đã lựa chọn phương án là bỏ qua các pháo đài này và tấn công thẳng vào nội địa. Không thể chạy ra đảo Ganghwa, Triều Tiên Nhân Tổ buộc phải tới Nam Hán Sơn thành (chữ Hán: 南漢山城, chữ Triều Tiên: 남한산성, Namhansansŏng) và bị vây hãm ở đây. Quân Triều Tiên cố thủ trong các thành lũy bị lâm vào tình trạng khan hiếm lương thực và vũ khí. Một đạo quân Triều Tiên 15,000 người từ phía nam lên giải vây nhưng bị đánh bại, duy chỉ có đạo viện quân từ P'yongan về giải vây do Tướng Hong Myŏnggu và Yu Lim chỉ huy là đánh bại được quân Thanh trong trận Kimhwa và tiến được đến vùng ngoại ô Nam Hán Sơn Thành; Nhà Minh Trung Quốc cố gắng gửi viện binh cho Triều Tiên, nhưng đã bị bão biển nhấn chìm. Ngày 27 tháng 1 năm 1637, Đa Nhĩ Cổn chiếm được đảo Ganghwa, bắt giữ con trai thứ hai và hậu cung của vua Nhân Tổ. Cộng với việc quân dân trong thành Nam Hán đã sức cùng lực kiệt, Nhân Tổ buộc phải chấp nhận một hòa ước với quân Thanh, với những điều khoản nặng nề hơn: Hoàng Thái Cực cho dựng một bục cao tại Tam Điền Độ (Samjeondo, 三田渡) thượng nguồn sông Hán. Vua Nhân Tổ ở dưới bục quy phục Hoàng Thái Cực. Nhân Tổ đã phải làm lễ dập đầu lạy chín lần (tam quỵ cửu khấu 三跪九叩) trước mặt Hoàng Thái Cực. Sau đó bia "Công đức Hoàng đế Đại Thanh" đã được dựng lên tại đây. Theo các điều khoản đầu hàng Triều Tiên phải đưa quân tấn công đảo Bì gần cửa sông Áp Lục. Sau một thời gian giao tranh, quân Thanh cũng chiếm được đảo Bì và quân nhà Minh đã buộc phải rút về Sơn Đông bằng đường biển. Hậu chiến. Nhiều phụ nữ Triều Tiên đã bị bắt cóc và bị hãm hiếp bởi quân nhà Thanh, và kết quả là họ không được gia đình chấp nhận ngay cả khi họ được nhà Thanh thả ra sau khi nhận được tiền chuộc. Năm 1648, Triều Tiên buộc phải cung cấp một số công chúa hoàng gia của họ làm thiếp cho Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính nhà Thanh. Năm 1650, Đa Nhĩ Cổn kết hôn với Công chúa Nghĩa Thuận công chúa (Uisun gongju 義順公主), con gái của Cẩm Lâm quân Lý Khải Dận (Yi Gyeyun), đã được Phụng Lâm đại quân, vua Hiếu Tông sau này, nhận làm con nuôi. Đa Nhĩ Cổn kết hôn với hai công chúa Triều Tiên tại Liên Sơn. Tướng quân Triều Tiên Lâm Khánh Nghiệp (Im Gyeong Eop), người chịu trách nhiệm bảo vệ pháo đài Bạch Mã (Baengma) ở biên giới Thanh-Triều, đã tiến xuống Hán Thành (Hanseong) và phục kích một nhóm quân Thanh đang trở về nhà, chặt đầu tướng quân Yêu Chùy (要槌, cháu trai của Hoàng Thái Cực). Do không biết về việc đầu hàng vào thời điểm đó, nên đã được Hoàng Thái Cực tha tội, đồng thời cũng rất ấn tượng trước hành động dũng cảm của Lâm thay mặt cho vương quốc. Lâm đã yêu cầu sự hỗ trợ quân sự từ Hán Thành vào đầu cuộc chiến (kế hoạch không bao giờ xảy ra) và tự mình lên kế hoạch tấn công Thẩm Dương. Người Triều Tiên tiếp tục chính thức công nhận chứ hầu nhà Thanh nhưng thái độ không phục một cách kín đáo. Các học giả Triều Tiên đã bí mật sử dụng tên thời nhà Minh ngay cả sau khi nhà Minh sụp đổ và nhiều người cho rằng Triều Tiên lẽ ra phải là người kế vị hợp pháp của triều đại nhà Minh và nền văn minh Trung Quốc thay vì nhà Thanh "man rợ". Bất chấp hiệp ước hòa bình cấm xây dựng công sự, các công sự vẫn được dựng lên xung quanh Hán Thành và khu vực phía bắc. Hiếu Tông sống như một con tin trong bảy năm ở Thẩm Dương đến khi anh thành công Nhân Tổ. Hiếu Tông đã lên kế hoạch cho một cuộc xâm lược của nhà Thanh được gọi là Bukbeol (북벌, 北伐, Bắc phạt) trong mười năm làm vua, và đã bị hủy bỏ khi ông qua đời. Từ năm 1639 đến năm 1894, triều đình Triều Tiên đã đào tạo một đội ngũ các dịch giả Hàn-Mãn chuyên nghiệp. Họ thay thế những người phiên dịch trước đó của Jurchen, người đã được huấn luyện sử dụng sách giáo khoa bằng chữ Jurchen (Nữ Chân văn). Sách giáo khoa tiếng Mãn đầu tiên của Triều Tiên được soạn thảo bởi Thân Kế Ảm (Shin Gye-am), người trước đây từng là thông dịch viên của Jurchen, và đã chuyển ngữ các sách giáo khoa cũ của tiếng Jurchen sang chữ Mãn. Sách giáo khoa chuyển thể của Thân, được hoàn thành vào năm 1639, được sử dụng cho các kỳ thi đủ điều kiện dịch khoa (yeokgwa) cho đến năm 1684. Kỳ thi Mãn Châu thay thế kỳ thi Jurchen, và tiêu đề chính thức của kỳ thi không được thay đổi từ "Jurchen" thành "Mãn Châu" cho đến năm 1667. Cho đến năm 1894, Triều Tiên vẫn là một nhà nước triều cống của triều đại nhà Thanh, mặc dù ảnh hưởng của người Mãn Châu ở Triều Tiên đã giảm từ cuối thế kỷ 18 khi Triều Tiên bắt đầu thịnh vượng trở lại. Đế quốc Nhật Bản buộc triều đại nhà Thanh thừa nhận khi kết thúc mối quan hệ chư hầu của Trung Quốc với Triều Tiên sau khi Trung-Nhật chiến tranh thứ nhất (1894-1895), và mở ra ảnh hưởng của Nhật Bản trong vấn đề Triều Tiên. Nhật Bản sau đó sẽ xâm chiếm và sáp nhập Triều Tiên vào đầu thế kỷ 20.
1
null
Đám cưới chạy bầu hay đám cưới shotgun từ tiếng Anh là một cuộc đám cưới, được sắp xếp để tránh xấu hổ do người phụ nữ có thai mà không dự định trước, hơn là do từ ý muốn của đôi bên. Từ được dùng ở Mỹ dựa trên một hoàn cảnh giả sử là người cha của phụ nữ có bầu sẽ dùng áp lực (chẳng hạn như đe dọa với một khẩu súng) để bảo đảm là người đàn ông làm cho con mình có bầu, chấp nhận làm đám cưới. Châu Á. Nhật Bản. Ở Nhật Bản đôi tình nhân lấy nhau vì người nữ có bầu hay xảy ra. Chữ tương đương với đám cưới chạy bầu bên Nhật gọi là dekichatta kekkon. Người Nhật không còn ngượng ngập, hay xấu hổ vì chuyện đó. Theo một phát ngôn viên văn phòng tổ chức đám cưới Watabe Wedding, quan điểm thay đổi từ cuối thập niên 1990 khi một số nhân vật nổi tiếng làm đám cưới khi họ có bầu . Theo bộ Sức khỏe, Lao động và Xã hội Nhật trong năm 2000 26 % các đám cưới xảy ra sau khi người nữ có bầu, vào năm 1980 chỉ có 13%. Người Nhật cũng thường làm đám cưới trễ. Số tuổi trung bình của người nữ khi làm đám cưới tăng từ 25 (1975) lên 27 tuổi (năm 2000). Trong số các cặp đám cưới mà cô dâu từ 20 đến 24 tuổi, 58% lấy nhau vì người nữ mang thai .Theo một bài viết năm 2001 trên tờ the Asahi Shimbun's weekly AERA, các đám cưới chạy bầu có thể chia ra làm hai loại:
1
null
Agonopterix ciliella là một loại bướm đêm trong họ Oecophoridae. Nó được tìm thấy hầu hết ở Châu Âu ngoại trừ bán đảo Iberia, hầu hết ở bán đảo Balkan và Benelux. Ở Bắc Mỹ cũng tìm thấy loài này. Sải cánh dài 19–24 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 8 tới tháng 5. Ấu trùng ăn các loại cây có hoa hình tán khác nhau, bao gồm "Angelica sylvestris", "Aegopodium podagraria", "Heracleum sphondylium", "Daucus", "Selinum", "Silaum", "Chaerophyllum", "Pastinaca", "Anthriscus", "Meum" và "Peucedanum palustre". Ấu trùng tìm thấy từ tháng 6 tới tháng 9.
1
null
XM-26 LSS (Lightweight Shotgun System) hay M26 MASS (Modular Accessory Shotgun System) là loại súng shotgun được phát triển trong chương trình US Army's Soldier Battle Lab khởi động từ cuối những năm 1990. Nó được chế tạo bởi công ty C-More Systems với ý tưởng về một hệ thống hỗ trợ chiến đấu nhẹ có thể gắn vào vũ khí chính của người lính mà trong trường hợp này là M16. Súng cung cấp các chức năng bổ sung cho vũ khí chính như một loại shotgun bằng việc sử dụng các loại đạn khác nhau như phá cửa, sử dụng đạn sát thương cao để cận chiến hay các loại đạn phi sát thương khác như đạn cao su, đạn hơi cay... cùng các loại đạn khác cho từng mục đích. Nó thích hợp với những người lính thích mang ít số vũ khí đem theo để nhẹ nhàng cho việc di chuyển, với việc gắn cả hai loại vũ khí với nhau nó trở nên gọn và nhẹ hơn so với việc phải vác nguyên một khẩu shotgun khác. Ý tưởng này dựa theo hệ thống vũ khí KAC Masterkey của công ty Knight's Armament Company được giới thiệu những năm 1980 khi đó các khẩu shotgun Remington 870 được cưa ngắn lại để gắn dưới các khẩu M16. M26 là cải tiến của Masterkey với hộp đạn có thể tháo rời để dễ dàng cho việc sử dụng hơn là ống đạn kiểu bơm trước đó. Hiện tại thì loại súng này được cung cấp với số lượng nhỏ để thử nghiệm tại Afghanistan và đang nhận được đánh giá tích cực. Quân đội Hoa Kỳ dự tính mua 35.000 khẩu và 9.000 khẩu đã được lập hợp đồng mua. Thiết kế. M26 MASS sử dụng thoi nạp đạn trượt và xoay để nạp đạn bằng tay với nút kéo lên đạn có thể đặc tùy chọn ở hai bên thân súng. Nòng súng được gắn một bộ phận chống giật được thiết kế riêng cho súng. Súng không có điểm ruồi khi gắn với vũ khí chính và xạ thủ sẽ sử dụng điểm ruồi của vũ khí chính cho việc nhắm. Nhưng khi được tháo ra để tác chiến độc lập thì nó có thanh răng trên thân để gắn các hệ thống nhắm phù hợp cũng như tay cầm cò súng và báng súng sẽ được gắn vào khi ở dạng này. Hộp đạn rời có thể chứa được 3 đến 5 viên.
1
null
Vương Ngữ Yên là nhân vật hư cấu trong bộ truyện "Thiên long bát bộ" của nhà văn Kim Dung. Trong tiểu thuyết bản cũ nhân vật này có tên là Vương Ngọc Yến, sau này được tác giả đổi lại thành Vương Ngữ Yên như chúng ta đã biết. Vương Ngữ Yên là con gái của Vương phu nhân và Đoàn Chính Thuần. Vương Ngữ Yên sống cùng mẹ ở Mạn Đà sơn trang từ khi còn nhỏ. Vẻ đẹp của Vương Ngữ Yên được ví như thiên tiên khi nàng xuất hiện trước mắt Đoàn Dự: "Chỉ một tiếng thở dài tựa như có ma lực hớp mất hồn của Đoàn Dự, vừa thoáng thấy bóng dáng, chàng ta cảm thấy như mây mù bao phủ, tựa như đang ở cõi thần tiên. Nàng xuất hiện với thân hình thon thả, mái tóc dài thướt tha, vẻ đẹp thuần khiết của nàng như còn lan tỏa ra cả xung quanh khiến ai ai cũng choáng ngợp". Vương Ngữ Yên được trời phú cho một vẻ đẹp sắc nước hương trời và một trí tuệ mẫn tiệp hơn người. Cô thuộc làu hầu như mọi kinh sách võ thuật trong thiên hạ (ngoại trừ Lục mạch thần kiếm của Đoàn thị Đại Lý), đến nỗi ai đánh một chiêu một thức cô đều gọi đúng tên chiêu thức đó, đồng thời biết luôn cả cách phá giải. Vô tình cô trở thành quyển từ điển sống võ học, và do cô không hề luyện võ công, nên nhiều thế lực thèm khát muốn bắt cóc cô để làm áp lực với họ Mộ Dung và để cô dạy cho mình những đòn thế võ công thất truyền.
1
null
Ciprofloxacin (hay còn gọi tên viết tắt Tiếng Anh là INN) là thế hệ thuốc kháng kháng sinh fluoroquinolone thứ 2 có phổ kháng khuẩn rộng. Công dụng. Thuốc được chỉ định dùng cho các bệnh nhiễm khuẩn như hô hấp, tiết niệu, sinh dục (viêm cổ tử cung do lậu, viêm tuyến tiền liệt mạn), ruột (tiêu chảy, thương hàn). Thuốc dung nạp đường uống hay tiêm như nhau, tuy nhiên dùng đường uống sẽ tiện hơn. Bên cạnh đó, thuốc có tác dụng cộng hưởng với các nhóm kháng sinh khác (như betalactam, aminozid) nên khi phối hợp thường cho kết quả tốt (ví dụ như với azocillin). Chú ý: không nên vừa sử dụng Ciprofloxacin cùng với Viên Sắt vì nó sẽ làm bất hoạt tác dụng của thuốc khiến thuốc không vận chuyển được trong máu nên không đến được đường tiết niệu để phát huy tác dụng.
1
null
Lớp thiết giáp hạm "St. Vincent" bao gồm ba thiết giáp hạm dreadnought của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc được đặt lườn vào năm 1908 và hoàn tất từ tháng 5 năm 1909 đến tháng 4 năm 1910. Chúng bao gồm các chiếc "St. Vincent", "Collingwood" và "Vanguard", trong đó "Vanguard" bị phá hủy vào năm 1917 trong một vụ nổ hầm đạn có thể do thuốc nổ cordite. Những chiếc còn lại bị tháo dỡ sau chiến tranh. Dáng vẻ bên ngoài của lớp "St. Vincent" khó phân biệt với lớp thiết giáp hạm "Bellerophon" dẫn trước. Cải tiến chủ yếu của lớp tàu này là sử dụng dàn pháo chính BL Mk XI với cỡ nòng 50 caliber, dài hơn so với cỡ 45 caliber trang bị cho lớp trước. Thiết kế. Việc lựa chọn nòng pháo dài hơn trước đây khiến lườn tàu phải được kéo dài thêm giữa tháp pháo X và tháp pháo Y để duy trì khoảng trống giữa tháp pháo và cấu trúc thượng tầng. Lườn tàu dài hơn đòi hỏi mạn thuyền phải rộng hơn để giữ nguyên tỉ lệ dáng lườn tàu. Tất cả góp phần làm tăng trọng lượng choán nước của con tàu thêm so với lớp dẫn trước. Sự bố trí lớp vỏ giáp có ít thay đổi. Chiều dày không thỏa đáng của đai giáp chính vẫn được giữ lại, nhưng được kéo thêm. Bề dày tối đa của lớp giáp sàn chính được tăng đôi chút, nhưng bù lại lớp giáp của sàn giữa phải giảm bớt. Hệ thống động lực cũng được cải thiện so với lớp trước, cho phép có tốc độ thiết kế nhanh hơn trước đây . Tuy nhiên trong thực tế khó nhận thấy sự khác biệt về tốc độ. Trong phục vụ, kiểu pháo BL 12 inch/50 caliber MkXI không được xem là thành công. Đánh đổi với một khả năng đâm xuyên tăng hơn đôi chút, nòng pháo lại bị ảnh hưởng ăn mòn đáng kể và phải thay thường xuyên. Dàn pháo hạng hai cũng được tăng cường từ 16 lên 20 khẩu BL Mk VII. Chúng là những chiếc thiết giáp hạm Anh cuối cùng có các tháp pháo mạn bố trí đối xứng; lớp "Neptune" tiếp theo có các tháp pháo mạn bố trí so le nhằm dự định bắn toàn bộ dàn pháo chính 10 khẩu qua mạn.
1
null
Định lý năm màu (còn gọi là "định lý bản đồ năm màu"): Mọi đồ thị phẳng (G) đều có số màu formula_1. Là một kết quả từ Lý thuyết đồ thị, cụ thể là mọi bản đồ đều có thể tô bằng năm màu sao cho hai nước nằm kề nhau phải được tô bằng hai màu khác nhau. Mặc dù đây là định lý yếu hơn định lý bốn màu, nhưng cách chứng minh này cũng đóng vai trò quan trọng bởi vì đây là cơ sở bước đầu để thiết lập cách chứng minh trọn vẹn cho định lý bốn màu mà phải kiểm tra bằng chương trình máy tính. Dây chuyền luân phiên màu. Giả sử đồ thị phẳng G đã được tô màu các "đỉnh". Một "dây chuyền luân phiền màu" trong G là một dây chuyền sơ cấp mà các "đỉnh" của chúng được tô bằng 2 màu (trong cách tô màu đang áp dụng cho G). Giả sử dây chuyền x0 x1 x2... xk là "dây chuyền luân phiên màu" được tô bởi 2 màu W (White) và B (Black) trong cách tô đang dùng cho G. Nếu x0 được tô bởi W thì x1 được tô bở B, x2 được tô bởi W, x3 được tô bởi B... Sở dĩ như vậy vì các "đỉnh kề" nhau phải sử dụng màu khác nhau, mà các "đỉnh" trên dây chuyền này chỉ được tô bởi W và B. Tính chất của các dây chuyền luân phiên màu. Vì đang xét "biểu diễn phẳng" (tức là vẽ trên mặt phẳng sao cho không có bất kỳ 2 cạnh nào cắt nhau) của đồ thị nên nếu có hai dây chuyền bất kỳ nào đó cắt nhau thì chúng phải có chung "đỉnh", tức là cắt nhau tại đỉnh chung chứ không thể có hai "cạnh" cắt nhau (do cách vẽ "biểu diễn phẳng" không có bất kỳ hai cạnh nào cắt nhau). Kết hợp điều này với định nghĩa của "dây chuyền luân phiên màu" ta suy ra tính chất hiển nhiên nhưng quan trọng sau đây: Hai dây chuyền luân phiên màu" không dùng chung màu thì không thể cắt nhau (vì nếu cắt nhau thì phải có chung "đỉnh", mà "đỉnh" chung đó lại tô một màu nào đó nên hai dây chuyền phải có dùng chung màu)." Sau đây là một mệnh đề quan trọng liên quan đến "đồ thị phẳng", được sử dụng để chứng minh định lý 5 màu. Mệnh đề 1. Giả sử formula_2 là đồ thị đơn, phẳng, liên thông. Khi đó G phải có chứa ít nhất một "đỉnh" có "bậc" nhỏ hơn hay bằng 5. Tức là: formula_3. Chứng minh Giả sử ngược lại: formula_4 Giả sử đồ thị gồm n "đỉnh" và e "cạnh". Nếu số cạnh formula_5 thì điều phải chứng minh là hiển nhiên, ta chỉ xét formula_6. Áp dụng công thức bậc đỉnh số cạnh và formula_7: formula_8 Theo hệ quả của công thức Euler: formula_9 Từ đó suy ra: formula_10 Như vậy ta có điều mâu thuẫn, tức là giả sử formula_11 bị sai. Nhận xét Mặc dù mệnh đề trên giả sử G là đồ thị đơn, phẳng, liên thông, nhưng nếu G (là đồ thị đơn và phẳng) không liên thông thì mỗi thành phần liên thông của G là đồ thị đơn, phẳng, liên thông: áp dụng mệnh đề trên thì tồn tại "đỉnh" trong thành phần liên thông (cũng là đỉnh của G) có bậc không quá 5. Như vậy, chúng ta có mệnh đề sau đây. Mệnh đề 2. Giả sử formula_2 là đồ thị đơn, phẳng. Khi đó G phải có chứa ít nhất một "đỉnh" có "bậc" nhỏ hơn hay bằng 5. Tức là: formula_3 Chứng minh định lý 5 màu. Ta chứng minh quy nạp theo số đỉnh n của đồ thị. Với n = 1, 2, 3, 4, 5 thì hiển nhiên có thể dùng không quá 5 màu để tô màu các đỉnh theo phép tô màu. Giả sử rằng mọi đồ thị phẳng có số đỉnh formula_14 đều có thể tô màu "đỉnh" bằng cách dùng không quá 5 màu. Theo mệnh đề trên G phải chứa một đỉnh x0 mà formula_15 Gọi G1 là đồ thị có được từ G bằng cách xóa đi đỉnh x0. G1 là đồ thị phẳng có n-1 đỉnh theo giả thiết quy nạp có thể tô G1 bằng cách dùng không quá 5 màu, giả sử formula_16 và xét một cách tô màu G1 sử dụng s màu. Ta xét các trường hợp sau đây: Trường hợp 1. Nếu formula_17: chỉ cần lấy cách đang tô cho G1, sau đó tô x0 bằng một màu khác với các màu đã tô cho G1, khi đó ta có cách tô màu G sử dụng formula_18 màu và suy ra: formula_19 Trường hợp 2. Nếu formula_20 và formula_21: x0 kề với không quá 4 "đỉnh", các "đỉnh kề" với x0 sử dụng chưa hết 5 màu, ta lấy cách đang tô cho G1 và tô x0 bằng màu khác với các đỉnh xung quanh x0 (nhưng vẫn nằm trong số 5 màu đang dùng cho G1). Suy ra: formula_22 Trường hợp 3. Nếu formula_23 và formula_24. Xét một phép tô màu G1 dùng 5 màu, giả sử ta dùng các màu R (red), W (white), G (green), B (blue), Y (yellow). Dạng 1. Không tồn tại dây chuyền luân phiên màu Green – White từ đỉnh y1 đến đỉnh y4. Ta đặt tập: "T(y1) = {đỉnh z / có dây chuyền luân phiên Green – White từ y1 đến Z}" với quy ước T(y1) gồm cả y1 thì tập này có các tính chất: Từ đó có thể suy ra có thể thực hiện phép thay đổi màu: các "đỉnh" màu Green trong T(y1) tô lại bằng màu White và ngược lại. Phép đổi màu này chỉ làm ảnh hưởng trong nội bộ của T(y1) và không vi phạm nguyên tắc tô màu bởi vì (do các tính chất nói trên của T(y1)): Sau phép thay đổi màu này thì y1 được tô bằng màu White còn y4 lại vẫn giữ nguyên màu White (do tính chất formula_25): "nhờ vậy ta có thể tô x0 bằng màu Green, nên đồ thị (G) có thể tô màu bằng 5 màu". Dạng 2. Tồn tại dây chuyền luân phiên màu Green – White từ đỉnh y1 đến đỉnh y4. Lúc này ta xét sự tồn tại "dây chuyền luân phiên" màu Blue – Yellow từ y5 đến y3: nếu dây chuyền như vậy tồn tại thì theo tính chất liên tục (xem hình) dây chuyền này phải cắt "dây chuyền luân phiên" màu Green – White: mâu thuẫn với tính chất của "dây chuyền luân phiên màu" bởi vì 2 dây chuyền này không có chung màu. Như vậy: Không tồn tại dây chuyền luân phiên màu Blue – Yellow từ đỉnh y5 đến đỉnh y3. Bằng cách lý luận hoàn toàn tương tự như dạng 1, ta có thể thực hiện "phép thay thế màu" sao cho y5 chuyển thành Yellow còn y3 thì vẫn giữ nguyên màu cũ là Yellow. Lúc đó có thể tô x0 bằng màu Blue, nên đồ thị (G) có thể tô bằng 5 màu. Xem thêm. Đồ thị Định lý bốn màu Tô màu đồ thị
1
null
Chiến tranh Tấn-Ngô 279-280 là cuộc chiến cuối cùng thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Vua Tây Tấn là Tư Mã Viêm phát động chiến tranh và nhanh chóng tiêu diệt nước Đông Ngô (được hình thành từ đầu thế kỷ 3) chỉ sau một chiến dịch. Cuộc chiến tranh này gắn liền với sự kiện nhà Tây Tấn thống nhất toàn quốc, thời Tam Quốc kết thúc. Sự chuẩn bị của Tây Tấn. Trước năm 279. Vào năm 263, Chiến tranh Thục-Ngụy (263-264) do Tư Mã Chiêu sai Chung Hội, Đặng Ngãi dẫn quân tiêu diệt, kết quả Tào Ngụy thâu tóm miền đất phía Tây Thục, quân số gấp 6 lần Đông Ngô. Năm 265, Chiêu mất Tư Mã Viêm lên thay ép Tào Hoán thoái vị, nhà Tây Tấn thành lập. Diễn biến. Sau khi nhà Tấn thành lập năm 265. Tấn Vũ Đế cho nhân dân nghỉ ngơi, quân đội giảm nhẹ căng thẳng. Sau gần 15 năm nghỉ ngơi, mùa đông năm 279, Tư Mã Viêm lệnh cho Vương Tuấn, Đỗ Dự tổng động viên quân đội tấn công Đông Ngô, thống nhất đất nước. Năm 279, thứ sử Ích châu Vương Tuấn và thái úy Đỗ Dự đều dâng biểu nói Tôn Hạo vô đạo, nước Ngô suy yếu nên nhân lúc này mà tiến đánh, hoàn thành vương nghiệp. Vũ Đế nghe theo. Tháng 11 năm đó, dùng Trấn nam đại tướng quân Đỗ Dự làm đại đô đốc, dẫn mười vạn quân ra mặt Giang Lăng; sai Trấn đông đại tướng quân Lang Nha vương Tư Mã Du ra mặt Từ Trung; Yên đông đại tướng quân Vương Hồn ra mặt Hoành Giang; Kiến uy tướng quân Vương Nhung ra mặt Vũ Xương; Bình nam tướng quân Hồ Phấn ra mặt Hạ Khẩu; mỗi người dẫn năm vạn quân tuân theo hiệu lệnh của Đỗ Dự. Lại sai Long Nhương tướng quân Vương Tuấn, Quảng vũ tướng quân Đường Bân xuôi thuyền xuống phía đông. Quân mã thủy bộ cả thảy hơn hai mươi vạn, chiến thuyền vài vạn. Lại sai Quán quân tướng quân là Dương Tế ra đóng ở Tương Dương để coi xét các mặt. Đầu năm 280, Đỗ Dự đưa quân theo hướng Giang Lăng, Vương Hồn xuất Hoành Giang, công đánh Trấn, Thú của Ngô. Tháng 2 ÂL, Vương Tuấn, Đường Bân phá Đan Dương. Người Ngô một trăm cuộn dây xúc xích, mỗi cuộn dài vài trăm trượng, mỗi vòng xúc xích nặng hai ba mươi cân. Dọc theo bờ sông, nội chỗ nào khẩn yếu, thì giăng dây xích ra mà chắn lối thuyền đi. Lại đúc vài vạn cọc sắt, mỗi cái dài hơn một trượng, cắm ngầm ở dưới đáy nước để ngăn quân của Vương Tuấn. Đỗ Dự cho làm người giả, cũng mặc áo giáp cầm khí giới, đứng chung quanh bè, thuận dòng thả xuống. Quân Ngô trông thấy tưởng là người thật, chạy trốn mất cả. Những cọc sắt vướng và bè, đều bị kéo bật cả đi. Trên bè lại có cây đình liệu to, dài vài trượng, to hơn mười ôm, trong vẩy dầu mở, phàm chỗ nào có dây xúc xích, thì đốt cây đình liệu lên, hun vào vòng xích, chỉ một lát xúc xích đứt gẫy, thuyền quân Tấn cứ thế qua sông. Đỗ Dự lần lượt chiếm được các thành Tây Lăng, Kinh Môn, Di Đạo, dùng phục binh đánh bại quân của đô đốc Đông Ngô Hoa Hâm rồi sai Nha môn Chu Chỉ dẫn tám trăm thủy thủ chở thuyền nhỏ sang ngầm sông Trường Giang. Lúc Hoa Hâm chạy về đến thành, thì tám trăm quân của Chu Chỉ nhân lúc xốn xáo, cũng chạy lẫn cả vào trong thành, sau đó bắt được Hoa Hâm. Thủy quân đô đốc Lục Cảnh cũng bị quân Tấn giết mất. Sau đó lại đánh chiếm Giang Lăng. Suốt một dải Nguyên, Tương đến mãi Giao, Quảng, các quận mang ấn ra hàng. Dự sai người cầm cờ tiết đi phủ dụ nhân dân, rồi tiến binh đánh vào Vũ Xương. Giang hạ thái thủ lưu lãng, Đốc Vũ xương chư quân Ngu Bỉnh (con Ngu Phiên) dâng thành hàng Tấn. Đỗ Dự lại đưa quân đánh lấy Kiến Nghiệp. Trước đó Tôn Hạo theo lời Thừa tướng Trương Đễ, đốc Đơn Dương thái thú Thẩm Oánh, Hộ quân Tôn Chấn, phó quân sư Gia Cát Tịnh đem 30000 quân vượt sông giao chiến. Oánh, Tịnh khuyên Đễ đầu hàng Tấn để bảo toàn gia thuộc, Đễ thà chết không chịu bỏ trốn hoặc đầu hàng, vì đó là nỗi nhục lớn. Nhưng ra quân trận nào cũng thua cả, Gia Cát Tịnh đã bỏ đi. Cuối cùng Trương Đễ, Tôn Chấn, Thẩm Oánh... hơn 7800 người bị giết. Vương Tuấn từ Vũ Xương xuôi dòng Trường Giang đến Kiến Nghiệp, Tôn Hạo sai Du Kích tướng quân Trương Thượng đem vạn quân ra chống, nhưng họ đã đầu hàng, người Ngô lo sợ. Vốn Tôn Hạo sủng tín tên hoạn quan Sầm Hồn chẳng khác gì Hậu chủ bên Thục tín nhiệm Hoàng Hạo. Đến đây hơn trăm đại thần cùng tâu Hạo không biết. Các đại thần nói: Bất đắc dĩ Ngô chủ phải đồng ý giết Sầm Hồn để trấn an quân dân. Lúc này Đào Tuấn nghe tin Vũ Xương đã mất bèn về Kiến Nghiệp, xin thêm hai vạn quân và thuyền lớn. Hạo bằng lòng, ban tiết việt và binh lính, nhưng trên đường đi thì quân lính trốn hết trong đêm. Tư đồ Hà Thực, Kiến Uy tướng quân Tôn Yến đều đầu hàng. Tôn Hạo thất kinh, cuối cùng theo lời bàn của Trung thư lệnh Hồ Sung, quang lộc huân Tiết Oánh bắt chước Thục chúa ngày trước, dâng đất nước xin hàng. Ông chuẩn bị một cỗ áo quan và tự trói mình lại, dẫn thái tử Tôn Cẩn, Lỗ vương Tôn Kiền cùng mười mấy quan viên đến dinh Vương Tuấn xin hàng. Ông còn viết thư cho các tướng lĩnh khác, bảo họ hàng nốt. Đông Ngô gồm 4 châu, 43 quận, 523000 hộ, 23000 vạn binh đều thuộc về Tây Tấn. Nước Ngô diệt vong kể từ đây. Trận chiến này được nhắc đến trong Tam Quốc diễn nghĩa hồi 120. Tam Quốc diễn nghĩa ghi lại bài thơ than rằng Hậu quả và ý nghĩa. Chiến dịch kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của Tây Tấn. Đông Ngô thua trận và diệt vong. Nước ra đời chính thức sau cùng và tồn tại lâu nhất thời Tam Quốc bị tiêu diệt. Cuộc chiến kết thúc đánh dấu thời điểm bắt đầu của thời kỳ thống nhất và hòa bình ngắn ngủi của Trung Quốc sau gần 100 năm loạn lạc và chia cắt.
1
null
Nguyễn Hiển Dĩnh (1853-1926) - quan lại triều Nguyễn, nhà soạn tuồng, thầy dạy nghệ thuật tuồng nổi tiếng ở Quảng Nam hồi đầu thế kỷ XX. Tiểu sử và sự nghiệp. Ông sinh tại An Quán huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ tú tài năm 18 tuổi, được bổ quyền Tri phủ Điện Bàn, sau đó đổi sang Tri huyện Hà Đông (nay là Tam Kỳ). Năm sau lại được đổi ra Huế, giữ chức Phủ thừa. Sau đó, ông được bổ Bố chính Thanh Hóa, rồi Tuần phủ Quảng Trị, Án sát Bình Định, Bố chính Khánh Hòa. Ông đã viết và soạn lại trên 20 vở tuồng, nội dung phản ánh chân thực xã hội nông thôn Việt Nam thời thực dân phong kiến, lời văn bình dị, ít từ Hán Việt, sử dụng thuần thục tục ngữ ca dao, thể hiện rõ tài năng châm biếm xã hội của tác giả. Các tác phẩm: "Lý Mã Hiền", "Phong Ba Đình", "Võ Hùng Vương", "Lục Vân Tiên", "Trương Đồ Nhục", "Giáp kén xã Nhộng"... Thời kì làm án sát tỉnh Quảng Trị, ông từng lập gánh hát. Chán ghét quan trường, Nguyễn Hiễn Dĩnh xin nghỉ hưu, về quê lập trường dạy nghề diễn tuồng đồng thời tổ chức biểu diễn và sáng tác. Đã đào tạo được nhiều diễn viên tuồng xuất sắc, trong đó có 5 học trò được triều đình Nguyễn phong là Ngũ Mỹ: Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo) vai kép, Nguyễn Lai vai nịnh, Chính Đệ vai tướng, Chính Phẩm vai lão, Văn Phước Khôi vai hề...
1
null
Tên chữ là tên văn vẻ trong tiếng Việt của một thực thể địa lý ở Việt Nam, thường là làng, xóm, chùa, đền nhưng cũng có khi là thực thể thiên nhiên như sông, núi, đèo. Ở miền Bắc Việt Nam nhiều làng ở trung châu ngoài tên Nôm còn có tên chữ dùng song hành. Tên Nôm thường chỉ là một chữ trong khi tên chữ thường là hai chữ trở lên. Một số làng chỉ có tên Nôm mà không có tên chữ. Tên Nôm có lẽ có trước lấy cảnh quan hay sự kiện địa phương mà đặt. Tên chữ có lẽ xuất hiện sau do ảnh hưởng Hán Việt cùng ý hướng cầu tiến, niềm tự hào. Nguồn gốc lịch sử. Bắt đầu từ thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa Hán xâm nhập và chi phối sinh hoạt xã hội người Việt khá sâu đậm. Về mặt ngôn ngữ tuy người Việt vẫn nói tiếng Việt nhưng tiếng Hán với lợi thế văn tự đã du nhập rộng rãi trong phạm vi học thuật, tín ngưỡng và giao dịch với chính quyền. Khi giành được độc lập rồi thì tiếng Hán bị cách ly với cái gốc và chuyển theo cách phát âm của người Việt khai sinh ra âm Hán Việt. Giới quan lại và trí thức tiếp tục sử dụng Văn ngôn trong các hoạt động hành chính, thơ văn, cúng tế... Trong văn Hán Việt thì các tên riêng phần lớn được dịch theo nghĩa từ âm Nôm, ví dụ địa danh ở Hà Nội "ba kẻ Gừng" đã trở thành "Tam Khương" (Khương Thượng, Trung, Hạ), "kẻ Nhổn" thành "Cổ Nhuế"... Khi chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) dần phổ biến ở thế kỷ 20 và chữ Hán và chữ Nôm mất địa vị, các thế hệ người Việt sau đó bị mù chữ Hán và chữ Nôm nên không còn phân biệt rõ ràng gốc Hán Việt của từ ngữ nữa, vì chữ Quốc ngữ là chữ biểu âm và không có khả năng biểu nghĩa rõ ràng như chữ Hán và chữ Nôm. Song phong cách "thích nói chữ" vẫn thịnh hành ở phía bắc, và giảm dần theo đường Nam tiến của người Việt.
1
null
Hán Nôm (漢喃) là một ngành nghiên cứu về cổ văn được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội, được thành lập vào năm 1970, thu thập và nghiên cứu các bản thảo viết tay của hai bộ chữ này. Quyển sách "Kho chữ Hán Nôm mã hóa" bao gồm 20.000 ký tự đã được mã hóa trên máy tính, xuất bản năm 2008. Đề xuất này đã được trình lên Unicode.
1
null
Lý Nghệ (chữ Hán: 李乂, 647 – 714), tự Thượng Chân, người Phòng Tử, Triệu Châu, quan viên, nhà văn trung kỳ đời Đường. Khởi nghiệp. Nghệ có 2 anh trai: Lý Thượng Nhất làm đến Thanh Nguyên úy, mất sớm; Lý Thượng Trinh làm đến Bác Châu thứ sử, đều có văn tài. Nghệ sớm mồ côi, đối với các anh trai rất hiếu cẩn. Lên 12 tuổi, Nghệ bộc lộ văn tài, Trung thư lệnh Tiết Nguyên Siêu nói: “Thằng nhỏ ấy sẽ nổi tiếng.” Nghệ được cử Tiến sĩ, rồi điều làm Vạn Niên úy. Nghệ ở Trường An 3 năm, gặp lúc Ung Châu thứ sử Tiết Quý Sưởng tuyển chọn các viên lại nhằm tiến làm ngự sử; Quý Sưởng nghe tiếng của Nghệ, cất nhắc ông làm Giám sát ngự sử. Nghệ ở chức, hặc tấu không kiêng dè. Thời Trung Tông. Đầu niên hiệu Cảnh Long (707 – 710), thuật sĩ Diệp Tĩnh Năng làm càn, Nghệ tố cáo việc làm gian dối của ông ta, Đường Trung Tông không nghe. Nghệ được thăng Trung thư xá nhân, Tu Văn quán học sĩ. Đế cho rằng người Giang Hoài đánh bắt thủy sản làm hại thương sanh, sai sứ giả chia đường đến đấy, lấy tiền địa phương để ‘Thục sanh’ . Nghệ nhận lệnh đi Giang Nam, bèn dâng sớ phản đối, cho rằng người Giang Hoài quen nghề chài lưới, dùng bao nhiêu tiền để chuộc cũng không đủ, lại tạo thành gánh nặng cho địa phương. Thời Duệ Tông. Trong hành động diệt trừ Vi hậu, triều đình hạ chiếu lệnh gấp gáp, phần nhiều đều do Nghệ soạn thảo. Việc xong, Nghệ được tiến làm Lại bộ thị lang, vẫn làm Tri chế cáo. Nghệ cùng bọn Tống Cảnh, Lư Tòng làm Điển tuyển sự, người đến xin gặp ông không ngớt, đương thời khen rằng: “Dưới Lý không có lối tắt.” Nghệ được đổi làm Hoàng môn thị lang, phong Trung Sơn quận công. Triều đình ban chế sắc không hợp lý, Nghệ lập tức phản bác không kiêng dè. Có kẻ sủng thần cầu xin quan chức, Đường Duệ Tông nói: “Trẫm không phải không cho, mà là Lý Nghệ không chịu đâu.” Khi ấy Duệ Tông cho xây dựng 2 quan Kim Tiên, Ngọc Chân, Nghệ nhiều lần dâng sớ can ngăn, Duệ Tông không nghe, nhưng cũng không phật ý. Thái Bình công chúa can thiệp triều chánh, muốn lôi kéo Nghệ, ông dứt khoát cự tuyệt. Thời Huyền Tông. Đầu niên hiệu Khai Nguyên (713 – 741) thời Đường Huyền Tông, Diêu Sùng làm Tử Vi lệnh, tiến cử Nghệ làm Tử Vi thị lang, bề ngoài là xem trọng hiền tài, bên trong là đặt ông dưới mình, nhằm tước bỏ quyền đốc xét và phản bác của ông, cho thấy người đương thời sợ sự sáng suốt và nghiêm khắc của Nghệ như thế nào. Chưa được lâu, Nghệ được trừ chức Hình bộ thượng thư, rồi mất, hưởng thọ 68 tuổi. Hậu sự. Triều đình tặng chức Hoàng môn giám, đặt thụy là Trinh. Di ngôn của Nghệ yêu cầu an táng đơn giản, không đưa về quê nhà. Nghệ tính trầm tĩnh, nhã nhặn, biết đại thể, đương thời khen ông có khí độ tể tướng. Ngày an táng, Tô Đĩnh, Tất Cấu, Mã Hoài Tố đưa tiễn, khóc rằng: “Không vì ngài mà khóc, thì còn vì ai mà khóc nữa!” Trước tác. Nghệ trước tác rất nhiều, đưa vào chung 1 tập với hai anh trai, gọi là "Lý thị hoa ngạc tập", ngày nay vẫn còn.
1
null
Hoàng Dân Mạc (sinh năm 1958) là một chính khách Việt Nam. Ông nguyên là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ. Thân thế và sự nghiệp. Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1958, nguyên quán tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. 1976-1981: Sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội 9/1981-12/1982: Đoàn phó - Đoàn công tác khoán quản trong nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp tại Vĩnh Phú 01/1983-02/1985: Cán bộ Ban quản lý HTX nông nghiệp - Ty Nông nghiệp Vĩnh Phú 02/1985-6/1987: Thực hiện nghĩa vụ quân sự theo Luật thuộc đơn vị E98-F316; chức vụ Hạ sỹ - Tiểu đội trưởng 7/1987-11/1987: Xuất ngũ - tiếp tục công tác tại Ban quản lý HTX nông nghiệp, Sở Nông lâm nghiệp Vĩnh Phú 12/1987-12/1991: Chuyên viên nghiên cứu tổng hợp, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú 01/1992-12/1994: Phó Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú 01/1995-8/1999: Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú, Phú Thọ 9/1999-6/2002: Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 7/2002-5/2004: Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Phú Thọ 6/2004-01/2006: Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ 02/2006-5/2007: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy 6/2007-12/2010: Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phú Thọ 12/2010 đến 4/2013: Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ. 4/2013 đến 12/2018: Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ. Chiều ngày 30/9/2015, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015-2020 đã bầu ông Hoàng Dân Mạc tái đắc cử chức vụ Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ khóa XVIII. Ngày 23/6/2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ đã khai mạc kỳ họp thứ nhất bầu Hoàng Dân Mạc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII tái đắc cử chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021. Tháng 12 năm 2018, ông nghỉ hưu.
1
null
Cảng Long Beach còn được gọi là Cục Cảng Long Beach, là hải cảng lớn thứ hai của Mỹ về số lượng container bốc dỡ tại đây sau cảng Los Angeles ngay gần đó. Cảng này hoạt động như là một cửa ngõ chính cho thương mại từ Mỹ sang châu Á. Nó có diện tích đất liền 3.200 mẫu Anh (13 km2) với 25 dặm (40 km) bờ biển ở thành phố Long Beach, California. Cảng Long Beach nằm cách Khu thương mại Long Beach chưa đến hai dặm (3 km) về phía Tây nam và khoảng 25 dặm (40 km) về phía Nam của trung tâm thành phố Los Angeles. Cảng biển tự hào tạo ra lợi nhuận $ 100 tỷ USD và cung cấp hơn 316.000 việc làm ở miền Nam California. Lịch sử. Cảng Long Beach được thành lập vào ngày 24 Tháng 6 năm 1911 với diện tích ban đầu khoảng 800 mẫu Anh (3,2 km2) tại cửa sông Los Angeles. Năm 1917, Hội đồng quản trị đầu tiên được thành lập để giám sát hoạt động tại bến cảng. Do nền kinh tế đang bùng nổ, các cử đông của cảng Long Beach đã thông qua một trái phiếu 5 triệu USD để nâng cấp cảng và mở rộng khu vực xung quanh. Đến cuối những năm 1920, hơn một triệu tấn hàng hóa đã được xử lý cùng với việc xây dựng bổ sung các cầu cảng cho phù hợp với phát triển kinh doanh. Năm 1921, dầu mỏ đã được phát hiện tại khu vực biển thuộc Long Bearch và xung quanh Signal Hill. Năm 1932, đây là khu vực dầu lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, với việc phát hiện thêm mỏ dầu Wilmington với hàng trăm giếng dầu cung cấp nguồn thu cho khu vực nói chung và thành phố cảng Long Beach nói riêng. Năm 1937, những thùng dầu đầu tiên khai thác từ khu vực biển đã cập cảng sau khi người ta phát hiện được nhiều giếng dầu ngoài khơi bờ biển. Giữa những năm 1930, khi cảng được mở rộng, chủ yếu là do nhu cầu vận chuyển dầu sang thị trường nước ngoài, sản lượng lớn dầu từ Los Angeles được khai thác đã gây ra một sự dư thừa tại thị trường Mỹ. Việc khai thác hàng trăm triệu thùng dầu gây ra tình trạng lún đất theo thời gian Các kỹ sư và các nhà địa chất đã kịp thời đưa vấn đề cần phải xây dựng bờ bao kiểm soát lũ lụt khi thủy triều lên cao. Năm 1946, sau chiến tranh thế giới thứ hai, cảng Long Beach được thành lập như là một "hải cảng hiện đại nhất của Mỹ" bấy giờ với việc là một trong chín cảng chính được xây dựng tập trung hàng hóa vận chuyển và là cảng đầu tiên được hiện đại hóa. Với việc mở rộng nhanh chóng của bến cảng dấy lên quan ngại về ô nhiễm môi trường tại cảng Long Beach, vì vậy nơi đây đã xây dựng các chương trình về phòng chống sự cố tràn dầu, có các hạt và quản lý hiệu quả cao giao thông tàu. Nhờ những nỗ lực, cảng Long Bearch đã được trao giải thưởng của Hiệp hội Môi trường Cảng vụ Hoa Kỳ. Long Beach là cảng đầu tiên ở Tây bán cầu được nhận giải thưởng này. . Ngoài ra, cảng còn có hai hệ thống đo mức độ ô nhiễm không khí, cùng với việc quy định việc các tàu thuyền phải sử dụng ít nhất 50% nguồn điện thay vì sử dụng hoàn toàn động cơ diesel khiến nơi đây trở thành một cảng biển thân thiện với môi trường, một trong những cảng sạch nhất thế giới. Năm 1980, với việc Hoa Kỳ cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc, cảng đã tiếp nhận các cán bộ tới từ Trung Quốc. Chưa đầy một năm sau đó, công ty tàu biển China Ocean khánh thành việc vận chuyển quốc tế và được Cảng Long Beach tiếp nhận với tư cách là cảng đầu tiên của Mỹ. Các mối quan hệ đã được tăng cường với một số hãng tàu biển như Hanjin của Hàn Quốc đã mở một (230.000 m2) cảng container 57 ha ở Pier C của cảng vào năm 1991. Sau này, COSCO, một tàu sân bay quốc tế của Trung Quốc thực hiện việc kinh doanh với cảng Long Beach vào năm 1997.
1
null
Tào hoàng hậu (曹皇后) là vợ của Đậu Kiến Đức- một thủ lĩnh nổi dậy vào thời Tùy mạt Đường sơ. Tào thị và Đậu Kiến Đức đều hết sức tiết kiệm, thậm chí ngay cả sau khi Đậu Kiến Đức chiếm được vùng Hà Bắc hiện nay, Tào thị không mặc trang phục bằng lụa trang trí hoa văn, tì thiếp chỉ dưới 10 người. Sau khi Đậu Kiến Đức đánh bại và giết chết Vũ Văn Hóa Cập, Đậu Kiến Đức đã cho giải tán đội cung nữ xinh đẹp của Tùy Dạng Đế. (Các tiểu thuyết về thời kỳ này thường quy quyết định này của Đậu Kiến Đức có nguyên nhân từ việc Tào thị đố kỵ.) Thoạt đầu, Đậu Kiến Đức chỉ xưng vương, song sau khi hay tin Vương Thế Sung soán vị Dương Đồng vào năm 619, Đậu Kiến Đức đã tự tôn là Thiên tử trong các chiếu chỉ và lễ nghi. Năm 621, nước Trịnh của Vương Thế Sung bị tướng Đường là Lý Thế Dân tiến đánh, Vương Thế Sung cầu viện Đậu Kiến Đức. Đậu Kiến Đức cho rằng nếu nước Trịnh bị diệt thì nước Hạ của ông cũng sẽ bị đe dọa, vì thế đã quyết định đến cứu viện Vương Thế Sung. Khi quân Hạ tiến quân về Lạc Dương, chiến lược gia Lăng Kính (凌敬) đề xuất rằng thay vì tiến đến kinh đô Lạc Dương của Trịnh, Đậu Kiến Đức nên tiến công Phần châu (汾州, nay gần tương ứng với Lữ Lương, Sơn Tây) và Tấn châu (晉州, nay gần tương ứng với Lâm Phần, Sơn Tây) và sẵn sàng tiến đánh kinh đô Trường An của Đường, khi đó vừa đoạt được lãnh thổ của Đường lại vừa buộc được quân Lý Thế Dân phải bỏ bay vây Lạc Dương. Tuy nhiên, các sứ giả của Vương Thế Sung là Vương Uyển (王琬) và Trưởng Tôn An Thế (長孫安世) lại thuyết phục Đậu Kiến Đức rằng Lạc Dương sắp thất thủ và cần cứu viện ngay, vì thế Đậu Kiến Đức vẫn tiến đến Lạc Dương. Khi Tào hoàng hậu hay tin, bà đã cố thuyết phục Đậu Kiến Đức chấp thuận làm theo kế hoạch của Lăng Kinh: Tuy nhiên, Đậu Kiến Đức đáp lại: Đậu Kiến Đức tiếp tục tiến về phía Lạc Dương, và giao chiến với Lý Thế Dân trong trận Hổ Lao. Lý Thế Dân đã đánh bại và bắt giữ Đậu Kiến Đức. Tào thái hậu và tả bộc xạ Tề Thiện Hành (齊善行) cùng vài trăm kị binh chạy về Minh châu (洺州, nay thuộc Hàm Đan) và dự tính lập một dưỡng tử của Đậu Kiến Đức làm hoàng tử. Tuy nhiên, Tề Thiện Hành (齊善行), đã thuyết phục những người khác rằng tiếp tục kháng cự là vô ích, và đã chia các chiến lợi phẩm của quân Hạ cho binh sĩ rồi giải tán họ. Tề Thiện Hành cùng với hữu bộc dạ Bùi Củ và hành đài Tào Đán (曹旦) sau đó cùng bà đem theo kho báu và ngọc tỉ truyền quốc mà Đậu Kiến Đức thu giữ được khi đánh bại Vũ Văn hóa Cập đầu hàng quân Đường.
1
null
Ofu và Olosega là một phần của nhóm đảo núi lửa Manu‘a, thuộc quần đảo Samoa, Lãnh thổ Samoa thuộc Mỹ. Hai hòn đảo sinh đôi này được tạo thành từ núi lửa có hình khiên, có tổng chiều dài 6 km. Trước năm 1970, người ta có thể đi qua từ đảo này sang đảo kia khi thủy triều xuống, ngày nay đã có một cây cầu nối giữa hai đảo.
1
null
Người vận chuyển (tựa tiếng Anh: The Transporter, tựa tiếng Pháp: Le Transporteur) là bộ phim hành động / võ thuật / tâm lý của Mỹ do [Louis Leterrier]] và Corey Yuen làm đạo diễn, phim được phát hành vào năm 2002. "The Transporter" có sự tham gia của Jason Statham, Thư Kỳ, François Berléand, Matt Schulze, Ric Young... Nội dung. Frank Martin là một người vận chuyển tài ba, anh có thể vận chuyển mọi loại hàng hóa, ba điều luật Frank tự đặt ra cho mình là: không đổi hợp đồng, không hỏi tên, không mở gói hàng. Vào cảnh đầu phim, ở Paris, Frank đã chở một băng cướp chạy thoát khỏi cảnh sát sau vụ cướp ngân hàng. Băng cướp này nhờ Frank chở chúng đến Avignon nhưng Frank từ chối vì hợp đồng là chỉ đến ngoại ô Paris, băng cướp liền lên xe khác chạy đi, Frank lái xe về nhà. Ông bạn thân của Frank là thanh tra Tarconi rất nghi ngờ Frank giúp đỡ băng cướp trốn thoát, may mắn là ông ta không có bằng chứng buộc tội Frank. Ngày hôm sau, Frank được bọn gangster thuê chở hàng, anh phải giao gói hàng cho tên trùm buôn người Darren Bettencourt. Đang trên đường giao hàng, Frank mở gói hàng ra do thấy nó nhúc nhích, Frank phát hiện có cô gái người Hoa nằm bên trong. Cô gái định bỏ chạy rồi bị Frank đuổi theo bắt lại. Sau khi Frank giao hàng cho Bettencourt, Bettencourt bảo thuộc hạ cài bom vào xe của Frank. Lúc đang về nhà, Frank ghé qua trạm xăng để ăn uống, vừa ra khỏi xe thì chiếc xe nổ tung. Frank hiểu Bettencourt muốn thủ tiêu mình, anh tức giận trở lại căn biệt thự của Bettencourt, Frank đánh gục hết bọn thuộc hạ nhưng không tìm thấy Bettencourt. Frank cướp một chiếc xe trong garage rồi lái đi, cô gái người Hoa cũng đang nằm trong xe này. Về nhà Frank, cô gái cho Frank biết cô ta tên Lai, cô ta đang là nạn nhân của một vụ buôn người từ Trung Quốc sang Pháp, kẻ cầm đầu trong vụ này là bố của Lai, ông này đang làm ăn với Bettencourt. Biết Frank còn sống nên Bettencourt cử vài tên sát thủ giết Frank, bọn sát thủ dùng hỏa tiễn bắn nổ nhà Frank. Frank và Lai nhảy xuống biển bơi qua căn nhà khác của Frank, họ bắt đầu yêu nhau từ đó. Frank và Lai vào phòng làm việc của Bettencourt để tìm hắn, tại đây họ gặp ông Kwai - bố của Lai. Bettencourt và ông Kwai gọi cảnh sát bắt Frank đi vì chúng vu khống Frank bắt cóc Lai. Ở đồn cảnh sát, Frank kể thanh tra Tarconi nghe rõ ràng về vụ buôn người của Bettencourt và ông Kwai chủ mưu, Tarconi đồng ý thả Frank để anh ta đi cứu Lai. Frank đến sào huyệt của Bettencourt và ông Kwai, anh nhìn thấy chúng đưa Lai cũng như nhiều người Hoa khác lên xe chở đi buôn, Lai bị ông Kwai bắt ngồi chung xe hơi, còn những người Hoa kia ngồi trong những chiếc container. Trước khi xe chạy, Bettencourt bảo thuộc hạ xử lý Frank, tuy nhiên Frank đánh bại hết bọn này. Frank lấy xe đuổi theo Bettencourt và ông Kwai, vì chạy quá tốc độ nên xe hư giữa đường. Frank đành nhờ ông nông dân gần đó chở đi bằng máy bay nông nghiệp, sau đó anh nhảy xuống một chiếc container, giết chết Bettencourt và tên tài xế. Đoàn xe dừng lại, ông Kwai định bắn Frank nhưng Lai đã nhặt súng của tên thuộc hạ rồi bắn ông Kwai chết. Tarconi cùng lực lượng cảnh sát xuất hiện, Tarconi rất mừng vì Frank và Lai vẫn còn sống, họ đã cứu được những người Hoa trong container.
1
null
The Mechanic (tựa trong tiếng Việt: Thợ máy, Sát thủ thợ máy hay Trừng phạt tội ác) là một bộ phim hành động, tâm lý Mỹ của đạo diễn Simon West thực hiện; phát hành vào năm 2011. "The Mechanic" là phim làm lại từ một bộ phim hành động cùng tên năm 1972; phiên bản làm lại này có sự tham gia của Jason Statham, Ben Foster, Donald Sutherland và Tony Goldwyn. Nội dung. Arthur Bishop là một sát thủ chuyên nghiệp, anh rất khôn ngoan và nhanh nhẹn, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ mục tiêu nào được giao. Một hôm nọ, thủ lĩnh Dean Sanderson trong tổ chức ra lệnh Bishop giết người bạn thân của anh là ông Harry McKenna vì nghi ngờ ông phản bội tổ chức, Dean cho Bishop xem hình ảnh 5 thành viên bị chết ở Nam Phi trong khi làm nhiệm vụ do bị tiết lộ bí mật. Bishop đành làm theo lệnh Dean, Harry tự tay đưa súng cho Bishop để anh ta bắn chết ông, trước khi chết Harry bảo Bishop hãy dàn xếp hiện trường như một vụ cướp xe. Vào ngày đám tang Harry, Bishop đã gặp con trai của Harry là Steve McKenna, anh chàng này khát khao trở thành sát thủ và nhờ Bishop chỉ dạy. Chưa đầy một tháng mà Bishop đã đào tạo Steve trở thành sát thủ chuyên nghiệp giống mình, Bishop còn đưa Steve vào làm chung tổ chức. Khi nhiệm vụ được giao thì Bishop nhường cho Steve thử đi hành động một mình, mục tiêu là tên sát thủ Burke của tổ chức khác. Sau vài ngày Steve giả vờ kết bạn với Burke, Burke mời Steve về nhà. Tên Burke rất to con lực lưỡng, vì thế Bishop dặn Steve giết Burke bằng thuốc độc chứ đừng liều lĩnh đánh nhau với hắn. Steve không nghe lời Bishop, anh ta lấy dây nịt siết cổ Burke nhưng bị hắn đánh lại, Steve nhanh tay nhặt dụng cụ đâm chết Burke. Nhiệm vụ tiếp theo được giao, Bishop cùng đi với Steve, hai người được lệnh khử gã mục sư Andrew Vaughn. Bishop và Steve lên tòa nhà cao tầng, lẻn vào phòng riêng của Vaughn rồi làm hắn ngạt thở đến chết. Bọn vệ sĩ đi vào phát hiện Bishop và Steve, một trận đấu súng diễn ra. Bishop và Steve vẫn chạy thoát được, hai người hẹn gặp nhau tại nhà Bishop vào sáng mai. Trên đường về Bishop chạm trán Sebastian - một đồng nghiệp cũ, ông này nói Dean từng đưa ông ta số tiền lớn để giết bốn thành viên còn lại ở Nam Phi. Bishop nhận ra mình đã bị Dean lừa giết Harry, anh tức giận giết gã Sebastian đúng lúc ông ta tấn công anh. Sau đó Dean gửi đội sát thủ giỏi nhất của hắn đến xử lý Bishop và Steve nhưng cả hai đều tiêu diệt hết bọn này, họ lên kế hoạch giết Dean trả thù cho ông Harry. Bishop và Steve phục kích đoàn xe của Dean, cuối cùng họ cũng giết được Dean. Steve về nhà Bishop thu xếp đồ đạc chuẩn bị rời khỏi tiểu bang với Bishop, anh ta tìm ra khẩu súng của ông Harry ở trong garage, giờ Steve mới biết Bishop là kẻ trực tiếp bắn bố mình. Lúc ngừng xe đổ xăng, Steve bắn nổ xe của Bishop. Steve tưởng Bishop đã chết, anh ta trở lại nhà Bishop rồi lấy chiếc xe còn lại ra chạy. Steve không ngờ Bishop vừa cài bom sẵn vào xe, chiếc xe đó nổ tung. Thực ra Bishop biết trước Steve sẽ giết mình nên anh đã nhảy ra khỏi xe trước khi Steve bắn nổ nó ở trạm xăng, bộ phim kết thúc với cảnh Bishop lên một xe tải khác và chạy đi. Liên kết ngoài. Louisiana
1
null
Karl Wilhelm George August Gottfried von Einem genannt von Rothmaler (1 tháng 1 năm 1853 – 7 tháng 4 năm 1934) là một Thượng tướng Phổ và Đế quốc Đức. Là một cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Pháp-Đức, ông giữ chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh Phổ từ năm 1903 cho đến năm 1909. Trên cương vị này, ông đã tiến hành nhiều cải cách về kỹ thuật Đức. Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông ban đầu là tư lệnh Quân đoàn VII, và sau đó được bổ nhiệm làm tư lệnh Tập đoàn quân số 3. Dưới sự chỉ huy của ông, Tập đoàn quân số 3 đã đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của quân Pháp và giao chiến với quân Mỹ trong trận Meuse-Argonne. Cuộc đời và sự nghiệp. Einem chào đời tại Herzberg am Harz, xứ Hannover vào ngày 1 tháng 1 năm 1853. Sớm mồ côi cha, Einem trở thành thiếu sinh quân Phổ từ sau năm 1866. Sau khi được thuyên chuyển đến Trung đoàn Thương kỵ binh số 14 vào năm 1870, Einem lập tức tham gia trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức (1870 – 1871), và trở thành sĩ quan trong cuộc chiến. Sau khi kết hôn với con gái của một viên tướng giàu có mang tên von Rothmaler, ông đã lấy tên họ vợ mình. Vào năm 1880, ông được bổ nhiệm làm sĩ quan phụ tá trong Bộ Tổng tham mưu, và vào năm 1898 ông được chuyển sang Bộ Chiến tranh Phổ. Hai năm sau đó, ông lên quân hàm Thiếu tướng và được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh. Đến năm 1903, ông kế nhiệm tướng Heinrich von Goßler làm Bộ trưởng Chiến tranh Phổ. Trong suốt 6 năm tại nhiệm của mình, Einem đã tiến hành hàng loạt cải tiến quan trọng về kỹ thuật quân đội Đức, trong đó có việc giới thiệu quân phục chiến trường màu xám và áp dụng súng trường M98 cùng với súng máy. Ông cũng đề cao vai trò của pháo dã chiến hạng nặng trong chiến tranh hiện đại. Đồng thời, Bộ Chiến tranh thực hiện một chính sách tuyển mộ quân tinh nhuệ với mục đích giữ một đội ngũ sĩ quan có lợi cho tầng lớp quý tộc địa chủ trong xã hội Đức. Vào tháng 11 năm 1908, Einem được bổ nhiệm làm tư lệnh của Quân đoàn VII tại Münster, và vẫn giữ chức vụ này khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vào tháng 8 năm 1914, Quân đoàn VII dưới sự chỉ huy của ông đã dẫn đầu cuộc tấn công vào pháo đài Liège của Bỉ. Sau đó, quân đoàn này tiến vào Pháp bên cánh phải của Tập đoàn quân số 2 do tướng Karl von Bülow chỉ huy. Quân đoàn VII đã tham gia trong trận sông Marne lần thứ nhất, nhưng bị mất liên lạc với Tập đoàn quân số 1 kề bên vốn đã chuyển sang hướng bắc nhằm đẩy lui một đợt tấn công của quân đội Pháp. Một lỗ hổng chết người đã xuất hiện và điều này buộc Bộ Chỉ huy Tối cao của Đức phải chấm dứt tấn công. Sau cuộc triệt thoái về sông Aisne, vào ngày 12 tháng 9 năm 1914, Einem kế nhiệm tướng Max von Hausen làm tư lệnh của Tập đoàn quân số 3 tại miền Champagne. Đầu năm 1915, ông được phong quân hàm Thượng tướng, và trong năm đó ông phải đối mặt với hai cuộc tấn công lớn của quân Pháp vào vùng Champagne giữa Rheims và Argonne. Trong Chiến dịch tấn công Champagne của quân Pháp từ ngày 20 tháng 12 năm 1914 cho tới ngày 17 tháng 3 năm 1915, Tập đoàn quân số 4 của Pháp do tướng Fernand de Langle de Cary đã giành thắng lợi ban đầu trước Tập đoàn quân số 3 dưới quyền Einem. Tuy nhiên, do sự yểm trợ kém hiệu quả của pháo binh cùng với những đợt phản công mạnh mẽ của phía Đức, cuộc tấn công của quân Pháp đã bị bẻ gãy. Vào ngày 25 tháng 9, người Pháp lại phát động Chiến dịch tấn công Champagne lần thứ hai, và ban đầu quân Đức của Einem bị quân Pháp áp đảo về mặt quân số. Tuy nhiên, sự phối hợp tệ hại của pháo binh đã mang lại thiệt hại nặng nề cho quân Pháp, và các lực lượng trừ bị lớn của Đức cuối cùng đã đánh bật được cuộc tấn công của quân Pháp. Trong khi quân Đức chịu tổn thất 85.000 người, thương vong của phía Pháp lên đến 144.000. Einem cũng tham gia trong cả ba trận sông Aisne, và trong trận sông Aisne lần thứ hai, một phần của Chiến dịch Nivelle của Pháp từ ngày 16 tháng 4 cho đến ngày 15 tháng 3 năm 1917, Tập đoàn quân số 3 lại là mục tiêu của các cuộc tấn công quyết liệt của Tập đoàn quân số 4 dưới quyền tướng Anthoine (một phần thuộc Cụm tập đoàn quân Trung tâm của Pháp do tướng Philippe Petain chỉ huy). Quân Đức của Einem một lần nữa bẻ gãy được những đợt tấn công của quân Pháp. Tình hình chiến tranh chiến hào vẫn tiếp diễn tại Champagne tiếp diễn cho đến ngày 15 tháng 7 năm 1918, khi các đơn vị cánh phải của Tập đoàn quân số 3 tham chiến trong một chiến dịch tấn công quy mô lớn của tướng Erich Ludendorff, yểm trợ cánh phía đông của Tập đoàn quân số 1 của Đức. Cuộc tấn công kết thúc thất bại, và kể từ tháng 8 năm 1918 trở đi tập đoàn quân của Einem tiến hành triệt thoái. Trong Chiến dịch tấn công Meuse-Argonne của liên quân Mỹ - Pháp từ tháng 9 cho đến ngày 11 tháng 11 năm 1918, quân của ông bị Lực lượng Viễn chinh Mỹ dưới quyền tướng John J. Pershing đánh thiệt hại nặng, phải triệt thoái về phía Bắc không lâu trước khi chiến tranh kết thúc. Vào ngày 10 tháng 11 năm 1918, một ngày trước khi Hiệp định Đình chiến được ký kết, Einem được bổ nhiệm làm Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Thái tử, thay thế cho Thái tử Wilhelm. Ông đã rút Cụm tập đoàn quân này về hữu ngạn sông Rhein, và đây là nhiệm vụ cuối cùng của Einem sau Hiệp định Đình chiến. Sau khi trở về nước Đức, ông giải ngũ vào ngày 18 tháng 1 năm 1919. Ông viết hồi ký trong thời gian cuối đời, và từ trần tại Mülheim an der Ruhr vào ngày 7 tháng 4 năm 1936.
1
null
Lý Kiến Thành (chữ Hán: 李建成, 589 – 2 tháng 7, năm 626), biểu tự Tỳ Sa Môn (毗沙門), là một Thái tử nhà Đường. Ông là con trưởng của hoàng đế khai quốc Đường Cao Tổ Lý Uyên, được phong làm Thái tử sau khi triều đại thành lập vào năm 618. Lý Kiến Thành là một vị tướng tài giỏi, một chính trị gia xuất sắc song bị lu mờ trước các công lao của em trai là Tần vương Lý Thế Dân. Hai người tiến hành tranh giành quyền lực trong nhiều năm, trong đó Lý Kiến Thành nhận được sự ủng hộ của Tề vương Lý Nguyên Cát. Năm 626, Đường Cao Tổ dần dần tỏ ý muốn hạn chế quyền lực của Lý Thế Dân để củng cố địa vị Thái tử, Lý Thế Dân biết Đường Cao Tổ sẽ không đổi ý nên đã gây ra Sự biến Huyền Vũ môn, giết chết Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát, ép Lý Uyên nhường ngôi vị. Thân thế. Lý Kiến Thành sinh năm 589, tức trong thời gian trị vì của Tùy Văn Đế Dương Kiên. Ông là trưởng tử của Lý Uyên với Đậu phu nhân, con gái của Thần Vũ công Đậu Nghị (竇毅) với Tương Dương công chúa Bắc Chu. Đậu phu nhân còn hạ sinh Lý Thế Dân, Lý Huyền Bá, Lý Nguyên Cát và Bình Dương Chiêu công chúa. Năm 616, các cuộc khởi nghĩa nông dân bắt đầu nhấn chìm miền Bắc Trung Hoa, còn Đông Đột Quyết thường xuyên suất quân xâm nhập, Tùy Dạng Đế phái Lý Uyên đi trấn thủ Thái Nguyên, với nhiệm vụ chống lại cả quân nổi dậy và quân Đột Quyết. Khi đó, Lý Uyên đưa Lý Thế Dân cùng đến Thái Nguyên, song để Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và một người con khác là Lý Trí Vân, cùng gia thuộc ở Hà Đông (河東, nay thuộc Vận Thành, Sơn Tây). Ông cũng lệnh cho Lý Kiến Thành bí mật kết giao với anh tài ở Hà Đông. Năm 617, do lo sợ sẽ bị Tùy Dạng Đế trừng phạt vì không đối phó được với Định Dương khả hãn Lưu Vũ Chu (một thủ lĩnh nổi dậy), lại được Lý Thế Dân thuyết phục, Lý Uyên đã nổi dậy phản Tùy. Sau đó, Lý Uyên phái người đến Hà Đông mật báo cho Lý Kiến Thành đưa gia quyến đến Thái Nguyên. Cả nhà đến nơi an toàn, riêng Lý Trí Vân (mới 13 tuổi) ở lại Hà Đông. Tuy nhiên, trước khi Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và Sài Thiệu (con rể) đến được Thái Nguyên, Lý Uyên đã nổi dậy, tuyên bố là muốn lập Dương Hựu làm Hoàng đế, và để Tùy Dạng Đế làm Thái thượng hoàng. Đáp lại, các quan lại triều Tùy bắt giữ Lý Trí Vân, giải đến Trường An rồi xử tử. Góp phần khai quốc. Lý Uyên cho Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân làm tướng, tấn công quận Tây Hà. Lúc này nghĩa quân phần lớn là lính mới được chiêu mộ, Lý Kiến Thành ra lệnh chấn chỉnh quân pháp, cấm tơ hào của dân, đồng cam cộng khổ với tướng sĩ, vừa hành quân đánh trận vừa lấy lòng dân chúng, trong vòng chín ngày đã chiếm được quận Tây Hà (西河, nay gần tương ứng với Lữ Lương, Sơn Tây), gây ấn tượng với cha. Lý Uyên vui vẻ nói: "Cứ dụng binh theo cách này, có thể hoành hành thiên hạ." rồi phong cho Lý Kiến Thành làm Lũng Tây quận công, nhận chức 'tả lĩnh quân đại đô đốc'. Sau đó, Lý Uyên chia quân đội thành chín lộ, Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân mỗi người nắm ba lộ. Lý Uyên tiến quân hướng về Trường An, song khi đến gần Hà Đông, quân lính không thể tiếp tục tiến tiếp do mưa lớn. Do có tin đồn rằng Lưu Vũ Chu và Đông Đột Quyết sắp tiến công Thái Nguyên, Lý Uyên bắt đầu hạ lệnh lui quân về Thái Nguyên, song Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân đã thuyết phục được Lý Uyên thay đổi quyết định. Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân sau đó chiếm được Hoắc Ấp (霍邑, nay thuộc Lâm Phần, Sơn Tây), thuyết phục được Lý Uyên bỏ qua Hà Đông và tiến thẳng về kinh thành Trường An. Sau khi vượt Hoàng Hà ở Quan Trung, Lý Uyên phái Lý Kiến Thành cùng Lưu Văn Tĩnh (劉文靜) tiến về phía đông để bảo vệ Đồng Quan và kho Vĩnh Phong (永豐倉), và cũng để chuẩn bị ngăn chặn bất kỳ đội quân cứu viện nào của Tùy từ đông đô Lạc Dương. Khi Lý Uyên tiến gần đến Trường An, Lý Uyên cho triệu cả Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân đến để cùng bao vây kinh thành. Vào mùa đông năm 617, Lý Uyên chiếm được Trường An và tuyên bố lập Dương Hựu làm hoàng đế, tức Tùy Cung Đế. Lý Uyên tự phong cho mình làm Đường vương (唐王), trở thành quan phụ chính cho Tùy Cung Đế, Lý Kiến Thành được phong làm Đường vương Thế tử (唐王世子). Vào mùa xuân năm 618, Lý Kiến Thành được bổ nhiệm làm "Phủ Quân đại tướng quân", "Đông Thảo nguyên soái", được Lý Uyên phái cùng Lý Thế Dân suất 10 vạn quân hướng về Lạc Dương, tuyên bố là đến cứu viện quân Tùy ở đây chống lại Ngõa Cương quân của Lý Mật. Quân Tùy ở Lạc Dương từ chối giao thiệp, Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân rút về Trường An sau một số cuộc chạm trán nhỏ với Ngõa Cương quân. Cũng vào mùa xuân năm 618, Vũ Văn Hóa Cập lãnh đạo một cuộc binh biến ở Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô), sát hại Tùy Dạng Đế. Khi tin tức truyền đến Trường An, Lý Uyên đã buộc Tùy Cung Đế phải thiện nhượng, lập ra triều Đường. Đường Cao Tổ lập Lý Kiến Thành làm Hoàng thái tử. Năm 619, Đường Cao Tổ phái Lý Kiến Thành suất quân tiến công quân nổi dậy của thủ lĩnh Hộ Hương công Chúc Sơn Hải (祝山海), kết quả Lý Kiến Thành giành được chiến thắng. Cũng trong năm đó, khi Lương Đế Lý Quỹ (một thủ lĩnh nổi dậy) bị thuộc hạ là An Hưng Quý (安興貴) bắt giữ và xin hàng Đường, Đường Cao Tổ đã phái Lý Kiến Thành đến Nguyên châu ứng tiếp An Hưng Quý và giải Lý Quỹ về Trường An. Lý Kiến Thành nổi danh khoan dung song ham thích uống rượu và săn bắn. Đường Cao Tổ muốn bồi dưỡng khả năng chính trị cho Lý Kiến Thành nên đã giao nhiều quốc sự cho Lý Kiến Thành xử lý, chỉ cần không phải quân vụ trọng yếu thì có quyền tự quyết. Đồng thời, phái Lễ bộ thượng thư Lý Cương (李綱) và Dân Bộ thượng thư Trịnh Thiện Quả (鄭善果) đến làm cung quan, tham mưu cho Lý Kiến Thành. Vào mùa thu năm 620, tin vào lời tấu trình rằng Lý Trọng Văn (李仲文) - người khi đó đang trấn thủ Thái Nguyên, liên kết với Đông Đột Quyết và có kế hoạch nổi dậy, Đường Cao Tổ đã phái Lý Kiến Thành suất quân đến Bồ Phản (蒲反, tức Hà Đông) để chuẩn bị chống Lý Trọng Văn, trong khi triệu Lý Trọng Văn trở về kinh thành, kết quả Lý Trọng Văn tuân theo lệnh và bị xử tử. Vào mùa xuân năm 621, khi tù trưởng Hung Nô Lưu Tiên Thành (劉仚成) suất vạn người quấy rối biên thùy của Đường, Đường Cao Tổ đã phái Lý Kiến Thành đem quân đi chống trả. Khi Lý Kiến Thành đến Phu châu, gặp quân của Lưu Tiên Thành, quân Đường giết chết hàng trăm và bắt được hơn một nghìn người Hung Nô. Lý Kiến Thành giả vờ cho phóng thích số tù nhân Hung Nô bị bắt, khiến một lượng lớn người Hung Nô đến xin hàng. Lý Kiến Thành thấy quân Hung Nô quá đông, lo sợ sẽ có biến nên đã giết chết hết họ, chỉ Lưu Tiên Thành trốn thoát và chạy đến chỗ Lương Đế Lương Sư Đô. Năm 622, Lý Kiến Thành là một trong các tướng lĩnh được Đường Cao Tổ phái đi chống lại một cuộc tiến công của Đông Đột Quyết. Kình địch với Lý Thế Dân. Trong khi đó, giữa Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân diễn ra cạnh tranh quyền lực khốc liệt. Lý Thế Dân được phong tước Tần vương, có công đánh bại các đối thủ lớn như Tiết Nhân Cảo, Vương Thế Sung, và Đậu Kiến Đức trong công cuộc thống nhất Trung Hoa, có được uy thế to lớn trong quân đội. Lý Nguyên Cát được phong tước Tề vương, về phe với Lý Kiến Thành trong cuộc cạnh tranh này và thường thúc đẩy Lý Kiến Thành có hành động cứng rắn chống lại Lý Thế Dân. Bản thân Lý Kiến Thành cũng có ưu thế riêng: do ở ngôi Thái tử lâu ngày, tham gia khá sâu vào quốc sự lại hành động cẩn trọng, không phạm sai sót nên cũng chiếm được sự ủng hộ của hầu hết quan viên trong triều. Ngoài ra Lý Kiến Thành còn duy trì được mối quan hệ thân thiết với các phi tần của Đường Cao Tổ hơn hẳn Lý Thế Dân, góp phần tác động đến cảm tình của Đường Cao Tổ dành cho mình. Có thể nói lúc này nội bộ triều Đường đã chia làm hai phe phái: Phe ủng hộ Tần vương chủ yếu là các võ tướng nắm binh quyền trong quân đội và phe ủng hộ Thái tử chủ yếu là những văn thần nắm những chức vụ quan trọng trong triều đình. Vào mùa đông năm 622, một tướng cũ của nước Hạ là Lưu Hắc Thát nổi dậy sau khi Đường Cao Tổ cho xử tử Đậu Kiến Đức. Khi Đường Cao Tổ phái Lý Thế Dân tiến quân đi đánh Lưu Hắc Thát. Lý Thế Dân thắng trận nhưng lại để ông ta trốn thoát được và cùng năm đó đã quay lại cùng với viện binh là quân Đông Đột Quyết, thế như chẻ tre, nhanh chóng đánh bại nhiều tướng lĩnh triều Đường và khôi phục lãnh thổ đã chiếm đóng khi trước. Lý Kiến Thành đã tình nguyện dẫn quân xung trận nhằm lập thêm công trạng theo đề xuất của Vương Khuê và Ngụy Trưng. Khoảng tết năm 623, quân của Lưu Hắc Thát sa lầy khi tiến công Ngụy Châu (魏州, nay thuộc Hàm Đan, Hà Bắc) của Đường. Lý Kiến Thành vừa dẫn binh tấn công, vừa dùng kế thả tù binh để chiêu an, khiến quân của Lưu Hắc Thát dao động, thừa cơ tiêu diệt toàn quân tại Quán Đào (館陶, nay cũng thuộc Hàm Đan). Lưu Hắc Thát bị Lưu Hoằng Cơ truy đuổi, phải chạy trốn sang Đông Đột Quyết, song bị Gia Cát Đức Uy (諸葛德威) bắt giữ, rồi bị giải đến chỗ Lý Kiến Thành, Lý Kiến Thành cho xử tử Lưu. Năm 623, Đông Đột Quyết lại chia hai cánh quân xâm nhập vào lãnh thổ Đường, Đường Cao Tổ phái Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân xuất binh ngăn cản. Sau khi trở về, vào một dịp, Lý Nguyên Cát đã cố thuyết phục Lý Kiến Thành ám sát Lý Thế Dân khi Lý Thế Dân đến phủ của Lý Nguyên Cát, song Lý Kiến Thành không nỡ giết chết hoàng đệ nên đã yêu cầu Lý Nguyên Cát dừng lại. Năm 624, Lý Kiến Thành trưng dụng một số tinh binh của tướng La Nghệ để bổ sung cho đội cận vệ của mình, một hành động trái với quy định của Đường Cao Tổ. Khi biết về sự việc, Đường Cao Tổ đã trách mắng Lý Nguyên Cát và cho lưu đày thuộc hạ của ông là Khả Đạt Chí (可達志). Mùa hè năm đó, để củng cố quyền lực của thái tử, Đường Cao Tổ giao việc triều chính lại cho Lý Kiến Thành xử lý, còn mình dẫn theo Lý Thế Dân và Lý Nguyên Cát đi nghỉ ở Nhân Trí cung (仁智宮, nay thuộc Đồng Xuyên, Thiểm Tây). Lý Kiến Thành đã nhân lúc này lệnh cho tổng quản Khánh châu (慶州, nay thuộc Khánh Dương, Cam Túc) Dương Văn Can (楊文幹) mộ lính đưa đến Trường An. Lang tướng Nhĩ Chu Hoán (爾硃煥) và hiệu úy Kiều Công Sơn (橋公山) đã thượng tấu với Đường Cao Tổ rằng Lý Kiến Thành khuyến khích Dương Văn Can nổi dậy. Đường Cao Tổ biết tin liền nổi giận, cho triệu Lý Kiến Thành từ Trường An đến Nhân Trí cung. Lý Kiến Thành tuân mệnh, đem theo rất ít thủ vệ đến Nhân Trí cung thỉnh tội, Đường Cao Tổ bèn hạ lệnh giam giữ Thái tử và cho triệu Dương Văn Can đến đối chất. Nhưng Dương Văn Can biết tin này lại quyết định nổi dậy. Đường Cao Tổ phái Thế Dân xuất binh đi đánh Dương Văn Can, hứa với Lý Thế Dân nếu thắng sẽ lập Thế Dân làm thái tử và giáng Lý Kiến Thành làm Thục vương, đưa đến đất Thục. Tuy nhiên đến khi Lý Thế Dân đem quân rời đi, Lý Nguyên Cát cùng các phi tần của Đường Cao Tổ và tể tướng Phong Đức Di (封德彝) đã nói giúp cho Lý Kiến Thành. Đường Cao Tổ thấy Lý Kiến Thành ngoan ngoãn đến thỉnh tội thì cũng cho rằng ông không có ý mưu phản, hành động trưng binh này chủ yếu để đối phó với Tần vương phủ nên đã thay đổi ý định, phóng thích Lý Kiến Thành và cho phép ông trở về Trường An, vẫn giữ tước vị Thái tử. Đường Cao Tổ cho rằng Lý Kiến Thành đã bị thuộc hạ xúi giục đối phó với Lý Thế Dân, và trong việc cáo án Thái tử mưu phản cũng có sự tham gia của Tần vương phủ nên đã quy tội gây bất hòa giữa các hoàng nhi cho thuộc hạ của Thái tử là trung doãn Vương Khuê, Tả vệ soái Vi Đĩnh (韋挺), lẫn thuộc hạ của Lý Thế Dân là Thiên sách phủ binh tào Đỗ Yêm, đưa họ đi lưu đày. Cùng năm, trước các cuộc tiến công liên tục từ Đông Đột Quyết, Đường Cao Tổ đã suy tính nghiêm túc đến việc đốt bỏ Trường An và rời kinh đô đến Phàn Thành, Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và Bùi Tịch chấp thuận đề xuất này. Tuy nhiên, Lý Thế Dân đã phản đối, vì thế kế hoạch không được thực hiện. Trong khi đó, Lý Thế Dân phái tâm phúc của mình đến Lạc Dương để lập căn cứ ở đó. Đến khi Lý Thế Dân bị ngộ độc mà không chết sau một bữa tiệc ở Đông cung, Đường Cao Tổ đã tính đến việc phái Lý Thế Dân đến trấn thủ Lạc Dương để ngăn ngừa xung đột tiếp diễn. Tuy nhiên, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát sau khi đàm luận thì cho rằng điều này sẽ giúp Lý Thế Dân có cơ hội gây dựng căn cứ quyền lực riêng, vì thế đã phản đối, Đường Cao Tổ quyết định không thực hiện điều này. Qua đời. Trong hai năm 625 và 626, Đường Cao Tổ nhiều lần tỏ ý muốn hạn chế bớt quyền lực của Lý Thế Dân, củng cố ngôi vị thái tử. Lý Thế Dân lo sợ mình sẽ dần dần mất hết quyền lực và bị Lý Kiến Thành sát hại, các thuộc hạ của Thế Dân là Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối và Trưởng Tôn Vô Kị liên tục thúc giục Lý Thế Dân có hành động trước, còn Ngụy Trưng cũng khuyến nghị Lý Kiến Thành tiến công Lý Thế Dân trước. Lý Kiến Thành sai người đem thư và một xe chở vàng bạc đến chỗ Uất Trì Kính Đức, tỏ ý muốn kết thân, song Uất Trì Kính Đức từ chối. Lý Kiến Thành thuyết phục Đường Cao Tổ loại bỏ Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối, cũng như Uất Trì Kính Đức và Trình Giảo Kim khỏi địa vị thuộc hạ của Lý Thế Dân. Trưởng Tôn Vô Kị không bị loại bỏ, và ông ta vẫn tiếp tục cố thuyết phục Lý Thế Dân hành động trước. Vào mùa đông năm 626, Đông Đột Quyết lại tiến công Đường, và theo đề xuất của Lý Kiến Thành, Đường Cao Tổ đã quyết định để Lý Nguyên Cát xuất quân đi kháng cự thay thế Lý Thế Dân, Lý Nguyên Cát được quyền chỉ huy phần lớn các binh lính dưới quyền Lý Thế Dân trước đây. Lý Thế Dân hết sức lo lắng, sợ rằng với việc quyền binh nắm trong tay Lý Nguyên Cát, ông ta sẽ không thể kháng cự lại một khi bị tiến công. Lý Thế Dân đã phái Uất Trì Kính Đức bí mật đưa Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối về phủ của mình, và vào một đêm, họ đã dâng tấu cáo buộc với Đường Cao Tổ rằng Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát thông gian với các phi tần của Đường Cao Tổ. Đáp lại, Đường Cao Tổ đã hạ chiếu triệu Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát vào triều sáng hôm sau, ngoài ra cũng triệu các lão thần Bùi Tịch, Tiêu Vũ và Trần Thúc Đạt đến để tra xét cáo buộc của Lý Thế Dân. Biết Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát sẽ đi qua Huyền Vũ môn (玄武門) ở phía bắc hoàng cung, Lý Thế Dân đã phái Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức dẫn theo vài trăm binh lính của Tần vương phủ phục kích. Lý Thế Dân đã đích thân bắn một mũi tên giết chết Lý Kiến Thành, còn Uất Trì Kính Đức giết chết Lý Nguyên Cát. Nghe tin Thái tử và Tề vương bị phục kích, Phùng Lập và Phùng Dực đã dẫn 2000 binh mã của Đông cung tấn công dữ dội vào Huyền Vũ môn, giết chết tướng thủ Huyền Vũ môn là Kính Quân Hoằng và Lữ Thế Hành, thậm chí Tiết Vạn Triệt còn hô hào quân lính tấn công Tần vương phủ. Chỉ khi Uất Trì Kính Đức chặt thủ cấp Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát để phủ dụ thì đạo binh này mới tan. Quân của Lý Thế Dân tiến vào cung, Đường Cao Tổ đứng trước sự đã rồi buộc phải lập Lý Thế Dân làm thái tử, hai tháng sau thì nhường ngôi. Cả năm con trai của Lý Kiến Thành cũng bị Lý Thế Dân giết chết. Lý Kiến Thành thoạt đầu bị tước bỏ khỏi danh sách tông thất. Sau khi Đường Thái Tông lên ngôi đã cho táng Lý Kiến Thành theo lễ thân vương, lệnh các cựu thần Đông cung đến dự. Đường Thái Tông cũng truy phong Lý Kiến Thành là Tức Ẩn vương (息隐王), cho hoàng tử Lý Phúc (李福) của mình làm hậu tự của Lý Kiến Thành. Năm 642, Đường Thái Tông lại truy phong Lý Kiến Thành là Ẩn thái tử (隱太子). Gia đình. Hậu duệ. Lý Kiến Thành có 6 con trai và 5 con gái. Sau sự biến Huyền Vũ Môn, 5 người con trai còn sống đều bị giết, 5 con gái bị giáng từ quận chúa xuống huyện chúa. Từ mộ chí của thê thiếp Lý Kiến Thành, rất có thể Lý Kiến Thành và các con trai được chôn cùng một nơi.
1
null
Cơ quan Di Trú và Nhập Tịch của Hoa Kỳ (tiếng Anh United States Citizenship and Immigration Services) là một cơ quan phụ trách nhập tịch và di trú của Chính phủ Hoa Kỳ. Sở này là một cơ quan thuộc Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ. Nó thực hiện nhiều chức năng hành chính trước đây được thực hiện bởi cơ quan cũ là Cục Di Trú và Nhập tịch (INS), thuộc Bộ Tư pháp. Ưu tiên quy định của USCIS là để thúc đẩy an ninh quốc gia, loại trừ trường hợp tồn đọng nhập cư, và cải thiện dịch vụ khách hàng. USCIS do một giám đốc người báo cáo trực tiếp cho thứ trưởng Bộ An ninh nội địa. USCIS trước đây và một thời gian ngắn có tên là Cục Di trú (BCIS) Quốc tịch và Hoa Kỳ, trước khi trở thành USCIS.
1
null
Đoạn Nghĩa Phu (Yi-Fu Tuan, Tiếng Hán: 段義孚, sinh ngày 5 tháng 12 năm 1930, tại Thiên Tân, Trung Quốc - mất ngày 10 tháng 8 năm 2022), giáo sư địa lý người Mỹ gốc Trung Quốc, chuyên quan tâm nghiên cứu và phát triển lĩnh vực lý thuyết của ngành địa lý nhân văn. Sinh ra trong một gia đình làm chính trị thuộc tầng lớp trên của xã hội Trung Quốc, cha ông là Đại sứ, ông sớm được hưởng nền giáo dục tiên tiến ngay từ thuở nhỏ. Công việc của cha khiến gia đình ông phải thường xuyên di chuyển từ nước này sang nước khác (Úc, Philippin, Anh). Điều đó giúp ông mở rộng nhân sinh quan nhưng cũng khiến ông sớm phải thích nghi với sự thay đổi môi trường liên tục và đối diện với sự kỳ thị sắc tộc, nhất là trong hoàn cảnh thời đại của những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên và những ấn tượng trong quá khứ khiến ông nảy sinh mong muốn tìm kiếm câu trả lời về lý do tồn tại của bản thân trên Trái Đất rộng lớn và lựa chọn học ngành địa lý, để sau này phát triển nhánh địa lý nhân văn lý giải thích tính triết lý cảm giác của con người trước không gian. Ông bắt đầu con đường học tập cả đời của mình từ trường University College, London (1947), sau lấy bằng cử nhân và thạc sĩ ngành địa lý tại University of Oxford (1951, 1955). Việc học tại Oxford tuy là một kinh nghiệm quý giá nhưng không giúp ông lý giải được câu hỏi của bản thân, do đó ông tiếp tục học lên và lấy bằng tiến sĩ tại University of California, Berkeley, Hoa Kỳ – cái nôi của ngành địa lý (1957). Sự nghiệp. Sau khi lấy tiến sĩ, ông giảng dạy và vẫn tiếp tục nghiên cứu ngành địa lý. Ông đi sâu vào đề tài địa lý nhân văn vào khoảng năm 1968 khi ông đang giảng dạy tại trường University of Minnesota. Ông đã xuất bản hàng chục đầu sách, bài viết, tham luận, được dịch ra nhiều thứ tiếng (Tiếng Ba Lan, Bồ Đào Nha, Đức, Ý, Nhật, Tây Ban Nha, Trung quốc) lần lượt phân tích những khía cạnh khác nhau của đề tại địa lý nhân văn: cảm giác không gian, sự yêu mến nơi chốn, sự sợ hãi nơi chốn, sự trốn chạy khỏi không gian…Tác phẩm mới nhất của ông vừa xuất bản năm 2012 tóm lược lại toàn bộ quá trình ông khởi phát và xây dựng hệ thống lý thuyết cho ngành địa lý nhân văn . Khái niệm Địa lý nhân văn được ông chia sẻ trong 'lá thư gửi đồng nghiệp' năm 2004: "Ngành địa lý nghiên cứu về con người nói chung nghiên cứu mối quan hệ con người. Khía cạnh lạc quan nhất của ngành tin rằng những mối quan hệ bất đối xứng và có tính lợi dụng có thể được loại bỏ hoặc đảo chiều. Khía cạnh mà ngành địa lý về con người không tập trung nghiên cứu, cũng chính là lĩnh vực quan tâm của ngành địa lý nhân văn, là những quy ước xã hội (ngầm), hình thành khi ở trong một không gian nhất định, chi phối cộng đồng trong các mối liên hệ và giao tiếp trao đổi. Trong một thể nghiệm thực tế, sẽ không một ai đủ sự trong sạch lương tâm để có dũng khí "ném hòn đá đầu tiên". Dạng quy ước ngầm đó, sự dối trá đó, như lời răn của đạo Zoroastrianism (Iran) "Ngươi sẽ không nói dối" . Tất cả sự dối trá này là cần thiết để vận hành xã hội một cách uyển chuyển. Từ những suy nghĩ trên, tôi cho rằng ngành địa lý nhân văn ít nhận được sự quan tâm thích đáng vì quá khó khăn khi tiếp cận. Mặc dù vậy, ngành lại hấp dẫn suy nghĩ và ý tưởng của những người cuối cùng còn tin rằng con người có thể đối mặt với hầu hết những tình huống khắc nghiệt, thậm chí có thể hành động mà không tuyệt vọng." Sau 14 năm giảng dạy ở University of Minnesota, ông chuyển đến University of Wisconsin–Madison để tiếp tục công việc với cương vị là giáo sư J.K. Wright và Vilas (1985-1998). Ông là hội viên của Hội nghiên cứu khoa học cấp cao Hoa Kỳ (1986), Hội Học giả Anh (2001), Hội Học giả khoa học và nghệ thuật Hoa Kỳ (2002). Ông được trao giải Cullum Geographical Medal bởi Hội Địa lý Hoa kỳ năm 1987. Ông hiện đã nghỉ hưu và là giáo sư danh dự tại University of Wisconsin-Madison. Ông vẫn giảng dạy, tiếp tục chia sẻ thông qua những ‘lá thư gửi đồng nghiệp’ trên trang web cá nhân và viết sách. Ông chọn sinh sống tại Wisconsin vì nơi này gợi cho ông cảm giác ‘ở nhà’. Ông qua đời tại Madison, Wisconsin vào ngày 10 tháng 8 năm 2022, hưởng thọ 91 tuổi. Những khái niệm cơ bản trong lý thuyết địa lý nhân văn. Mô tả không gian/ nơi chốn. Đối tượng trọng tâm của ngành địa lý nhân văn, là ‘không gian’ và ‘nơi chốn’. Con người dùng thời gian để di chuyển trong không gian từ nơi này đến nơi khác. Tương tự, một nơi chốn luôn cần có không gian để trở thành nơi chốn có bản sắc. Mối quan hệ không gian – nơi chốn là mối quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau. Topophilia. Mô tả trạng thái con người có tình cảm yêu thương gắn bó với một địa điểm cụ thể, như làng quê thuở ấu thơ, thông thường liên quan đến cảm giác về vẻ đẹp của nơi chốn hoặc rất nhiều những khía cạnh khác từ vẻ đẹp thiên nhiên bên ngoài tới không gian bên trong ngôi nhà thông qua kỷ niệm, niềm tự hào sở hữu, sự sáng tạo hay những sản phẩm vô hình và hữu hình mà nơi chốn đem lại, là mối liên hệ hai chiều giữa con người và không gian sống của họ. Topophobia. Mô tả trạng thái chối bỏ, sợ hãi với địa điểm ví dụ như là nơi mà một sự kiện tồi tệ, có tác động xấu, nặng nề đã xảy ra. Tác phẩm. • Humanist Geography: An Individual's Search for Meaning. 2012. University of Wisconsin Press, Madison. (Địa lý nhân văn: Một hành trình tìm kiếm ý nghĩa) • Religion: From Place to Placelessness. 2010. Center for American Places, Chicago, IL. ISBN 978-1-930066-94-6 (Tôn giáo: Từ địa điểm đến phi địa điểm) • Human Goodness. 2008. University of Wisconsin Press, Madison, WI. ISBN 978-0-299-22670-1 (Con người nhân từ) • Coming Home to China. 2007. University of Minnesota Press, Minneapolis, MN. ISBN 0-8166-4992-8 (Về quê) • Place, Art, and Self. 2004. University of Virginia Press, Santa Fe, NM, in association with Columbia College, Chicago, IL. ISBN 1-930066-24-4. (Nơi chốn, nghệ thuật và cái tôi) • Dear Colleague: Common and Uncommon Observations. 2002. University of Minnesota Press, Minneapolis, MN. ISBN 0-8166-4055-6. (Thư gửi đồng nghiệp: Những góc nhìn thông thường và khác lạ) • Who am I?: An Autobiography of Emotion, Mind, and Spirit. 1999. University of Wisconsin Press, Madison, WI. ISBN 0-299-16660-0. (Tôi là ai? Bản tiểu sử của cảm xúc, ý nghĩ và linh hồn) • Escapism. 1998. Johns Hopkins University Press, Baltimore, MD. ISBN 0-8018-5926-3. (Chạy trốn) • Cosmos and Hearth: A Cosmopolite's Viewpoint. 1996. University of Minnesota Press, Minneapolis, MN. ISBN 0-8166-2730-4. (Vũ trụ và lò sưởi: góc nhìn của một công dân thế giới) • Passing Strange and Wonderful: Aesthetics, Nature, and Culture. 1993. Island Press, Shearwater Books, Washington, DC. ISBN 1-55963-209-7. (Sự trải nghiệm lạ lùng và hứng khởi: thẩm mỹ, tự nhiên và văn hóa) • Morality and Imagination: Paradoxes of Progress. 1989. University of Wisconsin Press, Madison, WI. ISBN 0-299-12060-0. (Đạo đức và ảo tưởng: Sự nghịch lý của tiến trình) • The Good Life. 1986. University of Wisconsin Press, Madison, WI. ISBN 0-299-10540-7. (Cuộc đời tươi đẹp) • Dominance and Affection: The Making of Pets. 1984. Yale University Press, New Haven, CT. ISBN 0-300-03222-6. (Sự thống trị và tình cảm: Nuôi vật nuôi) • Segmented Worlds and Self: Group Life and Individual Consciousness. 1982. University of Minnesota Press, Minneapolis, MN. ISBN 0-8166-1109-2. (Thế giới phân đoạn và cái tôi: Cộng đồng sống và ý thức cá nhân) • Landscapes of Fear. 1979. Pantheon Books, New York, NY. ISBN 0-394-42035-7. (Quang cảnh của nỗi sợ) • Space and Place: The Perspective of Experience 1977. University of Minnesota Press, Minneapolis, MN. ISBN 0-8166-0808-3. (Không gian và nơi chốn: Góc nhìn trải nghiệm) • Topophilia: a study of environmental perception, attitudes, and values 1974. Prentice-Hall, Englewood Cliffs, NJ. ISBN 0-13-925248-7. (Topophilia: Một nghiên cứu nhận thức, thái độ và giá trị đối với quang cảnh môi trường) • The Climate of New Mexico. 1973. State Planning Office, Santa Fe, NM. (Khí hậu New Mexico) • Man and Nature. 1971. Association of American Geographers, Washington, DC. Resource paper #10. (Con người và thiên nhiên) • China. 1970. In "The World's Landscapes". Harlow, Longmans. ISBN 0-582-31153-5. (Trung Quốc)
1
null
Sao đổi ngôi (tựa gốc tiếng Anh là: The good daughter) là một sê ri (series) phim truyền hình của Philippines. Phim được sản xuất bởi GMA Network, đạo diễn Michael Tuviera, kịch bản Aloy Adlawan.<ref name="http://www.facebook.com/TheGoodDaughter/info"></ref> Tại Việt Nam, bộ phim được chiếu trên kênh VTC7 từ ngày 27/04/2013 đến ngày 31/05/2013. Tóm tắt. Bộ phim xoay quanh cuộc đời của Bea Guevarra (Do Kylie Padilla thủ vai), một cô gái duyên dáng sống trong một gia đình giàu có và hạnh phúc. Cha của cô - Rico Guevarra (do Raymond Bagatsing thủ vai) là một doanh nhân thành đạt và là một người cha chu đáo, cung cấp cho cô một cuộc sống tiểu thư và đầy đủ. Nhưng mọi thứ bắt đầu thay đổi khi một phụ nữ tên là Sharon (Alicia Mayer thủ vai) xuất hiện cùng với cô con gái 10 tuổi Julia (Angelie Nicole Sanoy) trong ngày sinh nhật lần thứ 18 của Bea. Họ tự xưng là một gia đình khác của người cha Rico Guevarra. Trong khi Tina (vợ của Rico Guevarra) quằn quại trong đau đớn thì Sharon nhân cơ hội này đã giết Tina. Bea khóc lóc vì cái chết của người mẹ và đổ lỗi tất cả cho cha mình. Trong khi đó Sharon gây áp lực đòi cưới Rico, nếu không cô và con gái Julia sẽ bỏ đi. Giằng xé giữa sự thất vọng của con gái và cơ hội xây dựng gia đình mới với người tình cũ, Rico đã từng bước chấp thuận yêu cầu của Sharon. Trở thành vợ mới của Rico, Sharon dần lộ rõ bộ mặt thật khi ngược đãi Bea sau lưng Rico. Vô vọng và cô đơn, Bea rời khỏi gia đình đến nhà của bà ngoại ở. Tuy nhiên khi Bea cảm thấy yên bình trong vòng tay của bà ngoại Lola Lourdes cũng là lúc cha của cô bị ốm nặng và người mẹ kế bắt đầu thâu tóm gia sản của họ. Hơn thế Bea dần dần nhận ra âm mưu quỷ kế của Sharon và lý do thực sự đằng sau cái chết của mẹ cô - Tina. Cô đã quyết định trở về bên cạnh người cha của mình và tìm cách chống lại Sharon. Từ đây cuộc sống của Bea càng trở nên khổ sở hơn, nhưng cô đã quyết tâm bảo vệ người cha của mình cũng như gia sản mà lẽ ra cô được hưởng.
1
null
Tư Mã Lãng (chữ Hán: 司馬朗; 171-217), biểu tự Bá Đạt (伯達), là một quan lại cuối đời Đông Hán, đầu đời Tam Quốc. Ông là anh ruột của Tư Mã Ý, quyền thần nhà Tào Ngụy, và là ông bác của Tấn Vũ Đế Tư mã Viêm, cháu nội Tư Mã Ý. Thân thế. Tư Mã Lãng sinh tại huyện Ôn, quận Hà Nội (nay là tỉnh Hà Nam). Ông là hậu duệ của nhà sử học nổi tiếng Tư Mã Thiên, tác giả cuốn Sử Ký. Ông nội ông Tư Mã Tuấn (司馬儁) làm Thái thú Toánh Xuyên (潁川; nay là Vũ Châu, Hà Nam), cha ông Tư Mã Phòng làm chức "Lạc Dương lệnh" (洛阳令). Bấy giờ ông là con trưởng trong 8 người con trai của Tư Mã Phòng, nhưng tính khiêm nhường, hiểu lễ nghi, giữa cha con trong nhà cũng nguyên tắc rất nền nếp. Năm 12 tuổi, ông qua kì thi kinh văn, được nhận chức "Đồng tử lang" (童子郎), nhưng quan khảo thí nhìn ông cường tráng khác hẳn những đứa trẻ khác, cho rằng ông khai gian nên chất vấn. Tư Mã Lãng khẳng khái giải biện rất đúng phép tắc, khiến quan giám thi kinh ngạc và khâm phục. Sử sách miêu tả Tư Mã Lãng là một người to lớn và cao ráo ( xấp xỉ 191 cm). Ông không bao giờ ngần ngại khen ngợi em trai mình là Tư Mã Ý. Ông có lần làm quá trớn khi nói rằng "Ta còn chưa gần đến mức để sánh bước với những tài năng của nhị đệ". Khi Đổng Trác chiếm Lạc Dương, ông đã cùng với gia đình chạy thoát. Sau đó, ông phục vụ cho Tào Tháo, ông đã thể hiện tài năng của mình thông qua những chính sách với dân chúng và lấy được lòng dân, nên ông lần lượt được phong "Chủ bạ" (主簿), "Tri huyện", "Tri châu" rồi làm Thứ sử Duyện Châu. Năm 217, ông cùng với Trương Cáp và Tang Bá tham gia chống lại Đông Ngô. Trong chiến dịch lần này, một dịch bệnh đã nổ ra làm ông và nhiều binh sĩ ốm đau. Tương truyền ông đã từ chối nhận thuốc vì muốn để lại cho vô vàn người lính bị mắc dịch bệnh, vì vậy nên không lâu sau ông đã qua đời, hưởng thọ 46 tuổi. Gia quyến. Tư Mã Lãng xuất thân từ gia đình có tám người con trai. Mỗi người đều có một hiệu kết thúc bằng chữ Đạt. Do đó, anh em họ đều được gọi chung là "Tư Mã Bát Đạt" (司馬八達).
1
null
Hiện tượng nhật thực lai (toàn phần và hình khuyên) diễn ra vào ngày 3 tháng 11 năm 2013, quan sát được ở phía bắc Đại Tây Dương, từ miền đông Florida đến Gabon và Châu Phi, tối đa 1 phút 39 giây quan sát được từ Đại Tây Dương, phía nam Bờ Biển Ngà và Ghana.
1
null
Sengoku Otome ~Momoiro Paradox~ (戦国乙女~桃色パラドックス~) là bộ anime chuyển thể từ trò chơi điện tử đóng thùng pachinko "CR Sengoku Otome" do Heiwa phát triển. Hãng TMS Entertainment đã thực hiện bộ anime với sự đạo diễn của Okamoto Hideki. Cốt truyện xoay quanh cô gái tên Hide "Hideyoshi" Yoshino một nữ sinh trung học vô tình đi qua thế giới song song khi một cánh cổng dịch chuyển mở ra, tại đây cô kết bạn với lãnh chúa Oda Nobunaga nhưng là nữ thay vì là nam như trong thế giới của mình và bắt đầu thực hiện việc tìm kiếm tập hợp các mảnh của bộ áo giáp có sức mạnh ma thuật cao để thống nhất các vùng lãnh thổ lại. Bộ anime phát sóng từ ngày 05 tháng 4 đến ngày 27 tháng 6 năm 2011 tại Nhật Bản trên kênh TV Tokyo. Truyền thông. Anime. Hãng TMS Entertainment đã thực hiện bộ anime với sự đạo diễn của Okamoto Hideki. Bộ anime rất khác biệt so với trò chơi gốc "CR Sengoku Otome" như các kỹ năng quyền thuật và tên gọi tuyệt kỹ của các nhân vật. Các nhân vật lồng tiếng cũng khác. Bộ anime phát sóng từ ngày 05 tháng 4 đến ngày 27 tháng 6 năm 2011 tại Nhật Bản trên kênh TV Tokyo. Việc chiếu tập 6 đã được đình lại khi trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011 xảy ra để thay vào bằng việc phát đi thông điệp kêu gọi hỗ trợ của tổ chức Ad Council Japan, nhưng nó vẫn được phát tại một số khu vực ở Nhật để được xem là không bị trễ lịch cho việc phải sửa lại lịch chiếu hay không bao giờ phát sóng hoàn tất. Sentai Filmworks đã đăng ký bản quyền của bộ anime để tiến hành phân phối tại thị trường Bắc Mỹ. Internet radio. Một chương trình internet radio có tựa "Sengoku Otome ~Radio Paradox~" (戦国乙女〜ラジオパラドックス〜) đã được thực hiện và phát sóng từ ngày 05 tháng 4 đến ngày 20 tháng 9 năm 2011 với 13 chương trình trên trang mạng ONSEN. Hai người dẫn chương trình chính là nhân vật Yoshino và Date Masamune. Âm nhạc. Bộ anime có ba bài hát chủ đề, một mở đầu và hai kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa "Kagerou" (陽炎ーkagerou-) do nhóm Tenka Tori Tai trình bày, bài hát kết thúc thứ nhất có tựa "Atsuki Ya no Gotoku" (熱き矢の如く) cũng do nhóm Tenka Tori Tai trình bày dùng từ tập 1 đến 9, 11 và 12 còn tập 10 thì bài hát chỉ do Kitamura Eri trình bày, đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 18 tháng 5 năm 2011 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn đ1nh kèm một đĩa chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Bài hát kết thúc thứ hai có tựa "Ashita e" (あしたへ) do Hidaka Rina trình bày. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 01 tháng 6 năm 2011. Hai album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 18 tháng 5 và ngày 15 tháng 6 năm 2011.
1
null
Độ sáng (luminosity) là một thước đo tuyệt đối của năng lượng điện từ bức xạ (ánh sáng), năng lượng bức xạ phát ra từ một vật phát sáng. Trong thiên văn học, độ sáng là tổng lượng năng lượng điện từ được phát ra trên một đơn vị thời gian của một ngôi sao, thiên hà hoặc vật thể thiên văn khác. Trong các đơn vị SI, độ sáng được đo bằng joules mỗi giây hoặc watts. Trong thiên văn học, giá trị cho độ sáng thường được đưa ra theo tỷ lệ của nó với độ sáng của Mặt Trời, L⊙. Độ sáng cũng có thể được đưa ra theo hệ thống cường độ thiên văn: cường độ đo độ tuyệt đối (Mbol) của vật thể là thước đo logarit của tổng tốc độ phát xạ năng lượng của nó, trong khi cường độ tuyệt đối là thước đo logarit của độ sáng trong một số bước sóng cụ thể hoặc dải lọc. Trái ngược vời luminosity, thuật ngữ "brightness" trong thiên văn học thường được sử dụng để chỉ độ sáng biểu kiến của một vật thể: đó là độ sáng của một vật thể đối với người quan sát. Độ sáng biểu kiến phụ thuộc vào cả độ sáng của vật thể và khoảng cách giữa vật thể và người quan sát, và cũng phụ thuộc vào bất kỳ sự hấp thụ ánh sáng nào dọc theo đường đi từ vật thể đến người quan sát. Độ sáng biểu kiến là thước đo logarit của độ sáng biểu kiến. Khoảng cách được xác định bằng các biện pháp độ chói có thể hơi mơ hồ, và do đó đôi khi được gọi là khoảng cách độ sáng. Đo lường. Khi không đủ điều kiện, thuật ngữ "độ sáng" có nghĩa là độ sáng đo trong miền "bolometric", được đo hoặc bằng đơn vị SI watt, hoặc theo độ sáng năng lượng mặt trời L⊙. Một bolometer là dụng cụ được sử dụng để đo năng lượng bức xạ trên một dải rộng bằng cách hấp thụ và đo nhiệt. Một ngôi sao cũng tỏa ra neutrino, phát ra một số năng lượng (khoảng 2% trong trường hợp Mặt trời của chúng ta), góp phần vào tổng độ sáng của ngôi sao. IAU đã xác định độ sáng mặt trời danh nghĩa là để thúc đẩy công bố các giá trị phù hợp và có thể so sánh theo đơn vị độ sáng của mặt trời. Mặc dù các bolometer tồn tại, chúng không thể được sử dụng để đo cả độ sáng biểu kiến của một ngôi sao vì chúng không đủ độ nhạy trên phổ điện từ và vì hầu hết các bước sóng này không chạm tới bề mặt Trái Đất. Trong thực tế, độ lớn của phép đo được đo bằng cách thực hiện các phép đo ở các bước sóng nhất định và xây dựng một mô hình của tổng phổ có khả năng phù hợp nhất với các phép đo đó. Trong một số trường hợp, quá trình ước tính là cực kỳ, với độ chói được tính khi quan sát được ít hơn 1% năng lượng, ví dụ với một ngôi sao Wolf-Rayet nóng chỉ quan sát được trong tia hồng ngoại. Độ sáng của phép đo độ sáng cũng có thể được tính bằng cách sử dụng hiệu chỉnh độ chụm cho độ chói trong dải thông cụ thể. Thuật ngữ độ sáng cũng được sử dụng liên quan đến các băng thông cụ thể như độ sáng trực quan của độ chói của dải K. Đây không phải là độ sáng nói chung theo nghĩa chặt chẽ của một phép đo tuyệt đối của công suất bức xạ, mà là cường độ tuyệt đối được xác định cho một bộ lọc nhất định trong một hệ thống trắc quang. Một số hệ thống trắc quang khác nhau tồn tại. Một số như hệ thống UBV hoặc Johnson được xác định dựa trên các sao tiêu chuẩn trắc quang, trong khi các hệ thống khác như hệ thống AB được xác định theo mật độ thông lượng quang phổ. Độ sáng của sao. Độ sáng của một ngôi sao có thể được xác định từ hai đặc điểm của sao: kích thước và nhiệt độ hiệu dụng. Kích thước sao thường được đo tỷ lệ với bán kính Mặt Trời R⊙, trong khi nhiệt độ hiệu dụng được thể hiện bằng độ Kelvin, nhưng trong nhiều trường hợp không thể đo trực tiếp. Để xác định bán kính của một ngôi sao, cần có hai số liệu khác: đường kính góc của ngôi sao và khoảng cách của nó với Trái Dất. Cả hai đều có thể được đo với độ chính xác cao trong một số trường hợp nhất định, với các siêu sao mát thường có đường kính góc lớn và một số ngôi sao tiến hóa mát có các mặt nạ trong khí quyển có thể được sử dụng để đo thị sai bằng VLBI. Tuy nhiên, đối với hầu hết các ngôi sao, đường kính góc hoặc thị sai, hoặc cả hai, đều thấp hơn khả năng đo lường của chúng tôi một cách chắc chắn. Vì nhiệt độ hiệu quả chỉ là một con số đại diện cho nhiệt độ của vật thể đen sẽ tái tạo độ sáng, nên rõ ràng không thể đo trực tiếp, nhưng có thể ước tính được từ quang phổ. Một cách khác để đo độ sáng của sao là đo độ sáng biểu kiến và khoảng cách của sao. Thành phần thứ ba cần thiết để thu được độ sáng là mức độ tuyệt chủng giữa các vì sao, một điều kiện thường phát sinh do khí và bụi có trong môi trường liên sao (ISM), bầu khí quyển của Trái Đất và vật chất giữa các liên sao. Do đó, một trong những thách thức trung tâm của thiên văn học trong việc xác định độ sáng của một ngôi sao là lấy được các phép đo chính xác cho từng thành phần này, mà không có con số độ sáng chính xác nào để nắm bắt. Sự tuyệt chủng chỉ có thể được đo trực tiếp nếu cả độ sáng thực tế và độ sáng quan sát đều được biết, nhưng nó có thể được ước tính từ màu sắc quan sát được của một ngôi sao, sử dụng các mô hình mức độ đỏ dự kiến từ môi trường liên sao. Trong hệ thống phân loại sao hiện nay, các ngôi sao được phân nhóm theo nhiệt độ, với các sao lớp O khổng lồ, rất trẻ và tràn đầy năng lượng, có nhiệt độ vượt quá 30.000 K trong khi các sao lớp M lớn hơn, thường già hơn có nhiệt độ dưới 3.500 K. Bởi vì độ sáng tỷ lệ thuận với nhiệt độ với năng lượng thứ tư, sự thay đổi lớn về nhiệt độ của sao tạo ra một sự thay đổi lớn hơn về độ sáng của sao. Do độ sáng phụ thuộc vào công suất lớn của khối sao, nên các ngôi sao phát sáng có khối lượng lớn có tuổi thọ ngắn hơn nhiều. Những ngôi sao sáng nhất luôn là những ngôi sao trẻ, có tuổi thọ tối đa không quá vài triệu năm. Trong sơ đồ Hertzsprung-Russell, trục x biểu thị nhiệt độ hoặc loại quang phổ trong khi trục y biểu thị độ chói hoặc cường độ. Phần lớn các ngôi sao được tìm thấy dọc theo dãy chính với các ngôi sao lớp O màu xanh được tìm thấy ở phía trên bên trái của biểu đồ trong khi các ngôi sao lớp M màu đỏ thuộc vùng phía dưới bên phải. Một số ngôi sao như Deneb và Betelgeuse được tìm thấy ở trên và bên phải của chuỗi chính, sáng hơn hoặc mát hơn so với các điểm tương đương của chúng trên chuỗi chính. Độ chói tăng ở cùng nhiệt độ, hoặc nhiệt độ lạnh hơn ở cùng độ chói, cho thấy những ngôi sao này lớn hơn những ngôi sao trên dãy chính và chúng được gọi là sao khổng lồ hoặc sao siêu khổng lồ. Các sao siêu khổng lồ màu xanh và trắng là những ngôi sao có độ sáng cao có phần mát hơn so với các ngôi sao theo trình tự chính phát sáng nhất. Một ngôi sao như Deneb, ví dụ, có độ sáng khoảng 200.000 L⊙, loại quang phổ A2, và nhiệt độ hiệu dụng khoảng 8.500 K, có nghĩa là nó có bán kính khoảng . Để so sánh, các siêu khổng lồ đỏ Betelgeuse có độ sáng khoảng 100.000 L⊙, loại quang phổ của M2, và nhiệt độ ~ 3.500 K, có nghĩa là bán kính của nó là khoảng . Sao siêu khổng lồ đỏ là loại sao lớn nhất, nhưng các sao sáng nhất thì nhỏ hơn và nóng hơn nhiều, với nhiệt độ lên tới 50.000 K và hơn nữa với độ sáng vài triệu L⊙, có nghĩa là bán kính của họ chỉ là một hàng chục R⊙. Ví dụ, R136a1 có nhiệt độ trên 50.000 K và độ sáng của hơn 8.000.000 L⊙ (chủ yếu ở các tia cực tím), nó chỉ có kích cỡ . Độ sáng vô tuyến. Độ chói của nguồn vô tuyến được đo bằng , để tránh phải chỉ định băng thông mà nó được đo. Cường độ quan sát, hoặc mật độ từ thông của nguồn vô tuyến được đo bằng Jansky trong đó . Ví dụ, hãy xem xét một máy phát 10W ở khoảng cách 1 triệu mét, tỏa ra trên băng thông 1   MHz. Vào thời điểm năng lượng đến được người quan sát, năng lượng được lan truyền trên bề mặt của một quả cầu có diện tích hoặc khoảng , do đó mật độ từ thông của nó là . Tổng quát hơn, đối với các nguồn ở khoảng cách vũ trụ, phải thực hiện hiệu chỉnh k cho chỉ số phổ α của nguồn và hiệu chỉnh tương đối phải được thực hiện vì thực tế là thang tần số trong khung nghỉ phát ra khác với khung nghỉ ngơi của người quan sát. Vì vậy, biểu thức đầy đủ cho độ chói của sóng vô tuyến, giả sử phát xạ đẳng hướng, là Trong đó "L ν" là độ sáng đo bằng , "S" obs là mật độ từ thông quan sát được đo bằng , "D L" là khoảng cách độ sáng tính bằng mét, "z" là độ lệch màu đỏ, "α" là chỉ số phổ (trong giác quan formula_2 và trong thiên văn học vô tuyến, giả sử phát xạ nhiệt, chỉ số phổ thường bằng 2.) Ví dụ, hãy xem xét tín hiệu 1 Jy từ nguồn vô tuyến ở độ dịch chuyển 1, ở tần số 1,4   GHz. Máy tính vũ trụ học của Ned Wright tính toán khoảng cách độ sáng cho độ dịch chuyển 1 là 6701 Mpc = 2 × 10 26 m cho độ sáng vô tuyến . Để tính tổng công suất vô tuyến, độ sáng này phải được tích hợp trên băng thông phát xạ. Giả định phổ biến là đặt băng thông cho tần số quan sát, giả định có hiệu quả công suất bức xạ có cường độ đồng đều từ tần số 0 đến tần số quan sát. Trong trường hợp trên, tổng công suất là Điều này đôi khi biểu diễn dưới dạng tổng (tức là tích hợp trên tất cả các bước sóng) ánh sáng của Mặt Trời mà là cho một công suất vô tuyến bằng Công thức độ sáng. Phương trình Stefan-Boltzmann áp dụng cho vật đen mang lại giá trị về độ sáng cho vật thể màu đen, một vật thể lý tưởng hóa hoàn toàn mờ đục và không phản xạ: Trong đó A là diện tích bề mặt, T là nhiệt độ (tính bằng Kelvins) và σ là hằng số Stefan- Boltzmann, với giá trị là Hãy tưởng tượng một nguồn điểm sáng của độ sáng formula_4 tỏa ra đều nhau theo mọi hướng. Một mặt cầu rỗng tập trung vào điểm sẽ chiếu sáng toàn bộ bề mặt bên trong của nó. Khi bán kính tăng, diện tích bề mặt cũng sẽ tăng và độ sáng không đổi có nhiều diện tích bề mặt hơn để chiếu sáng, dẫn đến giảm độ sáng quan sát được. trong đó Diện tích bề mặt của một hình cầu có bán kính "r" là formula_8, vì vậy đối với các ngôi sao và các nguồn sáng khác: trong đó formula_10 là khoảng cách từ người quan sát đến nguồn sáng. Đối với các ngôi sao trên dãy chính, độ sáng cũng liên quan đến khối lượng:
1
null
Braindead, còn được phát hành dưới tên Dead Alive ở Bắc Mỹ, là một bộ phim hài kịch - kinh dị phát hành năm 1992 do Peter Jackson viết kịch bản và đạo diễn. Bộ phim được tạp chí Time liệt vào danh sách 25 phim kinh dị hay nhất mọi thời đại. Phim được Peter Jackson viết kịch bản cùng Fran Walsh và Stephen Sinclair. Bộ phim đánh dấu buổi đầu sự nghiệp điện ảnh của Peter Jackson, ông cũng được biết đến nhiều với loạt phim nổi tiếng sau này là "Chúa tể của những chiếc nhẫn" hay "King Kong". Nội dung. Những cảnh đầu tiên của phim là một nhóm người đàn ông thuộc sở thú Wellington, New Zealand đang khiêng một chiếc cũi chứa con khỉ mặt chuột rất hung dữ bắt được từ thung lũng Sumatra, đảo Sọ người, nếu ai bị nó cắn lập tức sẽ trở thành một thây ma. Trong lúc tìm cách thoát khỏi đám thổ dân bản xứ, một trong số những người đàn ông này bị con khỉ cắn phải, anh ta đã bị đồng nghiệp giết hại và vứt bỏ lại đảo, con khỉ mặt chuột cuối cùng được đưa lên máy bay chở về sở thú Wellington, New Zealand. Thị trấn Wellington, New Zealand, năm 1957. Lionel Cosgrove mất bố từ nhỏ và ở cùng bà mẹ lập dị Vera Cosgrove trong một gia đình danh giá. Lionel vô tình gặp Paquita Maria Sanchez trong một cửa hàng trong thị trấn và đem lòng yêu cô gái này khiến bà Vera không hài lòng. Trong một lần lén theo dõi con trai trong sở thú, bà Vera không may trượt chân và bị con khỉ mặt chuột cắn phải, Lionel lập tức đưa mẹ về nhà. Từ lần trở về từ sở thú bệnh tình của bà Vera ngày càng nặng, trong lúc ăn trưa với vợ chồng chủ tịch Martheson, bà bị rớt lỗ tai xuống tô súp khiến bà vợ chủ tịch Martheson sợ hãi bỏ về. Người bà của Paquita tiên tri rằng Lionel sắp phải đương đầu với một mối nguy hiểm, Paquita liền chạy tới báo tin cho Lionel, con chó của cô chạy lên lầu và bị bà Vera nuốt vào bụng, sau đó bà vật lộn với Paquita và ngã xuống cầu thang bất tỉnh. Y tá Emma McTavish được gọi đến, cô cho rằng bà Vera đã qua đời, tuy nhiên bà bất ngờ hồi sinh thành thây ma và giết chết nữ y tá. Lionel tìm cách nhốt mẹ và nữ y tá xuống tầng hầm và tìm đến nhà bà tiên tri, tại đây bà đã trao cho Lionel một chiếc bùa hộ mệnh và dặn anh phải luôn đem theo nó bên người. Lúc này bà Vera đã phá cửa tìm cách ra khỏi nhà, trên đường đi bà bị một chiếc xe điện đâm phải, Lionel buộc phải tổ chức tang lễ cho người mẹ xấu số trước sự chứng kiến của mọi người. Đêm xuống, Lionel ra nghĩa trang để đào mộ người mẹ với hi vọng ngăn chặn thêm những cái chết mới, tại đây anh gặp một nhóm thanh niên lang thang say xỉn phá hoại. Bà Vera đã thoát ra khỏi nấm mồ, giết hại và biến nhóm thanh niên trở thành những thây ma. Cha xứ Jon McGruder, người gác nghĩa trang chạy đến ngăn chặn những thây ma nhưng chính ông cũng bị chúng giết chết. Lionel tìm cách tiêm thuốc an thần lấy từ ông bác sĩ lập dị cho những thây ma và đem chúng nhốt dưới tầng hầm trong nhà. Chuyện chưa hết rối ren thì Les, ông chú đến từ phương xa của Lionel, em trai của bà Vera tìm đến, gã đến không phải vì cái chết của người chị mà vì muốn tranh chấp tài sản của nhà Cosgrove. Biết Lionel đang giữ những thây ma trong nhà, Les đã uy hiếp buộc Lionel phải trao giấy tờ sở hữu căn nhà cho gã và chôn cất những thây ma. Lionel buộc phải dùng thuốc độc cực mạnh hòng tiêu diệt chúng với sự giúp đỡ của Paquita, thật không may thứ thuốc Lionel tiêm cho lũ thây ma bị nhầm khiến chúng hồi sinh và càng hung hãn hơn. Sự việc diễn ra đúng lúc chú Les mời bạn bè tới nhà mới mừng lễ tân gia, họ bị những thây ma giết hại để rồi chính họ cũng hồi sinh trở thành những thây ma khát máu, bữa tiệc bỗng chốc trở thành một đêm kinh hoàng. Trong lúc cùng Paquita và chú Les vật lộn với những thây ma, Lionel vô tình tìm được bộ xương của bố anh cùng những bức ảnh ông chụp với người phụ nữ tóc vàng chính là người tình của ông. Lionel biết được sự thật rằng chính mẹ anh là hung thủ thực sự dẫn đến cái chết của bố anh. Cuối phim là những hình ảnh vô cùng cảm động khi bà Vera biến thành một con quái vật khổng lồ nuốt Lionel vào trong bụng, nhưng nhờ có chiếc bùa hộ mệnh của bà tiên tri, anh đã dùng nó khoét bụng mẹ thoát ra ngoài. Căn nhà bùng cháy và đổ sụp, con quái vật ngã vào trong đám cháy, Lionel và Paquita may mắn thoát khỏi căn nhà trước khi đoàn xe cứu hỏa đến nơi. Diễn viên. Một số vai phụ: Âm nhạc. Các ca khúc được sử dụng trong phim: Địa danh trong phim. Một số địa danh được làm cảnh quay trong phim: Thông tin sản xuất. Những cảnh đầu tiên của phim trên "Đảo Sọ người", thực chất được quay tại thung lũng Putangirua Pinnacles, cũng chính là nơi sau này Jackson dùng để làm phim "Chúa tể của những chiếc nhẫn". Bộ phim được cho là đẫm máu nhất mọi thời đại (đo bằng số lượng máu phim được sử dụng trong quá trình sản xuất). 300 lít máu giả đã được sử dụng trong những cảnh cuối cùng của bộ phim. Trong cảnh Lionel dùng máy xén cỏ chống lại thây ma, máu giả được bơm vào 5 gallon mỗi giây. Tiêu đề tiếng Tây Ban Nha của bộ phim "Tu madre se ha comido mot mi Perro" theo nghĩa đen dịch là "mẹ của anh đã ăn con chó của tôi", một câu nói bởi Paquita (nữ diễn viên Tây Ban Nha Diana Peñalver) trong một cảnh của bộ phim. Tên của con chó của Paquita là Fernando, như để liên tưởng đến đạo diễn Fernando Trueba, bởi Peter Jackson lần đầu gặp nữ diễn viên Diana Peñalver trong những bộ phim của ông. Cảnh cuối cùng của phim là cảnh Lionel đưa bé Selwyn (Ma con) dạo chơi trong công viên. Bộ phim phần lớn đã kết thúc những cảnh quay chính trước thời hạn một tuần với 45.000$ New Zealand còn lại. Vì vậy Peter Jackson đã quyết định sử dụng số ngân sách còn lại để thực hiện cảnh quay giữa Lionel và ma con Selwyn trong công viên, Jackson cho rằng đây là một trong những cảnh quay hài hước và vui nhộn nhất trong toàn bộ bộ phim. Nhân vật Diana Peñalver được đặt theo tên bà ngoại của nữ diễn viên Paquita María Sánchez. Các lá bài dùng ở cảnh đầu phim là bộ bài Thoth Deck của Aleister Crowley. Chỉ có hai lá bài ngôi sao và chàng kỵ sĩ đội mũ giáp là ngoại lệ được làm riêng cho bộ phim. Bản nhạc trong cảnh tại nhà tang lễ của phim được Jackson dùng lại từ bộ phim trước đó của ông là "Meet the Feebles". Bob McCarron, người được biết rõ gần đây với cái tên "Dr. Bob" trên show truyền hình Anh Quốc "I'm a Celebrity Get Me Out of Here!" chính là người đã tạo những hiệu ứng đặc biệt cho phim. Anh đã nhận được giải tại Liên hoan phim quốc tế Sitges - Catalonian và được đề cử cho giải Sao Thổ Saturn Awards. Một số cảnh quay trong thành phố lấy bối cảnh năm 1957 được Jackson dựng lại bằng mô hình. Bộ phim được quay và hoàn thành trong vòng 3 tháng. Kiện cáo. Bộ phim bị các nguyên đơn cáo buộc xâm hại quyền riêng tư của họ khi đưa lên những hình ảnh bia mộ của gia đình các nguyên đơn trong những cảnh quay của phim tại nghĩa trang lớn nhất thành phố Wellington. Phát hành. Bộ phim được phát hành rộng rãi tại nhiều quốc gia: Tiếp nhận. Bộ phim được tiếp nhận rộng rãi trên khắp thế giới đối với những người ưa cảm giác mạnh trong đó có khán giả Việt Nam vào thập niên 1990. Nó nhận được 86% đánh giá tích cực trên trang Rotten Tomatoes. Tại thời điểm phát hành, David Stratton của tạp chí Variety đã đưa ra một đánh giá tích cực, gọi đó là "bộ phim hay nhất của Jackon cho đến nay" và ca ngợi sự hài hước, diễn xuất và đặc tính kỹ thuật (hiệu ứng máu me, trang điểm). Ông nói "Peter Jackson, người đã bứt phá tài tình những màn máu me không kém phần vui nhộn, kịch tính. Một số phim lạm dụng điều đó, nhưng Braindead thì không". Tạp chí Time đã vinh danh "Braindead" trong danh sách 25 phim kinh dị hay nhất mọi thời đại.
1
null
Việt Dzũng (8 tháng 9 năm 1958 – 20 tháng 12 năm 2013) là một người dẫn chương trình, nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt nổi tiếng với dòng nhạc Việt Nam hải ngoại hoạt động tại Hoa Kỳ. Thân thế và sự nghiệp. Ông tên thật là Gioakim Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1958 tại Sài Gòn. Cha là Nguyễn Ngọc Bảy, người Nghệ An, cựu dân biểu Hạ nghị viện thời Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam, thiếu tá, y sĩ trưởng Bộ tổng tham mưu và Sư đoàn 5 Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Mẹ là cựu giáo viên Trường Nữ Trung học Gia Long. Ông có một anh, một chị, và một em trai. Lúc nhỏ, ông từng học tại Trường Trung học Lasan Taberd. Trong giai đoạn từ 1971 cho đến trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tham dự nhiều đại hội nhạc trẻ bên cạnh Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc... Năm 1975, ông vượt biên tỵ nạn sang đến Singapore, sau đó là đến trại tỵ nạn Subic ở Philippines rồi sau sang Hoa Kỳ định cư, đến năm 1976 gia đình mới sang cùng đoàn tụ. Ngay những năm đầu tiên tại Mỹ ông đã sáng tác và thắng giải Iowa Grand Ole Opry. Năm 1985 ông cho ra ban nhạc tiếng Anh "Children of the Ocean" hợp tác với một số nhạc sĩ Mỹ. Đối với tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại, ông đã sáng tác một số bài được cộng đồng người Việt tại hải ngoại biết đến như "Một chút quà cho quê hương", "Lời kinh đêm", "Tình ca cho Nguyễn Thị Sài Gòn". Album "Một bông hồng cho người ngã ngựa". Ông kết nghĩa anh em với ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, đi lưu diễn nhiều nơi ở Mỹ, Úc, Nhật Bản, châu Âu, mở đường cho Phong trào Hưng ca ở hải ngoại, chính thức thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1985 tại Houston, Texas. Do hoạt động tích cực trong phong trào chống Cộng, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh bị nhà cầm quyền Việt Nam tuyên án tử hình khiếm diện. Việt Dzũng với bài "Một chút quà cho quê hương" cùng với Nam Lộc (tác giả bài "Sài Gòn vĩnh biệt") được nêu danh là một trong những tên tuổi chính của dòng nhạc Việt Nam hải ngoại. Ngoài những sáng tác có nội dung nỗi niềm ly hương và chống Cộng, ông còn có những tác phẩm tình ca vui trẻ như "Tình như cây cà rem", "Có những cuộc tình không là trăm năm", "Người yêu tôi" (phổ thơ Cung Vũ) hay uẩn ức như "Bên đời hiu quạnh". Tổng cộng ông đã viết hơn 450 bài, một số ra mắt trong hai tập nhạc "Kinh Tỵ nạn" và "Lưu vong khúc". Năm 1990 ông lập hãng ra băng và đĩa nhạc mang tên Trung tâm Việt Productions. Ngoài hoạt động âm nhạc, Việt Dzũng còn có chân trong văn học, chủ bút nguyệt san "Nhân chứng" ở California. Sau ông chuyển sang đóng góp cho đài phát thanh Little Saigon Radio bắt đầu từ năm 1993 làm phóng viên và xướng ngôn viên cho đài phát thanh tiếng Việt toàn phần đầu tiên ở miền Nam California. Đến năm 1997 thì ông lập đài phát thanh riêng là Radio Bolsa. Đối với các chương trình thu hình, ông xuất hiện lần đầu trên video Asia 9 Tình ca chọn lọc 75-95 (1995) với vai trò là ca sĩ. Sau đó, ông xuất hiện trong vai trò người dẫn chương trình trong các đại nhạc hội của Trung tâm Asia bắt đầu từ cuốn video Asia 14 Yêu (1996) cho đến cuốn Asia 73 Mùa hè rực rỡ 2013 là lần xuất hiện cuối cùng của ông trước khi qua đời. Ông xuất hiện nhiều trong những cuộc vận động chống chủ nghĩa cộng sản, hoạt động tích cực hỗ trợ các cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam, tham gia trong các đoàn thể trẻ tại miền Nam California như Thanh Sinh Phó Đức Chính, Thanh Niên Cờ Vàng, đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam, và ông cũng luôn vận động cứu giúp thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn. Năm 2010 ông được thượng nghị sĩ tiểu bang California là Lou Correa trao giải "Community Heroes" vì 20 năm hoạt động đóng góp cho cộng đồng. Qua đời. Việt Dzũng đột ngột qua đời tại Bệnh viện khu vực Fountain Valley ở thành phố Fountain Valley, California, Hoa Kỳ do căn bệnh tim hồi 10h35' sáng, ngày 20 tháng 12 năm 2013, hưởng dương 55 tuổi. Để vinh danh những đóng góp của nghệ sĩ Việt Dzũng, nghị sĩ thượng viện tiểu bang California Lou Correa đã vận động cho thông qua nghị quyết đặt tên một khúc đại lộ Beach (Beach Boulevard) gần góc đường Talbert là "Việt Dzũng Human Rights Memorial Highway" (Xa lộ Nhân quyền Việt Dzũng) khánh thành ngày 15 tháng 8, 2014 thuộc khu vực Little Saigon.
1
null
Klemens Wilhelm Jacob Meckel (28 tháng 3 năm 1842 – 5 tháng 7 năm 1905) là một tướng lĩnh quân đội Phổ, từng tham gia Chiến tranh Pháp-Đức (1870 – 1871). Từ năm 1885 cho đến năm 1888, với quân hàm Thiếu tá, ông được chọn làm cố vấn quân sự cho triều đình Nhật Bản thời Minh Trị. Là một trong những cố vấn Đức có ảnh hưởng lớn nhất tại Nhật Bản, Meckel đã gạt bỏ ảnh hưởng của học thuyết quân sự Pháp – nước đã bị Đức đánh bại trong cuộc chiến năm 1870 – đối với Nhật. Đường lối chiến lược của ông đã giúp cho quân đội Nhật Bản đánh bại Đại Thanh trong chiến tranh Giáp Ngọ (1894 – 1895) và Nga trong chiến tranh Nga-Nhật (1904 – 1905). Tiểu sử. Meckel chào đời tại Köln, tỉnh Rhein, Phổ. Ông đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng Tham mưu Quân sự Phổ vào năm 1867. Ông là một cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Pháp-Đức, và được tặng thưởng Huân chương Thập tự Sắt trong cuộc chiến tranh này. Ở Nhật Bản. Cuộc Chiến tranh Pháp-Đức đã chấm dứt ưu thế của học thuyết quân sự Pháp. Sau chiến thắng của Đức trong cuộc chiến, triều đình Minh Trị của Nhật Bản quyết định tổ chức Lục quân Đế quốc Nhật Bản, Meckel (với quân hàm thiếu tá trong thời gian đó) được mời đến Nhật với cương vị là giáo sư Đại học Lục Quân đồng thời là cố vấn của Bộ Tổng tham mưu Đế quốc Nhật Bản. Để hồi đáp thỉnh cầu của người Nhật, Tổng tham mưu trưởng quân đội Phổ Helmuth von Moltke đã cử Meckel xuất dương. Ông phối hợp hoạt động chặt chẽ với các Thủ tướng tương lai của Nhật Bản là tướng Katsura Tarō và tướng Yamagata Aritomo, và với nhà chiến lược quân đội – tướng Kawakami Soroku. Meckel đã đưa ra nhiều đề xuất, trong đó có việc tái cấu trúc cơ cấu chỉ huy của quân đội thành các sư đoàn và trung đoàn, nhờ đó gia tăng tính cơ động, củng cố hệ thống hậu cần và vận tải của quân đội, qua việc nối liền các căn cứ quan trọng của quân đội bằng đường sắt, thiết lập các trung đoàn pháo binh và công binh như những đơn vị độc lập, và duyệt lại hệ thống nghĩa vụ quân sự phổ quát để xóa bỏ hầu như tất cả các trường hợp ngoại lệ (chế độ cưỡng bách tòng quân). Một bức tượng bán thân Meckel được đặt ở phía trước Đại học Lục quân từ năm 1909 cho tới năm 1945. Mặc dù thời kỳ làm việc ở Nhật (1885 – 1888) của ông tương đối ngắn, Meckel có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền quân sự Nhật Bản. Được xem là người đã giới thiệu các học thuyết quân sự của Clausewitz và khái niệm về các cuộc tập trận giả của Phổ ("Kriegspiel") đến Nhật Bản trong một quá trình cải tiến chiến thuật. Bằng việc huấn luyện về chiến thuật, chiến lược và tổ chức cho khoảng 60 sĩ quan cao cấp nhất của Nhật Bản trong thời gian đó, ông gạt bỏ ảnh hưởng trước đó của các cố vấn quân sự người Pháp bằng những học thuyết của mình. Meckel đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng của cố vấn Hermann Roesler về lòng trung kiên với Thiên hoàng qua việc giảng dạy cho các học trò của ông rằng thắng lợi quân sự của Phổ là một hệ quả của sự trung kiên của đội ngũ sĩ quan dành cho vị Hoàng đế tối cao của họ, việc mà các Điều XI-XIII của Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản đã quy định rõ ràng. Là người chủ trương thực hiện các cuộc tấn công ồ ạt bằng bộ binh, Meckel tin rằng ưu thế về quân số, tổ chức, tinh thần kỷ cương và dũng cảm tuyệt đối sẽ đè bẹp mọi thứ trong những đợt tấn công như vậy. Các cải cách của Meckel đã giúp cho Nhật Bản đánh bại đế quốc Thanh-Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ (1894 – 1895). Trong chiến tranh, những học trò Nhật Bản của ông đã chứng tỏ sự thành thạo của mình đối với những bài giảng của Meckel. Nhờ áp dụng chiến thuật xung kích ào ạt bằng những đội hình bộ binh dày đặc, họ đánh chiếm được cảng Lữ Thuận từ tay một lực lượng nhỏ hơn của Mãn Thanh. Tiếp theo đó, trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904 – 1905), các học trò của Meckel một lần nữa giành phần thắng. Mặc dù vậy, chiến lược của ông đã mang lại thiệt hại nặng nề cho phía Nhật trong cuộc chiến. Để đánh chiếm cảng Lữ Thuận, quân Nhật chịu thiệt hại đến 59.000 người. Sang trận Phụng Thiên, quân Nhật phải chuyển sang tấn công bằng những đội hình lỏng lẻo, nhờ đó mà tổn thất ít hơn kẻ thù bại trận của họ. Về Bộ Tổng tham mưu Đức. Khi trở về nước Đức, Meckel làm việc trong Trung đoàn Bộ binh số 2 tại pháo đài Mainz, về sau được phong cấp Thiếu tướng, và được cử làm tổng chỉ huy các lực lượng Đức ở vùng sông Rhein. Ông là biên tập viên của các ấn bản thứ hai và ba của cuốn "Những trách nhiệm của Bộ Tổng tham mưu" ("'Der Dienst des Generalstabes") của nhà lý luận quân sự Paul Bronsart von Schellendorff. Ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Đức vào năm 1895. Tuy nhiên, Đức hoàng Wilhem II không ưa chuộng ông và phản đối việc liệt ông vào hàng Tiểu Nam tước Phổ ("Junker") . Thay vì đó, ông lại được chỉ định làm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Bộ binh số 8, nhưng về hưu không lâu sau đó. Ông từ trần ở thành phố suối khoáng Gernrode, hưởng thọ 65 tuổi.
1
null
Dạng Mẫn hoàng hậu (chữ Hán: 煬愍皇后, 567 – 17 tháng 4, năm 648), thường gọi Tiêu hoàng hậu (蕭皇后), là Hoàng hậu của Tùy Dạng Đế Dương Quảng trong lịch sử Trung Quốc. Bà vốn là vật báu giữa nhân gian, vừa chào đời đã là tuyệt thế giai nhân, khuôn mặt như hoa mẫu đơn, đôi mắt long lanh, eo mềm mại như cây liễu, sắc đẹp tuyệt trần, phong thái quyến rũ hơn người, dường như tất cả những cái đẹp trên đời đều hội tụ trên người bà. Trong lịch sử Trung Quốc, có mấy ai có thể giống như Tiêu hoàng hậu trải qua sự thay đổi triều đại, vẫn luôn ở bên cạnh nhiều vị quân vương. Sau bao gian truân, chính bằng nhan sắc cùng khí chất bẩm sinh, Tiêu thị trở thành tuyệt thế giai nhân được truyền tụng muôn đời. Thân thế. Tiêu hoàng hậu là một thành viên của hoàng tộc Tây Lương, là một công chúa của Lương Minh Đế, hoàng đế của nước Tây Lương, song nước Tây Lương là chư hầu của Bắc Chu và sau đó là nhà Tùy. Tiêu Hoàng hậu sinh ra đã mang trong mình số phận đặc biệt. Khi vừa chào đời, tướng mạo của nàng khiến thầy tướng số phải kinh ngạc. Sở hữu dung nhan hiếm có, lại thêm việc sinh vào ngày giờ đặc biệt, thầy tướng đã đoán trước vận mệnh của Tiêu thị bằng 8 chữ: "Mẫu nghi thiên hạ, mệnh đới đào hoa". Bà sinh vào tháng 2 âm lịch, song theo phong tục Giang Nam thì sinh vào tháng 2 âm lịch là điều không tốt lành. Lương Minh Đế do tin vào điều mê tín này nên đã trao bà cho em họ là Đông Bình vương Tiêu Ngập (蕭岌) nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do Tiêu Ngập đã qua đời vào năm đó, bà được chuyển cho cữu phụ Trương Kha (張軻). Do Trương Kha có gia cảnh bần hàn, bà phải tham gia lao động. Sau đó, Lương Minh Đế về phe Tùy Văn Đế trong cuộc nội chiến vào năm 580 chống Uất Trì Huýnh, năm 582, Tùy Văn Đế ngỏ ý muốn cưới một công chúa của Tây Lương cho hoàng tử của mình là Tấn vương Dương Quảng. Tây Lương Minh Đế đã mời thầy bói xem mệnh của công chúa trong cung, song thầy bói nói những công chúa trạc tuổi Dương Quảng người thì không hợp mệnh, người thì không hợp tuổi. Tây Lương Minh Đế bất đắc dĩ đưa bà hồi cung, và thầy bói nói quẻ của bà đại cát, vì thế bà được gả cho Dương Quảng. Vì tuổi nhỏ không được nuôi trong gia đình quý tộc, không hiểu lễ tiết cung đình nên bà chưa được tiến cung thành thân ngay. Lúc đó, Độc Cô hoàng hậu vô cùng yêu thích cô con dâu bé bỏng nên đã nuôi dưỡng chăm sóc nàng như con đẻ. Độc Cô hoàng hậu cho mời rất nhiều thầy giỏi đến dạy bà đọc sách, viết văn, hội họa, đàn hát. Không chỉ sở hữu nhan sắc nổi trội của một mỹ nhân mà Tiêu hoàng hậu còn có tố chất thông minh hơn người, bà học gì thạo đó. Nhờ vậy, chỉ vài tháng sau, Tiêu hoàng hậu đã nhanh chóng trở thành một tiểu tuyệt thế giai nhân, lại tinh thông thư lễ, đa tài đa nghệ. Vốn háo sắc nên ngay khi nhìn thấy nhan sắc tuyệt trần của người vợ đã được mẫu thân lựa chọn, Dương Quảng liền muốn đưa bà vào cung. Năm Khai Hoàng thứ 3, Dương Quảng vào triều, sợ không thể chờ đợi lâu hơn nữa, Dương Quảng đã nhanh chóng kết hôn với Tiêu thị. Tiêu thị trở thành chính thất của Dương Quảng, được phong làm Tấn vương phi. Năm đó, Dương Quảng 14 tuổi, còn Tiêu thị vừa bước vào tuổi 17. Đêm động phòng hoa chúc, Dương Quảng lóng ngóng ôm chặt tiểu vương phi e ấp như nụ hoa mới nở vào lòng, ngoài ra Dương Quảng còn giả vờ diễn những hành động như một kẻ ngờ nghệch đang si tình để làm vừa lòng vương phi. Trong quẻ bói của Tiêu thị lúc mới sinh ra có 4 chữ "mẫu nghi thiên hạ" và quả thực sau này Tiêu thị đã trở thành mẫu nghi thiên hạ, nhưng liệu Dương Quảng có trở thành hoàng đế không? Mặc dù anh trai của Dương Quảng - Dương Dũng đã được lập làm thái tử vào năm Khai Hoàng đầu tiên, nhưng đối với những người sinh ra trong một hoàng tộc như Dương Quảng thì ôm mộng hoàng đế là chuyện hoàn toàn bình thường. Vì vậy, ông đã coi Tiêu phi như là ngôi sao may mắn của mình, hết mực yêu thương trân trọng bà. Vì coi Tiêu phi là ngôi sao hy vọng của mình nên Dương Quảng đã bắt đầu thực hiện những mưu kế quỷ quyệt để tranh ngôi với anh trai mình. Đáng tiếc là Dương Quảng chỉ mới biết được vế trước trong quẻ của Tiêu thị mà không biết rằng vế sau bà lại là một người có "mệnh đới đào hoa". Tấn vương phi và thái tử phi. Sách sử ghi rằng Tiêu vương phi tính tình hòa thuận, hiếu học, dung mạo xinh đẹp có cả tài xem vận mệnh. Tùy Văn Đế hài lòng với bà, còn Dương Quảng sủng ái và tôn trọng bà. Hơn nữa, để làm hài lòng mẹ là Độc Cô hoàng hậu (không ưa người nào có nhiều tiểu thiếp), Dương Quảng mặc dù có một số người thiếp song cũng cố gắng hài hòa các mối quan hệ. Nhưng Dương Quảng chưa phải động chân động tay thì thái tử Dương Dũng lại tự tìm tới cái chết. Tùy Văn Đế và Độc Cô hoàng hậu đã bỏ ra rất nhiều tiền để cưới Nguyên thị về làm thái tử phi nhưng Dương Dũng lại không hề màng tới mà lại dành hết tâm trí của mình cho thứ phi là Vân Chiêu Nghĩa. Nguyên thị thấy thế tức giận tới nỗi đã thắt cổ tự vẫn. Dương Quảng nhân cơ hội đó, cố tình tỏ ra là một người con hiếu thảo mỗi lần xuất hiện trước mặt mẫu thân của mình, ngoài ra Dương Quảng cũng cố tình xa lánh Tiêu phi để ra vẻ tập trung vào công việc triều chính. Là một người thông minh, Tiêu phi hiểu được tình hình triều đình lúc bấy giờ, bà đã phối hợp ăn ý với Dương Quảng để diễn một vở kịch hoàn hảo. Tiêu phi thường xuyên tới cung của Hoàng hậu Độc Cô khóc lóc, kể lể rằng Dương Quảng chỉ lo chuyện quốc gia đại sự mà lạnh nhạt với mình. Hai vợ chồng Dương Quảng “kẻ đàn, người hát” đã khiến Độc Cô hoàng hậu động lòng và quyết định phế truất Dương Dũng khỏi vị trí Thái tử vào năm 600, đưa Dương Quảng lên thay thế. Do đó, Tiêu vương phi trở thành thái tử phi. Thành công của Dương Quảng có được sau 17 năm cưới Tiêu phi làm vợ, hay nói cách khác, cả hai đã phải diễn vở kịch giả sầu, giả khổ này trước mặt Độc Cô hoàng hậu trong suốt 17 năm.(Năm 582 Dương Kiên hỏi cưới vua Lương, 583 chính thức tứ hôn) Bà và Dương Quảng có với nhau hai con trai là Dương Chiêu và Dương Giản và một con gái là Nam Dương công chúa. Đại Tùy Hoàng hậu. Tùy Văn Đế qua đời năm 604, Dương Quảng đăng cơ kế vị, tức Tùy Dạng Đế. Năm 605, Tiêu vương phi được phong làm hoàng hậu. Dạng Đế sau đó đã sống xa hoa, trong cung có hàng vạn cung nữ. Tuy vậy, Dạng Đế vẫn duy trì sự tôn trọng dành cho Tiêu hoàng hậu, phong nhiều người thân của bà làm quan trong triều. Tuy nhiên, Thái tử Dương Chiêu đã qua đời vào năm 606, còn Dương Giản để mất sủng ái của Dạng Đế vào năm 608 do dùng bùa chú gây hại cho các nhi tử của Dương Chiêu. Tiêu hoàng hậu thường tháp tùng Tùy Dạng Đế đi tuần thú khắp đế chế, và bà nhận thấy phu quân trở nên bạo chính. Bà vì sợ hãi mà không dám nói thẳng, phải viết "Thuật chí phú" (述志賦) với lời lẽ thận trọng để nhẹ nhàng khuyến nghị Dạng Đế thay đổi. Năm 607, khi Dạng Đế đến chỗ Khải Dân khả hãn của Đông Đột Quyết, Tiêu hoàng hậu cũng tháp tùng, và bà đã đích thân viếng thăm lều của Nghĩa Thành công chúa - thê của Khải Dân khả hãn và cũng là nhi nữ của một thành viên hoàng tộc Tùy. Năm 615, khi Dạng Đế và Tiêu hoàng hậu ở tại biên thành Nhạn Môn (雁門, nay thuộc Hãn Châu, Sơn Tây), Thủy Tất khả hãn (người kế vị Khải Dân khả hãn) đã suất quân tập kích, bao vây thành Nhạn Môn. Một huynh đệ của Tiêu hoàng hậu là Tiêu Vũ (蕭瑀) đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ Nghĩa Thành công chúa (kết hôn với Thủy Tất khả hãn theo tục lệ Đột Quyết), Nghĩa Thành công chúa đã nói dối với phu quân rằng Đột Quyết bị tiến công từ phương bắc. Nhưng sau đó, không nghe theo lời khuyên của Tiêu Vũ để kết thúc các chiến dịch tấn công Cao Câu Ly, Dạng Đế đã trục xuất Tiêu Vũ khỏi triều. Năm 618, do toàn đế chế đắm chìm trong các cuộc nổi dậy, Tiêu hoàng hậu cùng Dạng Đế đã lưu lại Giang Đô (江都), thủ phủ Dương Châu, được Kiêu Quả quân (驍果) tinh nhuệ bảo vệ. Khi một cung nữ báo cho bà biết các binh sĩ Kiêu Quả quân dự tính tiến hành binh biến, Tiêu hoàng hậu đã báo lại với Dạng Đế, song Dạng Đế lại cho xử tử người cung nữ này vì không muốn nghe tin xấu. Sau đó, khi các cung nữ khác muốn bẩm báo về âm mưu của các binh sĩ, Tiêu hoàng hậu đã khuyên họ không nên làm vậy, nói rằng tình thế đã không thể cứu vãn được nữa. Sau đó, Vũ Văn Hóa Cập đã tiến hành binh biến, sát hại Dạng Đế cùng hai hoàng tử Dương Giản, Dương Cảo và hoàng tôn Dương Đàm (楊倓). Sau khi Dạng Đế bị giết. Vũ Văn Hóa Cập tôn Tần vương Dương Hạo làm hoàng đế, và sau đó quyết định từ bỏ Giang Đô để tiến về phương Bắc, đưa cả Tiêu hoàng hậu cùng các cung nữ đi theo. Tuy nhiên, Vũ Văn Hóa Cập lại liên tục thất bại khi giao chiến, và đến mùa thu năm 618 đã quyết định đầu độc Dương Hạo để soán vị (để được làm hoàng đế trước khi thất bại). Năm 619, Hạ vương Đậu Kiến Đức (một thủ lĩnh nổi dậy) bắt giữ và xử tử Vũ Văn Hóa Cập. Sau đó, ông đến yết kiến Tiêu hoàng hậu và xưng thần. Đậu Kiến Đức còn cho an trí bà ở Vũ Cường. Lúc bấy giờ, thế lực của người Đột Quyết ở phía bắc ngày càng lớn mạnh, nhiều lần đe dọa Trung Nguyên. Khi ấy, Khả hãn (thủ lĩnh) của Đột Quyết có hôn ước với Nghĩa Thành công chúa (em gái Tùy Dạng Đế năm xưa), tức em chồng của Tiêu thị. Nghĩa Thành công chúa ngỏ ý muốn Đậu Kiến Đức đưa Tiêu Hoàng hậu đến chỗ mình. Đậu Kiến Đức không dám một mình đối kháng của người Đột Quyết, đành phải ngoan ngoãn giao nộp mỹ nhân, Nam Dương công chúa cũng đi theo mẹ. Khi ở Đột Quyết, một trong số các phi tần của Dương Giản đã hạ sinh một di phúc tử, đặt tên là Dương Chính Đạo (楊政道). Tiêu hoàng hậu nuôi dưỡng Dương Chính Đạo, còn Xử La khả hãn sau đó phong Chính Đạo làm Tùy vương. Tiêu hoàng hậu sau đến sống ở Định Tương, qua 2 đời thủ lĩnh của người Đột Quyết là Xử La Khả Hãn và sau đó là Hiệt Lợi Khả Hãn. Trong những năm này, các khả hãn Đột Quyết tiếp tục sử dụng Dương Chính Đạo để thu hút người Trung Nguyên hàng phục, nhằm cạnh tranh thế lực với triều Đường. Năm 630, khi Đường Thái Tông phái tướng Lý Tĩnh đi đánh Đột Quyết, Khang Tộ Mật (康蘇密) đã đầu hàng Đường và đưa Tiêu hoàng hậu cùng Dương Chính Đạo đến chỗ quân Đường. Thời điểm đó Tiêu hoàng hậu đã 63 tuổi, Đường Thái Tông còn tổ chức một bữa tiệc xa hoa đầy những cao lương mỹ vị, cho ca nữ đàn hát cả ngày, thắp đèn rực sáng khắp cung điện để chào đón bà. Lúc ấy, Đường Thái Tông có hỏi Tiêu thị: "Khanh thấy cảnh tượng trước mắt thế nào so với Tùy cung năm xưa?". Kỳ thực, cảnh tượng bấy giờ còn thua xa so với vẻ xa xỉ trong cung điện nhà Tùy năm nào. Trước kia, Dương Quảng (người chồng đầu tiên của Tiêu thị) vốn rất thích ăn chơi hưởng lạc, mỗi khi có yến tiệc đều đốt đèn mà dùng dạ minh châu để thắp sáng, còn cho người đốt đàn hương (hương liệu cao cấp), khiến cung điện chẳng khác gì chốn bồng lai tiên cảnh. Bà không tiện so sánh, liền khôn khéo mà nói: "Bệ hạ là Hoàng đế khai quốc, sao lại đem mình đi so sánh với một vị vua làm mất nước?" Đường Thái Tông nghe vậy rất mực hài lòng, càng thêm hậu đãi bà. Dương Văn Quán (楊文瓘) muốn thẩm vấn Tiêu hoàng hậu để xem có quan lại triều Đường nào bí mật liên hệ với bà không, song Đường Thái Tông từ chối. Do em trai của Tiêu hoàng hậu là Tiêu Vũ một trọng thần dưới thời Đường Cao Tổ và Đường Thái Tông, bà vẫn có được danh giá ở một mức độ nhất định tại kinh thành Trường An. Sau đó, Tiêu hoàng hậu đã phụ trách việc cải táng Dạng Đế theo đúng lễ nghi. Bà qua đời vào ngày 17 tháng 4 năm 648 tại Trường An và được hợp táng tại Giang Đô cùng với Dạng Đế với nghi lễ Hoàng hậu. Điện ảnh. Trong Tùy Đường diễn nghĩa (phim truyền hình), vai Tiêu Mỹ nương do Bạch Băng đảm nhiệm
1
null
Bình Dương Công chúa (chữ Hán: 平陽公主; 599 hoặc sau - 623), thụy hiệu là Bình Dương Chiêu công chúa (平陽昭公主), là một Hoàng nữ của Đường Cao Tổ Lý Uyên, hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Đường. Bà đã tổ chức một đội Nương tử quân giúp cha đoạt lấy quyền lực và cuối cùng soán ngôi nhà Tùy. Tiểu sử. Bình Dương công chúa là con gái thứ ba của Đường Cao Tổ Lý Uyên và Thái Mục Thuận Thánh Hoàng hậu. Thái Mục Thuận Thánh Hoàng hậu sinh hạ bốn người con trai là Lý Kiến Thành, Lý Thế Dân, Lý Huyền Bá, Lý Nguyên Cát và Lý Tú Ninh (tức Bình Dương công chúa) là người con gái duy nhất. Lý Uyên gả bà cho Sài Thiệu (柴紹), con của Cự Lộc quận công "Sài Thận" (柴慎). Năm 617, Lý Uyên âm mưu nổi dậy chống triều đình nhà Tùy trong khi đang lưu thủ tại Thái Nguyên. Lý Uyên phái người đến Trường An để triệu con gái và con rể đến Thái Nguyên. Sài Thiệu lo sợ rằng họ sẽ không thể dễ dàng thoát khỏi kinh thành cùng nhau, vì thế bà đã bảo ông hãy chạy đến Thái Nguyên một mình, còn bà sẽ lẩn trốn. Sau một thời gian lẩn trốn, bà tiến hành phát của cải cho vài trăm người, khiến họ hưởng ứng cuộc nổi dậy của cha. Bà phái gia nô "Mã Tam Bảo" (馬三寶) đi thuyết phục thủ lĩnh nổi dậy "Hà Phan Nhân" (何潘仁) hội quân với mình và sau đó cũng chiêu hàng các thủ lĩnh nổi dậy "Lý Trọng Văn" (李仲文), "Hướng Thiện Chí" (向善志) và "Khâu Sư Lợi" (丘師利). Bà dẫn quân tiến công và chiếm được một số thành lân cận Trường An, tập hợp được 7 vạn lính, hiệu là Nương tử quân. Các nông dân cung cấp đồ ăn thức uống cho Nương tử quân vì họ xem đây là một đội quân giải phóng. Năm 617, Lý Uyên vượt sông Hoàng Hà tiến vào Quan Trung, phái Sài Thiệu đến nơi hẹn trước với bà. Họ sau đó hợp quân với Lý Thế Dân, chỉ huy một cánh quân của Lý Thế Dân. Năm 618, Lý Uyên buộc Tùy Cung Đế phải nhường ngôi, lập ra nhà Đường. Bà được phong làm Bình Dương công chúa và do bà đã có đóng góp to lớn vào chiến thắng, ông đặc biệt vinh danh bà so với 18 người con gái khác. Bà qua đời năm 623 khi mới hơn 20 tuổi, Đường Cao Tổ ra lệnh tiến hành táng lễ lớn theo nghi thức quân nhân dành cho một tướng quân cấp cao, bà được ban thụy hiệu là Chiêu (昭).
1
null
Prunus padus là một loài thực vật thuộc chi Mận mơ. Đây là loài bản địa Bắc Âu và Bắc Á. Nó là một cây nhỏ rụng lá hoặc cây bụi lớn, 8–16 m, mọc ở phía nam của vòng Bắc cực ở Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Nga và Ukraine. Ngoài ra còn có một số cây trong Vương quốc Anh, Pháp.
1
null
Tư Mã Phòng (chữ Hán: 司馬防; 149 - 219), hoặc danh Phương (芳), biểu tự Kiến Công (建公) hoặc Văn Dự (文豫), là một quan lại nhà Đông Hán. Ông là cha của Tư Mã Ý, ông nội của Tư Mã Sư, Tư Mã Chiêu và ông cố của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm. Tiểu sử. Tư Mã Phòng người huyện Ôn, quận Hà Nội (nay là huyện Ôn, tỉnh Hà Nam), tổ tiên xa của ông là Tư Mã Tích (司馬錫), Tư Mã Ngang (司馬卬) và có thuyết cho rằng cụ tổ là nhà sử học Tư Mã Thiên. Tằng tổ Tư Mã Quân (司馬鈞) vào thời Hán An Đế làm chức "Chinh Tây tướng quân" (征西將軍), tổ phụ Tư Mã Lượng (司馬量) làm Thái thú Dự Chương (豫章; nay là Nam Xương, Giang Tây), còn cha Tư Mã Tuấn (司馬儁) làm Thái thú Toánh Xuyên (潁川; nay là Vũ Châu, Hà Nam). Khi còn sinh thời, ông làm chức "Lạc Dương lệnh" (洛阳令), tiến "Kinh Triệu doãn" (京兆尹), sau đó làm "Lạc Dương Bắc bộ úy" (洛阳北部尉) dưới trướng Tào Tháo. Tư Mã Phòng được biết là một người nghiêm túc và trang nghiêm (Nho giáo); ông hầu như không bao giờ cười. Ông sống biệt lập và khi xong việc ở chỗ làm thì ông tránh tiếp xúc với các đồng nghiệp của mình. Tư Mã Phòng rất nghiêm khắc với các con mình ngay cả khi đã trưởng thành. Mỗi lần các con ông gặp ông thì bọn họ không dám làm gì ngay cả nói, ngồi và đi lại nếu như không có sự cho phép của ông. Ông là người ham thích về việc đọc sách, Hán thư là cuốn ông mà đọc nhiều nhất và ông có thể ghi nhớ 100.000 hàng chữ từ cuốn Hán thư. Các con của ông đều đọc bộ Ngũ kinh từ thuở còn nhỏ, gắn bó và khắc ghi vào lòng cho tới khi trưởng thành. Các con ông đều dựa vào Ngũ kinh để tự lập thân cho chính bản thân của bọn họ về sau. Hậu duệ. Tư Mã Phòng có tám người con trai. Mỗi người đều có một biểu tự kết thúc bằng chữ "Đạt", do đó 8 anh em đều được gọi chung là "Tư Mã Bát Đạt" (司馬八達). Bao gồm:
1
null
Thùy Dương tên thật là Lisa Nguyễn Thùy Dương, (sinh năm 1982 tại Hải Phòng), là một luật sư, hiện tại là ca sĩ và cũng là MC (người dẫn chương trình) của Trung tâm Asia. Tiểu sử. Thùy Dương sinh năm 1982 tại Hải Phòng. Năm 1987, khi Thùy Dương chưa đầy 5 tuổi thì mẹ cô là bà Kim Liên, sinh năm 1957, dẫn cô vượt biên qua đường Trung Quốc tới Hồng Kông, 5 ngày trước thời hạn trại đóng cửa. Thùy Dương và mẹ được nhận vào Úc theo diện Nhân đạo vào năm 1990. Ngay từ lúc còn nhỏ ở Úc, lên đến trung học, vào đại học, Thùy Dương luôn tham gia vào các hoạt động của hội sinh viên, của cộng đồng người Việt tại Úc. Tuy rời Việt Nam khi chưa đầy 5 tuổi, Thùy Dương vẫn có thể sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo. Học vấn. Thùy Dương có khiếu ăn nói, năm học 1998-1999 lúc học lớp 11, cô đã được chọn làm đại diện cho học sinh toàn trường. Năm 1999 sau khi tốt nghiệp trung học, Thùy Dương ghi tên học Luật tại Đại học Sydney. Cô lấy bằng Cử nhân Luật năm 2004, và Thạc sỹ Luật năm 2009. Sự nghiệp. Năm 2004 sau khi đậu bằng cử nhân luật, Thùy Dương sang Philippines làm thiện nguyện khoảng hơn 1 năm trong văn phòng Trịnh Hội hỗ trợ giải quyết giấy tờ cho các thuyền nhân còn kẹt lại ở Philippines. Thùy Dương xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là MC cho Trung tâm Asia tại DVD 54 với chủ đề "Bước Chân Việt Nam", sau khi đoạt giải kỳ thi MC do đài truyền hình SBTN và Trung tâm Asia tổ chức vào đầu tháng 2 năm 2007. Quỹ Sen Hoa. Ngoài việc làm MC, Thùy Dương còn là người sáng lập và giám đốc điều hành Quỹ Sen Hoa (SenHoa foundation), một cơ quan phi chính phủ có mục đích giúp trẻ em, phụ nữ Việt Nam thoát khỏi tình trạng buôn người ở Campuchia và những nước Đông Nam Á. Ngày 25 tháng 5 năm 2013, MC Thùy Dương đại diện Quỹ Sen Hoa sang Vienne nhận giải thưởng The Life Ball Crystal of Hope Award 2013 do Swarovski tài trợ. Senhoa Foundation là một trong 12 dự án được đề cử và cuối cùng nằm là một trong 4 tổ chức được chọn trao giải thưởng này. GlobalGiving, một tổ chức phi vụ lợi giúp trẻ em nghèo khó, đã đến thăm các hoạt động của Senhoa tại Campuchia vào năm 2012 và đề cử Senhoa nhận giải thưởng trên. Các tiết mục trình diễn trên sân khấu. Trung tâm Asia. MC chương trình: ASIA 54 - 82 Gia đình. MC Thùy Dương đã làm đám cưới vào ngày 06.08.2014 với Đức Antoine Nguyễn (cũng sinh năm 1982) tại Château Challain, Pháp.
1
null
Lý Nguyên Cát (chữ Hán: 李元吉, 603 – 2 tháng 7 năm 626), biểu tự Tam Hồ (三胡), là một thân vương của triều đại nhà Đường. Ông là con của hoàng đế khai quốc Đường Cao Tổ Lý Uyên, và về phe của Thái tử Lý Kiến Thành trong cuộc tranh chấp quyền lực với Tần vương Lý Thế Dân. Năm 626, Lý Thế Dân gây ra Sự biến Huyền Vũ môn, sát hại Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát. Thân thế. Lý Nguyên Cát sinh năm 603, tức trong thời gian trị vì của Tùy Văn Đế Dương Kiên. Ông là con trai thứ 4 và là con trai út của Lý Uyên với Đậu phu nhân, con gái của Thần Vũ công Đậu Nghị (竇毅) với Tương Dương công chúa Bắc Chu. Lý Nguyên Cát có ba anh: Lý Kiến Thành, Lý Thế Dân và Lý Nguyên Bá (qua đời năm 614), và một chị/em gái mà về sau trở thành Bình Dương Chiêu công chúa. Năm 616, các cuộc khởi nghĩa nông dân bắt đầu nhấn chìm miền Bắc Trung Hoa, còn Đông Đột Quyết thường xuyên suất quân xâm nhập, Tùy Dạng Đế phái Lý Uyên đi trấn thủ Thái Nguyên, với nhiệm vụ chống lại cả quân nổi dậy và quân Đột Quyết. Khi đó, Lý Uyên đưa Lý Thế Dân cùng đến Thái Nguyên, song để Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và một người con khác là Lý Trí Vân, cùng gia thuộc ở Hà Đông (河東, nay thuộc Vận Thành, Sơn Tây). Năm 617, do lo sợ sẽ bị Tùy Dạng Đế trừng phạt vì không đối phó được với Định Dương khả hãn Lưu Vũ Chu (một thủ lĩnh nổi dậy), lại được Lý Thế Dân thuyết phục, Lý Uyên nổi dậy phản Tùy. Sau đó, Lý Uyên bí mật phái người đến Hà Đông bảo các nhi tử chạy đến Thái Nguyên, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đến Thái Nguyên, song để Lý Trí Vân mới 13 tuổi ở lại Hà Đông. Tuy nhiên, trước khi Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và Sài Thiệu (con rể) đến được Thái Nguyên, Lý Uyên nổi dậy, tuyên bố là muốn lập Dương Hựu làm hoàng đế, và để Tùy Dạng Đế làm thái thượng hoàng. Đáp lại, các quan lại triều Tùy bắt giữ Lý Trí Vân, giải đến Trường An rồi xử tử. Góp phần khai quốc. Lý Nguyên Cát không trở thành các trọng tướng như hai huynh Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân, ông được bổ nhiệm làm Thái Nguyên quận thủ, được phong tước Cô Tang quận công (姑臧郡公). Khi Lý Uyên dẫn quân hướng về Trường An, ông ta để Lý Nguyên Cát lưu thủ Thái Nguyên. Cũng trong năm đó, sau khi chiếm được Trường An và tôn Dương Hựu làm hoàng đế, tức Tùy Cung Đế, Lý Uyên nắm quyền phụ chính và phong Lý Nguyên Cát làm Tề quốc công (齐国公), quản lý việc quân sự của 15 quận quanh Thái Nguyên, trao chức "Trấn Bắc đại tướng quân". Vào mùa xuân năm 618, Vũ Văn Hóa Cập tiến hành binh biến sát hại Tùy Dạng Đế ở Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô). Khi tin tức truyền đến Trường An, Lý Uyên buộc Tùy Cung Đế phải thiện nhượng cho mình, khởi đầu triều Đường. Lý Nguyên Cát thụ phong tước Tề vương (齊王), được trao chức Tịnh Châu tổng quản (Tịnh châu bao gồm cả thành Thái Nguyên). Khi lưu thủ Thái Nguyên, Lý Nguyên Cát được mô tả là kiêu căng và hoang phí, và ông thường tổ chức luyện tập quân sự cùng với những người thiếp và thị nữ của ông, trong đó sử dụng khôi giáp và vũ khí thật, khiến họ phải chịu nhiều thương vong, bản thân Lý Nguyên Cát cũng bị thương. Thị nữ Trần Thiện Ý (陳善意) cố thuyết phục Lý Nguyên Cát thay đổi, song ông ra lệnh cho lính canh đánh chết Thiện Ý. Vào mùa xuân năm 619, khi Vũ Văn Hâm (宇文歆) thượng tấu vấn đề này cho Đường Cao Tổ, Đường Cao Tổ đá tạm thời bãi chức Lý Nguyên Cát. Tuy nhiên, chưa đầy một tháng sau, do người dân Thái Nguyên đề nghị để Lý Nguyên Cát trấn thủ thành, Đường Cao Tổ phục chức cho hoàng nhi. Các sử gia truyền thống cáo buộc Lý Nguyên Cát ép buộc người dân phải trình tấu cho Đường Cao Tổ. Vào mùa hè năm 619, Lưu Vũ Chu tiến đánh khu vực Thái Nguyên, Lý Nguyên Cát phái Trương Đạt (張達) đi đánh Lưu Vũ Chu, bất chấp việc Trương Đạt phản đối về việc đội quân được giao có quá ít binh lính. Trương Đạt quả nhiên chiến bại, ông ta tức giận nên đầu hàng Lưu Vũ Chu và dẫn quân Định Dương tiến công vào các vị trí phòng thủ của Đường. Ngay sau đó, Lưu Vũ Chu bao vây Thái Nguyên. Lý Nguyên Cát ban đầu có thể đẩy lùi được Lưu Vũ Chu, song sau đó Lưu Vũ Chu quay trở lại và tiếp tục bao vây Thái Nguyên. Vào mùa thu năm 619, Lý Nguyên Cát cùng thê thiếp chạy đến Trường An, Thái Nguyên bị Lưu Vũ Chu chiếm giữ. Năm 621, khi Lý Thế Dân dẫn quân bao vây kinh thành Lạc Dương của Vương Thế Sung, Lý Nguyên Cát làm phó tướng của Lý Thế Dân. Khi Đậu Kiến Đức đến cứu viện Vương Thế Sung, Lý Thế Dân để Lý Nguyên Cát ở lại tiếp tục bao vây Lạc Dương và trông chừng Vương Thế Sung, còn bản thân dẫn quân đến Hổ Lao quan giao chiến với Đậu Kiến Đức. Quân Đường sau đó giành được chiến thắng, diệt được cả nước Trịnh (Thế Sung) và nước Hạ (Kiến Đức), Lý Nguyên Cát được thăng làm "Thị trung", "Tương châu đạo hành đài thượng thư lệnh", Tắc Châu Thứ sử. Khi Đường Cao Tổ hạ lệnh đúc tiền mới, đồng thời cũng cấm nghiêm ngặt người khác đúc tiền, ngoại trừ Lý Thế Dân, Lý Nguyên Cát và Bùi Tịch. Đến khi Lưu Hắc Thát nổi dậy chống Đường và chiếm cứ lãnh thổ trước đây của Đậu Kiến Đức, Lý Thế Dân và Lý Nguyên Cát được cử đi trấn áp. Lý Thế Dân đánh bại Lưu Hắc Thát vào mùa xuân năm 622, buộc Lưu Hắc Thát phải chạy trốn sang Đông Đột Quyết. Sau đó, họ tiến công một thủ lĩnh nổi dậy khác là Lỗ vương Từ Viên Lãng, Lý Thế Dân trở về Trường An và giao cho Lý Nguyên Cát tiến hành các hoạt động chống Từ. Tuy nhiên, Lưu Hắc Thát lúc này lại trở về từ Đông Đột Quyết, tái chiếm lãnh thổ cũ của Đậu Kiến Đức, Lý Nguyên Cát không thể cản nổi. Giúp Thái tử chống Lý Thế Dân. Trong khi đó, giữa Thái tử Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân diễn ra cạnh tranh quyền lực khốc liệt. Lý Nguyên Cát về phe Lý Kiến Thành trong cuộc cạnh tranh này, và thường thúc đẩy Lý Kiến Thành có hành động cứng rắn chống lại Lý Thế Dân. Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát có quan hệ thân thiết với các sủng phi của Đường Cao Tổ hơn Lý Thế Dân, các phi tần này nói giúp cho Lý Kiến Thành trước Đường Cao Tổ, khiến Đường Cao Tổ từ bỏ ý nghĩ đưa Lý Thế Dân lên làm hoàng thái tử. Khi Lý Kiến Thành tình nguyện suất quân đi đánh Lưu Hắc Thát để lập công, Lý Nguyên Cát tham gia cùng. Khoảng tết năm 623, quân của Lưu Hắc Thát sa lầy khi tiến công Ngụy Châu (魏州, nay thuộc Hàm Đan, Hà Bắc) của nhà Đường, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát thừa cơ tiêu diệt quân của Lưu Hắc Thát tại Quán Đào (館陶, nay cũng thuộc Hàm Đan). Lưu Hắc Thát chạy trốn sang Đông Đột Quyết, song bị Gia Cát Đức Uy (諸葛德威) bắt giữ, rồi bị giải đến chỗ Lý Kiến Thành, Lý Kiến Thành cho xử tử Lưu. Vào một dịp, Lý Nguyên Cát cố thuyết phục Lý Kiến Thành ám sát Lý Thế Dân khi Lý Thế Dân đến phủ của Lý Nguyên Cát, song Lý Kiến Thành không nỡ giết chết hoàng đệ nên yêu cầu Lý Nguyên Cát dừng lại. Sau đó, Lý Kiến Thành định tiến hành chính biến nên bị Đường Cao Tổ phế truất khỏi ngôi vị Thái tử và giáng làm Thục vương, sau đó bị đến đất Thục. Tuy nhiên, đến khi Lý Thế Dân đem quân rời đi, Lý Nguyên Cát cùng các phi tần của Đường Cao Tổ và tể tướng Phong Đức Di (封德彝) nói giúp cho Lý Kiến Thành, Đường Cao Tổ vì thế thay đổi ý định, phóng thích Lý Kiến Thành, cho phép trở về Trường An và vẫn giữ tước vị Thái tử. Đường Cao Tổ chỉ quy tội gây bất hòa giữa các con cho các thuộc hạ của Thái tử và Lý Thế Dân, đưa họ đi lưu đày. Cùng năm, trước các cuộc tiến công liên tục từ Đông Đột Quyết, Đường Cao Tổ suy tính nghiêm túc đến việc đốt bỏ Trường An và rời kinh đô đến Phàn Thành, Lý Kiến Thành, Lý Nguyên Cát và Bùi Tịch chấp thuận đề xuất này. Tuy nhiên, Lý Thế Dân phản đối, vì thế kế hoạch không được thực hiện. Trong khi đó, Lý Thế Dân phái tâm phúc của mình đến Lạc Dương để lập căn cứ ở đó. Đến khi Lý Thế Dân bị ngộ độc nặng sau một bữa tiệc ở Đông cung, (Đường Cao Tổ và Lý Thế Dân đều nghĩ rằng Lý Kiến Thành hạ độc) Đường Cao Tổ tính đến việc phái Lý Thế Dân đến trấn thủ Lạc Dương để ngăn ngừa xung đột tiếp diễn. Tuy nhiên, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát sau khi đàm luận thì cho rằng điều này sẽ giúp Lý Thế Dân có cơ hội gây dựng căn cứ quyền lực riêng, vì thế phản đối, Đường Cao Tổ quyết định không thực hiện điều này. Qua đời. Năm 626, Lý Thế Dân lo sợ rằng mình sẽ bị Lý Kiến Thành sát hại, các thuộc hạ của Thế Dân là Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối và Trưởng Tôn Vô Kị liên tục thúc giục Lý Thế Dân có hành động trước, còn Ngụy Trưng cũng khuyến nghị Lý Kiến Thành tiến công Lý Thế Dân trước. Lý Kiến Thành thuyết phục Đường Cao Tổ loại bỏ Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối, cũng như Uất Trì Kính Đức và Trình Tri Tiết khỏi địa vị thuộc hạ của Lý Thế Dân. Trưởng Tôn Vô Kị không bị loại bỏ, và vẫn tiếp tục cố thuyết phục Lý Thế Dân hành động trước. Vào mùa đông năm 626, Đông Đột Quyết lại tiến công Đường, và theo đề xuất của Lý Kiến Thành, Đường Cao Tổ quyết định để Lý Nguyên Cát xuất quân đi kháng cự thay thế Lý Thế Dân, Lý Nguyên Cát được quyền chỉ huy phần lớn các binh lính dưới quyền Lý Thế Dân trước đây. Lý Thế Dân hết sức lo lắng, sợ rằng với việc quyền binh nắm trong tay Lý Nguyên Cát, ông sẽ không thể kháng cự lại một khi bị tiến công. Lý Thế Dân phái Uất Trì Kính Đức bí mật đưa Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối về phủ của mình, và vào một đêm, họ dâng tấu cáo buộc với Đường Cao Tổ rằng Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát tà dâm với các phi tần của Đường Cao Tổ. Đáp lại, Đường Cao Tổ hạ chiếu triệu Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát vào triều sáng hôm sau, ngoài ra cũng triệu các lão thần Bùi Tịch, Tiêu Vũ và Trần Thúc Đạt đến để tra xét cáo buộc của Lý Thế Dân. Biết Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát sẽ đi qua Huyền Vũ môn (玄武門) ở phía bắc hoàng cung, Lý Thế Dân phái Trưởng Tôn Vộ Kỵ và Uất Trì Kính Đức phục kích. Lý Thế Dân đích thân bắn một mũi tên giết chết Lý Kiến Thành, còn Uất Trì Kính Đức giết chết Lý Nguyên Cát. Quân của Lý Thế Dân tiến vào cung, Đường Cao Tổ buộc phải lập Lý Thế Dân làm thái tử, hai tháng sau thì nhường ngôi. Cả năm con trai của Lý Kiến Thành cũng bị Lý Thế Dân giết chết. Cả năm con trai của Lý Nguyên Cát cũng bị Lý Thế Dân xử tử. Vợ của Nguyên Cát là Dương vương phi được Lý Thế Dân nạp làm phi. Đó là Sự biến Huyền Vũ môn nổi tiếng đầu triều Đường. Lý Nguyên Cát thoạt đầu bị tước bỏ khỏi danh sách tông thất. Sau khi Đường Thái Tông tức vị, truy phong Lý Nguyên Cát là Hải Lăng Lạt quận vương (海陵剌郡王). Năm 642, Đường Thái Tông lại truy phong Lý Nguyên Cát là Sào Lạt vương (巢剌王), và cho hoàng tử con mình với Dương thị là Tào vương Lý Minh (李明) làm hậu tự của Lý Nguyên Cát.
1
null
FC Bayern München đã có một mùa giải thi đấu năm 2012-2013 thành công trên nhiều mặt trận. Bayern Munich đã trở thành đội bóng Đức đầu tiên đoạt cú ăn ba lịch sử gồm vô địch UEFA Champions League, vô địch Bundesliga và vô địch Cúp bóng đá Đức. Sau đó, Bayern còn thắng cả Siêu cúp bóng đá châu Âu và Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ trong cùng 1 mùa giải năm 2013. Mùa bóng này, huấn luyện viên của München là ông Jupp Heynckes, Bayern Munich có đội hình mạnh với nhiều ngôi sao đẳng cấp quốc tế và một lực lượng dự bị dồi dào, đặc biệt đội bóng này sở hữu một hàng công rất mạnh nhất châu Âu như hiện tại gồm các cầu thủ Arjen Robben, Franck Ribéry, Thomas Muller, Mario Gómez, ngoài ra khu vực trung tuyến họ còn có tiền vệ Bastian Schweinsteiger đang có phong độ cao, bên cạnh đó có các cầu thủ như: Manuel Neuer, Philipp Lahm, Holger Badstuber, Jerome Boateng, Dante, Mandzukic, Luiz Gustavo, Javi Martinez, Toni Kroos. Kỉ lục. Mùa giải này được đánh giá là một mùa giải hoàn hảo của Bayern Munich, khi thể hiện hình ảnh của một cỗ máy hủy diệt thực sự, một Super Bayern chiến thắng một cách áp đảo trước các đối thủ của mình, đặc biệt, sau khi có chiến thắng hủy diệt Barcelona đội bóng thống trị của bóng đá châu Âu suốt những năm qua, Bayern được ghi nhận như nhà vua mới của bóng đá châu Âu. Ở trong nước, Bayern liên tiếp phá kỷ lục tại Bundesliga Có nhận định cho rằng, Bayern Munich hiện tại mạnh nhất lịch sử Bundesliga, riêng huấn luyện viên Jupp Heynckes thì tin rằng chưa từng có đội bóng nào trong lịch sử Bundesliga thể hiện thứ bóng đá ấn tượng như Bayern Munich trong mùa giải này và với phong độ, đẳng cấp hiện nay, có thể nói, quyền lực bóng đá châu Âu đang chuyển giao cho người Đức. Một số thành tích cụ thể là: (tính đến tháng 5/2013) Đội hình. Tính đến ngày 2 tháng 2 năm 2013
1
null
Đảng Dân chủ Xã hội Đức (, gọi tắt: SPD), là một đảng phái chính trị lớn và lâu đời nhất nước Đức. Nó bắt nguồn từ Tổng hội Công nhân Đức (Allgemeiner Deutscher Arbeiterverein) thành lập năm 1863 tại Leipzig và Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội (Sozialdemokratische Arbeiterpartei) thành lập năm 1869. Trong Quốc hội Liên bang Đức thứ 17 bắt đầu ngày 27 tháng 10 năm 2009 nó là đảng đối lập liên bang lớn nhất. Hiện tại nó tham dự vào chính phủ của 13 tiểu bang, trong đó 9 bang có bang trưởng là người của đảng SPD. Đảng SPD là thành viên của Đảng Dân chủ Xã hội Âu châu (Sozialdemokratische Partei Europas) (SPE) và Liên hiệp Xã hội chủ nghĩa Quốc tế (Sozialistische Internationale) (SI), một tổ chức quốc tế có sự tham gia của hơn 160 đảng và tổ chức từ tất cả các châu lục. Chủ tịch Đảng hiện tại là Martin Schulz. Lịch sử. Tổng Hội Công nhân Đức ("Allgemeiner Deutscher Arbeiterverein", ADAV), thành lập năm 1863, và Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội (Sozialdemokratische Arbeiterpartei) thành lập năm 1869, nhập lại với nhau vào năm 1875, dưới cái tên là Đảng Công nhân Xã hội Chủ nghĩa ("Sozialistische Arbeiterpartei Deutschlands", SAPD) qua một hội nghị được tổ chức tại Gotha (Cương lĩnh Gotha được biểu quyết tại đây). Từ năm 1878 cho tới 1890, bất cứ những nhóm họp nào để phổ biến nguyên tắc Xã hội chủ nghĩa đều bị cấm theo luật chống lại Xã hội chủ nghĩa (Sozialistengesetz) do thủ tướng Otto von Bismarck đề xướng, tuy nhiên các cá nhân trong đảng vẫn được phép ứng cử. Năm 1890, khi luật này bị hủy bỏ đảng đã đổi lấy cái tên mà hiện thời đang dùng. Qua các cuộc bầu cử quốc hội Đế quốc Đức vào năm 1893, 1898 và 1903 đảng SPD càng ngày càng giành được nhiều phiếu. Năm 1893 họ đạt được 23,3 %, đến năm 1903 đã trên 31 %. Vào ngày 23 tháng 5 năm 2013, đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) đã tổ chức lễ kỉ niệm 150 năm ra đời (1863-2013) tại thành phố Leipzig, cái nôi của đảng này. Trên 1600 khách mời, trong đó có nhiều chính khách Đức, Âu châu và quốc tế, như Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Đức Joachim Gauck, Tổng thống Pháp François Hollande, Chủ tịch Quốc hội Âu châu Martin Schulz…
1
null
Ludwig Freiherr von Falkenhausen (13 tháng 9 năm 1844 – 4 tháng 5 năm 1936) là một Thượng tướng Bộ binh của Phổ và Đế quốc Đức, từng tham gia chiến đấu trong ba cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức. Ông nổi bật hơn cả vì các hoạt động của mình trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tiểu sử. Falkenhausen chào đời tại Guben. Ông là con trai của Trung tướng Phổ D. Alexander von Falkenhausen (1821 – 1889) và vợ của ông này là Catherine née Rouanet (1825 – 1907). Falkenhausen ban đầu vào học một trường tư ở Berlin, sau đó từ tháng 5 năm 1856, ông trở thành một thiếu sinh quân tại Potsdam. Vào năm 1856, ông chuyển sang học viện quân sự chính ở thủ đô Berlin. Vào tháng 5 năm 1862, ông gia nhập Trung đoàn Cận vệ số 1. Tháng 5 năm 1866, ông trở thành sĩ quan phụ tá của tiểu đoàn Ersatz. Về sau, ông được bổ nhiệm làm sĩ quan phụ tá của Trung đoàn Bộ binh Cận vệ Trừ bị tổng hợp. Ông đã tham gia chiến đấu trong "Binh đoàn Main" trong Chiến dịch năm 1866 tại miền Tây Đức. Từ tháng 10 năm 1868 cho đến tháng 5 năm 1869, ông phục vụ trong Trung đoàn Pháo dã chiến Cận vệ với cương vị là sĩ quan phụ tá trung đoàn. Trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức (1870 – 1871) ông đã tham gia trong các trận chiến tại Gravelotte-St.Privat, Beaumont và Sedan, cũng như trong Cuộc vây hãm Paris. Vào cuối năm 1870, ông từ chức sĩ quan phụ tá cấp trung đoàn, vào tháng 7 năm 1871 ông được bổ nhiệm làm sĩ quan phụ tá của Sư đoàn số 28 tại Karlsruhe. Trong những năm sau đó, ông được thuyên chuyển vài lần: từ Trung đoàn Bắn súng hỏa mau số 40 sang Bộ Tổng tham mưu quân đội, sau đó lại sang Bộ Tham mưu của Sư đoàn số 16 ở Trier rồi Bộ Tham mưu của Quân đoàn VIII (Koblenz). Vào năm 1885, ông được điều sang Trung đoàn Bộ binh số 65, với cương vị là chỉ huy trưởng của Tiểu đoàn số 1 tại Köln. Vào tháng 3 năm 1887, Falkenhausen được ủy nhiệm làm Tham mưu trưởng của Trung đoàn Cấm vệ quân ở kinh đô Berlin. Vào tháng 6 năm 1890, ông chỉ huy Trung đoàn Phóng lựu Cận vệ Hoàng hậu Augusta số 4 (Koblenz). Hai năm sau, ông trở thành chỉ huy trưởng của Lữ đoàn Bộ binh số 29 tại Köln vào năm 1893 ông được ủy nhiệm làm chủ nhiệm hậu cần của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Đức. Từ năm 1893 cho đến năm 1895, ông còn là một thành viên của Uỷ ban Học vấn của Học viện Quân sự Phổ. Sau khi làm việc tại Cục Chiến tranh vào tháng 1 năm 1895, ông trở thành tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh trong Bộ Chiến tranh Phổ. Vào tháng 2 năm 1895, ông được bổ nhiệm làm đại biểu trong Hội đồng Liên bang. Vào tháng 1 năm 1897, ông được cử làm chỉ huy trưởng của Sư đoàn Bộ binh Cận vệ số 2 tại kinh đô Berlin vào năm 1899 ông là tướng tư lệnh của Quân đoàn XIII (Hoàng gia Württemberg. Đến tháng 3 năm 1892, ông về hưu, nhưng vẫn chú tâm vào việc nghiên cứu khoa học quân sự. Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vào tháng 8 năm 1914, trong cuộc tổng động viên của Đức, Falkenhausen được bổ nhiệm làm Tướng tư lệnh của Quân đoàn Trừ bị bao gồm 6 sư đoàn thuộc Tập đoàn quân số 6. Với tư cách là chỉ huy trưởng Phân bộ quân Falkenhausen, ông thống lĩnh các lực lượng Đức trong các trận đánh tại Delmer vào các năm 1915 – 1916 và trong cục diện chiến tranh chiến hào tại Lorraine vào các năm 1915 – 1916. Ông rất thành công trong nửa đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và được tặng thưởng Huân chương Quân công vào ngày 23 tháng 8 năm 1915, sau đó được nhận Lá sồi vào ngày 15 tháng 4 năm 1915. Vào ngày 15 tháng 9 năm 1915, ông được vua xứ Sachsen ban tặng Thập tự của Hiệp sĩ Huân chương Quân sự St. Heinrich. Falkensau chỉ huy Tập đoàn quân số 6 của Đức trong Chiến dịch tấn công Arras của Lực lượng Viễn chinh Anh vào tháng 4 năm 1917. Ông không thể triển khai đúng đắn chiến thuật mới phòng thủ chiều sâu để đối mặt với chiến thuật mới của quân Anh và các Lãnh địa hải ngoại của Đế quốc Anh, vì vậy ông bị tướng Erich Ludendorff cách chức tư lệnh chiến trường. Sau đó, ông kế nhiệm Moritz von Bissing làm Toàn quyền Bỉ trong thời gian Đức chiếm đóng nước này, kể từ tháng 5 năm 1917 cho đến tháng 11 năm 1918. Đầu năm 1918, thời báo "The Times" đã đăng một bài viết – đề tựa "Triều đại khủng bố của Falkenhausen" – mô tả 170 vụ hành quyết công dân Bỉ do quân đội Đức thực hiện trong thời gian ông giữ chức Toàn quyền. Falkenhausen từ trần vào ngày 4 tháng 5 năm 1936 ở Görlitz. Ông được mai táng ở nghĩa trang Invalidenfriedhof tại Berlin. Mộ phần của ông được bảo tồn. Gia đình. Ngày 17 tháng 9 năm 1868, Falkenhausen kết hôn lần đầu tiên với Ehe Helene von Waldow und Reitzenstein (13 tháng 11 năm 1857 tại Potsdam – 18 tháng 3 năm 1886 tại Köln) và tái giá vào ngày 10 tháng 3 năm 1902 với Alice Petzold (10 tháng 8 năm 1863 tại Chemnitz – 1947 tại Jessen an der Elbe). Cuộc hôn nhân lần thứ nhất đã mang lại cho ông một người con trai là luật sư Friedrich. Lưu ý. Chú ý đến tên gọi của ông: "Freiherr" là một tước hiệu, tương đương với Nam tước, chứ không phải là một tên riêng hoặc tên lót. Trước năm 1919, tước hiệu nằm ở phía trước tên riêng. Tước hiệu cũ của những người còn sống sau năm 1919 là thành phần thuộc tên họ, do đó nằm phía sau tên thánh và không thể được dịch. Tước vị tương đương với "Nữ Nam tước" là "Freifrau" và "Freiin".
1
null
Cầu Gò Dầu là cây cầu bắc qua sông Vàm Cỏ Đông nối liền thị trấn Gò Dầu với Cửa khẩu Mộc Bài, nằm trên trục Đường Xuyên Á (QL22), thuộc địa phận huyện Bến Cầu và huyện Gò Dầu của tỉnh Tây Ninh. Cầu nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60 km, cách thành phố Tây Ninh 36 km. Hệ thống cầu gồm 2 cầu là cầu Gò Dầu 1 và cầu Gò Dầu 2 song song nhau cùng bắc qua sông Vàm Cỏ Đông với chiều dài 305m, được khởi công từ tháng 11 năm 2002 và đưa vào sử dụng từ năm 2005. Cầu còn được gọi là "cầu xóa nợ" vì nơi đây được đồn thổi có những con bạc trắng tay từ sòng bạc Campuchia, nhảy xuống sông nhằm xóa hết xóa nợ. Liên kết ngoài. Vị trí Cầu Gò Dầu trên Google Maps
1
null
Jessica Dominique Marais (sinh ngày 29 tháng 1 năm 1985 tại Nam Phi) là một diễn viên Australia, lúc nhỏ cô sống tại thành phố Perth, phía tây Australia. Cô được biết tới qua vai Rachel Rafter trong phim truyền hình Packed to the Rafters và Lily Diamond trong phim truyền hình Magic City. Xuất thân. Sinh tại Nam Phi, nhưng Marais lại cùng gia đình đã sống tại Canada và New Zealand trước khi về sống ở thành phố Perth, phía tây Australia, khi đó cô mới 9 tuổi. Sáu tháng sau khi về sống tại Australia, cha cô Tony đột ngột qua đời vì lên cơn đau tim khi đang đi picnic cùng gia đình. Mẹ cô Karen một mình chăm sóc cô và em gái Clara. Sau đó cô vào học trường John XXIII được 1 năm rồi chuyển tới trường nữ sinh Thánh Hilda Anh giáo từ năm 1995 cho tới khi tốt nghiệp năm 2002. Jessica vào học trường Học viện Nghệ thuật Điện ảnh Quốc tế và tốt nghiệp năm 2007. Tại đây cô được biết tới qua vai Ophelia trong vở Hamlet của William Shakespeare và Charity trong Sweet Charity. Vào năm học cuối cùng trước khi tốt nghiệp, cô giành được vai chính Rafters trong series phim truyền hình Packed to the Rafters, đóng cùng với nam diễn viên chính là Hugh Sheridan cũng là sinh viên Học viện Nghệ thuật Điện ảnh Quốc tế. Sự nghiệp. Cô tiếp tục vừa học vừa đóng phim, vai Rafter trong series phim Packed to the Rafters ngay lập tức giành được thành công lớn. Chủ nhật, ngày 3 tháng 5, Marais vinh dự được trao giải Logie cho hạng mục " Nữ diễn viên trẻ được yêu thích nhất" và một giải uy tín khác nữa là Giải Graham Kennedy cho hạng mục "Diễn viên trẻ nổi bật nhất" tại Lễ trao giải Logie năm 2009. Tháng 2 năm 2011 cô thông báo sẽ dừng đóng phim để nghỉ ngơi một thời gian, khi series phim kết thúc vào ngày 23 tháng 8 năm 2011. Marais đã vào vai chính từ Season 1 tới Season 4 từ 2008-2002. Marais trở lại với một vai cameo ở tập cuối trong season 4 ngày 20 tháng 3 năm 2012. Ngoài ra Marais cũng vào vai chính trong phim Two Fists, One Heart của hãng Rai Fazio cùng với diễn viên cùng thành phố Perth, Tim Minchin và Daniel Amalm công chiếu tháng 3 năm 2009. Marais còn tham gia với tư cách khách mời trong series phim Mỹ, Legend of the Seeker tại Auckland, New Zealand, vai Denna trong Mord’Sith (The Sword of truth). Sau series Packed to the Rafters, Marais trở lại Los Angeles và tiếp tục sự nghiệp diễn xuất tại Hollywood. Đầu tiên là tại Miami, với 10 tập phim truyền hình Mỹ, Magic City. Đời tư. Marais đính hôn với James Stewart, cũng là diễn viên chính trong series phim truyền hình Packed to the Rafters. Stewart vào vai Jake Barton trong phim. Vào ngày 15 tháng 11 năm 2011, Marais và Stewart thông báo rằng họ sắp có con. Ngày 9 tháng 5 năm 2012, Marais sinh được một bé gái, Scout Edie Stewart. Marais nói rằng cô muốn tiếp tục tham gia phần 2 của series Magic City trong khi Stewart lại muốn cô dành toàn bộ thời gian để chăm sóc con cái.
1
null
Lâm Xuyên Liệt Võ Vương Lưu Đạo Quy (chữ Hán: 劉道規, 370 – 25 tháng 7, 412), tên tự là Đạo Tắc, người Tuy Lý, Bành Thành , tướng lãnh nhà Đông Tấn, hoàng thân nhà Lưu Tống trong lịch sử Trung Quốc. Sự nghiệp. Chống Sở đế Hoàn Huyền. Ông là em nhỏ cùng cha khác mẹ của Lưu Tống Vũ đế Lưu Dụ, mẹ ông là Tiêu Văn Thọ. Từ nhỏ Đạo Quy lỗi lạc, có chí lớn, tham gia mưu tính diệt trừ Hoàn Huyền. Khi ấy Hoàn Hoằng trấn thủ Quảng Lăng, lấy ông làm Chinh lỗ trung binh tham quân. Lưu Dụ chiếm được kinh thành, Đạo Quy trong thời gian ấy cùng Lưu Nghị, Mạnh Sưởng chém Hoằng. Huyền thua chạy, ông cùng Lưu Nghị, Hà Vô Kị đuổi đánh. Vô Kị muốn thừa thắng tấn công Giang Lăng. Đạo Quy nói: "Đảng họ Hoàn đời đời ở Tây Sở, quân ta ít lại mệt mỏi, còn Hoàn Chấn dũng trùm ba quân. Hãy dừng binh để bàn bạc kế sách." Vô Kị không nghe, quả nhiên bị Chấn đánh bại. Đài quân bèn lui về Tầm Dương, sửa sang thuyền bè, vũ khí rồi lại tiến lên, bình được Ba Lăng. Bình xong Giang Lăng, Đạo Quy cử Nghị làm công đầu, Vô Kị làm thứ, tự mình ở sau cùng. Nhờ công lao tham gia khởi nghĩa, được phong Hoa Dung huyện công, được thăng làm thêm Lãnh hộ Nam Man hiệu úy, Kinh Châu thứ sử, gia Đô đốc. Ông giỏi cai trị, quan dân vừa sợ vừa yêu. Dẹp khởi nghĩa Lư Tuần. Nghĩa quân Lư Tuần bức đến Kiến Nghiệp, Đạo Quy sai bọn tư mã Vương Trấn Chi cùng Dương vũ tướng quân Đàn Đạo Tế, Quảng vũ tướng quân Đáo Ngạn Chi đi cứu viện, đến Tầm Dương, bị tướng lãnh nghĩa quân Tuân Lâm đánh bại. Lâm thừa thắng tấn công Giang Lăng, ngoa truyền Từ Đạo Phúc đã hạ được Kiến Nghiệp. Gặp lúc Hoàn Khiêm từ Trường An vào Thục, Tiếu Túng lấy Khiêm làm Kinh Châu thứ sử, cùng đại tướng Tiếu Đạo Phúc của ông ta đi đánh Giang Lăng. Đạo Quy bèn tập hợp tướng sĩ nói rằng: "Văn vũ của ta ở Đông Lai đủ để lo việc, ai muốn đi không cấm." rồi trong đêm mở cửa thành, mọi người đều sợ phục, không ai dám bỏ đi. Ung Châu thứ sử Lỗ Tông Chi từ Tương Dương đến giúp, ai cũng nghi ngờ không tin ông ta. Đạo Quy bèn một xe đi đón, mọi người đều khâm phục. Nhiều ý kiến cho rằng nên sai Đàn Đạo Tế, Đáo Ngạn Chi cùng đi đánh bọn Tuân Lâm. Đạo Quy nói: "Không phải ta thì không xong!" bèn sai Tông Chi giữ thành, ủy thác mọi việc cho ông ta, soái chư tướng đánh bại Khiêm, chém được ông ta. Tư nghị Lưu Tuân đuổi đánh Tuân Lâm, chém được hắn ta ở Ba Lăng. Ban đầu, Khiêm đến Chi Giang, quan dân Giang Lăng nhiều người gởi thư cho ông ta, thông báo nội tình. Đạo Quy nhất loạt đốt hết thư từ, mọi người đều yên lòng. Từ Đạo Phúc tiến đến Phá Trủng, Lỗ Tông Chi quay về Tương Dương, lòng người chấn động. Có tin đồn Lư Tuần đã hạ được kinh thành, đưa Đạo Phúc lên làm thứ sử. Quan dân Giang, Hán cảm ơn đốt thư của ông, nên không hai lòng. Đạo Quy sai Lưu Tuân đưa quân vòng ra ngoài, tự mình đón đánh Đạo Phúc. Tiền quân bị thua, ông càng tỏ ra hăng hái mạnh mẽ. Lưu Tuân quay về tập kích nghĩa quân, quân Tấn đại thắng. Cái chết. Đạo Quy tiến hiệu Chinh tây đại tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, đổi thụ chức ở Dự Châu, có bệnh nên không nhận. Năm Nghĩa Hi thứ 8 (412) mất ở kinh đô, tặng Tư đồ, thụy là Liệt Vũ, tiến phong Nam Quận công. Đạo Quy không có con, ban đầu ông nuôi dưỡng con trai thứ ba của Lưu Dụ là Lưu Nghĩa Long. Vì Nghĩa Long đã về nhà trước khi ông mất, nên Lưu Dụ lấy con trai thứ hai của Lưu Đạo Liên là Lưu Nghĩa Khánh kế tự tước Nam Quận công. Lưu Dụ lên ngôi, là Lưu Tống Vũ đế, tặng Đại tư mã, truy phong Lâm Xuyên vương. Nghĩa Long lên ngôi, là Lưu Tống Văn đế, chỉ định Nghĩa Khánh kế tự tước Lâm Xuyên vương. Nghĩa Khánh nắm quyền ở Kinh Châu, đưa bài vị của Đạo Quy đi Giang Lăng, Văn đế hạ chiếu ca ngợi công lao, đức độ và ơn nuôi dưỡng, truy sùng làm Thừa tướng, thêm rất nhiều lễ nghi như Loan lộ cửu lưu, Hoàng ốc tả đạo, cấp cho Tiết việt, trước sau có các bộ nhạc Vũ bảo, Cổ xuy, ban 100 giáp sĩ Hổ bôn.
1
null
Lưu Tuân (chữ Hán: 刘遵, ? – 414), tự Tuệ Minh, người Hải Tây, Lâm Hoài , tướng lãnh nhà Đông Tấn. Cuộc đời. Ông là anh/em con dì của Lưu Đạo Liên, Lưu Đạo Quy – những em trai cùng cha khác mẹ của quyền thần Lưu Dụ nhà Đông Tấn. Ban đầu Tuân làm Tư nghị tham quân cho Đạo Quy. Tham gia đánh dẹp nghĩa quân Lư Tuần, Từ Đạo Phúc, nhiều lần lập công, quan chức làm đến Hữu tướng quân, Tuyên Thành nội sử, Hoài Nam thái thú. Năm Nghĩa Hi thứ 10 (414) mất, được truy phong Giám Lợi huyện hầu, thực ấp 700 hộ.
1
null
Tiếng Pháp tại Québec (, nó còn được gọi là tiếng Pháp Québécois hay tiếng Québécois) là phương ngữ tiếng Pháp phổ biến nhất tại Canada. Nó được sử dụng chủ yếu tại Québec và ít hơn tại Ontario, miền Tây Canada, và New England (Hoa Kỳ). Ở Canada, phương ngữ này được sử dụng trong cuộc sống bình thường, cũng như trong giáo dục, báo chí, và chính phủ. Tiếng Pháp tại Canada là thuật ngữ phổ biến chỉ đến các phương ngữ được sử dụng tại Canada, bao gồm phương ngữ Québec. Ngày xưa nó chỉ có chỉ đến các phương ngữ giống nhau tại Québec, Ontario, và miền Tây Canada. Tuy nhiên, ngày nay người ta không còn bỏ qua tiếng Pháp tại Acadie, phương ngữ này cũng được nói ở một số địa phương ở miền đông Québec. Ngữ âm. Nguyên âm. Trong các âm tiết đóng, trở thành (ngoại trừ trước): Trong các âm tiết mở, trở thành : Trong các âm tiết đóng, nguyên âm dài trở thành nhị trùng âm: Phụ âm. trước, trở thành
1
null
<includeonly>}</includeonly> Bối cảnh thực tế. Bài toán tìm đường đi ngắn nhất giữa hai đỉnh của đồ thị liên thông có nhiều ứng dụng thực tế như: Bài toán trở nên phức tạp khi số lượng đối tượng cần xét duyệt tăng lên hàng triệu lần , đòi hỏi khối lượng tính toán lớn, độ chính xác cao trong thời gian thực như dự báo thời tiết, xử lý thông tin gen, điều khiển tàu vũ trụ, điều khiển lò phản ứng hạt nhân... Với những bài toán dạng này, việc tính toán xử lý chỉ trên một bộ vi xử lý hoặc trên một máy tính không thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra . Vì vậy, nhu cầu thực hiện tính toán song song để có thể tính toán, giải quết một vấn đề nào đó cùng lúc tại nhiều máy tính khác nhau trở nên cấp thiết. Do đó, việc ứng dụng công nghệ tính toán song song để tăng tốc thời gian xử lý đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Thuật toán khảo sát. Bài toán tìm đường đi ngắn nhất từ một đỉnh đến tất cả các đỉnh là một trong số các bài toán tối ưu trên đồ thị từ bài toán thực tế trên. Được nhà khoa học máy tính Hà Lan Edsger Dijkstra đề xuất và giải quyết, gọi là thuật toán Dijkstra. Thuật toán có độ phức tạp là O(n2). Do độ phức tạp tính toán cao, việc giải bài toán này với tính chất tuần tự gặp phải bất lợi lớn về thời gian thực hiện chương trình, tốc độ xử lý, khả năng lưu trữ... đặc biệt là trên đồ thị có hàng ngàn đỉnh mà thời gian chạy phải được rút gọn thì thuật toán tuần tự không thực hiện được. Điều này đặt ra yêu cầu phải chia đồ thị cho nhiều bộ xử lý tham gia tính toán đồng thời, điều đó có nghĩa là phải cải tiến thuật toán từ tuần tự nghiên cứu tìm ra các tiến trình cần xử lý song song trên đa bộ xử lý để tăng tốc độ và hiệu quả của giải thuật. Nội dung thuật toán. Thuật toán tìm đường đi ngắn nhất từ đỉnh i đến đỉnh j. Xét đồ thị G(V,E) với các cạnh có trọng số không âm. Thực nghiệm thuật toán. Cho đồ thị được biểu diễn như sau, sau khi thuật toán thực hiện xong thì kết quả được ghi nhớ lên các nhãn đỉnh tương ứng. Song song hóa thuật toán. Thực nghiệm thuật toán. Tìm đường đi ngắn nhất từ đỉnh nguồn i=1 đến tất cả các đỉnh theo thuật toán song song trên đồ thị (n=12 đỉnh) dưới đây cho m=2 bộ xử lý (P0, P1), trong đó: P0 là bộ xử lý chính và P1 là bộ xử lý phụ.
1
null
"Ob-La-Di, Ob-La-Da" là ca khúc của ban nhạc The Beatles, được viết bởi Paul McCartney song vẫn được ghi cho Lennon-McCartney. Ca khúc được nằm trong album cùng tên năm 1968 của ban nhạc (thường được gọi là "Album trắng"). "Ob-La-Di, Ob-La-Da" được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở rất nhiều quốc gia, song không ở Anh và Mỹ cho tới tận năm 1976. Thành phần tham gia sản xuất. Theo Ian MacDonald và Mark Lewisohn
1
null
Vũ Văn Thuật (, ? - 616), tên tự Bá Thông (伯通), là một quan lại và tướng lĩnh của triều Tùy. Ông là một thân tín của Tùy Dạng Đế Dương Quảng, đã giúp Dương Quảng thay thế vị trí thái tử của anh trưởng Dương Dũng. Sau khi Dương Quảng lên ngôi làm hoàng đế, Vũ Văn Thuật có quyền lực rất lớn và là một trong hai tướng tiên phong trong các cuộc tiến công Cao Câu Ly của Tùy Dạng Đế. Thân thế. Theo Tùy thư, Vũ Văn Thuật là người Vũ Xuyên, Đại quận; tổ tiên của Vũ Văn Thuật vốn mang họ Phá Dã Đầu (破野頭), là người Tiên Ti. Do họ đi theo nhánh Vũ Văn của tộc Tiên Ti nên đổi sang họ của thủ lĩnh là Vũ Văn. Kị của ông là Vũ Văn Quỹ Dữ Đôn (宇文侰與敦), cụ của ông là Vũ Văn Trường Thọ (宇文長壽), và ông của ông là Vũ Văn Cô (宇文孤) đều phụng sự cho triều Bắc Ngụy, thống lĩnh quân sự tại trấn Ốc Dã (沃野, nay thuộc Ba Ngạn Náo Nhĩ, Nội Mông). Cha của Vũ Văn Thuật là Vũ Văn Thịnh (宇文盛), là một tướng lĩnh của triều Bắc Chu và cuối cùng giữ chức 'Thượng trụ quốc'. Khi còn trẻ, Vũ Văn Thuật là người mạnh mẽ, giỏi cưỡi ngựa và bắn cung. Nhờ công lao của cha, trong thời gian Bắc Chu Vũ Đế trị vì, Vũ Văn Thuật được bổ nhiệm làm "khai phủ". Vũ Văn Thuật có tính cung cẩn trầm mật, được đại trủng tể của Bắc Chu là Vũ Văn Hộ rất quý mến, trở thành lĩnh hộ thân tín cho Vũ Văn Hộ. Sau khi Bắc Chu Vũ Đế giết chết Vũ Văn Hộ và tự mình cai trị vào năm 572, Vũ Văn Thuật được phong làm 'tả cung bá', ban tước Bác Lăng quận công, sau cải phong là Bộc Dương quận công. Năm 580, sau khi Bắc Chu Tuyên Đế qua đời, nhạc phụ của Tuyên Đế là Dương Kiên trở thành thừa tướng và nắm quyền phụ chính, tướng Uất Trì Huýnh do nghi ngờ về ý định của Dương Kiên nên đã nổi dậy ở Tương châu (相州, nay gần tương ứng với Hàm Đan, Hà Bắc). Dương Kiên phái bộ tướng Vi Hiếu Khoan (韋孝寬) suất quân đi đánh Uất Trì Huýnh, Vũ Văn Thuật được phong làm 'hành quân tổng quản' và đem 3.000 lính theo Vi Hiếu Khoan. Khi quân triều đình đến Hà Dương, Uất Trì Huýnh sai tướng Lý Tuấn (李雋) đánh Hoài châu, Vũ Văn Thuật đánh bại quân của Lý Tuấn. Vũ Văn Thuật lại cùng với chư tướng đánh Uất Trì Đôn (con của Uất Trì Huýnh) tại Vĩnh Kiều, Vũ Văn Thuật tiên phong đánh trận, giết chết và bắt được nhiều lính đối phương. Sau khi Uất Trì Huýnh bị đánh bại, do có công lao to lớn nên Vũ Văn Thuật được trao chức "Thượng trụ quốc", phong tước là Bao quốc công, ban thưởng 3.000 thất lụa. Thời Tùy Văn Đế. Năm 581, Dương Kiên buộc Bắc Chu Tĩnh Đế phải thiện nhượng cho mình, trở thành Tùy Văn Đế. Vũ Văn Thuật được triều đình Tùy trao chức "hữu vệ đại tướng quân". Vào mùa đông năm 588, khi Tùy Văn Đế phái quân tiến công Nam triều Trần, Vũ Văn Thuật lại được làm 'hành quân tổng quản', suất ba vạn lính, vượt Trường Giang ở Lục Hợp. Sau khi quân của tướng Hàn Cầm Hổ (韓擒虎) và Hạ Nhược Bật (賀若弼) vượt Trường Giang và tiến đến Đan Dương, Vũ Văn Thuật tiến chiếm Thạch Đầu thành nhằm hỗ trợ. Sau khi Hạ Nhược Bật và Hàn Cầm Hổ chiếm được Kiến Khang và bắt hoàng đế Trần Thúc Bảo, các hạ thần của Trần là Tiêu Hiến (蕭瓛) và Tiêu Nham (蕭巖) chiếm cứ đất Đông Ngô, tập hợp binh sĩ cự thủ. Vũ Văn Thuật cùng với Lạc Tùng công Yên Vinh (燕榮) được phái đi tiến công Đông Ngô, kết quả đã đánh bại được Tiêu Hiến và buộc Tiêu Nham phải đầu hàng. Vĩnh Tân hầu Trần Quân Phạm (陳君范) chạy trốn và tập hợp binh sĩ, lập hàng rào ở đông thành Tấn Lăng, cắt đường của quân Tùy, lưu binh đánh Vũ Văn Thuật, song sau đó cũng phải đầu hàng. Để thưởng công cho Vũ Văn Thuật, Tùy Văn Đế trao chức "khai phủ" cho con của Thuật là Vũ Văn Hóa Cập, ban cho Thuật 3.000 tấm vải, trao chức tổng quản An châu (安州, nay gần tương ứng với Hiếu Cảm, Hồ Bắc). Sau khi diệt được Trần, Tấn vương Dương Quảng cai quản Dương châu (揚州, nay gần tương ứng với Dương Châu, Giang Tô). Vũ Văn Thuật rất thân thiết với Dương Quảng, Dương Quảng vào năm 600 đã thượng tấu cho phụ hoàng xin trao cho Vũ Văn Thuật chức thứ sử tổng quản Thọ châu (壽州, nay gần tương ứng với Lục An, An Huy) để hai người được gần nhau hơn, Tùy Văn Đế đã chuẩn tấu. Dương Quảng vốn có dã tâm thay thế vị trí thái tử của đại huynh Dương Dũng, vì thế đã thỉnh kế từ Vũ Văn Thuật. Vũ Văn Thuật đã đề xuất liên kết với Dương Tố, và hình thành mối quan hệ với Dương Tố thông qua đệ của Dương Tố là Dương Ước (楊約). Dương Quảng do đó đã ban thưởng nhiều vàng bạc châu báu cho Vũ Văn Thuật, và nhờ Vũ Văn Thuật đến kinh thành để gặp gỡ Dương Ước. Vũ Văn Thuật đã tặng cho Dương Ước một số đồ quý lấy được từ Trần, và sau đó cố ý không thắng khi hai người cùng đánh bạc. Sau khi trở nên thân thiết với Dương Ước, Vũ Văn Thuật đã tiết lộ với Dương Ước rằng Dương Quảng có ý muốn liên kết với Dương Tố, và thuyết phục Dương Ước rằng gia quyến của ông ta sẽ gặp nguy nếu đương kim Thái tử Dương Dũng kế vị. Dương Ước đã thuyết phục Dương Tố, Dương Tố nghe theo và thuyết phục Tùy Văn Đế cùng hoàng hậu Độc Cô Già La rằng nên phế truất Dương Dũng khỏi ngôi vị thái tử. Tùy Văn Đế và Độc Cô hoàng hậu chấp thuận, cho Dương Quảng thay thế vị trí hoàng thái tử của Dương Dũng. Dương Quảng đã trao chức 'tả vệ soái' cho Vũ Văn Thuật, hàng quan tứ phẩm; còn gả con mình là Nam Dương công chúa cho con của Vũ Văn Thuật là Vũ Văn Sĩ Cập (宇文士及). Năm 604, trong lúc Tùy Văn Đế lâm bệnh, Vũ Văn Thuật là một trong các chỉ huy thị vệ mà Dương Quảng triệu đến để bảo vệ Nhân Thọ cung (仁壽宮, nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây)- nơi Văn Đế dưỡng bệnh. Sau đó, Tùy Văn Đế qua đời, Dương Quảng kế vị, tức Tùy Dạng Đế, còn Dương Dũng bị Dương Quảng giết chết. Thời Tùy Dạng Đế. Sau khi đăng cơ, Tùy Dạng Đế trao chức 'Tả dực vệ Đại tướng quân' (左翊衛大將軍) cho Vũ Văn Thuật, cải phong là Hứa quốc công (許國公). Năm Đại Nghiệp thứ 3 (607), Vũ Văn Thuật được thăng chức "khai phủ nghi đồng tam ti", mỗi đông chính triều hội, đều được cấp cho một bộ "cổ xúy" (đội nhạc). Cũng vào năm 607, nhằm để cho Vân Định Hưng (雲定興)- cha của sủng thiếp Vân chiêu huấn của Dương Dũng- được phục vụ trong triều đại của Dạng Đế, Vũ Văn Thuật đã thuyết phục Vân Định Hưng rằng các nhi tử của Dương Dũng cần phải chết, và sau đó thuyết phục Dạng Đế làm như vậy. Sau khi toàn bộ các nhi tử của Dương Dũng bị giết chết, Vũ Văn Thuật đã tiến cử Vân Định Hưng với Dạng Đế, Dạng Đế trao chức 'thiếu phủ thừa' cho Vân Định Hưng. Năm 607, khi đi tuần thú cùng biên cương phía bắc, Tùy Dạng Đế đã đến quận Du Lâm (榆林, nay gần tương ứng với Du Lâm, Thiểm Tây). Các con của Vũ Văn Thuật là Vũ Văn hóa Cập và Vũ Văn Trí Cập (宇文智及) đã bí mật buôn lậu với Đột Quyết. Tùy Dạng Đế tức giận và đã hạ lệnh xử tử họ, song cuối cùng đã đổi ý và trên danh nghĩa giao họ cho Vũ Văn Thuật với thân phận gia nô. Năm 608, quan triều Tùy là Bùi Củ đã thuyết phục người Thiết Lặc tiến công Thổ Dục Hồn, và sau khi người Thiết Lặc giành được chiến thắng, Bồ Tát Bát khả hãn Mộ Dung Phục Doãn của Thổ Dục Hồn đã đề nghị đầu hàng triều Tùy. Tùy Dạng Đế phái An Đức vương Dương Hùng (楊雄) và Vũ Văn Thuật đến tiếp ứng cho Mộ Dung Phục Doãn, tiếp nhận đầu hàng. Tuy nhiên, khi quân Tùy đến Lâm Khương (臨羌, nay thuộc Tây Ninh, Thanh Hải), Mộ Dung Phục Doãn trở nên sợ hãi trước sự hùng mạnh của quân Tùy và quyết định chạy trốn về phía tây. Vũ Văn Thuật dẫn binh truy kích, chiếm được hai thành Mạn Đầu và Xích Thủy, chém được trên 3000 thủ cấp, bắt được 200 quý tộc và 4.000 hộ Thổ Dục Hồn. Nhà Tùy đem đất cũ của Thổ Dục Hồn phân làm 4 quận, đưa những tội nhân đến đày ở đất này. Năm 612, Vũ Văn Thuật tham gia vào cuộc viễn chinh Cao Câu Ly đầu tiên của Tùy Dạng Đế. Đại quân của Tùy Dạng Đế bao vây thành Liêu Đông (遼東, nay thuộc Liêu Dương, Liêu Ninh) của Cao Câu Ly, Vũ Văn Thuật chỉ huy một đạo quân tiến sâu về phía nam, vượt qua sông Áp Lục, thẳng hướng về quốc đô Bình Nhưỡng của Cao Câu Ly. Tuy nhiên, trên đường tiến quân, đạo quân của Thuật cạn kiệt lương thực và đã buộc phải triệt thoái, quân Cao Câu Ly thừa cơ truy kích và tiêu diệt đạo quân này. Đến khi Tùy Dạng Đế cũng phải triệt thoái, ông ta cho tống giam Vũ Văn Thuật, song vì nhớ đến quan hệ thân thiết giữa hai người nên đã không xử tử Thuật mà chỉ giáng làm thứ dân, song sau đó đã phục chức tước cho Thuật. Năm 613, Tùy Dạng Đế tiến đánh Cao Câu Ly lần thứ hai, và lần này hoàng đế vẫn đích thân tiến đến Liêu Đông và lệnh cho Vũ Văn Thuật và Dương Nghĩa Thần tiến quân đến Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, khi chiến dịch đang được tiến hành, tin tức Dương Huyền Cảm nổi dậy đã đến chỗ Tùy Dạng Đế, Dạng Đế đã buộc phải từ bỏ chiến dịch tiến công Cao Câu Ly. Tùy Dạng Đế phái Vũ Văn Thuật và Khuất Đột Thông (屈突通) đem quân rút về trước, củng cố lực lượng gần đông đô Lạc Dương để chống lại Dương Huyền Cảm. Vũ Văn Thuật, Khuất Đột Thông và các tướng lĩnh khác của triều Tùy đánh bại được Dương Huyền Cảm, Dương Huyền Cảm dẫn quân tiến về phía tây nhằm tiến công kinh đô Trường An. Vũ Văn Thuật và Khuất Đột Thông, Vệ Văn Thăng (衛文昇) và Lai Hộ Nhi (來護兒) đã truy kích, đuổi kịp Dương Huyền Cảm tại Hoằng Nông (弘農, nay thuộc Tam Môn Hiệp, Hà Nam) và tiêu diệt hoàn toàn quân nổi dậy của Dương Huyền Cảm. Dương Huyền Cảm nhờ tay em trai mình là Dương Tích Thiện (楊積善) để chết mà không bị rơi vào tay Thuật. Theo đề xuất của Vũ Văn Thuật, Tùy Dạng Đế đã cho xử tử Dương Tích Thiện và Vi Phúc Tự (韋福嗣)- chiến lược gia (quân sư) của Vũ Văn Thuật- theo cách thức tàn nhẫn. Năm 615, Vũ Văn Thuật tham gia vào sự kiện đồ sát một gia đình quý tộc. Khi Vũ Văn Thuật vẫn còn làm tả vệ soái cho Thái tử Dương Quảng, Lý Hồn (李渾) tức giận trước việc cháu trai là Lý Quân (李筠) được kế tập tước Thân quốc công của cha Lý Mục (李穆), vì thế đã ám sát Lý Quân và đổ tội cho một họ hàng là Lý Cù Đàm (李瞿曇). Lý Hồn sau đó đã hối lộ cho anh rể Vũ Văn Thuật, hứa hẹn rằng nếu được kế tập tước công thì sẽ chia cho Vũ Văn Thuật một nửa số lộc thu được từ thái ấp. Vũ Văn Thái đã thuyết phục Thái tử thượng tấu với Tùy Văn Đế, kết quả Tùy Văn Đế chấp thuận cho Lý Hồn được kế tập. Tuy nhiên, sau khi nhận được tước công, Lý Hồn chỉ trả lộc cho Vũ Văn Thuật trong hai năm rồi ngừng. Vũ Văn Thuật bực tức trước việc em vợ thất hứa nên đã lên kế hoạch trả thù. Năm 615, do xuất hiện sấm ngôn "Lý thị đương vương", Tùy Dạng Đế đặc biệt nghi ngờ Lý Mẫn (李敏)- cháu trai của Lý Hồn và là phu quân của Vũ Văn Nga Anh (con của công chúa Dương Lệ Hoa chị vua) - lý do là vì Lý Mẫn có tiểu danh là "Hồng Nhi" (洪兒) hay nghĩa đen là "con của lũ", trong khi Dạng Đế từ lâu đã chiêm bao về một cơn lũ sẽ quét qua kinh thành. Dạng Đế do đó gợi ý Lý Mẫn nên tự vẫn, song Lý Mẫn không làm như vậy. Sau đó, Vũ Văn Thuật đã lệnh cho Bùi Nhân Cơ (裴仁基) vu cáo Lý Hồn có âm mưu làm phản. Dạng Đế cho Vũ Văn Thuật phụ trách điều tra, Vũ Văn Thuật đã ngụy tạo chứng cứ và thuyết phục Nga Anh rằng Dạng Đế sẽ bằng mọi cách giết chết các nhân vật họ Lý, và rằng bà nên tự cứu lấy mình. Vũ Văn Nga Anh đã viết một bức thư thú tội liên quan cả đến Lý Hồn và Lý Mẫn, kết quả là hai người này và 32 thành viên trong tộc đều bị xử tử, những thành viên khác bị đưa đi lưu đày, Nga Anh cũng bị hạ độc vài tháng sau. Vào mùa thu năm 615, khi Vũ Văn Thuật tháp tùng Tùy Dạng Đế đi tuần thú các châu phía bắc, Thủy Tất khả hãn của Đông Đột Quyết đã tập kích bao vây Dạng Đế tại Nhạn Môn (雁門, nay thuộc Hãn Châu, Sơn Tây). Vũ Văn Thuật đã đề xuất với Dạng Đế rằng hãy chọn vài nghìn kị binh để tiến hành phản kích phá vây, song Tô Uy (蘇威) và Phàn Tử Cái (樊子蓋) đã thuyết phục Dạng Đế làm theo cách khác. Sau khi quân Đông Đột Quyết rời đi, Tô Uy đã thỉnh Dạng Đế trở về Trường An, song Dạng Đế đã nghe theo đề xuất của Vũ Văn Thuật mà đến Lạc Dương. Cũng trong năm 615, Vũ Văn Thuật được phong chức 'tả đồn vệ đại tướng quân'. Vào mùa thu năm 616, hầu hết lãnh thổ Tùy đều nổ ra các cuộc nổi dậy, khi được Dạng Đế hỏi về tình thế hiện thời, Vũ Văn Thuật đã xoa dịu Dạng Đế, bẩm báo rằng các cuộc nổi dậy phần lớn đã bị dập tắt. Tuy nhiên, Tô Uy lại bẩm báo một cách trung thực rằng các cuộc nổi dậy là một vấn đề nghiêm trọng. Tùy Dạng Đế không muốn nghe các tin tức xấu nên đã tính đến việc giết Tô Uy, song cuối cùng chỉ giáng Tô Uy làm thứ dân. Không lâu sau đó, nhận thấy Tùy Dạng Đế muốn đến Giang Đô, thủ phủ của Dương châu, Vũ Văn Thuật đã chính thức kiến nghị việc này, Tùy Dạng Đế chấp thuận. Vũ Văn Thuật tháp tùng Dạng Đế đến Giang Đô song sau lại lâm bệnh, qua đời vào mùa đông năm 616. Theo di nguyện của Vũ Văn Thuật, Tùy Dạng Đế xá tội cho Vũ Văn hóa Cập và Vũ Văn Trí Cập, cho họ làm quan trong triều.
1
null
Nghiêm Phú Phi (1930 – 2008) là một nhà soạn nhạc kiêm nhạc sĩ hòa âm hoạt động tại Việt Nam Cộng hòa trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Ông là Giám đốc Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ, người điều khiển ban nhạc Đoàn Văn nghệ Việt Nam và cũng là nghệ sĩ độc tấu dương cầm cho Dàn nhạc Giao hưởng Sài Gòn. Là một người tốt nghiệp hạng ưu tại trường nhạc quốc gia Paris của Pháp, ông tích cực học hỏi thêm nhạc cụ cổ truyền và đưa vào đường hướng của nghiệp soạn nhạc. Ngoài ra, các hãng thu âm của miền Nam Việt Nam đều coi Nghiêm Phú Phi như một trong những "linh hồn hoà âm" không thể thiếu trong hoạt động sản xuất âm nhạc của họ. Tiểu sử. Ông sinh ngày 9 tháng 7 năm 1930 tại Sài Gòn, cha mẹ là người gốc tỉnh Hà Đông vào Nam lập nghiệp từ cuối thập niên 1920, nhưng do sống với người miền Nam nên ông nói giọng Nam. Ông là con trưởng, dưới còn có hai em trai và bốn em gái (một người qua đời từ sớm). Thuở nhỏ, ông cùng gia đình sống tại tỉnh Bà Rịa, sau đó về lại Sài Gòn và ông vào trung học tại trường Pétrus Ký (Chợ Lớn). Ông được người quen gia đình là nhạc sĩ Nguyễn Văn An hướng dẫn nhạc lý, dạy đàn mandoline và guitar rồi giới thiệu cho học dương cầm cổ điển với nhạc sư Võ Đức Thu. Dù sao, dương cầm vẫn được Nghiêm Phú Phi ưa chuộng hơn cả. Nhờ vậy, năm 1945 ông đã có thể đi đàn dương cầm vào buổi tối ở Sài Gòn hay Chợ Lớn để kiếm thêm tiền. Ông thường đàn ở một quán trên đường La Grandière, cùng địa điểm với nghệ sĩ Trần Văn Trạch. Năm 1949, ông sang Pháp thi vào Nhạc viện Quốc gia Pháp ("Conservatoire national de musique"). Trong thời gian theo học tại đây, ông được mời soạn nhạc cho một bộ phim Việt Nam là phim "Một trang nhật ký" (1951). Ông tốt nghiệp hạng ưu về dương cầm và hòa âm vào cuối năm 1954. Năm 1965, ông được cử làm Phó Giám đốc Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ. Năm 1970, ông lên làm Giám đốc thế chỗ nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt vừa qua đời. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình bị kẹt lại ở Việt Nam. Tuy vậy, ông vẫn tiếp tục mở lớp dạy đàn tại nhà trong hẻm 75 Phạm Đăng Hưng (nay đã đổi tên thành đường Mai Thị Lựu) và nhà thờ Huyện Sĩ. Đến năm 1985 thì ông sang định cư tại Hoa Kỳ, ban đầu tại Port Arthur (Texas), ba tháng sau thì về quận Cam (California). Tại đây, ông tham gia tích cực công tác cứu trợ thuyền nhân và tiếp tục mở trường nhạc tại thành phố Westminster, California ngay trong năm vừa sang Mỹ với hơn một trăm học trò đều là đồng hương cho đến khi qua đời vào ngày 16 tháng 1 năm 2008. Về gia đình, ông có năm người con, gồm ba người với người vợ đầu và hai người con gái với người vợ sau là bà Nguyễn Ngọc Sương. Sự nghiệp. Khoảng 1958 khi về lại Sài Gòn, Nghiêm Phú Phi nhiệt thành tham gia mọi hoạt động âm nhạc trong lĩnh vực chuyên môn của ông, từ dạy dương cầm đến làm nghệ sĩ thực thụ trong các phòng trà hoặc câu lạc bộ, soạn nhạc cho các đài phát thanh VTVN và truyền hình THVN; đệm đàn cho chương trình ngâm thơ, soạn nhạc cho các phim điện ảnh và hòa âm cho các ca khúc của những tác giả khác. Tuy nhiên, ông quan niệm không làm "cái gì người ta làm nhiều quá" như viết ca khúc mà làm "cái gì người ta làm không được". Ông tâm sự do tham gia đa dạng lĩnh vực và bản tính thích nói thẳng nên một số người không thích ông. Ngoài ra, ông không thiết tha phổ biến rộng các tác phẩm giao hưởng vì lượng công chúng của thể loại này tương đối ít so với ca khúc tân nhạc nói chung. Ông điều khiển ban nhạc Đoàn Văn nghệ Việt Nam của Hoàng Thi Thơ và cũng là nghệ sĩ độc tấu dương cầm cho Dàn nhạc Giao hưởng Sài Gòn. Trong tâm tưởng, ông luôn ấp ủ hòa âm nhạc cụ dân tộc; dù bản thân không biết chơi các nhạc cụ này nhưng ông không ngại học hỏi từng giáo sư dạy ngành Quốc nhạc để lĩnh hội những khía cạnh về âm sắc, âm giai của các nhạc cụ đó. Nhìn chung khi viết cho dàn nhạc giao hưởng hay viết cho tam tấu, tứ tấu, ông cũng thường viết những chủ đề liên quan đến Việt Nam. Năm 1960, ông soạn "Divertimento I" phối hợp nhạc cụ cổ truyền và nhạc cụ phương Tây, tạo ấn tượng đối với một số nghệ sĩ người ngoại quốc. Nghiêm Phú Phi được Hoàng Thi Thơ tin cậy mời soạn nhạc cho các chương trình lưu diễn trong và ngoài nước theo sự ủy nhiệm của Bộ Văn hóa Việt Nam Cộng Hoà lúc đó, và tiết mục kết hợp đàn tranh, đàn bầu, đàn cò với dương cầm được diễn nhiều lần ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Năm 1965, qua sự quan tâm của Tổng cục Chiến tranh Chính trị, ông soạn tiếp "Divertimento 2". Trong thời gian cộng tác với đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do, ông đã viết nhiều tấu khúc cho đài này để trình diễn với các nhạc cụ gồm tỳ bà, đàn tranh, đàn kìm, đàn bầu: năm 1970 là "Suite 1 – Dân ca ba miền"; năm 1971 là "Suite 2 – Cuộc đời con người" có nội dung về các giai đoạn trong đời người từ lúc sinh ra tới khi chết đi. Tại Dinh Độc Lập, ông cùng nhiều nghệ sĩ diễn "Ngày hội non sông" với đàn kìm, đàn cò, sáo, đàn tranh, đàn bầu hợp cùng vĩ cầm, viola, cello, kèn... Năm 1974, ông soạn tứ tấu đàn dây "Fantasia 1" viết trên ngũ cung cổ truyền. Sau này ở hải ngoại, năm 1993 ông cho ra tiếp "Fantasia 2" gồm đàn kìm, đàn tranh, đàn bầu, vĩ cầm, viola và cello. Năm 1971, ông có bản "Apollo 14" (tên một nhiệm vụ Mặt Trăng của Hoa Kỳ) với những âm thanh vốn chỉ thấy trong phim khoa học viễn tưởng, điều chưa từng có nhà soạn nhạc Việt Nam nào thực hiện trước đó. Nhiều hãng thâu âm miền Nam Việt Nam trước 1975 và cả sau này ở hải ngoại đều coi ông và Lê Văn Thiện như là "linh hồn hoà âm" không thể thiếu. Hơn một nghìn ca khúc trước 1975 là do ông hoà âm. Đối với thể loại ca khúc phổ thông đại chúng, ông chủ trương hòa âm sao cho nâng tầm tác phẩm lên, chẳng hạn đem đến tên tuổi cho nhạc sĩ Trúc Phương qua phần hòa âm bài bolero "Nửa đêm ngoài phố" với giọng ca Thanh Thúy, hoặc hòa âm cho các bài hát đầu của Trầm Tử Thiêng khi này còn thiếu kinh nghiệm, hoặc làm hòa âm giúp nâng tên tuổi cho giọng hát Nhật Trường và Hoàng Oanh. Là một người học về nhạc cổ điển phương Tây, nhưng trả lời câu hỏi vì sao các nhạc sĩ nhạc tình cảm phổ thông lại tìm đến ông nhờ hòa âm cho sáng tác của họ, thì ông cho biết do ông lột tả hết tính chất của các bài nhạc đó, "nói nôm na cho vui" theo ông là "Nhạc sến khi tôi hòa âm thì sến nó ra sến. Bởi thế rốt cuộc mấy anh ấy cũng nhờ tôi". Tuy nhiên, ông nói danh từ "nhạc sến" là một số nhân vật mang nặng mặc cảm tự tôn cho rằng họ sáng tác hoặc thưởng thức những loại nhạc họ coi là "cao sang", và rằng loại nhạc tình cảm phổ thông này có giá trị riêng biệt và thu hút được rất nhiều người thưởng thức. Nhiều trường ca như "Hòn vọng phu" (Lê Thương); "Con đường Cái Quan" và "Mẹ Việt Nam" (Phạm Duy); "Hội trùng dương" (Phạm Đình Chương); "Ngày trọng đại" (Hoàng Thi Thơ) là do Nghiêm Phú Phi soạn hòa âm. Xem thêm. Các nhạc sĩ hòa âm nổi danh của Việt Nam Cộng hòa:
1
null
Alison Jane Hargreaves (17 tháng 2 năm 1963 - 13 tháng 8 năm 1995) là một nhà leo núi người Anh quê ở Derbyshire. Bà đã học tại trường Belper Alison Hargreaves là một người phụ nữ Anh. Ngày 13/5/1995, Alison Hargreaves 33 tuổi đã trở thành phụ nữ đầu tiên chinh phục đỉnh Everest mà không cần hỗ trợ oxy hoặc sự giúp đỡ của người dân bản địa. Bà cũng là người leo núi đầu tiên leo một mình tất cả các mặt phía bắc của dãy núi Alps lớn một mình trong một mùa và một mình. Chiến công này bao gồm leo mặt phía bắc nổi tiếng khó khăn của Eiger trong dãy núi Alps vào năm 1993. Hargreaves leo đến độ cao 6.812 mét (22.349 ft) của đỉnh Ama Dablam ở Nepal. Năm 1995 Alison Hargreaves có ý định leo lên ba ngọn núi cao nhất trên thế giới-đỉnh Everest, K2 và Kangchenjunga. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1995 bà leo lên đến đỉnh Everest mà không cần sự trợ của Sherpas hay oxy đóng chai. Bà cũng leo núi khi đang mang thai.
1
null
Viva Bianca (tên khai sinh Viva Skubiszewski, phát âm "scooby-shev-ski") là nữ diễn viên Úc được biết tới qua vai Ilithyia trong series phim "Spartacus: Máu và cát" và "Spartacus: Báo thù". Bianca tốt nghiệp trường Học viện trình diễn nghệ thuật tây Úc và tại đây cô có vinh dự nhận được giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Cô chính là con gái của Cezary Skubiszewki, một nhạc sĩ chuyên soạn nhạc cho phim và truyền hình, bố cô là người Úc-Balan. Bianca kể rằng Cate Blanchett và Heath Ledger là hai diễn viên Úc gây ảnh hưởng tới cô nhất. Sự nghiệp. Bianca tham gia khá nhiều phim truyền hình phải kể đến như "Eugenie Sandler P.I.", "Marshall Law", "All Saints và The Strip". Ngoài ra cô còn đóng một số phim Úc như "Accidents Happen" và "Bad Bush". Nổi bật nhất của cô là vai chính Ilithyia, con gái của nguyên lão Albinius và là vợ của Glaber, trong series "Spartacus: Máu và cát" và "Spartacus: Báo thù" của hãng Starz originals.
1
null
Ngà là phần răng được kéo dài, phát triển liên tục về phía trước, thường nhưng không luôn mọc thành cặp, nhô vượt ra ngoài miệng của một số loài động vật có vú. Nguồn gốc phổ biến nhất của ngà là răng nanh, như với heo và hải mã, hoặc, trong trường hợp của voi, là răng cửa kéo dài. Trong các loài có ngà, thường cả con đực và con cái có ngà mặc dù ngà của con đực thường lớn hơn. Ngà thường bị cong, ngoại lệ có thể kể tới ngà (hay sừng) kỳ lân biển vốn thẳng và có cấu trúc xoắn ốc. Công dụng. Ngà có nhiều công dụng tùy thuộc vào loài động vật sở hữu nó. Nó thường được dùng để thể hiện sự thống trị, đặc biệt ở các con đực, hoặc dùng trong các mục đích tự vệ trước kẻ thù. Voi dùng ngà để làm công cụ đào và khoan. Hải mã sử dụng ngà của chúng để bám chặt và chuyên chở trên băng. Ngà được sử dụng bởi con người như nguyên liệu để sản xuất các đồ tạo tác, đồ trang sức, hay trước đây còn được dùng để làm ra phím đàn piano. Do đó, nhiều loài thú có ngà đã bị săn bắt với lý do thương mại và một số đang bị đe dọa. Việc buôn bán ngà voi đã bị hạn chế nghiêm trọng của Công ước Liên hợp quốc về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã (CITES).
1
null
Pages là một ứng dụng soạn thảo văn bản và thiết kế trang phát triển bởi Apple Inc., nằm trong bộ ứng dụng iWork chạy trên hệ điều hành OS X lẫn iOS. Phiên bản đầu tiên được công bố ngày 11/1/2005 và phát hành một tháng sau đó. Pages được Apple quảng cáo là một ứng dụng dễ thao tác cho phép người dùng soạn thảo văn bản một cách nhanh chóng. Đặc trưng. Là một ứng dụng soạn thảo và tạo trang gồm: hơn 140 phông mẫu; giao diện đơn giản gồm một thanh công cụ chứa toàn bộ thao tác trong chương trình; khả năng xử lý thuật toán cao cấp với Mac OS X's Grapher; chế độ "Toàn màn hình" cho phép người sử dụng tập trung dễ dàng vào văn bản; tương thích tốt với Numbers và Keynote. Pages cho phép nhiều người làm việc trên văn bản và sẽ tô mỗi phần thay đổi của mỗi người bằng một màu khác nhau. Hoạt động kèm với iTunes, iMovie, iPhoto, Aperture, cho phép chèn nhạc, hình, phim trực tiếp vào văn bản. Pages có thể đọc các file.docx .pdf... và lưu lại với đuôi file tương tự. Tính tương thích. Cho tới 11/2012 thì Pages vẫn chỉ được xem như là phần mềm "nội bộ" của Apple vì chỉ có thể chạy trên OS X, không đọc được các file văn bản khác cũng như không thể được đọc bởi các phần mềm tương tự.
1
null
Trận phòng thủ Pskov là một hoạt động quân sự lớn của quân đội Đức Quốc xã và quân đội Liên Xô tại khu vực phía Nam hồ Chuskoye, tuyến sông Velikaya và thành phố Pskov nằm trên biên giới Nga - Latvia. Sau 6 ngày diễn ra chiến sự từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 7 năm 1941, các quân đoàn cơ giới 41 và 56 (Đức) gồm các sư đoàn xe tăng 1, 6, 8 và các sư đoàn cơ giới 3, 36 dã đánh bại các quân đoàn bộ binh 22 và 41 Liên Xô, mở ra cánh cửa tấn công trên hướng Leningrad, một trong ba hướng tấn công chiến lược của kế hoạch Barbarossa. Tuyến phòng thủ Pskov bị chọc thủng là một thất bại nặng nề đối với quân đội Liên Xô, buộc quân đội Liên Xô phải tổ chức tuyến phòng thủ mới dọc theo sông Luga từ Narva qua Luga đến Novgorod (Veliky Novgorod). Pskov thất thủ cũng có nghĩa là các tuyến đường sắt và đường bộ quan trọng nối Tallinn với các vùng trung tâm Liên Xô bị cắt đứt, đẩy Tập đoàn quân 8 (Liên Xô) đang phòng thủ tại Estonia và khu vực Tallinn vào thế bị nửa hợp vây. Sau thất bại của Tập đoàn quân 11 (Liên Xô) trên hướng Pskov, Phương diện quân Tây Bắc (Liên Xô) bị giải thể, Tập đoàn quân 8 và các đơn vị còn lại của Tập đoàn quân 11 được sáp nhập và Phương diện quân Bắc (sau này là Phương diện quân Leningrad). Một tháng sau đó, quân đội Đức Quốc xã tiếp tục chọc thủng phòng tuyến Luga của quân đội Liên Xô để có mặt ở cửa ngõ Leningrad và đầu tháng 9 năm 1941. Tình huống mặt trận. Cuối tháng 6 năm 1941, các trận hội chiến trên biên giới Liên Xô (biên giới năm 1940) kết thúc chóng vánh với thất bại nặng nề của quân đội Liên Xô tại khu vực phía Tây Minsk. Sự kiện Phương diện quân Tây (Liên Xô) bị vỡ trận đã buộc Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô phải huy động các tập đoàn quân 16, 19, 20, 21, 22 và 28 từ Phương diện quân Dự bị phối hợp với Tập đoàn quân 13 (đơn vị duy nhất còn tương đối nguyên vẹn của Phương diện quân Tây) lập tuyến phòng thủ mới (phòng tuyến Stalin). Tuy nhiên, Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) đã đi trước quân đội Liên Xô một bước. Ngày 3 tháng 7, các tập đoàn quân xe tăng 2, 3 và Tập đoàn quân dã chiến 9 (Đức) đã chiến tuyến sông Berezina. Phương diện quân Dự bị (Liên Xô) được đổi thành Phương diện quân Tây buộc phải lập tuyến phòng thủ mới từ Idritsa qua Dzisna, Polotsk, Vitebsk, Orsha, Mogilev, Zhlobin đến Gomen. Phương diện quân Tây Nam (Liên Xô) bị đẩy lùi về tuyến biên giới cũ. Phương diện quân Tây Bắc (Liên Xô) buộc phải bỏ Latvia và phần phía Bắc Litva để lùi về phòng thủ trên tuyến Pyarnu - Tartu - Pskov - Opochka và bị hồ Chuskoye chia cắt là đôi. Tập đoàn quân 8 giữ hướng Tallinn. Các tập đoàn quân 11 và 27 giữ hướng Pskov - Opochka. Khu vực mặt trận từ Pskov đến Opochka có sông Velikaya chạy dọc theo chiến tuyến. Thành phố Pskov vốn là một pháo đài cổ được xây dựng từ năm 903, nằm trên một eo đất hẹp ở cửa sông Velilkaya, phía Bắc là hồ Chuskoye, phía Nam là một vùng đầm lầy lớn ở cửa sông Velikaya đổ vào hồ Chuskoye. Địa hình khu vực chủ yếu là rừng và đầm lầy. Pskov là đầu mối giao thông quan trọng trên vùng Pribaltic. Từ đây có các con đường sắt và đường bộ đi Leningrad và Novgorod ở hướng Đông Bắc, đi Daugavpils qua Rezekne ở hướng Tây Nam, đi Vitebsk qua Opochka ở phía Nam và đi Riga ở phía Tây. Với vị trí này, Pskov được cả hai bên coi là một cửa ngõ xa rất quan trọng bảo vệ cho Leningrad, một trong ba mục tiêu quan trọng của Kế hoạch Barbarossa. Binh lực và kế hoạch. Quân đội Liên Xô. Tập đoàn quân 11 do tướng Pyotr Petrovich Sobennikov chỉ huy (thay tướng V. I. Morozov) chịu trách nhiệm phòng thủ trên khu vực từ Pskov đến Opochka, lấy sông Velikaya làm chướng ngại tự nhiên để ngăn chặn cuộc tấn công của quân đội Đức Quốc xã. Quân đoàn bộ binh 41 của tướng I. S. Kosobutsky gồm các sư đoàn bộ binh 111, 118 và 235 chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực từ bờ nam hồ Pskov qua Izborsk, Vasilyevo đến Ostrov. Quân đoàn cơ giới 1 của thiếu tướng M. L. Chernyavsky gồm Sư đoàn xe tăng 3 và các sư đoàn bộ binh 398 và 468 chịu trách nhiệm phòng thủ từ Ostrov đến Gavry. Trong đó, Sư đoàn xe tăng 3 và Sư đoàn bộ binh 468 chịu trách nhiệm giữ Pskov. Quân đoàn bộ binh 22 của tướng A. S. Ksenofontov chỉ huy gồm các Sư đoàn bộ binh 180, 182 và 806 là lực lượng tuyến hai chặn hướng lên Novgorod và Luga. Ý đồ của Bộ Tư lệnh Phương diện quân Tây Bắc là thiết lập hai tuyến phòng thủ song song trên các tuyến sông Velikaya và Cherekha, vừa giữ hướng Luga - Novgorod vừa giữ hướng Kholm - Velikye Luky. Tuy nhiên, tuyến phòng thủ này vừa chồng chéo, vừa hở sườn. Các đơn vị của Tập đoàn quân 11 dồn về giữ Pskov và Ostrov. Các sư đoàn của Tập đoàn quân 27 (bao gồm cả Quân đoàn cơ giới 21 mới được điều từ Moskva đến đã bị sứt mẻ trong trận phản công Daugavpils phải lùi về giữ tuyến Ludza - Zilupe - Sebezh. Do không đủ quân số và phương tiện cũng như việc điều quân theo lối mạnh ai nấy rút nên phòng tuyến của quân đội Liên Xô bị đứt quãng ở nhiều nơi, trong đó có một đoạn mặt trận dài dọc theo sông Lzha từ Gavry qua Karsava đến Ludza không có sư đoàn nào trấn giữ. Ngay cả tuyến phòng thủ cánh trái của Tập đoàn quân 22 cũng bị xếp đặt chồng lên cánh phải của Tập đoàn quân 27, gây ra những rối loạn trong chỉ huy và chuyển quân. Quân đội Đức Quốc xã. Ngày 26 tháng 6, Quân đoàn xe tăng 41 (Đức) chiếm Daugavpils và tiến lên hướng Ostrov. Trong các ngày 27 đến 29 tháng 6, Quân đoàn xe tăng 56 (Đức) đánh bật cuộc phản công của Quân đoàn cơ giới 21 (Liên Xô), buộc quân đoàn này phải dừng lại khi còn cách Daugavpils 15 km và phải bỏ dở cuộc phản công trong khi Quân đoàn xe tăng 41 (Đức) đã uy hiếp sườn phía Bắc. Sau khi chặn được Quân đoàn cơ giới 41 (Liên Xô), tướng Erich von Manstein phân bố lại lực lượng. Sư đoàn xe tăng 3 được điều đến bàn đạp Rezekne thay thế cho Sư đoàn xe tăng 8 chuyển quân lên phía Bắc, đến Karsava, chỗ yếu nhất trên tuyến phòng thủ của quân đội Liên Xô nằm giữa Tập đoàn quân 11 và Tập đoàn quân 27. Ý đồ của tướng Erich Hoepner là dùng Sư đoàn cơ giới 36 từ thê đội 2 lên thay thế cho Sư đoàn bộ binh 269 được rút về thê đội 2 đánh vỗ mặt lên Pskov dọc theo sông Velikaya, thu hút chủ lực Tập đoàn quân 11 (Liên Xô) về hướng này. Trong khi đó, chủ lực Quân đoàn xe tăng 41 gồm các sư đoàn xe tăng 1 và 6 mở cuộc đột kích vào Ostrov, nơi có Sư đoàn xe tăng 3 và Sư đoàn bộ binh 468 (Liên Xô) đóng giữ. Sư đoàn xe tăng 8 của Quân đoàn xe tăng 56 phải đột kích qua Krasnogorodsky lên Pushkinskie Gory, giam chân Quân đoàn cơ giới 21 (Liên Xô) tại tuyến sông Velikaya từ Opochka đến Pushkinskie Gory, không cho nó lên ứng cứu cho Quân đoàn cơ giới 1 ở Ostrov, nơi quyết định kết quả các trận đánh trên tuyến Pskov - Opochka. Diễn biến. Daugavpils. Nhằm ngăn chặn quân đội Đức Quốc xã đang tấn công trên vùng biên giới Litva - Nga, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô điều động Quân đoàn cơ giới 21 gồm các sư đoàn xe tăng 42, 46 và Sư đoàn cơ giới 185 tăng cường cho khu vực Daugavpils, nơi chỉ có Tập đoàn quân 27 đã suy yếu sau các trận hội chiến biên giới trấn giữ Tướng D. D. Lelyushenko được giao nhiệm vụ sử dụng 98 xe tăng và 129 pháo các loại của Quân đoàn cơ giới 21 phối hợp với Sư đoàn đổ bộ đường không 5 và Cụm đặc nhiệm do trung tướng S. D. Akimov (gồm các trung đoàn xe tăng còn lại của Quân đoàn cơ giới 12) khôi phục tại tình hình trên bờ Tây sông Tây Dvina (sông Daugava). Tuy nhiên, quân đội Đức Quốc xã đã đi trước quân đội Liên Xô một bước. Sau khi đánh chiếm Kaunas ngày 24 tháng 6, Quân đoàn xe tăng 56 và Quân đoàn bộ binh 2 (Đức) nhanh chóng cơ động theo hướng Đông Bắc dọc theo con đường nhựa đi Daugavpils. Ngày 25 tháng 6, Quân đoàn xe tăng 56 phải mất một ngày để vượt qua sức kháng cự của Sư đoàn bộ binh 23 và Lữ đoàn pháo chống tăng 10 bảo vệ Ukmege. Sau khi bị mất hơn 40 xe tăng và xe bọc thép, Quân đoàn xe tăng 56 đã đề bẹp sức kháng cự của Sư đoàn bộ binh 23 và tăng tốc độ hành quân. 8 giờ sáng ngày 26 tháng 6, Quân đoàn xe tăng 56 và Quân đoàn bộ binh 2 (Đức) đã có mặt ở Daugavpils và chiếm lĩnh hai cây cầu qua sông gần như còn nguyên vẹn. Sư đoàn cơ giới 3 và Sư đoàn cơ giới SS "Đầu lâu" được điều từ thê đội 2 lên thê đội 1 đã nhanh chóng vượt sông và đành chiếm một đầu cầu rộng lớn từ Jekabpils, phía Bắc Daugavpils đến Kraslava. Ngày 27 tháng 6, nhận được tin xe tăng Đức đã ở hữu ngạn sông Tây Dvina, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô lập tức ra lệnh cho tướng D. D. Lelyushenko hủy bỏ nhiệm vụ phòng thủ tại Ukmege lúc này đã nằm sâu trong phòng tuyến của quân Đức và giao cho Quân đoàn cơ giới 21 nhiệm vụ mới là phải đẩy lùi quân Đức trở tại tả ngạn sông Tây Dvina. Sau đó, phối hợp với Cụm đặc nhiệm của tướng S. D. Akimov vượt sông, đánh bật quân Đức khỏi khu vực Daugavpils. Do không nhận được thông tin về chiến dịch phối hợp, sáng 27 tháng 6, tướng S. D. Akimov đã huy động cụm đặc nhiệm của mình và Sư đoàn đổ bộ đường không 5 lao vào cuộc phản công chống lại Sư đoàn xe tăng 8 và Sư đoàn bộ binh 290 (Đức) ở phía Đông Daugavpils, trên tả ngạn sông Tây Dvina sớm hơn một ngày so với kế hoạch. Cùng ngày 27 tháng 6, Quân đoàn cơ giới 21 vẫn còn cách xa chiến trường Daugavpils và đang dừng lại đổ quân xuống tàu tại nhà ga Rezekne, cách Daugavpils 35 km về phía Đông Bắc. Không có xe tăng yểm hộ, cuộc phản công đơn độc của tướng A, S Akimov nhanh chóng. Đêm 27 tháng 6, Cụm đặc nhiệm Liên Xô và Sư đoàn đổ bộ đường không 5 bị thiệt hại nặng nề và phải rút sang hữu ngạn sông Tây Dvina. Ngày 28 tháng 6, Quân đoàn cơ giới 21 buộc phải đưa từng sư đoàn vào giao chiến tại Đông Bắc Daugavpils mà không thể tập hợp đầy đủ đội hình của quân đoàn do thời gian quá gấp gáp. Nhưng do vị trí hiểm yếu của Daugavpils nằm ở nơi tiếp giáp giữa Phương diện quân Tây Bắc và Phương diện quân Tây, việc chiếm lại Daugavpils có ý nghĩa quan trọng đối với ý đồ ổn định mặt trận phía Tây và Tây Bắc. Mặc dù chỉ có hơn 10 xe tăng T-34 và vài chiếc KV-1 nhưng các tiểu đoàn xe tăng của các thiếu tá Egorov và Moskalyov thuộc Sư đoàn xe tăng 46 do đại tá Koptsov chỉ huy vẫn xông vào cuộc chiến. Các xe tăng Pz-III và Pz-IV của quân Đức dễ dàng đốt cháy hơn chục chiếc BT-7 và T-26 nhưng không dễ khuất phục được mấy chiếc KV-1 và T-34. Chiều 28 tháng 6, Sư đoàn xe tăng 46 (Liên Xô) đã đẩy lùi Sư đoàn cơ giới 3 (Đức) về bên kia sông Tây Dvina. Quân Đức để lại trên trận địa 13 xe tăng và quân số khoảng 1 tiểu đoàn bộ binh. Trên cánh trái, Sư đoàn bộ binh cơ giới 185 cũng tấn công vào Sư đoàn cơ giới SS "Totenkorf" nhưng không đạt được mục tiêu cuối cùng. Sư đoàn đã này bị Sư đoàn cơ giới SS "Totenkorf" chặn đứng khi chỉ còn cách Daugavpils 15 đến 20 km về phía Đông. Ngày 29 tháng 6, Sư đoàn xe tăng 42 (Liên Xô) mới tập hợp đầy đủ đội hình và bước vào cuộc chiến ở phía Bắc Daugavpils hơn 20 km. Tướng Erich von Manstein phải điều Sư đoàn xe tăng 8 vượt sông sang thay thế cho Sư đoàn cơ giới 3 đã mất sức chiến dấu. Ngay khi vừa sang sông, các trung đoàn xe tăng đi đầu của sư đoàn này đã có trận tao ngộ chiến với Trung đoàn xe tăng 91 do Lữ đoàn trưởng bậc 2 Ivan Pavlovich Sereda chỉ huy và Trung đoàn xe tăng 45 do thiếu tá P. M. Goryanov chỉ huy. Kết quả trận tao ngộ chiến trên đầu cầu đường sắt phía Bắc Daugavpils bất phân thắng bại. 52 xe tăng Đức bị bắn cháy, 59 pháo và 58 súng cối bị thu giữ hoặc phá hủy, khoảng 2.500 quân Đức bị loại khỏi vòng chiến, trong đó có 600 người bị bắt làm tù binh. Giáo sư, tiến sĩ, Hans Killian, khi đó là bác sĩ phẫu thuật của bệnh viện dã chiến thuộc Cụm tập đoàn quân Bắc có mặt tại khu vực Daugavpils đầu tháng 7 năm 1941 nhớ lại: Quân đội Liên Xô cũng phải trả giá không nhỏ với hơn 40 xe tăng bị phá hủy, hàng nghìn người chết và bị thương. Trong khi Quân đoàn cơ giới 21 (Liên Xô) tổn thất khoảng 50% binh lực thì Quân đoàn cơ giới 56 (Đức) vẫn còn hơn 200 xe tăng và xe bọc thép đang hoạt động tốt. Tuy nhiên, tướng Erich von Manstein đã phải dừng cuộc đột kích của Quân đoàn xe tăng 56 (Đức). Trong cuốn hồi ký sau chiến tranh, Erich von Manstein thừa nhận: Thành công tạm thời của Quân đoàn xe tăng 21 (Liên Xô) vẫn không thể làm thay đổi tình thế mặt trận Tây Bắc. Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 7, thống chế Wilhelm Ritter von Leeb tập trung Quân đoàn xe tăng 41, các quân đoàn bộ binh 10, 28 và 38 chọc thủng phòng tuyến sông Tây Dvina của quân đội Liên Xô tại 3 vị trí dọc sông từ Plavinas qua Jekabpils đến Livani và đột kích lên hướng Pskov. Trước nguy cơ bị hở sườn, Quân đoàn cơ giới 21 (Liên Xô) buộc phải bỏ dở cuộc phản công vào Daugavpils và rút về phía sau, cùng với các sư đoàn bộ binh 112, 181 và Sư đoàn cơ giới 153 lập tuyến phòng thủ mới từ Karsava qua Rezekne, Dagda đến Kraslava. Pskov. Cuộc phản công của quân đội Liên Xô tại khu vực Daugavpils thất bại kéo theo một loạt thất bại khác của quân đội Liên Xô trên khu vực biên giới Latvia - Nga. Ngày 30 tháng 6, Sư đoàn xe tăng 8 (Đức) tấn công Rezekne và đánh chiếm thành phố này. Sư đoàn cơ giới 163 (Liên Xô) hầu như bị tan rã. Sư đoàn xe tăng 8 (Đức) thừa thắng tiếp tục đánh chiếm Karsava và tiến đến bờ sông Lzha. Ở phía Nam Rezekne, Sư đoàn xe tăng 3 (Đức) đánh bại Sư đoàn xe tăng 46 (Liên Xô) đã khá suy yếu trong cuộc phản công Daugavpils, chiếm Ludza trong ngày 1 tháng 7 và chiếm được cả một đầu cầu lớn trên bờ Đông sông Lzha. Ngày 1 tháng 7, Sư đoàn cơ giới SS "Totenkoff" cũng đánh bật Sư đoàn cơ giới 185 (Liên Xô) khỏi Zilupe và đánh chiếm cả Sebezh, một vị trí quan trọng che chở từ xa cho phành phố Idritsa, buộc Tập đoàn quân 22 (Liên Xô) phải điều Quân đoàn bộ binh 51 gồm các sư đoàn 5 và 33 ra giữ phòng tuyến thượng nguồn sông Velikaya. Để tăng cường cho hướng Pskov - Luga, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô điều động Quân đoàn cơ giới 1 do trung tướng Prokofiy Logvinovich Romanenko chỉ huy từ Quân khu Leningrad đến khu vực Pskov. Nhưng quân đoàn này chỉ có Sư đoàn xe tăng 3 là đơn vị cơ giới hóa đầy đủ. Các sư đoàn 398 và 468 đều là các sư đoàn bạch binh mới thành lập và không được cơ giới hóa. Quân đoàn cơ giới 1 được giao nhiệm vụ phòng thủ Ostrov, chống lại các sư đoàn xe tăng 1 và 6 rất mạnh của quân đội Đức Quốc xã. Chiến trường chính trên mặt trận này là thành phố Ostrov. Lợi dụng sơ hở của quân đội Liên Xô tại nơi tiếp giáp giữa các tập đoàn quân 11 và 27 (Liên Xô dọc theo tuyến sông Utroya, các sư đoàn xe tăng 1, 6, 8 (Đức) đã triển khai các đòn tấn công tại đây, đánh lùi Sư đoàn bộ binh 181 và trung đoàn bọ binh 398 của Sư đoàn 118 (Liên Xô). Ngày 3 tháng 7 năm 1941, các sư đoàn xe tăng 1 và 6 (Đức) đã có mặt ở cửa ngõ Ostrov trong khi Sư đoàn bộ binh 181 (Liên Xô) buộc phải rút quân khỏi tuyến sông Lzha do Sư đoàn xe tăng 8 (Đức) đã đánh bật Sư đoàn xe tăng 46 (Liên Xô) khỏi tuyến sông Siniaya, uy hiếp hậu cứ của Sư đoàn 181 Ngày 4 tháng 7, Sư đoàn xe tăng 1, đơn vị đi đầu của Sư đoàn xe tăng 1 thuộc Tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) đã tấn công Ostrov và đánh chiếm các cứ điểm trong khu phòng ngự này. Tư lệnh mới của Phương diện quân Pribaltic, tướng P. P. Sobelnikov yêu cầu Trung đoàn bộ binh độc lập 1 của Quân đoàn bộ binh 41 và Sư đoàn cơ giới 3 (thiếu 1 trung đoàn bộ binh cơ giới) thuộc Quân đoàn cơ giới 1 đã đến mặt trận phải phản kích ngay để khôi phục tình hình. Qua điện thoại với tư lệnh quân đoàn bộ binh 41 I. S. Kosobutski; tham mưu trưởng mới của phương diện quân, trung tướng N. F. Vatutin (nguyên Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô) đã yêu cầu: Ngày 5 tháng 7, quân đội Liên Xô phản công và lấy lại được Ostrov nhưng ngay ngày hôm sau, các sư đoàn xe tăng 1 và 6 (Đức) đã đẩy lùi cuộc phản công này, thậm chí còn mở rộng tấn công về hướng Pskov. Mãi đến chiều ngày 6 tháng 7, sư đoàn bộ binh 235 mới đến chiến trường. Ngày 7 tháng 7, quân đội Liên Xô tiếp tục phản kích nhưng không thành công. Việc tung từng sư đoàn quân Liên Xô ra chặn kích chỉ làm cho quân Đức dễ dàng "bẻ đũa từng chiếc". Đến cuối ngày 7 tháng 7, tình hình quân đội Liên Xô tại khu vực Pskov - Ostrov đã trở nên không thể cứu vãn được nữa. Trên hướng Tallinn, Quân đoàn bộ binh 38 (Đức) đã áp sát Tartu và đột kích lên phía Bắc, đe dọa chia cắt hoàn toàn Tập đoàn quân 8 và Tập đoàn quân 11 (Liên Xô) trên khu vực hồ Chudskoye. Trên hướng Nam Pskov, sau khi chiếm Ostrov, các sư đoàn xe tăng 1 và 6 (Đức) tiếp tục khoan sâu các mũi đột kích lên Cherskaya và Boldino, đánh chiếm tuyến sông Cheryokha, đe dọa đột kích vào Pskov từ hướng Đông Nam. Trước nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt, đêm ngày 7 tháng 7, Bộ tư lệnh Phương diện quân Tây Bắc quyết định rút các lực lượng của mình khỏi Pskov. Ngày 8 tháng 7, đã xảy ra một sự nhầm lẫn tai hại bắt đầu từ việc thiếu kiểm tra và quy định các tuyến rút quân tại quân đoàn cơ giới 12 và các đơn vị hậu vệ của các tập đoàn quân 11 và 27. Việc để cho các đơn vị thất trận liên tục rút qua trận địa phòng ngự của Quân đoàn bộ binh 41 đã làm cho nhiều binh sĩ của đơn vị này hoang mang và mất tinh thần. Sự việc càng trầm trọng hơn do không quân Đức liên tục tiến hành các đợt oanh kích vào các đoàn quân Liên Xô đang rút lui. Các tuyến đường giao thông bị máy bay cường kích Đức khống chế, gây khó khăn cho việc tiếp tế vũ khí, đạn dược, lương thực cho các đơn vị đang chiến đấu. Ngay trong buổi sáng ngày 8 tháng 7, quân Đức đã vượt sông và bám trụ được trên bờ bắc sông Cheryokha và mở rộng căn cứ bàn đạp sang khu vực ngoại ô phía nam Pskov. Chỉ huy Sư đoàn bộ binh 118, thiếu tướng N. M. Glovatsky yêu cầu cho quân của mình đi ngang qua trận tuyến nhưng tư lệnh Quân đoàn 41, thiếu tướng I. S. Kosobutski không chấp nhận. Điều đó đã khởi đầu cho một cuộc rút quân hỗn loạn qua các cây cầu ở Pskov mà không được chuẩn bị trước. Trên bờ tây sông Cheryokha, các sư đoàn 111, 118 và một phần Sư đoàn 235 bị thiệt hại lớn về người và phương tiện buộc phải bỏ Pskov tháo chạy về Ershovo và Toroshyno lập phòng tuyến mới. Những bộ phận còn lại của các đơn vị này đã được sáp nhập vào Quân đoàn bộ binh 41 và được ném ngay trở lại mặt trận trên khu vực Gdov (Sư đoàn bộ binh 118) và Luga (các sư đoàn 111, 25 và lữ đoàn bộ binh 90). Ngày 9 tháng 7, quân Đức chiếm Pskov. Điều đó có nghĩa là Cụm Tập đoàn quân Bắc (Đức) đã có thêm một căn cứ bàn đạp quan trọng để chuẩn bị cho cuộc tấn công Leningrad. Vì để mất Pskov, thiếu tướng N. M. Glovatsky bị tòa án binh kết án tử hình và bị xử bắn ngày 3 tháng 8 năm 1941, thiếu tướng I. S. Kosobutski, tư lệnh Quân đoàn bộ binh 41 bị xử án tù 10 năm, đến tháng 10 năm 1942 được phục hồi, trở lại tham gia chiến đấu và được phong quân hàm trung tướng năm 1944. Trưởng phòng kỹ thuật quân sự của Quân đoàn bộ binh 41, kỹ sư quân sự bậc 2 Golovlev cũng bị xử bắn trong tháng 7 theo bản án của tòa án quân sự Phương diện quân Pribaltic. Kết quả và ảnh hưởng. Mặc dù đã giảm bớt thiệt hại về sinh mạng so với hai tuần đầu tiên của cuộc chiến tranh nhưng quân đội Liên Xô tại mặt trận Pribaltic vẫn phải rút lui thêm hơn 200 km vào sâu trong nội địa trên hướng Luga - Leningrad. Tại khu vực ven biển từ Oranienbaum qua Narva đi Tallinn đã hình thành một tình thế nguy hiểm đối với quân đội Liên Xô. Cả một địa đoạn mặt trận dài gần 200 km từ Sankt Veymarn qua Kingisepp đi Narva để bảo vệ con đường sắt ven biển từ Leningrad đi Tallinn chỉ có các sư đoàn bộ binh 118 và 191 đã suy yếu trấn giữ. Hạm đội Baltic đã phải điều tới khu vực ven biển Sillyamya - cửa sông Narva các pháo hạm để yểm hộ cho cuộc phòng thủ của hai sư đoàn này. Việc tiếp tế trên bộ của quân đội Liên Xô từ Leningrad cho căn cứ hải quân trọng yếu của Hạm đội Baltic tại Tallinn luôn bị gián đoạn bởi cả tuyến đường sắt và đường bộ đều nằm trong tầm pháo của quân đội Đức Quốc xã và thường xuyên bị không quân Đức Quốc xã ném bom. Cuộc phản công của Tập đoàn quân 11 (Liên Xô) tại khu vực Soltsy mặc dù chỉ đạt được kết quả tạm thời nhưng cũng đủ giành thêm thời gian một tuần cho quân đội Liên Xô kịp đưa lực lượng dự bị mới tập hợp, trong đó có Tập đoàn quân 34 ra mặt trận để lập tuyến phòng thủ dọc theo sông Luga. Đây là tuyến phòng thủ lớn cuối cùng che chắn cho khu vực Leningrad từ hướng Tây Nam. Bất chấp những thiệt hại đáng kể sau cuộc phản công của quân đội Liên Xô tại Soltsy, tướng Erich Hoepne đã điều Sư đoàn cơ giới SS "Totenkopf" phối hợp với Sư đoàn cơ giới 3 (Đức) tổ chức phòng thủ tại cánh phải của Tập đoàn quân xe tăng 4. Sư đoàn xe tăng 8 sau khi được củng cố và bổ sung xe tăng cùng các tổ lái mới tại Pskov đã cùng với các sư đoàn xe tăng 1, 6, Sư đoàn cơ giới 36, các sư đoàn bộ binh của Quân đoàn 38 (Đức) mở cuộc tấn công vào khu vực Kingisepp - Ivanovskoye - Bolshoi Savsk chọc thủng phòng tuyến sông Luga và đột kích sâu về hướng Leningrad. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Bộ Tổng tư lệnh huwosng Tây Bắc (Liên Xô) buộc phải rút khỏi phòng tuyến Luga, rút quân về bảo vệ Leningrad. Cùng ngày, Hạm đội Baltic (Liên Xô) cũng phải rút khỏi quân cảng Tallinn và gánh chịu nhiều thiệt hại nặng về người và phương tiện trên đường rút quân. Ngày 8 tháng 9 năm 1941, Tập đoàn quân 16 (Đức) tiến đến khu vực Shlisselburg, khép vòng vây quanh Leningrad từ hướng Tậy Nam, Nam và Đông Nam Cuộc phòng thủ Leningrad kéo dài gần 900 ngày của quân đội và người dân Liên Xô bắt đầu.
1
null