mo_ta
stringlengths
3
1.19k
so_ky_hieu
stringlengths
1
136
ngay_ban_hanh
stringdate
1945-10-01 00:00:00
2025-09-22 00:00:00
loai_van_ban
stringclasses
20 values
ngay_co_hieu_luc
stringdate
1913-11-23 00:00:00
4998-04-27 00:00:00
nguon_thu_thap
stringlengths
1
165
ngay_cong_bao
stringdate
1945-11-10 00:00:00
2917-02-25 00:00:00
co_quan_ban_hanh
stringclasses
274 values
chuc_danh
stringclasses
143 values
nguoi_ky
stringlengths
5
35
pham_vi
stringclasses
209 values
toan_van
stringlengths
0
1.28M
url
stringlengths
60
91
crawled_at
stringdate
2025-09-24 02:11:26
2025-09-26 12:05:07
_source_file
stringlengths
26
163
ngay_het_hieu_luc
stringlengths
10
10
toan_van_clean
stringlengths
0
1.28M
Quy định thủ tục đăng ký đối với những người làm nghề khắc dấu
001/CA
04/12/1957
Nghị định
19/12/1957
Sách - Nhà xuất bản Công an nhân dân;
18/12/1957
Bộ Công an
Bộ trưởng
Trần Quốc Hoàn
null
NGHỊ ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN SỐ 001/CA NGÀY 4 THÁNG 12 NĂM 1957 QUY ĐỊNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ KHẮC DẤU BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Căn cứ Điều lệ số 488/TTg ngày 30-3 -1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Quyết định số 609/TTg ngày 4-11-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Thông tư số 3191 ngày 9-12-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công các ngành đăng ký công thương nghiệp; Sau khi thỏa thuận với Bộ Thương nghiệp; NGHỊ ĐỊNH Điều 1: Tất cả những người làm nghề khắc chữ, khắc bản in, khắc con dấu (dấu ướt, dấu chìm, dấu nổi ) trên các loại kim, gỗ, nhựa,v.v. nói chung là làm nghề khắc dấu, có mở cửa hiệu hay bày hàng ngoài trời, hoặc chỉ khắc thuê mà không bày hàng hay không mở hiệu, đều phải làm thủ tục đăng ký tại các cơ quan công an quy định trong nghị định này. Điều 2: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố, và những khu không có tỉnh trực thuộc, công bố nghị định này, tất cả những người đã làm nghề khắc dấu từ trước đều phải nộp tại Ty, Sở, Khu Công an địa phương những giấy tờ sau đây: Một đơn xin đăng ký kinh doanh Một bản lý lịch Một ảnh khổ 4 x6 phân, nửa người, mới chụp, nghiêng mặt 2/3. Trong khi chờ đợi cơ quan đăng ký xét cấp giấy phép, những người làm nghề khắc dấu nói trên vẫn được tiếp tục kinh doanh cho đến khi có quyết định mới. Điều 3: Những người làm nghề khắc dấu hoạt động sau ngày công bố nghị định này phải làm thủ tục nói ở điều 2 và chỉ được phép hoạt động sau khi được cấp giấy phép. Điều 4: Mỗi khi đổi tên hiệu, thay đổi cổ phần, dời địa điểm kinh doanh đi nơi khác, thu hẹp hay mở rộng phạm vi kinh doanh, nhường cửa hiệu cho người khác hay đóng cửa hiệu, người làm nghề khắc dấu phải báo trước 10 ngày cho cơ quan công an trực tiếp quản lý mình biết. Trường hợp dời địa điểm kinh doanh đến một tỉnh hay thành phố khác thì khi đến phải báo việc tiếp tục kinh doanh cùng một lần với việc khai báo hộ khẩu cho cơ quan công an nơi mới đến biết. Điều 5: a- Người làm nghề khắc dấu chỉ được nhận khắc những con dấu thuộc cơ quan chính quyền, quân đội. và đoàn thể các cấp khi nào người đến thuê đưa đủ giấy giới thiệu của cơ quan hay đoàn thể đó và giấy giới thiệu khắc dấu của cơ quan công an nơi người làm nghề khắc dấu đó đang kinh doanh, kèm theo chứng minh thư của người đến thuê khắc. b- Người làm nghề khắc dấu khi nhận khắc các con dấu như "Mật" "Khẩn" "Hoả tốc" "Ký thay" dấu tên cá nhân, chữ ký của cá nhân, những tiêu đề đóng trên các giấy tờ, những bản in hay những con dấu của tư nhân (cá nhân hay tổ chức ) thì phải đòi hỏi người đến thuê khắc đưa ra một trong những loại giấy tờ sau đây để ghi vào sổ: Chứng minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch. Điều 6: Mỗi khắc dấu đều phải có sổ ghi họ tên, tên, tuổi, địa chỉ, quốc tịch, nghề nghiệp của người đến thuê khắc, sổ và ngày cấp giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và của công an hoặc số và ngày cấp chững minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch, số lượng, loại khuôn khổ và nội dung vật phẩm, ngày nhận hàng, ngày giao hàng. Khi khắc xong mỗi con dấu, người làm nghề khắc dấu phải đóng mẫu dấu vào sổ để xuất trình nhà chức trách khi cần thiết. Riêng đối với loại con dấu của cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội nói ở khoản a điều 5 của nghị định này, trước khi giao hàng cho khách chủ hiệu phải mang dấu đó đến đóng mẫu tại đồn công an nơi mình đang kinh doanh hoặc cơ quan công an xã (nếu nơi đó không có đồn công an) đồng thời nộp lại giấy giới thiệu của cơ quan thuê khắc dấu và của công an nộp. Điều 7: Người làm nghề khắc dấu nào không hoạt động liền trong vòng hai tháng mà cơ quan đăng ký xét ra không có lý do chính đáng thì giấy phép xem như không có giá trị nữa. Điều 8: Người làm nghề khắc dấu nào làm trái những điều quy định trên đây sẽ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ mà bị phê bình, hoặc cảnh cáo hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh tạm thời hay vĩnh viễn hoặc bị truy tố trước toà án. Điều 9: Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ. Điều 10: Các Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành phố, các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ Trị an hành chính Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Trần Quốc Hoàn
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=971&Keyword=
2025-09-24T02:16:10.370863
../data\bocongan\001CA\document.json
null
NGHỊ ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN SỐ 001/CA NGÀY 4 THÁNG 12 NĂM 1957 QUY ĐỊNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ KHẮC DẤU BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Căn cứ Điều lệ số 488/TTg ngày 30 - 3 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Quyết định số 609/TTg ngày 4 - 11 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Thông tư số 3191 ngày 9 - 12 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công các ngành đăng ký công thương nghiệp; Sau khi thỏa thuận với Bộ Thương nghiệp; NGHỊ ĐỊNH Điều 1: Tất cả những người làm nghề khắc chữ, khắc bản in, khắc con dấu (dấu ướt, dấu chìm, dấu nổi ) trên các loại kim, gỗ, nhựa, v. v. nói chung là làm nghề khắc dấu, có mở cửa hiệu hay bày hàng ngoài trời, hoặc chỉ khắc thuê mà không bày hàng hay không mở hiệu, đều phải làm thủ tục đăng ký tại các cơ quan công an quy định trong nghị định này. Điều 2: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố, và những khu không có tỉnh trực thuộc, công bố nghị định này, tất cả những người đã làm nghề khắc dấu từ trước đều phải nộp tại Ty, Sở, Khu Công an địa phương những giấy tờ sau đây: Một đơn xin đăng ký kinh doanh Một bản lý lịch Một ảnh khổ 4 x6 phân, nửa người, mới chụp, nghiêng mặt 2/3. Trong khi chờ đợi cơ quan đăng ký xét cấp giấy phép, những người làm nghề khắc dấu nói trên vẫn được tiếp tục kinh doanh cho đến khi có quyết định mới. Điều 3: Những người làm nghề khắc dấu hoạt động sau ngày công bố nghị định này phải làm thủ tục nói ở điều 2 và chỉ được phép hoạt động sau khi được cấp giấy phép. Điều 4: Mỗi khi đổi tên hiệu, thay đổi cổ phần, dời địa điểm kinh doanh đi nơi khác, thu hẹp hay mở rộng phạm vi kinh doanh, nhường cửa hiệu cho người khác hay đóng cửa hiệu, người làm nghề khắc dấu phải báo trước 10 ngày cho cơ quan công an trực tiếp quản lý mình biết. Trường hợp dời địa điểm kinh doanh đến một tỉnh hay thành phố khác thì khi đến phải báo việc tiếp tục kinh doanh cùng một lần với việc khai báo hộ khẩu cho cơ quan công an nơi mới đến biết. Điều 5: a - Người làm nghề khắc dấu chỉ được nhận khắc những con dấu thuộc cơ quan chính quyền, quân đội. và đoàn thể các cấp khi nào người đến thuê đưa đủ giấy giới thiệu của cơ quan hay đoàn thể đó và giấy giới thiệu khắc dấu của cơ quan công an nơi người làm nghề khắc dấu đó đang kinh doanh, kèm theo chứng minh thư của người đến thuê khắc. b - Người làm nghề khắc dấu khi nhận khắc các con dấu như "Mật" "Khẩn" "Hoả tốc" "Ký thay" dấu tên cá nhân, chữ ký của cá nhân, những tiêu đề đóng trên các giấy tờ, những bản in hay những con dấu của tư nhân (cá nhân hay tổ chức ) thì phải đòi hỏi người đến thuê khắc đưa ra một trong những loại giấy tờ sau đây để ghi vào sổ: Chứng minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch. Điều 6: Mỗi khắc dấu đều phải có sổ ghi họ tên, tên, tuổi, địa chỉ, quốc tịch, nghề nghiệp của người đến thuê khắc, sổ và ngày cấp giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và của công an hoặc số và ngày cấp chững minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch, số lượng, loại khuôn khổ và nội dung vật phẩm, ngày nhận hàng, ngày giao hàng. Khi khắc xong mỗi con dấu, người làm nghề khắc dấu phải đóng mẫu dấu vào sổ để xuất trình nhà chức trách khi cần thiết. Riêng đối với loại con dấu của cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội nói ở khoản a điều 5 của nghị định này, trước khi giao hàng cho khách chủ hiệu phải mang dấu đó đến đóng mẫu tại đồn công an nơi mình đang kinh doanh hoặc cơ quan công an xã (nếu nơi đó không có đồn công an) đồng thời nộp lại giấy giới thiệu của cơ quan thuê khắc dấu và của công an nộp. Điều 7: Người làm nghề khắc dấu nào không hoạt động liền trong vòng hai tháng mà cơ quan đăng ký xét ra không có lý do chính đáng thì giấy phép xem như không có giá trị nữa. Điều 8: Người làm nghề khắc dấu nào làm trái những điều quy định trên đây sẽ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ mà bị phê bình, hoặc cảnh cáo hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh tạm thời hay vĩnh viễn hoặc bị truy tố trước toà án. Điều 9: Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ. Điều 10: Các Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành phố, các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ Trị an hành chính Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Trần Quốc Hoàn
Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng
01-LB
19/03/1966
Thông tư
19/03/1966
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Đang cập nhật
Trung Ương
THÔNG TƯ LIÊN BỘ Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng _________________________ Thi hành Nghị định số 175-CP ngày 11-12-1964 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng . Căn cứ vào điều 7 của Nghị định số 175-CP, Bộ Công an và Ủy ban thể dục thể thao  quy định cụ thể các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG 1. Súng đạn thể thao quốc phòng là của Nhà nước do Ủy ban thể dục thể thao  phân phối cho Ban thể dục thể thao  các tỉnh, thành và các ngành; Ban thể dục thể thao tỉnh, thành và các ngành chịu trách nhiệm phân phối  cho các đội bắn súng thể thao quốc phòng các cơ sở (xã, xí nghiệp, trường học, cơ quan, công trường, nông trường, lâm trường, khu phố, hợp tác xã ) để làm nhiệm vụ luyện tập thi đấu thể thao và khi cần thiết sẽ sử dụng vào việc chiến đấu bảo vệ trị an. Cá nhân không được quyền có súng đạn thể thao quốc phòng  làm của riêng. Bất cứ ai có súng đạn riêng, kể cả cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân và công an nhân dân võ trang, không kể do nguồn gốc nào mà có, đều phải kê khai và nộp cho cơ quan công an hoặc Ban thể dục thể thao  cấp tỉnh, thành. Tùy theo phẩm chất của súng đạn, người nộp vũ khí có thể được xét bồi hoàn một số tiền thích đáng. Nếu không chịu nộp, khi phát hiện thấy, sẽ bị xử lý về hành chính, súng đạn bị tịch thu. 2. Súng thể thao quốc phòng, sau khi được phân phối cho các cơ sở địa phương nào đều phải mang súng đạn đến Sở, Ty công an địa phương ấy đăng ký cấp giấy phép. Khi đến đăng ký phải có giấy giới thiệu của Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành. Khi giấy phép hết hạng phải mang súng và giấy phép cũ đến cơ quan công an kiểm tra, ký gia hạn hoặc đổi giấy phép mới. 3. Các cơ quan, xí nghiệp vv… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng  không được tự điều chuyển, đổi chác, bán cho cơ quan khác hoặc bán cho cá nhân. Trường hợp điều chuyển súng cho các đơn vị trực thuộc phải báo cho Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành mình biết và khi nào Ban thể dục thể thao  cấp giấy giới thiệu đến Sở, Ty công an đổi giấy dùng súng mới có giá trị. 4. Các Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành phố  và ngành cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý súng đạn thể thao. 5. Các cơ quan, xí nghiệp, thôn xã, khu phố v..v… được phân phối súng  đạn thể thao quốc phòng  cứ sáu tháng một lần báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao  nơi trực tiếp quản lý, các Sở, Ty công an, Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành, ngành cứ một năm báo cáo một lần về Bộ Công an, Ủy ban thể dục thể thao  trung ương về tình hình súng đạn thể thao của đơn vị, địa phương mình. Trường hợp xẩy ra tai nạn, hoặc thất lạc, mất súng đạn thì phải báo cáo ngay cho Đồn, Khu, Huyện công an nơi gần nhất, đồng thời phải báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý. II. BẢO QUẢN 6. Súng đạn thể thao quốc phòng, ngoài thì giờ luyện tập, công tác và thi bắn đều phải tập trung tại kho của cơ quan, xí nghiệp và được bảo quản chặt chẽ, không để xẩy ra thất lạc hoặc mất súng và cử người phụ trách. Riêng ở xã mới được phép giao cho cá nhân giữ để ở nhà riêng, những người được giao giữ súng đạn do Ủy ban hành chính xã xét duyệt. Đối với các vận động viên “bắn súng nâng cao” cần có súng để luyện tập thường xuyên phải do Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành phố, cơ quan xét và khi phát súng cho vận động viên giữ phải thông báo cho Ủy ban hành chính địa phương hoặc cơ quan, xí nghiệp… của vận động viên ấy biết để phối hợp theo dõi, quản lý và phải đăng ký tại Sở, Ty công an. 7. Sau khi tập và bắn đạn thật hoặc bị mưa ướt, phải tiến hành lau chùi súng đạn ngay nếu súng để ở kho hàng tuần, hàng tháng phải kiểm tra và lau chùi sạch sẽ, đặc biệt các bộ phận nòng súng, khóa súng, không được để súng đạn nơi ẩm thấp hoặc phơi ngoài nắng. 8. Không được để súng đạn và giấy phép dùng súng thất lạc mất. Nếu súng đạn bị hư hỏng, thất lạc, mất không có lý do chính đáng, ngoài việc bị xử lý, người sử dụng súng đạn còn phải bồi thường sự gây ra tổn thất. III. SỬ DỤNG 9. Súng đạn thể thao quốc phòng  chỉ được dùng vào việc luyện tập và thi đấu thể thao, khi cần thiết sử dụng vào việc giữ gìn trật tự trị an. Tuyệt đối không được dùng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú, cá… để giải trí, cải thiện sinh hoạt..v.v Trường hợp đặc biệt cần sử dụng súng đạn thể thao quốc phòng  vào việc săn bắn chim, thú quý để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học phải được phép của Bộ công an, Ủy ban thể dục thể thao và Tổng cục Lâm nghiệp. 10. Người được mang giữ súng đạn thể thao quốc phòng phải biết những điều tối thiểu về sử dụng súng như: biết bắn súng, biết tháo lắp, bảo quản, lau chùi thông thường và hiểu rõ chế độ sử dụng, bảo quản súng đạn. 11. Khi luyện tập hay công tác, súng đạn phải mang luôn bên người, không đựơc cho người khác mượn hay giữ hộ. Súng đạn thể thao quốc phòng không được mua bán, đổi chác hoặc biếu, tặng cho cá nhân. 12. Nghiêm cấm không được ngắm súng vào hướng có người, không được dùng súng đạn đùa giỡn hay đe doạ người khác. Chỉ được nạp đạn vào nòng súng khi đứng tại vị trí bắt đầu bắn đạn thật ở trường bắn hoặc đang trực tiếp chiến đấu, khi bắn xong hoặc không chiến đấu nữa phải tháo đạn  và xem xét lại nòng súng. Ngòai ra không được nạp đạn vào nòng súng nhất là ở những nơi đông người như ở chợ, ở cuộc mít tinh, trên tàu, xe ôtô.v.v… 13. Chỉ được nổ súng trong trường hợp phải tự vệ chính đáng để bảo vệ tính mạng mình và người khác bị kẻ địch ám hại. 14. Muốn bắn đạn thật trong luyện tập, hay trong thi đấu, phải bắn tại trường bắn, nếu không có trường bắn phải chọn nơi có đủ điều kiện bảo đảm an toàn và phải báo cáo cho công an sở tại biết trước khi bắn. Trường hợp để xảy ra tai nạn, gây thương vong cho người, súc vật thì người chỉ huy cuộc bắn đạn thật và người bắn phải chịu trách nhiệm. 15. Không được bắn đạn khác với cỡ súng. 16. Người mang súng đạn khi đi công tác, học tập phải mang theo giấy phép dùng súng của công an cấp, kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan hoặc giấy chứng nhận của Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành, ngành. Khi các cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm đã được quy định quản lý vũ khí của Hội đồng Chính phủ cần kiểm soát, phải sẵn sàng xuất trình giấy tờ, không từ chối. IV. VẬN CHUYỂN 17. Vận chuyển súng đạn thể thao quốc phòng từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy phép vận chuyển do Sở, Ty công an cấp, theo giấy giới thiệu của Ủy ban thể dục thể thao trung ương hoặc Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành. Cơ quan xin vận chuyển cần ghi rõ số lượng các loại súng, đạn, địa chỉ đi đến, thời gian vận chuyển, tên chức vụ người chịu trách nhiệm cuộc vận chuyển, tên người lái xe và số xe. 18. Vận chuyển súng đạn trong phạm vi một tỉnh, không phải xin giấy phép của Sở, Ty công an, nhưng phải có giấy giới thiệu của cơ quan do thủ trưởng cơ quan quản ký, giấy giới thiệu cần ghi rõ nội dung như điều 17. 19. Khi vận chuyển súng đạn, bất cứ xa hay gần, ngoài người lái xe, còn phải có người đi theo bảo vệ. Khi cần phải nghỉ ở dọc đường phải báo cho công an địa phương biết và phải tổ chức việc bảo vệ chu đáo, không được đỗ xe đang chở vũ khí ở chợ hoặc nơi đông người. V. SẢN XUẤT, SỬA CHỮA 20. Ngoài binh công xưởng, các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí của các lực lượng vũ trang, chỉ có cơ sở, xí nghiệp của Nhà nước được Bộ công an cấp giấy phép mới được sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng , các cơ sở hợp tác xã, tư nhân không được sản xuất sữa chữa súng đạn thể thao. Các cơ sở được cấp phép sản xuất súng đạn thể thao chỉ được nhận sản xuất theo kế hoạch và hợp đồng của Ủy ban thể dục thể thao. Ngoài ra không được sản xuất súng đạn cho các cơ quan khác, hoặc cá nhân. 21. Việc sửa chữa súng thể thao quốc phòng, nếu bị hư hỏng thông thường, các cơ sở có thể tự mua phụ tùng thay thế, phụ tùng do Ủy ban thể dục thể thao trung ương và Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành phân phối. 22. Các cơ sở được phép sửa chữa súng thể thao quốc phòng chỉ được nhận sửa chữa súng đạn thể thao, khi có giấy giới thiệu của cơ quan người đến thuê sửa chữa, kèm theo giấy phép dùng súng của công an cấp và giấy chứng minh của người ấy. 23. Các cơ sở được phép sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng phải chấp hành đầy đủ các thủ tục và sự hướng dẫn kiểm soát của cơ quan công an. Khi có sự thay đổi người, địa điểm, mở rộng hay thu hẹp phạm vi sản xuất, sửa chữa đều phải được phép của cơ quan công an nơi cấp giấy phép trước. 24. Thông tư này thi hành kể từ ngày ký.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=76792&Keyword=
2025-09-24T02:32:58.235165
../data\bocongan\01-LB\document.json
10/01/1999
THÔNG TƯ LIÊN BỘ Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng _________________________ Thi hành Nghị định số 175 - CP ngày 11 - 12 - 1964 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng. Căn cứ vào điều 7 của Nghị định số 175 - CP, Bộ Công an và Ủy ban thể dục thể thao quy định cụ thể các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG 1. Súng đạn thể thao quốc phòng là của Nhà nước do Ủy ban thể dục thể thao phân phối cho Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành và các ngành; Ban thể dục thể thao tỉnh, thành và các ngành chịu trách nhiệm phân phối cho các đội bắn súng thể thao quốc phòng các cơ sở (xã, xí nghiệp, trường học, cơ quan, công trường, nông trường, lâm trường, khu phố, hợp tác xã ) để làm nhiệm vụ luyện tập thi đấu thể thao và khi cần thiết sẽ sử dụng vào việc chiến đấu bảo vệ trị an. Cá nhân không được quyền có súng đạn thể thao quốc phòng làm của riêng. Bất cứ ai có súng đạn riêng, kể cả cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân và công an nhân dân võ trang, không kể do nguồn gốc nào mà có, đều phải kê khai và nộp cho cơ quan công an hoặc Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành. Tùy theo phẩm chất của súng đạn, người nộp vũ khí có thể được xét bồi hoàn một số tiền thích đáng. Nếu không chịu nộp, khi phát hiện thấy, sẽ bị xử lý về hành chính, súng đạn bị tịch thu. 2. Súng thể thao quốc phòng, sau khi được phân phối cho các cơ sở địa phương nào đều phải mang súng đạn đến Sở, Ty công an địa phương ấy đăng ký cấp giấy phép. Khi đến đăng ký phải có giấy giới thiệu của Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành. Khi giấy phép hết hạng phải mang súng và giấy phép cũ đến cơ quan công an kiểm tra, ký gia hạn hoặc đổi giấy phép mới. 3. Các cơ quan, xí nghiệp vv… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng không được tự điều chuyển, đổi chác, bán cho cơ quan khác hoặc bán cho cá nhân. Trường hợp điều chuyển súng cho các đơn vị trực thuộc phải báo cho Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành mình biết và khi nào Ban thể dục thể thao cấp giấy giới thiệu đến Sở, Ty công an đổi giấy dùng súng mới có giá trị. 4. Các Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành phố và ngành cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý súng đạn thể thao. 5. Các cơ quan, xí nghiệp, thôn xã, khu phố v. .v… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng cứ sáu tháng một lần báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý, các Sở, Ty công an, Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành, ngành cứ một năm báo cáo một lần về Bộ Công an, Ủy ban thể dục thể thao trung ương về tình hình súng đạn thể thao của đơn vị, địa phương mình. Trường hợp xẩy ra tai nạn, hoặc thất lạc, mất súng đạn thì phải báo cáo ngay cho Đồn, Khu, Huyện công an nơi gần nhất, đồng thời phải báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý. II. BẢO QUẢN 6. Súng đạn thể thao quốc phòng, ngoài thì giờ luyện tập, công tác và thi bắn đều phải tập trung tại kho của cơ quan, xí nghiệp và được bảo quản chặt chẽ, không để xẩy ra thất lạc hoặc mất súng và cử người phụ trách. Riêng ở xã mới được phép giao cho cá nhân giữ để ở nhà riêng, những người được giao giữ súng đạn do Ủy ban hành chính xã xét duyệt. Đối với các vận động viên “bắn súng nâng cao” cần có súng để luyện tập thường xuyên phải do Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành phố, cơ quan xét và khi phát súng cho vận động viên giữ phải thông báo cho Ủy ban hành chính địa phương hoặc cơ quan, xí nghiệp… của vận động viên ấy biết để phối hợp theo dõi, quản lý và phải đăng ký tại Sở, Ty công an. 7. Sau khi tập và bắn đạn thật hoặc bị mưa ướt, phải tiến hành lau chùi súng đạn ngay nếu súng để ở kho hàng tuần, hàng tháng phải kiểm tra và lau chùi sạch sẽ, đặc biệt các bộ phận nòng súng, khóa súng, không được để súng đạn nơi ẩm thấp hoặc phơi ngoài nắng. 8. Không được để súng đạn và giấy phép dùng súng thất lạc mất. Nếu súng đạn bị hư hỏng, thất lạc, mất không có lý do chính đáng, ngoài việc bị xử lý, người sử dụng súng đạn còn phải bồi thường sự gây ra tổn thất. III. SỬ DỤNG 9. Súng đạn thể thao quốc phòng chỉ được dùng vào việc luyện tập và thi đấu thể thao, khi cần thiết sử dụng vào việc giữ gìn trật tự trị an. Tuyệt đối không được dùng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú, cá… để giải trí, cải thiện sinh hoạt. .v. v Trường hợp đặc biệt cần sử dụng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú quý để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học phải được phép của Bộ công an, Ủy ban thể dục thể thao và Tổng cục Lâm nghiệp. 10. Người được mang giữ súng đạn thể thao quốc phòng phải biết những điều tối thiểu về sử dụng súng như: biết bắn súng, biết tháo lắp, bảo quản, lau chùi thông thường và hiểu rõ chế độ sử dụng, bảo quản súng đạn. 11. Khi luyện tập hay công tác, súng đạn phải mang luôn bên người, không đựơc cho người khác mượn hay giữ hộ. Súng đạn thể thao quốc phòng không được mua bán, đổi chác hoặc biếu, tặng cho cá nhân. 12. Nghiêm cấm không được ngắm súng vào hướng có người, không được dùng súng đạn đùa giỡn hay đe doạ người khác. Chỉ được nạp đạn vào nòng súng khi đứng tại vị trí bắt đầu bắn đạn thật ở trường bắn hoặc đang trực tiếp chiến đấu, khi bắn xong hoặc không chiến đấu nữa phải tháo đạn và xem xét lại nòng súng. Ngòai ra không được nạp đạn vào nòng súng nhất là ở những nơi đông người như ở chợ, ở cuộc mít tinh, trên tàu, xe ôtô. v. v… 13. Chỉ được nổ súng trong trường hợp phải tự vệ chính đáng để bảo vệ tính mạng mình và người khác bị kẻ địch ám hại. 14. Muốn bắn đạn thật trong luyện tập, hay trong thi đấu, phải bắn tại trường bắn, nếu không có trường bắn phải chọn nơi có đủ điều kiện bảo đảm an toàn và phải báo cáo cho công an sở tại biết trước khi bắn. Trường hợp để xảy ra tai nạn, gây thương vong cho người, súc vật thì người chỉ huy cuộc bắn đạn thật và người bắn phải chịu trách nhiệm. 15. Không được bắn đạn khác với cỡ súng. 16. Người mang súng đạn khi đi công tác, học tập phải mang theo giấy phép dùng súng của công an cấp, kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan hoặc giấy chứng nhận của Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành, ngành. Khi các cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm đã được quy định quản lý vũ khí của Hội đồng Chính phủ cần kiểm soát, phải sẵn sàng xuất trình giấy tờ, không từ chối. IV. VẬN CHUYỂN 17. Vận chuyển súng đạn thể thao quốc phòng từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy phép vận chuyển do Sở, Ty công an cấp, theo giấy giới thiệu của Ủy ban thể dục thể thao trung ương hoặc Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành. Cơ quan xin vận chuyển cần ghi rõ số lượng các loại súng, đạn, địa chỉ đi đến, thời gian vận chuyển, tên chức vụ người chịu trách nhiệm cuộc vận chuyển, tên người lái xe và số xe. 18. Vận chuyển súng đạn trong phạm vi một tỉnh, không phải xin giấy phép của Sở, Ty công an, nhưng phải có giấy giới thiệu của cơ quan do thủ trưởng cơ quan quản ký, giấy giới thiệu cần ghi rõ nội dung như điều 17. 19. Khi vận chuyển súng đạn, bất cứ xa hay gần, ngoài người lái xe, còn phải có người đi theo bảo vệ. Khi cần phải nghỉ ở dọc đường phải báo cho công an địa phương biết và phải tổ chức việc bảo vệ chu đáo, không được đỗ xe đang chở vũ khí ở chợ hoặc nơi đông người. V. SẢN XUẤT, SỬA CHỮA 20. Ngoài binh công xưởng, các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí của các lực lượng vũ trang, chỉ có cơ sở, xí nghiệp của Nhà nước được Bộ công an cấp giấy phép mới được sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng, các cơ sở hợp tác xã, tư nhân không được sản xuất sữa chữa súng đạn thể thao. Các cơ sở được cấp phép sản xuất súng đạn thể thao chỉ được nhận sản xuất theo kế hoạch và hợp đồng của Ủy ban thể dục thể thao. Ngoài ra không được sản xuất súng đạn cho các cơ quan khác, hoặc cá nhân. 21. Việc sửa chữa súng thể thao quốc phòng, nếu bị hư hỏng thông thường, các cơ sở có thể tự mua phụ tùng thay thế, phụ tùng do Ủy ban thể dục thể thao trung ương và Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành phân phối. 22. Các cơ sở được phép sửa chữa súng thể thao quốc phòng chỉ được nhận sửa chữa súng đạn thể thao, khi có giấy giới thiệu của cơ quan người đến thuê sửa chữa, kèm theo giấy phép dùng súng của công an cấp và giấy chứng minh của người ấy. 23. Các cơ sở được phép sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng phải chấp hành đầy đủ các thủ tục và sự hướng dẫn kiểm soát của cơ quan công an. Khi có sự thay đổi người, địa điểm, mở rộng hay thu hẹp phạm vi sản xuất, sửa chữa đều phải được phép của cơ quan công an nơi cấp giấy phép trước. 24. Thông tư này thi hành kể từ ngày ký.
Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA
12/06/2000
Thông tư liên tịch
27/06/2000
null
null
Toà án nhân dân tối cao
Chánh án
Trịnh Hồng Dương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội _________________________________ Ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự (từ đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định là Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01-7-2000, nhưng tại Mục 3 của Nghị quyết đã quy định đường lối, chính sách xử lý đối với một số trường hợp cụ thể được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4-1-2000). Ngày 28-1-2000, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 229). Để thi hành đúng các quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các quy định tại Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây, kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4-1-2000): 1. Trong mọi trường hợp khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm cũng không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm một trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội đó; cụ thể là các tội sau đây: STT Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1985 Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1999 1 Tội phạm an ninh lãnh thổ (Điều 75) Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81) 2 Tội chống phá trại giam (Điều 84) Tội chống phá trại giam (Điều 90) 3 Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 95) Tội chế tạo, tàng chữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230) 4 Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97) Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154) 5 Tội trộm cắp tài sản XHCN (Điều 132) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138) 6 Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN (Điều 138) Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) 7 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280) 8 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả (Điều 167) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158) 9 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 185m) Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 200) 10 Tội làm môi giới hối lộ (Điều 227) Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) 11 Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 258) Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324) 12 Tội tuyển mộ lính đánh thê, tội làm lính đánh thê (Điều 280) Tôị thuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê (Điều 344) Trong các trường hợp trên đây, nếu khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm mà xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình, thì nay áp dụng điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất mà điều luật đó quy định. 2. Khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con (con đẻ, con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử về tội phạm mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tử hình. Chỉ được coi là con nuôi, nếu việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định. 3. Điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 quy định: "Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm...." Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm bao gồm: a. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định thành một tội danh cụ thể trong một điều luật cụ thể nay Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa và đã bỏ tội danh này; cụ thể là: STT Điều luật và tội danh theo BLHS năm 1985 1 Điều 86. Các tội chống nhà nước XHCN anh em 2 Điều 98. Tội phá huỷ tiền tệ 3 Điều 164. Tội cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa 4 Điều 172. Tội chiếm đoạt tem, phiếu; tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối 5 Điều 177 Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất 6 Điều 183. Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (nếu không thuộc trường hợp kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999). 7 Điều 184. Tội lạm sát gia súc 8 Điều 208. Tội trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích 9 Điều 209. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích 10 Điều 261. Tội vắng mặt trái phép b. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm trong một điều luật cụ thể về một tội danh cụ thể, nay Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có điều luật cụ thể về tội danh đó, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi phạm tội này. Ví dụ 1: Hành vi chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý thu lợi bất chính lớn, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà" theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 270 quy định về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà ở", nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này. Ví dụ 2: hành vi của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không tố giác các tội phạm không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác không phải là tội đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "không tố giác tội phạm" theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 314 quy định về tội không tố giác tội phạm, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này; c. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi này không phải là tội phạm vì không có một hoặc một số dấu hiệu cấu thành bắt buộc mới được bổ sung. Ví dụ 1: Các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng mà không cần phải kèm theo bất kỳ một điều kiện nào, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng, nếu thuộc một trong các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; do đó, các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng mà không thuộc một trong các trường họp này, thì theo Bộ luật Hình sự năm 1999 không phải là tội phạm. Ví dụ 2: Các hành vi như cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, tổ chức tảo hôn hoặc tảo hôn theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danhtương ứng, nếu họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, thì không phải là tội phạm. Ví dụ 3: Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai không vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai", (Điều 180); nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai" (Điều 174) nếu đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử lý kỷ luật (kể cả xử phạt vi phạm hành chính) về hành vi này, dù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì vẫn không phải là tội phạm. (Nếu vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, thì tuỳ từng thời điểm, từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985 hoặc Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999). 4. Điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội quy định: "không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năn tù..."; do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cần kiểm tra xem về tội phạm mà người chưa thành niên đó bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bao nhiêu năm tù; nếu Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đó là 7 năm tù trở xuống, thì đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ án. 5. Việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp nêu tại Mục 3 và Mục 4 Thông tư này được thực hiện như sau: a. Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, thì cơ quan điều tra áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án; b. Nếu hồ sơ vụ án đã được chuyển đến Viện kiểm sát để quyết định việc truy tố, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; c. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thì cần phân biệt như sau: - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của bị can mà Toà án xét thấy có căn cứ, thì Toà án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát; nếu qua điều tra bổ sung thấy vẫn thuộc một trong các trường hợp nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án biết theo quy định tại khoản 2 Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự; - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn (hoặc Quyết định ) rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà xét xử vụ án đó áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; - Trong trường hợp Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà (nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiên toà sơ thẩm) áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại mục 3 Thông tư này) hoặc áp dụng điểm d mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này); d. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà và tuỳ từng trường hợp việc quyết định đình chỉ vụ án được thực hiện như sau: - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 3 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự và đình chỉ vụ án. - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. đ. Cần chú ý rằng việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án được hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d mục này chỉ là đình chỉ đối với các trường hợp được nêu tại các Mục 3 và 4 Thông tư này về mặt hình sự, còn các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng... (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can, bị cáo khác trong vụ án (nếu có), thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. 6. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước như sau: a. Cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm rà soát các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt và lập thành một danh sách. Danh sách này cần ghi rõ họ, tên người được đề nghị miễn chấp hành hình phạt; ngày, tháng, năm sinh và nơi cư trú của họ, tội danh và mức hình phạt đã bị Toà án xử phạt theo bản án số..., ngày, tháng, năm. Kèm theo danh sách này là bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đối với mỗi một đối tượng cụ thể. Danh sách này và các bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được gửi kèm theo Công văn đề nghị đến Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; b. Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm chấp hành hình phạt xem xét và nếu thấy các tài liệu đã đầy đủ rõ ràng, thì tuỳ từng trường hợp áp dụng điểm tương ứng Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra quyết định miễn chấp hành hình phạt cho các đối tượng được đề nghị; nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có vấn đề gì chưa rõ thì yêu cầu cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị cung cấp tài liệu đó hoặc làm rõ thêm; c. Bản sao quyết định miễn chấp hành hình phạt được gửi cho đương sự, cơ quan đề nghị miễn chấp hành hình phạt, các cơ quan liên quan để thi hành và Viện kiểm sát cùng cấp; d. Cần chú ý là điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội chỉ quy định việc miễn chấp hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), còn đối với các vấn đề khác đối với họ, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng...., thì họ vẫn phải thi hành; đ. Cần chú ý là việc miễn chấp hành hình phạt theo các bước trên đây chỉ được tiến hành đối với người bị kết án trước ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 4-1-2000). Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này mà bị kết án kể từ ngày 4-1-2000, thì không thực hiện miễn chấp hành hình phạt đối với họ mà phải xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với họ theo thủ tục giám đốc thẩm. 7. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau: a. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa. Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị toà án xử phạt 2 năm tù về tội "vắng mặt trái phép" và 3 năm tù về tội "làm mất vũ khí quân dụng", tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 5 năm tù; nếu Nguyễn Văn A chưa chấp hành hình phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt tù, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt tù chưa quá ba năm, thì Nguyễn Văn A được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt 2 năm tù đối với tội "vắng mặt trái phép"; b. Nếu người bị kết án đã chấp hành một phần hình phạt hoặc dang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Ví dụ 2: Nếu trong ví dụ 1 trên đây của Mục này, Nguyễn Văn A đã chấp hành hình phạt tù quá 3 năm, thì Nguyễn văn A được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại. 8. Khi đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ hay quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người được đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, chứ không phải về oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự. 9. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cũng như bản thân người bị kết án đề nghị việc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp cần hướng dẫn họ làm đơn đề nghị và cùng bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật gửi cho cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tiến hành việc miễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư này. 10. Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này cũng như các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành phạt theo quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà đang bị truy nã, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã biết để cơ quan này ra ngay quyết định (hoặc lệnh) đình nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác. 11. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27069&Keyword=
2025-09-24T02:38:14.212014
../data\bocongan\012000TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ - UBTVQH10 ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội _________________________________ Ngày 21 - 12 - 1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự (từ đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định là Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 - 7 - 2000, nhưng tại Mục 3 của Nghị quyết đã quy định đường lối, chính sách xử lý đối với một số trường hợp cụ thể được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4 - 1 - 2000). Ngày 28 - 1 - 2000, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số 229/2000/NQ - UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 229). Để thi hành đúng các quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các quy định tại Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây, kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4 - 1 - 2000): 1. Trong mọi trường hợp khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm cũng không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm một trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội đó; cụ thể là các tội sau đây: STT Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1985 Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1999 1 Tội phạm an ninh lãnh thổ (Điều 75) Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81) 2 Tội chống phá trại giam (Điều 84) Tội chống phá trại giam (Điều 90) 3 Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 95) Tội chế tạo, tàng chữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230) 4 Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97) Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154) 5 Tội trộm cắp tài sản XHCN (Điều 132) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138) 6 Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN (Điều 138) Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) 7 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280) 8 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả (Điều 167) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158) 9 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 185m) Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 200) 10 Tội làm môi giới hối lộ (Điều 227) Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) 11 Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 258) Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324) 12 Tội tuyển mộ lính đánh thê, tội làm lính đánh thê (Điều 280) Tôị thuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê (Điều 344) Trong các trường hợp trên đây, nếu khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm mà xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình, thì nay áp dụng điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất mà điều luật đó quy định. 2. Khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con (con đẻ, con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử về tội phạm mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tử hình. Chỉ được coi là con nuôi, nếu việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định. 3. Điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 quy định: "Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm. . ." Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm bao gồm: a. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định thành một tội danh cụ thể trong một điều luật cụ thể nay Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa và đã bỏ tội danh này; cụ thể là: STT Điều luật và tội danh theo BLHS năm 1985 1 Điều 86. Các tội chống nhà nước XHCN anh em 2 Điều 98. Tội phá huỷ tiền tệ 3 Điều 164. Tội cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa 4 Điều 172. Tội chiếm đoạt tem, phiếu; tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối 5 Điều 177 Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất 6 Điều 183. Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (nếu không thuộc trường hợp kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999). 7 Điều 184. Tội lạm sát gia súc 8 Điều 208. Tội trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích 9 Điều 209. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích 10 Điều 261. Tội vắng mặt trái phép b. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm trong một điều luật cụ thể về một tội danh cụ thể, nay Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có điều luật cụ thể về tội danh đó, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi phạm tội này. Ví dụ 1: Hành vi chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý thu lợi bất chính lớn, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà" theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 270 quy định về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà ở", nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này. Ví dụ 2: hành vi của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không tố giác các tội phạm không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác không phải là tội đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "không tố giác tội phạm" theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 314 quy định về tội không tố giác tội phạm, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này; c. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi này không phải là tội phạm vì không có một hoặc một số dấu hiệu cấu thành bắt buộc mới được bổ sung. Ví dụ 1: Các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng mà không cần phải kèm theo bất kỳ một điều kiện nào, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng, nếu thuộc một trong các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; do đó, các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng mà không thuộc một trong các trường họp này, thì theo Bộ luật Hình sự năm 1999 không phải là tội phạm. Ví dụ 2: Các hành vi như cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, tổ chức tảo hôn hoặc tảo hôn theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danhtương ứng, nếu họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, thì không phải là tội phạm. Ví dụ 3: Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai không vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai", (Điều 180); nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai" (Điều 174) nếu đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử lý kỷ luật (kể cả xử phạt vi phạm hành chính) về hành vi này, dù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì vẫn không phải là tội phạm. (Nếu vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, thì tuỳ từng thời điểm, từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985 hoặc Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999). 4. Điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội quy định: "không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năn tù. . "; do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cần kiểm tra xem về tội phạm mà người chưa thành niên đó bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bao nhiêu năm tù; nếu Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đó là 7 năm tù trở xuống, thì đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ án. 5. Việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp nêu tại Mục 3 và Mục 4 Thông tư này được thực hiện như sau: a. Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, thì cơ quan điều tra áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án; b. Nếu hồ sơ vụ án đã được chuyển đến Viện kiểm sát để quyết định việc truy tố, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; c. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thì cần phân biệt như sau: - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của bị can mà Toà án xét thấy có căn cứ, thì Toà án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát; nếu qua điều tra bổ sung thấy vẫn thuộc một trong các trường hợp nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án biết theo quy định tại khoản 2 Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự; - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn (hoặc Quyết định ) rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà xét xử vụ án đó áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; - Trong trường hợp Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà (nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiên toà sơ thẩm) áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại mục 3 Thông tư này) hoặc áp dụng điểm d mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này); d. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà và tuỳ từng trường hợp việc quyết định đình chỉ vụ án được thực hiện như sau: - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 3 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự và đình chỉ vụ án. - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. đ. Cần chú ý rằng việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án được hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d mục này chỉ là đình chỉ đối với các trường hợp được nêu tại các Mục 3 và 4 Thông tư này về mặt hình sự, còn các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. . (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can, bị cáo khác trong vụ án (nếu có), thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. 6. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước như sau: a. Cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm rà soát các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt và lập thành một danh sách. Danh sách này cần ghi rõ họ, tên người được đề nghị miễn chấp hành hình phạt; ngày, tháng, năm sinh và nơi cư trú của họ, tội danh và mức hình phạt đã bị Toà án xử phạt theo bản án số. . , ngày, tháng, năm. Kèm theo danh sách này là bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đối với mỗi một đối tượng cụ thể. Danh sách này và các bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được gửi kèm theo Công văn đề nghị đến Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; b. Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm chấp hành hình phạt xem xét và nếu thấy các tài liệu đã đầy đủ rõ ràng, thì tuỳ từng trường hợp áp dụng điểm tương ứng Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra quyết định miễn chấp hành hình phạt cho các đối tượng được đề nghị; nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có vấn đề gì chưa rõ thì yêu cầu cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị cung cấp tài liệu đó hoặc làm rõ thêm; c. Bản sao quyết định miễn chấp hành hình phạt được gửi cho đương sự, cơ quan đề nghị miễn chấp hành hình phạt, các cơ quan liên quan để thi hành và Viện kiểm sát cùng cấp; d. Cần chú ý là điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội chỉ quy định việc miễn chấp hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), còn đối với các vấn đề khác đối với họ, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng. . ., thì họ vẫn phải thi hành; đ. Cần chú ý là việc miễn chấp hành hình phạt theo các bước trên đây chỉ được tiến hành đối với người bị kết án trước ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 4 - 1 - 2000). Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này mà bị kết án kể từ ngày 4 - 1 - 2000, thì không thực hiện miễn chấp hành hình phạt đối với họ mà phải xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với họ theo thủ tục giám đốc thẩm. 7. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau: a. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa. Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị toà án xử phạt 2 năm tù về tội "vắng mặt trái phép" và 3 năm tù về tội "làm mất vũ khí quân dụng", tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 5 năm tù; nếu Nguyễn Văn A chưa chấp hành hình phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt tù, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt tù chưa quá ba năm, thì Nguyễn Văn A được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt 2 năm tù đối với tội "vắng mặt trái phép"; b. Nếu người bị kết án đã chấp hành một phần hình phạt hoặc dang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Ví dụ 2: Nếu trong ví dụ 1 trên đây của Mục này, Nguyễn Văn A đã chấp hành hình phạt tù quá 3 năm, thì Nguyễn văn A được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại. 8. Khi đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ hay quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người được đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, chứ không phải về oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự. 9. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cũng như bản thân người bị kết án đề nghị việc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp cần hướng dẫn họ làm đơn đề nghị và cùng bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật gửi cho cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tiến hành việc miễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư này. 10. Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này cũng như các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành phạt theo quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà đang bị truy nã, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã biết để cơ quan này ra ngay quyết định (hoặc lệnh) đình nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác. 11. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999
01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC
25/09/2001
Thông tư liên tịch
10/10/2001
Công báo số 44, năm 2001
30/11/2001
Bộ Tư pháp
Thứ trưởng
Uông Chu Lưu
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 _________________ Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là BLHS), Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: 1. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" Đối với các tội: "cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ" (Điều 146 BLHS); "vi phạm chế độ một vợ, một chồng" (Điều 147 BLHS); tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn" (Điều 148 BLHS); "ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình" (Điều 151 BLHS); "từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều 152 BLHS), BLHS có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" trong cấu thành tội phạm; do đó, cần chú ý: Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại: a) Thực hiện chính hành vi đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi tổ chức tảo hôn; v.v... b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi hành hạ vợ, con, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi ngược đãi cha, mẹ; v.v.. . Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS) 2.1. Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó. Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác. a) Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v.v... nhằm mục đích cưỡng ép việc kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều 151 BLHS. b) Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v.v.. . c) Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ. d) Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v.v... 2.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2.3. Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị...); người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (như: người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ.. . ); người có ảnh hưởng trong công tác (như: thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ). 3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) 3 . 1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó ... 3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v ... b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 3 . 3 . Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS. 4. Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS) 4.1 . Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 4.2. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người tổ chức tảo hôn biết rõ hoặc có căn cứ để biết rõ là cả hai người hoặc một trong hai người mà mình tổ chức lễ cưới là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định . Trong trường hợp, người tổ chức thực sự không biết việc đó hoặc bị nhầm lẫn về độ tuổi, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. 4.3 . Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn; b) Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó; c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4.5 . Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng thông thường là: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ. Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên. 5. Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS) 5.1 . Đăng ký kết hôn trái pháp luật là việc người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận sự kiện kết hôn (ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn) cho người mà mình biết rõ là không đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 hoặc thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 5.2. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, khi người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là xoá kỷ luật mà còn vi phạm. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức, thì thời gian hiệu lực của kỷ luật đối với công chức là 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành.    Công chức được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người bị kỷ luật thì cũng được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật, mặc dù cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn do pháp luật chưa có quy định thời hạn được xoá kỷ luật nên thời gian hiệu lực của kỷ luật cũng được tính là 12 tháng, kể từ ngày Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định xử lý kỷ luật. Cần lưu ý, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì chỉ tính những trường hợp "đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" kể từ ngày 01/7/2000 trở đi, tức là ngày BLHS có hiệu lực thi hành. 5 . 3 . Chủ thể của tội này là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là: a) Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn; b) Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài; c) Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. 6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS) 6.1 . Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. 6.2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS). Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS); nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS); trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS) . 7. Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 BLHS) 7.1 . Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm,... làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác và tinh thần. 7.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS). Trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc Điều 93 BLHS về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức tử theo Điều 100 BLHS. b) Người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 7.3. Đối tượng bị xâm hại quy định tại Điều 151 BLHS bao gồm: a) Ông bà, bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại; b) Cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế; c) Vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; d) Con, bao gồm con đẻ (con trong giá thú và con ngoài giá thú); con nuôi; con rể; con dâu; con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng; đ) Cháu, bao gồm cháu nội, cháu ngoại; e) Người có công nuôi dưỡng mình là anh chị em, cô, dì, chú, bác, bà con thân thích hoặc những người khác đã hoặc đang nuôi dưỡng người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ. Cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này; nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác theo Điều 110 BLHS; trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định tại Điều 146 BLHS. 8. Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS) 8.1 . Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều 60 Chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa: a) Vợ và chồng; b) Cha, mẹ và con; c) Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; d) Anh chị em với nhau. 8.2. Có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương. 8.3. Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thường được biểu hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó. 8.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật, v.v…). Trong trường hợp chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 8.5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về tội không chấp hành án. 9. Hiệu lực thi hành của Thông tư Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2001. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích, hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=22714&Keyword=
2025-09-24T02:37:58.976304
../data\bocongan\012001TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 _________________ Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là BLHS), Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: 1. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" Đối với các tội: "cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ" (Điều 146 BLHS); "vi phạm chế độ một vợ, một chồng" (Điều 147 BLHS); tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn" (Điều 148 BLHS); "ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình" (Điều 151 BLHS); "từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều 152 BLHS), BLHS có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" trong cấu thành tội phạm; do đó, cần chú ý: Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại: a) Thực hiện chính hành vi đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi tổ chức tảo hôn; v. v. . b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi hành hạ vợ, con, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi ngược đãi cha, mẹ; v. v. . Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS) 2. 1. Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó. Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác. a) Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v. v. . nhằm mục đích cưỡng ép việc kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều 151 BLHS. b) Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v. v. . c) Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ. d) Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v. v. . 2. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. 3. Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị. . ); người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (như: người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ. . ); người có ảnh hưởng trong công tác (như: thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ). 3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) 3. 1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó. . 3. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v. v. . b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 3. 3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS. 4. Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS) 4. 1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 4. 2. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người tổ chức tảo hôn biết rõ hoặc có căn cứ để biết rõ là cả hai người hoặc một trong hai người mà mình tổ chức lễ cưới là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Trong trường hợp, người tổ chức thực sự không biết việc đó hoặc bị nhầm lẫn về độ tuổi, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. 4. 3. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4. 4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn; b) Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó; c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4. 5. Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng thông thường là: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ. Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên. 5. Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS) 5. 1. Đăng ký kết hôn trái pháp luật là việc người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận sự kiện kết hôn (ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn) cho người mà mình biết rõ là không đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 hoặc thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 5. 2. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, khi người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là xoá kỷ luật mà còn vi phạm. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 97/1998/NĐ - CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức, thì thời gian hiệu lực của kỷ luật đối với công chức là 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành. Công chức được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người bị kỷ luật thì cũng được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật, mặc dù cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn do pháp luật chưa có quy định thời hạn được xoá kỷ luật nên thời gian hiệu lực của kỷ luật cũng được tính là 12 tháng, kể từ ngày Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định xử lý kỷ luật. Cần lưu ý, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì chỉ tính những trường hợp "đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" kể từ ngày 01/7/2000 trở đi, tức là ngày BLHS có hiệu lực thi hành. 5. 3. Chủ thể của tội này là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là: a) Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn; b) Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài; c) Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. 6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS) 6. 1. Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. 6. 2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS). Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS); nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS); trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS). 7. Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 BLHS) 7. 1. Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm, . . làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác và tinh thần. 7. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS). Trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc Điều 93 BLHS về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức tử theo Điều 100 BLHS. b) Người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 7. 3. Đối tượng bị xâm hại quy định tại Điều 151 BLHS bao gồm: a) Ông bà, bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại; b) Cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế; c) Vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; d) Con, bao gồm con đẻ (con trong giá thú và con ngoài giá thú); con nuôi; con rể; con dâu; con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng; đ) Cháu, bao gồm cháu nội, cháu ngoại; e) Người có công nuôi dưỡng mình là anh chị em, cô, dì, chú, bác, bà con thân thích hoặc những người khác đã hoặc đang nuôi dưỡng người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ. Cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này; nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác theo Điều 110 BLHS; trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định tại Điều 146 BLHS. 8. Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS) 8. 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều 60 Chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa: a) Vợ và chồng; b) Cha, mẹ và con; c) Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; d) Anh chị em với nhau. 8. 2. Có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương. 8. 3. Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thường được biểu hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó. 8. 4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật, v. v…). Trong trường hợp chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 8. 5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về tội không chấp hành án. 9. Hiệu lực thi hành của Thông tư Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2001. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích, hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông.
01/2001/TTLT/TCBĐ-BCA
07/06/2001
Thông tư liên tịch
22/06/2001
Công báo số 25, năm 2001;
08/07/2001
Tổng cục Bưu điện
Tổng Cục trưởng
Mai Liêm Trực
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/1997/NĐ-CP về bưu chính và viễn thông. Để thi hành các quy định của Nghị định này, Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (sau đây viết gọn là cơ quan, tổ chức, cá nhân) bao gồm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh đối với các việc thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông. 2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến lĩnh vực bưu chính, viễn thông đều phải chấp hành pháp luật về bưu chính, viễn thông; có trách nhiệm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. II. BẢO ĐẢM AN TOÀN MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an toàn mạng lưới bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an xem xét, thẩm định danh mục công trình bưu chính, viễn thông trọng điểm do doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đề xuất để trình Chính phủ phê duyệt danh mục công trình bưu chính, viễn thông cần được lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức, triển khai lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ các công trình trọng điểm thuộc danh mục Chính phủ đã phê duyệt. 2. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông (sau đây viết tắt là doanh nghiệp) có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an tiến hành: a. Xây dựng các phương án bảo vệ; phòng, chống cháy, nổ; tuần tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; các công trình trọng điểm thuộc danh mục đã được Chính phủ phê duyệt; b. Xây dựng phương án phối hợp hành động khi có tình huống khẩn cấp xảy ra như đột nhập, phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Tổ chức lực lượng bảo vệ, trang bị các thiết bị bảo vệ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông thuộc quyền quản lý. 3. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 mục II của Thông tư này và huấn luyện, hướng dẫn nghiệp vụ cho doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng giữa 2 bên. 4. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Bảo vệ an toàn hoạt động mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình; b. Không được lợi dụng hoặc để người khác lợi dụng mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình gây nhiễu, gây rối loạn, phá hoại hoạt động mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Phát hiện, thông báo đầy đủ, kịp thời những hoạt động phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông cho doanh nghiệp, các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp. III. BẢO ĐẢM AN NINH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài: a. Trong thời hạn 10 ngày làm việc và trường hợp đặc biệt thì không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Bộ Ngoại giao và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và ưu đãi, miễn trừ lãnh sự, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao và Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. b. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm a nêu trên, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. 2. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng; cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông; thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam: Tổng cục Bưu điện thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an. Trường hợp đã phân cấp quản lý cho các Cục Bưu điện khu vực thì Cục Bưu điện khu vực có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Việc cấp phép thiết lập mạng, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam thực hiện theo các quy định hiện hành của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan. 4. Đối với việc cấp phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng cáp quang biển: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ của tổ chức xin phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng các tuyến cáp quang biển Quốc tế đi qua vùng biển của Việt Nam (vùng nội thuỷ, lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Tổng cục Bưu điện tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 5. Bộ Công an và Tổng cục Bưu điện phối hợp chỉ đảo, hướng dẫn việc ngăn chặn khẩn cấp đối với các trường hợp cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các hoạt động vi phạm pháp luật khác. 6. Các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện và các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an phối hợp thực hiện bảo đảm an ninh thông tin trong các lĩnh vực sau: a. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông; kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông trái với pháp luật; b. Kiểm tra và xử lý các vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện thực hiện theo các quy định trong Thông tư liên tịch số 05/TTLT ngày 26/07/1997 của Tổng cục Bưu điện, Bộ Thương mại, Bộ Công an và Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT-TCBĐ-TCHQ ngày 11/12/1998 của Tổng cục Bưu điện và Tổng cục Hải quan; c. Thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để xây dựng các phương án ngăn chặn khẩn cấp nhằm bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 7. Doanh nghiệp có trách nhiệm: a. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ trong trường hợp cần thiết để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vị lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; b. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra, kiểm soát an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; c. Bố trí mặt bằng, điểm truy nhập mạng lưới và các điều kiện kỹ thuật cần thiết cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, viễn thông; d. Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin liên quan cho Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; đ. Phổ biến, cung cấp thông tin cần thiết về công nghệ, kỹ thuật mới trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an để phục vụ công tác quản lý an ninh thông tin; e. Hướng dẫn người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông bảo vệ nội dung thông tin theo Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước. 8. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đưa vào lưu trữ và chuyển đi trên mạng khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; b. Phối hợp và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin liên quan cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động của mạng viễn thông dùng riêng, mạng nội bộ và việc sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn các cơ quan tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn mạng lưới, an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông. 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 02/01/1993 của Tổng cục Bưu điện và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc tăng cường công tác bảo vệ an toàn mạng viễn thông Việt Nam. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phản ánh về Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để hướng dẫn giải quyết kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=22715&Keyword=
2025-09-24T02:38:00.771074
../data\bocongan\012001TTLTTCBĐ-BCA\document.json
09/01/2009
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/1997/NĐ - CP về bưu chính và viễn thông. Để thi hành các quy định của Nghị định này, Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (sau đây viết gọn là cơ quan, tổ chức, cá nhân) bao gồm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh đối với các việc thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông. 2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến lĩnh vực bưu chính, viễn thông đều phải chấp hành pháp luật về bưu chính, viễn thông; có trách nhiệm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. II. BẢO ĐẢM AN TOÀN MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an toàn mạng lưới bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an xem xét, thẩm định danh mục công trình bưu chính, viễn thông trọng điểm do doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đề xuất để trình Chính phủ phê duyệt danh mục công trình bưu chính, viễn thông cần được lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức, triển khai lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ các công trình trọng điểm thuộc danh mục Chính phủ đã phê duyệt. 2. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông (sau đây viết tắt là doanh nghiệp) có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an tiến hành: a. Xây dựng các phương án bảo vệ; phòng, chống cháy, nổ; tuần tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; các công trình trọng điểm thuộc danh mục đã được Chính phủ phê duyệt; b. Xây dựng phương án phối hợp hành động khi có tình huống khẩn cấp xảy ra như đột nhập, phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Tổ chức lực lượng bảo vệ, trang bị các thiết bị bảo vệ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông thuộc quyền quản lý. 3. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 mục II của Thông tư này và huấn luyện, hướng dẫn nghiệp vụ cho doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng giữa 2 bên. 4. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Bảo vệ an toàn hoạt động mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình; b. Không được lợi dụng hoặc để người khác lợi dụng mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình gây nhiễu, gây rối loạn, phá hoại hoạt động mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Phát hiện, thông báo đầy đủ, kịp thời những hoạt động phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông cho doanh nghiệp, các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp. III. BẢO ĐẢM AN NINH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài: a. Trong thời hạn 10 ngày làm việc và trường hợp đặc biệt thì không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Bộ Ngoại giao và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và ưu đãi, miễn trừ lãnh sự, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao và Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. b. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm a nêu trên, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. 2. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng; cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông; thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam: Tổng cục Bưu điện thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an. Trường hợp đã phân cấp quản lý cho các Cục Bưu điện khu vực thì Cục Bưu điện khu vực có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Việc cấp phép thiết lập mạng, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam thực hiện theo các quy định hiện hành của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan. 4. Đối với việc cấp phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng cáp quang biển: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ của tổ chức xin phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng các tuyến cáp quang biển Quốc tế đi qua vùng biển của Việt Nam (vùng nội thuỷ, lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Tổng cục Bưu điện tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 5. Bộ Công an và Tổng cục Bưu điện phối hợp chỉ đảo, hướng dẫn việc ngăn chặn khẩn cấp đối với các trường hợp cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các hoạt động vi phạm pháp luật khác. 6. Các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện và các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an phối hợp thực hiện bảo đảm an ninh thông tin trong các lĩnh vực sau: a. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông; kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông trái với pháp luật; b. Kiểm tra và xử lý các vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện thực hiện theo các quy định trong Thông tư liên tịch số 05/TTLT ngày 26/07/1997 của Tổng cục Bưu điện, Bộ Thương mại, Bộ Công an và Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT - TCBĐ - TCHQ ngày 11/12/1998 của Tổng cục Bưu điện và Tổng cục Hải quan; c. Thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để xây dựng các phương án ngăn chặn khẩn cấp nhằm bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 7. Doanh nghiệp có trách nhiệm: a. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ trong trường hợp cần thiết để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vị lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; b. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra, kiểm soát an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; c. Bố trí mặt bằng, điểm truy nhập mạng lưới và các điều kiện kỹ thuật cần thiết cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, viễn thông; d. Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin liên quan cho Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; đ. Phổ biến, cung cấp thông tin cần thiết về công nghệ, kỹ thuật mới trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an để phục vụ công tác quản lý an ninh thông tin; e. Hướng dẫn người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông bảo vệ nội dung thông tin theo Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước. 8. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đưa vào lưu trữ và chuyển đi trên mạng khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; b. Phối hợp và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin liên quan cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động của mạng viễn thông dùng riêng, mạng nội bộ và việc sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn các cơ quan tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn mạng lưới, an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông. 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 02/01/1993 của Tổng cục Bưu điện và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc tăng cường công tác bảo vệ an toàn mạng viễn thông Việt Nam. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phản ánh về Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để hướng dẫn giải quyết kịp thời.
Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
01/2002/TT-BCA(C11)
04/01/2002
Thông tư
19/01/2002
Công báo điện tử;
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Thực hiện các Điều 48, 49 Luật Giao thông đường bộ đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Bộ Công an quy định việc đăng ký và cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: 1.1. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe) gồm xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước khi tham gia giao thông đều phải đăng ký và gắn biển số theo quy định của Thông tư này. 1.2. Thông tư này không áp dụng đối với việc đăng ký, quản lý xe quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng. 2. Cơ quan đăng ký xe: 2.1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt: đăng ký xe ôtô của các cơ quan, cá nhân ngoại giao, các tổ chức quốc tế và xe của một số cơ quan Trung ương (có danh mục kèm theo). 2.2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đăng ký xe của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, xe của doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng đang cư trú hoặc có trụ sở tại địa phương mình. 3. Trách nhiệm của chủ xe: 3.1. Chủ xe phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của hồ sơ xe và xe. 3.2. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, tẩy xoá số máy, số khung để đăng ký. 4. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký xe: Cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan. 5. Thời gian cấp đăng ký, biển số: 5.1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp ngay giấy hẹn và biển số. 5.2. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (không kể ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định), cơ quan đăng ký xe phải cấp giấy đăng ký xe hoặc hồ sơ xe cho chủ xe (trường hợp sang tên di chuyển) hoặc giấy chứng nhận xoá sổ (trường hợp xoá sổ đăng ký). Riêng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thời hạn không quá 07 ngày. 5.3. Đăng ký xe tạm thời: sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp ngay đăng ký và biển số xe tạm thời. II. ĐĂNG KÝ XE A. CÁC LOẠI GIẤY TỜ CỦA CHỦ XE KHI ĐẾN ĐĂNG KÝ XE 1. Chủ xe là người Việt Nam: - Xuất trình giấy chứng minh nhân dân. - Trường hợp không có giấy chứng minh nhân dân thì phải xuất trình một trong những giấy tờ sau đây: + Hộ khẩu thường trú hoặc giấy chứng nhận tạm trú có thời hạn. + Bản sao quyết định điều động hoặc tiếp nhận công tác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu chưa có sổ hộ khẩu). + Chủ xe là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an): giấy giới thiệu của đơn vị công tác kèm theo giấy chứng minh Quân đội nhân dân, giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân, giấy chứng minh An ninh nhân dân, kể cả giấy chứng nhận tạm thời. + Trường hợp chủ xe là học sinh, sinh viên đăng ký xe: giấy giới thiệu tạm trú theo quy định và xuất trình thẻ học sinh, sinh viên. + Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài: giấy khai báo tạm trú theo quy định và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị). - Người được chủ xe uỷ quyền đăng ký xe: phải có giấy uỷ quyền của chủ xe (có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc cơ quan, đơn vị công tác) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân của mình. Trường hợp người đến đăng ký thay có hộ khẩu hoặc giấy tờ khác chứng minh là bố, mẹ, vợ, chồng, con của chủ xe thì không cần có giấy uỷ quyền. 2. Chủ xe là người nước ngoài: - Người nước ngoài (kể cả người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài): xuất trình hộ chiếu (còn giá trị) và giấy giới thiệu của cơ quan Việt Nam quản lý người nước ngoài đó. - Người có thân phận ngoại giao: xuất trình chứng minh thư ngoại giao (còn giá trị) và giấy giới thiệu của Cục phục vụ ngoại giao đoàn hoặc Sở Ngoại vụ. - Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam: xuất trình hộ chiếu (còn giá trị) giấy phép lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên cấp. 3. Chủ xe là cơ quan, tổ chức: - Chủ xe là cơ quan, tổ chức Việt Nam: giấy giới thiệu ghi rõ họ tên, chức vụ người đến đăng ký. - Chủ xe là doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng: giấy giới thiệu của Cục Quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật - Bộ Quốc phòng. - Chủ xe là cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế: giấy giới thiệu của Cục phục vụ ngoại giao đoàn hoặc Sở Ngoại vụ. - Chủ xe là doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: bản sao giấy phép đầu tư do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (ở Trung ương) hoặc do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương) cấp. Bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước đã cấp giấy phép đó. - Chủ xe là văn phòng đại diện: giấy phép đặt văn phòng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó. - Chủ xe là công ty nước ngoài trúng thầu mang xe vào sử dụng tại Việt Nam: bản sao giấy phép trúng thầu của Bộ, Ngành hoặc tổ chức kinh tế, xã hội (các bản sao đều phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó). - Chủ xe là các tổ chức phi chính phủ: bản sao giấy phép đặt văn phòng có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó và giấy giới thiệu của cơ quan quản lý tổ chức phi chính phủ đó. 4. Giấy giới thiệu, và bản sao của các tổ chức, cá nhân quy định tại các điểm 1, 2, 3 nêu trên đều phải được lưu trong hồ sơ xe. B. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ XE 1. Thủ tục đăng ký xe gồm: 1.1. Giấy khai đăng ký (theo mẫu); 1.2. Chứng từ chuyển nhượng xe; 1.3. Chứng từ lệ phí trước bạ; 1.4. Chứng từ nguồn gốc của xe. 2. Chứng từ chuyển nhượng xe quy định tại điểm 1.2. nêu trên gồm một trong các loại giấy tờ sau: Giấy bán, tặng; quyết định hoặc hợp đồng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật; hoá đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức, cá nhân không kinh doanh, khi nhượng, bán xe không cần phải có hoá đơn bán hàng. Trường hợp xe của đồng sở hữu, thì khi chuyển nhượng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các sở hữu chủ. 3. Chứng từ lệ phí trước bạ quy định tại điểm 1.3. nêu trên được quy định cụ thể như sau: 3.1. Biên lai thu lệ phí trước bạ hoặc giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước bằng tiền mặt hoặc bằng séc qua kho bạc Nhà nước (có xác nhận của kho bạc Nhà nước đã nhận tiền). 3.2. Trường hợp được miễn lệ phí trước bạ, phải có tờ khai lệ phí trước bạ. 3.3. Trường hợp nhiều xe chung một chứng từ lệ phí trước bạ, thì phải có tờ khai lệ phí trước bạ và bản sao chứng từ lệ phí trước bạ có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp ra. 4. Chứng từ nguồn gốc xe quy định tại điểm 1.4. nêu trên được quy định cụ thể như sau: 4.1. Xe nhập khẩu nguyên chiếc; 4.1.1. Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại; - Tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định. - Xe là hàng viện trợ, phải có thêm giấy xác nhận viện trợ của Ban tiếp nhận viện trợ quốc tế - Bộ Tài chính. 4.1.2. Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển: - Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng phi mậu dịch theo quy định của Tổng cục Hải quan; - Tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Tổng cục Hải quan; - Biên lai thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: + Đối với các loại xe chở người dưới 24 chỗ ngồi, xe du lịch, xe vừa chở người vừa chở hàng, xe lam có giấy phép nhập khẩu sau ngày 01/01/1996 phải có biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt bản chính hoặc bản sao do đơn vị nhập uỷ thác nộp (bản sao do đơn vị nhập uỷ thác ký). Trừ những xe viện trợ không hoàn lại và xe nhập khẩu được hưởng tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao hoặc hưởng ưu đãi về chính sách thuế do Chính phủ quy định; + Trường hợp xe là quà biếu, xe là tài sản di chuyển vào Việt Nam vượt quá định lượng theo quy định của Tổng cục Hải quan thì phải có thêm biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt; + Các trường hợp không phải có biên lai thuế nhập khẩu hoặc biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt gồm: xe tạm nhập của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao; được hưởng ưu đãi về chính sách thuế; đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được trở về định cư ở Việt Nam; xe được nhập theo Nghị định của Chính phủ hoặc Hiệp định giữa hai nhà nước theo chế độ tạm nhập, tái xuất; xe là quà biếu, tài sản di chuyển đúng định lượng quy định của Tổng cục Hải quan. - Xe chuyên dùng có thuế suất bằng 0% thì chỉ cần tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch theo mẫu quy định của Tổng cục Hải quan trong đó có ghi rõ nhãn hiệu xe, số máy, số khung. 4.2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Xe lắp ráp tại Việt Nam mang nhãn hiệu hàng hoá nước ngoài nếu lắp ráp thành xe nhãn hiệu hàng hoá trong nước hoặc lắp ráp tiếp thành loại xe khác thì mỗi lần lắp ráp phải có một phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. - Tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu (đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu). 4.3. Xe cải tạo: 4.3.1. Xe thay đổi tính chất chuyên chở: - Giấy đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng được phép nhập khẩu); - Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cải tạo theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Không giải quyết đăng ký các xe ôtô khác cải tạo thành xe ôtô chở khách; xe chuyên dùng chuyển đổi tính năng, công dụng (gọi tắt là công năng) trước 5 năm và xe đông lạnh trước 3 năm (kể từ ngày nhập khẩu) theo quy định của Chính phủ. 4.3.2. Xe thay tổng thành máy, thân máy (bloc) hoặc tổng thành khung nhập khẩu: - Giấy đăng ký xe; - Bản chính xác nhận của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho tổng thành đó nhập khẩu (nhập theo hợp đồng thương mại). Trường hợp nhập khẩu phi mậu dịch thì phải có bản chính tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch và biên lai thu thuế xuất nhập khẩu; - Trường hợp tổng thành máy, thân máy (Bloc) hoặc tổng thành khung khác nhãn hiệu, thông số kỹ thuật thì phải có giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ cải tạo theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. 4.3.3. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Bloc) hoặc tổng thành khung sản xuất trong nước: - Giấy đăng ký xe; - Chứng từ bán tổng thành của cơ sở sản xuất; - Biên bản kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) của cơ sở sản xuất. 4.3.4. Trường hợp tổng thành máy hoặc tổng thành khung của xe đã đăng ký dùng để thay thế cho xe khác thì phải có giấy xoá sổ đăng ký. Giấy xoá sổ đăng ký phải ghi rõ cấp cho tổng thành máy hoặc tổng thành khung. 4.4. Xe xử lý tịch thu sung quỹ nhà nước: - Quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền); - Hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ nhà nước do Bộ Tài chính phát hành hoặc văn bản xác lập quyền sở hữu nhà nước của cơ quan có thẩm quyền. Việc đăng ký xe tịch thu sung quỹ nhà nước được thực hiện trên cơ sở hiện trạng số máy, số khung của xe ghi trong quyết định và hoá đơn trên, nhưng xe phải cùng chủng loại, cùng thông số kỹ thuật. 4.5. Xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án: - Bản sao quyết định của Toà án hoặc trích lục bản án; - Quyết định thi hành án của phòng thi hành án; - Chứng từ thu tiền hoặc biên bản bàn giao tài sản. Trường hợp xe phát mại thì phải có nguồn gốc hợp lệ theo quy định tại Thông tư này và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có xe bị phát mại. Xe chưa rõ nguồn gốc hoặc không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có tài sản bị phát mại thì không tiếp nhận giải quyết đăng ký mà phải hướng dẫn chủ xe đến nơi đã ra quyết định phát mại để giải quyết. 4.6. Xe có quyết định xử lý vật chứng: - Quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Toà án (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền cấp); - Phiếu thu tiền hoặc giấy biên nhận tiền hoặc biên bản bàn giao (nếu là người bị hại). 4.7. Xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại: - Bản sao hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm (do tổ chức tín dụng ký sao); - Hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản hoặc biên bản nhận tài sản hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); - Đăng ký xe hoặc chứng từ nguồn gốc của xe; - Chứng từ thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe là tài sản cầm cố, thế chấp có tranh chấp, xe khởi kiện, xe là tài sản thi hành án, phải có thêm: + Trích lục bản án hoặc sao bản án hoặc sao quyết định của Toà án; + Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án. Trường hợp xe đã đăng ký ở địa phương khác, phải có thêm phiếu sang tên di chuyển kèm theo hồ sơ gốc (giấy khai sang tên di chuyển do chủ xe, hoặc cơ quan ký hợp đồng bán tài sản, các tổ chức tín dụng ký xác nhận). 4.8. Xe của các dự án: 4.8.1. Xe các dự án viện trợ của nước ngoài khi hết hạn, bàn giao cho phía Việt Nam: - Chứng từ nguồn gốc của xe như quy định tại các điểm 4.1, 4.2 Mục B phần II Thông tư này; - Quyết định tiếp nhận của Thủ trưởng cấp Bộ (đối với cơ quan Trung ương) hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan ở địa phương); - Biên bản bàn giao xe theo quy định. Sau khi đã được cấp giấy đăng ký xe mang tên cơ quan Việt Nam, khi bán xe: xe thuộc các cơ quan trung ương thì do Thủ trưởng cấp Bộ quyết định; xe thuộc địa phương quản lý thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Trường hợp xe viện trợ nhân đạo, được sang tên di chuyển bình thường theo quy định. 4.8.2. Xe (đã đăng ký) của dự án này bàn giao cho dự án khác: - Văn bản bàn giao xe của chủ dự án nước ngoài; - Công văn xác nhận hàng viện trợ của Ban tiếp nhận viện trợ quốc tế - Bộ Tài chính; - Kèm theo hồ sơ gốc của xe đã đăng ký. 4.9. Xe dự trữ quốc gia: - Lệnh xuất bán hàng dự trữ quốc gia của Cục Dự trữ quốc gia. Trường hợp nhiều xe thì phải sao cho mỗi xe một lệnh (bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của Cục Dự trữ quốc gia). - Tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe hoặc giấy xác nhận của Tổng cục Hải quan (mỗi xe 1 bản chính) ghi rõ nhãn hiệu, số máy, số khung; - Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho theo quy định của Bộ Tài chính do các Chi cục Dự trữ quốc gia cấp, mỗi xe một hoá đơn ghi rõ nhãn hiệu, số máy và số khung. 4.10. Xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu: - Quyết định truy thu thuế của Cục Hải quan hoặc Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Giấy nộp tiền thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước. Trường hợp xe đã đăng ký thì ngoài 2 giấy tờ trên còn phải có hồ sơ gốc của xe. 4.11. Xe ôtô chuyên dùng thuê của nước ngoài: - Hợp đồng thuê; - Tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Tổng cục Hải quan. 4.12. Xe bị mất chứng từ nguồn gốc: - Đơn của chủ xe cam đoan trước pháp luật về việc mất chứng từ nguồn gốc của xe, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. - Bản sao chứng từ nguồn gốc của xe có xác nhận của cơ quan đã cấp chứng từ đó. Trường hợp phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng của Bộ Giao thông vận tải phải cấp lại (hồ sơ đăng ký phải đầy đủ như quy định tại Mục B phần II Thông tư này). Sau 30 ngày nếu không phát hiện có vi phạm hoặc tranh chấp gì thì làm thủ tục đăng ký xe. 4.13. Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự: Phải có chứng từ nguồn gốc của xe như quy định tại một trong các điểm 4.1; 4.2; 4.3 Mục B phần II Thông tư này, đồng thời phải có quyết định cho bán xe của Tổng cục Hậu cần - Bộ Công an (đối với xe Công an) hoặc của Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng (đối với quân đội). Trường hợp xe có nguồn gốc do Bộ Quốc phòng cấp phát, trang bị trước ngày 31/12/1989 và đã được đăng ký trước ngày 27/12/1995, phải có bản chính giấy chứng nhận của Cục quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật cấp cho từng xe. 4.14. Đăng ký và quản lý xe của các doanh nghiệp làm kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng: 4.14.1. Xe do quân đội đăng ký quản lý từ trước 31/12/1989: - Hồ sơ gốc của xe (trường hợp không có hồ sơ gốc, chủ xe phải có bản cam kết nói rõ nguồn gốc xe. Bản cam kết phải có xác nhận của Thủ trưởng cấp quân khu, quân đoàn, quân binh chủng hoặc các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng). - Giấy chứng nhận đăng ký xe của Cục quản lý xe máy - Tổng cục kỹ thuật Bộ Quốc phòng. 4.14.2. Xe do quân đội quản lý từ sau ngày 31/12/1989 hoặc xe do đơn vị quân đội tự mua hoặc mới được trang bị, khi đăng ký phải có hồ sơ gốc hợp lệ theo quy định tại điểm 4 mục B phần II Thông tư này. 4.15. Xe là tài sản chung của vợ chồng: - Chủ xe tự nguyện khai là tài sản chung của vợ chồng, phải ghi đầy đủ họ, tên của hai vợ chồng trong giấy khai đăng ký và có chữ ký của cả hai vợ chồng. Trường hợp xe thuộc tài sản chung của vợ chồng đã đăng ký trước ngày 18/10/2001, nay có nguyện vọng đổi lại "Đăng ký xe" đểghi đủ tên cả hai vợ chồng thì phải làm lại giấy khai đăng ký xe có đủ chữ ký của vợ và chồng. 4.16. Xe quân đội (trừ xe làm kinh tế) có yêu cầu cấp biển số xe dân sự: - Công văn đề nghị của lãnh đạo Bộ Quốc phòng; - Trường hợp xe đã đăng ký, phải có bản sao hồ sơ gốc của xe (có xác nhận của Cục quản lý xe máy - Tổng cục kỹ thuật); - Trường hợp xe chưa đăng ký, phải có đầy đủ thủ tục đăng ký theo quy định tại mục B phần II Thông tư này. 4.17. Xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm 3 trở lên: - Thủ tục theo mục B phần II Thông tư này. - Đối tượng đăng ký sử dụng theo quy định của Chính phủ. 4.18. Các loại xe có kết cấu tương tự như xe ôtô: - Thủ tục, hồ sơ theo đúng quy định tại Mục B phần II Thông tư này. - Trường hợp xe sản xuất lắp ráp trước ngày 31/12/1995 có chứng từ nguồn gốc không đảm bảo theo quy định thì chủ xe phải có cam kết về nguồn gốc hợp lệ của xe (có xác nhận của chính quyền địa phương); biên bản xác nhận của Ngành giao thông kiểm định kỹ thuật an toàn phương tiện. C. XE ÔTÔ ĐĂNG KÝ TẠM THỜI 1. Đối tượng được đăng ký tạm thời: 1.1. Xe mới nhập khẩu và xe sản xuất lắp ráp lưu hành từ kho, cảng, nhà máy, đại lý bán xe đến nơi đăng ký hoặc về các đại lý, kho lưu trữ khác. 1.2. Xe có phiếu sang tên di chuyển đi địa phương khác. 1.3. Xe làm thủ tục xoá sổ để tái xuất về nước hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1.4. Xe được phép tạm nhập phục vụ hội nghị quốc tế, hội chợ, triển lãm, thể dục thể thao, quảng cáo. 1.5. Xe được phép quá cảnh (trừ xe có Hiệp định ký kết của Nhà nước). 1.6. Xe cải tạo hoặc xe mới xuất xưởng chạy thử nghiệm trên đường giao thông công cộng. 2. Thủ tục đăng ký: 2.1. Xe sản xuất lắp ráp tại Việt Nam: - Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu); - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng theo quy định Bộ Giao thông vận tải; - Hoá đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. 2.2. Xe nhập khẩu: - Giấy khai đăng ký (theo mẫu); - Thông báo thuế của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho xe đó nhập khẩu; - Giấy phép nhập khẩu; tờ khai hàng hoá nhập khẩu hoặc bản kê khai chi tiết nhập xe. Trường hợp xe đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu thì thủ tục đăng ký tạm bao gồm các loại giấy tờ theo quy định tại mục B phần II Thông tư này (trừ chứng từ lệ phí trước bạ). Khi đến làm thủ tục đăng ký tạm thời, chủ xe mang toàn bộ hồ sơ gốc và bản sao hồ sơ gốc để đối chiếu, không phải mang xe đến kiểm tra nhưng phải cà số máy, số khung dán vào giấy khai đăng ký. Khi cấp đăng ký tạm thời thì trả hồ sơ gốc, cơ quan đăng ký xe lưu lại bản sao hồ sơ gốc. 2.3. Thời hạn đăng ký tạm thời: 2.3.1. Thời hạn có giá trị của giấy đăng ký xe tạm thời tối đa là 7 ngày; nếu quá 7 ngày thì phải được Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương) phê duyệt đồng ý nhưng cũng không được quá 15 ngày. 2.3.2. Xe được phép tạm nhập: quảng cáo, hội chợ, triển lãm thể thao hoặc phục vụ các mục đích hợp pháp khác thì thời hạn được cấp theo thời gianghi trong giấy cho phép tạm nhập. D. ĐỔI, CẤP LẠI GIẤY ĐĂNG KÝ HOẶC BIỂN SỐ XE 1. Đổi lại giấy đăng ký hoặc biển số xe: Những trường hợp sau đây được đổi lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn; giấy đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ. Khi đề nghị đổi giấy đăng ký xe hoặc biển số xe, chủ xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân) có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Cơ quan đăng ký xe cấp lại giấy đăng ký, biển số xe (theo số cũ), trừ loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số. Khi đến làm thủ tục đề nghị đổi lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe bị rách, hư hỏng, mờ phải nộp lại giấy đăng ký hoặc biển số xe cũ và không bắt buộc phải mang theo xe. 2. Cấp lại giấy đăng ký hoặc biển số xe bị mất: Chủ xe bị mất giấy đăng ký xe hoặc biển số xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân) đề nghị cấp lại có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Chủ xe có thể uỷ quyền cho người khác làm thay và không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe. Sau thời hạn 60 ngày nếu không phát hiện nghi vấn, thì giải quyết cấp lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe (theo biển số cũ) trường hợp loại biển 3 số thì đổi sang loại biển 4 số. Trường hợp cấp trước thời hạn, phải được phê duyệt đồng ý của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương). Đ. TRƯỜNG HỢP ĐÓNG LẠI SỐ MÁY, SỐ KHUNG 1. Xe nhập khẩu không có số máy, số khung; trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo biển số đăng ký. Trường hợp số máy, số khung của xe có số Etekét, số ghi bằng sơn, số bị mờ thì được đóng lại theo số được cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe. 2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: - Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc số đóng bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng; - Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định. Nếu cơ quan giám định kết luận xe bị đục lại số máy hoặc số khung thì không tiếp nhận đăng ký; Trường hợp giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thuỷ thì được đóng lại theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng. 3. Trường hợp xe đã đăng ký nếu thay thế máy mới hoặc thay thân máy (Bloc) chưa có số máy thì đóng số theo số biển số xe đăng ký. 4. Xe có quyết định tịch thu hoặc xe có quyết định xử lý vật chứng: trường hợp số máy, số khung bị đục, tẩy xoá thì được đóng lại số theo số biển số. III. SANG TÊN, DI CHUYỂN XE Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển nhượng xe, người mua xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó (hoặc uỷ quyền cho người khác đến) làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. A.THỦ TỤC SANG TÊN DI CHUYỂN XE: 1. Xe sang tên trong cùng tỉnh, thành phố thủ tục gồm: 1.1. Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu); 1.2. Giấy khai sang tên di chuyển (theo mẫu); 1.3. Giấy đăng ký xe; 1.4. Chứng từ chuyển nhượng theo quy định tại điểm 2 mục B phần II Thông tư này. 1.5. Chứng từ lệ phí trước bạ (theo quy định). Trường hợp này giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số cùng loại biển) và cấp lại giấy đăng ký xe cho chủ xe mới. 2. Xe sang tên di chuyển đi tỉnh, thành phố khác, thủ tục gồm: 2.1. 02 giấy khai sang tên di chuyển (theo mẫu); 2.2. Giấy đăng ký xe; 2.3. Chứng từ chuyển nhượng theo quy định tại điểm 2 mục B phần II Thông tư này. Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra. 3. Xe di chuyển nguyên chủ, thủ tục gồm: 3.1. Quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu (thay giấy tờ mua bán xe); 3.2. 02 giấy khai sang tên, di chuyển (theo mẫu); 3.3. Giấy đăng ký xe. Chủ xe không phải mang xe đến, nhưng phải nộp lại biển số xe. Trường hợp mất giấy đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải có công văn (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân). Sau 60 ngày kể từ ngày nhận đơn hoặc công văn đề nghị, nếu không phát hiện nghi vấn thì cấp giấy sang tên di chuyển. Trường hợp cấp trước thời hạn nêu trên thì phải được phê duyệt đồng ý của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương). 4. Xe di chuyển sang địa phương khác nhưng chủ xe chưa đăng ký mà lại bán tiếp cho chủ xe mới, nếu thủ tục mua bán và lệ phí trước bạ đúng quy định thì tiếp nhận giải quyết đăng ký và gửi thông báo cho địa phương di chuyển xe biết để điều chỉnh sổ đăng ký xe. B. TRƯỜNG HỢP XE MIỄN THUẾ SỬ DỤNG KHÔNG ĐÚNG MỤC ĐÍCH: Xe là quà biếu, tặng; xe tạm nhập; xe dự án chưa hết hạn chuyển nhượng tại Việt Nam, thì trước khi đăng ký, chủ xe làm thủ tục xoá sổ tại cơ quan Cảnh sát giao thông, sau đó đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục nhập khẩu theo quy định và nộp lại hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát giao thông để làm thủ tục sang tên, di chuyển cho chủ mới. Trường hợp các loại xe trên chưa làm thủ tục xoá sổ, nhưng đã được cơ quan Hải quan thu, truy thu thuế nhập khẩu hoặc cơ quan chức năng của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan trả lời bằng văn bản không phải truy thu thuế thì được sang tên di chuyển bình thường và lưu văn bản đó vào hồ sơ xe. C. GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TỒN TẠI 1. Về chứng từ chuyển, nhượng xe: 1.1. Khi sang tên di chuyển, trong hồ sơ thiếu chứng từ, hoá đơn chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng không liên tục thì: - Xe đăng ký từ 01/9/1993 trở về trước được coi là hợp lệ: - Xe đăng ký từ ngày 02/9/1993 đến ngày 31/12/1995; chủ xe phải viết cam đoan có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác; cơ quan đăng ký xe tiếp nhận hồ sơ và đề xuất bằng văn bản với Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt quản lý) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (xe do địa phương đăng ký quản lý) phê duyệt giải quyết. 1.2. Xe mua bán qua nhiều chủ, nay không thể xác định được các chủ trung gian thì khi sang tên di chuyển phải có chứng từ chuyển nhượng của chủ xe đầu tiên và chủ xe cuối cùng, chủ xe phải có bản cam đoan chịu trách nhiệm có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Sau 60 ngày, nếu không có tranh chấp, khiếu kiện thì giải quyết đăng ký, sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 2. Xe mô tô có nguồn gốc nhập khẩu trái phép đã được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cho nộp thuế công thương nghiệp và giao cho Công an đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước, trong hồ sơ xe phải có đầy đủ chứng từ nộp thuế công thương nghiệp thì được tiếp nhận giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 3. Xe đã đăng ký nay phát hiện giấy chứng nhận nguồn gốc nhập khẩu (giấy Hải quan) giả hoặc bị tẩy xoá, đục lại số máy, số khung: - Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. - Trường hợp có kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra không phải là xe bị trộm cắp thì cơ quan đăng ký xe đề xuất với Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương), Giám đốc công an tỉnh, thành phố (ở địa phương) chuyển giao cho Cục Thuế địa phương truy thu thuế; khi chủ xe đã nộp thuế theo quy định thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 4. Xe của các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ nhập khẩu đã đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước và xe có nguồn gốc trước năm 1975 do chế độ cũ đăng ký, khi sang tên di chuyển nếu hồ sơ gốc thiếu thủ tục, nhưng không có tranh chấp khiếu kiện thì được giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số xe. 5. Xe đã đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước, nay cà lại số máy, số khung thấy khác nét chữ, số, nhưng vẫn đúng với số máy, số khung lưu trong hồ sơ gốc, thì chủ xe phải viết cam đoan và được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 6. Xe ôtô đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước có đóng dấu "không bán, đổi, cho, tặng” trên giấy đăng ký xe, nay không có tranh chấp, khiếu kiện thì được xem xét giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 7. Xe cải tạo đã đăng ký từ ngày 01/8/1995 trở về trước, trong hồ sơ thiếu biên bản kiểm nghiệm kỹ thuật thì theo quy định của Thông tư liên bộ Giao thông vận tải - Nội vụ số 223/TTLB ngày 07/12/1979 được xem xét giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số. 8. Xe lắp ráp tại Việt Nam đã đăng ký từ ngày 19/02/1998 trở về trước nếu có bản sao giấy chứng nhận sản phẩm đầu tiên hoặc bản sao biên bản nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu theo quy định của Bộ Giao thông vận tải thì được xem xét giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. IV. XOÁ SỔ ĐĂNG KÝ XE 1. Những trường hợp làm thủ tục xoá sổ đăng ký: 1.1. Xe cũ nát, không sử dụng được; 1.2. Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác; 1.3. Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1.4. Xe dự án được miễn thuế nhập khẩu, nay bán hoặc sử dụng sai mục đích. 2. Hồ sơ xoá sổ: 2.1. Giấy khai xoá sổ đăng ký (theo mẫu); 2.2. Công văn hoặc đơn đề nghị xoá sổ đăng ký; 2.3. Chủ xe không phải mang xe đến nhưng phải trả lại giấy đăng ký xe và biển số xe cho cơ quan Cảnh sát giao thông. V. QUẢN LÝ HỒ SƠ, BIỂN SỐ XE VÀ THẨM QUYỀN KÝ CÁC GIẤY TỜ 1. Quản lý hồ sơ xe: Hồ sơ đăng ký xe phải được quản lý theo đúng chế độ hồ sơ của Bộ Công an và do cơ quan đăng ký xe trực tiếp quản lý, bảo quản, khai thác theo đúng quy định của Bộ Công an. Mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý hồ sơ, làm mất, thất lạc hồ sơ đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. 2. Quy định và quản lý biển số xe: 2.1. Bộ Công an thống nhất quản lý và phát hành biển số xe trong toàn quốc. Trong mọi trường hợp, xe đã đăng ký, trước khi cấp biển số mới đều phải thu hồi, cắt góc và huỷ biển số cũ theo đúng quy định. Nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tẩy xoá, giả mạo biển số, bán biển số và lưu hành biển số xe không phải do Bộ Công an sản xuất, phát hành. 2.2. Biển số xe của các tổ chức, cá nhân trong nước: - Xe đăng ký tại Công an tỉnh, thành phố nào thì biển số mang ký hiệu của tỉnh, thành phố đó theo quy định. - Xe không làm kinh doanh của cơ quan hành chính sự nghiệp, xe Công an nhân dân, xe của các tổ chức chính trị, xã hội: biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng. - Xe của các doanh nghiệp, xe làm kinh tế của cơ quan hành chính sự nghiệp, xe cá nhân : biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen. 2.3. Biển số xe của tổ chức, cá nhân nước ngoài: - Xe của tổ chức quốc tế; của tổ chức, cá nhân nước nào thì mang ký hiệu riêng của nước đó theo quy định. - Xe của cơ quan, tổ chức ngoại giao, cá nhân nước ngoài có thân phận ngoại giao: biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen; có ký hiệu "NG" màu đỏ ở trước các chữ số. Riêng biển số xe của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền và của người đứng đầu cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc, có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số. - Xe của tổ chức, văn phòng đại diện, cá nhân người nước ngoài (kể cả lưu học sinh): biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "NN" màu đen. - Xe của các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, xe thuê của nước ngoài: biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "LD" màu đen. 2.4. Biển số xe tạm thời: bằng giấy màu trắng, chữ và số màu đen, kích thước của biển, số và chữ như biển số sản xuất bằng kim loại. 3. Quy định về biển số, kẻ chữ trên thành xe và cửa xe: 3.1. Biển số đăng ký phải gắn ở phía trước và phía sau của xe (nếu xe có kéo rơ moóc thì phải gắn một biển số ở thành sau rơ moóc). 3.2. Đối với các loại xe ôtô (trừ các loại xe du lịch có 5 chỗ ngồi trở xuống), chủ xe phải chấp hành các quy định như sau: - Kẻ biển số ở thành sau xe và hai bên thành xe; - Kẻ tải trọng, tự trọng vào hai bên cánh cửa xe; - Kẻ tên cơ quan, đơn vị vào hai bên cánh cửa xe (trừ xe riêng của công dân Việt Nam, nếu có nhu cầu thì kẻ tên vào hai bên cánh cửa xe) 3.3. Biển số đăng ký tạm thời được dán ở bên trong kính trước và sau xe. 4. Thẩm quyền ký các loại giấy tờ: 4.1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ký giấy đăng ký xe và các loại giấy tờ khác liên quan đến công tác đăng ký xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt trực tiếp đăng ký, quản lý. 4.2. Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký giấy đăng ký xe và các loại giấy tờ khác có liên quan đến công tác đăng ký xe do địa phương đăng ký, quản lý. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế cho Thông tư số 15/2000/TT-BCA(C11 ) ngày 08/12/2000 của Bộ Công an. 2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an để thực hiện tốt việc đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. 3. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. 4. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý xe. 5. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17194&Keyword=
2025-09-24T02:32:40.069379
../data\bocongan\012002TT-BCAC11\document.json
08/02/2007
THÔNG TƯ Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Thực hiện các Điều 48, 49 Luật Giao thông đường bộ đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Bộ Công an quy định việc đăng ký và cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: 1. 1. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe) gồm xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước khi tham gia giao thông đều phải đăng ký và gắn biển số theo quy định của Thông tư này. 1. 2. Thông tư này không áp dụng đối với việc đăng ký, quản lý xe quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng. 2. Cơ quan đăng ký xe: 2. 1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt: đăng ký xe ôtô của các cơ quan, cá nhân ngoại giao, các tổ chức quốc tế và xe của một số cơ quan Trung ương (có danh mục kèm theo). 2. 2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đăng ký xe của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, xe của doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng đang cư trú hoặc có trụ sở tại địa phương mình. 3. Trách nhiệm của chủ xe: 3. 1. Chủ xe phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của hồ sơ xe và xe. 3. 2. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, tẩy xoá số máy, số khung để đăng ký. 4. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký xe: Cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan. 5. Thời gian cấp đăng ký, biển số: 5. 1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp ngay giấy hẹn và biển số. 5. 2. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (không kể ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định), cơ quan đăng ký xe phải cấp giấy đăng ký xe hoặc hồ sơ xe cho chủ xe (trường hợp sang tên di chuyển) hoặc giấy chứng nhận xoá sổ (trường hợp xoá sổ đăng ký). Riêng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thời hạn không quá 07 ngày. 5. 3. Đăng ký xe tạm thời: sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp ngay đăng ký và biển số xe tạm thời. II. ĐĂNG KÝ XE A. CÁC LOẠI GIẤY TỜ CỦA CHỦ XE KHI ĐẾN ĐĂNG KÝ XE 1. Chủ xe là người Việt Nam: - Xuất trình giấy chứng minh nhân dân. - Trường hợp không có giấy chứng minh nhân dân thì phải xuất trình một trong những giấy tờ sau đây: + Hộ khẩu thường trú hoặc giấy chứng nhận tạm trú có thời hạn. + Bản sao quyết định điều động hoặc tiếp nhận công tác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu chưa có sổ hộ khẩu). + Chủ xe là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an): giấy giới thiệu của đơn vị công tác kèm theo giấy chứng minh Quân đội nhân dân, giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân, giấy chứng minh An ninh nhân dân, kể cả giấy chứng nhận tạm thời. + Trường hợp chủ xe là học sinh, sinh viên đăng ký xe: giấy giới thiệu tạm trú theo quy định và xuất trình thẻ học sinh, sinh viên. + Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài: giấy khai báo tạm trú theo quy định và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị). - Người được chủ xe uỷ quyền đăng ký xe: phải có giấy uỷ quyền của chủ xe (có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc cơ quan, đơn vị công tác) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân của mình. Trường hợp người đến đăng ký thay có hộ khẩu hoặc giấy tờ khác chứng minh là bố, mẹ, vợ, chồng, con của chủ xe thì không cần có giấy uỷ quyền. 2. Chủ xe là người nước ngoài: - Người nước ngoài (kể cả người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài): xuất trình hộ chiếu (còn giá trị) và giấy giới thiệu của cơ quan Việt Nam quản lý người nước ngoài đó. - Người có thân phận ngoại giao: xuất trình chứng minh thư ngoại giao (còn giá trị) và giấy giới thiệu của Cục phục vụ ngoại giao đoàn hoặc Sở Ngoại vụ. - Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam: xuất trình hộ chiếu (còn giá trị) giấy phép lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên cấp. 3. Chủ xe là cơ quan, tổ chức: - Chủ xe là cơ quan, tổ chức Việt Nam: giấy giới thiệu ghi rõ họ tên, chức vụ người đến đăng ký. - Chủ xe là doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng: giấy giới thiệu của Cục Quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật - Bộ Quốc phòng. - Chủ xe là cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế: giấy giới thiệu của Cục phục vụ ngoại giao đoàn hoặc Sở Ngoại vụ. - Chủ xe là doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: bản sao giấy phép đầu tư do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (ở Trung ương) hoặc do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương) cấp. Bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước đã cấp giấy phép đó. - Chủ xe là văn phòng đại diện: giấy phép đặt văn phòng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó. - Chủ xe là công ty nước ngoài trúng thầu mang xe vào sử dụng tại Việt Nam: bản sao giấy phép trúng thầu của Bộ, Ngành hoặc tổ chức kinh tế, xã hội (các bản sao đều phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó). - Chủ xe là các tổ chức phi chính phủ: bản sao giấy phép đặt văn phòng có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp giấy phép đó và giấy giới thiệu của cơ quan quản lý tổ chức phi chính phủ đó. 4. Giấy giới thiệu, và bản sao của các tổ chức, cá nhân quy định tại các điểm 1, 2, 3 nêu trên đều phải được lưu trong hồ sơ xe. B. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ XE 1. Thủ tục đăng ký xe gồm: 1. 1. Giấy khai đăng ký (theo mẫu); 1. 2. Chứng từ chuyển nhượng xe; 1. 3. Chứng từ lệ phí trước bạ; 1. 4. Chứng từ nguồn gốc của xe. 2. Chứng từ chuyển nhượng xe quy định tại điểm 1. 2. nêu trên gồm một trong các loại giấy tờ sau: Giấy bán, tặng; quyết định hoặc hợp đồng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật; hoá đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức, cá nhân không kinh doanh, khi nhượng, bán xe không cần phải có hoá đơn bán hàng. Trường hợp xe của đồng sở hữu, thì khi chuyển nhượng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các sở hữu chủ. 3. Chứng từ lệ phí trước bạ quy định tại điểm 1. 3. nêu trên được quy định cụ thể như sau: 3. 1. Biên lai thu lệ phí trước bạ hoặc giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước bằng tiền mặt hoặc bằng séc qua kho bạc Nhà nước (có xác nhận của kho bạc Nhà nước đã nhận tiền). 3. 2. Trường hợp được miễn lệ phí trước bạ, phải có tờ khai lệ phí trước bạ. 3. 3. Trường hợp nhiều xe chung một chứng từ lệ phí trước bạ, thì phải có tờ khai lệ phí trước bạ và bản sao chứng từ lệ phí trước bạ có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan đã cấp ra. 4. Chứng từ nguồn gốc xe quy định tại điểm 1. 4. nêu trên được quy định cụ thể như sau: 4. 1. Xe nhập khẩu nguyên chiếc; 4. 1. 1. Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại; - Tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định. - Xe là hàng viện trợ, phải có thêm giấy xác nhận viện trợ của Ban tiếp nhận viện trợ quốc tế - Bộ Tài chính. 4. 1. 2. Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển: - Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng phi mậu dịch theo quy định của Tổng cục Hải quan; - Tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Tổng cục Hải quan; - Biên lai thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: + Đối với các loại xe chở người dưới 24 chỗ ngồi, xe du lịch, xe vừa chở người vừa chở hàng, xe lam có giấy phép nhập khẩu sau ngày 01/01/1996 phải có biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt bản chính hoặc bản sao do đơn vị nhập uỷ thác nộp (bản sao do đơn vị nhập uỷ thác ký). Trừ những xe viện trợ không hoàn lại và xe nhập khẩu được hưởng tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao hoặc hưởng ưu đãi về chính sách thuế do Chính phủ quy định; + Trường hợp xe là quà biếu, xe là tài sản di chuyển vào Việt Nam vượt quá định lượng theo quy định của Tổng cục Hải quan thì phải có thêm biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt; + Các trường hợp không phải có biên lai thuế nhập khẩu hoặc biên lai thuế tiêu thụ đặc biệt gồm: xe tạm nhập của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao; được hưởng ưu đãi về chính sách thuế; đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được trở về định cư ở Việt Nam; xe được nhập theo Nghị định của Chính phủ hoặc Hiệp định giữa hai nhà nước theo chế độ tạm nhập, tái xuất; xe là quà biếu, tài sản di chuyển đúng định lượng quy định của Tổng cục Hải quan. - Xe chuyên dùng có thuế suất bằng 0% thì chỉ cần tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch theo mẫu quy định của Tổng cục Hải quan trong đó có ghi rõ nhãn hiệu xe, số máy, số khung. 4. 2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Xe lắp ráp tại Việt Nam mang nhãn hiệu hàng hoá nước ngoài nếu lắp ráp thành xe nhãn hiệu hàng hoá trong nước hoặc lắp ráp tiếp thành loại xe khác thì mỗi lần lắp ráp phải có một phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. - Tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu (đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe ôtô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu). 4. 3. Xe cải tạo: 4. 3. 1. Xe thay đổi tính chất chuyên chở: - Giấy đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng được phép nhập khẩu); - Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cải tạo theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Không giải quyết đăng ký các xe ôtô khác cải tạo thành xe ôtô chở khách; xe chuyên dùng chuyển đổi tính năng, công dụng (gọi tắt là công năng) trước 5 năm và xe đông lạnh trước 3 năm (kể từ ngày nhập khẩu) theo quy định của Chính phủ. 4. 3. 2. Xe thay tổng thành máy, thân máy (bloc) hoặc tổng thành khung nhập khẩu: - Giấy đăng ký xe; - Bản chính xác nhận của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho tổng thành đó nhập khẩu (nhập theo hợp đồng thương mại). Trường hợp nhập khẩu phi mậu dịch thì phải có bản chính tờ khai hàng nhập khẩu phi mậu dịch và biên lai thu thuế xuất nhập khẩu; - Trường hợp tổng thành máy, thân máy (Bloc) hoặc tổng thành khung khác nhãn hiệu, thông số kỹ thuật thì phải có giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ cải tạo theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. 4. 3. 3. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Bloc) hoặc tổng thành khung sản xuất trong nước: - Giấy đăng ký xe; - Chứng từ bán tổng thành của cơ sở sản xuất; - Biên bản kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) của cơ sở sản xuất. 4. 3. 4. Trường hợp tổng thành máy hoặc tổng thành khung của xe đã đăng ký dùng để thay thế cho xe khác thì phải có giấy xoá sổ đăng ký. Giấy xoá sổ đăng ký phải ghi rõ cấp cho tổng thành máy hoặc tổng thành khung. 4. 4. Xe xử lý tịch thu sung quỹ nhà nước: - Quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền); - Hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ nhà nước do Bộ Tài chính phát hành hoặc văn bản xác lập quyền sở hữu nhà nước của cơ quan có thẩm quyền. Việc đăng ký xe tịch thu sung quỹ nhà nước được thực hiện trên cơ sở hiện trạng số máy, số khung của xe ghi trong quyết định và hoá đơn trên, nhưng xe phải cùng chủng loại, cùng thông số kỹ thuật. 4. 5. Xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án: - Bản sao quyết định của Toà án hoặc trích lục bản án; - Quyết định thi hành án của phòng thi hành án; - Chứng từ thu tiền hoặc biên bản bàn giao tài sản. Trường hợp xe phát mại thì phải có nguồn gốc hợp lệ theo quy định tại Thông tư này và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có xe bị phát mại. Xe chưa rõ nguồn gốc hoặc không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có tài sản bị phát mại thì không tiếp nhận giải quyết đăng ký mà phải hướng dẫn chủ xe đến nơi đã ra quyết định phát mại để giải quyết. 4. 6. Xe có quyết định xử lý vật chứng: - Quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Toà án (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền cấp); - Phiếu thu tiền hoặc giấy biên nhận tiền hoặc biên bản bàn giao (nếu là người bị hại). 4. 7. Xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại: - Bản sao hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm (do tổ chức tín dụng ký sao); - Hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản hoặc biên bản nhận tài sản hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); - Đăng ký xe hoặc chứng từ nguồn gốc của xe; - Chứng từ thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe là tài sản cầm cố, thế chấp có tranh chấp, xe khởi kiện, xe là tài sản thi hành án, phải có thêm: + Trích lục bản án hoặc sao bản án hoặc sao quyết định của Toà án; + Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án. Trường hợp xe đã đăng ký ở địa phương khác, phải có thêm phiếu sang tên di chuyển kèm theo hồ sơ gốc (giấy khai sang tên di chuyển do chủ xe, hoặc cơ quan ký hợp đồng bán tài sản, các tổ chức tín dụng ký xác nhận). 4. 8. Xe của các dự án: 4. 8. 1. Xe các dự án viện trợ của nước ngoài khi hết hạn, bàn giao cho phía Việt Nam: - Chứng từ nguồn gốc của xe như quy định tại các điểm 4. 1, 4. 2 Mục B phần II Thông tư này; - Quyết định tiếp nhận của Thủ trưởng cấp Bộ (đối với cơ quan Trung ương) hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan ở địa phương); - Biên bản bàn giao xe theo quy định. Sau khi đã được cấp giấy đăng ký xe mang tên cơ quan Việt Nam, khi bán xe: xe thuộc các cơ quan trung ương thì do Thủ trưởng cấp Bộ quyết định; xe thuộc địa phương quản lý thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Trường hợp xe viện trợ nhân đạo, được sang tên di chuyển bình thường theo quy định. 4. 8. 2. Xe (đã đăng ký) của dự án này bàn giao cho dự án khác: - Văn bản bàn giao xe của chủ dự án nước ngoài; - Công văn xác nhận hàng viện trợ của Ban tiếp nhận viện trợ quốc tế - Bộ Tài chính; - Kèm theo hồ sơ gốc của xe đã đăng ký. 4. 9. Xe dự trữ quốc gia: - Lệnh xuất bán hàng dự trữ quốc gia của Cục Dự trữ quốc gia. Trường hợp nhiều xe thì phải sao cho mỗi xe một lệnh (bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của Cục Dự trữ quốc gia). - Tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe hoặc giấy xác nhận của Tổng cục Hải quan (mỗi xe 1 bản chính) ghi rõ nhãn hiệu, số máy, số khung; - Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho theo quy định của Bộ Tài chính do các Chi cục Dự trữ quốc gia cấp, mỗi xe một hoá đơn ghi rõ nhãn hiệu, số máy và số khung. 4. 10. Xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu: - Quyết định truy thu thuế của Cục Hải quan hoặc Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Giấy nộp tiền thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước. Trường hợp xe đã đăng ký thì ngoài 2 giấy tờ trên còn phải có hồ sơ gốc của xe. 4. 11. Xe ôtô chuyên dùng thuê của nước ngoài: - Hợp đồng thuê; - Tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Tổng cục Hải quan. 4. 12. Xe bị mất chứng từ nguồn gốc: - Đơn của chủ xe cam đoan trước pháp luật về việc mất chứng từ nguồn gốc của xe, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. - Bản sao chứng từ nguồn gốc của xe có xác nhận của cơ quan đã cấp chứng từ đó. Trường hợp phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng của Bộ Giao thông vận tải phải cấp lại (hồ sơ đăng ký phải đầy đủ như quy định tại Mục B phần II Thông tư này). Sau 30 ngày nếu không phát hiện có vi phạm hoặc tranh chấp gì thì làm thủ tục đăng ký xe. 4. 13. Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự: Phải có chứng từ nguồn gốc của xe như quy định tại một trong các điểm 4. 1; 4. 2; 4. 3 Mục B phần II Thông tư này, đồng thời phải có quyết định cho bán xe của Tổng cục Hậu cần - Bộ Công an (đối với xe Công an) hoặc của Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng (đối với quân đội). Trường hợp xe có nguồn gốc do Bộ Quốc phòng cấp phát, trang bị trước ngày 31/12/1989 và đã được đăng ký trước ngày 27/12/1995, phải có bản chính giấy chứng nhận của Cục quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật cấp cho từng xe. 4. 14. Đăng ký và quản lý xe của các doanh nghiệp làm kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng: 4. 14. 1. Xe do quân đội đăng ký quản lý từ trước 31/12/1989: - Hồ sơ gốc của xe (trường hợp không có hồ sơ gốc, chủ xe phải có bản cam kết nói rõ nguồn gốc xe. Bản cam kết phải có xác nhận của Thủ trưởng cấp quân khu, quân đoàn, quân binh chủng hoặc các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng). - Giấy chứng nhận đăng ký xe của Cục quản lý xe máy - Tổng cục kỹ thuật Bộ Quốc phòng. 4. 14. 2. Xe do quân đội quản lý từ sau ngày 31/12/1989 hoặc xe do đơn vị quân đội tự mua hoặc mới được trang bị, khi đăng ký phải có hồ sơ gốc hợp lệ theo quy định tại điểm 4 mục B phần II Thông tư này. 4. 15. Xe là tài sản chung của vợ chồng: - Chủ xe tự nguyện khai là tài sản chung của vợ chồng, phải ghi đầy đủ họ, tên của hai vợ chồng trong giấy khai đăng ký và có chữ ký của cả hai vợ chồng. Trường hợp xe thuộc tài sản chung của vợ chồng đã đăng ký trước ngày 18/10/2001, nay có nguyện vọng đổi lại "Đăng ký xe" đểghi đủ tên cả hai vợ chồng thì phải làm lại giấy khai đăng ký xe có đủ chữ ký của vợ và chồng. 4. 16. Xe quân đội (trừ xe làm kinh tế) có yêu cầu cấp biển số xe dân sự: - Công văn đề nghị của lãnh đạo Bộ Quốc phòng; - Trường hợp xe đã đăng ký, phải có bản sao hồ sơ gốc của xe (có xác nhận của Cục quản lý xe máy - Tổng cục kỹ thuật); - Trường hợp xe chưa đăng ký, phải có đầy đủ thủ tục đăng ký theo quy định tại mục B phần II Thông tư này. 4. 17. Xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm 3 trở lên: - Thủ tục theo mục B phần II Thông tư này. - Đối tượng đăng ký sử dụng theo quy định của Chính phủ. 4. 18. Các loại xe có kết cấu tương tự như xe ôtô: - Thủ tục, hồ sơ theo đúng quy định tại Mục B phần II Thông tư này. - Trường hợp xe sản xuất lắp ráp trước ngày 31/12/1995 có chứng từ nguồn gốc không đảm bảo theo quy định thì chủ xe phải có cam kết về nguồn gốc hợp lệ của xe (có xác nhận của chính quyền địa phương); biên bản xác nhận của Ngành giao thông kiểm định kỹ thuật an toàn phương tiện. C. XE ÔTÔ ĐĂNG KÝ TẠM THỜI 1. Đối tượng được đăng ký tạm thời: 1. 1. Xe mới nhập khẩu và xe sản xuất lắp ráp lưu hành từ kho, cảng, nhà máy, đại lý bán xe đến nơi đăng ký hoặc về các đại lý, kho lưu trữ khác. 1. 2. Xe có phiếu sang tên di chuyển đi địa phương khác. 1. 3. Xe làm thủ tục xoá sổ để tái xuất về nước hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1. 4. Xe được phép tạm nhập phục vụ hội nghị quốc tế, hội chợ, triển lãm, thể dục thể thao, quảng cáo. 1. 5. Xe được phép quá cảnh (trừ xe có Hiệp định ký kết của Nhà nước). 1. 6. Xe cải tạo hoặc xe mới xuất xưởng chạy thử nghiệm trên đường giao thông công cộng. 2. Thủ tục đăng ký: 2. 1. Xe sản xuất lắp ráp tại Việt Nam: - Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu); - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng theo quy định Bộ Giao thông vận tải; - Hoá đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. 2. 2. Xe nhập khẩu: - Giấy khai đăng ký (theo mẫu); - Thông báo thuế của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho xe đó nhập khẩu; - Giấy phép nhập khẩu; tờ khai hàng hoá nhập khẩu hoặc bản kê khai chi tiết nhập xe. Trường hợp xe đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu thì thủ tục đăng ký tạm bao gồm các loại giấy tờ theo quy định tại mục B phần II Thông tư này (trừ chứng từ lệ phí trước bạ). Khi đến làm thủ tục đăng ký tạm thời, chủ xe mang toàn bộ hồ sơ gốc và bản sao hồ sơ gốc để đối chiếu, không phải mang xe đến kiểm tra nhưng phải cà số máy, số khung dán vào giấy khai đăng ký. Khi cấp đăng ký tạm thời thì trả hồ sơ gốc, cơ quan đăng ký xe lưu lại bản sao hồ sơ gốc. 2. 3. Thời hạn đăng ký tạm thời: 2. 3. 1. Thời hạn có giá trị của giấy đăng ký xe tạm thời tối đa là 7 ngày; nếu quá 7 ngày thì phải được Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương) phê duyệt đồng ý nhưng cũng không được quá 15 ngày. 2. 3. 2. Xe được phép tạm nhập: quảng cáo, hội chợ, triển lãm thể thao hoặc phục vụ các mục đích hợp pháp khác thì thời hạn được cấp theo thời gianghi trong giấy cho phép tạm nhập. D. ĐỔI, CẤP LẠI GIẤY ĐĂNG KÝ HOẶC BIỂN SỐ XE 1. Đổi lại giấy đăng ký hoặc biển số xe: Những trường hợp sau đây được đổi lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn; giấy đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ. Khi đề nghị đổi giấy đăng ký xe hoặc biển số xe, chủ xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân) có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Cơ quan đăng ký xe cấp lại giấy đăng ký, biển số xe (theo số cũ), trừ loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số. Khi đến làm thủ tục đề nghị đổi lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe bị rách, hư hỏng, mờ phải nộp lại giấy đăng ký hoặc biển số xe cũ và không bắt buộc phải mang theo xe. 2. Cấp lại giấy đăng ký hoặc biển số xe bị mất: Chủ xe bị mất giấy đăng ký xe hoặc biển số xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân) đề nghị cấp lại có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Chủ xe có thể uỷ quyền cho người khác làm thay và không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe. Sau thời hạn 60 ngày nếu không phát hiện nghi vấn, thì giải quyết cấp lại giấy đăng ký xe hoặc biển số xe (theo biển số cũ) trường hợp loại biển 3 số thì đổi sang loại biển 4 số. Trường hợp cấp trước thời hạn, phải được phê duyệt đồng ý của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương). Đ. TRƯỜNG HỢP ĐÓNG LẠI SỐ MÁY, SỐ KHUNG 1. Xe nhập khẩu không có số máy, số khung; trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo biển số đăng ký. Trường hợp số máy, số khung của xe có số Etekét, số ghi bằng sơn, số bị mờ thì được đóng lại theo số được cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe. 2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: - Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc số đóng bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng; - Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định. Nếu cơ quan giám định kết luận xe bị đục lại số máy hoặc số khung thì không tiếp nhận đăng ký; Trường hợp giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thuỷ thì được đóng lại theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng. 3. Trường hợp xe đã đăng ký nếu thay thế máy mới hoặc thay thân máy (Bloc) chưa có số máy thì đóng số theo số biển số xe đăng ký. 4. Xe có quyết định tịch thu hoặc xe có quyết định xử lý vật chứng: trường hợp số máy, số khung bị đục, tẩy xoá thì được đóng lại số theo số biển số. III. SANG TÊN, DI CHUYỂN XE Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển nhượng xe, người mua xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó (hoặc uỷ quyền cho người khác đến) làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. A. THỦ TỤC SANG TÊN DI CHUYỂN XE: 1. Xe sang tên trong cùng tỉnh, thành phố thủ tục gồm: 1. 1. Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu); 1. 2. Giấy khai sang tên di chuyển (theo mẫu); 1. 3. Giấy đăng ký xe; 1. 4. Chứng từ chuyển nhượng theo quy định tại điểm 2 mục B phần II Thông tư này. 1. 5. Chứng từ lệ phí trước bạ (theo quy định). Trường hợp này giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số cùng loại biển) và cấp lại giấy đăng ký xe cho chủ xe mới. 2. Xe sang tên di chuyển đi tỉnh, thành phố khác, thủ tục gồm: 2. 1. 02 giấy khai sang tên di chuyển (theo mẫu); 2. 2. Giấy đăng ký xe; 2. 3. Chứng từ chuyển nhượng theo quy định tại điểm 2 mục B phần II Thông tư này. Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra. 3. Xe di chuyển nguyên chủ, thủ tục gồm: 3. 1. Quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu (thay giấy tờ mua bán xe); 3. 2. 02 giấy khai sang tên, di chuyển (theo mẫu); 3. 3. Giấy đăng ký xe. Chủ xe không phải mang xe đến, nhưng phải nộp lại biển số xe. Trường hợp mất giấy đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải có công văn (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn (đối với cá nhân). Sau 60 ngày kể từ ngày nhận đơn hoặc công văn đề nghị, nếu không phát hiện nghi vấn thì cấp giấy sang tên di chuyển. Trường hợp cấp trước thời hạn nêu trên thì phải được phê duyệt đồng ý của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ở địa phương). 4. Xe di chuyển sang địa phương khác nhưng chủ xe chưa đăng ký mà lại bán tiếp cho chủ xe mới, nếu thủ tục mua bán và lệ phí trước bạ đúng quy định thì tiếp nhận giải quyết đăng ký và gửi thông báo cho địa phương di chuyển xe biết để điều chỉnh sổ đăng ký xe. B. TRƯỜNG HỢP XE MIỄN THUẾ SỬ DỤNG KHÔNG ĐÚNG MỤC ĐÍCH: Xe là quà biếu, tặng; xe tạm nhập; xe dự án chưa hết hạn chuyển nhượng tại Việt Nam, thì trước khi đăng ký, chủ xe làm thủ tục xoá sổ tại cơ quan Cảnh sát giao thông, sau đó đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục nhập khẩu theo quy định và nộp lại hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát giao thông để làm thủ tục sang tên, di chuyển cho chủ mới. Trường hợp các loại xe trên chưa làm thủ tục xoá sổ, nhưng đã được cơ quan Hải quan thu, truy thu thuế nhập khẩu hoặc cơ quan chức năng của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan trả lời bằng văn bản không phải truy thu thuế thì được sang tên di chuyển bình thường và lưu văn bản đó vào hồ sơ xe. C. GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TỒN TẠI 1. Về chứng từ chuyển, nhượng xe: 1. 1. Khi sang tên di chuyển, trong hồ sơ thiếu chứng từ, hoá đơn chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng không liên tục thì: - Xe đăng ký từ 01/9/1993 trở về trước được coi là hợp lệ: - Xe đăng ký từ ngày 02/9/1993 đến ngày 31/12/1995; chủ xe phải viết cam đoan có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác; cơ quan đăng ký xe tiếp nhận hồ sơ và đề xuất bằng văn bản với Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt quản lý) hoặc Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (xe do địa phương đăng ký quản lý) phê duyệt giải quyết. 1. 2. Xe mua bán qua nhiều chủ, nay không thể xác định được các chủ trung gian thì khi sang tên di chuyển phải có chứng từ chuyển nhượng của chủ xe đầu tiên và chủ xe cuối cùng, chủ xe phải có bản cam đoan chịu trách nhiệm có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đơn vị công tác. Sau 60 ngày, nếu không có tranh chấp, khiếu kiện thì giải quyết đăng ký, sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 2. Xe mô tô có nguồn gốc nhập khẩu trái phép đã được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cho nộp thuế công thương nghiệp và giao cho Công an đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước, trong hồ sơ xe phải có đầy đủ chứng từ nộp thuế công thương nghiệp thì được tiếp nhận giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 3. Xe đã đăng ký nay phát hiện giấy chứng nhận nguồn gốc nhập khẩu (giấy Hải quan) giả hoặc bị tẩy xoá, đục lại số máy, số khung: - Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. - Trường hợp có kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra không phải là xe bị trộm cắp thì cơ quan đăng ký xe đề xuất với Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (ở Trung ương), Giám đốc công an tỉnh, thành phố (ở địa phương) chuyển giao cho Cục Thuế địa phương truy thu thuế; khi chủ xe đã nộp thuế theo quy định thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 4. Xe của các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ nhập khẩu đã đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước và xe có nguồn gốc trước năm 1975 do chế độ cũ đăng ký, khi sang tên di chuyển nếu hồ sơ gốc thiếu thủ tục, nhưng không có tranh chấp khiếu kiện thì được giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số xe. 5. Xe đã đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước, nay cà lại số máy, số khung thấy khác nét chữ, số, nhưng vẫn đúng với số máy, số khung lưu trong hồ sơ gốc, thì chủ xe phải viết cam đoan và được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 6. Xe ôtô đăng ký từ ngày 31/12/1990 trở về trước có đóng dấu "không bán, đổi, cho, tặng” trên giấy đăng ký xe, nay không có tranh chấp, khiếu kiện thì được xem xét giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 7. Xe cải tạo đã đăng ký từ ngày 01/8/1995 trở về trước, trong hồ sơ thiếu biên bản kiểm nghiệm kỹ thuật thì theo quy định của Thông tư liên bộ Giao thông vận tải - Nội vụ số 223/TTLB ngày 07/12/1979 được xem xét giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số. 8. Xe lắp ráp tại Việt Nam đã đăng ký từ ngày 19/02/1998 trở về trước nếu có bản sao giấy chứng nhận sản phẩm đầu tiên hoặc bản sao biên bản nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu theo quy định của Bộ Giao thông vận tải thì được xem xét giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. IV. XOÁ SỔ ĐĂNG KÝ XE 1. Những trường hợp làm thủ tục xoá sổ đăng ký: 1. 1. Xe cũ nát, không sử dụng được; 1. 2. Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác; 1. 3. Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1. 4. Xe dự án được miễn thuế nhập khẩu, nay bán hoặc sử dụng sai mục đích. 2. Hồ sơ xoá sổ: 2. 1. Giấy khai xoá sổ đăng ký (theo mẫu); 2. 2. Công văn hoặc đơn đề nghị xoá sổ đăng ký; 2. 3. Chủ xe không phải mang xe đến nhưng phải trả lại giấy đăng ký xe và biển số xe cho cơ quan Cảnh sát giao thông. V. QUẢN LÝ HỒ SƠ, BIỂN SỐ XE VÀ THẨM QUYỀN KÝ CÁC GIẤY TỜ 1. Quản lý hồ sơ xe: Hồ sơ đăng ký xe phải được quản lý theo đúng chế độ hồ sơ của Bộ Công an và do cơ quan đăng ký xe trực tiếp quản lý, bảo quản, khai thác theo đúng quy định của Bộ Công an. Mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý hồ sơ, làm mất, thất lạc hồ sơ đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. 2. Quy định và quản lý biển số xe: 2. 1. Bộ Công an thống nhất quản lý và phát hành biển số xe trong toàn quốc. Trong mọi trường hợp, xe đã đăng ký, trước khi cấp biển số mới đều phải thu hồi, cắt góc và huỷ biển số cũ theo đúng quy định. Nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tẩy xoá, giả mạo biển số, bán biển số và lưu hành biển số xe không phải do Bộ Công an sản xuất, phát hành. 2. 2. Biển số xe của các tổ chức, cá nhân trong nước: - Xe đăng ký tại Công an tỉnh, thành phố nào thì biển số mang ký hiệu của tỉnh, thành phố đó theo quy định. - Xe không làm kinh doanh của cơ quan hành chính sự nghiệp, xe Công an nhân dân, xe của các tổ chức chính trị, xã hội: biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng. - Xe của các doanh nghiệp, xe làm kinh tế của cơ quan hành chính sự nghiệp, xe cá nhân: biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen. 2. 3. Biển số xe của tổ chức, cá nhân nước ngoài: - Xe của tổ chức quốc tế; của tổ chức, cá nhân nước nào thì mang ký hiệu riêng của nước đó theo quy định. - Xe của cơ quan, tổ chức ngoại giao, cá nhân nước ngoài có thân phận ngoại giao: biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen; có ký hiệu "NG" màu đỏ ở trước các chữ số. Riêng biển số xe của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền và của người đứng đầu cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc, có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số. - Xe của tổ chức, văn phòng đại diện, cá nhân người nước ngoài (kể cả lưu học sinh): biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "NN" màu đen. - Xe của các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, xe thuê của nước ngoài: biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "LD" màu đen. 2. 4. Biển số xe tạm thời: bằng giấy màu trắng, chữ và số màu đen, kích thước của biển, số và chữ như biển số sản xuất bằng kim loại. 3. Quy định về biển số, kẻ chữ trên thành xe và cửa xe: 3. 1. Biển số đăng ký phải gắn ở phía trước và phía sau của xe (nếu xe có kéo rơ moóc thì phải gắn một biển số ở thành sau rơ moóc). 3. 2. Đối với các loại xe ôtô (trừ các loại xe du lịch có 5 chỗ ngồi trở xuống), chủ xe phải chấp hành các quy định như sau: - Kẻ biển số ở thành sau xe và hai bên thành xe; - Kẻ tải trọng, tự trọng vào hai bên cánh cửa xe; - Kẻ tên cơ quan, đơn vị vào hai bên cánh cửa xe (trừ xe riêng của công dân Việt Nam, nếu có nhu cầu thì kẻ tên vào hai bên cánh cửa xe) 3. 3. Biển số đăng ký tạm thời được dán ở bên trong kính trước và sau xe. 4. Thẩm quyền ký các loại giấy tờ: 4. 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ký giấy đăng ký xe và các loại giấy tờ khác liên quan đến công tác đăng ký xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt trực tiếp đăng ký, quản lý. 4. 2. Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký giấy đăng ký xe và các loại giấy tờ khác có liên quan đến công tác đăng ký xe do địa phương đăng ký, quản lý. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế cho Thông tư số 15/2000/TT - BCA(C11 ) ngày 08/12/2000 của Bộ Công an. 2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an để thực hiện tốt việc đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. 3. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. 4. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý xe. 5. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. /.
Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của Bộ luật Hình sự năm 1999
01/2003/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP
11/08/2003
Thông tư liên tịch
21/09/2003
Công báo số 145, năm 2003
06/09/2003
Toà án nhân dân tối cao
Phó Chánh án
Đặng Quang Phương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII "Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân" của Bộ luật Hình sự năm 1999 _____________________________________ Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại chương XXIII "Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân" của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự), Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: I. VỀ CHỦ THỂ CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 315 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Quân nhân tại ngũ là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phục vụ trực tiếp trong Quân đội. Quân nhân bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. 2. Quân nhân dự bị là công dân được đăng ký vào ngạch dự bị động viên theo Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên. Quân nhân dự bị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian người đó được tập trung huấn luyện. Được coi là quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện trong các trường hợp sau đây: a) Tập trung huấn luyện chính trị, quân sự thường kỳ hàng năm; b) Tập trung diễn tập; c) Tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên; d) Tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu. 3. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong Quân đội bao gồm: a) Công nhân Quốc phòng (do hợp đồng lao động hoặc được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội) và Công chức Quốc phòng. Những người này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian họ tham gia chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; b) Công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vào phục vụ Quân đội khi: - Có lệnh tổng động viên, động viên cục bộ; - Có chiến tranh; - Có nhu cầu chiến đấu để bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà chưa đến mức phải động viên cục bộ. Những người trên đây chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian được trưng tập đó. 4. Dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu là người thuộc một bộ phận dân quân, tự vệ được giao cho đơn vị quân đội khi có nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị quân đội. Dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian phối thuộc được quy định trong quyết định của cấp có thẩm quyền. II. VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM, TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ ĐỊNH TỘI HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT 1. Về các tình tiết "sĩ quan", "chỉ huy" quy định tại điểm a khoản 2 các Điều 316, 322, 323, 324, 325, 326, 337 và 338 Bộ luật Hình sự. a) "Sĩ quan" là cán bộ quân đội được Nhà nước phong quân hàm cấp uý, cấp tá, cấp tướng và tương đương. Sĩ quan bao gồm sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị. b) "Chỉ huy" là cán bộ quân đội có chức vụ từ trung đội trưởng và tương đương trở lên. Chức vụ tương đương được cơ quan có thẩm quyền quy định. 2. Về các khái niệm "người chỉ huy", "cấp trên" quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 319 Bộ luật Hình sự và khái niệm "cấp dưới" quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự. a) "Người chỉ huy" là cán bộ quân đội được giao phụ trách cơ quan, đơn vị thuộc quyền, có những nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thuộc cơ quan, đơn vị đó. b) Để xác định là "cấp trên" theo quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 319 Bộ luật Hình sự và "cấp dưới" theo quy định tại khoản 1 Điều 320 BLHS thì giữa người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) phải có quan hệ công tác và được xác định như sau: b1) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, thì: - Người có chức vụ cao hơn là cấp trên, người có chức vụ thấp hơn là cấp dưới, mà không phân biệt cấp bậc; - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng chức vụ. b2) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) không cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, thì: - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên, mà không phân biệt chức vụ trong Quân đội; - Người có chức vụ trong Quân đội cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng cấp bậc. b3) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) không cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, nhưng cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian nhất định, thì: - Người được giao phụ trách là cấp trên mà không phân biệt cấp bậc, chức vụ; - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên mà không phân biệt chức vụ, nếu không có ai được giao phụ trách; - Người có chức vụ trong Quân đội cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng cấp bậc và không có ai được giao phụ trách. 3. Về khái niệm "đồng đội" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Các quân nhân không phân biệt cấp bậc, chức vụ, cùng biên chế hay không cùng biên chế trong cùng một đơn vị đều được coi là "đồng đội" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nếu việc phạm tội làm nhục, hành hung nhau không liên quan đến quan hệ công tác. 4. Về khái niệm "mệnh lệnh" quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 317 Bộ luật Hình sự. "Mệnh lệnh" là mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền bắt buộc cấp dưới phải chấp hành. Mệnh lệnh có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng tín hiệu lệnh. Mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền phải đúng pháp luật. Trường hợp người ra mệnh lệnh trái pháp luật thì cần phân biệt như sau: a) Nếu người chấp hành mệnh lệnh không biết mệnh lệnh đó là trái pháp luật, thì người ra mệnh lệnh đó phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh đó; b) Nếu người chấp hành mệnh lệnh biết rõ mệnh lệnh đó là trái pháp luật, thì: - Nếu người đó vẫn chấp hành mà không có ý kiến phát hiện, đề đạt gì, thì cả người ra mệnh lệnh và người chấp hành mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh đó; - Nếu người đó đã phát hiện, đề đạt với người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu bắt buộc phải chấp hành thì chỉ người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh trái pháp luật đó. 5. Về các tình tiết "phạm tội trong chiến đấu", "phạm tội trong khu vực có chiến sự", "phạm tội trong thời chiến" quy định tại các điều luật tương ứng: khoản 3 Điều 316, khoản 2 Điều 317, khoản 3 Điều 318, khoản 1 Điều 325, điểm c khoản 2 Điều 326, khoản 2 Điều 330, khoản 2 Điều 331, khoản 1 Điều 332, khoản 2 Điều 333, khoản 2 Điều 334, khoản 1 Điều 337 và điểm c khoản 2 Điều 338 Bộ luật Hình sự. a) "Phạm tội trong chiến đấu" là phạm tội trong thời gian người phạm tội đang trực tiếp chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu. b) "Phạm tội trong khu vực có chiến sự" là phạm tội trong khu vực đang có các hoạt động tác chiến quân sự giữa ta và địch. c) "Phạm tội trong thời chiến" là phạm tội trong khoảng thời gian đang có chiến tranh ở nước ta. Tình trạng chiến tranh do Chủ tịch nước công bố theo quyết định của Quốc hội hay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. 6. Về các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại các điều từ Điều 326 đến Điều 339 Bộ luật Hình sự. Khi áp dụng các tình tiết này cần chú ý: a) Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra, tức là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Hậu quả đó có thể là hậu quả vật chất (như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, về tài sản, về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự … ) hoặc phi vật chất như gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về an ninh quốc phòng; ảnh hưởng đến khả năng và tình trạng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội; ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội; mối quan hệ quân dân v.v … b) Để xác định thế nào là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng phải xem xét đánh giá một cách tổng hợp, toàn diện các loại hậu quả do hành vi phạm tội gây ra gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, thiệt hại về vũ khí, trang bị và thiệt hại phi vật chất. c) Việc xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, về tài sản được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999. d) Việc xác định thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự như sau: d1) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thuộc một trong các trường hợp sau được coi là gây hậu quả nghiêm trọng: - Từ 3 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; - Từ 1 đến 5 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; - Từ 5 đến 15 quả mìn, lựu đạn; - Từ 3 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; - Từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; - Từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; - Từ 10 đến 30 kg thuốc nổ các loại; - Từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; - Từ 3.000 đến 10.000 m dây cháy chậm, dây nổ v.v … d2) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thuộc một trong các trường hợp sau được coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng: - Từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; - Từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; - Từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; - Từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo; - Từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; - Từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; - Từ trên 31 kg đến 100 kg thuốc nổ các loại; - Từ 3.001 đến 10.000 xuỳ nổ hoặc ống nổ; - Từ 10.000 đến 30.000 m dây cháy chậm, dây nổ v.v … d3) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự với số lượng trên mức tối đa được hướng dẫn tại điểm d.2 mục 6 này là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. d4) Trường hợp gây thiệt hại các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự khác nhau mà mỗi loại chưa đến mức được hướng dẫn tại điểm d.1 mục 6 này thì được coi là gây hậu quả nghiêm trọng nếu tổng thiệt hại tương ứng với mức được hướng dẫn tại điểm d.1 mục 6 này. Ví dụ: phạm tội gây thiệt hại 2 khẩu súng trường (66% mức hướng dẫn tối thiểu), 3 kg thuốc nổ (30% mức hướng dẫn tối thiểu) và 300 nụ xuỳ (30% mức hướng dẫn tối thiểu) được coi là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng (tổng cộng thiệt hại các loại là 126%, trên mức tối thiểu được hướng dẫn). Sử dụng cách tính tương tự như vậy để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp gây thiệt hại các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự khác nhau mà mỗi loại chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm d.2 hoặc d.3 mục 6 này. đ) Đối với thiệt hại phi vật chất thì tuỳ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể để xác định hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Khi đánh giá cần chú ý đến các hậu quả như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về an ninh quốc phòng; khả năng, sức mạnh và tình trạng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị; việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; uy tín, danh dự của Quân đội; mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội; mối quan hệ quân dân v.v … 7. Khi áp dụng Điều 322, Điều 324 và Điều 325 Bộ luật Hình sự cần chú ý: a) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó không bị mất mát, hư hỏng hoặc tuy bị mất mát, hư hỏng nhưng chưa đến mức được coi là hậu quả nghiêm trọng thì áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; b) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả nghiêm trọng thì áp dụng cả điểm b và điểm d khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 324 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; c) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả rất nghiêm trọng thì áp dụng cả điểm b và điểm d khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c và điểm d khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; d) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì áp dụng khoản 3 Điều 322 hoặc khoản 3 Điều 324 hoặc khoản 3 Điều 325 Bộ luật Hình sự; đ) Trong trường hợp trước khi đầu hàng địch hoặc bỏ vị trí chiến đấu hoặc đào ngũ người phạm tội đã phá huỷ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thì không áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 đối với người phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp này người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 334 Bộ luật Hình sự. e) "Tài liệu quan trọng" được hiểu là tài liệu bí mật công tác quân sự hoặc tuy không phải là tài liệu bí mật công tác quân sự nhưng ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Ví dụ: tài liệu về tổ chức, biên chế, trang bị, kế hoạch công tác của đơn vị, các tài liệu đảm bảo cho hoạt động của đơn vị v.v … g) Trường hợp người phạm tội giao nộp cho địch hoặc mang theo hoặc vứt bỏ tài liệu bí mật công tác quân sự và làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc sau đó chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ, làm mất tài liệu đó, thì ngoài việc áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự, họ còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội tương ứng quy định tại Điều 327 hoặc Điều 328 Bộ luật Hình sự; h) Trong trường hợp trước khi đầu hàng địch hoặc bỏ vị trí chiến đấu hoặc đào ngũ người phạm tội đã tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, thì không áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 đối với người phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp này người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự. III. VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM CỤ THỂ 1. Về tội đào ngũ (Điều 325 Bộ luật Hình sự) a) Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đào ngũ đối với người có hành vi rời bỏ đơn vị nhằm trốn tránh nghĩa vụ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a1) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi rời bỏ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ mà còn vi phạm. Coi là đã bị xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau đây: - Đã bị xử lý bằng một trong các hình thức xử lý theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội về hành vi đào ngũ và chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý. Đối với các trường hợp bị xử lý mà chưa có quy định về thời hạn để hết thời hạn đó, người bị xử lý được coi là chưa bị xử lý, thì thời hạn đó là một năm, kể từ ngày bị xử lý. Nếu trong quyết định xử phạt của người có thẩm quyền ghi không rõ lý do thì trước khi khởi tố vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành xác minh lý do cụ thể của quyết định kỷ luật. Việc xác minh này phải được lập thành văn bản để làm cơ sở cho việc xem xét truy cứu hay không truy cứu trách nhiệm hình sự; - Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đào ngũ bằng một trong những hình thức được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng và chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính. a2) Gây hậu quả nghiêm trọng như hướng dẫn tại điểm c mục 6 Phần II Thông tư liên tịch này. b) Khi áp dụng khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự cần chú ý: b1) Nếu là sĩ quan hoặc chỉ huy thực hiện hành vi rời bỏ hàng ngũ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại điểm a mục 1 Phần III này thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự. b2) Tình tiết "lôi kéo người khác phạm tội" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự là có hành vi dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc, đe doạ … dẫn đến quân nhân khác cùng đào ngũ. 2. Về các tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự); tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự); tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321 Bộ luật Hình sự) a) Ngoài các tình tiết thế nào là cấp trên, cấp dưới, đồng đội đã được hướng dẫn tại mục 2 và mục 3 Phần II Thông tư liên tịch này, cần chú ý xem hành vi phạm tội có được thực hiện trong quan hệ công tác hay không. Quan hệ công tác là quan hệ giữa các quân nhân với nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Quan hệ ở đây là quan hệ chỉ huy phục tùng (quan hệ quản lý hành chính quân sự) giữa các quân nhân trong cùng một đơn vị hoặc quan hệ phối hợp giữa quân nhân các đơn vị khác nhau để thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong mọi trường hợp quân nhân có hành vi làm nhục, hành hung, dùng nhục hình đối với quân nhân khác do động cơ cá nhân mà không do quan hệ công tác đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321) mà không phụ thuộc vào cấp bậc, chức vụ của người phạm tội và người bị hại. Quân nhân có hành vi làm nhục, hành hung hoặc dùng nhục hình đối với quân nhân khác trong quan hệ công tác thì căn cứ địa vị của người phạm tội và người bị hại trong mối quan hệ đó để truy cứu trách nhiệm hình sự cho đúng; cụ thể là: - Nếu người phạm tội là cấp dưới của người bị hại thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung của người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự); - Nếu người phạm tội là người chỉ huy hoặc cấp trên của người bị hại thì bị truy cứu trách nhiệm về tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự). b) Hành vi làm nhục chỉ cấu thành tội phạm trong trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự), cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự) hoặc đồng đội (Điều 321 Bộ luật Hình sự). Hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trong một số trường hợp sau đây được coi là nghiêm trọng: - Hành vi xúc phạm thường xuyên, kéo dài; - Được người khác can ngăn nhưng không đình chỉ việc xúc phạm; - Nhiều người xúc phạm một người; - Xúc phạm nhiều người; - Xúc phạm có gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc để lại hậu quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người bị xúc phạm; - Xúc phạm bằng các hình thức đê tiện, bỉ ổi thể hiện sự coi thường quá đáng nhân phẩm, danh dự của người bị hại v.v … . c) Hành vi nhục hình, hành hung làm chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại sức khoẻ của người khác đến mức cấu thành tội xâm phạm sức khoẻ của người khác thì người bị phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ tương ứng quy định tại Chương XII "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người" của Bộ luật Hình sự mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng quy định tại Điều 319, Điều 320 hoặc Điều 321 Bộ luật Hình sự. 3. Việc áp dụng khoản 4 Điều 336 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu. Đối tượng bị chiếm đoạt được quy định tại khoản 4 Điều 336 Bộ luật Hình sự chỉ là di vật của tử sĩ, tức là những vật của tử sĩ để lại tuy không có giá trị về tài sản hoặc giá trị về tài sản không đáng kể, nhưng lại có giá trị về tinh thần đối với nhân thân của tử sĩ (như ảnh, huân chương, huy chương, nhật ký … ) Hành vi chiếm đoạt di vật của tử sĩ có giá trị về tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt tài sản tương ứng theo quy định tại các Điều của Chương XIV Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này các hành vi công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt di sản dù có giá trị dưới 500.000 đồng cũng được coi là gây hậu quả nghiêm trọng (không chỉ đơn thuần giá trị về tài sản mà còn tính đến hậu quả phi vật chất) để xử lý về hình sự. 4. Về tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 Bộ luật Hình sự) Sử dụng vũ khí quân dụng nói ở Điều này là hành vi nhằm phát huy tính năng của vũ khí quân dụng nhằm mục đích nào đó. Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí là hành vi của người được trang bị vũ khí quân dụng sử dụng vũ khí đó không đúng với mục đích trang bị gây hậu quả nghiêm trọng. Cần phân biệt tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109 Bộ luật Hình sự), với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99 Bộ luật Hình sự) và với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 Bộ luật Hình sự); cụ thể là: - Người dùng vũ khí quân dụng được trang bị để bắn chim, bắt cá, gây tiếng nổ … gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 Bộ luật Hình sự); - Người dùng vũ khí quân dụng đùa nghịch, người không khám súng trước khi lau chùi súng, người không cẩn thận trong bảo quản vũ khí gây nổ (như không khoá an toàn bị vấp ngã, vô tình đưa tay vào cò súng … ) gây hậu quả nghiêm trọng thì tuỳ theo thiệt hại xảy ra mà truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109 Bộ luật Hình sự); tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99 Bộ luật Hình sự) hoặc tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 Bộ luật Hình sự). 5. Về tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 335 Bộ luật Hình sự) Khi áp dụng Điều 335 Bộ luật Hình sự cần chú ý rằng hành vi của người được giao quản lý (như thủ kho quân khí) hoặc được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự mà làm mất hoặc hư hỏng gây hậu quả nghiêm trọng thì mới cấu thành tội phạm này. Hậu quả ở đây bao gồm cả vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bị mất hoặc hư hỏng và các thiệt hại khác do việc vũ khí bị mất hoặc bị hư hỏng gây ra. IV. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế các văn bản trước đây hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Hình sự 1985 về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. 2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=25130&Keyword=
2025-09-24T02:37:44.191872
../data\bocongan\012003TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII "Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân" của Bộ luật Hình sự năm 1999 _____________________________________ Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại chương XXIII "Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân" của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự), Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: I. VỀ CHỦ THỂ CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 315 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Quân nhân tại ngũ là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phục vụ trực tiếp trong Quân đội. Quân nhân bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. 2. Quân nhân dự bị là công dân được đăng ký vào ngạch dự bị động viên theo Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên. Quân nhân dự bị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian người đó được tập trung huấn luyện. Được coi là quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện trong các trường hợp sau đây: a) Tập trung huấn luyện chính trị, quân sự thường kỳ hàng năm; b) Tập trung diễn tập; c) Tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên; d) Tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu. 3. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong Quân đội bao gồm: a) Công nhân Quốc phòng (do hợp đồng lao động hoặc được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội) và Công chức Quốc phòng. Những người này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian họ tham gia chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; b) Công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vào phục vụ Quân đội khi: - Có lệnh tổng động viên, động viên cục bộ; - Có chiến tranh; - Có nhu cầu chiến đấu để bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà chưa đến mức phải động viên cục bộ. Những người trên đây chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian được trưng tập đó. 4. Dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu là người thuộc một bộ phận dân quân, tự vệ được giao cho đơn vị quân đội khi có nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị quân đội. Dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian phối thuộc được quy định trong quyết định của cấp có thẩm quyền. II. VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM, TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ ĐỊNH TỘI HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT 1. Về các tình tiết "sĩ quan", "chỉ huy" quy định tại điểm a khoản 2 các Điều 316, 322, 323, 324, 325, 326, 337 và 338 Bộ luật Hình sự. a) "Sĩ quan" là cán bộ quân đội được Nhà nước phong quân hàm cấp uý, cấp tá, cấp tướng và tương đương. Sĩ quan bao gồm sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị. b) "Chỉ huy" là cán bộ quân đội có chức vụ từ trung đội trưởng và tương đương trở lên. Chức vụ tương đương được cơ quan có thẩm quyền quy định. 2. Về các khái niệm "người chỉ huy", "cấp trên" quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 319 Bộ luật Hình sự và khái niệm "cấp dưới" quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự. a) "Người chỉ huy" là cán bộ quân đội được giao phụ trách cơ quan, đơn vị thuộc quyền, có những nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thuộc cơ quan, đơn vị đó. b) Để xác định là "cấp trên" theo quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 319 Bộ luật Hình sự và "cấp dưới" theo quy định tại khoản 1 Điều 320 BLHS thì giữa người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) phải có quan hệ công tác và được xác định như sau: b1) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, thì: - Người có chức vụ cao hơn là cấp trên, người có chức vụ thấp hơn là cấp dưới, mà không phân biệt cấp bậc; - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng chức vụ. b2) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) không cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, thì: - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên, mà không phân biệt chức vụ trong Quân đội; - Người có chức vụ trong Quân đội cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng cấp bậc. b3) Nếu người phạm tội và người ra lệnh (hoặc người bị hại) không cùng biên chế trong một cơ quan, đơn vị nhất định, nhưng cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian nhất định, thì: - Người được giao phụ trách là cấp trên mà không phân biệt cấp bậc, chức vụ; - Người có cấp bậc cao hơn là cấp trên mà không phân biệt chức vụ, nếu không có ai được giao phụ trách; - Người có chức vụ trong Quân đội cao hơn là cấp trên, nếu những người đó có cùng cấp bậc và không có ai được giao phụ trách. 3. Về khái niệm "đồng đội" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Các quân nhân không phân biệt cấp bậc, chức vụ, cùng biên chế hay không cùng biên chế trong cùng một đơn vị đều được coi là "đồng đội" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nếu việc phạm tội làm nhục, hành hung nhau không liên quan đến quan hệ công tác. 4. Về khái niệm "mệnh lệnh" quy định tại khoản 1 các Điều 316 và 317 Bộ luật Hình sự. "Mệnh lệnh" là mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền bắt buộc cấp dưới phải chấp hành. Mệnh lệnh có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng tín hiệu lệnh. Mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền phải đúng pháp luật. Trường hợp người ra mệnh lệnh trái pháp luật thì cần phân biệt như sau: a) Nếu người chấp hành mệnh lệnh không biết mệnh lệnh đó là trái pháp luật, thì người ra mệnh lệnh đó phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh đó; b) Nếu người chấp hành mệnh lệnh biết rõ mệnh lệnh đó là trái pháp luật, thì: - Nếu người đó vẫn chấp hành mà không có ý kiến phát hiện, đề đạt gì, thì cả người ra mệnh lệnh và người chấp hành mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh đó; - Nếu người đó đã phát hiện, đề đạt với người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu bắt buộc phải chấp hành thì chỉ người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện mệnh lệnh trái pháp luật đó. 5. Về các tình tiết "phạm tội trong chiến đấu", "phạm tội trong khu vực có chiến sự", "phạm tội trong thời chiến" quy định tại các điều luật tương ứng: khoản 3 Điều 316, khoản 2 Điều 317, khoản 3 Điều 318, khoản 1 Điều 325, điểm c khoản 2 Điều 326, khoản 2 Điều 330, khoản 2 Điều 331, khoản 1 Điều 332, khoản 2 Điều 333, khoản 2 Điều 334, khoản 1 Điều 337 và điểm c khoản 2 Điều 338 Bộ luật Hình sự. a) "Phạm tội trong chiến đấu" là phạm tội trong thời gian người phạm tội đang trực tiếp chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu. b) "Phạm tội trong khu vực có chiến sự" là phạm tội trong khu vực đang có các hoạt động tác chiến quân sự giữa ta và địch. c) "Phạm tội trong thời chiến" là phạm tội trong khoảng thời gian đang có chiến tranh ở nước ta. Tình trạng chiến tranh do Chủ tịch nước công bố theo quyết định của Quốc hội hay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. 6. Về các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại các điều từ Điều 326 đến Điều 339 Bộ luật Hình sự. Khi áp dụng các tình tiết này cần chú ý: a) Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra, tức là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Hậu quả đó có thể là hậu quả vật chất (như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, về tài sản, về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự … ) hoặc phi vật chất như gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về an ninh quốc phòng; ảnh hưởng đến khả năng và tình trạng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội; ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội; mối quan hệ quân dân v. v … b) Để xác định thế nào là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng phải xem xét đánh giá một cách tổng hợp, toàn diện các loại hậu quả do hành vi phạm tội gây ra gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, thiệt hại về vũ khí, trang bị và thiệt hại phi vật chất. c) Việc xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, về tài sản được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BCA - BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999. d) Việc xác định thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự như sau: d1) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thuộc một trong các trường hợp sau được coi là gây hậu quả nghiêm trọng: - Từ 3 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; - Từ 1 đến 5 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12, 7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; - Từ 5 đến 15 quả mìn, lựu đạn; - Từ 3 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; - Từ 300 đến 1. 000 viên đạn bộ binh cỡ 11, 43 ly trở xuống; - Từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12, 7 ly đến 25 ly; - Từ 10 đến 30 kg thuốc nổ các loại; - Từ 1. 000 đến 3. 000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; - Từ 3. 000 đến 10. 000 m dây cháy chậm, dây nổ v. v … d2) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thuộc một trong các trường hợp sau được coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng: - Từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; - Từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12, 7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; - Từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; - Từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo; - Từ 1. 001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11, 43 ly trở xuống; - Từ 601 đến 2. 000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12, 7 ly đến 25 ly; - Từ trên 31 kg đến 100 kg thuốc nổ các loại; - Từ 3. 001 đến 10. 000 xuỳ nổ hoặc ống nổ; - Từ 10. 000 đến 30. 000 m dây cháy chậm, dây nổ v. v … d3) Gây thiệt hại về vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự với số lượng trên mức tối đa được hướng dẫn tại điểm d. 2 mục 6 này là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. d4) Trường hợp gây thiệt hại các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự khác nhau mà mỗi loại chưa đến mức được hướng dẫn tại điểm d. 1 mục 6 này thì được coi là gây hậu quả nghiêm trọng nếu tổng thiệt hại tương ứng với mức được hướng dẫn tại điểm d. 1 mục 6 này. Ví dụ: phạm tội gây thiệt hại 2 khẩu súng trường (66% mức hướng dẫn tối thiểu), 3 kg thuốc nổ (30% mức hướng dẫn tối thiểu) và 300 nụ xuỳ (30% mức hướng dẫn tối thiểu) được coi là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng (tổng cộng thiệt hại các loại là 126%, trên mức tối thiểu được hướng dẫn). Sử dụng cách tính tương tự như vậy để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp gây thiệt hại các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự khác nhau mà mỗi loại chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm d. 2 hoặc d. 3 mục 6 này. đ) Đối với thiệt hại phi vật chất thì tuỳ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể để xác định hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Khi đánh giá cần chú ý đến các hậu quả như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về an ninh quốc phòng; khả năng, sức mạnh và tình trạng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị; việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; uy tín, danh dự của Quân đội; mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội; mối quan hệ quân dân v. v … 7. Khi áp dụng Điều 322, Điều 324 và Điều 325 Bộ luật Hình sự cần chú ý: a) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó không bị mất mát, hư hỏng hoặc tuy bị mất mát, hư hỏng nhưng chưa đến mức được coi là hậu quả nghiêm trọng thì áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; b) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả nghiêm trọng thì áp dụng cả điểm b và điểm d khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 324 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; c) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả rất nghiêm trọng thì áp dụng cả điểm b và điểm d khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b và điểm d khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c và điểm d khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự; d) Nếu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đó bị mất mát, hư hỏng đến mức được coi là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì áp dụng khoản 3 Điều 322 hoặc khoản 3 Điều 324 hoặc khoản 3 Điều 325 Bộ luật Hình sự; đ) Trong trường hợp trước khi đầu hàng địch hoặc bỏ vị trí chiến đấu hoặc đào ngũ người phạm tội đã phá huỷ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thì không áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 đối với người phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp này người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 334 Bộ luật Hình sự. e) "Tài liệu quan trọng" được hiểu là tài liệu bí mật công tác quân sự hoặc tuy không phải là tài liệu bí mật công tác quân sự nhưng ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Ví dụ: tài liệu về tổ chức, biên chế, trang bị, kế hoạch công tác của đơn vị, các tài liệu đảm bảo cho hoạt động của đơn vị v. v … g) Trường hợp người phạm tội giao nộp cho địch hoặc mang theo hoặc vứt bỏ tài liệu bí mật công tác quân sự và làm lộ bí mật công tác quân sự hoặc sau đó chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ, làm mất tài liệu đó, thì ngoài việc áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự, họ còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội tương ứng quy định tại Điều 327 hoặc Điều 328 Bộ luật Hình sự; h) Trong trường hợp trước khi đầu hàng địch hoặc bỏ vị trí chiến đấu hoặc đào ngũ người phạm tội đã tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, thì không áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322 hoặc điểm b khoản 2 Điều 324 hoặc điểm c khoản 2 Điều 325 đối với người phạm tội. Tuy nhiên, trong trường hợp này người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự. III. VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM CỤ THỂ 1. Về tội đào ngũ (Điều 325 Bộ luật Hình sự) a) Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đào ngũ đối với người có hành vi rời bỏ đơn vị nhằm trốn tránh nghĩa vụ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a1) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi rời bỏ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ mà còn vi phạm. Coi là đã bị xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau đây: - Đã bị xử lý bằng một trong các hình thức xử lý theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội về hành vi đào ngũ và chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý. Đối với các trường hợp bị xử lý mà chưa có quy định về thời hạn để hết thời hạn đó, người bị xử lý được coi là chưa bị xử lý, thì thời hạn đó là một năm, kể từ ngày bị xử lý. Nếu trong quyết định xử phạt của người có thẩm quyền ghi không rõ lý do thì trước khi khởi tố vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành xác minh lý do cụ thể của quyết định kỷ luật. Việc xác minh này phải được lập thành văn bản để làm cơ sở cho việc xem xét truy cứu hay không truy cứu trách nhiệm hình sự; - Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đào ngũ bằng một trong những hình thức được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng và chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính. a2) Gây hậu quả nghiêm trọng như hướng dẫn tại điểm c mục 6 Phần II Thông tư liên tịch này. b) Khi áp dụng khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự cần chú ý: b1) Nếu là sĩ quan hoặc chỉ huy thực hiện hành vi rời bỏ hàng ngũ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại điểm a mục 1 Phần III này thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự. b2) Tình tiết "lôi kéo người khác phạm tội" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 325 Bộ luật Hình sự là có hành vi dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc, đe doạ … dẫn đến quân nhân khác cùng đào ngũ. 2. Về các tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự); tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự); tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321 Bộ luật Hình sự) a) Ngoài các tình tiết thế nào là cấp trên, cấp dưới, đồng đội đã được hướng dẫn tại mục 2 và mục 3 Phần II Thông tư liên tịch này, cần chú ý xem hành vi phạm tội có được thực hiện trong quan hệ công tác hay không. Quan hệ công tác là quan hệ giữa các quân nhân với nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Quan hệ ở đây là quan hệ chỉ huy phục tùng (quan hệ quản lý hành chính quân sự) giữa các quân nhân trong cùng một đơn vị hoặc quan hệ phối hợp giữa quân nhân các đơn vị khác nhau để thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong mọi trường hợp quân nhân có hành vi làm nhục, hành hung, dùng nhục hình đối với quân nhân khác do động cơ cá nhân mà không do quan hệ công tác đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321) mà không phụ thuộc vào cấp bậc, chức vụ của người phạm tội và người bị hại. Quân nhân có hành vi làm nhục, hành hung hoặc dùng nhục hình đối với quân nhân khác trong quan hệ công tác thì căn cứ địa vị của người phạm tội và người bị hại trong mối quan hệ đó để truy cứu trách nhiệm hình sự cho đúng; cụ thể là: - Nếu người phạm tội là cấp dưới của người bị hại thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung của người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự); - Nếu người phạm tội là người chỉ huy hoặc cấp trên của người bị hại thì bị truy cứu trách nhiệm về tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự). b) Hành vi làm nhục chỉ cấu thành tội phạm trong trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của cấp trên (Điều 319 Bộ luật Hình sự), cấp dưới (Điều 320 Bộ luật Hình sự) hoặc đồng đội (Điều 321 Bộ luật Hình sự). Hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trong một số trường hợp sau đây được coi là nghiêm trọng: - Hành vi xúc phạm thường xuyên, kéo dài; - Được người khác can ngăn nhưng không đình chỉ việc xúc phạm; - Nhiều người xúc phạm một người; - Xúc phạm nhiều người; - Xúc phạm có gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc để lại hậu quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người bị xúc phạm; - Xúc phạm bằng các hình thức đê tiện, bỉ ổi thể hiện sự coi thường quá đáng nhân phẩm, danh dự của người bị hại v. v …. c) Hành vi nhục hình, hành hung làm chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại sức khoẻ của người khác đến mức cấu thành tội xâm phạm sức khoẻ của người khác thì người bị phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ tương ứng quy định tại Chương XII "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người" của Bộ luật Hình sự mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng quy định tại Điều 319, Điều 320 hoặc Điều 321 Bộ luật Hình sự. 3. Việc áp dụng khoản 4 Điều 336 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu. Đối tượng bị chiếm đoạt được quy định tại khoản 4 Điều 336 Bộ luật Hình sự chỉ là di vật của tử sĩ, tức là những vật của tử sĩ để lại tuy không có giá trị về tài sản hoặc giá trị về tài sản không đáng kể, nhưng lại có giá trị về tinh thần đối với nhân thân của tử sĩ (như ảnh, huân chương, huy chương, nhật ký … ) Hành vi chiếm đoạt di vật của tử sĩ có giá trị về tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt tài sản tương ứng theo quy định tại các Điều của Chương XIV Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này các hành vi công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt di sản dù có giá trị dưới 500. 000 đồng cũng được coi là gây hậu quả nghiêm trọng (không chỉ đơn thuần giá trị về tài sản mà còn tính đến hậu quả phi vật chất) để xử lý về hình sự. 4. Về tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 Bộ luật Hình sự) Sử dụng vũ khí quân dụng nói ở Điều này là hành vi nhằm phát huy tính năng của vũ khí quân dụng nhằm mục đích nào đó. Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí là hành vi của người được trang bị vũ khí quân dụng sử dụng vũ khí đó không đúng với mục đích trang bị gây hậu quả nghiêm trọng. Cần phân biệt tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109 Bộ luật Hình sự), với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99 Bộ luật Hình sự) và với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 Bộ luật Hình sự); cụ thể là: - Người dùng vũ khí quân dụng được trang bị để bắn chim, bắt cá, gây tiếng nổ … gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 Bộ luật Hình sự); - Người dùng vũ khí quân dụng đùa nghịch, người không khám súng trước khi lau chùi súng, người không cẩn thận trong bảo quản vũ khí gây nổ (như không khoá an toàn bị vấp ngã, vô tình đưa tay vào cò súng … ) gây hậu quả nghiêm trọng thì tuỳ theo thiệt hại xảy ra mà truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109 Bộ luật Hình sự); tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99 Bộ luật Hình sự) hoặc tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 Bộ luật Hình sự). 5. Về tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 335 Bộ luật Hình sự) Khi áp dụng Điều 335 Bộ luật Hình sự cần chú ý rằng hành vi của người được giao quản lý (như thủ kho quân khí) hoặc được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự mà làm mất hoặc hư hỏng gây hậu quả nghiêm trọng thì mới cấu thành tội phạm này. Hậu quả ở đây bao gồm cả vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bị mất hoặc hư hỏng và các thiệt hại khác do việc vũ khí bị mất hoặc bị hư hỏng gây ra. IV. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế các văn bản trước đây hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Hình sự 1985 về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. 2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2002/NĐ-CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng
01/2003/TTLT/BLĐTBXH- BYT-BCA
24/01/2003
Thông tư liên tịch
09/02/2003
Số 14
10/03/2003
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thứ trưởng
Đàm Hữu Đắc
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 56/2002/NĐ-CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng _________________________ Ngày 15/5/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2002/NĐ-CP về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định này như sau: I . ĐỐI TƯỢNG CAI NGHIỆN TẠI GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG Hình thức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với người nghiện ma tuý đang sinh sống tại cộng đồng, trừ những người thuộc một trong các trường hợp sau: 1. Thuộc diện bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; 2. Đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 3. Đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; 4. Đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; 5. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý; 1/01/clip_image001.gif" width="194" />6. Đã được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng mà vẫn còn nghiện. II. TỔ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY 1. Thành phần tổ công tác Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn cấp xã) ra quyết định thành lập Tổ công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng (sau đây viết gọn là Tổ công tác) để giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức việc cai nghiện ma tuý. Thành phần Tổ công tác gồm: một Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, cán bộ xã hội hoặc văn hoá - xã hội, cán bộ y tế, Công an xã, phường, thị trấn và một số cán bộ ban, ngành, đoàn thể khác cùng cấp. Căn cứ vào tình hình cụ thể và tổ chức bộ máy của địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng thành viên và chỉ định cán bộ làm nhiệm vụ thường trực tổ công tác. 2. Nhiệm vụ của thành viên Tổ công tác a) Tổ trưởng Tổ công tác có nhiệm vụ xây dựng và chỉ đạo, hướng dẫn các ban, ngành phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. b) Thường trực Tổ công tác có nhiệm vụ: - Tổng hợp hồ sơ và chuẩn bị các thủ tục cần thiết để Tổ công tác trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cai nghiện ma tuý hoặc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm theo thẩm quyền, cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. - Đánh giá định kỳ hoặc đột xuất kết quả cai nghiện ma tuý và thực hiện chế độ báo cáo theo qui định. - Quản lý hồ sơ cai nghiện ma tuý theo qui định. c) Các thành viên khác của Tổ công tác có nhiệm vụ: - Thành viên là cán bộ Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thu thập tài liệu, thẩm tra và lập hồ sơ về người nghiện ma tuý thuộc diện được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng; giữ gìn trật tự, an toàn cho công tác cai nghiện và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và gia đình người nghiện ma tuý theo dõi, giúp đỡ, quản lý chặt chẽ họ trong và sau khi cai nghiện. - Thành viên là cán bộ Y tế cấp xã có trách nhiệm thẩm tra, xác định tình trạng nghiện của người nghiện ma tuý và tổ chức xét nghiệm tìm chất ma tuý (khi cần thiết); lập kế hoạch, phương pháp điều trị, phục hồi cho từng trường hợp cụ thể; lập hồ sơ bệnh án và triển khai các biện pháp theo đúng phương pháp cai nghiện đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt để cắt cơn, điều trị các rối loạn sinh hcọ sau cắt cơn và chữa bệnh cho người cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. - Các thành viên khác là cán bộ, nhân viên thuộc ban, ngành và các tổ chức xã hội theo phân công của Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm giám sát, theo dõi, quản lý, giúp đỡ người được cai nghiện. III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ CAI NGHIỆN MA TUÝ 1. Tổ chức việc khai báo và đăng ký cai nghiện Tổ công tác có trách nhiệm bố trí địa điểm thuận tiện và phân công cán bộ tiếp nhận việc khai báo và đăng ký cai nghiện; địa điểm và thời gian tiếp nhận khai báo và đăng ký cai nghiện phải thông báo công khai cho nhân dân trên địa bàn. Cán bộ tiếp nhận việc khai báo, đăng ký cai nghiện có trách nhiệm hướng dẫn người nghiện ma tuý, gia đình hay người giám hộ của họ khai báo tình trạng nghiện của người nghiện ma tuý và những thông tin cần thiết khác phục vụ việc cai nghiện (Mẫu số 1). 2. Cam kết cai nghiện Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi người nghiện ma tuý, gia đình người nghiện hay người giám hộ khai báo và đăng ký cai nghiện, Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ. Nếu người đăng ký thuộc diện đối tượng cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thì tư vấn, hướng dẫn họ ký viết cam kết (Mẫu số 2) và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định. Trường hợp người nghiện mắc các bệnh phối hợp cấp tính hay mãn tính ảnh hưởng tới quá trình cai nghiện thì phải tư vấn cho họ điều trị bệnh ổn định mới tiến hành cai nghiện. 3. Quyết định cai nghiện Trong thời hạn 2 ngày kể từ khi nhận được đề nghị của Tổ công tác, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho người nghiện ma tuý được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng trong thời gian ít nhất là 6 tháng (Mẫu số 3). Quyết định cai nghiện được lập thành 4 bản, 01 bản lưu Uỷ ban nhân dân cấp xã, 01 bản gửi Tổ công tác đưa vào hồ sơ, 01 bản giao cho người được cai nghiện hoặc gia đình hay người giám hộ của họ, 01 bản gửi Tổ trưởng Tổ dân cư hoặc trưởng thôn, bản, làng. (sau đây gọi chung là tổ dân cư) nơi người được cai nghiện cư trú để phối hợp thực hiện công tác cai nghiện. IV. CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ 1. Việc cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được thực hiện theo qui trình thống nhất (có phụ lục kèm theo). 2. Việc áp dụng các biện pháp để cắt cơn, điều trị các rối loạn sinh học sau cắt cơn và chữa bệnh cho người cai nghiện tại gia đình và cộng đồng phải thực hiện theo đúng phương pháp do Bộ Y tế qui định. 3. Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể bố tổ chức tiếp nhận điều trị cắt cơn cho người nghiện ma tuý thường xuyên tại trạm y tế xã, phường, thị trấn hoặc bố trí địa điểm phù hợp có đủ điều kiện an toàn để tổ chức điều trị cắt cơn cho người nghiện ma tuý thành từng đợt tại các tổ dân cư. 4. Người nghiện cai nghiện ma tuý có trách nhiệm: - Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết của mình. - Không được sử dụng các loại thuốc hoặc các chất làm sai lệch kết quả xét nghiệm tìm chất ma tuý. - Hàng tháng báo cáo kết quả cai nghiện cho cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện để ghi sổ theo dõi (Mẫu số 4). - Khi đi khỏi nơi cư trú phải báo cáo cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện và khi trở về phải xét nghiệm tìm chất ma tuý (nếu cần thiết). 5. Gia đình hoặc người giám hộ của nguời cai nghiện ma tuý có trách nhiệm: - Chuẩn bị đầy đủ điều kiện và kinh phí cai nghiện ma tuý theo qui định chung. - Hướng dẫn, chăm sóc, động viên giúp đỡ người cai nghiện ma tuý thực hiện việc cai nghiện. - Quản lý, giám sát người cai nghiện ma tuý thực hiện cam kết cai nghiện. V. XỬ LÝ VI PHẠM 1. Trong quá trình tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, nếu thấy người đang cai nghiện có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện phối hợp với gia đình họ tiến hành kiểm tra, thu thập mẫu để xét nghiệm tìm chất ma tuý. 2. Trường hợp người đang cai nghiện vi phạm cam kết cai nghiện thì cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện nhắc nhở họ sửa chữa hoặc lập biên bản xử lý vi phạm (Mẫu 5). Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, Tổ công tác báo cáo, đề xuất với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định một trong các biện pháp xử lý vi phạm sau: - Cảnh cáo; - Đình chỉ cai nghiện tại gia đình và cộng đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, các chi phí tổ chức cai nghiện, đồng thời áp dụng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý khác theo qui định của pháp luật. VI. CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ 1. xét và cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý a) Trong thời hạn 15 ngày trước khi kết thúc thời hạn cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác chủ trì phối hợp với Tổ trưởng Tổ dân cư và gia đình (hay người giám hộ) của người đã cai nghiện tổ chức họp tổ dân cư để xem xét, đánh giá kết quả cai nghiện ma tuý của người được cai nghiện và đề nghị cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý cho người có đủ điều kiện. Nội dung cuộc họp phải được lập thành biên bản. b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp Giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng (Mẫu 6) cho người đã cai nghiện có đủ các tiêu chuẩn sau: - Không còn chất ma tuý trong cơ thể; - Thực hiện đầy đủ các cam kết cai nghiện; - Chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành vi, có lối sống lành mạnh và được 2/3 số người trong Tổ dân cư dự họp đồng ý đề nghị cấp giấy chứng nhận. c) Trường hợp người cai nghiện chưa đủ các tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác báo cáo và đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng trong thời hạn 3 tháng. Việc quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng không quá 2 lần. Nếu vẫn không đủ tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nếu sau một năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng mà người được cấp giấy chứng nhận đó không tái nghiện thì họ được coi như chưa bị áp dụng hình thức cai nghiện này. 2. công bố kết quả cai nghiện Sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng cho người đã cai nghiện, Tổ công tác phối hợp với Tổ dân cư, gia đình người đã cai nghiện, cơ quan, tổ chức có liên quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức cuộc họp công bố việc hoàn thành qui trình cai nghiện, trao giấy chứng nhận đã cai nghiện, bàn giao người nghiện cho gia đình và tổ dân cư tiếp tục quản lý, giám sát và giúp đỡ tại gia đình và cộng đồng. VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: - Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ; xây dựng qui chế làm việc, cơ chế phối hợp và mối quan hệ của các ban, ngành, đoàn thể; bố trí cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng đặc biệt là cấp xã. - Chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra hoạt động chuyên môn của từng ngành về lĩnh vực cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý; tạo điều kiện cho Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện tốt công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. 2. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. 3. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc đề nghị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Y tế để giải quyết.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=21820&Keyword=
2025-09-24T02:37:47.417100
../data\bocongan\012003TTLTBLĐTBXH- BYT-BCA\document.json
26/03/2012
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 56/2002/NĐ - CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng _________________________ Ngày 15/5/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2002/NĐ - CP về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định này như sau: I. ĐỐI TƯỢNG CAI NGHIỆN TẠI GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG Hình thức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với người nghiện ma tuý đang sinh sống tại cộng đồng, trừ những người thuộc một trong các trường hợp sau: 1. Thuộc diện bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; 2. Đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 3. Đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; 4. Đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; 5. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý; 6. Đã được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng mà vẫn còn nghiện. II. TỔ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY 1. Thành phần tổ công tác Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn cấp xã) ra quyết định thành lập Tổ công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng (sau đây viết gọn là Tổ công tác) để giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức việc cai nghiện ma tuý. Thành phần Tổ công tác gồm: một Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, cán bộ xã hội hoặc văn hoá - xã hội, cán bộ y tế, Công an xã, phường, thị trấn và một số cán bộ ban, ngành, đoàn thể khác cùng cấp. Căn cứ vào tình hình cụ thể và tổ chức bộ máy của địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng thành viên và chỉ định cán bộ làm nhiệm vụ thường trực tổ công tác. 2. Nhiệm vụ của thành viên Tổ công tác a) Tổ trưởng Tổ công tác có nhiệm vụ xây dựng và chỉ đạo, hướng dẫn các ban, ngành phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. b) Thường trực Tổ công tác có nhiệm vụ: - Tổng hợp hồ sơ và chuẩn bị các thủ tục cần thiết để Tổ công tác trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cai nghiện ma tuý hoặc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm theo thẩm quyền, cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. - Đánh giá định kỳ hoặc đột xuất kết quả cai nghiện ma tuý và thực hiện chế độ báo cáo theo qui định. - Quản lý hồ sơ cai nghiện ma tuý theo qui định. c) Các thành viên khác của Tổ công tác có nhiệm vụ: - Thành viên là cán bộ Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thu thập tài liệu, thẩm tra và lập hồ sơ về người nghiện ma tuý thuộc diện được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng; giữ gìn trật tự, an toàn cho công tác cai nghiện và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và gia đình người nghiện ma tuý theo dõi, giúp đỡ, quản lý chặt chẽ họ trong và sau khi cai nghiện. - Thành viên là cán bộ Y tế cấp xã có trách nhiệm thẩm tra, xác định tình trạng nghiện của người nghiện ma tuý và tổ chức xét nghiệm tìm chất ma tuý (khi cần thiết); lập kế hoạch, phương pháp điều trị, phục hồi cho từng trường hợp cụ thể; lập hồ sơ bệnh án và triển khai các biện pháp theo đúng phương pháp cai nghiện đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt để cắt cơn, điều trị các rối loạn sinh hcọ sau cắt cơn và chữa bệnh cho người cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. - Các thành viên khác là cán bộ, nhân viên thuộc ban, ngành và các tổ chức xã hội theo phân công của Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm giám sát, theo dõi, quản lý, giúp đỡ người được cai nghiện. III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ CAI NGHIỆN MA TUÝ 1. Tổ chức việc khai báo và đăng ký cai nghiện Tổ công tác có trách nhiệm bố trí địa điểm thuận tiện và phân công cán bộ tiếp nhận việc khai báo và đăng ký cai nghiện; địa điểm và thời gian tiếp nhận khai báo và đăng ký cai nghiện phải thông báo công khai cho nhân dân trên địa bàn. Cán bộ tiếp nhận việc khai báo, đăng ký cai nghiện có trách nhiệm hướng dẫn người nghiện ma tuý, gia đình hay người giám hộ của họ khai báo tình trạng nghiện của người nghiện ma tuý và những thông tin cần thiết khác phục vụ việc cai nghiện (Mẫu số 1). 2. Cam kết cai nghiện Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi người nghiện ma tuý, gia đình người nghiện hay người giám hộ khai báo và đăng ký cai nghiện, Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ. Nếu người đăng ký thuộc diện đối tượng cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thì tư vấn, hướng dẫn họ ký viết cam kết (Mẫu số 2) và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định. Trường hợp người nghiện mắc các bệnh phối hợp cấp tính hay mãn tính ảnh hưởng tới quá trình cai nghiện thì phải tư vấn cho họ điều trị bệnh ổn định mới tiến hành cai nghiện. 3. Quyết định cai nghiện Trong thời hạn 2 ngày kể từ khi nhận được đề nghị của Tổ công tác, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho người nghiện ma tuý được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng trong thời gian ít nhất là 6 tháng (Mẫu số 3). Quyết định cai nghiện được lập thành 4 bản, 01 bản lưu Uỷ ban nhân dân cấp xã, 01 bản gửi Tổ công tác đưa vào hồ sơ, 01 bản giao cho người được cai nghiện hoặc gia đình hay người giám hộ của họ, 01 bản gửi Tổ trưởng Tổ dân cư hoặc trưởng thôn, bản, làng. (sau đây gọi chung là tổ dân cư) nơi người được cai nghiện cư trú để phối hợp thực hiện công tác cai nghiện. IV. CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ 1. Việc cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được thực hiện theo qui trình thống nhất (có phụ lục kèm theo). 2. Việc áp dụng các biện pháp để cắt cơn, điều trị các rối loạn sinh học sau cắt cơn và chữa bệnh cho người cai nghiện tại gia đình và cộng đồng phải thực hiện theo đúng phương pháp do Bộ Y tế qui định. 3. Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể bố tổ chức tiếp nhận điều trị cắt cơn cho người nghiện ma tuý thường xuyên tại trạm y tế xã, phường, thị trấn hoặc bố trí địa điểm phù hợp có đủ điều kiện an toàn để tổ chức điều trị cắt cơn cho người nghiện ma tuý thành từng đợt tại các tổ dân cư. 4. Người nghiện cai nghiện ma tuý có trách nhiệm: - Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết của mình. - Không được sử dụng các loại thuốc hoặc các chất làm sai lệch kết quả xét nghiệm tìm chất ma tuý. - Hàng tháng báo cáo kết quả cai nghiện cho cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện để ghi sổ theo dõi (Mẫu số 4). - Khi đi khỏi nơi cư trú phải báo cáo cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện và khi trở về phải xét nghiệm tìm chất ma tuý (nếu cần thiết). 5. Gia đình hoặc người giám hộ của nguời cai nghiện ma tuý có trách nhiệm: - Chuẩn bị đầy đủ điều kiện và kinh phí cai nghiện ma tuý theo qui định chung. - Hướng dẫn, chăm sóc, động viên giúp đỡ người cai nghiện ma tuý thực hiện việc cai nghiện. - Quản lý, giám sát người cai nghiện ma tuý thực hiện cam kết cai nghiện. V. XỬ LÝ VI PHẠM 1. Trong quá trình tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, nếu thấy người đang cai nghiện có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện phối hợp với gia đình họ tiến hành kiểm tra, thu thập mẫu để xét nghiệm tìm chất ma tuý. 2. Trường hợp người đang cai nghiện vi phạm cam kết cai nghiện thì cán bộ được phân công giúp đỡ cai nghiện nhắc nhở họ sửa chữa hoặc lập biên bản xử lý vi phạm (Mẫu 5). Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, Tổ công tác báo cáo, đề xuất với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định một trong các biện pháp xử lý vi phạm sau: - Cảnh cáo; - Đình chỉ cai nghiện tại gia đình và cộng đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, các chi phí tổ chức cai nghiện, đồng thời áp dụng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý khác theo qui định của pháp luật. VI. CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ 1. xét và cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý a) Trong thời hạn 15 ngày trước khi kết thúc thời hạn cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác chủ trì phối hợp với Tổ trưởng Tổ dân cư và gia đình (hay người giám hộ) của người đã cai nghiện tổ chức họp tổ dân cư để xem xét, đánh giá kết quả cai nghiện ma tuý của người được cai nghiện và đề nghị cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý cho người có đủ điều kiện. Nội dung cuộc họp phải được lập thành biên bản. b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp Giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng (Mẫu 6) cho người đã cai nghiện có đủ các tiêu chuẩn sau: - Không còn chất ma tuý trong cơ thể; - Thực hiện đầy đủ các cam kết cai nghiện; - Chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành vi, có lối sống lành mạnh và được 2/3 số người trong Tổ dân cư dự họp đồng ý đề nghị cấp giấy chứng nhận. c) Trường hợp người cai nghiện chưa đủ các tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng, Tổ công tác báo cáo và đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng trong thời hạn 3 tháng. Việc quyết định cho họ tiếp tục cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng không quá 2 lần. Nếu vẫn không đủ tiêu chuẩn cấp giấy chứng nhận thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nếu sau một năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng mà người được cấp giấy chứng nhận đó không tái nghiện thì họ được coi như chưa bị áp dụng hình thức cai nghiện này. 2. công bố kết quả cai nghiện Sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận đã cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng cho người đã cai nghiện, Tổ công tác phối hợp với Tổ dân cư, gia đình người đã cai nghiện, cơ quan, tổ chức có liên quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức cuộc họp công bố việc hoàn thành qui trình cai nghiện, trao giấy chứng nhận đã cai nghiện, bàn giao người nghiện cho gia đình và tổ dân cư tiếp tục quản lý, giám sát và giúp đỡ tại gia đình và cộng đồng. VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: - Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ; xây dựng qui chế làm việc, cơ chế phối hợp và mối quan hệ của các ban, ngành, đoàn thể; bố trí cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng đặc biệt là cấp xã. - Chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra hoạt động chuyên môn của từng ngành về lĩnh vực cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý; tạo điều kiện cho Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện tốt công tác cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng. 2. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. 3. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc đề nghị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Y tế để giải quyết.
Về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP
25/03/2004
Thông tư liên tịch
05/05/2004
Công báo điện tử;
null
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Trần Thu
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Ngày 17/3/2003, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 388); Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Nghị quyết nói trên, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: I. VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Các trường hợp được bồi thường thiệt hại Điều 1 của Nghị quyết số 388 quy định cụ thể những trường hợp được bồi thường thiệt hại, tuy nhiên khi thi hành quy định của Điều này cần chú ý: 1.1. Người bị tạm giữ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 được bồi thường thiệt hại khi họ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào và có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Ví dụ 1: Công an huyện T tạm giữ Nguyễn Văn A cùng 8 người khác trong vụ đánh bạc tại nhà C. Qua điều tra đã xác định tại thời điểm đó A sang nhà C để trả nợ rồi bị tạm giữ, nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đối với A. Trong trường hợp này Nguyễn Văn A được bồi thường thiệt hại. Ví dụ 2: Bộ đội Biên phòng Đồn 56 huyện A bắt quả tang 10 người Việt Nam đang vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới từ Trung Quốc về Việt Nam và ra lệnh tạm giữ họ. Qua điều tra xác định được giá trị hàng hóa chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vì vậy đã huỷ bỏ lệnh tạm giữ để xử lý họ về hành chính. Trong trường hợp này họ đã có hành vi vi phạm pháp luật (vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới), nên không được bồi thường thiệt hại. 1.2. Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì được bồi thường thiệt hại. 1.3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, nếu trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự không bị tạm giữ, không bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định họ không thực hiện hành vi phạm tội, thì được bồi thường thiệt hại. 1.4. Những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 nếu có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Nghị quyết số 388. Đối với tài sản bị tạm giữ, thu giữ, kê biên, tịch thu của những người khác không thuộc các trường hợp nêu trên, thì không giải quyết việc bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388 mà được giải quyết theo thủ tục chung. 2. Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 388; cần chú ý là những trường hợp cụ thể sau đây cũng thuộc trường hợp không được bồi thường thiệt hại: 2.1. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nhưng vụ án đã được đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm; 2.2. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng nay theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự; 2.3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó dù chỉ phạm một tội, còn các tội phạm khác họ không thực hiện; 2.4. Người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đã bị tạm giữ, bị khởi tố, bị tạm giam, bị truy tố, xét xử, thi hành án mà có quyết định, bản án của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định, bản án đó chỉ vì lý do căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y là tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự. II. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần 1.1. Khi xác định thiệt hại do tổn thất về tinh thần đối với người bị oan bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc tại ngoại cần chú ý: a) Phải tính cụ thể số ngày bị oan cho người bị oan kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội, trong đó cần xác định số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày tại ngoại (kể cả những ngày bị tạm giữ trước khi có quyết định khởi tố bị can). Sau khi xác định được số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày được tại ngoại, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 để tính số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu mà người bị oan được bồi thường. Ví dụ: Ngày 01/12/2003 M bị tạm giữ và bị khởi tố bị can; hết thời hạn tạm giữ 3 ngày tiếp tục bị tạm giam. Ngày 01/3/2004 M được tại ngoại. Ngày 20/3/2004 Cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với M với lý do M không thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp này xác định số ngày mà M được bồi thường do bị oan như sau: - Số ngày bị tạm giữ, tạm giam là: 31 ngày của tháng 12 năm 2003 + 31 ngày của tháng 01 năm 2004 + 29 ngày của tháng 02 năm 2004 = 91 ngày. - Số ngày không bị tạm giữ, tạm giam (tại ngoại) là: 20 ngày (từ ngày 01 đến ngày 20 tháng 3 năm 2004). - Số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu được bồi thường là: (91 ngày x 3) + 20 ngày = 293 ngày. b) Một ngày lương tối thiểu tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường được xác định bằng việc lấy mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường chia cho 22 là số ngày làm việc bình quân của mỗi tháng. Ví dụ: Tại thời điểm ban hành Thông tư liên tịch này tiến hành giải quyết việc bồi thường thì mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định là 290.000 đồng, do đó một ngày lương tối thiểu sẽ là: 290.000đ : 22 = 13.181 đồng. 1.2. Khi giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần trong trường hợp người bị oan chết cần chú ý: a) Chỉ giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần nếu người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà không phải do lỗi của chính họ hoặc do sự kiện bất khả kháng. b) Khoản tiền bù đắp về tinh thần ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường là khoản bồi thường chung cho những người có quan hệ thân thích gần gũi với người bị oan chết gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan, không phụ thuộc vào số người được bù đắp về tinh thần nhiều hay ít và thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù là bao nhiêu. Trong trường hợp này không được tính bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 này. c) Trong trường hợp người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà do lỗi của chính họ hoặc do sự kiện bất khả kháng thì những người có quan hệ thân thích, gần gũi với người bị oan bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan không được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này người bị oan được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 này. 1.3. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường là thiệt hại độc lập với các thiệt hại quy định tại các Điều 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388. 2. Thiệt hại về vật chất 2.1. Chi phí hợp lý quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6 và các khoản 1, 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi, cụ thể như sau: a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị oan trước khi chết quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị oan đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế; chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị oan theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác trước khi người bị oan chết (nếu có). b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng người bị oan chết, quy định tại khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: chi phí mua quan tài, hương, hoa, nến, vải liệm, thuê xe tang và các khoản chi phí khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng người bị oan chết theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống linh đình, xây mộ, bốc mộ... c) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị oan theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết số 388 bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.1 này và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ? để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị oan (nếu có). 2.2. Người bị oan hoặc người thân thích của họ được bồi thường thiệt hại về vật chất được hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 mục 2 này nếu họ là người đã thanh toán các chi phí hợp lý đó. Trong trường hợp các cơ quan nhà nước đã chi trả một phần hoặc toàn bộ các chi phí này, thì họ không được bồi thường các chi phí mà cơ quan nhà nước đã chi trả. 2.3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được xác định như sau: a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị bao gồm tiền tàu, xe, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương (nếu có) của một trong những người thân thích của người bị oan do cần thiết hoặc do cơ sở y tế yêu cầu phải có người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị. b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị được xác định như sau: - Nếu người chăm sóc người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. - Nếu người chăm sóc người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. - Nếu người chăm sóc người bị oan chưa có việc làm, hoặc có tháng có làm việc, có tháng không, do đó hàng tháng không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm người đó chăm sóc người bị oan. - Trong thời gian chăm sóc người bị oan, nếu người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng. 2.4. Người bị oan mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc là người không còn khả năng thực hiện hoạt động sản xuất vật chất do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị oan mất khả năng lao động quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người bị tàn tật ở địa phương nơi người bị oan cư trú. 2.5. Khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất của người bị oan quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 388 cần chú ý: a) Người bị oan (kể cả trường hợp đã chết) chỉ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, nếu họ có thu nhập ổn định. b) Thu nhập ổn định thực tế bị mất của người bị oan được xác định như sau: - Nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất; - Nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định nhưng có mức thu nhập khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. c) Người bị oan chưa có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó hàng tháng không có thu nhập ổn định thì không được bồi thường theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 388. d) Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, nếu người bị oan vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng. 2.6. Chỉ phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan thực tế đang có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù bị chết, bị tổn hại về sức khỏe dẫn đến mất khả năng lao động. Những người đang được người bị oan cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Mức cấp dưỡng, phương thức, thời gian cấp dưỡng căn cứ vào các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. III. VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN 1. Việc bồi thường thiệt hại cần được giải quyết kịp thời, công khai và đúng pháp luật. Các thiệt hại mà người bị oan hoặc thân nhân của họ được bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 phải được bồi thường một lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận khác. Đối với khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 nếu người được cấp dưỡng đồng ý nhận một lần thì bồi thường một lần cho họ; nếu họ không đồng ý nhận một lần thì cấp dưỡng hàng tháng trong thời gian họ được cấp dưỡng. 2. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào Điều 10 của Nghị quyết số 388. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như sau: 2.1. Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát, nhưng hết thời hạn tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát mà vẫn tiếp tục tạm giữ, tạm giam không có lệnh tạm giữ, tạm giam hoặc tuy có lệnh tạm giữ, tạm giam song không được Viện Kiểm sát phê chuẩn có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại trong trường hợp việc tạm giữ bị huỷ bỏ vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị huỷ bỏ vì người bị tạm giam không thực hiện hành vi phạm tội, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2.2. Khi xác định được một người bị oan thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cơ quan xử lý oan sau cùng, không phụ thuộc có cơ quan tiến hành tố tụng trước đó có xử lý oan một phần. Ví dụ 1: Cơ quan Điều tra có kết luận điều tra đề nghị Viện Kiểm sát truy tố về nhiều tội, nhưng Viện Kiểm sát chỉ truy tố về một tội, song khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Viện Kiểm sát có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Ví dụ 2: Viện Kiểm sát truy tố bị can về nhiều tội, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử và tuyên bố bị cáo phạm một tội, song khi xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2.3. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định tạm giam bị can (hoặc bị cáo) để hoàn thành việc xét xử sơ thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2.4. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử phúc thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2.5. Đối với tài sản của những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại, thì cơ quan đã ra quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách nhiệm bồi thường. IV. VIỆC CẤP, GỬI QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN 1. Quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được cấp hoặc gửi cho những người được bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này. 2. Việc cấp, gửi quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được thực hiện trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Đối với trường hợp pháp luật tố tụng hình sự không có quy định, thì thời hạn đó là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định, bản án. 3. Trong trường hợp quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại, thì cơ quan có thẩm quyền phải khẩn trương xem xét giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, đề nghị, yêu cầu và thông báo kết quả giải quyết cho người có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu biết. Nếu cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại, đề nghị, yêu cầu vẫn giữ nguyên quyết định, bản án đó thì việc bồi thường thiệt hại phải được thực hiện ngay. V. VỀ THỦ TỤC KHÔI PHỤC DANH DỰ, YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TẠI TÒA ÁN 1. Thủ tục khôi phục danh dự 1.1. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan phải tiến hành việc xin lỗi, cải chính công khai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan. 1.2. Thủ trưởng (hoặc người được uỷ quyền hợp pháp) của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thương lượng với người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ về địa điểm tiến hành xin lỗi (có thể tại nơi cư trú hoặc có thể tại nơi làm việc của người bị oan). Đồng thời phải thông báo cho cơ quan nơi người bị oan làm việc, chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú và tổ chức chính trị - xã hội mà người bị oan là thành viên để các cơ quan, tổ chức này cử người đại diện tham dự. 1.3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải trực tiếp xin lỗi người bị oan và đăng cải chính trên một tờ báo trung ương (Báo Nhân dân hoặc báo Quân đội nhân dân) và một tờ báo địa phương (Báo của cơ quan Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) trong ba số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu không đăng báo. 2. Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại 2.1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ, quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 388 phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường, mức bồi thường để làm căn cứ cho việc thương lượng và các nội dung khác theo Mẫu đơn số 01a, 01b kèm theo Thông tư liên tịch này. Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây: a) Quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật xác định người bị oan; b) Bản sao hợp lệ một trong các loại giấy tờ tuỳ thân của người bị oan hoặc chứng minh quan hệ của họ đối với người bị oan như hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân?hoặc xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị oan làm việc; c) Các chứng từ hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị oan trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải nhận đơn, các giấy tờ tài liệu kèm theo đơn và ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác tiến hành thương lượng với người bị oan hoặc thân nhân của họ về việc bồi thường thiệt hại. 2.2. Trong trường hợp người bị oan chết mà có nhiều thân nhân thì cần yêu cầu họ cử một người đại diện để tiến hành thương lượng về việc bồi thường thiệt hại. Việc cử người đại diện phải được lập thành văn bản. Nếu các thân nhân của người bị oan chết không cử được ai làm đại diện thì phải tiến hành thương lượng trực tiếp với họ. 2.3. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc người được uỷ quyền hợp pháp tiến hành việc thương lượng bồi thường thiệt hại tại trụ sở cơ quan. Khi tiến hành thương lượng phải xem xét các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường trong đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn. Căn cứ vào các khoản thiệt hại được bồi thường quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388; các quy định khác về chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định (nếu có) và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này để thương lượng về khoản thiệt hại nào được bồi thường, mức bồi thường. 2.4. Khi tiến hành thương lượng phải lập biên bản ghi lại đầy đủ diễn biến quá trình thương lượng. Trong trường hợp thương lượng thành, thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản thương lượng thành Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải ra quyết định bồi thường thiệt hại. Quyết định bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản tiền được bồi thường thiệt hại và người được bồi thường thiệt hại theo kết quả thương lượng thành được ghi trong biên bản (theo Mẫu 03a, 03b kèm theo Thông tư liên tịch này). 3. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án 3.1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày: a) Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhận được đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không tiến hành thương lượng; b) Biên bản thương lượng không thành được lập. 3.2. Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người bị oan cư trú hoặc làm việc. Trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại, đồng thời là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì cần phân công thành phần Hội đồng xét xử là những người không có liên quan đến việc làm oan. Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. VI. VỀ KINH PHÍ VÀ CHI TRẢ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 1. Dự toán kinh phí bồi thường thiệt hại Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra trong năm trước, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự ở Trung ương (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng bao gồm cả Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Bộ Tư pháp và các cơ quan được giao quyền hạn điều tra như: Hải quan, Kiểm lâm?) phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường cho người bị oan để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội. 2. Thủ tục chi trả tiền bồi thường thiệt hại 2.1. Ngay sau khi có quyết định bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc có bản án, quyết định của Tòa án về việc bồi thường thiệt hại có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có văn bản đề nghị bồi thường thiệt hại gửi cơ quan chủ quản ở Trung ương để xem xét tổng hợp và đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí bồi thường thiệt hại. Trong văn bản cần ghi đầy đủ cụ thể người được bồi thường thiệt hại, các khoản tiền bồi thường đối với các khoản thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị Bộ Tài chính cấp để thực hiện việc bồi thường thiệt hại. Kèm theo văn bản nói trên phải có các giấy tờ sau đây: a) Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người được bồi thường bị oan; b) Quyết định của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc bản án, quyết định của Tòa án về việc bồi thường thiệt hại đã có hiệu lực pháp luật. 2.2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường thiệt hại và các hồ sơ kèm theo quy định tại điểm 2.1, Bộ Tài chính cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại để thực hiện bồi thường thiệt hại cho người bị oan. 2.3. Sau khi nhận được kinh phí do Bộ Tài chính cấp, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện ngay việc chi trả bồi thường cho người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. 3. Quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại Kết thúc năm tài chính, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường thiệt hại báo cáo với cơ quan chủ quản ở Trung ương. Cơ quan chủ quản ở Trung ương tổng hợp quyết toán kinh phí chi trả bồi thường thiệt hại trong toàn ngành để quyết toán với Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra vào tổng quyết toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. VII. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Trong quá trình thực hiện giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, nếu có tranh chấp trong nội bộ ngành, thì Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của ngành xem xét giải quyết; nếu có tranh chấp giữa các ngành thì Thủ trưởng của các ngành liên quan phối hợp với nhau để xem xét giải quyết. Nếu có tranh chấp giữa các ngành thì Thủ trưởng cấp trên trực tiếp phối hợp với nhau để xem xét giải quyết. Thủ trưởng các ngành ở Trung ương chịu trách nhiệm giải quyết mọi tranh chấp trong nội bộ ngành mình và phối hợp để xem xét tranh chấp giữa các ngành với nhau. VIII. VỀ HIỆU LỰC CỦA THÔNG TƯ Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần hướng dẫn, thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho ngành cấp trên là Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn bổ sung, kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=18525&Keyword=
2025-09-24T02:37:34.676049
../data\bocongan\012004TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP\document.json
20/12/2006
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/NQ - UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Ngày 17/3/2003, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 388/NQ - UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 388); Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Nghị quyết nói trên, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: I. VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Các trường hợp được bồi thường thiệt hại Điều 1 của Nghị quyết số 388 quy định cụ thể những trường hợp được bồi thường thiệt hại, tuy nhiên khi thi hành quy định của Điều này cần chú ý: 1. 1. Người bị tạm giữ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 được bồi thường thiệt hại khi họ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào và có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ. Ví dụ 1: Công an huyện T tạm giữ Nguyễn Văn A cùng 8 người khác trong vụ đánh bạc tại nhà C. Qua điều tra đã xác định tại thời điểm đó A sang nhà C để trả nợ rồi bị tạm giữ, nên Cơ quan Điều tra đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đối với A. Trong trường hợp này Nguyễn Văn A được bồi thường thiệt hại. Ví dụ 2: Bộ đội Biên phòng Đồn 56 huyện A bắt quả tang 10 người Việt Nam đang vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới từ Trung Quốc về Việt Nam và ra lệnh tạm giữ họ. Qua điều tra xác định được giá trị hàng hóa chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vì vậy đã huỷ bỏ lệnh tạm giữ để xử lý họ về hành chính. Trong trường hợp này họ đã có hành vi vi phạm pháp luật (vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới), nên không được bồi thường thiệt hại. 1. 2. Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì được bồi thường thiệt hại. 1. 3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, nếu trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự không bị tạm giữ, không bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định họ không thực hiện hành vi phạm tội, thì được bồi thường thiệt hại. 1. 4. Những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 nếu có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Nghị quyết số 388. Đối với tài sản bị tạm giữ, thu giữ, kê biên, tịch thu của những người khác không thuộc các trường hợp nêu trên, thì không giải quyết việc bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388 mà được giải quyết theo thủ tục chung. 2. Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 388; cần chú ý là những trường hợp cụ thể sau đây cũng thuộc trường hợp không được bồi thường thiệt hại: 2. 1. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nhưng vụ án đã được đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm; 2. 2. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử, nhưng nay theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự; 2. 3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó dù chỉ phạm một tội, còn các tội phạm khác họ không thực hiện; 2. 4. Người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đã bị tạm giữ, bị khởi tố, bị tạm giam, bị truy tố, xét xử, thi hành án mà có quyết định, bản án của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định, bản án đó chỉ vì lý do căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y là tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự. II. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần 1. 1. Khi xác định thiệt hại do tổn thất về tinh thần đối với người bị oan bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc tại ngoại cần chú ý: a) Phải tính cụ thể số ngày bị oan cho người bị oan kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội, trong đó cần xác định số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày tại ngoại (kể cả những ngày bị tạm giữ trước khi có quyết định khởi tố bị can). Sau khi xác định được số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù và số ngày được tại ngoại, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 để tính số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu mà người bị oan được bồi thường. Ví dụ: Ngày 01/12/2003 M bị tạm giữ và bị khởi tố bị can; hết thời hạn tạm giữ 3 ngày tiếp tục bị tạm giam. Ngày 01/3/2004 M được tại ngoại. Ngày 20/3/2004 Cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với M với lý do M không thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp này xác định số ngày mà M được bồi thường do bị oan như sau: - Số ngày bị tạm giữ, tạm giam là: 31 ngày của tháng 12 năm 2003 + 31 ngày của tháng 01 năm 2004 + 29 ngày của tháng 02 năm 2004 = 91 ngày. - Số ngày không bị tạm giữ, tạm giam (tại ngoại) là: 20 ngày (từ ngày 01 đến ngày 20 tháng 3 năm 2004). - Số ngày lương tính theo mức lương tối thiểu được bồi thường là: (91 ngày x 3) + 20 ngày = 293 ngày. b) Một ngày lương tối thiểu tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường được xác định bằng việc lấy mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường chia cho 22 là số ngày làm việc bình quân của mỗi tháng. Ví dụ: Tại thời điểm ban hành Thông tư liên tịch này tiến hành giải quyết việc bồi thường thì mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định là 290. 000 đồng, do đó một ngày lương tối thiểu sẽ là: 290. 000đ: 22 = 13. 181 đồng. 1. 2. Khi giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần trong trường hợp người bị oan chết cần chú ý: a) Chỉ giải quyết việc bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần nếu người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà không phải do lỗi của chính họ hoặc do sự kiện bất khả kháng. b) Khoản tiền bù đắp về tinh thần ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường là khoản bồi thường chung cho những người có quan hệ thân thích gần gũi với người bị oan chết gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan, không phụ thuộc vào số người được bù đắp về tinh thần nhiều hay ít và thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù là bao nhiêu. Trong trường hợp này không được tính bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1. 1 mục 1 này. c) Trong trường hợp người bị oan chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà do lỗi của chính họ hoặc do sự kiện bất khả kháng thì những người có quan hệ thân thích, gần gũi với người bị oan bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng người bị oan không được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này người bị oan được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 388 và theo hướng dẫn tại tiểu mục 1. 1 mục 1 này. 1. 3. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường là thiệt hại độc lập với các thiệt hại quy định tại các Điều 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388. 2. Thiệt hại về vật chất 2. 1. Chi phí hợp lý quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6 và các khoản 1, 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi, cụ thể như sau: a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị oan trước khi chết quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị oan đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế; chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị oan theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác trước khi người bị oan chết (nếu có). b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng người bị oan chết, quy định tại khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 388 bao gồm: chi phí mua quan tài, hương, hoa, nến, vải liệm, thuê xe tang và các khoản chi phí khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng người bị oan chết theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống linh đình, xây mộ, bốc mộ. . c) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị oan theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết số 388 bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2. 1 này và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ? để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị oan (nếu có). 2. 2. Người bị oan hoặc người thân thích của họ được bồi thường thiệt hại về vật chất được hướng dẫn tại tiểu mục 2. 1 mục 2 này nếu họ là người đã thanh toán các chi phí hợp lý đó. Trong trường hợp các cơ quan nhà nước đã chi trả một phần hoặc toàn bộ các chi phí này, thì họ không được bồi thường các chi phí mà cơ quan nhà nước đã chi trả. 2. 3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được xác định như sau: a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị bao gồm tiền tàu, xe, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương (nếu có) của một trong những người thân thích của người bị oan do cần thiết hoặc do cơ sở y tế yêu cầu phải có người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị. b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị oan trong thời gian điều trị được xác định như sau: - Nếu người chăm sóc người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. - Nếu người chăm sóc người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị oan làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. - Nếu người chăm sóc người bị oan chưa có việc làm, hoặc có tháng có làm việc, có tháng không, do đó hàng tháng không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm người đó chăm sóc người bị oan. - Trong thời gian chăm sóc người bị oan, nếu người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng. 2. 4. Người bị oan mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc là người không còn khả năng thực hiện hoạt động sản xuất vật chất do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị oan mất khả năng lao động quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người bị tàn tật ở địa phương nơi người bị oan cư trú. 2. 5. Khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất của người bị oan quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 388 cần chú ý: a) Người bị oan (kể cả trường hợp đã chết) chỉ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù, nếu họ có thu nhập ổn định. b) Thu nhập ổn định thực tế bị mất của người bị oan được xác định như sau: - Nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất; - Nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định nhưng có mức thu nhập khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất. c) Người bị oan chưa có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó hàng tháng không có thu nhập ổn định thì không được bồi thường theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 388. d) Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, nếu người bị oan vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng. 2. 6. Chỉ phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 nếu trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị oan thực tế đang có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù bị chết, bị tổn hại về sức khỏe dẫn đến mất khả năng lao động. Những người đang được người bị oan cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Mức cấp dưỡng, phương thức, thời gian cấp dưỡng căn cứ vào các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. III. VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN 1. Việc bồi thường thiệt hại cần được giải quyết kịp thời, công khai và đúng pháp luật. Các thiệt hại mà người bị oan hoặc thân nhân của họ được bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 phải được bồi thường một lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận khác. Đối với khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết số 388 nếu người được cấp dưỡng đồng ý nhận một lần thì bồi thường một lần cho họ; nếu họ không đồng ý nhận một lần thì cấp dưỡng hàng tháng trong thời gian họ được cấp dưỡng. 2. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào Điều 10 của Nghị quyết số 388. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như sau: 2. 1. Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát, nhưng hết thời hạn tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện Kiểm sát mà vẫn tiếp tục tạm giữ, tạm giam không có lệnh tạm giữ, tạm giam hoặc tuy có lệnh tạm giữ, tạm giam song không được Viện Kiểm sát phê chuẩn có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại trong trường hợp việc tạm giữ bị huỷ bỏ vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị huỷ bỏ vì người bị tạm giam không thực hiện hành vi phạm tội, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2. 2. Khi xác định được một người bị oan thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cơ quan xử lý oan sau cùng, không phụ thuộc có cơ quan tiến hành tố tụng trước đó có xử lý oan một phần. Ví dụ 1: Cơ quan Điều tra có kết luận điều tra đề nghị Viện Kiểm sát truy tố về nhiều tội, nhưng Viện Kiểm sát chỉ truy tố về một tội, song khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Viện Kiểm sát có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Ví dụ 2: Viện Kiểm sát truy tố bị can về nhiều tội, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử và tuyên bố bị cáo phạm một tội, song khi xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội vì không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2. 3. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định tạm giam bị can (hoặc bị cáo) để hoàn thành việc xét xử sơ thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2. 4. Nếu sau khi thụ lý vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử phúc thẩm, nhưng khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. 2. 5. Đối với tài sản của những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại, thì cơ quan đã ra quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách nhiệm bồi thường. IV. VIỆC CẤP, GỬI QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN 1. Quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được cấp hoặc gửi cho những người được bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của Nghị quyết số 388 và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này. 2. Việc cấp, gửi quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội phải được thực hiện trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Đối với trường hợp pháp luật tố tụng hình sự không có quy định, thì thời hạn đó là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định, bản án. 3. Trong trường hợp quyết định xác định người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, quyết định, bản án xác định người bị khởi tố, bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù không thực hiện hành vi phạm tội có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại, thì cơ quan có thẩm quyền phải khẩn trương xem xét giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, đề nghị, yêu cầu và thông báo kết quả giải quyết cho người có khiếu nại, đề nghị, yêu cầu biết. Nếu cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại, đề nghị, yêu cầu vẫn giữ nguyên quyết định, bản án đó thì việc bồi thường thiệt hại phải được thực hiện ngay. V. VỀ THỦ TỤC KHÔI PHỤC DANH DỰ, YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TẠI TÒA ÁN 1. Thủ tục khôi phục danh dự 1. 1. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan phải tiến hành việc xin lỗi, cải chính công khai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan. 1. 2. Thủ trưởng (hoặc người được uỷ quyền hợp pháp) của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thương lượng với người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ về địa điểm tiến hành xin lỗi (có thể tại nơi cư trú hoặc có thể tại nơi làm việc của người bị oan). Đồng thời phải thông báo cho cơ quan nơi người bị oan làm việc, chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú và tổ chức chính trị - xã hội mà người bị oan là thành viên để các cơ quan, tổ chức này cử người đại diện tham dự. 1. 3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải trực tiếp xin lỗi người bị oan và đăng cải chính trên một tờ báo trung ương (Báo Nhân dân hoặc báo Quân đội nhân dân) và một tờ báo địa phương (Báo của cơ quan Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) trong ba số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu không đăng báo. 2. Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại 2. 1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ, quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 388 phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường, mức bồi thường để làm căn cứ cho việc thương lượng và các nội dung khác theo Mẫu đơn số 01a, 01b kèm theo Thông tư liên tịch này. Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây: a) Quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật xác định người bị oan; b) Bản sao hợp lệ một trong các loại giấy tờ tuỳ thân của người bị oan hoặc chứng minh quan hệ của họ đối với người bị oan như hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân? hoặc xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị oan làm việc; c) Các chứng từ hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị oan trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải nhận đơn, các giấy tờ tài liệu kèm theo đơn và ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác tiến hành thương lượng với người bị oan hoặc thân nhân của họ về việc bồi thường thiệt hại. 2. 2. Trong trường hợp người bị oan chết mà có nhiều thân nhân thì cần yêu cầu họ cử một người đại diện để tiến hành thương lượng về việc bồi thường thiệt hại. Việc cử người đại diện phải được lập thành văn bản. Nếu các thân nhân của người bị oan chết không cử được ai làm đại diện thì phải tiến hành thương lượng trực tiếp với họ. 2. 3. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc người được uỷ quyền hợp pháp tiến hành việc thương lượng bồi thường thiệt hại tại trụ sở cơ quan. Khi tiến hành thương lượng phải xem xét các khoản thiệt hại có yêu cầu bồi thường trong đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn. Căn cứ vào các khoản thiệt hại được bồi thường quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 388; các quy định khác về chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định (nếu có) và hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này để thương lượng về khoản thiệt hại nào được bồi thường, mức bồi thường. 2. 4. Khi tiến hành thương lượng phải lập biên bản ghi lại đầy đủ diễn biến quá trình thương lượng. Trong trường hợp thương lượng thành, thì chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản thương lượng thành Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải ra quyết định bồi thường thiệt hại. Quyết định bồi thường thiệt hại phải ghi rõ các khoản tiền được bồi thường thiệt hại và người được bồi thường thiệt hại theo kết quả thương lượng thành được ghi trong biên bản (theo Mẫu 03a, 03b kèm theo Thông tư liên tịch này). 3. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án 3. 1. Người bị oan, thân nhân của người bị oan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày: a) Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhận được đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không tiến hành thương lượng; b) Biên bản thương lượng không thành được lập. 3. 2. Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người bị oan cư trú hoặc làm việc. Trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại, đồng thời là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì cần phân công thành phần Hội đồng xét xử là những người không có liên quan đến việc làm oan. Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. VI. VỀ KINH PHÍ VÀ CHI TRẢ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 1. Dự toán kinh phí bồi thường thiệt hại Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra trong năm trước, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự ở Trung ương (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng bao gồm cả Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Bộ Tư pháp và các cơ quan được giao quyền hạn điều tra như: Hải quan, Kiểm lâm? ) phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường cho người bị oan để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội. 2. Thủ tục chi trả tiền bồi thường thiệt hại 2. 1. Ngay sau khi có quyết định bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc có bản án, quyết định của Tòa án về việc bồi thường thiệt hại có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có văn bản đề nghị bồi thường thiệt hại gửi cơ quan chủ quản ở Trung ương để xem xét tổng hợp và đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí bồi thường thiệt hại. Trong văn bản cần ghi đầy đủ cụ thể người được bồi thường thiệt hại, các khoản tiền bồi thường đối với các khoản thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị Bộ Tài chính cấp để thực hiện việc bồi thường thiệt hại. Kèm theo văn bản nói trên phải có các giấy tờ sau đây: a) Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người được bồi thường bị oan; b) Quyết định của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc bản án, quyết định của Tòa án về việc bồi thường thiệt hại đã có hiệu lực pháp luật. 2. 2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường thiệt hại và các hồ sơ kèm theo quy định tại điểm 2. 1, Bộ Tài chính cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại để thực hiện bồi thường thiệt hại cho người bị oan. 2. 3. Sau khi nhận được kinh phí do Bộ Tài chính cấp, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện ngay việc chi trả bồi thường cho người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. 3. Quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại Kết thúc năm tài chính, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường thiệt hại báo cáo với cơ quan chủ quản ở Trung ương. Cơ quan chủ quản ở Trung ương tổng hợp quyết toán kinh phí chi trả bồi thường thiệt hại trong toàn ngành để quyết toán với Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra vào tổng quyết toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. VII. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Trong quá trình thực hiện giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, nếu có tranh chấp trong nội bộ ngành, thì Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của ngành xem xét giải quyết; nếu có tranh chấp giữa các ngành thì Thủ trưởng của các ngành liên quan phối hợp với nhau để xem xét giải quyết. Nếu có tranh chấp giữa các ngành thì Thủ trưởng cấp trên trực tiếp phối hợp với nhau để xem xét giải quyết. Thủ trưởng các ngành ở Trung ương chịu trách nhiệm giải quyết mọi tranh chấp trong nội bộ ngành mình và phối hợp để xem xét tranh chấp giữa các ngành với nhau. VIII. VỀ HIỆU LỰC CỦA THÔNG TƯ Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần hướng dẫn, thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho ngành cấp trên là Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn bổ sung, kịp thời. /.
Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm
01/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP
01/07/2005
Thông tư liên tịch
10/08/2005
Công báo số 31 & 32 - 07/2005;
26/07/2005
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Trần Thu
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm ________________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm (sau đây viết tắt là TKHS, TKTP), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn thực hiện như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Mục đích thực hiện TKHS, TKTP a) Đánh giá chính xác, khách quan tình hình vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm, kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phòng, chống tội phạm; cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời để phục vụ hoạt động phòng, chống tội phạm và các hoạt động quản lý, điều hành có liên quan; b) Đảm bảo tính thống nhất về số liệu TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những thời gian, thời điểm cụ thể; c) Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm và kết quả giải quyết các vụ án hình sự phục vụ công tác nghiên cứu, xác định nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật hình sự và tội phạm, giúp đưa ra những nhận định, đánh giá tổng quát về tình hình tội phạm; tham mưu cho Đảng và Nhà nước đề ra các chủ trương, giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Phạm vi điều chỉnh Thống kê hình sự, thống kê tội phạm trong văn bản này được hiểu là hoạt động điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm và kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trong các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. 3. Các nguyên tắc cơ bản trong công tác TKHS, TKTP Hoạt động TKHS, TKTP phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau đây: a) Bảo đảm tính trung thực, khách quan, đầy đủ, chính xác, kịp thời trong hoạt động thống kê; b) Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, đơn vị tính, thời hạn, kỳ hạn thống kê; c) Đảm bảo bí mật số liệu thống kê theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước và Danh mục bí mật của từng ngành. 4. Các loại thống kê được hướng dẫn trong Thông tư này bao gồm: a) Thống kê kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm; b) Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố, c) Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố, d) Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; đ) Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mẫu các phiếu thống kê, biểu thống kê giao cho các cơ quan chủ trì từng loại thống kê quyết định ban hành sau khi trao đổi thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan chủ trì thực hiện Đề án TKHS, TKTP liên ngành. 5. Hình thức thu thập thông tin thống kê, số liệu thống kê a) Báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với loại thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng; b) Điều tra thống kê bằng hai hình thức, bao gồm: điều tra định kỳ và không định kỳ. Điều tra định kỳ áp dụng đối với thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố, truy tố và xét xử sơ thẩm. Điều tra thống kê không định kỳ được áp dụng trong các giai đoạn nêu trên nhưng nội dung, phương án, thời hạn, thời điểm điều tra do Ban chỉ đạo liên ngành về TKHS, TKTP ở cấp Trung ương quyết định. 6. Nguồn tài liệu phục vụ thống kê Số liệu thống kê thu thập dựa trên cơ sở sổ thụ lý, sổ kết quả giải quyết, sổ theo dõi công tác thi hành án hình sự, phiếu thụ lý các vụ vi phạm pháp luật hình sự, các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. 7. Trách nhiệm thực hiện TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng. a) Viện kiểm sát có trách nhiệm chủ trì phối hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp thu thập, tổng hợp, phân tích, cung cấp và công bố số liệu về TKHS, TKTP bao gồm: Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố; thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố; thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng; chủ trì hoặc phối hợp tổ chức tập huấn nghiệp vụ TKHS, TKTP theo kế hoạch của liên ngành; b) Tòa án có trách nhiệm thu thập số liệu thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và ra quyết định thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của mình; phối hợp với Viện kiểm sát và Công an cùng cấp đối chiếu, thống nhất số liệu và cùng ký vào Báo cáo thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và quyết định thi hành án hình sự do Viện kiểm sát cùng cấp lập; c) Cơ quan Công an có trách nhiệm thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm từ kết quả xử lý những vụ vi phạm pháp luật hình sự thuộc thẩm quyền xử lý của mình và chuyển kết quả tổng hợp thống kê sang Viện kiểm sát cùng cấp sau khi loại thống kê này được thực hiện; thu thập số liệu thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình; phối hợp cùng Viện kiểm sát đối chiếu, thống nhất số liệu và cùng ký vào Báo cáo thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng do Viện kiểm sát cùng cấp lập; d) Theo sự ủy quyền và phân công của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát Quân sự trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và chủ trì phối hợp thu thập, đối chiếu, tổng hợp, phân tích số liệu TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quân đội theo hướng dẫn của Thông tư này; định kỳ báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định. 8. Lưu trữ, quản lý số liệu TKHS, TKTP Số liệu TKHS, TKTP là số liệu thống kê quốc gia, được lưu trữ, quản lý theo chế độ tài liệu nhà nước. Những cơ quan khai thác, sử đụng số liệu này phải lưu trữ, quản lý theo đúng quy định bảo mật thông tin thống kê của Nhà nước. II. NHƯNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ THỐNG KÊ HÌNH SỰ, THỐNG KÊ TỘI PHẠM 1. Thống kê kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm a) Cơ quan Công an các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc ghi chép, tổng hợp số liệu, lập Báo cáo thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát cùng cấp; b) Thời gian thực hiện: các cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu ban hành chế độ thống kê tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm; đưa vào thực hiện trong TKHS, TKTP liên ngành vào thời gian thích hợp. 2. Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố là thống kê những vụ án, bị can mới khởi tố, Viện kiểm sát đã thụ lý kiểm sát điều tra; b) Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm lập Phiếu thống kê những vụ án, bị can mới khởi tố. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án có trách nhiệm lập phiếu thống kê ngay sau khi thụ lý kiểm sát điều tra vụ án và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; c) Báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố được thực hiện hàng tháng. Thời hạn gửi số liệu thống kê do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định. 3. Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố là thống kê những vụ án, bị can mà Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố, đình chỉ, tạm đình chỉ; b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố trong ngành kiểm sát nhân dân. 4. Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là thống kê bị cáo có tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bao gồm các trường hợp: có tội nhưng được đình chỉ theo yêu cầu của người bị hại; có tội nhưng được đình chỉ và miễn trách nhiệm hình sự; đình chỉ do bị cáo chết hoặc do có sự thay đổi của pháp luật hình sự; bản án của Tòa án tuyên xử bị cáo có tội; b) Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm lập Phiếu thống kê bị cáo có tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Mỗi bị cáo lập 1 phiếu. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phải lập phiếu thống kê, ghi đầy đủ các nội dung vào phiếu ngay sau khi nhận được quyết định hoặc bản án của Tòa án cùng cấp; c) Báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được thực hiện hàng tháng. Thời hạn gửi số liệu thống kê do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định. 5. Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng a) Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ. b) Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm tổ chức ghi chép, thu thập số liệu thống kê trong phạm vi thẩm quyền giải quyết; đối chiếu số liệu và đại diện lãnh đạo các cơ quan này cùng ký vào Báo cáo thống kê do Viện kiểm sát cùng cấp lập. Các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm lập báo cáo thống kê những vụ án do các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương trực tiếp giải quyết (điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm...); phối hợp cùng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao đối chiếu số liệu và đại diện lãnh đạo các đơn vị này cùng ký vào báo cáo thống kê, gửi về Cục Thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tổng hợp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục Thống kê tội phạm) có trách nhiệm tổng hợp số liệu của Liên ngành trong toàn quốc. c) Đơn vị thống kê và phương pháp tính Đơn vị thống kê là "vụ án" và "người" (bị can, bị cáo, người bị kết án). Các vụ án được thống kê theo tội danh nghiêm trọng nhất hoặc tội danh có hình phạt cao nhất của bị can, bị cáo đầu vụ; nếu bị can, bị cáo đầu vụ có nhiều tội danh có cùng mức độ nghiêm trọng, cùng mức hình phạt thì thống kê theo các tội danh quy định trong các điều luật của Bộ luật Hình sự được áp dụng để khởi tố, truy tố, xét xử từ điều luật có số nhỏ nhất đến điều luật có số lớn nhất. Thống kê việc giải quyết các vụ án hình sự căn cứ vào ngày, tháng, năm ghi trong quyết định giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mỗi vụ án hình sự chỉ được thống kê một lần theo quyết định giải quyết vụ án tại thời điểm thống kê. Đối với những vụ đã chuyển đi nơi khác giải quyết thì chỉ nơi nhận và giải quyết mới thống kê những chỉ tiêu về kết quả giải quyết ở giai đoạn tiếp theo. d) Các kỳ thống kê trong năm Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng có các kỳ thống kê sau: hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 09 tháng và một năm. - Thống kê hàng tháng lấy số liệu từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng, có các báo cáo tháng giêng, tháng hai, tháng tư, tháng năm, tháng bảy, tháng tám, tháng mười và tháng mười một. - Thống kê 03 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 31 tháng ba; - Thống kê 06 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 30 tháng sáu; - Thống kê 09 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 30 tháng chín; - Thống kê một năm lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 31 tháng mười hai năm đó. Theo yêu cầu tổng hợp số liệu làm báo cáo của lãnh đạo các ngành tại các kỳ họp của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, Viện kiểm sát có trách nhiệm tổng hợp số liệu thống kê từ các kỳ báo cáo thống kê nêu trên cung cấp cho các ngành để thống nhất số liệu báo cáo. đ) Thời hạn hoàn thành và gửi báo cáo thống kê Trong phạm vi năm ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ thống kê, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, Tòa án từng cấp hoàn thành đối chiếu và đại diện lãnh đạo các ngành cùng ký vào Báo cáo thống kê do Viện kiểm sát cùng cấp lập. Báo cáo thống kê được sao gửi cho các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên để tổng hợp (kể cả báo cáo thống kê của các đơn vị nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương). Chậm nhất vào ngày 10 tháng sau, Viện kiểm sát cấp tỉnh hoàn thành Báo cáo thống kê tổng hợp cấp tỉnh, cấp huyện và gửi số liệu về Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoàn thành tổng hợp số liệu toàn quốc vào ngày 15 hàng tháng. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Công tác phối hợp tổ chức thực hiện Để việc phối hợp giữa các ngành trong liên ngành được chặt chẽ, kịp thời và có hiệu lực, thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về công tác TKHS, TKTP ở các cấp nhằm giúp thủ trưởng các ngành trong việc thống nhất chỉ đạo thực hiện công tác TKHS, TKTP như sau: a) Ban chỉ đạo liên ngành cấp Trung ương do một đồng chí Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Trưởng ban, một Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, một Thứ trưởng Bộ Công an và một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là thành viên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành trung ương có Đồng chí Cục trưởng Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo Văn phòng Bộ Công an, Trưởng phòng thống kê tội phạm Viện kiểm sát Quân sự Trung ương và các đồng chí phụ trách công tác thống kê, tổng hợp của các Bộ, ngành trên. Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất với lãnh đạo các ngành về: - Tổ chức, biên chế, bộ máy, phương tiện, kinh phí hoạt động thống kê cho từng ngành và liên ngành; - Hoàn thiện, bổ sung TKHS, TKTP; - Chỉ đạo việc thực hiện TKHS, TKTP, hàng năm tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác phối hợp thực hiện TKHS, TKTP được quy định trong Thông tư này; - Những biện pháp cần thiết để tăng cường thống nhất công tác TKHS, TKTP trong cả nước. b) Ban chỉ đạo liên ngành công tác TKHS, TKTP cấp tỉnh và cấp huyện do một Đồng chí lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân làm Trưởng ban, một đồng chí lãnh đạo Công an, một đồng chí lãnh đạo Tòa án nhân dân là thành viên. Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành công tác TKHS, TKTP cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các thành viên trong Ban chỉ đạo liên ngành hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư này, đồng thời phối hợp giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành cấp tỉnh có đồng chí Trưởng phòng thống kê tội phạm hoặc đồng chí phụ trách công tác thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng Công an cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng Tòa án nhân dân cấp tỉnh và các cán bộ chuyên trách làm công tác thống kê của các cơ quan trên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành cấp huyện có các cán bộ chuyên trách làm công tác thống kê của các cơ quan này. c) Bộ Quốc phòng quy định cụ thể mối quan hệ tổ chức thực hiện TKHS, TKTP trong Quân đội. 2. Trách nhiệm của Viện kiểm sát, Tòa án, Công an, Quốc phòng đối với công tác TKHS, TKTP a) Thủ trưởng các ngành Viện Kiểm sát, Tòa án, Công an, Quân đội có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc cấp dưới của mình thực hiện tốt TKHS, TKTP liên ngành, đảm bảo số liệu thống kê đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn. b) Mỗi Bộ, ngành, cơ quan trực thuộc cả ba cấp trung ương, tỉnh và huyện đều phải phân công cán bộ chuyên trách thực hiện công tác TKHS, TKTP của ngành mình và phối hợp đối chiếu số liệu liên ngành theo đúng thời gian quy định. c) Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc kịp thời phản ánh cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để giải thích, hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17926&Keyword=
2025-09-24T02:37:20.537851
../data\bocongan\012005TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP\document.json
01/01/2019
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm ________________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm (sau đây viết tắt là TKHS, TKTP), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn thực hiện như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Mục đích thực hiện TKHS, TKTP a) Đánh giá chính xác, khách quan tình hình vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm, kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phòng, chống tội phạm; cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời để phục vụ hoạt động phòng, chống tội phạm và các hoạt động quản lý, điều hành có liên quan; b) Đảm bảo tính thống nhất về số liệu TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những thời gian, thời điểm cụ thể; c) Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm và kết quả giải quyết các vụ án hình sự phục vụ công tác nghiên cứu, xác định nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật hình sự và tội phạm, giúp đưa ra những nhận định, đánh giá tổng quát về tình hình tội phạm; tham mưu cho Đảng và Nhà nước đề ra các chủ trương, giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Phạm vi điều chỉnh Thống kê hình sự, thống kê tội phạm trong văn bản này được hiểu là hoạt động điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm và kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trong các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. 3. Các nguyên tắc cơ bản trong công tác TKHS, TKTP Hoạt động TKHS, TKTP phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau đây: a) Bảo đảm tính trung thực, khách quan, đầy đủ, chính xác, kịp thời trong hoạt động thống kê; b) Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, đơn vị tính, thời hạn, kỳ hạn thống kê; c) Đảm bảo bí mật số liệu thống kê theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước và Danh mục bí mật của từng ngành. 4. Các loại thống kê được hướng dẫn trong Thông tư này bao gồm: a) Thống kê kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm; b) Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố, c) Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố, d) Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; đ) Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mẫu các phiếu thống kê, biểu thống kê giao cho các cơ quan chủ trì từng loại thống kê quyết định ban hành sau khi trao đổi thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan chủ trì thực hiện Đề án TKHS, TKTP liên ngành. 5. Hình thức thu thập thông tin thống kê, số liệu thống kê a) Báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với loại thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng; b) Điều tra thống kê bằng hai hình thức, bao gồm: điều tra định kỳ và không định kỳ. Điều tra định kỳ áp dụng đối với thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố, truy tố và xét xử sơ thẩm. Điều tra thống kê không định kỳ được áp dụng trong các giai đoạn nêu trên nhưng nội dung, phương án, thời hạn, thời điểm điều tra do Ban chỉ đạo liên ngành về TKHS, TKTP ở cấp Trung ương quyết định. 6. Nguồn tài liệu phục vụ thống kê Số liệu thống kê thu thập dựa trên cơ sở sổ thụ lý, sổ kết quả giải quyết, sổ theo dõi công tác thi hành án hình sự, phiếu thụ lý các vụ vi phạm pháp luật hình sự, các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. 7. Trách nhiệm thực hiện TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng. a) Viện kiểm sát có trách nhiệm chủ trì phối hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp thu thập, tổng hợp, phân tích, cung cấp và công bố số liệu về TKHS, TKTP bao gồm: Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố; thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố; thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng; chủ trì hoặc phối hợp tổ chức tập huấn nghiệp vụ TKHS, TKTP theo kế hoạch của liên ngành; b) Tòa án có trách nhiệm thu thập số liệu thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và ra quyết định thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của mình; phối hợp với Viện kiểm sát và Công an cùng cấp đối chiếu, thống nhất số liệu và cùng ký vào Báo cáo thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và quyết định thi hành án hình sự do Viện kiểm sát cùng cấp lập; c) Cơ quan Công an có trách nhiệm thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm từ kết quả xử lý những vụ vi phạm pháp luật hình sự thuộc thẩm quyền xử lý của mình và chuyển kết quả tổng hợp thống kê sang Viện kiểm sát cùng cấp sau khi loại thống kê này được thực hiện; thu thập số liệu thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình; phối hợp cùng Viện kiểm sát đối chiếu, thống nhất số liệu và cùng ký vào Báo cáo thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng do Viện kiểm sát cùng cấp lập; d) Theo sự ủy quyền và phân công của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát Quân sự trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và chủ trì phối hợp thu thập, đối chiếu, tổng hợp, phân tích số liệu TKHS, TKTP của các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quân đội theo hướng dẫn của Thông tư này; định kỳ báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định. 8. Lưu trữ, quản lý số liệu TKHS, TKTP Số liệu TKHS, TKTP là số liệu thống kê quốc gia, được lưu trữ, quản lý theo chế độ tài liệu nhà nước. Những cơ quan khai thác, sử đụng số liệu này phải lưu trữ, quản lý theo đúng quy định bảo mật thông tin thống kê của Nhà nước. II. NHƯNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ THỐNG KÊ HÌNH SỰ, THỐNG KÊ TỘI PHẠM 1. Thống kê kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm a) Cơ quan Công an các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc ghi chép, tổng hợp số liệu, lập Báo cáo thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát cùng cấp; b) Thời gian thực hiện: các cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu ban hành chế độ thống kê tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm; đưa vào thực hiện trong TKHS, TKTP liên ngành vào thời gian thích hợp. 2. Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố là thống kê những vụ án, bị can mới khởi tố, Viện kiểm sát đã thụ lý kiểm sát điều tra; b) Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm lập Phiếu thống kê những vụ án, bị can mới khởi tố. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án có trách nhiệm lập phiếu thống kê ngay sau khi thụ lý kiểm sát điều tra vụ án và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; c) Báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố được thực hiện hàng tháng. Thời hạn gửi số liệu thống kê do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định. 3. Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố là thống kê những vụ án, bị can mà Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố, đình chỉ, tạm đình chỉ; b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố trong ngành kiểm sát nhân dân. 4. Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm a) Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là thống kê bị cáo có tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bao gồm các trường hợp: có tội nhưng được đình chỉ theo yêu cầu của người bị hại; có tội nhưng được đình chỉ và miễn trách nhiệm hình sự; đình chỉ do bị cáo chết hoặc do có sự thay đổi của pháp luật hình sự; bản án của Tòa án tuyên xử bị cáo có tội; b) Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm lập Phiếu thống kê bị cáo có tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Mỗi bị cáo lập 1 phiếu. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phải lập phiếu thống kê, ghi đầy đủ các nội dung vào phiếu ngay sau khi nhận được quyết định hoặc bản án của Tòa án cùng cấp; c) Báo cáo thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được thực hiện hàng tháng. Thời hạn gửi số liệu thống kê do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định. 5. Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng a) Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ. b) Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm tổ chức ghi chép, thu thập số liệu thống kê trong phạm vi thẩm quyền giải quyết; đối chiếu số liệu và đại diện lãnh đạo các cơ quan này cùng ký vào Báo cáo thống kê do Viện kiểm sát cùng cấp lập. Các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm lập báo cáo thống kê những vụ án do các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương trực tiếp giải quyết (điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm. . ); phối hợp cùng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao đối chiếu số liệu và đại diện lãnh đạo các đơn vị này cùng ký vào báo cáo thống kê, gửi về Cục Thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tổng hợp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục Thống kê tội phạm) có trách nhiệm tổng hợp số liệu của Liên ngành trong toàn quốc. c) Đơn vị thống kê và phương pháp tính Đơn vị thống kê là "vụ án" và "người" (bị can, bị cáo, người bị kết án). Các vụ án được thống kê theo tội danh nghiêm trọng nhất hoặc tội danh có hình phạt cao nhất của bị can, bị cáo đầu vụ; nếu bị can, bị cáo đầu vụ có nhiều tội danh có cùng mức độ nghiêm trọng, cùng mức hình phạt thì thống kê theo các tội danh quy định trong các điều luật của Bộ luật Hình sự được áp dụng để khởi tố, truy tố, xét xử từ điều luật có số nhỏ nhất đến điều luật có số lớn nhất. Thống kê việc giải quyết các vụ án hình sự căn cứ vào ngày, tháng, năm ghi trong quyết định giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mỗi vụ án hình sự chỉ được thống kê một lần theo quyết định giải quyết vụ án tại thời điểm thống kê. Đối với những vụ đã chuyển đi nơi khác giải quyết thì chỉ nơi nhận và giải quyết mới thống kê những chỉ tiêu về kết quả giải quyết ở giai đoạn tiếp theo. d) Các kỳ thống kê trong năm Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng có các kỳ thống kê sau: hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 09 tháng và một năm. - Thống kê hàng tháng lấy số liệu từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng, có các báo cáo tháng giêng, tháng hai, tháng tư, tháng năm, tháng bảy, tháng tám, tháng mười và tháng mười một. - Thống kê 03 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 31 tháng ba; - Thống kê 06 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 30 tháng sáu; - Thống kê 09 tháng lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 30 tháng chín; - Thống kê một năm lấy số liệu từ ngày 01 tháng giêng đến hết ngày 31 tháng mười hai năm đó. Theo yêu cầu tổng hợp số liệu làm báo cáo của lãnh đạo các ngành tại các kỳ họp của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, Viện kiểm sát có trách nhiệm tổng hợp số liệu thống kê từ các kỳ báo cáo thống kê nêu trên cung cấp cho các ngành để thống nhất số liệu báo cáo. đ) Thời hạn hoàn thành và gửi báo cáo thống kê Trong phạm vi năm ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ thống kê, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, Tòa án từng cấp hoàn thành đối chiếu và đại diện lãnh đạo các ngành cùng ký vào Báo cáo thống kê do Viện kiểm sát cùng cấp lập. Báo cáo thống kê được sao gửi cho các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên để tổng hợp (kể cả báo cáo thống kê của các đơn vị nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương). Chậm nhất vào ngày 10 tháng sau, Viện kiểm sát cấp tỉnh hoàn thành Báo cáo thống kê tổng hợp cấp tỉnh, cấp huyện và gửi số liệu về Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoàn thành tổng hợp số liệu toàn quốc vào ngày 15 hàng tháng. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Công tác phối hợp tổ chức thực hiện Để việc phối hợp giữa các ngành trong liên ngành được chặt chẽ, kịp thời và có hiệu lực, thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về công tác TKHS, TKTP ở các cấp nhằm giúp thủ trưởng các ngành trong việc thống nhất chỉ đạo thực hiện công tác TKHS, TKTP như sau: a) Ban chỉ đạo liên ngành cấp Trung ương do một đồng chí Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Trưởng ban, một Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, một Thứ trưởng Bộ Công an và một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là thành viên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành trung ương có Đồng chí Cục trưởng Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo Văn phòng Bộ Công an, Trưởng phòng thống kê tội phạm Viện kiểm sát Quân sự Trung ương và các đồng chí phụ trách công tác thống kê, tổng hợp của các Bộ, ngành trên. Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất với lãnh đạo các ngành về: - Tổ chức, biên chế, bộ máy, phương tiện, kinh phí hoạt động thống kê cho từng ngành và liên ngành; - Hoàn thiện, bổ sung TKHS, TKTP; - Chỉ đạo việc thực hiện TKHS, TKTP, hàng năm tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác phối hợp thực hiện TKHS, TKTP được quy định trong Thông tư này; - Những biện pháp cần thiết để tăng cường thống nhất công tác TKHS, TKTP trong cả nước. b) Ban chỉ đạo liên ngành công tác TKHS, TKTP cấp tỉnh và cấp huyện do một Đồng chí lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân làm Trưởng ban, một đồng chí lãnh đạo Công an, một đồng chí lãnh đạo Tòa án nhân dân là thành viên. Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành công tác TKHS, TKTP cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các thành viên trong Ban chỉ đạo liên ngành hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư này, đồng thời phối hợp giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành cấp tỉnh có đồng chí Trưởng phòng thống kê tội phạm hoặc đồng chí phụ trách công tác thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng Công an cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng Tòa án nhân dân cấp tỉnh và các cán bộ chuyên trách làm công tác thống kê của các cơ quan trên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo liên ngành cấp huyện có các cán bộ chuyên trách làm công tác thống kê của các cơ quan này. c) Bộ Quốc phòng quy định cụ thể mối quan hệ tổ chức thực hiện TKHS, TKTP trong Quân đội. 2. Trách nhiệm của Viện kiểm sát, Tòa án, Công an, Quốc phòng đối với công tác TKHS, TKTP a) Thủ trưởng các ngành Viện Kiểm sát, Tòa án, Công an, Quân đội có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc cấp dưới của mình thực hiện tốt TKHS, TKTP liên ngành, đảm bảo số liệu thống kê đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn. b) Mỗi Bộ, ngành, cơ quan trực thuộc cả ba cấp trung ương, tỉnh và huyện đều phải phân công cán bộ chuyên trách thực hiện công tác TKHS, TKTP của ngành mình và phối hợp đối chiếu số liệu liên ngành theo đúng thời gian quy định. c) Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc kịp thời phản ánh cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để giải thích, hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh.
Hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
01/2005/TTLT/BCA-BLĐTBXH
01/02/2001
Thông tư liên tịch
18/01/2005
Công báo số 27 - 01/2005;
01/02/2001
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Văn Hưởng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Thi hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17/07/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định số 81/2003/NĐ-CP), Liên tịch Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thống nhất hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là trách nhiệm chung của Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp và mọi công dân; trong đó nòng cốt là ngành Công an và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. 2. Các tổ chức cá nhân tiến hành các hoạt động liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu lao động phải chấp hành đúng pháp luật, chịu sự quản lý, kiểm tra của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động đều thuộc đối tượng phòng chống, trong đó tập trung vào một lố hoạt động dưới đây: a) Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động để lừa đảo; b) Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài; c) Tuyển chọn lao động, đào tạo, thu tiền và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trái quy định của pháp luật; d) Người lao động Việt Nam trong thời gian làm việc ở nước ngoài tự ý bỏ hợp đồng; đ) Người lao động Việt Nam ở nước ngoài có hành vi lôi kéo, dụ dỗ người lao động khác bỏ trốn; e) Giả mạo giấy tờ hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn chứng nhận sai các loại giấy tờ để đi làm việc ở nước ngoài; g) Người lao động Việt Nam vi phạm pháp luật của nước sở tại làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, ngoại giao giữa hai nước; h) Hoạt động của một số cá nhân, tổ chức Việt Nam ở nước ngoài chống đối chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước ta. 4. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Trách nhiệm của ngành Công an 1.1. Trách nhiệm của Bộ Công an: a) Chỉ đạo lực lượng công an các cấp nắm tình hình các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hoạt động liên quan đến xuất khẩu lao động nhằm phát hiện kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động. - Giao cho Tổng cục An ninh (Cục Bảo vệ An ninh kinh tế) và Tổng cục Cảnh sát (Cơ quan Cảnh sát điều tra) tiếp nhận các thông tin, tài liệu do các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp về hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu lao động để phối hợp với các lực lượng công an từ Trung ương đến địa phương tổ chức điều tra và xử lý theo thẩm quyền: - Giao cho Tổng cục V nắm tình hình lao động Việt Nam ở nước ngoài, kịp thời báo cáo Bộ Công an và trao đối với Các Bộ, ngành có liên quan về chủ trương, chính sách của các nước tiếp nhận lao động Việt Nam; phối hợp với các cơ quan chức năng làm tốt công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài; tham mưu cho các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giải quyết những vấn đề lao động Việt Nam liên quan đến pháp luật của nước sở tại; - Giao cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp (định kỳ hoặc đột xuất) cho Cục quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông tin về số lượng người lao động của các doanh nghiệp xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu và các vấn để phát sinh có liên quan. b) Phối hợp với Các Bộ, ngành, cơ quan liên quan tuyên truyền, phát động phong trào quần chúng tham gia phòng, chống, tố giác tội phạm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. c) Cung cấp và trao đổi thông tin với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về: - Những vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã bị phát hiện và xử lý; - Tình hình, kết quả xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền giải quyết; - Phương thức, những thủ đoạn lừa đảo của các tổ chức, cá nhân liên quan đến xuất khẩu lao động do Bộ Công an phát hiện và xử lý có liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội; - Những bất cập, hạn chế trong cơ chế, chính sách cần được xem xét, điều chỉnh; những thiếu sót, tiêu cực trong công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của các cơ quan, tổ chức có liên quan. 1.2. Trách nhiệm của cơ quan công an địa phương: a) Thông qua công tác quản lý hành chính về hộ tịch hộ khẩu xác nhận lý lịch tư pháp và quản lý xuất nhập cảnh nhằm phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. b) Phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan và các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động có hình thức và biện pháp tuyên truyền, phát động phong trào quần chúng tham gia phòng, chống, tố giác tội phạm và những hành vi tiêu cực liên quan đến xuất khẩu lao động. c) Phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân, đường dây lừa đảo đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. d) Tổng hợp, báo cáo định kỳ (3 tháng, 6 tháng và 1 năm) và báo cáo đột xuất gửi Bộ Công an về những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động trên địa bàn. 2. Trách nhiệm của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: 2.1. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: a) Chỉ đạo các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động tuân thủ pháp luật, quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động của cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp, cũng như tổ chức và cá nhân khác có liên quan. b) Tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, phối hợp với Bộ Công an kiểm tra việc chấp hành pháp luật, quy định về xuất khẩu lao động của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. c) Phối hợp với Bộ Công an tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác điều tra, xử lý các vụ án liên quan đến xuất khẩu lao động. d) Xử lý kịp thời theo thẩm quyền những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. đ) Chủ động về kinh phí và phương tiện để phối hợp với lực lượng Công an trong những trường hợp cần thiết. e) Cung cấp cho Bộ Công an các thông tin, tài liệu sau đây: - Danh sách các doanh nghiệp được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các đơn vi trực thuộc doanh nghiệp được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động; - Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị xử lý về hành chính, tạm đình chỉ hợp đồng, tạm đình chỉ hoạt động xuất khẩu lao động và bị thu hồi giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động; - Các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động; - Thông tin về đơn thư tố giác hành vi lừa đảo và các dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động. 2.2. Trách nhiệm của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương: a) Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền công khai tại địa phương về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, thông tin về các doanh nghiệp được cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông báo về các vụ lừa đảo xuất khẩu lao động, các đối tượng lừa đảo và thủ đoạn hoạt động đã bị phát hiện tại địa phương để các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người dân nâng cao cảnh giác. b) Thường xuyên kiểm tra, nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, các cơ sở đào tạo người lao động để đưa đi làm việc ở nước ngoài tại địa phương. c) Phối hợp với cơ quan Công an địa phương thường xuyên kiểm tra phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động tại địa phương mình. d) Tăng cường Công tác quản lý người nước ngoài có hoạt động liên quan đến xuất khẩu lao động trên địa bàn. đ) Cung cấp cho cơ quan Công an đơn thư tố giác và thông tin khác liên quan đến các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trên địa bàn có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. e) Xử lý theo thẩm quyền đối với tổ chức, cá nhân có những vi phạm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức phối hợp giữa ngành Công an và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: - Bộ Công an giao cho Tổng cục An ninh (trực tiếp là Cục Bảo vệ An ninh kinh tế), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giao cho Cục Quản lý lao động ngoài nước là cơ quan thường trực giúp lãnh đạo hai Bộ tổ chức thực hiện Thông tư này. - Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao cho Phòng Bảo vệ An ninh kinh tế, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giao cho đơn vị có chức năng thuộc Sở là cơ quan thường trợ giúp lãnh đạo hai ngành thực hiện Thông tư này. - Cơ quan thường trực của hai Bộ có trách nhiệm thường xuyên phối hợp thông báo tình hình, kiểm điểm rút kinh nghiệm, đề xuất với lãnh đạo hai Bộ xem xét, chỉ đạo thực hiện các nội dung công tác cần thiết. Định kỳ hai năm một lần, hai Bộ tổ chức sơ kết công tác phối hợp trong phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. - Việc phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu giữa hai ngành Công an và Lao động - Thương binh và Xã hội nêu tại Thông tư này được tiến hành thường xuyên và trên cơ sở yêu cầu của mỗi bên. 4. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức đoàn thể có doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động (gọi chung là cơ quan chủ quản): Các cơ quan chủ quản chỉ đạo và quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trực thuộc thực hiện đúng các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương phối hợp tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động theo nội dung Thông tư này. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những quy định trước đây của Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để xem xét, hướng dẫn giải quyết./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=15887&Keyword=
2025-09-24T02:38:07.028129
../data\bocongan\012005TTLTBCA-BLĐTBXH\document.json
01/02/2024
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Thi hành Nghị định số 81/2003/NĐ - CP ngày 17/07/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định số 81/2003/NĐ - CP), Liên tịch Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thống nhất hướng dẫn công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Công tác phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là trách nhiệm chung của Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp và mọi công dân; trong đó nòng cốt là ngành Công an và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. 2. Các tổ chức cá nhân tiến hành các hoạt động liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu lao động phải chấp hành đúng pháp luật, chịu sự quản lý, kiểm tra của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động đều thuộc đối tượng phòng chống, trong đó tập trung vào một lố hoạt động dưới đây: a) Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động để lừa đảo; b) Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài; c) Tuyển chọn lao động, đào tạo, thu tiền và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trái quy định của pháp luật; d) Người lao động Việt Nam trong thời gian làm việc ở nước ngoài tự ý bỏ hợp đồng; đ) Người lao động Việt Nam ở nước ngoài có hành vi lôi kéo, dụ dỗ người lao động khác bỏ trốn; e) Giả mạo giấy tờ hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn chứng nhận sai các loại giấy tờ để đi làm việc ở nước ngoài; g) Người lao động Việt Nam vi phạm pháp luật của nước sở tại làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, ngoại giao giữa hai nước; h) Hoạt động của một số cá nhân, tổ chức Việt Nam ở nước ngoài chống đối chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước ta. 4. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Trách nhiệm của ngành Công an 1. 1. Trách nhiệm của Bộ Công an: a) Chỉ đạo lực lượng công an các cấp nắm tình hình các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hoạt động liên quan đến xuất khẩu lao động nhằm phát hiện kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động. - Giao cho Tổng cục An ninh (Cục Bảo vệ An ninh kinh tế) và Tổng cục Cảnh sát (Cơ quan Cảnh sát điều tra) tiếp nhận các thông tin, tài liệu do các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp về hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu lao động để phối hợp với các lực lượng công an từ Trung ương đến địa phương tổ chức điều tra và xử lý theo thẩm quyền: - Giao cho Tổng cục V nắm tình hình lao động Việt Nam ở nước ngoài, kịp thời báo cáo Bộ Công an và trao đối với Các Bộ, ngành có liên quan về chủ trương, chính sách của các nước tiếp nhận lao động Việt Nam; phối hợp với các cơ quan chức năng làm tốt công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài; tham mưu cho các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giải quyết những vấn đề lao động Việt Nam liên quan đến pháp luật của nước sở tại; - Giao cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp (định kỳ hoặc đột xuất) cho Cục quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông tin về số lượng người lao động của các doanh nghiệp xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu và các vấn để phát sinh có liên quan. b) Phối hợp với Các Bộ, ngành, cơ quan liên quan tuyên truyền, phát động phong trào quần chúng tham gia phòng, chống, tố giác tội phạm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. c) Cung cấp và trao đổi thông tin với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về: - Những vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã bị phát hiện và xử lý; - Tình hình, kết quả xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền giải quyết; - Phương thức, những thủ đoạn lừa đảo của các tổ chức, cá nhân liên quan đến xuất khẩu lao động do Bộ Công an phát hiện và xử lý có liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội; - Những bất cập, hạn chế trong cơ chế, chính sách cần được xem xét, điều chỉnh; những thiếu sót, tiêu cực trong công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của các cơ quan, tổ chức có liên quan. 1. 2. Trách nhiệm của cơ quan công an địa phương: a) Thông qua công tác quản lý hành chính về hộ tịch hộ khẩu xác nhận lý lịch tư pháp và quản lý xuất nhập cảnh nhằm phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. b) Phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan và các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động có hình thức và biện pháp tuyên truyền, phát động phong trào quần chúng tham gia phòng, chống, tố giác tội phạm và những hành vi tiêu cực liên quan đến xuất khẩu lao động. c) Phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân, đường dây lừa đảo đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. d) Tổng hợp, báo cáo định kỳ (3 tháng, 6 tháng và 1 năm) và báo cáo đột xuất gửi Bộ Công an về những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động trên địa bàn. 2. Trách nhiệm của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: 2. 1. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: a) Chỉ đạo các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động tuân thủ pháp luật, quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động của cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp, cũng như tổ chức và cá nhân khác có liên quan. b) Tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, phối hợp với Bộ Công an kiểm tra việc chấp hành pháp luật, quy định về xuất khẩu lao động của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. c) Phối hợp với Bộ Công an tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác điều tra, xử lý các vụ án liên quan đến xuất khẩu lao động. d) Xử lý kịp thời theo thẩm quyền những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. đ) Chủ động về kinh phí và phương tiện để phối hợp với lực lượng Công an trong những trường hợp cần thiết. e) Cung cấp cho Bộ Công an các thông tin, tài liệu sau đây: - Danh sách các doanh nghiệp được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các đơn vi trực thuộc doanh nghiệp được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động; - Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị xử lý về hành chính, tạm đình chỉ hợp đồng, tạm đình chỉ hoạt động xuất khẩu lao động và bị thu hồi giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động; - Các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động; - Thông tin về đơn thư tố giác hành vi lừa đảo và các dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động. 2. 2. Trách nhiệm của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương: a) Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền công khai tại địa phương về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, thông tin về các doanh nghiệp được cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông báo về các vụ lừa đảo xuất khẩu lao động, các đối tượng lừa đảo và thủ đoạn hoạt động đã bị phát hiện tại địa phương để các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người dân nâng cao cảnh giác. b) Thường xuyên kiểm tra, nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, các cơ sở đào tạo người lao động để đưa đi làm việc ở nước ngoài tại địa phương. c) Phối hợp với cơ quan Công an địa phương thường xuyên kiểm tra phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động tại địa phương mình. d) Tăng cường Công tác quản lý người nước ngoài có hoạt động liên quan đến xuất khẩu lao động trên địa bàn. đ) Cung cấp cho cơ quan Công an đơn thư tố giác và thông tin khác liên quan đến các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trên địa bàn có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. e) Xử lý theo thẩm quyền đối với tổ chức, cá nhân có những vi phạm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức phối hợp giữa ngành Công an và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: - Bộ Công an giao cho Tổng cục An ninh (trực tiếp là Cục Bảo vệ An ninh kinh tế), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giao cho Cục Quản lý lao động ngoài nước là cơ quan thường trực giúp lãnh đạo hai Bộ tổ chức thực hiện Thông tư này. - Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao cho Phòng Bảo vệ An ninh kinh tế, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giao cho đơn vị có chức năng thuộc Sở là cơ quan thường trợ giúp lãnh đạo hai ngành thực hiện Thông tư này. - Cơ quan thường trực của hai Bộ có trách nhiệm thường xuyên phối hợp thông báo tình hình, kiểm điểm rút kinh nghiệm, đề xuất với lãnh đạo hai Bộ xem xét, chỉ đạo thực hiện các nội dung công tác cần thiết. Định kỳ hai năm một lần, hai Bộ tổ chức sơ kết công tác phối hợp trong phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. - Việc phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu giữa hai ngành Công an và Lao động - Thương binh và Xã hội nêu tại Thông tư này được tiến hành thường xuyên và trên cơ sở yêu cầu của mỗi bên. 4. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức đoàn thể có doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động (gọi chung là cơ quan chủ quản): Các cơ quan chủ quản chỉ đạo và quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trực thuộc thực hiện đúng các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương phối hợp tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động theo nội dung Thông tư này. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những quy định trước đây của Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để xem xét, hướng dẫn giải quyết. /.
Hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự
01/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA
18/04/2005
Thông tư liên tịch
10/06/2005
Công báo số 20, năm 2005
26/05/2005
Toà án nhân dân tối cao
Phó Chánh án
Đặng Quang Phương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự Để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn như sau: I. VỀ ĐỐI TƯỢNG THUỘC THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ 1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh thì những vụ án hình sự mà người phạm tội là các đối tượng sau đây thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu: a) Quân nhân tại ngũ bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; b) Công chức quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội hoặc từ sĩ quan chuyển sang và do các đơn vị, doanh nghiệp quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; c) Công nhân quốc phòng bao gồm: - Những công dân được tuyển dụng thuộc biên chế của các đơn vị, doanh nghiệp quân đội; - Những công dân có hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị, doanh nghiệp quân đội, nếu họ phạm tội khi đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo hợp đồng; đ) Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên; e) Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo quy định của pháp luật về dân quân, tự vệ; g) Những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu đó. 2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh, những vụ án hình sự mà người phạm tội không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, nếu họ phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội, cụ thể là: a) Bí mật quân sự là bí mật của Quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. b) Gây thiệt hại cho Quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh hoặc tài sản của những người này được Quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội. Tài sản của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội. 3. Theo quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh thì đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong Quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào Quân đội thì Toà án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do Toà án nhân dân xét xử. Việc tính thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời gian phục vụ trong Quân đội được thực hiện như sau: a) Thời điểm bắt đầu thời gian phục vụ trong Quân đội được tính từ: a.1) Thời điểm đơn vị quân đội nhận bàn giao quân từ Ban chỉ huy quân sự địa phương; a.2) Thời điểm đã đăng ký tại nơi tuyển dụng làm nhiệm vụ quân sự, nơi tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nơi được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự và chịu sự quản lý trực tiếp của các đơn vị quân đội; a.3) Thời điểm có mặt tại đơn vị, doanh nghiệp quân đội để thực hiện hợp đồng lao động. b) Thời gian phục vụ trong Quân đội được kết thúc vào: b.1) Thời điểm nhận quyết định ra quân trong các trường hợp quân nhân được phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành, thôi việc, nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc theo các chế độ, chính sách xã hội khác. Trường hợp chiến sĩ xuất ngũ đúng thời hạn mà đơn vị tổ chức cho ra quân thì thời gian phục vụ trong Quân đội được kết thúc vào thời điểm đơn vị bàn giao cho Ban chỉ huy quân sự địa phương; b.2) Thời điểm cắt quân số được ghi trong quyết định cắt quân số hoặc thời điểm ra quyết định cắt quân số, nếu trong quyết định đó không ghi ngày cắt quân số đối với trường hợp đào ngũ; b.3) Thời điểm tước danh hiệu quân nhân của đơn vị quân đội có thẩm quyền có hiệu lực đối với trường hợp vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật; b.4) Thời điểm kết thúc thời hạn tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; b.5) Thời điểm hết hạn trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý trong trường hợp không có quyết định của cơ quan quân sự có thẩm quyền về việc kéo dài thời hạn này; b.6) Thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Theo quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh thì trường hợp trong cùng vụ án vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân thì Toà án quân sự xét xử toàn bộ vụ án; nếu có thể tách ra để xét xử riêng thì Toà án quân sự xét xử những người phạm tội và tội phạm theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 của Pháp lệnh, người phạm tội và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân; cụ thể như sau: a) Chỉ được tách vụ án để điều tra, truy tố, xét xử riêng, nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án; b) Khi xét thấy cần tách vụ án để xét xử riêng, thì Toà án quân sự đã thụ lý vụ án trao đổi với Viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên toà về việc đó. Nếu Viện kiểm sát quân sự thống nhất với ý kiến của Toà án quân sự, thì Toà án quân sự chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trong trường hợp Viện kiểm sát quân sự không thống nhất với ý kiến của Toà án quân sự, thì Toà án quân sự đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án. II. VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ THEO LÃNH THỔ Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ quy định tại Điều 171 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các Toà án quân sự được thực hiện như sau: 1. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp nào xảy ra trên địa bàn có Toà án quân sự cấp đó thì do Toà án quân sự cấp đó xét xử. Việc phân định địa bàn trong Quân đội để xác định thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự do Bộ Quốc phòng quy định cụ thể. 2. Trong trường hợp người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức tương đương có tổ chức Toà án quân sự, thì vụ án do Toà án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức tương đương xét xử, không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm. Trong trường hợp người phạm tội là những người theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh mà tội phạm của họ gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức tương đương, thì vụ án cũng do Toà án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức tương đương xét xử. 3. Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trong trường hợp có nhiều Toà án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do trong vụ án có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy tố bị can trước Toà án quân sự nào, thì Toà án quân sự đó xét xử vụ án. 4. Trường hợp bị cáo là quân nhân phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án quân sự quân khu, quân chủng hoặc tương đương xét xử theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự trung ương. III. VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ CÁC CẤP 1. Theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh, thì Toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung Đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống. 2. Theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh, thì Toà án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự sau đây: a) Về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; b) Về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; c) Về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; d) Về các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự; đ) Về các tội phạm mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Thượng tá trở lên hoặc có chức vụ từ Phó Sư đoàn trưởng, Phó Cục trưởng và tương đương trở lên; e) Về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực, nhưng Toà án quân sự quân khu và tương đương lấy lên để xét xử. 3. Chức vụ tương đương được nêu tại mục 1 và mục 2 của Phần III này được xác định theo quy định của Quân đội (ví dụ: Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tương đương với Phó Sư đoàn trưởng và Phó Cục trưởng; Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã tương đương với Phó Trung đoàn trưởng;...). 4. Cấp quân hàm được nêu tại mục 1 và mục 2 của Phần III này bao gồm cấp quân hàm của sĩ quan và cấp quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp. IV. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 01-02-1994 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự. 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án các cấp khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự có trách nhiệm thực hiện đúng các hướng dẫn trong Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì cần hướng dẫn, giải thích thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án các cấp phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để có hướng dẫn bổ sung hoặc giải thích kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=18254&Keyword=
2025-09-24T02:37:29.688728
../data\bocongan\012005TTLTTANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự Để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn như sau: I. VỀ ĐỐI TƯỢNG THUỘC THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ 1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh thì những vụ án hình sự mà người phạm tội là các đối tượng sau đây thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu: a) Quân nhân tại ngũ bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; b) Công chức quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội hoặc từ sĩ quan chuyển sang và do các đơn vị, doanh nghiệp quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; c) Công nhân quốc phòng bao gồm: - Những công dân được tuyển dụng thuộc biên chế của các đơn vị, doanh nghiệp quân đội; - Những công dân có hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị, doanh nghiệp quân đội, nếu họ phạm tội khi đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo hợp đồng; đ) Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên; e) Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo quy định của pháp luật về dân quân, tự vệ; g) Những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu đó. 2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh, những vụ án hình sự mà người phạm tội không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, nếu họ phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội, cụ thể là: a) Bí mật quân sự là bí mật của Quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. b) Gây thiệt hại cho Quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh hoặc tài sản của những người này được Quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội. Tài sản của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội. 3. Theo quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh thì đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong Quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào Quân đội thì Toà án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do Toà án nhân dân xét xử. Việc tính thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời gian phục vụ trong Quân đội được thực hiện như sau: a) Thời điểm bắt đầu thời gian phục vụ trong Quân đội được tính từ: a. 1) Thời điểm đơn vị quân đội nhận bàn giao quân từ Ban chỉ huy quân sự địa phương; a. 2) Thời điểm đã đăng ký tại nơi tuyển dụng làm nhiệm vụ quân sự, nơi tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nơi được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự và chịu sự quản lý trực tiếp của các đơn vị quân đội; a. 3) Thời điểm có mặt tại đơn vị, doanh nghiệp quân đội để thực hiện hợp đồng lao động. b) Thời gian phục vụ trong Quân đội được kết thúc vào: b. 1) Thời điểm nhận quyết định ra quân trong các trường hợp quân nhân được phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành, thôi việc, nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc theo các chế độ, chính sách xã hội khác. Trường hợp chiến sĩ xuất ngũ đúng thời hạn mà đơn vị tổ chức cho ra quân thì thời gian phục vụ trong Quân đội được kết thúc vào thời điểm đơn vị bàn giao cho Ban chỉ huy quân sự địa phương; b. 2) Thời điểm cắt quân số được ghi trong quyết định cắt quân số hoặc thời điểm ra quyết định cắt quân số, nếu trong quyết định đó không ghi ngày cắt quân số đối với trường hợp đào ngũ; b. 3) Thời điểm tước danh hiệu quân nhân của đơn vị quân đội có thẩm quyền có hiệu lực đối với trường hợp vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật; b. 4) Thời điểm kết thúc thời hạn tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; b. 5) Thời điểm hết hạn trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý trong trường hợp không có quyết định của cơ quan quân sự có thẩm quyền về việc kéo dài thời hạn này; b. 6) Thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Theo quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh thì trường hợp trong cùng vụ án vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân thì Toà án quân sự xét xử toàn bộ vụ án; nếu có thể tách ra để xét xử riêng thì Toà án quân sự xét xử những người phạm tội và tội phạm theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 của Pháp lệnh, người phạm tội và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân; cụ thể như sau: a) Chỉ được tách vụ án để điều tra, truy tố, xét xử riêng, nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án; b) Khi xét thấy cần tách vụ án để xét xử riêng, thì Toà án quân sự đã thụ lý vụ án trao đổi với Viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên toà về việc đó. Nếu Viện kiểm sát quân sự thống nhất với ý kiến của Toà án quân sự, thì Toà án quân sự chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trong trường hợp Viện kiểm sát quân sự không thống nhất với ý kiến của Toà án quân sự, thì Toà án quân sự đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án. II. VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ THEO LÃNH THỔ Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ quy định tại Điều 171 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các Toà án quân sự được thực hiện như sau: 1. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp nào xảy ra trên địa bàn có Toà án quân sự cấp đó thì do Toà án quân sự cấp đó xét xử. Việc phân định địa bàn trong Quân đội để xác định thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự do Bộ Quốc phòng quy định cụ thể. 2. Trong trường hợp người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức tương đương có tổ chức Toà án quân sự, thì vụ án do Toà án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức tương đương xét xử, không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm. Trong trường hợp người phạm tội là những người theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh mà tội phạm của họ gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức tương đương, thì vụ án cũng do Toà án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức tương đương xét xử. 3. Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trong trường hợp có nhiều Toà án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do trong vụ án có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy tố bị can trước Toà án quân sự nào, thì Toà án quân sự đó xét xử vụ án. 4. Trường hợp bị cáo là quân nhân phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án quân sự quân khu, quân chủng hoặc tương đương xét xử theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự trung ương. III. VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ CÁC CẤP 1. Theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh, thì Toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung Đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống. 2. Theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh, thì Toà án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự sau đây: a) Về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; b) Về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; c) Về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; d) Về các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự; đ) Về các tội phạm mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Thượng tá trở lên hoặc có chức vụ từ Phó Sư đoàn trưởng, Phó Cục trưởng và tương đương trở lên; e) Về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực, nhưng Toà án quân sự quân khu và tương đương lấy lên để xét xử. 3. Chức vụ tương đương được nêu tại mục 1 và mục 2 của Phần III này được xác định theo quy định của Quân đội (ví dụ: Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tương đương với Phó Sư đoàn trưởng và Phó Cục trưởng; Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã tương đương với Phó Trung đoàn trưởng; . .). 4. Cấp quân hàm được nêu tại mục 1 và mục 2 của Phần III này bao gồm cấp quân hàm của sĩ quan và cấp quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp. IV. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 01 - 02 - 1994 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự. 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án các cấp khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự có trách nhiệm thực hiện đúng các hướng dẫn trong Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì cần hướng dẫn, giải thích thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án các cấp phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để có hướng dẫn bổ sung hoặc giải thích kịp thời. /.
Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
01/2006/TT-BCA(C11)
12/01/2006
Thông tư
14/02/2006
Công báo số 45 + 46, năm 2006
30/01/2006
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ______________________________________ Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên trong khi tiến hành tố tụng hình sự. Đây là vấn đề mới, do đó, để bảo đảm việc thực hiện thống nhất và đạt được các yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, từng bước củng cố, kiện toàn đội ngũ Điều tra viên của Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: 1. Về việc triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lấy lời khai người bị tạm giữ 1.1. Điều tra viên được phân công thụ lý chính điều tra vụ án được ký giấy triệu tập bị can tại ngoại để hỏi cung, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo kế hoạch đã được Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án duyệt. Việc triệu tập bị can, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện theo quy định tại các điều 129, 133, 135, 136, 137 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. 1.2. Điều tra viên được phân công thụ lý chính điều tra vụ án có quyền ký Phiếu yêu cầu trích xuất bị can đang bị tạm giam hoặc người đang bị tạm giữ trong trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ để thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung, nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra... hoặc lấy lời khai người bị tạm giữ. Nếu Điều tra viên thấy cần phải làm việc với các bị can, bị cáo của vụ án khác thì phải có ý kiến của Thủ trưởng cơ quan thụ lý vụ án đó. Khi Điều tra viên có Phiếu yêu cầu trích xuất và Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án thì trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ phải trích xuất bị can đang bị tạm giam hoặc người đang bị tạm giữ, giao cho Điều tra viên để thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung, nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra, v. v... hoặc lấy lời khai người bị tạm giữ. 1.3. Khi tiến hành triệu tập để lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong các vụ án hình sự thuộc các đối tượng dưới đây thì Điều tra viên phải cân nhắc cụ thể từng trường hợp để đề xuất Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đến trụ sở Cơ quan điều tra để lấy lời khai hoặc có thể lấy lời khai tại nơi ở, nơi làm việc: - Những người có chức sắc trong các tôn giáo như: Giám mục, Linh mục trong đạo Thiên chúa; Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức trong Phật giáo; Mục sư, Giáo sư trong đạo Cao đài và người đứng đầu các tôn giáo khác; - Người có danh tiếng trong xã hội hoặc trong các dân tộc ít người; - Người là nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ có uy tín lớn trong nước và trên thế giới; - Đối với người nước ngoài, việc triệu tập phải tuân theo các quy định của pháp luật có liên quan đến quan hệ ngoại giao và người nước ngoài; - Đối với những người là cán bộ, đảng viên thuộc huyện ủy, tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành và cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì khi tiến hành triệu tập để lấy lời khai được tiến hành như sau : + Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đối với người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do huyện ủy quản lý. Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành và cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời. + Đối với Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời những người là cán bộ, đảng viên thuộc tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành. Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời. + Đối với Cơ quan điều tra Bộ Công an: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ở Bộ được phân công chỉ đạo điều tra vụ án để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đối với những người là cán bộ, đảng viên do huyện ủy, tỉnh ủy quản lý, Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo lãnh đạo Bộ để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời; - Khi gặp và tiến hành lấy lời khai của những người tham gia tố tụng hình sự theo giấy triệu tập hoặc giấy mời, Điều tra viên phải có thái độ đúng mực, lịch sự, ứng xử có văn hóa trong hoạt động điều tra. Nghiêm cấm mọi hành vi hống hách, quan liêu, cửa quyền, lăng mạ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người được triệu tập đến Cơ quan điều tra để tiến hành lấy lời khai; - Biên bản hỏi cung bị can do Điều tra viên lập theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Biên bản ghi lời khai người làm chứng, biên bản ghi lời khai ngươi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải thực hiện theo đúng quy định tại các điều 95, 125, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. - Điều tra viên phải báo cáo ngay kết quả làm việc cho lãnh đạo Phòng ở Cơ quan điều tra Bộ Công an, lãnh đạo Đội ở Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện hoặc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra biết. 1.4. Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự nên chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng. Việc sử dụng giấy triệu tập phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định. Giấy triệu tập bị can tại ngoại; giấy triệu tập hoặc giấy mời người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến Cơ quan điều tra để làm việc chỉ có giá trị làm việc trong một lần. Nghiêm cấm lợi dụng việc sử dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng, không liên quan đến vụ án hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề mà họ đã trình bày, v.v... làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín cửa cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghiêm cấm Điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời. Trước khi triệu tập hoặc mời thì Điều tra viên phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của người được triệu tập hoặc được mời. Nếu người được triệu tập hoặc được mời ở quá xa trụ sở của Cơ quan điều tra thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra. 2. Việc quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng 2.1. Việc áp giải bị can tại ngoại hoặc dẫn giải người làm chứng là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng. Vì vậy, Điều tra viên phải xem xét rất thận trọng; chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án và trong các trường hợp họ cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. 2.2. Điều tra viên quy định tại điểm 1.1 mục 1 của Thông tư này có quyền ký quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng theo điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 129, Điều 130, Điều 133, Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Điều tra viên phải báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trước khi quyết định việc áp giải bị can tại ngoại hoặc dẫn giải người làm chứng. 2.3. Điều tra viên phải phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp cùng cấp để Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm cử cán bộ thực hiện việc áp giải bị can tại ngoại, dẫn giải người làm chứng đến Cơ quan điều tra để Điều tra viên tiến hành làm việc theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19 ) ngày 10 tháng 9 năm 2003 của Bộ Công an. 3. Về phân công nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên trong công tác khám nghiệm hiện trạng, khám nghiệm tử thi 3.1. Trong khi chờ quy định mới của Bộ Công an về vấn đề này thì công tác khám nghiệm hiện trường vẫn được thực hiện theo Quyết định số 57/2001/QĐ-BCA ngày 06 tháng 02 năm 2001 của Bộ Công an. Điều tra viên có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và chủ trì công tác khám nghiệm hiện trường và chịu trách nhiệm về công tác khám nghiệm hiện trường. Để công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có hiệu quả, Cơ quan điều tra mời (hoặc trưng dụng) những người có kiến thức chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể để tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi như cán bộ kỹ thuật hình sự, bác sĩ pháp y, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, kỹ sư đường sắt, kỹ sư ngành hàng không v.v... 3.2. Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án có thể trực tiếp chỉ đạo hoặc chủ trì công tác khám nghiệm hiện trường. 4. Về việc Điều tra viên sử dụng con dấu của Cơ quan điều tra 4.1. Các loại giấy triệu tập, giấy mời, quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng, các biên bản về hoạt động điều tra do Điều tra viên được phân công điều tra vụ án lập và ký thì Điều tra viên được đóng dấu Cơ quan điều tra điều tra viên phải xuất trình Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án cho văn thư trước khi đóng dấu vào các văn bản tố tụng có chữ ký của Điều tra viên; không đóng dấu treo vào các biên bản hoạt động điều tra do Điều tra viên lập và ký, các văn bản hoạt động điều tra nếu phô-tô thì không được đóng dấu Cơ quan điều tra). Sau khi đã phân công Điều tra viên thụ lý vụ án thì không phải ghi tên Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra vào biên bản hoạt động điều tra, nếu Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra đó; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không phải ký vào các biên bản hoạt động điều tra do Điều tra viên thực hiện. 4.2. Điều tra viên phải đăng ký chữ ký của mình với Văn phòng Cơ quan điều tra cùng cấp hoặc Đội điều tra tổng hợp thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Nếu Điều tra viên không đăng ký chữ ký thì không được đóng dấu Cơ quan điều tra. Cán bộ điều tra chưa được bổ nhiệm làm Điều tra viên không được phân công trong Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án, khi giúp việc cho Điều tra viên trong điều tra vụ án, cán bộ điều tra thực hiện theo kế hoạch điều tra và không được đóng dấu Cơ quan điều tra vào chữ ký của mình trong các biên bản hoạt động điều tra. 5. Hiệu lực của Thông tư Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Cục An ninh điều tra Bộ Công an và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an giúp lãnh đạo Bộ kiểm tra, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện Thông tư này ở Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc vấn đề mới nảy sinh, Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân báo cáo về Bộ (qua Cục An ninh điều tra Bộ Công an và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an) để có hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16727&Keyword=
2025-09-24T02:32:02.491135
../data\bocongan\012006TT-BCAC11\document.json
01/02/2024
THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ______________________________________ Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên trong khi tiến hành tố tụng hình sự. Đây là vấn đề mới, do đó, để bảo đảm việc thực hiện thống nhất và đạt được các yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, từng bước củng cố, kiện toàn đội ngũ Điều tra viên của Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: 1. Về việc triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lấy lời khai người bị tạm giữ 1. 1. Điều tra viên được phân công thụ lý chính điều tra vụ án được ký giấy triệu tập bị can tại ngoại để hỏi cung, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo kế hoạch đã được Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án duyệt. Việc triệu tập bị can, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện theo quy định tại các điều 129, 133, 135, 136, 137 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. 1. 2. Điều tra viên được phân công thụ lý chính điều tra vụ án có quyền ký Phiếu yêu cầu trích xuất bị can đang bị tạm giam hoặc người đang bị tạm giữ trong trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ để thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung, nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra. . hoặc lấy lời khai người bị tạm giữ. Nếu Điều tra viên thấy cần phải làm việc với các bị can, bị cáo của vụ án khác thì phải có ý kiến của Thủ trưởng cơ quan thụ lý vụ án đó. Khi Điều tra viên có Phiếu yêu cầu trích xuất và Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án thì trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ phải trích xuất bị can đang bị tạm giam hoặc người đang bị tạm giữ, giao cho Điều tra viên để thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung, nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra, v. v. . hoặc lấy lời khai người bị tạm giữ. 1. 3. Khi tiến hành triệu tập để lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong các vụ án hình sự thuộc các đối tượng dưới đây thì Điều tra viên phải cân nhắc cụ thể từng trường hợp để đề xuất Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đến trụ sở Cơ quan điều tra để lấy lời khai hoặc có thể lấy lời khai tại nơi ở, nơi làm việc: - Những người có chức sắc trong các tôn giáo như: Giám mục, Linh mục trong đạo Thiên chúa; Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức trong Phật giáo; Mục sư, Giáo sư trong đạo Cao đài và người đứng đầu các tôn giáo khác; - Người có danh tiếng trong xã hội hoặc trong các dân tộc ít người; - Người là nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ có uy tín lớn trong nước và trên thế giới; - Đối với người nước ngoài, việc triệu tập phải tuân theo các quy định của pháp luật có liên quan đến quan hệ ngoại giao và người nước ngoài; - Đối với những người là cán bộ, đảng viên thuộc huyện ủy, tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành và cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì khi tiến hành triệu tập để lấy lời khai được tiến hành như sau: + Đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đối với người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do huyện ủy quản lý. Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành và cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời. + Đối với Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh được phân công chỉ đạo điều tra vụ án ký giấy triệu tập hoặc giấy mời những người là cán bộ, đảng viên thuộc tỉnh ủy quản lý, cán bộ, đảng viên cấp vụ, cục hoặc tương đương trở lên thuộc các bộ, ngành. Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời. + Đối với Cơ quan điều tra Bộ Công an: Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ở Bộ được phân công chỉ đạo điều tra vụ án để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời đối với những người là cán bộ, đảng viên do huyện ủy, tỉnh ủy quản lý, Nếu người được triệu tập là cán bộ, đảng viên do Ban Bí thư quản lý thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án báo cáo lãnh đạo Bộ để xin ý kiến trước khi ký giấy triệu tập hoặc giấy mời; - Khi gặp và tiến hành lấy lời khai của những người tham gia tố tụng hình sự theo giấy triệu tập hoặc giấy mời, Điều tra viên phải có thái độ đúng mực, lịch sự, ứng xử có văn hóa trong hoạt động điều tra. Nghiêm cấm mọi hành vi hống hách, quan liêu, cửa quyền, lăng mạ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người được triệu tập đến Cơ quan điều tra để tiến hành lấy lời khai; - Biên bản hỏi cung bị can do Điều tra viên lập theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Biên bản ghi lời khai người làm chứng, biên bản ghi lời khai ngươi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải thực hiện theo đúng quy định tại các điều 95, 125, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. - Điều tra viên phải báo cáo ngay kết quả làm việc cho lãnh đạo Phòng ở Cơ quan điều tra Bộ Công an, lãnh đạo Đội ở Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện hoặc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra biết. 1. 4. Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự nên chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng. Việc sử dụng giấy triệu tập phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định. Giấy triệu tập bị can tại ngoại; giấy triệu tập hoặc giấy mời người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến Cơ quan điều tra để làm việc chỉ có giá trị làm việc trong một lần. Nghiêm cấm lợi dụng việc sử dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng, không liên quan đến vụ án hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề mà họ đã trình bày, v. v. . làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín cửa cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghiêm cấm Điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời. Trước khi triệu tập hoặc mời thì Điều tra viên phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của người được triệu tập hoặc được mời. Nếu người được triệu tập hoặc được mời ở quá xa trụ sở của Cơ quan điều tra thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra. 2. Việc quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng 2. 1. Việc áp giải bị can tại ngoại hoặc dẫn giải người làm chứng là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng. Vì vậy, Điều tra viên phải xem xét rất thận trọng; chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án và trong các trường hợp họ cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. 2. 2. Điều tra viên quy định tại điểm 1. 1 mục 1 của Thông tư này có quyền ký quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng theo điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 129, Điều 130, Điều 133, Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Điều tra viên phải báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trước khi quyết định việc áp giải bị can tại ngoại hoặc dẫn giải người làm chứng. 2. 3. Điều tra viên phải phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp cùng cấp để Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm cử cán bộ thực hiện việc áp giải bị can tại ngoại, dẫn giải người làm chứng đến Cơ quan điều tra để Điều tra viên tiến hành làm việc theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT - BCA(V19 ) ngày 10 tháng 9 năm 2003 của Bộ Công an. 3. Về phân công nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên trong công tác khám nghiệm hiện trạng, khám nghiệm tử thi 3. 1. Trong khi chờ quy định mới của Bộ Công an về vấn đề này thì công tác khám nghiệm hiện trường vẫn được thực hiện theo Quyết định số 57/2001/QĐ - BCA ngày 06 tháng 02 năm 2001 của Bộ Công an. Điều tra viên có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và chủ trì công tác khám nghiệm hiện trường và chịu trách nhiệm về công tác khám nghiệm hiện trường. Để công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có hiệu quả, Cơ quan điều tra mời (hoặc trưng dụng) những người có kiến thức chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể để tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi như cán bộ kỹ thuật hình sự, bác sĩ pháp y, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, kỹ sư đường sắt, kỹ sư ngành hàng không v. v. . 3. 2. Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án có thể trực tiếp chỉ đạo hoặc chủ trì công tác khám nghiệm hiện trường. 4. Về việc Điều tra viên sử dụng con dấu của Cơ quan điều tra 4. 1. Các loại giấy triệu tập, giấy mời, quyết định áp giải bị can tại ngoại, quyết định dẫn giải người làm chứng, các biên bản về hoạt động điều tra do Điều tra viên được phân công điều tra vụ án lập và ký thì Điều tra viên được đóng dấu Cơ quan điều tra điều tra viên phải xuất trình Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án cho văn thư trước khi đóng dấu vào các văn bản tố tụng có chữ ký của Điều tra viên; không đóng dấu treo vào các biên bản hoạt động điều tra do Điều tra viên lập và ký, các văn bản hoạt động điều tra nếu phô - tô thì không được đóng dấu Cơ quan điều tra). Sau khi đã phân công Điều tra viên thụ lý vụ án thì không phải ghi tên Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra vào biên bản hoạt động điều tra, nếu Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra đó; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không phải ký vào các biên bản hoạt động điều tra do Điều tra viên thực hiện. 4. 2. Điều tra viên phải đăng ký chữ ký của mình với Văn phòng Cơ quan điều tra cùng cấp hoặc Đội điều tra tổng hợp thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Nếu Điều tra viên không đăng ký chữ ký thì không được đóng dấu Cơ quan điều tra. Cán bộ điều tra chưa được bổ nhiệm làm Điều tra viên không được phân công trong Quyết định phân công Điều tra viên thụ lý vụ án, khi giúp việc cho Điều tra viên trong điều tra vụ án, cán bộ điều tra thực hiện theo kế hoạch điều tra và không được đóng dấu Cơ quan điều tra vào chữ ký của mình trong các biên bản hoạt động điều tra. 5. Hiệu lực của Thông tư Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Cục An ninh điều tra Bộ Công an và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an giúp lãnh đạo Bộ kiểm tra, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện Thông tư này ở Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc vấn đề mới nảy sinh, Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân báo cáo về Bộ (qua Cục An ninh điều tra Bộ Công an và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an) để có hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài, đoàn đại biểu nước ngoài, phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài
01/2006/TTLT-BBCVT-BNG-BCA
03/03/2006
Thông tư liên tịch
30/03/2006
Công báo số 14+15, năm 2006
15/03/2006
Bộ Bưu chính, Viễn thông
Thứ trưởng
Lê Nam Thắng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài, đoàn đại biểu nước ngoài, phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài ____________________ Căn cứ Điều 17 Nghị định số 24/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về tần số vô tuyến điện; Liên bộ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Bưu chính, Viễn thông hướng dẫn việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài như sau, I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn chi tiết việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài, đoàn đại biểu nước ngoài, phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài. Đài thông tin vệ tinh nêu tại Thông tư này là đài sử dụng dịch vụ thông tin vệ tinh của nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế về thông tin vệ tinh. Việc cấp phép đối với đài thông tin vệ tinh sử dụng dịch vụ thông tin vệ tinh của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định 24/2004/NĐ-CP. 2. Đối tượng áp dụng Các đối tượng nêu tại Thông tư này bao gồm: 2.1. Cơ quan đại diện nước ngoài là: Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, liên Chính phủ tại Việt Nam. 2.2. Đoàn đại biểu nước ngoài là: Đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm Việt Nam theo lời mời của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. 2.3. Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài là: phóng viên có thành phần trong danh sách của đoàn và hoạt động dưới sự quản lý của quan chức phụ trách báo chí của đoàn. 2.4. Các trường hợp đặc biệt khác được sự chấp thuận của liên Bộ. II. CẤP PHÉP SỬ DỤNG ĐÀI THÔNG TIN VỆ TINH 1. Điều kiện cấp phép Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này muốn thiết lập và sử dụng đài thông tin vệ tinh phải đảm bảo các điều kiện sau đây: 1.1. Việc thiết lập và sử dụng đài thông tin vệ tinh chỉ để đảm bảo liên lạc công vụ, có đối tượng liên lạc rõ ràng, không vì mục đích kinh doanh và các mục đích khác. 1.2. Thiết bị phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định áp dụng. 1.3. Thiết bị phải đảm bảo các giới hạn an toàn về trường điện từ đối với con người trong môi trường xung quanh theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 1.4. Địa điểm lắp đặt anten, chiều cao anten phải phù hợp với các quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông và các quy định khác của pháp luật về đảm bảo an toàn hàng không. 1.5. Đối với các đối tượng nêu tại điểm 2.1; 2.2; 2.3 mục I của Thông tư này, việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh được áp dụng theo nguyên tắc có đi có lại. Phía nước ngoài cũng phải tạo điều kiện cho các cơ quan đại diện và đoàn đại biểu của Việt Nam được lắp đặt sử dụng đài thông tin vệ tinh khi có nhu cầu. 2. Hồ sơ xin cấp phép Hồ sơ xin cấp phép (làm thành 3 bộ) gồm: 2.1. Đơn xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 2.2. Bản khai xin cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện đối với đài thông tin vệ tinh (theo mẫu quy định) kèm theo hồ sơ kỹ thuật của thiết bị thông tin vệ tinh. 2.3. Giấy phép hoạt động báo chí do Bộ Ngoại giao cấp (đối với phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài ). 3. Nơi tiếp nhận hồ sơ 3.1. Vụ Lễ tân (Bộ Ngoại giao) là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, liên Chính phủ tại Việt Nam. Riêng đối với các cơ quan lãnh sự nước ngoài, hồ sơ xin cấp phép do Sở Ngoại vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận. Sở Ngoại vụ xác nhận và gửi kèm theo hồ sơ cho Vụ Lễ tân trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ để làm các thủ tục theo quy định tại điểm 4 mục II của Thông tư này. 3.2. Cơ quan chủ quản đón đoàn là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh của đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm Việt Nam theo lời mời của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. 3.3. Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí (Bộ Ngoại giao) là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép của Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài. 4. Thủ tục giải quyết cấp giấy phép Thủ tục giải quyết cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này do các cơ quan hữu quan của Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông cùng phối hợp thực hiện theo quy trình sau đây: 4.1. Đối với Cơ quan đại diện nước ngoài 4.1.1. Vụ Lễ tân (Bộ Ngoại giao) có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I (Bộ Công an) và Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Bưu chính, Viễn thông) trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4.1.2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Vụ Lễ tân và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trong trường hợp cần phải có thêm thời gian xem xét, khi hết thời hạn nêu trên, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có văn bản thông báo về thời hạn xem xét thêm (nhưng không quá 10 ngày làm việc) cho Vụ Lễ tân và Cục Tần số vô tuyến điện. 4.1.3. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác, trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh), gửi giấy phép cho cơ quan đại diện nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Vụ Lễ tân và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. Riêng đối với đài thông tin vệ tinh cần phải phối hợp tần số quốc tế, Cục Tần số vô tuyến điện chỉ cấp giấy phép tạm thời trong thời gian thực hiện phối hợp (theo thủ tục quy định tại Điều 9, Thể lệ vô tuyến điện của Liên minh viễn thông quốc tế). Việc cấp phép chính thức được xem xét sau khi hoàn thành phối hợp tần số quốc tế. 4.2. Đối với Đoàn đại biểu nước ngoài 4.2.1. Cơ quan chủ quản đón đoàn có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 1 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4.2.2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan chủ quản đón đoàn và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. 4.2.3. Sau thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác từ Cơ quan chủ quản đón đoàn, nếu không có ý kiến của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) và gửi giấy phép cho đoàn đại biểu nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Cơ quan chủ quản đón đoàn và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 4.3. Đối với Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài 4.3.1. Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4.3.2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trong trường hợp cần phải có thêm thời gian xem xét, khi hết thời hạn nêu trên, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có văn bản thông báo về thời hạn xem xét thêm (nhưng không quá 10 ngày làm việc) cho Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Tần số vô tuyến điện. 4.3.3. Sau khi nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) và gửi giấy phép cho phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 4.3.4. Trong trường hợp gấp, hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh có thể được xem xét cùng hồ sơ của đoàn đại biểu mà phóng viên đi cùng. 5. Thời hạn của Giấy phép 5.1. Thời hạn của Giấy phép cấp cho cơ quan đại diện nước ngoài tối đa là 5 năm đối với các đài thông tin vệ tinh đã hoàn thành phối hợp tần số quốc tế. 5.2. Thời hạn của Giấy phép cấp cho đoàn đại biểu nước ngoài và phóng viên đi theo đoàn tính theo thời gian làm việc của đoàn tại Việt Nam. 6. Bổ sung hồ sơ Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, không chính xác hoặc cần làm rõ nội dung: Kể từ ngày nhận được hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày làm việc (đối với các đối tượng nêu tại điểm 2.1; 2.3 mục I), và 1 ngày làm việc (đối với các đối tượng nêu tại điểm 2.2 mục I của Thông tư này), Cục Tần số vô tuyến điện gửi văn bản yêu cầu và hướng dẫn các đối tượng nêu trên hoàn chỉnh hồ sơ. Việc xem xét ấn định tần số chỉ được tiến hành sau khi có đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác gửi Cục Tần số vô tuyến điện. 7. Gia hạn giấy phép Thủ tục gia hạn giấy phép chỉ áp dụng đối với đối tượng là cơ quan đại diện nước ngoài. Trước khi giấy phép hết hạn 30 ngày, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng (không sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép), cơ quan đại diện nước ngoài phải có Đơn đề nghị gia hạn giấy phép (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 7.1. Vụ Lễ tân có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 7.2. Cục Tần số vô tuyến điện xem xét gia hạn và gửi giấy phép cho Cơ quan đại diện nước ngoài trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, đồng thời thông báo kết quả cho Vụ Lễ tân và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 8. Sửa đổi, bổ sung giấy phép Trong thời gian hiệu lực của giấy phép, nếu các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này có nhu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép, phải làm hồ sơ để được cấp lại giấy phép. Hồ sơ gồm: 8.1. Đơn đề nghị sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 8.2. Bản khai ghi rõ các nội dung sửa đổi, bổ sung. 8.3. Các tài liệu khác liên quan đến nội dung sửa đổi, bổ sung. Quy trình, thời hạn giải quyết việc sửa đổi, bổ sung giấy phép thực hiện theo điểm 4 mục II của Thông tư này . 9. Từ chối cấp mới, gia hạn, sửa đổi bổ sung giấy phép Trường hợp từ chối cấp mới, gia hạn, sửa đổi bổ sung giấy phép, Cục Tần số vô tuyến điện gửi thông báo nêu rõ lý do từ chối cho Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản của Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí. Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí trả lời về việc từ chối cho các đối tượng liên quan nêu tại điểm 2.1; 2.3 mục I của Thông tư này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Cục Tần số vô tuyến điện. 10. Phí, lệ phí cấp giấy phép và phí sử dụng tần số vô tuyến điện Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh phải nộp lệ phí cấp giấy phép và phí sử dụng tần số vô tuyến điện theo mức thu quy định của Bộ Tài chính (hiện tại thực hiện theo Quyết định số 22/2005/QĐ-BTC ngày 11/4/2005). 11. Thu hồi giấy phép Trong thời hạn còn hiệu lực, giấy phép sử dụng tần số và thiết bị thông tin vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) sẽ bị thu hồi trong những trường hợp sau đây: 11.1. Sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà cơ quan đại diện nước ngoài không triển khai trên thực tế các nội dung quy định trong giấy phép. 11.2. Các đối tượng nêu tại điểm 2.1; 2.3 và 2.4 mục I của Thông tư này có thông báo bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao về việc không tiếp tục sử dụng đài thông tin vệ tinh. 11.3. Các đối tượng nêu tại điểm 2.1; 2.3 và 2.4 mục I của Thông tư này sử dụng đài thông tin vệ tinh vi phạm các điều kiện cấp phép quy định tại điểm 1 mục II của Thông tư này, sử dụng sai mục đích, vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam. 11.4. Khi đóng cửa trụ sở cơ quan đại diện tại Việt Nam (theo thông báo của Bộ Ngoại giao). Bộ Bưu chính, Viễn thông ra quyết định thu hồi giấy phép, nêu rõ lý do thu hồi, gửi quyết định cho Bộ Ngoại giao hoặc Cơ quan chủ quản đón đoàn và Bộ Công an. Bộ Ngoại giao hoặc Cơ quan chủ quản đón đoàn thông báo việc thu hồi giấy phép cho các đối tượng nêu tại điểm 2.1; 2.3 và 2.4 mục I của Thông tư này. 12. Trách nhiệm của các đối tượng được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh có trách nhiệm: 12.1. Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về việc lắp đặt, sử dụng tần số và thiết bị thông tin vệ tinh. 12.2. Sử dụng đúng mục đích liên lạc công vụ, không kinh doanh và dùng cho mục đích khác. 12.3. Kê khai đúng, chính xác và đầy đủ các thông số kỹ thuật và khai thác trong bản khai (theo mẫu quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông). 12.4. Chỉ được lắp đặt và khai thác đài thông tin vệ tinh sau khi được cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh). 12.5. Khai thác đúng các điều kiện quy định trong giấy phép, đặc biệt về tần số, độ chiếm dụng băng tần, công suất, địa điểm lắp đặt và các điều kiện khác. 12.6. Không gây nhiễu có hại cho các đài vô tuyến điện khác. 12.7. Phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về Viễn thông và tần số vô tuyến điện. 12.8. Tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác kiểm tra kiểm soát về tần số và xử lý nhiễu có hại. III. KIỂM TRA, KIỂM SOÁT VÀ GIẢI QUYẾT NHIỄU CÓ HẠI 1. Kiểm tra, kiểm soát tần số vô tuyến điện 1.1. Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi sử dụng tần số, đài thông tin vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện của Cục Tần số vô tuyến điện. 1.2. Việc đo kiểm tra các tham số kỹ thuật tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh được thực hiện trong trường hợp giải quyết nhiễu có hại hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện. Cục Tần số vô tuyến điện thông báo về thời gian, địa điểm đo kiểm tra tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh của các Cơ quan đại diện nước ngoài để Vụ Lễ tân làm các thủ tục ngoại giao, tạo điều kiện cho các cơ quan hữu quan hoàn thành công tác kiểm tra, kiểm soát tần số vô tuyến điện. 2. Giải quyết nhiễu có hại 2.1. Trong quá trình khai thác sử dụng đài thông tin vệ tinh, các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này có quyền và trách nhiệm như sau: 2.1.1. Khi bị gây nhiễu có hại, cần gửi “Báo cáo nhiễu có hại” theo mẫu quy định cho Cục Tần số vô tuyến điện và thực hiện theo hướng dẫn để tổ chức việc xác định nguồn gây nhiễu, biện pháp giải quyết nhiễu có hại. 2.1.2. Nếu gây nhiễu có hại phải ngừng hoạt động và áp dụng các biện pháp cần thiết để loại trừ can nhiễu trước khi hoạt động trở lại. 2.1.3. Phối hợp với Cục Tần số vô tuyến điện và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện nguồn nhiễu nhanh chóng, chính xác và xử lý nhiễu có hiệu quả trong khu vực nhiễu có hại. 2.2. Việc xử lý nhiễu có hại được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại khoản 2, Điều 30, Nghị định số 24/2004/NĐ-CP. 2.3. Trong trường hợp cần thiết, Cục Tần số vô tuyến điện chủ trì và phối hợp với các cơ quan hữu quan thành lập đoàn kiểm tra liên ngành giải quyết nhiễu có hại. Vụ Lễ tân làm các thủ tục về ngoại giao khi cần phải đo đạc giải quyết can nhiễu tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh của các Cơ quan đại diện nước ngoài. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các cơ quan hữu quan thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Bưu chính, Viễn thông có trách nhiệm phối hợp, triển khai thực hiện và hướng dẫn các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I thực hiện Thông tư này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16468&Keyword=
2025-09-24T02:37:04.952021
../data\bocongan\012006TTLT-BBCVT-BNG-BCA\document.json
30/11/2023
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài, đoàn đại biểu nước ngoài, phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài ____________________ Căn cứ Điều 17 Nghị định số 24/2004/NĐ - CP ngày 14 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về tần số vô tuyến điện; Liên bộ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Bưu chính, Viễn thông hướng dẫn việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài như sau, I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn chi tiết việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho cơ quan đại diện nước ngoài, đoàn đại biểu nước ngoài, phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài. Đài thông tin vệ tinh nêu tại Thông tư này là đài sử dụng dịch vụ thông tin vệ tinh của nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế về thông tin vệ tinh. Việc cấp phép đối với đài thông tin vệ tinh sử dụng dịch vụ thông tin vệ tinh của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định 24/2004/NĐ - CP. 2. Đối tượng áp dụng Các đối tượng nêu tại Thông tư này bao gồm: 2. 1. Cơ quan đại diện nước ngoài là: Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, liên Chính phủ tại Việt Nam. 2. 2. Đoàn đại biểu nước ngoài là: Đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm Việt Nam theo lời mời của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. 2. 3. Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài là: phóng viên có thành phần trong danh sách của đoàn và hoạt động dưới sự quản lý của quan chức phụ trách báo chí của đoàn. 2. 4. Các trường hợp đặc biệt khác được sự chấp thuận của liên Bộ. II. CẤP PHÉP SỬ DỤNG ĐÀI THÔNG TIN VỆ TINH 1. Điều kiện cấp phép Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này muốn thiết lập và sử dụng đài thông tin vệ tinh phải đảm bảo các điều kiện sau đây: 1. 1. Việc thiết lập và sử dụng đài thông tin vệ tinh chỉ để đảm bảo liên lạc công vụ, có đối tượng liên lạc rõ ràng, không vì mục đích kinh doanh và các mục đích khác. 1. 2. Thiết bị phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định áp dụng. 1. 3. Thiết bị phải đảm bảo các giới hạn an toàn về trường điện từ đối với con người trong môi trường xung quanh theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 1. 4. Địa điểm lắp đặt anten, chiều cao anten phải phù hợp với các quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông và các quy định khác của pháp luật về đảm bảo an toàn hàng không. 1. 5. Đối với các đối tượng nêu tại điểm 2. 1; 2. 2; 2. 3 mục I của Thông tư này, việc cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh được áp dụng theo nguyên tắc có đi có lại. Phía nước ngoài cũng phải tạo điều kiện cho các cơ quan đại diện và đoàn đại biểu của Việt Nam được lắp đặt sử dụng đài thông tin vệ tinh khi có nhu cầu. 2. Hồ sơ xin cấp phép Hồ sơ xin cấp phép (làm thành 3 bộ) gồm: 2. 1. Đơn xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 2. 2. Bản khai xin cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện đối với đài thông tin vệ tinh (theo mẫu quy định) kèm theo hồ sơ kỹ thuật của thiết bị thông tin vệ tinh. 2. 3. Giấy phép hoạt động báo chí do Bộ Ngoại giao cấp (đối với phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài ). 3. Nơi tiếp nhận hồ sơ 3. 1. Vụ Lễ tân (Bộ Ngoại giao) là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, liên Chính phủ tại Việt Nam. Riêng đối với các cơ quan lãnh sự nước ngoài, hồ sơ xin cấp phép do Sở Ngoại vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận. Sở Ngoại vụ xác nhận và gửi kèm theo hồ sơ cho Vụ Lễ tân trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ để làm các thủ tục theo quy định tại điểm 4 mục II của Thông tư này. 3. 2. Cơ quan chủ quản đón đoàn là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh của đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm Việt Nam theo lời mời của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. 3. 3. Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí (Bộ Ngoại giao) là đầu mối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép của Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài. 4. Thủ tục giải quyết cấp giấy phép Thủ tục giải quyết cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh cho các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này do các cơ quan hữu quan của Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông cùng phối hợp thực hiện theo quy trình sau đây: 4. 1. Đối với Cơ quan đại diện nước ngoài 4. 1. 1. Vụ Lễ tân (Bộ Ngoại giao) có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I (Bộ Công an) và Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Bưu chính, Viễn thông) trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4. 1. 2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Vụ Lễ tân và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trong trường hợp cần phải có thêm thời gian xem xét, khi hết thời hạn nêu trên, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có văn bản thông báo về thời hạn xem xét thêm (nhưng không quá 10 ngày làm việc) cho Vụ Lễ tân và Cục Tần số vô tuyến điện. 4. 1. 3. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác, trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh), gửi giấy phép cho cơ quan đại diện nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Vụ Lễ tân và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. Riêng đối với đài thông tin vệ tinh cần phải phối hợp tần số quốc tế, Cục Tần số vô tuyến điện chỉ cấp giấy phép tạm thời trong thời gian thực hiện phối hợp (theo thủ tục quy định tại Điều 9, Thể lệ vô tuyến điện của Liên minh viễn thông quốc tế). Việc cấp phép chính thức được xem xét sau khi hoàn thành phối hợp tần số quốc tế. 4. 2. Đối với Đoàn đại biểu nước ngoài 4. 2. 1. Cơ quan chủ quản đón đoàn có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 1 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4. 2. 2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan chủ quản đón đoàn và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. 4. 2. 3. Sau thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác từ Cơ quan chủ quản đón đoàn, nếu không có ý kiến của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) và gửi giấy phép cho đoàn đại biểu nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Cơ quan chủ quản đón đoàn và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 4. 3. Đối với Phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài 4. 3. 1. Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 4. 3. 2. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trong trường hợp cần phải có thêm thời gian xem xét, khi hết thời hạn nêu trên, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I có văn bản thông báo về thời hạn xem xét thêm (nhưng không quá 10 ngày làm việc) cho Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Tần số vô tuyến điện. 4. 3. 3. Sau khi nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Tần số vô tuyến điện tính toán ấn định tần số, cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) và gửi giấy phép cho phóng viên nước ngoài đi theo phục vụ đoàn đại biểu nước ngoài, đồng thời thông báo kết quả cho Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 4. 3. 4. Trong trường hợp gấp, hồ sơ xin cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh có thể được xem xét cùng hồ sơ của đoàn đại biểu mà phóng viên đi cùng. 5. Thời hạn của Giấy phép 5. 1. Thời hạn của Giấy phép cấp cho cơ quan đại diện nước ngoài tối đa là 5 năm đối với các đài thông tin vệ tinh đã hoàn thành phối hợp tần số quốc tế. 5. 2. Thời hạn của Giấy phép cấp cho đoàn đại biểu nước ngoài và phóng viên đi theo đoàn tính theo thời gian làm việc của đoàn tại Việt Nam. 6. Bổ sung hồ sơ Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, không chính xác hoặc cần làm rõ nội dung: Kể từ ngày nhận được hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày làm việc (đối với các đối tượng nêu tại điểm 2. 1; 2. 3 mục I), và 1 ngày làm việc (đối với các đối tượng nêu tại điểm 2. 2 mục I của Thông tư này), Cục Tần số vô tuyến điện gửi văn bản yêu cầu và hướng dẫn các đối tượng nêu trên hoàn chỉnh hồ sơ. Việc xem xét ấn định tần số chỉ được tiến hành sau khi có đủ hồ sơ hợp lệ, chính xác gửi Cục Tần số vô tuyến điện. 7. Gia hạn giấy phép Thủ tục gia hạn giấy phép chỉ áp dụng đối với đối tượng là cơ quan đại diện nước ngoài. Trước khi giấy phép hết hạn 30 ngày, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng (không sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép), cơ quan đại diện nước ngoài phải có Đơn đề nghị gia hạn giấy phép (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 7. 1. Vụ Lễ tân có ý kiến bằng văn bản gửi Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I và Cục Tần số vô tuyến điện trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 7. 2. Cục Tần số vô tuyến điện xem xét gia hạn và gửi giấy phép cho Cơ quan đại diện nước ngoài trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, đồng thời thông báo kết quả cho Vụ Lễ tân và Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I. 8. Sửa đổi, bổ sung giấy phép Trong thời gian hiệu lực của giấy phép, nếu các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này có nhu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép, phải làm hồ sơ để được cấp lại giấy phép. Hồ sơ gồm: 8. 1. Đơn đề nghị sửa đổi, bổ sung nội dung giấy phép (theo mẫu quy định) có con dấu của cơ quan và chữ ký, họ tên của người có thẩm quyền. 8. 2. Bản khai ghi rõ các nội dung sửa đổi, bổ sung. 8. 3. Các tài liệu khác liên quan đến nội dung sửa đổi, bổ sung. Quy trình, thời hạn giải quyết việc sửa đổi, bổ sung giấy phép thực hiện theo điểm 4 mục II của Thông tư này. 9. Từ chối cấp mới, gia hạn, sửa đổi bổ sung giấy phép Trường hợp từ chối cấp mới, gia hạn, sửa đổi bổ sung giấy phép, Cục Tần số vô tuyến điện gửi thông báo nêu rõ lý do từ chối cho Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản của Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí. Vụ Lễ tân, Cơ quan chủ quản đón đoàn hoặc Vụ Thông tin - Báo chí trả lời về việc từ chối cho các đối tượng liên quan nêu tại điểm 2. 1; 2. 3 mục I của Thông tư này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Cục Tần số vô tuyến điện. 10. Phí, lệ phí cấp giấy phép và phí sử dụng tần số vô tuyến điện Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh phải nộp lệ phí cấp giấy phép và phí sử dụng tần số vô tuyến điện theo mức thu quy định của Bộ Tài chính (hiện tại thực hiện theo Quyết định số 22/2005/QĐ - BTC ngày 11/4/2005). 11. Thu hồi giấy phép Trong thời hạn còn hiệu lực, giấy phép sử dụng tần số và thiết bị thông tin vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh) sẽ bị thu hồi trong những trường hợp sau đây: 11. 1. Sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà cơ quan đại diện nước ngoài không triển khai trên thực tế các nội dung quy định trong giấy phép. 11. 2. Các đối tượng nêu tại điểm 2. 1; 2. 3 và 2. 4 mục I của Thông tư này có thông báo bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao về việc không tiếp tục sử dụng đài thông tin vệ tinh. 11. 3. Các đối tượng nêu tại điểm 2. 1; 2. 3 và 2. 4 mục I của Thông tư này sử dụng đài thông tin vệ tinh vi phạm các điều kiện cấp phép quy định tại điểm 1 mục II của Thông tư này, sử dụng sai mục đích, vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam. 11. 4. Khi đóng cửa trụ sở cơ quan đại diện tại Việt Nam (theo thông báo của Bộ Ngoại giao). Bộ Bưu chính, Viễn thông ra quyết định thu hồi giấy phép, nêu rõ lý do thu hồi, gửi quyết định cho Bộ Ngoại giao hoặc Cơ quan chủ quản đón đoàn và Bộ Công an. Bộ Ngoại giao hoặc Cơ quan chủ quản đón đoàn thông báo việc thu hồi giấy phép cho các đối tượng nêu tại điểm 2. 1; 2. 3 và 2. 4 mục I của Thông tư này. 12. Trách nhiệm của các đối tượng được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi được cấp phép sử dụng đài thông tin vệ tinh có trách nhiệm: 12. 1. Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về việc lắp đặt, sử dụng tần số và thiết bị thông tin vệ tinh. 12. 2. Sử dụng đúng mục đích liên lạc công vụ, không kinh doanh và dùng cho mục đích khác. 12. 3. Kê khai đúng, chính xác và đầy đủ các thông số kỹ thuật và khai thác trong bản khai (theo mẫu quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông). 12. 4. Chỉ được lắp đặt và khai thác đài thông tin vệ tinh sau khi được cấp Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện (đối với đài thông tin vệ tinh). 12. 5. Khai thác đúng các điều kiện quy định trong giấy phép, đặc biệt về tần số, độ chiếm dụng băng tần, công suất, địa điểm lắp đặt và các điều kiện khác. 12. 6. Không gây nhiễu có hại cho các đài vô tuyến điện khác. 12. 7. Phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về Viễn thông và tần số vô tuyến điện. 12. 8. Tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác kiểm tra kiểm soát về tần số và xử lý nhiễu có hại. III. KIỂM TRA, KIỂM SOÁT VÀ GIẢI QUYẾT NHIỄU CÓ HẠI 1. Kiểm tra, kiểm soát tần số vô tuyến điện 1. 1. Các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này khi sử dụng tần số, đài thông tin vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện của Cục Tần số vô tuyến điện. 1. 2. Việc đo kiểm tra các tham số kỹ thuật tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh được thực hiện trong trường hợp giải quyết nhiễu có hại hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện. Cục Tần số vô tuyến điện thông báo về thời gian, địa điểm đo kiểm tra tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh của các Cơ quan đại diện nước ngoài để Vụ Lễ tân làm các thủ tục ngoại giao, tạo điều kiện cho các cơ quan hữu quan hoàn thành công tác kiểm tra, kiểm soát tần số vô tuyến điện. 2. Giải quyết nhiễu có hại 2. 1. Trong quá trình khai thác sử dụng đài thông tin vệ tinh, các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I của Thông tư này có quyền và trách nhiệm như sau: 2. 1. 1. Khi bị gây nhiễu có hại, cần gửi “Báo cáo nhiễu có hại” theo mẫu quy định cho Cục Tần số vô tuyến điện và thực hiện theo hướng dẫn để tổ chức việc xác định nguồn gây nhiễu, biện pháp giải quyết nhiễu có hại. 2. 1. 2. Nếu gây nhiễu có hại phải ngừng hoạt động và áp dụng các biện pháp cần thiết để loại trừ can nhiễu trước khi hoạt động trở lại. 2. 1. 3. Phối hợp với Cục Tần số vô tuyến điện và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện nguồn nhiễu nhanh chóng, chính xác và xử lý nhiễu có hiệu quả trong khu vực nhiễu có hại. 2. 2. Việc xử lý nhiễu có hại được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại khoản 2, Điều 30, Nghị định số 24/2004/NĐ - CP. 2. 3. Trong trường hợp cần thiết, Cục Tần số vô tuyến điện chủ trì và phối hợp với các cơ quan hữu quan thành lập đoàn kiểm tra liên ngành giải quyết nhiễu có hại. Vụ Lễ tân làm các thủ tục về ngoại giao khi cần phải đo đạc giải quyết can nhiễu tại khu vực lắp đặt đài thông tin vệ tinh của các Cơ quan đại diện nước ngoài. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các cơ quan hữu quan thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Bưu chính, Viễn thông có trách nhiệm phối hợp, triển khai thực hiện và hướng dẫn các đối tượng nêu tại điểm 2 mục I thực hiện Thông tư này. /.
Hướng dẫn việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý
01/2006/TTLT/BCA-BBCVT
05/05/2006
Thông tư liên tịch
06/06/2006
Công báo số 25+26, năm 2006
22/05/2006
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý ___________________ Căn cứ Luật phòng, chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000; Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002; Căn cứ Nghị định số 99/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 157/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về bưu chính; Căn cứ Quyết định số 190/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý dịch vụ chuyển phát; Liên bộ Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông thống nhất hướng dẫn việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý như sau: I.  QUY ĐỊNH CHUNG : 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư này hướng dẫn cụ thể việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi trong nước, gửi từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý. 2. Nguyên tắc mở và kiểm tra 2.1. Việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá phải có căn cứ, theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền hướng dẫn tại Thông tư này. 2.2. Nghiêm cấm lợi dụng, lạm dụng việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức. 2.3. Nghiêm cấm việc tiết lộ thời gian, địa điểm, nội dung thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá trước, trong và sau khi mở, kiểm tra. 2.4. Người có hành vi vi phạm quy định tại các điểm 2.1, 2.2 và 2.3 trên đây hoặc có hành vi cản trở việc mở, kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 3. Trách nhiệm phối hợp 3.1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân ( sau đây gọi là cơ quan Công an chuyên trách ) có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá để không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. 3.2. Doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an chuyên trách trong việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá. 4. Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau : 4.1. Bưu gửi là bưu phẩm, bưu kiện gửi qua mạng bưu chính công cộng. 4.2. Hàng gửi là thư, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng chuyển phát. 4.3. Bưu cục là cơ sở hoạt động, khai thác và cung cấp dịch vụ của Bưu chính Việt Nam. Bưu cục bao gồm cả các trung tâm đầu mối, đại lý, kiốt và điểm bưu điện văn hoá xã. 4.4. Bưu cục gốc là bưu cục nhận bưu gửi của người gửi để chuyển đến người nhận. 4.5. Bưu cục phát là bưu cục thực hiện việc phát bưu gửi đến người nhận. 4.6. Mạng bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm đầu mối, bưu cục gốc, bưu cục phát, điểm phục vụ, thùng thư công cộng được kết nối với nhau bằng các tuyến vận chuyển và phát. 4.7. Cơ sở giao dịch là cơ sở hoạt động, khai thác và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp chuyển phát. 4.8. Cơ sở giao dịch gốc là cơ sở giao dịch nhận hàng gửi của người gửi để chuyển đến người nhận. 4.9. Cơ sở giao dịch phát là cơ sở giao dịch thực hiện việc phát hàng gửi đến người nhận. 4.10. Mạng chuyển phát do doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế xây dựng và quản lý để cung cấp dịch vụ chuyển phát thư, kiện, gói hàng hoá theo quy định của pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật về vận chuyển hàng hoá. 4.11. Cơ quan Công an chuyên trách bao gồm : a) Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Bộ Công an. b) Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Phòng Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( sau đây gọi là Công an cấp tỉnh ). c) Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Đội Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( sau đây gọi là Công an cấp huyện ). II. CĂN CỨ, THẨM QUYỀN, QUYẾT ĐỊNH MỞ VÀ KIỂM TRA BƯU GỬI, HÀNG GỬI 1. Căn cứ ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Việc ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện khi có một trong các thông tin, tài liệu dưới đây cho rằng trong bưu gửi, hàng gửi có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần: 1.1. Tài liệu được phát hiện qua công tác điều tra vụ án về ma tuý và các vụ án khác. 1.2. Thông tin, tài liệu thu được từ hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. 1.3. Tin báo, tố giác tội phạm về ma tuý. 2. Thẩm quyền ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 2.1. Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Bộ Công an. 2.2. Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Phòng Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an cấp tỉnh. 2.3. Trưởng Công an, Phó Trưởng Công an cấp huyện phụ trách Cảnh sát. 3. Quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 3.1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này. 3.2. Nội dung quyết định theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi để ra quyết định mở và kiểm tra 4.1. Trong trường hợp cấp bách để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hậu quả, tác hại của tội phạm về ma tuý có thể xảy ra, cán bộ được giao nhiệm vụ của cơ quan Công an chuyên trách (sau đây gọi là cán bộ cơ quan Công an chuyên trách) có quyền yêu cầu doanh nghiệp tạm thời ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi. Yêu cầu tạm thời ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi được lập thành hai bản theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này; một bản do cơ quan Công an chuyên trách giữ, một bản giao cho doanh nghiệp giữ. 4.2. Khi doanh nghiệp thấy nghi vấn hoặc phát hiện trong bưu gửi, hàng gửi có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì phải tạm thời ngừng việc lưu thông bưu gửi, hàng gửi đó và báo ngay cho cơ quan Công an chuyên trách hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất. 4.3. Trong thời hạn chậm nhất là 48 giờ kể từ thời điểm tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi, những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này phải ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi. Quá thời hạn trên mà không có quyết định của cơ quan Công an chuyên trách thì doanh nghiệp được tiếp tục lưu thông bưu gửi, hàng gửi đó. III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC MỞ VÀ KIỂM TRA BƯU GỬI, HÀNG GỬI 1. Mở bưu gửi, hàng gửi Khi có quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, doanh nghiệp phải cử ngay ít nhất hai nhân viên để tiến hành mở bưu gửi, hàng gửi với sự chứng kiến của cán bộ cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp bưu gửi, hàng gửi có nhiều gói thì chỉ mở những gói mà cán bộ cơ quan Công an chuyên trách yêu cầu. 2. Kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Việc kiểm tra bưu gửi, hàng gửi phải do ít nhất hai cán bộ cơ quan Công an chuyên trách tiến hành với sự chứng kiến của nhân viên doanh nghiệp. 3. Địa điểm mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 3.1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện tại bưu cục gốc, bưu cục phát, cơ sở giao dịch gốc, cơ sở giao dịch phát. 3.2. Trong trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn bưu gửi, hàng gửi có chứa chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần đang trên đường vận chuyển thì việc mở và kiểm tra bưu gửi được thực hiện tại bưu cục gần nhất. Việc mở và kiểm tra hàng gửi được thực hiện tại cơ sở giao dịch hoặc trụ sở cơ quan Công an, trụ sở uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( sau đây gọi là cấp xã ) nơi gần nhất. 4. Chứng kiến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Ngoài những người nêu tại mục 1, mục 2 phần III của Thông tư này, việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi còn phải có sự chứng kiến của một trong những người nêu tại điểm 4.1 hoặc 4.2 dưới đây: 4.1. Trường hợp mở, kiểm tra tại bưu cục gốc, bưu cục phát, bưu cục gần nhất, cơ sở giao dịch gốc, cơ sở giao dịch phát, cơ sở giao dịch gần nhất: a) Trưởng bưu cục hoặc người được trưởng bưu cục uỷ quyền. b) Người đứng đầu cơ sở giao dịch hoặc người được người đứng đầu cơ sở giao dịch uỷ quyền. c) Người đứng đầu doanh nghiệp hoặc người được người đứng đầu doanh nghiệp uỷ quyền. 4.2. Trường hợp mở, kiểm tra tại trụ sở cơ quan Công an hoặc trụ sở uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất: đại diện cơ quan Công an hoặc đại diện uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mở, kiểm tra hàng gửi. 5. Biên bản mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 5.1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi phải được lập thành biên bản. Nội dung biên bản theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này. 5.2.  Thủ tục lập và ký biên bản: a) Trường hợp những người tiến hành mở, kiểm tra và chứng kiến thống nhất về nội dung biên bản thì cùng ký tên vào biên bản và ký xác nhận vào từng trang.  Nếu có ý kiến không thống nhất về nội dung biên bản, thì người có ý kiến không thống nhất phải tự ghi ý kiến của mình vào biên bản, ký và ghi rõ họ tên. b) Biên bản mở và kiểm tra được lập thành ba bản, cơ quan Công an chuyên trách giữ một bản, doanh nghiệp giữ một bản và một bản doanh nghiệp thông báo cho người gửi hoặc người nhận biết nếu việc thông báo đó không cản trở công tác điều tra và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp không thông báo thì doanh nghiệp có trách nhiệm giữ biên bản đó. 6. Xử lý sau khi mở và kiểm tra 6.1. Xử lý các vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. a) Sau khi mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, nếu phát hiện vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì nhân viên doanh nghiệp phải tách riêng chất đó với những đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi và cán bộ cơ quan Công an chuyên trách phải lấy mẫu để giám định. Việc lấy mẫu để giám định phải được ghi vào biên bản mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, trong đó nêu rõ đặc điểm, số lượng, khối lượng mẫu được lấy giám định. b) Nhân viên doanh nghiệp có trách nhiệm đóng gói, niêm phong và bảo quản chất nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Trên niêm phong phải có đầy đủ chữ ký và họ tên của những người tiến hành và người chứng kiến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi. c) Các vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần phải được tạm thời ngừng lưu thông cho đến khi có kết luận giám định. Thời hạn giám định tối đa không quá 7 ngày làm việc kể từ khi lấy mẫu. Trường hợp đặc biệt phải kéo dài thời gian nêu trên thì Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc Công an cấp tỉnh phải có văn bản gửi Giám đốc Bưu điện cấp tỉnh hoặc Giám đốc Trung tâm bưu chính khu vực hoặc người đứng đầu doanh nghiệp chuyển phát. d) Nếu kết luận giám định vật phẩm là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này ra quyết định thu giữ hoặc tạm giữ theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này. đ) Nếu kết luận giám định vật phẩm không phải là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này phải thông báo ngay bằng văn bản để doanh nghiệp tiếp tục lưu thông vật phẩm đó. 6.2. Xử lý các đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi: a) Các đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi không thuộc loại bị thu giữ, tạm giữ, doanh nghiệp có trách nhiệm gói, bọc và đảm bảo tính nguyên vẹn về số lượng, tình trạng của vật phẩm và tiếp tục cho lưu thông, trừ trường hợp nêu tại điểm c của tiểu mục này. b) Nếu việc lưu thông đồ vật đó gây cản trở việc điều tra vụ án thì những người có thẩm quyền nêu tại điểm 2.1, điểm 2.2 mục 2 phần II của Thông tư này có quyền ra văn bản yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng lưu thông. Thời gian tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi không quá bẩy ngày làm việc kể từ ngày ký văn bản yêu cầu. Trường hợp đặc biệt phải kéo dài thời gian tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi để giữ bí mật vụ án thì Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh có văn bản gửi Giám đốc Bưu điện cấp tỉnh hoặc Giám đốc Trung tâm bưu chính khu vực hoặc người đứng đầu doanh nghiệp chuyển phát. c) Trường hợp phát hiện đồ vật, tài liệu là vật chứng của vụ án, vật có liên quan đến tội phạm khác hoặc thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này ra quyết định thu giữ hoặc tạm giữ theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này. Cán bộ được giao nhiệm vụ của cơ quan Công an chuyên trách tiến hành thu giữ hoặc tạm giữ và chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. 6.3 Thủ tục thu giữ, tạm giữ a) Việc thi hành quyết định thu giữ hoặc tạm giữ do cán bộ cơ quan Công an chuyên trách và nhân viên doanh nghiệp thực hiện và phải lập thành biên bản theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này và có sự chứng kiến của một trong những người nêu tại mục 4 phần III của Thông tư này. b) Trường hợp những người tiến hành và chứng kiến việc thu giữ, tạm giữ thống nhất về nội dung biên bản thì cùng ký tên vào biên bản và ký xác nhận vào từng trang của biên bản. Nếu có ý kiến không thống nhất về nội dung biên bản, thì người có ý kiến không thống nhất phải tự ghi ý kiến của mình vào biên bản, ký và ghi rõ họ tên. c) Biên bản thu giữ hoặc tạm giữ được lập thành ba bản, cơ quan Công an chuyên trách giữ một bản, doanh nghiệp giữ một bản và một bản doanh nghiệp thông báo cho người gửi hoặc người nhận biết nếu việc thông báo đó không cản trở công tác điều tra và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp không thông báo thì doanh nghiệp có trách nhiệm giữ biên bản đó. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo. 2. Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc và các doanh nghiệp liên quan thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phản ánh kịp thời để liên Bộ xem xét, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung. 4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16217&Keyword=
2025-09-24T02:37:01.596063
../data\bocongan\012006TTLTBCA-BBCVT\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý ___________________ Căn cứ Luật phòng, chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000; Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002; Căn cứ Nghị định số 99/2002/NĐ - CP ngày 27 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 157/2004/NĐ - CP ngày 18 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về bưu chính; Căn cứ Quyết định số 190/2004/QĐ - TTg ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý dịch vụ chuyển phát; Liên bộ Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông thống nhất hướng dẫn việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG: 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư này hướng dẫn cụ thể việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá gửi trong nước, gửi từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam qua mạng bưu chính công cộng và mạng chuyển phát nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý. 2. Nguyên tắc mở và kiểm tra 2. 1. Việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá phải có căn cứ, theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền hướng dẫn tại Thông tư này. 2. 2. Nghiêm cấm lợi dụng, lạm dụng việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức. 2. 3. Nghiêm cấm việc tiết lộ thời gian, địa điểm, nội dung thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá trước, trong và sau khi mở, kiểm tra. 2. 4. Người có hành vi vi phạm quy định tại các điểm 2. 1, 2. 2 và 2. 3 trên đây hoặc có hành vi cản trở việc mở, kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 3. Trách nhiệm phối hợp 3. 1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân ( sau đây gọi là cơ quan Công an chuyên trách ) có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá để không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. 3. 2. Doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an chuyên trách trong việc mở và kiểm tra thư, bưu phẩm, bưu kiện, kiện, gói hàng hoá. 4. Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 4. 1. Bưu gửi là bưu phẩm, bưu kiện gửi qua mạng bưu chính công cộng. 4. 2. Hàng gửi là thư, kiện, gói hàng hoá gửi qua mạng chuyển phát. 4. 3. Bưu cục là cơ sở hoạt động, khai thác và cung cấp dịch vụ của Bưu chính Việt Nam. Bưu cục bao gồm cả các trung tâm đầu mối, đại lý, kiốt và điểm bưu điện văn hoá xã. 4. 4. Bưu cục gốc là bưu cục nhận bưu gửi của người gửi để chuyển đến người nhận. 4. 5. Bưu cục phát là bưu cục thực hiện việc phát bưu gửi đến người nhận. 4. 6. Mạng bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm đầu mối, bưu cục gốc, bưu cục phát, điểm phục vụ, thùng thư công cộng được kết nối với nhau bằng các tuyến vận chuyển và phát. 4. 7. Cơ sở giao dịch là cơ sở hoạt động, khai thác và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp chuyển phát. 4. 8. Cơ sở giao dịch gốc là cơ sở giao dịch nhận hàng gửi của người gửi để chuyển đến người nhận. 4. 9. Cơ sở giao dịch phát là cơ sở giao dịch thực hiện việc phát hàng gửi đến người nhận. 4. 10. Mạng chuyển phát do doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế xây dựng và quản lý để cung cấp dịch vụ chuyển phát thư, kiện, gói hàng hoá theo quy định của pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật về vận chuyển hàng hoá. 4. 11. Cơ quan Công an chuyên trách bao gồm: a) Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Bộ Công an. b) Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Phòng Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( sau đây gọi là Công an cấp tỉnh ). c) Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Đội Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( sau đây gọi là Công an cấp huyện ). II. CĂN CỨ, THẨM QUYỀN, QUYẾT ĐỊNH MỞ VÀ KIỂM TRA BƯU GỬI, HÀNG GỬI 1. Căn cứ ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Việc ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện khi có một trong các thông tin, tài liệu dưới đây cho rằng trong bưu gửi, hàng gửi có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần: 1. 1. Tài liệu được phát hiện qua công tác điều tra vụ án về ma tuý và các vụ án khác. 1. 2. Thông tin, tài liệu thu được từ hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. 1. 3. Tin báo, tố giác tội phạm về ma tuý. 2. Thẩm quyền ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 2. 1. Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Bộ Công an. 2. 2. Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý hoặc Phòng Cảnh sát điều tra khác thực hiện chức năng điều tra tội phạm về ma tuý ( tại những nơi chưa thành lập Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý ) thuộc Công an cấp tỉnh. 2. 3. Trưởng Công an, Phó Trưởng Công an cấp huyện phụ trách Cảnh sát. 3. Quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 3. 1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này. 3. 2. Nội dung quyết định theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi để ra quyết định mở và kiểm tra 4. 1. Trong trường hợp cấp bách để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hậu quả, tác hại của tội phạm về ma tuý có thể xảy ra, cán bộ được giao nhiệm vụ của cơ quan Công an chuyên trách (sau đây gọi là cán bộ cơ quan Công an chuyên trách) có quyền yêu cầu doanh nghiệp tạm thời ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi. Yêu cầu tạm thời ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi được lập thành hai bản theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này; một bản do cơ quan Công an chuyên trách giữ, một bản giao cho doanh nghiệp giữ. 4. 2. Khi doanh nghiệp thấy nghi vấn hoặc phát hiện trong bưu gửi, hàng gửi có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì phải tạm thời ngừng việc lưu thông bưu gửi, hàng gửi đó và báo ngay cho cơ quan Công an chuyên trách hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất. 4. 3. Trong thời hạn chậm nhất là 48 giờ kể từ thời điểm tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi, những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này phải ra quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi. Quá thời hạn trên mà không có quyết định của cơ quan Công an chuyên trách thì doanh nghiệp được tiếp tục lưu thông bưu gửi, hàng gửi đó. III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC MỞ VÀ KIỂM TRA BƯU GỬI, HÀNG GỬI 1. Mở bưu gửi, hàng gửi Khi có quyết định mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, doanh nghiệp phải cử ngay ít nhất hai nhân viên để tiến hành mở bưu gửi, hàng gửi với sự chứng kiến của cán bộ cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp bưu gửi, hàng gửi có nhiều gói thì chỉ mở những gói mà cán bộ cơ quan Công an chuyên trách yêu cầu. 2. Kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Việc kiểm tra bưu gửi, hàng gửi phải do ít nhất hai cán bộ cơ quan Công an chuyên trách tiến hành với sự chứng kiến của nhân viên doanh nghiệp. 3. Địa điểm mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 3. 1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi chỉ được thực hiện tại bưu cục gốc, bưu cục phát, cơ sở giao dịch gốc, cơ sở giao dịch phát. 3. 2. Trong trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn bưu gửi, hàng gửi có chứa chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần đang trên đường vận chuyển thì việc mở và kiểm tra bưu gửi được thực hiện tại bưu cục gần nhất. Việc mở và kiểm tra hàng gửi được thực hiện tại cơ sở giao dịch hoặc trụ sở cơ quan Công an, trụ sở uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( sau đây gọi là cấp xã ) nơi gần nhất. 4. Chứng kiến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi Ngoài những người nêu tại mục 1, mục 2 phần III của Thông tư này, việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi còn phải có sự chứng kiến của một trong những người nêu tại điểm 4. 1 hoặc 4. 2 dưới đây: 4. 1. Trường hợp mở, kiểm tra tại bưu cục gốc, bưu cục phát, bưu cục gần nhất, cơ sở giao dịch gốc, cơ sở giao dịch phát, cơ sở giao dịch gần nhất: a) Trưởng bưu cục hoặc người được trưởng bưu cục uỷ quyền. b) Người đứng đầu cơ sở giao dịch hoặc người được người đứng đầu cơ sở giao dịch uỷ quyền. c) Người đứng đầu doanh nghiệp hoặc người được người đứng đầu doanh nghiệp uỷ quyền. 4. 2. Trường hợp mở, kiểm tra tại trụ sở cơ quan Công an hoặc trụ sở uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất: đại diện cơ quan Công an hoặc đại diện uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mở, kiểm tra hàng gửi. 5. Biên bản mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi 5. 1. Việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi phải được lập thành biên bản. Nội dung biên bản theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này. 5. 2. Thủ tục lập và ký biên bản: a) Trường hợp những người tiến hành mở, kiểm tra và chứng kiến thống nhất về nội dung biên bản thì cùng ký tên vào biên bản và ký xác nhận vào từng trang. Nếu có ý kiến không thống nhất về nội dung biên bản, thì người có ý kiến không thống nhất phải tự ghi ý kiến của mình vào biên bản, ký và ghi rõ họ tên. b) Biên bản mở và kiểm tra được lập thành ba bản, cơ quan Công an chuyên trách giữ một bản, doanh nghiệp giữ một bản và một bản doanh nghiệp thông báo cho người gửi hoặc người nhận biết nếu việc thông báo đó không cản trở công tác điều tra và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp không thông báo thì doanh nghiệp có trách nhiệm giữ biên bản đó. 6. Xử lý sau khi mở và kiểm tra 6. 1. Xử lý các vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. a) Sau khi mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, nếu phát hiện vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì nhân viên doanh nghiệp phải tách riêng chất đó với những đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi và cán bộ cơ quan Công an chuyên trách phải lấy mẫu để giám định. Việc lấy mẫu để giám định phải được ghi vào biên bản mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi, trong đó nêu rõ đặc điểm, số lượng, khối lượng mẫu được lấy giám định. b) Nhân viên doanh nghiệp có trách nhiệm đóng gói, niêm phong và bảo quản chất nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Trên niêm phong phải có đầy đủ chữ ký và họ tên của những người tiến hành và người chứng kiến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi. c) Các vật phẩm nghi là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần phải được tạm thời ngừng lưu thông cho đến khi có kết luận giám định. Thời hạn giám định tối đa không quá 7 ngày làm việc kể từ khi lấy mẫu. Trường hợp đặc biệt phải kéo dài thời gian nêu trên thì Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc Công an cấp tỉnh phải có văn bản gửi Giám đốc Bưu điện cấp tỉnh hoặc Giám đốc Trung tâm bưu chính khu vực hoặc người đứng đầu doanh nghiệp chuyển phát. d) Nếu kết luận giám định vật phẩm là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này ra quyết định thu giữ hoặc tạm giữ theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này. đ) Nếu kết luận giám định vật phẩm không phải là chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này phải thông báo ngay bằng văn bản để doanh nghiệp tiếp tục lưu thông vật phẩm đó. 6. 2. Xử lý các đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi: a) Các đồ vật khác trong bưu gửi, hàng gửi không thuộc loại bị thu giữ, tạm giữ, doanh nghiệp có trách nhiệm gói, bọc và đảm bảo tính nguyên vẹn về số lượng, tình trạng của vật phẩm và tiếp tục cho lưu thông, trừ trường hợp nêu tại điểm c của tiểu mục này. b) Nếu việc lưu thông đồ vật đó gây cản trở việc điều tra vụ án thì những người có thẩm quyền nêu tại điểm 2. 1, điểm 2. 2 mục 2 phần II của Thông tư này có quyền ra văn bản yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng lưu thông. Thời gian tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi không quá bẩy ngày làm việc kể từ ngày ký văn bản yêu cầu. Trường hợp đặc biệt phải kéo dài thời gian tạm ngừng lưu thông bưu gửi, hàng gửi để giữ bí mật vụ án thì Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh có văn bản gửi Giám đốc Bưu điện cấp tỉnh hoặc Giám đốc Trung tâm bưu chính khu vực hoặc người đứng đầu doanh nghiệp chuyển phát. c) Trường hợp phát hiện đồ vật, tài liệu là vật chứng của vụ án, vật có liên quan đến tội phạm khác hoặc thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì những người có thẩm quyền nêu tại mục 2 phần II của Thông tư này ra quyết định thu giữ hoặc tạm giữ theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này. Cán bộ được giao nhiệm vụ của cơ quan Công an chuyên trách tiến hành thu giữ hoặc tạm giữ và chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. 6. 3 Thủ tục thu giữ, tạm giữ a) Việc thi hành quyết định thu giữ hoặc tạm giữ do cán bộ cơ quan Công an chuyên trách và nhân viên doanh nghiệp thực hiện và phải lập thành biên bản theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này và có sự chứng kiến của một trong những người nêu tại mục 4 phần III của Thông tư này. b) Trường hợp những người tiến hành và chứng kiến việc thu giữ, tạm giữ thống nhất về nội dung biên bản thì cùng ký tên vào biên bản và ký xác nhận vào từng trang của biên bản. Nếu có ý kiến không thống nhất về nội dung biên bản, thì người có ý kiến không thống nhất phải tự ghi ý kiến của mình vào biên bản, ký và ghi rõ họ tên. c) Biên bản thu giữ hoặc tạm giữ được lập thành ba bản, cơ quan Công an chuyên trách giữ một bản, doanh nghiệp giữ một bản và một bản doanh nghiệp thông báo cho người gửi hoặc người nhận biết nếu việc thông báo đó không cản trở công tác điều tra và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan Công an chuyên trách. Trường hợp không thông báo thì doanh nghiệp có trách nhiệm giữ biên bản đó. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc mở và kiểm tra bưu gửi, hàng gửi nhằm phát hiện tội phạm về ma tuý được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo. 2. Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc và các doanh nghiệp liên quan thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phản ánh kịp thời để liên Bộ xem xét, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung. 4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. /.
Quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
01/2007/TT-BCA-C11
02/01/2007
Thông tư
08/02/2007
Công báo số 55 + 56, năm 2007
24/01/2007
Bộ Công an
Bộ trưởng
Lê Hồng Anh
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phuơng tiện giao thông cơ giới đường bộ ____________________ Căn cứ Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001; Căn cứ Nghị định 14/2003/NĐ-CP ngày 19/2/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐINH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng 1.1. Thông tư này quy định việc đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm: Xe ô tô, máy kéo, mô tô, xe gắn máy, các loại xe kết cấu tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật và rơ moóc, sơ mi rơ moóc (dưới đây gọi tắt là xe của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có trụ sở, cư trú trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1.2. Thông tư này không áp dụng đối với xe quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng và xe máy chuyên dùng. 2. Phân cấp cơ quan đăng ký xe 2.1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt (Tổng cục cảnh sát – Bộ Công an): đăng ký xe ô tô của các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó, một số cơ quan Trung ương có danh mục kèm theo) và xe của cơ quan Bộ Công an; Ngoài các xe quy định trên, Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt đăng ký xe theo yêu cầu nghiệp vụ được lãnh đạo Bộ Công an hoặc Tổng cục Cảnh sát phê duyệt. 2.2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đăng ký ô tô của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, xe quân đội làm kinh tế; mô tô, xe gắn máy của tổ chức, cá nhân nước ngoài, liên doanh, dự án tại địa phương mình (trừ các đối tượng quy định tại điểm 2.1 nêu trên). 2.3. Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi chung là Công an cấp huyện đăng ký mô tô, xe gắn máy của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước đang cư trú hoặc có trụ sở tại huyện (trừ các đối tượng quy định tại điểm 2.1 và 2.2 nêu trên). Trường hợp Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa phân cấp đăng ký xe mô tô, xe máy cho Công an cấp huyện thì phải có văn bản báo cáo Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát). 3. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký xe 3.1. Cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến công tác đăng ký xe, không tự đặt thêm các thủ tục đăng ký xe trái quy định tại Thông tư này; giải quyết đăng ký xe theo quy định của Bộ Công an. 3.2. Trách nhiệm của cán bộ tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe phải kiểm tra, đối chiếu giữa hồ sơ với xe, đúng thủ tục theo quy định thì tiếp nhận giải quyết theo đúng thời gian quy định. Trường hợp hồ sơ không đảm bảo thủ tục quy định, phải hướng dẫn cụ thể, đầy đủ một lần cho chủ xe bổ sung và chịu trách nhiệm về hướng dẫn đó. 4. Trách nhiệm của chủ xe Chủ xe phải có đầy đủ hồ sơ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của hồ sơ và xe đến đăng ký; nộp lệ phí đăng ký và biển số theo quy định. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xoá số máy, số khung để đăng ký. 3. Thời gian làm thủ tục để cấp, đổi giấy đăng ký, biển số; các giấy tờ về sang tên di chuyển, giấy chứng nhận xoá sổ 5.1. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe đảm bảo đúng quy định, cơ quan đăng ký xe cấp ngay biển số; Cấp đăng ký, hồ sơ (trường hợp sang tên di chuyển), giấy chứng nhận xoá sổ (trường hợp xoá sổ) hoặc cấp lại đăng ký, biển số xe. Thời hạn tối đa không quá 3 ngày làm việc (không kể ngày lễ, thứ 7, chủ nhật). 5.2. Đăng ký tạm thời xe: Sau khi nhận hồ sơ đúng quy định, cơ quan đăng ký xe cấp đăng ký và biển số tạm thời trong ngày. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ Công tác đăng ký xe bao gồm: Đăng ký; sang tên, di chuyển hoặc cấp, đổi lại đăng ký, biển số xe; đăng ký tạm thời; xoá sổ đăng ký xe. A. ĐĂNG KÝ 1. Giấy khai đăng ký xe Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 2. Giấy tờ của chủ xe 2.1. Chủ xe là người Việt Nam: cần có một trong những giấy tờ sau: - Giấy chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa đến tuổi được cấp chứng minh nhân dân hoặc nơi thường trú trong chứng minh không phù hợp nơi đăng lý thường trú trong giấy khai đăng ký thì xuất trình hộ khẩu. - Giấy chứng minh quân đội nhân dân, giấy chứng minh An ninh nhân dân, giấy chứng nhận cảnh sát nhân dân hoặc giấy chứng nhận theo quy định của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, kèm theo giấy giới thiệu của đơn vị công tác. - Thẻ học viên, sinh viên, kèm giấy giới thiệu của nhà trường. - Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam: Giấy khai báo tạm trú, thường trú theo quy định và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị). 2.2. Chủ xe là người nước ngoài cần có: - Người nước ngoài làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức quốc tế: xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị) và giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ. - Người nước ngoài làm việc, sinh sống ở Việt Nam: xuất trình hộ chiếu (còn giá trị), giấy phép lao động theo quy định hoặc giấy giới thiệu của cơ quan Việt Nam quản lý người nước ngoài hoặc Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú từ 1 năm trở lên theo quy định tại Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 24/1999/PL-UBTVQH10 ngày 28/4/2000 về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. 2.3. Chủ xe là cơ quan, tổ chức cần có: - Cơ quan, tổ chức Việt Nam: Giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe. - Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và tổ chức quốc tế: Giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ ghi rõ tên cơ quan, tổ chức kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe. - Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Văn phòng đại diện, Công ty nước ngoài trúng thầu, các tổ chức phi chính phủ: Giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe (trong trường hợp cơ quan không có giấy giới thiệu thì phải có giấy giới thiệu của cơ quan cấp trên quản lý). 2.4. Người được uỷ quyền đăng ký xe phải có giấy uỷ quyền của chủ xe có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã hoặc cơ quan, đơn vị công tác và xuất trình chứng minh nhân dân. 2.5. Chủ xe phải xuất trình các giấy tờ quy định tại điểm 2.1, 2.2, 2.3, 2.4 nêu trên. Cơ quan đăng ký xe lưu các Giấy giới thiệu, giấy uỷ quyền quy định trên trong hồ sơ xe. 3. Các giấy tờ của xe Giấy tờ của xe gồm: Chứng từ mua bán, cho tặng xe; lệ phí trước bạ và chứng từ nguồn gốc của xe. 3.1. Chứng từ mua bán, cho, tặng xe Chứng từ mua bán, cho, tặng xe phải có một trong các loại giấy tờ sau đây: 3.1.1. Quyết định hoặc hợp đồng theo quy định của pháp luật. 3.1.2. Giấy bán, cho, tặng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật. 3.1.3. Hoá đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính (nếu xe bán ra chuyển qua nhiều tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thì khi đăng ký chỉ cần bản chính hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành của tổ chức, cơ quan doanh nghiệp bán cuối cùng). Đối với xe của doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh phải có hoá đơn giá trị gia tăng, hoá đơn bán hàng hoặc hoá đơn tự in theo quy định của pháp luật; trường hợp mua tài sản thanh lý xe của cơ quan hành chính sự nghiệp phải có hoá đơn bán tài sản thanh lý; trường hợp mua hàng hoá là tài sản dự trữ quốc gia phải có hoá đơn bán hàng dự trữ quốc gia. 3.1.4. Xe của đồng sở hữu khi bán, cho tặng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các sở hữu chủ. 3.2. Chứng từ lệ phí trước bạ 3.2.1. Biên lai hoặc chứng từ nộp lệ phí trước bạ theo quy định của Bộ Tài chính (nếu nhiều xe chung một chứng từ lệ phí trước bạ thì phải có bản sao công chứng hoặc chứng thực của cơ quan cấp đối với từng xe). 3.2.2. Tờ khai và thông báo nộp lệ phí trước bạ. Trường hợp xe được miễn lệ phí trước bạ, chỉ cần tờ khai lệ phí trước bạ. 3.3. Chứng từ nguồn gốc xe Giấy tờ cần có tuỳ theo từng loại như sau: 3.3.1. Xe nhập khẩu: 3.3.1.1. Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại, xe miễn thuế, xe chuyên dùng có thuế suất 0%, xe viện trợ và các xe thuộc đối tượng Bộ Tài chính quy định phải sử dụng tờ khai nguồn gốc: Tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 3.3.1.2. Xe nhập khẩu theo chế độ tạm nhập, tái xuất của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao; theo Nghị định của Chính phủ hoặc Hiệp định giữa hai nhà nước; hoặc chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình dự án ODA ở Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước làm việc theo lời mời: Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan. 3.3.1.3. Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu, quà tặng hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển. - Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Bộ Tài chính. - Biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thụ, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua kho bạc hoặc chuyển khoản hoặc uỷ nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế. + Trường hợp không phải có biên lai thuế xuất, nhập khẩu, hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải có quyết định miễn thuế hoặc văn bản cho miễn thuế của cấp có thẩm quyền. + Trường hợp xe chuyên dùng có thuế suất bằng 0%: TỜ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo qui định của Bộ Tài chính trong đó phải nhãn hiệu xe, số máy, số khung. 3.3.1.4. Đối với rơ moóc, sơmi rơ moóc nhập khẩu: Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu theo qui định của Bộ tài chính. Trường hợp nhiều rơ moóc, sơmi rơ moóc chung một tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu thì phải sao mỗi xe một tờ (bản sao phải công chứng hoặc chứng thực của cấp có thẩm quyền). Trong tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu không ghi nhãn hiệu thì trong giấy đăng ký mục loại xe ghi tên nước sản xuất. 3.3.1.5. Xe ô tô chuyên dùng thuê của nước ngoài: - Hợp đồng thuê; - Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 3.3.1.6. Xe của các dự án: 3.3.1.6.1. Xe các dự án viện trợ của nước ngoài khi hết hạn, bàn giao cho phía Việt Nam: - Chứng từ nguồn gốc  của xe như quy định tại điểm 3.3 mục A phần II Thông tư này; - Quyết định tiếp nhận của Thủ trưởng cấp Bộ (đối với cơ quan Trung ương) hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan ở địa phương); - Biên bản bàn giao xe theo quy định. Sau khi đã được cấp giấy đăng ký xe mang tên cơ quan Việt Nam, khi bán xe: xe thuộc các cơ quan Trung ương thì do Thủ trưởng cấp Bộ; xe thuộc địa phương quản lý thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Đối với xe viện trợ không đăng ký tên dự án mà đăng ký tên cơ quan Việt Nam, sau khi hết thời hạn dự án muốn bán phải có quyết định cho bán của cấp có thẩm quyền như quy định trên. Trường hợp xe viện trợ nhân đạo, được sang tên di chuyển bình thường theo quy định. 3.3.1.6.2. Xe (đã đăng ký) của dự án này bàn giao cho dự án khác: - Văn bản bàn giao xe của chủ dự án nước ngoài; - Công văn xác nhận hàng viện trợ của Vụ Tài chính đối ngoại – Bộ  Tài chính; 3.3.2. Xe sản xuất, lắp ráp, cải tạo trong nước: 3.3.2.1. Xe lắp ráp: - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất, lắp ráp. Tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu). 3.3.2.2. Xe cải tạo: 3.3.2.2.1. Xe thay đổi tính chất chuyên chở. - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo của cơ sở sản xuất theo quy định của Bộ Giao thông vận tải; xe trong lực lượng Công an nhân dân cải tạo: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới theo quy định của Bộ Công an. Không giải quyết đăng ký các xe ô tô khác cải tạo thành xe ô tô chở khách; xe chuyên dùng chuyển đổi tính năng, công dụng (gọi tắt là xe thay đổi công năng) trước 5 năm và xe đông lạnh trước 3 năm (kể từ ngày nhập khẩu) theo quy định của Chính phủ. 3.3.2.2.2. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung nhập khẩu: - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Bản chính xác nhận của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho tổng thành đó nhập khẩu (nhập theo hợp đồng thương mại). Trường hợp nhập khẩu phi mậu dịch thì phải có bản chính tờ khai hàng xuất, nhập khẩu phi mậu địch và biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu; Trường hợp tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung khác nhãn hiệu, thông số kỹ thuật thì phải có Biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo của cơ sở sản xuất theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. 3.3.2.2.3. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung sản xuất trong nước: - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Chứng từ bán tổng thành của cơ sở sản xuất; - Biên bản kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) của cơ sở sản xuất. 3.3.2.2.4. Trường hợp tổng thành máy hoặc tổng thành khung của xe đã đăng ký dùng để thay thế cho xe khác thì phải có: Giấy xoá sổ đăng ký (ghi rõ cấp cho tổng thành máy hoặc tổng thành khung) hoặc quyết định tịch thu của cấp có thẩm quyền kèm theo hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với xe hết niên hạn sử dụng quy định tại Nghị định 92/2001/NĐ-CP này 11/12/2001 và Nghị định 23/2004/NĐ-CP ngày 13/01/2004 của chính phủ; xe miễn thuế; xe tạm nhập của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế được miễn trừ ngoại giao thì không được làm thủ tục xoá sổ tổng thành máy hoặc tổng thành khung để thay thế cho xe khác. 3.3.3. Xe có quyết định của các cấp, cơ quan có thẩm quyền. 3.3.3.1. Xe xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước: - Quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền); - Hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ Nhà nước do Bộ Tài chính phát hành hoặc văn bản xác lập quyền sở hữu Nhà nước của cơ quan có thẩm quyền (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cấp có thẩm quyền). Đối với trường hợp tịch thu nhiều xe chung một quyết định phải có bản sao kê khai chi tiết xe tịch thu sung quỹ nhà nước có xác nhận của cấp có thẩm quyền hoặc cơ quan ra quyết định bán hàng tịch thu. Việc đăng ký xe tịch thu sung quy Nhà nước (không phải có hồ sơ gốc) được thực hiện trên cơ sở hiện trạng số máy, số khung của xe ghi trong quyết định và hoá đơn trên, nhưng xe phải hoàn chỉnh các chi tiết cùng chủng loại, cùng thông số kỹ thuật. 3.3.3.2. Xe có quyết định xử lý vật chứng: - Quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền cấp); - Phiếu thu tiền hoặc giấy biên nhận tiền hoặc biên bản bàn giao (nếu là người bị hại). Trường hợp quyết định xử lý vật chứng mà tịch thu sung quỹ nhà nước (không phải có hồ sơ gốc) nhưng phải có hoá đơn bán hàng tịch thu sung qũy nhà nước. 3.3.3.3. Xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án: - Bản sao quyết định của Toà án hoặc trích lục bản án; - Quyết định thi hành án của phòng thi hành án; - Chứng từ thu tiền hoặc biên bản bàn giao tài sản. Trường hợp xe phát mại thì phải có hồ sơ gốc theo quy định tại Thông tư này và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có xe bị phát mại. Xe chưa rõ nguồn gốc hoặc không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có tài sản bị phát mại thì không tiếp nhận giải quyết đăng ký mà phải hướng dẫn chủ xe đến nơi đã ra quyết định phát mại để giải quyết. 3.3.3.4.  Xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại: - Bản sao hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm (do tổ chức tín dụng ký sao); Hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản hoặc biên bản nhận tài sản hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); - Đăng ký xe hoặc chứng từ nguồn gốc của xe; - Chứng từ thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe là tài sản cầm cố, thế chấp có tranh chấp, xe khởi kiện, xe là tài sản thi hành án phải có thêm: + Trích lục bản án hoặc sao bản án hoặc sao quyết định của Toà án; + Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án. Trường hợp xe đã đăng ký ở địa phương khác, phải có thêm phiếu sang tên di chuyển kèm theo hồ sơ gốc, giấy khai sang tên di chuyển do chủ xe, hoặc cơ quan ký hợp đồng bán tài sản, các tổ chức tín đụng ký xác nhận. 3.3.3.5. Xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu: 3.3.3.5.1. Xe đã đăng ký, nay phát hiện Chứng từ nguồn gốc giả: - Chứng từ truy thu thuế nhập khẩu; - Chứng từ truy thu thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có); - Đăng ký xe; Quyết định xử lý vật chứng hoặc kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra. 3.3.3.5.2. Xe phải truy thu thêm thuế nhập khẩu: - Quyết định truy thu thuế của Cục Hải quan hoặc của Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Giấy nộp tiền thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước; - Hồ sơ gốc của xe. 3.3.4. Xe dự trữ quốc gia: - Lệnh xuất bán hàng dự trữ quốc gia của Cục Dự trữ quốc gia. Trường hợp nhiều xe thì phải sao cho mỗi xe một lệnh (bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của Cục Dự trữ quốc gia); - Tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe hoặc giấy xác nhận của Tổng cục Hải quan (mỗi xe 1 bản chính) ghi rõ nhãn hiệu, số máy, số khung; - Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho theo quy định của Bộ Tài chính do các Chi cục Dự trữ quốc gia cấp, mỗi xe một hoá đơn ghi rõ nhãn hiệu, số máy và số khung. 3.3.5. Xe bị mất chứng từ nguồn gốc: Giấy cam đoan của chủ xe trước pháp luật về việc mất chứng từ nguồn gốc của xe và xuất trình giấy tờ theo quy định tại điểm 2 mục A phần II Thông tư này. - Bản sao chứng từ nguồn gốc của xe nhập khẩu phải có xác nhận của cơ quan đã cấp chứng từ đó, riêng đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước thì cơ sở sản Xuất phải cấp lại Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng (hồ sơ đăng ký phải đầy đủ như quy định tại Mục A phần II Thông tư này). Sau 30 ngày nếu không phát hiện có vi phạm hoặc tranh chấp gì thì làm thủ tục đăng ký xe. 3.3.6. Xe của Công ty cho thuê tài chính đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê: - Giấy tờ Của xe theo quy định tại điểm 3 mục A phần II Thông tư này. - Công văn của Công ty cho thuê tài chính đề nghị đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê. 3.3.7. Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự. - Giấy tờ của xe như quy định tại điểm 3 Mục A phần II Thông tư này; - Quyết định cho bán xe của Tổng cục Hậu Cần (đối với xe Công an hoặc của Bộ Tổng tham mưu đối với xe quân đội). Trường hợp xe có nguồn gốc do Bộ Quốc phòng cấp phát, trang bị trước ngày 31/12/1989 và đã được đăng ký trước ngày 27/12/1995, phải có bản chính giấy chứng nhận của Cục quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật cấp cho từng xe. 3.3.8. Đăng ký và quản lý xe của các doanh nghiệp quân đội làm kinh tế; xe quân đội làm nhiệm vụ quốc phòng có yêu cầu cấp biển số dân sự thực hiện theo Thông tư liên tịch số 16/2004/TTLT-CA-QP ngày 01/11/2004 liên bộ Công an - Quốc phòng. 3.3.9. Xe là tài sản chung của vợ chồng Chủ xe tự nguyện khai là tài sản chung của vợ chồng, phải ghi đầy đủ họ, tên và chữ ký của hai vợ chồng trong giấy khai đăng ký. Trường hợp xe thuộc tài sản chung của vợ chồng đã đăng ký trước ngày 18/10/2001, nay có nguyện vọng đăng ký xe là tài sản chung của hai vợ chồng thì phải tự khai giấy khai đăng ký xe (theo mẫu 01 kèm theo Thông tư này). Cơ quan đăng ký xe thu lại đăng ký xe cũ và cấp đăng ký xe mới. 3.3.10. Các loại xe có kết cấu tương tự Giấy tờ của xe như quy định tại điểm 3 mục A phần II Thông tư này. Trường hợp xe sản xuất, lắp ráp trước 31/12/2004 có chứng từ nguồn gốc không đảm bảo theo quy định thì chủ xe phải có cam kết về nguồn gốc hợp lệ của xe (có xác nhận của chính quyền địa phương); Biên bản kiểm tra của ngành giao thông vận tải chứng nhận xe đủ điều kiện về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (Thời hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ). B. ĐĂNG KÝ SANG TÊN, DI CHUYỂN XE Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho tặng xe, người mua xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. 1. Xe đăng ký sang tên trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có: 1.1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 1.2. Giấy đăng ký xe 1.3. Chứng từ mua bán, cho tặng xe theo quy định tại điểm 3.1 mục A phần II Thông tư này. 1.4. Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại điểm 3.2 mục A phần II thông tư này. Khi đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số cùng loại biển) và cấp lại giấy đăng ký xe theo tên của chủ xe mới. Trường hợp sang tên mô tô, xe máy khác huyện thì chủ xe phải đến Công an cấp huyện đã đăng ký xe đó (không phải đưa xe đến kiểm tra) làm thủ tục rút hồ sơ gốc của xe chuyển về Công an cấp huyện nơi chủ xe mới đăng ký. 2. Xe sang tên di chuyển ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có: 2.1. Hai giấy khai sang tên di chuyển. Chủ xe phải tự khai giấy khai sang tên, di chuyển theo đúng mẫu quy định (mẫu số 02 kèm theo Thông tư này). 2.2. Giấy đăng ký xe; 2.3 . Chứng từ mua bán, cho tặng xe theo quy định tại điểm 3.1 mục A phần II Thông tư này. Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra. 3. Xe di chuyển nguyên chủ Khi chủ xe thay đổi nơi cư trú sang tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác, giấy tờ cần có: 3.1. Hai giấy khai sang tên, di chuyển. Chủ xe phải tự khai giấy khai sang tên, di chuyển theo đúng mẫu quy định (mẫu số 02 kèm theo Thông tư này). 3.2. Giấy đăng ký xe. 3.3. Quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu. Không phải mang xe đến, nhưng phải nộp lại biển số xe. Trường hợp mất đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải có văn bản đề nghị nếu đủ giấy tờ theo quy định thì cấp giấy sang tên di chuyển. 4. Xe di chuyển sang địa phương khác, nhưng chủ xe chưa đăng ký, lại bán tiếp cho chủ xe mới, nếu thủ tục mua bán và lệ phí trước bạ đúng quy định thì tiếp nhận giải quyết đăng ký và gửi thông báo cho địa phương di chuyển xe biết để điều chỉnh sổ đăng ký xe. 5. Trường hợp xe là quà biếu, tặng; xe tạm nhập; xe của Việt kiều hồi hương, xe dự án chưa hết hạn, chuyển nhượng tại Việt Nam thì trước khi đăng ký, chủ xe làm thủ tục xoá sổ tại cơ quan đăng ký xe, sau đó đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục nhập khẩu theo quy định và nộp lại hồ sơ cho cơ quan đăng ký xe để làm thủ tục sang tên, di chuyển cho chủ mới. Trường hợp các loại xe trên chưa làm thủ tục xoá sổ, nhưng đã được cơ quan Hải quan truy thu thuế nhập khẩu hoặc cơ quan chức năng của Bộ Tài chính, trả lời bằng vàn bản không phải truy thu thuế thì được sang tên di chuyển và lưu văn bản vào hồ sơ xe. Riêng xe của Việt kiều hồi hương được mang theo định lượng miễn thuế theo qui định, nay không có nhu cầu sử dụng, được chuyển nhượng, sang tên di chuyển. Đối với xe nhập khẩu được miễn thuế đã sử dụng trên 10 năm. Theo quy định của Bộ Tài chính thuế nhập khẩu bằng 0%; Trường hợp chuyển nhượng hồ sơ chỉ cần: Tờ khai hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch có xác nhận của Hải quan kèm theo hồ sơ gốc đăng ký ban đầu. C. ĐỔI, CẤP LẠI ĐĂNG KÝ, BIỂN SỐ XE . 1. Đổi lại đăng ký, biển số xe: 1.1. Những trường hợp sau đây phải đổi lại đăng ký xe, biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn; đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ. 1.2. Chủ xe đề nghị đổi đăng ký xe, biển số xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn cam đoan (đối với cá nhân) và phải nộp lại đăng ký hoặc biển số xe cũ và không bắt buộc phải mang xe đến để kiểm tra (trừ xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn). Cơ quan đăng ký xe cấp lại đăng ký, biển số xe (theo số cũ) trừ loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số. 2. Cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất: Chủ xe bị mất đăng ký, biển số xe phải có văn bản đề nghị cấp lại, không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe. Nếu đủ giấy tờ theo quy định thì giải quyết cấp lại đăng ký xe, biển số xe (theo biển số cũ) trường hợp loại biển 3 số thì đổi sang loại biển 4 số theo quy định. 3. Chủ xe là cán bộ chiến sĩ bộ đội, Công an xuất ngũ hoặc chuyển công tác; học sinh, sinh viên ra trường; nếu đã thay đổi địa chỉ, nơi công tác thì được giải quyết cấp lại theo địa chỉ thường trú hoặc tạm trú có thời hạn ở nơi mới. D. ĐĂNG KÝ XE TẠM THỜI 1. Đối tượng gồm: 1.1. Ô tô mới nhập khẩu và sản xuất lắp ráp lưu hành từ kho, cảng. nhà máy, đại lý bán xe đến nơi đăng ký hoặc về các đại lý, kho lưu trữ khác. 1.2. Ô tô có phiếu sang tên di chuyển đi địa phương khác. 1.3. Ô tô làm thủ tục xoá sổ để tái xuất về nước hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1.4. Ô tô được phép quá cảnh (trừ xe có Hiệp định ký kết của Nhà nước). 1 5. Ô tô sát xi có buồng lái; ô tô tải không thùng. 1.6. Ô tô sát hạch. 1.7. Xe mang biển số Khu kinh tế-Thương mại theo quy định Chính phủ vào hoạt động trong nội địa Việt Nam. 1.8. Xe mới lắp ráp tại Việt Nam chạy thử nghiệm trên đường giao thông công cộng. 1.9. Xe được phép tạm nhập, tái xuất có thời hạn theo quy định của Chính phủ (trừ xe hoạt động ở khu vực biên giới có cửa khẩu). 1.10. Xe phục vụ Hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ công an. 1.11 Rơ moóc, sơmi rơ moóc. 2. Giấy tờ cần có: 2.1. Xe sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam: 2.1.1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 2.1.2. Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất theo quy định. 2.1.3. Hoá đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. 2.2. Xe nhập khẩu; tạm nhập tái xuất có thời hạn, quá cảnh: 2.2.1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này). 2.2.2. Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu hoặc bản kê khai chi tiết nhập xe. Trường hợp xe đã đăng ký tại Khu kinh tế-Thương mại theo quy định của Chính phủ thì phải có giấy đăng ký xe đó. 2.3. Xe phục vụ Hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ Công an: Chỉ cần đăng ký xe hoặc danh sách chi tiết xe được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2.4. Đối với xe sang tên di chuyển đi địa phương khác, xe làm thủ tục xoá sổ đăng ký; hồ sơ đăng ký tạm là Phiếu sang tên di chuyển hoặc Giấy chứng nhận xoá sổ đăng ký. Trường hợp xe đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu thì thủ tục đăng ký tạm bao gồm các loại giấy tờ theo quy định tại điểm 3 tại mục A phần II Thông tư này (trừ chứng từ lệ phí trước bạ). Khi đến làm thủ tục đăng ký tạm thời, chủ xe mang toàn bộ hồ sơ gốc và bản phô tô hồ sơ gốc để đối chiếu, không phải mang xe đến kiểm tra nhưng phải cà số máy, số khung dán vào giấy khai đăng ký. Khi cấp giấy đăng ký tạm thời thì trả hồ sơ gốc, cơ quan đăng ký xe lưu lại bản sao hồ sơ gốc. 3. Thời hạn đăng ký tạm thời: 3.1. Đăng ký xe tạm thời có giá trị là 07 ngày; nếu hết hạn thì được gia hạn một lần không quá 07 ngày. 3.2. Xe được phép tạm nhập: quảng cáo, hội chợ, triển lãm, thể thao hoặc phục vu các mục đích hợp pháp khác thì thời hạn dược cấp theo thời gian ghi trong giấy cho phép tạm nhập. Xe có đăng ký tạm, được phép lưu hành theo thời gian và nơi đi, nơi đến đã được ghi trong đăng ký tạm. E. XÓA SỔ ĐĂNG KÝ XE 1. Những trường hợp phải xoá sổ đăng ký: 1.1. xe hỏng không sử dụng được hoặc bị phá huỷ do tai nạn giao thông. 1.2. Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác. 1.3. Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1.4. Xe dự án được miễn thuế nhập khẩu, nay chuyển nhượng sang mục đích khác. 1.5. Xe đăng ký tại các khu Kinh tế - Thương mại theo quy định của Chính phủ khi tái xuất hoặc chuyển nhượng vào Việt Nam. 1.6. Xe hết niên hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ. 1.7. Xe bị mất cắp không tìm được. Chủ xe xin xoá sổ. 2. Thủ tục xoá sổ: Chủ xe phải tự khai giấy khai xoá sổ đăng ký xe (theo mẫu 03 kèm theo Thông tư này). Chủ xe không phải mang xe đến cơ quan nơi đăng ký xe nhưng phải nộp lại đăng ký xe, biển số xe và giấy khai xoá sổ đăng ký. Trường hợp xe bị mất cắp thì chỉ cần giấy khai xoá sổ đăng ký và đăng ký xe (nếu còn). Sau khi tiếp nhận đầy đủ theo quy định trên, cơ quan đăng ký xe cấp giấy chứng nhận xoá sổ đăng ký cho chủ xe. F. GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TRƯỜNG HỌP CỤ THỂ 1. Trường hợp đóng lại số máy, số khung 1.1. Xe nhập khẩu không có số máy, số khung; trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo biển số đăng ký. Trường hợp tìm thấy số máy, số khung thì yêu cầu đến Hải quan để xác nhận lại. - Trường hợp số máy, số khung của xe có số ở Etekét, số khi bằng sơn, số bị mờ, hoen gỉ thì được đóng lại theo số được Cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe (kể cả xe đã đăng ký và xe chưa đăng ký). - Xe bị đục số máy, số khung không tiếp nhận giải quyết đăng ký và hướng dẫn chủ phương tiện đến cơ quan Hải quan để giải quyết theo quy định của Chính phủ. 1.2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: 1.2.1. Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc số đóng bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng; 1.2.2. Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định. Nếu cơ quan giám định kết luận xe bị đục lại số máy hoặc số khung thì không tiếp nhận đăng ký theo quy định. Trường hợp giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thuỷ thì được đóng lại theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng. 1.3. Trường hợp xe đã đăng ký nếu thay thế máy mới hoặc thay thân máy (Blok) chưa có số máy thì đóng số theo số biển số xe đăng ký. 1.4. Xe có quyết định tịch thu hoặc quyết định xử lý vật chứng hoặc văn bản kết luận của cơ quan điều tra: Xe có số máy, số khung bị đục, tẩy xoá hoặc không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ thì được đóng lại số theo số biển số. 1.5. Việc đóng lại số máy, số khung do cơ quan đăng ký xe thực hiện. 2. Giải quyết vướng mắc về chứng từ chuyển nhượng xe 2.1. Khi sang tên di chuyển, trong hổ sơ xe đăng ký từ 01/9/1993 trở về trước thiếu hoá đơn chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng không liên tục thì theo quy định của Thông tư số 61/TT-TCT ngày 22/7/1993 của Bộ Tài chính, hồ sơ được coi là hợp lệ. 2.2. Xe mua bán qua nhiều chủ, nay không thể xác định được các chủ trung gian thì khi sang tên di chuyển phải có chứng từ mua bán, cho tặng của chủ xe đầu tiên và người bán xe cuối cùng. Người đăng ký xe phải có bản cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của xe và xuất trình giấy tờ tùy thân. trường hợp không có giấy tờ tuỳ thân phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã hoặc đơn vị công tác về nhân thân. Cơ quan đăng ký xe phải thông báo công khai tại nơi đăng ký về loại xe, biển số xe, số máy số khung. Sau 30 ngày, nếu không có tranh chấp, khiếu kiện thì giải quyết đăng ký, sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 3. Xe mô tô nhập khẩu trái phép, đã được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cho nộp thuế công thương nghiệp, đã đăng ký từ ngày 31/21/1995 trở về trước, thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 4. Xe đã đăng ký, nay phát hiện giấy chứng nhận nguồn gốc nhập khẩu (giấy Hải quan) giả hoặc bị tẩy xoá, đục lại số máy, số khung: - Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. - Trường hợp có kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra không phải là xe bị trộm cắp thì cơ quan đăng ký xe chuyển giao cho Cục Hải quan hoặc Cục thuế địa phương truy thu thuế. Sau khi có chứng từ truy thu thuế, thì giải quyết đăng ký. 5. Xe đã đăng ký từ 10 năm trở về trước (trừ xe nhập lậu hoặc xe bị trộm cắp), thực hiện theo quy định tại Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính khi sang tên di chuyển nếu hồ sơ gốc không đầy đủ nhưng không có tranh chấp khiếu kiện, được giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số xe. 6. Xe đã đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước, nay cà lại số máy, số khung thấy khác nét chữ, số, nhưng vẫn đúng với số máy, số khung lưu trong hồ sơ gốc, thì chủ xe phải viết cam đoan và được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 7. Xe mô tô đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước có đóng dấu "không bán, đổi, cho, tặng" tên giấy đăng ký xe, nay không có tranh chấp, khiếu kiện thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. Đối với xe mô tô hai bánh nhập khẩu trái phép nhưng được cơ quan hải quan truy thu thuế, đã đăng ký nay được giải quyết sang tên, đi chuyển hoặc đổi biển số. 8. Xe cải tạo đã đăng ký từ ngày 04/6/1996 trở về trước , trong hồ sơ thiếu biên bản kiểm nghiệm kỹ thuật theo quy định của Thông tư liên bộ Giao thông vận tải - Nội vụ số 223/TT/LB ngày 07/12/1979, nay dược giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. 9. Xe lắp ráp tại Việt Nam đã đăng ký từ ngày 19/02/1998 trở về trước , nếu có bản sao giấy chứng nhận sản phẩm đầu tiên hoặc bản sao biên bản nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu theo quy định của Bộ Giao thông vận tải, thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. III. QUẢN LÝ HỒ SƠ, BIỂN SỐ XE VÀ THẨM QUYỀN KÝ CÁC GIẤY TỜ 1. Quản lý hồ sơ xe: Hồ sơ đăng ký xe được quản lý theo chế độ hồ sơ của Bộ Công an; dữ liệu thông tin của xe được thống nhất quản lý trên hệ thống máy vi tính, định kỳ hàng tháng cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm báo cáo số liệu đăng ký, quản lý xe về Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt để thống nhất quản lý. Mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý hồ sơ làm mất, thất lạc hồ sơ đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. 2. Quy định về biển số xe: 2.1. Xe đăng ký tại Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nào thì biển số xe mang ký hiệu của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt hoặc tỉnh, thành phố đó (phụ lục 01 kèm theo Thông tư này). Xe của cơ quan, tổ chức và cá nhân người nước nào thì có thêm ký hiệu riêng của nước đó (phụ lục 02 kèm theo Thông tư này). 2.2. Biển số xe của các tổ chức, cá nhân trong nước - Xe không làm kinh doanh của cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan xét xử, kiểm sát; lực lượng Công an nhân dân; các cơ quan của Đảng; tổ chức chính trị-xã hội: Biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng. Sê ri biển số sử dụng 1 trong 5 chữ cái sau đây: A, B, C, D, E. - Xe của các doanh nghiệp; xe làm kinh tế của cơ quan quản lý nhà nước; tổ chức sự nghiệp; sự nghiệp có thu; xe cá nhân: Biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen. Sê ri biển số sử dụng 1 trong 15 chữ cái sau đây: F, H, K, L, M, N, P, R, S, T, U, V, X, Y, Z, Riêng: - Xe Quân đội làm kinh tế có ký hiệu “KT”. - Xe của các liên doanh nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, xe thuê của nước ngoài có ký hiệu "LD". - Xe của các dự án có ký hiệu "DA". - Rơ moóc, sơ mi rơ moóc có ký hiệu "R". 2.3. Biển số xe cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài - Xe của cơ quan đại diện ngoại giao; cơ quan lãnh sự và nhân viên nước ngoài có thân phận ngoại giao làm việc cho các cơ quan đó: biển số nền màu trằng, chữ và số màu đen; có sê ri ký hiệu "NG" màu đỏ. Riêng biển số xe của Đại sứ và Tổng Lãnh sự có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ quốc tịch và thứ tự đăng ký. - Xe của tổ chức quốc tế và nhân viên nước ngoài có thân phận ngoại giao làm việc cho các tổ chức đó: biển số nền màu tráng, chữ và số màu đen; có sê ri ký hiệu "QT" màu đỏ. Riêng biển số xe của người đứng đầu cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc, có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ quốc tịch và thứ tự đăng ký. Xe của tổ chức; văn phòng đại diện; cá nhân người nước ngoài (kể cả lưu học sinh): biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "NN". 2.4. Kích thước của biển số - Biển số xe ô tô gồm 2 biển không giống nhau về kích thước nhưng giống về chữ và số trong biển; 1 biển gắn phía trước và 1 biển gắn phía sau xe. Có kích thước như sau: + Biển trước: Chiều cao 110 mm, chiều dài 470 mm. + Biển sau: Chiều cao 200 mm, chiều dài 280 mm. - Biển số rơ moóc, sơ mi rơ moóc: 1 biển gắn phía sau thành xe. Kích thước: Chiều cao 200 mm, chiều dài 280 mm. - Biển số xe mô tô: 1 biến gắn phía sau xe. Kích thước: Chiều cao 140 mm, chiều dài 190 mm. 2.5. Chất liệu của biển số Biển số xe được sản xuất bằng kim loại, do Bộ Công an thống nhất phát hành và quản lý trong toàn quốc. Biển số xe tạm thời bằng giấy, kích thước của biển số theo quy định trên. Trong trường hợp đặc biệt xe phục vụ chính trị, hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ, biển đăng ký tạm được làm bằng kim loại, biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng, có ký hiệu riêng, được Tổng cục Cảnh sát phê duyệt. Giao cho Tổng cục Cảnh sát hướng dẫn kích thước, cách bố trí chữ và số trong biển số xe và kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất và sử dụng biển số xe không phải do Bộ Công an sản xuất, phát hành. 3. Quy đinh kẻ biển số, chữ trên thành, cửa xe ô tô: Đối với các loại xe ô tô (trừ các loại xe ô tô có 09 chỗ ngồi trở xuống), chủ xe phải chấp hành các quy định như sau: 3.1. Kẻ biển số ở thành sau xe và hai bên thành xe. 3.2. Kẻ tải trọng, tự trọng vào hai bên cánh cửa xe. 3.3. Kẻ tên cơ quan, đơn vị vào hai bên cánh cửa xe (trừ xe riêng của công dân Việt Nam). 4. Thời hạn sử dụng của giấy đăng ký xe: 4.1. Trong giấy đăng ký xe ô tô của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức quốc tế và nhân viên người nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó, tại mục: "Đăng ký xe có giá trị đến ngày, tháng, năm” ghi theo thời hạn trong giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ. 4.2. Trong giấy đăng ký xe của tổ chức, cá nhân trong nước, tại mục: “Đăng ký xe có giá trị đến ngày, tháng, năm" ghi theo niên hạn sử dụng của xe theo quy định của Chính phủ. 5. Thẩm quyền ký các loại giấy tờ: 5.1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt ký giấy đăng ký xe (mẫu số 04, 05, 06 kèm theo Thông tư này) và các Ioại giấy tờ khác liên quan đến công tác đăng ký xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt trực tiếp đăng ký, quản lý. 5.2. Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký giấy đăng ký xe (mẫu số 04, 05, 06 kèm theo Thông tư này) và các loại giấy tờ khác có liên quan đến công tác đăng ký xe do địa phương đăng ký, quản lý. 5.3. Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký giấy đăng ký mô tô (mẫu 04, mẫu 06 kèm theo Thông tư này) và các loại giấy có liên quan đến công tác đăng ký xe mô tô tại địa phương. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và thay thế các Thông tư số 01/2002/TT-BCA (C11) ngày 04/01/2002 "Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ"; số 02/2003/TT-BCA (C11) ký ngày 13/01/2003 bổ sung một số quy định của Thông tư 01; số 11/2003/TT-BCA (C11) ngày 03/7/2003 "Hướng dẫn việc cấp giấy phép và kiểm soát hoạt động của phương tiện vận tải tạm nhập tái xuất có thời hạn"; số 08/TT-BCA (C11) ngày 3/8/2005 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 11; số 17/2005/TT-BCA (C11) ngày 21/11/2005 sửa đổi, bổ sung điểm 2 của Thông tư 02; số 03/2006/TT- BCA (C1 1) ngày 22/02/2006 sửa đổi, bổ sung điểm 2 mục D phần II Thông tư 01; số 06/2005/TT-BCA (C11) ngày 24/6/2005 “Hướng dẫn đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới dường bộ trong khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị)"; số 07/BNV (C26) ngày 14/7/1993 hướng dẫn thực hiện Quyết định 258-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên. 2. Đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an để thực hiện tốt việc đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới dường bộ. 3. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến đăng ký xe. 4. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc các địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=14203&Keyword=
2025-09-24T02:31:49.426756
../data\bocongan\012007TT-BCA-C11\document.json
01/07/2009
THÔNG TƯ Quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phuơng tiện giao thông cơ giới đường bộ ____________________ Căn cứ Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001; Căn cứ Nghị định 14/2003/NĐ - CP ngày 19/2/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ - CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐINH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng 1. 1. Thông tư này quy định việc đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm: Xe ô tô, máy kéo, mô tô, xe gắn máy, các loại xe kết cấu tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật và rơ moóc, sơ mi rơ moóc (dưới đây gọi tắt là xe của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có trụ sở, cư trú trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1. 2. Thông tư này không áp dụng đối với xe quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng và xe máy chuyên dùng. 2. Phân cấp cơ quan đăng ký xe 2. 1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt (Tổng cục cảnh sát – Bộ Công an): đăng ký xe ô tô của các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó, một số cơ quan Trung ương có danh mục kèm theo) và xe của cơ quan Bộ Công an; Ngoài các xe quy định trên, Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt đăng ký xe theo yêu cầu nghiệp vụ được lãnh đạo Bộ Công an hoặc Tổng cục Cảnh sát phê duyệt. 2. 2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đăng ký ô tô của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, xe quân đội làm kinh tế; mô tô, xe gắn máy của tổ chức, cá nhân nước ngoài, liên doanh, dự án tại địa phương mình (trừ các đối tượng quy định tại điểm 2. 1 nêu trên). 2. 3. Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi chung là Công an cấp huyện đăng ký mô tô, xe gắn máy của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước đang cư trú hoặc có trụ sở tại huyện (trừ các đối tượng quy định tại điểm 2. 1 và 2. 2 nêu trên). Trường hợp Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa phân cấp đăng ký xe mô tô, xe máy cho Công an cấp huyện thì phải có văn bản báo cáo Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát). 3. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký xe 3. 1. Cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến công tác đăng ký xe, không tự đặt thêm các thủ tục đăng ký xe trái quy định tại Thông tư này; giải quyết đăng ký xe theo quy định của Bộ Công an. 3. 2. Trách nhiệm của cán bộ tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe phải kiểm tra, đối chiếu giữa hồ sơ với xe, đúng thủ tục theo quy định thì tiếp nhận giải quyết theo đúng thời gian quy định. Trường hợp hồ sơ không đảm bảo thủ tục quy định, phải hướng dẫn cụ thể, đầy đủ một lần cho chủ xe bổ sung và chịu trách nhiệm về hướng dẫn đó. 4. Trách nhiệm của chủ xe Chủ xe phải có đầy đủ hồ sơ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của hồ sơ và xe đến đăng ký; nộp lệ phí đăng ký và biển số theo quy định. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xoá số máy, số khung để đăng ký. 3. Thời gian làm thủ tục để cấp, đổi giấy đăng ký, biển số; các giấy tờ về sang tên di chuyển, giấy chứng nhận xoá sổ 5. 1. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe đảm bảo đúng quy định, cơ quan đăng ký xe cấp ngay biển số; Cấp đăng ký, hồ sơ (trường hợp sang tên di chuyển), giấy chứng nhận xoá sổ (trường hợp xoá sổ) hoặc cấp lại đăng ký, biển số xe. Thời hạn tối đa không quá 3 ngày làm việc (không kể ngày lễ, thứ 7, chủ nhật). 5. 2. Đăng ký tạm thời xe: Sau khi nhận hồ sơ đúng quy định, cơ quan đăng ký xe cấp đăng ký và biển số tạm thời trong ngày. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ Công tác đăng ký xe bao gồm: Đăng ký; sang tên, di chuyển hoặc cấp, đổi lại đăng ký, biển số xe; đăng ký tạm thời; xoá sổ đăng ký xe. A. ĐĂNG KÝ 1. Giấy khai đăng ký xe Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 2. Giấy tờ của chủ xe 2. 1. Chủ xe là người Việt Nam: cần có một trong những giấy tờ sau: - Giấy chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa đến tuổi được cấp chứng minh nhân dân hoặc nơi thường trú trong chứng minh không phù hợp nơi đăng lý thường trú trong giấy khai đăng ký thì xuất trình hộ khẩu. - Giấy chứng minh quân đội nhân dân, giấy chứng minh An ninh nhân dân, giấy chứng nhận cảnh sát nhân dân hoặc giấy chứng nhận theo quy định của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, kèm theo giấy giới thiệu của đơn vị công tác. - Thẻ học viên, sinh viên, kèm giấy giới thiệu của nhà trường. - Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam: Giấy khai báo tạm trú, thường trú theo quy định và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị). 2. 2. Chủ xe là người nước ngoài cần có: - Người nước ngoài làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức quốc tế: xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị) và giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ. - Người nước ngoài làm việc, sinh sống ở Việt Nam: xuất trình hộ chiếu (còn giá trị), giấy phép lao động theo quy định hoặc giấy giới thiệu của cơ quan Việt Nam quản lý người nước ngoài hoặc Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú từ 1 năm trở lên theo quy định tại Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 24/1999/PL - UBTVQH10 ngày 28/4/2000 về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. 2. 3. Chủ xe là cơ quan, tổ chức cần có: - Cơ quan, tổ chức Việt Nam: Giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe. - Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và tổ chức quốc tế: Giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ ghi rõ tên cơ quan, tổ chức kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe. - Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Văn phòng đại diện, Công ty nước ngoài trúng thầu, các tổ chức phi chính phủ: Giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe (trong trường hợp cơ quan không có giấy giới thiệu thì phải có giấy giới thiệu của cơ quan cấp trên quản lý). 2. 4. Người được uỷ quyền đăng ký xe phải có giấy uỷ quyền của chủ xe có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã hoặc cơ quan, đơn vị công tác và xuất trình chứng minh nhân dân. 2. 5. Chủ xe phải xuất trình các giấy tờ quy định tại điểm 2. 1, 2. 2, 2. 3, 2. 4 nêu trên. Cơ quan đăng ký xe lưu các Giấy giới thiệu, giấy uỷ quyền quy định trên trong hồ sơ xe. 3. Các giấy tờ của xe Giấy tờ của xe gồm: Chứng từ mua bán, cho tặng xe; lệ phí trước bạ và chứng từ nguồn gốc của xe. 3. 1. Chứng từ mua bán, cho, tặng xe Chứng từ mua bán, cho, tặng xe phải có một trong các loại giấy tờ sau đây: 3. 1. 1. Quyết định hoặc hợp đồng theo quy định của pháp luật. 3. 1. 2. Giấy bán, cho, tặng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật. 3. 1. 3. Hoá đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính (nếu xe bán ra chuyển qua nhiều tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thì khi đăng ký chỉ cần bản chính hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành của tổ chức, cơ quan doanh nghiệp bán cuối cùng). Đối với xe của doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh phải có hoá đơn giá trị gia tăng, hoá đơn bán hàng hoặc hoá đơn tự in theo quy định của pháp luật; trường hợp mua tài sản thanh lý xe của cơ quan hành chính sự nghiệp phải có hoá đơn bán tài sản thanh lý; trường hợp mua hàng hoá là tài sản dự trữ quốc gia phải có hoá đơn bán hàng dự trữ quốc gia. 3. 1. 4. Xe của đồng sở hữu khi bán, cho tặng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các sở hữu chủ. 3. 2. Chứng từ lệ phí trước bạ 3. 2. 1. Biên lai hoặc chứng từ nộp lệ phí trước bạ theo quy định của Bộ Tài chính (nếu nhiều xe chung một chứng từ lệ phí trước bạ thì phải có bản sao công chứng hoặc chứng thực của cơ quan cấp đối với từng xe). 3. 2. 2. Tờ khai và thông báo nộp lệ phí trước bạ. Trường hợp xe được miễn lệ phí trước bạ, chỉ cần tờ khai lệ phí trước bạ. 3. 3. Chứng từ nguồn gốc xe Giấy tờ cần có tuỳ theo từng loại như sau: 3. 3. 1. Xe nhập khẩu: 3. 3. 1. 1. Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại, xe miễn thuế, xe chuyên dùng có thuế suất 0%, xe viện trợ và các xe thuộc đối tượng Bộ Tài chính quy định phải sử dụng tờ khai nguồn gốc: Tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 3. 3. 1. 2. Xe nhập khẩu theo chế độ tạm nhập, tái xuất của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao; theo Nghị định của Chính phủ hoặc Hiệp định giữa hai nhà nước; hoặc chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình dự án ODA ở Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước làm việc theo lời mời: Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan. 3. 3. 1. 3. Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu, quà tặng hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển. - Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Bộ Tài chính. - Biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thụ, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua kho bạc hoặc chuyển khoản hoặc uỷ nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế. + Trường hợp không phải có biên lai thuế xuất, nhập khẩu, hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải có quyết định miễn thuế hoặc văn bản cho miễn thuế của cấp có thẩm quyền. + Trường hợp xe chuyên dùng có thuế suất bằng 0%: TỜ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo qui định của Bộ Tài chính trong đó phải nhãn hiệu xe, số máy, số khung. 3. 3. 1. 4. Đối với rơ moóc, sơmi rơ moóc nhập khẩu: Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu theo qui định của Bộ tài chính. Trường hợp nhiều rơ moóc, sơmi rơ moóc chung một tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu thì phải sao mỗi xe một tờ (bản sao phải công chứng hoặc chứng thực của cấp có thẩm quyền). Trong tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu không ghi nhãn hiệu thì trong giấy đăng ký mục loại xe ghi tên nước sản xuất. 3. 3. 1. 5. Xe ô tô chuyên dùng thuê của nước ngoài: - Hợp đồng thuê; - Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 3. 3. 1. 6. Xe của các dự án: 3. 3. 1. 6. 1. Xe các dự án viện trợ của nước ngoài khi hết hạn, bàn giao cho phía Việt Nam: - Chứng từ nguồn gốc của xe như quy định tại điểm 3. 3 mục A phần II Thông tư này; - Quyết định tiếp nhận của Thủ trưởng cấp Bộ (đối với cơ quan Trung ương) hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cơ quan ở địa phương); - Biên bản bàn giao xe theo quy định. Sau khi đã được cấp giấy đăng ký xe mang tên cơ quan Việt Nam, khi bán xe: xe thuộc các cơ quan Trung ương thì do Thủ trưởng cấp Bộ; xe thuộc địa phương quản lý thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Đối với xe viện trợ không đăng ký tên dự án mà đăng ký tên cơ quan Việt Nam, sau khi hết thời hạn dự án muốn bán phải có quyết định cho bán của cấp có thẩm quyền như quy định trên. Trường hợp xe viện trợ nhân đạo, được sang tên di chuyển bình thường theo quy định. 3. 3. 1. 6. 2. Xe (đã đăng ký) của dự án này bàn giao cho dự án khác: - Văn bản bàn giao xe của chủ dự án nước ngoài; - Công văn xác nhận hàng viện trợ của Vụ Tài chính đối ngoại – Bộ Tài chính; 3. 3. 2. Xe sản xuất, lắp ráp, cải tạo trong nước: 3. 3. 2. 1. Xe lắp ráp: - Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất, lắp ráp. Tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu). 3. 3. 2. 2. Xe cải tạo: 3. 3. 2. 2. 1. Xe thay đổi tính chất chuyên chở. - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo của cơ sở sản xuất theo quy định của Bộ Giao thông vận tải; xe trong lực lượng Công an nhân dân cải tạo: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới theo quy định của Bộ Công an. Không giải quyết đăng ký các xe ô tô khác cải tạo thành xe ô tô chở khách; xe chuyên dùng chuyển đổi tính năng, công dụng (gọi tắt là xe thay đổi công năng) trước 5 năm và xe đông lạnh trước 3 năm (kể từ ngày nhập khẩu) theo quy định của Chính phủ. 3. 3. 2. 2. 2. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung nhập khẩu: - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Bản chính xác nhận của cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục cho tổng thành đó nhập khẩu (nhập theo hợp đồng thương mại). Trường hợp nhập khẩu phi mậu dịch thì phải có bản chính tờ khai hàng xuất, nhập khẩu phi mậu địch và biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu; Trường hợp tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung khác nhãn hiệu, thông số kỹ thuật thì phải có Biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo của cơ sở sản xuất theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. 3. 3. 2. 2. 3. Xe thay tổng thành máy, thân máy (Block) hoặc tổng thành khung sản xuất trong nước: - Đăng ký xe (đối với xe đã đăng ký) hoặc chứng từ nguồn gốc nhập khẩu (đối với xe đã qua sử dụng); - Chứng từ bán tổng thành của cơ sở sản xuất; - Biên bản kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) của cơ sở sản xuất. 3. 3. 2. 2. 4. Trường hợp tổng thành máy hoặc tổng thành khung của xe đã đăng ký dùng để thay thế cho xe khác thì phải có: Giấy xoá sổ đăng ký (ghi rõ cấp cho tổng thành máy hoặc tổng thành khung) hoặc quyết định tịch thu của cấp có thẩm quyền kèm theo hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với xe hết niên hạn sử dụng quy định tại Nghị định 92/2001/NĐ - CP này 11/12/2001 và Nghị định 23/2004/NĐ - CP ngày 13/01/2004 của chính phủ; xe miễn thuế; xe tạm nhập của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế được miễn trừ ngoại giao thì không được làm thủ tục xoá sổ tổng thành máy hoặc tổng thành khung để thay thế cho xe khác. 3. 3. 3. Xe có quyết định của các cấp, cơ quan có thẩm quyền. 3. 3. 3. 1. Xe xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước: - Quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền); - Hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ Nhà nước do Bộ Tài chính phát hành hoặc văn bản xác lập quyền sở hữu Nhà nước của cơ quan có thẩm quyền (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cấp có thẩm quyền). Đối với trường hợp tịch thu nhiều xe chung một quyết định phải có bản sao kê khai chi tiết xe tịch thu sung quỹ nhà nước có xác nhận của cấp có thẩm quyền hoặc cơ quan ra quyết định bán hàng tịch thu. Việc đăng ký xe tịch thu sung quy Nhà nước (không phải có hồ sơ gốc) được thực hiện trên cơ sở hiện trạng số máy, số khung của xe ghi trong quyết định và hoá đơn trên, nhưng xe phải hoàn chỉnh các chi tiết cùng chủng loại, cùng thông số kỹ thuật. 3. 3. 3. 2. Xe có quyết định xử lý vật chứng: - Quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền cấp); - Phiếu thu tiền hoặc giấy biên nhận tiền hoặc biên bản bàn giao (nếu là người bị hại). Trường hợp quyết định xử lý vật chứng mà tịch thu sung quỹ nhà nước (không phải có hồ sơ gốc) nhưng phải có hoá đơn bán hàng tịch thu sung qũy nhà nước. 3. 3. 3. 3. Xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án: - Bản sao quyết định của Toà án hoặc trích lục bản án; - Quyết định thi hành án của phòng thi hành án; - Chứng từ thu tiền hoặc biên bản bàn giao tài sản. Trường hợp xe phát mại thì phải có hồ sơ gốc theo quy định tại Thông tư này và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có xe bị phát mại. Xe chưa rõ nguồn gốc hoặc không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu xe hợp pháp của người có tài sản bị phát mại thì không tiếp nhận giải quyết đăng ký mà phải hướng dẫn chủ xe đến nơi đã ra quyết định phát mại để giải quyết. 3. 3. 3. 4. Xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại: - Bản sao hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm (do tổ chức tín dụng ký sao); Hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản hoặc biên bản nhận tài sản hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); - Đăng ký xe hoặc chứng từ nguồn gốc của xe; - Chứng từ thu tiền theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp xe là tài sản cầm cố, thế chấp có tranh chấp, xe khởi kiện, xe là tài sản thi hành án phải có thêm: + Trích lục bản án hoặc sao bản án hoặc sao quyết định của Toà án; + Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án. Trường hợp xe đã đăng ký ở địa phương khác, phải có thêm phiếu sang tên di chuyển kèm theo hồ sơ gốc, giấy khai sang tên di chuyển do chủ xe, hoặc cơ quan ký hợp đồng bán tài sản, các tổ chức tín đụng ký xác nhận. 3. 3. 3. 5. Xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu: 3. 3. 3. 5. 1. Xe đã đăng ký, nay phát hiện Chứng từ nguồn gốc giả: - Chứng từ truy thu thuế nhập khẩu; - Chứng từ truy thu thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có); - Đăng ký xe; Quyết định xử lý vật chứng hoặc kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra. 3. 3. 3. 5. 2. Xe phải truy thu thêm thuế nhập khẩu: - Quyết định truy thu thuế của Cục Hải quan hoặc của Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Giấy nộp tiền thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước; - Hồ sơ gốc của xe. 3. 3. 4. Xe dự trữ quốc gia: - Lệnh xuất bán hàng dự trữ quốc gia của Cục Dự trữ quốc gia. Trường hợp nhiều xe thì phải sao cho mỗi xe một lệnh (bản sao phải có công chứng hoặc chứng thực của Cục Dự trữ quốc gia); - Tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe hoặc giấy xác nhận của Tổng cục Hải quan (mỗi xe 1 bản chính) ghi rõ nhãn hiệu, số máy, số khung; - Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho theo quy định của Bộ Tài chính do các Chi cục Dự trữ quốc gia cấp, mỗi xe một hoá đơn ghi rõ nhãn hiệu, số máy và số khung. 3. 3. 5. Xe bị mất chứng từ nguồn gốc: Giấy cam đoan của chủ xe trước pháp luật về việc mất chứng từ nguồn gốc của xe và xuất trình giấy tờ theo quy định tại điểm 2 mục A phần II Thông tư này. - Bản sao chứng từ nguồn gốc của xe nhập khẩu phải có xác nhận của cơ quan đã cấp chứng từ đó, riêng đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước thì cơ sở sản Xuất phải cấp lại Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng (hồ sơ đăng ký phải đầy đủ như quy định tại Mục A phần II Thông tư này). Sau 30 ngày nếu không phát hiện có vi phạm hoặc tranh chấp gì thì làm thủ tục đăng ký xe. 3. 3. 6. Xe của Công ty cho thuê tài chính đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê: - Giấy tờ Của xe theo quy định tại điểm 3 mục A phần II Thông tư này. - Công văn của Công ty cho thuê tài chính đề nghị đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê. 3. 3. 7. Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự. - Giấy tờ của xe như quy định tại điểm 3 Mục A phần II Thông tư này; - Quyết định cho bán xe của Tổng cục Hậu Cần (đối với xe Công an hoặc của Bộ Tổng tham mưu đối với xe quân đội). Trường hợp xe có nguồn gốc do Bộ Quốc phòng cấp phát, trang bị trước ngày 31/12/1989 và đã được đăng ký trước ngày 27/12/1995, phải có bản chính giấy chứng nhận của Cục quản lý xe máy thuộc Tổng cục kỹ thuật cấp cho từng xe. 3. 3. 8. Đăng ký và quản lý xe của các doanh nghiệp quân đội làm kinh tế; xe quân đội làm nhiệm vụ quốc phòng có yêu cầu cấp biển số dân sự thực hiện theo Thông tư liên tịch số 16/2004/TTLT - CA - QP ngày 01/11/2004 liên bộ Công an - Quốc phòng. 3. 3. 9. Xe là tài sản chung của vợ chồng Chủ xe tự nguyện khai là tài sản chung của vợ chồng, phải ghi đầy đủ họ, tên và chữ ký của hai vợ chồng trong giấy khai đăng ký. Trường hợp xe thuộc tài sản chung của vợ chồng đã đăng ký trước ngày 18/10/2001, nay có nguyện vọng đăng ký xe là tài sản chung của hai vợ chồng thì phải tự khai giấy khai đăng ký xe (theo mẫu 01 kèm theo Thông tư này). Cơ quan đăng ký xe thu lại đăng ký xe cũ và cấp đăng ký xe mới. 3. 3. 10. Các loại xe có kết cấu tương tự Giấy tờ của xe như quy định tại điểm 3 mục A phần II Thông tư này. Trường hợp xe sản xuất, lắp ráp trước 31/12/2004 có chứng từ nguồn gốc không đảm bảo theo quy định thì chủ xe phải có cam kết về nguồn gốc hợp lệ của xe (có xác nhận của chính quyền địa phương); Biên bản kiểm tra của ngành giao thông vận tải chứng nhận xe đủ điều kiện về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (Thời hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ). B. ĐĂNG KÝ SANG TÊN, DI CHUYỂN XE Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho tặng xe, người mua xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. 1. Xe đăng ký sang tên trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có: 1. 1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 1. 2. Giấy đăng ký xe 1. 3. Chứng từ mua bán, cho tặng xe theo quy định tại điểm 3. 1 mục A phần II Thông tư này. 1. 4. Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại điểm 3. 2 mục A phần II thông tư này. Khi đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số cùng loại biển) và cấp lại giấy đăng ký xe theo tên của chủ xe mới. Trường hợp sang tên mô tô, xe máy khác huyện thì chủ xe phải đến Công an cấp huyện đã đăng ký xe đó (không phải đưa xe đến kiểm tra) làm thủ tục rút hồ sơ gốc của xe chuyển về Công an cấp huyện nơi chủ xe mới đăng ký. 2. Xe sang tên di chuyển ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có: 2. 1. Hai giấy khai sang tên di chuyển. Chủ xe phải tự khai giấy khai sang tên, di chuyển theo đúng mẫu quy định (mẫu số 02 kèm theo Thông tư này). 2. 2. Giấy đăng ký xe; 2. 3. Chứng từ mua bán, cho tặng xe theo quy định tại điểm 3. 1 mục A phần II Thông tư này. Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra. 3. Xe di chuyển nguyên chủ Khi chủ xe thay đổi nơi cư trú sang tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác, giấy tờ cần có: 3. 1. Hai giấy khai sang tên, di chuyển. Chủ xe phải tự khai giấy khai sang tên, di chuyển theo đúng mẫu quy định (mẫu số 02 kèm theo Thông tư này). 3. 2. Giấy đăng ký xe. 3. 3. Quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu. Không phải mang xe đến, nhưng phải nộp lại biển số xe. Trường hợp mất đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải có văn bản đề nghị nếu đủ giấy tờ theo quy định thì cấp giấy sang tên di chuyển. 4. Xe di chuyển sang địa phương khác, nhưng chủ xe chưa đăng ký, lại bán tiếp cho chủ xe mới, nếu thủ tục mua bán và lệ phí trước bạ đúng quy định thì tiếp nhận giải quyết đăng ký và gửi thông báo cho địa phương di chuyển xe biết để điều chỉnh sổ đăng ký xe. 5. Trường hợp xe là quà biếu, tặng; xe tạm nhập; xe của Việt kiều hồi hương, xe dự án chưa hết hạn, chuyển nhượng tại Việt Nam thì trước khi đăng ký, chủ xe làm thủ tục xoá sổ tại cơ quan đăng ký xe, sau đó đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục nhập khẩu theo quy định và nộp lại hồ sơ cho cơ quan đăng ký xe để làm thủ tục sang tên, di chuyển cho chủ mới. Trường hợp các loại xe trên chưa làm thủ tục xoá sổ, nhưng đã được cơ quan Hải quan truy thu thuế nhập khẩu hoặc cơ quan chức năng của Bộ Tài chính, trả lời bằng vàn bản không phải truy thu thuế thì được sang tên di chuyển và lưu văn bản vào hồ sơ xe. Riêng xe của Việt kiều hồi hương được mang theo định lượng miễn thuế theo qui định, nay không có nhu cầu sử dụng, được chuyển nhượng, sang tên di chuyển. Đối với xe nhập khẩu được miễn thuế đã sử dụng trên 10 năm. Theo quy định của Bộ Tài chính thuế nhập khẩu bằng 0%; Trường hợp chuyển nhượng hồ sơ chỉ cần: Tờ khai hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch có xác nhận của Hải quan kèm theo hồ sơ gốc đăng ký ban đầu. C. ĐỔI, CẤP LẠI ĐĂNG KÝ, BIỂN SỐ XE. 1. Đổi lại đăng ký, biển số xe: 1. 1. Những trường hợp sau đây phải đổi lại đăng ký xe, biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn; đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ. 1. 2. Chủ xe đề nghị đổi đăng ký xe, biển số xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn cam đoan (đối với cá nhân) và phải nộp lại đăng ký hoặc biển số xe cũ và không bắt buộc phải mang xe đến để kiểm tra (trừ xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn). Cơ quan đăng ký xe cấp lại đăng ký, biển số xe (theo số cũ) trừ loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số. 2. Cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất: Chủ xe bị mất đăng ký, biển số xe phải có văn bản đề nghị cấp lại, không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe. Nếu đủ giấy tờ theo quy định thì giải quyết cấp lại đăng ký xe, biển số xe (theo biển số cũ) trường hợp loại biển 3 số thì đổi sang loại biển 4 số theo quy định. 3. Chủ xe là cán bộ chiến sĩ bộ đội, Công an xuất ngũ hoặc chuyển công tác; học sinh, sinh viên ra trường; nếu đã thay đổi địa chỉ, nơi công tác thì được giải quyết cấp lại theo địa chỉ thường trú hoặc tạm trú có thời hạn ở nơi mới. D. ĐĂNG KÝ XE TẠM THỜI 1. Đối tượng gồm: 1. 1. Ô tô mới nhập khẩu và sản xuất lắp ráp lưu hành từ kho, cảng. nhà máy, đại lý bán xe đến nơi đăng ký hoặc về các đại lý, kho lưu trữ khác. 1. 2. Ô tô có phiếu sang tên di chuyển đi địa phương khác. 1. 3. Ô tô làm thủ tục xoá sổ để tái xuất về nước hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1. 4. Ô tô được phép quá cảnh (trừ xe có Hiệp định ký kết của Nhà nước). 1 5. Ô tô sát xi có buồng lái; ô tô tải không thùng. 1. 6. Ô tô sát hạch. 1. 7. Xe mang biển số Khu kinh tế - Thương mại theo quy định Chính phủ vào hoạt động trong nội địa Việt Nam. 1. 8. Xe mới lắp ráp tại Việt Nam chạy thử nghiệm trên đường giao thông công cộng. 1. 9. Xe được phép tạm nhập, tái xuất có thời hạn theo quy định của Chính phủ (trừ xe hoạt động ở khu vực biên giới có cửa khẩu). 1. 10. Xe phục vụ Hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ công an. 1. 11 Rơ moóc, sơmi rơ moóc. 2. Giấy tờ cần có: 2. 1. Xe sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam: 2. 1. 1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này); 2. 1. 2. Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất theo quy định. 2. 1. 3. Hoá đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. 2. 2. Xe nhập khẩu; tạm nhập tái xuất có thời hạn, quá cảnh: 2. 2. 1. Giấy khai đăng ký xe. Chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 01 kèm theo Thông tư này). 2. 2. 2. Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu hoặc bản kê khai chi tiết nhập xe. Trường hợp xe đã đăng ký tại Khu kinh tế - Thương mại theo quy định của Chính phủ thì phải có giấy đăng ký xe đó. 2. 3. Xe phục vụ Hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ Công an: Chỉ cần đăng ký xe hoặc danh sách chi tiết xe được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2. 4. Đối với xe sang tên di chuyển đi địa phương khác, xe làm thủ tục xoá sổ đăng ký; hồ sơ đăng ký tạm là Phiếu sang tên di chuyển hoặc Giấy chứng nhận xoá sổ đăng ký. Trường hợp xe đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu thì thủ tục đăng ký tạm bao gồm các loại giấy tờ theo quy định tại điểm 3 tại mục A phần II Thông tư này (trừ chứng từ lệ phí trước bạ). Khi đến làm thủ tục đăng ký tạm thời, chủ xe mang toàn bộ hồ sơ gốc và bản phô tô hồ sơ gốc để đối chiếu, không phải mang xe đến kiểm tra nhưng phải cà số máy, số khung dán vào giấy khai đăng ký. Khi cấp giấy đăng ký tạm thời thì trả hồ sơ gốc, cơ quan đăng ký xe lưu lại bản sao hồ sơ gốc. 3. Thời hạn đăng ký tạm thời: 3. 1. Đăng ký xe tạm thời có giá trị là 07 ngày; nếu hết hạn thì được gia hạn một lần không quá 07 ngày. 3. 2. Xe được phép tạm nhập: quảng cáo, hội chợ, triển lãm, thể thao hoặc phục vu các mục đích hợp pháp khác thì thời hạn dược cấp theo thời gian ghi trong giấy cho phép tạm nhập. Xe có đăng ký tạm, được phép lưu hành theo thời gian và nơi đi, nơi đến đã được ghi trong đăng ký tạm. E. XÓA SỔ ĐĂNG KÝ XE 1. Những trường hợp phải xoá sổ đăng ký: 1. 1. xe hỏng không sử dụng được hoặc bị phá huỷ do tai nạn giao thông. 1. 2. Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác. 1. 3. Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam. 1. 4. Xe dự án được miễn thuế nhập khẩu, nay chuyển nhượng sang mục đích khác. 1. 5. Xe đăng ký tại các khu Kinh tế - Thương mại theo quy định của Chính phủ khi tái xuất hoặc chuyển nhượng vào Việt Nam. 1. 6. Xe hết niên hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ. 1. 7. Xe bị mất cắp không tìm được. Chủ xe xin xoá sổ. 2. Thủ tục xoá sổ: Chủ xe phải tự khai giấy khai xoá sổ đăng ký xe (theo mẫu 03 kèm theo Thông tư này). Chủ xe không phải mang xe đến cơ quan nơi đăng ký xe nhưng phải nộp lại đăng ký xe, biển số xe và giấy khai xoá sổ đăng ký. Trường hợp xe bị mất cắp thì chỉ cần giấy khai xoá sổ đăng ký và đăng ký xe (nếu còn). Sau khi tiếp nhận đầy đủ theo quy định trên, cơ quan đăng ký xe cấp giấy chứng nhận xoá sổ đăng ký cho chủ xe. F. GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TRƯỜNG HỌP CỤ THỂ 1. Trường hợp đóng lại số máy, số khung 1. 1. Xe nhập khẩu không có số máy, số khung; trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo biển số đăng ký. Trường hợp tìm thấy số máy, số khung thì yêu cầu đến Hải quan để xác nhận lại. - Trường hợp số máy, số khung của xe có số ở Etekét, số khi bằng sơn, số bị mờ, hoen gỉ thì được đóng lại theo số được Cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe (kể cả xe đã đăng ký và xe chưa đăng ký). - Xe bị đục số máy, số khung không tiếp nhận giải quyết đăng ký và hướng dẫn chủ phương tiện đến cơ quan Hải quan để giải quyết theo quy định của Chính phủ. 1. 2. Xe sản xuất, lắp ráp trong nước: 1. 2. 1. Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc số đóng bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng; 1. 2. 2. Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định. Nếu cơ quan giám định kết luận xe bị đục lại số máy hoặc số khung thì không tiếp nhận đăng ký theo quy định. Trường hợp giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thuỷ thì được đóng lại theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng. 1. 3. Trường hợp xe đã đăng ký nếu thay thế máy mới hoặc thay thân máy (Blok) chưa có số máy thì đóng số theo số biển số xe đăng ký. 1. 4. Xe có quyết định tịch thu hoặc quyết định xử lý vật chứng hoặc văn bản kết luận của cơ quan điều tra: Xe có số máy, số khung bị đục, tẩy xoá hoặc không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ thì được đóng lại số theo số biển số. 1. 5. Việc đóng lại số máy, số khung do cơ quan đăng ký xe thực hiện. 2. Giải quyết vướng mắc về chứng từ chuyển nhượng xe 2. 1. Khi sang tên di chuyển, trong hổ sơ xe đăng ký từ 01/9/1993 trở về trước thiếu hoá đơn chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng không liên tục thì theo quy định của Thông tư số 61/TT - TCT ngày 22/7/1993 của Bộ Tài chính, hồ sơ được coi là hợp lệ. 2. 2. Xe mua bán qua nhiều chủ, nay không thể xác định được các chủ trung gian thì khi sang tên di chuyển phải có chứng từ mua bán, cho tặng của chủ xe đầu tiên và người bán xe cuối cùng. Người đăng ký xe phải có bản cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của xe và xuất trình giấy tờ tùy thân. trường hợp không có giấy tờ tuỳ thân phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã hoặc đơn vị công tác về nhân thân. Cơ quan đăng ký xe phải thông báo công khai tại nơi đăng ký về loại xe, biển số xe, số máy số khung. Sau 30 ngày, nếu không có tranh chấp, khiếu kiện thì giải quyết đăng ký, sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 3. Xe mô tô nhập khẩu trái phép, đã được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cho nộp thuế công thương nghiệp, đã đăng ký từ ngày 31/21/1995 trở về trước, thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 4. Xe đã đăng ký, nay phát hiện giấy chứng nhận nguồn gốc nhập khẩu (giấy Hải quan) giả hoặc bị tẩy xoá, đục lại số máy, số khung: - Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. - Trường hợp có kết luận bằng văn bản của cơ quan điều tra không phải là xe bị trộm cắp thì cơ quan đăng ký xe chuyển giao cho Cục Hải quan hoặc Cục thuế địa phương truy thu thuế. Sau khi có chứng từ truy thu thuế, thì giải quyết đăng ký. 5. Xe đã đăng ký từ 10 năm trở về trước (trừ xe nhập lậu hoặc xe bị trộm cắp), thực hiện theo quy định tại Thông tư số 113/2005/TT - BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính khi sang tên di chuyển nếu hồ sơ gốc không đầy đủ nhưng không có tranh chấp khiếu kiện, được giải quyết sang tên di chuyển hoặc đổi biển số xe. 6. Xe đã đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước, nay cà lại số máy, số khung thấy khác nét chữ, số, nhưng vẫn đúng với số máy, số khung lưu trong hồ sơ gốc, thì chủ xe phải viết cam đoan và được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. 7. Xe mô tô đăng ký từ ngày 31/12/1995 trở về trước có đóng dấu "không bán, đổi, cho, tặng" tên giấy đăng ký xe, nay không có tranh chấp, khiếu kiện thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số xe. Đối với xe mô tô hai bánh nhập khẩu trái phép nhưng được cơ quan hải quan truy thu thuế, đã đăng ký nay được giải quyết sang tên, đi chuyển hoặc đổi biển số. 8. Xe cải tạo đã đăng ký từ ngày 04/6/1996 trở về trước, trong hồ sơ thiếu biên bản kiểm nghiệm kỹ thuật theo quy định của Thông tư liên bộ Giao thông vận tải - Nội vụ số 223/TT/LB ngày 07/12/1979, nay dược giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. 9. Xe lắp ráp tại Việt Nam đã đăng ký từ ngày 19/02/1998 trở về trước, nếu có bản sao giấy chứng nhận sản phẩm đầu tiên hoặc bản sao biên bản nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu theo quy định của Bộ Giao thông vận tải, thì được giải quyết sang tên, di chuyển hoặc đổi biển số. III. QUẢN LÝ HỒ SƠ, BIỂN SỐ XE VÀ THẨM QUYỀN KÝ CÁC GIẤY TỜ 1. Quản lý hồ sơ xe: Hồ sơ đăng ký xe được quản lý theo chế độ hồ sơ của Bộ Công an; dữ liệu thông tin của xe được thống nhất quản lý trên hệ thống máy vi tính, định kỳ hàng tháng cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm báo cáo số liệu đăng ký, quản lý xe về Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt để thống nhất quản lý. Mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý hồ sơ làm mất, thất lạc hồ sơ đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. 2. Quy định về biển số xe: 2. 1. Xe đăng ký tại Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nào thì biển số xe mang ký hiệu của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt hoặc tỉnh, thành phố đó (phụ lục 01 kèm theo Thông tư này). Xe của cơ quan, tổ chức và cá nhân người nước nào thì có thêm ký hiệu riêng của nước đó (phụ lục 02 kèm theo Thông tư này). 2. 2. Biển số xe của các tổ chức, cá nhân trong nước - Xe không làm kinh doanh của cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan xét xử, kiểm sát; lực lượng Công an nhân dân; các cơ quan của Đảng; tổ chức chính trị - xã hội: Biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng. Sê ri biển số sử dụng 1 trong 5 chữ cái sau đây: A, B, C, D, E. - Xe của các doanh nghiệp; xe làm kinh tế của cơ quan quản lý nhà nước; tổ chức sự nghiệp; sự nghiệp có thu; xe cá nhân: Biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen. Sê ri biển số sử dụng 1 trong 15 chữ cái sau đây: F, H, K, L, M, N, P, R, S, T, U, V, X, Y, Z, Riêng: - Xe Quân đội làm kinh tế có ký hiệu “KT”. - Xe của các liên doanh nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, xe thuê của nước ngoài có ký hiệu "LD". - Xe của các dự án có ký hiệu "DA". - Rơ moóc, sơ mi rơ moóc có ký hiệu "R". 2. 3. Biển số xe cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài - Xe của cơ quan đại diện ngoại giao; cơ quan lãnh sự và nhân viên nước ngoài có thân phận ngoại giao làm việc cho các cơ quan đó: biển số nền màu trằng, chữ và số màu đen; có sê ri ký hiệu "NG" màu đỏ. Riêng biển số xe của Đại sứ và Tổng Lãnh sự có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ quốc tịch và thứ tự đăng ký. - Xe của tổ chức quốc tế và nhân viên nước ngoài có thân phận ngoại giao làm việc cho các tổ chức đó: biển số nền màu tráng, chữ và số màu đen; có sê ri ký hiệu "QT" màu đỏ. Riêng biển số xe của người đứng đầu cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc, có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ quốc tịch và thứ tự đăng ký. Xe của tổ chức; văn phòng đại diện; cá nhân người nước ngoài (kể cả lưu học sinh): biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu "NN". 2. 4. Kích thước của biển số - Biển số xe ô tô gồm 2 biển không giống nhau về kích thước nhưng giống về chữ và số trong biển; 1 biển gắn phía trước và 1 biển gắn phía sau xe. Có kích thước như sau: + Biển trước: Chiều cao 110 mm, chiều dài 470 mm. + Biển sau: Chiều cao 200 mm, chiều dài 280 mm. - Biển số rơ moóc, sơ mi rơ moóc: 1 biển gắn phía sau thành xe. Kích thước: Chiều cao 200 mm, chiều dài 280 mm. - Biển số xe mô tô: 1 biến gắn phía sau xe. Kích thước: Chiều cao 140 mm, chiều dài 190 mm. 2. 5. Chất liệu của biển số Biển số xe được sản xuất bằng kim loại, do Bộ Công an thống nhất phát hành và quản lý trong toàn quốc. Biển số xe tạm thời bằng giấy, kích thước của biển số theo quy định trên. Trong trường hợp đặc biệt xe phục vụ chính trị, hội nghị, thể thao theo yêu cầu của Chính phủ, biển đăng ký tạm được làm bằng kim loại, biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng, có ký hiệu riêng, được Tổng cục Cảnh sát phê duyệt. Giao cho Tổng cục Cảnh sát hướng dẫn kích thước, cách bố trí chữ và số trong biển số xe và kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất và sử dụng biển số xe không phải do Bộ Công an sản xuất, phát hành. 3. Quy đinh kẻ biển số, chữ trên thành, cửa xe ô tô: Đối với các loại xe ô tô (trừ các loại xe ô tô có 09 chỗ ngồi trở xuống), chủ xe phải chấp hành các quy định như sau: 3. 1. Kẻ biển số ở thành sau xe và hai bên thành xe. 3. 2. Kẻ tải trọng, tự trọng vào hai bên cánh cửa xe. 3. 3. Kẻ tên cơ quan, đơn vị vào hai bên cánh cửa xe (trừ xe riêng của công dân Việt Nam). 4. Thời hạn sử dụng của giấy đăng ký xe: 4. 1. Trong giấy đăng ký xe ô tô của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức quốc tế và nhân viên người nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó, tại mục: "Đăng ký xe có giá trị đến ngày, tháng, năm” ghi theo thời hạn trong giấy giới thiệu của Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ. 4. 2. Trong giấy đăng ký xe của tổ chức, cá nhân trong nước, tại mục: “Đăng ký xe có giá trị đến ngày, tháng, năm" ghi theo niên hạn sử dụng của xe theo quy định của Chính phủ. 5. Thẩm quyền ký các loại giấy tờ: 5. 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt ký giấy đăng ký xe (mẫu số 04, 05, 06 kèm theo Thông tư này) và các Ioại giấy tờ khác liên quan đến công tác đăng ký xe do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt trực tiếp đăng ký, quản lý. 5. 2. Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký giấy đăng ký xe (mẫu số 04, 05, 06 kèm theo Thông tư này) và các loại giấy tờ khác có liên quan đến công tác đăng ký xe do địa phương đăng ký, quản lý. 5. 3. Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký giấy đăng ký mô tô (mẫu 04, mẫu 06 kèm theo Thông tư này) và các loại giấy có liên quan đến công tác đăng ký xe mô tô tại địa phương. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và thay thế các Thông tư số 01/2002/TT - BCA (C11) ngày 04/01/2002 "Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ"; số 02/2003/TT - BCA (C11) ký ngày 13/01/2003 bổ sung một số quy định của Thông tư 01; số 11/2003/TT - BCA (C11) ngày 03/7/2003 "Hướng dẫn việc cấp giấy phép và kiểm soát hoạt động của phương tiện vận tải tạm nhập tái xuất có thời hạn"; số 08/TT - BCA (C11) ngày 3/8/2005 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 11; số 17/2005/TT - BCA (C11) ngày 21/11/2005 sửa đổi, bổ sung điểm 2 của Thông tư 02; số 03/2006/TT - BCA (C1 1) ngày 22/02/2006 sửa đổi, bổ sung điểm 2 mục D phần II Thông tư 01; số 06/2005/TT - BCA (C11) ngày 24/6/2005 “Hướng dẫn đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới dường bộ trong khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị)"; số 07/BNV (C26) ngày 14/7/1993 hướng dẫn thực hiện Quyết định 258 - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên. 2. Đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an để thực hiện tốt việc đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới dường bộ. 3. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến đăng ký xe. 4. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc các địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
01/2007/TTLT/BCA-BNG
30/01/2007
Thông tư liên tịch
13/03/2007
Công báo số 105 +106, năm 2007
26/02/2007
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thi Văn Tám
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ______________________________________ 1. Bãi bỏ nội dung quy định tại gạch đầu dòng thứ nhất của điểm b, mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và thay thế bằng nội dung sau: "Đối với người được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, thì cấp chứng nhận tạm trú theo thời hạn quy định tại điều ước quốc tế đó. Nếu điều ước quốc tế về miễn thị thực không quy định cụ thể thời hạn tạm trú, thì cấp chứng nhận tạm trú 30 ngày. Trường hợp thời hạn mà nước hữu quan cho phép công dân Việt Nam tạm trú miễn thị thực khác với thời gian nói trên, thì Bộ Ngoại giao xem xét việc áp dụng có đi có lại và thông báo cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan khác biết để thống nhất thực hiện". 2. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 3. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện Thông tư này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=14594&Keyword=
2025-09-24T02:36:42.679919
../data\bocongan\012007TTLTBCA-BNG\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA - BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ______________________________________ 1. Bãi bỏ nội dung quy định tại gạch đầu dòng thứ nhất của điểm b, mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA - BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và thay thế bằng nội dung sau: "Đối với người được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, thì cấp chứng nhận tạm trú theo thời hạn quy định tại điều ước quốc tế đó. Nếu điều ước quốc tế về miễn thị thực không quy định cụ thể thời hạn tạm trú, thì cấp chứng nhận tạm trú 30 ngày. Trường hợp thời hạn mà nước hữu quan cho phép công dân Việt Nam tạm trú miễn thị thực khác với thời gian nói trên, thì Bộ Ngoại giao xem xét việc áp dụng có đi có lại và thông báo cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan khác biết để thống nhất thực hiện". 2. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 3. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện Thông tư này. /.
Hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm
01/2007/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC
12/01/2007
Thông tư liên tịch
07/02/2007
Công báo số 53 + 54, năm 2007
23/01/2007
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thứ trưởng
Lê Bạch Hồng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm ___________________________ Căn cứ Bộ Luật Tố tụng hình sự, Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động và Nghị định số 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm như sau: I . PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG Thông tư này hướng dẫn sự phối hợp giữa Đoàn điều tra tai nạn lao động (trừ Đoàn điều tra các vụ tai nạn lao động xảy ra trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) với Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm. II. NỘI DUNG PHỐI HỢP GIẢI QUYẾT CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI, TAI NẠN LAO ĐỘNG KHÁC CÓ DẤU HIỆU TỘI PHẠM. 1. Trách nhiệm phối hợp chung 1.1. Khi phát hiện hoặc nhận được tin báo có tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm, Đoàn điều tra tai nạn lao động và Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền phải đến ngay hiện trường để phối hợp giải quyết vụ tai nạn lao động; đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. 1.2. Trường hợp hoặc Đoàn điều tra tai nạn lao động Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đến nơi xảy ra tai nạn lao động, thì cơ quan đến trước có trách nhiệm thông báo cho cơ quan chưa đến (Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo cho Đoàn điều tra tai nạn lao động thông qua Thanh tra lao động cấp tỉnh). Sau khi thông báo, nếu Đoàn điều tra tai nạn lao động chưa đến kịp, Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thông báo cho Đoàn điều tra tai nạn lao động những công việc thuộc phạm vi quan hệ phối hợp theo hướng dẫn tại Thông tư này mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành. 1.3. Khi Đoàn điều tra tai nạn lao động và Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành giao nhận tài liệu, đồ vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn lao động quy định tại các mục 2.2; 3.1; 3.2 của Thông tư này phải lập biên bản theo mẫu biên bản ban hành kèm theo Thông tư này. 2. Trách nhiệm của Đoàn điều tra tai nạn lao động 2.1. Phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật. Theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đoàn điều tra tai nạn lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu chuyên môn về an toàn lao động, vệ sinh lao động và các thông tin, tài liệu liên quan khác phục vụ việc điều tra, giải quyết  vụ tai nạn lao động. 2.2. Trong quá trình giải quyết vụ tai nạn lao động theo thẩm quyền, nếu phát hiện tình tiết mới có dấu hiệu tội phạm, Đoàn điều tra tai nạn lao động gửi văn bản kiến nghị kèm theo bản chính các tài liệu, chuyển giao đồ vật, phương tiện liên quan (nếu có) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để xem xét, khởi tố án hình sự theo quy định của pháp luật; đồng thời gửi bản kiến nghị khởi tố đó cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 3. Trách nhiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra 3.1. Trường hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án, thì theo yêu cầu của Đoàn điều tra tai nạn lao động, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đồng ý với quyết định đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm cung cấp và chuyển giao cho Đoàn điều tra tai nạn lao động bản sao các tài liệu, đồ vật, phương tiện sau: a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; b) Biên bản khám nghiệm hiện trường; c) Sơ đồ hiện trường; d) Ảnh hiện trường, ảnh nạn nhân (nếu có); đ) Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; biên bản khám nghiệm tử thi (nếu có); e) Biên bản lấy lời khai của nạn nhân (nếu có), của người làm chứng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ tai nạn lao động; g) Kết quả trưng cầu giám định (nếu có); h) Đồ vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn lao động (nếu có) thuộc diện được phép chuyển giao theo quy định của pháp luật, kèm theo biên bản thu giữ, tạm giữ. 3.2. Trường hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì theo đề nghị của Đoàn điều tra tai nạn lao động, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm gửi bản sao quyết định khởi tố vụ án hình sự đó cho Đoàn điều tra tai nạn lao động; đồng thời khi kết thúc điều tra phải gửi bản sao Bản kết luận điều tra cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. Trong trường hợp đình chỉ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm gửi bản sao các tài liệu và chuyển giao đồ vật, phương tiện liên quan quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h mục 3.1 của Thông tư này cùng bản sao quyết định đình chỉ điều tra, bản sao Bản kết luận điều tra cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. 3.3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu liên quan của Đoàn điều tra tai nạn lao động, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết kiến nghị khởi tố cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. Trường hợp vụ tai nạn lao động có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn trả lời có thể kéo dài hơn, nhưng không quá hai tháng. 4. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân. 4.1. Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết kiến nghị khởi tố của Đoàn điều tra tai nạn lao động; kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và kiểm sát các hoạt động điều tra khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong quá trình giải quyết vụ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật 4.2. Ðịnh kỳ hàng năm, theo đề nghị của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp tình hình khởi tố và truy tố các vụ án hình sự liên quan đến tai nạn lao động trong phạm vi cả nước cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. III. HIỆU LỰC THI HÀNH 1. Thông tư này có hiệu lực 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và thay thế Thông tư số 08/TT-LB ngày 07/04/1982 của Liên Bộ Lao động, Nội vụ (nay là Công an và VIện Kiểm sát Nhân dân tối cao hướng dẫn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan Lao động – Nội vụ (nay là Công an) – Viện kiểm sát nhân dân trong việc điều tra, xử lý các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nghiên cứu giải quyết.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=14224&Keyword=
2025-09-24T02:36:44.149518
../data\bocongan\012007TTLTBLĐTBXH-BCA-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm ___________________________ Căn cứ Bộ Luật Tố tụng hình sự, Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động và Nghị định số 110/2002/NĐ - CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm như sau: I. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG Thông tư này hướng dẫn sự phối hợp giữa Đoàn điều tra tai nạn lao động (trừ Đoàn điều tra các vụ tai nạn lao động xảy ra trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) với Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm. II. NỘI DUNG PHỐI HỢP GIẢI QUYẾT CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI, TAI NẠN LAO ĐỘNG KHÁC CÓ DẤU HIỆU TỘI PHẠM. 1. Trách nhiệm phối hợp chung 1. 1. Khi phát hiện hoặc nhận được tin báo có tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm, Đoàn điều tra tai nạn lao động và Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền phải đến ngay hiện trường để phối hợp giải quyết vụ tai nạn lao động; đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. 1. 2. Trường hợp hoặc Đoàn điều tra tai nạn lao động Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đến nơi xảy ra tai nạn lao động, thì cơ quan đến trước có trách nhiệm thông báo cho cơ quan chưa đến (Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo cho Đoàn điều tra tai nạn lao động thông qua Thanh tra lao động cấp tỉnh). Sau khi thông báo, nếu Đoàn điều tra tai nạn lao động chưa đến kịp, Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thông báo cho Đoàn điều tra tai nạn lao động những công việc thuộc phạm vi quan hệ phối hợp theo hướng dẫn tại Thông tư này mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành. 1. 3. Khi Đoàn điều tra tai nạn lao động và Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành giao nhận tài liệu, đồ vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn lao động quy định tại các mục 2. 2; 3. 1; 3. 2 của Thông tư này phải lập biên bản theo mẫu biên bản ban hành kèm theo Thông tư này. 2. Trách nhiệm của Đoàn điều tra tai nạn lao động 2. 1. Phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật. Theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đoàn điều tra tai nạn lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu chuyên môn về an toàn lao động, vệ sinh lao động và các thông tin, tài liệu liên quan khác phục vụ việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn lao động. 2. 2. Trong quá trình giải quyết vụ tai nạn lao động theo thẩm quyền, nếu phát hiện tình tiết mới có dấu hiệu tội phạm, Đoàn điều tra tai nạn lao động gửi văn bản kiến nghị kèm theo bản chính các tài liệu, chuyển giao đồ vật, phương tiện liên quan (nếu có) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để xem xét, khởi tố án hình sự theo quy định của pháp luật; đồng thời gửi bản kiến nghị khởi tố đó cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 3. Trách nhiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra 3. 1. Trường hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án, thì theo yêu cầu của Đoàn điều tra tai nạn lao động, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đồng ý với quyết định đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm cung cấp và chuyển giao cho Đoàn điều tra tai nạn lao động bản sao các tài liệu, đồ vật, phương tiện sau: a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; b) Biên bản khám nghiệm hiện trường; c) Sơ đồ hiện trường; d) Ảnh hiện trường, ảnh nạn nhân (nếu có); đ) Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; biên bản khám nghiệm tử thi (nếu có); e) Biên bản lấy lời khai của nạn nhân (nếu có), của người làm chứng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ tai nạn lao động; g) Kết quả trưng cầu giám định (nếu có); h) Đồ vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn lao động (nếu có) thuộc diện được phép chuyển giao theo quy định của pháp luật, kèm theo biên bản thu giữ, tạm giữ. 3. 2. Trường hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì theo đề nghị của Đoàn điều tra tai nạn lao động, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm gửi bản sao quyết định khởi tố vụ án hình sự đó cho Đoàn điều tra tai nạn lao động; đồng thời khi kết thúc điều tra phải gửi bản sao Bản kết luận điều tra cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. Trong trường hợp đình chỉ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm gửi bản sao các tài liệu và chuyển giao đồ vật, phương tiện liên quan quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h mục 3. 1 của Thông tư này cùng bản sao quyết định đình chỉ điều tra, bản sao Bản kết luận điều tra cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. 3. 3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu liên quan của Đoàn điều tra tai nạn lao động, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết kiến nghị khởi tố cho Đoàn điều tra tai nạn lao động. Trường hợp vụ tai nạn lao động có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn trả lời có thể kéo dài hơn, nhưng không quá hai tháng. 4. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân. 4. 1. Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết kiến nghị khởi tố của Đoàn điều tra tai nạn lao động; kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và kiểm sát các hoạt động điều tra khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong quá trình giải quyết vụ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật 4. 2. Ðịnh kỳ hàng năm, theo đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp tình hình khởi tố và truy tố các vụ án hình sự liên quan đến tai nạn lao động trong phạm vi cả nước cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. III. HIỆU LỰC THI HÀNH 1. Thông tư này có hiệu lực 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và thay thế Thông tư số 08/TT - LB ngày 07/04/1982 của Liên Bộ Lao động, Nội vụ (nay là Công an và VIện Kiểm sát Nhân dân tối cao hướng dẫn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan Lao động – Nội vụ (nay là Công an) – Viện kiểm sát nhân dân trong việc điều tra, xử lý các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nghiên cứu giải quyết.
Hướng dẫn cấp và quản lý phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc khu kinh tế - thương mại đặc biệt lao bảo tỉnh Quảng Trị vào nội địa Việt Nam
01/2008/TT-BCA-C11
22/02/2008
Thông tư
21/03/2008
Công báo số 163+164, năm 2008
06/03/2008
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn cấp và quản lý phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc khu kinh tế - thương mại đặc biệt tỉnh Quảng Trị vào nội địa Việt Nam __________________ Căn cứ Điều 48, 49 Luật Giao thông đường bộ ngày 29/6/2001; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg ngày 12/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị; Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 4434/VPCP-KTTH ngày 09/3/2007 của Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an hướng dẫn việc cấp Phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị vào hoạt động trong nội địa Việt Nam như sau: 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc cấp Phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị (sau đây gọi tắt là xe 74LB) vào nội địa Việt Nam trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày, kể từ ngày được cơ quan Hải quan Quảng Trị làm thủ tục tạm nhập, tái xuất. 2. Cơ quan cấp Phù hiệu kiểm soát Công an tỉnh Quảng trị có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan đăng ký xe 74LB tổ chức cấp và trực tiếp dán Phù hiệu kiểm soát theo quy định tại Thông tư này ( theo mẫu số 01). Không thu lệ phí cấp Phù hiệu kiểm soát. 3. Quy định về việc cấp và dán Phù hiệu kiểm soát 3.1. Tổ chức, cá nhân khi đến làm thủ tục xin cấp Phù hiệu kiểm soát phải có các giấy tờ sau: - Đăng ký xe 74LB của xe xin vào hoạt động trong nội địa; - Tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo mẫu quy định của Bộ Tài chính do cơ quan Hải quan Quảng Trị cấp; - Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay Chứng minh nhân dân; 3.2. Cơ quan cấp Phù hiệu kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu với danh sách xe 74LB đang quản lý, ghi vào Sổ theo dõi (theo mẫu số 02) và cấp Phù hiệu kiểm soát cho xe ngay trong ngày. 3.3. Phù hiệu kiểm soát phải được dán ở phía trong góc trên, bên phải kính trước của xe. 4. Quản lý hồ sơ cấp Phù hiệu kiểm soát Giấy cấp Phù hiệu kiểm soát xe 74LB (mẫu số 01) và Sổ theo dõi xe ô tô 74LB vào nội địa Việt Nam hoạt động (mẫu số 02) phải đánh số thứ tự từ 1 đến hết, đóng thành quyển và quản lý theo quy định về chế độ hồ sơ của Bộ Công an. 5. Kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm 5.1. Người điều khiển xe 74LB được cấp Phù hiệu kiểm soát lưu hành trong nội địa Việt Nam, khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ; khi Cảnh sát giao thông đường bộ hoặc cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, kiểm soát, thì người điều khiển phương tiện đó ngoài việc xuất trình các giấy tờ theo quy định hiện hành còn phải xuất trình Tờ khai tạm nhập, tái xuất phương tiện vận tải do cơ quan Hải quan có thẩm quyền cấp. 5.2. Mọi trường hợp xe 74LB tham gia giao thông trong nội địa Việt Nam mà không có Phù hiệu kiểm soát hoặc Phù hiệu kiểm soát hết thời hạn hoặc có hành vi làm giả Phù hiệu này hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật khác đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. 6. Tổ chức thực hiện Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Xe ô tô mang biển số 74LB không phải cấp đăng ký tạm thời theo quy định tại điểm 1.7 mục D phần II Thông tư 01/2007/TT-BCA(C11 ) ngày 02/01/2007 của Bộ Công an. Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn hoặc nảy sinh vướng mắc cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=24456&Keyword=
2025-09-24T02:31:29.714096
../data\bocongan\012008TT-BCA-C11\document.json
01/07/2009
THÔNG TƯ Hướng dẫn cấp và quản lý phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc khu kinh tế - thương mại đặc biệt tỉnh Quảng Trị vào nội địa Việt Nam __________________ Căn cứ Điều 48, 49 Luật Giao thông đường bộ ngày 29/6/2001; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ - CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 11/2005/QĐ - TTg ngày 12/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị; Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 4434/VPCP - KTTH ngày 09/3/2007 của Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an hướng dẫn việc cấp Phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị vào hoạt động trong nội địa Việt Nam như sau: 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc cấp Phù hiệu kiểm soát hoạt động của xe ô tô mang biển số 74LB thuộc Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị (sau đây gọi tắt là xe 74LB) vào nội địa Việt Nam trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày, kể từ ngày được cơ quan Hải quan Quảng Trị làm thủ tục tạm nhập, tái xuất. 2. Cơ quan cấp Phù hiệu kiểm soát Công an tỉnh Quảng trị có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan đăng ký xe 74LB tổ chức cấp và trực tiếp dán Phù hiệu kiểm soát theo quy định tại Thông tư này ( theo mẫu số 01). Không thu lệ phí cấp Phù hiệu kiểm soát. 3. Quy định về việc cấp và dán Phù hiệu kiểm soát 3. 1. Tổ chức, cá nhân khi đến làm thủ tục xin cấp Phù hiệu kiểm soát phải có các giấy tờ sau: - Đăng ký xe 74LB của xe xin vào hoạt động trong nội địa; - Tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo mẫu quy định của Bộ Tài chính do cơ quan Hải quan Quảng Trị cấp; - Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay Chứng minh nhân dân; 3. 2. Cơ quan cấp Phù hiệu kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu với danh sách xe 74LB đang quản lý, ghi vào Sổ theo dõi (theo mẫu số 02) và cấp Phù hiệu kiểm soát cho xe ngay trong ngày. 3. 3. Phù hiệu kiểm soát phải được dán ở phía trong góc trên, bên phải kính trước của xe. 4. Quản lý hồ sơ cấp Phù hiệu kiểm soát Giấy cấp Phù hiệu kiểm soát xe 74LB (mẫu số 01) và Sổ theo dõi xe ô tô 74LB vào nội địa Việt Nam hoạt động (mẫu số 02) phải đánh số thứ tự từ 1 đến hết, đóng thành quyển và quản lý theo quy định về chế độ hồ sơ của Bộ Công an. 5. Kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm 5. 1. Người điều khiển xe 74LB được cấp Phù hiệu kiểm soát lưu hành trong nội địa Việt Nam, khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ; khi Cảnh sát giao thông đường bộ hoặc cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, kiểm soát, thì người điều khiển phương tiện đó ngoài việc xuất trình các giấy tờ theo quy định hiện hành còn phải xuất trình Tờ khai tạm nhập, tái xuất phương tiện vận tải do cơ quan Hải quan có thẩm quyền cấp. 5. 2. Mọi trường hợp xe 74LB tham gia giao thông trong nội địa Việt Nam mà không có Phù hiệu kiểm soát hoặc Phù hiệu kiểm soát hết thời hạn hoặc có hành vi làm giả Phù hiệu này hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật khác đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. 6. Tổ chức thực hiện Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Xe ô tô mang biển số 74LB không phải cấp đăng ký tạm thời theo quy định tại điểm 1. 7 mục D phần II Thông tư 01/2007/TT - BCA(C11 ) ngày 02/01/2007 của Bộ Công an. Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - Đường sắt, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn hoặc nảy sinh vướng mắc cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
29/02/2008
Thông tư liên tịch
02/04/2008
Công báo số 179+180, năm 2008
18/03/2008
Toà án nhân dân tối cao
Phó Chánh án
Đặng Quang Phương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm Quyền sở hữu trí tuệ _________________ Để việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được đúng và thống nhất, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan 1.1. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 1 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng. 1.2. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại và đã thu được lợi nhuận từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 150.000.000 đồng đến dưới 450.000.000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 1.3. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại và đã thu được lợi nhuận từ 100.000.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 450.000.000 đồng trở lên (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên. 1.4. Trường hợp người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ mà không có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 131 của Bộ luật Hình sự, nhưng có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điều luật khác của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng quy định tại điều luật đó của Bộ luật Hình sự. 2. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 2.1. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng. 2.2. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 50.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 150.000.000 đồng đến dưới 450.000.000 đồng; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2.3. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 150.000.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 450.000.000 đồng trở lên; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên. 3. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi: a) Có yêu cầu của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan đối với trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 Thông tư này (khoản 1 Điều 131 của BLHS); b) Có yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý đối với trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 mục 2 Thông tư này (khoản 1 Điều 171 của BLHS). 4. Việc xử lý vật chứng 4.1. Khi xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự trong các vụ án về các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải căn cứ vào khoản 5 Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ và hướng dẫn tại Chương IV Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. 4.2. Trong trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định là vật chứng đó phải bị tiêu hủy thì cơ quan tiến hành tố tụng phải quyết định tiêu hủy theo các quy định đó, cho dù vật chứng đó có thể có giá trị sử dụng. 5. Hiệu lực thi hành 5.1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 5.2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=11640&Keyword=
2025-09-24T02:36:21.413344
../data\bocongan\012008TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm Quyền sở hữu trí tuệ _________________ Để việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được đúng và thống nhất, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan 1. 1. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 1 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 50. 000. 000 đồng đến dưới 150. 000. 000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50. 000. 000 đồng đến dưới 150. 000. 000 đồng. 1. 2. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại và đã thu được lợi nhuận từ 30. 000. 000 đồng đến dưới 100. 000. 000 đồng; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 150. 000. 000 đồng đến dưới 450. 000. 000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 150. 000. 000 đồng đến dưới 500. 000. 000 đồng. 1. 3. Người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền tác giả" theo khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Hình sự: a) Với quy mô và mục đích thương mại và đã thu được lợi nhuận từ 100. 000. 000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 450. 000. 000 đồng trở lên (bao gồm thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra); c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 500. 000. 000 đồng trở lên. 1. 4. Trường hợp người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ mà không có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 131 của Bộ luật Hình sự, nhưng có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điều luật khác của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng quy định tại điều luật đó của Bộ luật Hình sự. 2. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 2. 1. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 10. 000. 000 đồng đến dưới 50. 000. 000 đồng; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 50. 000. 000 đồng đến dưới 150. 000. 000 đồng; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50. 000. 000 đồng đến dưới 150. 000. 000 đồng. 2. 2. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 50. 000. 000 đồng đến dưới 150. 000. 000 đồng; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 150. 000. 000 đồng đến dưới 450. 000. 000 đồng; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 150. 000. 000 đồng đến dưới 500. 000. 000 đồng. 2. 3. Người nào vì mục đích kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự: a) Đã thu được lợi nhuận từ 150. 000. 000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 450. 000. 000 đồng trở lên; c) Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 500. 000. 000 đồng trở lên. 3. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi: a) Có yêu cầu của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan đối với trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 1. 1 mục 1 Thông tư này (khoản 1 Điều 131 của BLHS); b) Có yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý đối với trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 2. 1 mục 2 Thông tư này (khoản 1 Điều 171 của BLHS). 4. Việc xử lý vật chứng 4. 1. Khi xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự trong các vụ án về các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải căn cứ vào khoản 5 Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ và hướng dẫn tại Chương IV Nghị định số 105/2006/NĐ - CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. 4. 2. Trong trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định là vật chứng đó phải bị tiêu hủy thì cơ quan tiến hành tố tụng phải quyết định tiêu hủy theo các quy định đó, cho dù vật chứng đó có thể có giá trị sử dụng. 5. Hiệu lực thi hành 5. 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 5. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức công an nhân dân
01/2008/TTLT/BCA-BLĐTBXH-BTC-BNV
15/01/2008
Thông tư liên tịch
18/03/2008
Công báo số 161 & 162, năm 2008;
03/03/2008
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Khánh Toàn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức công an nhân dân _____________________________________________ Căn cứ Nghị định số 43/2007/NĐ-CP ngày 26/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 43/2007/NĐ-CP); Căn cứ Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2007/NĐ-CP); Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân như sau: I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG 1. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu. 2. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển ngành. 3. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân thôi phục vụ trong Công an nhân dân mà không đủ điều kiện nghỉ hưu hoặc không chuyển ngành. 4. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân. II. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN NGHỈ HƯU 1. Điều kiện nghỉ hưu Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc được thực hiện chế độ hưu trí hàng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau: 1.1. Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên. 1.2. Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên. 1.3. Nam có đủ 25 năm, nữ có đủ 20 năm trở lên công tác trong Công an nhân dân và đã đóng đủ bảo hiểm xã hội theo quy định, trong đó có ít nhất 5 năm được tính thâm niên nghề, nếu sức khỏe yếu, năng lực hạn chế, do yêu cầu công tác hoặc tự nguyện xin nghỉ (không phụ thuộc vào tuổi đời). Thời gian công tác trong Công an nhân dân bao gồm thời gian là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức Công an nhân dân, học viên học tại các trường Công an nhân dân hoặc gửi học ở các trường ngoài Công an nhân dân do Công an nhân dân trả lương hoặc sinh hoạt phí. Thời gian công tác trong Công an nhân dân được tính theo năm dương lịch (không quy đổi theo hệ số), nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng trợ cấp một lần (bao gồm trợ cấp xuất ngũ, thôi việc) thì được cộng dồn. 1.4. Bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thi hành nhiệm vụ và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời). 1.5. Đủ hạn tuổi phục vụ cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 43/2007/NĐ-CP và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. 1.6. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng lương hưu hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn khi thuộc một trong các trường hợp: a) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. b) Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời). 2. Cách tính lương hưu hàng tháng 2.1. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại các điểm 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5 khoản 1 Mục này; cách tính lương hưu hàng tháng thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, cụ thể như sau: Đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ. Mức lương hưu hàng tháng tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Ví dụ 1: Đồng chí Nguyễn Thị K (nữ), là công nhân công an từ tháng 6/1983, được chuyển sang sĩ quan CMKT tháng 7/2001, cấp bậc hàm Thượng úy. Do yêu cầu công tác, đơn vị bố trí để đồng chí K nghỉ việc từ tháng 7/2007. Đồng chí K có 24 năm 02 tháng công tác trong Công an nhân dân (24 năm 02 tháng đóng bảo hiểm xã hội) nên đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng. Tỷ lệ lương hưu hàng tháng của đồng chí K được tính như sau: - 15 năm đầu được tính bằng 45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 24: 9 năm x 3% năm = 27%. Tổng cộng bằng 72%. 2.2. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn quy định tại điểm 1.6 khoản 1 Mục này; cách tính lương hưu hàng tháng thực hiện như hướng dẫn tại điểm 2.1 khoản này nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc hưởng lương hưu trước 55 tuổi đối với nam, trước 50 tuổi đối với nữ (nếu thuộc tiết a điểm 1.6 khoản 1 Mục này) hoặc trước 50 tuổi đối với nam, 45 tuổi đối với nữ (nếu thuộc tiết b điểm 1.6 khoản 1 Mục này) thì tỷ lệ lương hưu giảm đi 1%. Mức lương hưu hàng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung. Ví dụ 2: Đồng chí Lê Văn X, Đại úy, sinh tháng 03/1963, có 22 năm 8 tháng đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có 16 năm làm trinh sát hình sự (được xếp lao động loại V theo Quyết định số 44/LĐTBXH-QĐ ngày 29/01/1997 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), suy giảm khả năng lao động 63%, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí với mức lương hưu thấp hơn từ tháng 7/2007. Tỷ lệ % hưởng lương hưu hàng tháng của đồng chí X được tính như sau: - Tỷ lệ % lương hưu hàng tháng tính theo hướng dẫn tại điểm 2.1 khoản này; 22 năm 8 tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 61%. - Tỷ lệ % phải giảm do nghỉ hưu trước 50 tuổi (đồng chí X sinh tháng 3/1963, vào thời điểm nghỉ việc hưởng lương hưu, đồng chí X bước sang tuổi 45): (50 tuổi - 45 tuổi) x 01% = 5% Tỷ lệ % lương hưu hàng tháng của đồng chí X là: 61% - 5% = 56%. 2.3. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu của sĩ quan Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP. III. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN CHUYỂN NGÀNH 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển ngành sang làm việc trong biên chế tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước) và công ty nhà nước (công ty nhà nước là những công ty thuộc phạm vi áp dụng hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ) được thực hiện các chế độ sau: 1.1. Về miễn thi tuyển và ưu tiên trong thi tuyển a) Được miễn thi tuyển gồm các trường hợp: - Nguyên là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được chuyển về cơ quan, đơn vị, công ty nhà nước đã công tác trước khi được tuyển vào Công an nhân dân; - Chuyển ngành theo yêu cầu của cơ quan, đơn vị nhà nước có thẩm quyền, được sắp xếp làm việc phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ. b) Nếu tham dự thi tuyển công chức thì được ưu tiên cộng thêm 10 điểm vào tổng kết quả thi tuyển. 1.2. Việc xếp lương, bảo lưu lương và hưởng lương của Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyển ngành vào làm việc trong biên chế tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công ty nhà nước thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể như sau: a) Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên ngành vào làm việc tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, thực hiện xếp lương, bảo lưu lương và hưởng lương theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BCA-BNV-BTC ngày 10/10/2006 của Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 289/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tiền lương và phụ cấp đối với sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương thuộc Công an nhân dân chuyển ngành; b) Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyển ngành vào làm việc trong công ty nhà nước được xếp lương theo công việc mới kể từ ngày có quyết định chuyển ngành theo nguyên tắc: làm công việc gì xếp lương theo công việc đó, giữ chức vụ gì xếp lương theo chức vụ đó. Cơ sở để xếp lương căn cứ vào công việc được giao; chức danh, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân; chức danh tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, hạng công ty được xếp hạng và thang lương, bảng lương công ty được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004, Nghị định số 141/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ, cụ thể: - Nếu được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý (Chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng) thì thực hiện chuyển xếp lương như đối với viên chức quản lý mới được bổ nhiệm trong công ty nhà nước theo quy định tại điểm d khoản 2 Mục III Thông tư liên tịch số 23/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/8/2005 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và quy định tại điểm b khoản 1.2.1 Mục II Thông tư số 19/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. - Nếu làm công nhân, nhân viên trực tiếp hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, nhân viên thừa hành, phục vụ thì thực hiện chuyển xếp lương như đối với người lao động ở khu vực khác chuyển đến làm việc ở công ty nhà nước quy định tại điểm b khoản 1.1 Mục II Thông tư số 19/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. c) Trường hợp hệ số lương mới được xếp thấp hơn hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của sỹ quan, hạ sỹ quan hưởng trước khi chuyển ngành thì được bảo lưu hệ số chênh lệch giữa hệ số lương cũ với hệ số lương mới trong thời gian tối thiểu 18 tháng, kể từ ngày có quyết định chuyển ngành. Trong thời gian hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu, nếu được nâng bậc lương thì hệ số chênh lệch bảo lưu được giảm tương ứng; nếu hệ số lương được nâng bằng hoặc cao hơn hệ số lương trước khi chuyển ngành thì thôi hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu kể từ khi được nâng bậc lương. 1.3. Trường hợp được điều động trở lại phục vụ trong Công an nhân dân thì thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước ngoài Công an nhân dân được tính vào thời gian công tác liên tục để xét thăng cấp bậc hàm hoặc nâng lương. Ví dụ 3: Đồng chí Phạm Văn C, Trung tá, Phó trưởng Công an huyện, vào Công an nhân dân tháng 5/1980. Tháng 6/2002, đồng chí C có quyết định chuyển ngành sang UBND huyện. Tháng 7/2007, đồng chí C được điều động trở lại công tác trong Công an nhân dân giữ chức vụ Trưởng phòng Công an tỉnh T. Như vậy: Thời gian công tác tại UBND huyện (từ tháng 6/2002 đến tháng 6/2007) của đồng chí C được tính vào thời gian công tác liên tục, nếu đồng chí C đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định thì được xét thăng cấp bậc hàm Thượng tá. 1.4. Cách tính lương hưu hàng tháng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển ngành thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 34 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, cụ thể như sau: a) Được lấy mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ hưu, cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên nghề (nếu đã được hưởng) tính theo thời gian công tác trong Công an nhân dân của mức lương sĩ quan, hạ sỹ quan tại thời điểm chuyển ngành. Khi tính mức bình quân tiền lương này, được điều chỉnh theo chế độ tiền lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ và quy định về mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng lương hưu hoặc nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Ví dụ 4: Đồng chí Nguyễn Văn T, sinh tháng 9/1947, Đại úy, có 14 năm 10 tháng được tính thâm niên nghề, chuyển ngành được bố trí làm kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí từ tháng 01/10/2007; có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 38 năm. Đồng chí T có diễn biến tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối như sau: - Từ tháng 10/2002 đến tháng 9/2005 = 36 tháng hệ số lương cũ 5,18 chuyển đổi sang hệ số lương mới là 6,44: 450.000 đồng/tháng x 6,44 x 36 tháng = 104.328.000 đồng - Từ tháng 10/2005 đến tháng 9/2007 = 24 tháng hệ số lương mới 6,78: 450.000 đồng/tháng x 6,78 x 24 tháng = 73.224.000 đồng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu: 104.328.000 đồng + 73.224.000 đồng = 2.959.200 đồng/tháng 60 tháng - Phụ cấp thâm niên nghề của đồng chí T tại thời điểm chuyển ngành được cộng vào mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính lương hưu như sau: Đại úy có hệ số lương (theo chế độ tiền lương tại thời điểm tháng 10/2007) bằng 5,40: 450.000 đồng/tháng x 5,40 x 14% = 340.200 đồng/tháng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính lương hưu của đồng chí T là: 2.959.200 đồng/tháng + 340.200 đồng/tháng = 3.299.400 đồng/tháng - Lương hưu hằng tháng của đồng chí T là: 3.299.400 đồng/tháng x 75% = 2.474.550 đồng/tháng. b) Trường hợp mức lương hưu tính theo tiết a điểm này thấp hơn mức lương hưu tính theo mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sĩ quan, hạ sĩ quan tại thời điểm chuyển ngành, thì được lấy tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ và quy định về mức lương tối thiểu chung tại thời điểm nghỉ hưu để làm cơ sở tính lương hưu. Ví dụ 5: Đồng chí Lê Văn A, sinh tháng 4/1948, nguyên Thiếu tá, có 20 năm 7 tháng được tính thâm niên nghề, chuyển ngành tháng 8/1995 được bố trí làm Thẩm phán Tòa án huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tháng 4/2008 nghỉ hưởng chế độ hưu trí. Đồng chí A có mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi chuyển ngành và trước khi nghỉ hưu như sau: - Trước khi chuyển ngành: + Từ tháng 9/1990 đến tháng 7/1994 = 47 tháng, Đại úy, hệ số lương cũ 4,15 chuyển đổi hệ số lương mới 5,40; thâm niên nghề 19%: 450.000 đồng/tháng x 5,40 x 1,19 x 47 tháng = 135.909.900 đồng + Từ tháng 8/1994 đến tháng 8/1995 = 13 tháng, Thiếu tá, hệ số lương cũ 4,80, chuyển đổi hệ số lương mới 6,0; thâm niên nghề 20%: 450.000 đồng/tháng x 6,00 x 1,20 x 13 tháng = 42.120.000 đồng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ngành: 135.909.900 đ/tháng + 42.120.000 đ/tháng = 2.967.165 đồng/tháng 60 tháng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu: + Mức bình quân lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu của đồng chí A là: 1.933.909 đồng/tháng. + Phụ cấp thâm niên nghề trước khi chuyển ngành, chuyển đổi theo chế độ tiền lương mới là: 450.000 đồng/tháng x 6,0 x 20% = 540.000 đồng/tháng. Tổng cộng: 1.933.909 đồng/tháng + 540.000 đồng/tháng = 2.473.909 đồng/tháng. Như vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính lương hưu của đồng chí A tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành. Do đó, đồng chí A được lấy mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành (2.967.165 đồng/tháng) làm cơ sở tính lương hưu. 2. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị khác không hưởng lương từ ngân sách nhà nước (ngoài quy định tại khoản 1 Mục này), được hưởng các chế độ sau: 2.1. Được hưởng trợ cấp xuất ngũ một lần từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 43/2007/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 2 Mục IV Thông tư này. 2.2. Được trợ cấp một lần từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP . Nếu tự nguyện không nhận trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ngành, được cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ Bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ra ngoài Công an nhân dân và được thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc và quy định khác của pháp luật hiện hành. IV. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN THÔI PHỤC VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN MÀ KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN NGHỈ HƯU HOẶC KHÔNG CHUYỂN NGÀNH 1. Trợ cấp tạo việc làm, học nghề 1.1. Trợ cấp tạo việc làm bằng 06 tháng mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ tại thời điểm xuất ngũ. 1.2. Nếu có nguyện vọng học nghề hoặc tìm việc làm thì đơn vị hoặc Công an cấp huyện và tương đương (nơi sĩ quan, hạ sĩ quan cư trú) có trách nhiệm giới thiệu đến các trung tâm dịch vụ việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác để được học nghề hoặc giới thiệu việc làm. Các trung tâm dịch vụ việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác có trách nhiệm ưu tiên tiếp nhận sĩ quan, hạ sĩ quan xuất ngũ vào học nghề hoặc giới thiệu việc làm. 1.3. Nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện quy định được ưu tiên đăng ký xét tuyển đi lao động ở nước ngoài theo thỏa thuận của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 2. Trợ cấp xuất ngũ một lần Trợ cấp xuất ngũ một lần được tính bằng cách lấy số năm công tác thực tế tính theo năm dương lịch (không quy đổi) nhân với 01 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) hiện hưởng. 2.1. Thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp xuất ngũ một lần là tổng thời gian công tác trong Công an nhân dân (bao gồm thời gian là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, học viên, công nhân, viên chức Công an nhân dân) chưa được giải quyết chế độ xuất ngũ cộng với thời gian công tác trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể ở Trung ương, địa phương và thời gian làm hợp đồng có đóng bảo hiểm xã hội mà chưa được giải quyết chế độ thôi việc. Thời gian để tính hưởng trợ cấp xuất ngũ nếu có tháng lẻ thì tính như sau: - Dưới 03 tháng không được tính để hưởng trợ cấp; - Từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng được tính bằng 1/2 năm công tác; - Từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính bằng 1 năm công tác. 2.2. Tiền lương để tính trợ cấp xuất ngũ một lần gồm: Lương cấp bậc hàm hoặc lương ngạch, bậc và các khoản phụ cấp: chức vụ, thâm niên nghề, thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) đang hưởng tại thời điểm xuất ngũ. Ví dụ 6: Đồng chí Nguyễn Văn M, công tác tại UBND huyện T từ tháng 5/1990 đến tháng 6/1995, vào Công an nhân dân tháng 7/1995, xuất ngũ ngày 01/8/2007 với cấp bậc hàm Đại úy (HSL: 5,4). Trợ cấp xuất ngũ một lần của đồng chí M được tính như sau: - Thời gian công tác thực tế của đồng chí M (từ tháng 5/1990 đến tháng 7/2007) là 17 năm 03 tháng, được tính để hưởng trợ cấp là 17,5 tháng. - Tiền lương của đồng chí M: + Lương Đại úy: 450.000 đồng/tháng x 5,4 = 2.430.000 đồng/tháng + Phụ cấp thâm niên: 2.430.000 đồng x 12% = 291.600 đồng/tháng Cộng = 2.721.600 đồng/tháng - Trợ cấp xuất ngũ một lần: 2.721.600 đồng/tháng x 17,5 tháng = 47.628.000 đồng. 3. Được cấp tiền tàu xe (loại thông thường theo quy định của Bộ Tài chính) từ đơn vị về nơi cư trú. 4. Ngoài các chế độ nói trên, sĩ quan, hạ sĩ quan xuất ngũ còn được hưởng trợ cấp một lần từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP . Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội: Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. 5. Sĩ quan, hạ sĩ quan đã xuất ngũ về địa phương trong thời gian không quá 1 năm (không quá 12 tháng) kể từ ngày quyết định xuất ngũ có hiệu lực, nếu tìm được việc làm mới và có yêu cầu chuyển ngành: a) Trường hợp chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công ty nhà nước theo quy định tại khoản 1 Mục III Thông tư này thì thủ trưởng đơn vị cũ thu hồi quyết định xuất ngũ và ra quyết định chuyển ngành (theo phân cấp quản lý cán bộ hiện hành của Bộ Công an). Khi ra quyết định chuyển ngành phải thu hồi khoản trợ cấp xuất ngũ một lần quy định tại khoản 2 Mục này trả lại ngân sách và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần quy định tại khoản 4 Mục này nộp về cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân để hoàn trả lại quỹ bảo hiểm xã hội và đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ bảo hiểm xã hội; b) Trường hợp chuyển sang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị khác không hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Mục III Thông tư này; nếu có nguyện vọng tính nối thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước khi xuất ngũ thì đơn vị cũ thu hồi khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần quy định tại khoản 4 Mục này nộp về cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân để hoàn trả lại quĩ bảo hiểm xã hội và đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ bảo hiểm xã hội. V. QUY ĐỔI THỜI GIAN ĐỂ TÍNH HƯỞNG TRỢ CẤP MỘT LẦN KHI SĨ QUAN NGHỈ HƯU, CHUYỂN NGÀNH, THÔI PHỤC VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Điều kiện và mức quy đổi thời gian 1.1. Sĩ quan Công an nhân dân có thời gian công tác ở địa bàn hoặc công việc có tính chất đặc thù thì được quy đổi thời gian đó để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân như sau: a) Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp đặc biệt mức 100% hoặc làm công việc đặc thù được xếp loại lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (lao động loại V, VI) theo danh mục nghề, công việc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế thì thời gian đó được quy đổi 1 năm bằng 1 năm 4 tháng; b) Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc làm công việc đặc thù được xếp loại lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (lao động loại IV) theo danh mục nghề, công việc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế thì thời gian đó được quy đổi 1 năm bằng 1 năm 2 tháng. 1.2. Sĩ quan Công an nhân dân có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân thì thời gian phục vụ trong Quân đội được tính quy đổi theo những quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan Quân đội thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan Quân đội chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp hoặc chuyển sang công nhân, viên chức Quốc phòng. 1.3. Trường hợp trong cùng một thời gian công tác, nếu có đủ 02 hoặc 03 điều kiện nêu trên thì chỉ thực hiện điều kiện có mức quy đổi cao nhất. Thời gian công tác quy đổi nếu có đứt quãng thì được cộng dồn để tính thời gian tăng thêm. 2. Cách tính quy đổi thời gian 2.1. Thời gian để tính quy đổi theo các điều kiện nêu ở khoản 1 Mục này là thời gian công tác trong Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân (nếu có) mà chưa quy đổi để hưởng chế độ trợ cấp một lần. 2.2. Thời gian công tác ở địa bàn trước đây chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định mà nay được cơ quan có thẩm quyền quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì thời gian công tác ở địa bàn đó được tính là thời gian công tác được quy đổi. 2.3. Thời gian công tác ở địa bàn trước đây được quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên (đủ điều kiện tính quy đổi) nhưng sau đó, cơ quan có thẩm quyền quy định lại phụ cấp đặc biệt dưới mức 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số dưới 0,7 (không đủ điều kiện tính quy đổi) thì thời gian công tác ở địa bàn từ trước ngày có quy định mới được tính là thời gian công tác được quy đổi. 2.4. Thời gian trước đây làm nghề hoặc công việc mà nay được quy định là nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì thực hiện theo quy định tại điểm 2 Mục II Thông tư số 11/LĐTBXH-TT, ngày 07/4/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để làm căn cứ xác định thời gian công tác được quy đổi. 3. Tính trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi 3.1. Mức trợ cấp: cứ mỗi năm (12 tháng) tăng thêm do quy đổi được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) tại thời điểm sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. Thời gian tăng thêm do quy đổi nếu có tháng lẻ thì thực hiện như hướng dẫn tại điểm 2.1 khoản 2 Mục IV Thông tư này. 3.2. Tiền lương và phụ cấp để tính trợ cấp một lần gồm tiền lương cấp bậc hàm, lương ngạch, bậc và các khoản phụ cấp: chức vụ, thâm niên nghề, thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) tại thời điểm sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. Ví dụ 7: Đồng chí Trần Văn H, Thượng tá, nghỉ hưu tháng 5/2007 thời gian công tác thực tế là 35 năm 01 tháng. Trong đó có 03 năm là bộ đội tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam (từ 5/1972 - 4/1975); từ tháng 5/1975 chuyển ngành sang Công an nhân dân, có 20 năm là trinh sát hình sự (từ 5/1975 - 4/1995). Tính quy đổi thời gian của đồng chí H như sau: - 03 năm chiến đấu ở miền Nam (theo quy định tại Nghị định số 04/2001/NĐ-CP ngày 16/01/2001 của Chính phủ), mỗi năm tăng thêm 6 tháng: 3 x 6 tháng = 18 tháng. - 20 năm là trinh sát hình sự (được xếp lao động loại V theo Quyết định số 44/LĐTBXH-QĐ ngày 29/01/1997 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH), mỗi năm tăng thêm 4 tháng: 20 x 4 tháng = 80 tháng. Tổng thời gian tăng thêm của đồng chí H là: 18 tháng + 80 tháng = 98 tháng = 8 năm 02 tháng Trợ cấp 1 lần của thời gian tăng thêm do quy đổi của đồng chí H khi nghỉ hưu là: + Tiền lương đang hưởng trước khi nghỉ hưu: 450.000 đồng/tháng x 7,3 x 1,35 (TNN) = 4.434.750 đồng/tháng. + Trợ cấp 1 lần: 4.434.750 đồng/tháng x 8 năm = 35.478.000 đồng VI. CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN CHUYỂN SANG CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Về chuyển xếp lương Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân thuộc diện chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân được xếp lương theo công việc mới đảm nhận. Trường hợp hệ số lương theo công việc mới đảm nhiệm thấp hơn hệ số mức lương của sĩ quan, hạ sĩ quan tại thời điểm chuyển diện bố trí thì được bảo lưu hệ số chênh lệch giữa mức lương của sĩ quan, hạ sĩ quan so với hệ số mức lương mới cho đến khi được nâng lương bằng hoặc cao hơn. 2. Về chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi Sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân được thực hiện chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi quy định tại Mục V Thông tư này. Trường hợp được chuyển lại diện bố trí sĩ quan thì thời gian đã tính quy đổi để hưởng trợ cấp một lần trước đây không được tính. 3. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân khi nghỉ hưu được thực hiện cách tính lương hưu như hướng dẫn tại điểm 1.4 khoản 1 Mục III Thông tư này. VII. NGUỒN KINH PHÍ ĐẢM BẢO 1. Ngân sách nhà nước đảm bảo: - Trợ cấp tạo việc làm, tiền tàu xe, trợ cấp xuất ngũ một lần quy định tại các khoản 1, 2, 3 Mục IV Thông tư này; - Chi trả đào tạo, chi trả phần chênh lệch do bảo lưu tiền lương của sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; - Chi trả một lần đối với thời gian quy đổi nêu tại Mục V Thông tư này; - Chi trả phần chênh lệch do bảo lưu tiền lương của sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân. Kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách trên được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm giao cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 2. Công ty nhà nước đảm bảo: - Chi trả phần chênh lệch do bảo lưu lương; - Chi trả đào tạo của sĩ quan, hạ sĩ quan sau khi chuyển ngành sang Công ty nhà nước. Kinh phí đảm bảo trên được hạch toán vào giá thành sản phẩm hoặc chi phí kinh doanh. 3. Quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo: - Lương hưu và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu; - Trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội. VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đã chuyển ngành hoặc đã chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân mà nghỉ hưu sau ngày Nghị định số 43/2007/NĐ-CP ngày 26/3/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành được thực hiện cách tính lương hưu quy định điểm 1.4 khoản 1 Mục III Thông tư này. 2. Đơn vị trực tiếp quản lý sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân có trách nhiệm giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách quy định tại Thông tư này trước khi sĩ quan, hạ sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. 3. Thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ hưu trí, chế độ bảo hiểm xã hội một lần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân quy định tại Thông tư này, thực hiện theo quy định của Pháp luật Bảo hiểm xã hội hiện hành. Hồ sơ xét hưởng chế độ trợ cấp tạo việc làm, chế độ trợ cấp xuất ngũ một lần, chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi, chế độ chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Công an. 4. Các chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân và quy đổi thời gian để hưởng trợ cấp một lần khi sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân được thực hiện kể từ ngày Nghị định số 43/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (30/4/2007). 5. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các chế độ, chính sách áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân, chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về liên Bộ (qua Bộ Công an) để nghiên cứu giải quyết./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=12755&Keyword=
2025-09-24T02:36:23.331018
../data\bocongan\012008TTLTBCA-BLĐTBXH-BTC-BNV\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức công an nhân dân _____________________________________________ Căn cứ Nghị định số 43/2007/NĐ - CP ngày 26/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 43/2007/NĐ - CP); Căn cứ Nghị định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2007/NĐ - CP); Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân như sau: I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG 1. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ hưu. 2. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển ngành. 3. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân thôi phục vụ trong Công an nhân dân mà không đủ điều kiện nghỉ hưu hoặc không chuyển ngành. 4. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân. II. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN NGHỈ HƯU 1. Điều kiện nghỉ hưu Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc được thực hiện chế độ hưu trí hàng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau: 1. 1. Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên. 1. 2. Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0, 7 trở lên. 1. 3. Nam có đủ 25 năm, nữ có đủ 20 năm trở lên công tác trong Công an nhân dân và đã đóng đủ bảo hiểm xã hội theo quy định, trong đó có ít nhất 5 năm được tính thâm niên nghề, nếu sức khỏe yếu, năng lực hạn chế, do yêu cầu công tác hoặc tự nguyện xin nghỉ (không phụ thuộc vào tuổi đời). Thời gian công tác trong Công an nhân dân bao gồm thời gian là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức Công an nhân dân, học viên học tại các trường Công an nhân dân hoặc gửi học ở các trường ngoài Công an nhân dân do Công an nhân dân trả lương hoặc sinh hoạt phí. Thời gian công tác trong Công an nhân dân được tính theo năm dương lịch (không quy đổi theo hệ số), nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng trợ cấp một lần (bao gồm trợ cấp xuất ngũ, thôi việc) thì được cộng dồn. 1. 4. Bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thi hành nhiệm vụ và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời). 1. 5. Đủ hạn tuổi phục vụ cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 43/2007/NĐ - CP và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. 1. 6. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng lương hưu hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn khi thuộc một trong các trường hợp: a) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. b) Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời). 2. Cách tính lương hưu hàng tháng 2. 1. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại các điểm 1. 1, 1. 2, 1. 3, 1. 4, 1. 5 khoản 1 Mục này; cách tính lương hưu hàng tháng thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, cụ thể như sau: Đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ. Mức lương hưu hàng tháng tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Ví dụ 1: Đồng chí Nguyễn Thị K (nữ), là công nhân công an từ tháng 6/1983, được chuyển sang sĩ quan CMKT tháng 7/2001, cấp bậc hàm Thượng úy. Do yêu cầu công tác, đơn vị bố trí để đồng chí K nghỉ việc từ tháng 7/2007. Đồng chí K có 24 năm 02 tháng công tác trong Công an nhân dân (24 năm 02 tháng đóng bảo hiểm xã hội) nên đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng. Tỷ lệ lương hưu hàng tháng của đồng chí K được tính như sau: - 15 năm đầu được tính bằng 45%; - Từ năm thứ 16 đến năm thứ 24: 9 năm x 3% năm = 27%. Tổng cộng bằng 72%. 2. 2. Sĩ quan Công an nhân dân nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn quy định tại điểm 1. 6 khoản 1 Mục này; cách tính lương hưu hàng tháng thực hiện như hướng dẫn tại điểm 2. 1 khoản này nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc hưởng lương hưu trước 55 tuổi đối với nam, trước 50 tuổi đối với nữ (nếu thuộc tiết a điểm 1. 6 khoản 1 Mục này) hoặc trước 50 tuổi đối với nam, 45 tuổi đối với nữ (nếu thuộc tiết b điểm 1. 6 khoản 1 Mục này) thì tỷ lệ lương hưu giảm đi 1%. Mức lương hưu hàng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung. Ví dụ 2: Đồng chí Lê Văn X, Đại úy, sinh tháng 03/1963, có 22 năm 8 tháng đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có 16 năm làm trinh sát hình sự (được xếp lao động loại V theo Quyết định số 44/LĐTBXH - QĐ ngày 29/01/1997 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), suy giảm khả năng lao động 63%, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí với mức lương hưu thấp hơn từ tháng 7/2007. Tỷ lệ % hưởng lương hưu hàng tháng của đồng chí X được tính như sau: - Tỷ lệ % lương hưu hàng tháng tính theo hướng dẫn tại điểm 2. 1 khoản này; 22 năm 8 tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 61%. - Tỷ lệ % phải giảm do nghỉ hưu trước 50 tuổi (đồng chí X sinh tháng 3/1963, vào thời điểm nghỉ việc hưởng lương hưu, đồng chí X bước sang tuổi 45): (50 tuổi - 45 tuổi) x 01% = 5% Tỷ lệ % lương hưu hàng tháng của đồng chí X là: 61% - 5% = 56%. 2. 3. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu của sĩ quan Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. III. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN CHUYỂN NGÀNH 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển ngành sang làm việc trong biên chế tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước) và công ty nhà nước (công ty nhà nước là những công ty thuộc phạm vi áp dụng hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ - CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ) được thực hiện các chế độ sau: 1. 1. Về miễn thi tuyển và ưu tiên trong thi tuyển a) Được miễn thi tuyển gồm các trường hợp: - Nguyên là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được chuyển về cơ quan, đơn vị, công ty nhà nước đã công tác trước khi được tuyển vào Công an nhân dân; - Chuyển ngành theo yêu cầu của cơ quan, đơn vị nhà nước có thẩm quyền, được sắp xếp làm việc phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ. b) Nếu tham dự thi tuyển công chức thì được ưu tiên cộng thêm 10 điểm vào tổng kết quả thi tuyển. 1. 2. Việc xếp lương, bảo lưu lương và hưởng lương của Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyển ngành vào làm việc trong biên chế tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công ty nhà nước thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2007/NĐ - CP của Chính phủ. Cụ thể như sau: a) Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên ngành vào làm việc tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, thực hiện xếp lương, bảo lưu lương và hưởng lương theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT - BCA - BNV - BTC ngày 10/10/2006 của Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 289/2005/QĐ - TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tiền lương và phụ cấp đối với sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương thuộc Công an nhân dân chuyển ngành; b) Sỹ quan, hạ sỹ quan chuyển ngành vào làm việc trong công ty nhà nước được xếp lương theo công việc mới kể từ ngày có quyết định chuyển ngành theo nguyên tắc: làm công việc gì xếp lương theo công việc đó, giữ chức vụ gì xếp lương theo chức vụ đó. Cơ sở để xếp lương căn cứ vào công việc được giao; chức danh, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân; chức danh tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, hạng công ty được xếp hạng và thang lương, bảng lương công ty được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ - CP ngày 14/12/2004, Nghị định số 141/2007/NĐ - CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ, cụ thể: - Nếu được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý (Chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng) thì thực hiện chuyển xếp lương như đối với viên chức quản lý mới được bổ nhiệm trong công ty nhà nước theo quy định tại điểm d khoản 2 Mục III Thông tư liên tịch số 23/2005/TTLT - BLĐTBXH - BTC ngày 31/8/2005 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và quy định tại điểm b khoản 1. 2. 1 Mục II Thông tư số 19/2007/TT - BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. - Nếu làm công nhân, nhân viên trực tiếp hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, nhân viên thừa hành, phục vụ thì thực hiện chuyển xếp lương như đối với người lao động ở khu vực khác chuyển đến làm việc ở công ty nhà nước quy định tại điểm b khoản 1. 1 Mục II Thông tư số 19/2007/TT - BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. c) Trường hợp hệ số lương mới được xếp thấp hơn hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của sỹ quan, hạ sỹ quan hưởng trước khi chuyển ngành thì được bảo lưu hệ số chênh lệch giữa hệ số lương cũ với hệ số lương mới trong thời gian tối thiểu 18 tháng, kể từ ngày có quyết định chuyển ngành. Trong thời gian hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu, nếu được nâng bậc lương thì hệ số chênh lệch bảo lưu được giảm tương ứng; nếu hệ số lương được nâng bằng hoặc cao hơn hệ số lương trước khi chuyển ngành thì thôi hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu kể từ khi được nâng bậc lương. 1. 3. Trường hợp được điều động trở lại phục vụ trong Công an nhân dân thì thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước ngoài Công an nhân dân được tính vào thời gian công tác liên tục để xét thăng cấp bậc hàm hoặc nâng lương. Ví dụ 3: Đồng chí Phạm Văn C, Trung tá, Phó trưởng Công an huyện, vào Công an nhân dân tháng 5/1980. Tháng 6/2002, đồng chí C có quyết định chuyển ngành sang UBND huyện. Tháng 7/2007, đồng chí C được điều động trở lại công tác trong Công an nhân dân giữ chức vụ Trưởng phòng Công an tỉnh T. Như vậy: Thời gian công tác tại UBND huyện (từ tháng 6/2002 đến tháng 6/2007) của đồng chí C được tính vào thời gian công tác liên tục, nếu đồng chí C đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định thì được xét thăng cấp bậc hàm Thượng tá. 1. 4. Cách tính lương hưu hàng tháng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân chuyển ngành thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 34 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, cụ thể như sau: a) Được lấy mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ hưu, cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên nghề (nếu đã được hưởng) tính theo thời gian công tác trong Công an nhân dân của mức lương sĩ quan, hạ sỹ quan tại thời điểm chuyển ngành. Khi tính mức bình quân tiền lương này, được điều chỉnh theo chế độ tiền lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ - CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ và quy định về mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng lương hưu hoặc nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Ví dụ 4: Đồng chí Nguyễn Văn T, sinh tháng 9/1947, Đại úy, có 14 năm 10 tháng được tính thâm niên nghề, chuyển ngành được bố trí làm kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí từ tháng 01/10/2007; có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 38 năm. Đồng chí T có diễn biến tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối như sau: - Từ tháng 10/2002 đến tháng 9/2005 = 36 tháng hệ số lương cũ 5, 18 chuyển đổi sang hệ số lương mới là 6, 44: 450. 000 đồng/tháng x 6, 44 x 36 tháng = 104. 328. 000 đồng - Từ tháng 10/2005 đến tháng 9/2007 = 24 tháng hệ số lương mới 6, 78: 450. 000 đồng/tháng x 6, 78 x 24 tháng = 73. 224. 000 đồng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu: 104. 328. 000 đồng + 73. 224. 000 đồng = 2. 959. 200 đồng/tháng 60 tháng - Phụ cấp thâm niên nghề của đồng chí T tại thời điểm chuyển ngành được cộng vào mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính lương hưu như sau: Đại úy có hệ số lương (theo chế độ tiền lương tại thời điểm tháng 10/2007) bằng 5, 40: 450. 000 đồng/tháng x 5, 40 x 14% = 340. 200 đồng/tháng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính lương hưu của đồng chí T là: 2. 959. 200 đồng/tháng + 340. 200 đồng/tháng = 3. 299. 400 đồng/tháng - Lương hưu hằng tháng của đồng chí T là: 3. 299. 400 đồng/tháng x 75% = 2. 474. 550 đồng/tháng. b) Trường hợp mức lương hưu tính theo tiết a điểm này thấp hơn mức lương hưu tính theo mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sĩ quan, hạ sĩ quan tại thời điểm chuyển ngành, thì được lấy tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ - CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ và quy định về mức lương tối thiểu chung tại thời điểm nghỉ hưu để làm cơ sở tính lương hưu. Ví dụ 5: Đồng chí Lê Văn A, sinh tháng 4/1948, nguyên Thiếu tá, có 20 năm 7 tháng được tính thâm niên nghề, chuyển ngành tháng 8/1995 được bố trí làm Thẩm phán Tòa án huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tháng 4/2008 nghỉ hưởng chế độ hưu trí. Đồng chí A có mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi chuyển ngành và trước khi nghỉ hưu như sau: - Trước khi chuyển ngành: + Từ tháng 9/1990 đến tháng 7/1994 = 47 tháng, Đại úy, hệ số lương cũ 4, 15 chuyển đổi hệ số lương mới 5, 40; thâm niên nghề 19%: 450. 000 đồng/tháng x 5, 40 x 1, 19 x 47 tháng = 135. 909. 900 đồng + Từ tháng 8/1994 đến tháng 8/1995 = 13 tháng, Thiếu tá, hệ số lương cũ 4, 80, chuyển đổi hệ số lương mới 6, 0; thâm niên nghề 20%: 450. 000 đồng/tháng x 6, 00 x 1, 20 x 13 tháng = 42. 120. 000 đồng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ngành: 135. 909. 900 đ/tháng + 42. 120. 000 đ/tháng = 2. 967. 165 đồng/tháng 60 tháng - Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu: + Mức bình quân lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu của đồng chí A là: 1. 933. 909 đồng/tháng. + Phụ cấp thâm niên nghề trước khi chuyển ngành, chuyển đổi theo chế độ tiền lương mới là: 450. 000 đồng/tháng x 6, 0 x 20% = 540. 000 đồng/tháng. Tổng cộng: 1. 933. 909 đồng/tháng + 540. 000 đồng/tháng = 2. 473. 909 đồng/tháng. Như vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính lương hưu của đồng chí A tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành. Do đó, đồng chí A được lấy mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành (2. 967. 165 đồng/tháng) làm cơ sở tính lương hưu. 2. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị khác không hưởng lương từ ngân sách nhà nước (ngoài quy định tại khoản 1 Mục này), được hưởng các chế độ sau: 2. 1. Được hưởng trợ cấp xuất ngũ một lần từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 43/2007/NĐ - CP và hướng dẫn tại khoản 2 Mục IV Thông tư này. 2. 2. Được trợ cấp một lần từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. Nếu tự nguyện không nhận trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ngành, được cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ Bảo hiểm xã hội trước khi chuyển ra ngoài Công an nhân dân và được thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số 152/2006/NĐ - CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc và quy định khác của pháp luật hiện hành. IV. CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN THÔI PHỤC VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN MÀ KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN NGHỈ HƯU HOẶC KHÔNG CHUYỂN NGÀNH 1. Trợ cấp tạo việc làm, học nghề 1. 1. Trợ cấp tạo việc làm bằng 06 tháng mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ tại thời điểm xuất ngũ. 1. 2. Nếu có nguyện vọng học nghề hoặc tìm việc làm thì đơn vị hoặc Công an cấp huyện và tương đương (nơi sĩ quan, hạ sĩ quan cư trú) có trách nhiệm giới thiệu đến các trung tâm dịch vụ việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác để được học nghề hoặc giới thiệu việc làm. Các trung tâm dịch vụ việc làm của các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội khác có trách nhiệm ưu tiên tiếp nhận sĩ quan, hạ sĩ quan xuất ngũ vào học nghề hoặc giới thiệu việc làm. 1. 3. Nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện quy định được ưu tiên đăng ký xét tuyển đi lao động ở nước ngoài theo thỏa thuận của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 2. Trợ cấp xuất ngũ một lần Trợ cấp xuất ngũ một lần được tính bằng cách lấy số năm công tác thực tế tính theo năm dương lịch (không quy đổi) nhân với 01 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) hiện hưởng. 2. 1. Thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp xuất ngũ một lần là tổng thời gian công tác trong Công an nhân dân (bao gồm thời gian là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, học viên, công nhân, viên chức Công an nhân dân) chưa được giải quyết chế độ xuất ngũ cộng với thời gian công tác trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể ở Trung ương, địa phương và thời gian làm hợp đồng có đóng bảo hiểm xã hội mà chưa được giải quyết chế độ thôi việc. Thời gian để tính hưởng trợ cấp xuất ngũ nếu có tháng lẻ thì tính như sau: - Dưới 03 tháng không được tính để hưởng trợ cấp; - Từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng được tính bằng 1/2 năm công tác; - Từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính bằng 1 năm công tác. 2. 2. Tiền lương để tính trợ cấp xuất ngũ một lần gồm: Lương cấp bậc hàm hoặc lương ngạch, bậc và các khoản phụ cấp: chức vụ, thâm niên nghề, thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) đang hưởng tại thời điểm xuất ngũ. Ví dụ 6: Đồng chí Nguyễn Văn M, công tác tại UBND huyện T từ tháng 5/1990 đến tháng 6/1995, vào Công an nhân dân tháng 7/1995, xuất ngũ ngày 01/8/2007 với cấp bậc hàm Đại úy (HSL: 5, 4). Trợ cấp xuất ngũ một lần của đồng chí M được tính như sau: - Thời gian công tác thực tế của đồng chí M (từ tháng 5/1990 đến tháng 7/2007) là 17 năm 03 tháng, được tính để hưởng trợ cấp là 17, 5 tháng. - Tiền lương của đồng chí M: + Lương Đại úy: 450. 000 đồng/tháng x 5, 4 = 2. 430. 000 đồng/tháng + Phụ cấp thâm niên: 2. 430. 000 đồng x 12% = 291. 600 đồng/tháng Cộng = 2. 721. 600 đồng/tháng - Trợ cấp xuất ngũ một lần: 2. 721. 600 đồng/tháng x 17, 5 tháng = 47. 628. 000 đồng. 3. Được cấp tiền tàu xe (loại thông thường theo quy định của Bộ Tài chính) từ đơn vị về nơi cư trú. 4. Ngoài các chế độ nói trên, sĩ quan, hạ sĩ quan xuất ngũ còn được hưởng trợ cấp một lần từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần tính theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội: Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp bằng 1, 5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. 5. Sĩ quan, hạ sĩ quan đã xuất ngũ về địa phương trong thời gian không quá 1 năm (không quá 12 tháng) kể từ ngày quyết định xuất ngũ có hiệu lực, nếu tìm được việc làm mới và có yêu cầu chuyển ngành: a) Trường hợp chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công ty nhà nước theo quy định tại khoản 1 Mục III Thông tư này thì thủ trưởng đơn vị cũ thu hồi quyết định xuất ngũ và ra quyết định chuyển ngành (theo phân cấp quản lý cán bộ hiện hành của Bộ Công an). Khi ra quyết định chuyển ngành phải thu hồi khoản trợ cấp xuất ngũ một lần quy định tại khoản 2 Mục này trả lại ngân sách và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần quy định tại khoản 4 Mục này nộp về cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân để hoàn trả lại quỹ bảo hiểm xã hội và đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ bảo hiểm xã hội; b) Trường hợp chuyển sang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị khác không hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Mục III Thông tư này; nếu có nguyện vọng tính nối thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước khi xuất ngũ thì đơn vị cũ thu hồi khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần quy định tại khoản 4 Mục này nộp về cơ quan Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân để hoàn trả lại quĩ bảo hiểm xã hội và đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội Công an nhân dân xác nhận trong sổ bảo hiểm xã hội. V. QUY ĐỔI THỜI GIAN ĐỂ TÍNH HƯỞNG TRỢ CẤP MỘT LẦN KHI SĨ QUAN NGHỈ HƯU, CHUYỂN NGÀNH, THÔI PHỤC VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Điều kiện và mức quy đổi thời gian 1. 1. Sĩ quan Công an nhân dân có thời gian công tác ở địa bàn hoặc công việc có tính chất đặc thù thì được quy đổi thời gian đó để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân như sau: a) Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp đặc biệt mức 100% hoặc làm công việc đặc thù được xếp loại lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (lao động loại V, VI) theo danh mục nghề, công việc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế thì thời gian đó được quy đổi 1 năm bằng 1 năm 4 tháng; b) Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp khu vực hệ số từ 0, 7 trở lên hoặc làm công việc đặc thù được xếp loại lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (lao động loại IV) theo danh mục nghề, công việc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế thì thời gian đó được quy đổi 1 năm bằng 1 năm 2 tháng. 1. 2. Sĩ quan Công an nhân dân có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân thì thời gian phục vụ trong Quân đội được tính quy đổi theo những quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan Quân đội thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan Quân đội chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp hoặc chuyển sang công nhân, viên chức Quốc phòng. 1. 3. Trường hợp trong cùng một thời gian công tác, nếu có đủ 02 hoặc 03 điều kiện nêu trên thì chỉ thực hiện điều kiện có mức quy đổi cao nhất. Thời gian công tác quy đổi nếu có đứt quãng thì được cộng dồn để tính thời gian tăng thêm. 2. Cách tính quy đổi thời gian 2. 1. Thời gian để tính quy đổi theo các điều kiện nêu ở khoản 1 Mục này là thời gian công tác trong Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân (nếu có) mà chưa quy đổi để hưởng chế độ trợ cấp một lần. 2. 2. Thời gian công tác ở địa bàn trước đây chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định mà nay được cơ quan có thẩm quyền quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số từ 0, 7 trở lên thì thời gian công tác ở địa bàn đó được tính là thời gian công tác được quy đổi. 2. 3. Thời gian công tác ở địa bàn trước đây được quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số từ 0, 7 trở lên (đủ điều kiện tính quy đổi) nhưng sau đó, cơ quan có thẩm quyền quy định lại phụ cấp đặc biệt dưới mức 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số dưới 0, 7 (không đủ điều kiện tính quy đổi) thì thời gian công tác ở địa bàn từ trước ngày có quy định mới được tính là thời gian công tác được quy đổi. 2. 4. Thời gian trước đây làm nghề hoặc công việc mà nay được quy định là nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì thực hiện theo quy định tại điểm 2 Mục II Thông tư số 11/LĐTBXH - TT, ngày 07/4/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để làm căn cứ xác định thời gian công tác được quy đổi. 3. Tính trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi 3. 1. Mức trợ cấp: cứ mỗi năm (12 tháng) tăng thêm do quy đổi được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) tại thời điểm sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. Thời gian tăng thêm do quy đổi nếu có tháng lẻ thì thực hiện như hướng dẫn tại điểm 2. 1 khoản 2 Mục IV Thông tư này. 3. 2. Tiền lương và phụ cấp để tính trợ cấp một lần gồm tiền lương cấp bậc hàm, lương ngạch, bậc và các khoản phụ cấp: chức vụ, thâm niên nghề, thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) tại thời điểm sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. Ví dụ 7: Đồng chí Trần Văn H, Thượng tá, nghỉ hưu tháng 5/2007 thời gian công tác thực tế là 35 năm 01 tháng. Trong đó có 03 năm là bộ đội tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam (từ 5/1972 - 4/1975); từ tháng 5/1975 chuyển ngành sang Công an nhân dân, có 20 năm là trinh sát hình sự (từ 5/1975 - 4/1995). Tính quy đổi thời gian của đồng chí H như sau: - 03 năm chiến đấu ở miền Nam (theo quy định tại Nghị định số 04/2001/NĐ - CP ngày 16/01/2001 của Chính phủ), mỗi năm tăng thêm 6 tháng: 3 x 6 tháng = 18 tháng. - 20 năm là trinh sát hình sự (được xếp lao động loại V theo Quyết định số 44/LĐTBXH - QĐ ngày 29/01/1997 của Bộ trưởng Bộ LĐ - TB&XH), mỗi năm tăng thêm 4 tháng: 20 x 4 tháng = 80 tháng. Tổng thời gian tăng thêm của đồng chí H là: 18 tháng + 80 tháng = 98 tháng = 8 năm 02 tháng Trợ cấp 1 lần của thời gian tăng thêm do quy đổi của đồng chí H khi nghỉ hưu là: + Tiền lương đang hưởng trước khi nghỉ hưu: 450. 000 đồng/tháng x 7, 3 x 1, 35 (TNN) = 4. 434. 750 đồng/tháng. + Trợ cấp 1 lần: 4. 434. 750 đồng/tháng x 8 năm = 35. 478. 000 đồng VI. CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN CHUYỂN SANG CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Về chuyển xếp lương Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân thuộc diện chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân được xếp lương theo công việc mới đảm nhận. Trường hợp hệ số lương theo công việc mới đảm nhiệm thấp hơn hệ số mức lương của sĩ quan, hạ sĩ quan tại thời điểm chuyển diện bố trí thì được bảo lưu hệ số chênh lệch giữa mức lương của sĩ quan, hạ sĩ quan so với hệ số mức lương mới cho đến khi được nâng lương bằng hoặc cao hơn. 2. Về chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi Sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân được thực hiện chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi quy định tại Mục V Thông tư này. Trường hợp được chuyển lại diện bố trí sĩ quan thì thời gian đã tính quy đổi để hưởng trợ cấp một lần trước đây không được tính. 3. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân khi nghỉ hưu được thực hiện cách tính lương hưu như hướng dẫn tại điểm 1. 4 khoản 1 Mục III Thông tư này. VII. NGUỒN KINH PHÍ ĐẢM BẢO 1. Ngân sách nhà nước đảm bảo: - Trợ cấp tạo việc làm, tiền tàu xe, trợ cấp xuất ngũ một lần quy định tại các khoản 1, 2, 3 Mục IV Thông tư này; - Chi trả đào tạo, chi trả phần chênh lệch do bảo lưu tiền lương của sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; - Chi trả một lần đối với thời gian quy đổi nêu tại Mục V Thông tư này; - Chi trả phần chênh lệch do bảo lưu tiền lương của sĩ quan, hạ sĩ quan chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân. Kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách trên được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm giao cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 2. Công ty nhà nước đảm bảo: - Chi trả phần chênh lệch do bảo lưu lương; - Chi trả đào tạo của sĩ quan, hạ sĩ quan sau khi chuyển ngành sang Công ty nhà nước. Kinh phí đảm bảo trên được hạch toán vào giá thành sản phẩm hoặc chi phí kinh doanh. 3. Quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo: - Lương hưu và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu; - Trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội. VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đã chuyển ngành hoặc đã chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân mà nghỉ hưu sau ngày Nghị định số 43/2007/NĐ - CP ngày 26/3/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành được thực hiện cách tính lương hưu quy định điểm 1. 4 khoản 1 Mục III Thông tư này. 2. Đơn vị trực tiếp quản lý sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân có trách nhiệm giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách quy định tại Thông tư này trước khi sĩ quan, hạ sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân. 3. Thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ hưu trí, chế độ bảo hiểm xã hội một lần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân quy định tại Thông tư này, thực hiện theo quy định của Pháp luật Bảo hiểm xã hội hiện hành. Hồ sơ xét hưởng chế độ trợ cấp tạo việc làm, chế độ trợ cấp xuất ngũ một lần, chế độ trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi, chế độ chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Công an. 4. Các chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân; chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân và quy đổi thời gian để hưởng trợ cấp một lần khi sĩ quan nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân được thực hiện kể từ ngày Nghị định số 43/2007/NĐ - CP có hiệu lực thi hành (30/4/2007). 5. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các chế độ, chính sách áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân khi nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi phục vụ trong Công an nhân dân, chuyển sang công nhân, viên chức Công an nhân dân trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về liên Bộ (qua Bộ Công an) để nghiên cứu giải quyết. /.
Hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân
01/2010/TT-BCA
12/01/2010
Thông tư
26/02/2010
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Lê Hồng Anh
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, ngày 15-9-2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg, ngày 10-02-2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10-02-2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân (sau đây viết gọn là Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ) như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc trang bị, quản lý, sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong hoạt động quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển và phân tích mẫu vật môi trường (sau đây viết gọn là phương tiện, thiết bị kỹ thuật) phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân theo quy định của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân (sau đây viết gọn là cán bộ), Công an các đơn vị, địa phương và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển và phân tích mẫu vật môi trường. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 3. Trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Việc trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật được thực hiện theo quy định của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg, hướng dẫn tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công an các đơn vị, địa phương căn cứ vào yêu cầu công tác của đơn vị, địa phương mình, trang bị cho lực lượng Cảnh sát nhân dân làm công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường các loại phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg. 2. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành thuộc các lĩnh vực an ninh, trật tự, môi trường, khoa học và công nghệ, y tế, sinh học... đã trang bị cho lực lượng Công an nhân dân có khả năng đáp ứng yêu cầu công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì được coi là phương tiện, thiết bị kỹ thuật theo Thông tư này và được sử dụng trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều 4. Quản lý phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được quản lý theo quy định của Bộ Công an về quản lý, trang bị, sử dụng thiết bị vật tư, kỹ thuật nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân và Thông tư này. 2. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được bảo dưỡng, kiểm tra chất lượng thường xuyên, định kỳ theo yêu cầu kỹ thuật của từng loại; đơn vị được giao quản lý, sử dụng có trách nhiệm mở hồ sơ, sổ sách theo dõi việc sử dụng, điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật của đơn vị mình. 3. Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật quyết định điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật giữa các đơn vị thuộc Bộ với Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giữa Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi được Bộ trưởng ủy quyền; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật giữa các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình. Khi giao, nhận phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải lập biên bản, ghi cụ thể chủng loại, ký hiệu, số lượng, chất lượng, các phụ tùng và hồ sơ kèm theo. Điều 5. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được sử dụng đúng mục đích, theo chương trình, kế hoạch công tác đã được Trưởng phòng thuộc Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) trở lên phê duyệt. 2. Cán bộ được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật công khai hoặc bí mật do Trưởng phòng thuộc Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng Công an cấp huyện trở lên quyết định theo kế hoạch công tác đã được phê duyệt. 3. Cán bộ được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được đào tạo, huấn luyện; khi sử dụng phải thực hiện đúng quy trình và các quy tắc, thao tác sử dụng; phải bảo quản, bảo đảm an toàn, không được để mất mát, hư hỏng, đánh tráo và phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật. Khi hết thời hạn được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật thì phải bàn giao lại cho đơn vị để quản lý. 4. Đơn vị, cá nhân được giao quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật không được sử dụng tùy tiện, sai mục đích, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc vi phạm quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp làm mất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 5. Khi lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành của các Bộ, ngành liên quan thì phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành đó và theo cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an với các Bộ, ngành liên quan. 6. Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật (số liệu, dữ liệu hiển thị trên các thiết bị kỹ thuật; phiếu in kết quả; mẫu vật môi trường; kết quả phân tích; bản ảnh; hình ảnh; sơ đồ hiện trường...) được sử dụng làm căn cứ cho việc xem xét để áp dụng các hình thức xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Tài liệu thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được thể hiện trong biên bản vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc đánh giá mẫu vật môi trường phải căn cứ vào quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Điều 6. Trách nhiệm của Công an các đơn vị, địa phương 1. Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm có trách nhiệm: a) Chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng Trung tâm Kiểm định tiêu chuẩn môi trường đủ điều kiện để kiểm định, phân tích, quan trắc môi trường, có hệ thống cơ sở dữ liệu làm căn cứ cho việc phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định; b) Phối hợp với cơ quan chức năng thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch phân bổ, quản lý và sử dụng kinh phí đầu tư phát triển, kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phí khác bảo đảm cho việc trang bị đầy đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; c) Xây dựng quy chuẩn của từng loại phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình cấp có thẩm quyền ban hành; d) Giúp lãnh đạo Bộ chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình lãnh đạo Bộ Công an và lãnh đạo các Bộ liên quan ký, ban hành; đ) Phối hợp với các đơn vị hữu quan trong, ngoài ngành Công an để phân tích, kiểm định mẫu vật môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; e) Phối hợp với Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật đưa danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật vào danh mục quản lý theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an; g) Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức tập huấn cho cán bộ làm nhiệm vụ quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển, kiểm định và phân tích mẫu vật môi trường. 2. Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật để sản xuất, mua sắm phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg để cung cấp cho lực lượng Cảnh sát nhân dân. 3. Cục Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng lập dự toán, phân bổ kinh phí bảo đảm phục vụ cho việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg cho lực lượng Cảnh sát nhân dân. 4. Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm: a) Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có năng lực chuyên môn về phương tiện, thiết bị kỹ thuật; b) Phối hợp với các ban, ngành ở địa phương xây dựng kế hoạch sử dụng và phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phí khác bảo đảm cho việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát nhân dân tại địa phương; c) Phối hợp với các ban, ngành ở địa phương xây dựng cơ chế phối hợp sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật và hiệu chuẩn, kiểm định phương tiện, thiết bi kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát nhân dân tại địa phương. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 7. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký. Điều 8. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 2. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=121861&Keyword=
2025-09-24T02:30:50.610966
../data\bocongan\012010TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP, ngày 15 - 9 - 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg, ngày 10 - 02 - 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10 - 02 - 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân (sau đây viết gọn là Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ) như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc trang bị, quản lý, sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong hoạt động quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển và phân tích mẫu vật môi trường (sau đây viết gọn là phương tiện, thiết bị kỹ thuật) phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân theo quy định của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân (sau đây viết gọn là cán bộ), Công an các đơn vị, địa phương và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển và phân tích mẫu vật môi trường. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 3. Trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Việc trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật được thực hiện theo quy định của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg, hướng dẫn tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công an các đơn vị, địa phương căn cứ vào yêu cầu công tác của đơn vị, địa phương mình, trang bị cho lực lượng Cảnh sát nhân dân làm công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường các loại phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg. 2. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành thuộc các lĩnh vực an ninh, trật tự, môi trường, khoa học và công nghệ, y tế, sinh học. . đã trang bị cho lực lượng Công an nhân dân có khả năng đáp ứng yêu cầu công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì được coi là phương tiện, thiết bị kỹ thuật theo Thông tư này và được sử dụng trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều 4. Quản lý phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được quản lý theo quy định của Bộ Công an về quản lý, trang bị, sử dụng thiết bị vật tư, kỹ thuật nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân và Thông tư này. 2. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được bảo dưỡng, kiểm tra chất lượng thường xuyên, định kỳ theo yêu cầu kỹ thuật của từng loại; đơn vị được giao quản lý, sử dụng có trách nhiệm mở hồ sơ, sổ sách theo dõi việc sử dụng, điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật của đơn vị mình. 3. Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật quyết định điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật giữa các đơn vị thuộc Bộ với Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giữa Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi được Bộ trưởng ủy quyền; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chuyển phương tiện, thiết bị kỹ thuật giữa các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình. Khi giao, nhận phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải lập biên bản, ghi cụ thể chủng loại, ký hiệu, số lượng, chất lượng, các phụ tùng và hồ sơ kèm theo. Điều 5. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật 1. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được sử dụng đúng mục đích, theo chương trình, kế hoạch công tác đã được Trưởng phòng thuộc Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) trở lên phê duyệt. 2. Cán bộ được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật công khai hoặc bí mật do Trưởng phòng thuộc Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng Công an cấp huyện trở lên quyết định theo kế hoạch công tác đã được phê duyệt. 3. Cán bộ được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được đào tạo, huấn luyện; khi sử dụng phải thực hiện đúng quy trình và các quy tắc, thao tác sử dụng; phải bảo quản, bảo đảm an toàn, không được để mất mát, hư hỏng, đánh tráo và phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật. Khi hết thời hạn được giao sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật thì phải bàn giao lại cho đơn vị để quản lý. 4. Đơn vị, cá nhân được giao quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật không được sử dụng tùy tiện, sai mục đích, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc vi phạm quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp làm mất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 5. Khi lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành của các Bộ, ngành liên quan thì phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật chuyên ngành đó và theo cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an với các Bộ, ngành liên quan. 6. Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật (số liệu, dữ liệu hiển thị trên các thiết bị kỹ thuật; phiếu in kết quả; mẫu vật môi trường; kết quả phân tích; bản ảnh; hình ảnh; sơ đồ hiện trường. . ) được sử dụng làm căn cứ cho việc xem xét để áp dụng các hình thức xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Tài liệu thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật phải được thể hiện trong biên bản vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc đánh giá mẫu vật môi trường phải căn cứ vào quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Điều 6. Trách nhiệm của Công an các đơn vị, địa phương 1. Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm có trách nhiệm: a) Chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng Trung tâm Kiểm định tiêu chuẩn môi trường đủ điều kiện để kiểm định, phân tích, quan trắc môi trường, có hệ thống cơ sở dữ liệu làm căn cứ cho việc phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định; b) Phối hợp với cơ quan chức năng thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch phân bổ, quản lý và sử dụng kinh phí đầu tư phát triển, kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phí khác bảo đảm cho việc trang bị đầy đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; c) Xây dựng quy chuẩn của từng loại phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình cấp có thẩm quyền ban hành; d) Giúp lãnh đạo Bộ chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trình lãnh đạo Bộ Công an và lãnh đạo các Bộ liên quan ký, ban hành; đ) Phối hợp với các đơn vị hữu quan trong, ngoài ngành Công an để phân tích, kiểm định mẫu vật môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; e) Phối hợp với Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật đưa danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật vào danh mục quản lý theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an; g) Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức tập huấn cho cán bộ làm nhiệm vụ quan trắc, thu thập, bảo quản, vận chuyển, kiểm định và phân tích mẫu vật môi trường. 2. Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật để sản xuất, mua sắm phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg để cung cấp cho lực lượng Cảnh sát nhân dân. 3. Cục Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng lập dự toán, phân bổ kinh phí bảo đảm phục vụ cho việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật quy định tại Điều 2 của Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg cho lực lượng Cảnh sát nhân dân. 4. Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm: a) Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có năng lực chuyên môn về phương tiện, thiết bị kỹ thuật; b) Phối hợp với các ban, ngành ở địa phương xây dựng kế hoạch sử dụng và phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phí khác bảo đảm cho việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát nhân dân tại địa phương; c) Phối hợp với các ban, ngành ở địa phương xây dựng cơ chế phối hợp sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật và hiệu chuẩn, kiểm định phương tiện, thiết bi kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát nhân dân tại địa phương. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 7. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký. Điều 8. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 2. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ.
01/2010/TTLT-BCA-BGTVT
03/03/2010
Thông tư liên tịch
17/04/2010
Công báo số 141 + 142, năm 2010
31/03/2010
Bộ Công an
Bộ trưởng - Đại tướng
Lê Hồng Anh
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ ______________ Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13/11/2008; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải thống nhất quy định việc phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ như sau. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, kiểm tra định kỳ về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây viết gọn là đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông), dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương có liên quan trong công tác đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, điều tra giải quyết tai nạn giao thông, cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khai thác, sử dụng số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 3. Nguyên tắc cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ 1. Bảo đảm đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời, đúng thời hạn và tuân thủ quy định của pháp luật. 2. Bảo đảm bí mật số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Trách nhiệm cung cấp số liệu 1. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc ngành Công an a) Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) cung cấp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh) số liệu đăng ký môtô, xe máy trong phạm vi cấp huyện quản lý; b) Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Sở Giao thông vận tải, Ban An toàn giao thông tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Ban An toàn giao thông cấp tỉnh) số liệu đăng ký phương tiện giao thông, số liệu về tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và số liệu về tai nạn giao thông trong phạm vi cấp tỉnh; c) Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt cung cấp cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Vụ An toàn giao thông (Bộ Giao thông vận tải), Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và gửi báo cáo Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội số liệu đăng ký phương tiện giao thông, số liệu về tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và số liệu về tai nạn giao thông trong phạm vi toàn quốc. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành giao thông vận tải a) Sở Giao thông vận tải cung cấp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh, Ban An toàn giao thông cấp tỉnh, Tổng cục Đường bộ Việt Nam số liệu về cấp mới, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; số liệu về xe máy chuyên dùng thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý; b) Tổng cục Đường bộ Việt Nam cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giao thông vận tải số liệu về cấp mới, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; số liệu về xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc; c) Cục Đăng kiểm Việt Nam cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giao thông vận tải số liệu về kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông trong phạm vi toàn quốc. Điều 5. Nội dung cung cấp số liệu 1. Số liệu về tai nạn giao thông a) Tổng số vụ tai nạn giao thông, trong đó nêu rõ số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng, số vụ va chạm giao thông; số người chết, số người bị thương, thiệt hại về tài sản; nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông; b) Kết quả điều tra, giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ. 2. Số liệu về đăng ký phương tiện giao thông a) Tổng số xe ôtô, xe môtô theo chủng loại phương tiện giao thông được đăng ký mới của thời gian báo cáo; b) Tổng số xe ôtô, xe môtô theo chủng loại phương tiện giao thông được đăng ký tính đến thời điểm báo cáo. 3. Số liệu về kiểm định phương tiện giao thông a) Tổng số xe ôtô theo chủng loại phương tiện giao thông, xe máy chuyên dùng đang được phép tham gia giao thông; b) Tổng số xe ôtô theo chủng loại phương tiện giao thông, xe máy chuyên dùng đang được phép tham gia giao thông vào kiểm định, số phương tiện đạt tiêu chuẩn, số phương tiện không đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ các lỗi không đạt tiêu chuẩn; c) Tổng số phương tiện giao thông hết niên hạn sử dụng theo quy định, trong đó nêu rõ chủng loại phương tiện giao thông hết niên hạn sử dụng. 4. Số liệu về cấp, đổi, thu hồi, tước giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ a) Tổng số giấy phép lái xe theo hạng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cấp mới, đổi, thu hồi của thời gian báo cáo b) Tổng số giấy phép lái xe theo hạng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cấp mới, đổi, thu hồi tính đến thời điểm báo cáo; c) Số liệu về tước giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 6. Hình thức, thủ tục cung cấp số liệu Việc cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được thực hiện định kỳ theo tháng, 6 tháng và một năm, bằng văn bản, qua mạng máy tính hoặc Fax. Trong trường hợp có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền, thì việc cung cấp số liệu này được thực hiện bằng báo cáo đột xuất hoặc báo cáo theo chuyên đề, có chữ ký, đóng dấu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cung cấp. Điều 7. Thời gian cung cấp số liệu 1. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ tháng, thì tổng hợp số liệu từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 05 tháng liền kề. 2. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ 06 tháng, thì tổng hợp số liệu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 30 tháng 06 của năm cung cấp, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 10 tháng 07 của năm cung cấp. 3. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ năm, tổng hợp số liệu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm cung cấp, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 10 tháng 01 của năm liền kề. 4. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp đội xuất hoặc cung cấp theo chuyên đề, thực hiện theo yêu cầu về thời gian của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp. Điều 8. Khai thác, quản lý, sử dụng số liệu cung cấp 1. Cục Cảnh sát Giao thông đường bộ - đường sắt, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam có trách nhiệm áp dụng các biện pháp nghiệp vụ - kỹ thuật cần thiết để bảo mật các số liệu đã được cung cấp phục vụ công tác quản lý. Số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cung cấp phải được khai thác quản lý, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. 2. Việc trích sử dụng số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ phải trung thực, ghi rõ nguồn gốc. Nghiêm cấm sử dụng số liệu nêu trên làm phương hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 9. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký. Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Trách nhiệm của cơ quan Công an a) Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra hướng dẫn các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện Thông tư này; b) Tổng cục trưởng các Tổng cục, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành giao thông vận tải a) Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện Thông tư này; b) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc này sinh cần báo cáo Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội), Bộ Giao thông vận tải (qua Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Cục Đăng kiểm Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=25047&Keyword=
2025-09-24T02:35:50.325432
../data\bocongan\012010TTLT-BCA-BGTVT\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ ______________ Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13/11/2008; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ - CP ngày 22/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải thống nhất quy định việc phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ như sau. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc phối hợp cung cấp số liệu đăng ký, kiểm tra định kỳ về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây viết gọn là đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông), dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương có liên quan trong công tác đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, điều tra giải quyết tai nạn giao thông, cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khai thác, sử dụng số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 3. Nguyên tắc cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ 1. Bảo đảm đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời, đúng thời hạn và tuân thủ quy định của pháp luật. 2. Bảo đảm bí mật số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Trách nhiệm cung cấp số liệu 1. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc ngành Công an a) Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) cung cấp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh) số liệu đăng ký môtô, xe máy trong phạm vi cấp huyện quản lý; b) Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Sở Giao thông vận tải, Ban An toàn giao thông tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Ban An toàn giao thông cấp tỉnh) số liệu đăng ký phương tiện giao thông, số liệu về tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và số liệu về tai nạn giao thông trong phạm vi cấp tỉnh; c) Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt cung cấp cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Vụ An toàn giao thông (Bộ Giao thông vận tải), Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và gửi báo cáo Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội số liệu đăng ký phương tiện giao thông, số liệu về tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và số liệu về tai nạn giao thông trong phạm vi toàn quốc. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành giao thông vận tải a) Sở Giao thông vận tải cung cấp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh, Ban An toàn giao thông cấp tỉnh, Tổng cục Đường bộ Việt Nam số liệu về cấp mới, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; số liệu về xe máy chuyên dùng thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý; b) Tổng cục Đường bộ Việt Nam cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giao thông vận tải số liệu về cấp mới, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; số liệu về xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc; c) Cục Đăng kiểm Việt Nam cung cấp cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Bộ Giao thông vận tải số liệu về kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông trong phạm vi toàn quốc. Điều 5. Nội dung cung cấp số liệu 1. Số liệu về tai nạn giao thông a) Tổng số vụ tai nạn giao thông, trong đó nêu rõ số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng, số vụ va chạm giao thông; số người chết, số người bị thương, thiệt hại về tài sản; nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông; b) Kết quả điều tra, giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ. 2. Số liệu về đăng ký phương tiện giao thông a) Tổng số xe ôtô, xe môtô theo chủng loại phương tiện giao thông được đăng ký mới của thời gian báo cáo; b) Tổng số xe ôtô, xe môtô theo chủng loại phương tiện giao thông được đăng ký tính đến thời điểm báo cáo. 3. Số liệu về kiểm định phương tiện giao thông a) Tổng số xe ôtô theo chủng loại phương tiện giao thông, xe máy chuyên dùng đang được phép tham gia giao thông; b) Tổng số xe ôtô theo chủng loại phương tiện giao thông, xe máy chuyên dùng đang được phép tham gia giao thông vào kiểm định, số phương tiện đạt tiêu chuẩn, số phương tiện không đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ các lỗi không đạt tiêu chuẩn; c) Tổng số phương tiện giao thông hết niên hạn sử dụng theo quy định, trong đó nêu rõ chủng loại phương tiện giao thông hết niên hạn sử dụng. 4. Số liệu về cấp, đổi, thu hồi, tước giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ a) Tổng số giấy phép lái xe theo hạng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cấp mới, đổi, thu hồi của thời gian báo cáo b) Tổng số giấy phép lái xe theo hạng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cấp mới, đổi, thu hồi tính đến thời điểm báo cáo; c) Số liệu về tước giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 6. Hình thức, thủ tục cung cấp số liệu Việc cung cấp số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được thực hiện định kỳ theo tháng, 6 tháng và một năm, bằng văn bản, qua mạng máy tính hoặc Fax. Trong trường hợp có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền, thì việc cung cấp số liệu này được thực hiện bằng báo cáo đột xuất hoặc báo cáo theo chuyên đề, có chữ ký, đóng dấu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cung cấp. Điều 7. Thời gian cung cấp số liệu 1. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ tháng, thì tổng hợp số liệu từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 05 tháng liền kề. 2. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ 06 tháng, thì tổng hợp số liệu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 30 tháng 06 của năm cung cấp, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 10 tháng 07 của năm cung cấp. 3. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp theo định kỳ năm, tổng hợp số liệu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm cung cấp, gửi cho đơn vị có liên quan trước ngày 10 tháng 01 của năm liền kề. 4. Đối với số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cung cấp đội xuất hoặc cung cấp theo chuyên đề, thực hiện theo yêu cầu về thời gian của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp. Điều 8. Khai thác, quản lý, sử dụng số liệu cung cấp 1. Cục Cảnh sát Giao thông đường bộ - đường sắt, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam có trách nhiệm áp dụng các biện pháp nghiệp vụ - kỹ thuật cần thiết để bảo mật các số liệu đã được cung cấp phục vụ công tác quản lý. Số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ được cung cấp phải được khai thác quản lý, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. 2. Việc trích sử dụng số liệu đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ phải trung thực, ghi rõ nguồn gốc. Nghiêm cấm sử dụng số liệu nêu trên làm phương hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 9. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký. Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Trách nhiệm của cơ quan Công an a) Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra hướng dẫn các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện Thông tư này; b) Tổng cục trưởng các Tổng cục, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành giao thông vận tải a) Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện Thông tư này; b) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc này sinh cần báo cáo Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội), Bộ Giao thông vận tải (qua Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Cục Đăng kiểm Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung
01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC
27/08/2010
Thông tư liên tịch
21/10/2010
Công báo số 534+535, năm 2010
06/09/2010
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Hoàng Nghĩa Mai
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung __________________________________ Để thi hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Điều 1. Chứng cứ quan trọng đối với vụ án 1. “Chứng cứ quan trọng đối với vụ án” quy định tại khoản 1 Điều 168 và điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTHS là chứng cứ quy định tại Điều 64 của BLTTHS dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS và nếu thiếu chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. 2. Thiếu chứng cứ sau đây là trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án: a) Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ để xác định hành vi xảy ra đó có đủ yếu tố của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính...); b) Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào; c) Chứng cứ để chứng minh “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định một con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó; d) Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là chứng cứ xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi hay không có lỗi; nếu có lỗi thì thuộc trường hợp lỗi cố ý (lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp) hoặc lỗi vô ý (lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả) theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Bộ luật hình sự; đ) Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự hay không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không và nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào; e) Chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định người thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì và trong trường hợp mục đích, động cơ phạm tội là yếu tố tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc là yếu tố (tình tiết) của cấu thành tội phạm hoặc là yếu tố (tình tiết) định khung hình phạt; g) Chứng cứ để chứng minh tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định bị can, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự; có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự hoặc là chứng cứ xác định tình tiết định khung hình phạt; h) Chứng cứ để chứng minh những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định lý lịch tư pháp của bị can, bị cáo; i) Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, hậu quả (vật chất và phi vật chất) của hành vi phạm tội trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt; k) Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, như: Chứng cứ để xác định chính xác tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc xác định chính xác tuổi của người bị hại là trẻ em; chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức... 3. Điều kiện để trả hồ sơ điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án: a) Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; b) Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà xét thấy không thể bổ sung tại phiên tòa được; c) Không trả hồ sơ nếu là chứng cứ quan trọng nhưng nếu thiếu cũng truy tố, xét xử được hoặc không thể thu thập được. Ví dụ 1: Có 3 người làm chứng nhưng chỉ xác định được 2 người. Ví dụ 2: Hiện trường đã bị thay đổi không thể xem xét lại được hay vật chứng đã mất không thể tìm được. Điều 2. Căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác 1.”Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác” quy định tại khoản 2 Điều 168 của BLTTHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; b) Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác; c) Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can. 2. Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của BLTTHS. Điều 3. Căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác 1. “Có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 của BLTTHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; b) Ngoài tội phạm đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội khác; c) Ngoài bị can (bị cáo) đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án, nhưng chưa được khởi tố bị can. 2. Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Trường hợp thuộc điểm a khoản 1 Điều này, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố; b) Đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án của Cơ quan điều tra nhưng có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của BLTTHS. Điều 4. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng 1. “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” quy định tại khoản 3 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án. 2. Những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự: a) Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của BLTTHS phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng đã không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền; b) Không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của BLTTHS; c) Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ; d) Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của BLTTHS; đ) Nhập vụ án hoặc tách vụ án không có căn cứ và trái với quy định tại Điều 117 của BLTTHS; e) Không giao các lệnh, quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo theo đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo; g) Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội (tuổi, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo); h) Không có người phiên dịch cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc họ là người câm, điếc theo quy định tại Điều 61 của BLTTHS; i) Không từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng trong các trường hợp quy định tại Điều 42, Điều 60 và Điều 61 của BLTTHS; k) Việc điều tra, thu thập chứng cứ quan trọng đối với vụ án không đúng trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự; l) Chứng cứ, tài liệu quan trọng đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt làm sai lệch hồ sơ vụ án; m) Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền phân công điều tra vụ án cụ thể; n) Có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật; o) Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của họ; p) Những trường hợp khác được xác định theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này nhưng phải ghi rõ trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mặc dù “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” theo hướng dẫn tại khoản 1 và được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; b) Bị can (bị cáo) là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nhưng đến khi truy tố, xét xử bị can (bị cáo) đã đủ 18 tuổi. Điều 5. Trả hồ sơ và thời hạn điều tra bổ sung 1. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời hạn quyết định truy tố quy định tại khoản 1 Điều 166 của BLTTHS. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 2 Điều 176 của BLTTHS. Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 199 của BLTTHS. 2. Để không trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, Viện kiểm sát, Tòa án phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án để phát hiện các trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và phải kịp thời ra quyết định, không được để hết thời hạn quyết định truy tố hoặc hết thời hạn chuẩn bị xét xử mới ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Thời hạn điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của BLTTHS; cụ thể là thời hạn do Viện kiểm sát trả hồ sơ không quá hai tháng; do Tòa án trả hồ sơ không quá một tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung đến khi Cơ quan điều tra có bản kết luận điều tra bổ sung. Điều 6. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ra quyết định bằng văn bản và do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ký. 2. Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi số, ngày, tháng, năm và lần trả hồ sơ (thứ nhất hoặc thứ hai). Trong phần nội dung phải ghi cụ thể “những chứng cứ quan trọng đối với vụ án” cần phải điều tra bổ sung, “tội phạm khác hoặc người đồng phạm khác” phải khởi tố, truy tố hoặc “những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” cần được khắc phục và nêu rõ căn cứ pháp luật quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 168 hoặc một trong các điểm a, b và c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS. 3. Trong trường hợp tiếp tục phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì trong Quyết định phải nêu rõ những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung lần trước chưa được điều tra bổ sung hoặc đã điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quả điều tra bổ sung làm phát sinh vấn đề mới cần điều tra. Điều 7. Thực hiện quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS; nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 2 và 4 của Thông tư này thì sau khi nhận hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, quan điểm đối với việc giải quyết vụ án và chuyển lại hồ sơ cho Viện kiểm sát. 2. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án, nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà không thể tự mình bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 3 và 4 Thông tư này thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 179 của BLTTHS. 3. Sau khi kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung, trong đó kết luận rõ đối với từng vấn đề điều tra bổ sung và quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ theo thẩm quyền quy định tại Điều 164 và Điều 169 của BLTTHS. 4. Nếu kết quả điều tra bổ sung không làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án; nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành cáo trạng mới thay thế cáo trạng cũ và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử. Điều 8. Phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra 1. Nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ ngay từ khi tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải chủ động gửi đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên đã thu thập, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên để điều tra làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án; đồng thời kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc điều tra vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. 2. Trước khi kết thúc điều tra vụ án ít nhất mười ngày, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá các chứng cứ, tài liệu đã thu thập, bảo đảm đầy đủ, hợp pháp; nếu phát hiện còn thiếu chứng cứ, vi phạm thủ tục tố tụng hoặc còn bỏ lọt tội phạm, người phạm tội khác thì phải bổ sung, khắc phục ngay trong giai đoạn điều tra. Đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp trước khi kết thúc điều tra vụ án, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải tiến hành sơ kết, đánh giá toàn diện kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo điều tra giải quyết những vấn đề còn mâu thuẫn, tồn tại và quyết định việc kết thúc điều tra, hướng xử lý vụ án theo đúng theo quy định của pháp luật. Điều 9. Phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn truy tố 1. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ, kiểm tra việc tuân thủ các thủ tục tố tụng, tính đầy đủ của các tài liệu, chứng cứ trong vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung tổng hợp đối với từng bị can trong vụ án. Nếu thấy còn thiếu chứng cứ, tài liệu hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng mà tự mình có thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phối hợp với Điều tra viên để bổ sung, khắc phục kịp thời; trường hợp không thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn vị để xem xét, quyết định. 2. Trong thời hạn truy tố, nếu thấy vụ án có những vấn đề phức tạp về chứng cứ, tội danh, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn vị để trao đổi với Cơ quan điều tra, Tòa án về hướng giải quyết vụ án. 3. Nếu thấy việc điều tra bổ sung phức tạp, Viện kiểm sát chủ động tổ chức họp liên ngành để làm rõ những vấn đề cần phải điều tra bổ sung nhằm bảo đảm việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đúng trọng tâm, triệt để và kịp thời. 4. Trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp không thống nhất được với nhau về việc điều tra bổ sung, thì cơ quan tố tụng đang thụ lý hồ sơ vụ án phải thay mặt lãnh đạo liên ngành báo cáo lãnh đạo liên ngành cấp trên xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án. Điều 10. Phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn xét xử 1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng, có vi phạm thủ tục tố tụng, bị can phạm vào tội khác hoặc có đồng phạm khác, thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa trao đổi với Kiểm sát viên để có biện pháp khắc phục kịp thời hoặc có thể bổ sung được tại phiên tòa mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nếu Kiểm sát viên và Thẩm phán chưa thống nhất ý kiến, thì báo cáo lãnh đạo liên ngành xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án. 2. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Hội đồng xét xử làm rõ những chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Trong trường hợp phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp mà không bổ sung được, thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và giao cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm nếu phát hiện có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát cấp dưới trao đổi với Tòa án cùng cấp để làm rõ những vấn đề điều tra bổ sung trước khi Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định. Điều 11. Quản lý việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm quản lý việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở cấp mình. Viện kiểm sát có trách nhiệm quản lý về số vụ, số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp. Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, đánh giá tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung của cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh và cấp huyện thuộc địa phương quản lý. 2. Định kỳ (hàng tháng, hàng quý, sáu tháng, một năm) từng cơ quan tiến hành tố tụng phải tự đánh giá, xác định số vụ trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong đó, phải phân tích lý do trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ, về tố tụng hoặc liên quan đến việc khởi tố vụ án, bị can (thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố); số vụ trả có căn cứ, số vụ trả không có căn cứ; nguyên nhân và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những người tiến hành tố tụng trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Cách tính tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát, Tòa án như sau: a) Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát bằng số vụ án hình sự do Viện kiểm sát đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung có căn cứ trên tổng số vụ Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị truy tố (bao gồm cả số vụ kết thúc điều tra cũ chưa giải quyết và số vụ mới); Ví dụ: Năm 2009 Viện kiểm sát tỉnh H đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 9 vụ được Cơ quan điều tra chấp nhận trong tổng số 150 vụ (cũ 10 vụ, mới 140 vụ) mà Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát truy tố, thì tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra là 6% (9 vụ: 150 vụ x 100%). b) Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án bằng số vụ án hình sự do Tòa án đã quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ trên tổng số vụ Viện kiểm sát đã truy tố và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử (bao gồm cả số vụ truy tố cũ chưa giải quyết và số vụ truy tố mới); Ví dụ: Năm 2009 Tòa án đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 5 vụ được Viện kiểm sát chấp nhận trong tổng số 100 vụ (cũ 10 vụ mới 90 vụ) mà Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử, thì tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án đối với Viện kiểm sát là 5% (5 vụ: 100 vụ x 100%). c) Trường hợp cùng một vụ án nhưng Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần, thì tính là 01 vụ và phân tích là trả nhiều lần; d) Trường hợp vụ án do Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, sau đó Viện kiểm sát lại trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, thì tính là 01 vụ và phân tích là trả 01 lần (vụ án được tính do Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung). Điều 12. Xác định trách nhiệm trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Trách nhiệm thuộc Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong những trường hợp sau đây: a) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, kịp thời yêu cầu điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát dẫn đến vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề mà Viện kiểm sát đã yêu cầu điều tra; b) Không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra vụ án theo yêu cầu của Kiểm sát viên làm cho Kiểm sát viên không nắm được nội dung vụ án để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra dẫn đến Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với vụ án. 2. Trách nhiệm thuộc Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong những trường hợp sau đây: a) Không đề ra yêu cầu điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề có thể phát hiện được dẫn đến sau đó vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ pháp luật và Cơ quan điều tra có văn bản giữ nguyên kết luận điều tra, sau đó Viện kiểm sát quyết định truy tố như đề nghị của Cơ quan điều tra. 3. Trách nhiệm thuộc Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử trong trường hợp quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ pháp luật và Viện kiểm sát có văn bản giữ nguyên quyết định truy tố, sau đó Tòa án xét xử vụ án như đề nghị của Viện kiểm sát. 4. Khi có trường hợp được hướng dẫn tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, Lãnh đạo cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm cụ thể của từng người tiến hành tố tụng ở mỗi cấp có liên quan đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật và có biện pháp khắc phục. Điều 13. Điều khoản thi hành Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những hướng dẫn trước đây của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao trái với những hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần hướng dẫn thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho cơ quan cấp trên là Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để thống nhất có giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=26186&Keyword=
2025-09-24T02:35:43.918035
../data\bocongan\012010TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung __________________________________ Để thi hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Điều 1. Chứng cứ quan trọng đối với vụ án 1. “Chứng cứ quan trọng đối với vụ án” quy định tại khoản 1 Điều 168 và điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTHS là chứng cứ quy định tại Điều 64 của BLTTHS dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS và nếu thiếu chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. 2. Thiếu chứng cứ sau đây là trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án: a) Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ để xác định hành vi xảy ra đó có đủ yếu tố của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính. . ); b) Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào; c) Chứng cứ để chứng minh “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định một con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó; d) Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là chứng cứ xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi hay không có lỗi; nếu có lỗi thì thuộc trường hợp lỗi cố ý (lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp) hoặc lỗi vô ý (lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả) theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Bộ luật hình sự; đ) Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự hay không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không và nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào; e) Chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định người thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì và trong trường hợp mục đích, động cơ phạm tội là yếu tố tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc là yếu tố (tình tiết) của cấu thành tội phạm hoặc là yếu tố (tình tiết) định khung hình phạt; g) Chứng cứ để chứng minh tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định bị can, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự; có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự hoặc là chứng cứ xác định tình tiết định khung hình phạt; h) Chứng cứ để chứng minh những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định lý lịch tư pháp của bị can, bị cáo; i) Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, hậu quả (vật chất và phi vật chất) của hành vi phạm tội trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt; k) Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, như: Chứng cứ để xác định chính xác tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc xác định chính xác tuổi của người bị hại là trẻ em; chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức. . 3. Điều kiện để trả hồ sơ điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án: a) Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; b) Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án được hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà xét thấy không thể bổ sung tại phiên tòa được; c) Không trả hồ sơ nếu là chứng cứ quan trọng nhưng nếu thiếu cũng truy tố, xét xử được hoặc không thể thu thập được. Ví dụ 1: Có 3 người làm chứng nhưng chỉ xác định được 2 người. Ví dụ 2: Hiện trường đã bị thay đổi không thể xem xét lại được hay vật chứng đã mất không thể tìm được. Điều 2. Căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác 1. ”Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác” quy định tại khoản 2 Điều 168 của BLTTHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; b) Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác; c) Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can. 2. Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của BLTTHS. Điều 3. Căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác 1. “Có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 của BLTTHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; b) Ngoài tội phạm đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội khác; c) Ngoài bị can (bị cáo) đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án, nhưng chưa được khởi tố bị can. 2. Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Trường hợp thuộc điểm a khoản 1 Điều này, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố; b) Đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án của Cơ quan điều tra nhưng có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 117 của BLTTHS. Điều 4. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng 1. “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” quy định tại khoản 3 Điều 168 và điểm c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án. 2. Những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự: a) Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của BLTTHS phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng đã không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền; b) Không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của BLTTHS; c) Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ; d) Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của BLTTHS; đ) Nhập vụ án hoặc tách vụ án không có căn cứ và trái với quy định tại Điều 117 của BLTTHS; e) Không giao các lệnh, quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo theo đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo; g) Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội (tuổi, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo); h) Không có người phiên dịch cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc họ là người câm, điếc theo quy định tại Điều 61 của BLTTHS; i) Không từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng trong các trường hợp quy định tại Điều 42, Điều 60 và Điều 61 của BLTTHS; k) Việc điều tra, thu thập chứng cứ quan trọng đối với vụ án không đúng trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự; l) Chứng cứ, tài liệu quan trọng đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt làm sai lệch hồ sơ vụ án; m) Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền phân công điều tra vụ án cụ thể; n) Có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật; o) Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của họ; p) Những trường hợp khác được xác định theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này nhưng phải ghi rõ trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mặc dù “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” theo hướng dẫn tại khoản 1 và được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; b) Bị can (bị cáo) là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nhưng đến khi truy tố, xét xử bị can (bị cáo) đã đủ 18 tuổi. Điều 5. Trả hồ sơ và thời hạn điều tra bổ sung 1. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời hạn quyết định truy tố quy định tại khoản 1 Điều 166 của BLTTHS. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 2 Điều 176 của BLTTHS. Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 199 của BLTTHS. 2. Để không trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, Viện kiểm sát, Tòa án phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án để phát hiện các trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và phải kịp thời ra quyết định, không được để hết thời hạn quyết định truy tố hoặc hết thời hạn chuẩn bị xét xử mới ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Thời hạn điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của BLTTHS; cụ thể là thời hạn do Viện kiểm sát trả hồ sơ không quá hai tháng; do Tòa án trả hồ sơ không quá một tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung đến khi Cơ quan điều tra có bản kết luận điều tra bổ sung. Điều 6. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ra quyết định bằng văn bản và do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ký. 2. Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi số, ngày, tháng, năm và lần trả hồ sơ (thứ nhất hoặc thứ hai). Trong phần nội dung phải ghi cụ thể “những chứng cứ quan trọng đối với vụ án” cần phải điều tra bổ sung, “tội phạm khác hoặc người đồng phạm khác” phải khởi tố, truy tố hoặc “những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” cần được khắc phục và nêu rõ căn cứ pháp luật quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 168 hoặc một trong các điểm a, b và c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS. 3. Trong trường hợp tiếp tục phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì trong Quyết định phải nêu rõ những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung lần trước chưa được điều tra bổ sung hoặc đã điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quả điều tra bổ sung làm phát sinh vấn đề mới cần điều tra. Điều 7. Thực hiện quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS; nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 2 và 4 của Thông tư này thì sau khi nhận hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, quan điểm đối với việc giải quyết vụ án và chuyển lại hồ sơ cho Viện kiểm sát. 2. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án, nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà không thể tự mình bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 3 và 4 Thông tư này thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 179 của BLTTHS. 3. Sau khi kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung, trong đó kết luận rõ đối với từng vấn đề điều tra bổ sung và quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ theo thẩm quyền quy định tại Điều 164 và Điều 169 của BLTTHS. 4. Nếu kết quả điều tra bổ sung không làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án; nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành cáo trạng mới thay thế cáo trạng cũ và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử. Điều 8. Phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra 1. Nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ ngay từ khi tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải chủ động gửi đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên đã thu thập, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên để điều tra làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án; đồng thời kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc điều tra vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. 2. Trước khi kết thúc điều tra vụ án ít nhất mười ngày, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá các chứng cứ, tài liệu đã thu thập, bảo đảm đầy đủ, hợp pháp; nếu phát hiện còn thiếu chứng cứ, vi phạm thủ tục tố tụng hoặc còn bỏ lọt tội phạm, người phạm tội khác thì phải bổ sung, khắc phục ngay trong giai đoạn điều tra. Đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp trước khi kết thúc điều tra vụ án, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải tiến hành sơ kết, đánh giá toàn diện kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo điều tra giải quyết những vấn đề còn mâu thuẫn, tồn tại và quyết định việc kết thúc điều tra, hướng xử lý vụ án theo đúng theo quy định của pháp luật. Điều 9. Phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn truy tố 1. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ, kiểm tra việc tuân thủ các thủ tục tố tụng, tính đầy đủ của các tài liệu, chứng cứ trong vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung tổng hợp đối với từng bị can trong vụ án. Nếu thấy còn thiếu chứng cứ, tài liệu hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng mà tự mình có thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phối hợp với Điều tra viên để bổ sung, khắc phục kịp thời; trường hợp không thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn vị để xem xét, quyết định. 2. Trong thời hạn truy tố, nếu thấy vụ án có những vấn đề phức tạp về chứng cứ, tội danh, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn vị để trao đổi với Cơ quan điều tra, Tòa án về hướng giải quyết vụ án. 3. Nếu thấy việc điều tra bổ sung phức tạp, Viện kiểm sát chủ động tổ chức họp liên ngành để làm rõ những vấn đề cần phải điều tra bổ sung nhằm bảo đảm việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đúng trọng tâm, triệt để và kịp thời. 4. Trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp không thống nhất được với nhau về việc điều tra bổ sung, thì cơ quan tố tụng đang thụ lý hồ sơ vụ án phải thay mặt lãnh đạo liên ngành báo cáo lãnh đạo liên ngành cấp trên xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án. Điều 10. Phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn xét xử 1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng, có vi phạm thủ tục tố tụng, bị can phạm vào tội khác hoặc có đồng phạm khác, thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa trao đổi với Kiểm sát viên để có biện pháp khắc phục kịp thời hoặc có thể bổ sung được tại phiên tòa mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nếu Kiểm sát viên và Thẩm phán chưa thống nhất ý kiến, thì báo cáo lãnh đạo liên ngành xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án. 2. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Hội đồng xét xử làm rõ những chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Trong trường hợp phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp mà không bổ sung được, thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và giao cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm nếu phát hiện có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát cấp dưới trao đổi với Tòa án cùng cấp để làm rõ những vấn đề điều tra bổ sung trước khi Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định. Điều 11. Quản lý việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm quản lý việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở cấp mình. Viện kiểm sát có trách nhiệm quản lý về số vụ, số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp. Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, đánh giá tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung của cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh và cấp huyện thuộc địa phương quản lý. 2. Định kỳ (hàng tháng, hàng quý, sáu tháng, một năm) từng cơ quan tiến hành tố tụng phải tự đánh giá, xác định số vụ trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong đó, phải phân tích lý do trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ, về tố tụng hoặc liên quan đến việc khởi tố vụ án, bị can (thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố); số vụ trả có căn cứ, số vụ trả không có căn cứ; nguyên nhân và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những người tiến hành tố tụng trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 3. Cách tính tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát, Tòa án như sau: a) Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát bằng số vụ án hình sự do Viện kiểm sát đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung có căn cứ trên tổng số vụ Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị truy tố (bao gồm cả số vụ kết thúc điều tra cũ chưa giải quyết và số vụ mới); Ví dụ: Năm 2009 Viện kiểm sát tỉnh H đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 9 vụ được Cơ quan điều tra chấp nhận trong tổng số 150 vụ (cũ 10 vụ, mới 140 vụ) mà Cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát truy tố, thì tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra là 6% (9 vụ: 150 vụ x 100%). b) Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án bằng số vụ án hình sự do Tòa án đã quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ trên tổng số vụ Viện kiểm sát đã truy tố và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử (bao gồm cả số vụ truy tố cũ chưa giải quyết và số vụ truy tố mới); Ví dụ: Năm 2009 Tòa án đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 5 vụ được Viện kiểm sát chấp nhận trong tổng số 100 vụ (cũ 10 vụ mới 90 vụ) mà Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử, thì tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án đối với Viện kiểm sát là 5% (5 vụ: 100 vụ x 100%). c) Trường hợp cùng một vụ án nhưng Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần, thì tính là 01 vụ và phân tích là trả nhiều lần; d) Trường hợp vụ án do Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, sau đó Viện kiểm sát lại trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, thì tính là 01 vụ và phân tích là trả 01 lần (vụ án được tính do Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung). Điều 12. Xác định trách nhiệm trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1. Trách nhiệm thuộc Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong những trường hợp sau đây: a) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, kịp thời yêu cầu điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát dẫn đến vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề mà Viện kiểm sát đã yêu cầu điều tra; b) Không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra vụ án theo yêu cầu của Kiểm sát viên làm cho Kiểm sát viên không nắm được nội dung vụ án để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra dẫn đến Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với vụ án. 2. Trách nhiệm thuộc Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong những trường hợp sau đây: a) Không đề ra yêu cầu điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề có thể phát hiện được dẫn đến sau đó vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ pháp luật và Cơ quan điều tra có văn bản giữ nguyên kết luận điều tra, sau đó Viện kiểm sát quyết định truy tố như đề nghị của Cơ quan điều tra. 3. Trách nhiệm thuộc Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử trong trường hợp quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ pháp luật và Viện kiểm sát có văn bản giữ nguyên quyết định truy tố, sau đó Tòa án xét xử vụ án như đề nghị của Viện kiểm sát. 4. Khi có trường hợp được hướng dẫn tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, Lãnh đạo cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm cụ thể của từng người tiến hành tố tụng ở mỗi cấp có liên quan đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật và có biện pháp khắc phục. Điều 13. Điều khoản thi hành Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những hướng dẫn trước đây của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao trái với những hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần hướng dẫn thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho cơ quan cấp trên là Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để thống nhất có giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ
01/2011/TT-BCA
18/01/2011
Thông tư
08/03/2011
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Lê Hồng Anh
Toàn quốc
Thông tư Quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ Căn cứ Nghị định số 37/2009/NĐ-CP ngày 23-4-2009 quy định các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ Công an quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội của lực lượng Cảnh sát bảo vệ như sau: Ch­ương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội (gọi chung là mục tiêu) của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ (gọi chung là cán bộ, chiến sĩ) thuộc lực lượng Cảnh sát bảo vệ và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến công tác bảo vệ mục tiêu. Điều 3. Nguyên tắc vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Tuân thủ quy định tại Nghị định số 37/2009/NĐ-CP ngày 23-4-2009 quy định các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan và quy định của Thông tư này. 2. Bảo đảm vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu thường xuyên, liên tục 24/24 giờ. 3. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong Công an nhân dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời mọi hành vi xâm hại mục tiêu. Điều 4. Yêu cầu đối với cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Nắm vững và thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ được phân công trong quá trình vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu, chấp hành nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân. 3. Phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của người chỉ huy. Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phải chấp hành nghiêm sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của lãnh đạo cấp trên trực tiếp. 4. Khi tiếp xúc với người đến cơ quan có mục tiêu liên hệ công tác, phải có thái độ kính trọng, lịch sự và đúng mực. 5. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật và của Bộ Công an về tiếp xúc với người nước ngoài khi thi hành nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam. 6. Đối với những đơn vị được cơ quan có mục tiêu bố trí nơi ăn, ở, sinh hoạt trong khu vực mục tiêu thì cán bộ, chiến sĩ ngoài việc thực hiện tốt nội quy đơn vị còn phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an ninh, trật tự, an toàn của cơ quan có mục tiêu bảo vệ. 7. Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ thực hiện các hành vi sau đây trong khi làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ tại mục tiêu: a) Tiết lộ bí mật của ngành, bí mật về công việc, nhiệm vụ được giao; b) Nói chuyện với người không có nhiệm vụ; c) Hách dịch, gây khó khăn cho khách đến liên hệ công tác; d) Đeo kính đen, ngủ gật, vào hàng quán, uống rượu, bia, hút thuốc lá, làm việc riêng; đ) Bỏ vị trí, đi quá phạm vi quy định của vọng gác, phạm vi tuần tra, đốc gác đã được phân công; e) Tự ý xem hồ sơ, tài liệu của cơ quan có mục tiêu bảo vệ; g) Vào trong mục tiêu là trụ sở Đại sứ quán, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan đại diện các tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc tại Việt Nam khi chưa được phép của cấp có thẩm quyền; h) Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu để làm những việc trái pháp luật hoặc gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành, của đơn vị; i) Các hành vi vi phạm khác liên quan đến công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu. Điều 5. Phương pháp vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác và khu vực bảo vệ. 2. Cơ động tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu. 3. Giám sát, bảo vệ mục tiêu bằng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Chư­ơng II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 6. Điều tra cơ bản đối với mục tiêu được giao canh gác bảo vệ 1. Các mục tiêu được giao canh gác bảo vệ đều phải được tiến hành điều tra cơ bản theo quy định của Bộ Công an nhằm thu thập các thông tin, tài liệu về tình hình có liên quan, phục vụ công tác phòng ngừa các hành vi xâm hại mục tiêu và chủ động có kế hoạch, biện pháp bảo vệ an toàn mục tiêu. Thông tin, tài liệu thu thập được phải được xác minh, phân tích, tổng hợp bảo đảm tính khách quan, chính xác. 2. Hồ sơ điều tra cơ bản phải được lập, đăng ký, quản lý theo quy định của Bộ Công an; thường xuyên bổ sung, điều chỉnh thông tin, tài liệu và sắp xếp hệ thống theo thời gian, bảo đảm đầy đủ, chặt chẽ, phục vụ có hiệu quả công tác nghiên cứu, khai thác sử dụng. Điều 7. Xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở bí mật phục vụ công tác bảo vệ mục tiêu 1. Căn cứ đặc điểm, tính chất mục tiêu cần bảo vệ và tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội có liên quan đến công tác bảo vệ mục tiêu để xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật phục vụ công tác bảo vệ mục tiêu. Việc xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở bí mật được thực hiện theo quy định của Bộ Công an. 2. Lý lịch của người được tuyển chọn làm cơ sở bí mật phải được lãnh đạo cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3. Hồ sơ cá nhân của cơ sở bí mật phải được lập, đăng ký, quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ của Bộ Công an. 4. Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ phụ trách công tác bảo vệ mục tiêu và Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Công an cấp tỉnh) trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý cơ sở bí mật thuộc đơn vị, địa phương mình phụ trách. Điều 8 . Xây dựng phương án bảo vệ mục tiêu 1. Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu thuộc Cục Cảnh sát bảo vệ phải xây dựng phương án bảo vệ đối với các mục tiêu được giao nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ, gửi Phòng Hướng dẫn nghiệp vụ Cảnh sát bảo vệ thẩm định, trình Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ phê duyệt. 2. Phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động Công an cấp tỉnh xây dựng phương án bảo vệ đối với các mục tiêu do Công an cấp tỉnh giao nhiệm vụ bảo vệ, trình Giám đốc Công an cấp tỉnh phê duyệt. 3. Mỗi mục tiêu phải được xây dựng ít nhất một phương án bảo vệ. Đối với mục tiêu tiềm ẩn nguy cơ xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin thì ngoài phương án bảo vệ thường xuyên, phải xây dựng phương án tác chiến để xử lý tình huống nêu trên. 4. Nội dung phương án bảo vệ mục tiêu phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Khái quát đặc điểm, tình hình mục tiêu cần bảo vệ; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực có mục tiêu; b) Dự báo tình hình tội phạm và những nguy cơ tiềm ẩn gây mất an toàn cho mục tiêu; dự kiến các tình huống có thể xảy ra và phương án xử lý; c) Bố trí lực lượng, trang bị các loại phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ bảo đảm cho công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu. 5. Phương án bảo vệ mục tiêu phải được lưu tại đơn vị để theo dõi, kiểm tra và phải được thường xuyên tổ chức luyện tập. Điều 9. Nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Đối với mục tiêu bảo vệ là mục tiêu chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội a) Tập trung quan sát nắm tình hình, phát hiện những hiện tượng nghi vấn có liên quan đến an ninh, an toàn mục tiêu đang được bảo vệ, ghi chép đầy đủ vào sổ công tác và kịp thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị; b) H­ướng dẫn khách đến làm việc, thăm thân vào phòng thường trực hoặc nơi tiếp khách và thông báo cho cơ quan có mục tiêu bố trí người tiếp đón; c) Chủ động phát hiện các hiện tượng tụ tập đông người ở khu vực mục tiêu đang được bảo vệ, nắm tình hình, tìm hiểu nguyên nhân, trực tiếp giải thích và yêu cầu mọi người giải tán; nếu tình hình phức tạp phải kịp thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy để có biện pháp giải quyết; d) Kiểm soát người vào, ra khỏi mục tiêu; nếu phát hiện có nghi vấn phải kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, phương tiện, hành lý của người đó; đ) Phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi hành vi xâm nhập trái phép vào mục tiêu đang được bảo vệ. Trường hợp cố tình xâm nhập mục tiêu thì phải bắt và lập biên bản về hành vi xâm nhập đó, đồng thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và chuyển giao cơ quan Công an sở tại để có biện pháp xử lý; e) Bắt người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã giao cho cơ quan Công an sở tại; g) Bảo vệ hiện trường khi vụ việc xảy ra có dấu hiệu phạm tội, tai nạn xảy ra tại khu vực mục tiêu đang được bảo vệ; thu thập thông tin, báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và Công an sở tại về vụ việc đó; h) Lập biên bản các vụ việc vi phạm hành chính xảy ra tại khu vực mục tiêu đang được bảo vệ, chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý; i) Phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an và cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác bảo vệ an ninh, an toàn mục tiêu theo sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp có thẩm quyền. 2. Đối với mục tiêu ngoại giao là trụ sở Đại sứ quán, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan đại diện các tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc tại Việt Nam (gọi chung là cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam) a) Thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này; b) Bảo đảm an toàn trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; c) Kiểm soát người vào, ra khỏi trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nắm vững đặc điểm bên ngoài, phương tiện đi lại, thời gian vào, ra của họ, ghi chép, mô tả đầy đủ các thông tin thu thập được vào sổ nhật ký công tác và tập hợp, báo cáo Thủ trưởng theo quy định. Nếu phát hiện thấy hiện tượng khác thường hoặc có biểu hiện nghi vấn thì phải kịp thời ngăn chặn, báo cáo ngay chỉ huy đơn vị để có biện pháp giải quyết kịp thời; d) Ngăn chặn mọi hành vi xâm nhập, phá hoại trụ sở của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nếu phát hiện người có hành vi đột nhập mục tiêu, trộm cắp tài sản, tài liệu, phá hoại, tấn công vũ trang, bắt giữ con tin, đặt bom mìn, chất cháy, nổ, truyền đơn, dán, vẽ khẩu hiệu có nội dung phản động lên tường rào, hành lang mục tiêu bảo vệ và những hành vi khác xâm hại đến mục tiêu bảo vệ thì phải bắt, giao cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đ) Phối hợp với lực lượng bảo vệ của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để bảo vệ an toàn mục tiêu; e) Trường hợp cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam có yêu cầu trao đổi về biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn mục tiêu thì cán bộ cấp phòng và tương đương trở lên phụ trách công tác bảo vệ mục tiêu (ít nhất phải có 02 người) trực tiếp làm việc với người phụ trách an ninh của cơ quan đó để bàn về biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn cho cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nội dung trao đổi, làm việc phải được lập thành biên bản và hai bên cùng ký xác nhận. Kết quả làm việc phải được báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo cấp trên trực tiếp; g) Thực hiện quy định của pháp luật về ngoại giao và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Điều 10. Nhiệm vụ của cán bộ đốc gác 1. Nắm vững vị trí, phạm vi, đặc điểm, phương án bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ và những quy định của từng vọng gác trong ca mình phụ trách. Chịu trách nhiệm liên đới bảo vệ an toàn các mục tiêu theo phạm vi được phân công. 2. Gọi gác, kiểm tra vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ trang bị cho cán bộ, chiến sĩ gác, tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ huy dẫn đổi gác, duy trì thời gian ca gác. 3. Thường xuyên lưu động kiểm tra, đôn đốc cán bộ, chiến sĩ gác chấp hành quy định canh gác nhằm đảm bảo an toàn mục tiêu được phân công. 4. Trực tiếp chỉ huy cán bộ, chiến sĩ gác chủ động ngăn chặn kịp thời các hoạt động vũ trang tấn công hoặc đột nhập, phá hoại mục tiêu bảo vệ. 5. Hỗ trợ hoặc thay thế vị trí của cán bộ, chiến sĩ gác trong trường hợp cần thiết, như hỗ trợ giải quyết công việc tại mục tiêu, thay thế tạm thời khi cán bộ, chiến sĩ gác bị thương, ốm đau, tai nạn... đồng thời, báo cáo chỉ huy đơn vị biết, chủ động bố trí lực lượng tăng cường. 6. Báo cáo với chỉ huy hoặc bàn giao lại cho cán bộ đốc gác kế tiếp về tình hình mục tiêu trong ca mình phụ trách, biện pháp giải quyết vụ việc xảy ra có ảnh hưởng đến an toàn mục tiêu bảo vệ. Điều 11. Trang bị và sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ 1. Đơn vị Cảnh sát bảo vệ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện chở quân, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin liên lạc để thực hiện nhiệm vụ. 2. Cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ do cấp có thẩm quyền quyết định căn cứ vào đặc điểm, tình hình mục tiêu được giao bảo vệ. 3. Việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Công an. Điều 12. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác 1. Căn cứ đặc điểm, tính chất, phạm vi của mục tiêu cần bảo vệ để bố trí số lượng vọng gác cho phù hợp. Mỗi mục tiêu có thể bố trí một hoặc nhiều vọng gác như­ng ít nhất phải có 01 vọng gác trung tâm thường trực 24/24 giờ và phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Bao quát được mục tiêu cần bảo vệ; b) Kiểm soát tình hình để chủ động ngăn chặn, xử lý kịp thời các tình huống làm ảnh h­ưởng tới sự an toàn của mục tiêu; c) Hỗ trợ kịp thời giữa các vọng gác khi có tình h­uống xảy ra. 2.  Mỗi vọng gác được biên chế 08 (tám) cán bộ, chiến sĩ trực tiếp canh gác, trong đó chiến sĩ phục vụ có thời hạn không quá 60% tổng biên chế quân số của vọng gác. 3. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác được chia thành nhiều ca gác, mỗi ca gác phải bảo đảm ít nhất có một cán bộ, chiến sĩ gác tại vọng gác. Nếu vọng gác ở xa trụ sở chỉ huy, khó khăn trong việc huy động lực lượng hoặc do tính chất đặc thù của mục tiêu bảo vệ, có thể bố trí từ hai cán bộ, chiến sĩ trở lên cùng một lúc gác tại một vọng gác và phải có phương án huy động lực lượng để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho mục tiêu bảo vệ. Trường hợp một mục tiêu có nhiều vọng gác, thì mỗi ca gác phải cử một người làm tổ trưởng ca gác, đồng thời là người chỉ huy của ca gác đó và phải trực tiếp gác ở vọng gác trung tâm để thuận tiện cho việc chỉ huy, nắm tình hình. Điều 13. Cơ động tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu 1. Chỉ huy đơn vị vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu căn cứ vào đặc điểm, tình hình, tính chất của mục tiêu, địa hình khu vực mục tiêu để bố trí lực lượng, phương thức tuần tra kiểm soát và xác định phạm vi, địa bàn tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phù hợp. Việc tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu có thể thực hiện bằng phương tiện cơ giới hoặc đi bộ, đội hình tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phải có ít nhất từ 02 (hai) người trở lên. 2. Khi tiến hành tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phải đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, không tuần tra kiểm soát theo quy luật, tăng cường tuần tra vào những giờ cao điểm. 3. Tuần tra kiểm soát xung quanh mục tiêu, đặc biệt chú trọng những điểm xung yếu, những vị trí khuất tầm quan sát của người gác tại vọng gác. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi đột nhập mục tiêu và các hành vi khác gây nguy hại cho mục tiêu cần bảo vệ. 4. Hỗ trợ chiến sĩ gác tại vọng gác trong việc giải quyết các tình huống xảy ra tại mục tiêu. 5. Tham gia giữ gìn trật tự, an toàn xã hội xung quanh mục tiêu cần bảo vệ. Bắt người đang có lệnh truy nã, người phạm tội quả tang trong phạm vi khu vực tuần tra kiểm soát, bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. Điều 14. Giám sát, bảo vệ mục tiêu bằng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ 1. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ được sử dụng camera, bục gác chống đạn, thiết bị kiểm tra phát hiện kim loại và các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ khác để giám sát, bảo vệ mục tiêu. 2. Căn cứ đặc điểm, tính chất của mục tiêu cần bảo vệ, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát, bảo vệ mục tiêu. Điều 15. Giải quyết các tình huống xảy ra tại mục tiêu 1. Đối với những vụ, việc đơn giản, ít phức tạp thì cán bộ, chiến sĩ gác trực tiếp giải quyết; cán bộ đốc gác chỉ huy cán bộ, chiến sĩ gác giải quyết vụ việc bảo đảm đúng người, đúng pháp luật và báo cáo tình hình giải quyết vụ, việc với chỉ huy đơn vị. 2. Đối với những tình huống phức tạp, chỉ huy đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu báo cáo lãnh đạo cấp trên trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo, trực tiếp chỉ huy việc giải quyết tình huống; bố trí lực lượng thành các tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ tham gia giải quyết tình huống. 3. Đối với các tình huống đặc biệt nghiêm trọng xảy ra như khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin: a) Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Giám đốc Công an cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo việc huy động lực lượng, phương tiện tham gia giải quyết tình huống tại mục tiêu do đơn vị mình bố trí lực lượng bảo vệ; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nghiệp vụ Công an, lực lượng Quân đội, cơ quan có mục tiêu, chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan; b) Trường hợp cần thiết, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Giám đốc Công an cấp tỉnh báo cáo Bộ trưởng quyết định điều động lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát đặc nhiệm của Bộ và các lực lượng chức năng khác thuộc Bộ Công an, Công an cấp tỉnh để phối hợp giải quyết tình huống. Điều 16. Chế độ báo cáo 1. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phải báo cáo ngay với chỉ huy đơn vị trong các trường hợp sau: a) Có vụ việc xảy ra trong phạm vi khu vực mục tiêu, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn mục tiêu được bảo vệ; b) Phát hiện đối tượng có hành vi đột nhập mục tiêu; c) Phát hiện những hiện tượng nghi vấn, hoạt động trái quy luật của cán bộ, nhân viên của cơ quan có mục tiêu bảo vệ, kể cả nhân viên ngoại giao; d) Phát hiện những sự việc, hiện tượng khác gây mất trật tự, an toàn xã hội xung quanh mục tiêu được bảo vệ. 2. Chế độ báo cáo của đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu: a) Hằng ngày, báo cáo về tình hình công tác của đơn vị với chỉ huy đơn vị cấp trên trực tiếp; b) Định kỳ tuần, tháng, quý, sáu tháng, năm báo cáo về tình hình công tác của đơn vị với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cấp trên; c) Báo cáo đột xuất khi có vụ việc xảy ra; d) Trường hợp cần thiết như xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin, có thể báo cáo vượt cấp đến chỉ huy, lãnh đạo cấp có thẩm quyền giải quyết. Điều 17. Huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ Hàng năm cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ được huấn luyện về điều lệnh, quân sự, võ thuật, bắn súng và bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và các vấn đề khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát bảo vệ. Kinh phí huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ được phân bổ hàng năm theo quy định. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08-3-2011; thay thế Quy định về công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 215/2007/QĐ-BCA(C11 ) ngày 15-3-2007 của Bộ trưởng Bộ Công an. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội có trách nhiệm: a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này; b) Chỉ đạo Cục Cảnh sát bảo vệ tổ chức lực lượng bảo vệ các mục tiêu theo sự phân cấp của Bộ Công an; biên soạn tài liệu và tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng Cảnh sát bảo vệ; nghiên cứu xây dựng dự án và lập dự trù kinh phí trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, xây dựng vọng gác phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 2. Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nghiên cứu, đề xuất Bộ trưởng quyết định về mô hình tổ chức, biên chế lực lượng Cảnh sát bảo vệ, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, quân sự, võ thuật và các vấn đề khác có liên quan cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ. 3. Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nghiên cứu, đề xuất trang bị vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ phù hợp phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 4. Cục trưởng Cục Tài chính có trách nhiệm thẩm định, trình lãnh đạo Bộ phê duyệt kinh phí trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, xây dựng vọng gác, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 5. Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội và Công an cấp tỉnh xác định những mục tiêu có khả năng xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin; xây dựng phương án tác chiến, tổ chức diễn tập phương án; bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện tham gia giải quyết các tình huống xảy ra. 6. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác, bảo vệ các mục tiêu tại địa phương theo phân cấp của Bộ Công an. 7. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu, phối hợp giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội xảy ra tại mục tiêu; tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội) để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=135694&Keyword=
2025-09-24T02:30:17.709464
../data\bocongan\012011TT-BCA\document.json
null
Thông tư Quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ Căn cứ Nghị định số 37/2009/NĐ - CP ngày 23 - 4 - 2009 quy định các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 - 9 - 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ Công an quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội của lực lượng Cảnh sát bảo vệ như sau: Ch­ương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về hoạt động vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội (gọi chung là mục tiêu) của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Công an các đơn vị, địa phương; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ (gọi chung là cán bộ, chiến sĩ) thuộc lực lượng Cảnh sát bảo vệ và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến công tác bảo vệ mục tiêu. Điều 3. Nguyên tắc vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Tuân thủ quy định tại Nghị định số 37/2009/NĐ - CP ngày 23 - 4 - 2009 quy định các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan và quy định của Thông tư này. 2. Bảo đảm vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu thường xuyên, liên tục 24/24 giờ. 3. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong Công an nhân dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời mọi hành vi xâm hại mục tiêu. Điều 4. Yêu cầu đối với cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Nắm vững và thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ được phân công trong quá trình vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu, chấp hành nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân. 3. Phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của người chỉ huy. Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phải chấp hành nghiêm sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của lãnh đạo cấp trên trực tiếp. 4. Khi tiếp xúc với người đến cơ quan có mục tiêu liên hệ công tác, phải có thái độ kính trọng, lịch sự và đúng mực. 5. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật và của Bộ Công an về tiếp xúc với người nước ngoài khi thi hành nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam. 6. Đối với những đơn vị được cơ quan có mục tiêu bố trí nơi ăn, ở, sinh hoạt trong khu vực mục tiêu thì cán bộ, chiến sĩ ngoài việc thực hiện tốt nội quy đơn vị còn phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an ninh, trật tự, an toàn của cơ quan có mục tiêu bảo vệ. 7. Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ thực hiện các hành vi sau đây trong khi làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ tại mục tiêu: a) Tiết lộ bí mật của ngành, bí mật về công việc, nhiệm vụ được giao; b) Nói chuyện với người không có nhiệm vụ; c) Hách dịch, gây khó khăn cho khách đến liên hệ công tác; d) Đeo kính đen, ngủ gật, vào hàng quán, uống rượu, bia, hút thuốc lá, làm việc riêng; đ) Bỏ vị trí, đi quá phạm vi quy định của vọng gác, phạm vi tuần tra, đốc gác đã được phân công; e) Tự ý xem hồ sơ, tài liệu của cơ quan có mục tiêu bảo vệ; g) Vào trong mục tiêu là trụ sở Đại sứ quán, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan đại diện các tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc tại Việt Nam khi chưa được phép của cấp có thẩm quyền; h) Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu để làm những việc trái pháp luật hoặc gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành, của đơn vị; i) Các hành vi vi phạm khác liên quan đến công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu. Điều 5. Phương pháp vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác và khu vực bảo vệ. 2. Cơ động tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu. 3. Giám sát, bảo vệ mục tiêu bằng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Chư­ơng II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 6. Điều tra cơ bản đối với mục tiêu được giao canh gác bảo vệ 1. Các mục tiêu được giao canh gác bảo vệ đều phải được tiến hành điều tra cơ bản theo quy định của Bộ Công an nhằm thu thập các thông tin, tài liệu về tình hình có liên quan, phục vụ công tác phòng ngừa các hành vi xâm hại mục tiêu và chủ động có kế hoạch, biện pháp bảo vệ an toàn mục tiêu. Thông tin, tài liệu thu thập được phải được xác minh, phân tích, tổng hợp bảo đảm tính khách quan, chính xác. 2. Hồ sơ điều tra cơ bản phải được lập, đăng ký, quản lý theo quy định của Bộ Công an; thường xuyên bổ sung, điều chỉnh thông tin, tài liệu và sắp xếp hệ thống theo thời gian, bảo đảm đầy đủ, chặt chẽ, phục vụ có hiệu quả công tác nghiên cứu, khai thác sử dụng. Điều 7. Xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở bí mật phục vụ công tác bảo vệ mục tiêu 1. Căn cứ đặc điểm, tính chất mục tiêu cần bảo vệ và tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội có liên quan đến công tác bảo vệ mục tiêu để xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật phục vụ công tác bảo vệ mục tiêu. Việc xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở bí mật được thực hiện theo quy định của Bộ Công an. 2. Lý lịch của người được tuyển chọn làm cơ sở bí mật phải được lãnh đạo cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3. Hồ sơ cá nhân của cơ sở bí mật phải được lập, đăng ký, quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ của Bộ Công an. 4. Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ phụ trách công tác bảo vệ mục tiêu và Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Công an cấp tỉnh) trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý cơ sở bí mật thuộc đơn vị, địa phương mình phụ trách. Điều 8. Xây dựng phương án bảo vệ mục tiêu 1. Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu thuộc Cục Cảnh sát bảo vệ phải xây dựng phương án bảo vệ đối với các mục tiêu được giao nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ, gửi Phòng Hướng dẫn nghiệp vụ Cảnh sát bảo vệ thẩm định, trình Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ phê duyệt. 2. Phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động Công an cấp tỉnh xây dựng phương án bảo vệ đối với các mục tiêu do Công an cấp tỉnh giao nhiệm vụ bảo vệ, trình Giám đốc Công an cấp tỉnh phê duyệt. 3. Mỗi mục tiêu phải được xây dựng ít nhất một phương án bảo vệ. Đối với mục tiêu tiềm ẩn nguy cơ xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin thì ngoài phương án bảo vệ thường xuyên, phải xây dựng phương án tác chiến để xử lý tình huống nêu trên. 4. Nội dung phương án bảo vệ mục tiêu phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Khái quát đặc điểm, tình hình mục tiêu cần bảo vệ; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực có mục tiêu; b) Dự báo tình hình tội phạm và những nguy cơ tiềm ẩn gây mất an toàn cho mục tiêu; dự kiến các tình huống có thể xảy ra và phương án xử lý; c) Bố trí lực lượng, trang bị các loại phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ bảo đảm cho công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu. 5. Phương án bảo vệ mục tiêu phải được lưu tại đơn vị để theo dõi, kiểm tra và phải được thường xuyên tổ chức luyện tập. Điều 9. Nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu 1. Đối với mục tiêu bảo vệ là mục tiêu chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội a) Tập trung quan sát nắm tình hình, phát hiện những hiện tượng nghi vấn có liên quan đến an ninh, an toàn mục tiêu đang được bảo vệ, ghi chép đầy đủ vào sổ công tác và kịp thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị; b) H­ướng dẫn khách đến làm việc, thăm thân vào phòng thường trực hoặc nơi tiếp khách và thông báo cho cơ quan có mục tiêu bố trí người tiếp đón; c) Chủ động phát hiện các hiện tượng tụ tập đông người ở khu vực mục tiêu đang được bảo vệ, nắm tình hình, tìm hiểu nguyên nhân, trực tiếp giải thích và yêu cầu mọi người giải tán; nếu tình hình phức tạp phải kịp thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy để có biện pháp giải quyết; d) Kiểm soát người vào, ra khỏi mục tiêu; nếu phát hiện có nghi vấn phải kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, phương tiện, hành lý của người đó; đ) Phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi hành vi xâm nhập trái phép vào mục tiêu đang được bảo vệ. Trường hợp cố tình xâm nhập mục tiêu thì phải bắt và lập biên bản về hành vi xâm nhập đó, đồng thời báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và chuyển giao cơ quan Công an sở tại để có biện pháp xử lý; e) Bắt người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã giao cho cơ quan Công an sở tại; g) Bảo vệ hiện trường khi vụ việc xảy ra có dấu hiệu phạm tội, tai nạn xảy ra tại khu vực mục tiêu đang được bảo vệ; thu thập thông tin, báo cáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và Công an sở tại về vụ việc đó; h) Lập biên bản các vụ việc vi phạm hành chính xảy ra tại khu vực mục tiêu đang được bảo vệ, chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý; i) Phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an và cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác bảo vệ an ninh, an toàn mục tiêu theo sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp có thẩm quyền. 2. Đối với mục tiêu ngoại giao là trụ sở Đại sứ quán, cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan đại diện các tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc tại Việt Nam (gọi chung là cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam) a) Thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này; b) Bảo đảm an toàn trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; c) Kiểm soát người vào, ra khỏi trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nắm vững đặc điểm bên ngoài, phương tiện đi lại, thời gian vào, ra của họ, ghi chép, mô tả đầy đủ các thông tin thu thập được vào sổ nhật ký công tác và tập hợp, báo cáo Thủ trưởng theo quy định. Nếu phát hiện thấy hiện tượng khác thường hoặc có biểu hiện nghi vấn thì phải kịp thời ngăn chặn, báo cáo ngay chỉ huy đơn vị để có biện pháp giải quyết kịp thời; d) Ngăn chặn mọi hành vi xâm nhập, phá hoại trụ sở của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nếu phát hiện người có hành vi đột nhập mục tiêu, trộm cắp tài sản, tài liệu, phá hoại, tấn công vũ trang, bắt giữ con tin, đặt bom mìn, chất cháy, nổ, truyền đơn, dán, vẽ khẩu hiệu có nội dung phản động lên tường rào, hành lang mục tiêu bảo vệ và những hành vi khác xâm hại đến mục tiêu bảo vệ thì phải bắt, giao cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đ) Phối hợp với lực lượng bảo vệ của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để bảo vệ an toàn mục tiêu; e) Trường hợp cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam có yêu cầu trao đổi về biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn mục tiêu thì cán bộ cấp phòng và tương đương trở lên phụ trách công tác bảo vệ mục tiêu (ít nhất phải có 02 người) trực tiếp làm việc với người phụ trách an ninh của cơ quan đó để bàn về biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn cho cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; nội dung trao đổi, làm việc phải được lập thành biên bản và hai bên cùng ký xác nhận. Kết quả làm việc phải được báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo cấp trên trực tiếp; g) Thực hiện quy định của pháp luật về ngoại giao và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Điều 10. Nhiệm vụ của cán bộ đốc gác 1. Nắm vững vị trí, phạm vi, đặc điểm, phương án bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ và những quy định của từng vọng gác trong ca mình phụ trách. Chịu trách nhiệm liên đới bảo vệ an toàn các mục tiêu theo phạm vi được phân công. 2. Gọi gác, kiểm tra vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ trang bị cho cán bộ, chiến sĩ gác, tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ huy dẫn đổi gác, duy trì thời gian ca gác. 3. Thường xuyên lưu động kiểm tra, đôn đốc cán bộ, chiến sĩ gác chấp hành quy định canh gác nhằm đảm bảo an toàn mục tiêu được phân công. 4. Trực tiếp chỉ huy cán bộ, chiến sĩ gác chủ động ngăn chặn kịp thời các hoạt động vũ trang tấn công hoặc đột nhập, phá hoại mục tiêu bảo vệ. 5. Hỗ trợ hoặc thay thế vị trí của cán bộ, chiến sĩ gác trong trường hợp cần thiết, như hỗ trợ giải quyết công việc tại mục tiêu, thay thế tạm thời khi cán bộ, chiến sĩ gác bị thương, ốm đau, tai nạn. . đồng thời, báo cáo chỉ huy đơn vị biết, chủ động bố trí lực lượng tăng cường. 6. Báo cáo với chỉ huy hoặc bàn giao lại cho cán bộ đốc gác kế tiếp về tình hình mục tiêu trong ca mình phụ trách, biện pháp giải quyết vụ việc xảy ra có ảnh hưởng đến an toàn mục tiêu bảo vệ. Điều 11. Trang bị và sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ 1. Đơn vị Cảnh sát bảo vệ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện chở quân, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin liên lạc để thực hiện nhiệm vụ. 2. Cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ do cấp có thẩm quyền quyết định căn cứ vào đặc điểm, tình hình mục tiêu được giao bảo vệ. 3. Việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Công an. Điều 12. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác 1. Căn cứ đặc điểm, tính chất, phạm vi của mục tiêu cần bảo vệ để bố trí số lượng vọng gác cho phù hợp. Mỗi mục tiêu có thể bố trí một hoặc nhiều vọng gác như­ng ít nhất phải có 01 vọng gác trung tâm thường trực 24/24 giờ và phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Bao quát được mục tiêu cần bảo vệ; b) Kiểm soát tình hình để chủ động ngăn chặn, xử lý kịp thời các tình huống làm ảnh h­ưởng tới sự an toàn của mục tiêu; c) Hỗ trợ kịp thời giữa các vọng gác khi có tình h­uống xảy ra. 2. Mỗi vọng gác được biên chế 08 (tám) cán bộ, chiến sĩ trực tiếp canh gác, trong đó chiến sĩ phục vụ có thời hạn không quá 60% tổng biên chế quân số của vọng gác. 3. Vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu tại vọng gác được chia thành nhiều ca gác, mỗi ca gác phải bảo đảm ít nhất có một cán bộ, chiến sĩ gác tại vọng gác. Nếu vọng gác ở xa trụ sở chỉ huy, khó khăn trong việc huy động lực lượng hoặc do tính chất đặc thù của mục tiêu bảo vệ, có thể bố trí từ hai cán bộ, chiến sĩ trở lên cùng một lúc gác tại một vọng gác và phải có phương án huy động lực lượng để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho mục tiêu bảo vệ. Trường hợp một mục tiêu có nhiều vọng gác, thì mỗi ca gác phải cử một người làm tổ trưởng ca gác, đồng thời là người chỉ huy của ca gác đó và phải trực tiếp gác ở vọng gác trung tâm để thuận tiện cho việc chỉ huy, nắm tình hình. Điều 13. Cơ động tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu 1. Chỉ huy đơn vị vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu căn cứ vào đặc điểm, tình hình, tính chất của mục tiêu, địa hình khu vực mục tiêu để bố trí lực lượng, phương thức tuần tra kiểm soát và xác định phạm vi, địa bàn tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phù hợp. Việc tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu có thể thực hiện bằng phương tiện cơ giới hoặc đi bộ, đội hình tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phải có ít nhất từ 02 (hai) người trở lên. 2. Khi tiến hành tuần tra kiểm soát bảo vệ mục tiêu phải đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, không tuần tra kiểm soát theo quy luật, tăng cường tuần tra vào những giờ cao điểm. 3. Tuần tra kiểm soát xung quanh mục tiêu, đặc biệt chú trọng những điểm xung yếu, những vị trí khuất tầm quan sát của người gác tại vọng gác. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi đột nhập mục tiêu và các hành vi khác gây nguy hại cho mục tiêu cần bảo vệ. 4. Hỗ trợ chiến sĩ gác tại vọng gác trong việc giải quyết các tình huống xảy ra tại mục tiêu. 5. Tham gia giữ gìn trật tự, an toàn xã hội xung quanh mục tiêu cần bảo vệ. Bắt người đang có lệnh truy nã, người phạm tội quả tang trong phạm vi khu vực tuần tra kiểm soát, bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. Điều 14. Giám sát, bảo vệ mục tiêu bằng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ 1. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ được sử dụng camera, bục gác chống đạn, thiết bị kiểm tra phát hiện kim loại và các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ khác để giám sát, bảo vệ mục tiêu. 2. Căn cứ đặc điểm, tính chất của mục tiêu cần bảo vệ, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát, bảo vệ mục tiêu. Điều 15. Giải quyết các tình huống xảy ra tại mục tiêu 1. Đối với những vụ, việc đơn giản, ít phức tạp thì cán bộ, chiến sĩ gác trực tiếp giải quyết; cán bộ đốc gác chỉ huy cán bộ, chiến sĩ gác giải quyết vụ việc bảo đảm đúng người, đúng pháp luật và báo cáo tình hình giải quyết vụ, việc với chỉ huy đơn vị. 2. Đối với những tình huống phức tạp, chỉ huy đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu báo cáo lãnh đạo cấp trên trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo, trực tiếp chỉ huy việc giải quyết tình huống; bố trí lực lượng thành các tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ tham gia giải quyết tình huống. 3. Đối với các tình huống đặc biệt nghiêm trọng xảy ra như khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin: a) Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Giám đốc Công an cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo việc huy động lực lượng, phương tiện tham gia giải quyết tình huống tại mục tiêu do đơn vị mình bố trí lực lượng bảo vệ; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nghiệp vụ Công an, lực lượng Quân đội, cơ quan có mục tiêu, chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan; b) Trường hợp cần thiết, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ, Giám đốc Công an cấp tỉnh báo cáo Bộ trưởng quyết định điều động lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát đặc nhiệm của Bộ và các lực lượng chức năng khác thuộc Bộ Công an, Công an cấp tỉnh để phối hợp giải quyết tình huống. Điều 16. Chế độ báo cáo 1. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phải báo cáo ngay với chỉ huy đơn vị trong các trường hợp sau: a) Có vụ việc xảy ra trong phạm vi khu vực mục tiêu, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn mục tiêu được bảo vệ; b) Phát hiện đối tượng có hành vi đột nhập mục tiêu; c) Phát hiện những hiện tượng nghi vấn, hoạt động trái quy luật của cán bộ, nhân viên của cơ quan có mục tiêu bảo vệ, kể cả nhân viên ngoại giao; d) Phát hiện những sự việc, hiện tượng khác gây mất trật tự, an toàn xã hội xung quanh mục tiêu được bảo vệ. 2. Chế độ báo cáo của đơn vị Cảnh sát bảo vệ mục tiêu: a) Hằng ngày, báo cáo về tình hình công tác của đơn vị với chỉ huy đơn vị cấp trên trực tiếp; b) Định kỳ tuần, tháng, quý, sáu tháng, năm báo cáo về tình hình công tác của đơn vị với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cấp trên; c) Báo cáo đột xuất khi có vụ việc xảy ra; d) Trường hợp cần thiết như xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin, có thể báo cáo vượt cấp đến chỉ huy, lãnh đạo cấp có thẩm quyền giải quyết. Điều 17. Huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ Hàng năm cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ được huấn luyện về điều lệnh, quân sự, võ thuật, bắn súng và bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và các vấn đề khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát bảo vệ. Kinh phí huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ được phân bổ hàng năm theo quy định. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 - 3 - 2011; thay thế Quy định về công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 215/2007/QĐ - BCA(C11 ) ngày 15 - 3 - 2007 của Bộ trưởng Bộ Công an. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội có trách nhiệm: a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này; b) Chỉ đạo Cục Cảnh sát bảo vệ tổ chức lực lượng bảo vệ các mục tiêu theo sự phân cấp của Bộ Công an; biên soạn tài liệu và tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng Cảnh sát bảo vệ; nghiên cứu xây dựng dự án và lập dự trù kinh phí trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, xây dựng vọng gác phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 2. Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nghiên cứu, đề xuất Bộ trưởng quyết định về mô hình tổ chức, biên chế lực lượng Cảnh sát bảo vệ, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, quân sự, võ thuật và các vấn đề khác có liên quan cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ. 3. Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nghiên cứu, đề xuất trang bị vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ phù hợp phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 4. Cục trưởng Cục Tài chính có trách nhiệm thẩm định, trình lãnh đạo Bộ phê duyệt kinh phí trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, xây dựng vọng gác, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu phục vụ công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu của lực lượng Cảnh sát bảo vệ. 5. Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội và Công an cấp tỉnh xác định những mục tiêu có khả năng xảy ra khủng bố, bạo loạn, phá hoại vũ trang, bắt giữ con tin; xây dựng phương án tác chiến, tổ chức diễn tập phương án; bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện tham gia giải quyết các tình huống xảy ra. 6. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ vũ trang canh gác, bảo vệ các mục tiêu tại địa phương theo phân cấp của Bộ Công an. 7. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác vũ trang canh gác bảo vệ mục tiêu, phối hợp giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội xảy ra tại mục tiêu; tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội) để có hướng dẫn kịp thời.
Quy định việc phối hợp thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân
01/2011/TTLT-BCA-BKHCN
18/02/2011
Thông tư liên tịch
05/04/2011
Công báo số 117+118, năm 2011
08/03/2011
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Phạm Quý Ngọ
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân _______________________________ Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ; Căn cứ Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường; Căn cứ Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quy định việc phối hợp thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc phối hợp hoạt động của các đơn vị thuộc ngành Công an và ngành Khoa học và Công nghệ trong việc trang bị, quản lý và sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Khoa học và Công nghệ và lực lượng Cảnh sát nhân dân ở Trung ương và địa phương. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Thực hiện nội dung phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của hai Bộ theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Công tác phối hợp giữa hai ngành phải được thực hiện thống nhất, thường xuyên và toàn diện từ Trung ương đến địa phương. Đảm bảo sự chủ động, chặt chẽ, kịp thời và hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và của từng ngành. Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP Điều 4. Phối hợp trao đổi thông tin 1. Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng của ngành ở các cấp phối hợp chặt chẽ trong việc trao đổi, tiếp nhận thông tin về việc trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Các đơn vị chức năng thuộc ngành Công an, Khoa học và Công nghệ ở các cấp khi tổ chức tập huấn, hội thảo, hội nghị về trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong lĩnh vực môi trường, có trách nhiệm thông báo cho nhau để cử đại diện tham gia. 3. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến việc sử dụng, áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia; các tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng tại Việt Nam trong lĩnh vực môi trường và sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường. 4. Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc ngành Khoa học và Công nghệ cung cấp thông tin, hỗ trợ tìm kiếm thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật, quy định thuộc lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng tại Việt Nam thuộc lĩnh vực môi trường và kiểm định môi trường phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Điều 5. Phối hợp quản lý và tổ chức thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đối với phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân 1. Bộ Công an chủ trì, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp: a) Hàng năm chủ động rà soát, đề xuất, bổ sung các phương tiện đo thuộc danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân vào "Danh mục phương tiện đo phải kiểm định" đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về đo lường theo quy định của pháp luật về đo lường; b) Hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và thuộc Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: tổng hợp danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân phải hiệu chuẩn, kiểm định định kỳ; lập kế hoạch và tiến hành việc thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn các phương tiện thiết bị kỹ thuật về môi trường đang quản lý đảm bảo đúng quy định của pháp luật phục vụ công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân và hàng năm dành kinh phí cho hoạt động thử nghiệm, đo, kiểm định, hiệu chuẩn các loại thiết bị này; c) Tổ chức thực hiện việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn về năng lực phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn cho Phòng thí nghiệm kiểm định môi trường thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC17025. 2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Bộ Công an phối hợp: a) Tổ chức thực hiện việc phê duyệt mẫu phương tiện đo, công nhận khả năng kiểm định phương tiện đo, chứng nhận chuẩn đo lường, chứng nhận và cấp thẻ kiểm định viên đo lường theo quy định; b) Tổ chức đào tạo kiểm định viên đo lường, tập huấn về nghiệp vụ đo lường cho cán bộ kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường; c) Tổ chức, thực hiện việc kiểm định hoặc hiệu chuẩn các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân theo quy định của pháp luật về đo lường để đảm bảo độ chính xác cho các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường khi sử dụng vào việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Điều 6. Phối hợp nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật 1. Bộ Công an có trách nhiệm: a) Căn cứ tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng chuyên môn kỹ thuật, lực lượng Cảnh sát nhân dân chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc ngành Khoa học và Công nghệ ở Trung ương và địa phương đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sử dụng phương tiện thiết bị kỹ thuật về môi trường nhằm đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác; b) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc ngành Khoa học và Công nghệ ở Trung ương và địa phương kiến nghị cấp có thẩm quyền phân bổ ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ và các nguồn kinh phí khác phục vụ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc trang bị, hiệu chuẩn, kiểm định phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; c) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đào tạo cán bộ kỹ thuật, hướng dẫn, tổ chức xây dựng Trung tâm Kiểm định môi trường của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đủ điều kiện pháp lý, khoa học kỹ thuật phục vụ các hoạt động đấu tranh phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; d) Tổ chức, chỉ đạo bộ phận chuyên môn trong lực lượng Công an nhân dân phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc trang bị, sản xuất, cải tiến phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm: a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc trang bị, sản xuất, cải tiến các phương tiện thiết bị kỹ thuật để kiểm định, hiệu chuẩn các thiết bị đo kiểm trong lĩnh vực môi trường phục vụ công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân; b) Thực hiện kế hoạch nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật; quy định cụ thể điều kiện hoạt động đối với các nghiên cứu; phát triển khoa học và công nghệ, tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo đồng bộ xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, hỗ trợ phát triển các lực lượng hoạt động khoa học, công nghệ và quản lý hệ thống phòng thí nghiệm cũng như các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; c) Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ vào các hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm về lĩnh vực môi trường và kiểm định môi trường. 3. Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng của ngành mình ở Trung ương và địa phương phối hợp chặt chẽ trong công tác nghiên cứu xây dựng các phương pháp và quy trình phân tích, kiểm định môi trường; nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường; thực hiện nghiêm túc các quy định tại Nghị định số 169/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ về huy động tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ công tác công an. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 7. Trách nhiệm phối hợp thực hiện 1. Bộ Công an giao Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bộ Khoa học và Công nghệ giao Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Ứng dụng và phát triển Công nghệ, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên tử, Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng của mình có trách nhiệm tham mưu, trực tiếp hướng dẫn phổ biến nội dung và phối hợp chặt chẽ thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ-TTg ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Thông tư này. 2. Hàng năm, Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Bộ Công an xây dựng các chương trình phối hợp cụ thể với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng các chương trình phối hợp cụ thể với các Sở Khoa học và Công nghệ. 3. Định kỳ hàng năm, các bên liên quan luân phiên chủ trì tổ chức giao ban để thông báo các hoạt động phối hợp giữa Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên tử; giữa các Sở Khoa học và Công nghệ với Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bên chủ trì tổ chức giao ban chịu trách nhiệm chuẩn bị nội dung, tài liệu giao ban. Điều 8. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 04 năm 2011. 2. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, các đơn vị, địa phương phản ánh kịp thời về Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm), Bộ Khoa học và Công nghệ (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=26193&Keyword=
2025-09-24T02:35:42.281694
../data\bocongan\012011TTLT-BCA-BKHCN\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân _______________________________ Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 28/2008/NĐ - CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ; Căn cứ Nghị định số 72/2010/NĐ - CP ngày 08 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường; Căn cứ Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quy định việc phối hợp thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc phối hợp hoạt động của các đơn vị thuộc ngành Công an và ngành Khoa học và Công nghệ trong việc trang bị, quản lý và sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Khoa học và Công nghệ và lực lượng Cảnh sát nhân dân ở Trung ương và địa phương. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Thực hiện nội dung phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của hai Bộ theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Công tác phối hợp giữa hai ngành phải được thực hiện thống nhất, thường xuyên và toàn diện từ Trung ương đến địa phương. Đảm bảo sự chủ động, chặt chẽ, kịp thời và hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và của từng ngành. Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP Điều 4. Phối hợp trao đổi thông tin 1. Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng của ngành ở các cấp phối hợp chặt chẽ trong việc trao đổi, tiếp nhận thông tin về việc trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Các đơn vị chức năng thuộc ngành Công an, Khoa học và Công nghệ ở các cấp khi tổ chức tập huấn, hội thảo, hội nghị về trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong lĩnh vực môi trường, có trách nhiệm thông báo cho nhau để cử đại diện tham gia. 3. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến việc sử dụng, áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia; các tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng tại Việt Nam trong lĩnh vực môi trường và sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường. 4. Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc ngành Khoa học và Công nghệ cung cấp thông tin, hỗ trợ tìm kiếm thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật, quy định thuộc lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng tại Việt Nam thuộc lĩnh vực môi trường và kiểm định môi trường phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Điều 5. Phối hợp quản lý và tổ chức thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đối với phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân 1. Bộ Công an chủ trì, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp: a) Hàng năm chủ động rà soát, đề xuất, bổ sung các phương tiện đo thuộc danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân vào "Danh mục phương tiện đo phải kiểm định" đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về đo lường theo quy định của pháp luật về đo lường; b) Hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và thuộc Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: tổng hợp danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân phải hiệu chuẩn, kiểm định định kỳ; lập kế hoạch và tiến hành việc thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn các phương tiện thiết bị kỹ thuật về môi trường đang quản lý đảm bảo đúng quy định của pháp luật phục vụ công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân và hàng năm dành kinh phí cho hoạt động thử nghiệm, đo, kiểm định, hiệu chuẩn các loại thiết bị này; c) Tổ chức thực hiện việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn về năng lực phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn cho Phòng thí nghiệm kiểm định môi trường thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC17025. 2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Bộ Công an phối hợp: a) Tổ chức thực hiện việc phê duyệt mẫu phương tiện đo, công nhận khả năng kiểm định phương tiện đo, chứng nhận chuẩn đo lường, chứng nhận và cấp thẻ kiểm định viên đo lường theo quy định; b) Tổ chức đào tạo kiểm định viên đo lường, tập huấn về nghiệp vụ đo lường cho cán bộ kỹ thuật của lực lượng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường; c) Tổ chức, thực hiện việc kiểm định hoặc hiệu chuẩn các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân theo quy định của pháp luật về đo lường để đảm bảo độ chính xác cho các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường khi sử dụng vào việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Điều 6. Phối hợp nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật 1. Bộ Công an có trách nhiệm: a) Căn cứ tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng chuyên môn kỹ thuật, lực lượng Cảnh sát nhân dân chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc ngành Khoa học và Công nghệ ở Trung ương và địa phương đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sử dụng phương tiện thiết bị kỹ thuật về môi trường nhằm đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác; b) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc ngành Khoa học và Công nghệ ở Trung ương và địa phương kiến nghị cấp có thẩm quyền phân bổ ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ và các nguồn kinh phí khác phục vụ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc trang bị, hiệu chuẩn, kiểm định phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; c) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đào tạo cán bộ kỹ thuật, hướng dẫn, tổ chức xây dựng Trung tâm Kiểm định môi trường của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đủ điều kiện pháp lý, khoa học kỹ thuật phục vụ các hoạt động đấu tranh phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; d) Tổ chức, chỉ đạo bộ phận chuyên môn trong lực lượng Công an nhân dân phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc trang bị, sản xuất, cải tiến phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân. 2. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm: a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc trang bị, sản xuất, cải tiến các phương tiện thiết bị kỹ thuật để kiểm định, hiệu chuẩn các thiết bị đo kiểm trong lĩnh vực môi trường phục vụ công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân; b) Thực hiện kế hoạch nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật; quy định cụ thể điều kiện hoạt động đối với các nghiên cứu; phát triển khoa học và công nghệ, tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo đồng bộ xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, hỗ trợ phát triển các lực lượng hoạt động khoa học, công nghệ và quản lý hệ thống phòng thí nghiệm cũng như các phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân; c) Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ vào các hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm về lĩnh vực môi trường và kiểm định môi trường. 3. Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chức năng của ngành mình ở Trung ương và địa phương phối hợp chặt chẽ trong công tác nghiên cứu xây dựng các phương pháp và quy trình phân tích, kiểm định môi trường; nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật về môi trường phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường; thực hiện nghiêm túc các quy định tại Nghị định số 169/2007/NĐ - CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ về huy động tiềm lực khoa học và công nghệ phục vụ công tác công an. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 7. Trách nhiệm phối hợp thực hiện 1. Bộ Công an giao Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bộ Khoa học và Công nghệ giao Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Ứng dụng và phát triển Công nghệ, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên tử, Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng của mình có trách nhiệm tham mưu, trực tiếp hướng dẫn phổ biến nội dung và phối hợp chặt chẽ thực hiện Quyết định số 20/2009/QĐ - TTg ngày 10/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Thông tư này. 2. Hàng năm, Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Bộ Công an xây dựng các chương trình phối hợp cụ thể với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng các chương trình phối hợp cụ thể với các Sở Khoa học và Công nghệ. 3. Định kỳ hàng năm, các bên liên quan luân phiên chủ trì tổ chức giao ban để thông báo các hoạt động phối hợp giữa Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên tử; giữa các Sở Khoa học và Công nghệ với Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bên chủ trì tổ chức giao ban chịu trách nhiệm chuẩn bị nội dung, tài liệu giao ban. Điều 8. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 04 năm 2011. 2. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, các đơn vị, địa phương phản ánh kịp thời về Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm), Bộ Khoa học và Công nghệ (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung. /.
Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
12/07/2011
Thông tư liên tịch
25/10/2011
Công báo số 499+500, năm 2011
11/09/2011
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Trần Công Phàn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên ______________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn như sau: Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Điều 1. Mục đích Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, do đó tùy theo lứa tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân mà họ cần được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự. Điều 2. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn một số quy định của BLTTHS liên quan đến người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại, người làm chứng. Điều 3. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải: 1. Bảo đảm tuân thủ theo đúng các quy định tại Chương XXXII và các quy định khác của BLTTHS không trái với những quy định của Chương này. 2. Bảo đảm quyền của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật được tôn trọng trong suốt quá trình tố tụng. Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ. 3. Bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân của người chưa thành niên. Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến người chưa thành niên phải được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc bảo đảm bí mật đời tư và danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên. 4. Hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên với bị can, bị cáo. 5. Áp dụng các biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên cũng như người thân thích của họ được an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác khi các quyền ấy bị đe dọa hoặc bị xâm hại. 6. Ưu tiên giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời các vụ án liên quan đến người chưa thành niên. Điều 4. Phân công người tiến hành tố tụng Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng cần phân công Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về điều tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên hoặc người có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến người chưa thành niên. Điều 5. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra, cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện đúng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự. Đặc biệt cần xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự nếu có đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự, giao họ cho gia đình, cơ quan hoặc tổ chức giám sát, giáo dục nhằm giúp họ tự sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Chương II THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Điều 6. Xác định tuổi của bị can, bị cáo Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau: 1. Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. 2. Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; 3. Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; 4. Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. 5. Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ. Điều 7. Giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội 1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giao người chưa thành niên phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của người chưa thành niên phạm tội khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. 2. Đối với người chưa thành niên phạm tội không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì cơ quan điều tra cần tìm mọi biện pháp để xác định lý lịch cũng như gia đình của họ. Trong trường hợp không xác định được thì Cơ quan điều tra đề nghị cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ ở nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử cán bộ giám sát người chưa thành niên phạm tội. 3. Khi đã chấp nhận đề nghị của cơ quan điều tra về việc cử cán bộ giám sát người chưa thành niên phạm tội, cơ quan đã nhận trách nhiệm cử cán bộ giám sát cần cử ngay cán bộ và kịp thời thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng biết để tạo điều kiện cho họ tiếp xúc, gặp gỡ người chưa thành niên phạm tội. 4. Người được giao nhiệm vụ giám sát người chưa thành niên phạm tội phải giám sát chặt chẽ, theo dõi tư cách đạo đức và giáo dục người đó. Điều 8. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn 1. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS. Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp. Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS. Đối với người chưa thành niên đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do đối với họ. 2. Khi bắt giữ người chưa thành niên phạm tội, trong trường hợp cần thiết phải sử dụng vũ lực thì việc sử dụng vũ lực phải theo đúng quy định của pháp luật và chỉ ở mức độ đủ để kiểm soát người chưa thành niên phạm tội. 3. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam. 4. Người chưa thành niên phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên. Khi xét thấy người chưa thành niên phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra. Chế độ tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. 5. Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo bằng văn bản cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Khoản 3 Điều 303 BLTTHS. Điều 9. Việc tham gia tố tụng của người bào chữa theo quy định tại Khoản 2 Điều 57, Điều 58 và Điều 305 BLTTHS 1. Bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trừ trường hợp họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa. Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. 2. Khi giao quyết định tạm giữ hoặc quyết định khởi tố bị can, cơ quan ra quyết định phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ về quyền có người bào chữa. 3. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa theo quy định của pháp luật hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 4. Trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình, trừ trường hợp người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là trẻ em không nơi nương tựa và có thể đề nghị trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên khác. 5. Trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản lưu trong hồ sơ vụ án. 6. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Điều 10. Lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can quy định tại Điều 131 và Khoản 2 Điều 306 BLTTHS 1. Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách chức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi của người chưa thành niên. 2. Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế đến mức thấp nhất số lần lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên. Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ. Thời gian lấy lời khai, hỏi cung cần được xác định dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe cũng như khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của người chưa thành niên và yêu cầu điều tra, Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải được tạm dừng ngay khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ. 3. Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung. Trường hợp cần thiết hoặc khi người chưa thành niên có yêu cầu, có thể mời cán bộ chuyên trách, cán bộ trợ giúp, tư vấn về pháp lý, y tế cùng tham gia để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái cho họ. 4. Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho đại diện của gia đình để bảo đảm sự có mặt của họ. Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can khi không có mặt đại diện gia đình chỉ được thực hiện trong trường hợp người đó không có gia đình, đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc họ từ chối tham gia. Trường hợp đại diện gia đình của người bị tạm giữ, bị can không thể có mặt, để bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng được tiến hành kịp thời theo quy định, thì việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can vẫn được thực hiện nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cán bộ thuộc một trong các cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc Luật sư tham gia lấy lời khai, hỏi cung. Đại diện gia đình, cán bộ thuộc cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Luật sư có thể được bố trí ngồi cạnh người chưa thành niên để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái cho họ. Nếu thấy cần thiết cho quá trình lấy lời khai, hỏi cung thì có thể cho đại diện gia đình hỏi người bị tạm giữ, hỏi bị can những câu hỏi mang tính chất động viên, thuyết phục, giáo dục. Đại diện gia đình không được hỏi những câu hỏi mang tính chất gợi ý, định hướng, câu hỏi mang tính chất khẳng định, phủ định liên quan đến vụ án. Khi thấy đại diện gia đình có dấu hiệu thông cung, mớm cung phải lập tức yêu cầu đại diện gia đình dừng ngay việc hỏi và lập biên bản về việc này. 5. Đại diện gia đình người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; khiếu nại các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra. Điều 11. Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên 1. Thành phần Hội đồng xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phải có Hội thẩm nhân dân đang hoặc đã là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên 2. Ngoài các trường hợp quy định tại Điều 18 BLTTHS, Tòa án có thể quyết định xét xử kín vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra để tạo thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng của họ. Không tiến hành xét xử lưu động vụ án do người chưa thành niên gây ra, trừ trường hợp cần giáo dục, tuyên truyền pháp luật và phòng ngừa tội phạm. 3. Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại vị trí của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người chưa thành niên phạm tội. Không còng tay hoặc sử dụng các phương tiện cưỡng chế khác trong quá trình xét xử tại Tòa án, trừ trường hợp họ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý hoặc có việc làm tiêu cực hoặc có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên toà. 4. Tại phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi học học tập, sinh hoạt. Đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức tham gia phiên tòa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; tham gia tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định của Tòa án. Trường hợp cần thiết hoặc khi người chưa thành niên có yêu cầu, Tòa án có thể mời đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc cán bộ trợ giúp khác tham gia phiên tòa để hỗ trợ cho họ. 5. Việc thẩm vấn, xét hỏi bị cáo là người chưa thành niên tại phiên tòa phải theo quy định tại Điều 209 BLTTHS và phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của bị cáo. Những lời giải thích về quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét xử cũng như các câu hỏi đưa ra tại phiên tòa cần đơn giản, rõ ràng để đảm bảo cho người chưa thành niên và đại diện gia đình của họ có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi. Hội đồng xét xử phải cho phép người chưa thành niên bày tỏ ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình và phải cân nhắc, xem xét các ý kiến, quan điểm, nguyện vọng đó trước khi ra bản án, quyết định. Chương III THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ HẠI, NGƯỜI LÀM CHỨNG LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Điều 12. Xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên Việc xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì tuổi của họ được xác định như sau: 1. Trường hợp xác định tháng sinh cụ thể, nhưng không xác định được ngày sinh trong tháng đó thì lấy ngày mùng một của tháng đó làm ngày sinh; 2. Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mùng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh; 3. Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày mùng một tháng Giêng hoặc ngày mùng một tháng Bảy tương ứng của năm đó làm ngày sinh; 4. Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh thì lấy ngày mùng một tháng Giêng của năm đó làm ngày sinh. 5. Trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ. Điều 13. Giám hộ và trợ giúp đối với người bị hại là người chưa thành niên 1. Khi xác định được người bị hại là người chưa thành niên thì cơ quan tiến hành tố tụng cần thông báo ngay cho cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên để họ có thể gặp gỡ và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng. 2. Ngoài các cá nhân tham gia tố tụng với tư cách là người giám hộ, người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên ở nơi tiến hành tố tụng hoặc cán bộ hỗ trợ khác trợ giúp cho người bị hại là người chưa thành niên, đặc biệt là những người không có gia đình, lang thang cơ nhỡ, trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị buôn bán, đánh tráo, chiếm đoạt khi họ hoặc gia đình họ có yêu cầu hỗ trợ về chỗ ở, tham vấn, chăm sóc y tế, sức khỏe, trợ giúp về mặt pháp lý, tâm lý trong quá trình tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết. Đối với người bị hại là trẻ em không nơi nương tựa, cơ quan tiến hành tố tụng phải đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp pháp lý cho họ. Cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp pháp lý cho người bị hại là người chưa thành niên khác. 3. Khi cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị cử cán bộ tham gia tố tụng để hỗ trợ cho người bị hại là người chưa thành niên, cơ quan hoặc tổ chức được đề nghị cần cử ngay cán bộ và thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng biết để tạo điều kiện cho cán bộ hỗ trợ tiếp xúc, gặp gỡ người bị hại là người chưa thành niên. 4. Cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp và cán bộ hỗ trợ đã nhận trách nhiệm trợ giúp cho người bị hại là người chưa thành niên có thể tham gia trong các giai đoạn tố tụng của vụ án. 5. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải: a) Đảm bảo cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình tố tụng cho người bị hại là người chưa thành niên cũng như cho cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp, cán bộ hỗ trợ của họ; b) Đảm bảo sự có mặt của cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp, cán bộ hỗ trợ để họ có thể hỗ trợ, động viên người bị hại là người chưa thành niên trong suốt quá trình tố tụng; c) Đảm bảo người bị hại là người chưa thành niên, nhất là trẻ em nhận được sự trợ giúp chuyên môn về mặt y tế, sức khỏe, pháp lý, tâm lý phù hợp khi họ cần. Điều 14. Việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi của người bị hại là người chưa thành niên 1. Cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo cho người bị hại là người chưa thành niên hoặc cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của họ về quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là người chưa thành niên. Trường hợp người bị hại là người chưa thành niên hoặc cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại thì theo yêu cầu hoặc đề nghị của họ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án cần yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử luật sư hoặc cơ quan, tổ chức có người bị hại là thành viên cử bào chữa viên nhân dân bảo vệ quyền lợi cho họ. 2. Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là người chưa thành niên có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người mà mình bảo vệ; có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ; có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của BLTTHS. Điều 15. Lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên 1. Việc lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Nơi lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên cần được bố trí theo cách thức thích hợp để họ cảm thấy an toàn, thoải mái. 2. Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên phải có thái độ thân thiện, nhẹ nhàng, sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ. 3. Khi lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng là trẻ em, cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cha mẹ, người đỡ đầu, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy cô giáo của người đó tham dự. Theo yêu cầu của người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể mời đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc cán bộ trợ giúp khác tham gia để hỗ trợ cho họ. 4. Cơ quan tiến hành tố tụng cần dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên và yêu cầu điều tra để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp nhằm giảm đến mức thấp nhất số lần phải lấy lời khai cũng như xác định thời lượng các lần lấy lời khai đối với họ. Việc lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên phải tạm dừng ngay khi họ có biểu hiện mệt mỏi ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ. 5. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai người bị hại là người chưa thành niên, bao gồm cả việc kiểm tra dấu vết trên người, chụp ảnh thương tích, ghi âm, ghi hình phải theo đúng quy định của BLTTHS và phải bảo đảm không làm ảnh hưởng tới tâm lý cũng như quyền bí mật thông tin cá nhân và danh dự, nhân phẩm của họ. Khi lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng có thể ghi âm, ghi hình và phải ghi vào biên bản về việc này để khi tiến hành xét xử vụ án, Hội đồng xét xử có thể sử dụng băng ghi âm, ghi hình đó bổ trợ cho các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra. 6. Cơ quan tiến hành tố tụng phải hạn chế đến mức thấp nhất việc tiến hành đối chất giữa người bị hại là người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em với bị can, bị cáo để không làm tổn thương tâm lý, tinh thần của họ. Đối với các vụ án xâm phạm tình dục, hành hạ, mua bán, chiếm đoạt trẻ em thì chỉ tiến hành đối chất khi thấy việc đó là cần thiết để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án. Điều 16. Xét xử vụ án có người bị hại là người chưa thành niên 1. Khi tiến hành xét xử vụ án có người bị hại là người chưa thành niên, để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ, Tòa án cần tạo điều kiện để thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân hoặc đã là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn Thanh niên như trong trường hợp xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên. 2. Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại đồ vật và vị trí của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên. Việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét xử cũng như các câu hỏi đưa ra tại phiên tòa cần đơn giản, rõ ràng để giúp cho người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên và đại diện gia đình của họ có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi. Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi người làm chứng là người chưa thành niên. 3. Để bảo vệ quyền riêng tư và danh dự, nhân phẩm của người bị hại là người chưa thành niên và làm giảm cảm giác sợ hãi của họ, trước khi tiến hành xét xử, Tòa án cần xem xét, cân nhắc các tình tiết liên quan đến vụ án để quyết định có xét xử kín hay không, đặc biệt là những vụ án xâm phạm tình dục trẻ em, mua bán trẻ em. 4. Đối với vụ án có người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, đặc biệt là trong vụ án xâm phạm tình dục trẻ em, mua bán trẻ em, Tòa án cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án để quyết định việc xét xử vụ án khi người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên vắng mặt, hạn chế việc hoãn phiên tòa. 5. Khi cần yêu cầu người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên trình bày lời khai của mình tại phiên tòa trong điều kiện cho phép, Hội đồng xét xử có thể cho phép họ đứng sau màn chắn, bình phong để không nhìn thấy bị cáo hoặc làm chứng trực tiếp tại một phòng khác thông qua kết nối hệ thống camera. 6. Để người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên có thể hiểu biết rõ hơn về Tòa án, khi họ hoặc người đại diện hợp pháp, người bào chữa hoặc cha mẹ của họ có yêu cầu, Tòa án có thể cho họ đến phòng xử án trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án liên quan đến họ. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực sau bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những quy định trong các văn bản hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên quan đến người bị bắt, người tham gia tố tụng là người chưa thành niên (nếu có) trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc hoặc có những vấn đề cần phải giải thích, hướng dẫn đề nghị phản ánh cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để có sự giải thích hoặc hướng dẫn, bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=26878&Keyword=
2025-09-24T02:35:38.198984
../data\bocongan\012011TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH\document.json
05/02/2019
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên ______________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn như sau: Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Điều 1. Mục đích Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, do đó tùy theo lứa tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân mà họ cần được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự. Điều 2. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn một số quy định của BLTTHS liên quan đến người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại, người làm chứng. Điều 3. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải: 1. Bảo đảm tuân thủ theo đúng các quy định tại Chương XXXII và các quy định khác của BLTTHS không trái với những quy định của Chương này. 2. Bảo đảm quyền của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật được tôn trọng trong suốt quá trình tố tụng. Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ. 3. Bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân của người chưa thành niên. Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến người chưa thành niên phải được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc bảo đảm bí mật đời tư và danh dự, nhân phẩm của người chưa thành niên. 4. Hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên với bị can, bị cáo. 5. Áp dụng các biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên cũng như người thân thích của họ được an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác khi các quyền ấy bị đe dọa hoặc bị xâm hại. 6. Ưu tiên giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời các vụ án liên quan đến người chưa thành niên. Điều 4. Phân công người tiến hành tố tụng Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng cần phân công Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về điều tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên hoặc người có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến người chưa thành niên. Điều 5. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra, cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện đúng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự. Đặc biệt cần xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự nếu có đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự, giao họ cho gia đình, cơ quan hoặc tổ chức giám sát, giáo dục nhằm giúp họ tự sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Chương II THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Điều 6. Xác định tuổi của bị can, bị cáo Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau: 1. Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. 2. Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; 3. Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; 4. Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. 5. Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ. Điều 7. Giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội 1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giao người chưa thành niên phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của người chưa thành niên phạm tội khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. 2. Đối với người chưa thành niên phạm tội không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì cơ quan điều tra cần tìm mọi biện pháp để xác định lý lịch cũng như gia đình của họ. Trong trường hợp không xác định được thì Cơ quan điều tra đề nghị cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ ở nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử cán bộ giám sát người chưa thành niên phạm tội. 3. Khi đã chấp nhận đề nghị của cơ quan điều tra về việc cử cán bộ giám sát người chưa thành niên phạm tội, cơ quan đã nhận trách nhiệm cử cán bộ giám sát cần cử ngay cán bộ và kịp thời thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng biết để tạo điều kiện cho họ tiếp xúc, gặp gỡ người chưa thành niên phạm tội. 4. Người được giao nhiệm vụ giám sát người chưa thành niên phạm tội phải giám sát chặt chẽ, theo dõi tư cách đạo đức và giáo dục người đó. Điều 8. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn 1. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS. Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp. Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS. Đối với người chưa thành niên đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do đối với họ. 2. Khi bắt giữ người chưa thành niên phạm tội, trong trường hợp cần thiết phải sử dụng vũ lực thì việc sử dụng vũ lực phải theo đúng quy định của pháp luật và chỉ ở mức độ đủ để kiểm soát người chưa thành niên phạm tội. 3. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam. 4. Người chưa thành niên phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên. Khi xét thấy người chưa thành niên phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra. Chế độ tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. 5. Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải thông báo bằng văn bản cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Khoản 3 Điều 303 BLTTHS. Điều 9. Việc tham gia tố tụng của người bào chữa theo quy định tại Khoản 2 Điều 57, Điều 58 và Điều 305 BLTTHS 1. Bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trừ trường hợp họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa. Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. 2. Khi giao quyết định tạm giữ hoặc quyết định khởi tố bị can, cơ quan ra quyết định phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ về quyền có người bào chữa. 3. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa theo quy định của pháp luật hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 4. Trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình, trừ trường hợp người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là trẻ em không nơi nương tựa và có thể đề nghị trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên khác. 5. Trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản lưu trong hồ sơ vụ án. 6. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Điều 10. Lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can quy định tại Điều 131 và Khoản 2 Điều 306 BLTTHS 1. Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách chức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi của người chưa thành niên. 2. Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế đến mức thấp nhất số lần lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên. Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ. Thời gian lấy lời khai, hỏi cung cần được xác định dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe cũng như khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của người chưa thành niên và yêu cầu điều tra, Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải được tạm dừng ngay khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ. 3. Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung. Trường hợp cần thiết hoặc khi người chưa thành niên có yêu cầu, có thể mời cán bộ chuyên trách, cán bộ trợ giúp, tư vấn về pháp lý, y tế cùng tham gia để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái cho họ. 4. Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho đại diện của gia đình để bảo đảm sự có mặt của họ. Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can khi không có mặt đại diện gia đình chỉ được thực hiện trong trường hợp người đó không có gia đình, đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc họ từ chối tham gia. Trường hợp đại diện gia đình của người bị tạm giữ, bị can không thể có mặt, để bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng được tiến hành kịp thời theo quy định, thì việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can vẫn được thực hiện nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cán bộ thuộc một trong các cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc Luật sư tham gia lấy lời khai, hỏi cung. Đại diện gia đình, cán bộ thuộc cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Luật sư có thể được bố trí ngồi cạnh người chưa thành niên để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái cho họ. Nếu thấy cần thiết cho quá trình lấy lời khai, hỏi cung thì có thể cho đại diện gia đình hỏi người bị tạm giữ, hỏi bị can những câu hỏi mang tính chất động viên, thuyết phục, giáo dục. Đại diện gia đình không được hỏi những câu hỏi mang tính chất gợi ý, định hướng, câu hỏi mang tính chất khẳng định, phủ định liên quan đến vụ án. Khi thấy đại diện gia đình có dấu hiệu thông cung, mớm cung phải lập tức yêu cầu đại diện gia đình dừng ngay việc hỏi và lập biên bản về việc này. 5. Đại diện gia đình người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; khiếu nại các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra. Điều 11. Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên 1. Thành phần Hội đồng xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phải có Hội thẩm nhân dân đang hoặc đã là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên 2. Ngoài các trường hợp quy định tại Điều 18 BLTTHS, Tòa án có thể quyết định xét xử kín vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra để tạo thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng của họ. Không tiến hành xét xử lưu động vụ án do người chưa thành niên gây ra, trừ trường hợp cần giáo dục, tuyên truyền pháp luật và phòng ngừa tội phạm. 3. Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại vị trí của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người chưa thành niên phạm tội. Không còng tay hoặc sử dụng các phương tiện cưỡng chế khác trong quá trình xét xử tại Tòa án, trừ trường hợp họ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý hoặc có việc làm tiêu cực hoặc có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên toà. 4. Tại phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi học học tập, sinh hoạt. Đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức tham gia phiên tòa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; tham gia tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định của Tòa án. Trường hợp cần thiết hoặc khi người chưa thành niên có yêu cầu, Tòa án có thể mời đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc cán bộ trợ giúp khác tham gia phiên tòa để hỗ trợ cho họ. 5. Việc thẩm vấn, xét hỏi bị cáo là người chưa thành niên tại phiên tòa phải theo quy định tại Điều 209 BLTTHS và phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của bị cáo. Những lời giải thích về quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét xử cũng như các câu hỏi đưa ra tại phiên tòa cần đơn giản, rõ ràng để đảm bảo cho người chưa thành niên và đại diện gia đình của họ có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi. Hội đồng xét xử phải cho phép người chưa thành niên bày tỏ ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình và phải cân nhắc, xem xét các ý kiến, quan điểm, nguyện vọng đó trước khi ra bản án, quyết định. Chương III THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ HẠI, NGƯỜI LÀM CHỨNG LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Điều 12. Xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên Việc xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì tuổi của họ được xác định như sau: 1. Trường hợp xác định tháng sinh cụ thể, nhưng không xác định được ngày sinh trong tháng đó thì lấy ngày mùng một của tháng đó làm ngày sinh; 2. Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mùng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh; 3. Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày mùng một tháng Giêng hoặc ngày mùng một tháng Bảy tương ứng của năm đó làm ngày sinh; 4. Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh thì lấy ngày mùng một tháng Giêng của năm đó làm ngày sinh. 5. Trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ. Điều 13. Giám hộ và trợ giúp đối với người bị hại là người chưa thành niên 1. Khi xác định được người bị hại là người chưa thành niên thì cơ quan tiến hành tố tụng cần thông báo ngay cho cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên để họ có thể gặp gỡ và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng. 2. Ngoài các cá nhân tham gia tố tụng với tư cách là người giám hộ, người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên ở nơi tiến hành tố tụng hoặc cán bộ hỗ trợ khác trợ giúp cho người bị hại là người chưa thành niên, đặc biệt là những người không có gia đình, lang thang cơ nhỡ, trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị buôn bán, đánh tráo, chiếm đoạt khi họ hoặc gia đình họ có yêu cầu hỗ trợ về chỗ ở, tham vấn, chăm sóc y tế, sức khỏe, trợ giúp về mặt pháp lý, tâm lý trong quá trình tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết. Đối với người bị hại là trẻ em không nơi nương tựa, cơ quan tiến hành tố tụng phải đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp pháp lý cho họ. Cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp pháp lý cho người bị hại là người chưa thành niên khác. 3. Khi cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị cử cán bộ tham gia tố tụng để hỗ trợ cho người bị hại là người chưa thành niên, cơ quan hoặc tổ chức được đề nghị cần cử ngay cán bộ và thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng biết để tạo điều kiện cho cán bộ hỗ trợ tiếp xúc, gặp gỡ người bị hại là người chưa thành niên. 4. Cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp và cán bộ hỗ trợ đã nhận trách nhiệm trợ giúp cho người bị hại là người chưa thành niên có thể tham gia trong các giai đoạn tố tụng của vụ án. 5. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải: a) Đảm bảo cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình tố tụng cho người bị hại là người chưa thành niên cũng như cho cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp, cán bộ hỗ trợ của họ; b) Đảm bảo sự có mặt của cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp, cán bộ hỗ trợ để họ có thể hỗ trợ, động viên người bị hại là người chưa thành niên trong suốt quá trình tố tụng; c) Đảm bảo người bị hại là người chưa thành niên, nhất là trẻ em nhận được sự trợ giúp chuyên môn về mặt y tế, sức khỏe, pháp lý, tâm lý phù hợp khi họ cần. Điều 14. Việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi của người bị hại là người chưa thành niên 1. Cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo cho người bị hại là người chưa thành niên hoặc cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của họ về quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là người chưa thành niên. Trường hợp người bị hại là người chưa thành niên hoặc cha mẹ, người đỡ đầu, người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại thì theo yêu cầu hoặc đề nghị của họ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án cần yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử luật sư hoặc cơ quan, tổ chức có người bị hại là thành viên cử bào chữa viên nhân dân bảo vệ quyền lợi cho họ. 2. Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại là người chưa thành niên có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người mà mình bảo vệ; có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ; có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của BLTTHS. Điều 15. Lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên 1. Việc lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Nơi lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên cần được bố trí theo cách thức thích hợp để họ cảm thấy an toàn, thoải mái. 2. Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên phải có thái độ thân thiện, nhẹ nhàng, sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ. 3. Khi lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng là trẻ em, cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cha mẹ, người đỡ đầu, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy cô giáo của người đó tham dự. Theo yêu cầu của người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể mời đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc cán bộ trợ giúp khác tham gia để hỗ trợ cho họ. 4. Cơ quan tiến hành tố tụng cần dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên và yêu cầu điều tra để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp nhằm giảm đến mức thấp nhất số lần phải lấy lời khai cũng như xác định thời lượng các lần lấy lời khai đối với họ. Việc lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên phải tạm dừng ngay khi họ có biểu hiện mệt mỏi ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ. 5. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai người bị hại là người chưa thành niên, bao gồm cả việc kiểm tra dấu vết trên người, chụp ảnh thương tích, ghi âm, ghi hình phải theo đúng quy định của BLTTHS và phải bảo đảm không làm ảnh hưởng tới tâm lý cũng như quyền bí mật thông tin cá nhân và danh dự, nhân phẩm của họ. Khi lấy lời khai người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng có thể ghi âm, ghi hình và phải ghi vào biên bản về việc này để khi tiến hành xét xử vụ án, Hội đồng xét xử có thể sử dụng băng ghi âm, ghi hình đó bổ trợ cho các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra. 6. Cơ quan tiến hành tố tụng phải hạn chế đến mức thấp nhất việc tiến hành đối chất giữa người bị hại là người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em với bị can, bị cáo để không làm tổn thương tâm lý, tinh thần của họ. Đối với các vụ án xâm phạm tình dục, hành hạ, mua bán, chiếm đoạt trẻ em thì chỉ tiến hành đối chất khi thấy việc đó là cần thiết để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án. Điều 16. Xét xử vụ án có người bị hại là người chưa thành niên 1. Khi tiến hành xét xử vụ án có người bị hại là người chưa thành niên, để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ, Tòa án cần tạo điều kiện để thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân hoặc đã là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn Thanh niên như trong trường hợp xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên. 2. Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại đồ vật và vị trí của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên. Việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét xử cũng như các câu hỏi đưa ra tại phiên tòa cần đơn giản, rõ ràng để giúp cho người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên và đại diện gia đình của họ có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi. Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi người làm chứng là người chưa thành niên. 3. Để bảo vệ quyền riêng tư và danh dự, nhân phẩm của người bị hại là người chưa thành niên và làm giảm cảm giác sợ hãi của họ, trước khi tiến hành xét xử, Tòa án cần xem xét, cân nhắc các tình tiết liên quan đến vụ án để quyết định có xét xử kín hay không, đặc biệt là những vụ án xâm phạm tình dục trẻ em, mua bán trẻ em. 4. Đối với vụ án có người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, đặc biệt là trong vụ án xâm phạm tình dục trẻ em, mua bán trẻ em, Tòa án cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án để quyết định việc xét xử vụ án khi người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên vắng mặt, hạn chế việc hoãn phiên tòa. 5. Khi cần yêu cầu người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên trình bày lời khai của mình tại phiên tòa trong điều kiện cho phép, Hội đồng xét xử có thể cho phép họ đứng sau màn chắn, bình phong để không nhìn thấy bị cáo hoặc làm chứng trực tiếp tại một phòng khác thông qua kết nối hệ thống camera. 6. Để người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên có thể hiểu biết rõ hơn về Tòa án, khi họ hoặc người đại diện hợp pháp, người bào chữa hoặc cha mẹ của họ có yêu cầu, Tòa án có thể cho họ đến phòng xử án trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án liên quan đến họ. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực sau bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những quy định trong các văn bản hướng dẫn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên quan đến người bị bắt, người tham gia tố tụng là người chưa thành niên (nếu có) trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc hoặc có những vấn đề cần phải giải thích, hướng dẫn đề nghị phản ánh cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để có sự giải thích hoặc hướng dẫn, bổ sung kịp thời. /.
Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 và Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực xuất nhập cảnh
01/2012/TTLT-BCA-BNG
03/01/2012
Thông tư liên tịch
17/02/2012
Công báo số 113+114, năm 2012
24/01/2012
Bộ Công an
Thứ trưởng - Trung tướng
Nguyễn Thanh Sơn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 và Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực xuất nhập cảnh ________________________________ Căn cứ Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 10/12/2010 và Nghị quyết số 61/NQ-CP ngày 17/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao; Căn cứ Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Bộ Công an và Bộ Ngoại giao thống nhất như sau: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 1. Sửa đổi khoản 2 Mục I như sau: a) Sửa đổi cụm từ “công văn đề nghị” tại dòng thứ ba điểm a thành cụm từ “văn bản đề nghị kiểm tra, xét duyệt nhân sự cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam theo mẫu N2 ban hành kèm theo Thông tư này”; b) Sửa đổi cụm từ “nộp đơn” tại dòng thứ nhất điểm b thành cụm từ “nộp đơn bảo lãnh cho thân nhân là người nước ngoài nhập cảnh theo mẫu N3 ban hành kèm theo Thông tư này”. 2. Sửa đổi cụm từ “đơn (theo mẫu quy định)” tại dòng thứ hai, điểm a khoản 1 Mục II thành cụm từ “Tờ khai đề nghị cấp thị thực Việt Nam theo mẫu N1 ban hành kèm theo Thông tư này”. 3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Mục IV như sau: a) Sửa đổi cụm từ “văn bản đề nghị” tại dòng thứ tư điểm a và dòng thứ tư điểm b thành cụm từ “tờ khai đề nghị cấp, sửa đổi, bổ sung thị thực và gia hạn tạm trú theo mẫu N5 ban hành kèm theo Thông tư này”. b) Sửa đổi nội dung tại điểm d như sau: Người nước ngoài đề nghị cấp thẻ tạm trú nộp 01 bộ hồ sơ cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ tạm trú gồm các loại giấy tờ sau: + Văn bản đề nghị cấp thẻ tạm trú theo mẫu N7A; bản khai thông tin về người nước ngoài đề nghị cấp thẻ tạm trú theo mẫu N7B ban hành kèm theo Thông tư này; + Hộ chiếu của người xin cấp thẻ tạm trú; + Giấy tờ chứng minh thuộc diện xem xét cấp thẻ tạm trú là một trong các loại giấy tờ như: giấy phép lao động, giấy xác nhận là Trưởng Văn phòng đại diện, thành viên Hội đồng quản trị hoặc các giấy tờ khác có giá trị chứng minh đủ điều kiện cấp thẻ tạm trú. - Thẻ tạm trú được cấp riêng cho từng người theo mẫu N8 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Sửa đổi, bổ sung Mục VI và Mục VII như sau: “VI. Thủ tục cấp thẻ thường trú 1. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có nhu cầu thường trú tại Việt Nam nộp 01 bộ hồ sơ và làm thủ tục tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an. Hồ sơ xin thường trú tại Việt Nam gồm các loại giấy tờ sau: - Đơn xin thường trú theo mẫu N9A; bản tự khai lý lịch theo mẫu N9B ban hành kèm theo Thông tư này; - 04 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. - Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu); - Các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có). Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú và Công an cấp tỉnh nơi người đó xin thường trú biết quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Công an cấp tỉnh chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp thẻ thường trú sau khi nhận được thông báo về quyết định đồng ý cho thường trú của Thủ tướng Chính phủ. 2. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ và làm thủ tục xin thường trú ở Việt Nam tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi xin thường trú. a) Hồ sơ xin thường trú gồm các loại giấy tờ sau: - Đơn xin thường trú theo mẫu N9A ban hành kèm theo Thông tư này; - 04 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. - Lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân hoặc của nước mà người đó thường trú cấp; - Công hàm của cơ quan đại diện của nước mà người đó là công dân; - Giấy bảo lãnh cho thân nhân là người nước ngoài xin thường trú ở Việt Nam theo mẫu N10 ban hành kèm theo Thông tư này; - Giấy tờ chứng minh là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam; - Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu); - Các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có). b) Các giấy tờ nêu trong hồ sơ (trừ giấy bảo lãnh và hộ chiếu) phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng hoặc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật. c) Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành thẩm tra, xác minh và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định. Trường hợp xét thấy cần phải thẩm tra bổ sung thì thời gian trên có thể kéo dài thêm nhưng không quá 02 tháng. d) Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú và Công an cấp tỉnh nơi người đó xin thường trú biết về quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an. Công an cấp tỉnh chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp thẻ thường trú trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về quyết định đồng ý cho thường trú của Bộ trưởng Bộ Công an. đ) Thẻ thường trú được cấp riêng cho từng người theo mẫu N11 ban hành kèm theo Thông tư này. e) Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, người nước ngoài được chấp thuận cho thường trú ở Việt Nam phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để nhận thẻ thường trú. Quá thời hạn nêu trên, người được chấp thuận cho thường trú không đến nhận thẻ mà không có lý do chính đáng thì thẻ thường trú mặc nhiên hết giá trị. VII. Thủ tục cấp đổi thẻ thường trú - Định kỳ 03 năm một lần, người được cấp thẻ thường trú phải có mặt tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi thường trú để làm thủ tục cấp đổi thẻ thường trú. Việc xin cấp đổi thẻ thường trú được thực hiện trong thời hạn 90 ngày tínhđến ngày phải có mặt. Người xin cấp đổi thẻ thường trú nộp 01 bộ hồ sơ gồm các loại giấy tờ sau: + 01 tờ khai cấp lại thẻ thường trú theo mẫu N9C ban hành kèm theo Thông tư này; + 02 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. + Thẻ thường trú: + Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu). - Trường hợp chưa hết thời hạn 03 năm (tính từ ngày cấp thẻ), người được cấp thẻ có nhu cầu thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú thì nộp hồ sơ và làm thủ tục như xin cấp đổi thẻ thường trú. - Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp đổi thẻ thường trú, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh cấp thẻ mới trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản chấp thuận”. Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Mục III như sau: Ban hành kèm theo Thông tư này mẫu đơn đề nghị về Việt Nam thường trú dùng cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (mẫu TT01). Điều 3. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27251&Keyword=
2025-09-24T02:35:28.833541
../data\bocongan\012012TTLT-BCA-BNG\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA - BNG ngày 29/01/2002 và Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA - BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực xuất nhập cảnh ________________________________ Căn cứ Nghị quyết số 50/NQ - CP ngày 10/12/2010 và Nghị quyết số 61/NQ - CP ngày 17/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ - CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ - CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao; Căn cứ Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Bộ Công an và Bộ Ngoại giao thống nhất như sau: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA - BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 1. Sửa đổi khoản 2 Mục I như sau: a) Sửa đổi cụm từ “công văn đề nghị” tại dòng thứ ba điểm a thành cụm từ “văn bản đề nghị kiểm tra, xét duyệt nhân sự cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam theo mẫu N2 ban hành kèm theo Thông tư này”; b) Sửa đổi cụm từ “nộp đơn” tại dòng thứ nhất điểm b thành cụm từ “nộp đơn bảo lãnh cho thân nhân là người nước ngoài nhập cảnh theo mẫu N3 ban hành kèm theo Thông tư này”. 2. Sửa đổi cụm từ “đơn (theo mẫu quy định)” tại dòng thứ hai, điểm a khoản 1 Mục II thành cụm từ “Tờ khai đề nghị cấp thị thực Việt Nam theo mẫu N1 ban hành kèm theo Thông tư này”. 3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Mục IV như sau: a) Sửa đổi cụm từ “văn bản đề nghị” tại dòng thứ tư điểm a và dòng thứ tư điểm b thành cụm từ “tờ khai đề nghị cấp, sửa đổi, bổ sung thị thực và gia hạn tạm trú theo mẫu N5 ban hành kèm theo Thông tư này”. b) Sửa đổi nội dung tại điểm d như sau: Người nước ngoài đề nghị cấp thẻ tạm trú nộp 01 bộ hồ sơ cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ tạm trú gồm các loại giấy tờ sau: + Văn bản đề nghị cấp thẻ tạm trú theo mẫu N7A; bản khai thông tin về người nước ngoài đề nghị cấp thẻ tạm trú theo mẫu N7B ban hành kèm theo Thông tư này; + Hộ chiếu của người xin cấp thẻ tạm trú; + Giấy tờ chứng minh thuộc diện xem xét cấp thẻ tạm trú là một trong các loại giấy tờ như: giấy phép lao động, giấy xác nhận là Trưởng Văn phòng đại diện, thành viên Hội đồng quản trị hoặc các giấy tờ khác có giá trị chứng minh đủ điều kiện cấp thẻ tạm trú. - Thẻ tạm trú được cấp riêng cho từng người theo mẫu N8 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Sửa đổi, bổ sung Mục VI và Mục VII như sau: “VI. Thủ tục cấp thẻ thường trú 1. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có nhu cầu thường trú tại Việt Nam nộp 01 bộ hồ sơ và làm thủ tục tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an. Hồ sơ xin thường trú tại Việt Nam gồm các loại giấy tờ sau: - Đơn xin thường trú theo mẫu N9A; bản tự khai lý lịch theo mẫu N9B ban hành kèm theo Thông tư này; - 04 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. - Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu); - Các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có). Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú và Công an cấp tỉnh nơi người đó xin thường trú biết quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Công an cấp tỉnh chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp thẻ thường trú sau khi nhận được thông báo về quyết định đồng ý cho thường trú của Thủ tướng Chính phủ. 2. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ và làm thủ tục xin thường trú ở Việt Nam tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi xin thường trú. a) Hồ sơ xin thường trú gồm các loại giấy tờ sau: - Đơn xin thường trú theo mẫu N9A ban hành kèm theo Thông tư này; - 04 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. - Lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân hoặc của nước mà người đó thường trú cấp; - Công hàm của cơ quan đại diện của nước mà người đó là công dân; - Giấy bảo lãnh cho thân nhân là người nước ngoài xin thường trú ở Việt Nam theo mẫu N10 ban hành kèm theo Thông tư này; - Giấy tờ chứng minh là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam; - Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu); - Các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có). b) Các giấy tờ nêu trong hồ sơ (trừ giấy bảo lãnh và hộ chiếu) phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng hoặc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật. c) Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành thẩm tra, xác minh và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định. Trường hợp xét thấy cần phải thẩm tra bổ sung thì thời gian trên có thể kéo dài thêm nhưng không quá 02 tháng. d) Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú và Công an cấp tỉnh nơi người đó xin thường trú biết về quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an. Công an cấp tỉnh chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp thẻ thường trú trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về quyết định đồng ý cho thường trú của Bộ trưởng Bộ Công an. đ) Thẻ thường trú được cấp riêng cho từng người theo mẫu N11 ban hành kèm theo Thông tư này. e) Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, người nước ngoài được chấp thuận cho thường trú ở Việt Nam phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để nhận thẻ thường trú. Quá thời hạn nêu trên, người được chấp thuận cho thường trú không đến nhận thẻ mà không có lý do chính đáng thì thẻ thường trú mặc nhiên hết giá trị. VII. Thủ tục cấp đổi thẻ thường trú - Định kỳ 03 năm một lần, người được cấp thẻ thường trú phải có mặt tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi thường trú để làm thủ tục cấp đổi thẻ thường trú. Việc xin cấp đổi thẻ thường trú được thực hiện trong thời hạn 90 ngày tínhđến ngày phải có mặt. Người xin cấp đổi thẻ thường trú nộp 01 bộ hồ sơ gồm các loại giấy tờ sau: + 01 tờ khai cấp lại thẻ thường trú theo mẫu N9C ban hành kèm theo Thông tư này; + 02 ảnh mới chụp, cỡ 3 x 4 cm, phông nền trắng, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu. + Thẻ thường trú: + Bản chụp hộ chiếu (xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu). - Trường hợp chưa hết thời hạn 03 năm (tính từ ngày cấp thẻ), người được cấp thẻ có nhu cầu thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú thì nộp hồ sơ và làm thủ tục như xin cấp đổi thẻ thường trú. - Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp đổi thẻ thường trú, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh cấp thẻ mới trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản chấp thuận”. Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA - BNG ngày 12/5/2009 hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Mục III như sau: Ban hành kèm theo Thông tư này mẫu đơn đề nghị về Việt Nam thường trú dùng cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (mẫu TT01). Điều 3. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký. /.
Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù
01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC
22/02/2013
Thông tư liên tịch
15/04/2013
Công báo số 131+132, năm 2013
01/03/2013
Bộ Công an
Thứ trưởng - Trung tướng
Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù _________________ Để áp dụng đúng và thống nhất những quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù như sau. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư này hướng dẫn về trình tự, thủ tục và điều kiện tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. 2. Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Điều 2. Nguyên tắc tiếp nhận, chuyển giao 1. Phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 2. Vì mục đích nhân đạo nhằm tạo thuận lợi cho người đang chấp hành án phạt tù cơ hội được tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại nước mà họ mang quốc tịch hoặc nước khác đồng ý tiếp nhận. 3. Ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp không có điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” nhưng không được trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. “Tiếp nhận” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tiếp nhận công dân Việt Nam bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân ở nước chuyển giao để tiếp tục chấp hành án tại Việt Nam; 2. “Chuyển giao” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chuyển người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân tại các cơ sở giam giữ của Việt Nam cho nước tiếp nhận để tiếp tục chấp hành án tại nước đó; 3. “Người đang chấp hành án phạt tù” là nguời đang chấp hành hình phạt tù tại các cơ sở giam giữ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc lãnh thổ nước chuyển giao; 4. “Tòa án nhân dân có thẩm quyền” là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam; 5. “Cơ sở giam giữ” là trại giam, trại tạm giam hoặc nơi giam giữ khác trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc lãnh thổ nước chuyển giao; 6. “Trường hợp đặc biệt” quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp được hiểu là một trong những trường hợp sau đây: a) Để phục vụ yêu cầu đối ngoại giữa Việt Nam và nước tiếp nhận; b) Người đang chấp hành án phạt tù đang bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án được là người mắc một trong các bệnh sau: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu..., có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người đang chấp hành án phạt tù bị bệnh nặng; 7. “Người được phép cư trú không thời hạn tại nước tiếp nhận” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp được hiểu là những người được phép đến, nhập cảnh và lưu lại lâu dài tại nước tiếp nhận; 8. “Người thân thích của người đang chấp hành án phạt tù” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột của người đang chấp hành án phạt tù đó có nơi cư trú chính trên lãnh thổ của nước tiếp nhận. Điều 4. Thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong hoạt động chuyển giao, tiếp nhận 1. Bộ Công an có thẩm quyền sau: a) Tiếp nhận, yêu cầu chuyển giao; b) Kiểm tra hồ sơ ban đầu; yêu cầu bổ sung hồ sơ (nếu cần thiết). Trường hợp khi xem xét hồ sơ đề nghị chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ do mình quản lý, Bộ Công an thấy người đó chưa đủ điều kiện xem xét chuyển giao theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 hoặc thuộc một trong các trường hợp từ chối chuyển giao theo quy định tại Điều 51 Luật tương trợ tư pháp thì Bộ Công an thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu chuyển giao và người đang chấp hành án phạt tù đó về khả năng từ chối chuyển giao. Trường hợp hồ sơ đề nghị tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù do các cơ sở giam giữ nước ngoài quản lý, nếu xét thấy chưa đủ điều kiện tiếp nhận hoặc chưa đầy đủ thủ tục hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 50, Điều 52 và Điều 53 Luật tương trợ tư pháp thì Bộ Công an thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị về khả năng từ chối tiếp nhận hoặc yêu cầu nước đề nghị tiếp nhận cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định. 2. Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” trong tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam) liên quan đến việc chuyển giao, tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. 3. Cơ quan đại diện Việt Nam trợ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền ở trong nước trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài liên quan tới việc chuyển giao, tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. 4. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nơi người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam có nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam xem xét, quyết định việc tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao. 5. Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các quyết định tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. 6. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tham gia phát biểu quan điểm tại phiên họp xem xét tiếp nhận, yêu cầu chuyển giao, thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong hoạt động tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Điều 5. Tiếp nhận, chuyển giao theo nguyên tắc “có đi có lại” 1. Việc tiếp nhận, chuyển giao theo đề nghị của phía Việt Nam a) Trên cơ sở đề nghị của nguời đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó, Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tiếp nhận, chuyển giao theo quy định của pháp luật và có văn bản đề nghị Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, đồng thời gửi bản sao hồ sơ và văn bản cho Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nghiên cứu phối hợp. Trong văn bản gửi Bộ Ngoại giao cần nêu rõ sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” với nước hữu quan, sự phù hợp của hồ sơ theo quy định của Luật tương trợ tư pháp và Thông tư này. b) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Ngoại giao có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến bằng văn bản về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 của Luật tuơng trợ tư pháp. c) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến bằng văn bản. d) Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao chủ trì xem xét việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Trường hợp áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết, đồng thời có công hàm kèm theo hồ sơ liên quan gửi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trường hợp không áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao gửi trả lại hồ sơ cho Bộ Công an và nêu rõ lý do, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. đ) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của phía nước ngoài về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao có văn bản thông báo cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết, phối hợp. 2. Việc tiếp nhận, chuyển giao theo đề nghị của phía nước ngoài a) Trường hợp Bộ Ngoại giao nhận được đề nghị tiếp nhận, chuyển giao của phía nước ngoài mà giữa Việt Nam và nước đó chưa có điều ước quốc tế liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và chưa có thỏa thuận hoặc tiền lệ về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” về vấn đề này, Bộ Ngoại giao có văn bản kèm theo hồ sơ (nếu có) đề nghị Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao (bản chính), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp phối hợp xem xét việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. b) Trường hợp Bộ Công an nhận được đề nghị tiếp nhận, chuyển giao của phía nước ngoài mà giữa Việt Nam và nước đó chưa có điều ước quốc tế liên quan đến tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và chưa có thỏa thuận hoặc tiền lệ về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Công an có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ (nếu có) đề nghị Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Trong văn bản cần nêu rõ ý kiến của Bộ Công an về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. Trong trường hợp này, Bộ Ngoại giao có văn bản, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp phối hợp có ý kiến về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. c) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp phải có ý kiến bằng văn bản. d) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao xem xét và quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” và trả lời bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có yêu cầu và gửi một bản sao văn bản đó cho Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp để phối hợp. Trường hợp đồng ý áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, trên cơ sở hồ sơ do phía nước ngoài đã gửi, các cơ quan liên quan thực hiện việc tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định. Chương II TIẾP NHẬN NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI NƯỚC NGOÀI VỀ VIỆT NAM TIẾP TỤC CHẤP HÀNH ÁN Điều 6. Điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù Người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao chỉ có thể được tiếp nhận về Việt Nam để tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Là công dân Việt Nam; 2. Có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam; 3. Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam; 4. Vào thời điểm tiếp nhận yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 (một) năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này còn ít nhất là 06 (sáu) tháng; 5. Bản án đối với người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó tại nước chuyển giao; 6. Nước chuyển giao và người bị kết án đều đồng ý với việc chuyển giao. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó; 7. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có quyết định đồng ý tiếp nhận đã có hiệu lực pháp luật. Điều 7. Hồ sơ đề nghị tiếp nhận chuyển giao Hồ sơ đề nghị tiếp nhận chuyển giao phải được lập thành 03 (ba) bộ theo các quy định tại các điều 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp trừ trường hợp điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam và nước chuyển giao là thành viên có quy định khác. Điều 8. Xác định quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù Khi nhận được yêu cầu tiếp nhận chuyển giao, cơ quan đầu mối của Bộ Công an phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp xác minh quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù. Trình tự, thủ tục xác minh quốc tịch thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Điều 9. Trình tự, thủ tục nhận yêu cầu chuyển giao; xem xét, quyết định việc tiếp nhận 1. Công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù chung thân hoặc tù có thời hạn tại nước ngoài có nguyện vọng được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành phần hình phạt còn lại thì có thể làm đơn (hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) trình bày nguyện vọng đó với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc cơ quan đại diện Việt Nam. 2. Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được đơn xin được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, Cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đơn, hồ sơ cho Bộ Công an để vào sổ hồ sơ. 3. Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an vào sổ hồ sơ và kiểm tra hồ sơ theo quy định tại các điều 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp thông tin bổ sung vào hồ sơ. Sau 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước chuyển giao và nêu rõ lý do, đồng thời gửi cho người đang chấp hành án phạt tù có yêu cầu tiếp nhận về Việt Nam (hoặc người đại diện hợp pháp của người đó) biết. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền 02 (hai) bộ hồ sơ để xem xét, quyết định có tiếp nhận chuyển giao về Việt Nam hay không. 4. Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu tiếp nhận do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu tiếp nhận, Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu tiếp nhận. Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an. 5. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau: a) Xem xét yêu cầu tiếp nhận khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 Luật tuơng trợ tư pháp và Điều 6 của Thông tư này; b) Đình chỉ việc xem xét yêu cầu tiếp nhận và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người yêu cầu rút yêu cầu chuyển giao hoặc vì các lý do khác mà việc xem xét không thể tiến hành được. 6. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét yêu cầu tiếp nhận trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ tại Khoản 3 Điều này và chuyển ngay một bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 7. Việc xem xét yêu cầu tiếp nhận đuợc tiến hành tại phiên họp do Hội đồng gồm 03 (ba) thẩm phán trong đó có 01 (một) thẩm phán làm chủ tọa và có sự tham gia của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 8. Hội đồng xem xét yêu cầu tiếp nhận làm việc theo trình tự quy định tại Khoản 4 Điều 55 Luật tương trợ tư pháp. 9. Chậm nhất là 10 (mười) ngày, kể từ ngày ra quyết định tiếp nhận hoặc từ chối tiếp nhận, Tòa án nhân dân cấp tỉnh gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét việc có kháng nghị hay không; đồng thời gửi cho Bộ Công an để thông báo cho phía nước ngoài biết. 10. Quyết định tiếp nhận, từ chối tiếp nhận có hiệu lực pháp luật bao gồm: a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. 11. Trường hợp quyết định đồng ý tiếp nhận, trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tiếp nhận có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã ra quyết định sơ thẩm ra các quyết định sau đây: a) Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận; b) Quyết định tiếp tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam; c) Quyết định chuyển đổi hình phạt theo quy định tại Điều 19 Thông tư này trong trường hợp tính chất và thời hạn của hình phạt nước chuyển giao đã tuyên không tương thích với quy định của pháp luật Việt Nam. Điều 10. Xác minh sự đồng ý của người được chuyển giao Trong trường hợp cần thiết, trước khi có quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an cử cán bộ đến nước chuyển giao hoặc ủy quyền cho cơ quan đại diện Việt Nam tại nước chuyển giao để xác định xem người đó có đồng ý một cách tự nguyện và với nhận thức đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc chuyển giao hay không. Điều 11. Tổ chức tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù 1. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định tiếp nhận, Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an trao đổi thống nhất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước chuyển giao về thời gian, địa điểm, cách thức tiếp nhận và tổ chức việc tiếp nhận, áp giải người được chuyển giao về cơ sở giam giữ nơi người đó sẽ tiếp tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam. 2. Thành phần Đoàn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù gồm có: a) Đại diện Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an làm Trưởng đoàn; b) Cảnh sát hỗ trợ tư pháp. 3. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước chuyển giao phải được lập thành biên bản gồm 03 (ba) bản bằng tiếng Việt, 03 (ba) bản tiếng Anh và 03 (ba) bản bằng tiếng của nước tiếp nhận; có chữ ký xác nhận của đại diện các cơ quan có trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Điều này và đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao. 4. Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an quyết định và chỉ định cơ sở giam giữ tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù có quyết định tiếp nhận. Chương III CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM CHO PHÍA NƯỚC NGOÀI Điều 12. Thông báo về quyền được yêu cầu chuyển giao 1. Khi tuyên bản án và hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, Tòa án nhân dân đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm có trách nhiệm thông báo cho bị cáo là các đối tượng nêu tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp biết về quyền được yêu cầu chuyển giao. 2. Hàng năm, Bộ Công an thực hiện việc thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù là người nước ngoài đang chấp hành án tại các cơ sở giam giữ do Bộ Công an quản lý biết về quyền được yêu cầu chuyển giao. Điều 13. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao Hồ sơ yêu cầu chuyển giao và tài liệu kèm theo được quy định tại các điều 52 và 53 của Luật tương trợ tư pháp và các quy định trong điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam và phía nước ngoài là thành viên. Điều 14. Xác định sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù 1. Việc xác định sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù được căn cứ vào: a) Đơn xin chuyển giao của người đó; b) Bản tuyên bố của người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp trong trường hợp người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần dẫn đến người đó không có đầy đủ năng lực hành vi, khả năng nhận thức về việc họ hiểu biết đầy đủ về hệ quả của việc chuyển giao và các quyền, nghĩa vụ của việc chuyển giao. 2. Căn cứ vào yêu cầu của nước tiếp nhận và từng vụ việc cụ thể, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cho phép nước tiếp nhận cử đại diện sang Việt Nam để xác minh sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù. Điều 15. Trình tự, thủ tục xem xét quyết định chuyển giao, từ chối chuyển giao Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định chuyển giao, từ chối chuyển giao cho phía nước ngoài thực hiện theo quy định tại các điều 50, 51 và 55 Luật tương trợ tư pháp và các quy định khác trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là thành viên và quy định tại Thông tư liên tịch này. Điều 16. Quyết định bảo lưu bản án, quyết định của Tòa án nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường hợp đồng ý chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cho nước ngoài, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, phúc thẩm ra quyết định bảo lưu bản án, quyết định mà Tòa án Việt Nam đã tuyên đối với người phạm tội. Điều 17. Thực hiện việc chuyển giao 1. Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định chuyển giao, Bộ Công an thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về thời gian, địa điểm và cách thức chuyển giao. 2. Căn cứ quyết định của Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, cơ sở giam giữ người đang chấp hành án phạt tù có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện việc áp giải người đang chấp hành án phạt tù đến địa điểm và đúng thời gian đã thỏa thuận để bàn giao cho nước ngoài. Thành phần Đoàn áp giải người đang chấp hành án phạt tù gồm có: a) Đại diện Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an làm Trưởng đoàn; b) Giám thị hoặc Phó Giám thị cơ sở giam giữ nơi người đang chấp hành án phạt tù đang chấp hành hình phạt tù. 3. Việc bàn giao người đang chấp hành án phạt tù cho nước tiếp nhận phải được lập thành biên bản gồm 03 (ba) bản bằng tiếng Việt, 03 (ba) bản tiếng Anh và 03 (ba) bản bằng tiếng của nước tiếp nhận; có chữ ký xác nhận của đại diện các cơ quan có trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Điều này và đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận. 4. Quá thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước yêu cầu chuyển giao không tiếp nhận chuyển giao mà không có lý do chính đáng thì Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an lập biên bản về việc này và thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định chuyển giao biết để xem xét, hủy quyết định chuyển giao. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Tòa án đã ra quyết định chuyển giao phải tiến hành họp và ra quyết định hủy quyết định chuyển giao và thông báo ngay cho Bộ Công an biết để thông báo cho nước ngoài. Sau khi nhận được quyết định hủy quyết định chuyển giao, Bộ Công an thông báo ngay cho nước ngoài và người đang chấp hành án phạt tù đó biết về quyết định của Tòa án Việt Nam và ra quyết định trả người đang chấp hành án phạt tù về cơ sở giam giữ để tiếp tục chấp hành án tại Việt Nam. 5. Trường hợp quá thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước yêu cầu chuyển giao chưa thể tiếp nhận chuyển giao do có những nguyên nhân khách quan và đã thông báo cho Bộ Công an biết về sự chậm trễ này và cam kết bằng văn bản việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và chi trả toàn bộ chi phí phát sinh do việc chậm chễ tiếp nhận chuyển giao gây nên, thì Bộ Công an có thể ra quyết định hoãn thực hiện quyết định chuyển giao và thỏa thuận với nước ngoài để ấn định thời gian và địa điểm mới thực hiện việc chuyển giao. Việc hoãn thực hiện quyết định chuyển giao không được quá 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được văn bản cam kết của nước ngoài về việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa người đang chấp hành án phạt tù vào cơ sở giam giữ gần và thuận tiện nhất cho việc chuyển giao theo thỏa thuận mới. Điều 18. Thông báo về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển giao 1. Ngay sau khi nhận được thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển giao, Bộ Công an thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài biết để thực hiện việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù. 2. Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an giám sát việc cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Chương IV TIẾP TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 19. Chuyển đổi hình phạt Việc chuyển đổi hình phạt được thực hiện như sau: 1. Khi ra quyết định tiếp nhận công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về nước để tiếp tục thi hành án tại Việt Nam, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét có phải chuyển đổi hình phạt không. Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt đó không phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam thì có thể chuyển đổi hình phạt đó cho phù hợp với hình phạt mà pháp luật của Việt Nam quy định đối với tội phạm tương tự. Khi chuyển đổi hình phạt, Tòa án có thẩm quyền phải căn cứ vào các kết luận về sự việc của vụ án được thể hiện trong các ý kiến, bản luận tội, phán quyết hoặc hình phạt đã được nước chuyển giao tuyên. Hình phạt chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt mà nước chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn. 2. Trường hợp người phạm tội bị xử phạt tù có thời hạn trên 30 (ba mươi) năm đối với nhiều tội hoặc trên 20 (hai mươi) năm đối với một tội, sau khi trao đổi với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có thể xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt còn lại của người được tiếp nhận cao nhất đến 30 (ba mươi) năm tù (trường hợp phạm nhiều tội) hoặc đến 20 (hai mươi) năm tù (trường hợp phạm một tội) theo quy định về quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự Việt Nam và được trừ thời gian người đó đã thi hành hình phạt ở nước ngoài. Điều 20. Thực hiện chế độ đối với người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam 1. Các chế độ và quyền lợi của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam được thực hiện như đối với người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam. 2. Trong thời gian người đang chấp hành án phạt tù tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù được hưởng các chế độ quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, xem xét tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù, đặc xá, đại xá theo quy định của pháp luật Việt Nam như những người đang chấp hành án phạt tù khác. 3. Trong trường hợp nhận được thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù, đặc xá, đại xá hoặc bất kỳ quyết định, biện pháp nào của nước chuyển giao đối với người được chuyển giao về Việt Nam dẫn đến việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Bộ Công an thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Khoản 2 Điều 22 Thông tư này. 4. Người được chuyển giao là người chưa thành niên được hưởng các quy định về giam giữ đối với người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam. Điều 21. Thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù Bộ Công an thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi: 1. Người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc đặc xá; 2. Người đang chấp hành án phạt tù đã chấp hành xong án phạt tù; 3. Người đang chấp hành án phạt tù bỏ trốn khỏi nơi giam giữ; 4. Người đang chấp hành án phạt tù chết trước khi chấp hành xong án phạt tù; 5. Phía nước ngoài đề nghị thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù. Điều 22. Thực hiện quyết định đặc xá hoặc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá hoặc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an gửi ngay thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục như sau: 1. Báo cáo đề xuất Chính phủ trình Chủ tịch nước về quyết định đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã tiếp nhận về Việt Nam của nước ngoài để quyết định theo thẩm quyền; 2. Thông báo cho Tòa án nhân dân tối cao về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao để ra quyết định công nhận và cho thi hành quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù tại Việt Nam của Tòa án nước chuyển giao; 3. Sau khi nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền, Bộ Công an thực hiện việc đặc xá, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người đang chấp hành án phạt tù. Chương V HIỆU LỰC THI HÀNH Điều 23. Hiệu lực của Thông tư liên tịch Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013. Điều 24. Tổ chức thực hiện Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải giải thích, hướng dẫn đề nghị phản ánh cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=30375&Keyword=
2025-09-24T02:34:45.166583
../data\bocongan\012013TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù _________________ Để áp dụng đúng và thống nhất những quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù như sau. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư này hướng dẫn về trình tự, thủ tục và điều kiện tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. 2. Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Điều 2. Nguyên tắc tiếp nhận, chuyển giao 1. Phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 2. Vì mục đích nhân đạo nhằm tạo thuận lợi cho người đang chấp hành án phạt tù cơ hội được tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại nước mà họ mang quốc tịch hoặc nước khác đồng ý tiếp nhận. 3. Ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp không có điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” nhưng không được trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. “Tiếp nhận” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tiếp nhận công dân Việt Nam bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân ở nước chuyển giao để tiếp tục chấp hành án tại Việt Nam; 2. “Chuyển giao” là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chuyển người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân tại các cơ sở giam giữ của Việt Nam cho nước tiếp nhận để tiếp tục chấp hành án tại nước đó; 3. “Người đang chấp hành án phạt tù” là nguời đang chấp hành hình phạt tù tại các cơ sở giam giữ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc lãnh thổ nước chuyển giao; 4. “Tòa án nhân dân có thẩm quyền” là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam; 5. “Cơ sở giam giữ” là trại giam, trại tạm giam hoặc nơi giam giữ khác trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc lãnh thổ nước chuyển giao; 6. “Trường hợp đặc biệt” quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp được hiểu là một trong những trường hợp sau đây: a) Để phục vụ yêu cầu đối ngoại giữa Việt Nam và nước tiếp nhận; b) Người đang chấp hành án phạt tù đang bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án được là người mắc một trong các bệnh sau: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu. . , có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người đang chấp hành án phạt tù bị bệnh nặng; 7. “Người được phép cư trú không thời hạn tại nước tiếp nhận” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp được hiểu là những người được phép đến, nhập cảnh và lưu lại lâu dài tại nước tiếp nhận; 8. “Người thân thích của người đang chấp hành án phạt tù” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột của người đang chấp hành án phạt tù đó có nơi cư trú chính trên lãnh thổ của nước tiếp nhận. Điều 4. Thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong hoạt động chuyển giao, tiếp nhận 1. Bộ Công an có thẩm quyền sau: a) Tiếp nhận, yêu cầu chuyển giao; b) Kiểm tra hồ sơ ban đầu; yêu cầu bổ sung hồ sơ (nếu cần thiết). Trường hợp khi xem xét hồ sơ đề nghị chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ do mình quản lý, Bộ Công an thấy người đó chưa đủ điều kiện xem xét chuyển giao theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 hoặc thuộc một trong các trường hợp từ chối chuyển giao theo quy định tại Điều 51 Luật tương trợ tư pháp thì Bộ Công an thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu chuyển giao và người đang chấp hành án phạt tù đó về khả năng từ chối chuyển giao. Trường hợp hồ sơ đề nghị tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù do các cơ sở giam giữ nước ngoài quản lý, nếu xét thấy chưa đủ điều kiện tiếp nhận hoặc chưa đầy đủ thủ tục hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 50, Điều 52 và Điều 53 Luật tương trợ tư pháp thì Bộ Công an thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị về khả năng từ chối tiếp nhận hoặc yêu cầu nước đề nghị tiếp nhận cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định. 2. Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” trong tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam) liên quan đến việc chuyển giao, tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. 3. Cơ quan đại diện Việt Nam trợ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền ở trong nước trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài liên quan tới việc chuyển giao, tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. 4. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nơi người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam có nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam xem xét, quyết định việc tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao. 5. Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các quyết định tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. 6. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tham gia phát biểu quan điểm tại phiên họp xem xét tiếp nhận, yêu cầu chuyển giao, thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong hoạt động tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Điều 5. Tiếp nhận, chuyển giao theo nguyên tắc “có đi có lại” 1. Việc tiếp nhận, chuyển giao theo đề nghị của phía Việt Nam a) Trên cơ sở đề nghị của nguời đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó, Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tiếp nhận, chuyển giao theo quy định của pháp luật và có văn bản đề nghị Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, đồng thời gửi bản sao hồ sơ và văn bản cho Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nghiên cứu phối hợp. Trong văn bản gửi Bộ Ngoại giao cần nêu rõ sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” với nước hữu quan, sự phù hợp của hồ sơ theo quy định của Luật tương trợ tư pháp và Thông tư này. b) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Ngoại giao có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến bằng văn bản về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 của Luật tuơng trợ tư pháp. c) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến bằng văn bản. d) Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao chủ trì xem xét việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Trường hợp áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết, đồng thời có công hàm kèm theo hồ sơ liên quan gửi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trường hợp không áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao gửi trả lại hồ sơ cho Bộ Công an và nêu rõ lý do, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. đ) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của phía nước ngoài về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Ngoại giao có văn bản thông báo cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết, phối hợp. 2. Việc tiếp nhận, chuyển giao theo đề nghị của phía nước ngoài a) Trường hợp Bộ Ngoại giao nhận được đề nghị tiếp nhận, chuyển giao của phía nước ngoài mà giữa Việt Nam và nước đó chưa có điều ước quốc tế liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và chưa có thỏa thuận hoặc tiền lệ về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” về vấn đề này, Bộ Ngoại giao có văn bản kèm theo hồ sơ (nếu có) đề nghị Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao (bản chính), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp phối hợp xem xét việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. b) Trường hợp Bộ Công an nhận được đề nghị tiếp nhận, chuyển giao của phía nước ngoài mà giữa Việt Nam và nước đó chưa có điều ước quốc tế liên quan đến tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và chưa có thỏa thuận hoặc tiền lệ về việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, Bộ Công an có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ (nếu có) đề nghị Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Trong văn bản cần nêu rõ ý kiến của Bộ Công an về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. Trong trường hợp này, Bộ Ngoại giao có văn bản, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp phối hợp có ý kiến về sự cần thiết áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, sự phù hợp của hồ sơ đối với quy định tại các điều 50, 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. c) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp phải có ý kiến bằng văn bản. d) Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao xem xét và quyết định việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” và trả lời bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có yêu cầu và gửi một bản sao văn bản đó cho Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp để phối hợp. Trường hợp đồng ý áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, trên cơ sở hồ sơ do phía nước ngoài đã gửi, các cơ quan liên quan thực hiện việc tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định. Chương II TIẾP NHẬN NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI NƯỚC NGOÀI VỀ VIỆT NAM TIẾP TỤC CHẤP HÀNH ÁN Điều 6. Điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù Người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao chỉ có thể được tiếp nhận về Việt Nam để tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Là công dân Việt Nam; 2. Có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam; 3. Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam; 4. Vào thời điểm tiếp nhận yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 (một) năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này còn ít nhất là 06 (sáu) tháng; 5. Bản án đối với người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó tại nước chuyển giao; 6. Nước chuyển giao và người bị kết án đều đồng ý với việc chuyển giao. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó; 7. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có quyết định đồng ý tiếp nhận đã có hiệu lực pháp luật. Điều 7. Hồ sơ đề nghị tiếp nhận chuyển giao Hồ sơ đề nghị tiếp nhận chuyển giao phải được lập thành 03 (ba) bộ theo các quy định tại các điều 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp trừ trường hợp điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam và nước chuyển giao là thành viên có quy định khác. Điều 8. Xác định quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù Khi nhận được yêu cầu tiếp nhận chuyển giao, cơ quan đầu mối của Bộ Công an phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp xác minh quốc tịch Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù. Trình tự, thủ tục xác minh quốc tịch thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Điều 9. Trình tự, thủ tục nhận yêu cầu chuyển giao; xem xét, quyết định việc tiếp nhận 1. Công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù chung thân hoặc tù có thời hạn tại nước ngoài có nguyện vọng được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành phần hình phạt còn lại thì có thể làm đơn (hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) trình bày nguyện vọng đó với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc cơ quan đại diện Việt Nam. 2. Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được đơn xin được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, Cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đơn, hồ sơ cho Bộ Công an để vào sổ hồ sơ. 3. Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an vào sổ hồ sơ và kiểm tra hồ sơ theo quy định tại các điều 52 và 53 Luật tương trợ tư pháp. Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cung cấp thông tin bổ sung vào hồ sơ. Sau 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước chuyển giao và nêu rõ lý do, đồng thời gửi cho người đang chấp hành án phạt tù có yêu cầu tiếp nhận về Việt Nam (hoặc người đại diện hợp pháp của người đó) biết. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền 02 (hai) bộ hồ sơ để xem xét, quyết định có tiếp nhận chuyển giao về Việt Nam hay không. 4. Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu tiếp nhận do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu tiếp nhận, Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu tiếp nhận. Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an. 5. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau: a) Xem xét yêu cầu tiếp nhận khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 Luật tuơng trợ tư pháp và Điều 6 của Thông tư này; b) Đình chỉ việc xem xét yêu cầu tiếp nhận và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người yêu cầu rút yêu cầu chuyển giao hoặc vì các lý do khác mà việc xem xét không thể tiến hành được. 6. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét yêu cầu tiếp nhận trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ tại Khoản 3 Điều này và chuyển ngay một bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 7. Việc xem xét yêu cầu tiếp nhận đuợc tiến hành tại phiên họp do Hội đồng gồm 03 (ba) thẩm phán trong đó có 01 (một) thẩm phán làm chủ tọa và có sự tham gia của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. 8. Hội đồng xem xét yêu cầu tiếp nhận làm việc theo trình tự quy định tại Khoản 4 Điều 55 Luật tương trợ tư pháp. 9. Chậm nhất là 10 (mười) ngày, kể từ ngày ra quyết định tiếp nhận hoặc từ chối tiếp nhận, Tòa án nhân dân cấp tỉnh gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét việc có kháng nghị hay không; đồng thời gửi cho Bộ Công an để thông báo cho phía nước ngoài biết. 10. Quyết định tiếp nhận, từ chối tiếp nhận có hiệu lực pháp luật bao gồm: a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. 11. Trường hợp quyết định đồng ý tiếp nhận, trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tiếp nhận có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã ra quyết định sơ thẩm ra các quyết định sau đây: a) Quyết định thi hành quyết định tiếp nhận; b) Quyết định tiếp tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam; c) Quyết định chuyển đổi hình phạt theo quy định tại Điều 19 Thông tư này trong trường hợp tính chất và thời hạn của hình phạt nước chuyển giao đã tuyên không tương thích với quy định của pháp luật Việt Nam. Điều 10. Xác minh sự đồng ý của người được chuyển giao Trong trường hợp cần thiết, trước khi có quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an cử cán bộ đến nước chuyển giao hoặc ủy quyền cho cơ quan đại diện Việt Nam tại nước chuyển giao để xác định xem người đó có đồng ý một cách tự nguyện và với nhận thức đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc chuyển giao hay không. Điều 11. Tổ chức tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù 1. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định tiếp nhận, Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an trao đổi thống nhất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước chuyển giao về thời gian, địa điểm, cách thức tiếp nhận và tổ chức việc tiếp nhận, áp giải người được chuyển giao về cơ sở giam giữ nơi người đó sẽ tiếp tục thi hành án phạt tù tại Việt Nam. 2. Thành phần Đoàn tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù gồm có: a) Đại diện Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an làm Trưởng đoàn; b) Cảnh sát hỗ trợ tư pháp. 3. Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước chuyển giao phải được lập thành biên bản gồm 03 (ba) bản bằng tiếng Việt, 03 (ba) bản tiếng Anh và 03 (ba) bản bằng tiếng của nước tiếp nhận; có chữ ký xác nhận của đại diện các cơ quan có trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Điều này và đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao. 4. Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an quyết định và chỉ định cơ sở giam giữ tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù có quyết định tiếp nhận. Chương III CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM CHO PHÍA NƯỚC NGOÀI Điều 12. Thông báo về quyền được yêu cầu chuyển giao 1. Khi tuyên bản án và hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, Tòa án nhân dân đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm có trách nhiệm thông báo cho bị cáo là các đối tượng nêu tại điểm a Khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp biết về quyền được yêu cầu chuyển giao. 2. Hàng năm, Bộ Công an thực hiện việc thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù là người nước ngoài đang chấp hành án tại các cơ sở giam giữ do Bộ Công an quản lý biết về quyền được yêu cầu chuyển giao. Điều 13. Hồ sơ yêu cầu chuyển giao Hồ sơ yêu cầu chuyển giao và tài liệu kèm theo được quy định tại các điều 52 và 53 của Luật tương trợ tư pháp và các quy định trong điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam và phía nước ngoài là thành viên. Điều 14. Xác định sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù 1. Việc xác định sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù được căn cứ vào: a) Đơn xin chuyển giao của người đó; b) Bản tuyên bố của người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp trong trường hợp người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần dẫn đến người đó không có đầy đủ năng lực hành vi, khả năng nhận thức về việc họ hiểu biết đầy đủ về hệ quả của việc chuyển giao và các quyền, nghĩa vụ của việc chuyển giao. 2. Căn cứ vào yêu cầu của nước tiếp nhận và từng vụ việc cụ thể, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cho phép nước tiếp nhận cử đại diện sang Việt Nam để xác minh sự đồng ý chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù. Điều 15. Trình tự, thủ tục xem xét quyết định chuyển giao, từ chối chuyển giao Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định chuyển giao, từ chối chuyển giao cho phía nước ngoài thực hiện theo quy định tại các điều 50, 51 và 55 Luật tương trợ tư pháp và các quy định khác trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là thành viên và quy định tại Thông tư liên tịch này. Điều 16. Quyết định bảo lưu bản án, quyết định của Tòa án nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường hợp đồng ý chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cho nước ngoài, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, phúc thẩm ra quyết định bảo lưu bản án, quyết định mà Tòa án Việt Nam đã tuyên đối với người phạm tội. Điều 17. Thực hiện việc chuyển giao 1. Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định chuyển giao, Bộ Công an thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về thời gian, địa điểm và cách thức chuyển giao. 2. Căn cứ quyết định của Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, cơ sở giam giữ người đang chấp hành án phạt tù có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện việc áp giải người đang chấp hành án phạt tù đến địa điểm và đúng thời gian đã thỏa thuận để bàn giao cho nước ngoài. Thành phần Đoàn áp giải người đang chấp hành án phạt tù gồm có: a) Đại diện Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an làm Trưởng đoàn; b) Giám thị hoặc Phó Giám thị cơ sở giam giữ nơi người đang chấp hành án phạt tù đang chấp hành hình phạt tù. 3. Việc bàn giao người đang chấp hành án phạt tù cho nước tiếp nhận phải được lập thành biên bản gồm 03 (ba) bản bằng tiếng Việt, 03 (ba) bản tiếng Anh và 03 (ba) bản bằng tiếng của nước tiếp nhận; có chữ ký xác nhận của đại diện các cơ quan có trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Điều này và đại diện cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận. 4. Quá thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước yêu cầu chuyển giao không tiếp nhận chuyển giao mà không có lý do chính đáng thì Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an lập biên bản về việc này và thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định chuyển giao biết để xem xét, hủy quyết định chuyển giao. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Tòa án đã ra quyết định chuyển giao phải tiến hành họp và ra quyết định hủy quyết định chuyển giao và thông báo ngay cho Bộ Công an biết để thông báo cho nước ngoài. Sau khi nhận được quyết định hủy quyết định chuyển giao, Bộ Công an thông báo ngay cho nước ngoài và người đang chấp hành án phạt tù đó biết về quyết định của Tòa án Việt Nam và ra quyết định trả người đang chấp hành án phạt tù về cơ sở giam giữ để tiếp tục chấp hành án tại Việt Nam. 5. Trường hợp quá thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ thời điểm ấn định trong thỏa thuận bàn giao người đang chấp hành án phạt tù mà nước yêu cầu chuyển giao chưa thể tiếp nhận chuyển giao do có những nguyên nhân khách quan và đã thông báo cho Bộ Công an biết về sự chậm trễ này và cam kết bằng văn bản việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và chi trả toàn bộ chi phí phát sinh do việc chậm chễ tiếp nhận chuyển giao gây nên, thì Bộ Công an có thể ra quyết định hoãn thực hiện quyết định chuyển giao và thỏa thuận với nước ngoài để ấn định thời gian và địa điểm mới thực hiện việc chuyển giao. Việc hoãn thực hiện quyết định chuyển giao không được quá 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được văn bản cam kết của nước ngoài về việc sẽ tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù. Thủ trưởng Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa người đang chấp hành án phạt tù vào cơ sở giam giữ gần và thuận tiện nhất cho việc chuyển giao theo thỏa thuận mới. Điều 18. Thông báo về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển giao 1. Ngay sau khi nhận được thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã được chuyển giao, Bộ Công an thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài biết để thực hiện việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá cho người đang chấp hành án phạt tù. 2. Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an giám sát việc cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, đại xá của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Chương IV TIẾP TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 19. Chuyển đổi hình phạt Việc chuyển đổi hình phạt được thực hiện như sau: 1. Khi ra quyết định tiếp nhận công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về nước để tiếp tục thi hành án tại Việt Nam, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét có phải chuyển đổi hình phạt không. Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt đó không phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam thì có thể chuyển đổi hình phạt đó cho phù hợp với hình phạt mà pháp luật của Việt Nam quy định đối với tội phạm tương tự. Khi chuyển đổi hình phạt, Tòa án có thẩm quyền phải căn cứ vào các kết luận về sự việc của vụ án được thể hiện trong các ý kiến, bản luận tội, phán quyết hoặc hình phạt đã được nước chuyển giao tuyên. Hình phạt chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt mà nước chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn. 2. Trường hợp người phạm tội bị xử phạt tù có thời hạn trên 30 (ba mươi) năm đối với nhiều tội hoặc trên 20 (hai mươi) năm đối với một tội, sau khi trao đổi với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có thể xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt còn lại của người được tiếp nhận cao nhất đến 30 (ba mươi) năm tù (trường hợp phạm nhiều tội) hoặc đến 20 (hai mươi) năm tù (trường hợp phạm một tội) theo quy định về quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự Việt Nam và được trừ thời gian người đó đã thi hành hình phạt ở nước ngoài. Điều 20. Thực hiện chế độ đối với người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam 1. Các chế độ và quyền lợi của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao về Việt Nam được thực hiện như đối với người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam. 2. Trong thời gian người đang chấp hành án phạt tù tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù được hưởng các chế độ quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, xem xét tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù, đặc xá, đại xá theo quy định của pháp luật Việt Nam như những người đang chấp hành án phạt tù khác. 3. Trong trường hợp nhận được thông báo về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù, đặc xá, đại xá hoặc bất kỳ quyết định, biện pháp nào của nước chuyển giao đối với người được chuyển giao về Việt Nam dẫn đến việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Bộ Công an thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Khoản 2 Điều 22 Thông tư này. 4. Người được chuyển giao là người chưa thành niên được hưởng các quy định về giam giữ đối với người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam. Điều 21. Thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù Bộ Công an thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi: 1. Người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc đặc xá; 2. Người đang chấp hành án phạt tù đã chấp hành xong án phạt tù; 3. Người đang chấp hành án phạt tù bỏ trốn khỏi nơi giam giữ; 4. Người đang chấp hành án phạt tù chết trước khi chấp hành xong án phạt tù; 5. Phía nước ngoài đề nghị thông báo về tình hình chấp hành án của người đang chấp hành án phạt tù. Điều 22. Thực hiện quyết định đặc xá hoặc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá hoặc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an gửi ngay thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục như sau: 1. Báo cáo đề xuất Chính phủ trình Chủ tịch nước về quyết định đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù đã tiếp nhận về Việt Nam của nước ngoài để quyết định theo thẩm quyền; 2. Thông báo cho Tòa án nhân dân tối cao về quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của nước chuyển giao để ra quyết định công nhận và cho thi hành quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù tại Việt Nam của Tòa án nước chuyển giao; 3. Sau khi nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền, Bộ Công an thực hiện việc đặc xá, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người đang chấp hành án phạt tù. Chương V HIỆU LỰC THI HÀNH Điều 23. Hiệu lực của Thông tư liên tịch Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013. Điều 24. Tổ chức thực hiện Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải giải thích, hướng dẫn đề nghị phản ánh cho Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP
23/07/2013
Thông tư liên tịch
09/09/2013
Công báo số 463 + 464 năm 2013
08/08/2013
Toà án nhân dân tối cao
Phó Chánh án
Đặng Quang Phương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ________________________ Đ ể áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật H ình sự năm 1999, được sửa đổi, b ổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự) trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân t ố i cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư l i ên tịch hướng dẫn việc truy cứu tr ách nhiệm hình sự đối với người có hành v i mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em , Chương I T RUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HÀNH VI MUA BÁN NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 119 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ Điều 1. Xác định hành vi mua bán người " Mua bán người " là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: 1. Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; 2. Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; 3. Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán; 4. Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác; 5. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán người được hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người. Điều 2. V ề một số tình tiết định khung hình phạt 1. “Vì mục đích mạ i dâm” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người nhằm phục vụ cho hoạt động mua bán dâm (như: mua bán người rồi đưa họ đến các ổ mại dâm hoặc tổ chức cho họ bán dâm...). 2. “Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy các lần mua bán người làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc mua bán người làm nguồn sống chính. Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”, “đối với nhiều người”, “tái phạm” (hoặc “tá i phạm nguy hiểm”) và “có tính chất chuyên nghiệp ". 3. “Để l ấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người nhằm lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của người đó. 4. “Đ ể đưa ra nước ngoài” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người để đưa nạn nhân ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong trường hợp nạn nhân chưa bị đưa ra nước ngoài nhưng có căn cứ xác định người phạm tội có ý định đưa nạn nhân ra nước ngoài. 5. “Đối với nhiều người” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán từ 02 người trở lên trong cùng một lần phạm tội. 6. “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người từ 02 lần trở lên, không phân biệt các hành vi mua bán đó được thực hiện đối với một người hay đối với nhiều người và trong các lần mua bán đó người phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường h ợ p cụ thể 1. Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người môi giới dùng thủ đoạn cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và đã giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ (hoặc chồng) hoặc kết hôn chỉ là phương thức, thủ đoạn để người nước ngoài đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài. 2. Trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép a) Trường hợp người môi giới, đưa người đi lao động nước ngoài biết người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị cưỡng bức lao động, bóc lột trái phép (như: người bị đưa ra nước ngoài bị buộc phải làm việc trong môi trường độc hại, không bảo đảm an toàn lao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe; phải làm việc mà không được trả lương; bị buộc phải hoạt động mại dâm) nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và giao họ cho phía nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác thì người môi giới, đưa người đi lao động nước ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự. b) Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới đưa lao động ra nước ngoài để chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác thì người môi giới phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự. c) Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật hình sự. Chương II T RUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HÀNH VI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 120 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ Điều 4. Xác định hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 1. “Mua bán t rẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: a) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; b) Mua trẻ em để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; c) Dùng trẻ em làm phương tiện để trao đổi, thanh toán; d) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác. 2. “Đánh tráo trẻ em” là hành vi thay thế trẻ em này bằng trẻ em khác ngoài ý muốn của cha mẹ, người nuôi dưỡng hoặc người quản lý hợp pháp của một hoặc cả hai đứa trẻ. 3. “Chiếm đoạt trẻ em” là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng trẻ em nhằm chiếm giữ đứa trẻ hoặc giao cho người khác chiếm giữ đứa trẻ đó. 4. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Điều 5. V ề một số tình tiết định khung hình phạt 1. “C ó t í nh chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em từ 05 lần trở lên, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự (05 lần mua bán trẻ em trở lên, 05 lần đánh tráo trẻ em trở lên hoặc 05 lần chiếm đoạt trẻ em trở lên), nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích và người phạm tội lấy các lần mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em làm nguồn sống chính. Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “đối với nhiều trẻ em”, “ t á i phạm” (hoặc “t á i phạm nguy hiểm” ) và “có tính chất chuyên nghiệp” . 2. “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp phạm tội với động cơ đê tiện, thấp hèn, ích kỷ, thể hiện sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát. Người phạm tội nhằm mục đích trả thù, hoặc để khống chế nạn nhân và gia đình, người thân của nạn nhân phục vụ cho mưu đồ của mình. 3. “Đố i với nhiều trẻ em” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt từ 02 trẻ em trở lên (mua bán từ 2 trẻ em trở lên; đánh tráo từ 02 trẻ em trở lên; chiếm đoạt từ 02 trẻ em trở lên) trong cùng một lần phạm tội hoặc trong các lần phạm tội khác nhau. 4. “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em nhằm lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của trẻ em đó. 5. “Để đưa ra nước ngoài” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để đưa nạn nhân ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong trường hợp nạn nhân chưa bị đưa ra nước ngoài nhưng có căn cứ xác định người phạm tội có ý định đưa nạn nhân ra nước ngoài. 6. “Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để sử dụng vào mục đích tàn ác, dã man như: để dùng vào việc làm thí nghiệm; buộc trẻ em phải lao động cực nhọc, đi ăn xin để lấy tiền; để quay phim, chụp ảnh, vẽ tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy hoặc các hành vi tương tự khác. 7. “Đ ể sử dụng vào mục đích mại dâm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em nhằm phục vụ cho hoạt động mua bán dâm (như: mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em rồi buộc các em phải bán dâm hoặc đưa các em đến các ổ mại dâm...). 8. “Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm k khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây: a) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc nạn nhân bị chết (nạn nhân uất ức mà tự sát; nạn nhân bị ốm, bị bệnh tật hoặc không được chăm sóc chu đáo nên đã chết); b) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc nạn nhân bị mắc các bệnh truyền nhiễm, nan y như: AIDS, giang mai v.v…; c) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến hậu quả là không xác định được nạn nhân đang ở đâu tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm; d) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc thân nhân của nạn nhân tuyệt vọng, đau buồn mà chết hoặc tự sát hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đã được hướng dẫn trên đây, có thể còn có hậu quả phi vật chất, như gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong các trường hợp này, phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra có phải là nghiêm trọng hay không. Điều 6. Truy c ứ u trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể 1. Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật a) Trường hợp người môi giới biết việc nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động đối với trẻ em hoặc vì mục đích trái pháp luật khác nhưng đã sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi để chuyển giao trẻ em cho người đó nhằm nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. b) Trường hợp người môi giới nuôi con nuôi biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi nhận đứa trẻ sẽ bán đứa trẻ đó cho người khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. c) Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép mà biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. d) Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc có mục đích trái pháp luật khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em. Tùy từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi (Điều 283) hoặc tội danh khác theo quy định của Bộ luật hình sự. đ) Trường hợp một người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn và đã nhận một khoản tiền, đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền cho việc môi giới, thì người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. 2. Trường hợp người bắt cóc trẻ em làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điều 7. Truy c ứu trách nhiệm hình sự trong trường h ợ p có nhiều hành vi phạm tội 1. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo Điều 120 của Bộ luật hình sự và chỉ phải chịu một hình phạt. Ví dụ: một người đánh tráo trẻ em rồi chiếm đoạt đứa trẻ bị đánh tráo đó và bán cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tên tội danh là mua bán, đánh tráo và chiếm đoạt trẻ em theo Điều 120 của Bộ luật hình sự và phải chịu một hình phạt. 2. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người đó đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: một người mua một đứa trẻ để bán lại cho người khác và bị bắt, sau đó phát hiện người đó còn thực hiện hành vi chiếm đoạt một đứa trẻ khác. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em và tội chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. Đối với trường hợp này, Tòa án quyết định mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật hình sự. Chương III Đ IỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2013. Điều 9. Tổ chức thực hiện Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp để có hướng dẫn kịp thời. ​
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=33929&Keyword=
2025-09-24T02:34:25.802828
../data\bocongan\012013TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ________________________ Đ ể áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật H ình sự năm 1999, được sửa đổi, b ổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự) trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân t ố i cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư l i ên tịch hướng dẫn việc truy cứu tr ách nhiệm hình sự đối với người có hành v i mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, Chương I T RUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HÀNH VI MUA BÁN NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 119 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ Điều 1. Xác định hành vi mua bán người " Mua bán người " là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: 1. Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; 2. Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; 3. Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán; 4. Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác; 5. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán người được hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người. Điều 2. V ề một số tình tiết định khung hình phạt 1. “Vì mục đích mạ i dâm” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người nhằm phục vụ cho hoạt động mua bán dâm (như: mua bán người rồi đưa họ đến các ổ mại dâm hoặc tổ chức cho họ bán dâm. . ). 2. “Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy các lần mua bán người làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc mua bán người làm nguồn sống chính. Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”, “đối với nhiều người”, “tái phạm” (hoặc “tá i phạm nguy hiểm”) và “có tính chất chuyên nghiệp ". 3. “Để l ấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người nhằm lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của người đó. 4. “Đ ể đưa ra nước ngoài” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người để đưa nạn nhân ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong trường hợp nạn nhân chưa bị đưa ra nước ngoài nhưng có căn cứ xác định người phạm tội có ý định đưa nạn nhân ra nước ngoài. 5. “Đối với nhiều người” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán từ 02 người trở lên trong cùng một lần phạm tội. 6. “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 119 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người từ 02 lần trở lên, không phân biệt các hành vi mua bán đó được thực hiện đối với một người hay đối với nhiều người và trong các lần mua bán đó người phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường h ợ p cụ thể 1. Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người môi giới dùng thủ đoạn cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và đã giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ (hoặc chồng) hoặc kết hôn chỉ là phương thức, thủ đoạn để người nước ngoài đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài. 2. Trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép a) Trường hợp người môi giới, đưa người đi lao động nước ngoài biết người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị cưỡng bức lao động, bóc lột trái phép (như: người bị đưa ra nước ngoài bị buộc phải làm việc trong môi trường độc hại, không bảo đảm an toàn lao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe; phải làm việc mà không được trả lương; bị buộc phải hoạt động mại dâm) nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và giao họ cho phía nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác thì người môi giới, đưa người đi lao động nước ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự. b) Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới đưa lao động ra nước ngoài để chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác thì người môi giới phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự. c) Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật hình sự. Chương II T RUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ HÀNH VI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 120 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ Điều 4. Xác định hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 1. “Mua bán t rẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: a) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; b) Mua trẻ em để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; c) Dùng trẻ em làm phương tiện để trao đổi, thanh toán; d) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác. 2. “Đánh tráo trẻ em” là hành vi thay thế trẻ em này bằng trẻ em khác ngoài ý muốn của cha mẹ, người nuôi dưỡng hoặc người quản lý hợp pháp của một hoặc cả hai đứa trẻ. 3. “Chiếm đoạt trẻ em” là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng trẻ em nhằm chiếm giữ đứa trẻ hoặc giao cho người khác chiếm giữ đứa trẻ đó. 4. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Điều 5. V ề một số tình tiết định khung hình phạt 1. “C ó t í nh chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em từ 05 lần trở lên, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự (05 lần mua bán trẻ em trở lên, 05 lần đánh tráo trẻ em trở lên hoặc 05 lần chiếm đoạt trẻ em trở lên), nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích và người phạm tội lấy các lần mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em làm nguồn sống chính. Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “đối với nhiều trẻ em”, “ t á i phạm” (hoặc “t á i phạm nguy hiểm” ) và “có tính chất chuyên nghiệp”. 2. “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp phạm tội với động cơ đê tiện, thấp hèn, ích kỷ, thể hiện sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát. Người phạm tội nhằm mục đích trả thù, hoặc để khống chế nạn nhân và gia đình, người thân của nạn nhân phục vụ cho mưu đồ của mình. 3. “Đố i với nhiều trẻ em” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt từ 02 trẻ em trở lên (mua bán từ 2 trẻ em trở lên; đánh tráo từ 02 trẻ em trở lên; chiếm đoạt từ 02 trẻ em trở lên) trong cùng một lần phạm tội hoặc trong các lần phạm tội khác nhau. 4. “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em nhằm lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của trẻ em đó. 5. “Để đưa ra nước ngoài” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để đưa nạn nhân ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong trường hợp nạn nhân chưa bị đưa ra nước ngoài nhưng có căn cứ xác định người phạm tội có ý định đưa nạn nhân ra nước ngoài. 6. “Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để sử dụng vào mục đích tàn ác, dã man như: để dùng vào việc làm thí nghiệm; buộc trẻ em phải lao động cực nhọc, đi ăn xin để lấy tiền; để quay phim, chụp ảnh, vẽ tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy hoặc các hành vi tương tự khác. 7. “Đ ể sử dụng vào mục đích mại dâm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em nhằm phục vụ cho hoạt động mua bán dâm (như: mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em rồi buộc các em phải bán dâm hoặc đưa các em đến các ổ mại dâm. . ). 8. “Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm k khoản 2 Điều 120 của Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây: a) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc nạn nhân bị chết (nạn nhân uất ức mà tự sát; nạn nhân bị ốm, bị bệnh tật hoặc không được chăm sóc chu đáo nên đã chết); b) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc nạn nhân bị mắc các bệnh truyền nhiễm, nan y như: AIDS, giang mai v. v…; c) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến hậu quả là không xác định được nạn nhân đang ở đâu tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm; d) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dẫn đến việc thân nhân của nạn nhân tuyệt vọng, đau buồn mà chết hoặc tự sát hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đã được hướng dẫn trên đây, có thể còn có hậu quả phi vật chất, như gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong các trường hợp này, phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra có phải là nghiêm trọng hay không. Điều 6. Truy c ứ u trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể 1. Trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật a) Trường hợp người môi giới biết việc nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động đối với trẻ em hoặc vì mục đích trái pháp luật khác nhưng đã sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi để chuyển giao trẻ em cho người đó nhằm nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. b) Trường hợp người môi giới nuôi con nuôi biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi nhận đứa trẻ sẽ bán đứa trẻ đó cho người khác thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. c) Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép mà biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. d) Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc có mục đích trái pháp luật khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em. Tùy từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi (Điều 283) hoặc tội danh khác theo quy định của Bộ luật hình sự. đ) Trường hợp một người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn và đã nhận một khoản tiền, đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền cho việc môi giới, thì người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. 2. Trường hợp người bắt cóc trẻ em làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điều 7. Truy c ứu trách nhiệm hình sự trong trường h ợ p có nhiều hành vi phạm tội 1. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo Điều 120 của Bộ luật hình sự và chỉ phải chịu một hình phạt. Ví dụ: một người đánh tráo trẻ em rồi chiếm đoạt đứa trẻ bị đánh tráo đó và bán cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tên tội danh là mua bán, đánh tráo và chiếm đoạt trẻ em theo Điều 120 của Bộ luật hình sự và phải chịu một hình phạt. 2. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người đó đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: một người mua một đứa trẻ để bán lại cho người khác và bị bắt, sau đó phát hiện người đó còn thực hiện hành vi chiếm đoạt một đứa trẻ khác. Trong trường hợp này, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em và tội chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự. Đối với trường hợp này, Tòa án quyết định mức hình phạt tương ứng đối với từng tội và sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật hình sự. Chương III Đ IỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2013. Điều 9. Tổ chức thực hiện Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp để có hướng dẫn kịp thời. ​
Hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán
01/2014/TTLT-BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG
10/02/2014
Thông tư liên tịch
25/03/2014
Công báo số 277 + 278
08/03/2014
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán ______________________ Căn cứ Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011; Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư liên tịch này hướng dẫn về trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Ngoại giao trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán (gọi tắt là nạn nhân) quy định tại các Điều 24, Điều 25 và Điều 26 Luật phòng, chống mua bán người. Trường hợp điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế đó. Nạn nhân quy định trong Thông tư liên tịch này được xác  định theo Điều 5 Nghị định số 62/2012/NĐ ngày 13 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định về căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ. 2. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với nạn nhân là công dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, nạn nhân là người nước ngoài đang ở Việt Nam, các cơ quan chức năng của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao có thẩm quyền xác minh, xác định, tiếp nhận, trao trả nạn nhân bị mua bán và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Nguyên tắc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân 1. Tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 2. Bảo đảm kịp thời, chính xác, an toàn; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân. 3. Bảo đảm bí mật thông tin về nạn nhân, người thân thích của họ theo quy định của pháp luật. Điều 3. Kinh phí bảo đảm Kinh phí bảo đảm cho việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân do ngân sách nhà nước bảo đảm trong dự toán chi thường xuyên hàng năm được giao của các cơ quan, đơn vị theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chương II XÁC MINH, XÁC ĐỊNH, TIẾP NHẬN NẠN NHÂN LÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM BỊ MUA BÁN RA NƯỚC NGOÀI Điều 4. Xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân đang ở nước ngoài 1. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài), khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan chức năng của Việt Nam ở trong nước trao đổi hoặc do nạn nhân, người biết việc đến trình báo, thực hiện các công việc sau: a) Trường hợp có thông tin cho biết nạn nhân chưa được giải cứu thì thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để phối hợp kiểm tra, xác minh và tổ chức giải cứu nếu xác định nguồn thông tin có căn cứ. b) Trường hợp nạn nhân đã được giải cứu hoặc người tự khai là nạn nhân đến trình báo tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài: - Tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin, thu thập tài liệu liên quan đến việc nạn nhân bị mua bán và các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, giấy tờ xuất nhập cảnh Việt Nam; - Hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về (mẫu Tờ khai tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp nạn nhân là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ; - Trường hợp đủ căn cứ để xác định là công dân Việt Nam và là nạn nhân thì thực hiện các biện pháp bảo hộ công dân và phối hợp với cơ quan chức năng nước sở tại hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân; cấp giấy thông hành cho nạn nhân về nước đối với những trường hợp không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ. Trường hợp chưa đủ cơ sở xác định là công dân Việt Nam hoặc chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được thông tin, tài liệu về người khai là nạn nhân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm gửi văn bản, kèm theo hồ sơ của người đó (gồm Tờ khai có đầy đủ yếu tố nhân sự, các thông tin, tài liệu do phía nước ngoài, tổ chức quốc tế cung cấp hoặc do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu thập được) về Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an để xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều này, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao để phối hợp. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy thông hành cho nạn nhân đối với những trường hợp đồng ý nhận trở về mà không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ. Đối với trường hợp không xác định được nhân thân hoặc không đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì giải quyết theo quy định chung của pháp luật Việt Nam và nước sở tại; - Thực hiện các thủ tục cần thiết (bố trí phương tiện, thị thực xuất cảnh) và phối hợp với cơ quan chức năng nước sở tại, các tổ chức quốc tế (nếu có) để tổ chức cho nạn nhân đã có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ về nước; thông báo bằng văn bản cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh về phương tiện, thời gian, cửa khẩu nhập cảnh; chi tiết nhân thân, số và loại giấy tờ xuất nhập cảnh của nạn nhân, của nhân viên nước sở tại hoặc tổ chức quốc tế đi cùng nạn nhân (nếu có) trước khi nạn nhân nhập cảnh ít nhất 05 (năm) ngày để tổ chức tiếp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều này. 2. Việc xác minh, xác định nạn nhân của cơ quan chức năng ở trong nước: a) Ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị xác minh của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm tổ chức xác minh hoặc chỉ đạo Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan (sau đây gọi tắt là Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh) xác minh, đồng thời gửi văn bản cho Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Bộ Công an để phối hợp xác minh khi cần thiết. Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu xác minh, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh báo cáo kết quả xác minh về Cục Quản lý xuất nhập cảnh qua đường điện mật hoặc fax đồng thời gửi bằng văn bản. b) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được kết quả xác minh, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và đồng gửi văn bản cho Cục Lãnh sự để phối hợp. 3. Tổ chức tiếp nhận nạn nhân trở về qua cửa khẩu sân bay quốc tế: a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc các Bộ, ngành liên quan thực hiện việc tiếp nhận như sau: - Trước ngày nạn nhân dự kiến nhập cảnh ít nhất 03 (ba) ngày, Cục Quản lý xuất nhập cảnh thông báo về thời gian, địa điểm, danh sách nạn nhân trở về cho Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu nạn nhân trở về để phối hợp tiếp nhận; - Tại cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh: thực hiện việc đối chiếu, kiểm diện và tiếp nhận nạn nhân; ký Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về (mẫu Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này) với cơ quan chức năng nước ngoài (nếu có); làm thủ tục nhập cảnh cho nạn nhân; kiểm tra hồ sơ của nạn nhân do phía nước ngoài bàn giao hoặc đưa cho nạn nhân mang về; nếu chưa có Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về thì hướng dẫn nạn nhân kê khai; cấp Giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân (mẫu Giấy chứng nhận về nước tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); - Nếu nạn nhân có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú thì hỗ trợ tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không có khả năng tự trở về địa phương nơi cư trú thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích của nạn nhân cư trú. Trường hợp nạn nhân không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì bàn giao nạn nhân (kèm theo các giấy tờ có liên quan) cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu để giải quyết theo quy định của pháp luật; - Thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân về cư trú để quản lý, theo dõi. b) Tại cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác điều tra, xử lý theo pháp luật. c) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu sau khi nhận bàn giao nạn nhân từ Cục Quản lý xuất nhập cảnh, có trách nhiệm đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân tại địa phương mình để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật. 4. Tổ chức tiếp nhận nạn nhân trở về qua cửa khẩu đường bộ, đường sắt, cảng biển: a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh thông báo cho Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh chậm nhất là 03 (ba) ngày trước khi nạn nhân dự kiến nhập cảnh để chỉ đạo Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tiếp nhận. b) Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh khi nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm trao đổi, thống nhất kế hoạch tiếp nhận với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh để phối hợp tiếp nhận. c) Đồn Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân nhập cảnh chủ trì thực hiện: đối chiếu, kiểm diện nạn nhân; ký Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về với cơ quan chức năng nước ngoài; hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài và làm thủ tục nhập cảnh cho nạn nhân, sau đó bàn giao nạn nhân cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh (mẫu Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). d) Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh sau khi nhận bàn giao nạn nhân thì cấp Giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân (mẫu Giấy chứng nhận về nước tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này) và phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác điều tra, xử lý theo pháp luật. Nếu nạn nhân có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú, thì hỗ trợ tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường; trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không có khả năng tự trở về địa phương nơi cư trú thì thông báo cho người thân đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân của nạn nhân cư trú; trường hợp nạn nhân không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, hoặc nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì bàn giao nạn nhân (kèm theo các giấy tờ có liên quan) cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân để hỗ trợ theo quy định của pháp luật. đ) Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi tiếp nhận nạn nhân sau khi đã thực hiện các thủ tục nêu trên, thông báo cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân về cư trú để quản lý, theo dõi. e) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi nhận bàn giao nạn nhân từ Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh có trách nhiệm đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân tại địa phương mình để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 5. Xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân từ nước ngoài tự trở về 1. Trường hợp nạn nhân từ nước ngoài tự trở về, đến trình báo tại Đồn Biên phòng hoặc được Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển phát hiện tại khu vực biên giới, hải đảo, trên biển: a) Đồn Biên phòng, Cảnh sát biển thực hiện: - Bố trí chỗ ở tạm thời và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người khai là nạn nhân trong trường hợp cần thiết; - Lấy lời khai nạn nhân; kiểm tra các giấy tờ có liên quan đến nhân thân, quốc tịch và các thông tin tài liệu làm căn cứ xác định nạn nhân; - Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người mà nạn nhân biết để phục vụ cho công tác điều tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người; - Bàn giao nạn nhân cho Ủy ban nhân dân cấp xã gần nhất nơi người đó trình báo hoặc được phát hiện. b) Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện và cơ quan Công an cấp huyện thực hiện việc tiếp nhận, xác minh theo quy định tại Điều 6 của Thông tư liên tịch này. 2. Trường hợp nạn nhân từ nước ngoài tự trở về, đến trình báo tại cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương thì việc tiếp nhận, xác minh, xác định, hỗ trợ nạn nhân được thực hiện như trường hợp nạn nhân bị mua bán trong nước theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch này. Chương III TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH NẠN NHÂN LÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM BỊ MUA BÁN TRONG NƯỚC Điều 6. Tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân tự đến trình báo 1. Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã khi tiếp nhận nạn nhân, người đại diện hợp pháp của nạn nhân khai báo về việc bị mua bán, có trách nhiệm hướng dẫn người đó kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước (mẫu Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này), trường hợp người khai báo là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của người đó; thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người khai là nạn nhân trong trường hợp cần thiết; thông báo cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện để thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được thông báo của Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã về nạn nhân, thực hiện các việc sau: a) Trường hợp có giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân thì bố trí cho họ trở về nơi cư trú hoặc vào cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định; b) Trường hợp chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân thì gửi văn bản đề nghị Công an cấp huyện nơi nạn nhân cư trú hoặc nơi nạn nhân khai xảy ra vụ việc mua bán người để xác minh. Trong thời gian chờ xác minh người khai là nạn nhân được hỗ trợ nhu cầu thiết yếu theo quy định của pháp luật. Sau khi có văn bản trả lời của Công an cấp huyện xác định là nạn nhân thì thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân như đối với trường hợp đủ căn cứ xác định nạn nhân nêu tại điểm a khoản này. 3. Công an cấp huyện nơi người khai là nạn nhân cư trú hoặc nơi họ khai xảy ra vụ việc mua bán người có trách nhiệm thực hiện những việc sau: a) Xác minh, xác định nạn nhân và trả lời kết quả trong thời hạn không quá 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu xác minh của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện (quy định tại điểm b khoản 2 Điều này); b) Trường hợp xác minh thấy đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán (mẫu Giấy xác nhận nạn nhân tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này), gửi kết quả xác minh và giấy xác nhận này về Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội để giải quyết việc hỗ trợ cho nạn nhân theo quy định; c) Đối với các vụ việc phức tạp hoặc việc xác minh liên quan đến nhiều địa phương thì Công an cấp huyện báo cáo Công an tỉnh (Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội) để chỉ đạo việc xác minh; trong trường hợp này thời hạn xác minh trả lời kết quả không được quá 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo của Công an cấp huyện. Sau khi xác minh, nếu đủ căn cứ xác định nạn nhân thì cơ quan xác minh trả lời và cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán và thông báo cho Công an cấp huyện để thực hiện tiếp các việc quy định tại điểm b khoản này. Điều 7. Xác minh, xác định nạn nhân được giải cứu 1. Cơ quan giải cứu (Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển) thực hiện các việc sau: a) Trường hợp người được giải cứu có đủ căn cứ để xác định nạn nhân thì thực hiện việc hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân; cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán; bàn giao nạn nhân cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi giải cứu để thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2 Điều này. b) Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì sau khi thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, cơ quan giải cứu bàn giao người được giải cứu cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của địa phương đó để đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. 2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi giải cứu thực hiện các việc sau: a) Trường hợp người được giải cứu đã được cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán thì thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật; b) Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì gửi văn bản đề nghị Công an cấp huyện nơi người được giải cứu xác minh, xác định nạn nhân; khi có kết quả xác minh thì giải quyết các thủ tục như đối với trường hợp nạn nhân bị mua bán trong nước quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch này. 3. Công an cấp huyện nơi người được giải cứu thực hiện việc xác minh, xác định nạn nhân và trả lời kết quả cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch này. Trường hợp Công an cấp huyện xác định không phải là nạn nhân, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân làm các thủ tục đưa người được giải cứu ra khỏi cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. Chương IV TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH VÀ TRAO TRẢ NẠN NHÂN LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BỊ MUA BÁN TẠI VIỆT NAM Điều 8. Tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân 1. Trường hợp nạn nhân chưa được giải cứu: Khi nhận được thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan, tổ chức trong nước trao đổi hoặc do người biết việc đến trình báo, cơ quan tiếp nhận thông tin có trách nhiệm báo ngay cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân bị giữ để xác minh, điều tra, giải cứu. 2. Trường hợp nạn nhân đã được giải cứu hoặc khai là nạn nhân tự trình báo: a) Cơ quan Công an, Biên phòng, Cảnh sát biển nơi giải cứu nạn nhân hoặc cơ quan Công an (cấp xã, huyện, tỉnh) nơi tiếp nhận người khai là nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân nếu thấy cần thiết và chuyển ngay người đó đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi nạn nhân được giải cứu hoặc nơi gần nhất nạn nhân khai báo về việc bị mua bán. Trường hợp người được giải cứu có đủ căn cứ xác định nạn nhân thì cơ quan giải cứu cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán trước khi chuyển giao. b) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, sau khi tiếp nhận nạn nhân, thực hiện ngay các việc sau: - Đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân và báo cáo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để chỉ đạo việc hỗ trợ nạn nhân trong thời gian chờ xác minh; - Thông báo cho Sở Ngoại vụ nơi nạn nhân được lưu giữ biết để thực hiện công tác đối ngoại theo quy định; - Thông báo cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh biết để thực hiện các công việc nêu tại điểm c khoản này. c) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh khi nhận được thông tin về nạn nhân, có trách nhiệm phối hợp với Sở Ngoại vụ khẩn trương tiếp xúc với nạn nhân và thực hiện các việc sau: - Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của nạn nhân tại Việt Nam; lấy lời khai sơ bộ (nếu nạn nhân không biết tiếng Việt thì sử dụng người phiên dịch trong quá trình lấy lời khai); - Chụp ảnh 06 (sáu) ảnh cỡ 4cm x 6 cm và hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không biết tiếng Việt thì phiên dịch ghi lại theo lời khai của họ; - Báo cáo về Cục Quản lý xuất nhập cảnh và gửi kèm theo hồ sơ gồm: Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước, 05 (năm) ảnh của nạn nhân, Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán (nếu có), kết quả lấy lời khai sơ bộ nạn nhân và các tài liệu khác (nếu có); - Trường hợp không đủ căn cứ xác định nạn nhân thì phải có văn bản đề nghị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh nơi người đó khai bị mua bán hoặc được giải cứu để tiến hành xác minh. Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm và trật tự xã hội Công an cấp tỉnh phải trả lời kết quả cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh đó để báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh; d) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về nạn nhân của Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, Cục Quản lý xuất nhập cảnh kiểm tra các thông tin liên quan đến việc nhập xuất cảnh, cư trú của nạn nhân và có văn bản trao đổi với Cục Lãnh sự kèm theo Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước, 03 (ba) ảnh và Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán và các tài liệu liên quan (nếu có); đ) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được văn bản của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục Lãnh sự có trách nhiệm gửi công hàm (kèm theo hồ sơ nạn nhân và 02 (hai) ảnh) cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước nạn nhân khai có quốc tịch (hoặc thường trú) để yêu cầu việc bảo hộ, xác minh, nhận trở về nạn nhân. Điều 9. Trao trả nạn nhân 1. Cục Lãnh sự khi nhận được công hàm của cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà nạn nhân là công dân (hoặc thường trú) trả lời đồng ý nhận trở về, kèm theo giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh đã được cấp cho nạn nhân, có trách nhiệm thống nhất với phía nước ngoài về thời gian, cửa khẩu, phương tiện chuyên chở nạn nhân về nước (trường hợp phía nước ngoài không bố trí được phương tiện chuyên chở thì có thể đề nghị các tổ chức quốc tế tại Việt Nam hỗ trợ), sau đó thông báo bằng văn bản và chuyển giấy tờ xuất, nhập cảnh của nạn nhân cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh. 2. Cục Quản lý xuất nhập cảnh trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Lãnh sự có trách nhiệm thực hiện: a) Cấp thị thực xuất cảnh, tạm trú cho nạn nhân (được miễn thu lệ phí, thời hạn của thị thực, tạm trú phù hợp với thời hạn đưa nạn nhân về nước); b) Thông báo kế hoạch đưa nạn nhân về nước cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi đang lưu giữ nạn nhân; Công an cửa khẩu sân bay quốc tế hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu đường bộ nơi nạn nhân sẽ xuất cảnh; các tổ chức quốc tế (nếu có liên quan) để phối hợp đưa nạn nhân về nước; c) Chuyển cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi lưu giữ nạn nhân giấy tờ xuất nhập cảnh và các tài liệu liên quan đến nạn nhân để thực hiện thủ tục đưa nạn nhân về nước. 3. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi lưu giữ nạn nhân chỉ đạo cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân đưa nạn nhân tới cửa khẩu và phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc đưa nạn nhân về nước. 4. Tại cửa khẩu đưa nạn nhân về nước, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân được lưu giữ phối hợp với Đồn Công an cửa khẩu sân bay quốc tế thực hiện các thủ tục xuất cảnh cho nạn nhân (nếu nạn nhân về bằng đường hàng không) hoặc bàn giao cho Bộ đội Biên phòng nơi có cửa khẩu quốc tế đường bộ để trao trả nạn nhân cho phía nước ngoài (nếu nạn nhân về bằng đường bộ). Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 10. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 3 năm 2014 và thay thế Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BCA-BQP-BNG-BLĐTBXH ngày 08 tháng 5 năm 2008 của liên Bộ: Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, xác định, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Điều 11. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị chức năng của các Bộ: Công an, Quốc phòng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngoại giao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này; định kỳ hàng năm báo cáo tình hình và kết quả công tác xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán, gửi về Văn phòng Thường trực phòng, chống tội phạm và ma túy Bộ Công an. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=38044&Keyword=
2025-09-24T02:33:59.155547
../data\bocongan\012014TTLT-BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG\document.json
01/07/2025
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán ______________________ Căn cứ Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011; Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ - CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Nghị định số 62/2012/NĐ - CP ngày 13 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư liên tịch này hướng dẫn về trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Ngoại giao trong việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán (gọi tắt là nạn nhân) quy định tại các Điều 24, Điều 25 và Điều 26 Luật phòng, chống mua bán người. Trường hợp điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế đó. Nạn nhân quy định trong Thông tư liên tịch này được xác định theo Điều 5 Nghị định số 62/2012/NĐ ngày 13 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định về căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ. 2. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với nạn nhân là công dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, nạn nhân là người nước ngoài đang ở Việt Nam, các cơ quan chức năng của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao có thẩm quyền xác minh, xác định, tiếp nhận, trao trả nạn nhân bị mua bán và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Nguyên tắc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân 1. Tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 2. Bảo đảm kịp thời, chính xác, an toàn; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân. 3. Bảo đảm bí mật thông tin về nạn nhân, người thân thích của họ theo quy định của pháp luật. Điều 3. Kinh phí bảo đảm Kinh phí bảo đảm cho việc xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân do ngân sách nhà nước bảo đảm trong dự toán chi thường xuyên hàng năm được giao của các cơ quan, đơn vị theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chương II XÁC MINH, XÁC ĐỊNH, TIẾP NHẬN NẠN NHÂN LÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM BỊ MUA BÁN RA NƯỚC NGOÀI Điều 4. Xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân đang ở nước ngoài 1. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài), khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan chức năng của Việt Nam ở trong nước trao đổi hoặc do nạn nhân, người biết việc đến trình báo, thực hiện các công việc sau: a) Trường hợp có thông tin cho biết nạn nhân chưa được giải cứu thì thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để phối hợp kiểm tra, xác minh và tổ chức giải cứu nếu xác định nguồn thông tin có căn cứ. b) Trường hợp nạn nhân đã được giải cứu hoặc người tự khai là nạn nhân đến trình báo tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài: - Tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin, thu thập tài liệu liên quan đến việc nạn nhân bị mua bán và các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, giấy tờ xuất nhập cảnh Việt Nam; - Hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về (mẫu Tờ khai tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp nạn nhân là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ; - Trường hợp đủ căn cứ để xác định là công dân Việt Nam và là nạn nhân thì thực hiện các biện pháp bảo hộ công dân và phối hợp với cơ quan chức năng nước sở tại hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân; cấp giấy thông hành cho nạn nhân về nước đối với những trường hợp không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ. Trường hợp chưa đủ cơ sở xác định là công dân Việt Nam hoặc chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được thông tin, tài liệu về người khai là nạn nhân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm gửi văn bản, kèm theo hồ sơ của người đó (gồm Tờ khai có đầy đủ yếu tố nhân sự, các thông tin, tài liệu do phía nước ngoài, tổ chức quốc tế cung cấp hoặc do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu thập được) về Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an để xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều này, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao để phối hợp. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy thông hành cho nạn nhân đối với những trường hợp đồng ý nhận trở về mà không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ. Đối với trường hợp không xác định được nhân thân hoặc không đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì giải quyết theo quy định chung của pháp luật Việt Nam và nước sở tại; - Thực hiện các thủ tục cần thiết (bố trí phương tiện, thị thực xuất cảnh) và phối hợp với cơ quan chức năng nước sở tại, các tổ chức quốc tế (nếu có) để tổ chức cho nạn nhân đã có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ về nước; thông báo bằng văn bản cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh về phương tiện, thời gian, cửa khẩu nhập cảnh; chi tiết nhân thân, số và loại giấy tờ xuất nhập cảnh của nạn nhân, của nhân viên nước sở tại hoặc tổ chức quốc tế đi cùng nạn nhân (nếu có) trước khi nạn nhân nhập cảnh ít nhất 05 (năm) ngày để tổ chức tiếp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều này. 2. Việc xác minh, xác định nạn nhân của cơ quan chức năng ở trong nước: a) Ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị xác minh của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm tổ chức xác minh hoặc chỉ đạo Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan (sau đây gọi tắt là Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh) xác minh, đồng thời gửi văn bản cho Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Bộ Công an để phối hợp xác minh khi cần thiết. Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu xác minh, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh báo cáo kết quả xác minh về Cục Quản lý xuất nhập cảnh qua đường điện mật hoặc fax đồng thời gửi bằng văn bản. b) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được kết quả xác minh, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và đồng gửi văn bản cho Cục Lãnh sự để phối hợp. 3. Tổ chức tiếp nhận nạn nhân trở về qua cửa khẩu sân bay quốc tế: a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc các Bộ, ngành liên quan thực hiện việc tiếp nhận như sau: - Trước ngày nạn nhân dự kiến nhập cảnh ít nhất 03 (ba) ngày, Cục Quản lý xuất nhập cảnh thông báo về thời gian, địa điểm, danh sách nạn nhân trở về cho Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu nạn nhân trở về để phối hợp tiếp nhận; - Tại cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh: thực hiện việc đối chiếu, kiểm diện và tiếp nhận nạn nhân; ký Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về (mẫu Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này) với cơ quan chức năng nước ngoài (nếu có); làm thủ tục nhập cảnh cho nạn nhân; kiểm tra hồ sơ của nạn nhân do phía nước ngoài bàn giao hoặc đưa cho nạn nhân mang về; nếu chưa có Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về thì hướng dẫn nạn nhân kê khai; cấp Giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân (mẫu Giấy chứng nhận về nước tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); - Nếu nạn nhân có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú thì hỗ trợ tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không có khả năng tự trở về địa phương nơi cư trú thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích của nạn nhân cư trú. Trường hợp nạn nhân không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì bàn giao nạn nhân (kèm theo các giấy tờ có liên quan) cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu để giải quyết theo quy định của pháp luật; - Thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân về cư trú để quản lý, theo dõi. b) Tại cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác điều tra, xử lý theo pháp luật. c) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu sau khi nhận bàn giao nạn nhân từ Cục Quản lý xuất nhập cảnh, có trách nhiệm đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân tại địa phương mình để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật. 4. Tổ chức tiếp nhận nạn nhân trở về qua cửa khẩu đường bộ, đường sắt, cảng biển: a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh thông báo cho Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh chậm nhất là 03 (ba) ngày trước khi nạn nhân dự kiến nhập cảnh để chỉ đạo Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tiếp nhận. b) Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh khi nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm trao đổi, thống nhất kế hoạch tiếp nhận với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu nạn nhân nhập cảnh để phối hợp tiếp nhận. c) Đồn Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân nhập cảnh chủ trì thực hiện: đối chiếu, kiểm diện nạn nhân; ký Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về với cơ quan chức năng nước ngoài; hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài và làm thủ tục nhập cảnh cho nạn nhân, sau đó bàn giao nạn nhân cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh (mẫu Biên bản giao, nhận nạn nhân bị mua bán tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). d) Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh sau khi nhận bàn giao nạn nhân thì cấp Giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân (mẫu Giấy chứng nhận về nước tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này) và phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác điều tra, xử lý theo pháp luật. Nếu nạn nhân có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú, thì hỗ trợ tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường; trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không có khả năng tự trở về địa phương nơi cư trú thì thông báo cho người thân đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân của nạn nhân cư trú; trường hợp nạn nhân không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, hoặc nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì bàn giao nạn nhân (kèm theo các giấy tờ có liên quan) cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân để hỗ trợ theo quy định của pháp luật. đ) Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi tiếp nhận nạn nhân sau khi đã thực hiện các thủ tục nêu trên, thông báo cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân về cư trú để quản lý, theo dõi. e) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi nhận bàn giao nạn nhân từ Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh có trách nhiệm đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân tại địa phương mình để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 5. Xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân từ nước ngoài tự trở về 1. Trường hợp nạn nhân từ nước ngoài tự trở về, đến trình báo tại Đồn Biên phòng hoặc được Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển phát hiện tại khu vực biên giới, hải đảo, trên biển: a) Đồn Biên phòng, Cảnh sát biển thực hiện: - Bố trí chỗ ở tạm thời và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người khai là nạn nhân trong trường hợp cần thiết; - Lấy lời khai nạn nhân; kiểm tra các giấy tờ có liên quan đến nhân thân, quốc tịch và các thông tin tài liệu làm căn cứ xác định nạn nhân; - Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người mà nạn nhân biết để phục vụ cho công tác điều tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người; - Bàn giao nạn nhân cho Ủy ban nhân dân cấp xã gần nhất nơi người đó trình báo hoặc được phát hiện. b) Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện và cơ quan Công an cấp huyện thực hiện việc tiếp nhận, xác minh theo quy định tại Điều 6 của Thông tư liên tịch này. 2. Trường hợp nạn nhân từ nước ngoài tự trở về, đến trình báo tại cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương thì việc tiếp nhận, xác minh, xác định, hỗ trợ nạn nhân được thực hiện như trường hợp nạn nhân bị mua bán trong nước theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch này. Chương III TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH NẠN NHÂN LÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM BỊ MUA BÁN TRONG NƯỚC Điều 6. Tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân tự đến trình báo 1. Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã khi tiếp nhận nạn nhân, người đại diện hợp pháp của nạn nhân khai báo về việc bị mua bán, có trách nhiệm hướng dẫn người đó kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước (mẫu Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này), trường hợp người khai báo là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của người đó; thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho người khai là nạn nhân trong trường hợp cần thiết; thông báo cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện để thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được thông báo của Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã về nạn nhân, thực hiện các việc sau: a) Trường hợp có giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân thì bố trí cho họ trở về nơi cư trú hoặc vào cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định; b) Trường hợp chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân thì gửi văn bản đề nghị Công an cấp huyện nơi nạn nhân cư trú hoặc nơi nạn nhân khai xảy ra vụ việc mua bán người để xác minh. Trong thời gian chờ xác minh người khai là nạn nhân được hỗ trợ nhu cầu thiết yếu theo quy định của pháp luật. Sau khi có văn bản trả lời của Công an cấp huyện xác định là nạn nhân thì thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân như đối với trường hợp đủ căn cứ xác định nạn nhân nêu tại điểm a khoản này. 3. Công an cấp huyện nơi người khai là nạn nhân cư trú hoặc nơi họ khai xảy ra vụ việc mua bán người có trách nhiệm thực hiện những việc sau: a) Xác minh, xác định nạn nhân và trả lời kết quả trong thời hạn không quá 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày nhận được công văn yêu cầu xác minh của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện (quy định tại điểm b khoản 2 Điều này); b) Trường hợp xác minh thấy đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán (mẫu Giấy xác nhận nạn nhân tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này), gửi kết quả xác minh và giấy xác nhận này về Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội để giải quyết việc hỗ trợ cho nạn nhân theo quy định; c) Đối với các vụ việc phức tạp hoặc việc xác minh liên quan đến nhiều địa phương thì Công an cấp huyện báo cáo Công an tỉnh (Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội) để chỉ đạo việc xác minh; trong trường hợp này thời hạn xác minh trả lời kết quả không được quá 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo của Công an cấp huyện. Sau khi xác minh, nếu đủ căn cứ xác định nạn nhân thì cơ quan xác minh trả lời và cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán và thông báo cho Công an cấp huyện để thực hiện tiếp các việc quy định tại điểm b khoản này. Điều 7. Xác minh, xác định nạn nhân được giải cứu 1. Cơ quan giải cứu (Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển) thực hiện các việc sau: a) Trường hợp người được giải cứu có đủ căn cứ để xác định nạn nhân thì thực hiện việc hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân; cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán; bàn giao nạn nhân cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi giải cứu để thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2 Điều này. b) Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì sau khi thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, cơ quan giải cứu bàn giao người được giải cứu cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của địa phương đó để đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. 2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi giải cứu thực hiện các việc sau: a) Trường hợp người được giải cứu đã được cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán thì thực hiện việc hỗ trợ theo quy định của pháp luật; b) Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì gửi văn bản đề nghị Công an cấp huyện nơi người được giải cứu xác minh, xác định nạn nhân; khi có kết quả xác minh thì giải quyết các thủ tục như đối với trường hợp nạn nhân bị mua bán trong nước quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch này. 3. Công an cấp huyện nơi người được giải cứu thực hiện việc xác minh, xác định nạn nhân và trả lời kết quả cho Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch này. Trường hợp Công an cấp huyện xác định không phải là nạn nhân, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân làm các thủ tục đưa người được giải cứu ra khỏi cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. Chương IV TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH VÀ TRAO TRẢ NẠN NHÂN LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BỊ MUA BÁN TẠI VIỆT NAM Điều 8. Tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân 1. Trường hợp nạn nhân chưa được giải cứu: Khi nhận được thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan, tổ chức trong nước trao đổi hoặc do người biết việc đến trình báo, cơ quan tiếp nhận thông tin có trách nhiệm báo ngay cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân bị giữ để xác minh, điều tra, giải cứu. 2. Trường hợp nạn nhân đã được giải cứu hoặc khai là nạn nhân tự trình báo: a) Cơ quan Công an, Biên phòng, Cảnh sát biển nơi giải cứu nạn nhân hoặc cơ quan Công an (cấp xã, huyện, tỉnh) nơi tiếp nhận người khai là nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân nếu thấy cần thiết và chuyển ngay người đó đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi nạn nhân được giải cứu hoặc nơi gần nhất nạn nhân khai báo về việc bị mua bán. Trường hợp người được giải cứu có đủ căn cứ xác định nạn nhân thì cơ quan giải cứu cấp Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán trước khi chuyển giao. b) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, sau khi tiếp nhận nạn nhân, thực hiện ngay các việc sau: - Đưa nạn nhân vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân và báo cáo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để chỉ đạo việc hỗ trợ nạn nhân trong thời gian chờ xác minh; - Thông báo cho Sở Ngoại vụ nơi nạn nhân được lưu giữ biết để thực hiện công tác đối ngoại theo quy định; - Thông báo cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh biết để thực hiện các công việc nêu tại điểm c khoản này. c) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh khi nhận được thông tin về nạn nhân, có trách nhiệm phối hợp với Sở Ngoại vụ khẩn trương tiếp xúc với nạn nhân và thực hiện các việc sau: - Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của nạn nhân tại Việt Nam; lấy lời khai sơ bộ (nếu nạn nhân không biết tiếng Việt thì sử dụng người phiên dịch trong quá trình lấy lời khai); - Chụp ảnh 06 (sáu) ảnh cỡ 4cm x 6 cm và hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người không biết tiếng Việt thì phiên dịch ghi lại theo lời khai của họ; - Báo cáo về Cục Quản lý xuất nhập cảnh và gửi kèm theo hồ sơ gồm: Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước, 05 (năm) ảnh của nạn nhân, Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán (nếu có), kết quả lấy lời khai sơ bộ nạn nhân và các tài liệu khác (nếu có); - Trường hợp không đủ căn cứ xác định nạn nhân thì phải có văn bản đề nghị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh nơi người đó khai bị mua bán hoặc được giải cứu để tiến hành xác minh. Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm và trật tự xã hội Công an cấp tỉnh phải trả lời kết quả cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh đó để báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh; d) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về nạn nhân của Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, Cục Quản lý xuất nhập cảnh kiểm tra các thông tin liên quan đến việc nhập xuất cảnh, cư trú của nạn nhân và có văn bản trao đổi với Cục Lãnh sự kèm theo Tờ khai dùng cho nạn nhân bị mua bán trong nước, 03 (ba) ảnh và Giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán và các tài liệu liên quan (nếu có); đ) Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày kể từ khi nhận được văn bản của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục Lãnh sự có trách nhiệm gửi công hàm (kèm theo hồ sơ nạn nhân và 02 (hai) ảnh) cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước nạn nhân khai có quốc tịch (hoặc thường trú) để yêu cầu việc bảo hộ, xác minh, nhận trở về nạn nhân. Điều 9. Trao trả nạn nhân 1. Cục Lãnh sự khi nhận được công hàm của cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà nạn nhân là công dân (hoặc thường trú) trả lời đồng ý nhận trở về, kèm theo giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh đã được cấp cho nạn nhân, có trách nhiệm thống nhất với phía nước ngoài về thời gian, cửa khẩu, phương tiện chuyên chở nạn nhân về nước (trường hợp phía nước ngoài không bố trí được phương tiện chuyên chở thì có thể đề nghị các tổ chức quốc tế tại Việt Nam hỗ trợ), sau đó thông báo bằng văn bản và chuyển giấy tờ xuất, nhập cảnh của nạn nhân cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh. 2. Cục Quản lý xuất nhập cảnh trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Lãnh sự có trách nhiệm thực hiện: a) Cấp thị thực xuất cảnh, tạm trú cho nạn nhân (được miễn thu lệ phí, thời hạn của thị thực, tạm trú phù hợp với thời hạn đưa nạn nhân về nước); b) Thông báo kế hoạch đưa nạn nhân về nước cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi đang lưu giữ nạn nhân; Công an cửa khẩu sân bay quốc tế hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu đường bộ nơi nạn nhân sẽ xuất cảnh; các tổ chức quốc tế (nếu có liên quan) để phối hợp đưa nạn nhân về nước; c) Chuyển cho Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi lưu giữ nạn nhân giấy tờ xuất nhập cảnh và các tài liệu liên quan đến nạn nhân để thực hiện thủ tục đưa nạn nhân về nước. 3. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi lưu giữ nạn nhân chỉ đạo cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân đưa nạn nhân tới cửa khẩu và phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc đưa nạn nhân về nước. 4. Tại cửa khẩu đưa nạn nhân về nước, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân được lưu giữ phối hợp với Đồn Công an cửa khẩu sân bay quốc tế thực hiện các thủ tục xuất cảnh cho nạn nhân (nếu nạn nhân về bằng đường hàng không) hoặc bàn giao cho Bộ đội Biên phòng nơi có cửa khẩu quốc tế đường bộ để trao trả nạn nhân cho phía nước ngoài (nếu nạn nhân về bằng đường bộ). Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 10. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 3 năm 2014 và thay thế Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT - BCA - BQP - BNG - BLĐTBXH ngày 08 tháng 5 năm 2008 của liên Bộ: Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, xác định, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Điều 11. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị chức năng của các Bộ: Công an, Quốc phòng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngoại giao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này; định kỳ hàng năm báo cáo tình hình và kết quả công tác xác minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán, gửi về Văn phòng Thường trực phòng, chống tội phạm và ma túy Bộ Công an. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách
01/2014/TTLT-BNNPTNT-BCA
22/01/2014
Thông tư liên tịch
10/03/2014
Công báo số 201+202, năm 2014
11/02/2014
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ trưởng
Cao Đức Phát
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách _____________________ Căn cứ Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2013; Căn cứ Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm; Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Căn cứ Nghị định số 25/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Căn cứ Nghị định số 26/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền và kinh phí phục vụ việc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Căn cứ Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Lực lượng Kiểm lâm. 2. Lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 3. Nguyên tắc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tuân thủ đúng quy định của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Thông tư này. 2. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động và đáp ứng yêu cầu công tác của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. 3. Bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng kế hoạch và đúng đối tượng sử dụng. 4. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chỉ được giao cho những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm tra, kiểm soát lâm sản, xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp, truy quét các tụ điểm khai thác, mua, bán, vận chuyển, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của pháp luật. Điều 4. Các loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng Kiểm lâm 1. Vũ khí quân dụng gồm: a) Súng ngắn, súng tiểu liên; b) Các loại đạn dùng cho các loại súng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. 2. Công cụ hỗ trợ gồm: a) Các loại súng dùng để bắn đạn cao su, hơi cay, chất gây mê, pháo hiệu và các loại đạn dùng cho các loại súng này; b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, chất gây mê; c) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su; d) Áo giáp, găng tay bắt dao, mũ chống đạn, khóa số tám; đ) Động vật nghiệp vụ. Điều 5. Các loại công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách Căn cứ vào yêu cầu, tình hình thực tế hoạt động, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách được trang bị các loại công cụ hỗ trợ sau: 1. Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su. 2. Các loại phương tiện xịt hơi cay. 3. Áo giáp, găng tay bắt dao. 4. Mũ chống đạn. Chương II QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG VÀ CÔNG CỤ HỖ TRỢ Điều 6. Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng 1. Cục Kiểm lâm. 2. Chi cục Kiểm lâm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Chi cục Kiểm lâm). 3. Hạt Kiểm lâm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Hạt Kiểm lâm huyện). 4. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ. 5. Kiểm lâm vùng, Đội Kiểm lâm đặc nhiệm, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng. 6. Trạm Kiểm lâm địa bàn, Trạm Kiểm lâm cửa rừng. Điều 7. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị quy định tại Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cán bộ Kiểm lâm có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 11 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm tra, kiểm soát lâm sản, xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp, truy quét các tụ điểm khai thác, mua, bán, vận chuyển, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu các đơn vị có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách có trách nhiệm giao công cụ hỗ trợ cho cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng chuyên trách có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng. Điều 8. Sử dụng vũ khí quân dụng Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng vũ khí quân dụng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc nổ súng phải tuân thủ quy định tại Điều 22 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 9 Nghị định số 25/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 25/2012/NĐ-CP ) và các quy định hiện hành khác của pháp luật về sử dụng vũ khí quân dụng trong khi thi hành công vụ. Điều 9. Đối tượng được trang bị công cụ hỗ trợ 1. Các đối tượng quy định tại Điều 6 Thông tư này. 2. Lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 10. Sử dụng công cụ hỗ trợ Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, khoản 4 Điều 24 Nghị định số 25/2012/NĐ-CP, khoản 2 Điều 18 Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Điều 11. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng: a) Có phẩm chất đạo đức tốt; b) Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao, được cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên chứng nhận; c) Được huấn luyện về chuyên môn, kiểm tra định kỳ về kỹ năng sử dụng vũ khí và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng vũ khí. 2. Người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ. Điều 12. Lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm 1. Cục Kiểm lâm lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp. 2. Chi cục Kiểm lâm lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho các đơn vị trực thuộc Chi cục và Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh. 3. Tổng cục Lâm nghiệp lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chung của lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc trên cơ sở kế hoạch của Cục Kiểm lâm và Chi cục Kiểm lâm, trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định trang bị. Điều 13. Cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm 1. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp. 2. Cục trưởng Cục Kiểm lâm thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp. 3. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của các đơn vị trực thuộc Chi cục, Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh. 4. Việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có quyết định bằng văn bản. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2, 3 Điều này phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và Tổng cục Lâm nghiệp để theo dõi, quản lý. Điều 14. Bảo quản, giao nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải được quản lý, bảo quản tập trung tại kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng. Kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn theo quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải phân công người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 15 Thông tư này để bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, bảo quản theo quy định. 3. Việc giao, nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có sổ sách theo dõi, có đầy đủ chữ ký của người giao, người nhận. 4. Cán bộ Kiểm lâm, cán bộ, nhân viên lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ khi kết thúc nhiệm vụ, hết thời hạn được giao, thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi việc hoặc không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật phải bàn giao lại đầy đủ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và hồ sơ, sổ sách có liên quan cho cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. 5. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định của pháp luật. Điều 15. Tiêu chuẩn của người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao. 3. Có chứng chỉ chuyên môn về quản lý vũ khí, công cụ hỗ trợ, chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy do cơ quan có thẩm quyền cấp. 4. Nắm vững nội quy, chế độ quản lý, bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ. Điều 16. Sửa chữa, giao nộp, thanh lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm lâm có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 2. Chi cục Kiểm lâm có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Chi cục và Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 3. Chủ rừng nơi có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách có trách nhiệm làm thủ tục sửa chữa công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. 4. Đối với vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc đã hết hạn sử dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị tổng hợp và chuyển giao cho cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao nộp vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cơ quan Công an, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm báo cáo kết quả giao nộp bằng văn bản về Cục Kiểm lâm để theo dõi. Điều 17. Đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an có thẩm quyền tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho cán bộ Kiểm lâm, cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng chuyên trách để được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 18. Kinh phí bảo đảm cho công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Kinh phí mua sắm, cấp phát, điều chuyển, sửa chữa, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc, xây dựng kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của các đơn vị thuộc Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp do ngân sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp. 2. Kinh phí xây dựng kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh do ngân sách Kiểm lâm địa phương thực hiện. 3. Kinh phí mua sắm, sửa chữa công cụ hỗ trợ, xây dựng kho, nơi cất giữ công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách do chủ rừng đảm nhiệm. Điều 19. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Lâm nghiệp và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình. Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 15 tháng 7, báo cáo năm gửi trước ngày 15 tháng 01 của năm sau. 2. Trường hợp bị mất vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm báo cáo ngay với cơ quan Công an gần nhất và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng để phối hợp giải quyết, truy tìm; đồng thời, báo cáo bằng văn bản về Tổng cục Lâm nghiệp ngay sau khi phát hiện vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị mất. Chương III TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM LÂM VÀ LỰC LƯỢNG BẢO VỆ RỪNG CHUYÊN TRÁCH Điều 20. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Quyết định trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc. 2. Giao Tổng cục Lâm nghiệp chỉ đạo Cục Kiểm lâm thực hiện: a) Mua sắm, trang cấp, sửa chữa, quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm theo quy định của pháp luật; b) Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; c) Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; d) Tổng hợp báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; đ) Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách khi được giao. Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương: a) Cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ liên quan đến quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. b) Phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo đúng quy định của pháp luật. 2. Giao Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ sau: a) Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; b) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 22. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách 1. Thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định tại Thông tư này và các văn bản pháp luật khác có liên quan về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. 2. Chấp hành nghiêm túc việc thanh tra, kiểm tra, chế độ báo cáo theo quy định. Điều 23. Trách nhiệm của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách trên địa bàn tỉnh. 2. Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tổ chức tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. 3. Thực hiện việc phân loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đã trang bị cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 24. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2014 và thay thế Quyết định số 94/2000/BNN-KL ngày 24/8/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ trong lực lượng Kiểm lâm. Điều 25. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội giúp Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công an; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Tổng cục Lâm nghiệp) và Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội) để kịp thời hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=43942&Keyword=
2025-09-24T02:34:00.758582
../data\bocongan\012014TTLT-BNNPTNT-BCA\document.json
01/07/2018
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách _____________________ Căn cứ Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2013; Căn cứ Nghị định số 119/2006/NĐ - CP ngày 16/10/2006 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm; Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ - CP ngày 26/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 117/2010/NĐ - CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Căn cứ Nghị định số 25/2012/NĐ - CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Căn cứ Nghị định số 26/2012/NĐ - CP ngày 05/4/2012 quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền và kinh phí phục vụ việc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Căn cứ Quyết định số 07/2012/QĐ - TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Lực lượng Kiểm lâm. 2. Lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 3. Nguyên tắc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tuân thủ đúng quy định của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Thông tư này. 2. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động và đáp ứng yêu cầu công tác của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. 3. Bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng kế hoạch và đúng đối tượng sử dụng. 4. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chỉ được giao cho những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm tra, kiểm soát lâm sản, xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp, truy quét các tụ điểm khai thác, mua, bán, vận chuyển, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của pháp luật. Điều 4. Các loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng Kiểm lâm 1. Vũ khí quân dụng gồm: a) Súng ngắn, súng tiểu liên; b) Các loại đạn dùng cho các loại súng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. 2. Công cụ hỗ trợ gồm: a) Các loại súng dùng để bắn đạn cao su, hơi cay, chất gây mê, pháo hiệu và các loại đạn dùng cho các loại súng này; b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, chất gây mê; c) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su; d) Áo giáp, găng tay bắt dao, mũ chống đạn, khóa số tám; đ) Động vật nghiệp vụ. Điều 5. Các loại công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách Căn cứ vào yêu cầu, tình hình thực tế hoạt động, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách được trang bị các loại công cụ hỗ trợ sau: 1. Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su. 2. Các loại phương tiện xịt hơi cay. 3. Áo giáp, găng tay bắt dao. 4. Mũ chống đạn. Chương II QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG VÀ CÔNG CỤ HỖ TRỢ Điều 6. Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng 1. Cục Kiểm lâm. 2. Chi cục Kiểm lâm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Chi cục Kiểm lâm). 3. Hạt Kiểm lâm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Hạt Kiểm lâm huyện). 4. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ. 5. Kiểm lâm vùng, Đội Kiểm lâm đặc nhiệm, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng. 6. Trạm Kiểm lâm địa bàn, Trạm Kiểm lâm cửa rừng. Điều 7. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị quy định tại Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cán bộ Kiểm lâm có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 11 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm tra, kiểm soát lâm sản, xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp, truy quét các tụ điểm khai thác, mua, bán, vận chuyển, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu các đơn vị có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách có trách nhiệm giao công cụ hỗ trợ cho cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng chuyên trách có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư này để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng. Điều 8. Sử dụng vũ khí quân dụng Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng vũ khí quân dụng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc nổ súng phải tuân thủ quy định tại Điều 22 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 9 Nghị định số 25/2012/NĐ - CP ngày 05/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 25/2012/NĐ - CP ) và các quy định hiện hành khác của pháp luật về sử dụng vũ khí quân dụng trong khi thi hành công vụ. Điều 9. Đối tượng được trang bị công cụ hỗ trợ 1. Các đối tượng quy định tại Điều 6 Thông tư này. 2. Lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 10. Sử dụng công cụ hỗ trợ Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, khoản 4 Điều 24 Nghị định số 25/2012/NĐ - CP, khoản 2 Điều 18 Thông tư số 30/2012/TT - BCA ngày 29/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Điều 11. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng: a) Có phẩm chất đạo đức tốt; b) Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao, được cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên chứng nhận; c) Được huấn luyện về chuyên môn, kiểm tra định kỳ về kỹ năng sử dụng vũ khí và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng vũ khí. 2. Người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ. Điều 12. Lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm 1. Cục Kiểm lâm lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp. 2. Chi cục Kiểm lâm lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho các đơn vị trực thuộc Chi cục và Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh. 3. Tổng cục Lâm nghiệp lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chung của lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc trên cơ sở kế hoạch của Cục Kiểm lâm và Chi cục Kiểm lâm, trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định trang bị. Điều 13. Cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm 1. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp. 2. Cục trưởng Cục Kiểm lâm thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp. 3. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của các đơn vị trực thuộc Chi cục, Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh. 4. Việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có quyết định bằng văn bản. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2, 3 Điều này phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và Tổng cục Lâm nghiệp để theo dõi, quản lý. Điều 14. Bảo quản, giao nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải được quản lý, bảo quản tập trung tại kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng. Kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn theo quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải phân công người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 15 Thông tư này để bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, bảo quản theo quy định. 3. Việc giao, nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có sổ sách theo dõi, có đầy đủ chữ ký của người giao, người nhận. 4. Cán bộ Kiểm lâm, cán bộ, nhân viên lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ khi kết thúc nhiệm vụ, hết thời hạn được giao, thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi việc hoặc không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật phải bàn giao lại đầy đủ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và hồ sơ, sổ sách có liên quan cho cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. 5. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định của pháp luật. Điều 15. Tiêu chuẩn của người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao. 3. Có chứng chỉ chuyên môn về quản lý vũ khí, công cụ hỗ trợ, chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy do cơ quan có thẩm quyền cấp. 4. Nắm vững nội quy, chế độ quản lý, bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ. Điều 16. Sửa chữa, giao nộp, thanh lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm lâm có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 2. Chi cục Kiểm lâm có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Chi cục và Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 3. Chủ rừng nơi có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách có trách nhiệm làm thủ tục sửa chữa công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. 4. Đối với vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc đã hết hạn sử dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị tổng hợp và chuyển giao cho cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao nộp vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cơ quan Công an, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm báo cáo kết quả giao nộp bằng văn bản về Cục Kiểm lâm để theo dõi. Điều 17. Đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an có thẩm quyền tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho cán bộ Kiểm lâm, cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng chuyên trách để được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 18. Kinh phí bảo đảm cho công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Kinh phí mua sắm, cấp phát, điều chuyển, sửa chữa, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc, xây dựng kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của các đơn vị thuộc Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp do ngân sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp. 2. Kinh phí xây dựng kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh do ngân sách Kiểm lâm địa phương thực hiện. 3. Kinh phí mua sắm, sửa chữa công cụ hỗ trợ, xây dựng kho, nơi cất giữ công cụ hỗ trợ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách do chủ rừng đảm nhiệm. Điều 19. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Lâm nghiệp và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình. Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 15 tháng 7, báo cáo năm gửi trước ngày 15 tháng 01 của năm sau. 2. Trường hợp bị mất vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm báo cáo ngay với cơ quan Công an gần nhất và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng để phối hợp giải quyết, truy tìm; đồng thời, báo cáo bằng văn bản về Tổng cục Lâm nghiệp ngay sau khi phát hiện vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị mất. Chương III TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM LÂM VÀ LỰC LƯỢNG BẢO VỆ RỪNG CHUYÊN TRÁCH Điều 20. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Quyết định trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm trên toàn quốc. 2. Giao Tổng cục Lâm nghiệp chỉ đạo Cục Kiểm lâm thực hiện: a) Mua sắm, trang cấp, sửa chữa, quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm theo quy định của pháp luật; b) Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; c) Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; d) Tổng hợp báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; đ) Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách khi được giao. Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương: a) Cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ liên quan đến quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. b) Phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo đúng quy định của pháp luật. 2. Giao Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ sau: a) Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách; b) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Điều 22. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách 1. Thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định tại Thông tư này và các văn bản pháp luật khác có liên quan về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. 2. Chấp hành nghiêm túc việc thanh tra, kiểm tra, chế độ báo cáo theo quy định. Điều 23. Trách nhiệm của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách trên địa bàn tỉnh. 2. Phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tổ chức tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. 3. Thực hiện việc phân loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đã trang bị cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách theo quy định của pháp luật. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 24. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2014 và thay thế Quyết định số 94/2000/BNN - KL ngày 24/8/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ trong lực lượng Kiểm lâm. Điều 25. Trách nhiệm thi hành 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội giúp Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công an; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Tổng cục Lâm nghiệp) và Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội) để kịp thời hướng dẫn. /.
Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ngư
01/2015/TTLT-BCA-BNNPTNT
13/01/2015
Thông tư liên tịch
26/02/2015
Công báo số 263 + 264/2015
20/02/2015
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ trưởng
Cao Đức Phát
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ng ư ________________ Căn cứ Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 30 tháng 6 năm 2011; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 12 tháng 7 năm 2013 (sau đây viết gọn là Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); Căn cứ Nghị định số 25/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 25/2012/NĐ-CP); Nghị định số 76/2014/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2014 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 76/2014/NĐ-CP); Căn cứ Nghị định số 102/2012/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2012 về tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư; Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư liên tịch quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về nguyên tắc, chủng loại, đối tượng, kế hoạch, kinh phí, cấp phát, điều chuyển, thu hồi, bảo quản, giao nhận, sửa chữa, đào tạo, tập huấn, chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm trong quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Kiểm ngư viên. 2. Thuyền viên tàu Kiểm ngư. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Điều 3. Nguyên tắc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư 1. Tuân thủ Hiến pháp, Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Thông tư này. 2. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động và đáp ứng yêu cầu công tác của lực lượng Kiểm ngư. 3. Bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng kế hoạch và đúng đối tượng sử dụng. Điều 4. Các loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng Kiểm ngư 1. Các loại vũ khí quân dụng trang bị cho lực lượng Kiểm ngư được quy định tại Điều 9 Nghị định số 76/2014/NĐ-CP. 2. Công cụ hỗ trợ gồm: a) Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này; b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa; c) Các loại lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ; d) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khóa số tám, áo giáp các loại, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn. Điều 5. Lập kế hoạch trang bị và kinh phí bảo đảm cho việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ngư 1. Cục Kiểm ngư lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư trên cơ sở tổng hợp kế hoạch trang bị của các đơn vị trực thuộc báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định trang bị. 2. Kinh phí bảo đảm cho việc mua sắm, cấp phát, điều chuyển, sửa chữa, thu hồi, xây dựng kho, nơi cất giữ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chương II TRANG BỊ, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ Điều 6. Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm ngư. 2. Chi cục Kiểm ngư Vùng. 3. Chi đội Kiểm ngư. 4. Trạm Kiểm ngư. 5. Tàu Kiểm ngư. Điều 7. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng a) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao súng ngắn, súng tiểu liên và đạn sử dụng cho các loại súng này cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư là công chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam; b) Cục trưởng Cục Kiểm ngư có trách nhiệm giao súng trung liên, súng đại liên, súng 14,5 mm (mi-li-mét) trang bị trên tàu Kiểm ngư và đạn sử dụng cho các loại súng này cho Thuyền viên tàu Kiểm ngư là công chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam. 2. Đối tượng được giao sử dụng công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao công cụ hỗ trợ cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của Kiểm ngư. Điều 8. Sử dụng vũ khí quân dụng Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng vũ khí quân dụng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc nổ súng phải tuân thủ quy định tại Điều 22 của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 9 của Nghị định số 25/2012/NĐ-CP, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các quy định hiện hành khác của pháp luật về sử dụng vũ khí quân dụng trong khi thi hành công vụ. Điều 9. Sử dụng công cụ hỗ trợ Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Khoản 4 Điều 24 Nghị định số 25/2012/NĐ-CP, Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh. Điều 10. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng: a) Có phẩm chất đạo đức tốt; b) Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao; c) Được huấn luyện về chuyên môn và kiểm tra định kỳ về kỹ năng sử dụng vũ khí quân dụng; d) Được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng vũ khí quân dụng. 2. Người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ. Điều 11. Cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư 1. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư trên toàn quốc theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản. 2. Cục trưởng Cục Kiểm ngư thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với các đơn vị trực thuộc sau khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 3. Việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có quyết định bằng văn bản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định thực hiện cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, Cục trưởng Cục Kiểm ngư phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và báo cáo Tổng cục Thủy sản để theo dõi, quản lý. Điều 12. Bảo quản, giao nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải được quản lý và bảo quản tập trung tại kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng. Kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn theo quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải phân công người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 13 Thông tư này để bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, bảo quản theo quy định. 3. Việc giao, nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có sổ sách theo dõi, có đầy đủ chữ ký của người giao, người nhận. 4. Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu kiểm ngư được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ khi kết thúc nhiệm vụ, hết thời hạn được giao, thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi việc hoặc không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật thì phải bàn giao lại đầy đủ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và hồ sơ, sổ sách có liên quan cho cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. 5. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định của pháp luật. Điều 13. Tiêu chuẩn của người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao. 3. Có chứng chỉ chuyên môn về quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. 4. Có chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy do cơ quan có thẩm quyền cấp. 5. Nắm vững nội quy, chế độ quản lý, bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Điều 14. Sửa chữa, giao nộp, thanh lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm ngư có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng, Chi đội Kiểm ngư, Trạm Kiểm ngư, Tàu Kiểm ngư để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 2. Đối với vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc đã hết hạn sử dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị tổng hợp và chuyển giao cho cơ quan Công an đã cấp giấy phép sử dụng để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày giao nộp vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cơ quan Công an, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm báo cáo kết quả giao nộp bằng văn bản về Cục Kiểm ngư để theo dõi. Điều 15. Đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an và các cơ quan khác có thẩm quyền tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư để được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 16. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Định kỳ 6 tháng, 01 năm, Cục Kiểm ngư và các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm ngư có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Thủy sản và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình. Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 15 tháng 7, báo cáo năm gửi trước ngày 15 tháng 01 của năm sau. 2. Trường hợp bị mất vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản ngay với cơ quan Công an gần nhất và cơ quan Công an đã cấp giấy phép sử dụng để phối hợp truy tìm, giải quyết; đồng thời báo cáo bằng văn bản về Tổng cục Thủy sản. Chương III TRANG BỊ, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG Điều 17. Các loại thiết bị chuyên dùng trang bị cho lực lượng Kiểm ngư Căn cứ vào yêu cầu, tình hình thực tế hoạt động, lực lượng Kiểm ngư được trang bị các loại thiết bị chuyên dùng sau: 1. Thiết bị dò chất nổ cầm tay. 2. Trang thiết bị lặn biển; đèn pha dưới nước; quần áo chống thấm nước. 3. Mặt nạ phòng độc; ống nhòm ban ngày, ống nhòm ban đêm; ống nhòm tầm nhiệt; mũ bảo hiểm chuyên dụng; bảo vệ khớp tay, gối. 4. Đèn pha chiếu sáng công suất lớn có bộ lọc hồng ngoại; loa nén công suất lớn, loa chế áp âm thanh dải rộng, còi ủ công suất lớn; vòi rồng (vòi phun nước áp lực cao); điện thoại sử dụng Inmarsat (điện thoại vệ tinh). 5. Tủ chuyên dụng dùng để đựng (cất, bảo quản) vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng. 6. Thiết bị đánh dấu tàu vi phạm. 7. Các loại thiết bị chuyên dùng khác theo quy định của pháp luật. Điều 18. Đối tượng được trang bị thiết bị chuyên dùng 1. Cục Kiểm ngư. 2. Chi cục Kiểm ngư Vùng. 3. Chi đội Kiểm ngư. 4. Trạm Kiểm ngư. Điều 19. Đối tượng được giao sử dụng thiết bị chuyên dùng Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại Điều 18 Thông tư này có trách nhiệm giao thiết bị chuyên dùng cho người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 20 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của Kiểm ngư. Điều 20. Tiêu chuẩn của người được giao thiết bị chuyên dùng 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với loại thiết bị chuyên dùng được giao sử dụng. 3. Người được giao sử dụng thiết bị chuyên dùng phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng thiết bị chuyên dùng. Chương IV TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ VÀ THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM NGƯ Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Quy định về tiêu chuẩn, định mức trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng cho lực lượng Kiểm ngư trên toàn quốc. 2. Giao Tổng cục Thủy sản chỉ đạo Cục Kiểm ngư thực hiện: a) Mua sắm, cấp phát, sửa chữa, quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật; b) Kiểm tra việc chấp hành các quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; c) Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; d) Tổng hợp báo cáo về tình hình trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; đ) Phối hợp tổ chức đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; e) Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư khi được giao. Điều 22. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện: a) Cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ liên quan đến quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật; b) Phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư theo đúng quy định của pháp luật. 2. Giao Tổng cục Cảnh sát phối hợp với Tổng cục Thủy sản thực hiện các nhiệm vụ sau: a) Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư; b) Tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư. Điều 23. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Kiểm ngư 1. Thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của cơ quan, đơn vị mình theo quy định tại Thông tư này và các văn bản pháp luật khác có liên quan về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng. 2. Chấp hành nghiêm túc việc thanh tra, kiểm tra, chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. Điều 24. Trách nhiệm của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Phối hợp với Chi cục Kiểm ngư Vùng hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư trên địa bàn tỉnh. 2. Phối hợp với Chi cục Kiểm ngư Vùng tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật. 3. Thực hiện việc tiếp nhận, phân loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đã trang bị cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 25. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 02 năm 2015. Điều 26. Tổ chức thực hiện 1. Tổng cục trưởng Tổng cục thủy sản giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát giúp Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công an; Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Cục trưởng Cục Kiểm ngư, các Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư Vùng, Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Tổng cục Thủy sản) và Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát) để kịp thời hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=56958&Keyword=
2025-09-24T02:33:52.545702
../data\bocongan\012015TTLT-BCA-BNNPTNT\document.json
01/07/2018
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ng ư ________________ Căn cứ Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 30 tháng 6 năm 2011; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 12 tháng 7 năm 2013 (sau đây viết gọn là Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); Căn cứ Nghị định số 25/2012/NĐ - CP ngày 05 tháng 4 năm 2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 25/2012/NĐ - CP); Nghị định số 76/2014/NĐ - CP ngày 29 tháng 7 năm 2014 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây viết gọn là Nghị định số 76/2014/NĐ - CP); Căn cứ Nghị định số 102/2012/NĐ - CP ngày 29 tháng 11 năm 2012 về tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư; Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ - CP ngày 26 tháng 11 năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư liên tịch quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về nguyên tắc, chủng loại, đối tượng, kế hoạch, kinh phí, cấp phát, điều chuyển, thu hồi, bảo quản, giao nhận, sửa chữa, đào tạo, tập huấn, chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm trong quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Kiểm ngư viên. 2. Thuyền viên tàu Kiểm ngư. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư. Điều 3. Nguyên tắc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư 1. Tuân thủ Hiến pháp, Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Thông tư này. 2. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động và đáp ứng yêu cầu công tác của lực lượng Kiểm ngư. 3. Bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng kế hoạch và đúng đối tượng sử dụng. Điều 4. Các loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng Kiểm ngư 1. Các loại vũ khí quân dụng trang bị cho lực lượng Kiểm ngư được quy định tại Điều 9 Nghị định số 76/2014/NĐ - CP. 2. Công cụ hỗ trợ gồm: a) Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất gây mê, từ trường, la - de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này; b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa; c) Các loại lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ; d) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khóa số tám, áo giáp các loại, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn. Điều 5. Lập kế hoạch trang bị và kinh phí bảo đảm cho việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ngư 1. Cục Kiểm ngư lập kế hoạch trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư trên cơ sở tổng hợp kế hoạch trang bị của các đơn vị trực thuộc báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định trang bị. 2. Kinh phí bảo đảm cho việc mua sắm, cấp phát, điều chuyển, sửa chữa, thu hồi, xây dựng kho, nơi cất giữ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chương II TRANG BỊ, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ Điều 6. Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm ngư. 2. Chi cục Kiểm ngư Vùng. 3. Chi đội Kiểm ngư. 4. Trạm Kiểm ngư. 5. Tàu Kiểm ngư. Điều 7. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Đối tượng được giao sử dụng vũ khí quân dụng a) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao súng ngắn, súng tiểu liên và đạn sử dụng cho các loại súng này cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư là công chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam; b) Cục trưởng Cục Kiểm ngư có trách nhiệm giao súng trung liên, súng đại liên, súng 14, 5 mm (mi - li - mét) trang bị trên tàu Kiểm ngư và đạn sử dụng cho các loại súng này cho Thuyền viên tàu Kiểm ngư là công chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam. 2. Đối tượng được giao sử dụng công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 6 Thông tư này có trách nhiệm giao công cụ hỗ trợ cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của Kiểm ngư. Điều 8. Sử dụng vũ khí quân dụng Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng vũ khí quân dụng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc nổ súng phải tuân thủ quy định tại Điều 22 của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Điều 9 của Nghị định số 25/2012/NĐ - CP, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các quy định hiện hành khác của pháp luật về sử dụng vũ khí quân dụng trong khi thi hành công vụ. Điều 9. Sử dụng công cụ hỗ trợ Khi thi hành công vụ, người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Khoản 4 Điều 24 Nghị định số 25/2012/NĐ - CP, Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 30/2012/TT - BCA ngày 29/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh. Điều 10. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Tiêu chuẩn của người được giao sử dụng vũ khí quân dụng: a) Có phẩm chất đạo đức tốt; b) Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao; c) Được huấn luyện về chuyên môn và kiểm tra định kỳ về kỹ năng sử dụng vũ khí quân dụng; d) Được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng vũ khí quân dụng. 2. Người được giao sử dụng công cụ hỗ trợ phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ. Điều 11. Cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư 1. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư trên toàn quốc theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản. 2. Cục trưởng Cục Kiểm ngư thực hiện việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với các đơn vị trực thuộc sau khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 3. Việc cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có quyết định bằng văn bản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định thực hiện cấp phát, điều chuyển, thu hồi vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, Cục trưởng Cục Kiểm ngư phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và báo cáo Tổng cục Thủy sản để theo dõi, quản lý. Điều 12. Bảo quản, giao nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải được quản lý và bảo quản tập trung tại kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng. Kho, nơi cất giữ vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn theo quy định của pháp luật. 2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải phân công người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 13 Thông tư này để bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, bảo quản theo quy định. 3. Việc giao, nhận vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có sổ sách theo dõi, có đầy đủ chữ ký của người giao, người nhận. 4. Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu kiểm ngư được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ khi kết thúc nhiệm vụ, hết thời hạn được giao, thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi việc hoặc không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quản lý, bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật thì phải bàn giao lại đầy đủ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và hồ sơ, sổ sách có liên quan cho cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. 5. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình theo quy định của pháp luật. Điều 13. Tiêu chuẩn của người được giao bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với công việc được giao. 3. Có chứng chỉ chuyên môn về quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. 4. Có chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy do cơ quan có thẩm quyền cấp. 5. Nắm vững nội quy, chế độ quản lý, bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ. Điều 14. Sửa chữa, giao nộp, thanh lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ 1. Cục Kiểm ngư có trách nhiệm tổng hợp số lượng, chủng loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng của các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng, Chi đội Kiểm ngư, Trạm Kiểm ngư, Tàu Kiểm ngư để làm thủ tục sửa chữa theo quy định của pháp luật. 2. Đối với vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc đã hết hạn sử dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị tổng hợp và chuyển giao cho cơ quan Công an đã cấp giấy phép sử dụng để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày giao nộp vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho cơ quan Công an, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm báo cáo kết quả giao nộp bằng văn bản về Cục Kiểm ngư để theo dõi. Điều 15. Đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an và các cơ quan khác có thẩm quyền tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho Kiểm ngư viên, Thuyền viên tàu Kiểm ngư để được cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Điều 16. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Định kỳ 6 tháng, 01 năm, Cục Kiểm ngư và các đơn vị trực thuộc Cục Kiểm ngư có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Thủy sản và cơ quan Công an cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ về tình hình quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của cơ quan, đơn vị mình. Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 15 tháng 7, báo cáo năm gửi trước ngày 15 tháng 01 của năm sau. 2. Trường hợp bị mất vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản ngay với cơ quan Công an gần nhất và cơ quan Công an đã cấp giấy phép sử dụng để phối hợp truy tìm, giải quyết; đồng thời báo cáo bằng văn bản về Tổng cục Thủy sản. Chương III TRANG BỊ, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG Điều 17. Các loại thiết bị chuyên dùng trang bị cho lực lượng Kiểm ngư Căn cứ vào yêu cầu, tình hình thực tế hoạt động, lực lượng Kiểm ngư được trang bị các loại thiết bị chuyên dùng sau: 1. Thiết bị dò chất nổ cầm tay. 2. Trang thiết bị lặn biển; đèn pha dưới nước; quần áo chống thấm nước. 3. Mặt nạ phòng độc; ống nhòm ban ngày, ống nhòm ban đêm; ống nhòm tầm nhiệt; mũ bảo hiểm chuyên dụng; bảo vệ khớp tay, gối. 4. Đèn pha chiếu sáng công suất lớn có bộ lọc hồng ngoại; loa nén công suất lớn, loa chế áp âm thanh dải rộng, còi ủ công suất lớn; vòi rồng (vòi phun nước áp lực cao); điện thoại sử dụng Inmarsat (điện thoại vệ tinh). 5. Tủ chuyên dụng dùng để đựng (cất, bảo quản) vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng. 6. Thiết bị đánh dấu tàu vi phạm. 7. Các loại thiết bị chuyên dùng khác theo quy định của pháp luật. Điều 18. Đối tượng được trang bị thiết bị chuyên dùng 1. Cục Kiểm ngư. 2. Chi cục Kiểm ngư Vùng. 3. Chi đội Kiểm ngư. 4. Trạm Kiểm ngư. Điều 19. Đối tượng được giao sử dụng thiết bị chuyên dùng Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quy định tại Điều 18 Thông tư này có trách nhiệm giao thiết bị chuyên dùng cho người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 20 Thông tư này để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của Kiểm ngư. Điều 20. Tiêu chuẩn của người được giao thiết bị chuyên dùng 1. Có phẩm chất đạo đức tốt. 2. Có sức khỏe phù hợp với loại thiết bị chuyên dùng được giao sử dụng. 3. Người được giao sử dụng thiết bị chuyên dùng phải được tập huấn về tính năng, tác dụng, kỹ năng sử dụng thiết bị chuyên dùng. Chương IV TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, CÔNG CỤ HỖ TRỢ VÀ THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM NGƯ Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1. Quy định về tiêu chuẩn, định mức trang bị vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng cho lực lượng Kiểm ngư trên toàn quốc. 2. Giao Tổng cục Thủy sản chỉ đạo Cục Kiểm ngư thực hiện: a) Mua sắm, cấp phát, sửa chữa, quản lý vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật; b) Kiểm tra việc chấp hành các quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; c) Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; d) Tổng hợp báo cáo về tình hình trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; đ) Phối hợp tổ chức đào tạo, tập huấn, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư; e) Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng Kiểm ngư khi được giao. Điều 22. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện: a) Cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ liên quan đến quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật; b) Phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư theo đúng quy định của pháp luật. 2. Giao Tổng cục Cảnh sát phối hợp với Tổng cục Thủy sản thực hiện các nhiệm vụ sau: a) Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư; b) Tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư. Điều 23. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Kiểm ngư 1. Thực hiện việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của cơ quan, đơn vị mình theo quy định tại Thông tư này và các văn bản pháp luật khác có liên quan về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng. 2. Chấp hành nghiêm túc việc thanh tra, kiểm tra, chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. Điều 24. Trách nhiệm của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Phối hợp với Chi cục Kiểm ngư Vùng hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm ngư trên địa bàn tỉnh. 2. Phối hợp với Chi cục Kiểm ngư Vùng tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật. 3. Thực hiện việc tiếp nhận, phân loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ đã trang bị cho lực lượng Kiểm ngư theo quy định của pháp luật. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 25. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 02 năm 2015. Điều 26. Tổ chức thực hiện 1. Tổng cục trưởng Tổng cục thủy sản giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát giúp Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công an; Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Cục trưởng Cục Kiểm ngư, các Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư Vùng, Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Tổng cục Thủy sản) và Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát) để kịp thời hướng dẫn. /.
Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông
01/2016/TT-BCA
04/01/2016
Thông tư
15/02/2016
Công báo số 173 + 174/2015
10/02/2016
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của C ảnh sát giao thôn g ________________________ Căn cứ Luật Công a n nhân dân năm 2014; Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; C ă n cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức n ă ng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông; Bộ tr ưởn g Bộ C ô ng an ban hành Thông tư quy định nhiệm vụ, quy ề n hạn, hình thức, nội dung tuần tra, ki ể m soá t giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn; trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ; hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính; phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát giao thông (sau đây viết gọn là cán bộ) thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ. 2. Công an các đơn vị, địa phương có liên quan. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 3. Yêu cầu đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ 1. Nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, Thông tư này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được phân công; quy chế dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và Điều lệnh Công an nhân dân. 3. Khi tiếp xúc với nhân dân, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có thái độ đúng mực và ứng xử phù hợp với từng đối tượng được kiểm tra. 4. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định của pháp luật. 5. Đã được cấp biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ theo quy định của Bộ Công an. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Mục 1 NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁN BỘ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 4. Nhiệm vụ Cán bộ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ thực hiện các nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân và nhiệm vụ cụ thể sau đây: 1. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an, Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh); Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh (sau đây viết gọn là Trưởng phòng Cảnh sát giao thông); Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện); kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thuộc phạm vi tuyến đường, địa bàn phân công tuần tra, kiểm soát; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. 3. Báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền kiến nghị với cơ quan liên quan có biện pháp khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và trật tự, an toàn giao thông đường bộ; phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm quy định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ. 4. Hướng dẫn, tuyên truyền người tham gia giao thông chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về giao thông đường bộ. 5. Tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, giải quyết tai nạn giao thông theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an; phối hợp tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra trên đường bộ. 6. Phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an nhân dân đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên các tuyến giao thông đường bộ, phương tiện giao thông đường bộ (sau đây viết gọn là phương tiện), địa bàn được phân công theo quy định của pháp luật. Điều 5. Quyền hạn 1. Được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát, việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo quy định pháp luật. 2. Xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác theo quy định của pháp luật. 3. Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; tạm giữ giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe và giấy tờ khác có liên quan đến phương tiện, người điều khiển phương tiện hoặc những người trên phương tiện khi có hành vi vi phạm pháp luật, giấy tờ liên quan đến hoạt động vận tải để bảo đảm cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. 4. Được yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết tai nạn giao thông; ùn tắc, cản trở giao thông hoặc trường hợp khác gây mất trật tự, an toàn giao thông. 5. Được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật. 6. Được trưng dụng các loại phương tiện giao thông; phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển, sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật. 7. Tạm thời đình chỉ người và phương tiện đi lại ở một số đoạn đường nhất định, phân lại luồng, phân lại tuyến và nơi tạm dừng phương tiện, đỗ phương tiện khi xảy ra ùn tắc giao thông hoặc có yêu cầu cần thiết khác về bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 8. Thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Mục 2 TRANG BỊ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ VŨ KHÍ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ CỦA CẢNH SÁT GIAO THÔNG LÀM NHIỆM VỤ TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 6. Trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ 1. Phương tiện giao thông, gồm: Xe ô tô, xe mô tô và các loại xe chuyên dùng khác được lắp đặt đèn, cờ hiệu Công an, còi phát tín hiệu ưu tiên của xe được quyền ưu tiên theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ a) Hai bên thành xe ô tô tuần tra có vạch sơn phản quang màu xanh nước biển, ở giữa có dòng chữ “CẢNH SÁT GIAO THÔNG” màu trắng (bằng chất liệu phản quang), có kích thước chữ 10cm x 10cm, nét chữ 03cm, cân đối hai bên thành xe. Tùy từng loại xe được bố trí vạch, khoảng cách giữa các chữ, các từ cho cân đối và phù hợp; b) Hai bên bình xăng hoặc ở sườn hai bên thùng phía sau hoặc ở hai bên cốp xe mô tô hai bánh tuần tra có dòng chữ “C.S.G.T” màu xanh (bằng chất liệu phản quang). Tùy từng loại xe được bố trí kích thước chữ và khoảng cách giữa các chữ cho cân đối và phù hợp; c) Màu sơn của xe ô tô, mô tô sử dụng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát: Màu sơn trắng. 2. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trang bị cho Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thực hiện theo Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường (sau đây viết gọn là Nghị định số 165/2013/NĐ-CP). 3. Phương tiện thông tin liên lạc: Máy bộ đàm, máy điện thoại, máy Fax, máy tính truyền dữ liệu. 4. Vũ khí, công cụ hỗ trợ trang bị cho Cảnh sát giao thông. 5. Gậy chỉ huy giao thông; còi; loa; cột hình chóp nón; rào chắn; biển báo để ngăn đường, cản, dừng phương tiện. 6. Đèn chiếu ánh sáng. 7. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ khác theo quy định của Bộ Công an. Điều 7. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ tr ợ 1. Việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ phải thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 165/2013/NĐ-CP, Thông tư số 40/2015/TT-BCA ngày 24/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong Công an nhân dân để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ. 2. Sử dụng còi phát tín hiệu ưu tiên theo quy định của pháp luật. 3. Đèn phát tín hiệu ưu tiên được sử dụng liên tục trong các trường hợp sau đây: a) Tuần tra, kiểm soát cơ động; b) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông hoặc tại Trạm Cảnh sát giao thông về ban ngày trong điều kiện thời tiết xấu làm hạn chế tầm nhìn (mưa, sương mù...); c) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông hoặc tại Trạm Cảnh sát giao thông về ban đêm. Mục 3 HÌNH THỨC TUẦN TRA, KIỂM SOÁT Điều 8. Tuần tra, kiểm soát công khai 1. Phương thức tuần tra, kiểm soát công khai a) Tuần tra, kiểm soát cơ động; b) Kiểm soát tại Trạm Cảnh sát giao thông; c) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông; d) Tuần tra, kiểm soát cơ động kết hợp kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông. Việc tuần tra, kiểm soát công khai trên đường cao tốc được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản này. 2. Tuần tra, kiểm soát công khai phải có kế hoạch được Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện trở lên phê duyệt. Kế hoạch tuần tra, kiểm soát phải ghi rõ thời gian, tuyến đường, địa điểm thực hiện tuần tra, kiểm soát. 3. Khi tuần tra, kiểm soát công khai phải thực hiện các quy định sau đây: a) Sử dụng trang phục theo đúng quy định của Bộ Công an; b) Sử dụng phương tiện giao thông hoặc đi bộ để tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa bàn được phân công; c) Sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật và Thông tư này. Điều 9. Tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang 1. Các trường hợp tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Hóa trang sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; b) Đấu tranh phòng, chống tội phạm; khi tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự, an toàn giao thông phức tạp. 2. Thẩm quyền quyết định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang quy định tại Khoản 1 Điều này; b) Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang đối với trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này. 3. Điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Phải có kế hoạch tuần tra, kiểm soát được người có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này phê duyệt. Nội dung kế hoạch phải nêu rõ phương pháp thực hiện, lực lượng, phương thức liên lạc, thời gian, địa bàn tuần tra, kiểm soát; phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để tuần tra, kiểm soát; b) Tổ tuần tra, kiểm soát phải bố trí một bộ phận cán bộ trong Tổ để hóa trang (mặc thường phục) thực hiện nhiệm vụ giám sát tình hình trật tự giao thông, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành kiểm soát, xử lý theo quy định của pháp luật; Bộ phận hóa trang và bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai trong một Tổ tuần tra, kiểm soát phải giữ một khoảng cách thích hợp bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, đúng pháp luật; c) Nghiêm cấm lạm dụng việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang để sách nhiễu, gây phiền hà, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Điều 10. Kiểm soát thông qua hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ 1. Hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm: a) Các thiết bị đầu cuối (máy đo tốc độ có ghi hình ảnh; camera giám sát, ghi nhận hình ảnh phương tiện vi phạm; các thiết bị điều khiển; các thiết bị điện, điện tử và cơ khí khác...) được lắp đặt cố định trên tuyến giao thông đường bộ để giám sát trực tuyến tình hình trật tự, an toàn giao thông và tự động ghi nhận bằng hình ảnh của người, phương tiện vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; b) Hệ thống thiết bị xử lý tại trung tâm, phần mềm quản lý và cơ sở dữ liệu giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông; c) Hệ thống truyền dữ liệu; d) Các thiết bị phụ trợ khác. 2. Đơn vị thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bố trí cán bộ có đủ tiêu chuẩn theo quy định trực tại Trung tâm điều hành để phối hợp vận hành hệ thống giám sát và thông báo vi phạm của người, phương tiện tham gia giao thông cho Tổ tuần tra, kiểm soát làm nhiệm vụ trên tuyến để kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định. 3. Khi nhận được thông báo hành vi vi phạm của người, phương tiện tham gia giao thông từ Trung tâm điều hành hệ thống giám sát, Tổ tuần tra, kiểm soát thực hiện nhiệm vụ dừng phương tiện, kiểm soát và xử lý vi phạm theo quy định. Kết thúc ca tuần tra, kiểm soát, Tổ trưởng có trách nhiệm thống kê vụ việc đã kiểm soát, xử lý về Trung tâm điều hành. Cán bộ trực tại Trung tâm điều hành có trách nhiệm thống kê các vụ việc phát hiện thông qua hệ thống giám sát nhưng chưa được kiểm soát, xử lý vi phạm, báo cáo, đề xuất bằng văn bản với người có thẩm quyền để xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. 4. Các hành vi vi phạm do thiết bị kỹ thuật của hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ ghi, thu được phải thống kê, lập danh sách, in thành bản ảnh hoặc bản ghi, thu về hành vi vi phạm và lưu giữ trong hồ sơ vụ, việc vi phạm hành chính theo quy định của Bộ Công an về công tác hồ sơ. Điều 11. Huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp tuần tra, kiểm soát Trường hợp cần thiết phải huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ quy định việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết và Thông tư số 47/2011/TT-BCA ngày 02/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 27/2010/NĐ-CP. Mục 4 NỘI DUNG TUẦN TRA, KIỂM SOÁT, XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Điều 12. Các trường hợp được dừng phương tiện 1. Việc dừng phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) An toàn, đúng quy định của pháp luật; b) Không làm cản trở đến hoạt động giao thông; c) Khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. 2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau: a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên; c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên; d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp; đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông. Điều 13. Nội dung tuần tra 1. Nội dung tuần tra phải được thể hiện trong kế hoạch tuần tra, kiểm soát được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an cấp tỉnh. 2. Cán bộ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ hoặc đi bộ tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa bàn được phân công, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kết hợp với sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông và các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật. Điều 14. Nội dung kiểm soát 1. Thực hiện việc kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm các nội dung sau: a) Kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện, gồm: - Giấy phép lái xe; Giấy đăng ký xe; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và giấy tờ khác có liên quan đến người, phương tiện, hoạt động vận tải; - Khi kiểm soát phải đối chiếu giữa các giấy tờ với nhau, giữa giấy tờ có liên quan với thực tế người, phương tiện, hàng hóa vận chuyển trên phương tiện. b) Kiểm soát các điều kiện tham gia giao thông của phương tiện - Kiểm soát điều kiện an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; - Kiểm soát biển số phía trước, phía sau, đèn chiếu sáng (chiếu xa, chiếu gần), đèn tín hiệu, gạt nước, gương chiếu hậu, đèn báo hãm, đèn hậu, đèn soi biển số, đèn lùi; - Kiểm soát và đánh giá về tình trạng kỹ thuật hệ thống lái, các đòn ba dọc, ba ngang, khớp nối; hệ thống phanh, các đường ống dẫn dầu hoặc dẫn hơi của hệ thống phanh; các đồng hồ trên bảng táplô (chú ý kiểm tra đồng hồ báo áp lực hơi đối với những phương tiện sử dụng hệ thống phanh hơi); thiết bị giám sát hành trình, thiết bị cứu hộ, cứu nạn (nếu có); các công tắc còi, đèn; hệ thống treo; hệ thống bánh lốp phương tiện về kích cỡ, độ mòn, áp lực hơi; - Kiểm soát việc trang bị các phương tiện phòng cháy và chữa cháy, giấy phép vận chuyển theo quy định của pháp luật đối với các phương tiện chở khách, chở xăng, dầu, chở hàng nguy hiểm. c) Kiểm soát hoạt động vận tải đường bộ - Kiểm soát quy cách, kích thước hàng hóa, đồ vật chuyên chở (dài, rộng, cao), chủng loại, trọng lượng hàng hóa hoặc số người trên phương tiện so với nội dung quy định tại các loại giấy tờ, tính hợp pháp của hàng hóa và các biện pháp bảo đảm an toàn; - Trường hợp có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật có cất giấu tang vật vi phạm hành chính và người tham gia giao thông có cất giấu trong người đồ vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính thì được khám phương tiện vận tải, đồ vật và khám người theo thủ tục hành chính; khi tiến hành khám phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; - Trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì lập biên bản vụ việc, tạm giữ người, tang vật, phương tiện, giấy tờ, tài liệu có liên quan, báo cáo cấp có thẩm quyền để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết; việc tạm giữ người, tang vật, phương tiện, giấy tờ, tài liệu có liên quan phải thực hiện đúng quy định của pháp luật. 2. Kiểm soát thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ a) Khi đã ghi nhận được hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông của người và phương tiện tham gia giao thông thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, cán bộ thực hiện hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm soát phải lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo quy định. Trường hợp người vi phạm yêu cầu được xem hình ảnh, kết quả ghi, thu được về hành vi vi phạm thì phải cho xem ngay nếu đã có hình ảnh, kết quả ghi thu được tại đó; nếu chưa có ngay hình ảnh, kết quả ghi, thu được thì hướng dẫn người vi phạm xem hình ảnh, kết quả ghi thu được khi đến xử lý vi phạm tại trụ sở đơn vị; b) Trường hợp chưa dừng ngay được phương tiện để kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định, Tổ trưởng tổ tuần tra, kiểm soát phải báo cáo Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên thực hiện việc thông báo đến chủ phương tiện, yêu cầu người vi phạm đến trụ sở Công an nơi phát hiện vi phạm để giải quyết. Khi giải quyết vụ, việc phải cho người vi phạm xem hình ảnh hoặc kết quả ghi, thu được về hành vi vi phạm của họ; lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo quy định. Điều 15. Xử lý vi phạm 1. Khi phát hiện có hành vi vi phạm, cán bộ tuần tra, kiểm soát được phân công nhiệm vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản. Trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm cho việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì Tổ trưởng Tổ tuần tra, kiểm soát phải quyết định hoặc báo cáo người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 2. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính xong, cán bộ tuần tra, kiểm soát gửi biên bản cho người vi phạm và thông báo các hành vi vi phạm cho những người trên phương tiện biết để chấp hành việc giám sát. Đối với những phương tiện chở người từ 16 chỗ ngồi trở lên, cán bộ tuần tra, kiểm soát được phân công nhiệm vụ phải trực tiếp lên khoang chở khách để thông báo. Trường hợp không phát hiện vi phạm cũng phải thông báo và nói lời: “Cảm ơn ông (bà, anh, chị,...) đã giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ”. 3. Đối với vi phạm thuộc trường hợp không phải lập biên bản vi phạm hành chính hoặc thuộc thẩm quyền của mình mà không cần phải điều tra xác minh thì có thể ra quyết định xử phạt tại chỗ hoặc ngay trong thời gian thực hiện ca tuần tra, kiểm soát. Đối với những trường hợp khác thì phải củng cố hồ sơ vi phạm chuyển đến cấp có thẩm quyền để ra quyết định xử phạt. Mục 5 PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM VÀ QUAN HỆ PHỐI HỢP TRONG CÔNG TÁC TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 16. Cục Cảnh sát giao thông 1. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. 2. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; phối hợp với Thanh tra Bộ Công an thanh tra việc chấp hành pháp luật, quy định, quy trình, chế độ công tác, Điều lệnh nội vụ Công an nhân dân trong lực lượng Cảnh sát giao thông khi được yêu cầu. 3. Xây dựng các kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc. 4. Bố trí lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc; chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc trong trường hợp cần thiết. 5. Tổ chức lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông thực hiện độc lập hoặc chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương, các lực lượng có liên quan thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên các tuyến giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc. Điều 17. Công an cấp tỉnh 1. Giám đốc Công an cấp tỉnh a) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện việc tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ trong phạm vi quản lý; b) Quyết định phân công trách nhiệm, phân cấp tuyến, địa bàn tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ (mẫu ban hành kèm theo Thông tư này) giữa Phòng Cảnh sát giao thông và Công an cấp huyện theo quy định tại Thông tư này; c) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông của địa phương phối hợp với lực lượng tuần tra, kiểm soát của Cục Cảnh sát giao thông thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc khi có yêu cầu. 2. Phòng Cảnh sát giao thông a) Tham mưu Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định bố trí lực lượng của Phòng Cảnh sát giao thông và Công an cấp huyện tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến giao thông đường bộ theo địa giới hành chính của địa phương; b) Bố trí lực lượng, tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến quốc lộ thuộc địa giới hành chính của địa phương; đường tỉnh, đường đô thị theo quyết định phân công, phân cấp của Giám đốc Công an cấp tỉnh; Căn cứ tình hình thực tế công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đoạn quốc lộ đi qua địa giới hành chính quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thị trấn thuộc huyện, Phòng Cảnh sát giao thông tham mưu Giám đốc Công an cấp tỉnh có kế hoạch bố trí lực lượng của Phòng Cảnh sát giao thông chủ trì, phối hợp với Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông theo quy định của pháp luật; c) Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. 3. Công an cấp huyện a) Bố trí lực lượng, tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường huyện, đường xã, đường chuyên dùng trong phạm vi địa giới hành chính; đường tỉnh, đường đô thị theo quyết định phân công, phân cấp của Giám đốc Công an cấp tỉnh; b) Phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên đoạn quốc lộ đi qua địa giới hành chính quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thị trấn thuộc huyện theo kế hoạch của Giám đốc Công an cấp tỉnh. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2016 và thay thế Thông tư số 65/2012/TT-BCA ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông có trách nhiệm a) Chỉ đạo, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai, thực hiện Thông tư này; b) Chỉ đạo biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; c) Tổ chức tập huấn, kiểm tra, đánh giá kết quả tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ cho cán bộ thuộc Cục Cảnh sát giao thông và lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ các đơn vị Cảnh sát giao thông trong toàn quốc. 2. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm a) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ cho cán bộ Cảnh sát giao thông thuộc địa phương quản lý theo nội dung tài liệu tập huấn do Cục Cảnh sát giao thông biên soạn; b) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo quy định tại Thông tư này. 3. Các Tổng cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát giao thông) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=97598&Keyword=
2025-09-24T02:26:12.292138
../data\bocongan\012016TT-BCA\document.json
05/08/2020
THÔNG TƯ Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của C ảnh sát giao thôn g ________________________ Căn cứ Luật Công a n nhân dân năm 2014; Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; C ă n cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức n ă ng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông; Bộ tr ưởn g Bộ C ô ng an ban hành Thông tư quy định nhiệm vụ, quy ề n hạn, hình thức, nội dung tuần tra, ki ể m soá t giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn; trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ; hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính; phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát giao thông (sau đây viết gọn là cán bộ) thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ. 2. Công an các đơn vị, địa phương có liên quan. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 3. Yêu cầu đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ 1. Nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, Thông tư này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được phân công; quy chế dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và Điều lệnh Công an nhân dân. 3. Khi tiếp xúc với nhân dân, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có thái độ đúng mực và ứng xử phù hợp với từng đối tượng được kiểm tra. 4. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định của pháp luật. 5. Đã được cấp biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ theo quy định của Bộ Công an. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Mục 1 NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁN BỘ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 4. Nhiệm vụ Cán bộ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ thực hiện các nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân và nhiệm vụ cụ thể sau đây: 1. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an, Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh); Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh (sau đây viết gọn là Trưởng phòng Cảnh sát giao thông); Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện); kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thuộc phạm vi tuyến đường, địa bàn phân công tuần tra, kiểm soát; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. 3. Báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền kiến nghị với cơ quan liên quan có biện pháp khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và trật tự, an toàn giao thông đường bộ; phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm quy định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ. 4. Hướng dẫn, tuyên truyền người tham gia giao thông chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về giao thông đường bộ. 5. Tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, giải quyết tai nạn giao thông theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an; phối hợp tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra trên đường bộ. 6. Phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an nhân dân đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên các tuyến giao thông đường bộ, phương tiện giao thông đường bộ (sau đây viết gọn là phương tiện), địa bàn được phân công theo quy định của pháp luật. Điều 5. Quyền hạn 1. Được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát, việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo quy định pháp luật. 2. Xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác theo quy định của pháp luật. 3. Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; tạm giữ giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe và giấy tờ khác có liên quan đến phương tiện, người điều khiển phương tiện hoặc những người trên phương tiện khi có hành vi vi phạm pháp luật, giấy tờ liên quan đến hoạt động vận tải để bảo đảm cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. 4. Được yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết tai nạn giao thông; ùn tắc, cản trở giao thông hoặc trường hợp khác gây mất trật tự, an toàn giao thông. 5. Được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật. 6. Được trưng dụng các loại phương tiện giao thông; phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển, sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật. 7. Tạm thời đình chỉ người và phương tiện đi lại ở một số đoạn đường nhất định, phân lại luồng, phân lại tuyến và nơi tạm dừng phương tiện, đỗ phương tiện khi xảy ra ùn tắc giao thông hoặc có yêu cầu cần thiết khác về bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 8. Thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Mục 2 TRANG BỊ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ VŨ KHÍ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ CỦA CẢNH SÁT GIAO THÔNG LÀM NHIỆM VỤ TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 6. Trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ 1. Phương tiện giao thông, gồm: Xe ô tô, xe mô tô và các loại xe chuyên dùng khác được lắp đặt đèn, cờ hiệu Công an, còi phát tín hiệu ưu tiên của xe được quyền ưu tiên theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ a) Hai bên thành xe ô tô tuần tra có vạch sơn phản quang màu xanh nước biển, ở giữa có dòng chữ “CẢNH SÁT GIAO THÔNG” màu trắng (bằng chất liệu phản quang), có kích thước chữ 10cm x 10cm, nét chữ 03cm, cân đối hai bên thành xe. Tùy từng loại xe được bố trí vạch, khoảng cách giữa các chữ, các từ cho cân đối và phù hợp; b) Hai bên bình xăng hoặc ở sườn hai bên thùng phía sau hoặc ở hai bên cốp xe mô tô hai bánh tuần tra có dòng chữ “C. S. G. T” màu xanh (bằng chất liệu phản quang). Tùy từng loại xe được bố trí kích thước chữ và khoảng cách giữa các chữ cho cân đối và phù hợp; c) Màu sơn của xe ô tô, mô tô sử dụng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát: Màu sơn trắng. 2. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trang bị cho Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thực hiện theo Nghị định số 165/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường (sau đây viết gọn là Nghị định số 165/2013/NĐ - CP). 3. Phương tiện thông tin liên lạc: Máy bộ đàm, máy điện thoại, máy Fax, máy tính truyền dữ liệu. 4. Vũ khí, công cụ hỗ trợ trang bị cho Cảnh sát giao thông. 5. Gậy chỉ huy giao thông; còi; loa; cột hình chóp nón; rào chắn; biển báo để ngăn đường, cản, dừng phương tiện. 6. Đèn chiếu ánh sáng. 7. Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ khác theo quy định của Bộ Công an. Điều 7. Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ tr ợ 1. Việc sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ phải thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 165/2013/NĐ - CP, Thông tư số 40/2015/TT - BCA ngày 24/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong Công an nhân dân để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ. 2. Sử dụng còi phát tín hiệu ưu tiên theo quy định của pháp luật. 3. Đèn phát tín hiệu ưu tiên được sử dụng liên tục trong các trường hợp sau đây: a) Tuần tra, kiểm soát cơ động; b) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông hoặc tại Trạm Cảnh sát giao thông về ban ngày trong điều kiện thời tiết xấu làm hạn chế tầm nhìn (mưa, sương mù. . ); c) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông hoặc tại Trạm Cảnh sát giao thông về ban đêm. Mục 3 HÌNH THỨC TUẦN TRA, KIỂM SOÁT Điều 8. Tuần tra, kiểm soát công khai 1. Phương thức tuần tra, kiểm soát công khai a) Tuần tra, kiểm soát cơ động; b) Kiểm soát tại Trạm Cảnh sát giao thông; c) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông; d) Tuần tra, kiểm soát cơ động kết hợp kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông. Việc tuần tra, kiểm soát công khai trên đường cao tốc được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản này. 2. Tuần tra, kiểm soát công khai phải có kế hoạch được Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện trở lên phê duyệt. Kế hoạch tuần tra, kiểm soát phải ghi rõ thời gian, tuyến đường, địa điểm thực hiện tuần tra, kiểm soát. 3. Khi tuần tra, kiểm soát công khai phải thực hiện các quy định sau đây: a) Sử dụng trang phục theo đúng quy định của Bộ Công an; b) Sử dụng phương tiện giao thông hoặc đi bộ để tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa bàn được phân công; c) Sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật và Thông tư này. Điều 9. Tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang 1. Các trường hợp tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Hóa trang sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; b) Đấu tranh phòng, chống tội phạm; khi tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự, an toàn giao thông phức tạp. 2. Thẩm quyền quyết định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang quy định tại Khoản 1 Điều này; b) Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang đối với trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này. 3. Điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang a) Phải có kế hoạch tuần tra, kiểm soát được người có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này phê duyệt. Nội dung kế hoạch phải nêu rõ phương pháp thực hiện, lực lượng, phương thức liên lạc, thời gian, địa bàn tuần tra, kiểm soát; phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để tuần tra, kiểm soát; b) Tổ tuần tra, kiểm soát phải bố trí một bộ phận cán bộ trong Tổ để hóa trang (mặc thường phục) thực hiện nhiệm vụ giám sát tình hình trật tự giao thông, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành kiểm soát, xử lý theo quy định của pháp luật; Bộ phận hóa trang và bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai trong một Tổ tuần tra, kiểm soát phải giữ một khoảng cách thích hợp bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, đúng pháp luật; c) Nghiêm cấm lạm dụng việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang để sách nhiễu, gây phiền hà, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Điều 10. Kiểm soát thông qua hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ 1. Hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm: a) Các thiết bị đầu cuối (máy đo tốc độ có ghi hình ảnh; camera giám sát, ghi nhận hình ảnh phương tiện vi phạm; các thiết bị điều khiển; các thiết bị điện, điện tử và cơ khí khác. . ) được lắp đặt cố định trên tuyến giao thông đường bộ để giám sát trực tuyến tình hình trật tự, an toàn giao thông và tự động ghi nhận bằng hình ảnh của người, phương tiện vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; b) Hệ thống thiết bị xử lý tại trung tâm, phần mềm quản lý và cơ sở dữ liệu giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông; c) Hệ thống truyền dữ liệu; d) Các thiết bị phụ trợ khác. 2. Đơn vị thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bố trí cán bộ có đủ tiêu chuẩn theo quy định trực tại Trung tâm điều hành để phối hợp vận hành hệ thống giám sát và thông báo vi phạm của người, phương tiện tham gia giao thông cho Tổ tuần tra, kiểm soát làm nhiệm vụ trên tuyến để kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định. 3. Khi nhận được thông báo hành vi vi phạm của người, phương tiện tham gia giao thông từ Trung tâm điều hành hệ thống giám sát, Tổ tuần tra, kiểm soát thực hiện nhiệm vụ dừng phương tiện, kiểm soát và xử lý vi phạm theo quy định. Kết thúc ca tuần tra, kiểm soát, Tổ trưởng có trách nhiệm thống kê vụ việc đã kiểm soát, xử lý về Trung tâm điều hành. Cán bộ trực tại Trung tâm điều hành có trách nhiệm thống kê các vụ việc phát hiện thông qua hệ thống giám sát nhưng chưa được kiểm soát, xử lý vi phạm, báo cáo, đề xuất bằng văn bản với người có thẩm quyền để xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. 4. Các hành vi vi phạm do thiết bị kỹ thuật của hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ ghi, thu được phải thống kê, lập danh sách, in thành bản ảnh hoặc bản ghi, thu về hành vi vi phạm và lưu giữ trong hồ sơ vụ, việc vi phạm hành chính theo quy định của Bộ Công an về công tác hồ sơ. Điều 11. Huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp tuần tra, kiểm soát Trường hợp cần thiết phải huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 27/2010/NĐ - CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ quy định việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết và Thông tư số 47/2011/TT - BCA ngày 02/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 27/2010/NĐ - CP. Mục 4 NỘI DUNG TUẦN TRA, KIỂM SOÁT, XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Điều 12. Các trường hợp được dừng phương tiện 1. Việc dừng phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) An toàn, đúng quy định của pháp luật; b) Không làm cản trở đến hoạt động giao thông; c) Khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. 2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau: a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên; c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên; d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp; đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông. Điều 13. Nội dung tuần tra 1. Nội dung tuần tra phải được thể hiện trong kế hoạch tuần tra, kiểm soát được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an cấp tỉnh. 2. Cán bộ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ hoặc đi bộ tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa bàn được phân công, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kết hợp với sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông và các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật. Điều 14. Nội dung kiểm soát 1. Thực hiện việc kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm các nội dung sau: a) Kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện, gồm: - Giấy phép lái xe; Giấy đăng ký xe; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và giấy tờ khác có liên quan đến người, phương tiện, hoạt động vận tải; - Khi kiểm soát phải đối chiếu giữa các giấy tờ với nhau, giữa giấy tờ có liên quan với thực tế người, phương tiện, hàng hóa vận chuyển trên phương tiện. b) Kiểm soát các điều kiện tham gia giao thông của phương tiện - Kiểm soát điều kiện an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; - Kiểm soát biển số phía trước, phía sau, đèn chiếu sáng (chiếu xa, chiếu gần), đèn tín hiệu, gạt nước, gương chiếu hậu, đèn báo hãm, đèn hậu, đèn soi biển số, đèn lùi; - Kiểm soát và đánh giá về tình trạng kỹ thuật hệ thống lái, các đòn ba dọc, ba ngang, khớp nối; hệ thống phanh, các đường ống dẫn dầu hoặc dẫn hơi của hệ thống phanh; các đồng hồ trên bảng táplô (chú ý kiểm tra đồng hồ báo áp lực hơi đối với những phương tiện sử dụng hệ thống phanh hơi); thiết bị giám sát hành trình, thiết bị cứu hộ, cứu nạn (nếu có); các công tắc còi, đèn; hệ thống treo; hệ thống bánh lốp phương tiện về kích cỡ, độ mòn, áp lực hơi; - Kiểm soát việc trang bị các phương tiện phòng cháy và chữa cháy, giấy phép vận chuyển theo quy định của pháp luật đối với các phương tiện chở khách, chở xăng, dầu, chở hàng nguy hiểm. c) Kiểm soát hoạt động vận tải đường bộ - Kiểm soát quy cách, kích thước hàng hóa, đồ vật chuyên chở (dài, rộng, cao), chủng loại, trọng lượng hàng hóa hoặc số người trên phương tiện so với nội dung quy định tại các loại giấy tờ, tính hợp pháp của hàng hóa và các biện pháp bảo đảm an toàn; - Trường hợp có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật có cất giấu tang vật vi phạm hành chính và người tham gia giao thông có cất giấu trong người đồ vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính thì được khám phương tiện vận tải, đồ vật và khám người theo thủ tục hành chính; khi tiến hành khám phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; - Trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì lập biên bản vụ việc, tạm giữ người, tang vật, phương tiện, giấy tờ, tài liệu có liên quan, báo cáo cấp có thẩm quyền để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết; việc tạm giữ người, tang vật, phương tiện, giấy tờ, tài liệu có liên quan phải thực hiện đúng quy định của pháp luật. 2. Kiểm soát thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ a) Khi đã ghi nhận được hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông của người và phương tiện tham gia giao thông thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, cán bộ thực hiện hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm soát phải lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo quy định. Trường hợp người vi phạm yêu cầu được xem hình ảnh, kết quả ghi, thu được về hành vi vi phạm thì phải cho xem ngay nếu đã có hình ảnh, kết quả ghi thu được tại đó; nếu chưa có ngay hình ảnh, kết quả ghi, thu được thì hướng dẫn người vi phạm xem hình ảnh, kết quả ghi thu được khi đến xử lý vi phạm tại trụ sở đơn vị; b) Trường hợp chưa dừng ngay được phương tiện để kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định, Tổ trưởng tổ tuần tra, kiểm soát phải báo cáo Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên thực hiện việc thông báo đến chủ phương tiện, yêu cầu người vi phạm đến trụ sở Công an nơi phát hiện vi phạm để giải quyết. Khi giải quyết vụ, việc phải cho người vi phạm xem hình ảnh hoặc kết quả ghi, thu được về hành vi vi phạm của họ; lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý theo quy định. Điều 15. Xử lý vi phạm 1. Khi phát hiện có hành vi vi phạm, cán bộ tuần tra, kiểm soát được phân công nhiệm vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản. Trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm cho việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì Tổ trưởng Tổ tuần tra, kiểm soát phải quyết định hoặc báo cáo người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 2. Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính xong, cán bộ tuần tra, kiểm soát gửi biên bản cho người vi phạm và thông báo các hành vi vi phạm cho những người trên phương tiện biết để chấp hành việc giám sát. Đối với những phương tiện chở người từ 16 chỗ ngồi trở lên, cán bộ tuần tra, kiểm soát được phân công nhiệm vụ phải trực tiếp lên khoang chở khách để thông báo. Trường hợp không phát hiện vi phạm cũng phải thông báo và nói lời: “Cảm ơn ông (bà, anh, chị, . .) đã giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ”. 3. Đối với vi phạm thuộc trường hợp không phải lập biên bản vi phạm hành chính hoặc thuộc thẩm quyền của mình mà không cần phải điều tra xác minh thì có thể ra quyết định xử phạt tại chỗ hoặc ngay trong thời gian thực hiện ca tuần tra, kiểm soát. Đối với những trường hợp khác thì phải củng cố hồ sơ vi phạm chuyển đến cấp có thẩm quyền để ra quyết định xử phạt. Mục 5 PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM VÀ QUAN HỆ PHỐI HỢP TRONG CÔNG TÁC TUẦN TRA, KIỂM SOÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Điều 16. Cục Cảnh sát giao thông 1. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. 2. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; phối hợp với Thanh tra Bộ Công an thanh tra việc chấp hành pháp luật, quy định, quy trình, chế độ công tác, Điều lệnh nội vụ Công an nhân dân trong lực lượng Cảnh sát giao thông khi được yêu cầu. 3. Xây dựng các kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc. 4. Bố trí lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc; chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc trong trường hợp cần thiết. 5. Tổ chức lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông thực hiện độc lập hoặc chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương, các lực lượng có liên quan thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên các tuyến giao thông đường bộ trong phạm vi toàn quốc. Điều 17. Công an cấp tỉnh 1. Giám đốc Công an cấp tỉnh a) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện việc tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ trong phạm vi quản lý; b) Quyết định phân công trách nhiệm, phân cấp tuyến, địa bàn tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ (mẫu ban hành kèm theo Thông tư này) giữa Phòng Cảnh sát giao thông và Công an cấp huyện theo quy định tại Thông tư này; c) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông của địa phương phối hợp với lực lượng tuần tra, kiểm soát của Cục Cảnh sát giao thông thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc khi có yêu cầu. 2. Phòng Cảnh sát giao thông a) Tham mưu Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định bố trí lực lượng của Phòng Cảnh sát giao thông và Công an cấp huyện tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến giao thông đường bộ theo địa giới hành chính của địa phương; b) Bố trí lực lượng, tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến quốc lộ thuộc địa giới hành chính của địa phương; đường tỉnh, đường đô thị theo quyết định phân công, phân cấp của Giám đốc Công an cấp tỉnh; Căn cứ tình hình thực tế công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đoạn quốc lộ đi qua địa giới hành chính quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thị trấn thuộc huyện, Phòng Cảnh sát giao thông tham mưu Giám đốc Công an cấp tỉnh có kế hoạch bố trí lực lượng của Phòng Cảnh sát giao thông chủ trì, phối hợp với Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông theo quy định của pháp luật; c) Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. 3. Công an cấp huyện a) Bố trí lực lượng, tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường huyện, đường xã, đường chuyên dùng trong phạm vi địa giới hành chính; đường tỉnh, đường đô thị theo quyết định phân công, phân cấp của Giám đốc Công an cấp tỉnh; b) Phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trên đoạn quốc lộ đi qua địa giới hành chính quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thị trấn thuộc huyện theo kế hoạch của Giám đốc Công an cấp tỉnh. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2016 và thay thế Thông tư số 65/2012/TT - BCA ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông có trách nhiệm a) Chỉ đạo, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai, thực hiện Thông tư này; b) Chỉ đạo biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; c) Tổ chức tập huấn, kiểm tra, đánh giá kết quả tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ cho cán bộ thuộc Cục Cảnh sát giao thông và lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ các đơn vị Cảnh sát giao thông trong toàn quốc. 2. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm a) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ cho cán bộ Cảnh sát giao thông thuộc địa phương quản lý theo nội dung tài liệu tập huấn do Cục Cảnh sát giao thông biên soạn; b) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo quy định tại Thông tư này. 3. Các Tổng cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát giao thông) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
29/12/2017
Thông tư liên tịch
01/03/2018
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin b á o về tội phạm, kiến nghị khởi t ố . Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra, cấp trưởng, cấp phó, Cán bộ điều tra của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư liên tịch này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của nguồn tin về tội phạm. 2. Dấu hiệu bỏ lọt tội phạm trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 4. Nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và quy định tại Thông tư liên tịch này. 3. Chỉ những cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới được tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 4. Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, người có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình. Người làm trái pháp luật trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố về việc giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa. Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm 1. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm: a) Cơ quan điều tra; b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; c) Viện kiểm sát các cấp; d) Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác. 2. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm a) Các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này, trừ Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Đội An ninh Công an cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình. b) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục. Điều 6. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình. 2. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận mọi kiến nghị khởi tố và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết. Viện kiểm sát giải quyết kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết kiến nghị khởi tố nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 7. Tổ chức tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra phải tổ chức trực ban hình sự 24/24 giờ, Viện kiểm sát các cấp phải tổ chức trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (kể cả tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng); phân loại và chuyển ngay cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Địa điểm tiếp nhận phải đặt ở nơi thuận tiện, có biển ghi tên cơ quan và thông báo rộng rãi để mọi người biết. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải bố trí cán bộ trực để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Các cơ quan, tổ chức khác khi có tố giác, tin báo về tội phạm thì phải phân công người tiếp nhận. 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận. Có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Trường hợp người phạm tội đến tự thú, đầu thú thì thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 8. Phân loại tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải tiến hành phân loại trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền thì giải quyết theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. Nếu có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (trừ Đội An ninh ở Công an cấp huyện) sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải tiến hành phân loại trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền thì giải quyết theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. Nếu có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 3. Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 4. Đội An ninh ở Công an cấp huyện khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 5. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Công an xã khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu, thông báo và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm, thu thập chứng cứ, bảo vệ hiện trường thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật. 6. Tòa án, cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm có trách nhiệm chuyển và thông báo ngay tin đã nhận được cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại và hình thức khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. 7. Đối với tin báo về tội phạm được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xác định được dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị đó ghi nhận và giải quyết. Trường hợp chưa xác định được nơi xảy ra sự việc hoặc liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà tin báo về tội phạm phản ánh thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nơi có trụ sở chính của phương tiện thông tin đại chúng (nơi có địa chỉ rõ ràng) có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý ban đầu. Điều 9. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết, cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, phân công Cán bộ điều tra thuộc quyền hoặc ra Quyết định phân công cấp phó trong việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì cấp trưởng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. 3. Kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan đã thụ lý, giải quyết phải ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 148, Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 10. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 159, Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này, Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 11. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng (trong trường hợp được Thủ trưởng ủy quyền hoặc phân công), cấp trưởng, cấp phó (trong trường hợp được cấp trưởng ủy quyền hoặc phân công) cơ quan đang thụ lý, giải quyết có thể kéo dài thời hạn giải quyết nhưng không quá 02 tháng kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết. 2. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng (trong trường hợp được Thủ trưởng ủy quyền hoặc phân công), cấp trưởng, cấp phó (trong trường hợp được cấp trưởng ủy quyền hoặc phân công) cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị nêu trên, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, quyết định. Trường hợp đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra Quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh; thời hạn gia hạn kiểm tra, xác minh là không quá 02 tháng kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp xét thấy đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là không có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra văn bản thông báo nêu rõ lý do cho cơ quan đang thụ lý, giải quyết và cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải dừng việc kiểm tra, xác minh, ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 3. Thời hạn giải quyết tiếp trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là không quá 01 tháng kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ. Thời hạn giải quyết tiếp trong trường hợp cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi. Điều 12. Giải quyết các trường hợp liên quan đến thẩm quyền của nhiều đơn vị có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra nhưng có nội dung liên quan đến nhiều đơn vị có chức năng giải quyết thuộc Cơ quan điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể quyết định tách tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để phân công. Văn bản phân công phải gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. 2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm vừa có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình, vừa có tội phạm không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền toàn bộ nội dung tiếp nhận. 3. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cùng một nội dung được gửi đến nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền giải quyết thì xử lý như sau: a) Trường hợp Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cùng có thẩm quyền giải quyết thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết; b) Trường hợp Cơ quan điều tra cấp trên và Cơ quan điều tra cấp dưới cùng có thẩm quyền giải quyết thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên quyết định; trường hợp Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp trên và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp dưới cùng có thẩm quyền giải quyết thì cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp trên quyết định. 4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đề nghị cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khác tiến hành một số hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Văn bản đề nghị phải ghi rõ yêu cầu và gửi cho cơ quan có thẩm quyền, Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan có thẩm quyền đó. Cơ quan nhận được đề nghị phải thực hiện đầy đủ những việc được đề nghị trong văn bản mà cơ quan đang thụ lý, giải quyết đề nghị và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện. Trường hợp không thực hiện được việc thực hiện yêu cầu thì phải có văn bản nêu rõ lý do gửi cơ quan đã gửi đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan được đề nghị có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiến hành hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được đề nghị và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 5. Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thực hiện theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 13. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 2. Khi Viện kiểm sát có yêu cầu cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển hồ sơ có liên quan để Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý, giải quyết thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu. Trường hợp cơ quan đang thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không nhất trí với yêu cầu của Viện kiểm sát thì vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị. Điều 14. Thông báo kết quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết. 2. Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải gửi kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại các điều 148, 154, 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết kết quả giải quyết vụ việc. 4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải gửi quyết định phục hồi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 15. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và người bị hại 1. Khi người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và người bị hại có yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu, đề nghị đó và báo cho họ biết kết quả. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thì Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 16. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính 1. Đối với vụ việc tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan có thẩm quyền thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan đã ra quyết định phải sao hồ sơ để lưu và chuyển hồ sơ, tài liệu (bản chính), tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. 2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan đã giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển đến. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2018. Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 18. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=136176&Keyword=
2025-09-24T02:33:37.544091
../data\bocongan\012017TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin b á o về tội phạm, kiến nghị khởi t ố. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra, cấp trưởng, cấp phó, Cán bộ điều tra của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư liên tịch này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của nguồn tin về tội phạm. 2. Dấu hiệu bỏ lọt tội phạm trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 4. Nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và quy định tại Thông tư liên tịch này. 3. Chỉ những cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới được tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 4. Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, người có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình. Người làm trái pháp luật trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố về việc giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa. Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm 1. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm: a) Cơ quan điều tra; b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; c) Viện kiểm sát các cấp; d) Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác. 2. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm a) Các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này, trừ Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Đội An ninh Công an cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình. b) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục. Điều 6. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình. 2. Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận mọi kiến nghị khởi tố và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết. Viện kiểm sát giải quyết kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết kiến nghị khởi tố nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 7. Tổ chức tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra phải tổ chức trực ban hình sự 24/24 giờ, Viện kiểm sát các cấp phải tổ chức trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (kể cả tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng); phân loại và chuyển ngay cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Địa điểm tiếp nhận phải đặt ở nơi thuận tiện, có biển ghi tên cơ quan và thông báo rộng rãi để mọi người biết. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải bố trí cán bộ trực để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Các cơ quan, tổ chức khác khi có tố giác, tin báo về tội phạm thì phải phân công người tiếp nhận. 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận. Có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Trường hợp người phạm tội đến tự thú, đầu thú thì thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 8. Phân loại tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải tiến hành phân loại trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền thì giải quyết theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. Nếu có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (trừ Đội An ninh ở Công an cấp huyện) sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải tiến hành phân loại trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền thì giải quyết theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. Nếu có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 3. Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 4. Đội An ninh ở Công an cấp huyện khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trong trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. 5. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Công an xã khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu, thông báo và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm, thu thập chứng cứ, bảo vệ hiện trường thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật. 6. Tòa án, cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm có trách nhiệm chuyển và thông báo ngay tin đã nhận được cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại và hình thức khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. 7. Đối với tin báo về tội phạm được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xác định được dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị đó ghi nhận và giải quyết. Trường hợp chưa xác định được nơi xảy ra sự việc hoặc liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà tin báo về tội phạm phản ánh thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nơi có trụ sở chính của phương tiện thông tin đại chúng (nơi có địa chỉ rõ ràng) có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý ban đầu. Điều 9. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết, cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, phân công Cán bộ điều tra thuộc quyền hoặc ra Quyết định phân công cấp phó trong việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì cấp trưởng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. 3. Kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan đã thụ lý, giải quyết phải ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 148, Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 10. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 159, Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này, Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 11. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng (trong trường hợp được Thủ trưởng ủy quyền hoặc phân công), cấp trưởng, cấp phó (trong trường hợp được cấp trưởng ủy quyền hoặc phân công) cơ quan đang thụ lý, giải quyết có thể kéo dài thời hạn giải quyết nhưng không quá 02 tháng kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết. 2. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng (trong trường hợp được Thủ trưởng ủy quyền hoặc phân công), cấp trưởng, cấp phó (trong trường hợp được cấp trưởng ủy quyền hoặc phân công) cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị nêu trên, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, quyết định. Trường hợp đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra Quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh; thời hạn gia hạn kiểm tra, xác minh là không quá 02 tháng kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp xét thấy đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là không có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra văn bản thông báo nêu rõ lý do cho cơ quan đang thụ lý, giải quyết và cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải dừng việc kiểm tra, xác minh, ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 3. Thời hạn giải quyết tiếp trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là không quá 01 tháng kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ. Thời hạn giải quyết tiếp trong trường hợp cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi. Điều 12. Giải quyết các trường hợp liên quan đến thẩm quyền của nhiều đơn vị có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra nhưng có nội dung liên quan đến nhiều đơn vị có chức năng giải quyết thuộc Cơ quan điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể quyết định tách tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để phân công. Văn bản phân công phải gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. 2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm vừa có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình, vừa có tội phạm không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền toàn bộ nội dung tiếp nhận. 3. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cùng một nội dung được gửi đến nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền giải quyết thì xử lý như sau: a) Trường hợp Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cùng có thẩm quyền giải quyết thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết; b) Trường hợp Cơ quan điều tra cấp trên và Cơ quan điều tra cấp dưới cùng có thẩm quyền giải quyết thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên quyết định; trường hợp Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp trên và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp dưới cùng có thẩm quyền giải quyết thì cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cấp trên quyết định. 4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đề nghị cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khác tiến hành một số hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Văn bản đề nghị phải ghi rõ yêu cầu và gửi cho cơ quan có thẩm quyền, Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan có thẩm quyền đó. Cơ quan nhận được đề nghị phải thực hiện đầy đủ những việc được đề nghị trong văn bản mà cơ quan đang thụ lý, giải quyết đề nghị và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện. Trường hợp không thực hiện được việc thực hiện yêu cầu thì phải có văn bản nêu rõ lý do gửi cơ quan đã gửi đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan được đề nghị có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiến hành hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được đề nghị và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 5. Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thực hiện theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 13. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 2. Khi Viện kiểm sát có yêu cầu cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển hồ sơ có liên quan để Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý, giải quyết thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu. Trường hợp cơ quan đang thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không nhất trí với yêu cầu của Viện kiểm sát thì vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị. Điều 14. Thông báo kết quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết. 2. Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải gửi kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại các điều 148, 154, 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết kết quả giải quyết vụ việc. 4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải gửi quyết định phục hồi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 15. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và người bị hại 1. Khi người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và người bị hại có yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu, đề nghị đó và báo cho họ biết kết quả. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thì Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 16. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính 1. Đối với vụ việc tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan có thẩm quyền thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan đã ra quyết định phải sao hồ sơ để lưu và chuyển hồ sơ, tài liệu (bản chính), tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. 2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan đã giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển đến. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2018. Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT - BCA - BQP - BTC - BNNPTNT - VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Điều 18. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời.
Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự
01/2019/TTLT-BCA-BQP -BTP-VKSNDTC-TANDTC
10/10/2019
Thông tư liên tịch
25/11/2019
null
null
Bộ Quốc phòng
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
1/01/clip_image001.gif" width="110" /> THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; C ă n cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 164/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch bãi bỏ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự. Điều 1. Bãi bỏ toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật Bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự. Điều 2. Tổ chức thực hiện 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 11 năm 2019. 2. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=170188&Keyword=
2025-09-24T02:33:25.371375
../data\bocongan\012019TTLT-BCA-BQP -BTP-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT - BCA - BQP - BTP - VKSNDTC - TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; C ă n cứ Nghị định số 34/2016/NĐ - CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ - CP ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 164/2017/NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch bãi bỏ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT - BCA - BQP - BTP - VKSNDTC - TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự. Điều 1. Bãi bỏ toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật Bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT - BCA - BQP - BTP - VKSNDTC - TANDTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự. Điều 2. Tổ chức thực hiện 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 11 năm 2019. 2. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. /.
Quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử
01/2020/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
17/06/2020
Thông tư liên tịch
01/08/2020
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thiếu tướng Lê Quốc Hùng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019; Căn cứ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện trình tự, thủ tục trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (sau đây gọi tắt là học sinh) ra khỏi trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử và chế độ quản lý, giam giữ đối với phạm nhân, học sinh được trích xuất trong thời gian trích xuất. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án phạt tù, thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ sở giam giữ phạm nhân và phạm nhân; trường giáo dưỡng và học sinh. 2. Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động trích xuất phạm nhân, học sinh. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 4 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật. 3. Chủ động, kịp thời, tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền liên quan đến hoạt động trích xuất hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật. 4. Bảo đảm chế độ bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÍCH XUẤT, GIAO  NHẬN VÀ QUẢN LÝ PHẠM NHÂN ĐƯỢC TRÍCH XUẤT Điều 4. Gửi văn bản yêu cầu trích xuất 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố thì việc gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân được thực hiện như sau: a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để ra lệnh trích xuất; b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh hoặc phạm nhân do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trực tiếp quản lý thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất; c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu và tương đương (gọi chung là cấp quân khu) thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để ra lệnh trích xuất. 2. Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi sẽ tiến hành xét xử hoặc nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân. 3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân. 4. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cấp quân khu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân thì gửi văn bản đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất. 5 . Các trường hợp phạm nhân bị khởi tố bị can về tội phạm khác, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với phạm nhân đó phải có văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân gửi đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân về trại tạm giam, nhà tạm giữ phục vụ điều tra. 6. Văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội dung sau đây: a) Cơ quan yêu cầu trích xuất; họ, tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích xuất và đóng dấu; b) Họ, tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi đăng ký thường trú của phạm nhân; ngày bị bắt; tội danh; thời hạn bị phạt tù; bản án số, ngày, tháng, năm, của Tòa án; Quyết định thi hành án số, ngày, tháng, năm của Tòa án và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù; tư cách tham gia tố tụng của phạm nhân được trích xuất trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trích xuất phạm nhân đang thụ lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; c) Mục đích và thời hạn trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và áp giải phạm nhân được trích xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý phạm nhân trong thời gian trích xuất. Điều 5. Gửi văn bản đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản đề nghị trích xuất phạm nhân kèm theo bản sao văn bản yêu cầu trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đến cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phạm nhân để ra lệnh trích xuất. Khi gửi văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải thông báo cho cơ quan có yêu cầu trích xuất biết. 2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất thì thực hiện việc đề nghị ra lệnh trích xuất như sau: a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng; c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thuộc Công an cấp tỉnh khác quản lý thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đó ra lệnh trích xuất; d) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu khác thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đó để ra lệnh trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải gửi văn bản đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền. 4. Trường hợp nhận được yêu cầu trích xuất đối với phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án, cơ quan nhận được yêu cầu trích xuất phải có văn bản thông báo lại cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất biết về việc phạm nhân đó có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án để xem xét, cân nhắc việc trích xuất phạm nhân. Điều 6. Ra lệnh trích xuất phạm nhân 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu hoặc văn bản đề nghị trích xuất, cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phải ra lệnh trích xuất gửi cho cơ quan đã đề nghị ra lệnh trích xuất, cơ quan giao và cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để thực hiện, đồng thời gửi đến cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để theo dõi. 2. Lệnh trích xuất phải có các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 7. Gia hạn trích xuất phạm nhân 1. Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, căn cứ yêu cầu, mục đích trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc để bảo đảm thủ tục thi hành án phạt tù khi trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án, cơ quan đã đề nghị trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản đề nghị cơ quan đã ra lệnh trích xuất để ra lệnh gia hạn trích xuất đối với các trường hợp sau: a) Phạm nhân được trích xuất là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn trích xuất cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn đang tiến hành một trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với phạm nhân đó; b) Trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất đã bị Tòa án xét xử, khi hết thời hạn trích xuất bản án mới chưa có hiệu lực pháp luật hoặc bản án đó đã có hiệu lực pháp luật nhưng cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất chưa nhận được quyết định thi hành án của Tòa án; c) Trường hợp phạm nhân được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa đạt mục đích trích xuất và vẫn có nhu cầu tiếp tục trích xuất phạm nhân đó để giải quyết vụ án. 2. Văn bản đề nghị gia hạn trích xuất phạm nhân phải nêu rõ lý do, mục đích gia hạn, thời hạn gia hạn trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn trích xuất, cơ quan có thẩm quyền phải ra lệnh gia hạn trích xuất. Lệnh gia hạn trích xuất phải gửi cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để thực hiện. 4. Trường hợp trong thời gian trích xuất, nếu Toà án có thẩm quyền ra quyết định huỷ toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án hoặc hủy phần hình phạt tù trong bản án, quyết định của Tòa án mà phạm nhân đang chấp hành để điều tra, truy tố, xét xử lại thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện việc giam giữ phạm nhân theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền và không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao quyết định hủy bản án, quyết định của Tòa án đến cơ quan đã ra lệnh trích xuất và cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất. Sau khi Tòa án xét xử lại mà phạm nhân được trích xuất bị xử phạt tù, có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện thi hành quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 23 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất bị kết án tử hình thì khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ người đó theo quy định về giam giữ người bị kết án tử hình và không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao bản án đến cơ quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để theo dõi. Điều 8. Phối hợp thực hiện lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất 1. Sau khi nhận được lệnh trích xuất phạm nhân, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải cử cán bộ mang giấy giới thiệu, giấy chứng nhận Điều tra viên hoặc chứng minh Công an nhân dân, chứng minh sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân kèm theo lệnh trích xuất đến nơi phạm nhân được trích xuất đang chấp hành án để nhận và áp giải phạm nhân về cơ sở giam giữ theo lệnh trích xuất; trường hợp lệnh trích xuất gửi qua đường cơ yếu thì lệnh đó phải có xác nhận (ký tên, đóng dấu) của Thủ trưởng cơ quan nhận văn bản qua đường cơ yếu hoặc xác nhận của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. 2. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi giao phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm kiểm tra, lập biên bản giao, nhận phạm nhân được trích xuất, ghi sổ theo dõi trích xuất và bàn giao phạm nhân được trích xuất cho cơ quan có thẩm quyền nhận, áp giải, quản lý phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất. 3. Trường hợp thời hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì cơ quan giao phạm nhân được trích xuất bàn giao phạm nhân cùng với hồ sơ và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất theo quy định tại khoản 5 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp trích xuất phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng tại nơi chấp hành án thì khi tiến hành giao, nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan giao phạm nhân được trích xuất phải tổ chức khám sức khỏe cho con của phạm nhân và bàn giao con của phạm nhân kèm theo giấy khai sinh hoặc các giấy tờ khác quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật Thi hành án hình sự cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để bố trí ở cùng mẹ và thực hiện chế độ, chính sách đối với phạm nhân và con của phạm nhân trong thời gian trích xuất theo quy định của pháp luật. 5 . Trường hợp thời hạn gia hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian gia hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì sau khi nhận được lệnh gia hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải cử cán bộ mang theo lệnh gia hạn trích xuất và các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất để nhận hồ sơ phạm nhân và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất. 6. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đang trong thời gian được Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc khi đã có quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì ngay sau khi bàn giao phạm nhân được trích xuất, cơ quan giao phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao lệnh trích xuất cho Tòa án có thẩm quyền đang xem xét hoặc đã ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án đó biết. 7. Trường hợp không thực hiện được việc giao, nhận phạm nhân có tên trong lệnh trích xuất vì một trong các lý do: phạm nhân bị bệnh nặng đang điều trị tại cơ sở chữa bệnh; đã chết; đã được tạm đình chỉ chấp hành án; đã trốn khỏi cơ sở giam giữ; đã điều chuyển đến cơ sở giam giữ khác hoặc đã được trả tự do theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan yêu cầu trích xuất, cơ quan ra lệnh trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ sở chữa bệnh xác nhận phạm nhân đã điều trị sức khỏe ổn định; phạm nhân trốn trại bị bắt lại hoặc ra đầu thú, cơ quan có thẩm quyền giao phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất để thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất xem xét, quyết định việc tiếp tục yêu cầu trích xuất hoặc tiến hành các thủ tục tố tụng liên quan đến phạm nhân được trích xuất theo thẩm quyền. Điều 9. Phối hợp thực hiện quản lý phạm nhân được trích xuất và trao đổi thông tin trong thời gian trích xuất 1. Trường hợp phạm nhân được trích xuất là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải bảo đảm thực hiện chế độ quản lý giam giữ, chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và văn bản pháp luật có liên quan trong thời gian trích xuất. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bố trí giam giữ và thực hiện chế độ đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời sau khi hoàn thành việc xếp loại chấp hành án phạt tù phải gửi ngay kết quả xếp loại hoặc bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ của phạm nhân được trích xuất cho cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân để xem xét, lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất nếu họ đủ điều kiện. 3. Chậm nhất 07 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch này, cơ sở giam giữ đang quản lý giam giữ phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngày hết thời hạn trích xuất cho cơ quan đã đề nghị trích xuất để làm thủ tục gia hạn trích xuất đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch này. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử về tội khác mà bản án mới bị xét xử chưa có hiệu lực pháp luật thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ đến khi có quyết định thi hành án mới của Tòa án. Trong thời gian chờ quyết định thi hành án mới của Tòa án mà thời hạn trích xuất đã hết thì làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch này. 5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất chưa nhận được phạm nhân trích xuất trả lại để tiếp tục thi hành án theo quy định tại khoản 8 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự và không nhận được lệnh gia hạn trích xuất hoặc thông báo của cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất về lý do phạm nhân được trích xuất chưa trả lại để tiếp tục thi hành án thì cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất có trách nhiệm gửi thông báo đến cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã ra lệnh trích xuất trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 6. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất trốn khỏi nơi giam hoặc chết thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, nơi giao phạm nhân trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Điều 10. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho phạm nhân được trích xuất 1. Cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm thông báo ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự và gửi thông báo cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án. 2. Trường hợp đến ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù của bản án đang chấp hành mà phạm nhân đó vẫn đang là bị can, bị cáo trong vụ án khác thì chậm nhất 05 ngày làm việc trước ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thông báo bằng văn bản cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền để xem xét, giải quyết việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với phạm nhân đó. 3. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù theo bản án mà phạm nhân được trích xuất đang chấp hành, việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho phạm nhân được trích xuất được thực hiện như sau: a) Cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và đang quản lý hồ sơ phạm nhân có trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù cho phạm nhân được trích xuất và phối hợp cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiến hành trả tự do cho người đó theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự nếu người đó không bị tạm giam về tội phạm khác theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền; b) Cơ quan nhận phạm nhân trích xuất có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, trả tự do cho phạm nhân được trích xuất mà thời gian trích xuất hoặc thời gian gia hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất hoặc thời gian gia hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù nhưng đang là bị can, bị cáo trong vụ án khác và cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định tạm giam người đó thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục tạm giam người đó tại cơ sở giam giữ. Sau khi Tòa án xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật, có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án thì thực hiện thủ tục thi hành quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 23 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được trích xuất, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù phải gửi giấy chứng nhận đó và thông báo bằng văn bản cho các cơ quan theo quy định tại khoản 5 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án. Điều 11. Phối hợp thực hiện việc tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất 1. Việc đề nghị xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 58 của Luật Thi hành án hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đủ điều kiện đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất biết để kịp thời phối hợp trao đổi thông tin liên quan đến phạm nhân được trích xuất. 3. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày phạm nhân được trích xuất có hành vi vi phạm, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo quyết định kỷ luật phạm nhân, biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật cho cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện để giải quyết theo quy định tại Điều 70 và khoản 3 Điều 71 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án mà cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất phải gửi ngay thông báo kèm theo quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý, giam giữ phạm nhân được trích xuất để tống đạt cho phạm nhân, công bố quyết định, niêm yết danh sách tại cơ sở giam giữ. 5. Ngay sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, nếu cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và phối hợp với cơ quan đang quản lý, giam giữ phạm nhân được trích xuất để tổ chức tha phạm nhân. Điều 12. Trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án 1. Hết thời hạn ghi trong lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất hoặc trong thời hạn trích xuất, thời hạn gia hạn trích xuất nếu không có nhu cầu tiếp tục trích xuất và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 4 và 5 Điều 7 Thông tư liên tịch này thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất và áp giải, bàn giao phạm nhân được trích xuất kèm theo phiếu khám sức khỏe, bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và tài liệu liên quan trong thời gian trích xuất cho cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử về tội khác thì việc trả lại phạm nhân cho cơ quan đã giao phạm nhân để tiếp tục thi hành án được tiến hành khi bản án mới xét xử có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành án. 3. Việc tiếp nhận phạm nhân được trích xuất trả lại cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 28 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất từ trại tạm giam, nhà tạm giữ để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà sau khi xét xử phạm nhân đó không còn thuộc đối tượng phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bàn giao trả lại phạm nhân để tiếp tục chấp hành án, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa phạm nhân đến trại giam chấp hành án. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÍCH XUẤT, GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ HỌC SINH ĐƯỢC TRÍCH XUẤT Điều 13. Gửi văn bản yêu cầu trích xuất, ra lệnh trích xuất và thực hiện lệnh trích xuất học sinh 1. Khi có yêu cầu trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân gửi văn bản yêu cầu trích xuất học sinh đến cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án có yêu cầu trích xuất thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Viện kiểm sát hoặc Tòa án có trụ sở để làm thủ tục đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh trích xuất. 2. Văn bản yêu cầu trích xuất học sinh của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội dung sau đây: a) Cơ quan yêu cầu trích xuất; họ, tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích xuất và đóng dấu; b) Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú của học sinh, ngày bị bắt, tội danh, thời hạn chấp hành, theo bản án số và quyết định số, ngày, tháng, năm của Tòa án, quyết định đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng; tư cách tham gia tố tụng của học sinh được trích xuất; c) Mục đích và thời hạn trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và dẫn giải học sinh được trích xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý học sinh trong thời gian trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an phải ra lệnh trích xuất gửi cho trường giáo dưỡng và nơi nhận học sinh được trích xuất để thực hiện. 4. Nội dung lệnh trích xuất thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Khi nhận được lệnh trích xuất, cơ quan được giao tiếp nhận và dẫn giải học sinh được trích xuất phải cử cán bộ mang theo giấy giới thiệu, giấy chứng minh Công an nhân dân, giấy chứng minh sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân hoặc giấy chứng nhận Điều tra viên kèm theo lệnh trích xuất đến trường giáo dưỡng nơi đang quản lý học sinh đó để nhận và dẫn giải học sinh (trường hợp lệnh trích xuất gửi bằng đường cơ yếu thì phải có xác nhận và đóng dấu của Công an cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi nhận lệnh trích xuất). 6. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận học sinh được trích xuất kèm theo đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của học sinh đó cho cơ quan có thẩm quyền nhận, dẫn giải quản lý học sinh trong thời gian trích xuất. Trường hợp thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất bằng thời hạn chấp hành quyết định còn lại của học sinh được trích xuất thì trường giáo dưỡng có trách nhiệm làm thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều 156 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 14. Gia hạn trích xuất học sinh 1. Trường hợp hết thời hạn trích xuất học sinh nhưng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp tục yêu cầu trích xuất thì chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn trích xuất, căn cứ yêu cầu, mục đích cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất học sinh phải gửi văn bản đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh gia hạn trích xuất học sinh. 2. Văn bản đề nghị gia hạn trích xuất học sinh phải nêu rõ lý do, mục đích, thời hạn gia hạn trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn trích xuất, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an phải ra lệnh gia hạn trích xuất. Lệnh gia hạn trích xuất được gửi cho các cơ quan theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Thông tư liên tịch này. Thời hạn gia hạn trích xuất không được quá thời gian còn lại của quyết định chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Điều 15. Phối hợp thực hiện quản lý và trao đổi thông tin học sinh trong thời gian thực hiện lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất 1. Trường hợp Tòa án có thẩm quyền ra quyết định hủy toàn bộ bản án, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để điều tra, truy tố, xét xử lại thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao quyết định hủy toàn bộ bản án, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và trường giáo dưỡng nơi học sinh được trích xuất. Sau khi Tòa án xét xử lại mà học sinh được trích xuất bị xử phạt tù thì thời gian chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng của học sinh được tính vào thời gian chấp hành án phạt tù . Trường hợp học sinh được trích xuất để điều tra, truy tố, xét xử theo một vụ án khác nếu tòa án xét xử học sinh được trích xuất bị xử phạt tù thì thời gian còn lại của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được miễn chấp hành. 2. Trường hợp học sinh được trích xuất đang trong thời gian được Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì ngay sau khi bàn giao học sinh được trích xuất, trường giáo dưỡng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao lệnh trích xuất cho Tòa án có thẩm quyền đang xem xét, quyết định việc chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng biết được học sinh đó đã được trích xuất đến cơ sở giam giữ. 3. Trong thời gian trích xuất nếu học sinh được trích xuất chết thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã đề nghị trích xuất học sinh, trường giáo dưỡng nơi giao học sinh, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và gia đình học sinh. 4. Trong thời gian thi hành lệnh trích xuất học sinh được trích xuất trốn thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất có trách nhiệm ra lệnh truy tìm và tổ chức truy tìm đồng thời thông báo cho trường giáo dưỡng nơi giao học sinh được trích xuất. Trường hợp học sinh được trích xuất ra trình diện hoặc bị bắt lại nếu thời hạn theo lệnh trích xuất đã hết thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất có trách nhiệm bàn giao học sinh cho trường giáo dưỡng theo quy định; trường hợp cơ quan đã yêu cầu trích xuất có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì ngay sau khi học sinh trình diện hoặc bị bắt lại, cơ quan nhận học sinh được trích xuất làm văn bản đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an gia hạn trích xuất. Điều 16. Trả lại học sinh được trích xuất để tiếp tục chấp hành quyết định biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Hết thời hạn ghi trong lệnh trích xuất hoặc lệnh gia hạn trích xuất hoặc vẫn trong thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất nếu cơ quan đề nghị trích xuất không còn nhu cầu tiếp tục trích xuất thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và dẫn giải, bàn giao học sinh được trích xuất kèm theo bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và tài liệu có liên quan trong thời gian trích xuất, gia hạn trích xuất cho trường giáo dưỡng nơi giao học sinh để tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020. 2. Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Điều 18. Trách nhiệm thi hành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho cơ quan cấp trên là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thống nhất giải thích hoặc hướng dẫn, giải quyết kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=142759&Keyword=
2025-09-24T02:33:23.768441
../data\bocongan\012020TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019; Căn cứ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện trình tự, thủ tục trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (sau đây gọi tắt là học sinh) ra khỏi trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử và chế độ quản lý, giam giữ đối với phạm nhân, học sinh được trích xuất trong thời gian trích xuất. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án phạt tù, thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ sở giam giữ phạm nhân và phạm nhân; trường giáo dưỡng và học sinh. 2. Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động trích xuất phạm nhân, học sinh. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 4 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật. 3. Chủ động, kịp thời, tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền liên quan đến hoạt động trích xuất hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật. 4. Bảo đảm chế độ bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÍCH XUẤT, GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ PHẠM NHÂN ĐƯỢC TRÍCH XUẤT Điều 4. Gửi văn bản yêu cầu trích xuất 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố thì việc gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân được thực hiện như sau: a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để ra lệnh trích xuất; b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh hoặc phạm nhân do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trực tiếp quản lý thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất; c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu và tương đương (gọi chung là cấp quân khu) thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để ra lệnh trích xuất. 2. Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi sẽ tiến hành xét xử hoặc nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân. 3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân. 4. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cấp quân khu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân thì gửi văn bản đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất. 5. Các trường hợp phạm nhân bị khởi tố bị can về tội phạm khác, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với phạm nhân đó phải có văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân gửi đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân về trại tạm giam, nhà tạm giữ phục vụ điều tra. 6. Văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội dung sau đây: a) Cơ quan yêu cầu trích xuất; họ, tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích xuất và đóng dấu; b) Họ, tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi đăng ký thường trú của phạm nhân; ngày bị bắt; tội danh; thời hạn bị phạt tù; bản án số, ngày, tháng, năm, của Tòa án; Quyết định thi hành án số, ngày, tháng, năm của Tòa án và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù; tư cách tham gia tố tụng của phạm nhân được trích xuất trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trích xuất phạm nhân đang thụ lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; c) Mục đích và thời hạn trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và áp giải phạm nhân được trích xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý phạm nhân trong thời gian trích xuất. Điều 5. Gửi văn bản đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản đề nghị trích xuất phạm nhân kèm theo bản sao văn bản yêu cầu trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đến cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phạm nhân để ra lệnh trích xuất. Khi gửi văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải thông báo cho cơ quan có yêu cầu trích xuất biết. 2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất thì thực hiện việc đề nghị ra lệnh trích xuất như sau: a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng; c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thuộc Công an cấp tỉnh khác quản lý thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đó ra lệnh trích xuất; d) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu khác thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đó để ra lệnh trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải gửi văn bản đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền. 4. Trường hợp nhận được yêu cầu trích xuất đối với phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án, cơ quan nhận được yêu cầu trích xuất phải có văn bản thông báo lại cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất biết về việc phạm nhân đó có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án để xem xét, cân nhắc việc trích xuất phạm nhân. Điều 6. Ra lệnh trích xuất phạm nhân 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu hoặc văn bản đề nghị trích xuất, cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phải ra lệnh trích xuất gửi cho cơ quan đã đề nghị ra lệnh trích xuất, cơ quan giao và cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để thực hiện, đồng thời gửi đến cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để theo dõi. 2. Lệnh trích xuất phải có các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 7. Gia hạn trích xuất phạm nhân 1. Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, căn cứ yêu cầu, mục đích trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc để bảo đảm thủ tục thi hành án phạt tù khi trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án, cơ quan đã đề nghị trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản đề nghị cơ quan đã ra lệnh trích xuất để ra lệnh gia hạn trích xuất đối với các trường hợp sau: a) Phạm nhân được trích xuất là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn trích xuất cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn đang tiến hành một trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với phạm nhân đó; b) Trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất đã bị Tòa án xét xử, khi hết thời hạn trích xuất bản án mới chưa có hiệu lực pháp luật hoặc bản án đó đã có hiệu lực pháp luật nhưng cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất chưa nhận được quyết định thi hành án của Tòa án; c) Trường hợp phạm nhân được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa đạt mục đích trích xuất và vẫn có nhu cầu tiếp tục trích xuất phạm nhân đó để giải quyết vụ án. 2. Văn bản đề nghị gia hạn trích xuất phạm nhân phải nêu rõ lý do, mục đích gia hạn, thời hạn gia hạn trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn trích xuất, cơ quan có thẩm quyền phải ra lệnh gia hạn trích xuất. Lệnh gia hạn trích xuất phải gửi cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để thực hiện. 4. Trường hợp trong thời gian trích xuất, nếu Toà án có thẩm quyền ra quyết định huỷ toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án hoặc hủy phần hình phạt tù trong bản án, quyết định của Tòa án mà phạm nhân đang chấp hành để điều tra, truy tố, xét xử lại thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện việc giam giữ phạm nhân theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền và không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao quyết định hủy bản án, quyết định của Tòa án đến cơ quan đã ra lệnh trích xuất và cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất. Sau khi Tòa án xét xử lại mà phạm nhân được trích xuất bị xử phạt tù, có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện thi hành quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 23 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất bị kết án tử hình thì khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ người đó theo quy định về giam giữ người bị kết án tử hình và không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao bản án đến cơ quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để theo dõi. Điều 8. Phối hợp thực hiện lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất 1. Sau khi nhận được lệnh trích xuất phạm nhân, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải cử cán bộ mang giấy giới thiệu, giấy chứng nhận Điều tra viên hoặc chứng minh Công an nhân dân, chứng minh sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân kèm theo lệnh trích xuất đến nơi phạm nhân được trích xuất đang chấp hành án để nhận và áp giải phạm nhân về cơ sở giam giữ theo lệnh trích xuất; trường hợp lệnh trích xuất gửi qua đường cơ yếu thì lệnh đó phải có xác nhận (ký tên, đóng dấu) của Thủ trưởng cơ quan nhận văn bản qua đường cơ yếu hoặc xác nhận của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. 2. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi giao phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm kiểm tra, lập biên bản giao, nhận phạm nhân được trích xuất, ghi sổ theo dõi trích xuất và bàn giao phạm nhân được trích xuất cho cơ quan có thẩm quyền nhận, áp giải, quản lý phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất. 3. Trường hợp thời hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì cơ quan giao phạm nhân được trích xuất bàn giao phạm nhân cùng với hồ sơ và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất theo quy định tại khoản 5 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp trích xuất phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng tại nơi chấp hành án thì khi tiến hành giao, nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan giao phạm nhân được trích xuất phải tổ chức khám sức khỏe cho con của phạm nhân và bàn giao con của phạm nhân kèm theo giấy khai sinh hoặc các giấy tờ khác quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật Thi hành án hình sự cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để bố trí ở cùng mẹ và thực hiện chế độ, chính sách đối với phạm nhân và con của phạm nhân trong thời gian trích xuất theo quy định của pháp luật. 5. Trường hợp thời hạn gia hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian gia hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì sau khi nhận được lệnh gia hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải cử cán bộ mang theo lệnh gia hạn trích xuất và các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất để nhận hồ sơ phạm nhân và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất. 6. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đang trong thời gian được Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; tha tù trước thời hạn có điều kiện hoặc khi đã có quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì ngay sau khi bàn giao phạm nhân được trích xuất, cơ quan giao phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao lệnh trích xuất cho Tòa án có thẩm quyền đang xem xét hoặc đã ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án đó biết. 7. Trường hợp không thực hiện được việc giao, nhận phạm nhân có tên trong lệnh trích xuất vì một trong các lý do: phạm nhân bị bệnh nặng đang điều trị tại cơ sở chữa bệnh; đã chết; đã được tạm đình chỉ chấp hành án; đã trốn khỏi cơ sở giam giữ; đã điều chuyển đến cơ sở giam giữ khác hoặc đã được trả tự do theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan yêu cầu trích xuất, cơ quan ra lệnh trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ sở chữa bệnh xác nhận phạm nhân đã điều trị sức khỏe ổn định; phạm nhân trốn trại bị bắt lại hoặc ra đầu thú, cơ quan có thẩm quyền giao phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất để thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất xem xét, quyết định việc tiếp tục yêu cầu trích xuất hoặc tiến hành các thủ tục tố tụng liên quan đến phạm nhân được trích xuất theo thẩm quyền. Điều 9. Phối hợp thực hiện quản lý phạm nhân được trích xuất và trao đổi thông tin trong thời gian trích xuất 1. Trường hợp phạm nhân được trích xuất là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải bảo đảm thực hiện chế độ quản lý giam giữ, chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và văn bản pháp luật có liên quan trong thời gian trích xuất. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bố trí giam giữ và thực hiện chế độ đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời sau khi hoàn thành việc xếp loại chấp hành án phạt tù phải gửi ngay kết quả xếp loại hoặc bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ của phạm nhân được trích xuất cho cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân để xem xét, lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất nếu họ đủ điều kiện. 3. Chậm nhất 07 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch này, cơ sở giam giữ đang quản lý giam giữ phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngày hết thời hạn trích xuất cho cơ quan đã đề nghị trích xuất để làm thủ tục gia hạn trích xuất đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch này. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử về tội khác mà bản án mới bị xét xử chưa có hiệu lực pháp luật thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ đến khi có quyết định thi hành án mới của Tòa án. Trong thời gian chờ quyết định thi hành án mới của Tòa án mà thời hạn trích xuất đã hết thì làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch này. 5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất chưa nhận được phạm nhân trích xuất trả lại để tiếp tục thi hành án theo quy định tại khoản 8 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự và không nhận được lệnh gia hạn trích xuất hoặc thông báo của cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất về lý do phạm nhân được trích xuất chưa trả lại để tiếp tục thi hành án thì cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất có trách nhiệm gửi thông báo đến cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã ra lệnh trích xuất trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 6. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất trốn khỏi nơi giam hoặc chết thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, nơi giao phạm nhân trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Điều 10. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho phạm nhân được trích xuất 1. Cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm thông báo ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự và gửi thông báo cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án. 2. Trường hợp đến ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù của bản án đang chấp hành mà phạm nhân đó vẫn đang là bị can, bị cáo trong vụ án khác thì chậm nhất 05 ngày làm việc trước ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thông báo bằng văn bản cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền để xem xét, giải quyết việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với phạm nhân đó. 3. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù theo bản án mà phạm nhân được trích xuất đang chấp hành, việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho phạm nhân được trích xuất được thực hiện như sau: a) Cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và đang quản lý hồ sơ phạm nhân có trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù cho phạm nhân được trích xuất và phối hợp cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiến hành trả tự do cho người đó theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự nếu người đó không bị tạm giam về tội phạm khác theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền; b) Cơ quan nhận phạm nhân trích xuất có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, trả tự do cho phạm nhân được trích xuất mà thời gian trích xuất hoặc thời gian gia hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất hoặc thời gian gia hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù nhưng đang là bị can, bị cáo trong vụ án khác và cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định tạm giam người đó thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục tạm giam người đó tại cơ sở giam giữ. Sau khi Tòa án xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật, có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án thì thực hiện thủ tục thi hành quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 23 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được trích xuất, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù phải gửi giấy chứng nhận đó và thông báo bằng văn bản cho các cơ quan theo quy định tại khoản 5 Điều 46 của Luật Thi hành án hình sự, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án. Điều 11. Phối hợp thực hiện việc tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất 1. Việc đề nghị xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 58 của Luật Thi hành án hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đủ điều kiện đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất biết để kịp thời phối hợp trao đổi thông tin liên quan đến phạm nhân được trích xuất. 3. Trường hợp phạm nhân được trích xuất đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày phạm nhân được trích xuất có hành vi vi phạm, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo quyết định kỷ luật phạm nhân, biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật cho cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện để giải quyết theo quy định tại Điều 70 và khoản 3 Điều 71 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án mà cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất phải gửi ngay thông báo kèm theo quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý, giam giữ phạm nhân được trích xuất để tống đạt cho phạm nhân, công bố quyết định, niêm yết danh sách tại cơ sở giam giữ. 5. Ngay sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, nếu cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và phối hợp với cơ quan đang quản lý, giam giữ phạm nhân được trích xuất để tổ chức tha phạm nhân. Điều 12. Trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án 1. Hết thời hạn ghi trong lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất hoặc trong thời hạn trích xuất, thời hạn gia hạn trích xuất nếu không có nhu cầu tiếp tục trích xuất và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 4 và 5 Điều 7 Thông tư liên tịch này thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất và áp giải, bàn giao phạm nhân được trích xuất kèm theo phiếu khám sức khỏe, bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và tài liệu liên quan trong thời gian trích xuất cho cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án. 2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử về tội khác thì việc trả lại phạm nhân cho cơ quan đã giao phạm nhân để tiếp tục thi hành án được tiến hành khi bản án mới xét xử có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành án. 3. Việc tiếp nhận phạm nhân được trích xuất trả lại cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 28 của Luật Thi hành án hình sự. 4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất từ trại tạm giam, nhà tạm giữ để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà sau khi xét xử phạm nhân đó không còn thuộc đối tượng phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bàn giao trả lại phạm nhân để tiếp tục chấp hành án, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa phạm nhân đến trại giam chấp hành án. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÍCH XUẤT, GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ HỌC SINH ĐƯỢC TRÍCH XUẤT Điều 13. Gửi văn bản yêu cầu trích xuất, ra lệnh trích xuất và thực hiện lệnh trích xuất học sinh 1. Khi có yêu cầu trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân gửi văn bản yêu cầu trích xuất học sinh đến cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án có yêu cầu trích xuất thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Viện kiểm sát hoặc Tòa án có trụ sở để làm thủ tục đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh trích xuất. 2. Văn bản yêu cầu trích xuất học sinh của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội dung sau đây: a) Cơ quan yêu cầu trích xuất; họ, tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích xuất và đóng dấu; b) Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú của học sinh, ngày bị bắt, tội danh, thời hạn chấp hành, theo bản án số và quyết định số, ngày, tháng, năm của Tòa án, quyết định đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng; tư cách tham gia tố tụng của học sinh được trích xuất; c) Mục đích và thời hạn trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và dẫn giải học sinh được trích xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý học sinh trong thời gian trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an phải ra lệnh trích xuất gửi cho trường giáo dưỡng và nơi nhận học sinh được trích xuất để thực hiện. 4. Nội dung lệnh trích xuất thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 40 của Luật Thi hành án hình sự. 5. Khi nhận được lệnh trích xuất, cơ quan được giao tiếp nhận và dẫn giải học sinh được trích xuất phải cử cán bộ mang theo giấy giới thiệu, giấy chứng minh Công an nhân dân, giấy chứng minh sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân hoặc giấy chứng nhận Điều tra viên kèm theo lệnh trích xuất đến trường giáo dưỡng nơi đang quản lý học sinh đó để nhận và dẫn giải học sinh (trường hợp lệnh trích xuất gửi bằng đường cơ yếu thì phải có xác nhận và đóng dấu của Công an cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi nhận lệnh trích xuất). 6. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận học sinh được trích xuất kèm theo đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của học sinh đó cho cơ quan có thẩm quyền nhận, dẫn giải quản lý học sinh trong thời gian trích xuất. Trường hợp thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất bằng thời hạn chấp hành quyết định còn lại của học sinh được trích xuất thì trường giáo dưỡng có trách nhiệm làm thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều 156 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 14. Gia hạn trích xuất học sinh 1. Trường hợp hết thời hạn trích xuất học sinh nhưng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp tục yêu cầu trích xuất thì chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn trích xuất, căn cứ yêu cầu, mục đích cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất học sinh phải gửi văn bản đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh gia hạn trích xuất học sinh. 2. Văn bản đề nghị gia hạn trích xuất học sinh phải nêu rõ lý do, mục đích, thời hạn gia hạn trích xuất. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn trích xuất, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an phải ra lệnh gia hạn trích xuất. Lệnh gia hạn trích xuất được gửi cho các cơ quan theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Thông tư liên tịch này. Thời hạn gia hạn trích xuất không được quá thời gian còn lại của quyết định chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Điều 15. Phối hợp thực hiện quản lý và trao đổi thông tin học sinh trong thời gian thực hiện lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất 1. Trường hợp Tòa án có thẩm quyền ra quyết định hủy toàn bộ bản án, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để điều tra, truy tố, xét xử lại thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao quyết định hủy toàn bộ bản án, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và trường giáo dưỡng nơi học sinh được trích xuất. Sau khi Tòa án xét xử lại mà học sinh được trích xuất bị xử phạt tù thì thời gian chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng của học sinh được tính vào thời gian chấp hành án phạt tù. Trường hợp học sinh được trích xuất để điều tra, truy tố, xét xử theo một vụ án khác nếu tòa án xét xử học sinh được trích xuất bị xử phạt tù thì thời gian còn lại của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được miễn chấp hành. 2. Trường hợp học sinh được trích xuất đang trong thời gian được Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì ngay sau khi bàn giao học sinh được trích xuất, trường giáo dưỡng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao lệnh trích xuất cho Tòa án có thẩm quyền đang xem xét, quyết định việc chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng biết được học sinh đó đã được trích xuất đến cơ sở giam giữ. 3. Trong thời gian trích xuất nếu học sinh được trích xuất chết thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã đề nghị trích xuất học sinh, trường giáo dưỡng nơi giao học sinh, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và gia đình học sinh. 4. Trong thời gian thi hành lệnh trích xuất học sinh được trích xuất trốn thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất có trách nhiệm ra lệnh truy tìm và tổ chức truy tìm đồng thời thông báo cho trường giáo dưỡng nơi giao học sinh được trích xuất. Trường hợp học sinh được trích xuất ra trình diện hoặc bị bắt lại nếu thời hạn theo lệnh trích xuất đã hết thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất có trách nhiệm bàn giao học sinh cho trường giáo dưỡng theo quy định; trường hợp cơ quan đã yêu cầu trích xuất có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì ngay sau khi học sinh trình diện hoặc bị bắt lại, cơ quan nhận học sinh được trích xuất làm văn bản đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an gia hạn trích xuất. Điều 16. Trả lại học sinh được trích xuất để tiếp tục chấp hành quyết định biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Hết thời hạn ghi trong lệnh trích xuất hoặc lệnh gia hạn trích xuất hoặc vẫn trong thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất nếu cơ quan đề nghị trích xuất không còn nhu cầu tiếp tục trích xuất thì cơ quan nhận học sinh được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và dẫn giải, bàn giao học sinh được trích xuất kèm theo bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và tài liệu có liên quan trong thời gian trích xuất, gia hạn trích xuất cho trường giáo dưỡng nơi giao học sinh để tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020. 2. Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT - BCA - BQP - TANDTC - VKSNDTC ngày 30/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Điều 18. Trách nhiệm thi hành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì từng ngành ở địa phương phản ánh cho cơ quan cấp trên là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thống nhất giải thích hoặc hướng dẫn, giải quyết kịp thời. /.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
29/11/2021
Thông tư liên tịch
14/01/2022
null
null
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Thứ trưởng
Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 12 tháng 11 năm 2021; Căn cứ Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự ngày 26 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân t ố i cao ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có th ẩ m quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết t ố giác, tin b á o về tội phạm, kiến nghị khởi t ố . Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau: “5. Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì thực hiện như sau: a) Đối với tố giác, tin báo về hành vi phạm tội quả tang; tố giác, tin báo về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc được dư luận xã hội quan tâm; tố giác, tin báo về tội phạm đã rõ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc rõ người bị tố giác mà có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn, có căn cứ và cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an lập biên bản tiếp nhận, báo ngay bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; tổ chức ngay lực lượng đến bảo vệ hiện trường, lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng hoặc những người có liên quan; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận; b) Đối với tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, lấy lời khai người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng và những người có liên quan; có mặt kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, bảo vệ hiện trường; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; xác minh sơ bộ thông tin về hậu quả thiệt hại; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thời hạn kể từ khi tiếp nhận đến khi chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền không quá 07 ngày. Trong quá trình xử lý tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại điểm này mà có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này; c) Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; d) Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm hoặc cần tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám xét hoặc trưng cầu giám định ngay thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời theo quy định của Thông tư liên tịch này; đ) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an.”. Điều 2. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14 tháng 01 năm 2022. Điều 3. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=155617&Keyword=
2025-09-24T02:33:18.498691
../data\bocongan\012021TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT - BCA - BQP - BTC - BNNPTNT - VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 12 tháng 11 năm 2021; Căn cứ Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự ngày 26 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân t ố i cao ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT - BCA - BQP - BTC - BNNPTNT - VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có th ẩ m quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết t ố giác, tin b á o về tội phạm, kiến nghị khởi t ố. Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT - BCA - BQP - BTC - BNNPTNT - VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau: “5. Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì thực hiện như sau: a) Đối với tố giác, tin báo về hành vi phạm tội quả tang; tố giác, tin báo về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc được dư luận xã hội quan tâm; tố giác, tin báo về tội phạm đã rõ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc rõ người bị tố giác mà có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn, có căn cứ và cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an lập biên bản tiếp nhận, báo ngay bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; tổ chức ngay lực lượng đến bảo vệ hiện trường, lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng hoặc những người có liên quan; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận; b) Đối với tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, lấy lời khai người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng và những người có liên quan; có mặt kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, bảo vệ hiện trường; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; xác minh sơ bộ thông tin về hậu quả thiệt hại; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thời hạn kể từ khi tiếp nhận đến khi chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền không quá 07 ngày. Trong quá trình xử lý tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại điểm này mà có căn cứ xác định tố giác, tin báo về tội phạm thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này; c) Trạm Công an khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; d) Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm hoặc cần tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám xét hoặc trưng cầu giám định ngay thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời theo quy định của Thông tư liên tịch này; đ) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an. ”. Điều 2. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14 tháng 01 năm 2022. Điều 3. Trách nhiệm thi hành Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng
01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
18/01/2023
Thông tư liên tịch
10/03/2023
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thiếu tướng Nguyễn Văn Long
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019 ; Căn cứ Bộ luật Hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B ộ luật H ình sự ngày 20 tháng 6 năm 2017; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng . Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; thi hành quyết định đối với người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với: 1. Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ về thi hành án hình sự, Công an cấp xã; người có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện thi hành án hình sự thuộc các cơ quan, đơn vị này. 2. Người được hưởng án treo; người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (gọi chung là người chấp hành án). 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thi hành án hình sự tại cộng đồng. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 3. Thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trong trường hợp người chấp hành án không còn ở nơi cư trú tại thời điểm cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án Khi thực hiện thủ tục triệu tập người chấp hành án để cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự, nếu người chấp hành án không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tiến hành xác minh về nơi cư trú của người chấp hành án tại các địa chỉ của người chấp hành án nêu trong bản án và các địa chỉ khác có liên quan. Căn cứ kết quả xác minh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thực hiện: 1. Trường hợp xác định được nơi ở của người chấp hành án thì yêu cầu họ trở về nơi cư trú; lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và tiếp tục thực hiện thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án đã được giải quyết thay đổi nơi cư trú của cơ quan có thẩm quyền thì thông báo bằng văn bản và chuyển bản án, quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án hiện đang cư trú để tổ chức thi hành theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trường hợp người chấp hành án tự thay đổi nơi cư trú mà chưa có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền thì triệu tập người chấp hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, lập biên bản vi phạm nghĩa vụ; thông báo bằng văn bản và chuyển bản án, quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đang cư trú để tổ chức thi hành theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án đang cư trú tiếp nhận bản án, quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người chấp hành án đã bỏ đi khỏi nơi cư trú không biết đi đâu, không rõ đang ở đâu thì thực hiện theo khoản 1 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo; tiến hành truy tìm và xử lý theo quy định của pháp luật đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Điều 4. Phối hợp thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trong trường hợp Tòa án giao cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập thực hiện giám sát, giáo dục Trường hợp Tòa án giao người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập (không phải là đơn vị quân đội) giám sát, giáo dục thì thực hiện như sau: 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành triệu tập người chấp hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để cam kết việc chấp hành án; lập hồ sơ thi hành án, thông báo và sao gửi các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 85, khoản 2 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự cho cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hướng dẫn cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục thực hiện thi hành án như sau: a) Lập hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án theo khoản 3 Điều 85, khoản 3 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự; b) Định kỳ hằng tháng người đứng đầu cơ quan, tổ chức xác nhận vào bản tự nhận xét của người chấp hành án; nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người chấp hành án, gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và lưu hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án; c) Trước khi hết thời gian thử thách 03 ngày, bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt theo khoản 4 Điều 85, khoản 4 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự; d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị rút ngắn thời gian thử thách án treo, giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khi có đủ điều kiện; đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện khi người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật để xử lý; e) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú để thực hiện giám sát, giáo dục người chấp hành án. 3. Trường hợp người chấp hành án có đơn xin chuyển nơi chấp hành án về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú thì tiến hành chuyển giao hồ sơ thi hành án, hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú để tiếp tục thi hành án; thông báo về việc chuyển giao thi hành án cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát nơi chuyển đi và nơi chuyển đến. Điều 5. Xác định thời điểm bắt đầu chấp hành án, thời gian chấp hành án 1. Thời điểm bắt đầu chấp hành án được xác định như sau: a) Thời điểm bắt đầu chấp hành án treo thực hiện theo Điều 5 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; b) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được quyết định thi hành án; c) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cấm cư trú, quản chế tính từ ngày chấp hành xong án phạt tù; d) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt tước một số quyền công dân tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. đ) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. 2. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Thi hành án hình sự thì thời gian không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế được tính theo số ngày đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc số ngày vi phạm quy định ghi trong giấy phép. Căn cứ biên bản xác định người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế không có giấy phép, vi phạm quy định ghi trong giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để ra quyết định về thời gian không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế bằng văn bản và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Tòa án đã ra quyết định thi hành án và Viện kiểm sát cùng cấp. Điều 6. Thi hành án trong trường hợp người chấp hành án đồng thời phải chấp hành nhiều loại án phạt khác nhau 1. Trường hợp người chấp hành án đồng thời phải chấp hành nhiều loại án phạt khác nhau thì tổ chức thi hành đối với từng án phạt riêng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Người được hưởng án treo đồng thời phải chấp hành án phạt tù thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đang quản lý người chấp hành án biết; không thực hiện việc triệu tập người chấp hành án, rút ngắn thời gian thử thách, báo cáo hằng tháng của người được hưởng án treo. Trường hợp hết thời gian thử thách mà chưa chấp hành xong án phạt tù thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách, gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 4 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự, đồng thời gửi cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đang quản lý người chấp hành án. Trường hợp chấp hành xong án phạt tù mà chưa hết thời gian thử thách thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo để thực hiện cam kết việc chấp hành án và thực hiện các thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có hình phạt bổ sung là cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì ngay sau khi chấp hành xong thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức thi hành án phạt cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Điều 7. Thực hiện nhận xét, báo cáo về việc chấp hành án 1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nhận xét, báo cáo về việc chấp hành án của người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo định kỳ mỗi tháng một lần. Mốc thời gian nhận xét, báo cáo tính từ ngày đầu tiên của tháng nhận xét, báo cáo (đối với tháng đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối cùng của tháng nhận xét, báo cáo (đối với tháng cuối cùng, tính đến ngày bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo (liền kề với tháng nhận xét, báo cáo), Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải hoàn thành bản nhận xét, báo cáo và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để lưu hồ sơ thi hành án. 2. Ủy ban nhân dân cấp xã nhận xét về quá trình chấp hành án phạt quản chế theo định kỳ 03 tháng một lần. Thời gian nhận xét tính từ ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong kỳ nhận xét (đối với kỳ đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối tháng của tháng cuối trong kỳ nhận xét (đối với kỳ cuối cùng, tính đến ngày bàn giao hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo (liền kề với kỳ nhận xét), Ủy ban nhân dân cấp xã phải hoàn thành việc nhận xét; lưu hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế và gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để lưu hồ sơ thi hành án. 3. Việc báo cáo kết quả thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định quy định tại Điều 131 Luật Thi hành án hình sự thực hiện như sau: a) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu yêu cầu cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc báo cáo kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện theo định kỳ 03 tháng một lần. Mốc thời gian báo cáo tính từ ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong kỳ báo cáo (đối với kỳ đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối tháng của tháng cuối trong kỳ báo cáo (đối với kỳ cuối cùng, tính đến ngày hết thời hạn chấp hành án). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc phải gửi báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để lưu hồ sơ thi hành án. b) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo kết quả toàn bộ quá trình thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong thời hạn 03 ngày làm việc trước khi hết thời hạn chấp hành án. Điều 8. Giải quyết thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người chấp hành án 1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 25, khoản 3 Điều 92 và khoản 3 Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự và quy định của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù buộc phải thay đổi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng như không còn nơi cư trú, buộc phải chuyển đến nơi cư trú để có người chăm sóc, nuôi dưỡng và các trường hợp khác thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an xem xét, quyết định. Nếu được giải quyết thay đổi nơi cư trú thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải ra quyết định bằng văn bản; thông báo cho Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Toà án ra quyết định tạm đình chỉ; bàn giao hồ sơ, tài liệu cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thực hiện kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế, quản lý người được tạm đình chỉ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người chấp hành án phạt cấm cư trú thay đổi nơi cư trú thì thực hiện như sau: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định người chấp hành án đã thay đổi nơi cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo và bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo, bàn giao hồ sơ thi hành án và hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thi hành án, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú phải thông báo; bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã để giám sát, giáo dục người chấp hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. 4. Trường hợp người chấp hành án phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thay đổi nơi cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định người chấp hành án đã thay đổi nơi cư trú, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thông báo và bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thi hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án đến cư trú để theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Điều 9. Thi hành án đối với các trường hợp do cơ quan, đơn vị Quân đội có thẩm quyền chuyển giao 1. Trường hợp nhận được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án quân sự chuyển đến, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người được hưởng án treo, người đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ không tiếp tục làm việc trong quân đội mà cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao hồ sơ thi hành án, hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiếp nhận hồ sơ và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Điều 10. Thực hiện kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật 1. Việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ thực hiện theo quy định tại Điều 66, Điều 91 và Điều 105 Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án không có mặt để kiểm điểm theo đúng thời hạn triệu tập mà không có lý do chính đáng thì tiến hành lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và kiểm điểm vắng mặt. Biên bản kiểm điểm trong trường hợp người chấp hành án vắng mặt có giá trị như trường hợp kiểm điểm người chấp hành án có mặt. Điều 11. Thi hành án trong trường hợp người chấp hành án bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian chấp hành án 1. Ngay sau khi người chấp hành án bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản thông báo cho cơ quan, tổ chức đó biết để phối hợp thực hiện thủ tục thi hành án; báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để theo dõi và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. 2. Trường hợp người chấp hành án chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà chưa chấp hành xong án phạt thì ngay sau khi trở về nơi cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã phải triệu tập người chấp hành án đến trụ sở để yêu cầu người chấp hành án tiếp tục chấp hành án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trường hợp hết thời hạn chấp hành án mà chưa chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị các cơ quan, tổ chức đó nhận xét toàn bộ quá trình chấp hành nội quy, quy chế của người chấp hành án trong thời gian ở trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú; hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế, hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Điều 12. Giải quyết trường hợp có quyết định hủy bản án đang thi hành Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bản án đang thi hành, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo và yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú; hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế; hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và thực hiện các thủ tục theo nội dung nêu trong quyết định hủy bản án. Điều 13. Thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ 1. Công an cấp xã yêu cầu người chấp hành án viết bản báo cáo về tình trạng không có việc làm và phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kiểm tra, xác minh làm căn cứ xác định tình trạng không có việc làm hoặc mất việc làm; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để áp dụng thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. 2. Việc thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thực hiện theo khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án hình sự. Khi có căn cứ xác định người chấp hành án có việc làm hoặc thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để ra quyết định chấm dứt thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Điều 14. Thực hiện buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo do vi phạm nghĩa vụ 1. Việc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện như sau: a) Trường hợp buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn mà người được hưởng án treo phải có mặt (lần 02), cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; đồng thời gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát. b) Trường hợp buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát; c) Hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 3, khoản 4 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự. 2. Trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 5 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. 3. Việc thi hành quyết định của Tòa án về buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 6 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự. Điều 15. Thực hiện hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện 1. Việc đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện như sau: a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản vi phạm nghĩa vụ lần 02 hoặc nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính lần 02, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu (gửi kèm các biên bản vi phạm, quyết định xử phạt vi phạm hành chính) để đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định. b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. c) Hồ sơ đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 1 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. 2. Việc xem xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 4 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. 3. Việc thi hành quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 2 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát. Điều 16. Thực hiện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt 1. Việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách án treo, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cấm cư trú, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế, giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tước một số quyền công dân, giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã bị khởi tố hình sự, đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu người chấp hành án không phạm tội thì cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt). 3. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền đang thực hiện thủ tục buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Nếu Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt). 4. Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép, báo cáo, không xác định được đang ở đâu thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Nếu có đủ điều kiện buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì đề nghị Tòa án có thẩm quyền buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu không đủ điều kiện thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt khi có căn cứ xác định người chấp hành án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách. 5. Đối với các trường hợp người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định hủy giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt đã cấp và gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt trong các trường hợp sau: a) Người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách và có quyết định tổng hợp với hình phạt của bản án mới, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách và có quyết định tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. b) Có quyết định hủy bản án, quyết định đang thi hành; có quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đã có hiệu lực pháp luật. 6. Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ hết thời hạn trước ngày Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp giấy mà có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu yêu cầu người chấp hành án viết bản tường trình về việc chấp hành pháp luật trong thời gian chấp hành án; tiến hành xác minh tại các địa phương nơi người chấp hành án cư trú, học tập, làm việc trong thời gian chấp hành án. Nếu kết quả xác minh xác định người chấp hành án không vi phạm pháp luật hình sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt) và gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17 . Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2023. Điều 18 . Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao  trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu gặp khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=162546&Keyword=
2025-09-24T02:33:16.916749
../data\bocongan\012023TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019; Căn cứ Bộ luật Hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B ộ luật H ình sự ngày 20 tháng 6 năm 2017; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; thi hành quyết định đối với người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với: 1. Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ về thi hành án hình sự, Công an cấp xã; người có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện thi hành án hình sự thuộc các cơ quan, đơn vị này. 2. Người được hưởng án treo; người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bản án đã có hiệu lực pháp luật, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (gọi chung là người chấp hành án). 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thi hành án hình sự tại cộng đồng. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 3. Thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trong trường hợp người chấp hành án không còn ở nơi cư trú tại thời điểm cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án Khi thực hiện thủ tục triệu tập người chấp hành án để cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự, nếu người chấp hành án không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tiến hành xác minh về nơi cư trú của người chấp hành án tại các địa chỉ của người chấp hành án nêu trong bản án và các địa chỉ khác có liên quan. Căn cứ kết quả xác minh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thực hiện: 1. Trường hợp xác định được nơi ở của người chấp hành án thì yêu cầu họ trở về nơi cư trú; lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và tiếp tục thực hiện thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án đã được giải quyết thay đổi nơi cư trú của cơ quan có thẩm quyền thì thông báo bằng văn bản và chuyển bản án, quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án hiện đang cư trú để tổ chức thi hành theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trường hợp người chấp hành án tự thay đổi nơi cư trú mà chưa có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền thì triệu tập người chấp hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, lập biên bản vi phạm nghĩa vụ; thông báo bằng văn bản và chuyển bản án, quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đang cư trú để tổ chức thi hành theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án đang cư trú tiếp nhận bản án, quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người chấp hành án đã bỏ đi khỏi nơi cư trú không biết đi đâu, không rõ đang ở đâu thì thực hiện theo khoản 1 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo; tiến hành truy tìm và xử lý theo quy định của pháp luật đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Điều 4. Phối hợp thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trong trường hợp Tòa án giao cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập thực hiện giám sát, giáo dục Trường hợp Tòa án giao người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập (không phải là đơn vị quân đội) giám sát, giáo dục thì thực hiện như sau: 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành triệu tập người chấp hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để cam kết việc chấp hành án; lập hồ sơ thi hành án, thông báo và sao gửi các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 85, khoản 2 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự cho cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hướng dẫn cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục thực hiện thi hành án như sau: a) Lập hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án theo khoản 3 Điều 85, khoản 3 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự; b) Định kỳ hằng tháng người đứng đầu cơ quan, tổ chức xác nhận vào bản tự nhận xét của người chấp hành án; nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người chấp hành án, gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và lưu hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án; c) Trước khi hết thời gian thử thách 03 ngày, bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt theo khoản 4 Điều 85, khoản 4 Điều 97 Luật Thi hành án hình sự; d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị rút ngắn thời gian thử thách án treo, giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khi có đủ điều kiện; đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện khi người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật để xử lý; e) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú để thực hiện giám sát, giáo dục người chấp hành án. 3. Trường hợp người chấp hành án có đơn xin chuyển nơi chấp hành án về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú thì tiến hành chuyển giao hồ sơ thi hành án, hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú để tiếp tục thi hành án; thông báo về việc chuyển giao thi hành án cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát nơi chuyển đi và nơi chuyển đến. Điều 5. Xác định thời điểm bắt đầu chấp hành án, thời gian chấp hành án 1. Thời điểm bắt đầu chấp hành án được xác định như sau: a) Thời điểm bắt đầu chấp hành án treo thực hiện theo Điều 5 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; b) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được quyết định thi hành án; c) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cấm cư trú, quản chế tính từ ngày chấp hành xong án phạt tù; d) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt tước một số quyền công dân tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. đ) Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo. 2. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Thi hành án hình sự thì thời gian không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế được tính theo số ngày đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc số ngày vi phạm quy định ghi trong giấy phép. Căn cứ biên bản xác định người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế không có giấy phép, vi phạm quy định ghi trong giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để ra quyết định về thời gian không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế bằng văn bản và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Tòa án đã ra quyết định thi hành án và Viện kiểm sát cùng cấp. Điều 6. Thi hành án trong trường hợp người chấp hành án đồng thời phải chấp hành nhiều loại án phạt khác nhau 1. Trường hợp người chấp hành án đồng thời phải chấp hành nhiều loại án phạt khác nhau thì tổ chức thi hành đối với từng án phạt riêng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Người được hưởng án treo đồng thời phải chấp hành án phạt tù thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đang quản lý người chấp hành án biết; không thực hiện việc triệu tập người chấp hành án, rút ngắn thời gian thử thách, báo cáo hằng tháng của người được hưởng án treo. Trường hợp hết thời gian thử thách mà chưa chấp hành xong án phạt tù thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách, gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 4 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự, đồng thời gửi cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đang quản lý người chấp hành án. Trường hợp chấp hành xong án phạt tù mà chưa hết thời gian thử thách thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo để thực hiện cam kết việc chấp hành án và thực hiện các thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có hình phạt bổ sung là cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì ngay sau khi chấp hành xong thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức thi hành án phạt cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Điều 7. Thực hiện nhận xét, báo cáo về việc chấp hành án 1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nhận xét, báo cáo về việc chấp hành án của người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo định kỳ mỗi tháng một lần. Mốc thời gian nhận xét, báo cáo tính từ ngày đầu tiên của tháng nhận xét, báo cáo (đối với tháng đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối cùng của tháng nhận xét, báo cáo (đối với tháng cuối cùng, tính đến ngày bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo (liền kề với tháng nhận xét, báo cáo), Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải hoàn thành bản nhận xét, báo cáo và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để lưu hồ sơ thi hành án. 2. Ủy ban nhân dân cấp xã nhận xét về quá trình chấp hành án phạt quản chế theo định kỳ 03 tháng một lần. Thời gian nhận xét tính từ ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong kỳ nhận xét (đối với kỳ đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối tháng của tháng cuối trong kỳ nhận xét (đối với kỳ cuối cùng, tính đến ngày bàn giao hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo (liền kề với kỳ nhận xét), Ủy ban nhân dân cấp xã phải hoàn thành việc nhận xét; lưu hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế và gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để lưu hồ sơ thi hành án. 3. Việc báo cáo kết quả thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định quy định tại Điều 131 Luật Thi hành án hình sự thực hiện như sau: a) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu yêu cầu cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc báo cáo kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện theo định kỳ 03 tháng một lần. Mốc thời gian báo cáo tính từ ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong kỳ báo cáo (đối với kỳ đầu tiên, tính từ ngày bắt đầu chấp hành án) đến ngày cuối tháng của tháng cuối trong kỳ báo cáo (đối với kỳ cuối cùng, tính đến ngày hết thời hạn chấp hành án). Trong thời hạn 05 ngày đầu tiên của tháng tiếp theo, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc phải gửi báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để lưu hồ sơ thi hành án. b) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo kết quả toàn bộ quá trình thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong thời hạn 03 ngày làm việc trước khi hết thời hạn chấp hành án. Điều 8. Giải quyết thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người chấp hành án 1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 25, khoản 3 Điều 92 và khoản 3 Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự và quy định của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù buộc phải thay đổi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng như không còn nơi cư trú, buộc phải chuyển đến nơi cư trú để có người chăm sóc, nuôi dưỡng và các trường hợp khác thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an xem xét, quyết định. Nếu được giải quyết thay đổi nơi cư trú thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải ra quyết định bằng văn bản; thông báo cho Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Toà án ra quyết định tạm đình chỉ; bàn giao hồ sơ, tài liệu cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thực hiện kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế, quản lý người được tạm đình chỉ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người chấp hành án phạt cấm cư trú thay đổi nơi cư trú thì thực hiện như sau: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định người chấp hành án đã thay đổi nơi cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo và bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo, bàn giao hồ sơ thi hành án và hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thi hành án, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú phải thông báo; bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã để giám sát, giáo dục người chấp hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. 4. Trường hợp người chấp hành án phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thay đổi nơi cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định người chấp hành án đã thay đổi nơi cư trú, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thông báo và bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú để tiếp tục thi hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đến cư trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án đến cư trú để theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Điều 9. Thi hành án đối với các trường hợp do cơ quan, đơn vị Quân đội có thẩm quyền chuyển giao 1. Trường hợp nhận được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án quân sự chuyển đến, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người được hưởng án treo, người đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ không tiếp tục làm việc trong quân đội mà cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao hồ sơ thi hành án, hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiếp nhận hồ sơ và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Điều 10. Thực hiện kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật 1. Việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ thực hiện theo quy định tại Điều 66, Điều 91 và Điều 105 Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người chấp hành án không có mặt để kiểm điểm theo đúng thời hạn triệu tập mà không có lý do chính đáng thì tiến hành lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và kiểm điểm vắng mặt. Biên bản kiểm điểm trong trường hợp người chấp hành án vắng mặt có giá trị như trường hợp kiểm điểm người chấp hành án có mặt. Điều 11. Thi hành án trong trường hợp người chấp hành án bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian chấp hành án 1. Ngay sau khi người chấp hành án bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản thông báo cho cơ quan, tổ chức đó biết để phối hợp thực hiện thủ tục thi hành án; báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để theo dõi và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. 2. Trường hợp người chấp hành án chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà chưa chấp hành xong án phạt thì ngay sau khi trở về nơi cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã phải triệu tập người chấp hành án đến trụ sở để yêu cầu người chấp hành án tiếp tục chấp hành án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trường hợp hết thời hạn chấp hành án mà chưa chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị các cơ quan, tổ chức đó nhận xét toàn bộ quá trình chấp hành nội quy, quy chế của người chấp hành án trong thời gian ở trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú; hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế, hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Điều 12. Giải quyết trường hợp có quyết định hủy bản án đang thi hành Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bản án đang thi hành, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo và yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú; hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế; hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và thực hiện các thủ tục theo nội dung nêu trong quyết định hủy bản án. Điều 13. Thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ 1. Công an cấp xã yêu cầu người chấp hành án viết bản báo cáo về tình trạng không có việc làm và phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kiểm tra, xác minh làm căn cứ xác định tình trạng không có việc làm hoặc mất việc làm; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để áp dụng thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. 2. Việc thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thực hiện theo khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án hình sự. Khi có căn cứ xác định người chấp hành án có việc làm hoặc thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để ra quyết định chấm dứt thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Điều 14. Thực hiện buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo do vi phạm nghĩa vụ 1. Việc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện như sau: a) Trường hợp buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn mà người được hưởng án treo phải có mặt (lần 02), cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; đồng thời gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát. b) Trường hợp buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát; c) Hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 3, khoản 4 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự. 2. Trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 5 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. 3. Việc thi hành quyết định của Tòa án về buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thực hiện theo khoản 6 Điều 93 Luật Thi hành án hình sự. Điều 15. Thực hiện hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện 1. Việc đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện như sau: a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản vi phạm nghĩa vụ lần 02 hoặc nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính lần 02, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu (gửi kèm các biên bản vi phạm, quyết định xử phạt vi phạm hành chính) để đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định. b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. c) Hồ sơ đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 1 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. 2. Việc xem xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 4 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. 3. Việc thi hành quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo khoản 2 Điều 71 Luật Thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát. Điều 16. Thực hiện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt 1. Việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách án treo, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cấm cư trú, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế, giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tước một số quyền công dân, giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã bị khởi tố hình sự, đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu người chấp hành án không phạm tội thì cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt). 3. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền đang thực hiện thủ tục buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Nếu Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt). 4. Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép, báo cáo, không xác định được đang ở đâu thì tạm thời chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt. Nếu có đủ điều kiện buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì đề nghị Tòa án có thẩm quyền buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu không đủ điều kiện thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt khi có căn cứ xác định người chấp hành án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách. 5. Đối với các trường hợp người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định hủy giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt đã cấp và gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt trong các trường hợp sau: a) Người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách và có quyết định tổng hợp với hình phạt của bản án mới, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách và có quyết định tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. b) Có quyết định hủy bản án, quyết định đang thi hành; có quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đã có hiệu lực pháp luật. 6. Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ hết thời hạn trước ngày Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp giấy mà có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu yêu cầu người chấp hành án viết bản tường trình về việc chấp hành pháp luật trong thời gian chấp hành án; tiến hành xác minh tại các địa phương nơi người chấp hành án cư trú, học tập, làm việc trong thời gian chấp hành án. Nếu kết quả xác minh xác định người chấp hành án không vi phạm pháp luật hình sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt (giấy chứng nhận phải ghi đúng ngày chấp hành xong án phạt) và gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2023. Điều 18. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu gặp khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa
02 /2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP
01/02/2018
Thông tư liên tịch
18/03/2018
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 110 /2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội v ề việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự ; Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/ 201 7 của Quốc hội v ề việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn , địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư liên tịch này quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi họ có yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, bị can, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Nguyên tắc áp dụng 1. Tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan. 2. Bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa là một bộ phận của hồ sơ vụ án hình sự, phải bảo đảm đúng nội dung, đầy đủ số lượng như bản gốc hồ sơ vụ án; không được sửa chữa, làm thay đổi nội dung của bản gốc, bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa. 3. Bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được quyền đọc, ghi chép tài liệu từ sau khi kết thúc điều tra, trong giai đoạn truy tố đến trước khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. 4. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm, quyền của bị can, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi họ có yêu cầu. 5. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa phải bảo đảm các yêu cầu về giữ bí mật theo quy định của pháp luật, không gây cản trở và bảo đảm thời hạn của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Điều 3. Các trường hợp bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án quyết định việc sao tài liệu hoặc số hóa tài liệu liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội, tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa (sau đây gọi chung là tài liệu) để bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện việc đọc, ghi chép khi họ có yêu cầu nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải từ chối việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu hoặc từ chối việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội tiếp tục đọc, ghi chép tài liệu trong các trường hợp sau: a) Các tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước; bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình của người tham gia tố tụng mà họ đã yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ bí mật theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các thông tin, tài liệu mà người tham gia tố tụng là người tố giác, báo tin về tội phạm đã yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ bí mật; b) Các quyết định, lệnh, văn bản tố tụng đã được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; c) Có căn cứ xác định bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện một trong các hành vi: - Mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, dữ liệu điện tử, đồ vật của vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. - Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm: ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối; ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối; ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan; ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối; ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng. - Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. - Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng; Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; d) Có căn cứ xác định bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội tiết lộ thông tin vụ án, bí mật điều tra mà mình biết khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu giữ bí mật; sử dụng tài liệu đã được đọc, ghi chép vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đ) Khi chưa kết thúc điều tra vụ án, vụ án đang trong giai đoạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung hoặc điều tra lại hoặc Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử; e) Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra đối với bị can; đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, THỜI HẠN, ĐỊA ĐIỂM CHO BỊ CAN HOẶC NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI ĐƯỢC ĐỌC, GHI CHÉP BẢN SAO TÀI LIỆU HOẶC TÀI LIỆU ĐƯỢC SỐ HÓA Điều 4. Thông báo về quyền của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép tài liệu 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án khi giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội phải thông báo, giải thích lại cho họ được biết về quyền được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa của họ từ sau khi kết thúc điều tra khi họ có yêu cầu. 2. Việc thông báo cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội về quyền được đọc, ghi chép tài liệu phải được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ghi nhận trong biên bản giao nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng và được chuyển cùng hồ sơ vụ án hình sự. Điều 5. Tiếp nhận yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội 1. Khi bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu thì phải có văn bản yêu cầu gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án. Nội dung văn bản yêu cầu phải nêu rõ các thông tin của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội, địa chỉ liên lạc, điện thoại liên hệ và các tài liệu cần đọc, ghi chép để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết. 2. Trường hợp bị can đang bị tạm giam có văn bản yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển văn bản yêu cầu của bị can cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án đó trong thời hạn 01 ngày, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của bị can. Điều 6. Giải quyết yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, giải quyết như sau: 1. Trường hợp thuộc quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch này thì ra văn bản thông báo việc từ chối cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu và nêu rõ lý do. 2. Trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì phải chuẩn bị ngay bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa và thông báo bằng văn bản, trong đó ghi rõ địa điểm, khoảng thời gian hợp lý để bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội có thể đọc, ghi chép tài liệu. 3. Việc đọc, ghi chép tài liệu của bị can không bị áp dụng biện pháp tạm giam, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện tại trụ sở làm việc của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cho bị can đọc, ghi chép tài liệu tại phòng hỏi cung của cơ sở giam giữ. Điều 7. Thực hiện việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án trực tiếp giao bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội để đọc, ghi chép. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải cung cấp bút viết và giấy để bị can ghi chép. Sau khi hết thời gian đọc, ghi chép, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thu lại bút viết, bị can được tự quản lý phần giấy tờ do mình đã ghi chép và được mang tài liệu đó vào buồng giam. 2. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu phải có sự giám sát của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đó. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án có văn bản đề nghị cơ sở giam giữ cử cán bộ tham gia phối hợp giám sát bảo đảm an toàn trong quá trình cho bị can đọc, ghi chép tài liệu. 3. Trường hợp bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội không sử dụng được tiếng Việt hoặc bị can là người có nhược điểm về thể chất như câm, điếc, mù có yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải trưng cầu người phiên dịch, người dịch thuật hoặc người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù cùng tham gia việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu. Đối với bị can là người dưới 18 tuổi thì phải có người đại diện cùng tham gia việc cho bị can đọc, ghi chép tài liệu. 4. Thời gian cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép tài liệu mỗi lần không quá 03 giờ, trong 01 ngày không quá 02 lần. 5. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu phải được lập biên bản. Đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì phải có thêm xác nhận của người cùng tham gia việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu và cho bị can ký hoặc điểm chỉ xác nhận. Điều 8. Việc sử dụng, bảo quản, lưu trữ bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án có trách nhiệm bảo quản bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội. 2. Bản sao tài liệu hoặc tài liệu số hóa và những tài liệu về trình tự, thủ tục cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép được chuyển cùng hồ sơ vụ án cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để giải quyết theo thẩm quyền. 3. Bản sao tài liệu vụ án hình sự hoặc tài liệu vụ án hình sự được số hóa được bảo quản, lưu trữ theo quy định của pháp luật. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 9. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2018. Điều 10. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Kinh phí bảo đảm: a) Kinh phí để bảo đảm việc thực hiện các quy định về sao chép, số hóa tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của Nhà nước; b) Việc chi trả lệ phí, chi phí cho hoạt động đọc, ghi chép tài liệu do bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội yêu cầu theo quy định tại Thông tư liên tịch này được thực hiện theo quy định của pháp luật. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=136658&Keyword=
2025-09-24T02:33:33.836374
../data\bocongan\02 2018TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 110 /2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội v ề việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/ 201 7 của Quốc hội v ề việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư liên tịch này quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi họ có yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, bị can, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Nguyên tắc áp dụng 1. Tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan. 2. Bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa là một bộ phận của hồ sơ vụ án hình sự, phải bảo đảm đúng nội dung, đầy đủ số lượng như bản gốc hồ sơ vụ án; không được sửa chữa, làm thay đổi nội dung của bản gốc, bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa. 3. Bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được quyền đọc, ghi chép tài liệu từ sau khi kết thúc điều tra, trong giai đoạn truy tố đến trước khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. 4. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm, quyền của bị can, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi họ có yêu cầu. 5. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa phải bảo đảm các yêu cầu về giữ bí mật theo quy định của pháp luật, không gây cản trở và bảo đảm thời hạn của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Điều 3. Các trường hợp bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án quyết định việc sao tài liệu hoặc số hóa tài liệu liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội, tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa (sau đây gọi chung là tài liệu) để bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện việc đọc, ghi chép khi họ có yêu cầu nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải từ chối việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu hoặc từ chối việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội tiếp tục đọc, ghi chép tài liệu trong các trường hợp sau: a) Các tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước; bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình của người tham gia tố tụng mà họ đã yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ bí mật theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các thông tin, tài liệu mà người tham gia tố tụng là người tố giác, báo tin về tội phạm đã yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ bí mật; b) Các quyết định, lệnh, văn bản tố tụng đã được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; c) Có căn cứ xác định bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện một trong các hành vi: - Mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, dữ liệu điện tử, đồ vật của vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. - Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm: ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối; ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối; ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan; ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối; ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng. - Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. - Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng; Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; d) Có căn cứ xác định bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội tiết lộ thông tin vụ án, bí mật điều tra mà mình biết khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu giữ bí mật; sử dụng tài liệu đã được đọc, ghi chép vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đ) Khi chưa kết thúc điều tra vụ án, vụ án đang trong giai đoạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung hoặc điều tra lại hoặc Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử; e) Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra đối với bị can; đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, THỜI HẠN, ĐỊA ĐIỂM CHO BỊ CAN HOẶC NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI ĐƯỢC ĐỌC, GHI CHÉP BẢN SAO TÀI LIỆU HOẶC TÀI LIỆU ĐƯỢC SỐ HÓA Điều 4. Thông báo về quyền của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép tài liệu 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án khi giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội phải thông báo, giải thích lại cho họ được biết về quyền được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa của họ từ sau khi kết thúc điều tra khi họ có yêu cầu. 2. Việc thông báo cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội về quyền được đọc, ghi chép tài liệu phải được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ghi nhận trong biên bản giao nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng và được chuyển cùng hồ sơ vụ án hình sự. Điều 5. Tiếp nhận yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội 1. Khi bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu thì phải có văn bản yêu cầu gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án. Nội dung văn bản yêu cầu phải nêu rõ các thông tin của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội, địa chỉ liên lạc, điện thoại liên hệ và các tài liệu cần đọc, ghi chép để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết. 2. Trường hợp bị can đang bị tạm giam có văn bản yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển văn bản yêu cầu của bị can cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án đó trong thời hạn 01 ngày, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của bị can. Điều 6. Giải quyết yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, giải quyết như sau: 1. Trường hợp thuộc quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch này thì ra văn bản thông báo việc từ chối cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu và nêu rõ lý do. 2. Trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì phải chuẩn bị ngay bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa và thông báo bằng văn bản, trong đó ghi rõ địa điểm, khoảng thời gian hợp lý để bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội có thể đọc, ghi chép tài liệu. 3. Việc đọc, ghi chép tài liệu của bị can không bị áp dụng biện pháp tạm giam, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện tại trụ sở làm việc của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cho bị can đọc, ghi chép tài liệu tại phòng hỏi cung của cơ sở giam giữ. Điều 7. Thực hiện việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án trực tiếp giao bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội để đọc, ghi chép. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải cung cấp bút viết và giấy để bị can ghi chép. Sau khi hết thời gian đọc, ghi chép, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thu lại bút viết, bị can được tự quản lý phần giấy tờ do mình đã ghi chép và được mang tài liệu đó vào buồng giam. 2. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu phải có sự giám sát của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đó. Đối với bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án có văn bản đề nghị cơ sở giam giữ cử cán bộ tham gia phối hợp giám sát bảo đảm an toàn trong quá trình cho bị can đọc, ghi chép tài liệu. 3. Trường hợp bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội không sử dụng được tiếng Việt hoặc bị can là người có nhược điểm về thể chất như câm, điếc, mù có yêu cầu đọc, ghi chép tài liệu thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải trưng cầu người phiên dịch, người dịch thuật hoặc người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù cùng tham gia việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu. Đối với bị can là người dưới 18 tuổi thì phải có người đại diện cùng tham gia việc cho bị can đọc, ghi chép tài liệu. 4. Thời gian cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội được đọc, ghi chép tài liệu mỗi lần không quá 03 giờ, trong 01 ngày không quá 02 lần. 5. Việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu phải được lập biên bản. Đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì phải có thêm xác nhận của người cùng tham gia việc cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép tài liệu và cho bị can ký hoặc điểm chỉ xác nhận. Điều 8. Việc sử dụng, bảo quản, lưu trữ bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa 1. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết vụ án có trách nhiệm bảo quản bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội. 2. Bản sao tài liệu hoặc tài liệu số hóa và những tài liệu về trình tự, thủ tục cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội đọc, ghi chép được chuyển cùng hồ sơ vụ án cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để giải quyết theo thẩm quyền. 3. Bản sao tài liệu vụ án hình sự hoặc tài liệu vụ án hình sự được số hóa được bảo quản, lưu trữ theo quy định của pháp luật. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 9. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2018. Điều 10. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Kinh phí bảo đảm: a) Kinh phí để bảo đảm việc thực hiện các quy định về sao chép, số hóa tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của Nhà nước; b) Việc chi trả lệ phí, chi phí cho hoạt động đọc, ghi chép tài liệu do bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội yêu cầu theo quy định tại Thông tư liên tịch này được thực hiện theo quy định của pháp luật. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương VIIA “ Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự
02/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA
05/08/1998
Thông tư liên tịch
20/08/1998
Công báo số 1, ngày 08/01/1999
08/01/1999
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương VIIA " Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự __________________________________ Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10-5-1997, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2-1-1998 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự" (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/1998). Sau khi Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, một số cơ quan bảo vệ pháp luật địa phương đã có công văn, công điện, điện thoại đề nghị Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cáo, Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể hơn các hành vi "mua bán trái phép chất ma tuý"; "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; ngoài ra còn đề nghị hướng dẫn bổ sung một số quy định của Bộ Luật hình sự về "các tội phạm về ma tuý". Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương VIIA "Các tội phạm về ma tuý" của Bộ Luật hình sự. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: 1. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 đ Bộ Luật hình sự là một trong các hành vi sau đây: a. Bán trái phép chất ma tuý cho người khác; b. Mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; c. Xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; d. Tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; d. Vận chuyển chất ma tuý để bán trái phép cho người khác; e. Dùng chất ma tuý để trao đổi, thanh toán... trái phép; g. Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán... lấy chất ma tuý để bán lại trái phép cho người khác. Khi thực hiện hướng dẫn trên đây cần chú ý: - Người nào thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các điểm a và e đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma tuý" theo Điều 185 đ Bộ Luật hình sự không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma tuý do đâu mà có. - Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và g về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo Điều 185 đ Bộ Luật hình sự, thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện một trong các hành vi này của họ là bán trái phép chất ma tuý đó. Trong trường hợp không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma tuý của họ, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà căn cứ vào hướng dẫn tại tiết b điểm 4 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 để xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo Điều 185c Bộ Luật hình sự hoặc về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý" theo Điều 185d Bộ Luật hình sự. - Người nào thực hiện một trong các hành vi phạm tội được hướng dẫn tại điểm I Thông tư này, mà trước đó hoặc sau đó đã thực hiện một hoặc hoặc nhiều hành vi phạm tội khác về ma tuý, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điểm 5 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. - Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người nào thực hiện một trong các hành vi trên đây đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại Điều 185đ Bộ Luật hình sự. - Điều 1 của Thông tư này thay thế tiết d điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. 2. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự là một trong các hành vi sau đây: a. Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; b. Thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý, cũng như tìm địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; c. Cung cấp trái phép chất ma tuý (trừ hành vi bán trái phép chất ma tuý) cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý; d. Chuẩn bị chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất...) nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; d. Tìm người sử dụng chất ma tuý cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của người họ; e. Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào ( mua, xin, tàng trữ, sản xuất...), nhằm dùng chúng để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; g. Các hành vi khác (ngoài các hành vi được hướng dẫn tại các điểm a, b, c, d, đ và e trên đây) giúp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (như: cho người khác tiền, cho người khác vay tiền để người đó mua chất ma tuý sử dụng trái phép, cho người khác tài sản, cho người khác vay tài sản không phải là tiền để người đó đổi lấy chất ma tuý sử dụng trái phép; giúp người khác hút, hít trái phép chất ma tuý; giúp người khác tiêm, chích trái phép chất ma tuý...), nếu người thực hiện một trong các hành vi này đã: - Bị kết án về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự, nhưng chưa được xoá án; - Bị xử lý vi phạm hành vi về một trong các hành vi vi phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự và được cụ thể hoá trong Thông tư liên tịch số 01/1998 và Thông tư này, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; - Được cơ quan tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự về một trong các hành vi vi phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự và được cụ thể hoá trong Thông tư liên tịch số 01/1998 và Thông tư này, nhưng chưa quá thời hạn một năm, kể từ ngày được miễn trách nhiệm hình sự; - Được cơ quan nhà nước (như: Uỷ ban nhân dân hoặc công an từ cấp phường, xã, thị trấn trở lên, cơ quan nơi công tác...), tổ chức, đoàn thể (như: tổ dân phố, tổ chức đoàn thanh niên, phụ nữ...) cũng như những người có trách nhiệm ở cơ quan nơi công tác hoặc ở địa phương nơi cư trú (như: Thủ trưởng cơ quan, cảnh sát khu vực, đại diện Uỷ ban nhân dân các cấp, Tổ trưởng tổ dân phố...) giáo dục, nhưng chưa quá thời hạn một năm, kể từ ngày được giáo dục. Cần chú ý là phải có đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng người thực hiện một trong các hành vi trên đây đã được giáo dục (như: biên bản cuộc họp; bản tự kiểm điểm hoặc bản cam đoan của người vi phạm; có việc triệu tập đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giáo dục; người có trách nhiệm đến tận gia đình giáo dục...). Người nào thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, mà còn thực hiện một hay nhiều hành vi tội khác về ma tuý quy định tại các điều luật tương ứng của Bộ Luật hình sự, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185i Bộ Luật hình sự, tuỳ từng trường hợp còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác đã thực hiện quy định tại điều luật tương ứng của Bộ Luật hình sự. - Điểm 2 của Thông tư này thay thế tiết e điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. 3. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý được quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự là hành vi tự mình hoặc nhờ người khác đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của mình dưới bất kỳ hình thức nào (như: hút, hít, tiêm, chích... chất ma tuý) nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng chất ma tuý. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 Bộ Luật hình sự khi người sử dụng trái phép chất ma tuý đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. - "Đã được giáo dục nhiều lần" được hiểu là đã được cơ quan nhà nước, tổ chức cũng như những người có trách nhiệm ở địa phương từ hai lần trở lên vận động, thuyết phục, nhắc nhở hoặc xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. - Được coi là đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh, nếu biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 10 và Điều 24 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6-7-1995) và theo đúng quy định của Quy chế "Về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6-7-1995" (ban hành kèm theo Nghị định số 20/CP ngày 13-4-1996 của Chính phủ). Người nào đã bị kết án về tội "sử dụng trái phép chất ma tuý" mà tái phạm, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185 Bộ Luật hình sự. 4. Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185k Bộ Luật hình sự là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma tuý. Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma tuý mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tổ cức sử dụng trái phép chất ma tuý" quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự. 5. Hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185m Bộ Luật hình sự là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma tuý trái với ý muốn của họ. 6. Hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 m Bộ Luật hình sự là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn của người khác sử dụng trái phép chất ma tuý để họ sử dụng trái phép chất ma tuý. 7. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý, cần chú ý một số điểm sau đây: a. Các hành vi sản xuất trái phép, tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép, mua bán trái phép được hiểu tương tự như các hành vi tương ứng được hướng dẫn tại các tiết a, b, c điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 và điểm 1 của Thông tư này. b. Nếu người nào lần đầu sản xuất trái phép tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép, mua trái phép phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý để cho bản thân mình sử dụng trái phép chất ma tuý, thì chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải bị xử lý hành chính; nếu đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185h Bộ Luật hình sự. c. Được coi là "vật phạm pháp có số lượng lớn" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 185h Bộ Luật hình sự, nếu có 5 dụng cụ, phương tiện trở lên (có thể là cùng loại, có thể là khác loại). 8. Cần chú ý về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt như sau: a. Trong các điều luật về tội phạm ma tuý có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm", thì chỉ tính các trường hợp bị xử phạt hành chính kể từ ngày 22-5-1997 trở đi; b. Phải coi là phạm tội "đối với với nhiều người" trong các điều luật về tội phạm về ma tuý có quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt, nếu trong một lần mà người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với hai người trở lên (như: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong một lần đối với hai người trở lên; trong một lần cưỡng bức, lôi kéo hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý...); c. Phải áp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 185d Bộ Luật hình sự trong các trường hợp sau đây: - Mua trái phép chất ma tuý từ hai lần trở lên nhằm bán trái phép cho người khác, không phân biệt bán một lần hoặc bán nhiều lần; - Mua trái phép chất ma tuý một lần và bán lại trái phép số lượng chất ma tuý đó từ hai lần trở lên cho người khác, không phân biệt bán lại từ hai lần trở lên cho một người hoặc cho nhiều người; - Mua trái phép chất ma tuý một lần và bán lại trái phép số lượng chất ma tuý đó trong cùng một lúc cho hai người trở lên. 9. Sửa đổi, bổ sung một số hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/1998 như sau: a. Đoạn 2 tiết a điểm 1 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 được hướng dẫn bổ sung lại như sau: "Cần lưu ý rằng nhựa thuốc phiện bao gồm: nhựa thuốc phiện lấy từ cây thuốc phiện, nhựa thuốc phiện đã được cô đặc thành dạng keo, dạng bi... Đối với dung dịch thuốc phiện để tiêm, chích thì không coi là chất ma tuý ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện. Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà cần phải xác định hàm lượng thuốc phiện trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện". b. Hướng dẫn tại dấu (+) thứ hai của dấu (*) thứ hai tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 được sửa đổi, bổ sung như sau: "Người nào đã bị kết án về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự, nhưng chưa được xoá án mà lại tàng trữ trái phép hoặc vận chuyển trái phép một trong các chất ma tuý được hướng dẫn trên đây (được hướng dẫn tại dấu (*) thứ nhất tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998) nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 185c hoặc khoản 1 Điều 185d tương ứng; nếu thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185c hoặc khoản 2 Điều 185d tương ứng. Cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 185c hoặc khoản 1 Điều 185d tương ứng người nào tàng trữ trái phép hoặc vận chuyển trái phép từ hai chất ma tuý trở lên và mỗi chất ma tuý có trọng lượng được hướng dẫn trên đây (được hướng dẫn tại dấu (*) thứ nhất tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998)". 10. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1998. - Các hướng dẫn trong Thông tư này, nếu làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với văn bản hướng dẫn trước đây, thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước khi Thông tư này có hiệu lực. - Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo các văn bản hướng dẫn trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật, thì không áp dụng các hướng dẫn trong Thông tư này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. - Đối với trường hợp đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà được áp dụng các hướng dẫn trong Thông tư này để tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cần giải thích cho họ rõ rằng trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự này không phải là cơ sở của việc đòi bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu thấy có vướng mắc, thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án báo cáo ngay cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=24554&Keyword=
2025-09-24T02:38:37.185121
../data\bocongan\021998TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA\document.json
18/01/2008
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương VIIA " Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự __________________________________ Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10 - 5 - 1997, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BNV ngày 2 - 1 - 1998 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự" (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/1998). Sau khi Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, một số cơ quan bảo vệ pháp luật địa phương đã có công văn, công điện, điện thoại đề nghị Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cáo, Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể hơn các hành vi "mua bán trái phép chất ma tuý"; "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; ngoài ra còn đề nghị hướng dẫn bổ sung một số quy định của Bộ Luật hình sự về "các tội phạm về ma tuý". Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương VIIA "Các tội phạm về ma tuý" của Bộ Luật hình sự. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: 1. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 đ Bộ Luật hình sự là một trong các hành vi sau đây: a. Bán trái phép chất ma tuý cho người khác; b. Mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; c. Xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; d. Tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; d. Vận chuyển chất ma tuý để bán trái phép cho người khác; e. Dùng chất ma tuý để trao đổi, thanh toán. . trái phép; g. Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán. . lấy chất ma tuý để bán lại trái phép cho người khác. Khi thực hiện hướng dẫn trên đây cần chú ý: - Người nào thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các điểm a và e đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma tuý" theo Điều 185 đ Bộ Luật hình sự không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma tuý do đâu mà có. - Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và g về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo Điều 185 đ Bộ Luật hình sự, thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện một trong các hành vi này của họ là bán trái phép chất ma tuý đó. Trong trường hợp không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma tuý của họ, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà căn cứ vào hướng dẫn tại tiết b điểm 4 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 để xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo Điều 185c Bộ Luật hình sự hoặc về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý" theo Điều 185d Bộ Luật hình sự. - Người nào thực hiện một trong các hành vi phạm tội được hướng dẫn tại điểm I Thông tư này, mà trước đó hoặc sau đó đã thực hiện một hoặc hoặc nhiều hành vi phạm tội khác về ma tuý, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điểm 5 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. - Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người nào thực hiện một trong các hành vi trên đây đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại Điều 185đ Bộ Luật hình sự. - Điều 1 của Thông tư này thay thế tiết d điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. 2. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự là một trong các hành vi sau đây: a. Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; b. Thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý, cũng như tìm địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; c. Cung cấp trái phép chất ma tuý (trừ hành vi bán trái phép chất ma tuý) cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý; d. Chuẩn bị chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất. . ) nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; d. Tìm người sử dụng chất ma tuý cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của người họ; e. Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào ( mua, xin, tàng trữ, sản xuất. . ), nhằm dùng chúng để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác; g. Các hành vi khác (ngoài các hành vi được hướng dẫn tại các điểm a, b, c, d, đ và e trên đây) giúp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (như: cho người khác tiền, cho người khác vay tiền để người đó mua chất ma tuý sử dụng trái phép, cho người khác tài sản, cho người khác vay tài sản không phải là tiền để người đó đổi lấy chất ma tuý sử dụng trái phép; giúp người khác hút, hít trái phép chất ma tuý; giúp người khác tiêm, chích trái phép chất ma tuý. . ), nếu người thực hiện một trong các hành vi này đã: - Bị kết án về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự, nhưng chưa được xoá án; - Bị xử lý vi phạm hành vi về một trong các hành vi vi phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự và được cụ thể hoá trong Thông tư liên tịch số 01/1998 và Thông tư này, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; - Được cơ quan tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự về một trong các hành vi vi phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự và được cụ thể hoá trong Thông tư liên tịch số 01/1998 và Thông tư này, nhưng chưa quá thời hạn một năm, kể từ ngày được miễn trách nhiệm hình sự; - Được cơ quan nhà nước (như: Uỷ ban nhân dân hoặc công an từ cấp phường, xã, thị trấn trở lên, cơ quan nơi công tác. . ), tổ chức, đoàn thể (như: tổ dân phố, tổ chức đoàn thanh niên, phụ nữ. . ) cũng như những người có trách nhiệm ở cơ quan nơi công tác hoặc ở địa phương nơi cư trú (như: Thủ trưởng cơ quan, cảnh sát khu vực, đại diện Uỷ ban nhân dân các cấp, Tổ trưởng tổ dân phố. . ) giáo dục, nhưng chưa quá thời hạn một năm, kể từ ngày được giáo dục. Cần chú ý là phải có đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng người thực hiện một trong các hành vi trên đây đã được giáo dục (như: biên bản cuộc họp; bản tự kiểm điểm hoặc bản cam đoan của người vi phạm; có việc triệu tập đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giáo dục; người có trách nhiệm đến tận gia đình giáo dục. . ). Người nào thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, mà còn thực hiện một hay nhiều hành vi tội khác về ma tuý quy định tại các điều luật tương ứng của Bộ Luật hình sự, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185i Bộ Luật hình sự, tuỳ từng trường hợp còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác đã thực hiện quy định tại điều luật tương ứng của Bộ Luật hình sự. - Điểm 2 của Thông tư này thay thế tiết e điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998. 3. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý được quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự là hành vi tự mình hoặc nhờ người khác đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của mình dưới bất kỳ hình thức nào (như: hút, hít, tiêm, chích. . chất ma tuý) nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng chất ma tuý. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 Bộ Luật hình sự khi người sử dụng trái phép chất ma tuý đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. - "Đã được giáo dục nhiều lần" được hiểu là đã được cơ quan nhà nước, tổ chức cũng như những người có trách nhiệm ở địa phương từ hai lần trở lên vận động, thuyết phục, nhắc nhở hoặc xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. - Được coi là đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh, nếu biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 10 và Điều 24 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6 - 7 - 1995) và theo đúng quy định của Quy chế "Về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6 - 7 - 1995" (ban hành kèm theo Nghị định số 20/CP ngày 13 - 4 - 1996 của Chính phủ). Người nào đã bị kết án về tội "sử dụng trái phép chất ma tuý" mà tái phạm, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185 Bộ Luật hình sự. 4. Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185k Bộ Luật hình sự là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma tuý. Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma tuý mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tổ cức sử dụng trái phép chất ma tuý" quy định tại Điều 185i Bộ Luật hình sự. 5. Hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185m Bộ Luật hình sự là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma tuý trái với ý muốn của họ. 6. Hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 185 m Bộ Luật hình sự là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn của người khác sử dụng trái phép chất ma tuý để họ sử dụng trái phép chất ma tuý. 7. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý, cần chú ý một số điểm sau đây: a. Các hành vi sản xuất trái phép, tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép, mua bán trái phép được hiểu tương tự như các hành vi tương ứng được hướng dẫn tại các tiết a, b, c điểm 2 mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 và điểm 1 của Thông tư này. b. Nếu người nào lần đầu sản xuất trái phép tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép, mua trái phép phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý để cho bản thân mình sử dụng trái phép chất ma tuý, thì chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải bị xử lý hành chính; nếu đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185h Bộ Luật hình sự. c. Được coi là "vật phạm pháp có số lượng lớn" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 185h Bộ Luật hình sự, nếu có 5 dụng cụ, phương tiện trở lên (có thể là cùng loại, có thể là khác loại). 8. Cần chú ý về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt như sau: a. Trong các điều luật về tội phạm ma tuý có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm", thì chỉ tính các trường hợp bị xử phạt hành chính kể từ ngày 22 - 5 - 1997 trở đi; b. Phải coi là phạm tội "đối với với nhiều người" trong các điều luật về tội phạm về ma tuý có quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt, nếu trong một lần mà người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với hai người trở lên (như: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong một lần đối với hai người trở lên; trong một lần cưỡng bức, lôi kéo hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý. . ); c. Phải áp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 185d Bộ Luật hình sự trong các trường hợp sau đây: - Mua trái phép chất ma tuý từ hai lần trở lên nhằm bán trái phép cho người khác, không phân biệt bán một lần hoặc bán nhiều lần; - Mua trái phép chất ma tuý một lần và bán lại trái phép số lượng chất ma tuý đó từ hai lần trở lên cho người khác, không phân biệt bán lại từ hai lần trở lên cho một người hoặc cho nhiều người; - Mua trái phép chất ma tuý một lần và bán lại trái phép số lượng chất ma tuý đó trong cùng một lúc cho hai người trở lên. 9. Sửa đổi, bổ sung một số hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/1998 như sau: a. Đoạn 2 tiết a điểm 1 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 được hướng dẫn bổ sung lại như sau: "Cần lưu ý rằng nhựa thuốc phiện bao gồm: nhựa thuốc phiện lấy từ cây thuốc phiện, nhựa thuốc phiện đã được cô đặc thành dạng keo, dạng bi. . Đối với dung dịch thuốc phiện để tiêm, chích thì không coi là chất ma tuý ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện. Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà cần phải xác định hàm lượng thuốc phiện trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện". b. Hướng dẫn tại dấu (+) thứ hai của dấu (*) thứ hai tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998 được sửa đổi, bổ sung như sau: "Người nào đã bị kết án về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ Luật hình sự, nhưng chưa được xoá án mà lại tàng trữ trái phép hoặc vận chuyển trái phép một trong các chất ma tuý được hướng dẫn trên đây (được hướng dẫn tại dấu (*) thứ nhất tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998) nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 185c hoặc khoản 1 Điều 185d tương ứng; nếu thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185c hoặc khoản 2 Điều 185d tương ứng. Cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 185c hoặc khoản 1 Điều 185d tương ứng người nào tàng trữ trái phép hoặc vận chuyển trái phép từ hai chất ma tuý trở lên và mỗi chất ma tuý có trọng lượng được hướng dẫn trên đây (được hướng dẫn tại dấu (*) thứ nhất tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998)". 10. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1998. - Các hướng dẫn trong Thông tư này, nếu làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với văn bản hướng dẫn trước đây, thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước khi Thông tư này có hiệu lực. - Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo các văn bản hướng dẫn trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật, thì không áp dụng các hướng dẫn trong Thông tư này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. - Đối với trường hợp đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà được áp dụng các hướng dẫn trong Thông tư này để tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cần giải thích cho họ rõ rằng trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự này không phải là cơ sở của việc đòi bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu thấy có vướng mắc, thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án báo cáo ngay cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an để có hướng dẫn kịp thời.
Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH1O ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Quốc hội
02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA
05/07/2000
Thông tư liên tịch
20/07/2000
Công báo điện tử;
null
Toà án nhân dân tối cao
Chánh án
Trịnh Hồng Dương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Quốc hội ______________________ Ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Để thi hành đúng các quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 "Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian" và các quy định tại Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội về việc áp dụng Bộ luật Hình sự kể từ ngày 01-7-2000, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây: 1. Khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện". Việc thi hành khoản 1 này đã được quy định tại điểm a Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội; cụ thể là: "tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000". 2. Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễm hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành"; cụ thể là theo điểm c Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, thì các quy định này "không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản pháp luật hình sự trước đây để giải quyết". Khi thi hành các quy định này cần chú ý một số điểm sau đây: a- Được coi là tội phạm mới nếu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 thì hành vi đó không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cụ thể khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a.1. Hành vi chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng nay đã được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ: Hành vi sử dụng lao động trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng này đã được quy định thành tội "Vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em" tại Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999; do đó, nếu hành vi này được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 thì người thực hiện hành vi đó không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi này được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội "Vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em". a.2. Hành vi chưa được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 về một tội cụ thể, nay mới được bổ sung vào điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội cụ thể đó. Ví dụ: Hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân chưa được quy định trong Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay đã được quy định bổ sung vào Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1999; do đó, hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân nếu được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 thì người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi đó được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội "Xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân". * Cần chú ý rằng không coi là tội phạm mới, nếu hành vi vi phạm chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy người thực hiện hành vi này vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm nình sự theo Bộ luật này, mặc dù nay mới được Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể (thường là các trường hợp tách tội hoặc cụ thể hoá một tội trong Bộ luật Hình sự năm 1985 thành nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 1999). Ví dụ: Hành vi đua xe trái phép chưa được quy định thành tội "Đua xe trái phép" trong Bộ luật Hình sự năm 1985, nay mới được quy định thành tội "Đua xe trái phép" (Điều 207) trong Bộ luật Hình sự năm 1999, song căn cứ vào quy định tại Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1985, thì người đua xe trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng". b- "Hình phạt nặng hơn" mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định so với điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau: b.1. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt nặng hơn so với loại hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt "tù chung thân" là loại hình phạt nặng hơn hình phạt tù có thời hạn (Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ quy định hình phạt tù có thời hạn với mức cao nhất là 20 năm tù); do đó, đối với tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác", thì điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn; cho nêu đối với người phạm tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985. b.2. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 cao hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Xâm phạm quyền tác giả" thì Điều 131 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 131 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 3 (ba) năm tù, còn trong Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 1 (một) năm tù, do đó, đối với người phạm tội "xâm phạm quyền tác giả" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985. b.3. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 cao hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Hành nghề mê tín, dị đoan" thì Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn và mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều 10 (mười) năm tù), nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 6 (sáu) tháng tù, còn của khoản 1 Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 3 (ba) tháng tù; do đó, đối với người phạm tội "Hành nghề mê tín, dị đoan" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985. b.4. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mức tối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn để Toà án có thể lựa chọn, nay trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt chính nhẹ hơn này. Ví dụ: Về tội "Tàng chữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý", thì Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 185g Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù chung thân, tù có thời hạn từ một năm đến 20 năm, nhưng trong Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nhẹ hơn mà trong Điều 185g Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định; đó là hình phạt tiền. b.5. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 ngoài việc quy định các loại hình phạt chính và mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, còn quy định thêm hình phạt bổ sung. Ví dụ: Về tội "Vu khống", thì Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 1985 bởi vì tuy trong cả hai điều luật này đều quy định các loại hình phạt chính là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn như nhau và các mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất cũng như các mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất bằng nhau (mức tối đa đều là 7 năm tù và mức tối thiểu là hình phạt cảnh cáo), nhưng Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn quy định thêm hình phạt bổ sung: "có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm"; do đó, đối với người phạm tội "Vu khống" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 1985. b.6. Đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được tách ra từ một khoản của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, thì hình phạt nặng hơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm được quy định trong khoản tương ứng của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 theo hướng dẫn tại các điểm b1, b2, b3, b4 và b5 trên đây. Ví dụ: Đối với tội "giết con mới đẻ", thì việc xác định hình phạt nặng hơn hay nhẹ hơn bằng cách so sánh Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 với khoản 4 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 1985. b.7. Trong trường hợp theo cách xác định được hướng dẫn tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 trên đây thì thấy hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là nặng hơn so với hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định, nhưng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 lại có "quy định khác có lợi" cho người phạm tội, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, nhưng cũng phải áp dụng tinh thần "quy định khác có lợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Ví dụ: Về tội "Bức tử", thì Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất và mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 12 năm tù và 2 năm tù, còn trong Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 7 năm tù và 1 năm tù. Tuy nhiên, Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định hình phạt bổ sung: có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ 2 năm đến 5 năm", còn Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt bổ sung này; do đó, đối với người phạm tội "Bức tử" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứ trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng cần áp dụng tinh thần quy định tại Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 là cho dù trong bất kỳ trường hợp nào cũng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. c- "Tình tiết tăng nặng mới" là tình tiết chưa được quy định tại Điều 39 hoặc chưa được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay đã được quy định tại Điều 48 hoặc đã được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Như vậy cần chú ý là không được áp dụng tình tiết tăng nặng mới này đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. d- "Quy định khác không có lợi cho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, xoá án tích hoặc gây bất lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 1: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội so với quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ phải bảo đảm hình phạt chung không được vượt quá hai năm và việc tổng hợp hình phạt tù có thời hạn phải bảo đảm hình phạt chung không được vượt quá hai mươi năm; nay theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn; do đó, đối với người phạm nhiều tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợp hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn thì vẫn áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 2: Quy định về phạt tiền tại Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội vì mới được bổ sung vào Bộ luật này; do đó, đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù có thu nhập hoặc có tài sản riêng, nếu sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử, thì Toà án không được áp dụng hình phạt tiền. 3. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành". a- Về quy định "điều luật xoá bỏ một tội phạm" có nghĩa là hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm, thì theo quy định tại Mục 3 Nghị định số 32 của Quốc hội được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 được công bố (ngày 4-1-2000) và đã được hướng dẫn tại Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 12 tháng 6 năm 2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28-1-2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội". b- "Xoá bỏ một hình phạt" là hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 nay không được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 cụ thể là hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật quân đội" (hình phạt chính) và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" (hình phạt bổ sung). Như vậy, cần chú ý là Toà án không được áp dụng hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội" là hình phạt chính và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" là hình phạt bổ sung đối với quân nhân thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử. Trong trường hợp này, nếu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể áp dụng hình phạt "Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội", thì nay cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 1985 (hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 1985 nhẹ hơn so với quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999). c- "Xoá bỏ một tình tiết tăng nặng" là tình tiết đã được quy định tại Điều 39 hoặc đã được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay không được quy định tại Điều 48 hoặc không được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ: Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 (hoặc khoản 3) điều này" được quy định trong một số điều luật (Điều 185b, Điều 185c....) của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay không được quy định trong bất kỳ một điều luật nào của Bộ luật Hình sự năm 1999; vì vậy, kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 không được áp dụng tình tiết này trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. d- Hình phạt nhẹ hơn mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định so với điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau: d1. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Đối với tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới thì Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình và hình phạt chung thân mà Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định hai loại hình phạt này; do đó, đối với người phạm tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999. d2. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 thấp hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Đầu cơ", thì Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 15 (mười lăm) năm tù, còn trong Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985 là tù chung thân; do đó đối với người nào phạm tội đầu cơ trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999. d3. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 mà mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Buôn lậu", thì Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều tử hình), nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 153 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là phạt tiền 10 triệu đồng hoặc phạt tù 6 (sáu) tháng, còn của khoản 1 Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985 là phạt tù 2 (hai) năm; do đó, đối với người phạm tội buôn lậu trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999. d4. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mức tối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn để Toà án có thể lựa chọn, nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 không quy định loại hình phạt chính nhẹ hơn này. d5. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định các loại hình phạt chính, mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và đã bỏ hình phạt bổ sung mà trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định. d6. Đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được tách ra từ một khoản của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, thì hình phạt nhẹ hơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm được quy định trong khoản tương ứng của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 theo hướng dẫn tại các điểm d1, d2, d3, d4 và d5 trên đây. d7. Trong trường hợp theo cách xác định được hướng dẫn tại các điểm, từ điểm d1 đến điểm d6 trên đây cho thấy hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là nhẹ hơn so với hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định, nhưng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 lại có "quy định khác không có lợi" cho người phạm tội, thì tuy áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, nhưng không được áp dụng "quy định khác không có lợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong trường hợp này vẫn áp dụng theo tinh thần quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985 có lợi hơn cho người phạm tội. đ- "Quy định khác có lợi cho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích hoặc có lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 1: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có lợi cho người phạm tội so với quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì khi tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù có thời hạn, thì chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù để quyết định hình phạt chung. Cứ một ngày cải tạo không giam giữ thành một ngày tù. Nay theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì việc chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp hình phạt chung; do dó, đối với người phạm nhiều tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7- 2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù có thời hạn được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ 2: Quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung trong một số điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có lợi hơn cho người phạm tội so với quy định việc áp dụng hình phạt bổ sung là bắt buộc trong một số điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. 4. Đối với những tội phạm đã được quy định trong một điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay theo cách so sánh tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 Mục 2 và tại các điểm từ d1 đến điểm d6 Mục 3 Thông tư này mà vẫn giữ nguyên trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999, thì áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần chú ý là nếu so sánh mức hình phạt trong các khung hình phạt tăng nặng tương ứng cho thấy điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt tối thiểu cao hơn hoặc mức hình phạt tối đa cao hơn, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, nhưng chỉ được xử phạt họ với mức hình phạt trong khung hình phạt tăng nặng tương ứng mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định. 5. Trong trường hợp một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội nào đó với nhiều hành vi trong đó có hành vi được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, có hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn, thì vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng khi quyết định hình phạt cần cân nhắc số lượng và tính chất của các hành vi được thực hiện trước cũng như các hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 để quyết định một mức hình phạt cho thoả đáng đối với tất cả các hành vi đó. 6. Trong trường hợp một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội, trong đó có tội được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, có tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo các hướng dẫn tại các mục 1, 2, 3, 4 và 5 Thông tư này và việc tổng hợp hình phạt được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999; tuy nhiên cần chú ý: a- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi trên hai năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai năm. b- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là hình phạt tù, mà cộng các hình phạt đã tuyên đối các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi trên hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm. c- Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999) trên hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm. 7. Đối với những hành vi phạm tội được thực hiện và bị xét xử trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 có nội dung khác so với các điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999, tại các điểm b và c Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các hướng dẫn tại Thông tư này. 8. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn thi hành quy định của các văn bản pháp luật hình sự trước đây về hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=6075&Keyword=
2025-09-24T02:38:12.149897
../data\bocongan\022000TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Quốc hội ______________________ Ngày 21 - 12 - 1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Để thi hành đúng các quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 "Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian" và các quy định tại Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội về việc áp dụng Bộ luật Hình sự kể từ ngày 01 - 7 - 2000, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây: 1. Khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện". Việc thi hành khoản 1 này đã được quy định tại điểm a Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội; cụ thể là: "tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000". 2. Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễm hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành"; cụ thể là theo điểm c Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, thì các quy định này "không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản pháp luật hình sự trước đây để giải quyết". Khi thi hành các quy định này cần chú ý một số điểm sau đây: a - Được coi là tội phạm mới nếu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 thì hành vi đó không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cụ thể khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. 1. Hành vi chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng nay đã được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ: Hành vi sử dụng lao động trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng này đã được quy định thành tội "Vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em" tại Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999; do đó, nếu hành vi này được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 thì người thực hiện hành vi đó không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi này được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội "Vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em". a. 2. Hành vi chưa được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 về một tội cụ thể, nay mới được bổ sung vào điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội cụ thể đó. Ví dụ: Hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân chưa được quy định trong Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay đã được quy định bổ sung vào Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1999; do đó, hành vi xâm phạm quyền ứng cử của công dân nếu được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 thì người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi đó được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội "Xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân". * Cần chú ý rằng không coi là tội phạm mới, nếu hành vi vi phạm chưa được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy người thực hiện hành vi này vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm nình sự theo Bộ luật này, mặc dù nay mới được Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể (thường là các trường hợp tách tội hoặc cụ thể hoá một tội trong Bộ luật Hình sự năm 1985 thành nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 1999). Ví dụ: Hành vi đua xe trái phép chưa được quy định thành tội "Đua xe trái phép" trong Bộ luật Hình sự năm 1985, nay mới được quy định thành tội "Đua xe trái phép" (Điều 207) trong Bộ luật Hình sự năm 1999, song căn cứ vào quy định tại Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1985, thì người đua xe trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng". b - "Hình phạt nặng hơn" mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định so với điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau: b. 1. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt nặng hơn so với loại hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt "tù chung thân" là loại hình phạt nặng hơn hình phạt tù có thời hạn (Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ quy định hình phạt tù có thời hạn với mức cao nhất là 20 năm tù); do đó, đối với tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác", thì điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn; cho nêu đối với người phạm tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác" trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985. b. 2. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 cao hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Xâm phạm quyền tác giả" thì Điều 131 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 131 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 3 (ba) năm tù, còn trong Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 1 (một) năm tù, do đó, đối với người phạm tội "xâm phạm quyền tác giả" trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1985. b. 3. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 cao hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Hành nghề mê tín, dị đoan" thì Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn và mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều 10 (mười) năm tù), nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 6 (sáu) tháng tù, còn của khoản 1 Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 3 (ba) tháng tù; do đó, đối với người phạm tội "Hành nghề mê tín, dị đoan" trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1985. b. 4. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mức tối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn để Toà án có thể lựa chọn, nay trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt chính nhẹ hơn này. Ví dụ: Về tội "Tàng chữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý", thì Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 185g Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù chung thân, tù có thời hạn từ một năm đến 20 năm, nhưng trong Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nhẹ hơn mà trong Điều 185g Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định; đó là hình phạt tiền. b. 5. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 ngoài việc quy định các loại hình phạt chính và mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, còn quy định thêm hình phạt bổ sung. Ví dụ: Về tội "Vu khống", thì Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 1985 bởi vì tuy trong cả hai điều luật này đều quy định các loại hình phạt chính là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn như nhau và các mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất cũng như các mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất bằng nhau (mức tối đa đều là 7 năm tù và mức tối thiểu là hình phạt cảnh cáo), nhưng Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn quy định thêm hình phạt bổ sung: "có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm"; do đó, đối với người phạm tội "Vu khống" trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 1985. b. 6. Đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được tách ra từ một khoản của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, thì hình phạt nặng hơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm được quy định trong khoản tương ứng của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 theo hướng dẫn tại các điểm b1, b2, b3, b4 và b5 trên đây. Ví dụ: Đối với tội "giết con mới đẻ", thì việc xác định hình phạt nặng hơn hay nhẹ hơn bằng cách so sánh Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 với khoản 4 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 1985. b. 7. Trong trường hợp theo cách xác định được hướng dẫn tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 trên đây thì thấy hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là nặng hơn so với hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định, nhưng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 lại có "quy định khác có lợi" cho người phạm tội, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, nhưng cũng phải áp dụng tinh thần "quy định khác có lợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Ví dụ: Về tội "Bức tử", thì Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất và mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 12 năm tù và 2 năm tù, còn trong Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985 là 7 năm tù và 1 năm tù. Tuy nhiên, Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định hình phạt bổ sung: có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ 2 năm đến 5 năm", còn Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt bổ sung này; do đó, đối với người phạm tội "Bức tử" trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứ trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng cần áp dụng tinh thần quy định tại Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 1999 là cho dù trong bất kỳ trường hợp nào cũng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. c - "Tình tiết tăng nặng mới" là tình tiết chưa được quy định tại Điều 39 hoặc chưa được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay đã được quy định tại Điều 48 hoặc đã được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Như vậy cần chú ý là không được áp dụng tình tiết tăng nặng mới này đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. d - "Quy định khác không có lợi cho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, xoá án tích hoặc gây bất lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 1: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội so với quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ phải bảo đảm hình phạt chung không được vượt quá hai năm và việc tổng hợp hình phạt tù có thời hạn phải bảo đảm hình phạt chung không được vượt quá hai mươi năm; nay theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn; do đó, đối với người phạm nhiều tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợp hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn thì vẫn áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 2: Quy định về phạt tiền tại Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội vì mới được bổ sung vào Bộ luật này; do đó, đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù có thu nhập hoặc có tài sản riêng, nếu sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị xét xử, thì Toà án không được áp dụng hình phạt tiền. 3. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành". a - Về quy định "điều luật xoá bỏ một tội phạm" có nghĩa là hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm, thì theo quy định tại Mục 3 Nghị định số 32 của Quốc hội được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 được công bố (ngày 4 - 1 - 2000) và đã được hướng dẫn tại Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP - BCA ngày 12 tháng 6 năm 2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 - 12 - 1999 của Quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ - UBTVQH10 ngày 28 - 1 - 2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội". b - "Xoá bỏ một hình phạt" là hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 nay không được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 cụ thể là hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật quân đội" (hình phạt chính) và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" (hình phạt bổ sung). Như vậy, cần chú ý là Toà án không được áp dụng hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội" là hình phạt chính và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" là hình phạt bổ sung đối với quân nhân thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mới bị xét xử. Trong trường hợp này, nếu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể áp dụng hình phạt "Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội", thì nay cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 1985 (hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 1985 nhẹ hơn so với quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999). c - "Xoá bỏ một tình tiết tăng nặng" là tình tiết đã được quy định tại Điều 39 hoặc đã được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay không được quy định tại Điều 48 hoặc không được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ: Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 (hoặc khoản 3) điều này" được quy định trong một số điều luật (Điều 185b, Điều 185c. . .) của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay không được quy định trong bất kỳ một điều luật nào của Bộ luật Hình sự năm 1999; vì vậy, kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 không được áp dụng tình tiết này trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. d - Hình phạt nhẹ hơn mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định so với điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau: d1. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Đối với tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới thì Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình và hình phạt chung thân mà Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định hai loại hình phạt này; do đó, đối với người phạm tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999. d2. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 thấp hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Đầu cơ", thì Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 15 (mười lăm) năm tù, còn trong Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985 là tù chung thân; do đó đối với người nào phạm tội đầu cơ trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 1999. d3. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 mà mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ: Về tội "Buôn lậu", thì Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều tử hình), nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 153 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là phạt tiền 10 triệu đồng hoặc phạt tù 6 (sáu) tháng, còn của khoản 1 Điều 97 Bộ luật Hình sự năm 1985 là phạt tù 2 (hai) năm; do đó, đối với người phạm tội buôn lậu trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1 - 7 - 2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999. d4. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mức tối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn để Toà án có thể lựa chọn, nhưng trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 không quy định loại hình phạt chính nhẹ hơn này. d5. Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định các loại hình phạt chính, mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 và đã bỏ hình phạt bổ sung mà trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 có quy định. d6. Đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được tách ra từ một khoản của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, thì hình phạt nhẹ hơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối với tội phạm được quy định trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm được quy định trong khoản tương ứng của điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 theo hướng dẫn tại các điểm d1, d2, d3, d4 và d5 trên đây. d7. Trong trường hợp theo cách xác định được hướng dẫn tại các điểm, từ điểm d1 đến điểm d6 trên đây cho thấy hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là nhẹ hơn so với hình phạt mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định, nhưng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 lại có "quy định khác không có lợi" cho người phạm tội, thì tuy áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, nhưng không được áp dụng "quy định khác không có lợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong trường hợp này vẫn áp dụng theo tinh thần quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985 có lợi hơn cho người phạm tội. đ - "Quy định khác có lợi cho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích hoặc có lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985. Ví dụ 1: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có lợi cho người phạm tội so với quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 1985, bởi vì theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì khi tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù có thời hạn, thì chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù để quyết định hình phạt chung. Cứ một ngày cải tạo không giam giữ thành một ngày tù. Nay theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì việc chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp hình phạt chung; do dó, đối với người phạm nhiều tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1 - 7 - 2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù có thời hạn được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ví dụ 2: Quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung trong một số điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có lợi hơn cho người phạm tội so với quy định việc áp dụng hình phạt bổ sung là bắt buộc trong một số điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985. 4. Đối với những tội phạm đã được quy định trong một điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, nay theo cách so sánh tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 Mục 2 và tại các điểm từ d1 đến điểm d6 Mục 3 Thông tư này mà vẫn giữ nguyên trong điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999, thì áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần chú ý là nếu so sánh mức hình phạt trong các khung hình phạt tăng nặng tương ứng cho thấy điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt tối thiểu cao hơn hoặc mức hình phạt tối đa cao hơn, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, nhưng chỉ được xử phạt họ với mức hình phạt trong khung hình phạt tăng nặng tương ứng mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định. 5. Trong trường hợp một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội nào đó với nhiều hành vi trong đó có hành vi được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, có hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, mà điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn, thì vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng khi quyết định hình phạt cần cân nhắc số lượng và tính chất của các hành vi được thực hiện trước cũng như các hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 để quyết định một mức hình phạt cho thoả đáng đối với tất cả các hành vi đó. 6. Trong trường hợp một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội, trong đó có tội được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, có tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo các hướng dẫn tại các mục 1, 2, 3, 4 và 5 Thông tư này và việc tổng hợp hình phạt được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999; tuy nhiên cần chú ý: a - Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi trên hai năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi không quá hai năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai năm. b - Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là hình phạt tù, mà cộng các hình phạt đã tuyên đối các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi trên hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm. c - Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999) trên hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm. 7. Đối với những hành vi phạm tội được thực hiện và bị xét xử trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000 mà bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 có nội dung khác so với các điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước 0 giờ 00 ngày 01 - 7 - 2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999, tại các điểm b và c Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các hướng dẫn tại Thông tư này. 8. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn thi hành quy định của các văn bản pháp luật hình sự trước đây về hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
Của Bộ Công An số 02/2001/TT-BCA ngày 04 tháng 5 năm 2001 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
02/2001/TT-BCA1
04/05/2001
Thông tư
04/05/2001
null
null
Bộ Công an
Đang cập nhật
Lê Thế Tiệm
Trung Ương
THÔNG TƯ Của Bộ Công An số 02/2001/TT-BCA ngày 04 tháng 5 năm 2001 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện __________________________________ Thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22/02/2001 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện như sau: I. PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH: 1. Phạm vi áp dụng: Điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP của Chính phủ được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các thành phần kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị thành viên, các chi nhánh của doanh nghiệp, các đại lý, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể, các cơ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, lực lượng vũ trang (sau đây gọi chung là cơ sở) hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Nhóm ngành, nghề kinh doanh phải cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP của Chính phủ bao gồm: 2.1. Nghề khắc dấu gồm các hoạt động sản xuất con dấu cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quàn chúng, tổ chức kinh tế đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chức danh nhà nước; dấu tiêu đề, chữ ký dấu ngày tháng năm, dấu tiếp nhận công văn và các loại con dấu khác. Các con dấu trên có thể được sản xuất bằng nguyên liệu kim loại. chất dẻo, gỗ hoặc nguyên liệu khác theo các phương pháp thủ công, cóng nghiệp hoặc phương pháp khác. 2.2. Nghề sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn, sản xuất và kinh doanh đạn súng săn (bao gồm cả súng hơi và đạn súng hơi). 2.3. Nghề sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ, bao gồm: Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu và lắp ráp các loại công cụ hỗ trợ quy định tại Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ và Thông tư số 05/TT-BNV ngày 28/9/1996 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. 2.4. Nghề sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất, tái chế, mua bán, cung ứng, xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc nổ công nghiệp và phụ kiện nổ công nghiệp. 2.5. Nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp là các ngành, nghề mà trong quá trình sản xuất, kinh doanh có sử dụng đến thuốc nổ công nghiệp, phụ kiện nổ công nghiệp (trừ các đơn vị Quân đội, Công an sử dụng đến vật liệu nổ công nghiệp phục vụ chiến đấu, phòng chống tội phạm và các viện nghiên cứu, trung tâm khoa học của nhà nước dùng để nghiên cứu khoa học). 2.6. Nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy, bao gồm: các hoạt động kinh doanh gas, xăng, dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác. 2.7. Kinh doanh các toà nhà cao từ 11 tầng trở lên (kể cả tầng trệt) dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc. 3. Nhóm ngành, nghề phải làm cam kết thực hiện các điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP. 3 . 1. Kinh doanh lưu trú bao gồm kinh doanh khách sạn, biệt thự, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà của tổ chức, cá nhân cao từ 10 tầng trở xuống cho người Việt Nam thuê để ở; người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê để ở hoặc làm văn phòng dài hạn hoặc ngắn hạn. 3.2. Hoạt động in, bao gồm: In ofset, ti pô, laze, in lõm (ống đồng), chế bản, phân mầu, flexô, lưới (lụa), in phun, photocopy, đóng xén sản phẩm in nhằm mục đích sinh lợi. 3.3. Dịch vụ cầm đồ là các hoạt động kinh doanh cho vay tiền, vay tài sản có giá trị bằng tiền với điều kiện người vay phải có tài sản cầm cố. 3.4. Kinh doanh karaoke là hình thức kinh doanh các hoạt động ca hát theo băng hình, đĩa hình. 3.5. Kinh doanh vũ trường là hình thức kinh doanh các hoạt động khiêu vũ. 3.6. Kinh doanh xoa bóp (massage) là kinh doanh các hoạt động vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng và sức khoẻ con người (trừ các cơ sở thuộc bệnh viện nhằm phục hồi chức năng, sức khoẻ bệnh nhân không vì mục đích kinh doanh; các câu lạc bộ thẩm mỹ, thể hình). II. ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ 1. Điều kiện của chủ thể kinh doanh: Đối với người đứng đầu cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, xã hội, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc đơn vị thành viên, Trưởng chi nhánh của doanh nghiệp, Trưởng đại lý, chủ nhiệm hợp tác xã, tổ hợp tác và chủ hộ kinh doanh cá thể) trong bản khai lý lịch phải khai đủ, khai đúng, không che dấu, không khai man và phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp phường hoặc cơ quan quản lý trực tiếp và không thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1.1. Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. 1.2. Người bị khởi tố hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng đang điều tra, truy tố, xét xử. 1.3. Người đang bị toà án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề có liên quan đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; cấm cư trú, người đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, đang bị quản chế hoặc đang chấp hành một trong các biện pháp xử lý hành chính khác: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính. 1.4. Người có tiền án mà chưa được xoá án tích về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng là những tội có hình phạt từ 15 năm tù trở lên quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự - 1999, hoặc các tội khác có liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà người đó đang xin kinh doanh như các tội: Chứa chấp, môi giới mại dâm; buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ trái phép; tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội lừa dối khách hàng, cho vay nặng lãi, chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. 2. Điều kiện về cơ sở kinh doanh. 2.1. Phải đảm bảo các điều kiện quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, phòng nổ, phòng độc và vệ sinh môi trường; đảm bảo về điều kiện trật tự an toàn công cộng như không tranh chấp, khiếu kiện, không nằm trong khu vực phải giải toả, đất lấn chiếm... 2.2. Ngoài điều kiện tại điểm 2.1 nêu trên các cơ sở sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ; sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, gia công pháo hoa phải không nằm trong khu vực và địa điểm cấm theo quy định tại Quyết định số 128/TTg ngày 01/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ hoặc khu vực công trình quốc phòng và khu vực quân sự loại 1, loại 2 quy định trong Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 04/CP ngày 16/01/1995 của Chính phủ. III. THỦ TỤC CẤP GIẤY XÁC NHẬN ĐỦ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ HOẶC CAM KẾT THỰC HIỆN ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ 1. Đối với nhóm ngành, nghề quy định tại khoản 1 Điều 2, hồ sơ đề nghị cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" gồm : 1.1. Đơn đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (mẫu ĐD1). 1.2. Bản sao (Có công chứng, hoặc chứng thực, hoặc chứng nhận của cơ quan nhà nước theo quy định) "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh", hoặc "Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động", hoặc "Giấy phép đầu tư" của cơ sở. 1.3. Bản khai lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn hoặc cơ quan quản lý trực tiếp của người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở (Mẫu ĐD2). Trường hợp người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có Bản khai nhân sự (Mẫu ĐD2B), bản sao Hộ chiếu, Phiếu nhập cảnh, xuất cảnh (khi nộp bản sao phải xuất trình bản chính để kiểm tra). 1.4. Danh sách người làm trong cơ sở hoặc bộ phận ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của cơ sở (Mẫu ĐD3). 1.5. Sơ đồ khu vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở (sơ đồ phòng nghỉ, khu vực sản xuất, kho chứa nguyên vật liệu và khu vực liên quan). 1.6. "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy" (mẫu ĐD6) đối với ngành, nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy, toà nhà cao từ 11 tầng trở lên dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc. "Biên bản kiểm tra xác nhận điều kiện về phòng cháy chữa cháy" đối với những ngành, nghề còn lại tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP. Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan Công an có thẩm quyền phải giải quyết việc cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" (Mẫu ĐD5 ) cho tổ chức, cá nhân đề nghị. Trường hợp không đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cơ quan Công an phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho tổ chức, cá nhân xin kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh biết. 2. Đối với nhóm ngành, nghề tại khoản 2 Điều 2 khi nộp "Bản cam kết thực hiện các quy định điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện" (Mẫu ĐD4) phải kèm theo các loại giấy tờ sau: 2.1. Bản sao (có công chứng, hoặc chứng thực, hoặc chứng nhận của cơ quan nhà nước theo quy định ), "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh", hoặc "Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động", hoặc "Giấy phép đầu tư" của cơ sở (trừ trường hợp hộ gia đình có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh). 2.2. Bản khai lý lịch người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở (Mẫu ĐD2) hoặc bản khai nhân sự (Mẫu ĐD2B). 2.3. Danh sách người làm trong cơ sở hoặc bộ phận ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của cơ sở. 2.4. Biên bản kiểm tra xác nhận điều kiện về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy có thẩm quyền. 2.5. Sơ đồ khu vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở (sơ đồ phòng nghỉ, khu vực sản xuất, kho chứa nguyên vật liệu và khu vực có liên quan phải có cửa ra vào, lối thoát nạn...). Khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan Công an phải ký xác nhận vào bản cam kết cho tổ chức, cá nhân đề nghị. 3. Tổ chức, cá nhân được cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính. 4. Tổ chức, cá nhân đã được cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" theo Nghị định số 17/CP ngày 23/12/1992 của Chính phủ nếu có đủ các điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP thì vẫn được tiếp tục hoạt động kinh doanh. "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" đối với các ngành, nghề thuộc khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP có giá trị như "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự", nên không phải đổi lại; đối với các ngành, nghề thuộc khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP trước đây đã được cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" nay được đổi lại bằng bản cam kết" mà không phải nộp thêm hồ sơ. Nếu không đủ các điều kiện theo Nghị định số 08/2001/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này thì phải bổ sung theo quy định. IV. TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LÀM NGÀNH, NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN: Tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sau khi được cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp "Bản cam kết thực hiện các quy định, điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành nghề kinh doanh có điều kiện" phải chấp hành đầy đủ các quy định sau: 1. Phải thông báo bằng văn bản cho Công an xã; phường, thị trấn nơi cơ sở sản xuất, kinh doanh ít nhất là 03 ngày trước khi chính thức hoạt động. 2. Định kỳ hàng tháng phải báo cáo tình hình chấp hành các điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở (Mẫu ĐD12) cho cơ quan Công an đã cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc cơ quan Công an nơi đã nộp bản cam kết. Trường hợp đột xuất có những vụ, việc nghiêm trọng hoặc nghi vấn có liên quan đến an ninh, trật tự thì phải báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất để giải quyết, đồng thời báo cho cơ quan Công an nơi cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp Bản cam kết biết. 3. Không được chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác. 4. Có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Công an thực hiện công tác, hướng dẫn, kiểm tra về an ninh, trật tự. 5. Chấp hành việc hướng dẫn và kiểm tra về an ninh, trật tự của cơ quan Công an có thẩm quyền. 6. Khi có thay đổi địa điểm, quy mô, người đứng đầu cơ sở kinh doanh, trong thời gian 10 ngày phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Công an nơi đã cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp Bản cam kết biết. 7. Có phương án bảo vệ an ninh, trật tự, chữa cháy, cứu người, tài sản khi có các sự cố xảy ra. 8. Ngoài các quy định chung tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6,7 phần này, từng ngành, nghề cụ thể phải thực hiện các quy định về an ninh, trật tự sau đây: 8.1. Nghề khắc dấu: Phải có sổ quản lý khắc dấu (Mẫu ĐD8) và ghi đầy đủ các cột mục quy định. - Việc khắc dấu tròn, dấu chữ nhật của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, chức danh nhà nước, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam chỉ được thực hiện khi có Giấy phép khắc dấu của Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh hoặc Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an. - Việc khắc dấu tiêu đề, nhật ấn, chữ ký và các loại dấu khác phải có Giấy giới thiệu và Chứng minh nhân dân (nếu là cơ quan) hoặc Chứng minh nhân dân của người đến liên hệ (nếu là cá nhân). Chỉ được khắc các loại con dấu tại cơ sở sản xuất đã đăng ký. Khi khắc xong con dấu phải giao lại cho cơ quan Công an nơi cấp Giấy phép khắc dấu (trừ trường hợp dấu tiêu đề, nhật ấn, chữ ký). Phải có nơi bảo quản dấu thành phẩm, không được để mất, hư hỏng. 8.2. Nghề sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn; sản xuất, kinh doanh đạn súng săn; sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ. - Có sổ quản lý, kinh doanh súng săn, đạn súng săn, cho thuê súng săn, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ công nghiệp (mẫu ĐD9) và phải ghi đầy đủ các cột mục trong sổ. - Không được sử dụng súng hoặc bộ phận của súng quân dụng, súng thể thao để sửa chữa thành súng săn. - Không được sử dụng vật liệu nổ, đạn và thuốc đạn quân dụng, thể thao để sản xuất đạn súng săn. - Chỉ được bán súng săn, đạn súng săn, công cụ hỗ trợ cho người có Giấy phép mua súng săn, đạn súng săn; Giấy phép mua công cụ hỗ trợ của Công an cấp tỉnh hoặc của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an. - Chỉ được sửa chữa súng săn cho những người có Giấy giới thiệu của cơ quan Công an nơi cấp giấy phép sử dụng. - Chỉ cho thuê súng săn đối với những người có giấy phép sử dụng súng săn và những khẩu súng săn đã có giấy phép sử dụng. - Phải có nơi bảo quản an toàn súng săn, đạn súng săn, công cụ hỗ trợ, không để mất hoặc lợi dụng hoạt động phi pháp. 8.3. Nghề sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp và những nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp: - Có sổ quản lý (Mẫu ĐD9) và ghi đầy đủ cột mục quy định. - Có nội quy quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn và sơ đồ chỉ dẫn về phòng cháy chữa cháy. - Trong sản xuất, kinh doanh, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp phải thực hiện đúng quy trình thao tác kỹ thuật. - Không được để các chất dễ cháy, dễ nổ lẫn với chất gây cháy, gây nổ; thuốc nổ và phụ kiện nổ trong cùng một kho (theo đúng quy định tiêu chuẩn Việt Nam). - Chỉ được bán vật liệu nổ công nghiệp cho các đơn vị đã được cấp Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. - Không được để mất, thất thoát vật liệu nổ công nghiệp. - Không được mua vật liệu nổ công nghiệp của tổ chức, cá nhân không được phép sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp. 8.4. Kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy: - Các chất lỏng, khí đốt phải được chứa đựng trong các phương tiện chuyên dùng. - Có quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn và sơ đồ chỉ dẫn về phòng cháy chữa cháy. - Trong quá trình kinh doanh phải thực hiện đúng quy định thao tác kỹ thuật. Không để các chất dễ cháy gần hoặc lẫn với nơi để khí đốt và chất lỏng dễ cháy. 8.5. Nghề cho thuê lưu trú: - Có sổ đăng ký khách tạm trú (mẫu ĐD7) và phải ghi đầy đủ Các Cột mục trong sổ. - Có nội quy bảo vệ của cơ sở niêm yết nơi dễ thấy, nội quy hướng dẫn khách hàng. - Có người thường trực tiếp nhận hướng dẫn khách nghỉ. - Thực hiện việc vào sổ trước khi khách vào phòng nghỉ và trình báo tạm trú với cơ quan Công an phường, xã, thị trấn sở tại trước 23 giờ trong ngày; sau 23 giờ nếu có khách vẫn phải vào sổ và trình báo vào hôm sau (kể cả khách nghỉ theo giờ). - Trường hợp khách mang theo vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ phải yêu cầu khách xuất trình giấy phép sử dụng và phải gửi cơ sở cất giữ. - Khách đến nghỉ phải có Giấy chứng minh nhân dân, hoặc giấy tờ tuỳ thân khác có dán ảnh, đóng dấu nổi hoặc dấu giáp lai (đối với người Việt Nam); Hộ chiếu, Giấy thông hành xuất nhập cảnh (đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài). - Phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng (trừ trường hợp là gia đình, vợ chồng). - Nghiêm cấm việc lợi dụng cơ sở để làm nơi sử dụng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển ma tuý; đánh bạc; chứa chấp, môi giới mại dâm; chứa chấp tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 8.6. Hoạt động in. - Có sổ quản lý hoạt động in (mẫu ĐD10) (trừ photocopy đen trắng). - Chỉ được nhận in, nhân bản những ấn phạm, xuất bản phẩm khi có đủ thủ tục theo quy định của pháp luật. 8.7. Dịch vụ cầm đồ: - Phải có sổ quản lý dịch vụ cầm đồ (mẫu ĐD11) và ghi đầy đủ các cột mục trong sổ. - Không được chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác. - Phải có hợp đồng cầm đồ đúng quy định. - Những tài sản có giấy tờ sở hữu, hoặc đăng ký như xe Ô tô, xe mô tô... phải xuất trình giấy tờ sở hữu, hoặc đăng ký và ghi đầy đủ vào sổ. - Phải có nơi bảo quản an toàn tài sản cầm cố. - Ngoài ra phải thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số l 3/1999/TT-BTM ngày 19/5/1999 của Bộ Thương mại "Hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ ". 8.8. Kinh doanh karaoke. - Phải có diện tích phòng, ánh sáng, âm lượng không ánh hưởng đến sự yên tĩnh chung theo đúng quy định tại Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995 "Về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng". - Cửa phòng phải có kính phía ngoài có thể quan sát vào được. - Sử dụng các bài hát không bị các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm. - Không được lợi dụng địa điểm để làm nơi tổ chức, môi giới, dẫn dắt hoạt động mại dâm, ma tuý, cờ bạc và các hoạt động trái pháp luật khác. 8.9. Kinh doanh vũ trường. - Phải có diện tích, ánh sáng, âm lượng theo đúng quy định và không ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung và theo đúng quy định tại Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995 " Về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng". - Chỉ được phép hoạt động đúng thời gian ghi trong giấy phép của cơ quan văn hoá thông tin. - Sử dụng băng, đĩa nhạc, băng đĩa hình không bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm. - Nếu có ca sĩ, diễn viên biểu diễn phải tuân thủ quy định của pháp luật - Không được lợi dụng địa điểm để làm nơi tổ chức, môi giới, dẫn dắt mại dâm, ma tuý cờ bạc và các hoạt động phạm pháp khác. 8.10. Kinh doanh xoa bóp (massage). - Có bản hướng dẫn khách vào xông hơi. - Có nơi xông hơi đảm bảo kỹ thuật. - Phòng xoa bóp đúng kích thước, tiêu chuẩn, (diện tích 4m2, cao 2,5m). - Có phòng nam riêng, phòng nữ riêng được đánh số thứ tự. - Phòng xoa bóp phải thoáng mát, đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh. - Cửa ra vào phần trên có kính trắng, trống 30 cm phía dưới. - Giường xoa bóp đúng kích thước, rộng 0,8m x cao 0,8m, dài 2 in. - Có dụng cụ và thuốc cấp cứu tại các phòng. - Nhân viên xoa bóp mặc trang phục kín đáo, có biển hiệu ghi họ tên và ảnh cỡ 4x6. - Phải có nhân viên y tế thường xuyên có mặt trong thời gian hoạt động dịch vụ xông hơi và xoa bóp. - Ngoài ra phải thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 19/BYT-TT ngày 21/12/1995 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý dịch vụ xoa bóp. V. QUẢN TÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH, NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN: A. NỘI DUNG QUẢN LÝ Quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP bao gồm việc tiếp nhận hồ sơ, bản cam kết; cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự"; ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định đối với các hoạt dộng của các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. B. PHÂN CÔNG, PHÂN CẤP QUẢN LÝ: 1. Tổng cục Cảnh sát (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội). 1.1. Là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; ban hành hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thống nhất trong cả nước. 1.2. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo việc thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ-CP. 1.3. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm trà, xử lý vi phạm và giải quyết các trường hợp khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 1.4. Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ-CP trong cả nước; tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công an đề xuất Chính phủ quyết định điều chỉnh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phù hợp với tình hình, yêu cầu công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong từng thời kỳ. 1.5. Xây dựng chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế về lĩnh vực quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. 1.6. Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự đối với: - Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; công cụ hỗ trợ; gia công pháo hoa (do Chính phủ cho phép). - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư, các trường hợp do Chính phủ thành lập hoặc cho phép làm các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP. - Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ an ninh, trật tự cho lực lượng bảo vệ các cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do Tổng cục Cảnh sát quản lý. 2. Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 2.1. Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. - Chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ-CP, Thông tư này và kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền ở địa phương. - Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp thuộc thẩm quyền của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội giải quyết. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định. - Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự đối với: + Các cơ sở làm nghề khắc dấu. + Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn; sản xuất, kinh doanh đạn súng săn. + Các cơ sở sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. + Các doanh nghiệp kinh doanh gas, xăng dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác. - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh khách sạn, cho thuê căn hộ, văn phòng làm việc, các doanh nghiệp in; các cơ sở in phụ thuộc doanh nghiệp hoặc in nội bộ của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội, quần chúng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo với mục đích sinh lời; nhà của tổ chức, cá nhân cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê để ở hoặc làm văn phòng; kinh doanh vũ trường quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ-CP. - Quản lý về an ninh, trật tự các cơ sở kinh doanh có điều kiện do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội uỷ quyền. - Tổng hợp tình hình, số liệu kết quả công tác quản lý về an minh trật tự ngành, nghề kinh doanh có điều kiện ở địa phương báo cáo Tổng cục Cảnh sát (qua Cục Cảnh sát QLHC về TTXH) theo quy định. - Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ an ninh, trật tự cho bảo vệ các cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do địa phương quản lý. 2.2. Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. - Chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quản lý về an ninh, trật tự các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền của Công an cấp huyện. - Kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp do Công an cấp trên yêu cầu đối với các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định. - Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự cho các chi nhánh, đại lý, cửa hàng, hộ cá thể kinh doanh gas, xăng dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác . - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các cơ sở tập thể, cá nhân in lưới (in lụa), in laze (màu và đơn sắc), photocopy (màu và đơn sắc), in phun màu, các cơ sở đóng xén sản phẩm in; các cơ sở dịch vụ cầm đồ; các cơ sở xoa bóp, karaoke; các hợp tác xã, tổ hợp tác làm ngành nghề cho thuê lưu trú (trừ các cơ sở thuộc Công an tỉnh và cấp xã quản lý). - Tổng hợp tình hình, số liệu, kết quả công tác quản lý về an ninh, trật tự báo cáo lên Công an cấp trên theo quy định. 2.3. Công an phường, xã, thị trấn. - Tổ chức thực hiện công tác quản lý về an ninh, trật tự các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền của Công an phường, xã, thị trấn. - Kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp do Công an cấp trên yêu cầu đối với các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Tiếp nhận việc khai báo tạm trú của các cơ sở cho thuê lưu trú trong phạm vi phường, xã, thị trấn (kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài). - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các hộ cá thể cho thuê nhà nghỉ, nhà trọ. - Tổng hợp tình hình, số liệu, kết quả công tác quản lý về an ninh, trật tự báo cáo lên Công an cấp trên theo quy định. 2.4. Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phân cấp tại điểm 2.2, 2.3 mục B, phần V Thông tư này như hộ gia đình làm dịch vụ photocopy, nhà nghỉ, nhà trọ bình dân chưa có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vẫn phải thực hiện việc cam kết với cơ quan Công an. C. KIỂM TRA, XỬ LÝ VI PHẠM 1. Nội dung kiểm tra việc thực hiện các quy dính về an mình, trật tự của cơ quan Công an được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP và Thông tư này đối với từng loại ngành, nghề cụ thể. Việc kiểm tra phải thực hiện đúng thủ tục quy định. Công an các cấp phải thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh, trật tự của các cơ sơ làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nhằm hướng dẫn các cơ sở thực hiện đúng quy định theo Nghị định số 08/2001/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này. 2. Khi tiến hành kiểm tra phải mặc sắc phục Cảnh sát theo quy định (trừ Trưởng, phó Công an xã phải xuất trình Giấy chứng nhận Công an xã khi tiến hành kiểm tra trong xã mình). Sau khi kiểm tra phải lập biên bản Mẫu ĐD15) ghi rõ kết quả kiểm tra, có người đứng đầu cơ sở, người vi phạm (nếu có) ký tên, giao cho cơ sở 1 bản và người vi phạm (nếu có) 1 bản. 3. Xử lý vi phạm: Mọi hành vi vi phạm các quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP, Thông tư này và quy định của các văn bản pháp luật khác có liên quan đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi tiến hành kiểm tra nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng các điều kiện về an ninh, trật tự cán bộ kiểm tra có quyền đình chỉ ngay hành vi vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý. Việc thu hồi "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" của cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện có vi phạm nghiêm trọng phải do cơ quan Công an đã cấp hoặc cơ quan Công an cấp trên ra quyết định thu hồi. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ-CP và Thông tư này. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Vụ trưởng, Cục trưởng các Vụ, Cục trực thuộc Bộ trưởng, Giám đóc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ của mình có nhiệm vụ phối hợp với Tổng cục Cảnh sát tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Đề nghị thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi, chức năng, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an trong việc quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự do Bộ, ngành, địa phương mình quản lý. 3. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Thông tư số 03/TT-BNV ngày 27/3/1993 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/CP ngày 23/12/1992 của Chính phủ về quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát) để nghiên cứu hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=76797&Keyword=
2025-09-24T02:32:43.128864
../data\bocongan\022001TT-BCA1\document.json
20/11/2010
THÔNG TƯ Của Bộ Công An số 02/2001/TT - BCA ngày 04 tháng 5 năm 2001 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ - CP của Chính Phủ Quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện __________________________________ Thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ - CP ngày 22/02/2001 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện như sau: I. PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH: 1. Phạm vi áp dụng: Điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ - CP của Chính phủ được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các thành phần kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị thành viên, các chi nhánh của doanh nghiệp, các đại lý, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể, các cơ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, lực lượng vũ trang (sau đây gọi chung là cơ sở) hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Nhóm ngành, nghề kinh doanh phải cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP của Chính phủ bao gồm: 2. 1. Nghề khắc dấu gồm các hoạt động sản xuất con dấu cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quàn chúng, tổ chức kinh tế đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chức danh nhà nước; dấu tiêu đề, chữ ký dấu ngày tháng năm, dấu tiếp nhận công văn và các loại con dấu khác. Các con dấu trên có thể được sản xuất bằng nguyên liệu kim loại. chất dẻo, gỗ hoặc nguyên liệu khác theo các phương pháp thủ công, cóng nghiệp hoặc phương pháp khác. 2. 2. Nghề sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn, sản xuất và kinh doanh đạn súng săn (bao gồm cả súng hơi và đạn súng hơi). 2. 3. Nghề sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ, bao gồm: Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu và lắp ráp các loại công cụ hỗ trợ quy định tại Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ và Thông tư số 05/TT - BNV ngày 28/9/1996 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. 2. 4. Nghề sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất, tái chế, mua bán, cung ứng, xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc nổ công nghiệp và phụ kiện nổ công nghiệp. 2. 5. Nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp là các ngành, nghề mà trong quá trình sản xuất, kinh doanh có sử dụng đến thuốc nổ công nghiệp, phụ kiện nổ công nghiệp (trừ các đơn vị Quân đội, Công an sử dụng đến vật liệu nổ công nghiệp phục vụ chiến đấu, phòng chống tội phạm và các viện nghiên cứu, trung tâm khoa học của nhà nước dùng để nghiên cứu khoa học). 2. 6. Nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy, bao gồm: các hoạt động kinh doanh gas, xăng, dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác. 2. 7. Kinh doanh các toà nhà cao từ 11 tầng trở lên (kể cả tầng trệt) dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc. 3. Nhóm ngành, nghề phải làm cam kết thực hiện các điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP. 3. 1. Kinh doanh lưu trú bao gồm kinh doanh khách sạn, biệt thự, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà của tổ chức, cá nhân cao từ 10 tầng trở xuống cho người Việt Nam thuê để ở; người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê để ở hoặc làm văn phòng dài hạn hoặc ngắn hạn. 3. 2. Hoạt động in, bao gồm: In ofset, ti pô, laze, in lõm (ống đồng), chế bản, phân mầu, flexô, lưới (lụa), in phun, photocopy, đóng xén sản phẩm in nhằm mục đích sinh lợi. 3. 3. Dịch vụ cầm đồ là các hoạt động kinh doanh cho vay tiền, vay tài sản có giá trị bằng tiền với điều kiện người vay phải có tài sản cầm cố. 3. 4. Kinh doanh karaoke là hình thức kinh doanh các hoạt động ca hát theo băng hình, đĩa hình. 3. 5. Kinh doanh vũ trường là hình thức kinh doanh các hoạt động khiêu vũ. 3. 6. Kinh doanh xoa bóp (massage) là kinh doanh các hoạt động vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng và sức khoẻ con người (trừ các cơ sở thuộc bệnh viện nhằm phục hồi chức năng, sức khoẻ bệnh nhân không vì mục đích kinh doanh; các câu lạc bộ thẩm mỹ, thể hình). II. ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ 1. Điều kiện của chủ thể kinh doanh: Đối với người đứng đầu cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, xã hội, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc đơn vị thành viên, Trưởng chi nhánh của doanh nghiệp, Trưởng đại lý, chủ nhiệm hợp tác xã, tổ hợp tác và chủ hộ kinh doanh cá thể) trong bản khai lý lịch phải khai đủ, khai đúng, không che dấu, không khai man và phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp phường hoặc cơ quan quản lý trực tiếp và không thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. 1. Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. 1. 2. Người bị khởi tố hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng đang điều tra, truy tố, xét xử. 1. 3. Người đang bị toà án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề có liên quan đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; cấm cư trú, người đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, đang bị quản chế hoặc đang chấp hành một trong các biện pháp xử lý hành chính khác: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính. 1. 4. Người có tiền án mà chưa được xoá án tích về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng là những tội có hình phạt từ 15 năm tù trở lên quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự - 1999, hoặc các tội khác có liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà người đó đang xin kinh doanh như các tội: Chứa chấp, môi giới mại dâm; buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ trái phép; tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội lừa dối khách hàng, cho vay nặng lãi, chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. 2. Điều kiện về cơ sở kinh doanh. 2. 1. Phải đảm bảo các điều kiện quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, phòng nổ, phòng độc và vệ sinh môi trường; đảm bảo về điều kiện trật tự an toàn công cộng như không tranh chấp, khiếu kiện, không nằm trong khu vực phải giải toả, đất lấn chiếm. . 2. 2. Ngoài điều kiện tại điểm 2. 1 nêu trên các cơ sở sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ; sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, gia công pháo hoa phải không nằm trong khu vực và địa điểm cấm theo quy định tại Quyết định số 128/TTg ngày 01/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ hoặc khu vực công trình quốc phòng và khu vực quân sự loại 1, loại 2 quy định trong Quy chế ban hành kèm theo Nghị định 04/CP ngày 16/01/1995 của Chính phủ. III. THỦ TỤC CẤP GIẤY XÁC NHẬN ĐỦ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ HOẶC CAM KẾT THỰC HIỆN ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ 1. Đối với nhóm ngành, nghề quy định tại khoản 1 Điều 2, hồ sơ đề nghị cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" gồm: 1. 1. Đơn đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (mẫu ĐD1). 1. 2. Bản sao (Có công chứng, hoặc chứng thực, hoặc chứng nhận của cơ quan nhà nước theo quy định) "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh", hoặc "Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động", hoặc "Giấy phép đầu tư" của cơ sở. 1. 3. Bản khai lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn hoặc cơ quan quản lý trực tiếp của người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở (Mẫu ĐD2). Trường hợp người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có Bản khai nhân sự (Mẫu ĐD2B), bản sao Hộ chiếu, Phiếu nhập cảnh, xuất cảnh (khi nộp bản sao phải xuất trình bản chính để kiểm tra). 1. 4. Danh sách người làm trong cơ sở hoặc bộ phận ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của cơ sở (Mẫu ĐD3). 1. 5. Sơ đồ khu vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở (sơ đồ phòng nghỉ, khu vực sản xuất, kho chứa nguyên vật liệu và khu vực liên quan). 1. 6. "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy" (mẫu ĐD6) đối với ngành, nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy, toà nhà cao từ 11 tầng trở lên dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc. "Biên bản kiểm tra xác nhận điều kiện về phòng cháy chữa cháy" đối với những ngành, nghề còn lại tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP. Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan Công an có thẩm quyền phải giải quyết việc cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" (Mẫu ĐD5 ) cho tổ chức, cá nhân đề nghị. Trường hợp không đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cơ quan Công an phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho tổ chức, cá nhân xin kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh biết. 2. Đối với nhóm ngành, nghề tại khoản 2 Điều 2 khi nộp "Bản cam kết thực hiện các quy định điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện" (Mẫu ĐD4) phải kèm theo các loại giấy tờ sau: 2. 1. Bản sao (có công chứng, hoặc chứng thực, hoặc chứng nhận của cơ quan nhà nước theo quy định ), "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh", hoặc "Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động", hoặc "Giấy phép đầu tư" của cơ sở (trừ trường hợp hộ gia đình có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 02/2000/NĐ - CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh). 2. 2. Bản khai lý lịch người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở (Mẫu ĐD2) hoặc bản khai nhân sự (Mẫu ĐD2B). 2. 3. Danh sách người làm trong cơ sở hoặc bộ phận ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của cơ sở. 2. 4. Biên bản kiểm tra xác nhận điều kiện về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy có thẩm quyền. 2. 5. Sơ đồ khu vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở (sơ đồ phòng nghỉ, khu vực sản xuất, kho chứa nguyên vật liệu và khu vực có liên quan phải có cửa ra vào, lối thoát nạn. . ). Khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan Công an phải ký xác nhận vào bản cam kết cho tổ chức, cá nhân đề nghị. 3. Tổ chức, cá nhân được cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính. 4. Tổ chức, cá nhân đã được cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" theo Nghị định số 17/CP ngày 23/12/1992 của Chính phủ nếu có đủ các điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ - CP thì vẫn được tiếp tục hoạt động kinh doanh. "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" đối với các ngành, nghề thuộc khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP có giá trị như "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự", nên không phải đổi lại; đối với các ngành, nghề thuộc khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP trước đây đã được cấp "Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" nay được đổi lại bằng bản cam kết" mà không phải nộp thêm hồ sơ. Nếu không đủ các điều kiện theo Nghị định số 08/2001/NĐ - CP và hướng dẫn tại Thông tư này thì phải bổ sung theo quy định. IV. TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LÀM NGÀNH, NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN: Tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sau khi được cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp "Bản cam kết thực hiện các quy định, điều kiện về an ninh, trật tự để làm ngành nghề kinh doanh có điều kiện" phải chấp hành đầy đủ các quy định sau: 1. Phải thông báo bằng văn bản cho Công an xã; phường, thị trấn nơi cơ sở sản xuất, kinh doanh ít nhất là 03 ngày trước khi chính thức hoạt động. 2. Định kỳ hàng tháng phải báo cáo tình hình chấp hành các điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở (Mẫu ĐD12) cho cơ quan Công an đã cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc cơ quan Công an nơi đã nộp bản cam kết. Trường hợp đột xuất có những vụ, việc nghiêm trọng hoặc nghi vấn có liên quan đến an ninh, trật tự thì phải báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất để giải quyết, đồng thời báo cho cơ quan Công an nơi cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp Bản cam kết biết. 3. Không được chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác. 4. Có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Công an thực hiện công tác, hướng dẫn, kiểm tra về an ninh, trật tự. 5. Chấp hành việc hướng dẫn và kiểm tra về an ninh, trật tự của cơ quan Công an có thẩm quyền. 6. Khi có thay đổi địa điểm, quy mô, người đứng đầu cơ sở kinh doanh, trong thời gian 10 ngày phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Công an nơi đã cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" hoặc đã nộp Bản cam kết biết. 7. Có phương án bảo vệ an ninh, trật tự, chữa cháy, cứu người, tài sản khi có các sự cố xảy ra. 8. Ngoài các quy định chung tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 phần này, từng ngành, nghề cụ thể phải thực hiện các quy định về an ninh, trật tự sau đây: 8. 1. Nghề khắc dấu: Phải có sổ quản lý khắc dấu (Mẫu ĐD8) và ghi đầy đủ các cột mục quy định. - Việc khắc dấu tròn, dấu chữ nhật của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, chức danh nhà nước, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam chỉ được thực hiện khi có Giấy phép khắc dấu của Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh hoặc Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an. - Việc khắc dấu tiêu đề, nhật ấn, chữ ký và các loại dấu khác phải có Giấy giới thiệu và Chứng minh nhân dân (nếu là cơ quan) hoặc Chứng minh nhân dân của người đến liên hệ (nếu là cá nhân). Chỉ được khắc các loại con dấu tại cơ sở sản xuất đã đăng ký. Khi khắc xong con dấu phải giao lại cho cơ quan Công an nơi cấp Giấy phép khắc dấu (trừ trường hợp dấu tiêu đề, nhật ấn, chữ ký). Phải có nơi bảo quản dấu thành phẩm, không được để mất, hư hỏng. 8. 2. Nghề sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn; sản xuất, kinh doanh đạn súng săn; sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ. - Có sổ quản lý, kinh doanh súng săn, đạn súng săn, cho thuê súng săn, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ công nghiệp (mẫu ĐD9) và phải ghi đầy đủ các cột mục trong sổ. - Không được sử dụng súng hoặc bộ phận của súng quân dụng, súng thể thao để sửa chữa thành súng săn. - Không được sử dụng vật liệu nổ, đạn và thuốc đạn quân dụng, thể thao để sản xuất đạn súng săn. - Chỉ được bán súng săn, đạn súng săn, công cụ hỗ trợ cho người có Giấy phép mua súng săn, đạn súng săn; Giấy phép mua công cụ hỗ trợ của Công an cấp tỉnh hoặc của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an. - Chỉ được sửa chữa súng săn cho những người có Giấy giới thiệu của cơ quan Công an nơi cấp giấy phép sử dụng. - Chỉ cho thuê súng săn đối với những người có giấy phép sử dụng súng săn và những khẩu súng săn đã có giấy phép sử dụng. - Phải có nơi bảo quản an toàn súng săn, đạn súng săn, công cụ hỗ trợ, không để mất hoặc lợi dụng hoạt động phi pháp. 8. 3. Nghề sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp và những nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp: - Có sổ quản lý (Mẫu ĐD9) và ghi đầy đủ cột mục quy định. - Có nội quy quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn và sơ đồ chỉ dẫn về phòng cháy chữa cháy. - Trong sản xuất, kinh doanh, bảo quản, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp phải thực hiện đúng quy trình thao tác kỹ thuật. - Không được để các chất dễ cháy, dễ nổ lẫn với chất gây cháy, gây nổ; thuốc nổ và phụ kiện nổ trong cùng một kho (theo đúng quy định tiêu chuẩn Việt Nam). - Chỉ được bán vật liệu nổ công nghiệp cho các đơn vị đã được cấp Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. - Không được để mất, thất thoát vật liệu nổ công nghiệp. - Không được mua vật liệu nổ công nghiệp của tổ chức, cá nhân không được phép sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp. 8. 4. Kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy: - Các chất lỏng, khí đốt phải được chứa đựng trong các phương tiện chuyên dùng. - Có quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy, biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn và sơ đồ chỉ dẫn về phòng cháy chữa cháy. - Trong quá trình kinh doanh phải thực hiện đúng quy định thao tác kỹ thuật. Không để các chất dễ cháy gần hoặc lẫn với nơi để khí đốt và chất lỏng dễ cháy. 8. 5. Nghề cho thuê lưu trú: - Có sổ đăng ký khách tạm trú (mẫu ĐD7) và phải ghi đầy đủ Các Cột mục trong sổ. - Có nội quy bảo vệ của cơ sở niêm yết nơi dễ thấy, nội quy hướng dẫn khách hàng. - Có người thường trực tiếp nhận hướng dẫn khách nghỉ. - Thực hiện việc vào sổ trước khi khách vào phòng nghỉ và trình báo tạm trú với cơ quan Công an phường, xã, thị trấn sở tại trước 23 giờ trong ngày; sau 23 giờ nếu có khách vẫn phải vào sổ và trình báo vào hôm sau (kể cả khách nghỉ theo giờ). - Trường hợp khách mang theo vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ phải yêu cầu khách xuất trình giấy phép sử dụng và phải gửi cơ sở cất giữ. - Khách đến nghỉ phải có Giấy chứng minh nhân dân, hoặc giấy tờ tuỳ thân khác có dán ảnh, đóng dấu nổi hoặc dấu giáp lai (đối với người Việt Nam); Hộ chiếu, Giấy thông hành xuất nhập cảnh (đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài). - Phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng (trừ trường hợp là gia đình, vợ chồng). - Nghiêm cấm việc lợi dụng cơ sở để làm nơi sử dụng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển ma tuý; đánh bạc; chứa chấp, môi giới mại dâm; chứa chấp tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 8. 6. Hoạt động in. - Có sổ quản lý hoạt động in (mẫu ĐD10) (trừ photocopy đen trắng). - Chỉ được nhận in, nhân bản những ấn phạm, xuất bản phẩm khi có đủ thủ tục theo quy định của pháp luật. 8. 7. Dịch vụ cầm đồ: - Phải có sổ quản lý dịch vụ cầm đồ (mẫu ĐD11) và ghi đầy đủ các cột mục trong sổ. - Không được chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác. - Phải có hợp đồng cầm đồ đúng quy định. - Những tài sản có giấy tờ sở hữu, hoặc đăng ký như xe Ô tô, xe mô tô. . phải xuất trình giấy tờ sở hữu, hoặc đăng ký và ghi đầy đủ vào sổ. - Phải có nơi bảo quản an toàn tài sản cầm cố. - Ngoài ra phải thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số l 3/1999/TT - BTM ngày 19/5/1999 của Bộ Thương mại "Hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ ". 8. 8. Kinh doanh karaoke. - Phải có diện tích phòng, ánh sáng, âm lượng không ánh hưởng đến sự yên tĩnh chung theo đúng quy định tại Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995 "Về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng". - Cửa phòng phải có kính phía ngoài có thể quan sát vào được. - Sử dụng các bài hát không bị các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm. - Không được lợi dụng địa điểm để làm nơi tổ chức, môi giới, dẫn dắt hoạt động mại dâm, ma tuý, cờ bạc và các hoạt động trái pháp luật khác. 8. 9. Kinh doanh vũ trường. - Phải có diện tích, ánh sáng, âm lượng theo đúng quy định và không ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung và theo đúng quy định tại Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995 " Về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng". - Chỉ được phép hoạt động đúng thời gian ghi trong giấy phép của cơ quan văn hoá thông tin. - Sử dụng băng, đĩa nhạc, băng đĩa hình không bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm. - Nếu có ca sĩ, diễn viên biểu diễn phải tuân thủ quy định của pháp luật - Không được lợi dụng địa điểm để làm nơi tổ chức, môi giới, dẫn dắt mại dâm, ma tuý cờ bạc và các hoạt động phạm pháp khác. 8. 10. Kinh doanh xoa bóp (massage). - Có bản hướng dẫn khách vào xông hơi. - Có nơi xông hơi đảm bảo kỹ thuật. - Phòng xoa bóp đúng kích thước, tiêu chuẩn, (diện tích 4m2, cao 2, 5m). - Có phòng nam riêng, phòng nữ riêng được đánh số thứ tự. - Phòng xoa bóp phải thoáng mát, đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh. - Cửa ra vào phần trên có kính trắng, trống 30 cm phía dưới. - Giường xoa bóp đúng kích thước, rộng 0, 8m x cao 0, 8m, dài 2 in. - Có dụng cụ và thuốc cấp cứu tại các phòng. - Nhân viên xoa bóp mặc trang phục kín đáo, có biển hiệu ghi họ tên và ảnh cỡ 4x6. - Phải có nhân viên y tế thường xuyên có mặt trong thời gian hoạt động dịch vụ xông hơi và xoa bóp. - Ngoài ra phải thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 19/BYT - TT ngày 21/12/1995 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý dịch vụ xoa bóp. V. QUẢN TÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH, NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN: A. NỘI DUNG QUẢN LÝ Quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ - CP bao gồm việc tiếp nhận hồ sơ, bản cam kết; cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự"; ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định đối với các hoạt dộng của các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. B. PHÂN CÔNG, PHÂN CẤP QUẢN LÝ: 1. Tổng cục Cảnh sát (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội). 1. 1. Là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; ban hành hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thống nhất trong cả nước. 1. 2. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo việc thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ - CP. 1. 3. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm trà, xử lý vi phạm và giải quyết các trường hợp khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 1. 4. Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ - CP trong cả nước; tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công an đề xuất Chính phủ quyết định điều chỉnh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phù hợp với tình hình, yêu cầu công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong từng thời kỳ. 1. 5. Xây dựng chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế về lĩnh vực quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. 1. 6. Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự đối với: - Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; công cụ hỗ trợ; gia công pháo hoa (do Chính phủ cho phép). - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư, các trường hợp do Chính phủ thành lập hoặc cho phép làm các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP. - Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ an ninh, trật tự cho lực lượng bảo vệ các cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do Tổng cục Cảnh sát quản lý. 2. Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 2. 1. Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. - Chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị định số 08/2001/NĐ - CP, Thông tư này và kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền ở địa phương. - Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp thuộc thẩm quyền của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội giải quyết. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định. - Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự đối với: + Các cơ sở làm nghề khắc dấu. + Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, cho thuê súng săn; sản xuất, kinh doanh đạn súng săn. + Các cơ sở sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. + Các doanh nghiệp kinh doanh gas, xăng dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác. - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh khách sạn, cho thuê căn hộ, văn phòng làm việc, các doanh nghiệp in; các cơ sở in phụ thuộc doanh nghiệp hoặc in nội bộ của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội, quần chúng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo với mục đích sinh lời; nhà của tổ chức, cá nhân cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê để ở hoặc làm văn phòng; kinh doanh vũ trường quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2001/NĐ - CP. - Quản lý về an ninh, trật tự các cơ sở kinh doanh có điều kiện do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội uỷ quyền. - Tổng hợp tình hình, số liệu kết quả công tác quản lý về an minh trật tự ngành, nghề kinh doanh có điều kiện ở địa phương báo cáo Tổng cục Cảnh sát (qua Cục Cảnh sát QLHC về TTXH) theo quy định. - Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ an ninh, trật tự cho bảo vệ các cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do địa phương quản lý. 2. 2. Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. - Chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quản lý về an ninh, trật tự các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền của Công an cấp huyện. - Kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp do Công an cấp trên yêu cầu đối với các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định. - Tiếp nhận hồ sơ và cấp "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" và quản lý về an ninh, trật tự cho các chi nhánh, đại lý, cửa hàng, hộ cá thể kinh doanh gas, xăng dầu và các loại khí đốt, chất lỏng dễ cháy khác. - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các cơ sở tập thể, cá nhân in lưới (in lụa), in laze (màu và đơn sắc), photocopy (màu và đơn sắc), in phun màu, các cơ sở đóng xén sản phẩm in; các cơ sở dịch vụ cầm đồ; các cơ sở xoa bóp, karaoke; các hợp tác xã, tổ hợp tác làm ngành nghề cho thuê lưu trú (trừ các cơ sở thuộc Công an tỉnh và cấp xã quản lý). - Tổng hợp tình hình, số liệu, kết quả công tác quản lý về an ninh, trật tự báo cáo lên Công an cấp trên theo quy định. 2. 3. Công an phường, xã, thị trấn. - Tổ chức thực hiện công tác quản lý về an ninh, trật tự các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền của Công an phường, xã, thị trấn. - Kiểm tra, xác minh, báo cáo, đề xuất các trường hợp do Công an cấp trên yêu cầu đối với các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về công tác quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. - Tiếp nhận việc khai báo tạm trú của các cơ sở cho thuê lưu trú trong phạm vi phường, xã, thị trấn (kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài). - Tiếp nhận hồ sơ cam kết và quản lý về an ninh, trật tự đối với các hộ cá thể cho thuê nhà nghỉ, nhà trọ. - Tổng hợp tình hình, số liệu, kết quả công tác quản lý về an ninh, trật tự báo cáo lên Công an cấp trên theo quy định. 2. 4. Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phân cấp tại điểm 2. 2, 2. 3 mục B, phần V Thông tư này như hộ gia đình làm dịch vụ photocopy, nhà nghỉ, nhà trọ bình dân chưa có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vẫn phải thực hiện việc cam kết với cơ quan Công an. C. KIỂM TRA, XỬ LÝ VI PHẠM 1. Nội dung kiểm tra việc thực hiện các quy dính về an mình, trật tự của cơ quan Công an được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ - CP và Thông tư này đối với từng loại ngành, nghề cụ thể. Việc kiểm tra phải thực hiện đúng thủ tục quy định. Công an các cấp phải thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh, trật tự của các cơ sơ làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nhằm hướng dẫn các cơ sở thực hiện đúng quy định theo Nghị định số 08/2001/NĐ - CP và hướng dẫn tại Thông tư này. 2. Khi tiến hành kiểm tra phải mặc sắc phục Cảnh sát theo quy định (trừ Trưởng, phó Công an xã phải xuất trình Giấy chứng nhận Công an xã khi tiến hành kiểm tra trong xã mình). Sau khi kiểm tra phải lập biên bản Mẫu ĐD15) ghi rõ kết quả kiểm tra, có người đứng đầu cơ sở, người vi phạm (nếu có) ký tên, giao cho cơ sở 1 bản và người vi phạm (nếu có) 1 bản. 3. Xử lý vi phạm: Mọi hành vi vi phạm các quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ - CP, Thông tư này và quy định của các văn bản pháp luật khác có liên quan đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi tiến hành kiểm tra nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng các điều kiện về an ninh, trật tự cán bộ kiểm tra có quyền đình chỉ ngay hành vi vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý. Việc thu hồi "Giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự" của cơ sở làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện có vi phạm nghiêm trọng phải do cơ quan Công an đã cấp hoặc cơ quan Công an cấp trên ra quyết định thu hồi. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định số 08/2001/NĐ - CP và Thông tư này. Tổng cục trưởng các Tổng cục, Vụ trưởng, Cục trưởng các Vụ, Cục trực thuộc Bộ trưởng, Giám đóc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ của mình có nhiệm vụ phối hợp với Tổng cục Cảnh sát tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Đề nghị thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi, chức năng, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Công an trong việc quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức, cá nhân làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự do Bộ, ngành, địa phương mình quản lý. 3. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Thông tư số 03/TT - BNV ngày 27/3/1993 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/CP ngày 23/12/1992 của Chính phủ về quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát) để nghiên cứu hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời.
Về việc bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
02/2003/TT-BCA(C11)
13/01/2003
Thông tư
28/01/2003
Công báo điện tử;
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Về việc bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ _______________________________ Thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19/11/2002 của Chính phủ về giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Bộ Công an sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 về hướng dẫn tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông đường bộ như sau: 1. Điểm 1.1 phần I về "phạm vi, đối tượng áp dụng" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đăng ký, gắn biển số xe theo quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 và hướng dẫn sửa đổi bổ sung tại Thông tư này. 2. Mục A phần II về "các loại giấy tờ của chủ xe khi đến đăng ký xe" được sửa đổi bổ sung như sau: Khi đăng ký mô tô, xe máy, người đứng tên đăng ký phải có hộ khẩu thường trú ở tỉnh, thành phố nơi đăng ký xe. Riêng chủ xe là cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang (Công an, Quân đội) vẫn thực hiện theo Thông tư 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002. Mỗi người chỉ được đăng ký 01 xe mô tô hoặc xe gắn máy. Trong hồ sơ đăng ký xe phải có thêm bản phôtô các giấy tờ sau (khi nộp bản phôtô phải xuất trình bản chính để đối chiếu): + Giấy phép lái xe theo quy định (trừ chủ xe là cơ quan, tổ chức); + Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 3. Điểm 1 mục B phần II về "thủ tục đăng ký xe" được bổ sung điểm 1.5 như sau: - Chứng từ thu các loại phí, lệ phí đăng ký xe theo quy định của Bộ Tài chính. 4. Điểm 4.1 mục B phần II về "chứng từ nguồn gốc xe nhập khẩu nguyên chiếc" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc nhập khẩu từ nước ngoài thì chứng từ đăng ký, cấp biển số xe là: tờ khai hàng hoá nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 5. Điểm 4.2 mục B phần II về "chứng từ nguồn gốc xe sản xuất, lắp ráp trong nước" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc sản xuất lắp ráp và đăng ký cấp biển số không cần có tờ khai nguồn gốc theo quy định của Bộ Tài chính. 6. Điểm 3.1 phần V về "quy định về biển số" nay bổ sung như sau: - Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc biển số được gắn ở thành xe phía sau (chỉ gắn 1 loại biển vuông như biển ôtô, có ký hiệu R). 7. Giấy đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc: được sử dụng mẫu giấy đăng ký xe ôtô theo quy định của Bộ để cấp cho rơ moóc, sơ mi rơ moóc. 8. Tổ chức thực hiện: Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các nội dung khác không đề cập tại Thông tư này vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17197&Keyword=
2025-09-24T02:32:33.523630
../data\bocongan\022003TT-BCAC11\document.json
08/02/2007
THÔNG TƯ Về việc bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ _______________________________ Thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ - CP ngày 19/11/2002 của Chính phủ về giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Bộ Công an sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 về hướng dẫn tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông đường bộ như sau: 1. Điểm 1. 1 phần I về "phạm vi, đối tượng áp dụng" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đăng ký, gắn biển số xe theo quy định của Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 và hướng dẫn sửa đổi bổ sung tại Thông tư này. 2. Mục A phần II về "các loại giấy tờ của chủ xe khi đến đăng ký xe" được sửa đổi bổ sung như sau: Khi đăng ký mô tô, xe máy, người đứng tên đăng ký phải có hộ khẩu thường trú ở tỉnh, thành phố nơi đăng ký xe. Riêng chủ xe là cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang (Công an, Quân đội) vẫn thực hiện theo Thông tư 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002. Mỗi người chỉ được đăng ký 01 xe mô tô hoặc xe gắn máy. Trong hồ sơ đăng ký xe phải có thêm bản phôtô các giấy tờ sau (khi nộp bản phôtô phải xuất trình bản chính để đối chiếu): + Giấy phép lái xe theo quy định (trừ chủ xe là cơ quan, tổ chức); + Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. 3. Điểm 1 mục B phần II về "thủ tục đăng ký xe" được bổ sung điểm 1. 5 như sau: - Chứng từ thu các loại phí, lệ phí đăng ký xe theo quy định của Bộ Tài chính. 4. Điểm 4. 1 mục B phần II về "chứng từ nguồn gốc xe nhập khẩu nguyên chiếc" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc nhập khẩu từ nước ngoài thì chứng từ đăng ký, cấp biển số xe là: tờ khai hàng hoá nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính. 5. Điểm 4. 2 mục B phần II về "chứng từ nguồn gốc xe sản xuất, lắp ráp trong nước" được bổ sung như sau: Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc sản xuất lắp ráp và đăng ký cấp biển số không cần có tờ khai nguồn gốc theo quy định của Bộ Tài chính. 6. Điểm 3. 1 phần V về "quy định về biển số" nay bổ sung như sau: - Đối với rơ moóc, sơ mi rơ moóc biển số được gắn ở thành xe phía sau (chỉ gắn 1 loại biển vuông như biển ôtô, có ký hiệu R). 7. Giấy đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc: được sử dụng mẫu giấy đăng ký xe ôtô theo quy định của Bộ để cấp cho rơ moóc, sơ mi rơ moóc. 8. Tổ chức thực hiện: Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các nội dung khác không đề cập tại Thông tư này vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an. Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. /.
Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2003 về quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
02/2004/TT-BCA
02/02/2004
Thông tư
22/02/2004
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Lê Hồng Anh
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2003 về quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục ____________________________________________ Ngày 27/6/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2003/NĐ-CP quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, để thực hiện thống nhất Nghị định nêu trên của Chính phủ, Bộ Công an hướng dẫn chi tiết thi hành một số nội dung cụ thể của Nghị định như sau : I- ĐỐI TƯỢNG ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Việc xác định đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định của khoản 2, điều 25 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, khoản 1, điều 3, Nghị định 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ về quy định và hướng dẫn cục thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục (sau đây viết tắt là Nghị định số 76) và hướng dẫn tại Thông tư này. 2- Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm những người có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây có tính chất thường xuyên, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định : a- Xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài. b- Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài. c- Đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật. d- Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. đ- Tổ chức, môi giới mại dâm. e- Gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ. g- Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. h- Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. i- Các hành vi khác vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội. 3- Để bảo đảm đưa người vào cơ sở giáo dục đúng quy định, tránh oan, sai, đồng thời không để lọt đối tượng, trong quá trình xem xét, lập hồ sơ, cần chú ý : hành vi vi phạm đó phải chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và phải có tính chất thường xuyên. Các trường hợp sau đây được coi là vi phạm có tính chất thường xuyên : a- Người không có nơi cư trú nhất định có từ hai lần vi phạm trở lên trong thời hạn 12 tháng. Các trường hợp sau đây được coi là không có nơi cư trú nhất định : - Không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định. - Có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống tại đó và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định. b- Người có nơi cư trú nhất định đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng sau đó lại thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. Các trường hợp sau đây được coi là đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn : - Đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà có hành vi vi phạm được quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. - Đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại có hành vi vi phạm được quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. Cần lưu ý : Đối với người có nơi cư trú nhất định, trong mọi trường hợp đều nhất thiết phải có điều kiện là đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì mới có thể lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. 4- Các trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 2 và khoản 7, điều 9, Nghị định số 76 cũng phải có đủ các điều kiện quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. 5- Trong trường hợp hành vi vi phạm lần sau cũng đã được cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng sau khi xem xét, không đủ điều kiện để đề nghị áp dụng biện pháp này hoặc đã đề nghị nhưng không được Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xử phạt theo quy định của pháp luật, trong trường hợp này thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được hồ sơ. Trong thời hạn nêu trên, nếu người đó lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại điểm này mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt. 6- Trường hợp một người thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì theo quy định tại điều 113 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và điều 12 Nghị định số 76, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Trong trường hợp cơ quan Công an đã thụ lý hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục mà phát hiện người đó thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh được quy định tại điều 26, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì phải chuyển ngay toàn bộ hồ sơ đó cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quy định của pháp luật. 7- Đối với trường hợp đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà bỏ trốn, đến khi bị bắt lại mà người đó đã đủ 18 tuổi trở lên thì theo quy định tại khoản 2, điều 52 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Trưởng Công an cấp huyện làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cùng cấp hủy quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục theo thủ tục chung, mà không cần phải có điều kiện là đã bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn. II- KINH PHÍ BẢO ĐẢM CHO TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Kinh phí bảo đảm cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm : a- Kinh phí cho việc lập, xét duyệt hồ sơ, cho việc tổ chức đưa người vào cơ sở giáo dục, cho việc quản lý, ăn uống, sinh hoạt của đối tượng trong thời hạn được quản lý tại Công an cấp tỉnh trước khi đưa họ vào cơ sở giáo dục, cho việc truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. b- Kinh phí cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục, cho ăn, mặc, ở, học tập, dạy nghề, văn nghệ, thể thao và phòng bệnh, chữa bệnh của trại viên. c- Kinh phí cho các khoản chi khác có liên quan đến việc tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. 2- Kinh phí bảo đảm cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do ngân sách Nhà nước cân đối, bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an. Việc lập dự trù kinh phí thường xuyên cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục được thực hiện như sau : a- Công an cấp xã lập dự trù kinh phí gửi Công an cấp huyện, Công an cấp huyện tổng hợp, báo cáo Công an cấp tỉnh. Trên cơ sở đề xuất của Công an cấp huyện và các đơn vị chức năng, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm lập dự trù kinh phí cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục của địa phương mình gửi Vụ Tài chính. b- Cơ sở giáo dục lập dự trù kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục, cho ăn, mặc, ở, học tập, phòng bệnh, chữa bệnh của trại viên và cho các hoạt động khác của cơ sở giáo dục, gửi báo cáo Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng. Trên cơ sở đề xuất của các cơ sở giáo dục, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng lập dự trù kinh phí chung cho các cơ sở giáo dục, gửi Vụ Tài chính. c- Trên cơ sở dự trù kinh phí của Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Vụ Tài chính lập dự trù kinh phí chung để bảo đảm cho việc thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trình lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định. III- VỀ LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 9 Nghị định số 76. Hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục đối với người có nơi cư trú nhất định phải theo đúng quy định tại khoản 1, điều 9 Nghị định số 76, về ý kiến của UBMTTQ và các tổ chức xã hội cấp xã có liên quan thì tùy từng trường hợp cụ thể, Chủ tịch UBND cấp xã có thể tổ chức cuộc họp hoặc lấy ý kiến tham gia bằng văn bản. Ý kiến của UBMTTQ và tổ chức xã hội cấp xã phải được Chủ tịch UBND cùng cấp nghiên cứu, tham khảo để cân nhắc trong quá trính xem xét, quyết định việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. 2- Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thu thập tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND cùng cấp duyệt, trình Chủ tịch UBND cấp huyện. IV- PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC CHỈ ĐẠO, HƯỚNG DẪN, LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ TỔ CHỨC ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát và lãnh đạo Bộ trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục, tổ chức đưa người vào cơ sơ giáo dục. 2- Giám đốc Công an cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm : a- Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục, giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo thẩm quyền. b- Làm Thường trực Hội đồng tư vấn, trường hợp vì lý do khác mà không thể tham gia Hội đồng tư vấn thì ủy quyền Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát làm thường trực Hội đồng tư vấn. 3- Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm. a- Chủ trì phối hợp với Trưởng phòng Cảnh sát điều tra, Văn phòng Công an tỉnh, thành phố (bộ phận Pháp chế) và các đơn vị có liên quan giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh trong việc xem xét, lập hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục và hướng dẫn lực lượng Cảnh sát hình sự thuộc Công an cấp huyện trong việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. b- Chậm nhất 07 ngày trước khi họp Hội đồng tư vấn, phải sao gửi các thành viên Hội đồng tư vấn văn bản của Chủ tịch UBND cấp huyện đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục (hoặc văn bản của cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 7, điều 9 Nghị định số 76), bản tóm tắt lý lịch và hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến việc xem xét, quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, đồng thời gửi giấy mời đại diện thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh tham dự cuộc họp Hội đồng tư vấn (kèm theo tài liệu nêu trên). c- Tổ chức thực hiện quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc đưa người vào cơ sở giáo dục. d- Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh thẩm tra, xác minh để đề xuất Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 76. 4- Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm : a- Hướng dẫn Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục, chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng giúp Chủ tịch UBND cùng cấp xem xét, thẩm định hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. b- Phối hợp với phòng Cảnh sát hình sự trong việc tổ chức thực hiện quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc đưa người vào cơ sở giáo dục, ra quyết định truy tìm theo thẩm quyền và tổ chức bắt giữ đối tượng đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn. 5- Lực lượng Cảnh sát hình sự Công an các cấp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra và các đơn vị có liên quan giúp lãnh đạo Công an cùng cấp trong việc xem xét, lập hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục và tiến hành các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. 6- Trưởng Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND cùng cấp trong việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật, phối hợp và thực hiện sự hướng dẫn, chỉ đạo của Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện trong việc tổ chức đưa người vào cơ sở giáo dục, bắt giữ đối tượng có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn, quản lý đối tượng được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. V- HỘI ĐỒNG TƯ VẤN VỀ VIỆC ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Theo quy định tại điều 10, Nghị định số 76, thành phần Hội đồng tư vấn về việc đưa người vào cơ sở giáo dục bao gồm : a- Giám đốc Công an                               - Thường trực Hội đồng. b- Giám đốc Sở Tư pháp                         - Thành viên. c- Giám đốc Sở Lao động-TBXH           -          “ d- Chủ tịch UBMTTQ.VN cấp tỉnh        -          “ 2- Đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh được mời tham dự phiên họp Hội đồng tư vấn. Đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân có thể phát biểu ý kiến tham gia nhưng không biểu quyết, trường hợp đại diện thường trực Hội đồng Nhân dân không đến dự được thì cuộc họp Hội đồng Tư vấn vẫn phải tiến hành bình thường. VI- QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2- Quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho Công an cấp tỉnh, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó và giao cho người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trước khi thi hành. 3- Nội dung quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định, họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị đưa vào cơ sở giáo dục, hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của văn bản được áp dụng; thời hạn phải chấp hành quyết định; nơi chấp hành quyết định; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định của Pháp luật. 4- Trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đang phải chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (thuộc trường hợp quy định tại tiết b, điểm 3, mục I Thông tư này) thì trong quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải có nội dung hủy quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người đó để họ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. VII- THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự có trách nhiệm tổ chức đưa người có quyết định vào cơ sở giáo dục. Việc thi hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải lập biên bản theo mẫu quy định, biên bản được lập thành 02 bản, một bản lưu ở phòng Cảnh sát Hình sự, một bản gửi kèm theo hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục. Khi công bố quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, nếu đối tượng có đơn đề nghị hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định thì phải xem xét ngay, nếu có đủ điều kiện để được hoãn hoặc miễn theo quy định của Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này thì phải làm văn bản đề xuất Giám đốc Công an cấp tỉnh báo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp ra quyết định hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cho người đó. Thời hạn chấp hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp này được đưa đi chấp hành quyết định (bao gồm cả thời gian đi đường và thời gian được quản lý tại Công an cấp tỉnh). 2- Hồ sơ, thủ tục khi đưa người có quyết định vào cơ sở giáo dục : a- Khi đưa người vào cơ sở giáo dục phải có hồ sơ kèm theo, bao gồm : - Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. - Bản tóm tắt lý lịch và vi phạm pháp luật của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. - Danh bản của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. - Quyết định quản lý đối tượng tại Công an cấp tỉnh trước khi đưa vào cơ sở giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến việc quản lý, giáo dục đối tượng (nếu có). b- Khi giao, nhận người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục phải lập biên bản, trong đó phải ghi rõ tình trạng sức khỏe của người giao, nhận; hồ sơ, tài liệu kèm theo và những vấn đề khác có liên quan đến việc giao, nhận đối tượng. 3- Người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục hoặc người bị bắt giữ theo quyết định truy tìm, nếu không tự giác chấp hành hoặc có hành vi chống đối thì có thể bị khóa hoặc trói tay để áp giải hoặc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết khác theo quy định của pháp luật để buộc người đó phải chấp hành quyết định. Trường hợp hành vi chống đối có dấu hiệu của tội phạm thì phải lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của Bộ luật Hình sự. VIII- QUẢN LÝ NGƯỜI ĐÃ CÓ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC TẠI CÔNG AN CẤP TỈNH ĐỂ TIẾN HÀNH CÁC THỦ TỤC CẦN THIẾT TRƯỚC KHI ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Theo quy định tại khoản 2, điều 14 và khoản 4, điều 17 Nghị định số 76 thì việc quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục chỉ được áp dụng đối với người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trong các trường hợp : a- Cần phải có thời gian để lập danh bản, lăn tay, chụp ảnh hoặc tiến hành các thủ tục cần thiết khác trước khi đưa họ đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành lập danh bản, lăn tay, chụp ảnh (màu hoặc đen trắng cỡ 3 x 4) đối tượng để bổ sung vào hồ sơ cho đầy đủ trước khi đưa họ vào cơ sở giáo dục). b- Đối tượng bị bắt giữ theo quyết định truy tìm và được chuyển đến Công an cấp tỉnh để quản lý trong thời gian chờ cơ quan có thẩm quyền đến nhận đối tượng đưa về cơ sở giáo dục. 2- Thời gian quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục tại Công an cấp tỉnh không quá 05 ngày và được tính vào thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục. Quyết định quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục do Giám đốc Công an cấp tỉnh (hoặc Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát được Giám đốc ủy quyền) ký và phải được gửi kèm theo hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục để làm cơ sở tính thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục cho người đó. 3- Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức quản lý và bố trí nơi quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục cho phù hợp, trường hợp nơi quản lý  đối tượng được bố trí trong khu vực trại tạm giam thì Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc quản lý đối tượng, phải có buồng dành riêng cho việc quản lý đối tượng, ngoài cửa phải có biển ghi rõ “ Buồng quản lý đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục ”. Nghiêm cấm việc giữ đối tượng nêu trên trong cùng một buồng với đối tượng bị tạm giữ, tạm giam theo thủ tục tố tụng hình sự, giữ chung nam, nữ trong cùng một buồng hoặc giữ tại những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho đối tượng. 4- Chế độ ăn, ở của đối tượng nêu trên trong thời gian quản lý tại Công an cấp tỉnh được hưởng như chế độ ăn, ở của trại viên cơ sở giáo dục, kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an. 5- Trường hợp đối tượng chết trong thời gian đang được quản lý tại Công an cấp tỉnh thì Thủ trưởng đơn vị nơi quản lý đối tượng phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát Nhân dân cùng cấp để xác định nguyên nhân chết và giải quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải thông báo ngay cho gia đình người chết biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi làm xong các thủ tục nêu trên, nếu gia đình người chết không đến nhận tử thi thì đơn vị quản lý đối tượng có trách nhiệm tổ chức mai táng tự thi, kinh phí mai táng do ngân sách Nhà nước cấp. IX- TRUY TÌM VÀ BẮT GIỮ ĐỐI TƯỢNG ĐÃ CÓ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC BỎ TRỐN : 1- Việc truy tìm và bắt giữ đối tượng đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn phải thực hiện theo đúng quy định tại điều 17, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. 2- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn trước khi đưa vào cơ sở giáo dục thì Trưởng Công an cấp huyện (nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ) ra quyết định truy tìm. Trường hợp Công an cấp tỉnh đã nhận đối tượng để đưa đi chấp hành quyết định mà đối tượng bỏ trốn trên đường dẫn giải hoặc bỏ trốn trong thời gian quản lý tại Công an cấp tỉnh thì Công an cấp tỉnh phải chuyển giao hồ sơ, tài liệu (quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, biên bản đối tượng bỏ trốn và các tài liệu khác có liên quan) cho Công an cấp huyện để ra quyết định truy tìm. 3- Trường hợp trại viên cơ sở giáo dục bọ trốn thì Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định truy tìm. Thời gian trốn khỏi cơ sở giáo dục không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định. 4- Tùy từng trường hợp cụ thể mà quyết định truy tìm sẽ được gửi cho cơ quan Công an và UBND địa phương nơi cần thiết để phục vụ cho việc truy tìm và bắt giữ đối tượng. X- HOÃN HOẶC MIỄN CHẤP HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục có thể được hoãn chấp hành quyết định, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây : a- Đang ốm nặng có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên. b- Đang mang thai, có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, có đơn đề nghị và được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. c- Gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt, có đơn đề nghị và được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. 2- Thời hạn được hoãn : đối với các trường hợp ốm nặng, mắc bệnh tâm thần hoặc hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt thì có thể cho họ được hoãn  chấp hành quyết định đến khi khỏi bệnh hoặc hoàn cảnh gia đình đã hết khó khăn đặc biệt; trường hợp phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con nhỏ thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Khi hết thời hạn được hoãn hoặc khi điều kiện được hoãn không còn thì người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục phải tự giác đến cơ quan Công an để được đưa đi chấp hành quyết định, nếu không tự giác, sẽ bị cưỡng chế thi hành. Công an các cấp có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát người được hoãn chấp hành quyết định, khi điều kiện được hoãn không còn thì phải kịp thời đưa họ vào cơ sở giáo dục để chấp hành quyết định. Phòng Cảnh sát hình sự có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Công an cấp huyện trong việc tổ chức đưa người phải chấp hành quyết định đến cơ sở giáo dục. 3- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng chưa đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục có thể được miễn chấp hành quyết định, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây : a- Đang mắc bệnh hiểm nghèo (có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên), đang mắc bệnh tâm thần có kết luận của cơ quan giám định có thẩm quyền và những người đó không còn nguy hiểm cho xã hội. b- Có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công trong thời gian được hoãn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cụ thể như sau : - “Có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật” quy định trong Thông tư này phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như : thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, tích cực tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và được Chủ tịch UBND từ cấp xã trở lên xác nhận, đề nghị. - Các trường hợp “ lập công ” quy định trong Thông tư này phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như : tố cáo những hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, dũng cảm cứu người, cứu tài sản có giá trị lớn của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được nhận giấy khen của Chủ tịch UBND từ cấp huyện trở lên, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận. Trường hợp đối tượng đang được hoãn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục chỉ được xét miễn chấp hành quyết định khi thời gian đã được hoãn ít nhất phải bằng một nửa thời hạn ghi trong quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, riêng trường hợp lập công thì có thể được xét miễn sớm hơn. 4- Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cho người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến cơ sở giáo dục chấp hành quyết định trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục và ý kiến của UBND cấp xã, nơi họ cư trú; trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho Công an cùng cấp thẩm tra, xác minh từng trường hợp cụ thể về việc xin hoãn hoặc miễn trước khi ra quyết định. XI- TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC, MIỄN CHẤP HÀNH PHẦN THỜI GIAN CÒN LẠI CHO TRẠI VIÊN CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Trường hợp trại viên bị ốm nặng và có đơn xin bảo lãnh của gia đình thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định để cho về gia đình điều trị, trong trường hợp này, Giám đốc cơ sở giáo dục phải lập hồ sơ đề nghị, trong đó phải có bệnh án hoặc bản sao bệnh án của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên, gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định, nếu sau khi sức khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ ba tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục. 2- Trại viên là phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ đề nghị, trong đó phải có giấy chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên, gửi về Cục Quản lý Trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định, nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì Giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên đó. 3- Trại viên bị mắc bệnh hiểm nghèo thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Giám đốc cơ sở giáo dục thành lập Hội đồng xét duyệt (thành phần như Hội đồng xét giảm thời hạn) và lập hồ sơ đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên, trong hồ sơ phải có bệnh án hoặc bản sao bệnh án của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên (có xác nhận rõ người đó đang mắc bệnh hiểm nghèo) gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. 4- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của cơ sở giáo dục, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải xem xét, quyết định việc tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho các trường hợp nêu tại các điểm 1, 2, 3 mục này. Quyết định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên phải được gửi cho cơ sở giáo dục, người phải chấp hành và gửi UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục, Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi họ về cư trú để theo dõi, quản lý. 5- Chậm nhất, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày ký quyết định hoặc 03 ngày kể từ ngày về đến địa phương, người được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại, phải đến trình diện tại UBND cấp xã nơi về cư trú, trường hợp ốn nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà không thể tự đến trình diện được thì thân nhân của người đó phải đến báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã. 6- Trường hợp trại viên được tạm đình chỉ chấp hành quyết định nêu tại điểm 1, điểm 2, mục này mà bị chết thì gia đình phải báo ngay cho UBND cấp xã và cơ sở giáo dục biết (kèm theo bản sao giấy khai tử có xác nhận của UBND cấp xã). Giám đốc cơ sở giáo dục làm báo cáo gửi Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng và thông báo cho UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục để biết. XII- GIẢM THỜI HẠN, MIỄN CHẤP HÀNH PHẦN THỜI GIAN CÒN LẠI CHO TRẠI VIÊN CÓ TIẾN BỘ RÕ RỆT HOẶC LẬP CÔNG : 1- Trại viên đã chấp hành được một nửa thời hạn ghi trong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm một phần hoặc miễn chếp hành phần thời gian còn lại. 2- Cơ sở giáo dục thành lập Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên, thành phần Hội đồng bao gồm : - Giám đốc cơ sở giáo dục - Chủ tịch Hội đồng. - Phó Giám đốc phụ trách công tác giáo dục - Phó Chủ tịch Hội đồng. - Đội trưởng Đội quản lý, giáo dục - Ủy viên thư ký. - Cán bộ hồ sơ và cán bộ quản lý, giáo dục trại viên - Ủy viên. - Chỉ huy trưởng lực lượng Cảnh sát bảo vệ tại cơ sở giáo dục - Ủy viên. - Bệnh xá trưởng hoặc Bác sĩ trực tiếp điều trị - Ủy viên (nếu đối tượng đề nghị xét miễn chấp hành phần thời gian còn lại là người đang mắc bệnh hiểm nghèo). Đối với cơ sở giáo dục có nhiều phân khu thì Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định thành lập tại mỗi phân khu một Tiểu ban xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục do Phó Giám đốc - phụ trách phân khu làm Trưởng tiểu ban. Thành phần Tiểu ban bao gồm : Trưởng phân khu, Đội trưởng quản lý, giáo dục (làm thư ký), cán bộ trinh sát, giáo dục của phân khu và quản giáo trực tiếp phụ trách đội trại viên. Tiểu ban có trách nhiệm xem xét đề nghị của các đội trực tiếp quản lý trại viên về việc giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục và làm văn bản báo cáo Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên của cơ sở giáo dục. 3- Căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả học tập, rèn luyện của trại viên, 4 tháng một lần (trừ trường hợp có yêu cầu xét giảm, miễn đột xuất), Hội đồng xét giảm hoặc miễn chấp hành thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức họp để xem xét từng trường hợp cụ thể. Khi Hội đồng họp, cán bộ quản lý giáo dục phải trình bày cụ thể và đề xuất mức giảm hoặc miễn chấp hành cho từng đối tượng thuộc đội mình phụ trách. Sau đó, Hội đồng xem xét, quyết định và làm hồ sơ đề nghị gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Hồ sơ đề nghị miễn, giảm thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục cho trại viên gồm biên bản họp Hội đồng, báo cáo đề nghị của cơ sở giáo dục, danh sách trại viên được đề nghị xét miễn, giảm và các tài liệu khác có liên quan. 4- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ sở giáo dục, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải thành lập Hội đồng xét duyệt do Cục trưởng hoặc Phó Cục trưởng được ủy quyền làm Chủ tịch Hội đồng với thành phần bao gồm Trưởng phòng theo dõi công tác cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên thường trực, Phó Trưởng phòng theo dõi công tác cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên thư ký, đại diện lãnh đạo phòng trinh sát và cán bộ trực tiếp theo dõi công tác xét miễn, giảm của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên. Đại diện lãnh đạo cơ sở giáo dục được mời tham dự cuộc họp để trực tiếp báo cáo từng trường hợp trước Hội đồng. Khi xem xét những đối tượng có hành vi vi phạm quy định tại điểm g, điểm h, khoản 2, mục I Thông tư này thì Chủ tịch Hội đồng xét miễn, giảm phải mời đại diện các cơ quan chức năng của Bộ Công an cùng tham dự. Hội đồng căn cứ vào hồ sơ đề nghị của cơ sở giáo dục và đối chiếu với các điều kiện, tiêu chuẩn quy định để xét duyệt, đề nghị mức giảm hoặc đề nghị miễn cho từng trường hợp. Trong thời hạn 05 ngày sau khi họp Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải xem xét, quyết định việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên. Quyết định giảm thời hạn chấp hành được gửi cho cơ sở giáo dục để lưu hồ sơ và thông báo cho trại viên biết. Quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại được gửi cho cơ sở giáo dục và người được miễn, UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục, Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi họ về cư trú. Người được miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục có trách nhiệm trình diện UBND cấp xã theo quy định tại điểm 5, mục XI Thông tư này. 5- Trường hợp trại viên đã được đề nghị giảm thời hạn hoặc đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại, nhưng trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định mà có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng nội quy cơ sở giáo dục thì Giám đốc cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng, lập hồ sơ, báo cáo ngay với Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, đề nghị đưa trại viên đó ra khỏi danh sách xét miễn, giảm; trường hợp đã có quyết định miễn, giảm, nhưng chưa thi hành thì đề nghị hủy quyết định. XIII- TRÍCH XUẤT TRẠI VIÊN : 1- Việc trích xuất trại viên chỉ được thực hiện khi có văn bản yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền theo quy định tại điều 23 Nghị định số 76; văn bản yêu cầu trích xuất phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, số giấy chứng minh nhân dân, quê quán của đối tượng cần trích xuất và lý do, thời hạn yêu cầu trích xuất trại viên. Nếu là yêu cầu của Viện Kiểm sát hoặc Tòa án thì phải có thêm công văn đề nghị của cơ quan Công an cùng cấp. Khi có văn bản yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định trích xuất và bàn giao trại viên có quyết định trích xuất cho Cán bộ Công an được giao trách nhiệm đến nhận trại viên. Cán bộ Công an đến nhận bàn giao đối tượng trích xuất phải có giấy chứng nhận Cảnh sát Nhân dân hoặc giấy chứng minh An ninh Nhân dân và giấy giới thiệu của cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên. Việc giao, nhận trại viên phải được lập biên bản theo mẫu thống nhất; biên bản giao, nhận trại viên phải lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. Sau khi bàn giao đối tượng trích xuất, cơ sở giáo dục phải sao gửi văn bản đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và quyết định trích xuất trại viên về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để theo dõi. Thời hạn trích xuất trại viên được tính vào thời hạn chấp hành tại cơ sở giáo dục. 2- Hết thời hạn trích xuất, cơ quan đã yêu cầu trích xuất có trách nhiệm đưa trả trại viên về cơ sở giáo dục. Trường hợp có yêu cầu gia hạn trích xuất trại viên thì Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có văn bản đề nghị Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định gia hạn trích xuất trại viên. Cơ sở giáo dục phải báo cáo bằng văn bản về việc gia hạn trích xuất trại viên về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để theo dõi. XIV- THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ sở giáo dục trên phạm vi cả nước. 2- Cơ sở giáo dục được thành lập theo từng khu vực. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hàng năm có số lượng người phải đưa vào cơ sở giáo dục từ 500 người trở lên thì có thể lập phương án đề nghị Bộ Trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định thành lập cơ sở giáo dục đặt tại tỉnh, thành phố đó. Phương án đề nghị thành lập cơ sở giáo dục do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị phải nêu rõ quy mô, địa điểm, kinh phí xây dựng và những vấn đề khác có liên quan đến việc thành lập và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục. 3- Giám đốc, Phó Giám đốc cơ sở giáo dục phải là người đã tốt nghiệp học viện Cảnh sát Nhân dân, Học viện An ninh Nhân dân hoặc các trường Đại học Cảnh sát Nhân dân, Đại học An ninh Nhân dân, Đại học Luật, Đại học Khoa Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư phạm  và phải có kiến thức, kinh nghiệm về quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật. XV- QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KẾT QUẢ LAO ĐỘNG CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC : 1- Việc quản lý, sử dụng kết quả lao động của cơ sở giáo dục phải được thống nhất quản lý, sử dụng theo đúng quy định tại điều 31 Nghị định số 76 và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; phải thực hiện đúng chế độ sổ sách, kế toán theo quy định. 2- Kết quả lao động của cơ sở giáo dục sau khi trừ các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật, số còn lại được phân phối sử dụng như sau : - 30% chi cho đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục. - 25% chi hỗ trợ cho việc khám , chữa bệnh, bồi dưỡng ăn thêm cho trại viên. - 20% chi cho hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề (xây dựng chương trình giáo dục, mua sắm, in ấn tài liệu học tập, giấy bút, phương tiện học tập và tiền thuê giáo viên bên ngoài (nếu có). - 10% làm quỹ phúc lợi của cơ sở giáo dục, chi cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của cơ sở giáo dục. - 08% chi cho khen thưởng trại viên có thành tích xuất sắc trong rèn luyện, lao động, học tập. - 05% chi cho việc khen thưởng cán bộ, chiến sĩ có thành tích trong việc quản lý, giáo dục trại viên. - 02% nộp về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để làm quỹ khen thưởng chung cho các cơ sở giáo dục và chi cho các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục. Phần kinh phí thu được do trại viên làm vượt chỉ tiêu, định mức được giao được sử dụng như sau : - 70% chi bồi dưỡng cho trại viên lao động vượt chỉ tiêu, định mức được giao. - 20% chi bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ cơ sở giáo dục có thành tích trong việc chỉ đạo, quản lý trại viên lao động vượt chỉ tiêu được giao. - 10% làm quỹ phúc lợi của cơ sở giáo dục. Riêng việc sử dụng kết quả lao động, sản xuất của cơ sở giáo dục để chi cho việc xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở giáo dục phải báo cáo bằng văn bản để xin ý kiến của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng trước khi thực hiện. 3- Định kỳ 6 tháng, 01 năm cơ sở giáo dục phải báo cáo cụ thể về tình hình, kết quả sản xuất, việc quản lý, sử dụng kết quả sản xuất của cơ sở mình về Bộ (qua Tổng cục Hậu cần, Vụ Tài chính, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng). 4- Tổng cục Hậu cần, Vụ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn cơ sở giáo dục thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng kết quả lao động của cơ sở giáo dục và định kỳ hàng năm báo cáo Lãnh đạo Bộ. XVI- CHẾ ĐỘ THĂM GẶP NGƯỜI THÂN, NHẬN, GỬI THƯ, NHẬN TIỀN, QUÀ : Chế độ thăm gặp người thân, nhận, gửi thư, nhận tiền, quà của trại viên cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 33 Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. Khi gặp gỡ thân nhân, trại viên được nhận quà, thư và tiền. Mỗi tháng, trại viên đượ gửi 02 lá thư và được nhận một gói quà không quá 07 kg, các thư và quà đều phải qua kiểm tra của cơ sở giáo dục. XVII- KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT TRẠI VIÊN : 1- Việc khen thưởng, kỷ luật trại viên phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 34 Nghị định số 76. Quyết định khen thưởng, kỷ luật phải bằng văn bản và lưu vào hồ sơ của trại viên để theo dõi. 2- Việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 2, điều 34 Nghị định số 76 chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết và phải chú ý : hành vi vi phạm pháp luật của trại viên phải có tính chất thường xuyên và đã bị áp dụng các hình thức kỷ luật từ 3 lần trở lên, nhưng vẫn không chịu sửa chữa, vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại điểm 2, mục I Thông tư này thì mới lập hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với họ; thành phần Hội đồng xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục được thực hiện như đối với Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên nêu tại điểm 2, mục XII Thông tư này. Hồ sơ đề nghị bao gồm : a- Biên bản họp Hội đồng kỷ luật của cơ sở giáo dục về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. b- Báo cáo và đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. c- Bản tóm tắt lý lịch, biên bản, tài liệu về các vi phạm pháp luật của trại viên. d- Các biên bản trại viên vi phạm kỷ luật, các quyết định kỷ luật trại viên và tài liệu khác có liên quan đến việc vi phạm pháp luật của trại viên. 3- Giám đốc cơ sở giáo dục phải gửi hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Tổng cục Cảnh sát, Vụ Pháp chế và các đơn vị liên quan xem xét hồ sơ, nếu đủ điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục với người đó thì phải có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng xem xét, quyết định. Quyết định áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục trong trường hợp này được gửi cơ sở giáo dục nơi lập hồ sơ đề nghị để tổ chức thi hành; gửi UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục và UBND cấp xã nơi cư trú của người đó để biết. Đến ngày trại viên hết thời hạn phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục mà chưa có quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó thì Giám đốc cơ sở giáo dục phải làm thủ tục cho họ ra khỏi cơ sở giáo dục theo quy định. XVIII- TỔ CHỨC THỰC HIỆN : 1- Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 20 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Thông tư số 07/1998/TT-BCA ngày 03/12/1998 của Bộ Công an về hướng dẫn thi hành một số quy định của Quy chế về cơ sở giáo dục ban hành kèm theo Nghị định số 32/CP ngày 14/4/1997 của Chính phủ. Những quy định trước đây của Bộ Công an trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2- Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Thanh tra Bộ, Vụ Pháp chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra và hướng dẫn thi hành Thông tư này. 3- Các Tổng cục trưởng, Vụ trưởng, Cục trưởng các Vụ, Cục trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, cần báo cáo kịp thời về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=25489&Keyword=
2025-09-24T02:32:24.303262
../data\bocongan\022004TT-BCA\document.json
08/06/2009
THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ - CP ngày 27 tháng 6 năm 2003 về quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục ____________________________________________ Ngày 27/6/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2003/NĐ - CP quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, để thực hiện thống nhất Nghị định nêu trên của Chính phủ, Bộ Công an hướng dẫn chi tiết thi hành một số nội dung cụ thể của Nghị định như sau: I - ĐỐI TƯỢNG ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Việc xác định đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định của khoản 2, điều 25 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, khoản 1, điều 3, Nghị định 76/2003/NĐ - CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ về quy định và hướng dẫn cục thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục (sau đây viết tắt là Nghị định số 76) và hướng dẫn tại Thông tư này. 2 - Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm những người có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây có tính chất thường xuyên, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định: a - Xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài. b - Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài. c - Đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật. d - Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. đ - Tổ chức, môi giới mại dâm. e - Gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ. g - Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. h - Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. i - Các hành vi khác vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội. 3 - Để bảo đảm đưa người vào cơ sở giáo dục đúng quy định, tránh oan, sai, đồng thời không để lọt đối tượng, trong quá trình xem xét, lập hồ sơ, cần chú ý: hành vi vi phạm đó phải chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và phải có tính chất thường xuyên. Các trường hợp sau đây được coi là vi phạm có tính chất thường xuyên: a - Người không có nơi cư trú nhất định có từ hai lần vi phạm trở lên trong thời hạn 12 tháng. Các trường hợp sau đây được coi là không có nơi cư trú nhất định: - Không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định. - Có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống tại đó và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định. b - Người có nơi cư trú nhất định đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng sau đó lại thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. Các trường hợp sau đây được coi là đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: - Đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà có hành vi vi phạm được quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. - Đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại có hành vi vi phạm được quy định tại điểm 2, mục I Thông tư này. Cần lưu ý: Đối với người có nơi cư trú nhất định, trong mọi trường hợp đều nhất thiết phải có điều kiện là đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì mới có thể lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. 4 - Các trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 2 và khoản 7, điều 9, Nghị định số 76 cũng phải có đủ các điều kiện quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. 5 - Trong trường hợp hành vi vi phạm lần sau cũng đã được cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng sau khi xem xét, không đủ điều kiện để đề nghị áp dụng biện pháp này hoặc đã đề nghị nhưng không được Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xử phạt theo quy định của pháp luật, trong trường hợp này thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được hồ sơ. Trong thời hạn nêu trên, nếu người đó lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại điểm này mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt. 6 - Trường hợp một người thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì theo quy định tại điều 113 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và điều 12 Nghị định số 76, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Trong trường hợp cơ quan Công an đã thụ lý hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục mà phát hiện người đó thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh được quy định tại điều 26, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì phải chuyển ngay toàn bộ hồ sơ đó cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quy định của pháp luật. 7 - Đối với trường hợp đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà bỏ trốn, đến khi bị bắt lại mà người đó đã đủ 18 tuổi trở lên thì theo quy định tại khoản 2, điều 52 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Trưởng Công an cấp huyện làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cùng cấp hủy quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục theo thủ tục chung, mà không cần phải có điều kiện là đã bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn. II - KINH PHÍ BẢO ĐẢM CHO TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Kinh phí bảo đảm cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm: a - Kinh phí cho việc lập, xét duyệt hồ sơ, cho việc tổ chức đưa người vào cơ sở giáo dục, cho việc quản lý, ăn uống, sinh hoạt của đối tượng trong thời hạn được quản lý tại Công an cấp tỉnh trước khi đưa họ vào cơ sở giáo dục, cho việc truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. b - Kinh phí cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục, cho ăn, mặc, ở, học tập, dạy nghề, văn nghệ, thể thao và phòng bệnh, chữa bệnh của trại viên. c - Kinh phí cho các khoản chi khác có liên quan đến việc tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. 2 - Kinh phí bảo đảm cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do ngân sách Nhà nước cân đối, bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an. Việc lập dự trù kinh phí thường xuyên cho tổ chức thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục được thực hiện như sau: a - Công an cấp xã lập dự trù kinh phí gửi Công an cấp huyện, Công an cấp huyện tổng hợp, báo cáo Công an cấp tỉnh. Trên cơ sở đề xuất của Công an cấp huyện và các đơn vị chức năng, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm lập dự trù kinh phí cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục của địa phương mình gửi Vụ Tài chính. b - Cơ sở giáo dục lập dự trù kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục, cho ăn, mặc, ở, học tập, phòng bệnh, chữa bệnh của trại viên và cho các hoạt động khác của cơ sở giáo dục, gửi báo cáo Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng. Trên cơ sở đề xuất của các cơ sở giáo dục, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng lập dự trù kinh phí chung cho các cơ sở giáo dục, gửi Vụ Tài chính. c - Trên cơ sở dự trù kinh phí của Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Vụ Tài chính lập dự trù kinh phí chung để bảo đảm cho việc thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trình lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định. III - VỀ LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 9 Nghị định số 76. Hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục đối với người có nơi cư trú nhất định phải theo đúng quy định tại khoản 1, điều 9 Nghị định số 76, về ý kiến của UBMTTQ và các tổ chức xã hội cấp xã có liên quan thì tùy từng trường hợp cụ thể, Chủ tịch UBND cấp xã có thể tổ chức cuộc họp hoặc lấy ý kiến tham gia bằng văn bản. Ý kiến của UBMTTQ và tổ chức xã hội cấp xã phải được Chủ tịch UBND cùng cấp nghiên cứu, tham khảo để cân nhắc trong quá trính xem xét, quyết định việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. 2 - Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thu thập tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND cùng cấp duyệt, trình Chủ tịch UBND cấp huyện. IV - PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC CHỈ ĐẠO, HƯỚNG DẪN, LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ TỔ CHỨC ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát và lãnh đạo Bộ trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục, tổ chức đưa người vào cơ sơ giáo dục. 2 - Giám đốc Công an cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm: a - Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục, giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo thẩm quyền. b - Làm Thường trực Hội đồng tư vấn, trường hợp vì lý do khác mà không thể tham gia Hội đồng tư vấn thì ủy quyền Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát làm thường trực Hội đồng tư vấn. 3 - Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm. a - Chủ trì phối hợp với Trưởng phòng Cảnh sát điều tra, Văn phòng Công an tỉnh, thành phố (bộ phận Pháp chế) và các đơn vị có liên quan giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh trong việc xem xét, lập hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục và hướng dẫn lực lượng Cảnh sát hình sự thuộc Công an cấp huyện trong việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. b - Chậm nhất 07 ngày trước khi họp Hội đồng tư vấn, phải sao gửi các thành viên Hội đồng tư vấn văn bản của Chủ tịch UBND cấp huyện đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục (hoặc văn bản của cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 7, điều 9 Nghị định số 76), bản tóm tắt lý lịch và hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến việc xem xét, quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, đồng thời gửi giấy mời đại diện thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh tham dự cuộc họp Hội đồng tư vấn (kèm theo tài liệu nêu trên). c - Tổ chức thực hiện quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc đưa người vào cơ sở giáo dục. d - Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh thẩm tra, xác minh để đề xuất Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 76. 4 - Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm: a - Hướng dẫn Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục, chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng giúp Chủ tịch UBND cùng cấp xem xét, thẩm định hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục. b - Phối hợp với phòng Cảnh sát hình sự trong việc tổ chức thực hiện quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc đưa người vào cơ sở giáo dục, ra quyết định truy tìm theo thẩm quyền và tổ chức bắt giữ đối tượng đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn. 5 - Lực lượng Cảnh sát hình sự Công an các cấp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra và các đơn vị có liên quan giúp lãnh đạo Công an cùng cấp trong việc xem xét, lập hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục và tiến hành các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. 6 - Trưởng Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND cùng cấp trong việc lập hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật, phối hợp và thực hiện sự hướng dẫn, chỉ đạo của Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện trong việc tổ chức đưa người vào cơ sở giáo dục, bắt giữ đối tượng có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn, quản lý đối tượng được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. V - HỘI ĐỒNG TƯ VẤN VỀ VIỆC ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Theo quy định tại điều 10, Nghị định số 76, thành phần Hội đồng tư vấn về việc đưa người vào cơ sở giáo dục bao gồm: a - Giám đốc Công an - Thường trực Hội đồng. b - Giám đốc Sở Tư pháp - Thành viên. c - Giám đốc Sở Lao động - TBXH - “ d - Chủ tịch UBMTTQ. VN cấp tỉnh - “ 2 - Đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh được mời tham dự phiên họp Hội đồng tư vấn. Đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân có thể phát biểu ý kiến tham gia nhưng không biểu quyết, trường hợp đại diện thường trực Hội đồng Nhân dân không đến dự được thì cuộc họp Hội đồng Tư vấn vẫn phải tiến hành bình thường. VI - QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. 2 - Quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho Công an cấp tỉnh, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó và giao cho người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trước khi thi hành. 3 - Nội dung quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định, họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị đưa vào cơ sở giáo dục, hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của văn bản được áp dụng; thời hạn phải chấp hành quyết định; nơi chấp hành quyết định; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định của Pháp luật. 4 - Trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đang phải chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (thuộc trường hợp quy định tại tiết b, điểm 3, mục I Thông tư này) thì trong quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải có nội dung hủy quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người đó để họ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. VII - THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự có trách nhiệm tổ chức đưa người có quyết định vào cơ sở giáo dục. Việc thi hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục phải lập biên bản theo mẫu quy định, biên bản được lập thành 02 bản, một bản lưu ở phòng Cảnh sát Hình sự, một bản gửi kèm theo hồ sơ đưa người vào cơ sở giáo dục. Khi công bố quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, nếu đối tượng có đơn đề nghị hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định thì phải xem xét ngay, nếu có đủ điều kiện để được hoãn hoặc miễn theo quy định của Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này thì phải làm văn bản đề xuất Giám đốc Công an cấp tỉnh báo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp ra quyết định hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cho người đó. Thời hạn chấp hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp này được đưa đi chấp hành quyết định (bao gồm cả thời gian đi đường và thời gian được quản lý tại Công an cấp tỉnh). 2 - Hồ sơ, thủ tục khi đưa người có quyết định vào cơ sở giáo dục: a - Khi đưa người vào cơ sở giáo dục phải có hồ sơ kèm theo, bao gồm: - Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. - Bản tóm tắt lý lịch và vi phạm pháp luật của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. - Danh bản của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. - Quyết định quản lý đối tượng tại Công an cấp tỉnh trước khi đưa vào cơ sở giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến việc quản lý, giáo dục đối tượng (nếu có). b - Khi giao, nhận người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục phải lập biên bản, trong đó phải ghi rõ tình trạng sức khỏe của người giao, nhận; hồ sơ, tài liệu kèm theo và những vấn đề khác có liên quan đến việc giao, nhận đối tượng. 3 - Người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục hoặc người bị bắt giữ theo quyết định truy tìm, nếu không tự giác chấp hành hoặc có hành vi chống đối thì có thể bị khóa hoặc trói tay để áp giải hoặc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết khác theo quy định của pháp luật để buộc người đó phải chấp hành quyết định. Trường hợp hành vi chống đối có dấu hiệu của tội phạm thì phải lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của Bộ luật Hình sự. VIII - QUẢN LÝ NGƯỜI ĐÃ CÓ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC TẠI CÔNG AN CẤP TỈNH ĐỂ TIẾN HÀNH CÁC THỦ TỤC CẦN THIẾT TRƯỚC KHI ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Theo quy định tại khoản 2, điều 14 và khoản 4, điều 17 Nghị định số 76 thì việc quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục chỉ được áp dụng đối với người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trong các trường hợp: a - Cần phải có thời gian để lập danh bản, lăn tay, chụp ảnh hoặc tiến hành các thủ tục cần thiết khác trước khi đưa họ đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành lập danh bản, lăn tay, chụp ảnh (màu hoặc đen trắng cỡ 3 x 4) đối tượng để bổ sung vào hồ sơ cho đầy đủ trước khi đưa họ vào cơ sở giáo dục). b - Đối tượng bị bắt giữ theo quyết định truy tìm và được chuyển đến Công an cấp tỉnh để quản lý trong thời gian chờ cơ quan có thẩm quyền đến nhận đối tượng đưa về cơ sở giáo dục. 2 - Thời gian quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục tại Công an cấp tỉnh không quá 05 ngày và được tính vào thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục. Quyết định quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục do Giám đốc Công an cấp tỉnh (hoặc Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát được Giám đốc ủy quyền) ký và phải được gửi kèm theo hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục để làm cơ sở tính thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục cho người đó. 3 - Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức quản lý và bố trí nơi quản lý đối tượng trước khi đưa vào cơ sở giáo dục cho phù hợp, trường hợp nơi quản lý đối tượng được bố trí trong khu vực trại tạm giam thì Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc quản lý đối tượng, phải có buồng dành riêng cho việc quản lý đối tượng, ngoài cửa phải có biển ghi rõ “ Buồng quản lý đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục ”. Nghiêm cấm việc giữ đối tượng nêu trên trong cùng một buồng với đối tượng bị tạm giữ, tạm giam theo thủ tục tố tụng hình sự, giữ chung nam, nữ trong cùng một buồng hoặc giữ tại những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho đối tượng. 4 - Chế độ ăn, ở của đối tượng nêu trên trong thời gian quản lý tại Công an cấp tỉnh được hưởng như chế độ ăn, ở của trại viên cơ sở giáo dục, kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an. 5 - Trường hợp đối tượng chết trong thời gian đang được quản lý tại Công an cấp tỉnh thì Thủ trưởng đơn vị nơi quản lý đối tượng phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát Nhân dân cùng cấp để xác định nguyên nhân chết và giải quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải thông báo ngay cho gia đình người chết biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi làm xong các thủ tục nêu trên, nếu gia đình người chết không đến nhận tử thi thì đơn vị quản lý đối tượng có trách nhiệm tổ chức mai táng tự thi, kinh phí mai táng do ngân sách Nhà nước cấp. IX - TRUY TÌM VÀ BẮT GIỮ ĐỐI TƯỢNG ĐÃ CÓ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC BỎ TRỐN: 1 - Việc truy tìm và bắt giữ đối tượng đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn phải thực hiện theo đúng quy định tại điều 17, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. 2 - Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn trước khi đưa vào cơ sở giáo dục thì Trưởng Công an cấp huyện (nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ) ra quyết định truy tìm. Trường hợp Công an cấp tỉnh đã nhận đối tượng để đưa đi chấp hành quyết định mà đối tượng bỏ trốn trên đường dẫn giải hoặc bỏ trốn trong thời gian quản lý tại Công an cấp tỉnh thì Công an cấp tỉnh phải chuyển giao hồ sơ, tài liệu (quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, biên bản đối tượng bỏ trốn và các tài liệu khác có liên quan) cho Công an cấp huyện để ra quyết định truy tìm. 3 - Trường hợp trại viên cơ sở giáo dục bọ trốn thì Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định truy tìm. Thời gian trốn khỏi cơ sở giáo dục không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định. 4 - Tùy từng trường hợp cụ thể mà quyết định truy tìm sẽ được gửi cho cơ quan Công an và UBND địa phương nơi cần thiết để phục vụ cho việc truy tìm và bắt giữ đối tượng. X - HOÃN HOẶC MIỄN CHẤP HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục có thể được hoãn chấp hành quyết định, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a - Đang ốm nặng có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên. b - Đang mang thai, có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, có đơn đề nghị và được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. c - Gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt, có đơn đề nghị và được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. 2 - Thời hạn được hoãn: đối với các trường hợp ốm nặng, mắc bệnh tâm thần hoặc hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt thì có thể cho họ được hoãn chấp hành quyết định đến khi khỏi bệnh hoặc hoàn cảnh gia đình đã hết khó khăn đặc biệt; trường hợp phụ nữ có thai hoặc đang phải nuôi con nhỏ thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Khi hết thời hạn được hoãn hoặc khi điều kiện được hoãn không còn thì người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục phải tự giác đến cơ quan Công an để được đưa đi chấp hành quyết định, nếu không tự giác, sẽ bị cưỡng chế thi hành. Công an các cấp có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát người được hoãn chấp hành quyết định, khi điều kiện được hoãn không còn thì phải kịp thời đưa họ vào cơ sở giáo dục để chấp hành quyết định. Phòng Cảnh sát hình sự có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Công an cấp huyện trong việc tổ chức đưa người phải chấp hành quyết định đến cơ sở giáo dục. 3 - Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng chưa đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục có thể được miễn chấp hành quyết định, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a - Đang mắc bệnh hiểm nghèo (có chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên), đang mắc bệnh tâm thần có kết luận của cơ quan giám định có thẩm quyền và những người đó không còn nguy hiểm cho xã hội. b - Có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công trong thời gian được hoãn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cụ thể như sau: - “Có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật” quy định trong Thông tư này phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như: thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, tích cực tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và được Chủ tịch UBND từ cấp xã trở lên xác nhận, đề nghị. - Các trường hợp “ lập công ” quy định trong Thông tư này phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như: tố cáo những hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, dũng cảm cứu người, cứu tài sản có giá trị lớn của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được nhận giấy khen của Chủ tịch UBND từ cấp huyện trở lên, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận. Trường hợp đối tượng đang được hoãn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục chỉ được xét miễn chấp hành quyết định khi thời gian đã được hoãn ít nhất phải bằng một nửa thời hạn ghi trong quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, riêng trường hợp lập công thì có thể được xét miễn sớm hơn. 4 - Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cho người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến cơ sở giáo dục chấp hành quyết định trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục và ý kiến của UBND cấp xã, nơi họ cư trú; trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho Công an cùng cấp thẩm tra, xác minh từng trường hợp cụ thể về việc xin hoãn hoặc miễn trước khi ra quyết định. XI - TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH QUYẾT ĐỊNH ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC, MIỄN CHẤP HÀNH PHẦN THỜI GIAN CÒN LẠI CHO TRẠI VIÊN CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Trường hợp trại viên bị ốm nặng và có đơn xin bảo lãnh của gia đình thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định để cho về gia đình điều trị, trong trường hợp này, Giám đốc cơ sở giáo dục phải lập hồ sơ đề nghị, trong đó phải có bệnh án hoặc bản sao bệnh án của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên, gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định, nếu sau khi sức khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ ba tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục. 2 - Trại viên là phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ đề nghị, trong đó phải có giấy chứng nhận của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên, gửi về Cục Quản lý Trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định, nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì Giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên đó. 3 - Trại viên bị mắc bệnh hiểm nghèo thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Giám đốc cơ sở giáo dục thành lập Hội đồng xét duyệt (thành phần như Hội đồng xét giảm thời hạn) và lập hồ sơ đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên, trong hồ sơ phải có bệnh án hoặc bản sao bệnh án của Trung tâm Y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên (có xác nhận rõ người đó đang mắc bệnh hiểm nghèo) gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. 4 - Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của cơ sở giáo dục, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải xem xét, quyết định việc tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho các trường hợp nêu tại các điểm 1, 2, 3 mục này. Quyết định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên phải được gửi cho cơ sở giáo dục, người phải chấp hành và gửi UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục, Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi họ về cư trú để theo dõi, quản lý. 5 - Chậm nhất, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày ký quyết định hoặc 03 ngày kể từ ngày về đến địa phương, người được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại, phải đến trình diện tại UBND cấp xã nơi về cư trú, trường hợp ốn nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà không thể tự đến trình diện được thì thân nhân của người đó phải đến báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã. 6 - Trường hợp trại viên được tạm đình chỉ chấp hành quyết định nêu tại điểm 1, điểm 2, mục này mà bị chết thì gia đình phải báo ngay cho UBND cấp xã và cơ sở giáo dục biết (kèm theo bản sao giấy khai tử có xác nhận của UBND cấp xã). Giám đốc cơ sở giáo dục làm báo cáo gửi Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng và thông báo cho UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục để biết. XII - GIẢM THỜI HẠN, MIỄN CHẤP HÀNH PHẦN THỜI GIAN CÒN LẠI CHO TRẠI VIÊN CÓ TIẾN BỘ RÕ RỆT HOẶC LẬP CÔNG: 1 - Trại viên đã chấp hành được một nửa thời hạn ghi trong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm một phần hoặc miễn chếp hành phần thời gian còn lại. 2 - Cơ sở giáo dục thành lập Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên, thành phần Hội đồng bao gồm: - Giám đốc cơ sở giáo dục - Chủ tịch Hội đồng. - Phó Giám đốc phụ trách công tác giáo dục - Phó Chủ tịch Hội đồng. - Đội trưởng Đội quản lý, giáo dục - Ủy viên thư ký. - Cán bộ hồ sơ và cán bộ quản lý, giáo dục trại viên - Ủy viên. - Chỉ huy trưởng lực lượng Cảnh sát bảo vệ tại cơ sở giáo dục - Ủy viên. - Bệnh xá trưởng hoặc Bác sĩ trực tiếp điều trị - Ủy viên (nếu đối tượng đề nghị xét miễn chấp hành phần thời gian còn lại là người đang mắc bệnh hiểm nghèo). Đối với cơ sở giáo dục có nhiều phân khu thì Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định thành lập tại mỗi phân khu một Tiểu ban xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục do Phó Giám đốc - phụ trách phân khu làm Trưởng tiểu ban. Thành phần Tiểu ban bao gồm: Trưởng phân khu, Đội trưởng quản lý, giáo dục (làm thư ký), cán bộ trinh sát, giáo dục của phân khu và quản giáo trực tiếp phụ trách đội trại viên. Tiểu ban có trách nhiệm xem xét đề nghị của các đội trực tiếp quản lý trại viên về việc giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục và làm văn bản báo cáo Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên của cơ sở giáo dục. 3 - Căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả học tập, rèn luyện của trại viên, 4 tháng một lần (trừ trường hợp có yêu cầu xét giảm, miễn đột xuất), Hội đồng xét giảm hoặc miễn chấp hành thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức họp để xem xét từng trường hợp cụ thể. Khi Hội đồng họp, cán bộ quản lý giáo dục phải trình bày cụ thể và đề xuất mức giảm hoặc miễn chấp hành cho từng đối tượng thuộc đội mình phụ trách. Sau đó, Hội đồng xem xét, quyết định và làm hồ sơ đề nghị gửi về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét, quyết định. Hồ sơ đề nghị miễn, giảm thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục cho trại viên gồm biên bản họp Hội đồng, báo cáo đề nghị của cơ sở giáo dục, danh sách trại viên được đề nghị xét miễn, giảm và các tài liệu khác có liên quan. 4 - Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ sở giáo dục, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải thành lập Hội đồng xét duyệt do Cục trưởng hoặc Phó Cục trưởng được ủy quyền làm Chủ tịch Hội đồng với thành phần bao gồm Trưởng phòng theo dõi công tác cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên thường trực, Phó Trưởng phòng theo dõi công tác cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên thư ký, đại diện lãnh đạo phòng trinh sát và cán bộ trực tiếp theo dõi công tác xét miễn, giảm của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên. Đại diện lãnh đạo cơ sở giáo dục được mời tham dự cuộc họp để trực tiếp báo cáo từng trường hợp trước Hội đồng. Khi xem xét những đối tượng có hành vi vi phạm quy định tại điểm g, điểm h, khoản 2, mục I Thông tư này thì Chủ tịch Hội đồng xét miễn, giảm phải mời đại diện các cơ quan chức năng của Bộ Công an cùng tham dự. Hội đồng căn cứ vào hồ sơ đề nghị của cơ sở giáo dục và đối chiếu với các điều kiện, tiêu chuẩn quy định để xét duyệt, đề nghị mức giảm hoặc đề nghị miễn cho từng trường hợp. Trong thời hạn 05 ngày sau khi họp Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng phải xem xét, quyết định việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên. Quyết định giảm thời hạn chấp hành được gửi cho cơ sở giáo dục để lưu hồ sơ và thông báo cho trại viên biết. Quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại được gửi cho cơ sở giáo dục và người được miễn, UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục, Công an cấp huyện, UBND cấp xã nơi họ về cư trú. Người được miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục có trách nhiệm trình diện UBND cấp xã theo quy định tại điểm 5, mục XI Thông tư này. 5 - Trường hợp trại viên đã được đề nghị giảm thời hạn hoặc đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn lại, nhưng trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định mà có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng nội quy cơ sở giáo dục thì Giám đốc cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng, lập hồ sơ, báo cáo ngay với Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, đề nghị đưa trại viên đó ra khỏi danh sách xét miễn, giảm; trường hợp đã có quyết định miễn, giảm, nhưng chưa thi hành thì đề nghị hủy quyết định. XIII - TRÍCH XUẤT TRẠI VIÊN: 1 - Việc trích xuất trại viên chỉ được thực hiện khi có văn bản yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền theo quy định tại điều 23 Nghị định số 76; văn bản yêu cầu trích xuất phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, số giấy chứng minh nhân dân, quê quán của đối tượng cần trích xuất và lý do, thời hạn yêu cầu trích xuất trại viên. Nếu là yêu cầu của Viện Kiểm sát hoặc Tòa án thì phải có thêm công văn đề nghị của cơ quan Công an cùng cấp. Khi có văn bản yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định trích xuất và bàn giao trại viên có quyết định trích xuất cho Cán bộ Công an được giao trách nhiệm đến nhận trại viên. Cán bộ Công an đến nhận bàn giao đối tượng trích xuất phải có giấy chứng nhận Cảnh sát Nhân dân hoặc giấy chứng minh An ninh Nhân dân và giấy giới thiệu của cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên. Việc giao, nhận trại viên phải được lập biên bản theo mẫu thống nhất; biên bản giao, nhận trại viên phải lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. Sau khi bàn giao đối tượng trích xuất, cơ sở giáo dục phải sao gửi văn bản đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và quyết định trích xuất trại viên về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để theo dõi. Thời hạn trích xuất trại viên được tính vào thời hạn chấp hành tại cơ sở giáo dục. 2 - Hết thời hạn trích xuất, cơ quan đã yêu cầu trích xuất có trách nhiệm đưa trả trại viên về cơ sở giáo dục. Trường hợp có yêu cầu gia hạn trích xuất trại viên thì Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có văn bản đề nghị Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định gia hạn trích xuất trại viên. Cơ sở giáo dục phải báo cáo bằng văn bản về việc gia hạn trích xuất trại viên về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để theo dõi. XIV - THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ sở giáo dục trên phạm vi cả nước. 2 - Cơ sở giáo dục được thành lập theo từng khu vực. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hàng năm có số lượng người phải đưa vào cơ sở giáo dục từ 500 người trở lên thì có thể lập phương án đề nghị Bộ Trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định thành lập cơ sở giáo dục đặt tại tỉnh, thành phố đó. Phương án đề nghị thành lập cơ sở giáo dục do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị phải nêu rõ quy mô, địa điểm, kinh phí xây dựng và những vấn đề khác có liên quan đến việc thành lập và tổ chức hoạt động của cơ sở giáo dục. 3 - Giám đốc, Phó Giám đốc cơ sở giáo dục phải là người đã tốt nghiệp học viện Cảnh sát Nhân dân, Học viện An ninh Nhân dân hoặc các trường Đại học Cảnh sát Nhân dân, Đại học An ninh Nhân dân, Đại học Luật, Đại học Khoa Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư phạm và phải có kiến thức, kinh nghiệm về quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật. XV - QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KẾT QUẢ LAO ĐỘNG CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC: 1 - Việc quản lý, sử dụng kết quả lao động của cơ sở giáo dục phải được thống nhất quản lý, sử dụng theo đúng quy định tại điều 31 Nghị định số 76 và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; phải thực hiện đúng chế độ sổ sách, kế toán theo quy định. 2 - Kết quả lao động của cơ sở giáo dục sau khi trừ các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật, số còn lại được phân phối sử dụng như sau: - 30% chi cho đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục. - 25% chi hỗ trợ cho việc khám, chữa bệnh, bồi dưỡng ăn thêm cho trại viên. - 20% chi cho hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề (xây dựng chương trình giáo dục, mua sắm, in ấn tài liệu học tập, giấy bút, phương tiện học tập và tiền thuê giáo viên bên ngoài (nếu có). - 10% làm quỹ phúc lợi của cơ sở giáo dục, chi cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của cơ sở giáo dục. - 08% chi cho khen thưởng trại viên có thành tích xuất sắc trong rèn luyện, lao động, học tập. - 05% chi cho việc khen thưởng cán bộ, chiến sĩ có thành tích trong việc quản lý, giáo dục trại viên. - 02% nộp về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để làm quỹ khen thưởng chung cho các cơ sở giáo dục và chi cho các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục. Phần kinh phí thu được do trại viên làm vượt chỉ tiêu, định mức được giao được sử dụng như sau: - 70% chi bồi dưỡng cho trại viên lao động vượt chỉ tiêu, định mức được giao. - 20% chi bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ cơ sở giáo dục có thành tích trong việc chỉ đạo, quản lý trại viên lao động vượt chỉ tiêu được giao. - 10% làm quỹ phúc lợi của cơ sở giáo dục. Riêng việc sử dụng kết quả lao động, sản xuất của cơ sở giáo dục để chi cho việc xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở giáo dục phải báo cáo bằng văn bản để xin ý kiến của Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng trước khi thực hiện. 3 - Định kỳ 6 tháng, 01 năm cơ sở giáo dục phải báo cáo cụ thể về tình hình, kết quả sản xuất, việc quản lý, sử dụng kết quả sản xuất của cơ sở mình về Bộ (qua Tổng cục Hậu cần, Vụ Tài chính, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng). 4 - Tổng cục Hậu cần, Vụ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn cơ sở giáo dục thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng kết quả lao động của cơ sở giáo dục và định kỳ hàng năm báo cáo Lãnh đạo Bộ. XVI - CHẾ ĐỘ THĂM GẶP NGƯỜI THÂN, NHẬN, GỬI THƯ, NHẬN TIỀN, QUÀ: Chế độ thăm gặp người thân, nhận, gửi thư, nhận tiền, quà của trại viên cơ sở giáo dục phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 33 Nghị định số 76 và hướng dẫn tại Thông tư này. Khi gặp gỡ thân nhân, trại viên được nhận quà, thư và tiền. Mỗi tháng, trại viên đượ gửi 02 lá thư và được nhận một gói quà không quá 07 kg, các thư và quà đều phải qua kiểm tra của cơ sở giáo dục. XVII - KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT TRẠI VIÊN: 1 - Việc khen thưởng, kỷ luật trại viên phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 34 Nghị định số 76. Quyết định khen thưởng, kỷ luật phải bằng văn bản và lưu vào hồ sơ của trại viên để theo dõi. 2 - Việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định tại khoản 2, điều 34 Nghị định số 76 chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết và phải chú ý: hành vi vi phạm pháp luật của trại viên phải có tính chất thường xuyên và đã bị áp dụng các hình thức kỷ luật từ 3 lần trở lên, nhưng vẫn không chịu sửa chữa, vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 76 và hướng dẫn tại điểm 2, mục I Thông tư này thì mới lập hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với họ; thành phần Hội đồng xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục được thực hiện như đối với Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho trại viên nêu tại điểm 2, mục XII Thông tư này. Hồ sơ đề nghị bao gồm: a - Biên bản họp Hội đồng kỷ luật của cơ sở giáo dục về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. b - Báo cáo và đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục. c - Bản tóm tắt lý lịch, biên bản, tài liệu về các vi phạm pháp luật của trại viên. d - Các biên bản trại viên vi phạm kỷ luật, các quyết định kỷ luật trại viên và tài liệu khác có liên quan đến việc vi phạm pháp luật của trại viên. 3 - Giám đốc cơ sở giáo dục phải gửi hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục về Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng để xem xét. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Tổng cục Cảnh sát, Vụ Pháp chế và các đơn vị liên quan xem xét hồ sơ, nếu đủ điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục với người đó thì phải có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng xem xét, quyết định. Quyết định áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục trong trường hợp này được gửi cơ sở giáo dục nơi lập hồ sơ đề nghị để tổ chức thi hành; gửi UBND cấp tỉnh nơi trước đây đã ra quyết định đưa người đó vào cơ sở giáo dục và UBND cấp xã nơi cư trú của người đó để biết. Đến ngày trại viên hết thời hạn phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục mà chưa có quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó thì Giám đốc cơ sở giáo dục phải làm thủ tục cho họ ra khỏi cơ sở giáo dục theo quy định. XVIII - TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 1 - Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 20 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Thông tư số 07/1998/TT - BCA ngày 03/12/1998 của Bộ Công an về hướng dẫn thi hành một số quy định của Quy chế về cơ sở giáo dục ban hành kèm theo Nghị định số 32/CP ngày 14/4/1997 của Chính phủ. Những quy định trước đây của Bộ Công an trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2 - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Thanh tra Bộ, Vụ Pháp chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra và hướng dẫn thi hành Thông tư này. 3 - Các Tổng cục trưởng, Vụ trưởng, Cục trưởng các Vụ, Cục trực thuộc Bộ trưởng, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, cần báo cáo kịp thời về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát, Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Về hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10
02/2005/TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA
25/05/2005
Thông tư liên tịch
15/07/2005
Công báo số 35 - 06/2005;
30/06/2005
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ trưởng
Võ Hồng Phúc
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 Căn cứ Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm 1998; Căn cứ Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 (dưới đây gọi tắt là Nghị định số 51); Căn cứ Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của người nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Quyết định số 36); Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tư pháp - Ngoại giao - Công an hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51 như sau: I. BẢO ĐẢM, HỖ TRỢ VÀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 1. Đối tượng áp dụng 1.1. Người Việt Narn định cư ở nước ngoài, bao gồm: a) Người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài; b) Người có gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài; c) Người có cha đẻ, mẹ đẻ, hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay có hoặc đã từng có quốc tịch Việt Nam. 1.2. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, bao gồm: a) Công dân nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp thẻ thường trú; b) Người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp Thẻ thường trú. 1.3. Đối tượng nêu tại điểm 1.1 và 1.2 có dự án đầu tư theo Nghị định số 51, dưới đây gọi tắt là nhà đầu tư. 1.4. Thông tư này không áp dụng đối với nhà đầu tư là người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam. 2. Thành lập doanh nghiệp và mua cổ phần, góp vốn vào các doanh nghiệp Việt Nam. 2.1. Để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Nghị định số 51, nhà đầu tư có thể nhân danh cá nhân trực tiếp đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp hoặc cùng với công dân Việt Nam đầu tư thông qua hình thức mua cổ phần, góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã. 2.2. Nhà đầu tư được mua cổ phần, được góp vốn trong các doanh nghiệp nhà nước thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, theo quy định như sau: a) Được mua cổ phần phát hành lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa; mua cổ phần phát hành thêm của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa hoặc mua lại cổ phần của các cổ đông trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. b) Được góp vốn vào doanh nghiệp, mua lại phần vốn góp của các thành viên để trở thành thành viên của doanh nghiệp. c) Tổng giá trị cổ phần, vốn góp của các nhà đầu tư theo các hình thức trên không được quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc đã cổ phần hóa. d) Thẩm quyền quyết định bán cổ phần, nhận vốn góp, hình thức giá trị góp vốn hoặc mua cổ phần của nhà đầu tư được thực hiện theo Điều 6 và Điều 7 của Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 36. 2.3. Nhà đầu tư được mua cổ phần hoặc góp vốn không hạn chế tỷ lệ và có quyền tham gia quản lý, điều hành trong các doanh nghiệp Việt Nam không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước. Việc nhà đầu tư mua cổ phần hoặc góp vốn bằng ngoại tệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu, hàng hóa, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, chứng khoán có giá hoặc các tài sản khác được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa nhà dầu tư và doanh nghiệp có liên quan. 2.4. Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc mua cổ phần, góp vốn: a) Doanh nghiệp bán cổ phần, nhận vốn góp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa doanh nghiệp, cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp chậm nhất 15 ngày sau khi thực hiện việc nhận vốn góp hoặc bán cổ phần cho nhà đầu tư. b) Nhà đầu tư mua cổ phần, góp vốn trong các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật hiện hành của Việt Nam được thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 15 và 16 của Quyết định số 36. 3. Chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn Nhà đầu tư trước đây đã chuyển giao vốn, tài sản của mình cho công dân Việt Nam hoặc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh Việt Nam và mượn danh nghĩa của cá nhân hoặc tổ chức đó để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, nếu có nhu cầu và đủ điều kiện thì được làm thủ tục chuyển tên chủ đầu tư hoặc thay đổi thành viên góp vốn theo hướng dẫn tại Phần V Thông tư này. 4. Ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư 4.1. Nhà đầu tư được đầu tư, kinh doanh ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ những ngành, nghề quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Doanh nghiệp, Khoản 2, 3 Điều 2 của Nghị định số 14/2001/NĐ-CP ngày 25/4/2001 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ và Khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 125/2004/NĐ-CP ngày 19/5/2004 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngay 03/02/2000 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Doanh nghiệp. 4.2. Nhà đầu tư được khuyến khích đầu tư, kinh doanh vào ngành, nghề lĩnh vực quy định tại Danh mục A ban hành kèm theo Nghị định số 35/2002/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục A, B và C ban hành tại phụ lục kèm theo Nghị định số 51 (dưới đây gọi tắt là Nghị định số 35) và Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (dưới đây gọi tắt là Nghị định 164). 4.3. Nhà đầu tư được khuyến khích đầu tư, kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Danh mục B và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 và Nghị định số 164. 5. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất, kinh doanh 5.1. Nhà đầu tư có dự án đầu tư theo Nghị định số 51, nếu có nhu cầu thuê đất làm mặt bằng thực hiện dự án đầu tư thì được tạo điều kiện cho thuê đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất căn cứ vào mục đích sử dụng đất được lập trong dự án khả thi, căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương để giải quyết đối với từng dự án. 5.2. Thời gian miễn nộp tiền thuê đất cho dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực quy định tại Danh mục A hoặc dự án đầu tư tại địa bàn quy định tại Danh mục B hoặc Danh mục C của Nghị định số 35 được thực hiện như đối với doanh nghiệp trong nước cùng loại quy định tại Điều 18 Nghị định số 51. 6. Quyền đối với đất thuê, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất 6.1. Nhà đầu tư được Nhà nước cho thuê hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định hiện hành của Luật Đất đai sửa đổi (2003) được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ. 6.2. Nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam được mua nhà để ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. 7. Vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn thuộc Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 được Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét hỗ trợ đầu tư thông qua các hình thức cho vay đầu tư, bảo Lãnh tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số l 06/2004/NĐ-CP ngày 1 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. 8. Miễn, giảm thuế 8.1. Nhà đầu tư có dự án đầu tư đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 33 của Nghị định số 164, dự án thuộc Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn thuộc Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 164 được áp dụng các mức ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thời hạn miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại các Điều 35, Điều 36, Điều 37 và Điều 38 của Nghị định số 164; 8.2. Nhà đầu tư kinh doanh hàng xuất khẩu quy định tại Mục III Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 164 ngoài việc được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 36, Điều 37, Điều 38 của Nghị định số 164 còn được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 39 của Nghị định số 164; 8.3. Nhà đầu tư có dự án được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51 được miễn thuế nhập khẩu thiết bị, máy móc tạo tài sản cố định như đối với dự án của nhà đầu tư trong nước cùng loại quy định tại Điều 26 của Nghị định số 51. 8.4. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư góp vốn dưới các hình thức: bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. 9. Thực hiện nguyên tắc một giá 9.1. Dự án của nhà đầu tư nói tại Thông tư này đầu tư theo quy định của Nghị định số 51 được hưởng cùng mức giá đầu vào như các dự án đầu tư trong nước cùng loại đối với đất đai, hàng hóa, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư và dịch vụ do Nhà nước định giá, chịu cùng một mức thuế. 9.2. Nhà đầu tư có dự án đầu tư theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 51 được áp dụng giá dịch vụ về nhà ở, khách sạn, điện, nước, dịch vụ y tế, cước phí đi lại trong nước bằng đường thủy, đường bộ, đường hàng không, cước phí bưu chính viễn thông, phí giáo dục và đào tạo như áp đụng đối với công dân Việt Nam ở trong nước. 9.3. Các cơ quan chức năng của Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động theo pháp luật Việt Nam thống nhất thực hiện quy định này. II. THỦ TỤC XÁC NHẬN CÓ GỐC VIỆT NAM 10. Đối với người mang hộ chiếu Việt Nam Người mang hộ chiếu Việt Nam hợp lệ đang cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài đương nhiên thuộc đối tượng quy định tại Điểm 1.1.a Thông tư này và không cần có giấy xác nhận nêu tại Điểm 1.1 của Thông tư này. 11. Đối với người mang hộ chiếu nước ngoài 11.1. Người mang hộ chiếu nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điểm 1.1. Thông tư này, nếu có một trong các giấy tờ sau đây: - Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận đăng ký công dân; - Giấy xác nhận có gốc Việt Nam. 11.2. Việc cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các Điều 17, 18 và 19 Nghị định số l 04/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 104). 11.3. Việc cấp Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các Điều 25 và Điều 26 Nghị định số 104. 11.4. Việc cấp Giấy xác nhận đăng ký công dân được thực hiện theo Quyết định số 713/NG-QĐ ngày 17 tháng 5 năm 1997 của Bộ Ngoại giao quy định tạm thời về thủ tục đăng ký công dân Việt Nam ở nước ngoài. 11.5. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam (Mẫu giấy được ban hành kèm theo Thông tư này) do một trong các cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp: a) Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài; b) Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao. c) Uỷ ban nhân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi cha đẻ, mẹ đẻ, hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người xin xác nhận đã sinh ra ở đó; hoặc tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi người xin xác nhận đã từng sinh sống. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có thể uỷ quyền cho Sở chuyên ngành xem xét quyết định cấp hoặc từ chối cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam. 11.6. Người đề nghị cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại các cơ quan quy định tại Điểm 11.5. Thông tư này cần có đơn đề nghị (Mẫu Đơn ban hành kèm theo Thông tư này và hộ chiếu nước ngoài hợp lệ hoặc giấy tờ hợp lệ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài. Kèm theo đơn phải có một trong các giấy tờ sau đây (kể cả giấy do chính quyền cũ cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975): a) Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại; trong trường hợp những người này đã mất quốc tịch Việt Nam thì phải có Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam. b) Giấy tờ chứng minh người làm đơn là con đẻ, cháu nội hoặc cháu ngoại của những người thuộc đối tượng nói tại Điểm 11.6.a Thông tư này 11.7. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam do cơ quan đại diện của Việt Nam đã cấp cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo hướng dẫn tại Thông tư liên bộ số 11/BKH-NG ngày 31 tháng 12 năm 1996 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao; Giấy xác nhận có quan hệ huyết thống Việt Nam đã được cấp theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA ngày 15 tháng 8 năm 2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp, Ngoại giao và Bộ Công an vẫn có giá trị sử dụng để làm thủ tục đăng ký kinh doanh. 12. Đối với người không còn giữ giấy tờ liên quan đến gốc Việt Nam 12.1. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam được cấp cho người không còn giữ giấy tờ liên quan đến gốc Việt Nam trong các trường hợp sau đây: a) Đối với trường hợp xin Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cần phải có: - Bản lý lịch tự thuật của người đề nghị cấp giấy xác nhận từ thời gian trước cho đến thời điểm xin xác nhận có gốc Việt Nam. - Giấy của tập thể cộng đồng người Việt Nam ở địa phương nơi người đó sinh sống xác nhận có quan hệ huyết thống với người đang có hoặc đã có quốc tịch Việt Nam (có thể là Hội người Việt Nam có quan hệ với các tổ chức, cơ quan hợp pháp trong nước hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước đó). b) Đối với trường hợp xin Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở trong nước được quy định tại Điểm 11.5.b hoặc 11.5.c Thông tư này, cần phải có: - Bản lý lịch tự thuật của người đề nghị cấp giấy xác nhận từ thời gian trước cho đến thời điểm xin xác nhận có gốc Việt Nam. - Văn bản của ít nhất hai công dân Việt Nam thường trú ở trong nước có năng lực hành vi dân sự đầy đủ xác nhận có quan hệ huyết thống với người có quốc tịch Việt Nam hoặc với người đã từng có quốc tịch Việt Nam. Giấy xác nhận ghi rõ họ tên, địa chỉ của người được xác nhận và những người làm giấy xác nhận; việc ký giấy xác nhận được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và được cơ quan đó xác nhận chữ ký của người làm chứng. 13. Thời hạn xét, cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét, cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam; trường hợp từ chối phải trả lời đương sự bằng văn bản và nêu rõ lý do. III. VIỆC NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 14. Nhập cảnh, xuất cảnh của nhà đầu tư 14.1. Nhà đầu tư có Hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu được nhập xuất cảnh Việt Nam không cần thị thực. 14.2. Nhà đầu tư mang hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu được xét cấp thị thực Việt Nam có giá trị nhiều lần hoặc được xét cấp thẻ tạm trú phù hợp với thời gian chuẩn bị và hoạt dộng theo giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. 15. Cư trú, cấp, đổi, thay đổi nội dung, thu hồi Thẻ thường trú 15.1. Việc cư trú của nhà đầu tư là đối tượng nêu tại Điểm 1.1.a, 1.1.b và 1.2. Thông tư này được thực hiện theo quy định tại Điều 11, 12 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 28 tháng 4 năm 2000. 15.2. Việc cấp, đổi, thay đổi nội dung hoặc thu hồi Thẻ thường trú của nhà đầu tư được thực hiện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an theo quy định tại các Điều 13 và 14 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 2000. IV. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ CẤP CHỨNG NHẬN ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 16. Hồ sơ đăng ký kinh doanh 16.1. Ngoài hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật áp dụng đối với nhà đầu tư là công dân Việt Nam và giấy tờ, chứng chỉ liên quan đến trình độ chuyên môn của người điều hành đối với một số ngành, nghề mà Pháp luật Việt Nam quy định phải có, nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp một trong các giấy tờ sau đây: - Bản sao Hộ chiếu hợp lệ của Việt Nam; - Giấy có giá trị thay thế Hộ chiếu của Việt Nam; - Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận đăng ký công dân; - Giấy xác nhận gốc Việt Nam; - Giấy xác nhận có gốc Việt Nam được cấp theo hướng dẫn của Thông lư liên bộ số 11/BKH-BNG ngày 31 tháng 12 năm 1996 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao; - Giấy xác nhận có quan hệ huyết thống Việt Nam được cấp theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA. 16.2. Ngoài hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật áp dụng đối với nhà đầu tư là công dân Việt Nam và giấy tờ, chứng chỉ liên quan đến trình độ chuyên môn của người điều hành đối với một số ngành, nghề mà pháp luật Việt Nam quy định phải có nhà đầu tư là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam phải xuất trình Thẻ thường trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. 16.3. Giấy tờ, chứng chỉ, chứng nhận, chứng thực, bằng cấp liên quan đến trình độ chuyên môn của nhà đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được cơ quan công chứng Việt Nam công chứng. 17. Trình tự, thời hạn xem xét việc đăng ký kinh doanh 17.1. Nhà đầu tư đăng ký kinh doanh trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người khác đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở giao dịch để nộp hồ sơ. Khi nộp hồ sơ, nhà đầu tư (hoặc người được uỷ quyền) phải xuất trình Hộ chiếu hoặc Thẻ thường trú của mình, bản gốc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu Việt Nam và bản gốc các giấy tờ cần thiết để kiểm ra, đối chiếu. Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra Hộ chiếu và tính hợp lệ của hồ sơ, đồng thời viết phiếu hẹn trả lời cho nhà đầu tư theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. 17.2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm xem xét thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho nhà đầu tư. 18. Thủ tục đề nghị được hưởng ưu đãi đầu tư và nghĩa vụ báo cáo thực hiện ưu đãi đầu tư. 18.1. Để được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51, nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn quy định ở Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 phải thực hiện các thủ tục cần thiết quy định tại Thông tư số 02/1999/TT-BKH ngày 24 tháng 9 năm 1999 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn trình tự, thủ tục cấp ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51. 18.2. Định kỳ 6 tháng một lần (vào cuối tháng 6 và tháng 12 hàng năm) doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư có trách nhiệm báo cáo tình hình việc thực hiện các biện pháp ưu đãi đã và đang được hưởng tại doanh nghiệp về Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 18.3. Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư vi phạm pháp luật Việt Nam, không thực hiện đầy đủ các đầu kiện để hưởng ưu đãi đầu tư, nhà đầu tư là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi định cư ở nước khác, hoặc vi phạm vào các quy định được nêu tại khoản 3 Điều 121 Luật doanh nghiệp, Điểm 18.2 Thông tư này, thì Sở Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Uỷ ban nhân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh một phần hoặc rút bỏ toàn bộ ưu đãi đã được chấp thuận, hoặc thu hồi Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành. V. THỦ TỤC CHUYỂN TÊN CHỦ ĐẦU TƯ, THAY ĐỔI THÀNH VIÊN GÓP VỐN, CHUYỂN VỐN ĐẦU TƯ TRƯỚC ĐÂY TRONG DOANH NGHIỆP THÀNH VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 19. Điều kiện để chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên của doanh nghiệp đang hoạt động. 19.1. Nhà đầu tư quy định tại Điểm 3 Thông tư này khi làm thủ tục chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn cần có các giấy tờ sau đây: a) Văn bản đồng ý trao trả lại cho nhà đầu tư tài sản và vốn của doanh nghiệp mà người (hoặc những người) đứng danh nghĩa cho nhà đầu tư đang quản lý; b) Văn bản của người (hoặc những người) đứng danh nghĩa cho nhà đầu tư tự nguyện chuyển vốn hoặc chuyển vốn và quyền quản lý doanh nghiệp cho nhà đầu tư. c) Văn bản nhất trí của các sáng lập viên, thành viên góp vốn của doanh nghiệp về việc chấp nhận chuyển đổi chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, chuyển vốn đầu tư. d) Đơn của nhà đầu tư đề nghị được chuyển chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, chuyển vốn đầu tư trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó có cam kết thực hiện điều lệ doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. 19.2. Chủ đầu tư mới, thành viên góp vốn mới có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc các quyền khác có liên quan đến tài sản nhận lại theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. 20. Điều kiện để chuyển vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp trong nước trước đây dưới danh nghĩa công dân Việt Nam thành phần vốn góp của nhà đầu tư Nhà đầu tư quy định tại Điểm 3 Thông tư này đã chuyển giao vốn, tài sản của mình cho công dân Việt Nam hoặc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh Việt Nam và mượn danh nghĩa của cá nhân hoặc tổ chức đó để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, khi làm thủ tục để đứng tên phần vốn góp của mình trong doanh nghiệp cần có văn bản của công dân Việt Nam hoặc của cơ sở sản xuất kinh doanh đồng ý trả lại cho nhà đầu tư phần tài sản, vốn mà công dân Việt Nam hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh đang quản lý và sử dụng. 21. Trình tự, thủ tục, thời hạn xem xét việc đổi tên nhà đầu tư 21.1. Sở Kế hoạch và Đầu tư giúp Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết việc đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, Sở kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, xem xét hồ sơ và hướng dẫn nhà đầu tư bổ sung đầy đủ các giấy tờ cần thiết. 21.2. Để đổi tên chủ của doanh nghiệp đang hoạt động, thay đổi thành viên góp vốn, nhà đầu tư gửi hồ sơ đến Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi đã cấp Đăng ký kinh doanh trước đây của doanh nghiệp, hồ sơ gồm các giấy tờ như quy định tại Điểm 16. 1 và các giấy tờ quy định tại Điểm 19.1 Thông tư này. 21.3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, chủ đầu tư phải thông báo ít nhất là 5 lần trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động về việc đổi tên chủ đầu tư. Trong thời gian này, các cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích trong doanh nghiệp phải đến doanh nghiệp để giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình. 21.4. Sau 20 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu không có tranh chấp, khiếu nại đối với doanh nghiệp đề nghị chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện thủ tục chuyển đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định. 22. Các quy định khác liên quan đến việc đổi tên chủ đầu tư, thay nổi thành viên góp vốn 22.1. Việc đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn chỉ được thực hiện đối với các doanh nghiệp không có tranh chấp, khiếu kiện. 22.2. Không xử phạt vi phạm hành chính về việc đầu tư không đứng tên trước đây của nhà đầu tư. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 23. Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện 23.1. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA ngày 15 tháng 8 năm 2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an và có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 23.2. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời bằng văn bản đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an giải quyết các vấn đề phát sinh./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16332&Keyword=
2025-09-24T02:37:27.845912
../data\bocongan\022005TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA\document.json
12/02/2007
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51/1999/NĐ - CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 Căn cứ Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm 1998; Căn cứ Nghị định số 51/1999/NĐ - CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 (dưới đây gọi tắt là Nghị định số 51); Căn cứ Quyết định số 36/2003/QĐ - TTg ngày 11 tháng 3 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của người nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Quyết định số 36); Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tư pháp - Ngoại giao - Công an hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam đầu tư theo Nghị định số 51 như sau: I. BẢO ĐẢM, HỖ TRỢ VÀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 1. Đối tượng áp dụng 1. 1. Người Việt Narn định cư ở nước ngoài, bao gồm: a) Người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài; b) Người có gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài; c) Người có cha đẻ, mẹ đẻ, hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay có hoặc đã từng có quốc tịch Việt Nam. 1. 2. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, bao gồm: a) Công dân nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp thẻ thường trú; b) Người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp Thẻ thường trú. 1. 3. Đối tượng nêu tại điểm 1. 1 và 1. 2 có dự án đầu tư theo Nghị định số 51, dưới đây gọi tắt là nhà đầu tư. 1. 4. Thông tư này không áp dụng đối với nhà đầu tư là người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam. 2. Thành lập doanh nghiệp và mua cổ phần, góp vốn vào các doanh nghiệp Việt Nam. 2. 1. Để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Nghị định số 51, nhà đầu tư có thể nhân danh cá nhân trực tiếp đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp hoặc cùng với công dân Việt Nam đầu tư thông qua hình thức mua cổ phần, góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã. 2. 2. Nhà đầu tư được mua cổ phần, được góp vốn trong các doanh nghiệp nhà nước thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, theo quy định như sau: a) Được mua cổ phần phát hành lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa; mua cổ phần phát hành thêm của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa hoặc mua lại cổ phần của các cổ đông trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. b) Được góp vốn vào doanh nghiệp, mua lại phần vốn góp của các thành viên để trở thành thành viên của doanh nghiệp. c) Tổng giá trị cổ phần, vốn góp của các nhà đầu tư theo các hình thức trên không được quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc đã cổ phần hóa. d) Thẩm quyền quyết định bán cổ phần, nhận vốn góp, hình thức giá trị góp vốn hoặc mua cổ phần của nhà đầu tư được thực hiện theo Điều 6 và Điều 7 của Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 36. 2. 3. Nhà đầu tư được mua cổ phần hoặc góp vốn không hạn chế tỷ lệ và có quyền tham gia quản lý, điều hành trong các doanh nghiệp Việt Nam không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước. Việc nhà đầu tư mua cổ phần hoặc góp vốn bằng ngoại tệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu, hàng hóa, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, chứng khoán có giá hoặc các tài sản khác được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa nhà dầu tư và doanh nghiệp có liên quan. 2. 4. Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc mua cổ phần, góp vốn: a) Doanh nghiệp bán cổ phần, nhận vốn góp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa doanh nghiệp, cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp chậm nhất 15 ngày sau khi thực hiện việc nhận vốn góp hoặc bán cổ phần cho nhà đầu tư. b) Nhà đầu tư mua cổ phần, góp vốn trong các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật hiện hành của Việt Nam được thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 15 và 16 của Quyết định số 36. 3. Chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn Nhà đầu tư trước đây đã chuyển giao vốn, tài sản của mình cho công dân Việt Nam hoặc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh Việt Nam và mượn danh nghĩa của cá nhân hoặc tổ chức đó để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, nếu có nhu cầu và đủ điều kiện thì được làm thủ tục chuyển tên chủ đầu tư hoặc thay đổi thành viên góp vốn theo hướng dẫn tại Phần V Thông tư này. 4. Ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư 4. 1. Nhà đầu tư được đầu tư, kinh doanh ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ những ngành, nghề quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 03/2000/NĐ - CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Doanh nghiệp, Khoản 2, 3 Điều 2 của Nghị định số 14/2001/NĐ - CP ngày 25/4/2001 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ và Khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 125/2004/NĐ - CP ngày 19/5/2004 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 03/2000/NĐ - CP ngay 03/02/2000 quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Doanh nghiệp. 4. 2. Nhà đầu tư được khuyến khích đầu tư, kinh doanh vào ngành, nghề lĩnh vực quy định tại Danh mục A ban hành kèm theo Nghị định số 35/2002/NĐ - CP ngày 29 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục A, B và C ban hành tại phụ lục kèm theo Nghị định số 51 (dưới đây gọi tắt là Nghị định số 35) và Nghị định số 164/2003/NĐ - CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (dưới đây gọi tắt là Nghị định 164). 4. 3. Nhà đầu tư được khuyến khích đầu tư, kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Danh mục B và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 và Nghị định số 164. 5. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất, kinh doanh 5. 1. Nhà đầu tư có dự án đầu tư theo Nghị định số 51, nếu có nhu cầu thuê đất làm mặt bằng thực hiện dự án đầu tư thì được tạo điều kiện cho thuê đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất căn cứ vào mục đích sử dụng đất được lập trong dự án khả thi, căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương để giải quyết đối với từng dự án. 5. 2. Thời gian miễn nộp tiền thuê đất cho dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực quy định tại Danh mục A hoặc dự án đầu tư tại địa bàn quy định tại Danh mục B hoặc Danh mục C của Nghị định số 35 được thực hiện như đối với doanh nghiệp trong nước cùng loại quy định tại Điều 18 Nghị định số 51. 6. Quyền đối với đất thuê, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất 6. 1. Nhà đầu tư được Nhà nước cho thuê hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định hiện hành của Luật Đất đai sửa đổi (2003) được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ. 6. 2. Nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam được mua nhà để ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 81/2001/NĐ - CP ngày 5 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. 7. Vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn thuộc Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 được Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét hỗ trợ đầu tư thông qua các hình thức cho vay đầu tư, bảo Lãnh tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số l 06/2004/NĐ - CP ngày 1 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. 8. Miễn, giảm thuế 8. 1. Nhà đầu tư có dự án đầu tư đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 33 của Nghị định số 164, dự án thuộc Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn thuộc Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 164 được áp dụng các mức ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thời hạn miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại các Điều 35, Điều 36, Điều 37 và Điều 38 của Nghị định số 164; 8. 2. Nhà đầu tư kinh doanh hàng xuất khẩu quy định tại Mục III Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 164 ngoài việc được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 36, Điều 37, Điều 38 của Nghị định số 164 còn được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 39 của Nghị định số 164; 8. 3. Nhà đầu tư có dự án được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51 được miễn thuế nhập khẩu thiết bị, máy móc tạo tài sản cố định như đối với dự án của nhà đầu tư trong nước cùng loại quy định tại Điều 26 của Nghị định số 51. 8. 4. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư góp vốn dưới các hình thức: bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. 9. Thực hiện nguyên tắc một giá 9. 1. Dự án của nhà đầu tư nói tại Thông tư này đầu tư theo quy định của Nghị định số 51 được hưởng cùng mức giá đầu vào như các dự án đầu tư trong nước cùng loại đối với đất đai, hàng hóa, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư và dịch vụ do Nhà nước định giá, chịu cùng một mức thuế. 9. 2. Nhà đầu tư có dự án đầu tư theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 51 được áp dụng giá dịch vụ về nhà ở, khách sạn, điện, nước, dịch vụ y tế, cước phí đi lại trong nước bằng đường thủy, đường bộ, đường hàng không, cước phí bưu chính viễn thông, phí giáo dục và đào tạo như áp đụng đối với công dân Việt Nam ở trong nước. 9. 3. Các cơ quan chức năng của Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động theo pháp luật Việt Nam thống nhất thực hiện quy định này. II. THỦ TỤC XÁC NHẬN CÓ GỐC VIỆT NAM 10. Đối với người mang hộ chiếu Việt Nam Người mang hộ chiếu Việt Nam hợp lệ đang cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài đương nhiên thuộc đối tượng quy định tại Điểm 1. 1. a Thông tư này và không cần có giấy xác nhận nêu tại Điểm 1. 1 của Thông tư này. 11. Đối với người mang hộ chiếu nước ngoài 11. 1. Người mang hộ chiếu nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điểm 1. 1. Thông tư này, nếu có một trong các giấy tờ sau đây: - Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận đăng ký công dân; - Giấy xác nhận có gốc Việt Nam. 11. 2. Việc cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các Điều 17, 18 và 19 Nghị định số l 04/1998/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 104). 11. 3. Việc cấp Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các Điều 25 và Điều 26 Nghị định số 104. 11. 4. Việc cấp Giấy xác nhận đăng ký công dân được thực hiện theo Quyết định số 713/NG - QĐ ngày 17 tháng 5 năm 1997 của Bộ Ngoại giao quy định tạm thời về thủ tục đăng ký công dân Việt Nam ở nước ngoài. 11. 5. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam (Mẫu giấy được ban hành kèm theo Thông tư này) do một trong các cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp: a) Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài; b) Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao. c) Uỷ ban nhân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi cha đẻ, mẹ đẻ, hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người xin xác nhận đã sinh ra ở đó; hoặc tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương nơi người xin xác nhận đã từng sinh sống. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có thể uỷ quyền cho Sở chuyên ngành xem xét quyết định cấp hoặc từ chối cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam. 11. 6. Người đề nghị cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại các cơ quan quy định tại Điểm 11. 5. Thông tư này cần có đơn đề nghị (Mẫu Đơn ban hành kèm theo Thông tư này và hộ chiếu nước ngoài hợp lệ hoặc giấy tờ hợp lệ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài. Kèm theo đơn phải có một trong các giấy tờ sau đây (kể cả giấy do chính quyền cũ cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975): a) Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại; trong trường hợp những người này đã mất quốc tịch Việt Nam thì phải có Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam. b) Giấy tờ chứng minh người làm đơn là con đẻ, cháu nội hoặc cháu ngoại của những người thuộc đối tượng nói tại Điểm 11. 6. a Thông tư này 11. 7. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam do cơ quan đại diện của Việt Nam đã cấp cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo hướng dẫn tại Thông tư liên bộ số 11/BKH - NG ngày 31 tháng 12 năm 1996 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao; Giấy xác nhận có quan hệ huyết thống Việt Nam đã được cấp theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT - BKH - BTP - BNG - BCA ngày 15 tháng 8 năm 2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp, Ngoại giao và Bộ Công an vẫn có giá trị sử dụng để làm thủ tục đăng ký kinh doanh. 12. Đối với người không còn giữ giấy tờ liên quan đến gốc Việt Nam 12. 1. Giấy xác nhận có gốc Việt Nam được cấp cho người không còn giữ giấy tờ liên quan đến gốc Việt Nam trong các trường hợp sau đây: a) Đối với trường hợp xin Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cần phải có: - Bản lý lịch tự thuật của người đề nghị cấp giấy xác nhận từ thời gian trước cho đến thời điểm xin xác nhận có gốc Việt Nam. - Giấy của tập thể cộng đồng người Việt Nam ở địa phương nơi người đó sinh sống xác nhận có quan hệ huyết thống với người đang có hoặc đã có quốc tịch Việt Nam (có thể là Hội người Việt Nam có quan hệ với các tổ chức, cơ quan hợp pháp trong nước hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước đó). b) Đối với trường hợp xin Giấy xác nhận có gốc Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở trong nước được quy định tại Điểm 11. 5. b hoặc 11. 5. c Thông tư này, cần phải có: - Bản lý lịch tự thuật của người đề nghị cấp giấy xác nhận từ thời gian trước cho đến thời điểm xin xác nhận có gốc Việt Nam. - Văn bản của ít nhất hai công dân Việt Nam thường trú ở trong nước có năng lực hành vi dân sự đầy đủ xác nhận có quan hệ huyết thống với người có quốc tịch Việt Nam hoặc với người đã từng có quốc tịch Việt Nam. Giấy xác nhận ghi rõ họ tên, địa chỉ của người được xác nhận và những người làm giấy xác nhận; việc ký giấy xác nhận được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và được cơ quan đó xác nhận chữ ký của người làm chứng. 13. Thời hạn xét, cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét, cấp Giấy xác nhận có gốc Việt Nam; trường hợp từ chối phải trả lời đương sự bằng văn bản và nêu rõ lý do. III. VIỆC NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 14. Nhập cảnh, xuất cảnh của nhà đầu tư 14. 1. Nhà đầu tư có Hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu được nhập xuất cảnh Việt Nam không cần thị thực. 14. 2. Nhà đầu tư mang hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu được xét cấp thị thực Việt Nam có giá trị nhiều lần hoặc được xét cấp thẻ tạm trú phù hợp với thời gian chuẩn bị và hoạt dộng theo giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. 15. Cư trú, cấp, đổi, thay đổi nội dung, thu hồi Thẻ thường trú 15. 1. Việc cư trú của nhà đầu tư là đối tượng nêu tại Điểm 1. 1. a, 1. 1. b và 1. 2. Thông tư này được thực hiện theo quy định tại Điều 11, 12 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 28 tháng 4 năm 2000. 15. 2. Việc cấp, đổi, thay đổi nội dung hoặc thu hồi Thẻ thường trú của nhà đầu tư được thực hiện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an theo quy định tại các Điều 13 và 14 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 2000. IV. THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ CẤP CHỨNG NHẬN ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 16. Hồ sơ đăng ký kinh doanh 16. 1. Ngoài hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật áp dụng đối với nhà đầu tư là công dân Việt Nam và giấy tờ, chứng chỉ liên quan đến trình độ chuyên môn của người điều hành đối với một số ngành, nghề mà Pháp luật Việt Nam quy định phải có, nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp một trong các giấy tờ sau đây: - Bản sao Hộ chiếu hợp lệ của Việt Nam; - Giấy có giá trị thay thế Hộ chiếu của Việt Nam; - Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; - Giấy xác nhận đăng ký công dân; - Giấy xác nhận gốc Việt Nam; - Giấy xác nhận có gốc Việt Nam được cấp theo hướng dẫn của Thông lư liên bộ số 11/BKH - BNG ngày 31 tháng 12 năm 1996 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao; - Giấy xác nhận có quan hệ huyết thống Việt Nam được cấp theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT - BKH - BTP - BNG - BCA. 16. 2. Ngoài hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật áp dụng đối với nhà đầu tư là công dân Việt Nam và giấy tờ, chứng chỉ liên quan đến trình độ chuyên môn của người điều hành đối với một số ngành, nghề mà pháp luật Việt Nam quy định phải có nhà đầu tư là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam phải xuất trình Thẻ thường trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. 16. 3. Giấy tờ, chứng chỉ, chứng nhận, chứng thực, bằng cấp liên quan đến trình độ chuyên môn của nhà đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được cơ quan công chứng Việt Nam công chứng. 17. Trình tự, thời hạn xem xét việc đăng ký kinh doanh 17. 1. Nhà đầu tư đăng ký kinh doanh trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người khác đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở giao dịch để nộp hồ sơ. Khi nộp hồ sơ, nhà đầu tư (hoặc người được uỷ quyền) phải xuất trình Hộ chiếu hoặc Thẻ thường trú của mình, bản gốc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu Việt Nam và bản gốc các giấy tờ cần thiết để kiểm ra, đối chiếu. Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra Hộ chiếu và tính hợp lệ của hồ sơ, đồng thời viết phiếu hẹn trả lời cho nhà đầu tư theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. 17. 2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm xem xét thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho nhà đầu tư. 18. Thủ tục đề nghị được hưởng ưu đãi đầu tư và nghĩa vụ báo cáo thực hiện ưu đãi đầu tư. 18. 1. Để được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51, nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc ngành, nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại Danh mục A hoặc thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn quy định ở Danh mục B hoặc Danh mục C ban hành kèm theo Nghị định số 35 phải thực hiện các thủ tục cần thiết quy định tại Thông tư số 02/1999/TT - BKH ngày 24 tháng 9 năm 1999 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn trình tự, thủ tục cấp ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51. 18. 2. Định kỳ 6 tháng một lần (vào cuối tháng 6 và tháng 12 hàng năm) doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư có trách nhiệm báo cáo tình hình việc thực hiện các biện pháp ưu đãi đã và đang được hưởng tại doanh nghiệp về Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 18. 3. Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư vi phạm pháp luật Việt Nam, không thực hiện đầy đủ các đầu kiện để hưởng ưu đãi đầu tư, nhà đầu tư là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi định cư ở nước khác, hoặc vi phạm vào các quy định được nêu tại khoản 3 Điều 121 Luật doanh nghiệp, Điểm 18. 2 Thông tư này, thì Sở Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Uỷ ban nhân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh một phần hoặc rút bỏ toàn bộ ưu đãi đã được chấp thuận, hoặc thu hồi Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành. V. THỦ TỤC CHUYỂN TÊN CHỦ ĐẦU TƯ, THAY ĐỔI THÀNH VIÊN GÓP VỐN, CHUYỂN VỐN ĐẦU TƯ TRƯỚC ĐÂY TRONG DOANH NGHIỆP THÀNH VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 19. Điều kiện để chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên của doanh nghiệp đang hoạt động. 19. 1. Nhà đầu tư quy định tại Điểm 3 Thông tư này khi làm thủ tục chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn cần có các giấy tờ sau đây: a) Văn bản đồng ý trao trả lại cho nhà đầu tư tài sản và vốn của doanh nghiệp mà người (hoặc những người) đứng danh nghĩa cho nhà đầu tư đang quản lý; b) Văn bản của người (hoặc những người) đứng danh nghĩa cho nhà đầu tư tự nguyện chuyển vốn hoặc chuyển vốn và quyền quản lý doanh nghiệp cho nhà đầu tư. c) Văn bản nhất trí của các sáng lập viên, thành viên góp vốn của doanh nghiệp về việc chấp nhận chuyển đổi chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, chuyển vốn đầu tư. d) Đơn của nhà đầu tư đề nghị được chuyển chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, chuyển vốn đầu tư trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó có cam kết thực hiện điều lệ doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. 19. 2. Chủ đầu tư mới, thành viên góp vốn mới có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc các quyền khác có liên quan đến tài sản nhận lại theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. 20. Điều kiện để chuyển vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp trong nước trước đây dưới danh nghĩa công dân Việt Nam thành phần vốn góp của nhà đầu tư Nhà đầu tư quy định tại Điểm 3 Thông tư này đã chuyển giao vốn, tài sản của mình cho công dân Việt Nam hoặc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh Việt Nam và mượn danh nghĩa của cá nhân hoặc tổ chức đó để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, khi làm thủ tục để đứng tên phần vốn góp của mình trong doanh nghiệp cần có văn bản của công dân Việt Nam hoặc của cơ sở sản xuất kinh doanh đồng ý trả lại cho nhà đầu tư phần tài sản, vốn mà công dân Việt Nam hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh đang quản lý và sử dụng. 21. Trình tự, thủ tục, thời hạn xem xét việc đổi tên nhà đầu tư 21. 1. Sở Kế hoạch và Đầu tư giúp Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết việc đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, Sở kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, xem xét hồ sơ và hướng dẫn nhà đầu tư bổ sung đầy đủ các giấy tờ cần thiết. 21. 2. Để đổi tên chủ của doanh nghiệp đang hoạt động, thay đổi thành viên góp vốn, nhà đầu tư gửi hồ sơ đến Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi đã cấp Đăng ký kinh doanh trước đây của doanh nghiệp, hồ sơ gồm các giấy tờ như quy định tại Điểm 16. 1 và các giấy tờ quy định tại Điểm 19. 1 Thông tư này. 21. 3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, chủ đầu tư phải thông báo ít nhất là 5 lần trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động về việc đổi tên chủ đầu tư. Trong thời gian này, các cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích trong doanh nghiệp phải đến doanh nghiệp để giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình. 21. 4. Sau 20 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu không có tranh chấp, khiếu nại đối với doanh nghiệp đề nghị chuyển tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn, Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện thủ tục chuyển đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định. 22. Các quy định khác liên quan đến việc đổi tên chủ đầu tư, thay nổi thành viên góp vốn 22. 1. Việc đổi tên chủ đầu tư, thay đổi thành viên góp vốn chỉ được thực hiện đối với các doanh nghiệp không có tranh chấp, khiếu kiện. 22. 2. Không xử phạt vi phạm hành chính về việc đầu tư không đứng tên trước đây của nhà đầu tư. VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 23. Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện 23. 1. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT - BKH - BTP - BNG - BCA ngày 15 tháng 8 năm 2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an và có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 23. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời bằng văn bản đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an giải quyết các vấn đề phát sinh. /.
Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí
02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC
17/06/2005
Thông tư liên tịch
04/08/2005
Công báo số 22 & 23 - 07/2005;
20/07/2005
Toà án nhân dân tối cao
Phó Chánh án
Đặng Quang Phương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí ____________________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định về miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí (sau đây gọi tắt là miễn, giảm thi hành án) của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Pháp lệnh Thi hành án dân sự và Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Giải thích từ ngữ 1.1. "Miễn, giảm thi hành án": a) “Miễn thi hành án” là trường hợp người phải thi hành khoản tiền phạt, án phí theo bản án, quyết định của Toà án nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định và hướng dẫn của Thông tư này nên được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn thi hành toàn bộ tiền phạt, án phí hoặc phần tiền phạt, án phí còn lại; b) “Giảm thi hành án” là trường hợp người phải thi hành khoản tiền phạt, án phí theo bản án, quyết định của Toà án nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định và hướng dẫn của Thông tư này nên được Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thi hành một phần tiền phạt, án phí; c) "Tiền phạt" được miễn, giảm gồm các khoản tiền phạt được thi hành theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự, không phân biệt quyết định phạt tiền là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung; d) "án phí" được miễn, giảm gồm các khoản án phí có giá ngạch và không có giá ngạch. 1.2. “Đã thi hành được một phần hình phạt tiền” là trường hợp người phải thi hành án đã nộp một khoản tiền hoặc tài sản để thi hành án ít nhất bằng 1/20 khoản tiền phạt phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch. 1.3. "Người phải thi hành án lập công lớn” là người đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng. 1.4. “Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài” là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không bảo đảm hoặc chỉ bảo đảm được tối thiểu cuộc sống cho bản thân người đó và gia đình từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời điểm bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án, trừ trường hợp do người phải thi hành án tự gây ra tai nạn, ốm đau cho bản thân họ nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. 2. Nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án 2.1. Việc xét miễn, giảm thi hành án được tiến hành hàng quý trong năm, nhưng mỗi đối tượng phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm không quá một lần trong một năm. Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản tiền phạt, án phí trong nhiều bản án, quyết định khác nhau, thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong một năm. 2.2. Không xét miễn, giảm thi hành án đối với người có đủ điều kiện xét miễn, giảm nhưng kể từ ngày bị xử phạt tiền, buộc phải chịu án phí đến thời điểm xét miễn, giảm mà lại phạm tội mới. 2.3. Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp lệ phí và các chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm. Chi phí cho việc điều tra, xác minh, lập hồ sơ, thụ lý hồ sơ và tổ chức xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí nghiệp vụ của Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án cấp quân khu, Trại giam, Viện kiểm sát, Toà án giải quyết vụ việc đó. 3. Các trường hợp được miễn thi hành án 3.1. Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; b) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; c) Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 3.2. Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có các điều kiện a và b được hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 phần I Thông tư này; b) Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt tiền còn lại hoặc lập công lớn. 3.3. Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; b) Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 3.4. Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; b) Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 3.5. Người phải thi hành khoản án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại, được miễn thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Đã hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí không có giá ngạch; b) Đã hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí có giá ngạch từ hai mươi triệu đồng trở xuống. 4. Các trường hợp được giảm thi hành án 4.1. Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; b) Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng; c) Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 4.2. Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người chưa thành niên khi phạm tội; b) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; c) Số tiền phạt còn lại từ trên hai triệu đồng; d) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 4.3. Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng; b) Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 4.4. Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người chưa thành niên khi phạm tội; b) Số tiền phạt còn lại trên hai mươi triệu đồng; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 4.5. Người phải thi hành khoản án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu. 4.6. Mức xét giảm thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ. II. THỦ TỤC XÉT MIỄN, GIẢM THI HÀNH ÁN 1. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án 1.1. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án bao gồm: a) Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án, kèm theo các giấy tờ chứng minh điều kiện miễn, giảm thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án nhưng vì già yếu, bệnh tật, không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. Nếu người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án là người chưa thành niên hoặc là người không có năng lực hành vi, thì người giám hộ hoặc người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. b) Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí bao gồm: bản sao bản án, quyết định hoặc trích lục bản án, quyết định của Toà án (hoặc bản phô tô bản án, quyết định của Toà án có xác nhận của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự nếu khoản được miễn, giảm được thụ lý thi hành cùng các khoản khác); các quyết định về thi hành án; chứng từ thu - chi về thi hành án; các biên bản xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án, trong đó biên bản xác minh gần nhất không được quá sáu tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; các giấy tờ xác nhận điều kiện được xét miễn, giảm khác. c) Văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện trưởng Viện kiểm sát đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư này; văn bản đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự đối với các trường hợp còn lại. 1.2. Đơn xin miễn, giảm thi hành án được gửi cho Cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý thi hành khoản tiền phạt, án phí và phải có các nội dung sau: a) Họ và tên, nơi cư trú, làm việc và nơi chấp hành hình phạt tù (nếu có); b) Tên Cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý thi hành khoản tiền phạt, án phí; c) Số bản án, quyết định, tên Toà án đã ra bản án, quyết định; khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí đã thi hành được và khoản còn phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí xin miễn, giảm; lý do xin miễn, giảm. 1.3. Đơn phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi người phải thi hành cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. 1.4. Người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của Cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh việc lập công lớn (nếu có). Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc khen thưởng. Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc Giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên. 2. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án 2.1. Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án cấp quân khu có trách nhiệm thông báo các điều kiện, thời gian xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí cho người phải thi hành án có đủ điều kiện để họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được đơn xin miễn, giảm thi hành án, chấp hành viên được giao thi hành vụ việc phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án. Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, ngoài biên bản xác minh của chấp hành viên về điều kiện thi hành án tại nơi cư trú, làm việc của người đó, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị Giám thị trại giam nơi người phải thi hành án chấp hành hình phạt tù xác nhận những vấn đề như: phạm nhân lập công lớn trong quá trình chấp hành hình phạt tù; phạm nhân bị bệnh nặng; tài sản phạm nhân gửi ở bộ phận lưu ký trong trại giam (nếu có). Giám thị trại giam được yêu cầu phải kiểm tra, xác nhận và chuyển phiếu xác nhận đó cho Cơ quan Thi hành án dân sự trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu. 2.2. Căn cứ kết quả xác minh, chấp hành viên báo cáo Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc miễn, giảm thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không đủ điều kiện xét miễn, giảm thi hành án, thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của chấp hành viên, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do cho người phải thi hành án biết. Trường hợp xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện đề nghị xét, miễn giảm thi hành án nhưng không xác định được nơi cư trú của người đó hoặc người phải thi hành án là người nước ngoài không có tài sản và không còn cư trú tại Việt Nam, thì Cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị miễn, giảm thi hành án kèm theo hồ sơ đối với từng trường hợp. 2.3. Vào tuần đầu của tháng giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng mười hàng năm, Cơ quan Thi hành án dân sự quy định tại mục 3 phần II Thông tư này có trách nhiệm chuyển số hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt được lập trong quý trước cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo văn bản đề nghị Toà án xét miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Toà án cùng cấp kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về các hồ sơ đề nghị miễn, giảm hoặc văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án và thông báo cho Cơ quan Thi hành án dân sự biết. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung những giấy tờ cần thiết. Trường hợp có căn cứ xác định rõ người phải thi hành án có đủ điều kiện để được xét miễn, giảm thi hành án nhưng Cơ quan Thi hành án dân sự không lập hồ sơ, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị việc miễn, giảm thi hành án. 2.4. Người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại về việc Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập hồ sơ hoặc không lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án nếu có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương VI Pháp lệnh Thi hành án dân sự. 3. Thẩm quyền đề nghị miễn, giảm thi hành án và thẩm quyền của Toà án trong việc xét miễn, giảm thi hành án 3.1. Đối với khoản tiền phạt, án phí được quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, thì Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thi hành án dân sự cấp huyện) nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc trực tiếp đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp vụ việc thuộc diện miễn, giảm thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự đang do Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Thi hành án dân sự cấp tỉnh) thụ lý thi hành, thì Thi hành án dân sự cấp tỉnh uỷ thác cho Thi hành án dân sự cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc lập hồ sơ và làm các thủ tục đề nghị xét miễn, giảm thi hành án, đồng thời thông báo cho đương sự biết. Nếu Thi hành án dân sự cấp tỉnh đã nhận đơn xin miễn, giảm thi hành án của đương sự và đã tiến hành xác minh các điều kiện miễn, giảm thi hành án, thì đơn xin miễn, giảm thi hành án và các tài liệu xác minh phải được gửi kèm theo hồ sơ và quyết định uỷ thác cho Thi hành án dân sự cấp huyện. 3.2. Đối với phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; phần tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư này, căn cứ hồ sơ thi hành án do Cơ quan Thi hành án dân sự chuyển sang, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Viện kiểm sát cấp huyện) nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. 3.3. Đối với khoản tiền phạt, án phí được quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự do Thi hành án quân khu và tương đương thụ lý thi hành, thì cơ quan đó trực tiếp đề nghị Toà án quân sự khu vực nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư này do Thi hành án quân khu và tương đương thụ lý thi hành, nếu xét thấy hồ sơ có đủ các điều kiện xét miễn, giảm thi hành án, thì Viện kiểm sát quân khu và tương đương uỷ quyền cho Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án và thông báo cho đương sự biết. 4. Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án 4.1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự, Chánh án Toà án có thẩm quyền xét miễn, giảm thi hành án chỉ định một Thẩm phán thụ lý hồ sơ và giải quyết việc xét miễn, giảm thi hành án. Thẩm phán được chỉ định có quyền yêu cầu Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung các giấy tờ cần thiết trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Quá thời hạn đó mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung các giấy tờ cần thiết, thì Thẩm phán trả lại hồ sơ cho cơ quan đã đề nghị. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán phải ấn định ngày mở phiên họp xét miễn, giảm thi hành án và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp biết để cử Kiểm sát viên, Chấp hành viên tham gia phiên họp. 4.2. Phiên họp xét miễn, giảm chỉ được tiến hành khi có mặt của đại diện Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp. Thẩm phán chủ trì, thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp . Khi tiến hành xét miễn, giảm thi hành án, đại diện Cơ quan Thi hành án dân sự trình bày về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt, án phí quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, đại diện Viện kiểm sát trình bày về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm phần tiền phạt quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; phần tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư này. Thẩm phán có thể hỏi đại diện Viện Kiểm sát và Cơ quan Thi hành án dân sự về những điểm chưa rõ trong hồ sơ. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện các cơ quan liên quan, Thẩm phán có quyền: a) Chấp nhận toàn bộ đề nghị miễn, giảm thi hành án; b) Chấp nhận một phần đề nghị miễn, giảm thi hành án; c) Không chấp nhận đề nghị miễn, giảm thi hành án; d) Trường hợp Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đề nghị giảm thi hành án, nhưng xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện miễn thi hành án hoặc ngược lại, thì Thẩm phán căn cứ vào quy định của pháp luật để quyết định. 4.3. Thẩm phán phải ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án với các nội dung sau: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; b) Tên Toà án ra quyết định; c) Họ, tên Thẩm phán chủ trì, thư ký phiên họp và đại diện các cơ quan tham gia phiên họp ; d) Họ, tên, nơi cư trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù của người phải thi hành án (nếu có) và khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; đ) Nhận định của Toà án và những căn cứ để chấp nhận đề nghị miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự; e) Quyết định của Toà án cho miễn thi hành án và phần tiền phạt, án phí cụ thể được miễn; quyết định cho giảm một phần tiền phạt, án phí, mức giảm cụ thể và phần tiền phạt, án phí còn phải thi hành; g) Trường hợp Toà án quyết định không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự về việc miễn, giảm thi hành án, thì phải nêu rõ lý do. 4.4. Gửi quyết định về việc miễn, giảm thi hành án: Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án, Toà án phải gửi quyết định đó cho các đương sự, cơ quan sau đây: a) Người được miễn, giảm thi hành án; b) Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; c) Cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ; Cơ quan Thi hành án dân sự đã uỷ thác (nếu có); d) Trại giam nơi người được miễn, giảm đang chấp hành hình phạt tù (nếu có). 5. Kháng nghị quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án 5.1. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm thi hành án có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án đã ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Toà án cấp trên trực tiếp. 5.2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị và hồ sơ xét miễn, giảm thi hành án do Toà án cấp sơ thẩm chuyển đến, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp chỉ định Hội đồng gồm ba Thẩm phán trong đó có một Thẩm phán chủ tọa để xét kháng nghị. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng phải mở phiên họp xét kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp. 5.3. Khi tiến hành phúc thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án bị kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm thảo luận, quyết định theo đa số và có quyền: a) Không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; b) Sửa một phần quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; quyết định mức giảm thấp hơn hoặc cao hơn mức giảm mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định; c) Huỷ quyết định của Toà án cấp sơ thẩm, đình chỉ việc xét miễn, giảm thi hành án trong trường hợp quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không có căn cứ pháp luật. 5.4. Hội đồng phúc thẩm phải ra quyết định phúc thẩm có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; b) Họ, tên, nơi cư trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù (nếu có) của người phải thi hành án và khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; c) Tên Toà án và nội dung quyết định miễn, giảm của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng nghị; d) Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát; đ) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm và các căn cứ để Toà án ra quyết định; e) Quyết định giữ nguyên, sửa đổi một phần hoặc huỷ toàn bộ quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án. 5.5. Trường hợp Viện Kiểm sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. 6. Hiệu lực của quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án 6.1. Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về việc miễn, giảm thi hành án không bị Viện kiểm sát kháng nghị; Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về việc miễn, giảm thi hành án bị kháng nghị nhưng đã được Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị; Quyết định giải quyết kháng nghị của Toà án cấp phúc thẩm, có hiệu lực thi hành. 6.2. Căn cứ quyết định có hiệu lực của Toà án về việc miễn thi hành án, Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ phải ra quyết định đình chỉ thi hành phần tiền phạt, án phí được miễn. Trường hợp Toà án quyết định cho giảm một phần tiền phạt, án phí, thì Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ phải ghi chú vào sổ thụ lý thi hành án kèm theo quyết định của Toà án về việc giảm thi hành án và tiếp tục thi hành án đối với phần tiền phạt, án phí còn lại. 6.3. Đối với khoản tiền phạt, án phí không được Toà án quyết định cho miễn, giảm, Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm tiếp tục tổ chức việc thi hành án. Trường hợp hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm bị Toà án trả lại do thực hiện không đúng thủ tục, Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm hoàn thiện lại hồ sơ để chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét trong kỳ xét miễn, giảm gần nhất. 6.4. Trường hợp phát hiện quyết định miễn, giảm tiền phạt, án phí có sai lầm nghiêm trọng hoặc sau khi quyết định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực, mà phát hiện người phải thi hành án có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành án, thì Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm thi hành án phải có văn bản báo ngay cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo thủ tục chung. Cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng ngay các biện pháp do Pháp lệnh Thi hành án dân sự quy định để ngăn chặn việc cất giấu, tẩu tán tài sản. Trường hợp Toà án quyết định huỷ quyết định miễn, giảm thi hành án, thì quyết định đó phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ và người phải thi hành án. Căn cứ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự phải ra quyết định huỷ bỏ các quyết định được hướng dẫn tại tiểu mục 6.2 mục 6 phần II của Thông tư này và ra quyết định tiếp tục tổ chức thi hành phần tiền phạt, án phí của người phải thi hành án. 6.5. Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên xem xét, quyết định việc xử phạt hành chính theo quy định tại Chương V Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ; Viện kiểm sát xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phải thi hành án cố tình cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm và trốn tránh việc thi hành án. III. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Giám thị trại giam, Kiểm sát viên thiếu trách nhiệm, xác minh không đầy đủ, xác nhận không đúng điều kiện của người phải thi hành án hoặc không làm đúng nhiệm vụ được giao; Thẩm phán cố ý ra quyết định cho miễn, giảm thi hành án trái pháp luật, thì có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường cho ngân sách nhà nước phần tiền phạt, án phí đã được miễn, giảm theo quy định của pháp luật; 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan tổ chức thực hiện cần báo cáo ngay lên Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an , Bộ Tài chính để có hướng dẫn bổ sung kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17981&Keyword=
2025-09-24T02:37:24.040835
../data\bocongan\022005TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC\document.json
01/08/2010
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí ____________________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định về miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí (sau đây gọi tắt là miễn, giảm thi hành án) của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Pháp lệnh Thi hành án dân sự và Nghị định số 173/2004/NĐ - CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Giải thích từ ngữ 1. 1. "Miễn, giảm thi hành án": a) “Miễn thi hành án” là trường hợp người phải thi hành khoản tiền phạt, án phí theo bản án, quyết định của Toà án nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định và hướng dẫn của Thông tư này nên được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn thi hành toàn bộ tiền phạt, án phí hoặc phần tiền phạt, án phí còn lại; b) “Giảm thi hành án” là trường hợp người phải thi hành khoản tiền phạt, án phí theo bản án, quyết định của Toà án nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định và hướng dẫn của Thông tư này nên được Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thi hành một phần tiền phạt, án phí; c) "Tiền phạt" được miễn, giảm gồm các khoản tiền phạt được thi hành theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự, không phân biệt quyết định phạt tiền là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung; d) "án phí" được miễn, giảm gồm các khoản án phí có giá ngạch và không có giá ngạch. 1. 2. “Đã thi hành được một phần hình phạt tiền” là trường hợp người phải thi hành án đã nộp một khoản tiền hoặc tài sản để thi hành án ít nhất bằng 1/20 khoản tiền phạt phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch. 1. 3. "Người phải thi hành án lập công lớn” là người đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng. 1. 4. “Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài” là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không bảo đảm hoặc chỉ bảo đảm được tối thiểu cuộc sống cho bản thân người đó và gia đình từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời điểm bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án, trừ trường hợp do người phải thi hành án tự gây ra tai nạn, ốm đau cho bản thân họ nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. 2. Nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án 2. 1. Việc xét miễn, giảm thi hành án được tiến hành hàng quý trong năm, nhưng mỗi đối tượng phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm không quá một lần trong một năm. Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản tiền phạt, án phí trong nhiều bản án, quyết định khác nhau, thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong một năm. 2. 2. Không xét miễn, giảm thi hành án đối với người có đủ điều kiện xét miễn, giảm nhưng kể từ ngày bị xử phạt tiền, buộc phải chịu án phí đến thời điểm xét miễn, giảm mà lại phạm tội mới. 2. 3. Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp lệ phí và các chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm. Chi phí cho việc điều tra, xác minh, lập hồ sơ, thụ lý hồ sơ và tổ chức xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí nghiệp vụ của Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án cấp quân khu, Trại giam, Viện kiểm sát, Toà án giải quyết vụ việc đó. 3. Các trường hợp được miễn thi hành án 3. 1. Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; b) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; c) Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 3. 2. Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có các điều kiện a và b được hướng dẫn tại tiểu mục 3. 1 mục 3 phần I Thông tư này; b) Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt tiền còn lại hoặc lập công lớn. 3. 3. Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; b) Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 3. 4. Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống; b) Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 3. 5. Người phải thi hành khoản án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại, được miễn thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Đã hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí không có giá ngạch; b) Đã hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí có giá ngạch từ hai mươi triệu đồng trở xuống. 4. Các trường hợp được giảm thi hành án 4. 1. Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; b) Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng; c) Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 4. 2. Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người chưa thành niên khi phạm tội; b) Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn; c) Số tiền phạt còn lại từ trên hai triệu đồng; d) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 4. 3. Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng; b) Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại. 4. 4. Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Là người chưa thành niên khi phạm tội; b) Số tiền phạt còn lại trên hai mươi triệu đồng; c) Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn. 4. 5. Người phải thi hành khoản án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu. 4. 6. Mức xét giảm thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 173/2004/NĐ - CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ. II. THỦ TỤC XÉT MIỄN, GIẢM THI HÀNH ÁN 1. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án 1. 1. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án bao gồm: a) Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án, kèm theo các giấy tờ chứng minh điều kiện miễn, giảm thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án nhưng vì già yếu, bệnh tật, không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. Nếu người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án là người chưa thành niên hoặc là người không có năng lực hành vi, thì người giám hộ hoặc người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. b) Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí bao gồm: bản sao bản án, quyết định hoặc trích lục bản án, quyết định của Toà án (hoặc bản phô tô bản án, quyết định của Toà án có xác nhận của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự nếu khoản được miễn, giảm được thụ lý thi hành cùng các khoản khác); các quyết định về thi hành án; chứng từ thu - chi về thi hành án; các biên bản xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án, trong đó biên bản xác minh gần nhất không được quá sáu tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; các giấy tờ xác nhận điều kiện được xét miễn, giảm khác. c) Văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện trưởng Viện kiểm sát đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3. 2 và 3. 4 mục 3, tiểu mục 4. 2 và 4. 4 mục 4 phần I của Thông tư này; văn bản đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự đối với các trường hợp còn lại. 1. 2. Đơn xin miễn, giảm thi hành án được gửi cho Cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý thi hành khoản tiền phạt, án phí và phải có các nội dung sau: a) Họ và tên, nơi cư trú, làm việc và nơi chấp hành hình phạt tù (nếu có); b) Tên Cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý thi hành khoản tiền phạt, án phí; c) Số bản án, quyết định, tên Toà án đã ra bản án, quyết định; khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí đã thi hành được và khoản còn phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí xin miễn, giảm; lý do xin miễn, giảm. 1. 3. Đơn phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi người phải thi hành cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. 1. 4. Người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của Cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh việc lập công lớn (nếu có). Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc khen thưởng. Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc Giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên. 2. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án 2. 1. Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án cấp quân khu có trách nhiệm thông báo các điều kiện, thời gian xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí cho người phải thi hành án có đủ điều kiện để họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được đơn xin miễn, giảm thi hành án, chấp hành viên được giao thi hành vụ việc phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án. Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, ngoài biên bản xác minh của chấp hành viên về điều kiện thi hành án tại nơi cư trú, làm việc của người đó, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị Giám thị trại giam nơi người phải thi hành án chấp hành hình phạt tù xác nhận những vấn đề như: phạm nhân lập công lớn trong quá trình chấp hành hình phạt tù; phạm nhân bị bệnh nặng; tài sản phạm nhân gửi ở bộ phận lưu ký trong trại giam (nếu có). Giám thị trại giam được yêu cầu phải kiểm tra, xác nhận và chuyển phiếu xác nhận đó cho Cơ quan Thi hành án dân sự trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu. 2. 2. Căn cứ kết quả xác minh, chấp hành viên báo cáo Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc miễn, giảm thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không đủ điều kiện xét miễn, giảm thi hành án, thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của chấp hành viên, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do cho người phải thi hành án biết. Trường hợp xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện đề nghị xét, miễn giảm thi hành án nhưng không xác định được nơi cư trú của người đó hoặc người phải thi hành án là người nước ngoài không có tài sản và không còn cư trú tại Việt Nam, thì Cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị miễn, giảm thi hành án kèm theo hồ sơ đối với từng trường hợp. 2. 3. Vào tuần đầu của tháng giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng mười hàng năm, Cơ quan Thi hành án dân sự quy định tại mục 3 phần II Thông tư này có trách nhiệm chuyển số hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt được lập trong quý trước cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo văn bản đề nghị Toà án xét miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Toà án cùng cấp kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về các hồ sơ đề nghị miễn, giảm hoặc văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án và thông báo cho Cơ quan Thi hành án dân sự biết. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung những giấy tờ cần thiết. Trường hợp có căn cứ xác định rõ người phải thi hành án có đủ điều kiện để được xét miễn, giảm thi hành án nhưng Cơ quan Thi hành án dân sự không lập hồ sơ, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị việc miễn, giảm thi hành án. 2. 4. Người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại về việc Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập hồ sơ hoặc không lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án nếu có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương VI Pháp lệnh Thi hành án dân sự. 3. Thẩm quyền đề nghị miễn, giảm thi hành án và thẩm quyền của Toà án trong việc xét miễn, giảm thi hành án 3. 1. Đối với khoản tiền phạt, án phí được quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, thì Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thi hành án dân sự cấp huyện) nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc trực tiếp đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp vụ việc thuộc diện miễn, giảm thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự đang do Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Thi hành án dân sự cấp tỉnh) thụ lý thi hành, thì Thi hành án dân sự cấp tỉnh uỷ thác cho Thi hành án dân sự cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc lập hồ sơ và làm các thủ tục đề nghị xét miễn, giảm thi hành án, đồng thời thông báo cho đương sự biết. Nếu Thi hành án dân sự cấp tỉnh đã nhận đơn xin miễn, giảm thi hành án của đương sự và đã tiến hành xác minh các điều kiện miễn, giảm thi hành án, thì đơn xin miễn, giảm thi hành án và các tài liệu xác minh phải được gửi kèm theo hồ sơ và quyết định uỷ thác cho Thi hành án dân sự cấp huyện. 3. 2. Đối với phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; phần tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3. 2 và 3. 4 mục 3, tiểu mục 4. 2 và 4. 4 mục 4 phần I của Thông tư này, căn cứ hồ sơ thi hành án do Cơ quan Thi hành án dân sự chuyển sang, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Viện kiểm sát cấp huyện) nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. 3. 3. Đối với khoản tiền phạt, án phí được quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự do Thi hành án quân khu và tương đương thụ lý thi hành, thì cơ quan đó trực tiếp đề nghị Toà án quân sự khu vực nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp phần tiền phạt còn lại quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3. 2 và 3. 4 mục 3, tiểu mục 4. 2 và 4. 4 mục 4 phần I của Thông tư này do Thi hành án quân khu và tương đương thụ lý thi hành, nếu xét thấy hồ sơ có đủ các điều kiện xét miễn, giảm thi hành án, thì Viện kiểm sát quân khu và tương đương uỷ quyền cho Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án và thông báo cho đương sự biết. 4. Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án 4. 1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự, Chánh án Toà án có thẩm quyền xét miễn, giảm thi hành án chỉ định một Thẩm phán thụ lý hồ sơ và giải quyết việc xét miễn, giảm thi hành án. Thẩm phán được chỉ định có quyền yêu cầu Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung các giấy tờ cần thiết trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Quá thời hạn đó mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung các giấy tờ cần thiết, thì Thẩm phán trả lại hồ sơ cho cơ quan đã đề nghị. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán phải ấn định ngày mở phiên họp xét miễn, giảm thi hành án và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp biết để cử Kiểm sát viên, Chấp hành viên tham gia phiên họp. 4. 2. Phiên họp xét miễn, giảm chỉ được tiến hành khi có mặt của đại diện Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp. Thẩm phán chủ trì, thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp. Khi tiến hành xét miễn, giảm thi hành án, đại diện Cơ quan Thi hành án dân sự trình bày về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt, án phí quy định tại khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, đại diện Viện kiểm sát trình bày về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm phần tiền phạt quy định tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự; phần tiền phạt quy định tại khoản 3 Điều 76 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3. 2 và 3. 4 mục 3, tiểu mục 4. 2 và 4. 4 mục 4 phần I của Thông tư này. Thẩm phán có thể hỏi đại diện Viện Kiểm sát và Cơ quan Thi hành án dân sự về những điểm chưa rõ trong hồ sơ. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện các cơ quan liên quan, Thẩm phán có quyền: a) Chấp nhận toàn bộ đề nghị miễn, giảm thi hành án; b) Chấp nhận một phần đề nghị miễn, giảm thi hành án; c) Không chấp nhận đề nghị miễn, giảm thi hành án; d) Trường hợp Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đề nghị giảm thi hành án, nhưng xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện miễn thi hành án hoặc ngược lại, thì Thẩm phán căn cứ vào quy định của pháp luật để quyết định. 4. 3. Thẩm phán phải ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án với các nội dung sau: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; b) Tên Toà án ra quyết định; c) Họ, tên Thẩm phán chủ trì, thư ký phiên họp và đại diện các cơ quan tham gia phiên họp; d) Họ, tên, nơi cư trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù của người phải thi hành án (nếu có) và khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; đ) Nhận định của Toà án và những căn cứ để chấp nhận đề nghị miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự; e) Quyết định của Toà án cho miễn thi hành án và phần tiền phạt, án phí cụ thể được miễn; quyết định cho giảm một phần tiền phạt, án phí, mức giảm cụ thể và phần tiền phạt, án phí còn phải thi hành; g) Trường hợp Toà án quyết định không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Thi hành án dân sự về việc miễn, giảm thi hành án, thì phải nêu rõ lý do. 4. 4. Gửi quyết định về việc miễn, giảm thi hành án: Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án, Toà án phải gửi quyết định đó cho các đương sự, cơ quan sau đây: a) Người được miễn, giảm thi hành án; b) Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; c) Cơ quan Thi hành án dân sự lập hồ sơ; Cơ quan Thi hành án dân sự đã uỷ thác (nếu có); d) Trại giam nơi người được miễn, giảm đang chấp hành hình phạt tù (nếu có). 5. Kháng nghị quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án 5. 1. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm thi hành án có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án đã ra quyết định về việc miễn, giảm thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Toà án cấp trên trực tiếp. 5. 2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị và hồ sơ xét miễn, giảm thi hành án do Toà án cấp sơ thẩm chuyển đến, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp chỉ định Hội đồng gồm ba Thẩm phán trong đó có một Thẩm phán chủ tọa để xét kháng nghị. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng phải mở phiên họp xét kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp. 5. 3. Khi tiến hành phúc thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án bị kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm thảo luận, quyết định theo đa số và có quyền: a) Không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; b) Sửa một phần quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; quyết định mức giảm thấp hơn hoặc cao hơn mức giảm mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định; c) Huỷ quyết định của Toà án cấp sơ thẩm, đình chỉ việc xét miễn, giảm thi hành án trong trường hợp quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không có căn cứ pháp luật. 5. 4. Hội đồng phúc thẩm phải ra quyết định phúc thẩm có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; b) Họ, tên, nơi cư trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù (nếu có) của người phải thi hành án và khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; c) Tên Toà án và nội dung quyết định miễn, giảm của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng nghị; d) Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát; đ) Nhận định của Toà án cấp phúc thẩm và các căn cứ để Toà án ra quyết định; e) Quyết định giữ nguyên, sửa đổi một phần hoặc huỷ toàn bộ quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án. 5. 5. Trường hợp Viện Kiểm sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. 6. Hiệu lực của quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành án 6. 1. Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về việc miễn, giảm thi hành án không bị Viện kiểm sát kháng nghị; Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về việc miễn, giảm thi hành án bị kháng nghị nhưng đã được Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị; Quyết định giải quyết kháng nghị của Toà án cấp phúc thẩm, có hiệu lực thi hành. 6. 2. Căn cứ quyết định có hiệu lực của Toà án về việc miễn thi hành án, Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ phải ra quyết định đình chỉ thi hành phần tiền phạt, án phí được miễn. Trường hợp Toà án quyết định cho giảm một phần tiền phạt, án phí, thì Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ phải ghi chú vào sổ thụ lý thi hành án kèm theo quyết định của Toà án về việc giảm thi hành án và tiếp tục thi hành án đối với phần tiền phạt, án phí còn lại. 6. 3. Đối với khoản tiền phạt, án phí không được Toà án quyết định cho miễn, giảm, Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm tiếp tục tổ chức việc thi hành án. Trường hợp hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm bị Toà án trả lại do thực hiện không đúng thủ tục, Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm hoàn thiện lại hồ sơ để chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét trong kỳ xét miễn, giảm gần nhất. 6. 4. Trường hợp phát hiện quyết định miễn, giảm tiền phạt, án phí có sai lầm nghiêm trọng hoặc sau khi quyết định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực, mà phát hiện người phải thi hành án có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành án, thì Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm thi hành án phải có văn bản báo ngay cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo thủ tục chung. Cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng ngay các biện pháp do Pháp lệnh Thi hành án dân sự quy định để ngăn chặn việc cất giấu, tẩu tán tài sản. Trường hợp Toà án quyết định huỷ quyết định miễn, giảm thi hành án, thì quyết định đó phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ và người phải thi hành án. Căn cứ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự phải ra quyết định huỷ bỏ các quyết định được hướng dẫn tại tiểu mục 6. 2 mục 6 phần II của Thông tư này và ra quyết định tiếp tục tổ chức thi hành phần tiền phạt, án phí của người phải thi hành án. 6. 5. Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên xem xét, quyết định việc xử phạt hành chính theo quy định tại Chương V Nghị định số 173/2004/NĐ - CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ; Viện kiểm sát xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phải thi hành án cố tình cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm và trốn tránh việc thi hành án. III. HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Giám thị trại giam, Kiểm sát viên thiếu trách nhiệm, xác minh không đầy đủ, xác nhận không đúng điều kiện của người phải thi hành án hoặc không làm đúng nhiệm vụ được giao; Thẩm phán cố ý ra quyết định cho miễn, giảm thi hành án trái pháp luật, thì có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường cho ngân sách nhà nước phần tiền phạt, án phí đã được miễn, giảm theo quy định của pháp luật; 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan tổ chức thực hiện cần báo cáo ngay lên Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính để có hướng dẫn bổ sung kịp thời.
Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo
02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP
10/08/2005
Thông tư liên tịch
10/09/2005
Công báo số 38+39, năm 2005
26/08/2005
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Dương Thanh Biểu
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo ____________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo và sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát biển nông thôn; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau: I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; khiếu nại đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; khiếu nại quyết định áp đụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát; khiếu nại quyết định của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án về bắt buộc chữa bệnh; khiếu nại quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, thì không giải quyết theo hướng dẫn tại Thông tư này. 2. Về một số từ ngữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2.1. "Khiếu nại trong tố tụng hình sự" là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo thủ tục quy định tại Chương XXXV của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2.2. "Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam" là khiếu nại về lệnh bắt, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, tạm giam, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh gia hạn tạm giam và khiếu nại liên quan đến việc thực hiện các lệnh hoặc quyết định đó được quy định tại các điều từ Điều 80 đến Điều 90, Điều 92, Điều 93, Điều 303 và Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2.3. "Quyết định tố tụng bị khiếu nại” là quyết định được ban hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2.4. "Hành vi tố tụng bị khiếu nại" là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2.5. “Tố cáo trong tố tụng hình sự” là việc công dân báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. 2.6. “Vụ việc tố cáo phức tạp" là vụ việc tố cáo có nhiều nội dung, tố cáo liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của nhiều người hoặc cần phải xác minh tại nhiều địa điểm khác nhau. II. VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIÊU NẠI 1. Khiếu nại và việc xử lý đơn khiếu nại 1.1. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thụ lý khiếu nại để giải quyết khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người khiếu nại phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi tố tụng mà mình khiếu nại; b) Người khiếu nại phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; trường hợp người khiếu nại mắc bệnh tâm thần hoặc có nhược điểm về thể chất không thể tự khiếu nại thì việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp. Người đại điện cho người khiếu nại phải có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình; c) Người khiếu nại phải làm đơn và gửi đến đúng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hiệu quy định tại Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu người khiếu nại không thể tự làm đơn thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải ghi biên bản về việc khiếu nại của họ. Biên bản trong tố tụng hình sự có ghi ý kiến khiếu nại của người có liên quan được coi là hình thức khiếu nại hợp lệ thay cho đơn. Đơn hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại phải ghi họ tên, địa chỉ và phải có chữ ký trực tiếp của người khiếu nại hoặc người đại diện hợp pháp của họ; d) Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết cuối cùng và chưa có đơn rút khiếu nại của người khiếu nại. 1.2. Trường hợp người khiếu nại gặp trở ngại khách quan như ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc gặp những trở ngại khách quan khác ngoài ý muốn chủ quan của họ, làm cho họ không thể khiếu nại đúng thời hiệu, thì người khiếu nại phải có giấy tờ, tài liệu chứng minh hoặc văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. 1.3. Việc xử lý đơn khiếu nại được thực hiện như sau: a) Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc đã có quyết định giải quyết cuối cùng thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm giải quyết, nhưng phải có văn bản chỉ dẫn, trả lời cho người khiếu nại. Việc chỉ dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần cho một việc khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu là bản gốc thì phải trả lại cho họ giấy tờ, tài liệu đó; nếu gửi trả lại qua bưu điện thì phải gửi bằng hình thức gửi bảo đảm; b) Đối với đơn khiếu nại có nhiều nội dung hoặc có nhiều người ký, thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải hướng dẫn cho người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại; c) Đối với biên bản được lập theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng hình sự có ghi ý kiến khiếu nại thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền lập biên bản phải thông báo bằng văn bản và gửi kèm bản sao biên bản đó cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; d) Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới nhưng quá thời hạn và chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cấp dưới giải quyết, đồng thời có biện pháp kiểm xa việc giải quyết; đ) Đối với đơn hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại có đủ điều kiện, thì cơ quan, cá thân có thẩm quyền giải quyết phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Việc thụ lý giải quyết phải được ghi chép đầy đủ nội dung vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết khiếu nại. 1. 4. Việc giải quyết khiếu nại phải được thể hiện bằng quyết định và phải có hồ sơ. Quyết định giải quyết khiếu nại phải ghi họ tên, địa chỉ của người khiếu nại; người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết khiếu nại; các biện pháp trên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải có đơn khiếu nại hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại, văn bản giải trình của người bị khiếu nại, biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, quyết định giải quyết khiếu nại, các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. 2. Trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại 2.1. Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại theo quy định tại Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại ghi chép đầy đủ nội dung khiếu nại vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp người khiếu nại có văn bản rút khiếu nại thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định chấm đứt việc giải quyết khiếu nại. Khi giải quyết khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu người khiếu nại trình bày bổ sung hoặc yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bổ sung, lập biên bản về việc cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến khiếu nại; có quyền gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, cá nhân bị khiếu nại và những người có liên quan để xác minh những vấn đề cần làm rõ. Kết thúc việc giải quyết khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải ban hành quyết định giải quyết. Quyết định này phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện kiểm sát cùng cấp. Căn cứ kết quả giải quyết, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải áp dụng biện pháp hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục vi phạm pháp luật đối với quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý người có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại, nếu sai phạm của họ đến mức phải xử lý kỷ luật. 2.2. Cơ quan, cá nhân có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại có trách nhiệm cung cấp tài liệu liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Riêng cơ quan điều tra chỉ cung cấp cho Viện kiểm sát những tài liệu mà Viện kiểm sát chưa có. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại được thực hiện trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được yêu cầu. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến khiếu nại, giải quyết khiếu nại về việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam được thực hiện trong thời hạn mười hai giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. 2.3. Khi giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam cần thực hiện như sau: a) Quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ áp dụng đối với khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát; b) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn hoặc truy tố giải quyết; c) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng. d) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Phó Chánh án do Chánh án Tòa án giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Tòa án cấp trên trực tiếp. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Chánh án Tòa án do Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Tòa án cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết. Việc giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là giải quyết cuối cùng. Thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam của Tòa án được thực hiện theo quy định về thời hạn tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Nếu không thuộc trường hợp cần phải có thời gian để xác minh, thì thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là hai mươi bốn giờ, kể từ khi nhận được khiếu nại hợp lệ. 2.4. Cơ quan nhận được đơn khiếu nại do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc cơ quan báo chí chuyển đến, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết thì thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã chuyển đơn đến biết; nếu đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì gửi trả lại và thông báo bằng văn bản cho cơ quan hoặc cá nhân đã chuyển đơn biết. III. VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO 1. Việc tiếp nhận và phân loại, xử lý đơn tố cáo 1.1. Người tố cáo có thể viết đơn hoặc trực tiếp đến trình bày việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Văn bản tố cáo hoặc biên bản ghi nhận tố cáo phải ghi họ tên, địa chỉ của người tố cáo; họ tên, chức vụ, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo, những yêu cầu liên quan của người tố cáo (yêu cầu giữ bí mật họ tên, yêu cầu thông báo kết quả giải quyết...). 1.2. Cơ quan nhận được đơn tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau: a) Đối với đơn tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Nếu đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chậm nhất trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc biên bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo nếu họ có yêu cầu; b) Không xem xét, giải quyết đơn tố cáo dấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp của người tố cáo hoặc tố cáo đã được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết mà người tố cáo không đưa ra được bằng chứng mới; c) Đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật ngoài hoạt động tố tụng của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân khác thuộc cơ quan tiến hành tố tụng thì xử lý theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo; d) Đối với đơn tố cáo hoặc biên bản khi lời tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng có dấu hiệu phạm tội thì xử lý theo quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo 2.1. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận tố cáo, lập biên bản ghi nhận việc tố cáo của công dân (trường hợp cần thiết có thể ghi âm) khi họ trực tiếp đến trình bày việc tố cáo và ghi chép đẩy đủ nội dung tố cáo vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết tố cáo, phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo theo yêu cầu của họ, kịp thời yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ người tố cáo trong trường hợp họ bị đe đoạ, trù dập, trả thù. 2.2. Khi áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo cần thực hiện như sau: a) Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc kiểm tra, xác minh nội dung tố cáo. Quyết định này phải ghi họ tên, chức vụ của người được giao nhiệm vụ xác minh, nội dung cần xác minh, thời gian tiến hành xác minh, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh. Khi xác minh, người được giao nhiệm vụ có quyền trực tiếp gặp gỡ người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan để làm rõ những vấn đề cần xác minh. Sau khi kết thúc việc xác minh, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo; b) Trong quá trình giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nếu phát hiện thấy hành vi tố tụng liên quan có vi phạm pháp luật thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải áp dụng biện pháp khắc phục hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục, không phải đợi kết quả giải quyết tố cáo. Căn cứ kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có văn bản thông báo nội dung kết luận cho người tố cáo, cơ quan quản lý người tố cáo biết (trừ những nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước); nếu tố cáo sai sự thật thì kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý người tố cáo theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người bị tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật phải xử lý kỷ luật thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý; c) Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm liên quan đến việc tố cáo phải cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho việc giải quyết tố cáo theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. 2.3. Khi giải quyết tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam cần thực hiện như sau: a) Quy định tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ áp dụng đối với tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát; b) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn hoặc truy tố giải quyết; c) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết. Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp tên trực tiếp giải quyết; d) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Phó Chánh án dó Chánh án Tòa án giải quyết. Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Chánh án Tòa án đó Tòa án cấp tên trực tiếp giải quyết. Tố cáo cho liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết. Thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam của Tòa án được thực hiện theo quy định về thời hạn tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Nếu không thuộc trường hợp cần phải có thời gian để xác minh, thì thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là hai mươi bốn giờ, kể từ khi nhận được tố cáo; e) Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm liên quan phải cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn mười hai giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu. 2.4. Việc giải quyết tố cáo phải được thể hiện bằng kết luận và phải có hồ sơ. Văn bản kết luận nội dung tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo, người bị tố cáo, nội dung tố cáo, căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết tố cáo, các biện pháp liên quan. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải có đơn tố cáo hoặc biên bản ghi ý kiến tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, biên bản thẩm tra, xác minh, kết quả giám định, kết luận giải quyết tố cáo, các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. IV. VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUÁT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 1.1. Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định; b) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đã giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 1.2. Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; b) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong giải quyết; c) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong giải quyết. d) Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gan thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 1.3. Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cung cấp hồ sơ, tư liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, khi yêu cầu của Viện kiểm sát theo các điểm a và b khoản 1 Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự không được các cơ quan này thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 2. Việc thực hiện trực tiếp kiểm sát của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 339 Bộ luật Tố tụng tình sự 2.1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 Phần IV của Thông tư liên tịch này mà xét thấy việc giải quyết chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. 2.2. Để quyết định trực tiếp kiểm sát, Viện kiểm sát có quyền xác minh thu thập tài liệu nhằm xác định việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lược Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. 2.3. Việc thực tiếp kiểm sát phải có quyết định bằng văn bản và do Viện trưởng Viện kiểm sát tổ chức thực hiện. Nội dung văn bản quyết định trực tiếp kiểm sát phải nêu rõ căn cứ pháp luật để tiến hành kiểm sát, vụ việc cụ thể cần kiểm sát và những biện pháp thực hiện. 2.4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trực tiếp kiểm sát, cơ quan được kiểm sát có trách nhiệm tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát và cung cấp kịp thời, đầy đủ hồ sơ, sổ thụ lý và các tài liệu khác có liên quan theo yêu cầu của Viện kiểm sát. 2.5. Trong quá trình kiểm sát, nếu xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan để xác minh những vấn đề cần làm rõ nhằm kết luận việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát. 2.6. Khi kết thúc việc kiểm sát, nếu phát hiện thấy có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo của cơ quan được kiểm sát, thì tùy tính chất mức độ vi phạm, Viện kiểm sát ban hành kháng nghị, kiến nghị để yêu cầu cơ quan được kiểm sát khắc phục vi phạm pháp luật. Đồng thời nếu xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát có văn bản kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan được kiểm sát thực hiện các biện pháp quản lý liên quan. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát phải có văn bản trả lời. Nội dung văn bản trả lời phải nêu ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát. Nếu không nhất trí với kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản khiếu nại Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải có văn bản kết luận và trả lời cơ quan được kiểm sát. Trường hợp cơ quan được kiểm sát không thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát mà không có lý do, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đến cơ quan quản lý cấp trên của cơ quan được kiểm sát để có biện pháp buộc cơ quan được kiểm sát thực hiện. 2.7. Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị, kiến nghị có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của cơ quan được kiểm sát. Nội dung kiểm tra phải phù hợp với nội dung kháng nghị, kiến nghị. Kết thúc việc kiểm tra, Viện kiểm sát phải ra văn bản kết luận việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của cơ quan được kiểm sát. 2.8. Việc trực tiếp kiểm sát phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ trực tiếp kiểm sát phải có quyết định trực tiếp kiểm sát, biên bản làm việc, thẩm tra, xác minh, các tài liệu liên quan đến việc kết luận, kiến nghị, kháng nghị. Hồ sơ trực tiếp kiểm sát phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. V. HIỆU LỰC THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Việc khiếu nại, tố cáo phát sinh từ ngày 01/7/2004 hoặc tuy phát sinh trước ngày 01/7/2004 mà vẫn đang giải quyết thì việc giải quyết được thực hiện diệc hướng dẫn của Thông tư này. Những khiếu nại, tố cáo từ ngày 01/7/2004 đã được giải quyết xong thì không căn cứ hướng dẫn trong Thông tư này để giải quyết lại. 3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, việc tố cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. 4. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc cần cải quyết thì cá nhân, cơ quan có trách nhiệm thực hiện báo cáo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp để được giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17643&Keyword=
2025-09-24T02:37:18.895405
../data\bocongan\022005TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo ____________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo và sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát biển nông thôn; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điểm như sau: I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; khiếu nại đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; khiếu nại quyết định áp đụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát; khiếu nại quyết định của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án về bắt buộc chữa bệnh; khiếu nại quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, thì không giải quyết theo hướng dẫn tại Thông tư này. 2. Về một số từ ngữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2. 1. "Khiếu nại trong tố tụng hình sự" là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo thủ tục quy định tại Chương XXXV của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2. 2. "Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam" là khiếu nại về lệnh bắt, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, tạm giam, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh gia hạn tạm giam và khiếu nại liên quan đến việc thực hiện các lệnh hoặc quyết định đó được quy định tại các điều từ Điều 80 đến Điều 90, Điều 92, Điều 93, Điều 303 và Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. 3. "Quyết định tố tụng bị khiếu nại” là quyết định được ban hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2. 4. "Hành vi tố tụng bị khiếu nại" là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án được phân công chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà người khiếu nại cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2. 5. “Tố cáo trong tố tụng hình sự” là việc công dân báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. 2. 6. “Vụ việc tố cáo phức tạp" là vụ việc tố cáo có nhiều nội dung, tố cáo liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của nhiều người hoặc cần phải xác minh tại nhiều địa điểm khác nhau. II. VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIÊU NẠI 1. Khiếu nại và việc xử lý đơn khiếu nại 1. 1. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thụ lý khiếu nại để giải quyết khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người khiếu nại phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi tố tụng mà mình khiếu nại; b) Người khiếu nại phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; trường hợp người khiếu nại mắc bệnh tâm thần hoặc có nhược điểm về thể chất không thể tự khiếu nại thì việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp. Người đại điện cho người khiếu nại phải có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình; c) Người khiếu nại phải làm đơn và gửi đến đúng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hiệu quy định tại Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu người khiếu nại không thể tự làm đơn thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải ghi biên bản về việc khiếu nại của họ. Biên bản trong tố tụng hình sự có ghi ý kiến khiếu nại của người có liên quan được coi là hình thức khiếu nại hợp lệ thay cho đơn. Đơn hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại phải ghi họ tên, địa chỉ và phải có chữ ký trực tiếp của người khiếu nại hoặc người đại diện hợp pháp của họ; d) Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết cuối cùng và chưa có đơn rút khiếu nại của người khiếu nại. 1. 2. Trường hợp người khiếu nại gặp trở ngại khách quan như ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc gặp những trở ngại khách quan khác ngoài ý muốn chủ quan của họ, làm cho họ không thể khiếu nại đúng thời hiệu, thì người khiếu nại phải có giấy tờ, tài liệu chứng minh hoặc văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. 1. 3. Việc xử lý đơn khiếu nại được thực hiện như sau: a) Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc đã có quyết định giải quyết cuối cùng thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm giải quyết, nhưng phải có văn bản chỉ dẫn, trả lời cho người khiếu nại. Việc chỉ dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần cho một việc khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu là bản gốc thì phải trả lại cho họ giấy tờ, tài liệu đó; nếu gửi trả lại qua bưu điện thì phải gửi bằng hình thức gửi bảo đảm; b) Đối với đơn khiếu nại có nhiều nội dung hoặc có nhiều người ký, thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải hướng dẫn cho người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại; c) Đối với biên bản được lập theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng hình sự có ghi ý kiến khiếu nại thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền lập biên bản phải thông báo bằng văn bản và gửi kèm bản sao biên bản đó cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; d) Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới nhưng quá thời hạn và chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan cấp trên yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cấp dưới giải quyết, đồng thời có biện pháp kiểm xa việc giải quyết; đ) Đối với đơn hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại có đủ điều kiện, thì cơ quan, cá thân có thẩm quyền giải quyết phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Việc thụ lý giải quyết phải được ghi chép đầy đủ nội dung vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết khiếu nại. 1. 4. Việc giải quyết khiếu nại phải được thể hiện bằng quyết định và phải có hồ sơ. Quyết định giải quyết khiếu nại phải ghi họ tên, địa chỉ của người khiếu nại; người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết khiếu nại; các biện pháp trên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải có đơn khiếu nại hoặc biên bản ghi ý kiến khiếu nại, văn bản giải trình của người bị khiếu nại, biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, quyết định giải quyết khiếu nại, các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. 2. Trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại 2. 1. Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại theo quy định tại Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại ghi chép đầy đủ nội dung khiếu nại vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp người khiếu nại có văn bản rút khiếu nại thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định chấm đứt việc giải quyết khiếu nại. Khi giải quyết khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu người khiếu nại trình bày bổ sung hoặc yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bổ sung, lập biên bản về việc cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến khiếu nại; có quyền gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, cá nhân bị khiếu nại và những người có liên quan để xác minh những vấn đề cần làm rõ. Kết thúc việc giải quyết khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải ban hành quyết định giải quyết. Quyết định này phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện kiểm sát cùng cấp. Căn cứ kết quả giải quyết, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải áp dụng biện pháp hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục vi phạm pháp luật đối với quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý người có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại, nếu sai phạm của họ đến mức phải xử lý kỷ luật. 2. 2. Cơ quan, cá nhân có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại có trách nhiệm cung cấp tài liệu liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Riêng cơ quan điều tra chỉ cung cấp cho Viện kiểm sát những tài liệu mà Viện kiểm sát chưa có. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại được thực hiện trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được yêu cầu. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến khiếu nại, giải quyết khiếu nại về việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam được thực hiện trong thời hạn mười hai giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. 2. 3. Khi giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam cần thực hiện như sau: a) Quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ áp dụng đối với khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát; b) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn hoặc truy tố giải quyết; c) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng. d) Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Phó Chánh án do Chánh án Tòa án giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Tòa án cấp trên trực tiếp. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Chánh án Tòa án do Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Tòa án cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết. Việc giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là giải quyết cuối cùng. Thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam của Tòa án được thực hiện theo quy định về thời hạn tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Nếu không thuộc trường hợp cần phải có thời gian để xác minh, thì thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là hai mươi bốn giờ, kể từ khi nhận được khiếu nại hợp lệ. 2. 4. Cơ quan nhận được đơn khiếu nại do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc cơ quan báo chí chuyển đến, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết thì thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã chuyển đơn đến biết; nếu đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì gửi trả lại và thông báo bằng văn bản cho cơ quan hoặc cá nhân đã chuyển đơn biết. III. VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO 1. Việc tiếp nhận và phân loại, xử lý đơn tố cáo 1. 1. Người tố cáo có thể viết đơn hoặc trực tiếp đến trình bày việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Văn bản tố cáo hoặc biên bản ghi nhận tố cáo phải ghi họ tên, địa chỉ của người tố cáo; họ tên, chức vụ, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo, những yêu cầu liên quan của người tố cáo (yêu cầu giữ bí mật họ tên, yêu cầu thông báo kết quả giải quyết. . ). 1. 2. Cơ quan nhận được đơn tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau: a) Đối với đơn tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Nếu đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chậm nhất trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc biên bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo nếu họ có yêu cầu; b) Không xem xét, giải quyết đơn tố cáo dấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp của người tố cáo hoặc tố cáo đã được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết mà người tố cáo không đưa ra được bằng chứng mới; c) Đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật ngoài hoạt động tố tụng của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân khác thuộc cơ quan tiến hành tố tụng thì xử lý theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo; d) Đối với đơn tố cáo hoặc biên bản khi lời tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng có dấu hiệu phạm tội thì xử lý theo quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo 2. 1. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận tố cáo, lập biên bản ghi nhận việc tố cáo của công dân (trường hợp cần thiết có thể ghi âm) khi họ trực tiếp đến trình bày việc tố cáo và ghi chép đẩy đủ nội dung tố cáo vào sổ thụ lý và theo dõi giải quyết tố cáo, phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo theo yêu cầu của họ, kịp thời yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ người tố cáo trong trường hợp họ bị đe đoạ, trù dập, trả thù. 2. 2. Khi áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo cần thực hiện như sau: a) Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc kiểm tra, xác minh nội dung tố cáo. Quyết định này phải ghi họ tên, chức vụ của người được giao nhiệm vụ xác minh, nội dung cần xác minh, thời gian tiến hành xác minh, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh. Khi xác minh, người được giao nhiệm vụ có quyền trực tiếp gặp gỡ người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan để làm rõ những vấn đề cần xác minh. Sau khi kết thúc việc xác minh, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo; b) Trong quá trình giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nếu phát hiện thấy hành vi tố tụng liên quan có vi phạm pháp luật thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải áp dụng biện pháp khắc phục hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục, không phải đợi kết quả giải quyết tố cáo. Căn cứ kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có văn bản thông báo nội dung kết luận cho người tố cáo, cơ quan quản lý người tố cáo biết (trừ những nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước); nếu tố cáo sai sự thật thì kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý người tố cáo theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người bị tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật phải xử lý kỷ luật thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý; c) Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm liên quan đến việc tố cáo phải cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho việc giải quyết tố cáo theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. 2. 3. Khi giải quyết tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam cần thực hiện như sau: a) Quy định tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ áp dụng đối với tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát; b) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn hoặc truy tố giải quyết; c) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết. Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp tên trực tiếp giải quyết; d) Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Phó Chánh án dó Chánh án Tòa án giải quyết. Tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Chánh án Tòa án đó Tòa án cấp tên trực tiếp giải quyết. Tố cáo cho liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam theo lệnh của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết. Thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giam của Tòa án được thực hiện theo quy định về thời hạn tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Nếu không thuộc trường hợp cần phải có thời gian để xác minh, thì thời hạn giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là hai mươi bốn giờ, kể từ khi nhận được tố cáo; e) Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm liên quan phải cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn mười hai giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu. 2. 4. Việc giải quyết tố cáo phải được thể hiện bằng kết luận và phải có hồ sơ. Văn bản kết luận nội dung tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo, người bị tố cáo, nội dung tố cáo, căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết tố cáo, các biện pháp liên quan. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải có đơn tố cáo hoặc biên bản ghi ý kiến tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, biên bản thẩm tra, xác minh, kết quả giám định, kết luận giải quyết tố cáo, các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. IV. VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUÁT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 1. 1. Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định; b) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đã giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 1. 2. Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; b) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong giải quyết; c) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong giải quyết. d) Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gan thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 1. 3. Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cung cấp hồ sơ, tư liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, khi yêu cầu của Viện kiểm sát theo các điểm a và b khoản 1 Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự không được các cơ quan này thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thận được yêu cầu. Trường hợp gặp trở ngại khách quan cần có thêm thời gian thì phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết. 2. Việc thực hiện trực tiếp kiểm sát của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 339 Bộ luật Tố tụng tình sự 2. 1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được hướng dẫn tại tiểu mục 1. 3 mục 1 Phần IV của Thông tư liên tịch này mà xét thấy việc giải quyết chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. 2. 2. Để quyết định trực tiếp kiểm sát, Viện kiểm sát có quyền xác minh thu thập tài liệu nhằm xác định việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lược Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. 2. 3. Việc thực tiếp kiểm sát phải có quyết định bằng văn bản và do Viện trưởng Viện kiểm sát tổ chức thực hiện. Nội dung văn bản quyết định trực tiếp kiểm sát phải nêu rõ căn cứ pháp luật để tiến hành kiểm sát, vụ việc cụ thể cần kiểm sát và những biện pháp thực hiện. 2. 4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trực tiếp kiểm sát, cơ quan được kiểm sát có trách nhiệm tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát và cung cấp kịp thời, đầy đủ hồ sơ, sổ thụ lý và các tài liệu khác có liên quan theo yêu cầu của Viện kiểm sát. 2. 5. Trong quá trình kiểm sát, nếu xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan để xác minh những vấn đề cần làm rõ nhằm kết luận việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát. 2. 6. Khi kết thúc việc kiểm sát, nếu phát hiện thấy có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo của cơ quan được kiểm sát, thì tùy tính chất mức độ vi phạm, Viện kiểm sát ban hành kháng nghị, kiến nghị để yêu cầu cơ quan được kiểm sát khắc phục vi phạm pháp luật. Đồng thời nếu xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát có văn bản kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan được kiểm sát thực hiện các biện pháp quản lý liên quan. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát phải có văn bản trả lời. Nội dung văn bản trả lời phải nêu ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát. Nếu không nhất trí với kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản khiếu nại Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải có văn bản kết luận và trả lời cơ quan được kiểm sát. Trường hợp cơ quan được kiểm sát không thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát mà không có lý do, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đến cơ quan quản lý cấp trên của cơ quan được kiểm sát để có biện pháp buộc cơ quan được kiểm sát thực hiện. 2. 7. Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị, kiến nghị có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của cơ quan được kiểm sát. Nội dung kiểm tra phải phù hợp với nội dung kháng nghị, kiến nghị. Kết thúc việc kiểm tra, Viện kiểm sát phải ra văn bản kết luận việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của cơ quan được kiểm sát. 2. 8. Việc trực tiếp kiểm sát phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ trực tiếp kiểm sát phải có quyết định trực tiếp kiểm sát, biên bản làm việc, thẩm tra, xác minh, các tài liệu liên quan đến việc kết luận, kiến nghị, kháng nghị. Hồ sơ trực tiếp kiểm sát phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu giữ theo quy định của pháp luật. V. HIỆU LỰC THÔNG TƯ 1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Việc khiếu nại, tố cáo phát sinh từ ngày 01/7/2004 hoặc tuy phát sinh trước ngày 01/7/2004 mà vẫn đang giải quyết thì việc giải quyết được thực hiện diệc hướng dẫn của Thông tư này. Những khiếu nại, tố cáo từ ngày 01/7/2004 đã được giải quyết xong thì không căn cứ hướng dẫn trong Thông tư này để giải quyết lại. 3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, việc tố cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. 4. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc cần cải quyết thì cá nhân, cơ quan có trách nhiệm thực hiện báo cáo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp để được giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung.
Hướng dẫn quy trình lập hồ sơ, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng công an nhân dân
02/2006/TT-BCA
08/02/2006
Thông tư
23/02/2006
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng - Thượng tướng
Nguyễn Khánh Toàn
null
THÔNG TƯ Hướng dẫn quy trình lập hồ sơ, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng công an nhân dân _________________________________ Căn cứ Điều lệ Bảo hiểm Y tế ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/N%C4%90-CP&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 63/2005/NĐ-CP ngày 16  tháng 5 năm 2005 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27 tháng 7 năm 2005 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Bộ Công an hướng dẫn quy trình lập hồ sơ, cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng Thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân (sau đây gọi tắt là thân nhân sĩ quan nghiệp vụ) được khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) là những người có đủ 2 điều kiện dưới đây: a. Thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ (sau đây gọi tắt là sĩ quan) gồm: - Bố đẻ, mẹ đẻ của sĩ quan; bố đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc chồng sĩ quan; - Bố nuôi, mẹ nuôi, hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của sĩ quan, của vợ hoặc chồng sĩ quan; - Vợ hoặc chồng của sĩ quan; - Con đẻ, con nuôi hợp pháp của sĩ quan dưới 18 tuổi; con đẻ, con nuôi hợp pháp của sĩ quan đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị tàn tật mất khả năng lao động theo quy định của pháp luật. b. Thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (tại điểm a, Khoản 1, mục I trên) không thuộc các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc quy định từ Khoản 1 đến Khoản 8 và Khoản 10 đến Khoản 13 mục I, Phần I Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27 tháng 7 năm 2005 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính. 2. Trách nhiệm của sĩ quan a. Sĩ quan có thân nhân đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT có trách nhiệm lập hồ sơ theo quy định tại Khoản 1, Mục II và nộp hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đang công tác. Trường hợp nhiều sĩ quan đang công tác trong lực lượng vũ trang (Công an, Quân đội) có cùng thân nhân đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT thì việc lập hồ sơ để cấp thẻ  BHYT cho thân nhân sĩ quan thực hiện như sau: - Thân nhân ở với sĩ quan nào thì sĩ quan đó có trách nhiệm lập hồ sơ. - Thân nhân có cả bố và mẹ cùng là sĩ quan thì người mẹ có trách nhiệm lập hồ sơ. - Thân nhân cùng ở với nhiều sĩ quan hoặc không ở với sĩ quan nào thì sĩ quan ở hàng cao nhất (thứ bậc cao nhất trong gia đình) có trách nhiệm lập hồ sơ. Nếu sĩ quan ở hàng cao nhất không có điều kiện lập hồ sơ để cấp thẻ BHYT cho thân nhân thì sĩ quan nào đứng ra lập hồ sơ phải làm đơn trình bày rõ lý do và được đơn vị trực tiếp quản lý sĩ quan ở hàng cao nhất xác nhận. b. Báo cáo với đơn vị về tình hình di biến động của thân nhân được hưởng chế độ BHYT (nếu có); hoặc khi có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho thân nhân. 3. Trách nhiệm của Công an các đơn vị, địa phương a. Căn cứ hồ sơ, lý lịch cán bộ, xác nhận vào bản khai đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân do sĩ quan đang công tác tại đơn vị lập (mẫu số 01). b. Lập và gửi danh sách (theo mẫu số 02) cùng hồ sơ thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện cấp thẻ BHYT về cơ quan Bảo hiểm xã hội -Bộ Công an (nếu là thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ công tác tại các Tổng cục, Vụ, Cục… trực thuộc Bộ hiện đang cư trú tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) hoặc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thân nhân sỹ quan nghiệp vụ cư trú. c. Vào quý IV hàng năm, trên cơ sở soát xét, tập hợp hồ sơ (kể cả do Công an các đơn vị, địa phương khác gửi về); Công an các địa phương lập danh sách thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện cấp thẻ BHYT (theo mẫu số 03), hiện cư trú tại địa phương (kể cả thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác tại địa phương và thân nhân sĩ quan nghiệp vụ công tác tại Công an các đơn vị, địa phương khác) để thực hiện việc mua, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân sĩ quan. Riêng thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ công tác tại các Tổng cục, Vụ, Cục… trực thuộc Bộ hiện đang cư trú tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh do các Tổng cục, V11, V15, V26 lập danh sách để mua, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân. Danh sách (theo mẫu số 03) được lập ít nhất 04 bản: - 01 bản gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với Công văn đề nghị hợp đồng mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ. - 01 bản gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội, Bộ Công an để tổng hợp, theo dõi. - 01 bản gửi Vụ Tài chính, Bộ Công an để làm cơ sở cấp kinh phí mua, cấp thẻ BHYT. - 01 bản lưu tại Công an đơn vị, địa phương. d. Theo dõi, kiểm tra việc khám bệnh, chữa bệnh của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được cấp thẻ BHYT trên địa bàn. đ.Thanh, quyết toán kinh phí mua thẻ BHYT với Vụ Tài chính, Bộ Công an theo quy định. e. Thông báo đến Công an địa phương nơi thân nhân sĩ quan nghiệp vụ cư trú khi có sự di, biến động của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (bổ sung thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện cấp thẻ BHYT, thay đổi nơi cư trú…) hoặc khi thân nhân sĩ quan nghiệp vụ có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu. f. Giải quyết các vấn đề phát sinh do có sự biến động của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ hoặc khi có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho thân nhân. g. Định kỳ 6 tháng một lần, Công an đơn vị, địa phương tiến hành đối chiếu, điều chỉnh và chuyển trả kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ theo hợp đồng vào tài khoản của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố. 4. Trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội - Bộ Công an a. Chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Công an các đơn vị, địa phương thuộc Bộ Công an trong việc mua, cấp thẻ BHYT và giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc thực hiện mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ. b. Tổng hợp số lượng thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được hưởng chế độ BHYT trong lực lượng Công an; phối hợp với Vụ Tài chính-Bộ Công an lập dự toán kinh phí và cấp kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân. 5. Trách nhiệm của Vụ Tài chính a. Chủ trì, phối hợp với Tổng cục III (Cơ quan Bảo hiểm xã hội - Bộ Công an) lập dự toán, thanh quyết toán với Bộ Tài chính về kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân. b. Cấp và thanh quyết toán kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ của Công an các đơn vị, địa phương. c. Phối hợp kiểm tra theo dõi việc sử dụng kinh phí, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ của Công an các đơn vị, địa phương. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Công an các đơn vị, địa phương tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt Thông tư này đến toàn thể sĩ quan trong đơn vị, địa phương để thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nhân dân nói riêng. Đồng thời khẩn trương triển khai làm thủ tục để sớm cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ có đủ điều kiện quy định. 2. Hàng năm việc mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được thực hiện làm 2 đợt: a. Đợt I: Vào tháng 12 năm trước để cấp thẻ cho năm sau. b. Đợt II: Vào tháng 5 cấp bổ sung cho những trường hợp mớt phát sinh. 3. Mức đóng BHYT hàng tháng đối với thân nhân sĩ quan nghiệp vụ quy định tại điểm a, Khoản 1, mục I bằng 3% mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định. Kinh phí mua BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được bố trí trong dự toán ngân sách chi an ninh thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Lệ phí bảo đảm cho việc tổ chức triển khai mua, cấp thẻ BHYT, đăng ký khám, chữa bệnh cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (bao gồm tuyên truyền, triển khai, in ấn biểu mẫu, lập danh sách, xét duyệt, mua và cấp thẻ BHYT đến từng thân nhân sĩ quan nghiệp vụ) được tính bằng 2% tổng kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ, do ngân sách Nhà nước cấp. 4. Cá nhân, đơn vị có hành vi khai man hoặc xác nhận không đúng sự thực để thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được cấp thẻ BHYT thì phải bồi hoàn số tiền đã sử dụng để mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đó và tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý trách nhiệm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 5. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục III) xem xét, giải quyết.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=47638&Keyword=
2025-09-24T02:32:00.913700
../data\bocongan\022006TT-BCA\document.json
26/10/2012
THÔNG TƯ Hướng dẫn quy trình lập hồ sơ, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng công an nhân dân _________________________________ Căn cứ Điều lệ Bảo hiểm Y tế ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/N%C4%90 - CP&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 63/2005/NĐ - CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT - BYT - BTC&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 21/2005/TTLT - BYT - BTC ngày 27 tháng 7 năm 2005 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Bộ Công an hướng dẫn quy trình lập hồ sơ, cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng Thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân (sau đây gọi tắt là thân nhân sĩ quan nghiệp vụ) được khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) là những người có đủ 2 điều kiện dưới đây: a. Thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ (sau đây gọi tắt là sĩ quan) gồm: - Bố đẻ, mẹ đẻ của sĩ quan; bố đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc chồng sĩ quan; - Bố nuôi, mẹ nuôi, hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của sĩ quan, của vợ hoặc chồng sĩ quan; - Vợ hoặc chồng của sĩ quan; - Con đẻ, con nuôi hợp pháp của sĩ quan dưới 18 tuổi; con đẻ, con nuôi hợp pháp của sĩ quan đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị tàn tật mất khả năng lao động theo quy định của pháp luật. b. Thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (tại điểm a, Khoản 1, mục I trên) không thuộc các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc quy định từ Khoản 1 đến Khoản 8 và Khoản 10 đến Khoản 13 mục I, Phần I Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT - BYT - BTC&area=2&type=0&match=False&vc=True&lan=1" target="_blank"> 21/2005/TTLT - BYT - BTC ngày 27 tháng 7 năm 2005 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính. 2. Trách nhiệm của sĩ quan a. Sĩ quan có thân nhân đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT có trách nhiệm lập hồ sơ theo quy định tại Khoản 1, Mục II và nộp hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đang công tác. Trường hợp nhiều sĩ quan đang công tác trong lực lượng vũ trang (Công an, Quân đội) có cùng thân nhân đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT thì việc lập hồ sơ để cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan thực hiện như sau: - Thân nhân ở với sĩ quan nào thì sĩ quan đó có trách nhiệm lập hồ sơ. - Thân nhân có cả bố và mẹ cùng là sĩ quan thì người mẹ có trách nhiệm lập hồ sơ. - Thân nhân cùng ở với nhiều sĩ quan hoặc không ở với sĩ quan nào thì sĩ quan ở hàng cao nhất (thứ bậc cao nhất trong gia đình) có trách nhiệm lập hồ sơ. Nếu sĩ quan ở hàng cao nhất không có điều kiện lập hồ sơ để cấp thẻ BHYT cho thân nhân thì sĩ quan nào đứng ra lập hồ sơ phải làm đơn trình bày rõ lý do và được đơn vị trực tiếp quản lý sĩ quan ở hàng cao nhất xác nhận. b. Báo cáo với đơn vị về tình hình di biến động của thân nhân được hưởng chế độ BHYT (nếu có); hoặc khi có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho thân nhân. 3. Trách nhiệm của Công an các đơn vị, địa phương a. Căn cứ hồ sơ, lý lịch cán bộ, xác nhận vào bản khai đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân do sĩ quan đang công tác tại đơn vị lập (mẫu số 01). b. Lập và gửi danh sách (theo mẫu số 02) cùng hồ sơ thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện cấp thẻ BHYT về cơ quan Bảo hiểm xã hội - Bộ Công an (nếu là thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ công tác tại các Tổng cục, Vụ, Cục… trực thuộc Bộ hiện đang cư trú tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) hoặc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thân nhân sỹ quan nghiệp vụ cư trú. c. Vào quý IV hàng năm, trên cơ sở soát xét, tập hợp hồ sơ (kể cả do Công an các đơn vị, địa phương khác gửi về); Công an các địa phương lập danh sách thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện cấp thẻ BHYT (theo mẫu số 03), hiện cư trú tại địa phương (kể cả thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ đang công tác tại địa phương và thân nhân sĩ quan nghiệp vụ công tác tại Công an các đơn vị, địa phương khác) để thực hiện việc mua, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân sĩ quan. Riêng thân nhân của sĩ quan nghiệp vụ công tác tại các Tổng cục, Vụ, Cục… trực thuộc Bộ hiện đang cư trú tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh do các Tổng cục, V11, V15, V26 lập danh sách để mua, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân. Danh sách (theo mẫu số 03) được lập ít nhất 04 bản: - 01 bản gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với Công văn đề nghị hợp đồng mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ. - 01 bản gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội, Bộ Công an để tổng hợp, theo dõi. - 01 bản gửi Vụ Tài chính, Bộ Công an để làm cơ sở cấp kinh phí mua, cấp thẻ BHYT. - 01 bản lưu tại Công an đơn vị, địa phương. d. Theo dõi, kiểm tra việc khám bệnh, chữa bệnh của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được cấp thẻ BHYT trên địa bàn. đ. Thanh, quyết toán kinh phí mua thẻ BHYT với Vụ Tài chính, Bộ Công an theo quy định. e. Thông báo đến Công an địa phương nơi thân nhân sĩ quan nghiệp vụ cư trú khi có sự di, biến động của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (bổ sung thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện cấp thẻ BHYT, thay đổi nơi cư trú…) hoặc khi thân nhân sĩ quan nghiệp vụ có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu. f. Giải quyết các vấn đề phát sinh do có sự biến động của thân nhân sĩ quan nghiệp vụ hoặc khi có nhu cầu thay đổi nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho thân nhân. g. Định kỳ 6 tháng một lần, Công an đơn vị, địa phương tiến hành đối chiếu, điều chỉnh và chuyển trả kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ theo hợp đồng vào tài khoản của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố. 4. Trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội - Bộ Công an a. Chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Công an các đơn vị, địa phương thuộc Bộ Công an trong việc mua, cấp thẻ BHYT và giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc thực hiện mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ. b. Tổng hợp số lượng thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được hưởng chế độ BHYT trong lực lượng Công an; phối hợp với Vụ Tài chính - Bộ Công an lập dự toán kinh phí và cấp kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân. 5. Trách nhiệm của Vụ Tài chính a. Chủ trì, phối hợp với Tổng cục III (Cơ quan Bảo hiểm xã hội - Bộ Công an) lập dự toán, thanh quyết toán với Bộ Tài chính về kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân. b. Cấp và thanh quyết toán kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ của Công an các đơn vị, địa phương. c. Phối hợp kiểm tra theo dõi việc sử dụng kinh phí, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ của Công an các đơn vị, địa phương. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Công an các đơn vị, địa phương tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt Thông tư này đến toàn thể sĩ quan trong đơn vị, địa phương để thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nhân dân nói riêng. Đồng thời khẩn trương triển khai làm thủ tục để sớm cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ có đủ điều kiện quy định. 2. Hàng năm việc mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được thực hiện làm 2 đợt: a. Đợt I: Vào tháng 12 năm trước để cấp thẻ cho năm sau. b. Đợt II: Vào tháng 5 cấp bổ sung cho những trường hợp mớt phát sinh. 3. Mức đóng BHYT hàng tháng đối với thân nhân sĩ quan nghiệp vụ quy định tại điểm a, Khoản 1, mục I bằng 3% mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định. Kinh phí mua BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được bố trí trong dự toán ngân sách chi an ninh thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Lệ phí bảo đảm cho việc tổ chức triển khai mua, cấp thẻ BHYT, đăng ký khám, chữa bệnh cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ (bao gồm tuyên truyền, triển khai, in ấn biểu mẫu, lập danh sách, xét duyệt, mua và cấp thẻ BHYT đến từng thân nhân sĩ quan nghiệp vụ) được tính bằng 2% tổng kinh phí mua thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ, do ngân sách Nhà nước cấp. 4. Cá nhân, đơn vị có hành vi khai man hoặc xác nhận không đúng sự thực để thân nhân sĩ quan nghiệp vụ được cấp thẻ BHYT thì phải bồi hoàn số tiền đã sử dụng để mua, cấp thẻ BHYT cho thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đó và tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý trách nhiệm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 5. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục III) xem xét, giải quyết.
Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng
02/2006/TTLT/BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKHNDTC
18/05/2006
Thông tư liên tịch
12/06/2006
Công báo số 29+30, năm 2006
28/05/2006
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng; Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật hình sự, thì Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là Chánh án Tòa án cấp tỉnh) nơi người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng có thẩm quyền quyết định cho người đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 2. Điều kiện để có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 2.1. Người đang chấp hành hình phạt tù có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong trường hợp bị bệnh nặng. Người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng là người bị bệnh đến mức không thể tiếp tục chấp hành hình phạt tù được và nếu để tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu... 2.2. Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng và nếu để họ tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ. 2.3. Người đang chấp hành hình phạt tù phải có nơi cư trú tại xã, phường, thị trấn. 3. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 3.1. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng bao gồm: a) Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự; b) Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật. Đối với người bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và trong hồ sơ bệnh án phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu; c) Văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho người bị bệnh nặng của Ban giám thị trại giam, Ban giám thị trại tạm giam. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù tại nhà tạm giữ thì Trưởng nhà tạm giữa phải báo cáo cho Ban giám thị trại tạm giam có thẩm quyền để làm văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho họ; d) Ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền được hướng dẫn tại mục 4 Thông tư này (trừ người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu); đ) Ý kiến của lãnh đạo Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng nhưng bị phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia; bị phạt trên 15 năm tù, tù chung thân về các tội giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, cố ý gây thương tích, cố ý truyền HIV cho người khác hoặc bị phạt tù từ 20 năm trở lên (kể cả tổng hợp hình phạt), tù chung thân về các tội phạm khác do cố ý. 3.2. Qua công tác kiểm sát thi hành án phạt tù, nếu thấy có người đang chấp hành án phạt tù bị bệnh nặng được hướng dẫn tại mục 2 Thông tư này, Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi trại giam, trại tạm giam đóng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản yêu cầu Ban giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người mắc bệnh nặng đang chấp hành hình phạt tù lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đó. 4. Thủ tục lập và thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 4.1. Ban giám thị trại giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng mà trại giam đang quản lý, giáo dục rồi chuyển hồ sơ đó cho Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng xem xét, thẩm định. 4.2. Ban giám thị trại giam thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng mà trại giam đang quản lý rồi chuyển hồ sơ đó cho Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xem xét, thẩm định. 4.3. Ban giám thị trại giam, trại tạm giam quân khu thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng mà trại giam, trại tạm giam quản lý rồi chuyển hồ sơ đó cho Cơ quan điều tra hình sự quân khu xem xét, thẩm định. 4.4. Ban giám thị trại tạm giam Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng tại Phân trại quản lý phạm nhân trong trại tạm giam rồi chuyển hồ sơ đó cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, thẩm định. 4.5. Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định phải hoàn thành việc xem xét, thẩm định. Sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển đến Tòa án cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng, đồng thời sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đó để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 4.6. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu thì Ban giám thị trại giam, trại tạm giam lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù rồi chuyển cho Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù xem xét, quyết định, không phải xin ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền nhưng phải sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nơi trại giam, trại tạm giam đóng để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 5. Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 5.1. Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng chỉ xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khi hồ sơ đã có đầy đủ các tài liệu được hướng dẫn tại mục 3 Thông tư này. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Chánh án Tòa án phải xem xét cho hoặc không cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có điểm nào chưa rõ, thì Chánh án Tòa án yêu cầu Ban giám thị trại giam, trại tạm giam bổ sung hoặc làm rõ thêm. 5.2. Trong trường hợp không đồng ý với đề nghị của Ban giám thị trại giam, trại tạm giam, thì Chánh án Tòa án phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho cơ quan đề nghị biết. 5.3. Trong trường hợp đồng ý với đề nghị của Ban giám thị trại giam, trại tạm giam, thì Chánh án Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. 5.4. Khi phát hiện văn bản không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do không xác đáng hoặc khi phát hiện thấy quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị yêu cầu Tòa án xem xét để ra quyết định tạm đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 6. Gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 6.1. Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải được Tòa án gửi cho: a) Người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; b) Trại giam, trại tạm giam nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù; c) Tòa án đã ra quyết định thi hành án; Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù về cư trú để chữa bệnh; d) Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi trại giam đóng; đ) Chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 6.2. Ban giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm gửi bản sao quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến Bộ Công an (Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng), Công an cấp tỉnh (Văn phòng Công an cấp tỉnh) để thực hiện việc quản lý nhà nước về thi hành án phạt tù; đối với trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm gửi bản sao quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng hoặc Cục Điều tra hình sự quân khu. Trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV thì Ban giám thị trại giam, trại tạm giam còn có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Trung tâm y tế cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ về cư trú để cơ quan này chủ động quản lý và tư vấn cho người được tạm đình chỉ cũng như gia đình họ. 7. Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS, nhưng chưa làm hoặc chưa hoàn tất thủ tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho họ theo hướng dẫn của Thông tư này mà họ bị chết trong trại giam, trại tạm giam và không có căn cứ nghi ngờ chết vì lý do khác thì không phải mổ tử thi, lấy mẫu xét nghiệm nhưng vẫn phải lập biên bản xác định nguyên nhân chết theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh thi hành án phạt tù. 8. Quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 8.1. Theo quy định tại Điều 263 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải giao người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú để quản lý. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm phối hợp với Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong việc giao người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền xã, phường, thị trấn. 8.2. Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó sẽ bỏ trốn thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm báo ngay cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và ra ngay quyết định thi hành án để bắt họ đi chấp hành hình phạt tù. Quyết định tiếp tục thi hành án được gửi cho cơ quan Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra hình sự quân khu nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú để chữa bệnh. Cơ quan Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra hình sự quân khu có nhiệm vụ tổ chức bắt, áp giải người đó đến trại giam, trại tạm giam để tiếp tục chấp hành hình phạt tù. 8.3. Chánh án Tòa án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú để chữa bệnh có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ theo dõi việc chấp hành quyết định tạm đình chỉ của người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu thấy sức khỏe của họ đã phục hồi thì phải báo ngay cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ để ra ngay quyết định tiếp tục thi hành hình phạt tù. Trường hợp thấy khó đánh giá là sức khỏe của người bị kết án đã phục hồi hay chưa thì Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án cư trú để chữa bệnh có trách nhiệm trưng cầu giám định sức khỏe cho họ. Kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh trở lên là căn cứ để Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù ra quyết định tiếp tục thi hành án đối với họ hay không. 8.4. Trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù chết thì gia đình họ hoặc chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ phải báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, Chánh án tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án cư trú biết. Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có trách nhiệm thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã bị chết và gửi quyết định này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 9. Kinh phí giám định, chữa bệnh, mai táng cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng hoặc bị chết Kinh phí giám định, chữa bệnh cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng hoặc mai táng khi người đó chết được sử dụng từ nguồn kinh phí do Nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác, kể cả từ gia đình người đang chấp hành hình phạt tù. 10. Hiệu lực thi hành 10.1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các hướng dẫn trước đây về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 10.2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16020&Keyword=
2025-09-24T02:36:59.876943
../data\bocongan\022006TTLTBCA-BQP-BYT-TANDTC-VKHNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng; Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật hình sự, thì Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là Chánh án Tòa án cấp tỉnh) nơi người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng có thẩm quyền quyết định cho người đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 2. Điều kiện để có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 2. 1. Người đang chấp hành hình phạt tù có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong trường hợp bị bệnh nặng. Người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng là người bị bệnh đến mức không thể tiếp tục chấp hành hình phạt tù được và nếu để tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu. . 2. 2. Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng và nếu để họ tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ. 2. 3. Người đang chấp hành hình phạt tù phải có nơi cư trú tại xã, phường, thị trấn. 3. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 3. 1. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng bao gồm: a) Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự; b) Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật. Đối với người bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và trong hồ sơ bệnh án phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu; c) Văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho người bị bệnh nặng của Ban giám thị trại giam, Ban giám thị trại tạm giam. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù tại nhà tạm giữ thì Trưởng nhà tạm giữa phải báo cáo cho Ban giám thị trại tạm giam có thẩm quyền để làm văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho họ; d) Ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền được hướng dẫn tại mục 4 Thông tư này (trừ người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu); đ) Ý kiến của lãnh đạo Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng nhưng bị phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia; bị phạt trên 15 năm tù, tù chung thân về các tội giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, cố ý gây thương tích, cố ý truyền HIV cho người khác hoặc bị phạt tù từ 20 năm trở lên (kể cả tổng hợp hình phạt), tù chung thân về các tội phạm khác do cố ý. 3. 2. Qua công tác kiểm sát thi hành án phạt tù, nếu thấy có người đang chấp hành án phạt tù bị bệnh nặng được hướng dẫn tại mục 2 Thông tư này, Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi trại giam, trại tạm giam đóng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản yêu cầu Ban giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người mắc bệnh nặng đang chấp hành hình phạt tù lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đó. 4. Thủ tục lập và thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 4. 1. Ban giám thị trại giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng mà trại giam đang quản lý, giáo dục rồi chuyển hồ sơ đó cho Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng xem xét, thẩm định. 4. 2. Ban giám thị trại giam thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng mà trại giam đang quản lý rồi chuyển hồ sơ đó cho Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xem xét, thẩm định. 4. 3. Ban giám thị trại giam, trại tạm giam quân khu thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng mà trại giam, trại tạm giam quản lý rồi chuyển hồ sơ đó cho Cơ quan điều tra hình sự quân khu xem xét, thẩm định. 4. 4. Ban giám thị trại tạm giam Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng tại Phân trại quản lý phạm nhân trong trại tạm giam rồi chuyển hồ sơ đó cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, thẩm định. 4. 5. Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định phải hoàn thành việc xem xét, thẩm định. Sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển đến Tòa án cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng, đồng thời sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đó để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 4. 6. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu thì Ban giám thị trại giam, trại tạm giam lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù rồi chuyển cho Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù xem xét, quyết định, không phải xin ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền nhưng phải sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nơi trại giam, trại tạm giam đóng để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 5. Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 5. 1. Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng chỉ xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khi hồ sơ đã có đầy đủ các tài liệu được hướng dẫn tại mục 3 Thông tư này. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Chánh án Tòa án phải xem xét cho hoặc không cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có điểm nào chưa rõ, thì Chánh án Tòa án yêu cầu Ban giám thị trại giam, trại tạm giam bổ sung hoặc làm rõ thêm. 5. 2. Trong trường hợp không đồng ý với đề nghị của Ban giám thị trại giam, trại tạm giam, thì Chánh án Tòa án phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho cơ quan đề nghị biết. 5. 3. Trong trường hợp đồng ý với đề nghị của Ban giám thị trại giam, trại tạm giam, thì Chánh án Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. 5. 4. Khi phát hiện văn bản không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do không xác đáng hoặc khi phát hiện thấy quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị yêu cầu Tòa án xem xét để ra quyết định tạm đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 6. Gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 6. 1. Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải được Tòa án gửi cho: a) Người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; b) Trại giam, trại tạm giam nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù; c) Tòa án đã ra quyết định thi hành án; Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù về cư trú để chữa bệnh; d) Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi trại giam đóng; đ) Chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 6. 2. Ban giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm gửi bản sao quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến Bộ Công an (Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng), Công an cấp tỉnh (Văn phòng Công an cấp tỉnh) để thực hiện việc quản lý nhà nước về thi hành án phạt tù; đối với trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm gửi bản sao quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng hoặc Cục Điều tra hình sự quân khu. Trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV thì Ban giám thị trại giam, trại tạm giam còn có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Trung tâm y tế cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ về cư trú để cơ quan này chủ động quản lý và tư vấn cho người được tạm đình chỉ cũng như gia đình họ. 7. Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS, nhưng chưa làm hoặc chưa hoàn tất thủ tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho họ theo hướng dẫn của Thông tư này mà họ bị chết trong trại giam, trại tạm giam và không có căn cứ nghi ngờ chết vì lý do khác thì không phải mổ tử thi, lấy mẫu xét nghiệm nhưng vẫn phải lập biên bản xác định nguyên nhân chết theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh thi hành án phạt tù. 8. Quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 8. 1. Theo quy định tại Điều 263 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải giao người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú để quản lý. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm phối hợp với Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong việc giao người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền xã, phường, thị trấn. 8. 2. Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó sẽ bỏ trốn thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm báo ngay cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và ra ngay quyết định thi hành án để bắt họ đi chấp hành hình phạt tù. Quyết định tiếp tục thi hành án được gửi cho cơ quan Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra hình sự quân khu nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú để chữa bệnh. Cơ quan Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra hình sự quân khu có nhiệm vụ tổ chức bắt, áp giải người đó đến trại giam, trại tạm giam để tiếp tục chấp hành hình phạt tù. 8. 3. Chánh án Tòa án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú để chữa bệnh có trách nhiệm phối hợp với chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ theo dõi việc chấp hành quyết định tạm đình chỉ của người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu thấy sức khỏe của họ đã phục hồi thì phải báo ngay cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ để ra ngay quyết định tiếp tục thi hành hình phạt tù. Trường hợp thấy khó đánh giá là sức khỏe của người bị kết án đã phục hồi hay chưa thì Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án cư trú để chữa bệnh có trách nhiệm trưng cầu giám định sức khỏe cho họ. Kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh trở lên là căn cứ để Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù ra quyết định tiếp tục thi hành án đối với họ hay không. 8. 4. Trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù chết thì gia đình họ hoặc chính quyền xã, phường, thị trấn được giao quản lý người được tạm đình chỉ phải báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, Chánh án tòa án cấp tỉnh nơi người bị kết án cư trú biết. Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có trách nhiệm thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã bị chết và gửi quyết định này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú, Ban giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người bị kết án được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. 9. Kinh phí giám định, chữa bệnh, mai táng cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng hoặc bị chết Kinh phí giám định, chữa bệnh cho người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng hoặc mai táng khi người đó chết được sử dụng từ nguồn kinh phí do Nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác, kể cả từ gia đình người đang chấp hành hình phạt tù. 10. Hiệu lực thi hành 10. 1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các hướng dẫn trước đây về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 10. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA
27/02/2007
Thông tư liên tịch
25/03/2007
Công báo số 238 & 239/2007;
10/03/2007
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Thứ trưởng
Trương Văn Đoan
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Căn cứ Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh; Căn cứ Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Quyết định số 75/1998/QĐ-TTg ngày 04 tháng 04 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mã số đối tượng nộp thuế; Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tài chính - Công an hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi chung là thủ tục hành chính); trình tự giải quyết việc đăng ký kinh doanh thành lập mới doanh nghiệp; đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế hoặc thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. Các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu không quy định tại Thông tư này vẫn thực hiện theo các quy định hiện hành. Tổ chức, cá nhân đề nghị đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu được tự lựa chọn áp dụng thủ tục hành chính theo quy định tại Thông tư này hoặc áp dụng các thủ tục hành chính hiện hành về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu. 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đề nghị đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và giấy phép khắc dấu khi thành lập doanh nghiệp mới, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện các thủ tục hành chính Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính theo quy định tại Thông tư này. Tổ chức, cá nhân có thể nhận các mẫu giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và mẫu tờ khai đăng ký thuế tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ. II. HỒ SƠ, LỆ PHÍ, TRẢ KẾT QUẢ CHO DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Bộ hồ sơ chung 1.1. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập mới doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, bộ hồ sơ chung bao gồm các giấy tờ sau: - Các giấy tờ đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2006/TT-BKH ngày 19 tháng 10 năm 2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là Thông tư số 03/2006/TT-BKH). - Các giấy tờ đăng ký thuế cho doanh nghiệp thành lập mới (trừ bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/2006/TT-BTC ngày 14 tháng 02 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 75/1998/QĐ-TTg ngày 04 tháng 04 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mã số đối tượng nộp thuế (sau đây gọi là Thông tư số 10/2006/TT-BTC). 1.2. Trường hợp thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, bộ hồ sơ chung bao gồm các giấy tờ sau: - Các giấy tờ thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2006/TT-BKH. - Các giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp (trừ bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/2006/TT-BTC. 2. Lệ phí, biên nhận hồ sơ Khi nhận hồ sơ, Sở Kế hoạch và Đầu tư thu lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định, đồng thời ghi Giấy biên nhận theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này và trao cho doanh nghiệp. 3. Trả kết quả 3.1. Thời hạn trả kết quả: Đối với trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp mới: trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Đối với trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện: trong thời hạn tối đa 12 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. 3.2. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính gồm: - Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; - Giấy chứng nhận đăng ký thuế; - Giấy phép khắc dấu. Khi đến nhận kết quả, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện phải trực tiếp ký vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện và ký vào Phiếu trả kết quả theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này. Nếu có yêu cầu, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể được nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước khi nhận kết quả giải quyết các thủ tục đăng ký thuế, cấp phép khắc dấu. III. PHỐI HỢP GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH GIỮA CÁC CƠ QUAN 1. Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan 1.1. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp mới a) Trong thời hạn 9 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cùng với những giấy tờ đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu tới Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. c) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc cấy Giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 1.2. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. a) Trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu tới Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cùng với những giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. c) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc cấp Giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 1.3. Trường hợp doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký kinh doanh dẫn tới phải thay đổi đăng ký thuế nhưng không làm thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. a) Trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu cùng với những giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 2. Luân chuyển hồ sơ Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, việc luân chuyển hồ sơ được áp dụng một trong các phương thức sau: 2.1. Đối với các địa phương có khối lượng hồ sơ đăng ký kinh doanh không nhiều, Sở Kế hoạch và Đầu tư phân công cán bộ chịu trách nhiệm chuyển, nhận hồ sơ từ Sở Kế hoạch và Đầu tư đến Cục Thuế, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp đúng thời hạn quy định tại Thông tư này. 2.2. Đối với các địa phương có số lượng hồ sơ đăng ký kinh doanh nhiều, việc chuyển, phát sẽ do cá nhân, tổ chức làm dịch vụ chuyển phát hàng ngày trên cơ sở hợp đồng với Sở Kế hoạch và Đầu tư. 2.3. Đối với các địa phương có đủ điều kiện về công nghệ thông tin thì khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Chi phí văn phòng phẩm, chi phí chuyển, phát hồ sơ do Sở Kế hoạch và Đầu tư thanh toán trên cơ sở cân đối nguồn thu lệ phí đăng ký kinh doanh được phép giữ lại và kinh phí hoạt động hành chính của Sở Kế hoạch và Đầu tư. 3. Trách nhiệm của các cơ quan 3.1. Sở Kế hoạch và đầu tư có trách nhiệm niêm yết công khai tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ các mẫu giấy đề nghị giải quyết thủ tục hành chính, các giấy tờ cần phải có trong hồ sơ tại điểm 1 Mục II Thông tư này; trình tự giải quyết thủ tục hành chính và những nội dung cần thiết khác về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu; cung cấp mẫu hồ sơ giấy tờ và hướng dẫn cho doanh nghiệp quy trình thủ tục. 3.2. Cục thuế, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục và cung cấp các mẫu giấy tờ liên quan đến đăng ký thuế, khắc dấu cho Sở Kế hoạch và Đầu tư để cung cấp cho doanh nghiệp làm thủ tục. 3.3. Các cơ quan có trách nhiệm phối hợp giải quyết kịp thời những vướng mắc, khiếu nại của các tổ chức, cá nhân về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và xin giấy phép khắc dấu. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu tại địa phương để giảm tối đa thời gian giải quyết các thủ tục hành chính. 3. Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục thuế, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. 4. Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công an thành lập Tổ công tác thi hành Thông tư này để theo dõi, tổng hợp tình hình kết quả thực hiện, kiến nghị giải pháp hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=14261&Keyword=
2025-09-24T02:36:40.923216
../data\bocongan\022007TTLTBKH-BTC-BCA\document.json
26/08/2008
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Căn cứ Nghị định số 88/2006/NĐ - CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh; Căn cứ Nghị định số 58/2001/NĐ - CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Quyết định số 75/1998/QĐ - TTg ngày 04 tháng 04 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mã số đối tượng nộp thuế; Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tài chính - Công an hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi chung là thủ tục hành chính); trình tự giải quyết việc đăng ký kinh doanh thành lập mới doanh nghiệp; đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế hoặc thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. Các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu không quy định tại Thông tư này vẫn thực hiện theo các quy định hiện hành. Tổ chức, cá nhân đề nghị đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu được tự lựa chọn áp dụng thủ tục hành chính theo quy định tại Thông tư này hoặc áp dụng các thủ tục hành chính hiện hành về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu. 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đề nghị đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và giấy phép khắc dấu khi thành lập doanh nghiệp mới, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện các thủ tục hành chính Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính theo quy định tại Thông tư này. Tổ chức, cá nhân có thể nhận các mẫu giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và mẫu tờ khai đăng ký thuế tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ. II. HỒ SƠ, LỆ PHÍ, TRẢ KẾT QUẢ CHO DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Bộ hồ sơ chung 1. 1. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập mới doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, bộ hồ sơ chung bao gồm các giấy tờ sau: - Các giấy tờ đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2006/TT - BKH ngày 19 tháng 10 năm 2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ - CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi tắt là Thông tư số 03/2006/TT - BKH). - Các giấy tờ đăng ký thuế cho doanh nghiệp thành lập mới (trừ bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/2006/TT - BTC ngày 14 tháng 02 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 75/1998/QĐ - TTg ngày 04 tháng 04 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mã số đối tượng nộp thuế (sau đây gọi là Thông tư số 10/2006/TT - BTC). 1. 2. Trường hợp thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, bộ hồ sơ chung bao gồm các giấy tờ sau: - Các giấy tờ thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2006/TT - BKH. - Các giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp (trừ bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/2006/TT - BTC. 2. Lệ phí, biên nhận hồ sơ Khi nhận hồ sơ, Sở Kế hoạch và Đầu tư thu lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định, đồng thời ghi Giấy biên nhận theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này và trao cho doanh nghiệp. 3. Trả kết quả 3. 1. Thời hạn trả kết quả: Đối với trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp mới: trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Đối với trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện: trong thời hạn tối đa 12 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. 3. 2. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính gồm: - Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; - Giấy chứng nhận đăng ký thuế; - Giấy phép khắc dấu. Khi đến nhận kết quả, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện phải trực tiếp ký vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện và ký vào Phiếu trả kết quả theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này. Nếu có yêu cầu, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể được nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước khi nhận kết quả giải quyết các thủ tục đăng ký thuế, cấp phép khắc dấu. III. PHỐI HỢP GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH GIỮA CÁC CƠ QUAN 1. Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan 1. 1. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp mới a) Trong thời hạn 9 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cùng với những giấy tờ đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu tới Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. c) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc cấy Giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 1. 2. Trường hợp đăng ký kinh doanh thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký kinh doanh dẫn tới thay đổi nội dung đăng ký thuế, thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. a) Trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu tới Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cùng với những giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. c) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc cấp Giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 1. 3. Trường hợp doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký kinh doanh dẫn tới phải thay đổi đăng ký thuế nhưng không làm thay đổi mẫu dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. a) Trong thời hạn 6 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã được Trưởng phòng đăng ký kinh doanh ký tên, đóng dấu cùng với những giấy tờ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp tới Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ thay đổi đăng ký thuế của doanh nghiệp, Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi kết quả giải quyết việc đăng ký thuế tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. 2. Luân chuyển hồ sơ Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, việc luân chuyển hồ sơ được áp dụng một trong các phương thức sau: 2. 1. Đối với các địa phương có khối lượng hồ sơ đăng ký kinh doanh không nhiều, Sở Kế hoạch và Đầu tư phân công cán bộ chịu trách nhiệm chuyển, nhận hồ sơ từ Sở Kế hoạch và Đầu tư đến Cục Thuế, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp đúng thời hạn quy định tại Thông tư này. 2. 2. Đối với các địa phương có số lượng hồ sơ đăng ký kinh doanh nhiều, việc chuyển, phát sẽ do cá nhân, tổ chức làm dịch vụ chuyển phát hàng ngày trên cơ sở hợp đồng với Sở Kế hoạch và Đầu tư. 2. 3. Đối với các địa phương có đủ điều kiện về công nghệ thông tin thì khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Chi phí văn phòng phẩm, chi phí chuyển, phát hồ sơ do Sở Kế hoạch và Đầu tư thanh toán trên cơ sở cân đối nguồn thu lệ phí đăng ký kinh doanh được phép giữ lại và kinh phí hoạt động hành chính của Sở Kế hoạch và Đầu tư. 3. Trách nhiệm của các cơ quan 3. 1. Sở Kế hoạch và đầu tư có trách nhiệm niêm yết công khai tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ các mẫu giấy đề nghị giải quyết thủ tục hành chính, các giấy tờ cần phải có trong hồ sơ tại điểm 1 Mục II Thông tư này; trình tự giải quyết thủ tục hành chính và những nội dung cần thiết khác về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu; cung cấp mẫu hồ sơ giấy tờ và hướng dẫn cho doanh nghiệp quy trình thủ tục. 3. 2. Cục thuế, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục và cung cấp các mẫu giấy tờ liên quan đến đăng ký thuế, khắc dấu cho Sở Kế hoạch và Đầu tư để cung cấp cho doanh nghiệp làm thủ tục. 3. 3. Các cơ quan có trách nhiệm phối hợp giải quyết kịp thời những vướng mắc, khiếu nại của các tổ chức, cá nhân về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và xin giấy phép khắc dấu. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu tại địa phương để giảm tối đa thời gian giải quyết các thủ tục hành chính. 3. Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục thuế, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. 4. Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công an thành lập Tổ công tác thi hành Thông tư này để theo dõi, tổng hợp tình hình kết quả thực hiện, kiến nghị giải pháp hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên
02/2008/TTLT/BCA-BQP-BYT-BGTVT-BKH&CN
31/03/2008
Thông tư liên tịch
null
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng - Trung tướng
Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 29-6-2001; Căn cứ Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19-02-2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường bộ; Liên Bộ: Công an - Quốc phòng - Y tế - Giao thông vận tải - Khoa học và Công nghệ, thống nhất quy định về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên, như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này quy định cụ thể về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên. 2. Đối tượng áp dụng: Xe chữa cháy; xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp; xe cứu thương; xe cảnh sát dẫn đường; xe cứu nạn giao thông. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Tiêu chuẩn còi, đèn của xe ưu tiên 1.1. Tiêu chuẩn còi ưu tiên của xe ôtô: STT Loại xe ưu tiên Chu kỳ tín hiệu (ms) Tần số điều chế (Hz) Biên độ tín hiệu (Vpp) Công suất ra (W) Cường độ âm thanh (dB) Chu kỳ còi phát ra (lần/phút) Chế độ còi ưu tiên 1 Xe chữa cháy 20 580 ÷ 1400 100 70 125 ÷ 135 120 Báo động (WALL) 2 Xe quân sự, xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp 10 500 ÷ 850 100 50 120 ÷ 125 180 Khẩn cấp (YELP) 3 Xe cứu thương 20 600 ÷ 800 100 50 125 ÷ 130 60 Còi y tế (YEOW) 4 Xe cảnh sát dẫn đường 30 580 ÷ 1400 100 70 120 ÷ 125 120 Hú dài (SIREN) 5 Xe cứu nạn giao thông 20 600 ÷ 800 100 50 120 ÷ 125 40 Cao thấp (HI-LO) 1.2. Tiêu chuẩn còi ưu tiên của xe mô tô (2 hoặc 3 bánh): STT Loại xe ưu tiên Chu kỳ tín hiệu (ms) Tần số điều chế (Hz) Biên độ tín hiệu (Vpp) Công suất ra (W) Cường độ âm thanh (dB) Chu kỳ còi phát ra (lần/phút) Chế độ còi ưu tiên 1 Xe quân sự, xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp 10 500 ÷ 850 100 30 120 ÷ 125 180 Khẩn cấp (YELP) 2 Xe cảnh sát dẫn đường 30 580 ÷ 1400 100 30 120 ÷ 125 120 Hú dài (SIREN) 1.3. Tiêu chuẩn đèn ưu tiên của xe ô tô: STT Loại xe ưu tiên Mầu sắc Đèn đơn Đèn kép Tốc độ quay của chao đèn hoặc tần số chớp (vòng hoặc lần/phút) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) 1 Xe chữa cháy Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 Xanh 21 12 42 24 2 Xe quân sự làm nhiệm vụ khẩn cấp Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 3 Xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp Xanh 21 12 42 24 60 ÷ 120 Đỏ 55 48 110 96 4 Xe cứu thương Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 5 Xe cảnh sát dẫn đường Xanh-đỏ 110 ÷ 220 96 ÷ 192 60 ÷ 120 6 Xe cứu nạn giao thông Vàng 21 12 42 24 60 ÷ 120 1.4. Tiêu chuẩn đèn ưu tiên của xe mô tô (2 hoặc 3 bánh): STT Loại xe ưu tiên Mầu sắc Đèn đơn Tốc độ quay của chao đèn hoặc tần số chớp (vòng hoặc lần/phút) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) 1 Xe quân sự làm nhiệm vụ khẩn cấp Đỏ 55 48 60 ÷ 120 2 Xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp; Xe cảnh sát dẫn đường Đỏ 55 48 60 ÷ 120 Xanh 21 12 60 ÷ 120 1.5. Phân loại và hình dạng của đèn ưu tiên: 1.5.1. Phân loại: Đèn ưu tiên được phân thành các loại và kiểu cụ thể như sau: STT Loại Kiểu 1 Đèn đơn Đèn ưu tiên dạng hình tròn Đèn ưu tiên dạng hình trụ 2 Đèn kép Đèn ưu tiên dạng hình hộp chữ nhật loại 2 bóng đèn Đèn ưu tiên dạng hình hộp chữ nhật loại 4 bóng đèn 1.5.2. Hình dạng: Hình dạng đèn xe ưu tiên thể hiện trong các hình từ Hình 1 đến Hình 4. 1/01/clip_image003.jpg" width="604" /> Chú thích: Các hình nêu trên chỉ dùng để minh họa, không thể hiện kết cấu của đèn ưu tiên. 16. Còi, đèn xe ưu tiên phải bảo đảm đúng yêu cầu quy định tại tiết 1.1 đến tiết 1.5 điểm 1 Mục này và được kiểm định chất lượng tại tổ chức kiểm định cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Việc lắp dặt, sử dụng: 2.1. Các Bộ quy định cụ thể và hướng dẫn thống nhất (từ Bộ đến địa phương) việc lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định. 2.2. Các xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp được lắp đặt và sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên quy định tại điểm 1, Mục II của Thông tư này, bao gồm: 2.2.1. Đối với xe quân sự: Xe làm nhiệm vụ kiểm soát quân sự, xe làm nhiệm vụ kiểm tra xe quân sự, xe làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn, xe chỉ huy chữa cháy, xe chỉ huy cứu hộ, cứu nạn, xe chỉ huy tác chiến, xe thông tin làm nhiệm vụ hoả tốc, xe chỉ huy đoàn hành quân thuộc Bộ Quốc phòng, tổng cục, quân khu, quân đoàn, quân binh chủng khi thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp. 2.2.2. Đối với xe công an: Xe đi bắt, khám xét hoặc tiến hành các hoạt động điều tra, xe chống biểu tình, bạo loạn, giải tán đám đông, xe tuần tra kiểm soát giao thông, xe cảnh sát 113, xe cảnh sát trật tự, xe cảnh sát cơ động, xe cảnh sát bảo vệ, xe dẫn giải phạm nhân, xe giao liên, xe chở tài liệu mật, xe chở vũ khí, khí tài và các hoạt động khẩn cấp khác. 2.3. Khi lắp đặt còi, đèn của xe ưu tiên phải đúng đối tượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, chế độ còi và màu sắc đèn của từng loại xe ưu tiên theo quy định tại Nghị định 14/2003/NĐ-CP của Chính phủ và quy định tại điểm 1, Mục II của Thông tư này. 2.4. Các xe ưu tiên theo quy định đã được lắp đặt còi, đèn ưu tiên nhưng do xe bị hư hỏng, cũ nát, thanh lý hoặc chuyển đổi xe để sử dụng vào mục đích khác thì phải tháo gỡ thu hồi còi, đèn của xe ưu tiên để quản lý. 2.5. Việc lắp đặt còi, đèn của xe ưu tiên phải đúng vị trí. Trên cơ sở kích thước của từng loại xe để xác định vị trí lắp đặt (kể cả các loại xe được lắp đặt cố định hoặc xe được lắp trong trường hợp đột xuất): đèn ưu tiên trên nóc xe; còi phát tín hiệu ưu tiên ở trong xe hoặc trên nóc xe cho phù hợp. Tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên khi phát ra phải đủ điều kiện (âm thanh, ánh sáng) để người và các phương tiện tham gia giao thông nhận biết được: 2.5.1. Xe ô tô: Đèn ưu tiên lắp trên nóc xe, phía trên người lái; còi phát tín hiệu ưu tiên lắp ở trong xe hoặc trên nóc xe. 2.5.2. Xe mô tô: Đèn ưu tiên lắp ở càng xe bên phải, phía trước hoặc phía sau; còi phát tín hiệu ưu tiên lắp ở phía trước, đầu xe. 2.6. Tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên chỉ được sử dụng khi đi làm nhiệm vụ theo quy định tại Điều 20 Luật Giao thông đường bộ, Điều 14 Nghị định 14/2003/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định tại Thông tư này. 2.7. Nghiêm cấm các xe không được ưu tiên lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên; các xe được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên trái quy định. III. KIỂM TRA XỬ LÝ VI PHẠM 1. Các Bộ có trách nhiệm quản lý, kiểm tra, rà soát xử lý các vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên thuộc thẩm quyền quản lý; nếu phát hiện có vi phạm phải tháo gỡ thu hồi và xử lý nghiêm khắc cá nhân, đơn vị vi phạm. 2. Các lực lượng Công an, Kiểm soát quân sự và lực lượng khác trong phạm vi chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao khi thi hành nhiệm vụ có trách nhiệm phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu (còi, đèn, cờ) của xe ưu tiên theo quy định của pháp luật. 3. Đối với các trường hợp vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu (còi, đèn, cờ) của xe ưu tiên, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản thông báo đến các Bộ, ngành, đơn vị có xe vi phạm biết để quản lý. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Các Bộ, Uỷ ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao có trách nhiệm tổ chức triển khai và phối hợp thực hiện nghiêm túc việc lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên theo đúng quy định tại Thông tư này. 2. Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt) là cơ quan thường trực theo dõi, đôn đốc việc thực hiện. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý, sử dụng xe ưu tiên phản ảnh kịp thời về các Bộ: Công an, Quốc phòng, Y tế, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ để hướng dẫn giải quyết. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122398&Keyword=
2025-09-24T02:39:19.160907
../data\bocongan\022008TTLTBCA-BQP-BYT-BGTVT-BKHCN\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 29 - 6 - 2001; Căn cứ Nghị định số 14/2003/NĐ - CP ngày 19 - 02 - 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường bộ; Liên Bộ: Công an - Quốc phòng - Y tế - Giao thông vận tải - Khoa học và Công nghệ, thống nhất quy định về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên, như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này quy định cụ thể về tiêu chuẩn và lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên. 2. Đối tượng áp dụng: Xe chữa cháy; xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp; xe cứu thương; xe cảnh sát dẫn đường; xe cứu nạn giao thông. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Tiêu chuẩn còi, đèn của xe ưu tiên 1. 1. Tiêu chuẩn còi ưu tiên của xe ôtô: STT Loại xe ưu tiên Chu kỳ tín hiệu (ms) Tần số điều chế (Hz) Biên độ tín hiệu (Vpp) Công suất ra (W) Cường độ âm thanh (dB) Chu kỳ còi phát ra (lần/phút) Chế độ còi ưu tiên 1 Xe chữa cháy 20 580 ÷ 1400 100 70 125 ÷ 135 120 Báo động (WALL) 2 Xe quân sự, xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp 10 500 ÷ 850 100 50 120 ÷ 125 180 Khẩn cấp (YELP) 3 Xe cứu thương 20 600 ÷ 800 100 50 125 ÷ 130 60 Còi y tế (YEOW) 4 Xe cảnh sát dẫn đường 30 580 ÷ 1400 100 70 120 ÷ 125 120 Hú dài (SIREN) 5 Xe cứu nạn giao thông 20 600 ÷ 800 100 50 120 ÷ 125 40 Cao thấp (HI - LO) 1. 2. Tiêu chuẩn còi ưu tiên của xe mô tô (2 hoặc 3 bánh): STT Loại xe ưu tiên Chu kỳ tín hiệu (ms) Tần số điều chế (Hz) Biên độ tín hiệu (Vpp) Công suất ra (W) Cường độ âm thanh (dB) Chu kỳ còi phát ra (lần/phút) Chế độ còi ưu tiên 1 Xe quân sự, xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp 10 500 ÷ 850 100 30 120 ÷ 125 180 Khẩn cấp (YELP) 2 Xe cảnh sát dẫn đường 30 580 ÷ 1400 100 30 120 ÷ 125 120 Hú dài (SIREN) 1. 3. Tiêu chuẩn đèn ưu tiên của xe ô tô: STT Loại xe ưu tiên Mầu sắc Đèn đơn Đèn kép Tốc độ quay của chao đèn hoặc tần số chớp (vòng hoặc lần/phút) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) 1 Xe chữa cháy Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 Xanh 21 12 42 24 2 Xe quân sự làm nhiệm vụ khẩn cấp Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 3 Xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp Xanh 21 12 42 24 60 ÷ 120 Đỏ 55 48 110 96 4 Xe cứu thương Đỏ 55 48 110 96 60 ÷ 120 5 Xe cảnh sát dẫn đường Xanh - đỏ 110 ÷ 220 96 ÷ 192 60 ÷ 120 6 Xe cứu nạn giao thông Vàng 21 12 42 24 60 ÷ 120 1. 4. Tiêu chuẩn đèn ưu tiên của xe mô tô (2 hoặc 3 bánh): STT Loại xe ưu tiên Mầu sắc Đèn đơn Tốc độ quay của chao đèn hoặc tần số chớp (vòng hoặc lần/phút) Công suất (W) Cường độ sáng (cd) 1 Xe quân sự làm nhiệm vụ khẩn cấp Đỏ 55 48 60 ÷ 120 2 Xe công an làm nhiệm vụ khẩn cấp; Xe cảnh sát dẫn đường Đỏ 55 48 60 ÷ 120 Xanh 21 12 60 ÷ 120 1. 5. Phân loại và hình dạng của đèn ưu tiên: 1. 5. 1. Phân loại: Đèn ưu tiên được phân thành các loại và kiểu cụ thể như sau: STT Loại Kiểu 1 Đèn đơn Đèn ưu tiên dạng hình tròn Đèn ưu tiên dạng hình trụ 2 Đèn kép Đèn ưu tiên dạng hình hộp chữ nhật loại 2 bóng đèn Đèn ưu tiên dạng hình hộp chữ nhật loại 4 bóng đèn 1. 5. 2. Hình dạng: Hình dạng đèn xe ưu tiên thể hiện trong các hình từ Hình 1 đến Hình 4. 1/01/clip_image003. jpg" width="604" /> Chú thích: Các hình nêu trên chỉ dùng để minh họa, không thể hiện kết cấu của đèn ưu tiên. 16. Còi, đèn xe ưu tiên phải bảo đảm đúng yêu cầu quy định tại tiết 1. 1 đến tiết 1. 5 điểm 1 Mục này và được kiểm định chất lượng tại tổ chức kiểm định cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Việc lắp dặt, sử dụng: 2. 1. Các Bộ quy định cụ thể và hướng dẫn thống nhất (từ Bộ đến địa phương) việc lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định. 2. 2. Các xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp được lắp đặt và sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên quy định tại điểm 1, Mục II của Thông tư này, bao gồm: 2. 2. 1. Đối với xe quân sự: Xe làm nhiệm vụ kiểm soát quân sự, xe làm nhiệm vụ kiểm tra xe quân sự, xe làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn, xe chỉ huy chữa cháy, xe chỉ huy cứu hộ, cứu nạn, xe chỉ huy tác chiến, xe thông tin làm nhiệm vụ hoả tốc, xe chỉ huy đoàn hành quân thuộc Bộ Quốc phòng, tổng cục, quân khu, quân đoàn, quân binh chủng khi thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp. 2. 2. 2. Đối với xe công an: Xe đi bắt, khám xét hoặc tiến hành các hoạt động điều tra, xe chống biểu tình, bạo loạn, giải tán đám đông, xe tuần tra kiểm soát giao thông, xe cảnh sát 113, xe cảnh sát trật tự, xe cảnh sát cơ động, xe cảnh sát bảo vệ, xe dẫn giải phạm nhân, xe giao liên, xe chở tài liệu mật, xe chở vũ khí, khí tài và các hoạt động khẩn cấp khác. 2. 3. Khi lắp đặt còi, đèn của xe ưu tiên phải đúng đối tượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, chế độ còi và màu sắc đèn của từng loại xe ưu tiên theo quy định tại Nghị định 14/2003/NĐ - CP của Chính phủ và quy định tại điểm 1, Mục II của Thông tư này. 2. 4. Các xe ưu tiên theo quy định đã được lắp đặt còi, đèn ưu tiên nhưng do xe bị hư hỏng, cũ nát, thanh lý hoặc chuyển đổi xe để sử dụng vào mục đích khác thì phải tháo gỡ thu hồi còi, đèn của xe ưu tiên để quản lý. 2. 5. Việc lắp đặt còi, đèn của xe ưu tiên phải đúng vị trí. Trên cơ sở kích thước của từng loại xe để xác định vị trí lắp đặt (kể cả các loại xe được lắp đặt cố định hoặc xe được lắp trong trường hợp đột xuất): đèn ưu tiên trên nóc xe; còi phát tín hiệu ưu tiên ở trong xe hoặc trên nóc xe cho phù hợp. Tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên khi phát ra phải đủ điều kiện (âm thanh, ánh sáng) để người và các phương tiện tham gia giao thông nhận biết được: 2. 5. 1. Xe ô tô: Đèn ưu tiên lắp trên nóc xe, phía trên người lái; còi phát tín hiệu ưu tiên lắp ở trong xe hoặc trên nóc xe. 2. 5. 2. Xe mô tô: Đèn ưu tiên lắp ở càng xe bên phải, phía trước hoặc phía sau; còi phát tín hiệu ưu tiên lắp ở phía trước, đầu xe. 2. 6. Tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên chỉ được sử dụng khi đi làm nhiệm vụ theo quy định tại Điều 20 Luật Giao thông đường bộ, Điều 14 Nghị định 14/2003/NĐ - CP của Chính phủ và các quy định tại Thông tư này. 2. 7. Nghiêm cấm các xe không được ưu tiên lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên; các xe được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên trái quy định. III. KIỂM TRA XỬ LÝ VI PHẠM 1. Các Bộ có trách nhiệm quản lý, kiểm tra, rà soát xử lý các vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, đèn của xe ưu tiên thuộc thẩm quyền quản lý; nếu phát hiện có vi phạm phải tháo gỡ thu hồi và xử lý nghiêm khắc cá nhân, đơn vị vi phạm. 2. Các lực lượng Công an, Kiểm soát quân sự và lực lượng khác trong phạm vi chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao khi thi hành nhiệm vụ có trách nhiệm phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu (còi, đèn, cờ) của xe ưu tiên theo quy định của pháp luật. 3. Đối với các trường hợp vi phạm về lắp đặt, sử dụng tín hiệu (còi, đèn, cờ) của xe ưu tiên, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản thông báo đến các Bộ, ngành, đơn vị có xe vi phạm biết để quản lý. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Các Bộ, Uỷ ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao có trách nhiệm tổ chức triển khai và phối hợp thực hiện nghiêm túc việc lắp đặt, sử dụng còi, đèn của xe ưu tiên theo đúng quy định tại Thông tư này. 2. Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt) là cơ quan thường trực theo dõi, đôn đốc việc thực hiện. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý, sử dụng xe ưu tiên phản ảnh kịp thời về các Bộ: Công an, Quốc phòng, Y tế, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ để hướng dẫn giải quyết. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. /.
Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ngày 14 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân
02/2009/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH
12/01/2009
Thông tư liên tịch
13/02/2009
Công báo số 93+94, năm 2009
29/01/2009
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thứ trưởng
Đàm Hữu Đắc
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ngày 14 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân ____________________________________________ Căn cứ Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2007/NĐ-CP); Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Lao động. Thương binh và Xã hội hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ngày 14 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ) như sau: I. CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Mục I Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau a) Thời gian hưởng chế độ ốm đau quy định tại Điều 9 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và ngày nghỉ phép hàng năm. b) Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ hai con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ để chăm sóc con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ để chăm sóc con ốm đau trong một năm cho mỗi con thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP. Ví dụ 1: Đồng chí Nguyễn Thị Bình có một con 1 tuổi bị ốm từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 6 năm 2009 và một con 5 tuổi bị ốm từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009 và phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm từ ngày 9 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009. Như vậy, thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của đồng chí Nguyễn Thị Bình được tính từ ngày 9 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009 là 9 ngày (trừ một ngày nghỉ chủ nhật). Trường hợp này hồ sơ thanh toán cần có giấy khám bệnh của cả 2 con." 2. Bổ sung khoản 4, khoản 5 vào Mục I Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "4. Trường hợp người lao động được cơ quan có thẩm quyền cho phép đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài, thì được hưởng chế độ ốm đau quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP . Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau gồm: sổ bảo hiểm xã hội; giấy xác nhận của cơ sở y tế trong nước về tình trạng bệnh tật và quá trình điều trị; giấy khám, chữa bệnh do cơ sở y tế nước ngoài cấp và giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để khám, chữa bệnh ở nước ngoài (bao gồm cả ngày đi và về). 5. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với người lao động sau khi ốm đau quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP được hướng dẫn như sau: Trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ khi người lao động trở lại làm việc sau khi đã hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong năm mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được thực hiện theo khoản 2, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP". II. CHẾ ĐỘ THAI SẢN 1. Bổ sung đoạn 3 vào điểm d khoản 4 Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: " - Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng hưởng chế độ. Ví dụ 2: Đồng chí thượng úy Trần Thị Thu Trang, Bác sỹ Bệnh viện 198 Bộ Công an, sinh con ngày 10/02/2009, theo quy định đồng chí Trần Thị Thu Trang được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con từ tháng 02/2009 đến tháng 6/2009 (5 tháng). Giả sử tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định từ ngày 01/5/2009 trở đi được điều chỉnh từ 540.000 đồng/tháng lên 650.000 đồng/tháng. Mức hưởng chế độ thai sản khi sinh con của đồng chí Trần Thị Thu Trang được thực hiện như sau: - Từ tháng 02/2009 đến tháng 4/2009 (3 tháng) đồng chí Trần Thị Thu Trang được hưởng chế độ thai sản với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc và được tính theo mức lương tối thiểu chung là 540.000 đồng/tháng. - Từ tháng 5/2009 đến tháng 6/2009 (2 tháng) đồng chí Trần Thị Thu Trang được hưởng chế độ thai sản với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc và được tính theo mức lương tối thiểu chung là 650.000 đồng/tháng". 2. Bổ sung điểm đ, điểm e vào khoản 4 Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "đ) Trợ cấp một lần đối với lao động nữ khi sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, thực hiện như sau: - Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng người lao động sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi; - Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP nhưng không nghỉ việc thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP. e) Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP nếu không hưởng chế độ tiền lương tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Tiền lương được coi là có tính đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản". 3. Bổ sung khoản 6, khoản 7 vào Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "6. Đối với những trường hợp người lao động đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP thì Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi người lao động sau khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc về cư trú hợp pháp, căn cứ vào sổ bảo hiểm xã hội và quy định tại Điều 13, Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP để giải quyết trợ cấp thai sản cho đối tượng. Ví dụ 3: Đồng chí Nguyễn Thị Mai, thiếu úy quân nhân chuyên nghiệp, phục viên tháng 5/2008, có 10 năm 7 tháng liên tục đóng bảo hiểm xã hội, đến tháng 7/2008 đồng chí Nguyễn Thị Mai nhân nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi theo quy định của pháp luật. Đồng chí Nguyễn Thị Mai được bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi cư trú sau khi nghỉ việc chi trả trợ cấp thai sản theo quy định tại khoản 4 Điều 13 và khoản 1, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP. 7. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi nghỉ thai sản Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với lao động nữ quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP cụ thể như sau: Trong khoảng thời gian 30 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 3 Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP." III. CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "5. Giám định lại và giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động a) Giám định lại mức suy giảm khả năng lao động: Điều kiện để giám định lại mức suy giảm khả năng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định lại mức suy giảm khả năng lao động sau khi thương tật, bệnh tật tái phát được hướng dẫn như sau: a1) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2007: - Trường hợp sau khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động dưới 31% thì được hưởng mức trợ cấp một lần theo quy định sau: Mức suy giảm khả năng lao động trước khi giám định lại Mức suy giảm khả năng lao động sau khi giám định lại Mức trợ cấp một lần Từ 5% đến 10% Từ 10% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới Từ 11% đến 20% 4 tháng lương tối thiểu chung Từ 21% đến 30% 8 tháng lương tối thiểu chung Từ 11% đến 20% Từ 20% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới Từ 21% đến 30% 4 tháng lương tối thiểu chung Từ 21 đến 30% Từ 30% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới - Trường hợp sau khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng. Mức hưởng theo bảng quy định tại tiết a2 điểm này. Ví dụ 4: Đồng chí trung úy Nguyễn Tuấn Anh bị tai nạn lao động tháng 12/2006 với mức suy giảm khả năng lao động là 25%, đã nhận trợ cấp tai nạn lao động một lần theo quy định tại Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ là 450.000 đồng x 12 tháng = 5.400.000 đồng. Tháng 12/2008 do thương tật tái phát, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 32%. Theo quy định, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được chuyển sang hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng của nhóm 1 từ tháng 12/2008, mức lương tối thiểu chung tại tháng 12/2008 là 540.000 đồng/tháng, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được hưởng mức trợ cấp hàng tháng là:540.000 đồng x 0,4 tháng = 216.000 đồng/tháng. a2) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2007, sau khi giám định lại thì tùy thuộc vào kết quả giám định lại mức suy giảm khả năng lao động, được hưởng mức trợ cấp hàng tháng theo quy định sau: Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp hằng tháng Nhóm 1: Từ 31% đến 40% 0,4 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 2: Từ 41% đến 50% 0,6 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 3: Từ 51% đến 60% 0,8 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 4: Từ 61% đến 70% 1,0 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 5: Từ 71% đến 80% 1,2 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 6: Từ 81% đến 90% 1,4 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 7: Từ 91% đến 100% 1,6 tháng lương tối thiểu chung a3) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần quy định tại Điều 21 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP: - Sau khi giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động tăng so với trước đó và dưới 31% thì hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được tính bằng hiệu số giữa mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới với mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động trước đó. Ví dụ 5: Đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy, bị tai nạn lao động ngày 14 tháng 6 năm 2007, nằm viện điều trị, đến ngày 20 tháng 7 năm 2007 ra viện về đơn vị tiếp tục công tác. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tháng 5 năm 2007 của đồng chí Lê Đăng Bảy là 3.078.000 đồng, thời gian công tác tính đến tháng 5 năm 2007 là 14 năm 7 tháng. Ngày 14 tháng 9 năm 2007 được Hội đồng giám định y khoa kết luận suy giảm khả năng lao động 21% và đã được hưởng trợ cấp tai nạn lao động một lần theo quy định tại Nghị định số 68/2008/NĐ-CP . Tháng 02 năm 2009, do thương tật tái phát được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 30%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02 năm 2009 là 540.000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng trợ cấp một lần như sau: {5 x 540.000đ + (30-5) x 0,5 x 540.000đ} � {5 x 540.000đ + (21-5) x 0,5 x 540.000đ} = 12,5 x 540.000 đ � 8 x 540.000 đ = 2.430.000 đồng - Sau khi giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hàng tháng theo hướng dẫn tại khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH, trong đó mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới; mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đã tính hưởng trợ cấp một lần trước đó. Ví dụ 6: Cũng trường hợp đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy nêu tại ví dụ 5. Tháng 02/2009 do thương tật tái phát, đồng chí Lê Đăng Bảy được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 35%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540.000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng mức trợ cấp hàng tháng như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (35%) là: 0,3 x 540.000 đ + (35-31) x 0,02 x 540.000 đ = 162.000 đ + 43.200 đ = 205.200 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội (được tính đến tháng 5/2007) là: 0,005 x 3.078.000 đ + (14-1) x 0,003 x 3.078.000 đ = 15.390 đ + 120.042 đ = 135.432 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Lê Đăng Bảy là: 205.200 đ + 135.432 đ = 340.632 đồng/tháng. a4) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng quy định tại Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động thay đổi thì mức trợ cấp hàng tháng mới được tính theo quy định tại khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH, trong đó mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới; mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội là mức hiện hưởng. Ví dụ 7: Cũng trường hợp đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy nêu tại ví dụ 5 nhưng mức suy giảm khả năng lao động do Hội đồng giám định y khoa kết luận ngày 14/9/2007 là 31%, đang được hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng theo Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, trong đó mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội hiện hưởng là 135.432 đồng/tháng. Do thương tật tái phát, tháng 02/2009 đồng chí Lê Đăng Bảy được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 40%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540.000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng mức trợ cấp hàng tháng như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (40%) là: 0,3 x 540.000 đ + (40-31) x 0,02 x 540.000 đ = 162.000 đ + 97.200 đ = 259.200 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội là mức hiện hưởng bằng 135.432 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Lê Đăng Bảy là: 259.200 đ + 135.432 đ = 394.632 đồng/tháng. a5) Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định lại mức suy giảm khả năng lao động quy định tại điểm này được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng có kết luận giám định lại của Hội đồng giám định y khoa. b) Giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động: Điều kiện để giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động được hướng dẫn như sau: Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần hoặc hàng tháng mà từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 trở đi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mới thì tùy thuộc vào mức suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định tổng hợp để giải quyết trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH, trong đó: b1) Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng ra viện của lần điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng hoặc tại tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa nếu không phải điều trị nội trú. b2) Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội sau khi giám định tổng hợp được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng. Ví dụ 8: Đồng chí Đặng Văn Hùng, nhân viên Ban Cơ yếu Chính phủ, bị tai nạn lao động tháng 5/2007, mức suy giảm khả năng lao động là 32%, đang được hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng theo Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP . Tháng 01/2009 đồng chí Đặng Văn Hùng bị tai nạn lao động lần 2, được điều trị tại bệnh viện. Sau khi điều trị ổn định, tháng 02/2009 được ra viện về đơn vị tiếp tục công tác, tháng 3/2009 được giám định tổng hợp tại Hội đồng giám định y khoa với mức suy giảm khả năng lao động sau khi giám định tổng hợp là 36%. Tính đến tháng 12/2008 đồng chí Đặng Văn Hùng có 15 năm 6 tháng đóng bảo hiểm xã hội, mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội tháng 12/2008 là 2.452.950 đồng (hệ số 3,95; thâm niên nghề 15%), giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540.000 đồng/tháng, trợ cấp hàng tháng của đồng chí Đặng Văn Hùng sau khi giám định tổng hợp được tính như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (36%) sau khi giám định tổng hợp là: 0,3 x 540.000 đ + (36-31) x 0,02 x 540.000 đ = 162.000 đ + 54.000 đ = 216.000 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội (tính đến tháng 12/2008) là: 0,005 x 2.452.950 đ + (15-1) x 0,003 x 2.452.950 đ = 12.265 đ + 103.024 đ = 115.289 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Đặng Văn Hùng là: 216.000 đ + 115.289 đ = 331.289 đồng/tháng. c) Thời điểm hưởng trợ cấp: - Thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động được tính kể từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa; - Thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động được tính kể từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện của lần điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng hoặc tại tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa nếu không phải điều trị nội trú. d) Trách nhiệm thực hiện: Theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người lao động, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm giới thiệu người lao động đến Hội đồng giám định y khoa để giám định lại hoặc giám định tổng hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp". 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "8. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình Việc cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tại Điều 24 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP thực hiện như sau: Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì tùy theo tình trạng thương tật, bệnh tật được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt và dụng cụ chỉnh hình theo chỉ định tại các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng thuộc ngành Lao động � Thương binh và Xã hội hoặc của bệnh viện cấp tỉnh, thành phố trở lên (gọi tắt là cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng), cụ thể như sau: a) Chế độ cấp tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình: a1) Đối với người bị cụt chân, cụt tay, bị liệt: - Người bị cụt chân được cấp tiền để mua chân giả, niên hạn là 3 năm (nếu cư trú ở miền núi, vùng cao thì niên hạn là 2 năm); mỗi năm được cấp thêm 170.000 đồng để mua các vật phẩm phụ; - Người bị mất cả bàn chân hoặc nửa bàn chân không có khả năng lắp chân giả hoặc bị ngắn chân, bàn chân bị lệch vẹo được cấp tiền để mua một đôi giầy chỉnh hình hoặc một đôi dép chỉnh hình, niên hạn là 2 năm; - Người bị cụt tay được cấp tiền để mua tay giả, niên hạn là 5 năm; mỗi năm được cấp thêm 60.000 đồng để mua các vật phẩm phụ; - Người bị liệt toàn thân hoặc liệt nửa người hoặc liệt 2 chân hoặc cụt cả 2 chân không còn khả năng tự di chuyển thì được cấp tiền một lần để mua một chiếc xe lăn hoặc xe lắc; mỗi năm được cấp thêm 300.000 đồng để bảo trì phương tiện. Mức tiền được cấp để mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình thực hiện theo Bảng giá phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình trong Phụ lục kèm theo Thông tư này. a2) Đối với người bị hỏng mắt, gãy răng, bị điếc: - Người bị hỏng mắt được cấp tiền một lần để lắp mắt giả theo chứng từ thực tế của cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng nơi điều trị; - Người bị gãy răng được cấp tiền để làm răng giả với mức giá 1.000.000 đồng/1 răng, niên hạn là 5 năm; - Người bị điếc cả 2 tai được cấp 500.000 đồng để mua máy trợ thính, niên hạn là 3 năm. b) Chế độ thanh toán tiền tàu, xe: Người lao động quy định tại điểm a nêu trên được thanh toán một lần tiền tàu, xe đi và về theo giá quy định của nhà nước với phương tiện giao thông phổ thông từ nơi cư trú hoặc từ nơi làm việc đến cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng gần nhất. c) Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ: - Cấp giấy giới thiệu tới các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng cho người đang trực tiếp quản lý, thuộc diện được trang cấp đi làm các phương tiện phù hợp với chức năng bị tổn thương; - Cấp tiền mua các phương tiện được trang cấp và tiền cấp thêm theo quy định tại điểm a nêu trên; thanh toán tiền tàu xe đi lại theo quy định tại điểm b nêu trên". 3. Bổ sung khoản 10 vào Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "10. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, thực hiện như sau: Trong khoảng thời gian 60 ngày, tính từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa mà sức khỏe còn yếu thì người lao động được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 28 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP." IV. CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ 1. Bổ sung điểm e vào khoản 6 Mục IV Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "e) Trong thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động có từ hai giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì việc tính bình quân tiền lương ở khu vực nhà nước được tính theo quy định tại các điểm a, b, c và d nêu trên phụ thuộc vào thời điểm đầu tiên người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ví dụ 9: Đồng chí trung úy CN Mai Thị Hồng, có diễn biến quá trình tham gia bảo hiểm xã hội như sau: - Từ tháng 02/1994 đến tháng 12/2003 là giáo viên trường trung học cơ sở; - Từ tháng 01/2004 nghỉ việc không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước đó (9 năm 11 tháng); - Tháng 9/2006 được tuyển dụng vào đơn vị quân đội, chuyển xếp lương trung cấp nhóm 1, bậc 3, hệ số lương 4,10, phiên quân hàm trung úy CN. Như vậy, sau này khi giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu hoặc trợ cấp một lần khi phục viên được tính bình quân tiền lương tháng của 5 năm cuối (60 tháng) trước khi đồng chí Mai Thị Hồng nghỉ hưu hoặc phục viên (do thời điểm đầu tiên đồng chí Hồng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là vào tháng 02/1994." 2. Bổ sung khoản 10, khoản 11, khoản 12 vào Mục IV Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "10. Đối với những trường hợp người lao động bị kết án tù giam từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 trở đi hoặc xuất cảnh trái phép hoặc bị tòa án tuyên bố là mất tích, sau khi chấp hành xong án phạt tù giam hoặc về nước định cư hợp pháp hoặc được tòa án tuyên bố mất tích trở về, nếu chưa được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước đó thì cơ quan, đơn vị cũ có trách nhiệm báo cáo Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ cấp sổ bảo hiểm xã hội (nếu chưa được cấp sổ bảo hiểm xã hội) và giải quyết chế độ hưu trí hoặc chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần hoặc bảo lưu thời gian công tác trước đó, giới thiệu về bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi cư trú hợp pháp tiếp nhận và giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. 11. Người lao động đã được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, có thời gian gián đoạn không lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng mà không ủy quyền cho người khác lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, để được tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, người lao động có đơn đề nghị nêu rõ lý do gián đoạn lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú về việc không bị phạt tù giam hoặc không xuất cảnh trái phép hoặc không bị tòa án tuyên bố là mất tích trong thời gian không lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng. Những tháng chưa nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đối với trường hợp người lao động có đủ điều kiện trên được cơ quan bảo hiểm xã hội hoàn trả theo mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng theo quy định ở từng tháng đó, không bao gồm tiền lãi. 12. Đối với người bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng quy định tại Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội thì thời điểm tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng được tính kể từ tháng liền kề sau tháng người bị kết án tù giam chấp hành xong án phạt tù giam, hoặc tháng người được tòa án tuyên bố là mất tích trở về (theo ngày tháng ghi trong quyết định) hoặc tháng người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp (theo ngày tháng nhập cảnh)". V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Phần C Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH như sau: "7. Căn cứ vào các quy định nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại Nghị định số 152/2006/NĐ-CP, Nghị định số 68/2007/NĐ-CP, hướng dẫn tại Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 9 năm 2008 của Bộ Lao động � Thương binh và Xã hội và hướng dẫn tại Thông tư này, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện cho phù hợp với đặc điểm tổ chức của Bộ, ngành mình". VI. HIỆU LỰC THI HÀNH Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định tại Thông tư này về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí được áp dụng thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, các đơn vị phản ánh về liên Bộ để xem xét, hướng dẫn giải quyết./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=12422&Keyword=
2025-09-24T02:36:13.301218
../data\bocongan\022009TTLTBQP-BCA-BLĐTBXH\document.json
16/08/2016
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH ngày 14 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân ____________________________________________ Căn cứ Nghị định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2007/NĐ - CP); Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Lao động. Thương binh và Xã hội hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH ngày 14 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ - CP (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH ) như sau: I. CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Mục I Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau a) Thời gian hưởng chế độ ốm đau quy định tại Điều 9 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và ngày nghỉ phép hàng năm. b) Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ hai con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ để chăm sóc con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ để chăm sóc con ốm đau trong một năm cho mỗi con thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. Ví dụ 1: Đồng chí Nguyễn Thị Bình có một con 1 tuổi bị ốm từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 6 năm 2009 và một con 5 tuổi bị ốm từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009 và phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm từ ngày 9 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009. Như vậy, thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của đồng chí Nguyễn Thị Bình được tính từ ngày 9 đến ngày 18 tháng 6 năm 2009 là 9 ngày (trừ một ngày nghỉ chủ nhật). Trường hợp này hồ sơ thanh toán cần có giấy khám bệnh của cả 2 con. " 2. Bổ sung khoản 4, khoản 5 vào Mục I Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "4. Trường hợp người lao động được cơ quan có thẩm quyền cho phép đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài, thì được hưởng chế độ ốm đau quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau gồm: sổ bảo hiểm xã hội; giấy xác nhận của cơ sở y tế trong nước về tình trạng bệnh tật và quá trình điều trị; giấy khám, chữa bệnh do cơ sở y tế nước ngoài cấp và giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để khám, chữa bệnh ở nước ngoài (bao gồm cả ngày đi và về). 5. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với người lao động sau khi ốm đau quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP được hướng dẫn như sau: Trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ khi người lao động trở lại làm việc sau khi đã hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong năm mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được thực hiện theo khoản 2, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP". II. CHẾ ĐỘ THAI SẢN 1. Bổ sung đoạn 3 vào điểm d khoản 4 Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: " - Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng hưởng chế độ. Ví dụ 2: Đồng chí thượng úy Trần Thị Thu Trang, Bác sỹ Bệnh viện 198 Bộ Công an, sinh con ngày 10/02/2009, theo quy định đồng chí Trần Thị Thu Trang được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con từ tháng 02/2009 đến tháng 6/2009 (5 tháng). Giả sử tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định từ ngày 01/5/2009 trở đi được điều chỉnh từ 540. 000 đồng/tháng lên 650. 000 đồng/tháng. Mức hưởng chế độ thai sản khi sinh con của đồng chí Trần Thị Thu Trang được thực hiện như sau: - Từ tháng 02/2009 đến tháng 4/2009 (3 tháng) đồng chí Trần Thị Thu Trang được hưởng chế độ thai sản với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc và được tính theo mức lương tối thiểu chung là 540. 000 đồng/tháng. - Từ tháng 5/2009 đến tháng 6/2009 (2 tháng) đồng chí Trần Thị Thu Trang được hưởng chế độ thai sản với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc và được tính theo mức lương tối thiểu chung là 650. 000 đồng/tháng". 2. Bổ sung điểm đ, điểm e vào khoản 4 Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "đ) Trợ cấp một lần đối với lao động nữ khi sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, thực hiện như sau: - Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng người lao động sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi; - Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP nhưng không nghỉ việc thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. e) Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP nếu không hưởng chế độ tiền lương tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Tiền lương được coi là có tính đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản". 3. Bổ sung khoản 6, khoản 7 vào Mục II Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "6. Đối với những trường hợp người lao động đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP thì Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi người lao động sau khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc về cư trú hợp pháp, căn cứ vào sổ bảo hiểm xã hội và quy định tại Điều 13, Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP để giải quyết trợ cấp thai sản cho đối tượng. Ví dụ 3: Đồng chí Nguyễn Thị Mai, thiếu úy quân nhân chuyên nghiệp, phục viên tháng 5/2008, có 10 năm 7 tháng liên tục đóng bảo hiểm xã hội, đến tháng 7/2008 đồng chí Nguyễn Thị Mai nhân nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi theo quy định của pháp luật. Đồng chí Nguyễn Thị Mai được bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi cư trú sau khi nghỉ việc chi trả trợ cấp thai sản theo quy định tại khoản 4 Điều 13 và khoản 1, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. 7. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi nghỉ thai sản Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với lao động nữ quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP cụ thể như sau: Trong khoảng thời gian 30 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 3 Điều 13 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. " III. CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "5. Giám định lại và giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động a) Giám định lại mức suy giảm khả năng lao động: Điều kiện để giám định lại mức suy giảm khả năng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định lại mức suy giảm khả năng lao động sau khi thương tật, bệnh tật tái phát được hướng dẫn như sau: a1) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2007: - Trường hợp sau khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động dưới 31% thì được hưởng mức trợ cấp một lần theo quy định sau: Mức suy giảm khả năng lao động trước khi giám định lại Mức suy giảm khả năng lao động sau khi giám định lại Mức trợ cấp một lần Từ 5% đến 10% Từ 10% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới Từ 11% đến 20% 4 tháng lương tối thiểu chung Từ 21% đến 30% 8 tháng lương tối thiểu chung Từ 11% đến 20% Từ 20% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới Từ 21% đến 30% 4 tháng lương tối thiểu chung Từ 21 đến 30% Từ 30% trở xuống Không hưởng khoản trợ cấp mới - Trường hợp sau khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng. Mức hưởng theo bảng quy định tại tiết a2 điểm này. Ví dụ 4: Đồng chí trung úy Nguyễn Tuấn Anh bị tai nạn lao động tháng 12/2006 với mức suy giảm khả năng lao động là 25%, đã nhận trợ cấp tai nạn lao động một lần theo quy định tại Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ là 450. 000 đồng x 12 tháng = 5. 400. 000 đồng. Tháng 12/2008 do thương tật tái phát, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 32%. Theo quy định, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được chuyển sang hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng của nhóm 1 từ tháng 12/2008, mức lương tối thiểu chung tại tháng 12/2008 là 540. 000 đồng/tháng, đồng chí Nguyễn Tuấn Anh được hưởng mức trợ cấp hàng tháng là: 540. 000 đồng x 0, 4 tháng = 216. 000 đồng/tháng. a2) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 2007, sau khi giám định lại thì tùy thuộc vào kết quả giám định lại mức suy giảm khả năng lao động, được hưởng mức trợ cấp hàng tháng theo quy định sau: Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp hằng tháng Nhóm 1: Từ 31% đến 40% 0, 4 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 2: Từ 41% đến 50% 0, 6 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 3: Từ 51% đến 60% 0, 8 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 4: Từ 61% đến 70% 1, 0 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 5: Từ 71% đến 80% 1, 2 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 6: Từ 81% đến 90% 1, 4 tháng lương tối thiểu chung Nhóm 7: Từ 91% đến 100% 1, 6 tháng lương tối thiểu chung a3) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần quy định tại Điều 21 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP: - Sau khi giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động tăng so với trước đó và dưới 31% thì hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được tính bằng hiệu số giữa mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới với mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động trước đó. Ví dụ 5: Đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy, bị tai nạn lao động ngày 14 tháng 6 năm 2007, nằm viện điều trị, đến ngày 20 tháng 7 năm 2007 ra viện về đơn vị tiếp tục công tác. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tháng 5 năm 2007 của đồng chí Lê Đăng Bảy là 3. 078. 000 đồng, thời gian công tác tính đến tháng 5 năm 2007 là 14 năm 7 tháng. Ngày 14 tháng 9 năm 2007 được Hội đồng giám định y khoa kết luận suy giảm khả năng lao động 21% và đã được hưởng trợ cấp tai nạn lao động một lần theo quy định tại Nghị định số 68/2008/NĐ - CP. Tháng 02 năm 2009, do thương tật tái phát được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 30%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02 năm 2009 là 540. 000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng trợ cấp một lần như sau: {5 x 540. 000đ + (30 - 5) x 0, 5 x 540. 000đ} � {5 x 540. 000đ + (21 - 5) x 0, 5 x 540. 000đ} = 12, 5 x 540. 000 đ � 8 x 540. 000 đ = 2. 430. 000 đồng - Sau khi giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hàng tháng theo hướng dẫn tại khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH, trong đó mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới; mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đã tính hưởng trợ cấp một lần trước đó. Ví dụ 6: Cũng trường hợp đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy nêu tại ví dụ 5. Tháng 02/2009 do thương tật tái phát, đồng chí Lê Đăng Bảy được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 35%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540. 000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng mức trợ cấp hàng tháng như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (35%) là: 0, 3 x 540. 000 đ + (35 - 31) x 0, 02 x 540. 000 đ = 162. 000 đ + 43. 200 đ = 205. 200 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội (được tính đến tháng 5/2007) là: 0, 005 x 3. 078. 000 đ + (14 - 1) x 0, 003 x 3. 078. 000 đ = 15. 390 đ + 120. 042 đ = 135. 432 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Lê Đăng Bảy là: 205. 200 đ + 135. 432 đ = 340. 632 đồng/tháng. a4) Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng quy định tại Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, khi giám định lại có mức suy giảm khả năng lao động thay đổi thì mức trợ cấp hàng tháng mới được tính theo quy định tại khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH, trong đó mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới; mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội là mức hiện hưởng. Ví dụ 7: Cũng trường hợp đồng chí thượng úy Lê Đăng Bảy nêu tại ví dụ 5 nhưng mức suy giảm khả năng lao động do Hội đồng giám định y khoa kết luận ngày 14/9/2007 là 31%, đang được hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng theo Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, trong đó mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội hiện hưởng là 135. 432 đồng/tháng. Do thương tật tái phát, tháng 02/2009 đồng chí Lê Đăng Bảy được giám định lại, mức suy giảm khả năng lao động mới là 40%. Giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540. 000 đồng/tháng, đồng chí Lê Đăng Bảy được hưởng mức trợ cấp hàng tháng như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (40%) là: 0, 3 x 540. 000 đ + (40 - 31) x 0, 02 x 540. 000 đ = 162. 000 đ + 97. 200 đ = 259. 200 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội là mức hiện hưởng bằng 135. 432 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Lê Đăng Bảy là: 259. 200 đ + 135. 432 đ = 394. 632 đồng/tháng. a5) Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định lại mức suy giảm khả năng lao động quy định tại điểm này được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng có kết luận giám định lại của Hội đồng giám định y khoa. b) Giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động: Điều kiện để giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động được hướng dẫn như sau: Đối với người lao động đã hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp một lần hoặc hàng tháng mà từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 trở đi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mới thì tùy thuộc vào mức suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định tổng hợp để giải quyết trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH, trong đó: b1) Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới được tính theo mức lương tối thiểu chung tại tháng ra viện của lần điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng hoặc tại tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa nếu không phải điều trị nội trú. b2) Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội sau khi giám định tổng hợp được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng. Ví dụ 8: Đồng chí Đặng Văn Hùng, nhân viên Ban Cơ yếu Chính phủ, bị tai nạn lao động tháng 5/2007, mức suy giảm khả năng lao động là 32%, đang được hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng theo Điều 22 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. Tháng 01/2009 đồng chí Đặng Văn Hùng bị tai nạn lao động lần 2, được điều trị tại bệnh viện. Sau khi điều trị ổn định, tháng 02/2009 được ra viện về đơn vị tiếp tục công tác, tháng 3/2009 được giám định tổng hợp tại Hội đồng giám định y khoa với mức suy giảm khả năng lao động sau khi giám định tổng hợp là 36%. Tính đến tháng 12/2008 đồng chí Đặng Văn Hùng có 15 năm 6 tháng đóng bảo hiểm xã hội, mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội tháng 12/2008 là 2. 452. 950 đồng (hệ số 3, 95; thâm niên nghề 15%), giả sử mức lương tối thiểu chung tại tháng 02/2009 là 540. 000 đồng/tháng, trợ cấp hàng tháng của đồng chí Đặng Văn Hùng sau khi giám định tổng hợp được tính như sau: - Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động mới (36%) sau khi giám định tổng hợp là: 0, 3 x 540. 000 đ + (36 - 31) x 0, 02 x 540. 000 đ = 162. 000 đ + 54. 000 đ = 216. 000 đồng/tháng. - Mức trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội (tính đến tháng 12/2008) là: 0, 005 x 2. 452. 950 đ + (15 - 1) x 0, 003 x 2. 452. 950 đ = 12. 265 đ + 103. 024 đ = 115. 289 đồng/tháng. - Mức trợ cấp hàng tháng của đồng chí Đặng Văn Hùng là: 216. 000 đ + 115. 289 đ = 331. 289 đồng/tháng. c) Thời điểm hưởng trợ cấp: - Thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động được tính kể từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa; - Thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động được tính kể từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện của lần điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng hoặc tại tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa nếu không phải điều trị nội trú. d) Trách nhiệm thực hiện: Theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người lao động, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm giới thiệu người lao động đến Hội đồng giám định y khoa để giám định lại hoặc giám định tổng hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp". 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "8. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình Việc cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tại Điều 24 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP thực hiện như sau: Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì tùy theo tình trạng thương tật, bệnh tật được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt và dụng cụ chỉnh hình theo chỉ định tại các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng thuộc ngành Lao động � Thương binh và Xã hội hoặc của bệnh viện cấp tỉnh, thành phố trở lên (gọi tắt là cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng), cụ thể như sau: a) Chế độ cấp tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình: a1) Đối với người bị cụt chân, cụt tay, bị liệt: - Người bị cụt chân được cấp tiền để mua chân giả, niên hạn là 3 năm (nếu cư trú ở miền núi, vùng cao thì niên hạn là 2 năm); mỗi năm được cấp thêm 170. 000 đồng để mua các vật phẩm phụ; - Người bị mất cả bàn chân hoặc nửa bàn chân không có khả năng lắp chân giả hoặc bị ngắn chân, bàn chân bị lệch vẹo được cấp tiền để mua một đôi giầy chỉnh hình hoặc một đôi dép chỉnh hình, niên hạn là 2 năm; - Người bị cụt tay được cấp tiền để mua tay giả, niên hạn là 5 năm; mỗi năm được cấp thêm 60. 000 đồng để mua các vật phẩm phụ; - Người bị liệt toàn thân hoặc liệt nửa người hoặc liệt 2 chân hoặc cụt cả 2 chân không còn khả năng tự di chuyển thì được cấp tiền một lần để mua một chiếc xe lăn hoặc xe lắc; mỗi năm được cấp thêm 300. 000 đồng để bảo trì phương tiện. Mức tiền được cấp để mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình thực hiện theo Bảng giá phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình trong Phụ lục kèm theo Thông tư này. a2) Đối với người bị hỏng mắt, gãy răng, bị điếc: - Người bị hỏng mắt được cấp tiền một lần để lắp mắt giả theo chứng từ thực tế của cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng nơi điều trị; - Người bị gãy răng được cấp tiền để làm răng giả với mức giá 1. 000. 000 đồng/1 răng, niên hạn là 5 năm; - Người bị điếc cả 2 tai được cấp 500. 000 đồng để mua máy trợ thính, niên hạn là 3 năm. b) Chế độ thanh toán tiền tàu, xe: Người lao động quy định tại điểm a nêu trên được thanh toán một lần tiền tàu, xe đi và về theo giá quy định của nhà nước với phương tiện giao thông phổ thông từ nơi cư trú hoặc từ nơi làm việc đến cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng gần nhất. c) Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ: - Cấp giấy giới thiệu tới các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng cho người đang trực tiếp quản lý, thuộc diện được trang cấp đi làm các phương tiện phù hợp với chức năng bị tổn thương; - Cấp tiền mua các phương tiện được trang cấp và tiền cấp thêm theo quy định tại điểm a nêu trên; thanh toán tiền tàu xe đi lại theo quy định tại điểm b nêu trên". 3. Bổ sung khoản 10 vào Mục III Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "10. Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, thực hiện như sau: Trong khoảng thời gian 60 ngày, tính từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa mà sức khỏe còn yếu thì người lao động được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 28 Nghị định số 68/2007/NĐ - CP. " IV. CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ 1. Bổ sung điểm e vào khoản 6 Mục IV Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "e) Trong thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động có từ hai giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì việc tính bình quân tiền lương ở khu vực nhà nước được tính theo quy định tại các điểm a, b, c và d nêu trên phụ thuộc vào thời điểm đầu tiên người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ví dụ 9: Đồng chí trung úy CN Mai Thị Hồng, có diễn biến quá trình tham gia bảo hiểm xã hội như sau: - Từ tháng 02/1994 đến tháng 12/2003 là giáo viên trường trung học cơ sở; - Từ tháng 01/2004 nghỉ việc không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước đó (9 năm 11 tháng); - Tháng 9/2006 được tuyển dụng vào đơn vị quân đội, chuyển xếp lương trung cấp nhóm 1, bậc 3, hệ số lương 4, 10, phiên quân hàm trung úy CN. Như vậy, sau này khi giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu hoặc trợ cấp một lần khi phục viên được tính bình quân tiền lương tháng của 5 năm cuối (60 tháng) trước khi đồng chí Mai Thị Hồng nghỉ hưu hoặc phục viên (do thời điểm đầu tiên đồng chí Hồng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là vào tháng 02/1994. " 2. Bổ sung khoản 10, khoản 11, khoản 12 vào Mục IV Phần A Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "10. Đối với những trường hợp người lao động bị kết án tù giam từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 trở đi hoặc xuất cảnh trái phép hoặc bị tòa án tuyên bố là mất tích, sau khi chấp hành xong án phạt tù giam hoặc về nước định cư hợp pháp hoặc được tòa án tuyên bố mất tích trở về, nếu chưa được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước đó thì cơ quan, đơn vị cũ có trách nhiệm báo cáo Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ cấp sổ bảo hiểm xã hội (nếu chưa được cấp sổ bảo hiểm xã hội) và giải quyết chế độ hưu trí hoặc chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần hoặc bảo lưu thời gian công tác trước đó, giới thiệu về bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố nơi cư trú hợp pháp tiếp nhận và giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. 11. Người lao động đã được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, có thời gian gián đoạn không lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng mà không ủy quyền cho người khác lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, để được tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, người lao động có đơn đề nghị nêu rõ lý do gián đoạn lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú về việc không bị phạt tù giam hoặc không xuất cảnh trái phép hoặc không bị tòa án tuyên bố là mất tích trong thời gian không lĩnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng. Những tháng chưa nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đối với trường hợp người lao động có đủ điều kiện trên được cơ quan bảo hiểm xã hội hoàn trả theo mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng theo quy định ở từng tháng đó, không bao gồm tiền lãi. 12. Đối với người bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng quy định tại Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội thì thời điểm tiếp tục hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng được tính kể từ tháng liền kề sau tháng người bị kết án tù giam chấp hành xong án phạt tù giam, hoặc tháng người được tòa án tuyên bố là mất tích trở về (theo ngày tháng ghi trong quyết định) hoặc tháng người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp (theo ngày tháng nhập cảnh)". V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Phần C Thông tư liên tịch số 148/2007/TTLT/BQP - BCA - BLĐTBXH như sau: "7. Căn cứ vào các quy định nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại Nghị định số 152/2006/NĐ - CP, Nghị định số 68/2007/NĐ - CP, hướng dẫn tại Thông tư số 19/2008/TT - BLĐTBXH ngày 23 tháng 9 năm 2008 của Bộ Lao động � Thương binh và Xã hội và hướng dẫn tại Thông tư này, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện cho phù hợp với đặc điểm tổ chức của Bộ, ngành mình". VI. HIỆU LỰC THI HÀNH Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định tại Thông tư này về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí được áp dụng thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc, các đơn vị phản ánh về liên Bộ để xem xét, hướng dẫn giải quyết. /.
Quy định việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ
02/2011/TTLT-BCA-BGTVT
15/04/2011
Thông tư liên tịch
02/06/2011
Công báo số 289+290, năm 2011
18/05/2011
Bộ Công an
Bộ trưởng - Đại tướng
Lê Hồng Anh
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ ________________________________ Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải thống nhất quy định việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ như sau: Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ có thời hạn 60 ngày (sau đây viết gọn là người vi phạm). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Người vi phạm: 2. Công an các đơn vị, địa phương; cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ cho người vi phạm. Điều 3. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ 1. Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Phòng Cảnh sát giao thông). 2. Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện). Điều 4. Nội dung, hình thức, thời gian học 1. Nội dung học a) Những quy định của Luật Giao thông đường bộ; b) Biển báo hiệu đường bộ; c) Tình huống giao thông trên sa hình. 2. Hình thức học Người vi phạm phải dự học tập trung tại địa điểm do cơ quan có thẩm quyền tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ quy định (sau đây viết gọn là cơ quan tổ chức học và kiểm tra); được hướng dẫn, nghiên cứu tài liệu. 3. Thời gian học a) Đối với người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô (sau đây viết gọn là xe mô tô), máy kéo có trọng tải đến 1.000kg, xe máy chuyên dùng thì thời gian học là 04 giờ (một buổi); b) Đối với người điều khiển xe ô tô, các loại xe tương tự ô tô (sau đây viết gọn là xe ô tô), máy kéo có trọng tải trên 1.000kg thì thời gian học là 08 giờ (một ngày). Điều 5. Câu hỏi, phương pháp và thời gian kiểm tra 1. Câu hỏi kiểm tra a) Câu hỏi để người vi phạm làm bài kiểm tra do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt biên soạn lại (trên cơ sở bộ câu hỏi dùng để học và sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ do Tổng cục Đường bộ Việt Nam biên soạn và quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ). Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt cung cấp bộ câu hỏi này cho các cơ quan tổ chức học và kiểm tra; b) Cơ quan tổ chức học và kiểm tra chọn trong số các câu hỏi do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt biên soạn để làm thành đề kiểm tra. Trong mỗi đề kiểm tra phải có ít nhất 01 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ liên quan đến hành vi vi phạm của người vi phạm; c) Đề kiểm tra áp dụng đối với người vi phạm điều khiển xe mô tô, máy kéo có trọng tải đến 1.000kg, xe máy chuyên dùng, gồm 10 câu hỏi (05 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ, 03 câu hỏi về biển báo, 02 câu hỏi về sa hình); d) Đề kiểm tra áp dụng đối với người vi phạm điều khiển xe ô tô, máy kéo có trọng tải trên 1.000kg, gồm 20 câu hỏi (10 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ, 06 câu hỏi về biển báo, 04 câu hỏi về sa hình). 2. Phương pháp kiểm tra a) Kiểm tra trắc nghiệm trên giấy hoặc trên máy vi tính: thủ trưởng cơ quan tổ chức học và kiểm tra quyết định việc kiểm tra trắc nghiệm trên giấy hoặc trên máy vi tính. Đối với người vi phạm là người nước ngoài, khi đến học và kiểm tra phải có người phiên dịch; b) Kiểm tra vấn đáp: phương pháp này áp dụng đối với người vi phạm là người dân tộc thiểu số. Người được giao nhiệm vụ tiến hành kiểm tra phải đọc từng câu hỏi trong đề kiểm tra để người dự kiểm tra trả lời. 3. Thời gian kiểm tra a) Đối với người vi phạm điều khiển xe mô tô, máy kéo có trọng tải đến 1.000kg, xe máy chuyên dùng thì thời gian kiểm tra là 10 phút vào cuối buổi học. Kết quả trả lời so với đáp án mà đúng từ 08 câu hỏi trở lên thì đạt yêu cầu; b) Đối với người vi phạm điều khiển xe ô tô, máy kéo có trọng tải trên 1.000kg thì thời gian kiểm tra là 20 phút vào cuối ngày học. Kết quả trả lời so với đáp án mà đúng từ 16 câu hỏi trở lên thì đạt yêu cầu. 4. Kết quả học và kiểm tra của người vi phạm phải được lập thành biên bản. Điều 6. Quyền hạn và nghĩa vụ của người vi phạm 1. Nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sau đây viết gọn là quyết định xử phạt) phải đăng ký nơi học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ tại Phòng Cảnh sát giao thông hoặc Công an cấp huyện nơi hành vi vi phạm bị phát hiện hoặc nơi người vi phạm cư trú. Khi đến đăng ký học và kiểm tra phải mang theo quyết định xử phạt đến để đăng ký. 2. Dự học và kiểm tra tại nơi đã đăng ký theo chương trình, thời gian do cơ quan tổ chức học và kiểm tra sắp xếp. Khi đến dự học và kiểm tra phải mang theo Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác có ảnh để đối chiếu. Trường hợp không thể đến học và kiểm tra đúng lịch học thì phải có lý do chính đáng (có xác nhận của chính quyền địa phương, cơ quan công tác…) và phải báo cho cơ quan đã đăng ký học và kiểm tra biết trước khi học ít nhất một ngày; đồng thời, phải đăng ký lại thời gian học và kiểm tra. 3. Được cấp giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ khi kết quả kiểm tra đạt yêu cầu; nếu kết quả kiểm tra không đạt yêu cầu thì phải dự kiểm tra lại (không phải học lại) cho đến khi đạt yêu cầu. Trường hợp người vi phạm đã nhận giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ, nhưng làm thất lạc, hư hỏng, rách nát không còn giá trị sử dụng thì phải làm đơn đề nghị cơ quan đã tổ chức học và kiểm tra cấp lại. 4. Xuất trình giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ khi làm thủ tục nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ 1. Hướng dẫn người vi phạm đăng ký học và kiểm tra theo quy định của Thông tư này. 2. Tiếp nhận giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ; trả Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cho người vi phạm khi đã hết thời hạn tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật. Điều 8. Trách nhiệm của cơ quan tổ chức học và kiểm tra 1. Phân công cán bộ tiếp nhận thông tin đăng ký học và kiểm tra của người vi phạm, vào sổ thống kê theo dõi, xếp lịch học và kiểm tra cho người vi phạm. Ghi địa điểm, thời gian học và kiểm tra vào mặt sau của quyết định xử phạt cho người vi phạm biết. 2. Lập biên bản học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ (mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này). 3. Lâp sổ thống kê theo dõi việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này). 4. Tổ chức việc học và kiểm tra ít nhất một tuần một lần khi có người đăng ký. Kết quả kiểm tra phải được thông báo cho người vi phạm ngay sau khi kiểm tra xong. Trường hợp người vi phạm đã dự kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu thì phải sắp xếp lịch kiểm tra lại vào tuần tiếp theo và thông báo cho người vi phạm biết. 5. Cấp giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ cho người vi phạm đã kiểm tra đạt yêu cầu ngay trong ngày (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này). 6. In, quản lý, sử dụng các mẫu ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 9. Kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra Kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; khi chưa có hướng dẫn của Bộ Tài chính thì kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra được sử dụng từ nguồn kinh phí bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hàng năm của địa phương. Điều 10. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 02/6/2011 và thay thế Thông tư liên tịch số 04/2008/TTLT-BCA-BGTVT ngày 31/7/2008 của Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải quy định việc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 11. Trách nhiệm thi hành 1. Trách nhiệm của cơ quan Công an a) Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện Thông tư này; b) Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Giao thông vận tải a) Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện Thông tư này; b) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh cần báo cáo Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội), Bộ Giao thông vận tải (qua Tổng cục Đường bộ Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=26439&Keyword=
2025-09-24T02:35:40.269692
../data\bocongan\022011TTLT-BCA-BGTVT\document.json
01/07/2013
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ ________________________________ Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ - CP ngày 22/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 34/2010/NĐ - CP ngày 02/4/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải thống nhất quy định việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ như sau: Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ có thời hạn 60 ngày (sau đây viết gọn là người vi phạm). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Người vi phạm: 2. Công an các đơn vị, địa phương; cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ cho người vi phạm. Điều 3. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ 1. Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Phòng Cảnh sát giao thông). 2. Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện). Điều 4. Nội dung, hình thức, thời gian học 1. Nội dung học a) Những quy định của Luật Giao thông đường bộ; b) Biển báo hiệu đường bộ; c) Tình huống giao thông trên sa hình. 2. Hình thức học Người vi phạm phải dự học tập trung tại địa điểm do cơ quan có thẩm quyền tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ quy định (sau đây viết gọn là cơ quan tổ chức học và kiểm tra); được hướng dẫn, nghiên cứu tài liệu. 3. Thời gian học a) Đối với người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô (sau đây viết gọn là xe mô tô), máy kéo có trọng tải đến 1. 000kg, xe máy chuyên dùng thì thời gian học là 04 giờ (một buổi); b) Đối với người điều khiển xe ô tô, các loại xe tương tự ô tô (sau đây viết gọn là xe ô tô), máy kéo có trọng tải trên 1. 000kg thì thời gian học là 08 giờ (một ngày). Điều 5. Câu hỏi, phương pháp và thời gian kiểm tra 1. Câu hỏi kiểm tra a) Câu hỏi để người vi phạm làm bài kiểm tra do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt biên soạn lại (trên cơ sở bộ câu hỏi dùng để học và sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ do Tổng cục Đường bộ Việt Nam biên soạn và quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ). Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt cung cấp bộ câu hỏi này cho các cơ quan tổ chức học và kiểm tra; b) Cơ quan tổ chức học và kiểm tra chọn trong số các câu hỏi do Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt biên soạn để làm thành đề kiểm tra. Trong mỗi đề kiểm tra phải có ít nhất 01 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ liên quan đến hành vi vi phạm của người vi phạm; c) Đề kiểm tra áp dụng đối với người vi phạm điều khiển xe mô tô, máy kéo có trọng tải đến 1. 000kg, xe máy chuyên dùng, gồm 10 câu hỏi (05 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ, 03 câu hỏi về biển báo, 02 câu hỏi về sa hình); d) Đề kiểm tra áp dụng đối với người vi phạm điều khiển xe ô tô, máy kéo có trọng tải trên 1. 000kg, gồm 20 câu hỏi (10 câu hỏi về Luật Giao thông đường bộ, 06 câu hỏi về biển báo, 04 câu hỏi về sa hình). 2. Phương pháp kiểm tra a) Kiểm tra trắc nghiệm trên giấy hoặc trên máy vi tính: thủ trưởng cơ quan tổ chức học và kiểm tra quyết định việc kiểm tra trắc nghiệm trên giấy hoặc trên máy vi tính. Đối với người vi phạm là người nước ngoài, khi đến học và kiểm tra phải có người phiên dịch; b) Kiểm tra vấn đáp: phương pháp này áp dụng đối với người vi phạm là người dân tộc thiểu số. Người được giao nhiệm vụ tiến hành kiểm tra phải đọc từng câu hỏi trong đề kiểm tra để người dự kiểm tra trả lời. 3. Thời gian kiểm tra a) Đối với người vi phạm điều khiển xe mô tô, máy kéo có trọng tải đến 1. 000kg, xe máy chuyên dùng thì thời gian kiểm tra là 10 phút vào cuối buổi học. Kết quả trả lời so với đáp án mà đúng từ 08 câu hỏi trở lên thì đạt yêu cầu; b) Đối với người vi phạm điều khiển xe ô tô, máy kéo có trọng tải trên 1. 000kg thì thời gian kiểm tra là 20 phút vào cuối ngày học. Kết quả trả lời so với đáp án mà đúng từ 16 câu hỏi trở lên thì đạt yêu cầu. 4. Kết quả học và kiểm tra của người vi phạm phải được lập thành biên bản. Điều 6. Quyền hạn và nghĩa vụ của người vi phạm 1. Nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sau đây viết gọn là quyết định xử phạt) phải đăng ký nơi học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ tại Phòng Cảnh sát giao thông hoặc Công an cấp huyện nơi hành vi vi phạm bị phát hiện hoặc nơi người vi phạm cư trú. Khi đến đăng ký học và kiểm tra phải mang theo quyết định xử phạt đến để đăng ký. 2. Dự học và kiểm tra tại nơi đã đăng ký theo chương trình, thời gian do cơ quan tổ chức học và kiểm tra sắp xếp. Khi đến dự học và kiểm tra phải mang theo Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác có ảnh để đối chiếu. Trường hợp không thể đến học và kiểm tra đúng lịch học thì phải có lý do chính đáng (có xác nhận của chính quyền địa phương, cơ quan công tác…) và phải báo cho cơ quan đã đăng ký học và kiểm tra biết trước khi học ít nhất một ngày; đồng thời, phải đăng ký lại thời gian học và kiểm tra. 3. Được cấp giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ khi kết quả kiểm tra đạt yêu cầu; nếu kết quả kiểm tra không đạt yêu cầu thì phải dự kiểm tra lại (không phải học lại) cho đến khi đạt yêu cầu. Trường hợp người vi phạm đã nhận giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ, nhưng làm thất lạc, hư hỏng, rách nát không còn giá trị sử dụng thì phải làm đơn đề nghị cơ quan đã tổ chức học và kiểm tra cấp lại. 4. Xuất trình giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ khi làm thủ tục nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ 1. Hướng dẫn người vi phạm đăng ký học và kiểm tra theo quy định của Thông tư này. 2. Tiếp nhận giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ; trả Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cho người vi phạm khi đã hết thời hạn tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật. Điều 8. Trách nhiệm của cơ quan tổ chức học và kiểm tra 1. Phân công cán bộ tiếp nhận thông tin đăng ký học và kiểm tra của người vi phạm, vào sổ thống kê theo dõi, xếp lịch học và kiểm tra cho người vi phạm. Ghi địa điểm, thời gian học và kiểm tra vào mặt sau của quyết định xử phạt cho người vi phạm biết. 2. Lập biên bản học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ (mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này). 3. Lâp sổ thống kê theo dõi việc tổ chức học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này). 4. Tổ chức việc học và kiểm tra ít nhất một tuần một lần khi có người đăng ký. Kết quả kiểm tra phải được thông báo cho người vi phạm ngay sau khi kiểm tra xong. Trường hợp người vi phạm đã dự kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu thì phải sắp xếp lịch kiểm tra lại vào tuần tiếp theo và thông báo cho người vi phạm biết. 5. Cấp giấy chứng nhận kết quả học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ cho người vi phạm đã kiểm tra đạt yêu cầu ngay trong ngày (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này). 6. In, quản lý, sử dụng các mẫu ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 9. Kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra Kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; khi chưa có hướng dẫn của Bộ Tài chính thì kinh phí cho việc tổ chức học và kiểm tra được sử dụng từ nguồn kinh phí bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hàng năm của địa phương. Điều 10. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 02/6/2011 và thay thế Thông tư liên tịch số 04/2008/TTLT - BCA - BGTVT ngày 31/7/2008 của Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải quy định việc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ đối với người bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ. Điều 11. Trách nhiệm thi hành 1. Trách nhiệm của cơ quan Công an a) Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện Thông tư này; b) Tổng cục trưởng các Tổng cục, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Giao thông vận tải a) Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện Thông tư này; b) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh cần báo cáo Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội), Bộ Giao thông vận tải (qua Tổng cục Đường bộ Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố
02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP
22/03/2012
Thông tư liên tịch
06/05/2012
Công báo số 357+358, năm 2012
01/05/2012
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng thường trực
Hoàng Nghĩa Mai
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố ________________________ Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 10 tháng 12 năm 2003; Căn cứ Luật Thanh tra ngày 15 tháng 11 năm 2010; Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002; Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng 11 năm 2005; Căn cứ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự ngày 20 tháng 8 năm 2004; Để nâng cao hiệu quả và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thống nhất quy định như sau: Điều 1. Về phạm vi quan hệ phối hợp Thông tư này quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố vụ án hình sự; trao đổi thông tin về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm. Điều 2. Quan hệ, phối hợp trong việc trao đổi thông tin về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm 1. Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, theo quy định của pháp luật có trách nhiệm thường xuyên quan hệ, phối hợp để trao đổi, cung cấp cho nhau thông tin về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm đã được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra, điều tra và kiểm sát điều tra; kịp thời trao đổi thông tin, kết quả giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra về những vụ việc, những lĩnh vực trọng điểm mà Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng quan tâm. Đối với những vụ việc Cơ quan thanh tra đã tiến hành thanh tra nhưng không kiến nghị khởi tố, nếu có căn cứ cho thấy cần phải tiếp tục xác minh làm rõ, thì Cơ quan thanh tra có công văn đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp để xác minh làm rõ thêm. 2. Đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố và chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra, nếu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sau khi Cơ quan điều tra kết luận điều tra, Viện kiểm sát có Cáo trạng truy tố; Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Điều 3. Quan hệ phối hợp trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố 1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm với đầy đủ tài liệu, chứng cứ, thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu, chứng cứ và hồ sơ vụ việc đó kèm theo kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện và kết luận sau khi kết thúc cuộc thanh tra, thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, Cơ quan thanh tra ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc đó và văn bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 48 và điểm n khoản 1 Điều 55 Luật Thanh tra năm 2010. Điều 4. Về thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ vụ việc và kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra 1. Vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở cơ quan, đơn vị thuộc cấp hành chính nào hoặc của đơn vị quân đội cấp nào thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền của cấp đó giải quyết; vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của cấp Bộ hoặc Chính phủ thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an hoặc Cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng. 2. Trường hợp vụ việc vi phạm pháp luật có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nếu thấy cần thiết thì trước khi chính thức kết luận thanh tra và kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra có thể tổ chức họp Lãnh đạo liên ngành gồm Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để phân tích, đánh giá những tài liệu đã thu thập được. Nếu liên ngành thống nhất xác định vụ việc đã rõ dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay hồ sơ và kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố vụ án và điều tra theo quy định của pháp luật. 3. Sau khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra; nếu thấy sự việc phạm tội không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan Thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Điều 5. Về việc giải quyết kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra 1. Sau khi nhận được hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến, qua kiểm tra nếu thấy chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, thì Cơ quan điều tra trực tiếp điều tra, xác minh để thu thập, bổ sung chứng cứ, đồng thời đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp thu thập thêm tài liệu, chứng cứ bổ sung vào hồ sơ kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp Cơ quan thanh tra đã bổ sung tài liệu, chứng cứ mà vẫn không có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu Viện kiểm sát cùng cấp đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, thì Cơ quan điều tra làm thủ tục trả lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra giải quyết theo thẩm quyền. Nếu tài liệu bổ sung xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định kèm theo tài liệu có liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi tố theo quy định tại Điều 104, Điều 108 và Điều 109 của Bộ luật tố tụng hình sự. 2. Trường hợp khi kết thúc cuộc thanh tra, Cơ quan thanh tra không kiến nghị khởi tố, nhưng Cơ quan điều tra phát hiện vụ việc đã thanh tra có dấu hiệu tội phạm thì ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi Quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp này, nếu Cơ quan điều tra đề nghị thì Cơ quan thanh tra có trách nhiệm phối hợp cung cấp những tài liệu liên quan đến việc xác định tội phạm mà Cơ quan thanh tra đã thu thập được trong quá trình thanh tra. 3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến và trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan điều tra phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; 4. Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, phải kiểm tra, xác minh thêm ở nhiều nơi để làm rõ căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không được quá sáu mươi ngày. Quá thời hạn trên, mà Cơ quan thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về việc xử lý của Cơ quan điều tra, thì có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan điều tra cấp trên để xem xét, giải quyết. Điều 6. Quan hệ phối hợp trong việc giải quyết kiến nghị đối với các trường hợp quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ 1. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến, qua điều tra, xác minh nếu thấy không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do không khởi tố để Cơ quan thanh tra biết. 2. Khi nhận được Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phân công ngay Kiểm sát viên để kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của các Quyết định đó và đề xuất bằng văn bản với Lãnh đạo Viện kiểm sát giải quyết như sau: a) Nếu Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra Quyết định hủy bỏ quyết định đó và ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện việc điều tra theo quy định tại Điều 109 của Bộ luật Tố tụng hình sự. b) Nếu Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra Quyết định hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Cơ quan điều tra giao lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị để giải quyết theo thẩm quyền. 3. Trường hợp không đồng ý với các Quyết định của Viện kiểm sát quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 6 của Thông tư liên tịch này thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và báo cáo Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp Trung ương thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì ra Quyết định hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương là quyết định cuối cùng. 4. Trường hợp Cơ quan thanh tra không đồng ý với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát cùng cấp cũng cho rằng quyết định đó có căn cứ nên không hủy bỏ; hoặc Cơ quan thanh tra không đồng ý với Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thì có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong trường hợp Cơ quan Thanh tra Chính phủ kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Nếu Cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương là quyết định cuối cùng. 5. Khi Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án nhưng quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ có kết quả khác với những nội dung ghi trong văn bản kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra thì Cơ quan điều tra thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố vụ án hình sự biết. Điều 7. Hồ sơ kiến nghị khởi tố và việc giao nhận hồ sơ 1. Người ra Quyết định thanh tra là người có quyền quyết định chuyển hồ sơ và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự. Tài liệu trong hồ sơ kiến nghị khởi tố là tài liệu gốc, nếu tài liệu là bản sao thì đối tượng thanh tra giao nộp tài liệu phải đóng dấu, xác nhận. Trưởng đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm pháp lý về hồ sơ này. 2. Hồ sơ kiến nghị khởi tố gồm: a) Văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự do người ra quyết định thanh tra ký, trong đó nêu rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. b) Quyết định thanh tra, biên bản xác minh sự việc có vi phạm pháp luật do Đoàn thanh tra, Thanh tra viên lập, báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra. c) Báo cáo của Trưởng đoàn thanh tra về những vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm của đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cuộc thanh tra đã kết thúc, người ra quyết định thanh tra mới kiến nghị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự, thì hồ sơ kiến nghị khởi tố phải có Bản trích văn bản kết luận thanh tra về vụ việc vi phạm pháp luật mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. 3. Kèm theo hồ sơ kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra phải chuyển toàn bộ những tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ sách có liên quan cho Cơ quan điều tra. Những đồ vật, tiền, vàng liên quan trực tiếp đến vụ việc vi phạm pháp luật thu được trong quá trình thanh tra phải được quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Việc giao nhận hồ sơ và kiến nghị khởi tố giữa Cơ quan điều tra và Cơ quan thanh tra được tiến hành tại trụ sở Cơ quan thanh tra hoặc Cơ quan điều tra. Khi giao hồ sơ kiến nghị khởi tố sang Cơ quan điều tra, Cơ quan thanh tra phải lập bảng kê đầy đủ tên các tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ phải được lập biên bản giao nhận, người giao và người nhận ký biên bản và ghi rõ họ tên. Điều 8. Tổ chức thực hiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này. Định kỳ mỗi năm một lần, căn cứ tình hình kết quả công tác quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; Viện kiểm sát các cấp chủ trì tổ chức họp Lãnh đạo liên ngành Thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để đánh giá kết quả thực hiện Thông tư liên tịch và rút kinh nghiệm về sự phối hợp trong công tác phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố, đồng thời bàn biện pháp phối hợp tiếp theo. Điều 9. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 6 tháng 5 năm 2012 và thay thế Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 23 tháng 5 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn bổ sung thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thanh tra địa phương phản ánh về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27462&Keyword=
2025-09-24T02:35:21.095088
../data\bocongan\022012TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố ________________________ Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 10 tháng 12 năm 2003; Căn cứ Luật Thanh tra ngày 15 tháng 11 năm 2010; Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002; Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng 11 năm 2005; Căn cứ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự ngày 20 tháng 8 năm 2004; Để nâng cao hiệu quả và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thống nhất quy định như sau: Điều 1. Về phạm vi quan hệ phối hợp Thông tư này quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố vụ án hình sự; trao đổi thông tin về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm. Điều 2. Quan hệ, phối hợp trong việc trao đổi thông tin về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm 1. Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, theo quy định của pháp luật có trách nhiệm thường xuyên quan hệ, phối hợp để trao đổi, cung cấp cho nhau thông tin về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm đã được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra, điều tra và kiểm sát điều tra; kịp thời trao đổi thông tin, kết quả giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra về những vụ việc, những lĩnh vực trọng điểm mà Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng quan tâm. Đối với những vụ việc Cơ quan thanh tra đã tiến hành thanh tra nhưng không kiến nghị khởi tố, nếu có căn cứ cho thấy cần phải tiếp tục xác minh làm rõ, thì Cơ quan thanh tra có công văn đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp để xác minh làm rõ thêm. 2. Đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố và chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra, nếu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sau khi Cơ quan điều tra kết luận điều tra, Viện kiểm sát có Cáo trạng truy tố; Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Điều 3. Quan hệ phối hợp trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố 1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm với đầy đủ tài liệu, chứng cứ, thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu, chứng cứ và hồ sơ vụ việc đó kèm theo kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự. 2. Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện và kết luận sau khi kết thúc cuộc thanh tra, thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, Cơ quan thanh tra ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc đó và văn bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 48 và điểm n khoản 1 Điều 55 Luật Thanh tra năm 2010. Điều 4. Về thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ vụ việc và kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra 1. Vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở cơ quan, đơn vị thuộc cấp hành chính nào hoặc của đơn vị quân đội cấp nào thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền của cấp đó giải quyết; vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của cấp Bộ hoặc Chính phủ thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an hoặc Cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng. 2. Trường hợp vụ việc vi phạm pháp luật có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nếu thấy cần thiết thì trước khi chính thức kết luận thanh tra và kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra có thể tổ chức họp Lãnh đạo liên ngành gồm Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để phân tích, đánh giá những tài liệu đã thu thập được. Nếu liên ngành thống nhất xác định vụ việc đã rõ dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra chuyển ngay hồ sơ và kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố vụ án và điều tra theo quy định của pháp luật. 3. Sau khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra; nếu thấy sự việc phạm tội không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan Thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Điều 5. Về việc giải quyết kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra 1. Sau khi nhận được hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến, qua kiểm tra nếu thấy chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, thì Cơ quan điều tra trực tiếp điều tra, xác minh để thu thập, bổ sung chứng cứ, đồng thời đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp thu thập thêm tài liệu, chứng cứ bổ sung vào hồ sơ kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp Cơ quan thanh tra đã bổ sung tài liệu, chứng cứ mà vẫn không có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu Viện kiểm sát cùng cấp đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, thì Cơ quan điều tra làm thủ tục trả lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra giải quyết theo thẩm quyền. Nếu tài liệu bổ sung xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định kèm theo tài liệu có liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi tố theo quy định tại Điều 104, Điều 108 và Điều 109 của Bộ luật tố tụng hình sự. 2. Trường hợp khi kết thúc cuộc thanh tra, Cơ quan thanh tra không kiến nghị khởi tố, nhưng Cơ quan điều tra phát hiện vụ việc đã thanh tra có dấu hiệu tội phạm thì ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi Quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp này, nếu Cơ quan điều tra đề nghị thì Cơ quan thanh tra có trách nhiệm phối hợp cung cấp những tài liệu liên quan đến việc xác định tội phạm mà Cơ quan thanh tra đã thu thập được trong quá trình thanh tra. 3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến và trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan điều tra phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; 4. Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, phải kiểm tra, xác minh thêm ở nhiều nơi để làm rõ căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không được quá sáu mươi ngày. Quá thời hạn trên, mà Cơ quan thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về việc xử lý của Cơ quan điều tra, thì có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan điều tra cấp trên để xem xét, giải quyết. Điều 6. Quan hệ phối hợp trong việc giải quyết kiến nghị đối với các trường hợp quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ 1. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến, qua điều tra, xác minh nếu thấy không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do không khởi tố để Cơ quan thanh tra biết. 2. Khi nhận được Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phân công ngay Kiểm sát viên để kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của các Quyết định đó và đề xuất bằng văn bản với Lãnh đạo Viện kiểm sát giải quyết như sau: a) Nếu Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra Quyết định hủy bỏ quyết định đó và ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện việc điều tra theo quy định tại Điều 109 của Bộ luật Tố tụng hình sự. b) Nếu Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra Quyết định hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Cơ quan điều tra giao lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị để giải quyết theo thẩm quyền. 3. Trường hợp không đồng ý với các Quyết định của Viện kiểm sát quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 6 của Thông tư liên tịch này thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và báo cáo Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp Trung ương thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì ra Quyết định hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương là quyết định cuối cùng. 4. Trường hợp Cơ quan thanh tra không đồng ý với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát cùng cấp cũng cho rằng quyết định đó có căn cứ nên không hủy bỏ; hoặc Cơ quan thanh tra không đồng ý với Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thì có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong trường hợp Cơ quan Thanh tra Chính phủ kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Nếu Cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương là quyết định cuối cùng. 5. Khi Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án nhưng quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ có kết quả khác với những nội dung ghi trong văn bản kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra thì Cơ quan điều tra thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố vụ án hình sự biết. Điều 7. Hồ sơ kiến nghị khởi tố và việc giao nhận hồ sơ 1. Người ra Quyết định thanh tra là người có quyền quyết định chuyển hồ sơ và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự. Tài liệu trong hồ sơ kiến nghị khởi tố là tài liệu gốc, nếu tài liệu là bản sao thì đối tượng thanh tra giao nộp tài liệu phải đóng dấu, xác nhận. Trưởng đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm pháp lý về hồ sơ này. 2. Hồ sơ kiến nghị khởi tố gồm: a) Văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự do người ra quyết định thanh tra ký, trong đó nêu rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. b) Quyết định thanh tra, biên bản xác minh sự việc có vi phạm pháp luật do Đoàn thanh tra, Thanh tra viên lập, báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra. c) Báo cáo của Trưởng đoàn thanh tra về những vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm của đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cuộc thanh tra đã kết thúc, người ra quyết định thanh tra mới kiến nghị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự, thì hồ sơ kiến nghị khởi tố phải có Bản trích văn bản kết luận thanh tra về vụ việc vi phạm pháp luật mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. 3. Kèm theo hồ sơ kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra phải chuyển toàn bộ những tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ sách có liên quan cho Cơ quan điều tra. Những đồ vật, tiền, vàng liên quan trực tiếp đến vụ việc vi phạm pháp luật thu được trong quá trình thanh tra phải được quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Việc giao nhận hồ sơ và kiến nghị khởi tố giữa Cơ quan điều tra và Cơ quan thanh tra được tiến hành tại trụ sở Cơ quan thanh tra hoặc Cơ quan điều tra. Khi giao hồ sơ kiến nghị khởi tố sang Cơ quan điều tra, Cơ quan thanh tra phải lập bảng kê đầy đủ tên các tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ phải được lập biên bản giao nhận, người giao và người nhận ký biên bản và ghi rõ họ tên. Điều 8. Tổ chức thực hiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này. Định kỳ mỗi năm một lần, căn cứ tình hình kết quả công tác quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; Viện kiểm sát các cấp chủ trì tổ chức họp Lãnh đạo liên ngành Thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để đánh giá kết quả thực hiện Thông tư liên tịch và rút kinh nghiệm về sự phối hợp trong công tác phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố, đồng thời bàn biện pháp phối hợp tiếp theo. Điều 9. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 6 tháng 5 năm 2012 và thay thế Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT - VKSTC - TTCP - BCA - BQP ngày 23 tháng 5 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn bổ sung thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thanh tra địa phương phản ánh về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh
02/2013/TT-BCA
05/01/2013
Thông tư
20/03/2013
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh Căn cứ Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Căn cứ Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28-5-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Căn cứ Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17-8-2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg ngày 28-02-2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC; Căn cứ Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 12-5-2009 của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam; Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BCA-BQP-BNG-BLĐTBXH ngày 08-5-2008 hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh. Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng 1. Thông tư này ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh. 2. Đối tượng áp dụng là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài; cá nhân nước ngoài, công dân Việt Nam có liên quan đến việc giải quyết xuất nhập cảnh. Điều 2. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú 1. Công văn trả lời đề nghị xét duyệt nhân sự người nước ngoài nhập cảnh (mẫu N4A). 2. Công văn trả lời đề nghị kiểm tra nhân sự người nước ngoài nhập cảnh (mẫu N4B). 3. Công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế (mẫu N4C). 4. Bản FAX thông báo cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách (mẫu N4D). 5. Phiếu yêu cầu điện báo (mẫu N4E). 6. Thị thực dán (mẫu N6A). 7. Thị thực rời (mẫu N6B). 8. Dấu gia hạn tạm trú (mẫu N6C). 9. Giấy báo tin (về việc người nước ngoài xin thường trú) (mẫu N11A). 10. Phiếu khai báo tạm trú (mẫu N12). 11. Danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú (mẫu N13). 12. Lệnh trục xuất (mẫu N14). 13. Công văn đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N15A). 14. Đơn đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N15B). 15. Giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N16). 16. Tờ khai đề nghị cấp Giấy miễn thị thực (N19). 17. Giấy bảo lãnh (mẫu N20). 18. Công văn trả lời nhân sự người nước ngoài đề nghị cấp Giấy miễn thị thực (mẫu N21). 19. Giấy miễn thị thực loại dán (mẫu N22A). 20. Giấy miễn thị thực loại quyển (mẫu N22B). Điều 3. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam 1. Giấy chấp thuận cho đăng ký thường trú vào nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân (mẫu TT02). 2. Công văn gửi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông báo kết quả giải quyết cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam thường trú (mẫu TT04). 3. Công văn gửi cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thông báo kết quả giải quyết cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam thường trú (mẫu TT05). 4. Giấy báo tin (mẫu TT06). 5. Giấy giới thiệu (mẫu TT07). Điều 4. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về 1. Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu TK-PNTE). 2. Biên bản giao, nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu BBGN-PNTE). 3. Giấy chứng nhận về nước cấp cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu CN-PNTE (A) do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp. 4. Giấy chứng nhận về nước cấp cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu CN-PNTE (PA) do Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp. Điều 5. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh, nhập cảnh 1. Giấy trình báo mất thẻ ABTC ở trong nước (mẫu X06). 2. Giấy trình báo mất thẻ ABTC ở nước ngoài (mẫu X07). 3. Tem miễn thị thực, ký hiệu “AB” Điều 6. Hướng dẫn sử dụng các loại mẫu 1. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu cấp các loại giấy tờ về xuất nhập cảnh được Cục quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ Công an), Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp các loại mẫu giấy tờ về xuất nhập cảnh hoặc tự truy cập trên trang thông tin điện tử của Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Web ) để in và sử dụng. 2. Các mẫu giấy tờ về xuất nhập cảnh phải được in, chụp và sử dụng theo đúng quy cách và nội dung từng mẫu quy định tại các Điều 2, 3, 4 và 5 của Thông tư này. Điều 7. In và quản lý các loại mẫu giấy tờ Giao cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh chịu trách nhiệm: 1. In các loại mẫu ấn phẩm trắng (thị thực, thẻ tạm trú, thẻ thường trú, tem AB...) để giải quyết nhu cầu xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài và công dân Việt Nam tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 2. In và cung cấp các loại ấn phẩm trắng cho Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) để giải quyết nhu cầu xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài và công dân Việt Nam tại Cục Lãnh sự và ở nước ngoài. 3. Cung cấp các loại mẫu và hướng dẫn Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương in và cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người nước ngoài, công dân Việt Nam có nhu cầu xuất nhập cảnh, cư trú làm thủ tục tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. 4. Cung cấp các loại mẫu giấy tờ để Cục lãnh sự hướng dẫn cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài in và cấp cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có nhu cầu nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam. 5. Đăng tải các loại mẫu giấy tờ trên mạng thông tin điện tử của Cục quản lý xuất nhập cảnh để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người nước ngoài và công dân Việt Nam truy cập, khai thác, sử dụng. Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 3 năm 2013. Điều 9. Trách nhiệm thi hành 1. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Tổng cục An ninh I có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc, các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục An ninh I) để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=162493&Keyword=
2025-09-24T02:28:50.362460
../data\bocongan\022013TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh Căn cứ Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Căn cứ Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28 - 5 - 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Căn cứ Nghị định số 136/2007/NĐ - CP ngày 17 - 8 - 2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 - 9 - 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Quyết định số 45/2006/QĐ - TTg ngày 28 - 02 - 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC; Căn cứ Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT - BCA - BNG ngày 12 - 5 - 2009 của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam; Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT - BCA - BQP - BNG - BLĐTBXH ngày 08 - 5 - 2008 hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư về việc ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh. Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng 1. Thông tư này ban hành, hướng dẫn sử dụng và quản lý các loại mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý xuất nhập cảnh. 2. Đối tượng áp dụng là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài; cá nhân nước ngoài, công dân Việt Nam có liên quan đến việc giải quyết xuất nhập cảnh. Điều 2. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú 1. Công văn trả lời đề nghị xét duyệt nhân sự người nước ngoài nhập cảnh (mẫu N4A). 2. Công văn trả lời đề nghị kiểm tra nhân sự người nước ngoài nhập cảnh (mẫu N4B). 3. Công văn trả lời đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế (mẫu N4C). 4. Bản FAX thông báo cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách (mẫu N4D). 5. Phiếu yêu cầu điện báo (mẫu N4E). 6. Thị thực dán (mẫu N6A). 7. Thị thực rời (mẫu N6B). 8. Dấu gia hạn tạm trú (mẫu N6C). 9. Giấy báo tin (về việc người nước ngoài xin thường trú) (mẫu N11A). 10. Phiếu khai báo tạm trú (mẫu N12). 11. Danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú (mẫu N13). 12. Lệnh trục xuất (mẫu N14). 13. Công văn đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N15A). 14. Đơn đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N15B). 15. Giấy phép vào khu vực biên giới (mẫu N16). 16. Tờ khai đề nghị cấp Giấy miễn thị thực (N19). 17. Giấy bảo lãnh (mẫu N20). 18. Công văn trả lời nhân sự người nước ngoài đề nghị cấp Giấy miễn thị thực (mẫu N21). 19. Giấy miễn thị thực loại dán (mẫu N22A). 20. Giấy miễn thị thực loại quyển (mẫu N22B). Điều 3. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam 1. Giấy chấp thuận cho đăng ký thường trú vào nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân (mẫu TT02). 2. Công văn gửi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông báo kết quả giải quyết cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam thường trú (mẫu TT04). 3. Công văn gửi cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thông báo kết quả giải quyết cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam thường trú (mẫu TT05). 4. Giấy báo tin (mẫu TT06). 5. Giấy giới thiệu (mẫu TT07). Điều 4. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về 1. Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu TK - PNTE). 2. Biên bản giao, nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu BBGN - PNTE). 3. Giấy chứng nhận về nước cấp cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu CN - PNTE (A) do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp. 4. Giấy chứng nhận về nước cấp cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (mẫu CN - PNTE (PA) do Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp. Điều 5. Mẫu giấy tờ liên quan đến công tác quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh, nhập cảnh 1. Giấy trình báo mất thẻ ABTC ở trong nước (mẫu X06). 2. Giấy trình báo mất thẻ ABTC ở nước ngoài (mẫu X07). 3. Tem miễn thị thực, ký hiệu “AB” Điều 6. Hướng dẫn sử dụng các loại mẫu 1. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu cấp các loại giấy tờ về xuất nhập cảnh được Cục quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ Công an), Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp các loại mẫu giấy tờ về xuất nhập cảnh hoặc tự truy cập trên trang thông tin điện tử của Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Web ) để in và sử dụng. 2. Các mẫu giấy tờ về xuất nhập cảnh phải được in, chụp và sử dụng theo đúng quy cách và nội dung từng mẫu quy định tại các Điều 2, 3, 4 và 5 của Thông tư này. Điều 7. In và quản lý các loại mẫu giấy tờ Giao cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh chịu trách nhiệm: 1. In các loại mẫu ấn phẩm trắng (thị thực, thẻ tạm trú, thẻ thường trú, tem AB. . ) để giải quyết nhu cầu xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài và công dân Việt Nam tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 2. In và cung cấp các loại ấn phẩm trắng cho Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) để giải quyết nhu cầu xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài và công dân Việt Nam tại Cục Lãnh sự và ở nước ngoài. 3. Cung cấp các loại mẫu và hướng dẫn Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương in và cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người nước ngoài, công dân Việt Nam có nhu cầu xuất nhập cảnh, cư trú làm thủ tục tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. 4. Cung cấp các loại mẫu giấy tờ để Cục lãnh sự hướng dẫn cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài in và cấp cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có nhu cầu nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam. 5. Đăng tải các loại mẫu giấy tờ trên mạng thông tin điện tử của Cục quản lý xuất nhập cảnh để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người nước ngoài và công dân Việt Nam truy cập, khai thác, sử dụng. Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 3 năm 2013. Điều 9. Trách nhiệm thi hành 1. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Tổng cục An ninh I có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc, các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ (qua Tổng cục An ninh I) để có hướng dẫn kịp thời.
Hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân
02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
15/05/2013
Thông tư liên tịch
01/07/2013
Công báo số 299 + 300
06/06/2013
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân ____________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn cụ thể về đối tượng, nguyên tắc, thời điểm, điều kiện, mức giảm, hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị, quyết định và thi hành quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Điều 3. Nguyên tắc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Tuân thủ quy định của pháp luật; bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, khách quan, công bằng và có tác dụng khuyến khích phạm nhân thi đua cải tạo tiến bộ. 2. Phải căn cứ vào kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi và các đặc điểm nhân thân khác của phạm nhân. Những phạm nhân phạm tội lần đầu, cải tạo tốt, lập công chuộc tội được xét, đề nghị và quyết định mức giảm cao hơn những phạm nhân khác. Những phạm nhân bị kết án tử hình được ân giảm xuống tù chung thân, phạm nhân có nhiều tiền án, nhân thân xấu, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm thì phải có nhiều thời gian thử thách hơn và phải xem xét rất chặt chẽ với mức giảm thấp hơn so với phạm nhân khác. 3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chỉ được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo đúng danh sách và mức giảm đã được Hội đồng thẩm định của Cơ quan thi hành án Công an cấp tỉnh, cấp quân khu, Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng duyệt. Điều 4. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư liên tịch này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Trường hợp đặc biệt là các trường hợp phạm nhân đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. 2. Lập công là có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra và xử lý tội phạm; cứu được tính mạng của người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản có giá trị từ 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. 3. Đã quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên bị bệnh, phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện nhiều lần trong thời gian dài (từ ba tháng trở lên) và không có khả năng tự phục vụ bản thân. 4. Mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong các bệnh như: Ưng thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng. Điều 5. Thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 (ba) đợt, vào các dịp: Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (2/9) và tết Nguyên đán. Đối với các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù vào dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày hội quốc phòng toàn dân (22/12) thay cho dịp tết Nguyên đán. 2. Đối với những trường hợp đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà trong năm đó lại lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì việc đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không phụ thuộc vào thời điểm quy định tại khoản 1 của Điều này. Chương II ĐIỀU KIỆN, MỨC GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 6. Điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân có đủ các điều kiện sau đây thì được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù: a) Đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười hai năm đối với tù chung thân; b) Có nhiều tiến bộ thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên, cụ thể như sau: - Phạm nhân bị phạt tù chung thân phải có ít nhất bốn năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm thời hạn được xếp loại từ khá trở lên. Trường hợp bị kết án tử hình được Chủ tịch nước ân giảm xuống tù chung thân phải có ít nhất năm năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên hai mươi năm đến ba mươi năm phải có ít nhất ba năm sáu tháng liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên mười lăm năm đến hai mươi năm phải có ít nhất ba năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên mười năm đến mười lăm năm phải có ít nhất hai năm liên tục liền kề hoặc tám quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên năm năm đến mười năm phải có ít nhất một năm hoặc bốn quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên ba năm đến năm năm phải có ít nhất sáu tháng hoặc hai quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù ba năm trở xuống phải có ít nhất một quý gần nhất được xếp loại từ khá trở lên. 2. Phạm nhân được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt hoặc người chưa thành niên phạm tội, so với quy định tại điểm b khoản 1 Điều này còn thiếu một năm đầu tiên xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên của thời gian liền kề thời điểm xét giảm (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên mười lăm năm trở lên), thiếu một kỳ sáu tháng đầu tiên xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm), thiếu một quý đầu tiên xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên ba năm đến năm năm) hoặc chưa được xếp loại chấp hành án phạt tù (đối với phạm nhân bị phạt tù từ ba năm trở xuống) nhưng thời gian bị tạm giữ, tạm giam hoặc ở trại giam được nhận xét là chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và có đủ các điều kiện khác thì vẫn có thể được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 3. Phạm nhân có đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, phạm nhân thuộc trường hợp đặc biệt hoặc người chưa thành niên phạm tội có số kỳ được xếp loại từ khá trở lên bằng hoặc nhiều hơn so với quy định tại điểm b khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng không liên tục, vẫn có thể được xem xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu có ít nhất hai kỳ sáu tháng liên tục liền kề với thời điểm đề nghị xét giảm được xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù trên mười năm) hoặc hai quý liên tục được xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ mười năm trở xuống). 4. Phạm nhân có tiền án phải có thời gian thử thách nhiều hơn và có số kỳ xếp loại từ khá trở lên nhiều hơn so với những phạm nhân chưa có tiền án, ứng với mỗi tiền án là một kỳ sáu tháng xếp loại từ khá trở lên. Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 3 năm trở xuống, ứng với mồi tiền án là một quý xếp loại từ khá trở lên. 5. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù phải liên tục được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên mới được tiếp tục xem xét, đề nghị giám thời hạn đúng đợt. Trường hợp không đủ điều kiện để được xét giảm đúng đợt thì được xem xét, đề nghị giảm thời hạn khi có đủ bốn quý xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên (trong đó phải có ít nhất hai quý liền kề thời điểm xét giảm). 6. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật, sau khi được Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện công nhận đã cải tạo tiến bộ và có đủ bốn quý liền kề (đối với phạm nhân bị kỷ luật khiển trách hai lần trong kỳ xếp loại hoặc kỷ luật cảnh cáo) hoặc năm quý liền kề (đối với phạm nhân bị giam tại buồng kỷ luật) được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên thì mới được tiếp tục xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 7. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì phải chấp hành được ít nhất hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là tù chung thân và phải có đủ điều kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này mới được xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 8. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc người đang được áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc được bảo lưu kết quả chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với thời gian sau khi trở lại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án. Khi những người này trở lại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án, nếu có đủ điều kiện quy định tại các khoản nêu trên của Điều này và trong thời gian được tạm đình chỉ hoặc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, được chính quyền địa phương nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù về cư trú hoặc cơ sở y tế điều trị cho người được áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc xác nhận thì mới được xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Điều 7. Mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân bị phạt tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm. 2. Phạm nhân bị phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mỗi lần có thể được giảm từ một tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là những phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và lập công hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, học tập cải tạo. 3. Mỗi năm một phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù một lần, khoảng cách giữa hai lần xét giảm ít nhất là một năm. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ một năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn trước một đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm một lần. Trường hợp sau khi đã được giảm thời hạn mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm thêm nhưng không được quá hai lần trong một năm. 4. Mỗi phạm nhân có thể được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành án phạt tù được một phần hai mức hình phạt tù có thời hạn đã tuyên hoặc hai mươi năm đối với hình phạt tù chung thân. Điều 8. Giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt 1. Phạm nhân đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên đối với án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười năm đối với tù chung thân và có đủ điều kiện về xếp loại chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này, có thể được xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Phạm nhân đã lập công. Mỗi lần lập công, phạm nhân chỉ được xem xét, đề nghị giảm thời hạn một lần; b) Phạm nhân đã quá già yếu; c) Phạm nhân mắc bệnh hiểm nghèo. 2. Mức giảm mỗi lần cao nhất cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án phạt tù ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân. 3. Trong trường hợp đặc biệt, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phạm nhân có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức giảm cao hơn so với quy định ở khoản 1, khoản 2 Điều này. Điều 9. Giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội 1. Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội nếu đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên và có đủ điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này thì có thể được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 2. Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm ngay mà không cần điều kiện đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên. 3. Mức giảm mỗi lần cao nhất đối với phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên. 4. Phạm nhân là người chưa thành niên, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà sau khi được xét giảm, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại không quá một năm thì có thể được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ XÉT GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 10. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Các trại giam thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục, hồ sơ làm ủy viên thường trực, Đội trưởng Giáo dục và hồ sơ làm Ủy viên thư ký và các Ủy viên gồm: Các Phó Giám thị; các Trưởng phân trại; Đội trưởng các đội: Tham mưu, Cảnh sát quản giáo, Trinh sát, Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Kế hoạch, hướng nghiệp, dạy nghề và xây dựng, Hậu cần, tài vụ, Y tế và bảo vệ môi trường. Trại giam có từ hai phân trại trở lên thì thành lập Tiểu ban xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của phân trại do Phó Giám thị phụ trách phân trại làm Trưởng tiểu ban, cán bộ giáo dục phân trại làm Ủy viên thư ký và các ủy viên khác gồm: Trưởng phân trại, Tổ trưởng Cảnh sát quản giáo, cán bộ trinh sát, y tế và Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ của phân trại. 2. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên thường trực, Trưởng phân trại quản lý phạm nhân, Đội trưởng Đội Quản giáo, Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ, cán bộ trinh sát, giáo dục, y tế của Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên và Đội trưởng Đội Tham mưu làm ủy viên thư ký. 3. Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, cán bộ quản giáo, y tế là ủy viên và cán bộ tổng hợp của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện là ủy viên thư ký. 4. Các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc thuộc quân khu thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị làm Ủy viên thường trực, Trợ lý giam giữ làm thư ký và các ủy viên gồm: Chính trị viên, Đội trưởng Quản giáo, Đội trưởng Vệ binh, Quân y, Văn thư. Điều 11. Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam và trại tạm giam thuộc Bộ Công an. Thành phần Hội đồng gồm có: Cục trưởng Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng, Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp làm Chủ tịch, một Phó Cục trưởng Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng phụ trách công tác xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù làm Ủy viên thường trực, Trưởng phòng Công tác đặc xá, giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thuộc Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng làm Ủy viên thư ký và một Phó Trưởng phòng Công tác đặc xá, giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thuộc Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng, một đại diện lãnh đạo cấp phòng của Cục Quản lý phạm nhân, trại viên làm ủy viên. 2. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại tạm giam Công an cấp tỉnh và Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Các thành viên Hội đồng gồm có: Trưởng phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, Phó Trưởng phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phụ trách công tác thi hành án hình sự là Ủy viên thư ký và các Ủy viên là đại diện lãnh đạo Văn phòng Công an cấp tỉnh, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra. 3. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc quân khu. Điều 12. Lập hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Trước thời điểm xét giảm quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này, ít nhất là hai mươi ngày, các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí cho cán bộ quản giáo tổ chức họp đội phạm nhân để bình xét, giới thiệu, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho những người có đủ điều kiện và biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Cuộc họp phải được lập biên bản, có chữ ký của cán bộ quản giáo và phạm nhân ghi biên bản. Trên cơ sở kết quả họp đội phạm nhân, cán bộ quản giáo lập danh sách và đề xuất mức giảm cho từng phạm nhân để báo cáo trước Tiểu ban của phân trại (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có ít phạm nhân thì cán bộ quản giáo không tổ chức họp mà kiểm tra, rà soát, lập danh sách phạm nhân có đủ điều kiện xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. 2. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện họp nghe báo cáo kết quả xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các Tiểu ban (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc của cán bộ quản giáo phụ trách đội phạm nhân và xét duyệt, đề nghị giảm thời hạn cho từng phạm nhân, sau đó hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách do Chủ tịch Hội đồng ký. 3. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam thuộc quân khu, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đến Hội đồng thẩm định có thẩm quyền để thẩm định. 4. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật Thi hành án hình sự. Điều 13. Thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Trại giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để thẩm định. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách đến Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý để xét duyệt, sau đó chuyển cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thẩm định. Hội đồng thẩm định tổ chức họp để thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam chuyển đến. Đối với trường hợp người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù là phạm nhân phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Hội đồng thẩm định phải mời đại diện Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an dự họp hoặc gửi văn bản đề nghị cho ý kiến trước khi Hội đồng họp. Sau khi thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam, Hội đồng tổng hợp kết quả và báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt. Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoàn thành hồ sơ, danh sách, làm văn bản để nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định, đồng thời gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 2. Giám thị trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh và Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định của Hội đồng, Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an cấp tỉnh phối hợp với trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, đồng thời chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để thực hiện chức năng kiểm sát. 3. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để thẩm định. Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam chuyển đến và tổng hợp kết quả, báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng duyệt. Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu nơi trại giam, trại tạm giam đóng xem xét, quyết định; đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 4. Trại giam thuộc quân khu chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của quân khu để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định, kiểm tra của Hội đồng, Giám thị trại giam thuộc quân khu có văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định, đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 5. Trại tạm giam thuộc quân khu chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của quân khu để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định, kiểm tra của Hội đồng, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với trại tạm giam hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định; đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. Điều 14. Giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định xét giảm của Tòa án Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định giảm của Tòa án, thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải báo cáo kịp thời với Thủ trưởng cơ quan thẩm định quy định tại Điều 13 của Thông tư liên tịch này, Tòa án có thẩm quyền xét giảm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Chương IV XÉT GIẢM VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 15. Xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán, có sự tham gia của Kiểm sát viên cùng cấp. Hội đồng có thể họp tại trụ sở Tòa án hoặc tại trại giam, trại tạm giam nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù. 2. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được tiến hành như sau: - Một thành viên của Hội đồng trình bày hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gửi đến; - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến; - Hội đồng thảo luận và xem xét, quyết định. 3. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng quyết định: a) Không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; b) Chấp nhận toàn bộ hoặc một phần đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Hội đồng không được quyết định mức giảm cao hơn mức đề nghị của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu hoặc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; c) Đối với phạm nhân được đề nghị xét giảm, đến ngày Hội đồng họp xét giảm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại không quá một tháng, thì Hội đồng có thể quyết định giảm hết thời hạn tù còn lại. Điều 16. Kháng nghị và phúc thẩm quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Việc phúc thẩm quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 253 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 17. Thi hành Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp thời gian được giảm bằng thời hạn tù còn lại phải chấp hành thì quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành ngay. 2. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức công bố công khai quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho toàn thể phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ biết và làm thủ tục trừ thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân để lưu hồ sơ phạm nhân. 3. Sau khi công bố quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu tổng hợp tình hình, kết quả cụ thể báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để theo dõi, chỉ đạo. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân, Tòa án Quân sự, Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát Quân sự chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=44349&Keyword=
2025-09-24T02:34:36.745579
../data\bocongan\022013TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân ____________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn cụ thể về đối tượng, nguyên tắc, thời điểm, điều kiện, mức giảm, hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị, quyết định và thi hành quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Điều 3. Nguyên tắc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Tuân thủ quy định của pháp luật; bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, khách quan, công bằng và có tác dụng khuyến khích phạm nhân thi đua cải tạo tiến bộ. 2. Phải căn cứ vào kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù, tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi và các đặc điểm nhân thân khác của phạm nhân. Những phạm nhân phạm tội lần đầu, cải tạo tốt, lập công chuộc tội được xét, đề nghị và quyết định mức giảm cao hơn những phạm nhân khác. Những phạm nhân bị kết án tử hình được ân giảm xuống tù chung thân, phạm nhân có nhiều tiền án, nhân thân xấu, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm thì phải có nhiều thời gian thử thách hơn và phải xem xét rất chặt chẽ với mức giảm thấp hơn so với phạm nhân khác. 3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chỉ được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo đúng danh sách và mức giảm đã được Hội đồng thẩm định của Cơ quan thi hành án Công an cấp tỉnh, cấp quân khu, Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng duyệt. Điều 4. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư liên tịch này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Trường hợp đặc biệt là các trường hợp phạm nhân đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. 2. Lập công là có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra và xử lý tội phạm; cứu được tính mạng của người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản có giá trị từ 30. 000. 000đ (ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. 3. Đã quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên bị bệnh, phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện nhiều lần trong thời gian dài (từ ba tháng trở lên) và không có khả năng tự phục vụ bản thân. 4. Mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong các bệnh như: Ưng thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng. Điều 5. Thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 (ba) đợt, vào các dịp: Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (2/9) và tết Nguyên đán. Đối với các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù vào dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày hội quốc phòng toàn dân (22/12) thay cho dịp tết Nguyên đán. 2. Đối với những trường hợp đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà trong năm đó lại lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì việc đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không phụ thuộc vào thời điểm quy định tại khoản 1 của Điều này. Chương II ĐIỀU KIỆN, MỨC GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 6. Điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân có đủ các điều kiện sau đây thì được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù: a) Đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười hai năm đối với tù chung thân; b) Có nhiều tiến bộ thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên, cụ thể như sau: - Phạm nhân bị phạt tù chung thân phải có ít nhất bốn năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm thời hạn được xếp loại từ khá trở lên. Trường hợp bị kết án tử hình được Chủ tịch nước ân giảm xuống tù chung thân phải có ít nhất năm năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên hai mươi năm đến ba mươi năm phải có ít nhất ba năm sáu tháng liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên mười lăm năm đến hai mươi năm phải có ít nhất ba năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên mười năm đến mười lăm năm phải có ít nhất hai năm liên tục liền kề hoặc tám quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên năm năm đến mười năm phải có ít nhất một năm hoặc bốn quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù trên ba năm đến năm năm phải có ít nhất sáu tháng hoặc hai quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên; - Phạm nhân bị phạt tù ba năm trở xuống phải có ít nhất một quý gần nhất được xếp loại từ khá trở lên. 2. Phạm nhân được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt hoặc người chưa thành niên phạm tội, so với quy định tại điểm b khoản 1 Điều này còn thiếu một năm đầu tiên xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên của thời gian liền kề thời điểm xét giảm (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên mười lăm năm trở lên), thiếu một kỳ sáu tháng đầu tiên xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm), thiếu một quý đầu tiên xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên ba năm đến năm năm) hoặc chưa được xếp loại chấp hành án phạt tù (đối với phạm nhân bị phạt tù từ ba năm trở xuống) nhưng thời gian bị tạm giữ, tạm giam hoặc ở trại giam được nhận xét là chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và có đủ các điều kiện khác thì vẫn có thể được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 3. Phạm nhân có đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, phạm nhân thuộc trường hợp đặc biệt hoặc người chưa thành niên phạm tội có số kỳ được xếp loại từ khá trở lên bằng hoặc nhiều hơn so với quy định tại điểm b khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng không liên tục, vẫn có thể được xem xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu có ít nhất hai kỳ sáu tháng liên tục liền kề với thời điểm đề nghị xét giảm được xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù trên mười năm) hoặc hai quý liên tục được xếp loại từ khá trở lên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ mười năm trở xuống). 4. Phạm nhân có tiền án phải có thời gian thử thách nhiều hơn và có số kỳ xếp loại từ khá trở lên nhiều hơn so với những phạm nhân chưa có tiền án, ứng với mỗi tiền án là một kỳ sáu tháng xếp loại từ khá trở lên. Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 3 năm trở xuống, ứng với mồi tiền án là một quý xếp loại từ khá trở lên. 5. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù phải liên tục được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên mới được tiếp tục xem xét, đề nghị giám thời hạn đúng đợt. Trường hợp không đủ điều kiện để được xét giảm đúng đợt thì được xem xét, đề nghị giảm thời hạn khi có đủ bốn quý xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên (trong đó phải có ít nhất hai quý liền kề thời điểm xét giảm). 6. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật, sau khi được Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện công nhận đã cải tạo tiến bộ và có đủ bốn quý liền kề (đối với phạm nhân bị kỷ luật khiển trách hai lần trong kỳ xếp loại hoặc kỷ luật cảnh cáo) hoặc năm quý liền kề (đối với phạm nhân bị giam tại buồng kỷ luật) được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên thì mới được tiếp tục xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 7. Phạm nhân đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì phải chấp hành được ít nhất hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là tù chung thân và phải có đủ điều kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này mới được xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 8. Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc người đang được áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc được bảo lưu kết quả chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với thời gian sau khi trở lại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án. Khi những người này trở lại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án, nếu có đủ điều kiện quy định tại các khoản nêu trên của Điều này và trong thời gian được tạm đình chỉ hoặc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, được chính quyền địa phương nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù về cư trú hoặc cơ sở y tế điều trị cho người được áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc xác nhận thì mới được xem xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Điều 7. Mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân bị phạt tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm. 2. Phạm nhân bị phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mỗi lần có thể được giảm từ một tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là những phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và lập công hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, học tập cải tạo. 3. Mỗi năm một phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù một lần, khoảng cách giữa hai lần xét giảm ít nhất là một năm. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ một năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn trước một đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm một lần. Trường hợp sau khi đã được giảm thời hạn mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm thêm nhưng không được quá hai lần trong một năm. 4. Mỗi phạm nhân có thể được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành án phạt tù được một phần hai mức hình phạt tù có thời hạn đã tuyên hoặc hai mươi năm đối với hình phạt tù chung thân. Điều 8. Giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt 1. Phạm nhân đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên đối với án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười năm đối với tù chung thân và có đủ điều kiện về xếp loại chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này, có thể được xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Phạm nhân đã lập công. Mỗi lần lập công, phạm nhân chỉ được xem xét, đề nghị giảm thời hạn một lần; b) Phạm nhân đã quá già yếu; c) Phạm nhân mắc bệnh hiểm nghèo. 2. Mức giảm mỗi lần cao nhất cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án phạt tù ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân. 3. Trong trường hợp đặc biệt, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phạm nhân có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức giảm cao hơn so với quy định ở khoản 1, khoản 2 Điều này. Điều 9. Giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội 1. Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội nếu đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên và có đủ điều kiện quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này thì có thể được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. 2. Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm ngay mà không cần điều kiện đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên. 3. Mức giảm mỗi lần cao nhất đối với phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên. 4. Phạm nhân là người chưa thành niên, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà sau khi được xét giảm, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại không quá một năm thì có thể được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ XÉT GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 10. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Các trại giam thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục, hồ sơ làm ủy viên thường trực, Đội trưởng Giáo dục và hồ sơ làm Ủy viên thư ký và các Ủy viên gồm: Các Phó Giám thị; các Trưởng phân trại; Đội trưởng các đội: Tham mưu, Cảnh sát quản giáo, Trinh sát, Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Kế hoạch, hướng nghiệp, dạy nghề và xây dựng, Hậu cần, tài vụ, Y tế và bảo vệ môi trường. Trại giam có từ hai phân trại trở lên thì thành lập Tiểu ban xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của phân trại do Phó Giám thị phụ trách phân trại làm Trưởng tiểu ban, cán bộ giáo dục phân trại làm Ủy viên thư ký và các ủy viên khác gồm: Trưởng phân trại, Tổ trưởng Cảnh sát quản giáo, cán bộ trinh sát, y tế và Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ của phân trại. 2. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên thường trực, Trưởng phân trại quản lý phạm nhân, Đội trưởng Đội Quản giáo, Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ, cán bộ trinh sát, giáo dục, y tế của Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên và Đội trưởng Đội Tham mưu làm ủy viên thư ký. 3. Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, cán bộ quản giáo, y tế là ủy viên và cán bộ tổng hợp của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện là ủy viên thư ký. 4. Các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc thuộc quân khu thành lập Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị làm Ủy viên thường trực, Trợ lý giam giữ làm thư ký và các ủy viên gồm: Chính trị viên, Đội trưởng Quản giáo, Đội trưởng Vệ binh, Quân y, Văn thư. Điều 11. Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam và trại tạm giam thuộc Bộ Công an. Thành phần Hội đồng gồm có: Cục trưởng Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng, Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp làm Chủ tịch, một Phó Cục trưởng Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng phụ trách công tác xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù làm Ủy viên thường trực, Trưởng phòng Công tác đặc xá, giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thuộc Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng làm Ủy viên thư ký và một Phó Trưởng phòng Công tác đặc xá, giảm thời hạn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thuộc Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng, một đại diện lãnh đạo cấp phòng của Cục Quản lý phạm nhân, trại viên làm ủy viên. 2. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại tạm giam Công an cấp tỉnh và Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Các thành viên Hội đồng gồm có: Trưởng phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, Phó Trưởng phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phụ trách công tác thi hành án hình sự là Ủy viên thư ký và các Ủy viên là đại diện lãnh đạo Văn phòng Công an cấp tỉnh, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra. 3. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thành lập và làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc quân khu. Điều 12. Lập hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Trước thời điểm xét giảm quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này, ít nhất là hai mươi ngày, các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí cho cán bộ quản giáo tổ chức họp đội phạm nhân để bình xét, giới thiệu, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho những người có đủ điều kiện và biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Cuộc họp phải được lập biên bản, có chữ ký của cán bộ quản giáo và phạm nhân ghi biên bản. Trên cơ sở kết quả họp đội phạm nhân, cán bộ quản giáo lập danh sách và đề xuất mức giảm cho từng phạm nhân để báo cáo trước Tiểu ban của phân trại (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có ít phạm nhân thì cán bộ quản giáo không tổ chức họp mà kiểm tra, rà soát, lập danh sách phạm nhân có đủ điều kiện xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, báo cáo Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. 2. Hội đồng xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện họp nghe báo cáo kết quả xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các Tiểu ban (đối với các trại giam có thành lập Tiểu ban) hoặc của cán bộ quản giáo phụ trách đội phạm nhân và xét duyệt, đề nghị giảm thời hạn cho từng phạm nhân, sau đó hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách do Chủ tịch Hội đồng ký. 3. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam thuộc quân khu, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đến Hội đồng thẩm định có thẩm quyền để thẩm định. 4. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật Thi hành án hình sự. Điều 13. Thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Trại giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để thẩm định. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách đến Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý để xét duyệt, sau đó chuyển cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thẩm định. Hội đồng thẩm định tổ chức họp để thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam chuyển đến. Đối với trường hợp người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù là phạm nhân phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Hội đồng thẩm định phải mời đại diện Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an dự họp hoặc gửi văn bản đề nghị cho ý kiến trước khi Hội đồng họp. Sau khi thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam, Hội đồng tổng hợp kết quả và báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt. Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoàn thành hồ sơ, danh sách, làm văn bản để nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định, đồng thời gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 2. Giám thị trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh và Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho Hội đồng thẩm định của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định của Hội đồng, Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an cấp tỉnh phối hợp với trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, đồng thời chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để thực hiện chức năng kiểm sát. 3. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để thẩm định. Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định hồ sơ, danh sách đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam chuyển đến và tổng hợp kết quả, báo cáo Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng duyệt. Căn cứ kết quả thẩm định đã được Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng duyệt, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu nơi trại giam, trại tạm giam đóng xem xét, quyết định; đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 4. Trại giam thuộc quân khu chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của quân khu để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định, kiểm tra của Hội đồng, Giám thị trại giam thuộc quân khu có văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định, đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. 5. Trại tạm giam thuộc quân khu chuyển hồ sơ, danh sách đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của quân khu để thẩm định. Căn cứ kết quả thẩm định, kiểm tra của Hội đồng, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với trại tạm giam hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách, làm văn bản đề nghị Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định; đồng thời, gửi một bộ hồ sơ, danh sách đến Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật. Điều 14. Giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định xét giảm của Tòa án Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định giảm của Tòa án, thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải báo cáo kịp thời với Thủ trưởng cơ quan thẩm định quy định tại Điều 13 của Thông tư liên tịch này, Tòa án có thẩm quyền xét giảm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Chương IV XÉT GIẢM VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 15. Xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán, có sự tham gia của Kiểm sát viên cùng cấp. Hội đồng có thể họp tại trụ sở Tòa án hoặc tại trại giam, trại tạm giam nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù. 2. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được tiến hành như sau: - Một thành viên của Hội đồng trình bày hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù do trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gửi đến; - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến; - Hội đồng thảo luận và xem xét, quyết định. 3. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng quyết định: a) Không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; b) Chấp nhận toàn bộ hoặc một phần đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Hội đồng không được quyết định mức giảm cao hơn mức đề nghị của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu hoặc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; c) Đối với phạm nhân được đề nghị xét giảm, đến ngày Hội đồng họp xét giảm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại không quá một tháng, thì Hội đồng có thể quyết định giảm hết thời hạn tù còn lại. Điều 16. Kháng nghị và phúc thẩm quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Việc phúc thẩm quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 253 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 17. Thi hành Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 1. Quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp thời gian được giảm bằng thời hạn tù còn lại phải chấp hành thì quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành ngay. 2. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức công bố công khai quyết định của Tòa án về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho toàn thể phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ biết và làm thủ tục trừ thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân để lưu hồ sơ phạm nhân. 3. Sau khi công bố quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu tổng hợp tình hình, kết quả cụ thể báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để theo dõi, chỉ đạo. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân, Tòa án Quân sự, Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát Quân sự chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật
02/2013/TTLT-BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC-TANDTC
04/02/2013
Thông tư liên tịch
25/03/2013
Công báo số 129 + 130/2013
28/02/2013
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thứ trưởng
Doãn Mậu Diệp
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật _____________ Để phục vụ công tác phòng ng ừ a, xử lý, gi á o dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ch á nh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Thông tư này hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu thống kê về người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; bị xử lý hình sự; tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn hoặc biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng (gọi chung là số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật). 2. Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục Hệ thống chỉ tiêu thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án, Lao động - Thương binh và Xã hội và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Điều 3. Mục đích, yêu cầu thu thập, quản lý, cung cấp và sử d ụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chính sách, nhằm hạn chế tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. 2. Thu thập đầy đủ, kịp thời và chính xác số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; bị xử lý hình sự; tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn hoặc biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Điều 4. Nguyên tắc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên v i phạm pháp l uật 1. Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời. 2. Bảo đảm tính thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị tính, thời hạn và kỳ hạn thống kê. 3. Không trùng lặp, chồng chéo các số liệu, báo cáo thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. 4. Tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm bí mật nhà nước. Điều 5. Kinh phí thực hiện 1. Kinh phí thực hiện việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của các bộ, ngành theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. 2. Nội dung chi và mức chi thực hiện theo quy định tại Thông tư số 194/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 19/2012/TTLT-BTC-BKH & ĐT-BTTTT ngày 15/02/2012 của liên Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Thông tin và Truyền thông hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Chương II THU THẬP, QUẢN LÝ, CUNG CẤP, SỬ DỤNG SỐ LIỆU VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT Điều 6. Trách nh i ệm thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào Phụ lục Hệ thống chỉ tiêu thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật ban hành kèm theo Thông tư này tổ chức thực hiện việc thu thập số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật và cung cấp số liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu chung do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quản lý. Điều 7. Chế độ thu thập, cung cấp và quản lý số liệu ngư ờ i chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Việc thu thập số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật được thực hiện theo hai kỳ thống kê như sau: a) Kỳ sáu tháng (từ 01 tháng 01 đến hết 30 tháng 6); b) Kỳ một năm (từ 01 tháng 01 đến hết 31 tháng 12). 2. Chậm nhất là sau 30 ngày khi kết thúc kỳ thống kê, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm cung cấp số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp. 3. Số liệu người chưa thành niên vi phạm pháp luật do ngành nào thu thập, thì ngành đó có trách nhiệm quản lý. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm quản lý số liệu chung của hệ thống và là cơ quan đầu mối cung cấp số liệu của hệ thống cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 03 năm 2013. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. Điều 9. Trách nhiệm thi hành Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức thực hiện và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=43834&Keyword=
2025-09-24T02:34:48.472678
../data\bocongan\022013TTLT-BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật _____________ Để phục vụ công tác phòng ng ừ a, xử lý, gi á o dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ch á nh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Thông tư này hướng dẫn việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu thống kê về người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; bị xử lý hình sự; tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn hoặc biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng (gọi chung là số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật). 2. Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục Hệ thống chỉ tiêu thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án, Lao động - Thương binh và Xã hội và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Điều 3. Mục đích, yêu cầu thu thập, quản lý, cung cấp và sử d ụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chính sách, nhằm hạn chế tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. 2. Thu thập đầy đủ, kịp thời và chính xác số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; bị xử lý hình sự; tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn hoặc biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Điều 4. Nguyên tắc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên v i phạm pháp l uật 1. Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời. 2. Bảo đảm tính thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị tính, thời hạn và kỳ hạn thống kê. 3. Không trùng lặp, chồng chéo các số liệu, báo cáo thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật. 4. Tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm bí mật nhà nước. Điều 5. Kinh phí thực hiện 1. Kinh phí thực hiện việc thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của các bộ, ngành theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành. 2. Nội dung chi và mức chi thực hiện theo quy định tại Thông tư số 194/2012/TT - BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 19/2012/TTLT - BTC - BKH & ĐT - BTTTT ngày 15/02/2012 của liên Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Thông tin và Truyền thông hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Chương II THU THẬP, QUẢN LÝ, CUNG CẤP, SỬ DỤNG SỐ LIỆU VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT Điều 6. Trách nh i ệm thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào Phụ lục Hệ thống chỉ tiêu thống kê số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật ban hành kèm theo Thông tư này tổ chức thực hiện việc thu thập số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật và cung cấp số liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu chung do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý. Điều 7. Chế độ thu thập, cung cấp và quản lý số liệu ngư ờ i chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Việc thu thập số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật được thực hiện theo hai kỳ thống kê như sau: a) Kỳ sáu tháng (từ 01 tháng 01 đến hết 30 tháng 6); b) Kỳ một năm (từ 01 tháng 01 đến hết 31 tháng 12). 2. Chậm nhất là sau 30 ngày khi kết thúc kỳ thống kê, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm cung cấp số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp. 3. Số liệu người chưa thành niên vi phạm pháp luật do ngành nào thu thập, thì ngành đó có trách nhiệm quản lý. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm quản lý số liệu chung của hệ thống và là cơ quan đầu mối cung cấp số liệu của hệ thống cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 8. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 03 năm 2013. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. Điều 9. Trách nhiệm thi hành Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức thực hiện và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. /.
Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự
02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG
16/08/2013
Thông tư liên tịch
01/11/2013
Công báo số 629+630, năm 2013
01/10/2013
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Trần Công Phàn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự __________________ Căn cứ Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007; Căn cứ Điều 345, Điều 346 Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao thống nhất hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn về điều kiện, nguyên tắc, trình tự, thủ tục tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Tương trợ tư pháp. Điều 2. Điều kiện tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng Việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phải có đủ các điều kiện sau: 1. Người bị yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, đang bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam điều tra, truy tố hoặc xét xử nhưng đã trốn khỏi Việt Nam đến nước mà người đó mang quốc tịch hoặc nước khác (nước mà người phạm tội đang có mặt, sau đây viết tắt là nước ngoài). 2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã yêu cầu nước ngoài dẫn độ về Việt Nam, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước đó từ chối việc dẫn độ. Điều 3. Nguyên tắc chuyển giao hồ sơ, vật chứng Việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc sau: 1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo an ninh chính trị của Việt Nam. 2. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp tập quán quốc tế. 3. Đảm bảo bí mật nhà nước; chế độ bảo mật thông tin, tài liệu, vật chứng của vụ án. 4. Không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khác trong cùng vụ án hoặc việc giải quyết vụ án khác tại Việt Nam. 5. Tài liệu, vật chứng chuyển giao là những tài liệu, vật chứng không thể thiếu để phục vụ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Điều 4. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại 1. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu chưa là thành viên của điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội (sau đây viết tắt là hồ sơ) đến Bộ Ngoại giao để xem xét, quyết định việc đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại. 2. Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Ngoại giao xem xét và đưa ra một trong các quyết định quy định tại Khoản 3 hoặc Khoản 4 Điều này. Đối với trường hợp cần thiết phải lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại thì thời hạn này không quá hai mươi ngày làm việc. 3. Trường hợp quyết định đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Ngoại giao có Công hàm đề nghị nước được yêu cầu áp dụng nguyên tắc có đi có lại kèm theo hồ sơ thông qua cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước được yêu cầu hoặc cơ quan đại diện của nước được yêu cầu tại Việt Nam; đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết. 4. Trường hợp quyết định không đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại, trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ khi quyết định, Bộ Ngoại giao gửi trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu rõ lý do. 5. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được trả lời chính thức của nước ngoài về việc đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết và phối hợp thực hiện. 6. Trường hợp nước ngoài đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại với những điều kiện kèm theo, Bộ Ngoại giao gửi văn bản tham khảo ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp phải có ý kiến trả lời bằng văn bản trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại với những điều kiện kèm theo của nước ngoài trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, có Công hàm trả lời cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và gửi một bản sao Công hàm đó cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết để phối hợp. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TIẾP NHẬN, CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG Mục 1 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TIẾP NHẬN, CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA VIỆT NAM Điều 5. Lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội 1. Khi yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu (sau đây viết tắt là cơ quan yêu cầu) phải lập hồ sơ. 2. Hồ sơ gồm có: a) Công văn của cơ quan yêu cầu đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét việc chuyển hồ sơ cho nước ngoài; b) Văn bản yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội do cơ quan yêu cầu lập theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này; c) Sao y bản chính hồ sơ gốc của vụ án trong trường hợp vụ án không có đồng phạm hoặc trong trường hợp có đồng phạm, hồ sơ vụ án của người bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được tách, trích lập riêng theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch này; d) Các tài liệu chứng minh đối tượng đang có mặt tại nước được yêu cầu; đ) Văn bản từ chối dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu đã có Hiệp định về dẫn độ và đối tượng bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của Hiệp định thì cơ quan yêu cầu viện dẫn quy định đó trong Công văn gửi kèm thay cho văn bản từ chối dẫn độ; e) Các tài liệu, vật chứng cần thiết khác có liên quan. 3. Hồ sơ phải được đánh số bút lục và có danh mục tài liệu, vật chứng kèm theo (nếu có) và được lập thành 03 bộ. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm dịch hồ sơ ra ngôn ngữ phù hợp theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp. Trường hợp cơ quan yêu cầu không xác định được ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận thì gửi văn bản đến Bộ Ngoại giao đề nghị xác định. 4. Chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động lập hồ sơ, dịch thuật, chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao do cơ quan yêu cầu chi trả từ ngân sách nhà nước. Điều 6. Xử lý vụ án có đồng phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam Trường hợp vụ án có đồng phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam thì căn cứ vào việc quyết định yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan yêu cầu tách hoặc trích lập riêng hồ sơ vụ án đối với người đó trước khi lập hồ sơ gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Việc tách hoặc trích lập hồ sơ vụ án của người bị yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này. Điều 7. Hình thức chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm chuyển trực tiếp hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc qua đường bưu điện. 2. Trường hợp chuyển trực tiếp thì việc giao, nhận phải được lập thành biên bản, nêu rõ các nội dung sau: a) Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giao, nhận hồ sơ; b) Tên cơ quan yêu cầu; họ, tên, chức vụ của người chuyển giao; c) Tên cơ quan tiếp nhận; họ, tên, chức vụ của người tiếp nhận; d) Các tài liệu có trong hồ sơ theo danh mục tài liệu đã được liệt kê; số lượng trang có trong hồ sơ đã được đánh số bút lục; đ) Chủng loại vật chứng và tình trạng vật chứng (vật chứng đi kèm hồ sơ hay đang thuộc trách nhiệm bảo quản của cơ quan nào) được nêu trong danh mục vật chứng. 3. Trường hợp chuyển qua đường bưu điện, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm kiểm tra tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ trước khi thụ lý. Trường hợp qua kiểm tra phát hiện tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ bị thiếu hoặc không phù hợp với bản kê danh mục tài liệu, vật chứng thì phải thông báo ngay cho cơ quan gửi hồ sơ để phối hợp giải quyết. 4. Ngày Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận hồ sơ được tính theo ngày ghi trong biên bản giao, nhận (trong trường hợp chuyển trực tiếp) hoặc ngày đến theo dấu của bưu điện (trong trường hợp chuyển theo đường bưu điện). Điều 8. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm: 1. Vào sổ thụ lý hồ sơ; 2. Kiểm tra tính đầy đủ và tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lại cho cơ quan yêu cầu và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ thiếu các tài liệu cần thiết thì yêu cầu bổ sung. Thời hạn bổ sung tài liệu không quá mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; 3. Xem xét, quyết định loại tài liệu, vật chứng chuyển giao cho nước ngoài theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này. Trường hợp tài liệu, vật chứng kèm theo hồ sơ nhưng xét thấy không cần thiết chuyển giao cho nước ngoài thì trả lại cho cơ quan yêu cầu; 4. Liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước được yêu cầu là thành viên; Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu chưa có điều ước quốc tế về lĩnh vực này thì đề nghị Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc đề nghị nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên cơ sở áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này; 5. Thông báo cho cơ quan yêu cầu biết về việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài. Nội dung thông báo phải cụ thể về thời gian, địa điểm chuyển giao; loại tài liệu, vật chứng chuyển giao; loại tài liệu, vật chứng không chuyển giao. Điều 9. Việc tiếp nhận, chuyển giao vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam 1. Trường hợp vật chứng kèm theo hồ sơ: a) Khi chuyển giao hồ sơ, cơ quan có trách nhiệm phải chuyển giao cả vật chứng kèm theo; b) Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm bảo quản vật chứng kèm theo trong thời gian quản lý hồ sơ. 2. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng: a) Cơ quan yêu cầu phải chụp ảnh hoặc ghi hình kèm theo mô tả vật chứng để đưa vào hồ sơ và thông báo cho cơ quan bảo quản vật chứng biết; b) Cơ quan đang bảo quản vật chứng có trách nhiệm tiếp tục bảo quản vật chứng cho đến khi có lệnh trích xuất vật chứng của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi có quyết định xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Mục 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG CHO NƯỚC NGOÀI Điều 10. Trách nhiệm liên hệ, chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài 1. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu đều là thành viên của Điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp liên hệ và chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài theo quy định của Điều ước quốc tế. 2. Trường hợp Việt Nam và nước được yêu cầu không cùng là thành viên của Điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có công văn kèm theo hồ sơ gửi đến Bộ Ngoại giao để thực hiện trách nhiệm liên hệ, chuyển giao cho nước được yêu cầu theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này. Điều 11. Thủ tục chuyển giao vật chứng cho nước ngoài 1. Nếu vật chứng cần chuyển giao cho nước ngoài kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao chuyển giao cả vật chứng đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. 2. Nếu vật chứng cần chuyển giao được bảo quản tại kho vật chứng thì giải quyết theo thủ tục sau: a) Chậm nhất là năm ngày làm việc trước ngày chuyển giao cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan yêu cầu biết về thời gian, địa điểm chuyển giao. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan bảo quản vật chứng thực hiện việc trích xuất và vận chuyển vật chứng theo đúng thời gian, địa điểm nêu trong thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; b) Trường hợp chuyển qua kênh ngoại giao, khi liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để thống nhất về việc chuyển giao, Bộ Ngoại giao cần lưu ý thời gian dành cho việc trích xuất, vận chuyển vật chứng ít nhất là bảy ngày làm việc trước ngày chuyển giao. Trong thời hạn hai ngày làm việc kể từ khi có được sự thống nhất về việc chuyển giao với nước ngoài, Bộ Ngoại giao thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết và phối hợp thực hiện việc chuyển giao. Việc thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho cơ quan yêu cầu để thực hiện trách nhiệm chủ trì, phối hợp thực hiện việc trích xuất, vận chuyển vật chứng được thực hiện theo quy định tại điểm a Khoản này. Điều 12. Hình thức chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài 1. Tùy theo từng trường hợp, việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. 2. Trường hợp chuyển giao trực tiếp, việc chuyển giao phải được lập thành biên bản, thể hiện đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ, danh mục và tình trạng vật chứng được chuyển giao, có chữ ký của bên giao - là đại diện các cơ quan có liên quan của Việt Nam tại địa điểm bàn giao và bên nhận - là đại diện của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tại địa điểm bàn giao. 3. Trường hợp chuyển giao qua đường bưu điện, cơ quan thực hiện việc chuyển giao phải niêm phong hồ sơ, vật chứng trước khi gửi và phải lưu biên nhận của bưu điện. Điều 13. Chi phí chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài Chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài do cơ quan thực hiện việc chuyển giao (Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao) chi trả từ ngân sách nhà nước. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH Điều 14. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Kiểm sát nhân dân về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Theo dõi và thông báo kết quả việc thực hiện yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của nước ngoài cho cơ quan yêu cầu biết trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả từ cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc từ Bộ Ngoại giao; đề nghị phía nước ngoài chuyển trả hồ sơ, vật chứng cho Việt Nam trong trường hợp nước ngoài từ chối truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. 3. Hàng năm, tập hợp và gửi các điều ước tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam mới ký kết hoặc tham gia cho Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao. Điều 15. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Tòa án về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 16. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Công an nhân dân về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Hướng dẫn cơ quan quản lý kho vật chứng trong Công an nhân dân tổ chức thực hiện việc bảo quản, trích xuất, bàn giao vật chứng của vụ án để chuyển giao cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 17. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp Hướng dẫn cơ quan thi hành án dân sự các cấp tổ chức thực hiện việc bảo quản, trích xuất, bàn giao vật chứng của vụ án để chuyển giao cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 18. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao 1. Tổ chức thực hiện trong ngành Ngoại giao về nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Ngoại giao liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Xác định ngôn ngữ của nước được yêu cầu theo đề nghị của cơ quan lập hồ sơ trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị. 3. Trong trường hợp áp dụng nguyên tắc có đi có lại, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để biết kết quả thực hiện yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự của Việt Nam; đề nghị phía nước ngoài chuyển trả hồ sơ, vật chứng cho Việt Nam trong trường hợp nước ngoài từ chối truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội; tiếp nhận kết quả truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc hồ sơ, vật chứng trả lại từ nước ngoài và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được. 4. Hàng năm, tập hợp danh sách tên các quốc gia, vùng lãnh thổ có điều ước, hoặc thỏa thuận về áp dụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam liên quan đến yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp. Điều 19. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2013. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh vấn đề mới đề nghị phản ánh kịp thời đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao để giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=33516&Keyword=
2025-09-24T02:34:22.285091
../data\bocongan\022013TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự __________________ Căn cứ Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007; Căn cứ Điều 345, Điều 346 Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao thống nhất hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn về điều kiện, nguyên tắc, trình tự, thủ tục tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Tương trợ tư pháp. Điều 2. Điều kiện tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng Việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phải có đủ các điều kiện sau: 1. Người bị yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, đang bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam điều tra, truy tố hoặc xét xử nhưng đã trốn khỏi Việt Nam đến nước mà người đó mang quốc tịch hoặc nước khác (nước mà người phạm tội đang có mặt, sau đây viết tắt là nước ngoài). 2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã yêu cầu nước ngoài dẫn độ về Việt Nam, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước đó từ chối việc dẫn độ. Điều 3. Nguyên tắc chuyển giao hồ sơ, vật chứng Việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc sau: 1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo an ninh chính trị của Việt Nam. 2. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp tập quán quốc tế. 3. Đảm bảo bí mật nhà nước; chế độ bảo mật thông tin, tài liệu, vật chứng của vụ án. 4. Không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khác trong cùng vụ án hoặc việc giải quyết vụ án khác tại Việt Nam. 5. Tài liệu, vật chứng chuyển giao là những tài liệu, vật chứng không thể thiếu để phục vụ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Điều 4. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại 1. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu chưa là thành viên của điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội (sau đây viết tắt là hồ sơ) đến Bộ Ngoại giao để xem xét, quyết định việc đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại. 2. Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Ngoại giao xem xét và đưa ra một trong các quyết định quy định tại Khoản 3 hoặc Khoản 4 Điều này. Đối với trường hợp cần thiết phải lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại thì thời hạn này không quá hai mươi ngày làm việc. 3. Trường hợp quyết định đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Ngoại giao có Công hàm đề nghị nước được yêu cầu áp dụng nguyên tắc có đi có lại kèm theo hồ sơ thông qua cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước được yêu cầu hoặc cơ quan đại diện của nước được yêu cầu tại Việt Nam; đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết. 4. Trường hợp quyết định không đề nghị nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại, trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ khi quyết định, Bộ Ngoại giao gửi trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu rõ lý do. 5. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được trả lời chính thức của nước ngoài về việc đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Ngoại giao thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết và phối hợp thực hiện. 6. Trường hợp nước ngoài đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại với những điều kiện kèm theo, Bộ Ngoại giao gửi văn bản tham khảo ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp phải có ý kiến trả lời bằng văn bản trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại với những điều kiện kèm theo của nước ngoài trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, có Công hàm trả lời cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và gửi một bản sao Công hàm đó cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết để phối hợp. Chương II TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TIẾP NHẬN, CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG Mục 1 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TIẾP NHẬN, CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG GIỮA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA VIỆT NAM Điều 5. Lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội 1. Khi yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu (sau đây viết tắt là cơ quan yêu cầu) phải lập hồ sơ. 2. Hồ sơ gồm có: a) Công văn của cơ quan yêu cầu đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét việc chuyển hồ sơ cho nước ngoài; b) Văn bản yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội do cơ quan yêu cầu lập theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này; c) Sao y bản chính hồ sơ gốc của vụ án trong trường hợp vụ án không có đồng phạm hoặc trong trường hợp có đồng phạm, hồ sơ vụ án của người bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được tách, trích lập riêng theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch này; d) Các tài liệu chứng minh đối tượng đang có mặt tại nước được yêu cầu; đ) Văn bản từ chối dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu đã có Hiệp định về dẫn độ và đối tượng bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của Hiệp định thì cơ quan yêu cầu viện dẫn quy định đó trong Công văn gửi kèm thay cho văn bản từ chối dẫn độ; e) Các tài liệu, vật chứng cần thiết khác có liên quan. 3. Hồ sơ phải được đánh số bút lục và có danh mục tài liệu, vật chứng kèm theo (nếu có) và được lập thành 03 bộ. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm dịch hồ sơ ra ngôn ngữ phù hợp theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp. Trường hợp cơ quan yêu cầu không xác định được ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận thì gửi văn bản đến Bộ Ngoại giao đề nghị xác định. 4. Chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động lập hồ sơ, dịch thuật, chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao do cơ quan yêu cầu chi trả từ ngân sách nhà nước. Điều 6. Xử lý vụ án có đồng phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam Trường hợp vụ án có đồng phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam thì căn cứ vào việc quyết định yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan yêu cầu tách hoặc trích lập riêng hồ sơ vụ án đối với người đó trước khi lập hồ sơ gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Việc tách hoặc trích lập hồ sơ vụ án của người bị yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này. Điều 7. Hình thức chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm chuyển trực tiếp hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc qua đường bưu điện. 2. Trường hợp chuyển trực tiếp thì việc giao, nhận phải được lập thành biên bản, nêu rõ các nội dung sau: a) Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giao, nhận hồ sơ; b) Tên cơ quan yêu cầu; họ, tên, chức vụ của người chuyển giao; c) Tên cơ quan tiếp nhận; họ, tên, chức vụ của người tiếp nhận; d) Các tài liệu có trong hồ sơ theo danh mục tài liệu đã được liệt kê; số lượng trang có trong hồ sơ đã được đánh số bút lục; đ) Chủng loại vật chứng và tình trạng vật chứng (vật chứng đi kèm hồ sơ hay đang thuộc trách nhiệm bảo quản của cơ quan nào) được nêu trong danh mục vật chứng. 3. Trường hợp chuyển qua đường bưu điện, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm kiểm tra tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ trước khi thụ lý. Trường hợp qua kiểm tra phát hiện tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ bị thiếu hoặc không phù hợp với bản kê danh mục tài liệu, vật chứng thì phải thông báo ngay cho cơ quan gửi hồ sơ để phối hợp giải quyết. 4. Ngày Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận hồ sơ được tính theo ngày ghi trong biên bản giao, nhận (trong trường hợp chuyển trực tiếp) hoặc ngày đến theo dấu của bưu điện (trong trường hợp chuyển theo đường bưu điện). Điều 8. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm: 1. Vào sổ thụ lý hồ sơ; 2. Kiểm tra tính đầy đủ và tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lại cho cơ quan yêu cầu và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ thiếu các tài liệu cần thiết thì yêu cầu bổ sung. Thời hạn bổ sung tài liệu không quá mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; 3. Xem xét, quyết định loại tài liệu, vật chứng chuyển giao cho nước ngoài theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này. Trường hợp tài liệu, vật chứng kèm theo hồ sơ nhưng xét thấy không cần thiết chuyển giao cho nước ngoài thì trả lại cho cơ quan yêu cầu; 4. Liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước được yêu cầu là thành viên; Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu chưa có điều ước quốc tế về lĩnh vực này thì đề nghị Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định việc đề nghị nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên cơ sở áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này; 5. Thông báo cho cơ quan yêu cầu biết về việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài. Nội dung thông báo phải cụ thể về thời gian, địa điểm chuyển giao; loại tài liệu, vật chứng chuyển giao; loại tài liệu, vật chứng không chuyển giao. Điều 9. Việc tiếp nhận, chuyển giao vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam 1. Trường hợp vật chứng kèm theo hồ sơ: a) Khi chuyển giao hồ sơ, cơ quan có trách nhiệm phải chuyển giao cả vật chứng kèm theo; b) Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm bảo quản vật chứng kèm theo trong thời gian quản lý hồ sơ. 2. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng: a) Cơ quan yêu cầu phải chụp ảnh hoặc ghi hình kèm theo mô tả vật chứng để đưa vào hồ sơ và thông báo cho cơ quan bảo quản vật chứng biết; b) Cơ quan đang bảo quản vật chứng có trách nhiệm tiếp tục bảo quản vật chứng cho đến khi có lệnh trích xuất vật chứng của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi có quyết định xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Mục 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CHUYỂN GIAO HỒ SƠ, VẬT CHỨNG CHO NƯỚC NGOÀI Điều 10. Trách nhiệm liên hệ, chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài 1. Trường hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu đều là thành viên của Điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp liên hệ và chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài theo quy định của Điều ước quốc tế. 2. Trường hợp Việt Nam và nước được yêu cầu không cùng là thành viên của Điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có công văn kèm theo hồ sơ gửi đến Bộ Ngoại giao để thực hiện trách nhiệm liên hệ, chuyển giao cho nước được yêu cầu theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này. Điều 11. Thủ tục chuyển giao vật chứng cho nước ngoài 1. Nếu vật chứng cần chuyển giao cho nước ngoài kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao chuyển giao cả vật chứng đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. 2. Nếu vật chứng cần chuyển giao được bảo quản tại kho vật chứng thì giải quyết theo thủ tục sau: a) Chậm nhất là năm ngày làm việc trước ngày chuyển giao cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan yêu cầu biết về thời gian, địa điểm chuyển giao. Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan bảo quản vật chứng thực hiện việc trích xuất và vận chuyển vật chứng theo đúng thời gian, địa điểm nêu trong thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; b) Trường hợp chuyển qua kênh ngoại giao, khi liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để thống nhất về việc chuyển giao, Bộ Ngoại giao cần lưu ý thời gian dành cho việc trích xuất, vận chuyển vật chứng ít nhất là bảy ngày làm việc trước ngày chuyển giao. Trong thời hạn hai ngày làm việc kể từ khi có được sự thống nhất về việc chuyển giao với nước ngoài, Bộ Ngoại giao thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết và phối hợp thực hiện việc chuyển giao. Việc thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho cơ quan yêu cầu để thực hiện trách nhiệm chủ trì, phối hợp thực hiện việc trích xuất, vận chuyển vật chứng được thực hiện theo quy định tại điểm a Khoản này. Điều 12. Hình thức chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài 1. Tùy theo từng trường hợp, việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. 2. Trường hợp chuyển giao trực tiếp, việc chuyển giao phải được lập thành biên bản, thể hiện đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ, danh mục và tình trạng vật chứng được chuyển giao, có chữ ký của bên giao - là đại diện các cơ quan có liên quan của Việt Nam tại địa điểm bàn giao và bên nhận - là đại diện của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tại địa điểm bàn giao. 3. Trường hợp chuyển giao qua đường bưu điện, cơ quan thực hiện việc chuyển giao phải niêm phong hồ sơ, vật chứng trước khi gửi và phải lưu biên nhận của bưu điện. Điều 13. Chi phí chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài Chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng cho nước ngoài do cơ quan thực hiện việc chuyển giao (Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao) chi trả từ ngân sách nhà nước. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH Điều 14. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Kiểm sát nhân dân về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Theo dõi và thông báo kết quả việc thực hiện yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của nước ngoài cho cơ quan yêu cầu biết trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả từ cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc từ Bộ Ngoại giao; đề nghị phía nước ngoài chuyển trả hồ sơ, vật chứng cho Việt Nam trong trường hợp nước ngoài từ chối truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. 3. Hàng năm, tập hợp và gửi các điều ước tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam mới ký kết hoặc tham gia cho Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao. Điều 15. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Tòa án về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 16. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong ngành Công an nhân dân về việc lập hồ sơ và thủ tục yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Hướng dẫn cơ quan quản lý kho vật chứng trong Công an nhân dân tổ chức thực hiện việc bảo quản, trích xuất, bàn giao vật chứng của vụ án để chuyển giao cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 17. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp Hướng dẫn cơ quan thi hành án dân sự các cấp tổ chức thực hiện việc bảo quản, trích xuất, bàn giao vật chứng của vụ án để chuyển giao cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 18. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao 1. Tổ chức thực hiện trong ngành Ngoại giao về nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Ngoại giao liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước ngoài theo quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Xác định ngôn ngữ của nước được yêu cầu theo đề nghị của cơ quan lập hồ sơ trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị. 3. Trong trường hợp áp dụng nguyên tắc có đi có lại, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để biết kết quả thực hiện yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự của Việt Nam; đề nghị phía nước ngoài chuyển trả hồ sơ, vật chứng cho Việt Nam trong trường hợp nước ngoài từ chối truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội; tiếp nhận kết quả truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc hồ sơ, vật chứng trả lại từ nước ngoài và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được. 4. Hàng năm, tập hợp danh sách tên các quốc gia, vùng lãnh thổ có điều ước, hoặc thỏa thuận về áp dụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam liên quan đến yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp. Điều 19. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2013. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh vấn đề mới đề nghị phản ánh kịp thời đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao để giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung. /.
Hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân
02/2014/TTLT-BCA-BTC-BKHĐT
11/06/2014
Thông tư liên tịch
25/07/2014
null
null
null
Thứ trưởng - Thượng tướng
Đặng Văn Hiếu
Toàn quốc
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122400&Keyword=
2025-09-24T02:39:11.323059
../data\bocongan\022014TTLT-BCA-BTC-BKHĐT\document.json
null
Quy định về quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân
02/2015/TT-BCA
05/01/2015
Thông tư
20/02/2015
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định về quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010; Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Căn cứ Nghị định số 41/2014/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định mục đích, trình tự tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Công an các đơn vị, địa phương. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hành chính, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. 4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Điều 3. Mục đích thanh tra hành chính Thanh tra hành chính trong Công an nhân dân nhằm đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; phát hiện sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và các quy định của ngành Công an để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Điều 4. Địa điểm, thời gian làm việc của đoàn thanh tra 1. Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phân công tối thiểu hai (02) thành viên của Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tại trụ sở hoặc nơi tiến hành kiểm tra, xác minh. 2. Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong giờ hành chính; trường hợp phải làm việc ngoài giờ hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Điều 5. Nhật ký đoàn thanh tra 1. Nhật ký đoàn thanh tra là sổ ghi chép nội dung hoạt động của Đoàn thanh tra diễn ra trong ngày, từ khi có quyết định thanh tra đến khi tổng kết hoạt động Đoàn thanh tra. 2. Hàng ngày, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm ghi chép sổ nhật ký và ký xác nhận về nội dung đã ghi chép. Trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra giao việc ghi chép sổ nhật ký cho thành viên Đoàn thanh tra nhưng Trưởng đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm về việc ghi chép và ký xác nhận nội dung ghi chép đó vào nhật ký Đoàn thanh tra. 3. Nội dung nhật ký Đoàn thanh tra gồm: a) Ngày, tháng, năm, các công việc đã tiến hành; tên cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra hoặc có liên quan được kiểm tra, xác minh, làm việc; b) Ý kiến chỉ đạo, điều hành của người ra quyết định thanh tra, của Trưởng đoàn thanh tra (nếu có); c) Khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động thanh tra của Đoàn thanh tra (nếu có); d) Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra (nếu có). 4. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm quản lý sổ nhật ký đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra. Trường hợp sổ nhật ký Đoàn thanh tra bị mất hoặc hư hỏng thì Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, giải quyết. 5. Nhật ký đoàn thanh tra thực hiện theo mẫu do Thanh tra Chính phủ quy định và được lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra. Chương II TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH MỘT CUỘC THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN Mục 1 CHUẨN BỊ THANH TRA Điều 6. Thu thập thông tin, tài liệu để quyết định thanh tra 1. Trước khi ra quyết định thanh tra, trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan Công an có thẩm quyền, thủ trưởng cơ quan thanh tra căn cứ vào yêu cầu của cuộc thanh tra để quyết định việc thu thập thông tin, tài liệu đối với Công an đơn vị, địa phương, cá nhân được thanh tra (sau đây gọi chung là đối tượng thanh tra). 2. Người được giao thu thập thông tin, tài liệu có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng thanh tra, nội dung dự kiến thanh tra; tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin, tài liệu thu thập được và báo cáo người giao nhiệm vụ thu thập thông tin, tài liệu. Báo cáo bao gồm các nội dung sau: a) Khái quát về mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra; b) Nhận định những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu sai phạm, vi phạm pháp luật; c) Đề xuất những nội dung cần thanh tra, đối tượng, thời kỳ thanh tra và phương pháp tổ chức thực hiện. 3. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Công an đơn vị, địa phương, cá nhân được thanh tra có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thanh tra. Điều 7. Ra quyết định thanh tra 1. Cơ quan chủ trì tiến hành cuộc thanh tra hành chính xây dựng và trình người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra. 2. Chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra, cơ quan chủ trì tiến hành cuộc thanh tra phải gửi quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra (trừ trường hợp thanh tra đột xuất) và cơ quan thanh tra cấp trên để theo dõi, chỉ đạo. Điều 8. Xây dựng, phê duyệt, quán triệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra 1.  Xây dựng, phê duyệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra a) Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng dự thảo kế hoạch tiến hành thanh tra. Nội dung kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra, gồm: Mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, thời kỳ thanh tra, phương pháp tiến hành thanh tra, tiến độ thực hiện, chế độ thông tin báo cáo, việc sử dụng phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra; b) Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để thảo luận dự thảo kế hoạch tiến hành thanh tra và báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét trước khi phê duyệt; c) Người ra quyết định thanh tra xem xét, phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra; d) Thời gian xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra do người ra quyết định thanh tra quyết định, nhưng không quá 05 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra. 3. Quán triệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra a) Sau khi kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra được phê duyệt, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để phổ biến và phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm, các thành viên của Đoàn thanh tra; thảo luận về phương pháp tiến hành thanh tra; sự phối hợp giữa các tổ, nhóm và các thành viên trong Đoàn thanh tra; b) Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra là tài liệu nội bộ của Đoàn thanh tra, không gửi cho đối tượng thanh tra; c) Trưởng đoàn thanh tra phải bám sát kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra để chỉ đạo, điều hành các hoạt động của Đoàn thanh tra; d) Các tổ, nhóm, thành viên Đoàn thanh tra căn cứ vào kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra đã được phê duyệt để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được Trưởng đoàn thanh tra phân công và báo cáo với Trưởng đoàn thanh tra. Điều 9. Xây dựng đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo 1. Căn cứ nội dung thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì cùng các thành viên trong Đoàn thanh tra xây dựng đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo. 2. Đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo được gửi cho đối tượng thanh tra trước ngày công bố quyết định thanh tra. Điều 10. Thông báo về việc công bố quyết định thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo đến đối tượng thanh tra về việc công bố quyết định thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chuẩn bị văn bản để người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền thông báo đến đối tượng thanh tra về việc công bố quyết định thanh tra. Thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm, thành phần tham dự. 2. Thành phần tham dự buổi thông báo về việc công bố quyết định thanh tra, gồm: Đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì thanh tra, Đoàn thanh tra, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự buổi thông báo. Mục 2 TIẾN HÀNH THANH TRA Điều 11. Công bố quyết định thanh tra 1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra. 2. Tại buổi công bố quyết định thanh tra phải có đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì thanh tra, Đoàn thanh tra, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự buổi công bố quyết định thanh tra. 3. Việc công bố quyết định thanh tra thực hiện tại trụ sở của đơn vị là đối tượng thanh tra trực tiếp. Trong trường hợp cần công bố quyết định thanh tra tại địa điểm khác thì Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. Căn cứ chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra thông báo với thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra và đơn vị có trụ sở mà Đoàn thanh tra công bố quyết định thanh tra. 4. Trình tự công bố quyết định thanh tra: a) Trưởng đoàn thanh tra thông báo toàn văn quyết định thanh tra và phổ biến các nội dung có liên quan đến quyết định thanh tra; nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời hạn cuộc thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra; quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra; dự kiến kế hoạch làm việc của Đoàn thanh tra; mối quan hệ công tác giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra; các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra; b) Đại diện đối tượng thanh tra báo cáo trực tiếp về những nội dung thanh tra theo đề cương đã yêu cầu. Trưởng đoàn thanh tra có thể yêu cầu đối tượng thanh tra tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh báo cáo để gửi đoàn thanh tra; c) Việc công bố quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản, trong đó có chữ ký của Trưởng đoàn thanh tra và đại diện đối tượng thanh tra. Điều 12. Thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra 1. Thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu; đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra được phân công. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra phải được lập thành biên bản giao nhận. 2. Trên cơ sở thông tin, tài liệu đã thu thập được, Đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình về những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra; tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế (khi cần thiết) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của những thông tin, tài liệu đã kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải được thể hiện bằng văn bản của đơn vị, tổ chức, cá nhân được kiểm tra, xác minh hoặc Đoàn thanh tra lập biên bản kiểm tra, xác minh. Điều 13. Xử lý vi phạm được phát hiện khi tiến hành thanh tra 1. Khi tiến hành thanh tra, nếu phát hiện vi phạm đến mức phải xử lý ngay thì Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra phải lập biên bản về việc vi phạm để làm cơ sở cho việc xử lý. Việc xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật khác có liên quan. 2. Khi phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì Trưởng đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. 3. Trong trường hợp người ra quyết định thanh tra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan điều tra thì Trưởng đoàn thanh tra chỉ đạo tập hợp hồ sơ, tài liệu để chuyển Cơ quan điều tra. Việc bàn giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan điều tra phải được lập thành biên bản. Điều 14. Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định thanh tra về tiến độ thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra theo kế hoạch tiến hành thanh tra đã được phê duyệt hoặc theo yêu cầu đột xuất của người ra quyết định thanh tra. 2. Báo cáo được thể hiện bằng văn bản gồm các nội dung: Tiến độ thực hiện nhiệm vụ; nội dung đã hoàn thành; nội dung đang tiến hành thanh tra, công việc thực hiện trong thời gian tới; những kiến nghị, đề xuất, khó khăn, vướng mắc (nếu có). 3. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm xem xét, có ý kiến chỉ đạo cụ thể, trực tiếp về báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra, xử lý kịp thời kiến nghị của Trưởng đoàn thanh tra. Điều 15. Sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra trong quá trình thanh tra 1. Trường hợp người ra quyết định thanh tra thấy cần phải sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra thì người ra quyết định thanh tra có văn bản về việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra và yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra thực hiện. 2. Trường hợp Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra thì phải có văn bản đề nghị người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra. Văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra phải nêu rõ lý do, nội dung sửa đổi, bổ sung và những nội dung khác có liên quan. 3. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo nội dung sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra cho đối tượng thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu cần thiết) và tổ chức triển khai thực hiện. Điều 16. Thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, bổ sung thành viên Đoàn thanh tra 1. Trong quá trình thanh tra, việc thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện trong trường hợp Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra, vi phạm pháp luật hoặc là người thân thích với đối tượng thanh tra hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 2. Việc thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện như sau: a) Trường hợp Trưởng đoàn thanh tra đề nghị được thay đổi thì Trưởng đoàn thanh tra báo cáo bằng văn bản nêu rõ lý do gửi người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định; b) Trường hợp người ra quyết định thanh tra quyết định thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra thì phải ra quyết định thay đổi bằng văn bản và thông báo cho Trưởng đoàn thanh tra, thành viên bị thay đổi. 3. Việc bổ sung thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm tiến độ, chất lượng thanh tra hoặc để đáp ứng các yêu cầu khác phát sinh trong quá trình thanh tra. Việc bổ sung thành viên Đoàn thanh tra do người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. Điều 17. Gia hạn thời gian thanh tra 1. Trường hợp nội dung thanh tra phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân cần kéo dài thời gian thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có văn bản đề nghị người ra quyết định thanh tra gia hạn thời gian thanh tra. Văn bản đề nghị phải nêu rõ lý do, thời gian gia hạn, ý kiến khác của các thành viên Đoàn thanh tra về việc đề nghị gia hạn (nếu có). 2. Căn cứ đề nghị của Trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định gia hạn thời gian thanh tra phù hợp với quy định của pháp luật. 3. Quyết định gia hạn thời gian thanh tra được gửi cho Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 18. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra 1. Thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Trưởng đoàn thanh tra về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo đó. 2. Trưởng đoàn thanh tra phải có ý kiến đối với báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của thành viên Đoàn thanh tra. Trường hợp nhận thấy nội dung báo cáo chưa rõ, chưa đầy đủ thì Trưởng đoàn thanh tra yêu cầu thành viên Đoàn thanh tra bổ sung. Điều 19. Kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra 1. Khi kết thúc thanh tra tại mỗi đơn vị cơ sở thuộc đối tượng thanh tra, Đoàn thanh tra phải lập biên bản kết thúc thanh tra giữa Đoàn thanh tra với lãnh đạo đơn vị cơ sở thuộc đối tượng thanh tra. Biên bản phải được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. Nội dung biên bản gồm: Thời gian, địa điểm, thành phần tham gia làm việc; phương pháp tiến hành thanh tra; nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, sai phạm (nếu có) với từng nội dung thanh tra theo kế hoạch tiến hành thanh tra; nguyên nhân, trách nhiệm liên quan đến khuyết điểm, sai phạm (nếu có); các biện pháp mà Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra áp dụng trong quá trình thanh tra (nếu có); kiến nghị của Đoàn thanh tra; đề xuất, kiến nghị của đối tượng thanh tra (nếu có). 2. Trước khi chuẩn bị kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để rà soát, thống nhất các nội dung công việc còn lại theo kế hoạch tiến hành thanh tra cần thực hiện cho đến ngày kết thúc thanh tra trực tiếp. 3. Trưởng đoàn thanh tra thông báo bằng văn bản về thời gian kết thúc trực tiếp thanh tra cho đối tượng thanh tra biết hoặc nếu cần thiết có thể tổ chức buổi làm việc với đối tượng thanh tra để thông báo về thời gian kết thúc trực tiếp thanh tra cho đối tượng thanh tra. Nội dung làm việc phải được lập thành biên bản. MỤC 3 KẾT THÚC THANH TRA Điều 20. Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng báo cáo kết quả thanh tra. Nội dung báo cáo kết quả thanh tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Thanh tra. 2. Trong quá trình xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tham khảo ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để bảo đảm cho việc kết luận, kiến nghị, xử lý được chính xác, khách quan. 3. Trưởng đoàn thanh tra lấy ý kiến tham gia của các thành viên Đoàn thanh tra đối với dự thảo báo cáo kết quả thanh tra và hoàn chỉnh báo cáo kết quả thanh tra. Trường hợp các thành viên Đoàn thanh tra có ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo thì Trưởng đoàn thanh tra xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người ra quyết định thanh tra về nội dung báo cáo đó. 4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có báo cáo kết quả thanh tra trình người ra quyết định thanh tra, kèm theo báo cáo về các ý kiến khác nhau trong Đoàn thanh tra đối với nội dung báo cáo kết quả thanh tra (nếu có). Điều 21. Xem xét báo cáo kết quả thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn vị chuyên môn giúp việc nghiên cứu, xem xét các nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra. 2. Trường hợp cần phải làm rõ hoặc cần phải bổ sung thêm nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để nghe Đoàn thanh tra báo cáo trực tiếp hoặc có ý kiến chỉ đạo bằng văn bản yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên trong Đoàn thanh tra báo cáo cụ thể. 3. Trưởng đoàn thanh tra tổ chức thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra; họp Đoàn thanh tra để thảo luận, hoàn chỉnh báo cáo bổ sung, làm rõ báo cáo kết quả thanh tra. 4. Trưởng đoàn thanh tra trình báo cáo bổ sung, làm rõ thêm báo cáo kết quả thanh tra với người ra quyết định thanh tra kèm theo những ý kiến khác nhau của thành viên Đoàn thanh tra (nếu có). Điều 22. Xây dựng dự thảo kết luận thanh tra 1. Sau khi nhận được báo cáo kết quả thanh tra và báo cáo bổ sung (nếu có) của Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng đoàn thanh tra chủ trì xây dựng dự thảo kết luận thanh tra trình người ra quyết định thanh tra. 2. Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho đơn vị chuyên môn nghiên cứu dự thảo kết luận thanh tra để tham mưu, đề xuất hướng hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra. Ý kiến tham mưu, đề xuất được thể hiện bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra. 3. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra gửi dự thảo kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra hoặc giao cho Đoàn thanh tra lấy ý kiến tham gia dự thảo kết luận thanh tra. Việc giải trình những vấn đề chưa nhất trí (nếu có) của đối tượng thanh tra với nội dung của dự thảo kết luận thanh tra được thực hiện bằng văn bản và có các bằng chứng kèm theo. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu và đề xuất với người ra quyết định thanh tra hướng xử lý nội dung giải trình của đối tượng thanh tra. Điều 23. Ký, ban hành và công bố, công khai kết luận thanh tra 1. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra và gửi đến: a) Đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định; b) Thanh tra Bộ Công an nếu người ra quyết định thanh tra là Tổng cục trưởng, Tư lệnh, Cục trưởng, Viện trưởng, Giám đốc học viện, Hiệu trưởng trường Công an nhân dân, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh; c) Thanh tra Công an cấp tỉnh nếu người ra quyết định thanh tra là Trưởng Công an cấp huyện. 2. Trường hợp trong kết luận thanh tra có những biện pháp xử lý thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra xây dựng dự thảo quyết định xử lý theo quy định của pháp luật trình người ra quyết định thanh tra ký ban hành. Trường hợp trong kết luận thanh tra có những biện pháp xử lý không thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra thì kết luận thanh tra được gửi cho thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương có thẩm quyền để làm cơ sở xem xét, xử lý theo quy định tại Điều 40 Luật Thanh tra. 3. Việc công bố kết luận thanh tra được thực hiện bằng việc công bố trực tiếp hoặc gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra. Trường hợp công bố trực tiếp kết luận thanh tra thì thực hiện như sau: a) Người ra quyết định thanh tra hoặc Trưởng đoàn thanh tra được ủy quyền thông báo bằng văn bản cho thủ trưởng cơ quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng thanh tra về thời gian, địa điểm, thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra. Thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra gồm thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; b) Người ra quyết định thanh tra hoặc Trưởng đoàn thanh tra đọc toàn văn kết luận thanh tra; c) Việc công bố kết luận thanh tra được lập thành biên bản. 4. Công khai kết luận thanh tra thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Thanh tra và Điều 46 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. Hình thức công khai kết luận thanh tra do Trưởng đoàn thanh tra đề xuất người ra quyết định thanh tra quyết định. Việc công khai kết luận thanh tra phải được lập thành biên bản. Điều 24. Giao trả hồ sơ, tài liệu 1. Sau khi có kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm giao trả hồ sơ, tài liệu không cần thu giữ cho đối tượng thanh tra. 2. Trưởng đoàn thanh tra có thể quyết định giao trả hồ sơ, tài liệu trước khi kết luận thanh tra, nhưng phải bảo đảm những hồ sơ, tài liệu đó không cần thu giữ hoặc không liên quan đến kết luận thanh tra. 3. Việc giao trả hồ sơ, tài liệu được lập thành biên bản giao nhận giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra. Điều 25. Tổng kết hoạt động đoàn thanh tra 1. Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức họp Đoàn thanh tra để tổng kết, rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn thanh tra. Nội dung họp Đoàn thanh tra được lập thành biên bản và được lưu trong hồ sơ thanh tra. 2. Nội dung tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra gồm: a) Đánh giá kết quả thanh tra so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; b) Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, việc thực hiện quy định về hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra, trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, quy định về giám sát, kiểm tra hoạt động Đoàn thanh tra, quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra và các quy định khác có liên quan đến hoạt động Đoàn thanh tra; c) Kinh nghiệm rút ra qua cuộc thanh tra; d) Đề xuất việc khen thưởng đối với Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, người có thành tích xuất sắc trong hoạt động thanh tra (nếu có); đ) Kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thanh tra (nếu có); e) Những kiến nghị, đề xuất của Đoàn thanh tra (nếu có). 3. Kết thúc việc tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra báo cáo bằng văn bản về những nội dung tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra với thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Điều 26. Lập, bàn giao hồ sơ thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức việc lập hồ sơ thanh tra theo quy định về chế độ hồ sơ thanh tra Công an nhân dân. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm bàn giao hồ sơ thanh tra cho cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Trường hợp vì trở ngại khách quan thì thời gian bàn giao hồ sơ thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 90 ngày. 3. Việc giao nhận hồ sơ thanh tra phải được lập thành biên bản. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 27. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2015 và thay thế Quyết định số 427/2007/QĐ-BCA(V24 ) ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy trình thanh tra hành chính trong lực lượng Công an nhân dân. Điều 28. Trách nhiệm thi hành 1. Thanh tra Bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để kịp thời hướng dẫn.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122410&Keyword=
2025-09-24T02:27:09.231623
../data\bocongan\022015TT-BCA\document.json
06/06/2022
THÔNG TƯ Quy định về quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010; Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ - CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Căn cứ Nghị định số 41/2014/NĐ - CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định mục đích, trình tự tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Công an các đơn vị, địa phương. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hành chính, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. 4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra hành chính trong Công an nhân dân. Điều 3. Mục đích thanh tra hành chính Thanh tra hành chính trong Công an nhân dân nhằm đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; phát hiện sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và các quy định của ngành Công an để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Điều 4. Địa điểm, thời gian làm việc của đoàn thanh tra 1. Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phân công tối thiểu hai (02) thành viên của Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tại trụ sở hoặc nơi tiến hành kiểm tra, xác minh. 2. Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong giờ hành chính; trường hợp phải làm việc ngoài giờ hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Điều 5. Nhật ký đoàn thanh tra 1. Nhật ký đoàn thanh tra là sổ ghi chép nội dung hoạt động của Đoàn thanh tra diễn ra trong ngày, từ khi có quyết định thanh tra đến khi tổng kết hoạt động Đoàn thanh tra. 2. Hàng ngày, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm ghi chép sổ nhật ký và ký xác nhận về nội dung đã ghi chép. Trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra giao việc ghi chép sổ nhật ký cho thành viên Đoàn thanh tra nhưng Trưởng đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm về việc ghi chép và ký xác nhận nội dung ghi chép đó vào nhật ký Đoàn thanh tra. 3. Nội dung nhật ký Đoàn thanh tra gồm: a) Ngày, tháng, năm, các công việc đã tiến hành; tên cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra hoặc có liên quan được kiểm tra, xác minh, làm việc; b) Ý kiến chỉ đạo, điều hành của người ra quyết định thanh tra, của Trưởng đoàn thanh tra (nếu có); c) Khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động thanh tra của Đoàn thanh tra (nếu có); d) Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra (nếu có). 4. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm quản lý sổ nhật ký đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra. Trường hợp sổ nhật ký Đoàn thanh tra bị mất hoặc hư hỏng thì Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, giải quyết. 5. Nhật ký đoàn thanh tra thực hiện theo mẫu do Thanh tra Chính phủ quy định và được lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra. Chương II TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH MỘT CUỘC THANH TRA HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN Mục 1 CHUẨN BỊ THANH TRA Điều 6. Thu thập thông tin, tài liệu để quyết định thanh tra 1. Trước khi ra quyết định thanh tra, trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan Công an có thẩm quyền, thủ trưởng cơ quan thanh tra căn cứ vào yêu cầu của cuộc thanh tra để quyết định việc thu thập thông tin, tài liệu đối với Công an đơn vị, địa phương, cá nhân được thanh tra (sau đây gọi chung là đối tượng thanh tra). 2. Người được giao thu thập thông tin, tài liệu có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng thanh tra, nội dung dự kiến thanh tra; tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin, tài liệu thu thập được và báo cáo người giao nhiệm vụ thu thập thông tin, tài liệu. Báo cáo bao gồm các nội dung sau: a) Khái quát về mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra; b) Nhận định những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu sai phạm, vi phạm pháp luật; c) Đề xuất những nội dung cần thanh tra, đối tượng, thời kỳ thanh tra và phương pháp tổ chức thực hiện. 3. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Công an đơn vị, địa phương, cá nhân được thanh tra có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thanh tra. Điều 7. Ra quyết định thanh tra 1. Cơ quan chủ trì tiến hành cuộc thanh tra hành chính xây dựng và trình người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra. 2. Chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra, cơ quan chủ trì tiến hành cuộc thanh tra phải gửi quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra (trừ trường hợp thanh tra đột xuất) và cơ quan thanh tra cấp trên để theo dõi, chỉ đạo. Điều 8. Xây dựng, phê duyệt, quán triệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra 1. Xây dựng, phê duyệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra a) Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng dự thảo kế hoạch tiến hành thanh tra. Nội dung kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra, gồm: Mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, thời kỳ thanh tra, phương pháp tiến hành thanh tra, tiến độ thực hiện, chế độ thông tin báo cáo, việc sử dụng phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra; b) Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để thảo luận dự thảo kế hoạch tiến hành thanh tra và báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét trước khi phê duyệt; c) Người ra quyết định thanh tra xem xét, phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra; d) Thời gian xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra do người ra quyết định thanh tra quyết định, nhưng không quá 05 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra. 3. Quán triệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra a) Sau khi kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra được phê duyệt, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để phổ biến và phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm, các thành viên của Đoàn thanh tra; thảo luận về phương pháp tiến hành thanh tra; sự phối hợp giữa các tổ, nhóm và các thành viên trong Đoàn thanh tra; b) Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra là tài liệu nội bộ của Đoàn thanh tra, không gửi cho đối tượng thanh tra; c) Trưởng đoàn thanh tra phải bám sát kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra để chỉ đạo, điều hành các hoạt động của Đoàn thanh tra; d) Các tổ, nhóm, thành viên Đoàn thanh tra căn cứ vào kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra đã được phê duyệt để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được Trưởng đoàn thanh tra phân công và báo cáo với Trưởng đoàn thanh tra. Điều 9. Xây dựng đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo 1. Căn cứ nội dung thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì cùng các thành viên trong Đoàn thanh tra xây dựng đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo. 2. Đề cương hướng dẫn đối tượng thanh tra báo cáo được gửi cho đối tượng thanh tra trước ngày công bố quyết định thanh tra. Điều 10. Thông báo về việc công bố quyết định thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo đến đối tượng thanh tra về việc công bố quyết định thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chuẩn bị văn bản để người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền thông báo đến đối tượng thanh tra về việc công bố quyết định thanh tra. Thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm, thành phần tham dự. 2. Thành phần tham dự buổi thông báo về việc công bố quyết định thanh tra, gồm: Đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì thanh tra, Đoàn thanh tra, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự buổi thông báo. Mục 2 TIẾN HÀNH THANH TRA Điều 11. Công bố quyết định thanh tra 1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra. 2. Tại buổi công bố quyết định thanh tra phải có đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì thanh tra, Đoàn thanh tra, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự buổi công bố quyết định thanh tra. 3. Việc công bố quyết định thanh tra thực hiện tại trụ sở của đơn vị là đối tượng thanh tra trực tiếp. Trong trường hợp cần công bố quyết định thanh tra tại địa điểm khác thì Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. Căn cứ chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra thông báo với thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương, cá nhân là đối tượng thanh tra và đơn vị có trụ sở mà Đoàn thanh tra công bố quyết định thanh tra. 4. Trình tự công bố quyết định thanh tra: a) Trưởng đoàn thanh tra thông báo toàn văn quyết định thanh tra và phổ biến các nội dung có liên quan đến quyết định thanh tra; nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời hạn cuộc thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra; quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra; dự kiến kế hoạch làm việc của Đoàn thanh tra; mối quan hệ công tác giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra; các nội dung khác liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra; b) Đại diện đối tượng thanh tra báo cáo trực tiếp về những nội dung thanh tra theo đề cương đã yêu cầu. Trưởng đoàn thanh tra có thể yêu cầu đối tượng thanh tra tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh báo cáo để gửi đoàn thanh tra; c) Việc công bố quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản, trong đó có chữ ký của Trưởng đoàn thanh tra và đại diện đối tượng thanh tra. Điều 12. Thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra 1. Thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu; đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra được phân công. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra phải được lập thành biên bản giao nhận. 2. Trên cơ sở thông tin, tài liệu đã thu thập được, Đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình về những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra; tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế (khi cần thiết) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của những thông tin, tài liệu đã kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải được thể hiện bằng văn bản của đơn vị, tổ chức, cá nhân được kiểm tra, xác minh hoặc Đoàn thanh tra lập biên bản kiểm tra, xác minh. Điều 13. Xử lý vi phạm được phát hiện khi tiến hành thanh tra 1. Khi tiến hành thanh tra, nếu phát hiện vi phạm đến mức phải xử lý ngay thì Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra phải lập biên bản về việc vi phạm để làm cơ sở cho việc xử lý. Việc xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật khác có liên quan. 2. Khi phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì Trưởng đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. 3. Trong trường hợp người ra quyết định thanh tra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan điều tra thì Trưởng đoàn thanh tra chỉ đạo tập hợp hồ sơ, tài liệu để chuyển Cơ quan điều tra. Việc bàn giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan điều tra phải được lập thành biên bản. Điều 14. Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định thanh tra về tiến độ thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra theo kế hoạch tiến hành thanh tra đã được phê duyệt hoặc theo yêu cầu đột xuất của người ra quyết định thanh tra. 2. Báo cáo được thể hiện bằng văn bản gồm các nội dung: Tiến độ thực hiện nhiệm vụ; nội dung đã hoàn thành; nội dung đang tiến hành thanh tra, công việc thực hiện trong thời gian tới; những kiến nghị, đề xuất, khó khăn, vướng mắc (nếu có). 3. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm xem xét, có ý kiến chỉ đạo cụ thể, trực tiếp về báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra, xử lý kịp thời kiến nghị của Trưởng đoàn thanh tra. Điều 15. Sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra trong quá trình thanh tra 1. Trường hợp người ra quyết định thanh tra thấy cần phải sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra thì người ra quyết định thanh tra có văn bản về việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra và yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra thực hiện. 2. Trường hợp Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra thì phải có văn bản đề nghị người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra. Văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra phải nêu rõ lý do, nội dung sửa đổi, bổ sung và những nội dung khác có liên quan. 3. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo nội dung sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra cho đối tượng thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu cần thiết) và tổ chức triển khai thực hiện. Điều 16. Thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, bổ sung thành viên Đoàn thanh tra 1. Trong quá trình thanh tra, việc thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện trong trường hợp Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra, vi phạm pháp luật hoặc là người thân thích với đối tượng thanh tra hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 2. Việc thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện như sau: a) Trường hợp Trưởng đoàn thanh tra đề nghị được thay đổi thì Trưởng đoàn thanh tra báo cáo bằng văn bản nêu rõ lý do gửi người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định; b) Trường hợp người ra quyết định thanh tra quyết định thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra thì phải ra quyết định thay đổi bằng văn bản và thông báo cho Trưởng đoàn thanh tra, thành viên bị thay đổi. 3. Việc bổ sung thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm tiến độ, chất lượng thanh tra hoặc để đáp ứng các yêu cầu khác phát sinh trong quá trình thanh tra. Việc bổ sung thành viên Đoàn thanh tra do người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định. Điều 17. Gia hạn thời gian thanh tra 1. Trường hợp nội dung thanh tra phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân cần kéo dài thời gian thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có văn bản đề nghị người ra quyết định thanh tra gia hạn thời gian thanh tra. Văn bản đề nghị phải nêu rõ lý do, thời gian gia hạn, ý kiến khác của các thành viên Đoàn thanh tra về việc đề nghị gia hạn (nếu có). 2. Căn cứ đề nghị của Trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra xem xét, quyết định gia hạn thời gian thanh tra phù hợp với quy định của pháp luật. 3. Quyết định gia hạn thời gian thanh tra được gửi cho Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 18. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra 1. Thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Trưởng đoàn thanh tra về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo đó. 2. Trưởng đoàn thanh tra phải có ý kiến đối với báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của thành viên Đoàn thanh tra. Trường hợp nhận thấy nội dung báo cáo chưa rõ, chưa đầy đủ thì Trưởng đoàn thanh tra yêu cầu thành viên Đoàn thanh tra bổ sung. Điều 19. Kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra 1. Khi kết thúc thanh tra tại mỗi đơn vị cơ sở thuộc đối tượng thanh tra, Đoàn thanh tra phải lập biên bản kết thúc thanh tra giữa Đoàn thanh tra với lãnh đạo đơn vị cơ sở thuộc đối tượng thanh tra. Biên bản phải được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. Nội dung biên bản gồm: Thời gian, địa điểm, thành phần tham gia làm việc; phương pháp tiến hành thanh tra; nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, sai phạm (nếu có) với từng nội dung thanh tra theo kế hoạch tiến hành thanh tra; nguyên nhân, trách nhiệm liên quan đến khuyết điểm, sai phạm (nếu có); các biện pháp mà Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra áp dụng trong quá trình thanh tra (nếu có); kiến nghị của Đoàn thanh tra; đề xuất, kiến nghị của đối tượng thanh tra (nếu có). 2. Trước khi chuẩn bị kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để rà soát, thống nhất các nội dung công việc còn lại theo kế hoạch tiến hành thanh tra cần thực hiện cho đến ngày kết thúc thanh tra trực tiếp. 3. Trưởng đoàn thanh tra thông báo bằng văn bản về thời gian kết thúc trực tiếp thanh tra cho đối tượng thanh tra biết hoặc nếu cần thiết có thể tổ chức buổi làm việc với đối tượng thanh tra để thông báo về thời gian kết thúc trực tiếp thanh tra cho đối tượng thanh tra. Nội dung làm việc phải được lập thành biên bản. MỤC 3 KẾT THÚC THANH TRA Điều 20. Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm chủ trì xây dựng báo cáo kết quả thanh tra. Nội dung báo cáo kết quả thanh tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Thanh tra. 2. Trong quá trình xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tham khảo ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để bảo đảm cho việc kết luận, kiến nghị, xử lý được chính xác, khách quan. 3. Trưởng đoàn thanh tra lấy ý kiến tham gia của các thành viên Đoàn thanh tra đối với dự thảo báo cáo kết quả thanh tra và hoàn chỉnh báo cáo kết quả thanh tra. Trường hợp các thành viên Đoàn thanh tra có ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo thì Trưởng đoàn thanh tra xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người ra quyết định thanh tra về nội dung báo cáo đó. 4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có báo cáo kết quả thanh tra trình người ra quyết định thanh tra, kèm theo báo cáo về các ý kiến khác nhau trong Đoàn thanh tra đối với nội dung báo cáo kết quả thanh tra (nếu có). Điều 21. Xem xét báo cáo kết quả thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn vị chuyên môn giúp việc nghiên cứu, xem xét các nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra. 2. Trường hợp cần phải làm rõ hoặc cần phải bổ sung thêm nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để nghe Đoàn thanh tra báo cáo trực tiếp hoặc có ý kiến chỉ đạo bằng văn bản yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên trong Đoàn thanh tra báo cáo cụ thể. 3. Trưởng đoàn thanh tra tổ chức thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra; họp Đoàn thanh tra để thảo luận, hoàn chỉnh báo cáo bổ sung, làm rõ báo cáo kết quả thanh tra. 4. Trưởng đoàn thanh tra trình báo cáo bổ sung, làm rõ thêm báo cáo kết quả thanh tra với người ra quyết định thanh tra kèm theo những ý kiến khác nhau của thành viên Đoàn thanh tra (nếu có). Điều 22. Xây dựng dự thảo kết luận thanh tra 1. Sau khi nhận được báo cáo kết quả thanh tra và báo cáo bổ sung (nếu có) của Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng đoàn thanh tra chủ trì xây dựng dự thảo kết luận thanh tra trình người ra quyết định thanh tra. 2. Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho đơn vị chuyên môn nghiên cứu dự thảo kết luận thanh tra để tham mưu, đề xuất hướng hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra. Ý kiến tham mưu, đề xuất được thể hiện bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra. 3. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra gửi dự thảo kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra hoặc giao cho Đoàn thanh tra lấy ý kiến tham gia dự thảo kết luận thanh tra. Việc giải trình những vấn đề chưa nhất trí (nếu có) của đối tượng thanh tra với nội dung của dự thảo kết luận thanh tra được thực hiện bằng văn bản và có các bằng chứng kèm theo. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu và đề xuất với người ra quyết định thanh tra hướng xử lý nội dung giải trình của đối tượng thanh tra. Điều 23. Ký, ban hành và công bố, công khai kết luận thanh tra 1. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra và gửi đến: a) Đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định; b) Thanh tra Bộ Công an nếu người ra quyết định thanh tra là Tổng cục trưởng, Tư lệnh, Cục trưởng, Viện trưởng, Giám đốc học viện, Hiệu trưởng trường Công an nhân dân, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh; c) Thanh tra Công an cấp tỉnh nếu người ra quyết định thanh tra là Trưởng Công an cấp huyện. 2. Trường hợp trong kết luận thanh tra có những biện pháp xử lý thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra xây dựng dự thảo quyết định xử lý theo quy định của pháp luật trình người ra quyết định thanh tra ký ban hành. Trường hợp trong kết luận thanh tra có những biện pháp xử lý không thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra thì kết luận thanh tra được gửi cho thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương có thẩm quyền để làm cơ sở xem xét, xử lý theo quy định tại Điều 40 Luật Thanh tra. 3. Việc công bố kết luận thanh tra được thực hiện bằng việc công bố trực tiếp hoặc gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra. Trường hợp công bố trực tiếp kết luận thanh tra thì thực hiện như sau: a) Người ra quyết định thanh tra hoặc Trưởng đoàn thanh tra được ủy quyền thông báo bằng văn bản cho thủ trưởng cơ quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng thanh tra về thời gian, địa điểm, thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra. Thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra gồm thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; b) Người ra quyết định thanh tra hoặc Trưởng đoàn thanh tra đọc toàn văn kết luận thanh tra; c) Việc công bố kết luận thanh tra được lập thành biên bản. 4. Công khai kết luận thanh tra thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Thanh tra và Điều 46 Nghị định số 86/2011/NĐ - CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. Hình thức công khai kết luận thanh tra do Trưởng đoàn thanh tra đề xuất người ra quyết định thanh tra quyết định. Việc công khai kết luận thanh tra phải được lập thành biên bản. Điều 24. Giao trả hồ sơ, tài liệu 1. Sau khi có kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm giao trả hồ sơ, tài liệu không cần thu giữ cho đối tượng thanh tra. 2. Trưởng đoàn thanh tra có thể quyết định giao trả hồ sơ, tài liệu trước khi kết luận thanh tra, nhưng phải bảo đảm những hồ sơ, tài liệu đó không cần thu giữ hoặc không liên quan đến kết luận thanh tra. 3. Việc giao trả hồ sơ, tài liệu được lập thành biên bản giao nhận giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra. Điều 25. Tổng kết hoạt động đoàn thanh tra 1. Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức họp Đoàn thanh tra để tổng kết, rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn thanh tra. Nội dung họp Đoàn thanh tra được lập thành biên bản và được lưu trong hồ sơ thanh tra. 2. Nội dung tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra gồm: a) Đánh giá kết quả thanh tra so với mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; b) Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, việc thực hiện quy định về hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra, trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, quy định về giám sát, kiểm tra hoạt động Đoàn thanh tra, quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra và các quy định khác có liên quan đến hoạt động Đoàn thanh tra; c) Kinh nghiệm rút ra qua cuộc thanh tra; d) Đề xuất việc khen thưởng đối với Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, người có thành tích xuất sắc trong hoạt động thanh tra (nếu có); đ) Kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thanh tra (nếu có); e) Những kiến nghị, đề xuất của Đoàn thanh tra (nếu có). 3. Kết thúc việc tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra báo cáo bằng văn bản về những nội dung tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra với thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Điều 26. Lập, bàn giao hồ sơ thanh tra 1. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức việc lập hồ sơ thanh tra theo quy định về chế độ hồ sơ thanh tra Công an nhân dân. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm bàn giao hồ sơ thanh tra cho cơ quan, đơn vị chủ trì cuộc thanh tra. Trường hợp vì trở ngại khách quan thì thời gian bàn giao hồ sơ thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 90 ngày. 3. Việc giao nhận hồ sơ thanh tra phải được lập thành biên bản. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 27. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2015 và thay thế Quyết định số 427/2007/QĐ - BCA(V24 ) ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy trình thanh tra hành chính trong lực lượng Công an nhân dân. Điều 28. Trách nhiệm thi hành 1. Thanh tra Bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để kịp thời hướng dẫn.
Hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng
02/2015/TTLT-BCA-BQP-BYT
22/01/2015
Thông tư liên tịch
07/03/2015
Công báo số 527+528, năm 2015
27/04/2015
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡn g _____________________________ Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Căn cứ Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 20014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Quyết định số 96/2007/QĐ-TTg ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (gọi tắt là điều trị thay thế) cho phạm nhân, người bị tạm giam, người bị tạm giữ, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng (gọi tắt là đối tượng quản lý) và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (gọi tắt là cơ sở quản lý). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với cơ sở quản lý; Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh); cơ sở điều trị bằng thuốc kháng HIV, cơ sở điều trị thay thế (gọi tắt là cơ sở điều trị). Điều 3. Nguyên tắc quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại cơ sở quản lý 1. Không bố trí đối tượng nhiễm HIV thành đội hoặc tổ riêng để học tập, lao động, sinh hoạt, chữa bệnh, trừ trường hợp mắc các bệnh phải thực hiện điều trị cách ly theo quy định của pháp luật. 2. Bố trí công việc, lao động phù hợp với tình hình sức khỏe của đối tượng nhiễm HIV; không bố trí đối tượng nhiễm HIV làm công việc dễ bị nhiễm trùng, dễ xây xước da hoặc có khả năng lây truyền HIV cho người khác. 3. Tập trung việc tư vấn và xét nghiệm HIV cho các đối tượng là những trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5 và 6 Điều 5 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) (gọi tắt là Luật Phòng, chống HIV/AIDS). 4. Việc thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của đối tượng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 01/2010/TT-BYT ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định trách nhiệm, trình tự thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính. Điều 4. Kinh phí thực hiện Kinh phí thực hiện, nội dung và mức chi, việc lập, phân bổ dự toán, hạch toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị bằng thuốc thay thế cho đối tượng và dự phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính tại Thông tư số 125/2007/TT-BTC ngày 29 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn và điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Khám, phân loại sức khỏe 1. Sau khi tiếp nhận đối tượng quản lý, cơ sở quản lý thực hiện việc khám sức khỏe theo các nội dung sau đây: a) Khai thác tiền sử bệnh, tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng quản lý, trong đó cần chú trọng khai thác thông tin về tình trạng nhiễm HIV và tiền sử điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị bằng thuốc thay thế; b) Khám đánh giá, phân loại tình trạng sức khỏe của đối tượng; c) Sau khi phân loại tình trạng sức khỏe của đối tượng, cơ sở quản lý triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng quản lý theo các nội dung sau đây: - Trường hợp đối tượng quản lý đã điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng: Thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này; - Trường hợp đối tượng quản lý đã biết tình trạng nhiễm HIV nhưng chưa được điều trị HIV/AIDS: Thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này; - Trường hợp đối tượng quản lý có hành vi nguy cơ cao chưa biết tình trạng nhiễm HIV: Thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. 2. Trường hợp đối tượng quản lý đang điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng, việc điều trị cho đối tượng quản lý được thực hiện như sau: a) Cơ sở quản lý có công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý đã điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng gửi cơ sở điều trị, nơi đối tượng quản lý đang điều trị đề nghị dừng cấp thuốc kháng HIV, thuốc điều trị thay thế và gửi phiếu chuyển tiếp điều trị, phiếu chuyển gửi (gọi tắt là phiếu chuyển tiếp điều trị) của đối tượng cho cơ sở quản lý; b) Trong thời gian 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý (ngày nhận được công văn được tính theo dấu tiếp nhận công văn đến của cơ sở điều trị) (gọi tắt là kể từ ngày nhận được công văn), cơ sở điều trị có trách nhiệm gửi cho cơ sở quản lý phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 Thông tư số 32/2013/TT-BYT ngày 17 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quản lý, theo dõi điều trị người nhiễm HIV và người phơi nhiễm với HIV (gọi tắt là Thông tư số 32/2013/TT-BYT), phiếu chuyển gửi của đối tượng theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày 12 tháng 04 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (gọi tắt là Thông tư số 12/2013/TT-BYT); c) Trong thời gian 3 ngày làm việc, kể từ khi nhận được phiếu chuyển tiếp điều trị của cơ sở điều trị, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 và điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này; - Lập hồ sơ điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 và điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch này. 3. Trường hợp đối tượng quản lý thông báo đã nhiễm HIV nhưng chưa được điều trị HIV/AIDS: a) Cơ sở quản lý có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi đối tượng quản lý đăng ký thường trú để đề nghị xác định tình trạng nhiễm HIV của đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm gửi cơ sở quản lý công văn xác định tình trạng nhiễm HIV của đối tượng quản lý; c) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn trả lời của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 và điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý đủ tiêu chuẩn điều trị theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này; - Quản lý điều trị cho đối tượng quản lý nhiễm HIV chưa đủ tiêu chuẩn điều trị theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 32/2013/TT-BYT; - Tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này đối với các trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh không xác định được tình trạng nhiễm HIV. 4. Trường hợp đối tượng quản lý có hành vi nguy cơ cao chưa biết tình trạng nhiễm HIV, cơ sở quản lý có trách nhiệm thực hiện việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này. Sau khi có kết quả xét nghiệm HIV của đối tượng quản lý, cơ sở quản lý có trách nhiệm: a) Tiến hành việc quản lý, chăm sóc và điều trị cho đối tượng quản lý theo quy định tại tiết thứ nhất và tiết thứ hai Điểm c Khoản 3 Điều này đối với trường hợp đối tượng quản lý có kết quả xét nghiệm HIV dương tính; b) Tiến hành lại việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này đối với các trường hợp đối tượng quản lý có kết quả xét nghiệm HIV âm tính sau 3 tháng tính từ thời điểm được làm xét nghiệm khi mới vào cơ sở quản lý. Điều 6. Tuyên truyền, giáo dục và tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV 1. Biện pháp truyền thông: a) Thực hiện truyền thông nhóm về phòng, chống HIV/AIDS mỗi năm 02 lần cho các đối tượng do cơ sở quản lý đang quản lý. Trường hợp cơ sở quản lý có nhiều phân trại, phân khu thì mỗi phân trại, phân khu phải tổ chức truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS tối thiểu mỗi năm 01 lần; b) Phát thanh thông tin về phòng, chống HIV/AIDS trên hệ thống truyền thanh của cơ sở quản lý theo định kỳ 02 tuần/lần; c) Đưa nội dung kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS vào chương trình giáo dục thường xuyên của cơ sở quản lý; d) Cơ sở quản lý có thể thành lập các nhóm tuyên truyền viên đồng đẳng theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS với nòng cốt là các đối tượng quản lý được lựa chọn, đào tạo để tham gia tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng quản lý khác về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nội dung phòng, chống HIV/AIDS khác liên quan; đ) Các biện pháp truyền thông khác phù hợp với tình hình, đặc điểm của cơ sở quản lý. 2. Nội dung truyền thông: Thực hiện theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống HIV/AIDS. 3. Tổ chức hoạt động tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV: a) Định kỳ mỗi năm một lần, cơ sở quản lý phối hợp với Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở thực hiện tư vấn cho các đối tượng quản lý thuộc cơ sở quản lý theo hình thức tư vấn nhóm (không áp dụng đối với người bị tạm giữ, tạm giam ở trại tạm giam, nhà tạm giữ). Trường hợp cơ sở quản lý có nhiều phân trại, phân khu thì mỗi phân trại, phân khu phải tổ chức tư vấn nhóm thành một lần riêng biệt; b) Trong quá trình quản lý đối tượng quản lý, cán bộ y tế của cơ sở quản lý có trách nhiệm tổ chức hoạt động tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV cho đối tượng quản lý phù hợp với tình hình, đặc điểm của cơ sở quản lý. 4. Nội dung tư vấn: Thực hiện theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư số 06/2012/TT-BYT ngày 20 tháng 4 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về điều kiện thành lập và nội dung hoạt động đối với tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. Điều 7. Tư vấn, xét nghiệm HIV 1. Trường hợp cơ sở quản lý đáp ứng đủ điều kiện thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Quyết định số 647/QĐ-BYT ngày 22 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện (gọi tắt là Quyết định số 647/QĐ-BYT) thì việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Quyết định số 647/QĐ-BYT. 2. Trường hợp cơ sở quản lý đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 9 nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Quyết định số 647/QĐ-BYT thì việc xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý được thực hiện như sau: a) Gửi công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý cần được xét nghiệm HIV đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị phối hợp xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở quản lý, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ sở quản lý trong việc lập kế hoạch lấy mẫu và làm xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý. 3. Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Quyết định số 647/QĐ-BYT, việc tư vấn và xét nghiệm HIV cho đối tượng thực hiện như sau: a) Gửi công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý cần được tư vấn, xét nghiệm HIV đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị phối hợp tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở quản lý, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ sở quản lý trong việc lập kế hoạch tư vấn, lấy mẫu và làm xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý. Điều 8. Lập hồ sơ điều trị 1. Hồ sơ quản lý sức khỏe khi đối tượng quản lý mới được đưa vào cơ sở quản lý được lập theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. 2. Hồ sơ điều trị bằng thuốc kháng HIV của đối tượng quản lý nhiễm HIV được lập theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-BYT . Thẩm quyền lập hồ sơ điều trị như sau: a) Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 hướng dẫn điều kiện và phạm vi chuyên môn của cơ sở y tế điều trị bằng thuốc kháng HIV (gọi tắt là Thông tư số 09/2011/TT-BYT): - Cơ sở điều trị được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) hoặc Cục Quân y - Bộ Quốc phòng chỉ định (gọi tắt là cơ sở điều trị được chỉ định) điều trị HIV/AIDS cho đối tượng tại cơ sở quản lý có trách nhiệm lập hồ sơ bệnh án và chỉ định điều trị cho đối tượng quản lý; - Cơ sở quản lý có trách nhiệm quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc của đối tượng quản lý. b) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT thì cơ sở quản lý lập hồ sơ điều trị, quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc của đối tượng quản lý. 3. Hồ sơ điều trị bằng thuốc thay thế cho đối tượng quản lý được lập theo hướng dẫn chuyên môn về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, cụ thể như sau: a) Trường hợp cơ sở quản lý không đủ điều kiện là cơ sở điều trị nhưng đủ điều kiện là cơ sở cấp phát thuốc theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT-BYT thực hiện như sau: - Cơ sở điều trị được Sở Y tế tỉnh hoặc Cục Quân y - Bộ Quốc phòng chỉ định điều trị thay thế cho đối tượng tại cơ sở quản lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 có trách nhiệm lập hồ sơ bệnh án và điều trị cho đối tượng quản lý; - Cơ sở quản lý có trách nhiệm quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc thay thế của đối tượng quản lý. b) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện là cơ sở điều trị theo quy định Thông tư số 12/2013/TT-BYT thì cơ sở quản lý lập hồ sơ điều trị, quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc điều trị thay thế của đối tượng quản lý theo quy định. Điều 9. Điều trị bằng thuốc kháng HIV 1. Điều trị bằng thuốc kháng HIV cho đối tượng quản lý nhiễm HIV tại các cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT: a) Trường hợp đối tượng chưa được điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội hoặc chưa được điều trị bằng thuốc kháng HIV thực hiện như sau: - Cơ sở quản lý phối hợp với cơ sở điều trị được chỉ định thực hiện việc đánh giá sức khỏe của đối tượng quản lý và xử lý sau đánh giá sức khỏe theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư số 32/2013/TT-BYT; - Trường hợp đối tượng quản lý chưa đủ tiêu chuẩn điều trị thì việc quản lý, theo dõi đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 32/2013/TT-BYT; - Trường hợp đối tượng quản lý đủ tiêu chuẩn điều trị thì việc quản lý, theo dõi đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 32/2013/TT-BYT. b) Trường hợp đối tượng quản lý đang điều trị bằng thuốc kháng HIV ngoài cộng đồng bị đưa vào cơ sở quản lý hoặc đang điều trị bằng thuốc kháng HIV tại cơ sở quản lý khác chuyển đến thực hiện như sau: - Cơ sở quản lý lập danh sách đối tượng quản lý gửi cơ sở điều trị được chỉ định kèm theo bản sao phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý do cơ sở điều trị ngoài cộng đồng, cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi gửi cho cơ sở quản lý chuyển đến để đề nghị cấp thuốc kháng HIV; - Thực hiện việc quản lý, theo dõi việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Điều 11 và khoản 2 Điều 12 Thông tư số 32/2013/TT-BYT. 2. Việc điều trị bằng thuốc kháng HIV tại các cơ sở quản lý đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT thì thực hiện theo quy định tại Thông tư số 32/2013/TT-BYT. 3. Trường hợp đối tượng quản lý chuyển đến cơ sở quản lý khác hoặc đối tượng quản lý được trả về cộng đồng thì việc đánh giá sức khỏe của đối tượng và xử lý sau đánh giá sức khỏe cho đối tượng thực hiện theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch này. 4. Cơ sở quản lý liên hệ với Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở để được hướng dẫn, hỗ trợ về thực hiện xét nghiệm tế bào CD4. Điều 10. Điều trị bằng thuốc thay thế 1. Việc điều trị bằng thuốc thay thế tại cơ sở quản lý không đủ điều kiện là cơ sở điều trị nhưng đủ điều kiện là cơ sở cấp phát thuốc theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT-BYT thực hiện như sau: a) Cơ sở quản lý lập danh sách đối tượng quản lý gửi cơ sở điều trị thay thế được chỉ định kèm theo bản sao phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý do cơ sở điều trị được chỉ định hoặc cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi gửi cho cơ sở quản lý nơi chuyển đến để đề nghị cấp thuốc điều trị thay thế; Trường hợp đối tượng quản lý đã bỏ điều trị từ 06 ngày trở lên hoặc tình trạng sức khỏe yếu thì phải thực hiện lại việc đánh giá sức khỏe cho đối tượng quản lý và xử lý sau đánh giá sức khỏe theo quy định tại Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30 tháng 8 năm 2010 hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (sau đây gọi tắt là Quyết định số 3140/QĐ-BYT). b) Cơ sở quản lý thực hiện việc cấp phát thuốc điều trị thay thế và theo dõi việc sử dụng thuốc điều trị thay thế của đối tượng quản lý. 2. Việc điều trị bằng thuốc thay thế tại cơ sở quản lý đủ điều kiện là cơ sở điều trị theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT-BYT thì thực hiện theo quy định tại Quyết định số 3140/QĐ-BYT. 3. Trường hợp chuyển đối tượng đến cơ sở quản lý khác hoặc đối tượng được trả về cộng đồng: Thực hiện theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 12/2013/TT-BYT. Điều 11. Dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát thuốc kháng HIV miễn phí, thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý 1. Duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý: a) Bộ Y tế (Cục Phòng, chống HIV/AIDS) duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế. Quy trình dự trù, phê duyệt dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát thuốc miễn phí thực hiện theo quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều này; b) Sở Y tế (Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS) duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế. Quy trình dự trù và phê duyệt dự trù sử dụng thuốc miễn phí thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế thực hiện theo quy định hiện hành; c) Cục Quân Y - Bộ Quốc phòng, Cục Y tế - Bộ Công an duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, ngành mình. Quy trình dự trù và phê duyệt dự trù sử dụng thuốc miễn phí thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, ngành thực hiện theo quy định hiện hành. 2. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế: a) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT, việc dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí thực hiện như sau: - Hàng năm, cơ sở quản lý lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Cơ sở quản lý có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh; + Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng vi rút hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý, đồng thời hàng tháng báo cáo tình hình sử dụng thuốc HIV về Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng. b) Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT, việc dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí thực hiện như sau: - Hàng năm, cơ sở điều trị được chỉ định lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Cơ sở điều trị được chỉ định có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh để đề nghị cấp thuốc; + Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở điều trị được chỉ định; + Cơ sở điều trị được chỉ định tiếp nhận thuốc kháng HIV do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng HIV hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý đồng thời báo cáo tình hình sử dụng thuốc kháng HIV về cơ sở điều trị; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng. c) Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc kháng vi rút HIV miễn phí của cơ sở quản lý đã được duyệt dự trù trong năm do Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở hoặc Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế phối hợp với cơ sở quản lý hoặc cơ sở điều trị thực hiện. 3. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế miễn phí từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế: a) Hàng năm, cơ sở quản lý lập dự trù thuốc điều trị thay thế cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở hoặc cơ sở điều trị thay thế được chỉ định theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để tổng hợp gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc điều trị thay thế của tỉnh trình Sở Y tế để đề nghị Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế phê duyệt dự trù; b) Việc phân phối thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: - Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để đề nghị cấp thuốc; - Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý. c) Việc quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế tại cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành; d) Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc điều trị thay thế của cơ sở quản lý đã được duyệt dự trù trong năm do cơ sở quản lý và đơn vị phân phối thuốc thống nhất thực hiện. 4. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý, sử dụng thuốc kháng HIV, thuốc điều trị thay thế miễn phí từ nguồn thuốc thuộc quyền quản lý của Bộ Y tế đối với các cơ sở quản lý thuộc Bộ Quốc phòng: a) Dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí - Hàng năm, bệnh viện quân đội theo phân cấp của Bộ Quốc phòng (gọi tắt là bệnh viện) lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi Cục Quân y - Bộ Quốc phòng. Cục Quân y - Bộ Quốc phòng tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Bệnh viện có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho bệnh viện; + Bệnh viện tiếp nhận thuốc kháng HIV do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng HIV hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý đồng thời báo cáo tình hình sử dụng thuốc kháng HIV về Bệnh viện. Bệnh viện chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và gửi báo cáo về Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế theo quy định; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng; - Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí của bệnh viện đã được duyệt dự trù trong năm do Cục phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, bệnh viện và đơn vị phân phối thống nhất thực hiện. b) Dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc điều trị thay thế miễn phí: - Hàng năm, bệnh viện lập dự trù thuốc điều trị thay thế cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Cục Quân y - Bộ Quốc phòng. Cục Quân y - Bộ Quốc phòng tổng hợp nhu cầu thuốc điều trị thay thế và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc điều trị thay thế hàng năm; - Việc phân phối thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Bệnh viện có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để đề nghị cấp thuốc; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc điều trị thay thế cho bệnh viện; + Bệnh viện tiếp nhận thuốc điều trị thay thế do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển cho cơ sở quản lý; - Việc quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế tại cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành; - Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc điều trị thay thế của bệnh viện đã được duyệt dự trù trong năm do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, bệnh viện và đơn vị phân phối thống nhất thực hiện. Điều 12. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý 1. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác: a) Trong thời gian 15 ngày làm việc, trước ngày đối tượng quản lý chuyển đến cơ sở quản lý khác, cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi có trách nhiệm: - Gửi công văn đề nghị cơ sở điều trị được chỉ định theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điểm a, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý. Quy trình lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý thực hiện theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này; - Lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý trong trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện điều trị bằng thuốc kháng HIV. b) Trong thời gian 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, cơ sở điều trị được chỉ định có trách nhiệm lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng và gửi cho cơ sở quản lý; c) Trong thời gian 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng, cơ sở quản lý nơi đối tượng chuyển đi có trách nhiệm: - Gửi công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng để đề nghị cơ sở quản lý nơi đối tượng chuyển đến tiếp tục điều trị cho đối tượng; - Gửi công văn thông báo cho Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị dừng cấp thuốc điều trị cho đối tượng quản lý. d) Cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đến có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này; - Thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Thông tư liên tịch này. 2. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá: a) Trong thời gian 10 ngày làm việc, trước ngày đối tượng quản lý được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Gửi công văn đề nghị cơ sở điều trị được chỉ định theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điểm a, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý. Quy trình lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý thực hiện theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này; - Lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý trong trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện điều trị bằng thuốc kháng HIV. b) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, cơ sở điều trị được chỉ định có trách nhiệm lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng và gửi cho cơ sở quản lý; c) Trong thời gian 15 ngày làm việc, trước ngày đối tượng được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Gửi công văn thông báo cho Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở để đề nghị dừng cấp thuốc điều trị cho đối tượng quản lý; - Gửi công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng để đề nghị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh nơi đối tượng đăng ký tiếp tục điều trị sau khi trở về cộng đồng liên hệ, giới thiệu cho đối tượng đến các cơ sở điều trị phù hợp. Điều 13. Kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở quản lý 1. Cán bộ, nhân viên của cơ sở quản lý và đối tượng phải tuân thủ việc rửa tay đúng chỉ định và đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế. 2. Thực hiện quy định về vô khuẩn theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (gọi tắt là Thông tư số 18/2009/TT-BYT). 3. Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và phương tiện chăm sóc, điều trị theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 18/2009/TT-BYT. 4. Cán bộ, nhân viên của cơ sở quản lý phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi tiếp xúc với máu, dịch sinh học khi chăm sóc, điều trị với mọi người bệnh không phân biệt bệnh được chẩn đoán và áp dụng các dự phòng bổ sung theo đường lây. 5. Đối tượng nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng thuốc phải được áp dụng biện pháp phòng ngừa cách ly phù hợp với đường lây truyền của bệnh. 6. Cơ sở quản lý tổ chức, giám sát, phát hiện và thông báo, báo cáo các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm. 7. Có quy định và thực hiện vệ sinh tẩy uế buồng bệnh và các phương tiện chăm sóc liên quan ngay sau khi đối tượng mắc các bệnh truyền nhiễm có khả năng gây dịch được chuyển đi hoặc tử vong. 8. Các đồ vải nhiễm khuẩn, đồ vải có máu và dịch tiết sinh học phải thu gom, vận chuyển và xử lý riêng bảo đảm an toàn. Điều 14. Xử lý mẫu vật và mai táng đối tượng quản lý nhiễm HIV chết 1. Việc xử lý mẫu vật của đối tượng quản lý nhiễm HIV chết được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2011/TT-BYT ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về chế độ quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm. 2. Việc bảo quản, ướp, mai táng, di chuyển thi hài của đối tượng nhiễm HIV/AIDS chết thực hiện theo quy định tại Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng 3 năm 2015 và thay thế các văn bản dưới đây: a) Quyết định số 511/1999/QĐ-BCA(V26 ) của Bộ trưởng Bộ Công an ngày 03 tháng 9 năm 1999 về việc ban hành quy chế về phòng, chống HIV/AIDS trong trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; b) Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT ngày 24 tháng 02 năm 2003 của liên bộ Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Y tế hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý; c) Thông tư liên tịch số 100/2003/TTLT-BQP-BTC-BYT ngày 22 tháng 8 năm 2003 của liên bộ Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Y tế hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý; 2. Trường hợp các văn bản được dẫn chiếu trong văn bản này bị thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo văn bản thay thế hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung. Điều 16. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Công an, Sở Y tế, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=66817&Keyword=
2025-09-24T02:33:50.321828
../data\bocongan\022015TTLT-BCA-BQP-BYT\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡn g _____________________________ Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Căn cứ Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 02/2014/NĐ - CP ngày 10 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 20014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ - CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ - CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Quyết định số 96/2007/QĐ - TTg ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (gọi tắt là điều trị thay thế) cho phạm nhân, người bị tạm giam, người bị tạm giữ, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng (gọi tắt là đối tượng quản lý) và dự phòng lây nhiễm HIV tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (gọi tắt là cơ sở quản lý). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với cơ sở quản lý; Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh); cơ sở điều trị bằng thuốc kháng HIV, cơ sở điều trị thay thế (gọi tắt là cơ sở điều trị). Điều 3. Nguyên tắc quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm HIV tại cơ sở quản lý 1. Không bố trí đối tượng nhiễm HIV thành đội hoặc tổ riêng để học tập, lao động, sinh hoạt, chữa bệnh, trừ trường hợp mắc các bệnh phải thực hiện điều trị cách ly theo quy định của pháp luật. 2. Bố trí công việc, lao động phù hợp với tình hình sức khỏe của đối tượng nhiễm HIV; không bố trí đối tượng nhiễm HIV làm công việc dễ bị nhiễm trùng, dễ xây xước da hoặc có khả năng lây truyền HIV cho người khác. 3. Tập trung việc tư vấn và xét nghiệm HIV cho các đối tượng là những trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5 và 6 Điều 5 Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) (gọi tắt là Luật Phòng, chống HIV/AIDS). 4. Việc thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của đối tượng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 01/2010/TT - BYT ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định trách nhiệm, trình tự thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính. Điều 4. Kinh phí thực hiện Kinh phí thực hiện, nội dung và mức chi, việc lập, phân bổ dự toán, hạch toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn, điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị bằng thuốc thay thế cho đối tượng và dự phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính tại Thông tư số 125/2007/TT - BTC ngày 29 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn và điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Khám, phân loại sức khỏe 1. Sau khi tiếp nhận đối tượng quản lý, cơ sở quản lý thực hiện việc khám sức khỏe theo các nội dung sau đây: a) Khai thác tiền sử bệnh, tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng quản lý, trong đó cần chú trọng khai thác thông tin về tình trạng nhiễm HIV và tiền sử điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị bằng thuốc thay thế; b) Khám đánh giá, phân loại tình trạng sức khỏe của đối tượng; c) Sau khi phân loại tình trạng sức khỏe của đối tượng, cơ sở quản lý triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng quản lý theo các nội dung sau đây: - Trường hợp đối tượng quản lý đã điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng: Thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này; - Trường hợp đối tượng quản lý đã biết tình trạng nhiễm HIV nhưng chưa được điều trị HIV/AIDS: Thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này; - Trường hợp đối tượng quản lý có hành vi nguy cơ cao chưa biết tình trạng nhiễm HIV: Thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. 2. Trường hợp đối tượng quản lý đang điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng, việc điều trị cho đối tượng quản lý được thực hiện như sau: a) Cơ sở quản lý có công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý đã điều trị HIV/AIDS, điều trị thay thế ngoài cộng đồng gửi cơ sở điều trị, nơi đối tượng quản lý đang điều trị đề nghị dừng cấp thuốc kháng HIV, thuốc điều trị thay thế và gửi phiếu chuyển tiếp điều trị, phiếu chuyển gửi (gọi tắt là phiếu chuyển tiếp điều trị) của đối tượng cho cơ sở quản lý; b) Trong thời gian 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý (ngày nhận được công văn được tính theo dấu tiếp nhận công văn đến của cơ sở điều trị) (gọi tắt là kể từ ngày nhận được công văn), cơ sở điều trị có trách nhiệm gửi cho cơ sở quản lý phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 Thông tư số 32/2013/TT - BYT ngày 17 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quản lý, theo dõi điều trị người nhiễm HIV và người phơi nhiễm với HIV (gọi tắt là Thông tư số 32/2013/TT - BYT), phiếu chuyển gửi của đối tượng theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 Thông tư số 12/2013/TT - BYT ngày 12 tháng 04 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 96/2012/NĐ - CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (gọi tắt là Thông tư số 12/2013/TT - BYT); c) Trong thời gian 3 ngày làm việc, kể từ khi nhận được phiếu chuyển tiếp điều trị của cơ sở điều trị, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 và điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này; - Lập hồ sơ điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 và điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch này. 3. Trường hợp đối tượng quản lý thông báo đã nhiễm HIV nhưng chưa được điều trị HIV/AIDS: a) Cơ sở quản lý có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi đối tượng quản lý đăng ký thường trú để đề nghị xác định tình trạng nhiễm HIV của đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm gửi cơ sở quản lý công văn xác định tình trạng nhiễm HIV của đối tượng quản lý; c) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn trả lời của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 và điều trị HIV/AIDS cho đối tượng quản lý đủ tiêu chuẩn điều trị theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này; - Quản lý điều trị cho đối tượng quản lý nhiễm HIV chưa đủ tiêu chuẩn điều trị theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 32/2013/TT - BYT; - Tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này đối với các trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh không xác định được tình trạng nhiễm HIV. 4. Trường hợp đối tượng quản lý có hành vi nguy cơ cao chưa biết tình trạng nhiễm HIV, cơ sở quản lý có trách nhiệm thực hiện việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này. Sau khi có kết quả xét nghiệm HIV của đối tượng quản lý, cơ sở quản lý có trách nhiệm: a) Tiến hành việc quản lý, chăm sóc và điều trị cho đối tượng quản lý theo quy định tại tiết thứ nhất và tiết thứ hai Điểm c Khoản 3 Điều này đối với trường hợp đối tượng quản lý có kết quả xét nghiệm HIV dương tính; b) Tiến hành lại việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này đối với các trường hợp đối tượng quản lý có kết quả xét nghiệm HIV âm tính sau 3 tháng tính từ thời điểm được làm xét nghiệm khi mới vào cơ sở quản lý. Điều 6. Tuyên truyền, giáo dục và tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV 1. Biện pháp truyền thông: a) Thực hiện truyền thông nhóm về phòng, chống HIV/AIDS mỗi năm 02 lần cho các đối tượng do cơ sở quản lý đang quản lý. Trường hợp cơ sở quản lý có nhiều phân trại, phân khu thì mỗi phân trại, phân khu phải tổ chức truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS tối thiểu mỗi năm 01 lần; b) Phát thanh thông tin về phòng, chống HIV/AIDS trên hệ thống truyền thanh của cơ sở quản lý theo định kỳ 02 tuần/lần; c) Đưa nội dung kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS vào chương trình giáo dục thường xuyên của cơ sở quản lý; d) Cơ sở quản lý có thể thành lập các nhóm tuyên truyền viên đồng đẳng theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS với nòng cốt là các đối tượng quản lý được lựa chọn, đào tạo để tham gia tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng quản lý khác về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nội dung phòng, chống HIV/AIDS khác liên quan; đ) Các biện pháp truyền thông khác phù hợp với tình hình, đặc điểm của cơ sở quản lý. 2. Nội dung truyền thông: Thực hiện theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống HIV/AIDS. 3. Tổ chức hoạt động tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV: a) Định kỳ mỗi năm một lần, cơ sở quản lý phối hợp với Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở thực hiện tư vấn cho các đối tượng quản lý thuộc cơ sở quản lý theo hình thức tư vấn nhóm (không áp dụng đối với người bị tạm giữ, tạm giam ở trại tạm giam, nhà tạm giữ). Trường hợp cơ sở quản lý có nhiều phân trại, phân khu thì mỗi phân trại, phân khu phải tổ chức tư vấn nhóm thành một lần riêng biệt; b) Trong quá trình quản lý đối tượng quản lý, cán bộ y tế của cơ sở quản lý có trách nhiệm tổ chức hoạt động tư vấn dự phòng lây nhiễm HIV cho đối tượng quản lý phù hợp với tình hình, đặc điểm của cơ sở quản lý. 4. Nội dung tư vấn: Thực hiện theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư số 06/2012/TT - BYT ngày 20 tháng 4 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về điều kiện thành lập và nội dung hoạt động đối với tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. Điều 7. Tư vấn, xét nghiệm HIV 1. Trường hợp cơ sở quản lý đáp ứng đủ điều kiện thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Quyết định số 647/QĐ - BYT ngày 22 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện (gọi tắt là Quyết định số 647/QĐ - BYT) thì việc tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Quyết định số 647/QĐ - BYT. 2. Trường hợp cơ sở quản lý đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 9 nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Quyết định số 647/QĐ - BYT thì việc xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý được thực hiện như sau: a) Gửi công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý cần được xét nghiệm HIV đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị phối hợp xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở quản lý, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ sở quản lý trong việc lập kế hoạch lấy mẫu và làm xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý. 3. Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Quyết định số 647/QĐ - BYT, việc tư vấn và xét nghiệm HIV cho đối tượng thực hiện như sau: a) Gửi công văn kèm theo danh sách đối tượng quản lý cần được tư vấn, xét nghiệm HIV đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị phối hợp tư vấn, xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý; b) Trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở quản lý, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với cơ sở quản lý trong việc lập kế hoạch tư vấn, lấy mẫu và làm xét nghiệm HIV cho đối tượng quản lý. Điều 8. Lập hồ sơ điều trị 1. Hồ sơ quản lý sức khỏe khi đối tượng quản lý mới được đưa vào cơ sở quản lý được lập theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. 2. Hồ sơ điều trị bằng thuốc kháng HIV của đối tượng quản lý nhiễm HIV được lập theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Thông tư số 32/2013/TT - BYT. Thẩm quyền lập hồ sơ điều trị như sau: a) Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 hướng dẫn điều kiện và phạm vi chuyên môn của cơ sở y tế điều trị bằng thuốc kháng HIV (gọi tắt là Thông tư số 09/2011/TT - BYT): - Cơ sở điều trị được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) hoặc Cục Quân y - Bộ Quốc phòng chỉ định (gọi tắt là cơ sở điều trị được chỉ định) điều trị HIV/AIDS cho đối tượng tại cơ sở quản lý có trách nhiệm lập hồ sơ bệnh án và chỉ định điều trị cho đối tượng quản lý; - Cơ sở quản lý có trách nhiệm quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc của đối tượng quản lý. b) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT thì cơ sở quản lý lập hồ sơ điều trị, quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc của đối tượng quản lý. 3. Hồ sơ điều trị bằng thuốc thay thế cho đối tượng quản lý được lập theo hướng dẫn chuyên môn về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, cụ thể như sau: a) Trường hợp cơ sở quản lý không đủ điều kiện là cơ sở điều trị nhưng đủ điều kiện là cơ sở cấp phát thuốc theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT - BYT thực hiện như sau: - Cơ sở điều trị được Sở Y tế tỉnh hoặc Cục Quân y - Bộ Quốc phòng chỉ định điều trị thay thế cho đối tượng tại cơ sở quản lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 có trách nhiệm lập hồ sơ bệnh án và điều trị cho đối tượng quản lý; - Cơ sở quản lý có trách nhiệm quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc thay thế của đối tượng quản lý. b) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện là cơ sở điều trị theo quy định Thông tư số 12/2013/TT - BYT thì cơ sở quản lý lập hồ sơ điều trị, quản lý hồ sơ điều trị và quản lý việc sử dụng thuốc điều trị thay thế của đối tượng quản lý theo quy định. Điều 9. Điều trị bằng thuốc kháng HIV 1. Điều trị bằng thuốc kháng HIV cho đối tượng quản lý nhiễm HIV tại các cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT: a) Trường hợp đối tượng chưa được điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội hoặc chưa được điều trị bằng thuốc kháng HIV thực hiện như sau: - Cơ sở quản lý phối hợp với cơ sở điều trị được chỉ định thực hiện việc đánh giá sức khỏe của đối tượng quản lý và xử lý sau đánh giá sức khỏe theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư số 32/2013/TT - BYT; - Trường hợp đối tượng quản lý chưa đủ tiêu chuẩn điều trị thì việc quản lý, theo dõi đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 32/2013/TT - BYT; - Trường hợp đối tượng quản lý đủ tiêu chuẩn điều trị thì việc quản lý, theo dõi đối tượng quản lý được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 32/2013/TT - BYT. b) Trường hợp đối tượng quản lý đang điều trị bằng thuốc kháng HIV ngoài cộng đồng bị đưa vào cơ sở quản lý hoặc đang điều trị bằng thuốc kháng HIV tại cơ sở quản lý khác chuyển đến thực hiện như sau: - Cơ sở quản lý lập danh sách đối tượng quản lý gửi cơ sở điều trị được chỉ định kèm theo bản sao phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý do cơ sở điều trị ngoài cộng đồng, cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi gửi cho cơ sở quản lý chuyển đến để đề nghị cấp thuốc kháng HIV; - Thực hiện việc quản lý, theo dõi việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Điều 11 và khoản 2 Điều 12 Thông tư số 32/2013/TT - BYT. 2. Việc điều trị bằng thuốc kháng HIV tại các cơ sở quản lý đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT thì thực hiện theo quy định tại Thông tư số 32/2013/TT - BYT. 3. Trường hợp đối tượng quản lý chuyển đến cơ sở quản lý khác hoặc đối tượng quản lý được trả về cộng đồng thì việc đánh giá sức khỏe của đối tượng và xử lý sau đánh giá sức khỏe cho đối tượng thực hiện theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch này. 4. Cơ sở quản lý liên hệ với Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở để được hướng dẫn, hỗ trợ về thực hiện xét nghiệm tế bào CD4. Điều 10. Điều trị bằng thuốc thay thế 1. Việc điều trị bằng thuốc thay thế tại cơ sở quản lý không đủ điều kiện là cơ sở điều trị nhưng đủ điều kiện là cơ sở cấp phát thuốc theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT - BYT thực hiện như sau: a) Cơ sở quản lý lập danh sách đối tượng quản lý gửi cơ sở điều trị thay thế được chỉ định kèm theo bản sao phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý do cơ sở điều trị được chỉ định hoặc cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi gửi cho cơ sở quản lý nơi chuyển đến để đề nghị cấp thuốc điều trị thay thế; Trường hợp đối tượng quản lý đã bỏ điều trị từ 06 ngày trở lên hoặc tình trạng sức khỏe yếu thì phải thực hiện lại việc đánh giá sức khỏe cho đối tượng quản lý và xử lý sau đánh giá sức khỏe theo quy định tại Quyết định số 3140/QĐ - BYT ngày 30 tháng 8 năm 2010 hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (sau đây gọi tắt là Quyết định số 3140/QĐ - BYT). b) Cơ sở quản lý thực hiện việc cấp phát thuốc điều trị thay thế và theo dõi việc sử dụng thuốc điều trị thay thế của đối tượng quản lý. 2. Việc điều trị bằng thuốc thay thế tại cơ sở quản lý đủ điều kiện là cơ sở điều trị theo quy định tại Thông tư số 12/2013/TT - BYT thì thực hiện theo quy định tại Quyết định số 3140/QĐ - BYT. 3. Trường hợp chuyển đối tượng đến cơ sở quản lý khác hoặc đối tượng được trả về cộng đồng: Thực hiện theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 12/2013/TT - BYT. Điều 11. Dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát thuốc kháng HIV miễn phí, thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý 1. Duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý: a) Bộ Y tế (Cục Phòng, chống HIV/AIDS) duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế. Quy trình dự trù, phê duyệt dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát thuốc miễn phí thực hiện theo quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều này; b) Sở Y tế (Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS) duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế. Quy trình dự trù và phê duyệt dự trù sử dụng thuốc miễn phí thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế thực hiện theo quy định hiện hành; c) Cục Quân Y - Bộ Quốc phòng, Cục Y tế - Bộ Công an duyệt dự trù sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí và thuốc điều trị thay thế miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, ngành mình. Quy trình dự trù và phê duyệt dự trù sử dụng thuốc miễn phí thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, ngành thực hiện theo quy định hiện hành. 2. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý và cấp phát sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí tại cơ sở quản lý từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế: a) Trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT, việc dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí thực hiện như sau: - Hàng năm, cơ sở quản lý lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Cơ sở quản lý có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh; + Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng vi rút hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý, đồng thời hàng tháng báo cáo tình hình sử dụng thuốc HIV về Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng. b) Trường hợp cơ sở quản lý chưa đủ điều kiện thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT - BYT, việc dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí thực hiện như sau: - Hàng năm, cơ sở điều trị được chỉ định lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Cơ sở điều trị được chỉ định có công văn gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh để đề nghị cấp thuốc; + Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở điều trị được chỉ định; + Cơ sở điều trị được chỉ định tiếp nhận thuốc kháng HIV do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng HIV hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý đồng thời báo cáo tình hình sử dụng thuốc kháng HIV về cơ sở điều trị; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng. c) Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc kháng vi rút HIV miễn phí của cơ sở quản lý đã được duyệt dự trù trong năm do Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở hoặc Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế phối hợp với cơ sở quản lý hoặc cơ sở điều trị thực hiện. 3. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế miễn phí từ nguồn thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế: a) Hàng năm, cơ sở quản lý lập dự trù thuốc điều trị thay thế cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở hoặc cơ sở điều trị thay thế được chỉ định theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư này để tổng hợp gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu thuốc điều trị thay thế của tỉnh trình Sở Y tế để đề nghị Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế phê duyệt dự trù; b) Việc phân phối thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: - Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để đề nghị cấp thuốc; - Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý. c) Việc quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế tại cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành; d) Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc điều trị thay thế của cơ sở quản lý đã được duyệt dự trù trong năm do cơ sở quản lý và đơn vị phân phối thuốc thống nhất thực hiện. 4. Quy trình dự trù, phân phối, quản lý, sử dụng thuốc kháng HIV, thuốc điều trị thay thế miễn phí từ nguồn thuốc thuộc quyền quản lý của Bộ Y tế đối với các cơ sở quản lý thuộc Bộ Quốc phòng: a) Dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí - Hàng năm, bệnh viện quân đội theo phân cấp của Bộ Quốc phòng (gọi tắt là bệnh viện) lập dự trù thuốc kháng HIV cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi Cục Quân y - Bộ Quốc phòng. Cục Quân y - Bộ Quốc phòng tổng hợp nhu cầu thuốc kháng HIV và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc kháng HIV hàng năm; - Việc phân phối thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Bệnh viện có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế đề nghị cấp thuốc kháng HIV; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc kháng HIV cho bệnh viện; + Bệnh viện tiếp nhận thuốc kháng HIV do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển thuốc kháng HIV cho cơ sở quản lý. - Cơ sở quản lý chịu trách nhiệm cấp phát thuốc kháng HIV hàng ngày theo phác đồ điều trị và thời gian phù hợp với cơ sở quản lý đồng thời báo cáo tình hình sử dụng thuốc kháng HIV về Bệnh viện. Bệnh viện chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và gửi báo cáo về Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế theo quy định; - Cơ sở quản lý có đối tượng quản lý chuyển đi cấp 02 tháng thuốc điều trị kháng HIV cho đối tượng trong thời gian chuyển từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác hoặc từ cơ sở quản lý ra ngoài cộng đồng; - Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc kháng HIV miễn phí của bệnh viện đã được duyệt dự trù trong năm do Cục phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, bệnh viện và đơn vị phân phối thống nhất thực hiện. b) Dự trù, phân phối, quản lý và sử dụng thuốc điều trị thay thế miễn phí: - Hàng năm, bệnh viện lập dự trù thuốc điều trị thay thế cho các đối tượng được quản lý tại cơ sở quản lý và gửi về Cục Quân y - Bộ Quốc phòng. Cục Quân y - Bộ Quốc phòng tổng hợp nhu cầu thuốc điều trị thay thế và có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để phê duyệt dự trù thuốc điều trị thay thế hàng năm; - Việc phân phối thuốc điều trị thay thế cho cơ sở quản lý thực hiện như sau: + Bệnh viện có công văn gửi Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế để đề nghị cấp thuốc; + Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế có công văn gửi đơn vị phân phối chuyển thuốc điều trị thay thế cho bệnh viện; + Bệnh viện tiếp nhận thuốc điều trị thay thế do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cấp và chuyển cho cơ sở quản lý; - Việc quản lý, sử dụng thuốc điều trị thay thế tại cơ sở quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành; - Việc điều phối nhu cầu sử dụng thuốc điều trị thay thế của bệnh viện đã được duyệt dự trù trong năm do Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, bệnh viện và đơn vị phân phối thống nhất thực hiện. Điều 12. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý 1. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý từ cơ sở quản lý này đến cơ sở quản lý khác: a) Trong thời gian 15 ngày làm việc, trước ngày đối tượng quản lý chuyển đến cơ sở quản lý khác, cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đi có trách nhiệm: - Gửi công văn đề nghị cơ sở điều trị được chỉ định theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điểm a, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý. Quy trình lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý thực hiện theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này; - Lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý trong trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện điều trị bằng thuốc kháng HIV. b) Trong thời gian 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, cơ sở điều trị được chỉ định có trách nhiệm lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng và gửi cho cơ sở quản lý; c) Trong thời gian 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng, cơ sở quản lý nơi đối tượng chuyển đi có trách nhiệm: - Gửi công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng để đề nghị cơ sở quản lý nơi đối tượng chuyển đến tiếp tục điều trị cho đối tượng; - Gửi công văn thông báo cho Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở đề nghị dừng cấp thuốc điều trị cho đối tượng quản lý. d) Cơ sở quản lý nơi đối tượng quản lý chuyển đến có trách nhiệm: - Lập hồ sơ điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này; - Thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV, điều trị thay thế cho đối tượng quản lý theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Thông tư liên tịch này. 2. Thủ tục chuyển tiếp điều trị cho đối tượng quản lý được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá: a) Trong thời gian 10 ngày làm việc, trước ngày đối tượng quản lý được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Gửi công văn đề nghị cơ sở điều trị được chỉ định theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điểm a, Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý. Quy trình lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý thực hiện theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này; - Lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng quản lý trong trường hợp cơ sở quản lý đủ điều kiện thực hiện điều trị bằng thuốc kháng HIV. b) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của cơ sở quản lý, cơ sở điều trị được chỉ định có trách nhiệm lập phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng và gửi cho cơ sở quản lý; c) Trong thời gian 15 ngày làm việc, trước ngày đối tượng được tạm đình chỉ, miễn hoặc hết thời hạn chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được đặc xá, cơ sở quản lý có trách nhiệm: - Gửi công văn thông báo cho Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS cấp tỉnh nơi cơ sở quản lý đặt trụ sở để đề nghị dừng cấp thuốc điều trị cho đối tượng quản lý; - Gửi công văn kèm theo phiếu chuyển tiếp điều trị của đối tượng để đề nghị Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh nơi đối tượng đăng ký tiếp tục điều trị sau khi trở về cộng đồng liên hệ, giới thiệu cho đối tượng đến các cơ sở điều trị phù hợp. Điều 13. Kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở quản lý 1. Cán bộ, nhân viên của cơ sở quản lý và đối tượng phải tuân thủ việc rửa tay đúng chỉ định và đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế. 2. Thực hiện quy định về vô khuẩn theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 18/2009/TT - BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (gọi tắt là Thông tư số 18/2009/TT - BYT). 3. Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và phương tiện chăm sóc, điều trị theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 18/2009/TT - BYT. 4. Cán bộ, nhân viên của cơ sở quản lý phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi tiếp xúc với máu, dịch sinh học khi chăm sóc, điều trị với mọi người bệnh không phân biệt bệnh được chẩn đoán và áp dụng các dự phòng bổ sung theo đường lây. 5. Đối tượng nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng thuốc phải được áp dụng biện pháp phòng ngừa cách ly phù hợp với đường lây truyền của bệnh. 6. Cơ sở quản lý tổ chức, giám sát, phát hiện và thông báo, báo cáo các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm. 7. Có quy định và thực hiện vệ sinh tẩy uế buồng bệnh và các phương tiện chăm sóc liên quan ngay sau khi đối tượng mắc các bệnh truyền nhiễm có khả năng gây dịch được chuyển đi hoặc tử vong. 8. Các đồ vải nhiễm khuẩn, đồ vải có máu và dịch tiết sinh học phải thu gom, vận chuyển và xử lý riêng bảo đảm an toàn. Điều 14. Xử lý mẫu vật và mai táng đối tượng quản lý nhiễm HIV chết 1. Việc xử lý mẫu vật của đối tượng quản lý nhiễm HIV chết được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2011/TT - BYT ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về chế độ quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm. 2. Việc bảo quản, ướp, mai táng, di chuyển thi hài của đối tượng nhiễm HIV/AIDS chết thực hiện theo quy định tại Thông tư số 02/2009/TT - BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng 3 năm 2015 và thay thế các văn bản dưới đây: a) Quyết định số 511/1999/QĐ - BCA(V26 ) của Bộ trưởng Bộ Công an ngày 03 tháng 9 năm 1999 về việc ban hành quy chế về phòng, chống HIV/AIDS trong trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; b) Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT - BCA - BTC - BYT ngày 24 tháng 02 năm 2003 của liên bộ Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Y tế hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý; c) Thông tư liên tịch số 100/2003/TTLT - BQP - BTC - BYT ngày 22 tháng 8 năm 2003 của liên bộ Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Y tế hướng dẫn công tác quản lý, chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam, phạm nhân nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý; 2. Trường hợp các văn bản được dẫn chiếu trong văn bản này bị thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo văn bản thay thế hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung. Điều 16. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Công an, Sở Y tế, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố
02/2016/TTLT-BCA-BQP-BGTVT
20/06/2016
Thông tư liên tịch
03/08/2016
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Thượng tướng Tô Lâm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH H ướng dẫn thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác ph ò ng, chống khủng bố Căn cứ Luật phòng, chống khủng bố năm 2013; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/ 1 1/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Ch í nh phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 107/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải th ố ng nhất ban hành Thông tư liên tịch hư ớ ng d ẫ n thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, ch ố ng khủng bố. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư này quy định về đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau: 1. Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ về phòng, chống khủng bố. 2. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ về phòng, chống khủng bố. Điều 3. Mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng 1. Trang bị, cung cấp kiến thức về pháp luật liên quan đến phòng, chống khủng bố; kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Học viên, sinh viên, cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng cần nắm vững kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ sau đây: a) Kiến thức pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước về phòng, chống khủng bố; hợp tác quốc tế trong phòng, chống khủng bố; b) Kiến thức về hệ thống cơ quan thực hiện và tham gia phòng, chống khủng bố của Việt Nam và các nước trên thế giới; c) Kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện phòng, chống khủng bố; d) Biện pháp, phương pháp tổ chức thực hiện phòng, chống khủng bố; đ) Quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện, tham gia phòng, chống khủng bố. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng 1. Đối tượng đào tạo là học viên, sinh viên các trường Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 2. Đối tượng bồi dưỡng là cán bộ làm công tác tham mưu, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải. Điều 5. Nội dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng 1. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải biên soạn nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng gồm: a) Quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước về phòng, chống khủng bố; b) Biện pháp, phương pháp tổ chức thực hiện phòng, chống khủng bố; c) Kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ phòng, chống khủng bố; d) Kiến thức về hệ thống cơ quan thực hiện và tham gia phòng, chống khủng bố của Việt Nam và các nước trên thế giới; đ) Quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện, tham gia phòng, chống khủng bố. 2. Công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố được thực hiện hàng năm. 3. Phòng, chống khủng bố là nội dung, học phần đào tạo chính thức của các trường, các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 4. Tùy từng đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng xây dựng nội dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Điều 6. Yêu cầu đối với việc biên soạn nội dung, chương trình, tài liệu 1. Nội dung, chương trình, tài liệu biên soạn phải phù hợp với từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng; phải thường xuyên được bổ sung, cập nhật, nâng cao đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và thực hiện công tác phòng, chống khủng bố. 2. Nội dung chương trình, tài liệu phải bảo đảm kết hợp giữa lý luận, thực tiễn và kỹ năng thực hành. Điều 7. Cấp văn bằng đào tạo, ch ứ ng chỉ bồi dưỡng 1. Việc cấp văn bằng đào tạo được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Sau khi cán bộ hoàn thành chương trình bồi dưỡng về công tác phòng, chống khủng bố thì được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố; thủ trưởng cơ sở bồi dưỡng ký và cấp chứng chỉ hoàn thành chương trình bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố. Điều 8. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng 1. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được bố trí trong ngân sách hàng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải. 2. Trường hợp Bộ, ngành gửi học viên, sinh viên, cán bộ của mình sang cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, ngành khác để tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố thì Bộ, ngành gửi cán bộ phải chi trả kinh phí đào tạo, bồi dưỡng. Điều 9. Cơ s ở đào tạo, bồi dưỡng 1. Cơ sở đào tạo là các trường Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 2. Cơ sở bồi dưỡng là các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Điều 10. Trách nhi ệ m của các B ộ 1. Bộ Công an a) Thực hiện việc đào tạo phòng, chống khủng bố trong các trường Công an nhân dân; b) Hàng năm, tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng về phòng, chống khủng bố cho học viên, cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác phòng, chống khủng bố; c) Định kỳ hàng năm, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải tổ chức sơ kết, tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Bộ Quốc phòng a) Phối hợp với Bộ Công an xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Quốc phòng; b) Thực hiện đào tạo phòng, chống khủng bố trong các trường trong Quân đội nhân dân; c) Hàng năm, tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng về phòng, chống khủng bố cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 3. Bộ Giao thông vận tải a) Phối hợp với Bộ Công an xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Giao thông vận tải; b) Hàng năm, căn cứ vào yêu cầu bồi dưỡng về công tác phòng, chống khủng bố của Bộ Giao thông vận tải, cử cán bộ tham gia các khóa bồi dưỡng do Bộ Công an tổ chức hoặc phối hợp với Bộ Công an tổ chức các khóa bồi dưỡng. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 11. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 03 tháng 8 năm 2016. Điều 12. Tổ ch ức thực hiện 1. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải để nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122401&Keyword=
2025-09-24T02:33:40.779907
../data\bocongan\022016TTLT-BCA-BQP-BGTVT\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH H ướng dẫn thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác ph ò ng, chống khủng bố Căn cứ Luật phòng, chống khủng bố năm 2013; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17/ 1 1/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ - CP ngày 22/4/2013 của Ch í nh phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 107/2012/NĐ - CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải th ố ng nhất ban hành Thông tư liên tịch hư ớ ng d ẫ n thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, ch ố ng khủng bố. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Thông tư này quy định về đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau: 1. Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ về phòng, chống khủng bố. 2. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ về phòng, chống khủng bố. Điều 3. Mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng 1. Trang bị, cung cấp kiến thức về pháp luật liên quan đến phòng, chống khủng bố; kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Học viên, sinh viên, cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng cần nắm vững kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ sau đây: a) Kiến thức pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước về phòng, chống khủng bố; hợp tác quốc tế trong phòng, chống khủng bố; b) Kiến thức về hệ thống cơ quan thực hiện và tham gia phòng, chống khủng bố của Việt Nam và các nước trên thế giới; c) Kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện phòng, chống khủng bố; d) Biện pháp, phương pháp tổ chức thực hiện phòng, chống khủng bố; đ) Quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện, tham gia phòng, chống khủng bố. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng 1. Đối tượng đào tạo là học viên, sinh viên các trường Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 2. Đối tượng bồi dưỡng là cán bộ làm công tác tham mưu, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải. Điều 5. Nội dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng 1. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải biên soạn nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng gồm: a) Quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước về phòng, chống khủng bố; b) Biện pháp, phương pháp tổ chức thực hiện phòng, chống khủng bố; c) Kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ phòng, chống khủng bố; d) Kiến thức về hệ thống cơ quan thực hiện và tham gia phòng, chống khủng bố của Việt Nam và các nước trên thế giới; đ) Quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện, tham gia phòng, chống khủng bố. 2. Công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố được thực hiện hàng năm. 3. Phòng, chống khủng bố là nội dung, học phần đào tạo chính thức của các trường, các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 4. Tùy từng đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng xây dựng nội dung, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Điều 6. Yêu cầu đối với việc biên soạn nội dung, chương trình, tài liệu 1. Nội dung, chương trình, tài liệu biên soạn phải phù hợp với từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng; phải thường xuyên được bổ sung, cập nhật, nâng cao đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và thực hiện công tác phòng, chống khủng bố. 2. Nội dung chương trình, tài liệu phải bảo đảm kết hợp giữa lý luận, thực tiễn và kỹ năng thực hành. Điều 7. Cấp văn bằng đào tạo, ch ứ ng chỉ bồi dưỡng 1. Việc cấp văn bằng đào tạo được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Sau khi cán bộ hoàn thành chương trình bồi dưỡng về công tác phòng, chống khủng bố thì được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố; thủ trưởng cơ sở bồi dưỡng ký và cấp chứng chỉ hoàn thành chương trình bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố. Điều 8. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng 1. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được bố trí trong ngân sách hàng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải. 2. Trường hợp Bộ, ngành gửi học viên, sinh viên, cán bộ của mình sang cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, ngành khác để tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng công tác phòng, chống khủng bố thì Bộ, ngành gửi cán bộ phải chi trả kinh phí đào tạo, bồi dưỡng. Điều 9. Cơ s ở đào tạo, bồi dưỡng 1. Cơ sở đào tạo là các trường Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. 2. Cơ sở bồi dưỡng là các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Điều 10. Trách nhi ệ m của các B ộ 1. Bộ Công an a) Thực hiện việc đào tạo phòng, chống khủng bố trong các trường Công an nhân dân; b) Hàng năm, tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng về phòng, chống khủng bố cho học viên, cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác phòng, chống khủng bố; c) Định kỳ hàng năm, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải tổ chức sơ kết, tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 2. Bộ Quốc phòng a) Phối hợp với Bộ Công an xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Quốc phòng; b) Thực hiện đào tạo phòng, chống khủng bố trong các trường trong Quân đội nhân dân; c) Hàng năm, tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng về phòng, chống khủng bố cho học viên, sinh viên, cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố. 3. Bộ Giao thông vận tải a) Phối hợp với Bộ Công an xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống khủng bố thuộc Bộ Giao thông vận tải; b) Hàng năm, căn cứ vào yêu cầu bồi dưỡng về công tác phòng, chống khủng bố của Bộ Giao thông vận tải, cử cán bộ tham gia các khóa bồi dưỡng do Bộ Công an tổ chức hoặc phối hợp với Bộ Công an tổ chức các khóa bồi dưỡng. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 11. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 03 tháng 8 năm 2016. Điều 12. Tổ ch ức thực hiện 1. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải để nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch
02/2016/TTLT-BVHTTDL-BCA
04/05/2016
Thông tư liên tịch
25/06/2016
null
null
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Nguyễn Ngọc Thiện
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch Căn cứ Luật an ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004; Căn cứ Luật công an nhân dân ngày 27 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 thảng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định nguyên tắc, phương thức, nội dung và trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân và cơ quan, tổ chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (sau đây viết gọn là bảo đảm an ninh, trật tự) trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, cơ quan, tổ chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch từ trung ương đến địa phương. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ quy định của pháp luật, nguyên tắc hoạt động của mỗi ngành. 2. Bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương. 3. Chủ động, tích cực, chặt chẽ, thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả. 4. Phối hợp trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, trường hợp vượt quá thẩm quyền phải báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phối hợp giải quyết. 5. Không làm cản trở đến hoạt động thường xuyên của mỗi cơ quan. Điều 4. Phương thức phối hợp 1. Trao đổi thông tin. 2. Tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị sơ kết, hội nghị tổng kết. 3. Thành lập các đoàn công tác, kiểm tra liên ngành. 4. Hình thức khác theo sự thống nhất của các bên. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Phối hợp trao đổi thông tin 1. Nguyên tắc trao đổi thông tin: a) Mọi hoạt động trao đổi thông tin liên quan đến bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch phải bảo đảm các yêu cầu về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ và nguyên tắc hoạt động của mỗi ngành; b) Việc trao đổi thông tin được các đơn vị chuyên môn của các bên trực tiếp thực hiện. 2. Nội dung trao đổi thông tin: a) Thông tin về chương trình và nội dung xây dựng văn bàn quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự; b) Thông tin về tình hình an ninh, trật tự, các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch chống đối và các loại tội phạm thường lợi dụng lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch để hoạt động; thông tin về chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh, trật tự; c) Thông tin về tổ chức, cá nhân ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có tham gia các hoạt động phức tạp về chính trị, an ninh, trật tự, lợi dụng dân chủ nhân quyền, tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thông tin khác có liên quan đến công tác bảo vệ nội bộ ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; d) Thông tin bảo vệ bí mật nhà nước bao gồm: - Thông tin về cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp tin, nhận tin; loại tin, phạm vi, mục đích sử dụng tin trong trường hợp cung cấp tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước độ Mật trong ngành Văn hóa, Thể thao, Du lịch cho cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nước ngoài; - Thông tin về tài liệu, vật mang bí mật nhà nước bị mất, hư hỏng, đánh tráo, bị lộ, lọt hoặc xảy ra hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; đ) Thông tin liên quan đến công tác quản lý nhà nước của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch bao gồm: - Thông tin về những đề nghị, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về hoạt động đối ngoại ở quy mô quốc gia và quốc tế; đoàn Việt Nam ra nước ngoài, đoàn nước ngoài vào Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam, tổ chức cá nhân Việt Nam ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, giảng dạy, huấn luyện, biểu diễn và hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép, hồ sơ đề nghị cấp phép trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch có yếu tố nước ngoài; - Thông tin về cá nhân được xét phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, tác giả, các đồng tác giả có tác phẩm được xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật”; người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch” và các hình thức khen thưởng khác trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Danh mục phim, xuất bản phẩm, bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu bị đình chỉ phát hành, cấm phát hành; - Thông tin về di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và chủ sở hữu trong trường hợp đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào trong nước; thông tin về di vật, cổ vật nghi bị trộm cắp, mua bán trái phép từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam trên cơ sở hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu cổ vật bị mất cắp của tổ chức INTERPOL; việc làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; - Thông tin về công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di tích, quần thể di tích đuợc xếp hạng; các điểm, khu vực được xác định là khu di tích đang được nghiên cứu, xem xét trình cơ quan có thẩm quyền quyết định; các hoạt động khảo cổ trong lãnh thổ đất liền và biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam; - Thông tin về chương trình, nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội, giải thi đấu thể thao, sự kiện văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về các hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo, hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài; - Thông tin về số vụ bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình được phát hiện và tư vấn, hỗ trợ; người gây bạo lực gia đình được phát hiện, được tư vấn tại cơ sở tư vấn phòng, chống bạo lực gia đình; số cơ sở tư vấn, trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình; - Thông tin về các môn thể thao, phương pháp luyện tập thể thao, hoạt động của các môn phái thể thao mới có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự; - Thông tin về những địa bàn cụ thể không được tổ chức cho khách du lịch đến; những địa bàn trọng điểm về quốc phòng và an ninh cần được tham khảo ý kiến của cơ quan công an trước khi mở tuyến, điểm du lịch mới tới những khu vực này; - Thông tin về khách du lịch nhập cảnh, xuất cảnh; - Thông tin về tình hình tội phạm liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; kinh nghiệm của các nước trong việc bảo vệ an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về kết quả điều tra, kết luận thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình; - Thông tin về các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch khi ra nước ngoài có những biểu hiện làm phương hại đến an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam với bạn bè quốc tế; - Thông tin về các chuyên gia nước ngoài đến tư vấn, nghiên cứu khoa học...liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về dự án đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao và du lịch liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; thông tin về tổ chức, cá nhân nước ngoài đang có nhu cầu, chủ trương, kế hoạch hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Các thông tin khác có liên quan. 3. Trách nhiệm của các bên a) Các cơ quan chủ động hoặc theo đề nghị có trách nhiệm cung cấp thông tin quy định tại Khoản 2 Điều này; trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan được đề nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối; b) Cơ quan tiếp nhận thông tin có trách nhiệm xem xét, xử lý thông tin và phản hồi kết quả xử lý thông tin. Điều 6. Phối hợp thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch 1. Nội dung phối hợp bao gồm: a) Về di sản văn hóa - Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền hành vi chiếm đoạt, làm sai lệch di tích, hủy hoại hoặc nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa, đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích và các hành vi lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi; - Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền hành vi trộm cắp, mua bán, trao đổi, vận chuyển, đào bới, trục vớt trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích và di vật, cổ vật có nguồn gốc bất hợp pháp; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài; - Xây dựng và chỉ đạo thực thi phương án bảo vệ cụ thể đối với địa điểm khảo cổ, khu vực bảo vệ di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được lưu giữ tại các di tích, các bảo tàng công lập hoặc được triển lãm, trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản trong nước và nước ngoài; hỗ trợ bảo vệ đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng ngoài công lập và sở hữu tư nhân theo yêu cầu của chủ sở hữu hợp pháp. b) Về nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm - Thẩm định các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị cấp quốc gia, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước cần tham khảo ý kiến của cơ quan Công an; - Phối hợp xử lý trong trường hợp phát sinh các hình thức nghệ thuật biểu diễn, trưng bày, triển lãm văn hóa nghệ thuật, nhiếp ảnh không phù hợp thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự. c) Về văn học Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền tổ chức, cá nhân sáng tác, lưu giữ, truyền bá tác phẩm văn học có nội dung vi phạm pháp luật. Những tác phẩm văn học có yếu tố nước ngoài cần tham khảo ý kiến của cơ quan Công an trước khi xuất bản. d) Về điện ảnh - Thẩm định phim tham dự liên hoan phim quốc tế, liên hoan phim, tuần phim nước ngoài tại Việt Nam, kịch bản phim có yếu tố nước ngoài cần tham khảo ý kiến của cơ quan công an; - Xử lý theo thẩm quyền các trường hợp sản xuất, nhập khẩu, phát hành, phổ biến và lưu trữ phim vi phạm quy định của pháp luật. đ) Về quảng cáo, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo; - Giám sát việc tuân thủ pháp luật về hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. e) Về thư viện - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hành vi đánh tráo, hủy hoại tài liệu thư viện, tàng trữ trái phép hoặc lợi dụng thư viện để truyền bá tài liệu có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh thư viện. g) Về quyền tác giả, quyền liên quan - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan; - Lập cơ sở dữ liệu về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và tăng cường công tác thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. h) Về phòng, chống bạo lực gia đình - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình theo quy đinh của pháp luật, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác khi có yêu cầu; - Thiết lập đường dây nóng để tư vấn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình; phối hợp theo dõi thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. i) Về thể dục, thể thao - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hành vi cá độ, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, gian lận và các hành vi tiêu cực khác trong hoạt động thể dục, thể thao; - Ngăn chặn và xử lý các môn phái phản động, các phương pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu thể thao; - Quản lý các đoàn cán bộ, vận động viên thể thao Việt Nam ra nước ngoài công tác, tập huấn và thi đấu khi có yêu cầu. k) Về du lịch - Bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường du lịch, an toàn tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch và của các cơ quan, doanh nghiệp du lịch Việt Nam ở nước ngoài; - Xây dựng kế hoạch, phương án và triển khai các biện pháp nghiệp vụ tại các địa bàn, tuyến, điểm du lịch để bảo đảm an ninh, trật tự cho các hoạt động kinh doanh và khách du lịch trên địa bàn; - Hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động, kinh doanh du lịch phù hợp pháp luật; hướng dẫn khách du lịch thực hiện đúng quy định về cư trú, đi lại tại Việt Nam và các quy định khác liên quan đến an ninh, trật tự và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật. 2. Trách nhiệm của các bên a) Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch và cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hơp thực hiện nội dung quy định tại Khoản 1 Điều này; b) Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động xây dựng phương án, kế hoạch và đề xuất các giải pháp thực hiện; c) Cơ quan phối hợp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để thực hiện nhiệm vụ theo đề nghị của cơ quan chủ trì, trường họp cần thiết cử người tham gia thực hiện các nhiệm vụ phối hợp đã được thống nhất. Điều 7. Phối hợp trong bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin mạng trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch 1. Trách nhiệm của cơ quan công an a) Phối hợp, hỗ trợ đơn vị có liên quan thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về an toàn thông tin mạng; b) Xây dựng và phối hợp triển khai phương án bảo vệ tài liệu, vật mang bí mật nhà nước độ Tối mật, Tuyệt mật trong việc vận chuyển, giao nhận, cất giữ theo đề nghị của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch; c) Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch thực hiện điều tra, xác minh, xử lý các vụ lộ, lọt, mất bí mật nhà nước liên quan. 2. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch a) Triển khai thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về an toàn thông tin mạng; b) Cung cấp thông tin, tài liệu cho các đơn vị Công an phục vụ công tác xác minh, điều tra và xử lý các vụ lộ, lọt, mất bí mật nhà nước, các vụ vi phạm pháp luật về an ninh mạng; c) Phối hợp với cơ quan Công an bổ sung, sửa đổi danh mục bảo vệ bí mật nhà nước của ngành; xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an toàn trong vận chuyển, mang ra nước ngoài hoặc tiêu hủy tài liệu, vật có mức độ tối mật, tuyệt mật. Điều 8. Phối hợp xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc 1. Trách nhiệm của cơ quan công an a) Hướng dẫn cơ quan, doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch về nội dung, hình thức phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng chế độ, nội quy bảo vệ cơ quan; công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm, bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin mạng; củng cố, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp và các quy định, hoạt động liên quan đến an ninh, trật tự; b) Hướng dẫn hoạt động đấu tranh phản bác lại luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và phần tử xấu. 2. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch a) Phối hợp với cơ quan công an cùng cấp tổ chức các buổi phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong cơ quan; lồng ghép tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; b) Phối hợp với cơ quan công an tổ chức các buổi phổ biến chuyên đề nhằm nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu. Điều 9. Phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự trong việc tổ chức các sự kiện văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch 1. Cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì thực hiện nhiệm vụ sau đây nhằm bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi diễn ra các sự kiện: a) Xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi diễn ra các sự kiện; bảo vệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, khách mời quốc tế, quần chúng nhân dân tham dự sự kiện; b) Xây dựng, triển khai các phương án phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn; c) Quản lý, kiểm soát chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ, các loại pháo, công cụ hỗ trợ, vật cấm khác; d) Hướng dẫn, kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy; bố trí lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy thường trực bảo vệ các khu vực và tại địa điểm tổ chức sự kiện; đ) Tăng cường lực lượng bảo đàm trật tự an toàn giao thông và trật tự công cộng trên các tuyến giao thông, nơi diễn ra các sự kiện; e) Giám sát, hướng dẫn cá nhân, khách mời quốc tế tham dự sự kiện tuân thủ quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, trật tự; g) Kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng quá khích và các mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực, gây rối trật tự công cộng, hành vi đánh bạc, mê tín dị đoan, lưu hành và phát tán văn hóa phẩm đồi trụy, tài liệu tuyên truyền chống phá Nhà nước, kinh doanh văn hóa phẩm trái pháp luật. 2. Cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an ninh, an toàn cho các sự kiện. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch này và đặc điểm, tình hình bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch của từng địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo xây dựng Quy chế phối hợp bảo đảm an ninh quốc gia trật tự, an toàn xã hội giữa cơ quan công an và cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn. 2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, thủ trưởng cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch, thủ trưởng cơ quan công an các cấp ở địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm phổ biến, tổ chức triển khai thi hành, định kỳ hàng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Giao Vụ Pháp chế Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục An ninh Bộ Công an là hai đơn vị thường trực theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình, báo cáo định kỳ hàng năm, tham mưu Lãnh đạo Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Thông tư liên tịch này trong phạm vi toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành Công an. 4. Căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch này, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp dưới, Công an, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch triển khai xây dựng kế hoạch phối hợp công tác đảm bảo an ninh, trật tự trong hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch tại địa phương. Điều 11. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 6 năm 2016. 2. Thông tư liên tịch 06/2009/TTLT-BCA-BVHTTDL ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội trong hoạt động du lịch hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị kịp thời phản ánh về Bộ Công an (qua Tổng cục An ninh), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (qua Vụ Pháp chế) để tổng hợp, phối hợp nghiên cứu, kịp thời giải quyết./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122694&Keyword=
2025-09-24T02:39:02.950606
../data\bocongan\022016TTLT-BVHTTDL-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch Căn cứ Luật an ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004; Căn cứ Luật công an nhân dân ngày 27 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Nghị định số 76/2013/NĐ - CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 thảng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định nguyên tắc, phương thức, nội dung và trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân và cơ quan, tổ chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (sau đây viết gọn là bảo đảm an ninh, trật tự) trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, cơ quan, tổ chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch từ trung ương đến địa phương. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ quy định của pháp luật, nguyên tắc hoạt động của mỗi ngành. 2. Bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương. 3. Chủ động, tích cực, chặt chẽ, thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả. 4. Phối hợp trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, trường hợp vượt quá thẩm quyền phải báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phối hợp giải quyết. 5. Không làm cản trở đến hoạt động thường xuyên của mỗi cơ quan. Điều 4. Phương thức phối hợp 1. Trao đổi thông tin. 2. Tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị sơ kết, hội nghị tổng kết. 3. Thành lập các đoàn công tác, kiểm tra liên ngành. 4. Hình thức khác theo sự thống nhất của các bên. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Phối hợp trao đổi thông tin 1. Nguyên tắc trao đổi thông tin: a) Mọi hoạt động trao đổi thông tin liên quan đến bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch phải bảo đảm các yêu cầu về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ và nguyên tắc hoạt động của mỗi ngành; b) Việc trao đổi thông tin được các đơn vị chuyên môn của các bên trực tiếp thực hiện. 2. Nội dung trao đổi thông tin: a) Thông tin về chương trình và nội dung xây dựng văn bàn quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự; b) Thông tin về tình hình an ninh, trật tự, các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch chống đối và các loại tội phạm thường lợi dụng lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch để hoạt động; thông tin về chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh, trật tự; c) Thông tin về tổ chức, cá nhân ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có tham gia các hoạt động phức tạp về chính trị, an ninh, trật tự, lợi dụng dân chủ nhân quyền, tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thông tin khác có liên quan đến công tác bảo vệ nội bộ ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; d) Thông tin bảo vệ bí mật nhà nước bao gồm: - Thông tin về cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp tin, nhận tin; loại tin, phạm vi, mục đích sử dụng tin trong trường hợp cung cấp tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước độ Mật trong ngành Văn hóa, Thể thao, Du lịch cho cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nước ngoài; - Thông tin về tài liệu, vật mang bí mật nhà nước bị mất, hư hỏng, đánh tráo, bị lộ, lọt hoặc xảy ra hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; đ) Thông tin liên quan đến công tác quản lý nhà nước của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch bao gồm: - Thông tin về những đề nghị, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về hoạt động đối ngoại ở quy mô quốc gia và quốc tế; đoàn Việt Nam ra nước ngoài, đoàn nước ngoài vào Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam, tổ chức cá nhân Việt Nam ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, giảng dạy, huấn luyện, biểu diễn và hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép, hồ sơ đề nghị cấp phép trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch có yếu tố nước ngoài; - Thông tin về cá nhân được xét phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, tác giả, các đồng tác giả có tác phẩm được xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật”; người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch” và các hình thức khen thưởng khác trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Danh mục phim, xuất bản phẩm, bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu bị đình chỉ phát hành, cấm phát hành; - Thông tin về di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và chủ sở hữu trong trường hợp đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào trong nước; thông tin về di vật, cổ vật nghi bị trộm cắp, mua bán trái phép từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam trên cơ sở hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu cổ vật bị mất cắp của tổ chức INTERPOL; việc làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; - Thông tin về công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di tích, quần thể di tích đuợc xếp hạng; các điểm, khu vực được xác định là khu di tích đang được nghiên cứu, xem xét trình cơ quan có thẩm quyền quyết định; các hoạt động khảo cổ trong lãnh thổ đất liền và biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam; - Thông tin về chương trình, nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội, giải thi đấu thể thao, sự kiện văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về các hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo, hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài; - Thông tin về số vụ bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình được phát hiện và tư vấn, hỗ trợ; người gây bạo lực gia đình được phát hiện, được tư vấn tại cơ sở tư vấn phòng, chống bạo lực gia đình; số cơ sở tư vấn, trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình; - Thông tin về các môn thể thao, phương pháp luyện tập thể thao, hoạt động của các môn phái thể thao mới có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự; - Thông tin về những địa bàn cụ thể không được tổ chức cho khách du lịch đến; những địa bàn trọng điểm về quốc phòng và an ninh cần được tham khảo ý kiến của cơ quan công an trước khi mở tuyến, điểm du lịch mới tới những khu vực này; - Thông tin về khách du lịch nhập cảnh, xuất cảnh; - Thông tin về tình hình tội phạm liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; kinh nghiệm của các nước trong việc bảo vệ an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về kết quả điều tra, kết luận thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình; - Thông tin về các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch khi ra nước ngoài có những biểu hiện làm phương hại đến an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam với bạn bè quốc tế; - Thông tin về các chuyên gia nước ngoài đến tư vấn, nghiên cứu khoa học. . liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Thông tin về dự án đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao và du lịch liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; thông tin về tổ chức, cá nhân nước ngoài đang có nhu cầu, chủ trương, kế hoạch hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; - Các thông tin khác có liên quan. 3. Trách nhiệm của các bên a) Các cơ quan chủ động hoặc theo đề nghị có trách nhiệm cung cấp thông tin quy định tại Khoản 2 Điều này; trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan được đề nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối; b) Cơ quan tiếp nhận thông tin có trách nhiệm xem xét, xử lý thông tin và phản hồi kết quả xử lý thông tin. Điều 6. Phối hợp thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch 1. Nội dung phối hợp bao gồm: a) Về di sản văn hóa - Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền hành vi chiếm đoạt, làm sai lệch di tích, hủy hoại hoặc nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa, đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích và các hành vi lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi; - Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền hành vi trộm cắp, mua bán, trao đổi, vận chuyển, đào bới, trục vớt trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích và di vật, cổ vật có nguồn gốc bất hợp pháp; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài; - Xây dựng và chỉ đạo thực thi phương án bảo vệ cụ thể đối với địa điểm khảo cổ, khu vực bảo vệ di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được lưu giữ tại các di tích, các bảo tàng công lập hoặc được triển lãm, trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản trong nước và nước ngoài; hỗ trợ bảo vệ đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng ngoài công lập và sở hữu tư nhân theo yêu cầu của chủ sở hữu hợp pháp. b) Về nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm - Thẩm định các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị cấp quốc gia, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước cần tham khảo ý kiến của cơ quan Công an; - Phối hợp xử lý trong trường hợp phát sinh các hình thức nghệ thuật biểu diễn, trưng bày, triển lãm văn hóa nghệ thuật, nhiếp ảnh không phù hợp thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự. c) Về văn học Phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền tổ chức, cá nhân sáng tác, lưu giữ, truyền bá tác phẩm văn học có nội dung vi phạm pháp luật. Những tác phẩm văn học có yếu tố nước ngoài cần tham khảo ý kiến của cơ quan Công an trước khi xuất bản. d) Về điện ảnh - Thẩm định phim tham dự liên hoan phim quốc tế, liên hoan phim, tuần phim nước ngoài tại Việt Nam, kịch bản phim có yếu tố nước ngoài cần tham khảo ý kiến của cơ quan công an; - Xử lý theo thẩm quyền các trường hợp sản xuất, nhập khẩu, phát hành, phổ biến và lưu trữ phim vi phạm quy định của pháp luật. đ) Về quảng cáo, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo; - Giám sát việc tuân thủ pháp luật về hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. e) Về thư viện - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hành vi đánh tráo, hủy hoại tài liệu thư viện, tàng trữ trái phép hoặc lợi dụng thư viện để truyền bá tài liệu có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh thư viện. g) Về quyền tác giả, quyền liên quan - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan; - Lập cơ sở dữ liệu về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và tăng cường công tác thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. h) Về phòng, chống bạo lực gia đình - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình theo quy đinh của pháp luật, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác khi có yêu cầu; - Thiết lập đường dây nóng để tư vấn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình; phối hợp theo dõi thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. i) Về thể dục, thể thao - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hành vi cá độ, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, gian lận và các hành vi tiêu cực khác trong hoạt động thể dục, thể thao; - Ngăn chặn và xử lý các môn phái phản động, các phương pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu thể thao; - Quản lý các đoàn cán bộ, vận động viên thể thao Việt Nam ra nước ngoài công tác, tập huấn và thi đấu khi có yêu cầu. k) Về du lịch - Bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường du lịch, an toàn tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch và của các cơ quan, doanh nghiệp du lịch Việt Nam ở nước ngoài; - Xây dựng kế hoạch, phương án và triển khai các biện pháp nghiệp vụ tại các địa bàn, tuyến, điểm du lịch để bảo đảm an ninh, trật tự cho các hoạt động kinh doanh và khách du lịch trên địa bàn; - Hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động, kinh doanh du lịch phù hợp pháp luật; hướng dẫn khách du lịch thực hiện đúng quy định về cư trú, đi lại tại Việt Nam và các quy định khác liên quan đến an ninh, trật tự và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật. 2. Trách nhiệm của các bên a) Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch và cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hơp thực hiện nội dung quy định tại Khoản 1 Điều này; b) Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động xây dựng phương án, kế hoạch và đề xuất các giải pháp thực hiện; c) Cơ quan phối hợp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để thực hiện nhiệm vụ theo đề nghị của cơ quan chủ trì, trường họp cần thiết cử người tham gia thực hiện các nhiệm vụ phối hợp đã được thống nhất. Điều 7. Phối hợp trong bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin mạng trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch 1. Trách nhiệm của cơ quan công an a) Phối hợp, hỗ trợ đơn vị có liên quan thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về an toàn thông tin mạng; b) Xây dựng và phối hợp triển khai phương án bảo vệ tài liệu, vật mang bí mật nhà nước độ Tối mật, Tuyệt mật trong việc vận chuyển, giao nhận, cất giữ theo đề nghị của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch; c) Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch thực hiện điều tra, xác minh, xử lý các vụ lộ, lọt, mất bí mật nhà nước liên quan. 2. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch a) Triển khai thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về an toàn thông tin mạng; b) Cung cấp thông tin, tài liệu cho các đơn vị Công an phục vụ công tác xác minh, điều tra và xử lý các vụ lộ, lọt, mất bí mật nhà nước, các vụ vi phạm pháp luật về an ninh mạng; c) Phối hợp với cơ quan Công an bổ sung, sửa đổi danh mục bảo vệ bí mật nhà nước của ngành; xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an toàn trong vận chuyển, mang ra nước ngoài hoặc tiêu hủy tài liệu, vật có mức độ tối mật, tuyệt mật. Điều 8. Phối hợp xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc 1. Trách nhiệm của cơ quan công an a) Hướng dẫn cơ quan, doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch về nội dung, hình thức phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng chế độ, nội quy bảo vệ cơ quan; công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm, bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin mạng; củng cố, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp và các quy định, hoạt động liên quan đến an ninh, trật tự; b) Hướng dẫn hoạt động đấu tranh phản bác lại luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và phần tử xấu. 2. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch a) Phối hợp với cơ quan công an cùng cấp tổ chức các buổi phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong cơ quan; lồng ghép tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; b) Phối hợp với cơ quan công an tổ chức các buổi phổ biến chuyên đề nhằm nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu. Điều 9. Phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự trong việc tổ chức các sự kiện văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch 1. Cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì thực hiện nhiệm vụ sau đây nhằm bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi diễn ra các sự kiện: a) Xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi diễn ra các sự kiện; bảo vệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, khách mời quốc tế, quần chúng nhân dân tham dự sự kiện; b) Xây dựng, triển khai các phương án phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn; c) Quản lý, kiểm soát chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ, các loại pháo, công cụ hỗ trợ, vật cấm khác; d) Hướng dẫn, kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy; bố trí lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy thường trực bảo vệ các khu vực và tại địa điểm tổ chức sự kiện; đ) Tăng cường lực lượng bảo đàm trật tự an toàn giao thông và trật tự công cộng trên các tuyến giao thông, nơi diễn ra các sự kiện; e) Giám sát, hướng dẫn cá nhân, khách mời quốc tế tham dự sự kiện tuân thủ quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, trật tự; g) Kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng quá khích và các mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực, gây rối trật tự công cộng, hành vi đánh bạc, mê tín dị đoan, lưu hành và phát tán văn hóa phẩm đồi trụy, tài liệu tuyên truyền chống phá Nhà nước, kinh doanh văn hóa phẩm trái pháp luật. 2. Cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an ninh, an toàn cho các sự kiện. Chương III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch này và đặc điểm, tình hình bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch của từng địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo xây dựng Quy chế phối hợp bảo đảm an ninh quốc gia trật tự, an toàn xã hội giữa cơ quan công an và cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn. 2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, thủ trưởng cơ quan nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch, thủ trưởng cơ quan công an các cấp ở địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm phổ biến, tổ chức triển khai thi hành, định kỳ hàng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Giao Vụ Pháp chế Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục An ninh Bộ Công an là hai đơn vị thường trực theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình, báo cáo định kỳ hàng năm, tham mưu Lãnh đạo Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Thông tư liên tịch này trong phạm vi toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành Công an. 4. Căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch này, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp dưới, Công an, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch triển khai xây dựng kế hoạch phối hợp công tác đảm bảo an ninh, trật tự trong hoạt động văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch tại địa phương. Điều 11. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 6 năm 2016. 2. Thông tư liên tịch 06/2009/TTLT - BCA - BVHTTDL ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội trong hoạt động du lịch hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị kịp thời phản ánh về Bộ Công an (qua Tổng cục An ninh), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (qua Vụ Pháp chế) để tổng hợp, phối hợp nghiên cứu, kịp thời giải quyết. /.
Quy định về việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc
02/2020/TTLT-BCA-BQP-BYT-BNG-TANDTC-VKSNDTC
14/10/2020
Thông tư liên tịch
01/12/2020
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thiếu tướng Lê Quốc Hùng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019; Căn cứ Nghị định số 43/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định về việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án tử hình; tổ chức thực hiện thi hành án tử hình; hoãn thi hành án tử hình; hồ sơ thi hành án tử hình; việc giải quyết cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt, mai táng người đã bị thi hành án tử hình và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan: Công an, Quân đội, Y tế, Ngoại giao, Tòa án, Viện kiểm sát trong tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức thực hiện thi hành án tử hình và người bị thi hành án tử hình. Điều 3. Nguyên tắc thi hành án tử hình 1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và các quy định về thi hành án hình sự; bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại và chính sách nhân đạo của Nhà nước trong thi hành án tử hình. 2. Bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng pháp luật. 3. Bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của Hội đồng thi hành án tử hình; thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị đã được pháp luật quy định. 4. Việc thi hành án tử hình phải được thực hiện tại địa điểm thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật. Điều 4. Kinh phí thi hành án tử hình 1. Kinh phí mua thuốc tiêm phục vụ cho thi hành án tử hình và bảo đảm cho thi hành án tử hình do ngân sách nhà nước cấp trong dự toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh), cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. 2. Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm chi trả bồi dưỡng cho những người tham gia thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 3 và chi phí mai táng quy định tại Điều 7 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc (sau đây gọi chung là Nghị định số 43/2020/NĐ-CP ) và chi phí khác phục vụ công tác thi hành án tử hình. Chương II TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 5. Ra quyết định thi hành án tử hình 1. Sau khi kiểm tra hồ sơ của người bị kết án tử hình gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự, xác định người bị kết án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không thuộc trường hợp đang bị điều tra, truy tố, xét xử về một tội phạm khác thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 77 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp trong một vụ án có nhiều người bị kết án tử hình thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành án tử hình đối với từng người bị kết án tử hình trong vụ án đó. Trường hợp một người bị kết án tử hình nhiều lần do các Tòa án khác nhau tuyên án, thì Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm lần cuối cùng đã tuyên án tử hình có trách nhiệm ra quyết định thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình đó. Điều 6. Xây dựng kế hoạch thi hành án tử hình 1. Ngay sau khi ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phân công cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xây dựng kế hoạch thi hành án tử hình. Kế hoạch thi hành án tử hình bao gồm các nội dung chính sau đây: a) Tình hình có liên quan đến việc tổ chức thi hành án tử hình; b) Mục đích, yêu cầu; c) Phân công nhiệm vụ cho các thành viên của Hội đồng thi hành án tử hình; d) Thời gian, địa điểm tổ chức thi hành án tử hình; đ) Dự trù kinh phí thi hành án tử hình, các điều kiện cần thiết khác bảo đảm cho việc thi hành án; e) Tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình. 2. Kế hoạch thi hành án tử hình phải được gửi ngay cho các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình. Điều 7. Phiên họp của Hội đồng thi hành án tử hình 1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải tổ chức họp Hội đồng. Địa điểm, thời gian họp Hội đồng thi hành án tử hình do Chủ tịch Hội đồng quyết định và chủ trì cuộc họp. 2. Các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình phải tham gia phiên họp của Hội đồng để thống nhất nội dung kế hoạch. 3. Tại phiên họp, Hội đồng thi hành án tử hình quyết định kế hoạch thi hành án tử hình. Điều 8. Triển khai việc thi hành án tử hình 1. Căn cứ vào kế hoạch thi hành án tử hình của Hội đồng thi hành án tử hình, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập kế hoạch triển khai việc thi hành án tử hình, phân công, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để bảo đảm cho việc thi hành án tử hình. 2. Phân công cán bộ chuyên môn thực hiện việc thi hành án tử hình: a) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phân công cán bộ thi hành án xác định tĩnh mạch; bác sỹ pháp y của Công an cấp tỉnh, đơn vị Quân đội cấp quân khu bộc lộ tĩnh mạch của người bị thi hành án tử hình trong trường hợp không xác định được tĩnh mạch; b) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình có văn bản đề nghị Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cử bác sỹ của bệnh viện trực thuộc đến địa điểm thi hành án để hướng dẫn cán bộ thi hành án bộc lộ tĩnh mạch trong trường hợp cần thiết. 3. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là phụ nữ thì ngay sau khi nhận đủ hồ sơ để đưa bản án tử hình ra thi hành, Hội đồng thi hành án tử hình phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra lệnh trích xuất người bị kết án tử hình đến bệnh viện thuộc Sở Y tế hoặc bệnh viện cấp quân khu, nơi đang giam giữ người bị kết án tử hình để kiểm tra, xác định xem người bị kết án tử hình có thai hay không. Việc kiểm tra phải được lập thành văn bản và có xác nhận của bệnh viện nơi tiến hành kiểm tra, xác định. Điều 9. Hoãn thi hành án tử hình 1. Việc hoãn thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 81 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 của Luật Thi hành án hình sự trong các trường hợp sau: a) Trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn hoặc có trở ngại khách quan khác không thể thực hiện được việc thi hành án tử hình hoặc trên đường áp giải người bị thi hành án tử hình bị tai nạn phải đưa đến bệnh viện; b) Trang thiết bị, dụng cụ thi hành án tử hình bị hư hỏng; không xác định được tĩnh mạch; thuốc thi hành án tử hình không đúng chủng loại, chất lượng, số lượng hoặc các điều kiện khác bảo đảm cho việc thi hành án tử hình không đáp ứng được. Điều 10. Hồ sơ thi hành án tử hình 1. Hồ sơ thi hành án tử hình gồm các tài liệu sau: a) Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, hồ sơ gồm các tài liệu theo quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n, o và p khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự và các tài liệu: - Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; - Biên bản hoãn thi hành án tử hình (trường hợp hoãn); - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình để làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền để đề nghị cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình biết để làm đơn nhận tử thi, tro cốt trong trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho người có đơn xin nhận tử thi, tro cốt về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận cho nhận tử thi, tro cốt người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận cho nhận tử thi, tro cốt người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Hội đồng thi hành án tử hình về việc không cho nhận tử thi; - Thông báo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình về mai táng; - Biên bản giao, nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình. b) Trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (gồm trường hợp có kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp có kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và bản án phúc thẩm; c) Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, trừ tài liệu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự; d) Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng bản án phúc thẩm vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; có quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, trừ tài liệu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự; đ) Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm d khoản 1 Điều này và các tài liệu: - Văn bản yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; - Văn bản thông báo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc không nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc nhất trí với kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (trong trường hợp Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định về việc không nhất trí kết quả của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); - Văn bản thông báo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (trong trường hợp Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét lại quyết định của mình). 2. Việc lập, quản lý, lưu giữ, bảo quản hồ sơ thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 11. Biên bản thi hành án tử hình 1. Thư ký Hội đồng thi hành án tử hình có trách nhiệm lập biên bản ghi lại toàn bộ các diễn biến của việc thi hành án tử hình. 2. Biên bản thi hành án tử hình phải bảo đảm các nội dung sau đây: Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm thi hành án tử hình, nơi lập biên bản; những việc đã làm theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tình hình, diễn biến trong khi thi hành án tử hình. Biên bản phải được đọc cho Hội đồng thi hành án tử hình và những người chứng kiến nghe. Các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình và người chứng kiến phải cùng ký vào biên bản, nếu có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên. Điều 12. Trường hợp người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình 1. Trong thời gian giam giữ chờ thi hành án tử hình đối với trường hợp đã có quyết định thi hành án tử hình, quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình hoặc Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Sau khi tiến hành xong các thủ tục xác định nguyên nhân chết và được phép của cơ quan có thẩm quyền, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình hoặc Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi Tòa án ra quyết định thi hành án tử hình có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi người bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức mai táng. 2. Trường hợp người bị thi hành án tử hình chết trên đường áp giải đến địa điểm thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi có địa điểm thi hành án tử hình biết, đồng thời thông báo cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi người bị thi hành án tử hình chết để tiến hành làm các thủ tục theo quy định của pháp luật. Sau khi tiến hành xong các thủ tục xác định nguyên nhân chết và được phép của cơ quan có thẩm quyền, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi Tòa án ra quyết định thi hành án tử hình có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi người bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức mai táng. 3. Chi phí mai táng người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. Chương III THỦ TỤC CHO NHẬN TỬ THI, TRO CỐT, HÀI CỐT VÀ MAI TÁNG NGƯỜI ĐÃ BỊ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 13. Việc làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt 1. Đơn xin nhận tử thi, tro cốt, hài cốt được thực hiện theo các mẫu số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. 2. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là người Việt Nam thì việc thông báo làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài thì Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án thông báo bằng văn bản cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền để đề nghị cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình biết để làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt. Thông báo nêu rõ nhân thân, nơi quản lý giam giữ người bị thi hành án tử hình, địa chỉ liên lạc, các tài liệu liên quan và ấn định thời hạn trả lời. Sau khi Chánh án Tòa án đã ra thông báo mà không nhận được đơn xin nhận tử thi, tro cốt của thân nhân, người đại diện hợp pháp hoặc văn bản trả lời của cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch thì coi như thân nhân, người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình từ chối nhận tử thi, tro cốt. Điều 14. Giải quyết việc cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt và mai táng người đã bị thi hành án tử hình 1. Việc giải quyết cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt và mai táng người đã bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 83 của Luật Thi hành án hình sự. Không tổ chức việc giao nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người đã bị thi hành án tử hình vào ban đêm (từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau). 2. Việc tổ chức mai táng người đã bị thi hành án tử hình phải đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự của địa phương và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm tổ chức mai táng người bị thi hành án tử hình phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng để chỉ định nghĩa trang hoặc địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng phải gửi văn bản thông báo về địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình cho cơ quan thi hành án hình sự đã ra thông báo. 4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thông báo địa điểm mai táng cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án biết, trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài thì thông báo cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền biết. Đồng thời bàn giao đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền của người đã thi hành án tử hình (nếu có), việc giao nhận phải được lập biên bản theo quy định. Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG VIỆC THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 15. Trách nhiệm của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh 1. Thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. 2. Phối hợp với trại tạm giam nơi giam giữ người bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. 3. Đề nghị Phòng Hồ sơ cử cán bộ lăn tay, đối chiếu với danh bản, chỉ bản xác định đúng người bị thi hành án tử hình trước khi thi hành án tử hình. 4. Đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự chụp ảnh, ghi âm lời nói của người bị thi hành án tử hình để gửi lại thân nhân của người đã bị thi hành án tử hình và cử bác sĩ pháp y làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình. 5. Đề nghị Phòng Hậu cần chuẩn bị phương tiện, kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án tử hình, thanh toán chế độ cho Đội Thi hành án tử hình và những người tham gia thi hành án tử hình theo quy định. 6. Chỉ đạo Công an cấp huyện nơi tổ chức thi hành án tử hình bố trí lực lượng, phương tiện phối hợp thực hiện việc thi hành án tử hình. 7. Xây dựng kế hoạch, phương án, phân công nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia thi hành án tử hình và tổ chức thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi thi hành án. 8. Báo cáo Giám đốc Công an cấp tỉnh tăng cường lực lượng chức năng hỗ trợ công tác thi hành án tử hình trong trường hợp cần thiết. Điều 16. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu 1. Thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 77, 78 và 83 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Triển khai theo kế hoạch thi hành án tử hình đã ban hành. 3. Cử cán bộ, công chức của Tòa án là Thư ký giúp Hội đồng thi hành án tử hình. 4. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền trong việc tổ chức thi hành án tử hình. Điều 17. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu 1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu trong việc ra quyết định thi hành án tử hình và thực hiện theo quy định tại Điều 78 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc giải quyết các thủ tục liên quan đến cho nhận hoặc không cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người đã bị thi hành án tử hình. 3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng thi hành án tử hình về trình tự, thủ tục trong quá trình thi hành án tử hình, hoãn thi hành án tử hình; kiểm sát hoạt động thi hành án tử hình của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật. Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu 1. Thực hiện theo quy định tại Điều 13 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. 2. Phối hợp với trại tạm giam nơi giam giữ người bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. 3. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cử cán bộ nghiệp vụ lăn tay đối chiếu với danh bản, chỉ bản xác định đúng người chấp hành án tử hình, trước khi thi hành án tử hình; chụp ảnh, ghi âm lời nói của người bị thi hành án tử hình gửi lại cho thân nhân của người bị thi hành án tử hình. 4. Làm thủ tục đề nghị Viện pháp y Quân đội cử bác sĩ pháp y làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình. 5. Lập kế hoạch cụ thể để huy động và phân công nhiệm vụ cho lực lượng tham gia, bảo đảm phương tiện, kinh phí, cơ sở vật chất, trang bị vũ khí, thông tin liên lạc và các điều kiện cần thiết khác để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện; thanh toán các chế độ cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi thi hành án. 6. Báo cáo Tư lệnh cấp quân khu, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng về tăng cường lực lượng hỗ trợ công tác thi hành án tử hình trong trường hợp cần thiết và kết quả thi hành án tử hình. Điều 19. Trách nhiệm của cơ quan y tế 1. Cục Y tế Bộ Công an; Cục Quân y Bộ Quốc phòng có trách nhiệm lập kế hoạch dự trù thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình hằng năm. 2. Bộ Y tế có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP. 3. Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các bệnh viện trực thuộc thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Nghị định số 43/2020/NĐ-CP và chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp giấy chứng nhận kiểm dịch y tế đối với tử thi (thi thể), tro cốt, hài cốt người đã bị thi hành án tử hình. Điều 20. Trách nhiệm của cơ quan ngoại giao 1. Đơn vị chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm tiếp nhận và trả lời đề nghị của Tòa án cấp tỉnh về việc thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình về quyền xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình. 2. Thông báo cho cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch để liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình về quyền xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình. 3. Phối hợp với Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch trong việc hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết các thủ tục liên quan đến thi hành án tử hình, cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt đối với người nước ngoài. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 21. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2020. 2. Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 06 tháng 6 năm 2013 giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực. Điều 22. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=154991&Keyword=
2025-09-24T02:33:21.724055
../data\bocongan\022020TTLT-BCA-BQP-BYT-BNG-TANDTC-VKSNDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Thi hành án hình sự ngày 14 tháng 6 năm 2019; Căn cứ Nghị định số 43/2020/NĐ - CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch quy định về việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án tử hình; tổ chức thực hiện thi hành án tử hình; hoãn thi hành án tử hình; hồ sơ thi hành án tử hình; việc giải quyết cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt, mai táng người đã bị thi hành án tử hình và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan: Công an, Quân đội, Y tế, Ngoại giao, Tòa án, Viện kiểm sát trong tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức thực hiện thi hành án tử hình và người bị thi hành án tử hình. Điều 3. Nguyên tắc thi hành án tử hình 1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và các quy định về thi hành án hình sự; bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại và chính sách nhân đạo của Nhà nước trong thi hành án tử hình. 2. Bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng pháp luật. 3. Bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của Hội đồng thi hành án tử hình; thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị đã được pháp luật quy định. 4. Việc thi hành án tử hình phải được thực hiện tại địa điểm thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật. Điều 4. Kinh phí thi hành án tử hình 1. Kinh phí mua thuốc tiêm phục vụ cho thi hành án tử hình và bảo đảm cho thi hành án tử hình do ngân sách nhà nước cấp trong dự toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh), cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. 2. Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm chi trả bồi dưỡng cho những người tham gia thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 3 và chi phí mai táng quy định tại Điều 7 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc (sau đây gọi chung là Nghị định số 43/2020/NĐ - CP ) và chi phí khác phục vụ công tác thi hành án tử hình. Chương II TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 5. Ra quyết định thi hành án tử hình 1. Sau khi kiểm tra hồ sơ của người bị kết án tử hình gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự, xác định người bị kết án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không thuộc trường hợp đang bị điều tra, truy tố, xét xử về một tội phạm khác thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 77 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Trường hợp trong một vụ án có nhiều người bị kết án tử hình thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành án tử hình đối với từng người bị kết án tử hình trong vụ án đó. Trường hợp một người bị kết án tử hình nhiều lần do các Tòa án khác nhau tuyên án, thì Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm lần cuối cùng đã tuyên án tử hình có trách nhiệm ra quyết định thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình đó. Điều 6. Xây dựng kế hoạch thi hành án tử hình 1. Ngay sau khi ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phân công cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xây dựng kế hoạch thi hành án tử hình. Kế hoạch thi hành án tử hình bao gồm các nội dung chính sau đây: a) Tình hình có liên quan đến việc tổ chức thi hành án tử hình; b) Mục đích, yêu cầu; c) Phân công nhiệm vụ cho các thành viên của Hội đồng thi hành án tử hình; d) Thời gian, địa điểm tổ chức thi hành án tử hình; đ) Dự trù kinh phí thi hành án tử hình, các điều kiện cần thiết khác bảo đảm cho việc thi hành án; e) Tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình. 2. Kế hoạch thi hành án tử hình phải được gửi ngay cho các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình. Điều 7. Phiên họp của Hội đồng thi hành án tử hình 1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải tổ chức họp Hội đồng. Địa điểm, thời gian họp Hội đồng thi hành án tử hình do Chủ tịch Hội đồng quyết định và chủ trì cuộc họp. 2. Các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình phải tham gia phiên họp của Hội đồng để thống nhất nội dung kế hoạch. 3. Tại phiên họp, Hội đồng thi hành án tử hình quyết định kế hoạch thi hành án tử hình. Điều 8. Triển khai việc thi hành án tử hình 1. Căn cứ vào kế hoạch thi hành án tử hình của Hội đồng thi hành án tử hình, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập kế hoạch triển khai việc thi hành án tử hình, phân công, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để bảo đảm cho việc thi hành án tử hình. 2. Phân công cán bộ chuyên môn thực hiện việc thi hành án tử hình: a) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phân công cán bộ thi hành án xác định tĩnh mạch; bác sỹ pháp y của Công an cấp tỉnh, đơn vị Quân đội cấp quân khu bộc lộ tĩnh mạch của người bị thi hành án tử hình trong trường hợp không xác định được tĩnh mạch; b) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình có văn bản đề nghị Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cử bác sỹ của bệnh viện trực thuộc đến địa điểm thi hành án để hướng dẫn cán bộ thi hành án bộc lộ tĩnh mạch trong trường hợp cần thiết. 3. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là phụ nữ thì ngay sau khi nhận đủ hồ sơ để đưa bản án tử hình ra thi hành, Hội đồng thi hành án tử hình phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra lệnh trích xuất người bị kết án tử hình đến bệnh viện thuộc Sở Y tế hoặc bệnh viện cấp quân khu, nơi đang giam giữ người bị kết án tử hình để kiểm tra, xác định xem người bị kết án tử hình có thai hay không. Việc kiểm tra phải được lập thành văn bản và có xác nhận của bệnh viện nơi tiến hành kiểm tra, xác định. Điều 9. Hoãn thi hành án tử hình 1. Việc hoãn thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 81 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 của Luật Thi hành án hình sự trong các trường hợp sau: a) Trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn hoặc có trở ngại khách quan khác không thể thực hiện được việc thi hành án tử hình hoặc trên đường áp giải người bị thi hành án tử hình bị tai nạn phải đưa đến bệnh viện; b) Trang thiết bị, dụng cụ thi hành án tử hình bị hư hỏng; không xác định được tĩnh mạch; thuốc thi hành án tử hình không đúng chủng loại, chất lượng, số lượng hoặc các điều kiện khác bảo đảm cho việc thi hành án tử hình không đáp ứng được. Điều 10. Hồ sơ thi hành án tử hình 1. Hồ sơ thi hành án tử hình gồm các tài liệu sau: a) Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, hồ sơ gồm các tài liệu theo quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n, o và p khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự và các tài liệu: - Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; - Biên bản hoãn thi hành án tử hình (trường hợp hoãn); - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình để làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền để đề nghị cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình biết để làm đơn nhận tử thi, tro cốt trong trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho người có đơn xin nhận tử thi, tro cốt về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận cho nhận tử thi, tro cốt người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận cho nhận tử thi, tro cốt người bị thi hành án tử hình; - Thông báo của Hội đồng thi hành án tử hình về việc không cho nhận tử thi; - Thông báo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình về mai táng; - Biên bản giao, nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình. b) Trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (gồm trường hợp có kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp có kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và bản án phúc thẩm; c) Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, trừ tài liệu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự; d) Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng bản án phúc thẩm vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; có quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, trừ tài liệu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự; đ) Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại điểm d khoản 1 Điều này và các tài liệu: - Văn bản yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; - Văn bản thông báo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc không nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc nhất trí với kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (trong trường hợp Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định về việc không nhất trí kết quả của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); - Văn bản thông báo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (trong trường hợp Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét lại quyết định của mình). 2. Việc lập, quản lý, lưu giữ, bảo quản hồ sơ thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án hình sự. Điều 11. Biên bản thi hành án tử hình 1. Thư ký Hội đồng thi hành án tử hình có trách nhiệm lập biên bản ghi lại toàn bộ các diễn biến của việc thi hành án tử hình. 2. Biên bản thi hành án tử hình phải bảo đảm các nội dung sau đây: Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm thi hành án tử hình, nơi lập biên bản; những việc đã làm theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tình hình, diễn biến trong khi thi hành án tử hình. Biên bản phải được đọc cho Hội đồng thi hành án tử hình và những người chứng kiến nghe. Các thành viên Hội đồng thi hành án tử hình và người chứng kiến phải cùng ký vào biên bản, nếu có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên. Điều 12. Trường hợp người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình 1. Trong thời gian giam giữ chờ thi hành án tử hình đối với trường hợp đã có quyết định thi hành án tử hình, quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình hoặc Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Sau khi tiến hành xong các thủ tục xác định nguyên nhân chết và được phép của cơ quan có thẩm quyền, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình hoặc Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi Tòa án ra quyết định thi hành án tử hình có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi người bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức mai táng. 2. Trường hợp người bị thi hành án tử hình chết trên đường áp giải đến địa điểm thi hành án tử hình, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi có địa điểm thi hành án tử hình biết, đồng thời thông báo cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi người bị thi hành án tử hình chết để tiến hành làm các thủ tục theo quy định của pháp luật. Sau khi tiến hành xong các thủ tục xác định nguyên nhân chết và được phép của cơ quan có thẩm quyền, Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi Tòa án ra quyết định thi hành án tử hình có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề nghị đến nhận tử thi người bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức mai táng. 3. Chi phí mai táng người bị thi hành án tử hình chết trước khi đưa ra thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. Chương III THỦ TỤC CHO NHẬN TỬ THI, TRO CỐT, HÀI CỐT VÀ MAI TÁNG NGƯỜI ĐÃ BỊ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 13. Việc làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt 1. Đơn xin nhận tử thi, tro cốt, hài cốt được thực hiện theo các mẫu số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. 2. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là người Việt Nam thì việc thông báo làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài thì Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án thông báo bằng văn bản cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền để đề nghị cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình biết để làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt. Thông báo nêu rõ nhân thân, nơi quản lý giam giữ người bị thi hành án tử hình, địa chỉ liên lạc, các tài liệu liên quan và ấn định thời hạn trả lời. Sau khi Chánh án Tòa án đã ra thông báo mà không nhận được đơn xin nhận tử thi, tro cốt của thân nhân, người đại diện hợp pháp hoặc văn bản trả lời của cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch thì coi như thân nhân, người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình từ chối nhận tử thi, tro cốt. Điều 14. Giải quyết việc cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt và mai táng người đã bị thi hành án tử hình 1. Việc giải quyết cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt và mai táng người đã bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 83 của Luật Thi hành án hình sự. Không tổ chức việc giao nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người đã bị thi hành án tử hình vào ban đêm (từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau). 2. Việc tổ chức mai táng người đã bị thi hành án tử hình phải đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự của địa phương và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm tổ chức mai táng người bị thi hành án tử hình phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng để chỉ định nghĩa trang hoặc địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng phải gửi văn bản thông báo về địa điểm nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình cho cơ quan thi hành án hình sự đã ra thông báo. 4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thông báo địa điểm mai táng cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án biết, trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài thì thông báo cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền biết. Đồng thời bàn giao đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền của người đã thi hành án tử hình (nếu có), việc giao nhận phải được lập biên bản theo quy định. Chương IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG VIỆC THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH Điều 15. Trách nhiệm của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh 1. Thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. 2. Phối hợp với trại tạm giam nơi giam giữ người bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. 3. Đề nghị Phòng Hồ sơ cử cán bộ lăn tay, đối chiếu với danh bản, chỉ bản xác định đúng người bị thi hành án tử hình trước khi thi hành án tử hình. 4. Đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự chụp ảnh, ghi âm lời nói của người bị thi hành án tử hình để gửi lại thân nhân của người đã bị thi hành án tử hình và cử bác sĩ pháp y làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình. 5. Đề nghị Phòng Hậu cần chuẩn bị phương tiện, kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án tử hình, thanh toán chế độ cho Đội Thi hành án tử hình và những người tham gia thi hành án tử hình theo quy định. 6. Chỉ đạo Công an cấp huyện nơi tổ chức thi hành án tử hình bố trí lực lượng, phương tiện phối hợp thực hiện việc thi hành án tử hình. 7. Xây dựng kế hoạch, phương án, phân công nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia thi hành án tử hình và tổ chức thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi thi hành án. 8. Báo cáo Giám đốc Công an cấp tỉnh tăng cường lực lượng chức năng hỗ trợ công tác thi hành án tử hình trong trường hợp cần thiết. Điều 16. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu 1. Thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 77, 78 và 83 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Triển khai theo kế hoạch thi hành án tử hình đã ban hành. 3. Cử cán bộ, công chức của Tòa án là Thư ký giúp Hội đồng thi hành án tử hình. 4. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền trong việc tổ chức thi hành án tử hình. Điều 17. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu 1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu trong việc ra quyết định thi hành án tử hình và thực hiện theo quy định tại Điều 78 của Luật Thi hành án hình sự. 2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc giải quyết các thủ tục liên quan đến cho nhận hoặc không cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người đã bị thi hành án tử hình. 3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng thi hành án tử hình về trình tự, thủ tục trong quá trình thi hành án tử hình, hoãn thi hành án tử hình; kiểm sát hoạt động thi hành án tử hình của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật. Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu 1. Thực hiện theo quy định tại Điều 13 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. 2. Phối hợp với trại tạm giam nơi giam giữ người bị thi hành án tử hình thực hiện theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. 3. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cử cán bộ nghiệp vụ lăn tay đối chiếu với danh bản, chỉ bản xác định đúng người chấp hành án tử hình, trước khi thi hành án tử hình; chụp ảnh, ghi âm lời nói của người bị thi hành án tử hình gửi lại cho thân nhân của người bị thi hành án tử hình. 4. Làm thủ tục đề nghị Viện pháp y Quân đội cử bác sĩ pháp y làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình. 5. Lập kế hoạch cụ thể để huy động và phân công nhiệm vụ cho lực lượng tham gia, bảo đảm phương tiện, kinh phí, cơ sở vật chất, trang bị vũ khí, thông tin liên lạc và các điều kiện cần thiết khác để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện; thanh toán các chế độ cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi thi hành án. 6. Báo cáo Tư lệnh cấp quân khu, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng về tăng cường lực lượng hỗ trợ công tác thi hành án tử hình trong trường hợp cần thiết và kết quả thi hành án tử hình. Điều 19. Trách nhiệm của cơ quan y tế 1. Cục Y tế Bộ Công an; Cục Quân y Bộ Quốc phòng có trách nhiệm lập kế hoạch dự trù thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình hằng năm. 2. Bộ Y tế có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP. 3. Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các bệnh viện trực thuộc thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Nghị định số 43/2020/NĐ - CP và chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp giấy chứng nhận kiểm dịch y tế đối với tử thi (thi thể), tro cốt, hài cốt người đã bị thi hành án tử hình. Điều 20. Trách nhiệm của cơ quan ngoại giao 1. Đơn vị chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm tiếp nhận và trả lời đề nghị của Tòa án cấp tỉnh về việc thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình về quyền xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình. 2. Thông báo cho cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch để liên hệ với thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người nước ngoài bị thi hành án tử hình về quyền xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình. 3. Phối hợp với Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và cơ quan đại diện của nước mà người bị thi hành án tử hình mang quốc tịch trong việc hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết các thủ tục liên quan đến thi hành án tử hình, cho nhận tử thi, tro cốt, hài cốt đối với người nước ngoài. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 21. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2020. 2. Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT - BCA - BQP - BYT - TANDTC - VKSNDTC ngày 06 tháng 6 năm 2013 giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực. Điều 22. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân
02/2021/TT-BCA
11/01/2021
Thông tư
25/02/2021
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Tô Lâm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định về xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân Căn cứ Luật Công an nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2018; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Công tác đảng và công tác chính trị; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân. CHƯƠNG I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân (sau đây gọi chung là vi phạm điều lệnh), bao gồm: nguyên tắc, căn cứ, thời gian, hình thức, trình tự, thẩm quyền, hồ sơ xử lý đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh; trường hợp chưa xem xét xử lý, không xử lý vi phạm điều lệnh; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và liên đới trách nhiệm trong xử lý vi phạm điều lệnh. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, một số từ ngữ được hiểu như sau: 1. Hành vi vi phạm điều lệnh là hành vi do đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm một trong các quy định của điều lệnh Công an nhân dân hoặc các quy định khác liên quan đến điều lệnh Công an nhân dân. 2. Đơn vị vi phạm điều lệnh là đơn vị cấp Cục, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương; đơn vị cấp phòng, Công an quận, huyện và tương đương; đơn vị cấp đội, Công an xã, phường, thị trấn và tương đương vi phạm điều lệnh. 3. Cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an, học sinh, sinh viên Công an nhân dân vi phạm điều lệnh. 4. Vi phạm nhiều lần là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh từ 02 lần trở lên trong năm. 5. Vi phạm nhiều lỗi là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh từ 02 lỗi trở lên trong một lượt kiểm tra. 6. Xử lý vi phạm là quyết định của người có thẩm quyền xử lý về hành vi vi phạm điều lệnh được quy định trong Thông tư này. 7. Trường hợp bất khả kháng là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong trường hợp khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết. Điều 3. Nguyên tắc xử lý 1. Mọi hành vi vi phạm điều lệnh của đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đều phải xử lý theo quy định của Thông tư này và các quy định khác có liên quan đến điều lệnh Công an nhân dân. 2. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, thái độ tiếp thu của đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm để quyết định hình thức xử lý phù hợp, bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa vi phạm. 3. Bảo đảm kịp thời, khách quan, công khai, dân chủ, xử lý đúng người, đúng hành vi vi phạm, đúng quy định của Bộ Công an. 4. Mỗi hành vi vi phạm chỉ xử lý 01 lần. Trường hợp vi phạm nhiều lần với cùng hành vi vi phạm thì xử lý cao hơn 01 bậc so với hình thức xử lý tương ứng với hành vi đó. Trong cùng một thời điểm vi phạm nhiều lỗi thực hiện như sau: Nếu các hành vi có hình thức xử lý khác nhau thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn một bậc so với hình thức xử lý cao nhất; nếu các hành vi có cùng một hình thức xử lý thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn 01 bậc so với hình thức xử lý tương ứng với một trong các hành vi đó. Trong cùng một vụ việc có nhiều cán bộ, chiến sĩ vi phạm thì mỗi cán bộ, chiến sĩ đều bị xử lý về hành vi vi phạm của mình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của cán bộ, chiến sĩ đó. Điều 4. Trường hợp chưa xem xét xử lý, không xử lý vi phạm 1. Chưa xem xét xử lý vi phạm a) Đang trong thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện, có xác nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Đang trong thời gian bị đình chỉ công tác; c) Cán bộ, chiến sĩ nữ đang nghỉ chế độ thai sản. 2. Không xử lý vi phạm a) Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi khi vi phạm điều lệnh; được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm điều lệnh trong trường hợp bất khả kháng; b) Phải chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của lãnh đạo, chỉ huy mà trước đó đã kiến nghị thay đổi với người ra chỉ thị, mệnh lệnh nhưng không được chấp nhận. Điều 5. Căn cứ xử lý 1. Biên bản kiểm tra điều lệnh do người có thẩm quyền ký; thông báo bằng văn bản về vi phạm điều lệnh của đơn vị chức năng. 2. Tin báo của người biết việc, người làm chứng, đơn thư khiếu nại, tố cáo; tin tức phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng; các hình ảnh, hiện vật, âm thanh liên quan đến vi phạm điều lệnh đã được giám định hoặc xác minh là đúng. Điều 6. Thời gian xử lý 1. Trong thời gian 15 ngày (ngày làm việc) kể từ khi nhận được thông báo kết quả kiểm tra điều lệnh, thủ trưởng đơn vị có tập thể, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh phải tổ chức kiểm điểm, quyết định hình thức xử lý hoặc đề xuất hình thức xử lý theo quy định của Thông tư này. 2. Kết quả xử lý vi phạm điều lệnh phải báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp và đơn vị ra thông báo, đồng thời thông báo cho đơn vị, người phát hiện vi phạm chậm nhất 20 ngày (ngày làm việc) kể từ khi nhận được đủ hồ sơ, tài liệu vi phạm. Trường hợp có nhiều tình tiết cần phải làm rõ khi xử lý, thời gian xem xét xử lý và báo cáo kết quả xử lý có thể kéo dài hơn nhưng tối đa không quá 30 ngày (ngày làm việc). CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐIỀU LỆNH Điều 7. Hình thức xử lý 1. Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: a) Phê bình; b) Hạ bậc danh hiệu thi đua năm; c) Không xét tặng danh hiệu thi đua năm. 2. Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: a) Phê bình; b) Hạ bậc danh hiệu thi đua năm; c) Không xét tặng danh hiệu thi đua năm; d) Xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ; đ) Khiển trách; e) Cảnh cáo; g) Giáng cấp bậc hàm, hạ bậc lương; h) Cách chức, giáng chức; i) Tước danh hiệu Công an nhân dân. Điều 8. Áp dụng hình thức xử lý đối với đơn vị vi phạm điều lệnh 1. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức phê bình khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về chế độ giao ban, hội họp, hội nghị, buổi lễ, học tập, huấn luyện, hội thi, hội thao; chế độ nghỉ cho cán bộ, chiến sĩ và trang trí khánh tiết hội trường, phòng họp của đơn vị; b) Bố trí trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nội vụ, vệ sinh trụ sở cơ quan, doanh trại; nội vụ, vệ sinh nơi ăn, ngủ, nghỉ của cán bộ chiến sĩ; nội vụ, vệ sinh nơi sinh hoạt văn hóa, các trung tâm, cơ sở tập luyện, thi đấu điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao; nội vụ, vệ sinh nơi tiếp khách; công tác phòng, chống cháy nổ, thiên tai và bảo vệ môi trường; d) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 5% đến dưới 10% so với biên chế của đơn vị. 2. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua trong năm khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; b) Không tổ chức giao ban; không tổ chức trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu; không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tuần, tháng; không tổ chức chào cờ Tổ quốc định kỳ; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quản lý tài liệu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ; quản lý vật chứng, phương tiện và đồ vật tạm giữ; quản lý tài sản, phương tiện của đơn vị; thu hồi trang phục, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, cành tùng, mũ kê-pi; thu hồi vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ, các giấy tờ công tác khác; d) Trụ sở cơ quan, đơn vị không treo cờ Tổ quốc theo quy định của pháp luật; không tổ chức canh gác hoặc thường trực bảo vệ, không có nội quy bảo vệ cơ quan; không có kế hoạch, phương án phòng chống cháy nổ, thiên tai. Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp trong Công an nhân dân không bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật; đ) Trong giờ làm việc, giờ trực, ngày trực tại đơn vị có từ 5% cán bộ chiến sĩ trở lên không mặc trang phục Công an nhân dân hoặc mặc trang phục không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an (trừ trường hợp Bộ có quy định khác); lập bàn thờ, để bát hương, thắp hương trong hội trường, phòng họp, phòng khách, phòng làm việc, phòng ở, nhà kho, nhà ăn tập thể, nơi để hồ sơ tài liệu thuộc phạm vi trụ sở đơn vị (trừ khi tổ chức lễ tang); e) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 10% đến dưới 20% so với biên chế của đơn vị. 3. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác quý, 06 tháng, năm; không tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các chuyên đề công tác lớn, dài hạn, 06 tháng, 01 năm; b) Không phổ biến, không tổ chức thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh, quyết định, quy trình, quy chế, quy định của cấp trên; bao che, xử lý không đúng quy định hoặc không xử lý vi phạm điều lệnh; c) Không xây dựng, triển khai kế hoạch công tác điều lệnh, quân sự, võ thuật; không quán triệt đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác điều lệnh, quân sự, võ thuật; d) Dùng trụ sở cơ quan, đơn vị cho thuê, cho mượn trái quy định của Bộ Công an; đ) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 20% trở lên so với biên chế của đơn vị. Điều 9. Áp dụng hình thức xử lý đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh 1. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức phê bình khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xưng hô khi giao tiếp, chào, chào báo cáo; ứng xử khi giao tiếp trong và ngoài lực lượng Công an nhân dân; ứng xử khi giao tiếp qua các phương tiện thông tin; khi làm nhiệm vụ tư thế, tác phong không nghiêm túc, để tay vào túi quần hoặc túi áo; đeo kính màu đen khi trực tiếp giải quyết công việc với người khác; b) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về kỷ luật công tác; kỷ luật khi hội họp, buổi lễ, học tập, giao ban; kỷ luật khi huấn luyện điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể thao; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về sử dụng trang phục Công an nhân dân; d) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nội vụ, vệ sinh trụ sở cơ quan, doanh trại; nội vụ, vệ sinh nơi ăn, ngủ, nghỉ của cán bộ chiến sĩ; nội vụ, vệ sinh nơi sinh hoạt văn hóa, các trung tâm, cơ sở tập luyện, thi đấu điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao; nội vụ, vệ sinh nơi tiếp khách; công tác phòng, chống cháy nổ, thiên tai và bảo vệ môi trường; đ) Thực hiện không đúng các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng điện, nước, điện thoại, internet, văn phòng phẩm của đơn vị; e) Nhuộm tóc khác màu đen và thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về mẫu tóc cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; móng tay để dài, sơn màu, gắn đá, đồ trang sức; cán bộ, chiến sĩ nam để râu, ria ở cằm, ở cổ và trên mặt. 2. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Không tham gia chào cờ Tổ quốc theo quy định; khi làm nhiệm vụ trực ban, trực tiếp dân không ghi chép nội dung liên quan trong ca trực vào sổ, không đeo băng trực ban, không ký nhận, bàn giao hoặc giao, nhận không đầy đủ với ca trước hoặc sau ca trực của mình; b) Trong giờ làm việc, hội họp, học tập không mặc trang phục theo quy định, vắng mặt không có lý do, mang phương tiện có tính năng thông tin liên lạc vào phòng họp khi đã có quy định cấm; thực hiện không đúng các quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân; c) Trong giờ làm việc, mặc trang phục Công an nhân dân ăn, uống ở hàng quán; hút thuốc trong khi làm nhiệm vụ, trong phòng làm việc, phòng họp, hội trường và ở những nơi có quy định cấm; lập bàn thờ, để bát hương, thắp hương trong hội trường, phòng họp, phòng khách, phòng làm việc, phòng ở, nhà kho, nhà ăn tập thể, nơi để hồ sơ tài liệu thuộc phạm vi trụ sở đơn vị (trừ khi tổ chức lễ tang); d) Không nắm vững quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về chức trách, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác; làm việc không có chương trình kế hoạch; không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tuần; báo cáo không đầy đủ, kịp thời kết quả thực hiện nhiệm vụ; vi phạm chế độ nghỉ dưỡng, nghỉ phép; đ) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quản lý tài liệu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ; quản lý vật chứng, phương tiện và đồ vật tạm giữ; quản lý tài sản, phương tiện của đơn vị; thu hồi trang phục, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, cành tùng, mũ kêpi; thu hồi vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ, các giấy tờ công tác khác; e) Thực hiện không đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông, can thiệp trái phép vào việc xử lý vi phạm, kéo dài thời hạn hoặc trì hoãn việc xử lý vi phạm điều lệnh. 3. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Không xử lý vi phạm điều lệnh hoặc áp dụng các hình thức xử lý vi phạm không đúng quy định, không thông báo xử lý vi phạm cho đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm biết; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi tiền, nhận quà của người vi phạm điều lệnh; không chấp hành hoặc cản trở việc kiểm tra điều lệnh; b) Uống rượu, bia và các chất có cồn trước, trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, ngày trực, giờ trực; vi phạm chế độ trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về việc ra chỉ thị, mệnh lệnh và thực hiện chỉ thị mệnh lệnh; d) Vi phạm các quy định về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; quy tắc, quy ước của chính quyền địa phương nơi công tác hoặc nơi cư trú. 4. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ trong năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Khi phát hiện vụ việc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của đơn vị cần phải giải quyết nhưng không giải quyết hoặc không báo cáo lãnh đạo cấp có thẩm quyền; b) Gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và uy tín của lực lượng Công an nhân dân. 5. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức khiển trách khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Khi chuyển sang đơn vị khác, lực lượng khác trong Công an nhân dân cố ý không nộp lại vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ, phương tiện nghiệp vụ, tài liệu và các giấy tờ có liên quan (do lực lượng Công an cấp) cho đơn vị cũ; b) Làm mất giấy tờ do lực lượng Công an cấp (thẻ điều tra viên, thẻ tuần tra kiểm soát, giấy kiểm tra điều lệnh) nhưng không kịp thời báo cáo để người khác lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. 6. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Có hành vi mua, bán, tàng trữ trái phép trang phục Công an nhân dân; b) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về kỷ luật khi công tác biệt phái, xã hội hóa; c) Khi gặp tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ có nguy cơ đe dọa, xâm phạm đến an ninh, trật tự, nhưng không tham gia giải quyết, không tìm cách ngăn chặn hậu quả xảy ra, không báo ngay cho đơn vị Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất để giải quyết. 7. Ngoài các trường hợp xử lý vi phạm trên, cán bộ, chiến sĩ vi phạm một trong các hành vi liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước; thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, quy trình công tác, quy chế làm việc; chế độ thông tin báo báo, ra chỉ thị, mệnh lệnh và thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh; thanh tra, kiểm tra; trật tự an toàn giao thông; sản xuất trái phép, làm giả trang phục, cấp hiệu, số hiệu Công an nhân dân; sử dụng giấy chứng nhận Công an nhân dân, giấy chứng minh Công an nhân dân, số hiệu Công an nhân dân và giấy tờ được cấp khác để phục vụ công tác; sử dụng chất gây nghiện trái phép, đánh bạc, hoạt động mê tín, dị đoan, sử dụng rượu, bia, chất có cồn; văn hóa ứng xử; quản lý, sử dụng tài liệu, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật chứng, phương tiện nghiệp vụ, tài sản đến mức phải xử lý kỷ luật từ hình thức Khiển trách đến Tước danh hiệu Công an nhân dân, thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Điều 10. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ 1. Những tình tiết tăng nặng: a) Có hành vi, lời nói gây cản trở, đối phó hoặc không chấp hành việc kiểm tra theo yêu cầu của Tổ kiểm tra điều lệnh; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hoặc bao che, không xử lý vi phạm hoặc xử lý không đúng hành vi vi phạm theo quy định; c) Vi phạm nhiều lần trong năm; d) Không tự giác nhận khuyết điểm, có hành vi né tránh, che giấu vi phạm; khai báo không trung thực, ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm, cản trở việc xác minh, xử lý vi phạm hoặc có hành vi đe dọa, trù dập người tố cáo. 2. Những tình tiết giảm nhẹ: a) Chủ động báo cáo hành vi vi phạm của mình với tổ chức, tự giác nhận khuyết điểm, thành khẩn, nhận thức rõ sai phạm; b) Có hành động ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của việc vi phạm; kịp thời khắc phục, sửa chữa; c) Vi phạm do nguyên nhân khách quan; d) Tích cực tham gia vào các tổ chức, hoạt động phong trào của đơn vị, có thành tích được khen thưởng. 3. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ là một trong những căn cứ để đề nghị tăng hoặc giảm mức xử lý. Trường hợp tình tiết tăng nặng nhiều hơn tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn một bậc so với hình thức xử lý của hành vi đó; trường hợp tình tiết tăng nặng ít hơn tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng hình thức xử lý thấp hơn một bậc so với hình thức xử lý của hành vi đó. Điều 11. Trình tự, thẩm quyền, hồ sơ xử lý vi phạm điều lệnh 1. Trình tự xử lý a) Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: Đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp yêu cầu đơn vị vi phạm kiểm điểm, báo cáo về hành vi vi phạm và tự nhận hình thức xử lý; tổ chức thẩm tra, xác minh, kết luận về hành vi vi phạm, nếu vi phạm đã rõ thì không cần xác minh; Căn cứ nội dung vi phạm để tổ chức họp xét cho phù hợp: Nếu xử lý bằng hình thức phê bình thì tổ chức họp đơn vị hoặc cán bộ chủ chốt (thành phần do thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp quyết định), sau đó ra thông báo bằng văn bản; nếu xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua trong năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua trong năm thì tổ chức họp Hội đồng thi đua, khen thưởng cấp trên trực tiếp (nếu không tổ chức họp thì xin ý kiến bằng văn bản); Sau khi xử lý, báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp hoặc đơn vị ra thông báo. b) Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: Lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp quản lý yêu cầu cán bộ, chiến sĩ vi phạm viết bản tự kiểm điểm về hành vi vi phạm và tự nhận hình thức xử lý vi phạm; tổ chức thẩm tra, xác minh, kết luận về hành vi vi phạm của cán bộ, chiến sĩ; nếu vi phạm đã rõ thì không cần xác minh. Căn cứ nội dung tự kiểm điểm của cán bộ, chiến sĩ và kết quả xác minh, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, xét thấy cần thiết phải tạm đình chỉ công tác của cán bộ, chiến sĩ vi phạm thì ra quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định; Căn cứ nội dung vi phạm để tổ chức họp xét cho phù hợp: Nếu xử lý bằng hình thức phê bình thì tổ chức họp đơn vị hoặc cán bộ chủ chốt (thành phần do thủ trưởng đơn vị quyết định), sau đó ra thông báo bằng văn bản; nếu xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua năm thì tổ chức họp Hội đồng thi đua, khen thưởng cùng cấp (nếu không tổ chức họp thì xin ý kiến bằng văn bản); nếu xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nhận xét, đánh giá và xếp loại cán bộ trong Công an nhân dân; nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật từ khiển trách đến tước danh hiệu Công an nhân dân thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân; Sau khi xử lý, báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp hoặc đơn vị ra thông báo. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có dấu hiệu vi phạm pháp luật phải báo cáo cấp có thẩm quyền chuyển tài liệu cho cơ quan chức năng xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền xử lý a) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức phê bình thì do thủ trưởng đơn vị (đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh) hoặc thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp (đối với đơn vị vi phạm điều lệnh) quyết định; b) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua năm thì do Hội đồng thi đua, khen thưởng cùng cấp hoặc Hội đồng Thi đua, khen thưởng cấp trên trực tiếp quyết định; c) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nhận xét, đánh giá và xếp loại cán bộ trong Công an nhân dân; d) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức từ Khiển trách trở lên thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. 3. Hồ sơ xử lý, bao gồm: a) Biên bản kiểm tra điều lệnh hoặc biên bản vi phạm điều lệnh; biên bản xác minh, các tài liệu chứng cứ khác (nếu có); b) Báo cáo kiểm điểm của đơn vị vi phạm điều lệnh; bản tự kiểm điểm, tường trình của cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh; c) Biên bản họp xét, đề nghị xử lý vi phạm; biên bản kiểm phiếu (nếu có); d) Quyết định xử lý, thông báo kết quả xử lý vi phạm. 4. Hồ sơ tài liệu xử lý vi phạm điều lệnh do cơ quan tham mưu đề xuất xử lý vi phạm lưu trữ. Việc lưu trữ hồ sơ thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác văn thư hành chính, hồ sơ lưu trữ văn bản quản lý nhà nước trong Công an nhân dân. Điều 12. Xử lý liên đới trách nhiệm 1. Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: a) Trường hợp đơn vị vi phạm bị xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức phê bình; trường hợp đơn vị vi phạm nhiều lần, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; b) Trường hợp đơn vị vi phạm bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; trường hợp đơn vị vi phạm nhiều lần, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm. 2. Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: a) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức phê bình; b) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm đến xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; c) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý kỷ luật từ hình thức Khiển trách đến Tước danh hiệu Công an nhân dân, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm. Trường hợp lãnh đạo, chỉ huy có liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm của cán bộ, chiến sĩ bị xử lý kỷ luật, thực hiện theo quy định của Bộ Công an về kỷ luật cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân. 3. Thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp chịu trách nhiệm liên đới nếu để đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh hoặc để quá thời hạn xử lý vi phạm điều lệnh. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm nhiều lần mà trước đó thủ trưởng đơn vị, lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp đã nhắc nhở, chấn chỉnh bằng văn bản hoặc nhắc nhở, chấn chỉnh trong cuộc họp, giao ban của đơn vị (nội dung chấn chỉnh, nhắc nhở được ghi trong biên bản họp, giao ban của đơn vị), đồng thời có văn bản báo cáo lãnh đạo cấp trên trực tiếp thì thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp không phải chịu trách nhiệm liên đới. CHƯƠNG III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 02 năm 2021, thay thế Thông tư số 10/2010/TT-BCA ngày 25 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Giám đốc học viện, Hiệu trưởng trường Công an nhân dân chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Cục Công tác đảng và công tác chính trị chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị có liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc, Công an đơn vị, địa phương kịp thời báo cáo về Bộ (qua Cục Công tác đảng và công tác chính trị) để được hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=158147&Keyword=
2025-09-24T02:22:23.938397
../data\bocongan\022021TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Quy định về xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân Căn cứ Luật Công an nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2018; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Công tác đảng và công tác chính trị; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân. CHƯƠNG I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định việc xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân (sau đây gọi chung là vi phạm điều lệnh), bao gồm: nguyên tắc, căn cứ, thời gian, hình thức, trình tự, thẩm quyền, hồ sơ xử lý đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh; trường hợp chưa xem xét xử lý, không xử lý vi phạm điều lệnh; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và liên đới trách nhiệm trong xử lý vi phạm điều lệnh. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, một số từ ngữ được hiểu như sau: 1. Hành vi vi phạm điều lệnh là hành vi do đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm một trong các quy định của điều lệnh Công an nhân dân hoặc các quy định khác liên quan đến điều lệnh Công an nhân dân. 2. Đơn vị vi phạm điều lệnh là đơn vị cấp Cục, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương; đơn vị cấp phòng, Công an quận, huyện và tương đương; đơn vị cấp đội, Công an xã, phường, thị trấn và tương đương vi phạm điều lệnh. 3. Cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an, học sinh, sinh viên Công an nhân dân vi phạm điều lệnh. 4. Vi phạm nhiều lần là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh từ 02 lần trở lên trong năm. 5. Vi phạm nhiều lỗi là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh từ 02 lỗi trở lên trong một lượt kiểm tra. 6. Xử lý vi phạm là quyết định của người có thẩm quyền xử lý về hành vi vi phạm điều lệnh được quy định trong Thông tư này. 7. Trường hợp bất khả kháng là đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong trường hợp khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết. Điều 3. Nguyên tắc xử lý 1. Mọi hành vi vi phạm điều lệnh của đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đều phải xử lý theo quy định của Thông tư này và các quy định khác có liên quan đến điều lệnh Công an nhân dân. 2. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, thái độ tiếp thu của đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm để quyết định hình thức xử lý phù hợp, bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa vi phạm. 3. Bảo đảm kịp thời, khách quan, công khai, dân chủ, xử lý đúng người, đúng hành vi vi phạm, đúng quy định của Bộ Công an. 4. Mỗi hành vi vi phạm chỉ xử lý 01 lần. Trường hợp vi phạm nhiều lần với cùng hành vi vi phạm thì xử lý cao hơn 01 bậc so với hình thức xử lý tương ứng với hành vi đó. Trong cùng một thời điểm vi phạm nhiều lỗi thực hiện như sau: Nếu các hành vi có hình thức xử lý khác nhau thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn một bậc so với hình thức xử lý cao nhất; nếu các hành vi có cùng một hình thức xử lý thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn 01 bậc so với hình thức xử lý tương ứng với một trong các hành vi đó. Trong cùng một vụ việc có nhiều cán bộ, chiến sĩ vi phạm thì mỗi cán bộ, chiến sĩ đều bị xử lý về hành vi vi phạm của mình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của cán bộ, chiến sĩ đó. Điều 4. Trường hợp chưa xem xét xử lý, không xử lý vi phạm 1. Chưa xem xét xử lý vi phạm a) Đang trong thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện, có xác nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; b) Đang trong thời gian bị đình chỉ công tác; c) Cán bộ, chiến sĩ nữ đang nghỉ chế độ thai sản. 2. Không xử lý vi phạm a) Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi khi vi phạm điều lệnh; được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm điều lệnh trong trường hợp bất khả kháng; b) Phải chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của lãnh đạo, chỉ huy mà trước đó đã kiến nghị thay đổi với người ra chỉ thị, mệnh lệnh nhưng không được chấp nhận. Điều 5. Căn cứ xử lý 1. Biên bản kiểm tra điều lệnh do người có thẩm quyền ký; thông báo bằng văn bản về vi phạm điều lệnh của đơn vị chức năng. 2. Tin báo của người biết việc, người làm chứng, đơn thư khiếu nại, tố cáo; tin tức phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng; các hình ảnh, hiện vật, âm thanh liên quan đến vi phạm điều lệnh đã được giám định hoặc xác minh là đúng. Điều 6. Thời gian xử lý 1. Trong thời gian 15 ngày (ngày làm việc) kể từ khi nhận được thông báo kết quả kiểm tra điều lệnh, thủ trưởng đơn vị có tập thể, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh phải tổ chức kiểm điểm, quyết định hình thức xử lý hoặc đề xuất hình thức xử lý theo quy định của Thông tư này. 2. Kết quả xử lý vi phạm điều lệnh phải báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp và đơn vị ra thông báo, đồng thời thông báo cho đơn vị, người phát hiện vi phạm chậm nhất 20 ngày (ngày làm việc) kể từ khi nhận được đủ hồ sơ, tài liệu vi phạm. Trường hợp có nhiều tình tiết cần phải làm rõ khi xử lý, thời gian xem xét xử lý và báo cáo kết quả xử lý có thể kéo dài hơn nhưng tối đa không quá 30 ngày (ngày làm việc). CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐIỀU LỆNH Điều 7. Hình thức xử lý 1. Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: a) Phê bình; b) Hạ bậc danh hiệu thi đua năm; c) Không xét tặng danh hiệu thi đua năm. 2. Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: a) Phê bình; b) Hạ bậc danh hiệu thi đua năm; c) Không xét tặng danh hiệu thi đua năm; d) Xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ; đ) Khiển trách; e) Cảnh cáo; g) Giáng cấp bậc hàm, hạ bậc lương; h) Cách chức, giáng chức; i) Tước danh hiệu Công an nhân dân. Điều 8. Áp dụng hình thức xử lý đối với đơn vị vi phạm điều lệnh 1. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức phê bình khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về chế độ giao ban, hội họp, hội nghị, buổi lễ, học tập, huấn luyện, hội thi, hội thao; chế độ nghỉ cho cán bộ, chiến sĩ và trang trí khánh tiết hội trường, phòng họp của đơn vị; b) Bố trí trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nội vụ, vệ sinh trụ sở cơ quan, doanh trại; nội vụ, vệ sinh nơi ăn, ngủ, nghỉ của cán bộ chiến sĩ; nội vụ, vệ sinh nơi sinh hoạt văn hóa, các trung tâm, cơ sở tập luyện, thi đấu điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao; nội vụ, vệ sinh nơi tiếp khách; công tác phòng, chống cháy nổ, thiên tai và bảo vệ môi trường; d) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 5% đến dưới 10% so với biên chế của đơn vị. 2. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua trong năm khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; b) Không tổ chức giao ban; không tổ chức trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu; không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tuần, tháng; không tổ chức chào cờ Tổ quốc định kỳ; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quản lý tài liệu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ; quản lý vật chứng, phương tiện và đồ vật tạm giữ; quản lý tài sản, phương tiện của đơn vị; thu hồi trang phục, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, cành tùng, mũ kê - pi; thu hồi vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ, các giấy tờ công tác khác; d) Trụ sở cơ quan, đơn vị không treo cờ Tổ quốc theo quy định của pháp luật; không tổ chức canh gác hoặc thường trực bảo vệ, không có nội quy bảo vệ cơ quan; không có kế hoạch, phương án phòng chống cháy nổ, thiên tai. Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp trong Công an nhân dân không bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật; đ) Trong giờ làm việc, giờ trực, ngày trực tại đơn vị có từ 5% cán bộ chiến sĩ trở lên không mặc trang phục Công an nhân dân hoặc mặc trang phục không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an (trừ trường hợp Bộ có quy định khác); lập bàn thờ, để bát hương, thắp hương trong hội trường, phòng họp, phòng khách, phòng làm việc, phòng ở, nhà kho, nhà ăn tập thể, nơi để hồ sơ tài liệu thuộc phạm vi trụ sở đơn vị (trừ khi tổ chức lễ tang); e) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 10% đến dưới 20% so với biên chế của đơn vị. 3. Đơn vị bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác quý, 06 tháng, năm; không tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các chuyên đề công tác lớn, dài hạn, 06 tháng, 01 năm; b) Không phổ biến, không tổ chức thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh, quyết định, quy trình, quy chế, quy định của cấp trên; bao che, xử lý không đúng quy định hoặc không xử lý vi phạm điều lệnh; c) Không xây dựng, triển khai kế hoạch công tác điều lệnh, quân sự, võ thuật; không quán triệt đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác điều lệnh, quân sự, võ thuật; d) Dùng trụ sở cơ quan, đơn vị cho thuê, cho mượn trái quy định của Bộ Công an; đ) Tổng số lượt cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh trong năm có tỉ lệ từ 20% trở lên so với biên chế của đơn vị. Điều 9. Áp dụng hình thức xử lý đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh 1. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức phê bình khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xưng hô khi giao tiếp, chào, chào báo cáo; ứng xử khi giao tiếp trong và ngoài lực lượng Công an nhân dân; ứng xử khi giao tiếp qua các phương tiện thông tin; khi làm nhiệm vụ tư thế, tác phong không nghiêm túc, để tay vào túi quần hoặc túi áo; đeo kính màu đen khi trực tiếp giải quyết công việc với người khác; b) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về kỷ luật công tác; kỷ luật khi hội họp, buổi lễ, học tập, giao ban; kỷ luật khi huấn luyện điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể thao; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về sử dụng trang phục Công an nhân dân; d) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nội vụ, vệ sinh trụ sở cơ quan, doanh trại; nội vụ, vệ sinh nơi ăn, ngủ, nghỉ của cán bộ chiến sĩ; nội vụ, vệ sinh nơi sinh hoạt văn hóa, các trung tâm, cơ sở tập luyện, thi đấu điều lệnh, quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao; nội vụ, vệ sinh nơi tiếp khách; công tác phòng, chống cháy nổ, thiên tai và bảo vệ môi trường; đ) Thực hiện không đúng các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng điện, nước, điện thoại, internet, văn phòng phẩm của đơn vị; e) Nhuộm tóc khác màu đen và thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về mẫu tóc cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; móng tay để dài, sơn màu, gắn đá, đồ trang sức; cán bộ, chiến sĩ nam để râu, ria ở cằm, ở cổ và trên mặt. 2. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Không tham gia chào cờ Tổ quốc theo quy định; khi làm nhiệm vụ trực ban, trực tiếp dân không ghi chép nội dung liên quan trong ca trực vào sổ, không đeo băng trực ban, không ký nhận, bàn giao hoặc giao, nhận không đầy đủ với ca trước hoặc sau ca trực của mình; b) Trong giờ làm việc, hội họp, học tập không mặc trang phục theo quy định, vắng mặt không có lý do, mang phương tiện có tính năng thông tin liên lạc vào phòng họp khi đã có quy định cấm; thực hiện không đúng các quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân; c) Trong giờ làm việc, mặc trang phục Công an nhân dân ăn, uống ở hàng quán; hút thuốc trong khi làm nhiệm vụ, trong phòng làm việc, phòng họp, hội trường và ở những nơi có quy định cấm; lập bàn thờ, để bát hương, thắp hương trong hội trường, phòng họp, phòng khách, phòng làm việc, phòng ở, nhà kho, nhà ăn tập thể, nơi để hồ sơ tài liệu thuộc phạm vi trụ sở đơn vị (trừ khi tổ chức lễ tang); d) Không nắm vững quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về chức trách, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác; làm việc không có chương trình kế hoạch; không xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tuần; báo cáo không đầy đủ, kịp thời kết quả thực hiện nhiệm vụ; vi phạm chế độ nghỉ dưỡng, nghỉ phép; đ) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về quản lý tài liệu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ; quản lý vật chứng, phương tiện và đồ vật tạm giữ; quản lý tài sản, phương tiện của đơn vị; thu hồi trang phục, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, cành tùng, mũ kêpi; thu hồi vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ, các giấy tờ công tác khác; e) Thực hiện không đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông, can thiệp trái phép vào việc xử lý vi phạm, kéo dài thời hạn hoặc trì hoãn việc xử lý vi phạm điều lệnh. 3. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Không xử lý vi phạm điều lệnh hoặc áp dụng các hình thức xử lý vi phạm không đúng quy định, không thông báo xử lý vi phạm cho đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm biết; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi tiền, nhận quà của người vi phạm điều lệnh; không chấp hành hoặc cản trở việc kiểm tra điều lệnh; b) Uống rượu, bia và các chất có cồn trước, trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, ngày trực, giờ trực; vi phạm chế độ trực chỉ huy, trực ban, thường trực chiến đấu; c) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về việc ra chỉ thị, mệnh lệnh và thực hiện chỉ thị mệnh lệnh; d) Vi phạm các quy định về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; quy tắc, quy ước của chính quyền địa phương nơi công tác hoặc nơi cư trú. 4. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ trong năm khi vi phạm một trong các hành vi trong các nhóm hành vi sau: a) Khi phát hiện vụ việc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của đơn vị cần phải giải quyết nhưng không giải quyết hoặc không báo cáo lãnh đạo cấp có thẩm quyền; b) Gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và uy tín của lực lượng Công an nhân dân. 5. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức khiển trách khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Khi chuyển sang đơn vị khác, lực lượng khác trong Công an nhân dân cố ý không nộp lại vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ, phương tiện nghiệp vụ, tài liệu và các giấy tờ có liên quan (do lực lượng Công an cấp) cho đơn vị cũ; b) Làm mất giấy tờ do lực lượng Công an cấp (thẻ điều tra viên, thẻ tuần tra kiểm soát, giấy kiểm tra điều lệnh) nhưng không kịp thời báo cáo để người khác lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. 6. Cán bộ, chiến sĩ bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo khi vi phạm một trong các hành vi thuộc các nhóm hành vi sau: a) Có hành vi mua, bán, tàng trữ trái phép trang phục Công an nhân dân; b) Thực hiện không đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về kỷ luật khi công tác biệt phái, xã hội hóa; c) Khi gặp tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ có nguy cơ đe dọa, xâm phạm đến an ninh, trật tự, nhưng không tham gia giải quyết, không tìm cách ngăn chặn hậu quả xảy ra, không báo ngay cho đơn vị Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất để giải quyết. 7. Ngoài các trường hợp xử lý vi phạm trên, cán bộ, chiến sĩ vi phạm một trong các hành vi liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước; thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, quy trình công tác, quy chế làm việc; chế độ thông tin báo báo, ra chỉ thị, mệnh lệnh và thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh; thanh tra, kiểm tra; trật tự an toàn giao thông; sản xuất trái phép, làm giả trang phục, cấp hiệu, số hiệu Công an nhân dân; sử dụng giấy chứng nhận Công an nhân dân, giấy chứng minh Công an nhân dân, số hiệu Công an nhân dân và giấy tờ được cấp khác để phục vụ công tác; sử dụng chất gây nghiện trái phép, đánh bạc, hoạt động mê tín, dị đoan, sử dụng rượu, bia, chất có cồn; văn hóa ứng xử; quản lý, sử dụng tài liệu, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật chứng, phương tiện nghiệp vụ, tài sản đến mức phải xử lý kỷ luật từ hình thức Khiển trách đến Tước danh hiệu Công an nhân dân, thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Điều 10. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ 1. Những tình tiết tăng nặng: a) Có hành vi, lời nói gây cản trở, đối phó hoặc không chấp hành việc kiểm tra theo yêu cầu của Tổ kiểm tra điều lệnh; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hoặc bao che, không xử lý vi phạm hoặc xử lý không đúng hành vi vi phạm theo quy định; c) Vi phạm nhiều lần trong năm; d) Không tự giác nhận khuyết điểm, có hành vi né tránh, che giấu vi phạm; khai báo không trung thực, ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm, cản trở việc xác minh, xử lý vi phạm hoặc có hành vi đe dọa, trù dập người tố cáo. 2. Những tình tiết giảm nhẹ: a) Chủ động báo cáo hành vi vi phạm của mình với tổ chức, tự giác nhận khuyết điểm, thành khẩn, nhận thức rõ sai phạm; b) Có hành động ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của việc vi phạm; kịp thời khắc phục, sửa chữa; c) Vi phạm do nguyên nhân khách quan; d) Tích cực tham gia vào các tổ chức, hoạt động phong trào của đơn vị, có thành tích được khen thưởng. 3. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ là một trong những căn cứ để đề nghị tăng hoặc giảm mức xử lý. Trường hợp tình tiết tăng nặng nhiều hơn tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng hình thức xử lý cao hơn một bậc so với hình thức xử lý của hành vi đó; trường hợp tình tiết tăng nặng ít hơn tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng hình thức xử lý thấp hơn một bậc so với hình thức xử lý của hành vi đó. Điều 11. Trình tự, thẩm quyền, hồ sơ xử lý vi phạm điều lệnh 1. Trình tự xử lý a) Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: Đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp yêu cầu đơn vị vi phạm kiểm điểm, báo cáo về hành vi vi phạm và tự nhận hình thức xử lý; tổ chức thẩm tra, xác minh, kết luận về hành vi vi phạm, nếu vi phạm đã rõ thì không cần xác minh; Căn cứ nội dung vi phạm để tổ chức họp xét cho phù hợp: Nếu xử lý bằng hình thức phê bình thì tổ chức họp đơn vị hoặc cán bộ chủ chốt (thành phần do thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp quyết định), sau đó ra thông báo bằng văn bản; nếu xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua trong năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua trong năm thì tổ chức họp Hội đồng thi đua, khen thưởng cấp trên trực tiếp (nếu không tổ chức họp thì xin ý kiến bằng văn bản); Sau khi xử lý, báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp hoặc đơn vị ra thông báo. b) Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: Lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp quản lý yêu cầu cán bộ, chiến sĩ vi phạm viết bản tự kiểm điểm về hành vi vi phạm và tự nhận hình thức xử lý vi phạm; tổ chức thẩm tra, xác minh, kết luận về hành vi vi phạm của cán bộ, chiến sĩ; nếu vi phạm đã rõ thì không cần xác minh. Căn cứ nội dung tự kiểm điểm của cán bộ, chiến sĩ và kết quả xác minh, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, xét thấy cần thiết phải tạm đình chỉ công tác của cán bộ, chiến sĩ vi phạm thì ra quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định; Căn cứ nội dung vi phạm để tổ chức họp xét cho phù hợp: Nếu xử lý bằng hình thức phê bình thì tổ chức họp đơn vị hoặc cán bộ chủ chốt (thành phần do thủ trưởng đơn vị quyết định), sau đó ra thông báo bằng văn bản; nếu xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua năm thì tổ chức họp Hội đồng thi đua, khen thưởng cùng cấp (nếu không tổ chức họp thì xin ý kiến bằng văn bản); nếu xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nhận xét, đánh giá và xếp loại cán bộ trong Công an nhân dân; nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật từ khiển trách đến tước danh hiệu Công an nhân dân thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân; Sau khi xử lý, báo cáo bằng văn bản về cơ quan điều lệnh cấp trên trực tiếp hoặc đơn vị ra thông báo. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có dấu hiệu vi phạm pháp luật phải báo cáo cấp có thẩm quyền chuyển tài liệu cho cơ quan chức năng xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền xử lý a) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức phê bình thì do thủ trưởng đơn vị (đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh) hoặc thủ trưởng đơn vị cấp trên trực tiếp (đối với đơn vị vi phạm điều lệnh) quyết định; b) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua năm hoặc không xét tặng danh hiệu thi đua năm thì do Hội đồng thi đua, khen thưởng cùng cấp hoặc Hội đồng Thi đua, khen thưởng cấp trên trực tiếp quyết định; c) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về nhận xét, đánh giá và xếp loại cán bộ trong Công an nhân dân; d) Trường hợp có căn cứ xử lý bằng hình thức từ Khiển trách trở lên thì thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. 3. Hồ sơ xử lý, bao gồm: a) Biên bản kiểm tra điều lệnh hoặc biên bản vi phạm điều lệnh; biên bản xác minh, các tài liệu chứng cứ khác (nếu có); b) Báo cáo kiểm điểm của đơn vị vi phạm điều lệnh; bản tự kiểm điểm, tường trình của cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh; c) Biên bản họp xét, đề nghị xử lý vi phạm; biên bản kiểm phiếu (nếu có); d) Quyết định xử lý, thông báo kết quả xử lý vi phạm. 4. Hồ sơ tài liệu xử lý vi phạm điều lệnh do cơ quan tham mưu đề xuất xử lý vi phạm lưu trữ. Việc lưu trữ hồ sơ thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác văn thư hành chính, hồ sơ lưu trữ văn bản quản lý nhà nước trong Công an nhân dân. Điều 12. Xử lý liên đới trách nhiệm 1. Đối với đơn vị vi phạm điều lệnh: a) Trường hợp đơn vị vi phạm bị xử lý bằng hình thức hạ bậc danh hiệu thi đua, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức phê bình; trường hợp đơn vị vi phạm nhiều lần, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; b) Trường hợp đơn vị vi phạm bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; trường hợp đơn vị vi phạm nhiều lần, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm. 2. Đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh: a) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức phê bình; b) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm đến xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức hạ một bậc danh hiệu thi đua năm; c) Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm bị xử lý kỷ luật từ hình thức Khiển trách đến Tước danh hiệu Công an nhân dân, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp bị xử lý bằng hình thức không xét tặng danh hiệu thi đua năm. Trường hợp lãnh đạo, chỉ huy có liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm của cán bộ, chiến sĩ bị xử lý kỷ luật, thực hiện theo quy định của Bộ Công an về kỷ luật cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân. 3. Thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp chịu trách nhiệm liên đới nếu để đơn vị, cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh hoặc để quá thời hạn xử lý vi phạm điều lệnh. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm nhiều lần mà trước đó thủ trưởng đơn vị, lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp đã nhắc nhở, chấn chỉnh bằng văn bản hoặc nhắc nhở, chấn chỉnh trong cuộc họp, giao ban của đơn vị (nội dung chấn chỉnh, nhắc nhở được ghi trong biên bản họp, giao ban của đơn vị), đồng thời có văn bản báo cáo lãnh đạo cấp trên trực tiếp thì thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo, chỉ huy phụ trách trực tiếp không phải chịu trách nhiệm liên đới. CHƯƠNG III ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 02 năm 2021, thay thế Thông tư số 10/2010/TT - BCA ngày 25 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định xử lý vi phạm điều lệnh Công an nhân dân. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Giám đốc học viện, Hiệu trưởng trường Công an nhân dân chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 2. Cục Công tác đảng và công tác chính trị chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị có liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện Thông tư này. 3. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc, Công an đơn vị, địa phương kịp thời báo cáo về Bộ (qua Cục Công tác đảng và công tác chính trị) để được hướng dẫn. /.
Quy định về công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân
02/2023/TT-BCA
13/01/2023
Thông tư
03/03/2023
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Tô Lâm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định về công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân Căn cứ Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 22 tháng 11 năm 2013 ; Căn cứ Nghị định số 0 1 /2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 83/2017 / NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy; Căn cứ Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về đối tượng, hình thức, nội dung, địa điểm, chương trình, thời gian huấn luyện, cán bộ làm công tác huấn luyện, trường hợp miễn, hoãn huấn luyện, tổ chức huấn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ (sau đây gọi chung là cán bộ, chiến sĩ), các đơn vị, cơ sở đào tạo, huấn luyện của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trực thuộc Bộ Công an và Công an các đơn vị, địa phương. Điều 3. Phụ lục biểu mẫu sử dụng trong công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục biểu mẫu sử dụng trong công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, bao gồm: 1. Sổ theo dõi công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 01). 2. Giáo án huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 02). 3. Báo cáo công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 03). 4. Quyết định thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 04). 5. Biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 05). Điều 4. Kinh phí tổ chức huấn luyện 1. Kinh phí tổ chức huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của Công an các đơn vị, địa phương được bố trí trong dự toán chi ngân sách chi an ninh hàng năm Bộ Công an giao cho Công an các đơn vị, địa phương và các nguồn kinh phí hợp pháp khác (nếu có). 2. Hàng năm, căn cứ kế hoạch huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chí ngân sách nhà nước hiện hành, Công an các đơn vị, địa phương lập dự toán, tổng hợp chung vào dự toán ngân sách hàng năm của Công an các đơn vị, địa phương; thực hiện quản lý, sử dụng và quyết toán theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an. Chương II ĐỐI TƯỢNG, HÌNH THỨC, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH, THỜI GIAN, CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN, TRƯỜNG HỢP MIỄN, HOÃN HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ Điều 5. Đối tượng, hình thức huấn luyện 1. Đối tượng huấn luyện: a) Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh). b) Trưởng Công an, Phó Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) phụ trách công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, c) Đội trưởng, Phó Đội trưởng các đội nghiệp vụ được giao thực hiện nhiệm vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa, cháy và cứu nạn, cứu hộ; Đội trưởng, Phó Đội trưởng đội Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp huyện. d) Cán bộ làm công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. đ) Cán bộ, chiến sĩ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. e) Lái xe chữa cháy, xe cứu nạn, cứu hộ; lái tàu, xuồng, ca nô chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ. 2. Hình thức huấn luyện: a) Huấn luyện thường xuyên được thực hiện hàng ngày trong ca thường trực tại đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều này. b) Huấn luyện định kỳ được thực hiện một năm một lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này; một năm hai lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều này. c) Huấn luyện nâng cao được thực hiện một năm một lần, áp dụng cho đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; hai năm một lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này. Điều 6. Nội dung huấn luyện 1. Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 2. Lý thuyết về kỹ thuật cá nhân; chiến thuật, kỹ thuật; đội hình chữa cháy, đội hình cứu nạn, cứu hộ; phương án chữa cháy, phương án cứu nạn, cứu hộ; quản lý, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 3. Lý thuyết về công tác chỉ huy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 4. Thực hành huấn luyện thể lực. 5. Thực hành kỹ thuật cá nhân về chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 6. Thực hành đội hình chữa cháy, đội hình cứu nạn, cứu hộ. 7. Thực hành kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 8. Thực hành thao tác sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 9. Bổ túc tay lái cho lái xe chữa cháy, xe cứu nạn, cứu hộ; công tác sửa chữa phương tiện chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Điều 7. Địa điểm huấn luyện và cán bộ làm công tác huấn luyện 1. Địa điểm huấn luyện a) Huấn luyện thường xuyên được thực hiện tại địa điểm, trụ sở của đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. b) Huấn luyện định kỳ được thực hiện tập trung tại trung tâm huấn luyện hoặc tại địa điểm, trụ sở của Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh. c) Huấn luyện nâng cao được thực hiện tập trung tại trung tâm huấn luyện của các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an. 2. Cán bộ huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là người có trình độ trung cấp phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trở lên và có một trong các tiêu chuẩn sau: a) Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm công tác nghiên cứu, tham mưu, hướng dẫn về nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ hoặc lãnh đạo cấp phòng và tương đương trở lên thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. b) Là giảng viên hoặc lãnh đạo khoa chuyên ngành chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ thuộc Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. c) Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ hoặc chỉ huy cấp đội và tương đương trở lên thuộc Công an cấp tỉnh. Điều 8. Chương trình và thời gian huấn luyện 1. Huấn luyện thường xuyên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 8 Điều 6 Thông tư này. b) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Thông tư này. c) Đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6, 8, 9 Điều 6 Thông tư này. 2. Huấn luyện định kỳ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 40 giờ (16 giờ lý thuyết, 24 giờ thực hành). b) Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời, gian tối thiểu là 24 giờ (08 giờ lý thuyết, 16 giờ thực hành). c) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo các nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 3, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 120 giờ (24 giờ lý thuyết, 96 giờ thực hành). d) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 320 giờ (32 giờ lý thuyết, 288 giờ thực hành). đ) Đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại khoản 9 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu 80 giờ (16 giờ bổ túc tay lái, 64 giờ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện). 3. Huấn luyện nâng cao quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 40 giờ. b) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 56 giờ. c) Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 120 giờ. Điều 9. Các trường hợp được miễn, hoãn huấn luyện 1. Trường hợp được miễn huấn luyện: a) Đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo; bệnh trong danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định của Thông tư số 46/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. b) Trong thời gian công tác biệt phái. c) Có thông báo nghỉ chờ hưởng chế độ hưu trí. d) Đang học tập trung tại học viện, trường trong và ngoài ngành Công an từ 12 tháng trở lên. đ) Phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 2. Trường hợp được hoãn huấn luyện: Cán bộ, chiến sĩ bị ốm, đau, nghỉ đột xuất, đi công tác có xác nhận của thủ trưởng đơn vị hoặc được lãnh đạo đơn vị cho nghỉ vào thời điểm huấn luyện. Các trường hợp được hoãn huấn luyện phải tham gia huấn luyện bổ sung trong kỳ tiếp theo các nội dung chưa thực hiện. Chương III TỔ CHỨC HUẤN LUYỆN, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ Điều 10. Ban hành kế hoạch, chương trình, giáo án và tổ chức huấn luyện 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này và ban hành kế hoạch, chương trình, tổ chức huấn luyện nâng cao nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 5 Thông tư này. 2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; ban hành kế hoạch, chương trình, tổ chức huấn luyện định kỳ nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c, đ, e khoản 1 Điều 5 Thông tư này. 3. Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức huấn luyện thường xuyên nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều 5 Thông tư này phù hợp với điều kiện thực tế tại đơn vị. 4. Việc tổ chức huấn luyện phải được ghi vào Sổ theo dõi công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 11. Nội dung kiểm tra, tiêu chí đánh giá kết quả huấn luyện 1. Nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện: a) Kiểm tra, đánh giá kết quả theo chương trình huấn luyện đã ban hành. b) Kiểm tra kế hoạch, chương trình, giáo án, sổ theo dõi công tác huấn luyện, các điều kiện bảo đảm phục vụ công tác huấn luyện; kế hoạch kiểm tra, biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, báo cáo công tác huấn luyện. c) Kiểm tra, thẩm định kết quả huấn luyện theo báo cáo của đơn vị huấn luyện. 2. Tiêu chí đánh giá kết quả huấn luyện: a) Cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này đạt yêu cầu phải bảo đảm: Tham gia đầy đủ các nội dung huấn luyện; thời gian huấn luyện phải bảo đảm từ 80% trở lên; tham gia kiểm tra và đạt kết quả từ 50% tổng điểm trở lên. b) Đơn vị đạt yêu cầu đối với Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và Công an cấp huyện phải có từ 90% cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng huấn luyện tham gia đầy đủ nội dung, thời gian huấn luyện theo quy định và 80% cán bộ, chiến sĩ kiểm tra đạt yêu cầu trở lên. c) Đơn vị, cá nhân chưa đạt yêu cầu là trường hợp chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này. d) Cá nhân có kết quả kiểm tra chưa đạt yêu cầu phải kiểm tra lại nội dung chưa đạt yêu cầu. 3. Kết quả huấn luyện của đơn vị, cá nhân là một trong các tiêu chí để nhận xét, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị, cá nhân và bình xét thi đua hàng năm. Điều 12. Kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện 1. Thẩm quyền kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện: a) Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nâng cao và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện định kỳ, thường xuyên của Công an cấp tỉnh (sau đây gọi chung là hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện). Thành phần hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện gồm: Lãnh đạo Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng có liên quan thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quyết định. b) Giám đốc Công an cấp tỉnh thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện định kỳ và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện thường xuyên đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Thành phần hội đồng kiểm tra, danh giá kết quả huấn luyện gồm: Lãnh đạo Công an cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng có liên quan thuộc Công an cấp tỉnh do Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định. 2. Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Giám đốc Công an cấp tỉnh ban hành quyết định thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện có trách nhiệm: a) Chuẩn bị đề kiểm tra phù hợp với nội dung huấn luyện; thông báo về thời gian, địa điểm kiểm tra; tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện theo kế hoạch, chương trình đã được phê duyệt. b) Kết thúc kiểm tra, tổ chức họp đánh giá ưu, khuyết điểm, rút kinh nghiệm công tác tổ chức huấn luyện của đơn vị được kiểm tra; lập biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. c) Thông báo kết quả kiểm tra đến đơn vị, cá nhân được kiểm tra, các đơn vị liên quan để tổ chức thực hiện và báo cáo cấp trên quản lý trực tiếp. 4. Cá nhân, đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm: a) Chấp hành đầy đủ các quy định, yêu cầu của hội đồng kiểm tra. b) Chuẩn bị đầy đủ nội dung kiểm tra theo yêu cầu của hội đồng kiểm tra. c) Lưu biên bản kiểm tra theo quy định tại đơn vị được kiểm tra. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03 tháng 3 năm 2023. 2. Bãi bỏ Điều 8 Thông tư số 08/2018/TT-BCA ngày 05/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18/7/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm: a) Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. b) Hướng dẫn mức điểm kiểm tra đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu, đánh giá kết quả công tác huấn luyện, kiểm tra nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm: a) Bố trí địa điểm, cơ sở vật chất, cán bộ làm công tác huấn luyện và các điều kiện cần thiết để tổ chức huấn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện định kỳ và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện thường xuyên đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Thông tư này và hướng dẫn của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, b) Tổng hợp kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa chạy và cứu nạn, cứu hộ báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) để kịp thời hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=163060&Keyword=
2025-09-24T02:20:50.077825
../data\bocongan\022023TT-BCA\document.json
01/07/2025
THÔNG TƯ Quy định về công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân Căn cứ Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 22 tháng 11 năm 2013; Căn cứ Nghị định số 0 1 /2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 83/2017 / NĐ - CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy; Căn cứ Nghị định số 136/2020/NĐ - CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định về công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về đối tượng, hình thức, nội dung, địa điểm, chương trình, thời gian huấn luyện, cán bộ làm công tác huấn luyện, trường hợp miễn, hoãn huấn luyện, tổ chức huấn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ (sau đây gọi chung là cán bộ, chiến sĩ), các đơn vị, cơ sở đào tạo, huấn luyện của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trực thuộc Bộ Công an và Công an các đơn vị, địa phương. Điều 3. Phụ lục biểu mẫu sử dụng trong công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục biểu mẫu sử dụng trong công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, bao gồm: 1. Sổ theo dõi công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 01). 2. Giáo án huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 02). 3. Báo cáo công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 03). 4. Quyết định thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 04). 5. Biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Mẫu số 05). Điều 4. Kinh phí tổ chức huấn luyện 1. Kinh phí tổ chức huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của Công an các đơn vị, địa phương được bố trí trong dự toán chi ngân sách chi an ninh hàng năm Bộ Công an giao cho Công an các đơn vị, địa phương và các nguồn kinh phí hợp pháp khác (nếu có). 2. Hàng năm, căn cứ kế hoạch huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chí ngân sách nhà nước hiện hành, Công an các đơn vị, địa phương lập dự toán, tổng hợp chung vào dự toán ngân sách hàng năm của Công an các đơn vị, địa phương; thực hiện quản lý, sử dụng và quyết toán theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an. Chương II ĐỐI TƯỢNG, HÌNH THỨC, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH, THỜI GIAN, CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN, TRƯỜNG HỢP MIỄN, HOÃN HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ Điều 5. Đối tượng, hình thức huấn luyện 1. Đối tượng huấn luyện: a) Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh). b) Trưởng Công an, Phó Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) phụ trách công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, c) Đội trưởng, Phó Đội trưởng các đội nghiệp vụ được giao thực hiện nhiệm vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa, cháy và cứu nạn, cứu hộ; Đội trưởng, Phó Đội trưởng đội Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp huyện. d) Cán bộ làm công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. đ) Cán bộ, chiến sĩ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. e) Lái xe chữa cháy, xe cứu nạn, cứu hộ; lái tàu, xuồng, ca nô chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ. 2. Hình thức huấn luyện: a) Huấn luyện thường xuyên được thực hiện hàng ngày trong ca thường trực tại đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều này. b) Huấn luyện định kỳ được thực hiện một năm một lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này; một năm hai lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều này. c) Huấn luyện nâng cao được thực hiện một năm một lần, áp dụng cho đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; hai năm một lần, áp dụng cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này. Điều 6. Nội dung huấn luyện 1. Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 2. Lý thuyết về kỹ thuật cá nhân; chiến thuật, kỹ thuật; đội hình chữa cháy, đội hình cứu nạn, cứu hộ; phương án chữa cháy, phương án cứu nạn, cứu hộ; quản lý, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 3. Lý thuyết về công tác chỉ huy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 4. Thực hành huấn luyện thể lực. 5. Thực hành kỹ thuật cá nhân về chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 6. Thực hành đội hình chữa cháy, đội hình cứu nạn, cứu hộ. 7. Thực hành kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 8. Thực hành thao tác sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 9. Bổ túc tay lái cho lái xe chữa cháy, xe cứu nạn, cứu hộ; công tác sửa chữa phương tiện chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Điều 7. Địa điểm huấn luyện và cán bộ làm công tác huấn luyện 1. Địa điểm huấn luyện a) Huấn luyện thường xuyên được thực hiện tại địa điểm, trụ sở của đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. b) Huấn luyện định kỳ được thực hiện tập trung tại trung tâm huấn luyện hoặc tại địa điểm, trụ sở của Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh. c) Huấn luyện nâng cao được thực hiện tập trung tại trung tâm huấn luyện của các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an. 2. Cán bộ huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là người có trình độ trung cấp phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trở lên và có một trong các tiêu chuẩn sau: a) Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm công tác nghiên cứu, tham mưu, hướng dẫn về nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ hoặc lãnh đạo cấp phòng và tương đương trở lên thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. b) Là giảng viên hoặc lãnh đạo khoa chuyên ngành chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ thuộc Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. c) Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ hoặc chỉ huy cấp đội và tương đương trở lên thuộc Công an cấp tỉnh. Điều 8. Chương trình và thời gian huấn luyện 1. Huấn luyện thường xuyên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 8 Điều 6 Thông tư này. b) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Thông tư này. c) Đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện thường xuyên theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6, 8, 9 Điều 6 Thông tư này. 2. Huấn luyện định kỳ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 40 giờ (16 giờ lý thuyết, 24 giờ thực hành). b) Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời, gian tối thiểu là 24 giờ (08 giờ lý thuyết, 16 giờ thực hành). c) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo các nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 3, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 120 giờ (24 giờ lý thuyết, 96 giờ thực hành). d) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu là 320 giờ (32 giờ lý thuyết, 288 giờ thực hành). đ) Đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện định kỳ theo nội dung quy định tại khoản 9 Điều 6 Thông tư này, tổng thời gian tối thiểu 80 giờ (16 giờ bổ túc tay lái, 64 giờ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện). 3. Huấn luyện nâng cao quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư này được thực hiện như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 3, 7 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 40 giờ. b) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 56 giờ. c) Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao theo nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Thông tư này, thời gian tối thiểu là 120 giờ. Điều 9. Các trường hợp được miễn, hoãn huấn luyện 1. Trường hợp được miễn huấn luyện: a) Đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo; bệnh trong danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định của Thông tư số 46/2016/TT - BYT ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. b) Trong thời gian công tác biệt phái. c) Có thông báo nghỉ chờ hưởng chế độ hưu trí. d) Đang học tập trung tại học viện, trường trong và ngoài ngành Công an từ 12 tháng trở lên. đ) Phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 2. Trường hợp được hoãn huấn luyện: Cán bộ, chiến sĩ bị ốm, đau, nghỉ đột xuất, đi công tác có xác nhận của thủ trưởng đơn vị hoặc được lãnh đạo đơn vị cho nghỉ vào thời điểm huấn luyện. Các trường hợp được hoãn huấn luyện phải tham gia huấn luyện bổ sung trong kỳ tiếp theo các nội dung chưa thực hiện. Chương III TỔ CHỨC HUẤN LUYỆN, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ Điều 10. Ban hành kế hoạch, chương trình, giáo án và tổ chức huấn luyện 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này và ban hành kế hoạch, chương trình, tổ chức huấn luyện nâng cao nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 5 Thông tư này. 2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; ban hành kế hoạch, chương trình, tổ chức huấn luyện định kỳ nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm a, b, c, đ, e khoản 1 Điều 5 Thông tư này. 3. Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện có trách nhiệm xây dựng giáo án huấn luyện theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức huấn luyện thường xuyên nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho các đối tượng quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều 5 Thông tư này phù hợp với điều kiện thực tế tại đơn vị. 4. Việc tổ chức huấn luyện phải được ghi vào Sổ theo dõi công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 11. Nội dung kiểm tra, tiêu chí đánh giá kết quả huấn luyện 1. Nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện: a) Kiểm tra, đánh giá kết quả theo chương trình huấn luyện đã ban hành. b) Kiểm tra kế hoạch, chương trình, giáo án, sổ theo dõi công tác huấn luyện, các điều kiện bảo đảm phục vụ công tác huấn luyện; kế hoạch kiểm tra, biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, báo cáo công tác huấn luyện. c) Kiểm tra, thẩm định kết quả huấn luyện theo báo cáo của đơn vị huấn luyện. 2. Tiêu chí đánh giá kết quả huấn luyện: a) Cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này đạt yêu cầu phải bảo đảm: Tham gia đầy đủ các nội dung huấn luyện; thời gian huấn luyện phải bảo đảm từ 80% trở lên; tham gia kiểm tra và đạt kết quả từ 50% tổng điểm trở lên. b) Đơn vị đạt yêu cầu đối với Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và Công an cấp huyện phải có từ 90% cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng huấn luyện tham gia đầy đủ nội dung, thời gian huấn luyện theo quy định và 80% cán bộ, chiến sĩ kiểm tra đạt yêu cầu trở lên. c) Đơn vị, cá nhân chưa đạt yêu cầu là trường hợp chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này. d) Cá nhân có kết quả kiểm tra chưa đạt yêu cầu phải kiểm tra lại nội dung chưa đạt yêu cầu. 3. Kết quả huấn luyện của đơn vị, cá nhân là một trong các tiêu chí để nhận xét, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị, cá nhân và bình xét thi đua hàng năm. Điều 12. Kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện 1. Thẩm quyền kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện: a) Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nâng cao và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện định kỳ, thường xuyên của Công an cấp tỉnh (sau đây gọi chung là hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện). Thành phần hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện gồm: Lãnh đạo Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng có liên quan thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quyết định. b) Giám đốc Công an cấp tỉnh thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện định kỳ và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện thường xuyên đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Thành phần hội đồng kiểm tra, danh giá kết quả huấn luyện gồm: Lãnh đạo Công an cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng có liên quan thuộc Công an cấp tỉnh do Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định. 2. Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Giám đốc Công an cấp tỉnh ban hành quyết định thành lập hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Hội đồng kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện có trách nhiệm: a) Chuẩn bị đề kiểm tra phù hợp với nội dung huấn luyện; thông báo về thời gian, địa điểm kiểm tra; tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện theo kế hoạch, chương trình đã được phê duyệt. b) Kết thúc kiểm tra, tổ chức họp đánh giá ưu, khuyết điểm, rút kinh nghiệm công tác tổ chức huấn luyện của đơn vị được kiểm tra; lập biên bản kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. c) Thông báo kết quả kiểm tra đến đơn vị, cá nhân được kiểm tra, các đơn vị liên quan để tổ chức thực hiện và báo cáo cấp trên quản lý trực tiếp. 4. Cá nhân, đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm: a) Chấp hành đầy đủ các quy định, yêu cầu của hội đồng kiểm tra. b) Chuẩn bị đầy đủ nội dung kiểm tra theo yêu cầu của hội đồng kiểm tra. c) Lưu biên bản kiểm tra theo quy định tại đơn vị được kiểm tra. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03 tháng 3 năm 2023. 2. Bãi bỏ Điều 8 Thông tư số 08/2018/TT - BCA ngày 05/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 83/2017/NĐ - CP ngày 18/7/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm: a) Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. b) Hướng dẫn mức điểm kiểm tra đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu, đánh giá kết quả công tác huấn luyện, kiểm tra nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. 2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm: a) Bố trí địa điểm, cơ sở vật chất, cán bộ làm công tác huấn luyện và các điều kiện cần thiết để tổ chức huấn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện định kỳ và kiểm tra, đánh giá kết quả công tác huấn luyện thường xuyên đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Thông tư này và hướng dẫn của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, b) Tổng hợp kết quả công tác huấn luyện nghiệp vụ chữa chạy và cứu nạn, cứu hộ báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) để kịp thời hướng dẫn. /.
Quy định về phối hợp trao đổi thông tin trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố
02/2023/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
31/03/2023
Thông tư liên tịch
25/05/2023
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lương Tam Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp trao đổi thông tin trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố Căn cứ Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật số 02/2021/QH15 ngày 12/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22/6/2015; Luật số 63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành quy định về phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 3. Mục đích phối hợp 1. Bảo đảm sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ trung ương đến địa phương, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Tăng cường trách nhiệm, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong trao đổi thông tin phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật. 2. Được thực hiện thường xuyên, bảo đảm nắm bắt kịp thời thông tin góp phần phối hợp giải quyết vụ án đúng pháp luật. 3. Bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan. 4. Việc thực hiện trao đổi thông tin, phối hợp trong hoạt động tiến hành tố tụng đối với hành vi phạm tội rửa tiền, hành vi phạm tội tài trợ khủng bố phải tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch đang có hiệu lực thi hành và quy định của Thông tư này. Điều 5. Những hành vi bị nghiêm cấm 1. Thu thập, tiết lộ trái phép thông tin về tình hình, kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố hoặc lợi dụng để thu thập, cung cấp trái phép thông tin cá nhân, thông tin khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Sử dụng thông tin cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc thông tin khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố vào mục đích cá nhân hoặc các mục đích khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 6. Thông tin bí mật, thông tin công khai trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố 1. Thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác: Là những thông tin liên quan đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật công tác. 2. Thông tin công khai: Là những thông tin liên quan đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật công tác. Điều 7. Phạm vi trao đổi thông tin 1. Trong giai đoạn điều tra: Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự (đối với những vụ án có tranh chấp về thẩm quyền); nhập, tách vụ án hình sự; những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự; việc chứng minh dòng tiền; vật chứng; giám định, định giá tài sản; việc áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn; tương trợ tư pháp về hình sự; đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can; tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can; kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm giữ đồ vật, tài liệu; việc áp dụng các biện pháp xử lý vật chứng và những thông tin khác trong giai đoạn điều tra mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. 2. Trong giai đoạn truy tố: Nhập, tách vụ án hình sự trong giai đoạn truy tố; quyết định chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền; quyết định truy tố; quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án hình sự, đình chỉ bị can; tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can; phục hồi vụ án và những thông tin khác mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. 3. Trong giai đoạn xét xử: Chuyển vụ án trong xét xử, bàn giao tài liệu, hồ sơ vụ án; đưa vụ án ra xét xử; xây dựng kế hoạch xét xử và phối hợp trao đổi trong việc tổ chức bảo vệ phiên tòa và những thông tin khác trong giai đoạn giai đoạn xét xử mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. Điều 8. Hình thức phối hợp 1. Trao đổi trực tiếp: Tổ chức họp liên ngành theo các cấp độ chuyên viên hoặc lãnh đạo liên ngành, thành lập tổ, đoàn công tác liên ngành để hướng dẫn hoặc các hình thức phối hợp trực tiếp khác phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Trao đổi gián tiếp: Trao đổi cung cấp thông tin qua văn bản, phương tiện liên lạc điện tử và các hình thức phối hợp gián tiếp khác. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 9. Phối hợp trao đổi thông tin trong điều tra, truy tố tội phạm nguồn của tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố 1. Quá trình điều tra các tội phạm có thể là tội phạm nguồn của tội rửa tiền; quá trình điều tra tội khủng bố, Cơ quan điều tra phải điều tra, xác minh, làm rõ các dấu hiệu tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố và kịp thời trao đổi thông tin, tài liệu cho Viện Kiểm sát cùng cấp. Chậm nhất 05 ngày trước khi quyết định khởi tố vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan điều tra trao đổi với Viện Kiểm sát cùng cấp để phối hợp. 2. Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hành vi có thể là tội phạm nguồn của tội rửa tiền hoặc tội khủng bố, Viện Kiểm sát phải kịp thời phát hiện, trao đổi thông tin với Cơ quan điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ dấu hiệu của tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 3. Trước khi kết thúc điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp trao đổi thông tin, rà soát, đánh giá tài liệu chứng cứ và các thủ tục tố tụng của vụ án, đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Điều tra viên, Kiểm sát viên phải lập biên bản trao đổi thông tin, đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ lưu của mỗi cơ quan. Điều 10. Phối hợp trao đổi thông tin trong lập, gửi, nhận hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự 1. Trong quá trình lập hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện Kiểm sát cùng cấp chủ động trao đổi thông tin với cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc trong quá trình lập hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự, Cơ quan điều tra trao đổi thông tin với đơn vị chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để được hướng dẫn, giải quyết. 2. Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp giải quyết yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự đối với tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, chậm nhất 10 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, thông tin kết quả chuyển hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự đến cơ quan đầu mối phối hợp của các nước cho Cơ quan điều tra. Trường hợp cần bổ sung hồ sơ, tài liệu, Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi ngay để Cơ quan điều tra thực hiện. 3. Chậm nhất 05 ngày, kể từ khi nhận được kết quả trả lời yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của các nước về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải trao đổi và chuyển cho Cơ quan điều tra có yêu cầu. 4. Khi tiếp nhận ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi, phối hợp Bộ Công an đánh giá việc tiếp nhận thực hiện, hoãn hoặc từ chối tiếp nhận. Trường hợp quyết định thực hiện, chậm nhất 10 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi, chuyển giao cho Bộ Công an để phân công Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp Bộ Công an giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài. Điều 11. Phối hợp trao đổi thông tin trong tiến hành các hoạt động tạm giữ, kê biên, phong tỏa tài khoản 1. Trước khi tiến hành các biện pháp kê biên tài sản của bị can phạm tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố hoặc phong tỏa tài khoản của người bị buộc tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố, Điều tra viên chủ động trao đổi thông tin, phối hợp với Kiểm sát viên thụ lý đánh giá về căn cứ, thiệt hại do hành vi phạm tội rửa tiền, tài trợ khủng bố gây ra, tài sản cần thu hồi, số lượng tài sản kê biên của bị can, số tiền cần phong tỏa trong tài khoản của người bị buộc tội. Việc tạm giữ, kê biên tài sản của bị can phạm tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố hoặc hoặc phong tỏa tài khoản của người bị buộc tội rửa tiền và tài trợ khủng bố phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; ngay sau khi thực hiện biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, Cơ quan điều tra thông báo cho Viện Kiểm sát cùng cấp biết. 2. Định kỳ, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án cùng cấp phối hợp, trao đổi thông tin, đánh giá về tài sản tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tài sản thu hồi trong các vụ án rửa tiền, tài trợ khủng bố. Điều 12. Đầu mối phối hợp 1. Cục An ninh điều tra - Bộ Công an, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Giám đốc kiểm tra I - Tòa án nhân dân tối cao là những đơn vị đầu mối giúp lãnh đạo Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Phòng An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh - Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Tòa án nhân dân cấp tỉnh là những đơn vị đầu mối giúp lãnh đạo các cơ quan cấp tỉnh tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Đơn vị đầu mối có trách nhiệm tham mưu với lãnh đạo các ngành theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch. Điều 13. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an. 2. Hàng năm, chủ trì, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức họp liên ngành, có sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 3. Phối hợp Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong quá trình điều tra tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Cơ quan điều tra Công an cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn về nghiệp vụ, pháp luật, kịp thời tiếp nhận thông tin, trả lời thỉnh thị của Cơ quan điều tra cấp dưới để bảo đảm quá trình giải quyết tuân thủ đúng quy định của pháp luật. 5. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm điều tra tội rửa tiền và tội  tài trợ khủng bố; chỉ đạo xây dựng Quy trình, hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch trong Công an nhân dân. Điều 14. Trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. 2. Hàng năm, phối hợp với Bộ Công an tổ chức họp liên ngành để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Chậm nhất 10 ngày trước khi tổ chức họp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản gửi Bộ Công an về nội dung và các vấn đề khác liên quan phục vụ tổ chức họp. 3. Phối hợp Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong quá trình điều tra các vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Viện Kiểm sát cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ, pháp luật, kịp thời tiếp nhận thông tin, trả lời thỉnh thị của Viện Kiểm sát cấp dưới để bảo đảm quá trình giải quyết tuân thủ đúng quy định của pháp luật. 5. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 15. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng của Tòa án nhân dân tối cao. 2. Hàng năm, phối hợp với Bộ Công an tổ chức họp liên ngành để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố. Chậm nhất 10 ngày trước khi tổ chức họp, Tòa án nhân dân tối cao có văn bản gửi Bộ Công an về nội dung và các vấn đề khác liên quan phục vụ tổ chức họp. 3. Phối hợp Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Tòa án các cấp trong hoạt động xét xử các vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 5. Chỉ đạo sơ kết, tổng kết xét xử, rút kinh nghiệm, hoạt động của Tòa án cấp dưới trong xét xử các vụ án rửa tiền, tài trợ khủng bố. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 16. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 05 năm 2023. Điều 17. Trách nhiệm thi hành 1. Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu phát sinh vướng mắc, hoặc các vấn đề cần hướng dẫn thì báo cáo Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để giải thích, hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=169463&Keyword=
2025-09-24T02:33:15.456801
../data\bocongan\022023TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp trao đổi thông tin trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố Căn cứ Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật số 02/2021/QH15 ngày 12/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22/6/2015; Luật số 63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành quy định về phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 3. Mục đích phối hợp 1. Bảo đảm sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ trung ương đến địa phương, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Tăng cường trách nhiệm, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong trao đổi thông tin phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật. 2. Được thực hiện thường xuyên, bảo đảm nắm bắt kịp thời thông tin góp phần phối hợp giải quyết vụ án đúng pháp luật. 3. Bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan. 4. Việc thực hiện trao đổi thông tin, phối hợp trong hoạt động tiến hành tố tụng đối với hành vi phạm tội rửa tiền, hành vi phạm tội tài trợ khủng bố phải tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch đang có hiệu lực thi hành và quy định của Thông tư này. Điều 5. Những hành vi bị nghiêm cấm 1. Thu thập, tiết lộ trái phép thông tin về tình hình, kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố hoặc lợi dụng để thu thập, cung cấp trái phép thông tin cá nhân, thông tin khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Sử dụng thông tin cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc thông tin khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố vào mục đích cá nhân hoặc các mục đích khác không thuộc phạm vi điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 6. Thông tin bí mật, thông tin công khai trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố 1. Thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác: Là những thông tin liên quan đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật công tác. 2. Thông tin công khai: Là những thông tin liên quan đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật công tác. Điều 7. Phạm vi trao đổi thông tin 1. Trong giai đoạn điều tra: Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự (đối với những vụ án có tranh chấp về thẩm quyền); nhập, tách vụ án hình sự; những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự; việc chứng minh dòng tiền; vật chứng; giám định, định giá tài sản; việc áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn; tương trợ tư pháp về hình sự; đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can; tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can; kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm giữ đồ vật, tài liệu; việc áp dụng các biện pháp xử lý vật chứng và những thông tin khác trong giai đoạn điều tra mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. 2. Trong giai đoạn truy tố: Nhập, tách vụ án hình sự trong giai đoạn truy tố; quyết định chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền; quyết định truy tố; quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án hình sự, đình chỉ bị can; tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can; phục hồi vụ án và những thông tin khác mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. 3. Trong giai đoạn xét xử: Chuyển vụ án trong xét xử, bàn giao tài liệu, hồ sơ vụ án; đưa vụ án ra xét xử; xây dựng kế hoạch xét xử và phối hợp trao đổi trong việc tổ chức bảo vệ phiên tòa và những thông tin khác trong giai đoạn giai đoạn xét xử mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết trao đổi. Điều 8. Hình thức phối hợp 1. Trao đổi trực tiếp: Tổ chức họp liên ngành theo các cấp độ chuyên viên hoặc lãnh đạo liên ngành, thành lập tổ, đoàn công tác liên ngành để hướng dẫn hoặc các hình thức phối hợp trực tiếp khác phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 2. Trao đổi gián tiếp: Trao đổi cung cấp thông tin qua văn bản, phương tiện liên lạc điện tử và các hình thức phối hợp gián tiếp khác. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 9. Phối hợp trao đổi thông tin trong điều tra, truy tố tội phạm nguồn của tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố 1. Quá trình điều tra các tội phạm có thể là tội phạm nguồn của tội rửa tiền; quá trình điều tra tội khủng bố, Cơ quan điều tra phải điều tra, xác minh, làm rõ các dấu hiệu tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố và kịp thời trao đổi thông tin, tài liệu cho Viện Kiểm sát cùng cấp. Chậm nhất 05 ngày trước khi quyết định khởi tố vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan điều tra trao đổi với Viện Kiểm sát cùng cấp để phối hợp. 2. Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hành vi có thể là tội phạm nguồn của tội rửa tiền hoặc tội khủng bố, Viện Kiểm sát phải kịp thời phát hiện, trao đổi thông tin với Cơ quan điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ dấu hiệu của tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 3. Trước khi kết thúc điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp trao đổi thông tin, rà soát, đánh giá tài liệu chứng cứ và các thủ tục tố tụng của vụ án, đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Điều tra viên, Kiểm sát viên phải lập biên bản trao đổi thông tin, đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ lưu của mỗi cơ quan. Điều 10. Phối hợp trao đổi thông tin trong lập, gửi, nhận hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự 1. Trong quá trình lập hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện Kiểm sát cùng cấp chủ động trao đổi thông tin với cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc trong quá trình lập hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự, Cơ quan điều tra trao đổi thông tin với đơn vị chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để được hướng dẫn, giải quyết. 2. Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp giải quyết yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự đối với tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, chậm nhất 10 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, thông tin kết quả chuyển hồ sơ tương trợ tư pháp về hình sự đến cơ quan đầu mối phối hợp của các nước cho Cơ quan điều tra. Trường hợp cần bổ sung hồ sơ, tài liệu, Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi ngay để Cơ quan điều tra thực hiện. 3. Chậm nhất 05 ngày, kể từ khi nhận được kết quả trả lời yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của các nước về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Cơ quan chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải trao đổi và chuyển cho Cơ quan điều tra có yêu cầu. 4. Khi tiếp nhận ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi, phối hợp Bộ Công an đánh giá việc tiếp nhận thực hiện, hoãn hoặc từ chối tiếp nhận. Trường hợp quyết định thực hiện, chậm nhất 10 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi, chuyển giao cho Bộ Công an để phân công Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp Bộ Công an giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài. Điều 11. Phối hợp trao đổi thông tin trong tiến hành các hoạt động tạm giữ, kê biên, phong tỏa tài khoản 1. Trước khi tiến hành các biện pháp kê biên tài sản của bị can phạm tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố hoặc phong tỏa tài khoản của người bị buộc tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố, Điều tra viên chủ động trao đổi thông tin, phối hợp với Kiểm sát viên thụ lý đánh giá về căn cứ, thiệt hại do hành vi phạm tội rửa tiền, tài trợ khủng bố gây ra, tài sản cần thu hồi, số lượng tài sản kê biên của bị can, số tiền cần phong tỏa trong tài khoản của người bị buộc tội. Việc tạm giữ, kê biên tài sản của bị can phạm tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố hoặc hoặc phong tỏa tài khoản của người bị buộc tội rửa tiền và tài trợ khủng bố phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; ngay sau khi thực hiện biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, Cơ quan điều tra thông báo cho Viện Kiểm sát cùng cấp biết. 2. Định kỳ, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án cùng cấp phối hợp, trao đổi thông tin, đánh giá về tài sản tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tài sản thu hồi trong các vụ án rửa tiền, tài trợ khủng bố. Điều 12. Đầu mối phối hợp 1. Cục An ninh điều tra - Bộ Công an, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Giám đốc kiểm tra I - Tòa án nhân dân tối cao là những đơn vị đầu mối giúp lãnh đạo Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Phòng An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh - Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Tòa án nhân dân cấp tỉnh là những đơn vị đầu mối giúp lãnh đạo các cơ quan cấp tỉnh tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Đơn vị đầu mối có trách nhiệm tham mưu với lãnh đạo các ngành theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư liên tịch. Điều 13. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an. 2. Hàng năm, chủ trì, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức họp liên ngành, có sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 3. Phối hợp Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong quá trình điều tra tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Cơ quan điều tra Công an cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn về nghiệp vụ, pháp luật, kịp thời tiếp nhận thông tin, trả lời thỉnh thị của Cơ quan điều tra cấp dưới để bảo đảm quá trình giải quyết tuân thủ đúng quy định của pháp luật. 5. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm điều tra tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố; chỉ đạo xây dựng Quy trình, hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch trong Công an nhân dân. Điều 14. Trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. 2. Hàng năm, phối hợp với Bộ Công an tổ chức họp liên ngành để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Chậm nhất 10 ngày trước khi tổ chức họp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản gửi Bộ Công an về nội dung và các vấn đề khác liên quan phục vụ tổ chức họp. 3. Phối hợp Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong quá trình điều tra các vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Viện Kiểm sát cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ, pháp luật, kịp thời tiếp nhận thông tin, trả lời thỉnh thị của Viện Kiểm sát cấp dưới để bảo đảm quá trình giải quyết tuân thủ đúng quy định của pháp luật. 5. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. Điều 15. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao 1. Hàng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố theo chức năng của Tòa án nhân dân tối cao. 2. Hàng năm, phối hợp với Bộ Công an tổ chức họp liên ngành để đánh giá tình hình phòng, chống tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố, kết quả thực hiện Thông tư liên tịch, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố. Chậm nhất 10 ngày trước khi tổ chức họp, Tòa án nhân dân tối cao có văn bản gửi Bộ Công an về nội dung và các vấn đề khác liên quan phục vụ tổ chức họp. 3. Phối hợp Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao rà soát, xây dựng, ban hành văn bản liên quan đến công tác thực thi pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền, tội tài trợ khủng bố theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. 4. Kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Tòa án các cấp trong hoạt động xét xử các vụ án về tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố. 5. Chỉ đạo sơ kết, tổng kết xét xử, rút kinh nghiệm, hoạt động của Tòa án cấp dưới trong xét xử các vụ án rửa tiền, tài trợ khủng bố. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 16. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 05 năm 2023. Điều 17. Trách nhiệm thi hành 1. Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu phát sinh vướng mắc, hoặc các vấn đề cần hướng dẫn thì báo cáo Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để giải thích, hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện
02/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
27/02/2025
Thông tư liên tịch
01/03/2025
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Nguyễn Văn Long
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện 1/01/clip_image001.gif" width="176" /> Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh , đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện). 2. Đối tượng áp dụng: a) Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan quản lý, thi hành án hình sự của Công an nhân dân; b) Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân; việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ việc, vụ án khi không tổ chức Công an cấp huyện được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và việc kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 3. Việc gửi các văn bản tố tụng hình sự, văn bản trong thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự Cơ quan ban hành các lệnh, quyết định, thông báo, bản án và các văn bản khác trong tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền và có trách nhiệm thi hành theo thẩm quyền được quy định trong Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Chương II PHỐI HỢP TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Điều 4. Tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân gồm: 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh). Điều 5. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân 1. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh như sau: a) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân; b) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài; c) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. 3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an. Điều 6. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thực hiện như sau: a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện báo cáo để chuyển vụ việc, vụ án lên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để thực hành quyền công tố, kiểm sát theo thẩm quyền, đồng thời thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm, người phạm tội ra tự thú, đầu thú của Công an cấp xã, Đồn Công an và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí ở Công an cấp xã, Đồn Công an. Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi tội phạm xảy ra, trường hợp tội phạm xảy ra ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt; b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trường hợp xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút vụ việc, vụ án quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này để trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết; c) Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra đối với vụ việc, vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Tòa án cùng cấp có thẩm quyền xét xử để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo quy định; d) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm thì có thẩm quyền giải quyết nguồn tin trong trường hợp phát hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; đ) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra đối với vụ án thì có thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc khi quyết định việc truy tố hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; e) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với vụ việc, vụ án thì có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trong hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Chương III PHỐI HỢP TRONG THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Điều 7. Tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam gồm: a) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Bộ Công an; b) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an cấp tỉnh. 2. Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ sở giam giữ của Công an cấp tỉnh gồm: trại tạm giam; phân trại thuộc trại tạm giam. 3. Cơ sở giam giữ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng. Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Giám thị trại tạm giam, Trưởng phân trại. Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Phó Giám thị trại tạm giam, Phó Trưởng phân trại. Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giam giữ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ Công an cấp tỉnh: a) Cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; c) Trưởng phân trại có trách nhiệm giúp Giám thị trại tạm giam theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám trị trại tạm giam và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ được giao; d) Phân trại được sử dụng con dấu của phân trại khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Điều 9. Tổ chức cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. 2. Cơ quan thi hành án hình sự, gồm: a) Trại giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; c) Ủy ban nhân dân cấp xã; d) Công an cấp xã; Đồn Công an (nơi huyện không tổ chức Công an cấp xã). Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 14; điểm a và điểm b khoản 1, các khoản 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 16 Luật Thi hành án hình sự. 3. Trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 18 Luật Thi hành án hình sự. Phân trại thuộc trại tạm giam trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại phân trại thuộc trại tạm giam; tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù ở phân trại thuộc trại tạm giam và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 4. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; giáo dục người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú hoặc nơi người chấp hành án chết có trách nhiệm phối hợp với cơ quan được giao quản lý người đang chấp hành án thực hiện thủ tục khai tử; gửi trích lục khai tử cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền. 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an cấp xã trong thi hành án hình sự: a) Trực tiếp thực hiện việc giám sát người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; kiểm soát người chấp hành án phạt quản chế; b) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi phát hiện người thi hành án hình sự tại cộng đồng có vi phạm pháp luật; c) Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 4 Điều này. 6. Đồn Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 4, điểm a và điểm b khoản 5 Điều này. Điều 11. Thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự đối với trại tạm giam Công an cấp tỉnh và giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến trại tạm giam Công an cấp tỉnh theo quy định của pháp luật hiện hành. 3. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự đối với phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh, kiểm sát việc thi hành án hình sự của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trụ sở đóng tại địa bàn cấp huyện đó và giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh. Trường hợp khi kiểm sát mà phát hiện vi phạm thì yêu cầu phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự khắc phục ngay, đồng thời thông báo, kiến nghị với cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 12. Điều khoản chuyển tiếp 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện chủ động tiến hành rà soát, thống kê, tổng hợp, chốt danh sách hồ sơ vụ việc, vụ án, tài liệu, vật chứng, tài sản đang thụ lý, quản lý, giải quyết và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi không tổ chức Công an cấp huyện để tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, Thông tư liên tịch này và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. 2. Đối với những vụ việc, vụ án đang tạm đình chỉ thì khi có căn cứ phục hồi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định phục hồi và tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch này. Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025. Điều 14. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thực hiện, tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=175571&Keyword=
2025-09-24T02:33:10.996463
../data\bocongan\022025TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
01/07/2025
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện). 2. Đối tượng áp dụng: a) Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan quản lý, thi hành án hình sự của Công an nhân dân; b) Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân; việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ việc, vụ án khi không tổ chức Công an cấp huyện được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và việc kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 3. Việc gửi các văn bản tố tụng hình sự, văn bản trong thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự Cơ quan ban hành các lệnh, quyết định, thông báo, bản án và các văn bản khác trong tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền và có trách nhiệm thi hành theo thẩm quyền được quy định trong Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Chương II PHỐI HỢP TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Điều 4. Tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân gồm: 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh). Điều 5. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân 1. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh như sau: a) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân; b) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài; c) Tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. 3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an. Điều 6. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thực hiện như sau: a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện báo cáo để chuyển vụ việc, vụ án lên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để thực hành quyền công tố, kiểm sát theo thẩm quyền, đồng thời thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm, người phạm tội ra tự thú, đầu thú của Công an cấp xã, Đồn Công an và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí ở Công an cấp xã, Đồn Công an. Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi tội phạm xảy ra, trường hợp tội phạm xảy ra ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt; b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này. Trường hợp xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút vụ việc, vụ án quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này để trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết; c) Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra đối với vụ việc, vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Tòa án cùng cấp có thẩm quyền xét xử để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo quy định; d) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm thì có thẩm quyền giải quyết nguồn tin trong trường hợp phát hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; đ) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra đối với vụ án thì có thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc khi quyết định việc truy tố hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; e) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với vụ việc, vụ án thì có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trong hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Chương III PHỐI HỢP TRONG THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Điều 7. Tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam gồm: a) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Bộ Công an; b) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an cấp tỉnh. 2. Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ sở giam giữ của Công an cấp tỉnh gồm: trại tạm giam; phân trại thuộc trại tạm giam. 3. Cơ sở giam giữ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng. Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Giám thị trại tạm giam, Trưởng phân trại. Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Phó Giám thị trại tạm giam, Phó Trưởng phân trại. Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giam giữ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ Công an cấp tỉnh: a) Cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; c) Trưởng phân trại có trách nhiệm giúp Giám thị trại tạm giam theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám trị trại tạm giam và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ được giao; d) Phân trại được sử dụng con dấu của phân trại khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Điều 9. Tổ chức cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. 2. Cơ quan thi hành án hình sự, gồm: a) Trại giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; c) Ủy ban nhân dân cấp xã; d) Công an cấp xã; Đồn Công an (nơi huyện không tổ chức Công an cấp xã). Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 14; điểm a và điểm b khoản 1, các khoản 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 16 Luật Thi hành án hình sự. 3. Trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 18 Luật Thi hành án hình sự. Phân trại thuộc trại tạm giam trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại phân trại thuộc trại tạm giam; tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù ở phân trại thuộc trại tạm giam và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 4. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; giáo dục người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú hoặc nơi người chấp hành án chết có trách nhiệm phối hợp với cơ quan được giao quản lý người đang chấp hành án thực hiện thủ tục khai tử; gửi trích lục khai tử cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền. 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an cấp xã trong thi hành án hình sự: a) Trực tiếp thực hiện việc giám sát người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; kiểm soát người chấp hành án phạt quản chế; b) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi phát hiện người thi hành án hình sự tại cộng đồng có vi phạm pháp luật; c) Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 4 Điều này. 6. Đồn Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 4, điểm a và điểm b khoản 5 Điều này. Điều 11. Thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành. 2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự đối với trại tạm giam Công an cấp tỉnh và giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến trại tạm giam Công an cấp tỉnh theo quy định của pháp luật hiện hành. 3. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự đối với phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh, kiểm sát việc thi hành án hình sự của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trụ sở đóng tại địa bàn cấp huyện đó và giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh. Trường hợp khi kiểm sát mà phát hiện vi phạm thì yêu cầu phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự khắc phục ngay, đồng thời thông báo, kiến nghị với cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 12. Điều khoản chuyển tiếp 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện chủ động tiến hành rà soát, thống kê, tổng hợp, chốt danh sách hồ sơ vụ việc, vụ án, tài liệu, vật chứng, tài sản đang thụ lý, quản lý, giải quyết và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi không tổ chức Công an cấp huyện để tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, Thông tư liên tịch này và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. 2. Đối với những vụ việc, vụ án đang tạm đình chỉ thì khi có căn cứ phục hồi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định phục hồi và tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch này. Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025. Điều 14. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm thực hiện, tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời. /.
Hướng dẫn về quan hệ phối hợp trong lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
03/1998/TTLT-CA-QP
17/08/1998
Thông tư liên tịch
01/09/1998
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thiếu tướng Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về quan hệ phối hợp trong lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ Thi hành Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, liên Bộ Công an - Quốc phòng hướng dẫn về quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an và Quân đội trong lĩnh vực quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng Bộ đã được Chính phủ giao (quy định tại Điều 7, Điều 8 của Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996) mỗi ngành phải thực hiện theo đúng trách nhiệm của mình; đồng thời hai Bộ quy định thống nhất các mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng Công an và Quân đội để giúp Chính phủ quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ liên quan đến trật tự an toàn xã hội. II. PHẠM VI VÀ NỘI DUNG PHỐI HỢP 1. Phối hợp trong việc trang bị và cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng. a) Các đối tượng thuộc diện được trang bị vũ khí quân dụng (quy định tại điểm d, đ, e, g khoản 1 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP) nếu có nhu cầu trang bị vũ khí phải có văn bản gửi cơ quan Công an nêu rõ sự cần thiết, điều kiện, tiêu chuẩn, số lượng từng loại vũ khí cần trang bị theo thủ tục và phân cấp như sau: - Đối tượng có nhu cầu trang bị vũ khí là cơ quan ở Trung ương thì văn bản đề nghị do Lãnh đạo Bộ, ngành ký gửi Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát). - Đối tượng có nhu cầu trang bị vũ khí là cơ quan, đơn vị ở địa phương, thì văn bản đề nghị do Lãnh đạo Sở, Ban, ngành ở địa phương (cấp tỉnh) ký gửi Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét báo cáo Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát) quyết định. b) Trên cơ sở công văn đề nghị trang bị vũ khí, Bộ Công an xem xét, quyết định và có công văn trả lời được hoặc không được trang bị. Trong thời hạn không quá 15 ngày nếu là các trường hợp ở cơ quan Trung ương; không quá 30 ngày nếu là ở các địa phương, Bộ Công an phải trả lời bằng văn bản được hay không được trang bị vũ khí cho cơ quan, đơn vị đề nghị. Trường hợp được trang bị, Bộ Công an sẽ cấp giấy giới thiệu và hướng dẫn cơ quan, đơn vị đó làm thủ tục gửi Bộ Quốc phòng để xem xét quyết định việc cung cấp hoặc chuyển nhượng. Bộ Quốc phòng thực hiện việc cung cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng theo quy định tại điểm 7 Phần II Thông tư số 1691/ TT-QP ngày 8/7/1997 của Bộ Quốc phòng. c) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được vũ khí, cơ quan đơn vị được trang bị vũ khí phải làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy phép sử dụng tại cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (kể cả cơ quan, đơn vị thuộc cơ quan Trung ương đóng tại địa phương). 2. Phối hợp trao đổi và xử lý thông tin Cơ quan Công an và Quân sự cùng cấp phải phối hợp chặt chẽ, thường xuyên thông báo, cung cấp cho nhau về tình hình, vụ việc có liên quan tới công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; các loại giấy tờ, thủ tục về đăng ký quản lý sử dụng đối với các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ để giúp cho việc phối hợp quản lý, kiểm tra kiểm soát tình hình kết quả cung cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng cho các đối tượng được trang bị theo quy định; kết quả trong công tác phối hợp quản lý, thu hồi xử lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Đồng thời rút kinh nghiệm các sơ hở thiếu sót để chấn chỉnh, khắc phục, bổ sung kịp thời các biện pháp phối hợp quản lý. 3. Phối hợp trong công tác bảo vệ các kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Chỉ huy các đơn vị quản lý kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của Quân đội, Công an hoặc các ngành phải xây dựng và tổ chức luyện tập thường xuyên các phương án phòng, chống cháy nổ, bảo vệ kho và có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với chính quyền, cơ quan Quân sự và Công an địa phương tổ chức phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ kho. Phát hiện các sơ hở thiếu sót trong quản lý kho, những yếu tố có nguy cơ mất an toàn và có biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn để bảo đảm tuyệt đối an toàn kho. Trường hợp xẩy ra trộm cắp, cháy nổ, cướp phá kho, mất vũ khí, vật liệu nổ... thì người chỉ huy kho phải tổ chức xử lý theo các phương án và báo cáo ngay lên cấp trên, áp dụng các biện pháp bảo vệ hiện trường đồng thời báo cáo cho cơ quan Công an, chính quyền và cơ quan Quân sự địa phương biết để phối hợp kịp thời truy tìm thủ phạm và khắc phục hậu quả. 4. Phối hợp để tiếp nhận, thu gom, bảo quản, giao nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. a) Cơ quan Công an, cơ quan Quân sự địa phương và các đơn vị Quân đội có trách nhiệm phối hợp trong việc vận động, tổ chức nhân dân tiến hành thu gom giao nộp các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội không thuộc đối tượng được phép trang bị (kể cả những người là Bộ đội, Công an, cán bộ đã có quyết định nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành), các trường hợp đã có vũ khí từ các nguồn khác nhau, đều phải nộp lại cho cơ quan Công an hoặc cơ quan Quân sự các cấp để quản lý và xử lý. Cơ quan Công an và cơ quan Quân sự địa phương phải phối hợp chặt chẽ, có kế hoạch cụ thể và chủ động đề xuất với chính quyền để chỉ đạo và thường xuyên có biện pháp thu hồi triệt để; tích cực tuyên truyền vận động nhân dân phát hiện giao nộp vũ khí, vật liệu nổ còn tàng trữ, lưu hành hoặc cất dấu trong nhân dân; phát hiện các trường hợp nghi vấn và xử lý kịp thời những hành vi tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái phép. b) Việc tiếp nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí quân dụng, các loại bom, mìn, lựu đạn, thuốc phóng, vật liệu nổ do tổ chức, cá nhân giao nộp thực hiện theo đúng điểm 5 Điều 8 Nghị định số 47/CP của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện việc tiếp nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí quân dụng, các loại bom... nói trên, cơ quan Công an và Quân sự phối hợp chặt chẽ với nhau và theo trình tự cụ thể như sau: Nếu các loại vũ khí quân dụng, vật liệu nổ do tổ chức, cá nhân giao nộp cho cơ quan Công an thì sau đó cơ quan Công an làm thủ tục bàn giao cho cơ quan Quân sự cùng cấp để quản lý và phân loại, xử lý, tiêu huỷ theo quy định. Thủ tục bàn giao phải lập biên bản giao nhận, trong đó ghi rõ địa chỉ người, đơn vị, tổ chức giao nộp, lý do, nguồn gốc vũ khí, số lượng, chất lượng; phải lập sổ theo dõi chặt chẽ và báo cáo lên cấp trên sau mỗi lần bàn giao. Chỉ huy đơn vị, cơ quan tiếp nhận vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải có biện pháp vô hiệu ngay những loại nguy hiểm hoặc có nguy cơ mất an toàn trước khi đưa vào cất giữ; tổ chức quản lý chặt chẽ, cử người trông giữ, bảo đảm an toàn; kịp thời phân loại, xử lý giải quyết ngay những loại không đảm bảo an toàn. Vũ khí, vật liệu nổ thu hồi có nguy cơ mất an toàn không được để chung trong kho vũ khí của đơn vị. 5. Phối hợp trong việc kiểm tra vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. a) Thẩm quyền kiểm tra việc mang, sử dụng, bảo quản các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã được quy định tại Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP của Chính phủ. Lực lượng Công an, lực lượng Kiểm soát Quân sự và Bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ phải tuân thủ theo Thông tư số 05-TT/BNV ngày 28-09-1996 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Thông tư số 1691-TT/QP ngày 08-07-1997 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức kiểm tra chuyên theo riêng từng ngành, từng đơn vị hoặc khi được lãnh đạo hai ngành từ cấp tỉnh trở lên đồng ý thì mới tổ chức một lực lượng phối hợp tham gia gồm lực lượng Cảnh sát, Kiểm soát Quân sự để kiểm tra, kiểm soát lưu động trong khu vực địa bàn được phân công, chỉ tiến hành trong một thời điểm nhất định và có kế hoạch chuẩn bị chu đáo. b) Nội dung, hình thức kiểm tra: - Kiểm tra những cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân mang, sử dụng, vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ hoặc những người có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để ngăn chặn và xử lý kịp thời. - Kiểm tra giấy tờ tùy thân, giấy phép sử dụng, mang, vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ của cấp có thẩm quyền. - Tập trung kiểm tra ở những địa bàn trọng điểm, khu vực phức tạp như: cửa khẩu, nhà ga, bến tàu, trên các phương tiện giao thông, các trục đường, nút giao thông, nơi công cộng, các khu vực đào đãi vàng, khai thác đá quý; những nơi trước đây là khu vực có chiến sự xẩy ra, các khu căn cứ địa, nơi để kho hoặc chuyển giao vũ khí, vật liệu nổ. Chú ý kiểm tra các đối tượng có tiền án, tiền sự về buôn bán, tàng trữ, tiêu thụ, sử dụng trái phép vũ khí, vật liệu nổ. Phải có phương án đề phòng các tình huống có thể xẩy ra hoặc đối tượng xấu chống đối, khi bị kiểm tra, phát hiện vi phạm. c) Xử lý vi phạm: - Trong khi kiểm tra, lực lượng kiểm tra được quyền xử lý các hành vi vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự. - Nghiêm cấm việc lợi dụng chức trách kiểm tra để sách nhiễu, gây phiền hà. - Khi phát hiện vi phạm phải lập biên bản. Nếu tạm giữ tang vật phải ghi rõ số lượng, chất lượng, nhãn hiệu, ký hiệu, số hiệu, chủng loại của từng loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và lý do tạm giữ theo quy định. Phải bảo đảm an toàn trong việc thu giữ, vận chuyển, bảo quản đồng thời báo cáo ngay lên cấp trên và phối hợp lực lượng liên quan xác minh làm rõ. Vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của lực lượng nào thì lực lượng đó tiến hành xử lý theo thẩm quyền. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Chỉ huy các đơn vị trong Quân đội và Công an có trách nhiệm phổ biến quán triệt Thông tư này đến cấp cơ sở, từng cán bộ, chiến sĩ để nắm vững và thực hiện nghiêm túc. Hàng tháng, quý các đơn vị, các cơ quan Quân sự và Công an tỉnh báo cáo tình hình, kết quả thực hiện lên cấp trên và báo cáo đột xuất các vụ việc xẩy ra theo quy định. 2. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân và Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 3. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 4. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế cho Thông tư liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ số 02-TT/LB ngày 11-06-1990 và số 62/TT-LB ngày 16-01-1993, các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Quốc phòng trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122184&Keyword=
2025-09-24T02:38:35.561841
../data\bocongan\031998TTLT-CA-QP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về quan hệ phối hợp trong lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ Thi hành Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, liên Bộ Công an - Quốc phòng hướng dẫn về quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an và Quân đội trong lĩnh vực quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng Bộ đã được Chính phủ giao (quy định tại Điều 7, Điều 8 của Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996) mỗi ngành phải thực hiện theo đúng trách nhiệm của mình; đồng thời hai Bộ quy định thống nhất các mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng Công an và Quân đội để giúp Chính phủ quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ liên quan đến trật tự an toàn xã hội. II. PHẠM VI VÀ NỘI DUNG PHỐI HỢP 1. Phối hợp trong việc trang bị và cấp giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng. a) Các đối tượng thuộc diện được trang bị vũ khí quân dụng (quy định tại điểm d, đ, e, g khoản 1 Điều 8 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP) nếu có nhu cầu trang bị vũ khí phải có văn bản gửi cơ quan Công an nêu rõ sự cần thiết, điều kiện, tiêu chuẩn, số lượng từng loại vũ khí cần trang bị theo thủ tục và phân cấp như sau: - Đối tượng có nhu cầu trang bị vũ khí là cơ quan ở Trung ương thì văn bản đề nghị do Lãnh đạo Bộ, ngành ký gửi Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát). - Đối tượng có nhu cầu trang bị vũ khí là cơ quan, đơn vị ở địa phương, thì văn bản đề nghị do Lãnh đạo Sở, Ban, ngành ở địa phương (cấp tỉnh) ký gửi Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét báo cáo Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát) quyết định. b) Trên cơ sở công văn đề nghị trang bị vũ khí, Bộ Công an xem xét, quyết định và có công văn trả lời được hoặc không được trang bị. Trong thời hạn không quá 15 ngày nếu là các trường hợp ở cơ quan Trung ương; không quá 30 ngày nếu là ở các địa phương, Bộ Công an phải trả lời bằng văn bản được hay không được trang bị vũ khí cho cơ quan, đơn vị đề nghị. Trường hợp được trang bị, Bộ Công an sẽ cấp giấy giới thiệu và hướng dẫn cơ quan, đơn vị đó làm thủ tục gửi Bộ Quốc phòng để xem xét quyết định việc cung cấp hoặc chuyển nhượng. Bộ Quốc phòng thực hiện việc cung cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng theo quy định tại điểm 7 Phần II Thông tư số 1691/ TT - QP ngày 8/7/1997 của Bộ Quốc phòng. c) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được vũ khí, cơ quan đơn vị được trang bị vũ khí phải làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy phép sử dụng tại cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (kể cả cơ quan, đơn vị thuộc cơ quan Trung ương đóng tại địa phương). 2. Phối hợp trao đổi và xử lý thông tin Cơ quan Công an và Quân sự cùng cấp phải phối hợp chặt chẽ, thường xuyên thông báo, cung cấp cho nhau về tình hình, vụ việc có liên quan tới công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; các loại giấy tờ, thủ tục về đăng ký quản lý sử dụng đối với các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ để giúp cho việc phối hợp quản lý, kiểm tra kiểm soát tình hình kết quả cung cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng cho các đối tượng được trang bị theo quy định; kết quả trong công tác phối hợp quản lý, thu hồi xử lý các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Đồng thời rút kinh nghiệm các sơ hở thiếu sót để chấn chỉnh, khắc phục, bổ sung kịp thời các biện pháp phối hợp quản lý. 3. Phối hợp trong công tác bảo vệ các kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Chỉ huy các đơn vị quản lý kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của Quân đội, Công an hoặc các ngành phải xây dựng và tổ chức luyện tập thường xuyên các phương án phòng, chống cháy nổ, bảo vệ kho và có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với chính quyền, cơ quan Quân sự và Công an địa phương tổ chức phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ kho. Phát hiện các sơ hở thiếu sót trong quản lý kho, những yếu tố có nguy cơ mất an toàn và có biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn để bảo đảm tuyệt đối an toàn kho. Trường hợp xẩy ra trộm cắp, cháy nổ, cướp phá kho, mất vũ khí, vật liệu nổ. . thì người chỉ huy kho phải tổ chức xử lý theo các phương án và báo cáo ngay lên cấp trên, áp dụng các biện pháp bảo vệ hiện trường đồng thời báo cáo cho cơ quan Công an, chính quyền và cơ quan Quân sự địa phương biết để phối hợp kịp thời truy tìm thủ phạm và khắc phục hậu quả. 4. Phối hợp để tiếp nhận, thu gom, bảo quản, giao nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. a) Cơ quan Công an, cơ quan Quân sự địa phương và các đơn vị Quân đội có trách nhiệm phối hợp trong việc vận động, tổ chức nhân dân tiến hành thu gom giao nộp các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội không thuộc đối tượng được phép trang bị (kể cả những người là Bộ đội, Công an, cán bộ đã có quyết định nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành), các trường hợp đã có vũ khí từ các nguồn khác nhau, đều phải nộp lại cho cơ quan Công an hoặc cơ quan Quân sự các cấp để quản lý và xử lý. Cơ quan Công an và cơ quan Quân sự địa phương phải phối hợp chặt chẽ, có kế hoạch cụ thể và chủ động đề xuất với chính quyền để chỉ đạo và thường xuyên có biện pháp thu hồi triệt để; tích cực tuyên truyền vận động nhân dân phát hiện giao nộp vũ khí, vật liệu nổ còn tàng trữ, lưu hành hoặc cất dấu trong nhân dân; phát hiện các trường hợp nghi vấn và xử lý kịp thời những hành vi tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái phép. b) Việc tiếp nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí quân dụng, các loại bom, mìn, lựu đạn, thuốc phóng, vật liệu nổ do tổ chức, cá nhân giao nộp thực hiện theo đúng điểm 5 Điều 8 Nghị định số 47/CP của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện việc tiếp nhận, xử lý và tiêu huỷ vũ khí quân dụng, các loại bom. . nói trên, cơ quan Công an và Quân sự phối hợp chặt chẽ với nhau và theo trình tự cụ thể như sau: Nếu các loại vũ khí quân dụng, vật liệu nổ do tổ chức, cá nhân giao nộp cho cơ quan Công an thì sau đó cơ quan Công an làm thủ tục bàn giao cho cơ quan Quân sự cùng cấp để quản lý và phân loại, xử lý, tiêu huỷ theo quy định. Thủ tục bàn giao phải lập biên bản giao nhận, trong đó ghi rõ địa chỉ người, đơn vị, tổ chức giao nộp, lý do, nguồn gốc vũ khí, số lượng, chất lượng; phải lập sổ theo dõi chặt chẽ và báo cáo lên cấp trên sau mỗi lần bàn giao. Chỉ huy đơn vị, cơ quan tiếp nhận vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải có biện pháp vô hiệu ngay những loại nguy hiểm hoặc có nguy cơ mất an toàn trước khi đưa vào cất giữ; tổ chức quản lý chặt chẽ, cử người trông giữ, bảo đảm an toàn; kịp thời phân loại, xử lý giải quyết ngay những loại không đảm bảo an toàn. Vũ khí, vật liệu nổ thu hồi có nguy cơ mất an toàn không được để chung trong kho vũ khí của đơn vị. 5. Phối hợp trong việc kiểm tra vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. a) Thẩm quyền kiểm tra việc mang, sử dụng, bảo quản các loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã được quy định tại Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP của Chính phủ. Lực lượng Công an, lực lượng Kiểm soát Quân sự và Bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ phải tuân thủ theo Thông tư số 05 - TT/BNV ngày 28 - 09 - 1996 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Thông tư số 1691 - TT/QP ngày 08 - 07 - 1997 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức kiểm tra chuyên theo riêng từng ngành, từng đơn vị hoặc khi được lãnh đạo hai ngành từ cấp tỉnh trở lên đồng ý thì mới tổ chức một lực lượng phối hợp tham gia gồm lực lượng Cảnh sát, Kiểm soát Quân sự để kiểm tra, kiểm soát lưu động trong khu vực địa bàn được phân công, chỉ tiến hành trong một thời điểm nhất định và có kế hoạch chuẩn bị chu đáo. b) Nội dung, hình thức kiểm tra: - Kiểm tra những cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân mang, sử dụng, vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ hoặc những người có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để ngăn chặn và xử lý kịp thời. - Kiểm tra giấy tờ tùy thân, giấy phép sử dụng, mang, vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ của cấp có thẩm quyền. - Tập trung kiểm tra ở những địa bàn trọng điểm, khu vực phức tạp như: cửa khẩu, nhà ga, bến tàu, trên các phương tiện giao thông, các trục đường, nút giao thông, nơi công cộng, các khu vực đào đãi vàng, khai thác đá quý; những nơi trước đây là khu vực có chiến sự xẩy ra, các khu căn cứ địa, nơi để kho hoặc chuyển giao vũ khí, vật liệu nổ. Chú ý kiểm tra các đối tượng có tiền án, tiền sự về buôn bán, tàng trữ, tiêu thụ, sử dụng trái phép vũ khí, vật liệu nổ. Phải có phương án đề phòng các tình huống có thể xẩy ra hoặc đối tượng xấu chống đối, khi bị kiểm tra, phát hiện vi phạm. c) Xử lý vi phạm: - Trong khi kiểm tra, lực lượng kiểm tra được quyền xử lý các hành vi vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo Nghị định số 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự. - Nghiêm cấm việc lợi dụng chức trách kiểm tra để sách nhiễu, gây phiền hà. - Khi phát hiện vi phạm phải lập biên bản. Nếu tạm giữ tang vật phải ghi rõ số lượng, chất lượng, nhãn hiệu, ký hiệu, số hiệu, chủng loại của từng loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và lý do tạm giữ theo quy định. Phải bảo đảm an toàn trong việc thu giữ, vận chuyển, bảo quản đồng thời báo cáo ngay lên cấp trên và phối hợp lực lượng liên quan xác minh làm rõ. Vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của lực lượng nào thì lực lượng đó tiến hành xử lý theo thẩm quyền. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Chỉ huy các đơn vị trong Quân đội và Công an có trách nhiệm phổ biến quán triệt Thông tư này đến cấp cơ sở, từng cán bộ, chiến sĩ để nắm vững và thực hiện nghiêm túc. Hàng tháng, quý các đơn vị, các cơ quan Quân sự và Công an tỉnh báo cáo tình hình, kết quả thực hiện lên cấp trên và báo cáo đột xuất các vụ việc xẩy ra theo quy định. 2. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân và Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 3. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 4. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế cho Thông tư liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ số 02 - TT/LB ngày 11 - 06 - 1990 và số 62/TT - LB ngày 16 - 01 - 1993, các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Quốc phòng trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. /.
Hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng
03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC
23/04/2001
Thông tư liên tịch
08/05/2001
Công báo số 21/2001;
08/06/2001
Ngân hàng Nhà nước
Phó Thống đốc
Trần Minh Tuấn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng ____________ Căn cứ khoản 2 Điều 39 Nghị định số 178/1999/ NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và các quy định pháp luật khác có liên quan; Để thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ cho các tổ chức tin dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính và Tổng cục Địa chính thống nhất hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tồ chức tín dụng như sau: A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG I. Mọi khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc trả nợ trước hạn theo quy định của pháp luật. Bên bảo lãnh cho khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng có nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì tài sản đùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi chung là tài sản bảo đảm) được xử lý để thu hồi nợ. II. Tài sản bảo đảm được xử lý theo phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh (sau đây gọi chung là hợp đồng bảo đảm) giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay, bên bảo lãnh (sau đây gọi chung là bên bảo đảm). Trong trường hợp các bên không xử lý được tài sản bảo đảm theo phương thức đã thoả thuận, thì tổ chức tín dụng có quyền chủ động áp dụng các phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm được xử lý theo các phương thức sau đây: 1. Bán tài sản bảo đảm: Bán tài sản bảo đảm là việc tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm hoặc các bên phối hợp để bán tài sản trực tiếp cho người mua hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba bán tài sản cho người mua. Bên thứ ba được uỷ quyền bán tài sản có thể là Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán. 2. Nhận chính tài sản bảo đảm dể thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm: Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm là việc tổ chức tín dụng trực tiếp nhận tài sản bảo đảm, lấy giá tài sản bảo đảm được định giá khi xử lý làm cơ sở để thanh toán nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn của bên bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí khác (nếu có) và được tiếp nhận tài sản đó theo quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. 3. Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm: Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm là việc tổ chức tín dụng trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo các thủ tục quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. III. Tổ chức tín dụng có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm. Bên thứ ba phải là tổ chức có tư cách pháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp được tổ chức tín dụng chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba có quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm như tổ chức tín dụng. Trường hợp được tổ chức tín dụng uỷ quyền xử lý tài sản, thì bên thứ ba được xử lý tài sản bảo đảm trong phạm vi được uỷ quyền. IV. Việc xử lý tài sản bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của các bên và tiết kiệm chi phí. V. Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bảo đảm bị khởi tố về một hành vi phạm tội không liên quan đến việc vay vốn của tổ chức tín dụng hoặc không liên quan đến nguồn gốc hình thành tài sản bảo đảm, thì tài sản bảo đảm của người đó không bị kê biên và được xử lý theo quy định tại Thông tư này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. VI. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, thực hiện các biện pháp cần thiết để hỗ trợ tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm theo các quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật B. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ THỦ TỤC XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM I. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THEO THOẢ THUẬN 1. Tài sản bảo đảm được xử lý theo thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và bên bảo đảm tại hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm. Các bên có thể thoả thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thoả thuận mới về việc xử lý tài sản bảo đảm. Việc thoả thuận này phải lập thành văn bản. 2. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thực hiện các thủ tục sau đây: 2.1 . Tổ chức tín dụng phải thông báo bằng văn bản cho bên bảo đảm về việc xử lý lài sản bảo đảm và đăng ký thông báo yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm (nếu giao dịch bảo đảm đó đã được đăng ký). a. Văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm có các nội dung chủ yếu sau đây: - Lý do xử lý tài sản bảo đảm; - Giá trị nghĩa vụ được bảo đảm; - Loại tài sản xử lý: đặc điểm, chất lượng, số lượng; - Phương thức xử lý tài sản bảo đảm; - Thời điểm xử lý tài sản bảo đảm; - Thời hạn và địa điểm chuyển giao tài sản bảo đảm (nếu có); b. Tổ chức tín dụng ấn định thời điểm xử lý tài sản bảo đảm trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm, nhưng không được sớm hơn 7 ngày đối với tài sản cầm cố, 15 ngày đối với tài sản thế chấp, kể từ ngày đăng ký thông báo yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. Đối với giao dịch bảo đảm không phải đăng ký hoặc chưa đăng ký do cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm chưa hoạt động, thì thời thời hạn 7 ngày và 15 ngày nêu trên được tính từ ngày tổ chức tín dụng gửi thông báo xử lý tài sản cho bên bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ dễ hư hỏng thì tổ chức tín dựng được xử lý tài sản ngay sau khi thông báo xử lý tài sản bảo đảm. 2.2. Bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín đụng thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm như bàn giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng, bàn giao giấy tờ có liên quan đến tài sản bảo đảm theo yêu cầu của tổ chức tín dụng (trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, tài sản bảo đảm), tạo điều kiện cho bên mua xem tài sản và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để xử lý tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, tài sản bảo đảm (sau đây gọi chung là bên giữ tài sản bảo đảm), tổ chức tín dụng ấn định ngày giao giấy tờ, tài sản đó để xử lý trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm; nếu bên giữ tài sản bảo đảm không thực híện, thì tổ chức tín dựng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao giấy tờ, tài sản theo qui định tại mục XI phần B. 3. Tổ chức tín dụng tiến hành lập biên bản xử lý tài sản bảo đảm. Biên bản xử lý tài sản bảo đảm phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận tài sản bảo đảm, phương thức xử lý tài sản bảo đảm, quyền, nghĩa vụ của các bên và các thoả thuận khác (nếu có). Trường hợp tổ chức tín dụng áp dụng biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng để xử lý, tổ chức tín dụng lập biên bản thu giữ tài sản theo quy định tại điểm 3.3 khoản 3 mục XI phần B. 4. Sau khi thực hiện việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm, quyền của tổ chức tín đụng, nghĩa vụ của bên bảo đảm và bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm được quy định như sau: 4.1. Quyền của tổ chức tín dụng a. Yêu cầu bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp cần thiết chuẩn bị cho việc xử lý tại sản bảo đảm theo quy định tại điểm 2.2 khoản 2 mục I phần B; b. Khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo quy định tại mục VI phần B; c. Yêu cầu bên bảo đảm hoặc bên thứ ba không được khai thác, sử dựng tài sản bảo đảm nếu việc khai thác, sử dụng đó có nguy cơ làm mất giá trị hoặc làm giảm sút giá trị tài sản; d . Thanh toán nợ đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản đó; đ. Yêu cầu bên giữ tài sản phải giao tài sản bảo đảm nếu có một trong các hành vi sau đây: - Không giao tài sản bảo đảm theo yêu cầu của tổ chức tín dụng; - Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp bảo quản tài sản bảo đảm; - Tự ý tiến hành hành vi bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn, góp vốn liên doanh, tẩu tán, làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm; - Có hành vi khác gây ra nguy cơ làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên giữ tài sản không giao tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản theo quy định tại mục XI phần B. e. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. 4.2 . Nghĩa vụ của bên bảo đảm: a. Phối hợp với tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp cần thiết chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm khi có yêu cầu của tổ chức tín dụng theo quy định tại điểm 2.2 khoản 2 mục I phần B; b. Không được tự ý bán, khai thác, sử dụng, cho thuê, cho mượn tài sản bảo đảm nếu không được tổ chức tín dụng chấp thuận; c. Không được huỷ hoại, thẩu tán, trao đổi, tặng cho tài sản bảo đảm, sử dụng tài sản bảo đảm để góp vốn liên doanh, làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài sản bảo đảm; d. Bảo quản, giữ gìn tài sản bảo đảm, giao tài sản bảo đảm và các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm khi nhận được yêu cầu của tổ chức tín dụng; đ. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. 4.3. Nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm: Bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ bảo quản và giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng như quy định đối với bên bảo đảm tại các tiết b, c, d và đ điểm 4.2 khoản 4 mục I phần B. 5. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thoả thuận. 5 . 1 . Bán tài sản bảo đảm. a. Việc bán tài sản bảo đảm thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 178/1999/ NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi chung là Nghị định số 178). Các bên thoả thuận định giá tài sản bảo đảm để bán theo quy định tại mục VII phần B. b. Hợp đồng mua bán tài sản được lập thành văn bản giữa bên được bán tài sản bảo đảm và bên mua tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên bảo đảm và tổ chức tín dụng không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được bên bán tài sản bảo đảm, thì tổ chức tín dụng quyết định bên bán theo một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 178. 5.2. Tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. a. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm lập biên bản nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Biên bản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận, định giá xử lý tài sản bảo đảm và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Thông tư này. b. Sau khi nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, tổ chức tín dụng được làm thủ tục nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm hoặc được bán, chuyển nhượng tài sản bảo đảm cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật. 5.3. Tổ chức tín dụng nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm. a. Tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm phải thông báo cho bên thứ ba biết việc tổ chức tín dụng được nhận các khoản tiền, tài sản nêu trên, đồng thời yêu cầu bên thứ ba giao các khoản tiền, tài sản dó cho tổ chức tín dụng. Việc giao các khoản tiền, tài sản cho tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp quy định tại Điều 320 Bộ Luật Dân sự. Đối với tài sản bảo đảm quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 . 1 mục II Chương II Thông tư 06/2000/TT-NHNN1 ngày 4/4/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178, tổ chức tín dụng được tiếp nhận tài sản bảo đảm và các quyền phát sinh từ tài sản đó. Bên thứ ba có nghĩa vụ giao các khoản tiền, tài sản và chuyển giao các quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng. b. Tổ chức tín dụng lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa lổ chức tín dụng, bên bảo đảm và bên thứ ba. Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản. 6. Sau khi tài sản bảo đảm đã được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm tiến hành xoá đăng ký xử lý tài sản, xoá đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. II. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THEO QUI ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 34 NGHỊ ĐỊNH SỐ 178 1. Khi xử lý tài sản bảo đảm theo các trường hợp qui định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 178, tổ chức tín dụng và bên bảo đảm phải thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2, khoản 3 mục I phần B; quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại khoản 4 mục I phần B. 2. Tổ chức tín dụng có quyền chủ động thực hiện một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảm sau đây: 2 . 1 . Tổ chức tín dụng trực tiếp bán tài sản bảo đảm (trừ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải được bán tại tổ chức bán đấu giá chuyên trách). a. Tổ chức tín dụng phải thông báo công khai về việc bán tài sán bảo đảm và được tiến hành bán tài sản bảo đảm sau thời hạn quy định tại tiết b điểm 2.1 khoản 2 mục I phần B. b. Hợp đồng mua bán tài sản giữa tổ chức tín dụng và bên mua tài sản được lập thành văn bản. Tổ chức tín dụng quyết định giá bán tài sản bảo đảm theo quy định tại mục VII phần B. 2.2. Tổ chức tín dụng uỷ quyền bán tài sản bảo đảm cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sán (sau đây gọi chung là tổ chức bán đấu giá tài sản). a. Các trường hợp uỷ quyền bán đấu giá: - Tổ chức tín dụng lựa chọn bán tài sản bảo đảm theo phương thức uỷ quyền cho tổ chức bán đấu giá tài sản; - Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo quy định tại mục III phần B và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải được bán tại tổ chức bán đấu giá chuyên trách. b. Hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức tín dụng và tổ chức bán đấu giá tài sản. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm có thể thoả thuận để bên bảo đảm tự yêu cầu bán đấu giá tài sản bảo đảm. c. Thủ tục bán đấu giá tài sản áp dụng theo các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. 2.3. Tổ chức tín dụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm cho tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán. a. Tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán là: - Các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp của Ngân hàng Thương mại được thành lập theo Quyết định số 305/2000/QĐ-NHNN5 ngày 15/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Các công ty được thành lập nhằm quản lý và giải quyết các khoản nợ khó đòi của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. b. Tổ chức được tổ chức tín đụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại mục III phần A và các quy định pháp luật khác có liên quan. Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tổ chức được tổ chức tín dụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm khi thực hiện phương thức bán tài sán bảo đảm thì phải đưa ra bán đấu giá. Trình tự, thủ tục bán đấu giá thực hiện theo quy định tại mục III phần B. 2.4. Tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm (trừ tài sản bảo đảm là quyền sử dựng đất, tài sản gắn liền với đất): Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng không cần thoả thuận lại với bên bảo đảm. Thủ tục nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm theo quy định tại điểm 5.2 khoản 5 mục I phần B. 2.5. Tổ chức tín dụng nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm. a. Việc nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên tại hợp đồng bảo đảm. Trình tự, thủ tục nhận các khoản tiền, tài sản được thực hiện theo quy định tại điển 5.3 khoản 5 mục I phần B. b. Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền, tài sản nói trên theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dựng thủ tục buộc bên thứ ba phải giao tài sản theo quy định tại mục XI phần B hoặc khởi kiện ra Toà án. 3. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm thực hiện việc xoá đăng ký xử lý tài sản, xoá đăng ký giao địch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. 4. Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 178, tổ chức tín dụng và bên bảo đảm có quyền thoả thuận, thoả thuận lại, thoả thuận mới về phương thức xử lý tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên và các thoả thuận khác phù hợp với các quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. III. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1. Việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử đụng đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm và phải phù hợp với các quy định liên quan tại mục I phần B Thông tư này và các quy định của pháp luật về đất đai. 2. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không xử lý được theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng, thì tổ chức tín dụng đưa tài sản ra bán đấu giá để thu hồi nợ hoặc khởi kiện tại Toà án. 3. Việc bán đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo trình tự sau: 3 . 1 . Tổ chức tín dụng gửi hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau đây cho phép bán đấu giá quyền sử dựng đất: a. Uỷ ban nhân dân cấp huyện cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất đã thế chấp của hộ gia đình, cá nhân; b. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất đã thế chấp của các tổ chức. 3.2. Hồ sơ đề nghị cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất bao gồm: a. Đơn đề nghị cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất; b. Bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); c. Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc giấy tờ khác theo quy định tại điểm 7.3 khoản 7 mục này (tổ chức tín đụng ký sao). 3 . 3 . Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ nói trên, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm: a. Ra văn bản cho phép bán đấu giá quyền sử đựng đất đối với trường hợp được chuyển nhượng quyền sử đụng đất; b. Hướng dẫn cho tổ chức tín dụng làm các thủ tục cần thiết đối với trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, sau đó ra văn bản cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất; c. Trả lời bằng văn bản cho tổ chức tín dụng về việc không được bán đấu giá quyền sử dựng đất đối với các loại đất không được phép chuyển nhượng theo quy định tại Điều 30 Luật Đất đai. 3.4. Riêng đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm được nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân thì người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung là Nghị định số 17). 3.5. Sau khi được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép bán đấu giá quyền sử đụng đất, tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục quy định tại khoản 2, khoản 3 mục I phần B và uỷ quyền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán đấu giá quyền sử dụng đất. 4. Sau khi hoàn thành việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tổ chức tín dụng có trách nhiệm làm các thủ tục xoá đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm, xoá thế chấp, xoá đăng ký thế chấp. Tổ chức tín dụng tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản, trừ trường hợp do Trung tâm bán đấu giá tài sản thực hiện theo pháp luật về bán đấu giá tài sản. 5. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được thực hiện như sau: 5 . 1 . Bên có trách nhiệm tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản theo quy định tại khoản 4 trên đây gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử đụng đất ở theo quy định tại khoản 2 mục X phần B. 5 . 2. Trong thời hạn 15 ngày (đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc 60 ngày (đối với giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở) kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp các giấy tờ nói trên cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản. 6. Nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định tại mục IX phần B. 7. Các quy định của thông tư này được áp đụng để xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã thế chấp trước ngày Nghị định số 178 có hiệu lực trong các trường hợp sau đây: 7.1 . Quyền sử đụng đất, tài sản gắn liền với đất đã có đầy đủ giấy tờ, hồ sơ phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm thế chấp hoặc phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm Nghị định số 178 có hiệu lực; 7.2. Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã có đủ điều kiện theo quy định tại điểm 7.1 trên đây nhưng chưa xử lý được do hợp đồng thế chấp thiếu chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc thiếu chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền; 7.3. Quyền sử dụng đất, đất có tài sản gắn liền mà tại thời điểm thế chấp, người thế chấp có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hoặc một trong các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 17 và có quyền thế chấp quyền sử dụng đất; 7.4. Tài sản gắn liền với đất mà tại thời điểm thế chấp, người thế chấp có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó và có các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm 7.3 trên đây nhưng không có quyền thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng đưa tài sản gắn liền với đất ra bán đấu giá tại Trung tâm bán đấu giá tài sản. Sau khi hoàn thành việc bán đấu giá, Trung lâm bán đấu giá tài sản gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá theo hình thức được nhà nước gian đất, cho thuê đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 7.5. Khi xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo các trường hợp quy định tại điểm 7.1, điểm 7.2, điểm 7.3 trên đây, tổ chức tín dụng gửi hồ sơ hiện có đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 mục III phần B để xin phép bán đấu giá quyền sử dụng đất. Sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép bán đấu giá, tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Thông tư này. IV. XỬ LÝ TÀI SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHI CHIA, TÁCH, HỢP NHẤT, SÁP NHẬP, CHUYỂN ĐỔI, CỔ PHẦN HOÁ 1. Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ trước khi doanh nghiệp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đồi, cổ phần hoá theo các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 178. Trong trường hợp tài sản bảo đảm tiền vay chưa xử lý được để thu hồi nợ mà doanh nghiệp đã chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá, thì các doanh nghiệp hình thành sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cồ phần hoá phải nhận nợ và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng. Trong trường hợp doanh nghiệp hình thành sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đồi, cổ phần hoá không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại mục II phần B. 2. Trường hợp tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định số 178, thì việc xử lý tài sản và thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay căn cứ theo hợp đồng bảo đảm đã được ký kết lại sau khi doanh nghiệp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá. Tổ chức tín dụng thực hiện việc xử lý tài sản theo các quy định tại Thông tư này. V. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BẢO ĐẢM CHẾT HOẶC VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ VÀO THỜI ĐIỂM XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM Tổ chức tín dụng được tiến hành xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp đến hạn trả nợ hoặc phải trả nợ trước hạn mà bên bảo đảm chết hoặc cố ý vắng mặt tại nơi cư trú vào thời điểm xử lý tài sản đã được tổ chức tín dụng thông báo trước. Người giữ tài sản bảo đảm (nếu có) hoặc người thừa kế tài sản của của bên bảo đảm (trong trường hợp bên bảo đảm chết) có nghĩa vụ giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý theo thông báo của tổ chức tín dụng. Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm, người thừa kế tài sản của bên bảo đảm không chịu giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý theo quy định tại mục XI phần B. VI. KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG THỜI GIAN CHƯA XỬ LÝ 1. Trong thời gian tài sản bảo đảm chưa được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng có quyền khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc cho phép hoặc uỷ quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm phải được lập thành văn bản. 2. Hoa lợi, lợi tức thu được phải hạch toán riêng (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác); sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản (bao gồm: chi phí quản lý, tu bổ, sửa chữa tài sản, các loại thuế, phí khai thác tài sản và các chi phí cần thiết, hợp lý khác), số tiền còn lại được thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng theo quy định tại mục VIII phần B. VII. ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM KHI XỬ LÝ 1. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm thoả thuận về giá xử lý tài sản bảo đảm tại thời điểm xử lý và lập biên bản thoả thuận việc định giá tài sản. 2. Trường hợp các bên không thoả thuận được về giá xử lý tài sản bảo đảm thì việc định giá được tiến hành như sau: 2 . 1 . Trước khi tổ chức tín dụng quyết định giá xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định giá hoặc tham khảo giá đã được tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định, giá thực tế tại địa phương vào thời điểm xử lý, giá quy định của nhà nước (nếu có) và các yếu tố khác về giá. 2.2. Trong trường hợp bán tài sản bảo đảm mà có sự chênh lệch lớn về giá giữa những người cùng đăng ký mua tài sản hoặc khi có nhiều người cùng đăng ký mua tài sản thì tổ chức tín đụng quyết định giá xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở giá trả cao nhất hoặc đưa ra bán đấu giá để thu hồi nợ. 3. Trường hợp uỷ quyền cho tồ chức bán đấu giá tài sản thì việc xác định giá xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. 4. Trường hợp uỷ quyền hoặc chuyển giao cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm thì tổ chức tín dụng có thể xác định giá xử lý tài sản bảo đảm hoặc thoả thuận để bên thứ ba xác định giá xử lý tài sản bảo đảm theo nguyên tắc quy định tại điểm 2.1 khoản 2 trên đây. VIII. THANH TOÁN THU NỢ TỪ VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Việc thanh toán thu nợ được tiến hành theo thứ tự sau: 1.1. Các chi phí cần thiết để xử lý tài sản bảo đảm: chi phí bảo quản, quản lý định giá, quảng cáo bán tài sản, bán tài sản, tiền hoa hồng, chi phí, lệ phí bán đấu giá và các chi phí cần thiết, hợp lý khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm. 1 .2. Thuế và các khoản phí nộp ngân sách nhà nước (nếu có). 1.3. Nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn tính đến ngày bên bảo đảm hoặc bên giữ tài sản giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý. 2. Trường hợp tổ chức tín dụng ứng trước để thanh toán các chi phí xử lý tài sản hoặc các khoản thuế, phí nộp ngân sách nhà nước, thì tổ chức tín dụng được thu hồi lại số tiền ứng trước này trước khi thanh loàn nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn, trừ trường hợp bên bảo đảm đã thanh toán lại số tiền ứng trước cho tổ chức tín dụng. 3. Trong trường hợp số tiền thu được khi bán tài sản và các khoản thu từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý (sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản) lớn hơn số nợ phải trả, thì phần chênh lệch thừa được hoàn trả lại cho bên bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu khoản tiền thu được không đủ để thanh toán khoản nợ phải trả và những chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp tồ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc nhận các khoản tiền và tài sản mà bên thứ ba phải giao cho bên bảo đảm, thì phần chênh lệch thừa giữa giá xử lý tài sản bảo đảm và các khoản thu từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý (sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản) với số nợ phải trả được trả lại cho bên bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu các khoản thu trên nhỏ hơn số nợ gốc, lãi, lãi quá hạn và các chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm. 4. Đối với những tài sản bảo đảm bên mua không có khả năng thanh toán ngay để thu nợ, tổ chức tín dụng được áp dụng phương thức thu nợ từng phần theo khả năng thanh toán của người mua. Tổ chức tín dụng xác định số nợ gốc, lãi, lãi quá hạn và các chi phí phải thu tính đến ngày tổ chức tín dụng tiếp nhận tài sản bảo đảm. 5. Trong trường hợp một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ tại một tổ chức tín dụng, nếu phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thi các nghĩa vụ trả nợ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và tổ chức tín dụng được xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ. Thứ tự thanh toán giữa các khoản nợ được bảo đảm bằng một tài sản xác định theo thứ tự đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. 6. Đối với một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trong trường hợp cho vay hợp vốn, nếu phải xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thì các bên tham gia cho vay hợp vốn được thanh toán theo tỷ lệ vốn góp. 7. Trường hợp bên bảo đảm làm tăng giá trị tài sản bảo đảm (như sửa chữa hoặc nâng cấp tài sản...) trong quá trình trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản bảo đảm, thì phần giá trị tăng thêm của tài sản bảo đảm được coi là một phần trong giá trị tài sản bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ban đầu. Khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng được thanh toán nợ từ cả phần giá trị tăng thêm của tài sản bảo đảm. 8. Trong trường hợp tài sản bảo đảm đã được mua bảo hiểm, thì tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm trả được trả trực tiếp cho tổ chức tín dụng để thu nợ. Số tiền này sẽ được dùng để thanh toán khoản nợ của bên bảo đảm. IX. VIỆC TÍNH THUẾ CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Việc tính thuế chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm được thực hiện khi làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc khi tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ và tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dựng cho tổ chức tín dụng. 2. Đối với thuế chuyển quyền sử đụng đất được thực hiện theo quy định tại Nghị định 19/2000/NĐ-CP ngày 8/6/2000 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. 3. Trong trường hợp tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà tài sản đó chưa được làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng thì chưa phải nộp thuế chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. X. TRÁCH NHIỆM PHỐI HỢP CỦA CÁC CƠ QUAN HỮU QUAN 1. Khi tổ chức tín dụng tiến hành xử !ý tài sản bảo đảm theo các phương thức quy định tại Thông tư này, cơ quan Công chứng nhà nước, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chứng nhận các hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng chuyển nhượng tài sản, biên bản nhận tài sản và các giấy tờ liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng. 2. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, Sở Địa chính hoặc Sở Địa chính - Nhà đất, Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố, cơ quan đăng kiểm phương tiện vận tải thuỷ, Chi cục đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam) có trách nhiệm làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản khi nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng (hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản) và các tài liệu liên quan khác bao gồm: 2.1 . Bản sao hợp đồng tín dụng; hợp đông bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); 2.2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản, hoặc giấy đăng ký tài sản của chủ tài sản, hoặc giấy tờ khác theo quy định tại điểm 7.3 khoản 7 mục III phần B (tuỳ từng trường hợp cụ thể); 2.3. Biên bản xử lý tài sản hoặc biên bản thu giữ tài sản; 2.4. Hợp đồng mua bán tài sản, hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản, hoặc biên bản nhận tài sản, hoặc văn bản bán dấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); 2.5. Giấy tờ xác nhận đã nộp thuế chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật. 3 . Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm là tài sản thi hành án: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản căn cứ vào hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây: 3 . 1. Trích lục bản án hoặc bản sao bản án hoặc bản sao quyết định của Toà án; 3.2. Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; 3.3 . Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); 3.4. Hợp đồng mua bán tài sản, hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản, hoặc hợp đồng nhận tài sản, hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể). 4. Trong hồ sơ làm thủ tục chuyên quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm, không yêu cầu phải có văn bản của chủ sở hữu tài sản bảo đảm về việc đồng ý cho xử lý tài sản bảo đảm (vì văn bản đồng ý xử lý tài sản bảo đảm đã được thể hiện trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm); không yêu cầu phải có hợp đồng mua bán tài sản giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án với người mua tài sản, trừ trường hợp người xử lý tài sản là chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án. 5. Thời hạn hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận chuyển nhượng là 15 ngày (riêng đối với việc chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở là 60 ngày) kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng (hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản) và các tài liệu nói trên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. XI. THỦ TỤC BUỘC BÊN GIỮ TAI SẢN BẢO ĐẢM PHẢI GIAO TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHO TỔ CHỨC TÍN DỤNG Theo Điều 35 Nghị định số 178, thủ tục buộc bên giữ tài sán bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng như sau: 1. Bên giữ tài sản bảo đảm có trách nhiệm giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý theo thông báo của tồ chức tín dụng. Nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản bảo đảm, tổ chức tín đụng ra văn bản thông báo việc áp dụng biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản cho tổ chức tín đụng . Văn bản thông báo phải ghi rõ lý đo áp dụng, thời hạn bàn giao tài sản bảo đảm, biện pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên. 2. Tổ chức tín dụng được áp dụng các biện pháp sau đây: 2.1 . Tổ chức tín dụng yêu cầu bên giữ tài sản bảo đảm giao tài sản bảo đảm đang quản lý cho tổ chức tín dụng. 2.2. Sau khi đã áp dụng biện pháp trên mà bên giữ tài sản bảo đảm vẫn không giao tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng gửi văn bản tới Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an nơi cư trú của bên bảo đảm hoặc nơi có tài sản bảo đảm đề nghị phối hợp, hỗ trợ tổ chức tín dụng thu hồi tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thông báo cho bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín dụng buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng. 2.3 . Sau khi hết thời hạn ấn định trong thông báo áp dụng biện pháp buộc giao tài sản mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý, tổ chức tín đụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm cùng với sự hỗ trợ của Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an. 3 . Trách nhiệm phối hợp của Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an trong việc hỗ trợ tổ chức tín dụng thu hồi tài sản bảo đảm như sau: 3.1. Sau khi nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng theo quy định tại điểm 2.2 khoản 2 trên đây, Uỷ ban nhân dân áp dụng biện pháp giáo dục, thuyết phục bên giữ tài sản giao tài sản bảo đảm đang quản lý cho tổ chức tín dụng. Uỷ ban nhân dân quy định thời hạn bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý, nhưng không quá 10 ngày kể từ ngày Uỷ ban nhân dân áp dụng biện pháp giáo dục 3.2. Nếu hết thời hạn trên, bên giữ tài sản bảo đảm vẫn không giao tài sản bảo đảm theo đề nghị của tổ chức tín dụng, Uỷ ban nhân dân chỉ đạo các ban, ngành chức năng tham gia phối hợp với tổ chức tín dụng và tiến hành các thủ tục cần thiết buộc bên giữ tài sản bảo đảm giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dựng. a. Đối với tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông, căn cứ vào văn bản đề nghị của tổ chức tín dụng (có ghi rõ địa chỉ liên hệ, số Fax, số điện thoại): - Cơ quan Cảnh sát giao thông qua công tác đăng ký phương tiện, nếu phát hiện thấy các trường hợp mà tổ chức tín dụng đề nghị thì không cho sang tên, chuyển dịch sở hữu và yêu cầu chủ phương tiện hoặc người được uỷ quyền của chủ phương tiện phải xin ý kiến của tổ chức tín dụng trước khi làm các thủ tục sang tên, chuyển dịch sở hữu. - Trường hợp thông qua công tác tuần tra, kiểm soát, cơ quan Cảnh sát giao thông phát hiện thấy người điều khiển phương tiện sử dụng bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 178 đã hết thời. hạn lưu hành, thì cơ quan Cảnh sát giao thông lập biên bán tạm giữ phương tiện và có văn bán thông báo (gửi trực tiếp, fax hoặc qua các phương tiện thông tin liên lạc khác) cho tổ chức tín dụng biết để nhận bàn giao phương tiện tạm giữ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, tổ chức tín dụng phải cử người đến nhận tài sản. Việc bàn giao tài sản giữa cơ quan Cảnh sát giao thông và tổ chức tín dụng phải lập thành biên bản giao nhận. Tổ chức tín dụng phải thông báo việc giao, nhận tài sản này cho chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện biết. Nếu quá thời hạn này mà tổ chức tín dụng không đến nhận tài sản, cơ quan Cảnh sát giao thông sẽ trả lại phương tiện cho người điều khiển phương tiện bị tạm giữ. Tổ chức tín dụng phải thanh toán chi phí thông báo, tạm giữ phương tiện và các chi phí hợp lý khác (nếu có) khi đến nhận phương tiện bị tạm giữ. Số tiền này được tính vào chi phí xử lý tài sản theo quy định tại mục VIII phần B. Trường hợp tổ chức tín dụng không đến nhận phương tiện theo thông báo của cơ quan Cảnh sát giao thông, thì tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí nói trên từ khoản tiền của mình. b. Đối với tài sản bảo đảm là kho tàng, nhà ở và các công trình xây dựng khác, tổ chức tín dụng cho chuyển đồ đạc, tài sản không thuộc tài sản bảo đảm đến cơ quan gửi giữ tài sản và tiếp nhận tài sản bảo đảm để xử lý. Chi phí gửi giữ tài sản đo bên có tài sản thanh toán. c. Đối với tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu vật liệu hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và tài sản bảo đảm khác, tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ. 3.3. Việc thu giữ tài sản bảo đảm phải được lập thành biên bản thu giữ tài sản, có sự chứng kiến của đại diện Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú của bên giữ tài sản hoặc nơi có tài sản bảo đảm và các cơ quan liên quan. 3.4. Trong quá trình tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có hành vi chống đối, cản trở cán bộ thi hành nhiệm vụ, hoặc có các hành vi khác nhằm lấy lại tài sản, hoặc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của cán bộ thi hành nhiệm vụ, gây rối trật tự, an ninh thì cơ quan Công an có trách nhiệm áp đụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn chặn và xử lý kịp thời; Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm tạo các điều kiện hỗ trợ tổ chức tín dụng, cử người tham gia và giải quyết theo thẩm quyền các vướng mắc phát sinh trong quá trình tồ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH I. Thông tư này được áp dụng để xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ cho các loại hình tổ chức tín dụng quy định tại Điều 12 Luật Các tổ chức tín dụng. Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho cá nhân, pháp nhân trong nước; cá nhân, pháp nhân nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng áp dụng theo các quy định của Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. II. Các hợp đồng tín dụng đã quá hạn trả nợ trước ngày Thông tư này có hiệu lực nhưng tài sản bảo đảm chưa được xử lý thì được áp dụng những quy định tại Thông tư này để xử lý. III. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới các hình thức khác, nếu các bên có thoả thuận về biện pháp bảo đảm thì được áp dụng các quy định tại Thông tư này để xử lý. IV. Đối với các tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự thì áp dụng các quy định tại Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTC-BTP ngày 4/10/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử Iý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. V. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các ngành báo cáo để liên ngành giải thích, bổ sung, sửa đổi kịp thời. Mọi sửa đổi, bổ sung Thông tư này do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính quyết định.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=23418&Keyword=
2025-09-24T02:38:05.504712
../data\bocongan\032001TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC\document.json
27/01/2007
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng ____________ Căn cứ khoản 2 Điều 39 Nghị định số 178/1999/ NĐ - CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và các quy định pháp luật khác có liên quan; Để thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ cho các tổ chức tin dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính và Tổng cục Địa chính thống nhất hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tồ chức tín dụng như sau: A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG I. Mọi khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc trả nợ trước hạn theo quy định của pháp luật. Bên bảo lãnh cho khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng có nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì tài sản đùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi chung là tài sản bảo đảm) được xử lý để thu hồi nợ. II. Tài sản bảo đảm được xử lý theo phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh (sau đây gọi chung là hợp đồng bảo đảm) giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay, bên bảo lãnh (sau đây gọi chung là bên bảo đảm). Trong trường hợp các bên không xử lý được tài sản bảo đảm theo phương thức đã thoả thuận, thì tổ chức tín dụng có quyền chủ động áp dụng các phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm được xử lý theo các phương thức sau đây: 1. Bán tài sản bảo đảm: Bán tài sản bảo đảm là việc tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm hoặc các bên phối hợp để bán tài sản trực tiếp cho người mua hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba bán tài sản cho người mua. Bên thứ ba được uỷ quyền bán tài sản có thể là Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán. 2. Nhận chính tài sản bảo đảm dể thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm: Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm là việc tổ chức tín dụng trực tiếp nhận tài sản bảo đảm, lấy giá tài sản bảo đảm được định giá khi xử lý làm cơ sở để thanh toán nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn của bên bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí khác (nếu có) và được tiếp nhận tài sản đó theo quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. 3. Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm: Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm là việc tổ chức tín dụng trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo các thủ tục quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. III. Tổ chức tín dụng có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm. Bên thứ ba phải là tổ chức có tư cách pháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp được tổ chức tín dụng chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba có quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm như tổ chức tín dụng. Trường hợp được tổ chức tín dụng uỷ quyền xử lý tài sản, thì bên thứ ba được xử lý tài sản bảo đảm trong phạm vi được uỷ quyền. IV. Việc xử lý tài sản bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của các bên và tiết kiệm chi phí. V. Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bảo đảm bị khởi tố về một hành vi phạm tội không liên quan đến việc vay vốn của tổ chức tín dụng hoặc không liên quan đến nguồn gốc hình thành tài sản bảo đảm, thì tài sản bảo đảm của người đó không bị kê biên và được xử lý theo quy định tại Thông tư này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. VI. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, thực hiện các biện pháp cần thiết để hỗ trợ tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm theo các quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật B. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ THỦ TỤC XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM I. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THEO THOẢ THUẬN 1. Tài sản bảo đảm được xử lý theo thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và bên bảo đảm tại hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm. Các bên có thể thoả thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thoả thuận mới về việc xử lý tài sản bảo đảm. Việc thoả thuận này phải lập thành văn bản. 2. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thực hiện các thủ tục sau đây: 2. 1. Tổ chức tín dụng phải thông báo bằng văn bản cho bên bảo đảm về việc xử lý lài sản bảo đảm và đăng ký thông báo yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm (nếu giao dịch bảo đảm đó đã được đăng ký). a. Văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm có các nội dung chủ yếu sau đây: - Lý do xử lý tài sản bảo đảm; - Giá trị nghĩa vụ được bảo đảm; - Loại tài sản xử lý: đặc điểm, chất lượng, số lượng; - Phương thức xử lý tài sản bảo đảm; - Thời điểm xử lý tài sản bảo đảm; - Thời hạn và địa điểm chuyển giao tài sản bảo đảm (nếu có); b. Tổ chức tín dụng ấn định thời điểm xử lý tài sản bảo đảm trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm, nhưng không được sớm hơn 7 ngày đối với tài sản cầm cố, 15 ngày đối với tài sản thế chấp, kể từ ngày đăng ký thông báo yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. Đối với giao dịch bảo đảm không phải đăng ký hoặc chưa đăng ký do cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm chưa hoạt động, thì thời thời hạn 7 ngày và 15 ngày nêu trên được tính từ ngày tổ chức tín dụng gửi thông báo xử lý tài sản cho bên bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ dễ hư hỏng thì tổ chức tín dựng được xử lý tài sản ngay sau khi thông báo xử lý tài sản bảo đảm. 2. 2. Bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín đụng thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm như bàn giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng, bàn giao giấy tờ có liên quan đến tài sản bảo đảm theo yêu cầu của tổ chức tín dụng (trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, tài sản bảo đảm), tạo điều kiện cho bên mua xem tài sản và thực hiện các biện pháp cần thiết khác để xử lý tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, tài sản bảo đảm (sau đây gọi chung là bên giữ tài sản bảo đảm), tổ chức tín dụng ấn định ngày giao giấy tờ, tài sản đó để xử lý trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm; nếu bên giữ tài sản bảo đảm không thực híện, thì tổ chức tín dựng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao giấy tờ, tài sản theo qui định tại mục XI phần B. 3. Tổ chức tín dụng tiến hành lập biên bản xử lý tài sản bảo đảm. Biên bản xử lý tài sản bảo đảm phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận tài sản bảo đảm, phương thức xử lý tài sản bảo đảm, quyền, nghĩa vụ của các bên và các thoả thuận khác (nếu có). Trường hợp tổ chức tín dụng áp dụng biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng để xử lý, tổ chức tín dụng lập biên bản thu giữ tài sản theo quy định tại điểm 3. 3 khoản 3 mục XI phần B. 4. Sau khi thực hiện việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm, quyền của tổ chức tín đụng, nghĩa vụ của bên bảo đảm và bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm được quy định như sau: 4. 1. Quyền của tổ chức tín dụng a. Yêu cầu bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp cần thiết chuẩn bị cho việc xử lý tại sản bảo đảm theo quy định tại điểm 2. 2 khoản 2 mục I phần B; b. Khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo quy định tại mục VI phần B; c. Yêu cầu bên bảo đảm hoặc bên thứ ba không được khai thác, sử dựng tài sản bảo đảm nếu việc khai thác, sử dụng đó có nguy cơ làm mất giá trị hoặc làm giảm sút giá trị tài sản; d. Thanh toán nợ đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản đó; đ. Yêu cầu bên giữ tài sản phải giao tài sản bảo đảm nếu có một trong các hành vi sau đây: - Không giao tài sản bảo đảm theo yêu cầu của tổ chức tín dụng; - Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp bảo quản tài sản bảo đảm; - Tự ý tiến hành hành vi bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn, góp vốn liên doanh, tẩu tán, làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm; - Có hành vi khác gây ra nguy cơ làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên giữ tài sản không giao tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản theo quy định tại mục XI phần B. e. Các quyền khác theo quy định của pháp luật. 4. 2. Nghĩa vụ của bên bảo đảm: a. Phối hợp với tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp cần thiết chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm khi có yêu cầu của tổ chức tín dụng theo quy định tại điểm 2. 2 khoản 2 mục I phần B; b. Không được tự ý bán, khai thác, sử dụng, cho thuê, cho mượn tài sản bảo đảm nếu không được tổ chức tín dụng chấp thuận; c. Không được huỷ hoại, thẩu tán, trao đổi, tặng cho tài sản bảo đảm, sử dụng tài sản bảo đảm để góp vốn liên doanh, làm hư hỏng, mất mát tài sản bảo đảm hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài sản bảo đảm; d. Bảo quản, giữ gìn tài sản bảo đảm, giao tài sản bảo đảm và các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm khi nhận được yêu cầu của tổ chức tín dụng; đ. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. 4. 3. Nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm: Bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ bảo quản và giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng như quy định đối với bên bảo đảm tại các tiết b, c, d và đ điểm 4. 2 khoản 4 mục I phần B. 5. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thoả thuận. 5. 1. Bán tài sản bảo đảm. a. Việc bán tài sản bảo đảm thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 178/1999/ NĐ - CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi chung là Nghị định số 178). Các bên thoả thuận định giá tài sản bảo đảm để bán theo quy định tại mục VII phần B. b. Hợp đồng mua bán tài sản được lập thành văn bản giữa bên được bán tài sản bảo đảm và bên mua tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên bảo đảm và tổ chức tín dụng không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được bên bán tài sản bảo đảm, thì tổ chức tín dụng quyết định bên bán theo một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 178. 5. 2. Tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. a. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm lập biên bản nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Biên bản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận, định giá xử lý tài sản bảo đảm và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Thông tư này. b. Sau khi nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, tổ chức tín dụng được làm thủ tục nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm hoặc được bán, chuyển nhượng tài sản bảo đảm cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật. 5. 3. Tổ chức tín dụng nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm. a. Tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm phải thông báo cho bên thứ ba biết việc tổ chức tín dụng được nhận các khoản tiền, tài sản nêu trên, đồng thời yêu cầu bên thứ ba giao các khoản tiền, tài sản dó cho tổ chức tín dụng. Việc giao các khoản tiền, tài sản cho tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp quy định tại Điều 320 Bộ Luật Dân sự. Đối với tài sản bảo đảm quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1. 1 mục II Chương II Thông tư 06/2000/TT - NHNN1 ngày 4/4/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178, tổ chức tín dụng được tiếp nhận tài sản bảo đảm và các quyền phát sinh từ tài sản đó. Bên thứ ba có nghĩa vụ giao các khoản tiền, tài sản và chuyển giao các quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng. b. Tổ chức tín dụng lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa lổ chức tín dụng, bên bảo đảm và bên thứ ba. Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản. 6. Sau khi tài sản bảo đảm đã được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm tiến hành xoá đăng ký xử lý tài sản, xoá đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. II. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM THEO QUI ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 34 NGHỊ ĐỊNH SỐ 178 1. Khi xử lý tài sản bảo đảm theo các trường hợp qui định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 178, tổ chức tín dụng và bên bảo đảm phải thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 2, khoản 3 mục I phần B; quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại khoản 4 mục I phần B. 2. Tổ chức tín dụng có quyền chủ động thực hiện một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảm sau đây: 2. 1. Tổ chức tín dụng trực tiếp bán tài sản bảo đảm (trừ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải được bán tại tổ chức bán đấu giá chuyên trách). a. Tổ chức tín dụng phải thông báo công khai về việc bán tài sán bảo đảm và được tiến hành bán tài sản bảo đảm sau thời hạn quy định tại tiết b điểm 2. 1 khoản 2 mục I phần B. b. Hợp đồng mua bán tài sản giữa tổ chức tín dụng và bên mua tài sản được lập thành văn bản. Tổ chức tín dụng quyết định giá bán tài sản bảo đảm theo quy định tại mục VII phần B. 2. 2. Tổ chức tín dụng uỷ quyền bán tài sản bảo đảm cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sán (sau đây gọi chung là tổ chức bán đấu giá tài sản). a. Các trường hợp uỷ quyền bán đấu giá: - Tổ chức tín dụng lựa chọn bán tài sản bảo đảm theo phương thức uỷ quyền cho tổ chức bán đấu giá tài sản; - Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo quy định tại mục III phần B và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải được bán tại tổ chức bán đấu giá chuyên trách. b. Hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức tín dụng và tổ chức bán đấu giá tài sản. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm có thể thoả thuận để bên bảo đảm tự yêu cầu bán đấu giá tài sản bảo đảm. c. Thủ tục bán đấu giá tài sản áp dụng theo các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. 2. 3. Tổ chức tín dụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm cho tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán. a. Tổ chức có chức năng được mua tài sản để bán là: - Các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp của Ngân hàng Thương mại được thành lập theo Quyết định số 305/2000/QĐ - NHNN5 ngày 15/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Các công ty được thành lập nhằm quản lý và giải quyết các khoản nợ khó đòi của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. b. Tổ chức được tổ chức tín đụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại mục III phần A và các quy định pháp luật khác có liên quan. Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tổ chức được tổ chức tín dụng uỷ quyền hoặc chuyển giao việc xử lý tài sản bảo đảm khi thực hiện phương thức bán tài sán bảo đảm thì phải đưa ra bán đấu giá. Trình tự, thủ tục bán đấu giá thực hiện theo quy định tại mục III phần B. 2. 4. Tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm (trừ tài sản bảo đảm là quyền sử dựng đất, tài sản gắn liền với đất): Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng không cần thoả thuận lại với bên bảo đảm. Thủ tục nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm theo quy định tại điểm 5. 2 khoản 5 mục I phần B. 2. 5. Tổ chức tín dụng nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm. a. Việc nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên tại hợp đồng bảo đảm. Trình tự, thủ tục nhận các khoản tiền, tài sản được thực hiện theo quy định tại điển 5. 3 khoản 5 mục I phần B. b. Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền, tài sản nói trên theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dựng thủ tục buộc bên thứ ba phải giao tài sản theo quy định tại mục XI phần B hoặc khởi kiện ra Toà án. 3. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm thực hiện việc xoá đăng ký xử lý tài sản, xoá đăng ký giao địch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. 4. Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 178, tổ chức tín dụng và bên bảo đảm có quyền thoả thuận, thoả thuận lại, thoả thuận mới về phương thức xử lý tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên và các thoả thuận khác phù hợp với các quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. III. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1. Việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử đụng đất, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm và phải phù hợp với các quy định liên quan tại mục I phần B Thông tư này và các quy định của pháp luật về đất đai. 2. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không xử lý được theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng, thì tổ chức tín dụng đưa tài sản ra bán đấu giá để thu hồi nợ hoặc khởi kiện tại Toà án. 3. Việc bán đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo trình tự sau: 3. 1. Tổ chức tín dụng gửi hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau đây cho phép bán đấu giá quyền sử dựng đất: a. Uỷ ban nhân dân cấp huyện cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất đã thế chấp của hộ gia đình, cá nhân; b. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất đã thế chấp của các tổ chức. 3. 2. Hồ sơ đề nghị cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất bao gồm: a. Đơn đề nghị cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất; b. Bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); c. Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc giấy tờ khác theo quy định tại điểm 7. 3 khoản 7 mục này (tổ chức tín đụng ký sao). 3. 3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ nói trên, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm: a. Ra văn bản cho phép bán đấu giá quyền sử đựng đất đối với trường hợp được chuyển nhượng quyền sử đụng đất; b. Hướng dẫn cho tổ chức tín dụng làm các thủ tục cần thiết đối với trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, sau đó ra văn bản cho phép bán đấu giá quyền sử dụng đất; c. Trả lời bằng văn bản cho tổ chức tín dụng về việc không được bán đấu giá quyền sử dựng đất đối với các loại đất không được phép chuyển nhượng theo quy định tại Điều 30 Luật Đất đai. 3. 4. Riêng đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm được nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân thì người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 17/1999/NĐ - CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung là Nghị định số 17). 3. 5. Sau khi được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép bán đấu giá quyền sử đụng đất, tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục quy định tại khoản 2, khoản 3 mục I phần B và uỷ quyền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán đấu giá quyền sử dụng đất. 4. Sau khi hoàn thành việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tổ chức tín dụng có trách nhiệm làm các thủ tục xoá đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm, xoá thế chấp, xoá đăng ký thế chấp. Tổ chức tín dụng tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản, trừ trường hợp do Trung tâm bán đấu giá tài sản thực hiện theo pháp luật về bán đấu giá tài sản. 5. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được thực hiện như sau: 5. 1. Bên có trách nhiệm tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản theo quy định tại khoản 4 trên đây gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử đụng đất ở theo quy định tại khoản 2 mục X phần B. 5. 2. Trong thời hạn 15 ngày (đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc 60 ngày (đối với giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở) kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cấp các giấy tờ nói trên cho bên nhận chuyển nhượng, bên mua tài sản. 6. Nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định tại mục IX phần B. 7. Các quy định của thông tư này được áp đụng để xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã thế chấp trước ngày Nghị định số 178 có hiệu lực trong các trường hợp sau đây: 7. 1. Quyền sử đụng đất, tài sản gắn liền với đất đã có đầy đủ giấy tờ, hồ sơ phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm thế chấp hoặc phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm Nghị định số 178 có hiệu lực; 7. 2. Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã có đủ điều kiện theo quy định tại điểm 7. 1 trên đây nhưng chưa xử lý được do hợp đồng thế chấp thiếu chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc thiếu chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền; 7. 3. Quyền sử dụng đất, đất có tài sản gắn liền mà tại thời điểm thế chấp, người thế chấp có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hoặc một trong các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 17 và có quyền thế chấp quyền sử dụng đất; 7. 4. Tài sản gắn liền với đất mà tại thời điểm thế chấp, người thế chấp có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó và có các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm 7. 3 trên đây nhưng không có quyền thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng đưa tài sản gắn liền với đất ra bán đấu giá tại Trung tâm bán đấu giá tài sản. Sau khi hoàn thành việc bán đấu giá, Trung lâm bán đấu giá tài sản gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá theo hình thức được nhà nước gian đất, cho thuê đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 7. 5. Khi xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo các trường hợp quy định tại điểm 7. 1, điểm 7. 2, điểm 7. 3 trên đây, tổ chức tín dụng gửi hồ sơ hiện có đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 mục III phần B để xin phép bán đấu giá quyền sử dụng đất. Sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép bán đấu giá, tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Thông tư này. IV. XỬ LÝ TÀI SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHI CHIA, TÁCH, HỢP NHẤT, SÁP NHẬP, CHUYỂN ĐỔI, CỔ PHẦN HOÁ 1. Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ trước khi doanh nghiệp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đồi, cổ phần hoá theo các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 178. Trong trường hợp tài sản bảo đảm tiền vay chưa xử lý được để thu hồi nợ mà doanh nghiệp đã chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá, thì các doanh nghiệp hình thành sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cồ phần hoá phải nhận nợ và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng. Trong trường hợp doanh nghiệp hình thành sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đồi, cổ phần hoá không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại mục II phần B. 2. Trường hợp tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định số 178, thì việc xử lý tài sản và thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay căn cứ theo hợp đồng bảo đảm đã được ký kết lại sau khi doanh nghiệp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá. Tổ chức tín dụng thực hiện việc xử lý tài sản theo các quy định tại Thông tư này. V. XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BẢO ĐẢM CHẾT HOẶC VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ VÀO THỜI ĐIỂM XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM Tổ chức tín dụng được tiến hành xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp đến hạn trả nợ hoặc phải trả nợ trước hạn mà bên bảo đảm chết hoặc cố ý vắng mặt tại nơi cư trú vào thời điểm xử lý tài sản đã được tổ chức tín dụng thông báo trước. Người giữ tài sản bảo đảm (nếu có) hoặc người thừa kế tài sản của của bên bảo đảm (trong trường hợp bên bảo đảm chết) có nghĩa vụ giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý theo thông báo của tổ chức tín dụng. Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm, người thừa kế tài sản của bên bảo đảm không chịu giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý theo quy định tại mục XI phần B. VI. KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG THỜI GIAN CHƯA XỬ LÝ 1. Trong thời gian tài sản bảo đảm chưa được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng có quyền khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc cho phép hoặc uỷ quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm phải được lập thành văn bản. 2. Hoa lợi, lợi tức thu được phải hạch toán riêng (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác); sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản (bao gồm: chi phí quản lý, tu bổ, sửa chữa tài sản, các loại thuế, phí khai thác tài sản và các chi phí cần thiết, hợp lý khác), số tiền còn lại được thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng theo quy định tại mục VIII phần B. VII. ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM KHI XỬ LÝ 1. Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm thoả thuận về giá xử lý tài sản bảo đảm tại thời điểm xử lý và lập biên bản thoả thuận việc định giá tài sản. 2. Trường hợp các bên không thoả thuận được về giá xử lý tài sản bảo đảm thì việc định giá được tiến hành như sau: 2. 1. Trước khi tổ chức tín dụng quyết định giá xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định giá hoặc tham khảo giá đã được tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định, giá thực tế tại địa phương vào thời điểm xử lý, giá quy định của nhà nước (nếu có) và các yếu tố khác về giá. 2. 2. Trong trường hợp bán tài sản bảo đảm mà có sự chênh lệch lớn về giá giữa những người cùng đăng ký mua tài sản hoặc khi có nhiều người cùng đăng ký mua tài sản thì tổ chức tín đụng quyết định giá xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở giá trả cao nhất hoặc đưa ra bán đấu giá để thu hồi nợ. 3. Trường hợp uỷ quyền cho tồ chức bán đấu giá tài sản thì việc xác định giá xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. 4. Trường hợp uỷ quyền hoặc chuyển giao cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm thì tổ chức tín dụng có thể xác định giá xử lý tài sản bảo đảm hoặc thoả thuận để bên thứ ba xác định giá xử lý tài sản bảo đảm theo nguyên tắc quy định tại điểm 2. 1 khoản 2 trên đây. VIII. THANH TOÁN THU NỢ TỪ VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Việc thanh toán thu nợ được tiến hành theo thứ tự sau: 1. 1. Các chi phí cần thiết để xử lý tài sản bảo đảm: chi phí bảo quản, quản lý định giá, quảng cáo bán tài sản, bán tài sản, tiền hoa hồng, chi phí, lệ phí bán đấu giá và các chi phí cần thiết, hợp lý khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm. 1. 2. Thuế và các khoản phí nộp ngân sách nhà nước (nếu có). 1. 3. Nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn tính đến ngày bên bảo đảm hoặc bên giữ tài sản giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý. 2. Trường hợp tổ chức tín dụng ứng trước để thanh toán các chi phí xử lý tài sản hoặc các khoản thuế, phí nộp ngân sách nhà nước, thì tổ chức tín dụng được thu hồi lại số tiền ứng trước này trước khi thanh loàn nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn, trừ trường hợp bên bảo đảm đã thanh toán lại số tiền ứng trước cho tổ chức tín dụng. 3. Trong trường hợp số tiền thu được khi bán tài sản và các khoản thu từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý (sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản) lớn hơn số nợ phải trả, thì phần chênh lệch thừa được hoàn trả lại cho bên bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu khoản tiền thu được không đủ để thanh toán khoản nợ phải trả và những chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp tồ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc nhận các khoản tiền và tài sản mà bên thứ ba phải giao cho bên bảo đảm, thì phần chênh lệch thừa giữa giá xử lý tài sản bảo đảm và các khoản thu từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm trong thời gian chưa xử lý (sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản) với số nợ phải trả được trả lại cho bên bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ nếu các khoản thu trên nhỏ hơn số nợ gốc, lãi, lãi quá hạn và các chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm. 4. Đối với những tài sản bảo đảm bên mua không có khả năng thanh toán ngay để thu nợ, tổ chức tín dụng được áp dụng phương thức thu nợ từng phần theo khả năng thanh toán của người mua. Tổ chức tín dụng xác định số nợ gốc, lãi, lãi quá hạn và các chi phí phải thu tính đến ngày tổ chức tín dụng tiếp nhận tài sản bảo đảm. 5. Trong trường hợp một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ tại một tổ chức tín dụng, nếu phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thi các nghĩa vụ trả nợ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và tổ chức tín dụng được xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ. Thứ tự thanh toán giữa các khoản nợ được bảo đảm bằng một tài sản xác định theo thứ tự đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. 6. Đối với một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trong trường hợp cho vay hợp vốn, nếu phải xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thì các bên tham gia cho vay hợp vốn được thanh toán theo tỷ lệ vốn góp. 7. Trường hợp bên bảo đảm làm tăng giá trị tài sản bảo đảm (như sửa chữa hoặc nâng cấp tài sản. . ) trong quá trình trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản bảo đảm, thì phần giá trị tăng thêm của tài sản bảo đảm được coi là một phần trong giá trị tài sản bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ban đầu. Khi xử lý tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng được thanh toán nợ từ cả phần giá trị tăng thêm của tài sản bảo đảm. 8. Trong trường hợp tài sản bảo đảm đã được mua bảo hiểm, thì tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm trả được trả trực tiếp cho tổ chức tín dụng để thu nợ. Số tiền này sẽ được dùng để thanh toán khoản nợ của bên bảo đảm. IX. VIỆC TÍNH THUẾ CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Việc tính thuế chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm được thực hiện khi làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc khi tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ và tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dựng cho tổ chức tín dụng. 2. Đối với thuế chuyển quyền sử đụng đất được thực hiện theo quy định tại Nghị định 19/2000/NĐ - CP ngày 8/6/2000 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. 3. Trong trường hợp tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà tài sản đó chưa được làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng thì chưa phải nộp thuế chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. X. TRÁCH NHIỆM PHỐI HỢP CỦA CÁC CƠ QUAN HỮU QUAN 1. Khi tổ chức tín dụng tiến hành xử! ý tài sản bảo đảm theo các phương thức quy định tại Thông tư này, cơ quan Công chứng nhà nước, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chứng nhận các hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng chuyển nhượng tài sản, biên bản nhận tài sản và các giấy tờ liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng. 2. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, Sở Địa chính hoặc Sở Địa chính - Nhà đất, Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố, cơ quan đăng kiểm phương tiện vận tải thuỷ, Chi cục đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam) có trách nhiệm làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản khi nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng (hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản) và các tài liệu liên quan khác bao gồm: 2. 1. Bản sao hợp đồng tín dụng; hợp đông bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); 2. 2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản, hoặc giấy đăng ký tài sản của chủ tài sản, hoặc giấy tờ khác theo quy định tại điểm 7. 3 khoản 7 mục III phần B (tuỳ từng trường hợp cụ thể); 2. 3. Biên bản xử lý tài sản hoặc biên bản thu giữ tài sản; 2. 4. Hợp đồng mua bán tài sản, hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản, hoặc biên bản nhận tài sản, hoặc văn bản bán dấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể); 2. 5. Giấy tờ xác nhận đã nộp thuế chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật. 3. Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm là tài sản thi hành án: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản căn cứ vào hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây: 3. 1. Trích lục bản án hoặc bản sao bản án hoặc bản sao quyết định của Toà án; 3. 2. Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; 3. 3. Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm (tổ chức tín dụng ký sao); 3. 4. Hợp đồng mua bán tài sản, hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản, hoặc hợp đồng nhận tài sản, hoặc văn bản bán đấu giá tài sản (tuỳ từng trường hợp xử lý cụ thể). 4. Trong hồ sơ làm thủ tục chuyên quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm, không yêu cầu phải có văn bản của chủ sở hữu tài sản bảo đảm về việc đồng ý cho xử lý tài sản bảo đảm (vì văn bản đồng ý xử lý tài sản bảo đảm đã được thể hiện trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm); không yêu cầu phải có hợp đồng mua bán tài sản giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án với người mua tài sản, trừ trường hợp người xử lý tài sản là chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án. 5. Thời hạn hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận chuyển nhượng là 15 ngày (riêng đối với việc chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở là 60 ngày) kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng (hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản) và các tài liệu nói trên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. XI. THỦ TỤC BUỘC BÊN GIỮ TAI SẢN BẢO ĐẢM PHẢI GIAO TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHO TỔ CHỨC TÍN DỤNG Theo Điều 35 Nghị định số 178, thủ tục buộc bên giữ tài sán bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín đụng như sau: 1. Bên giữ tài sản bảo đảm có trách nhiệm giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý theo thông báo của tồ chức tín dụng. Nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản bảo đảm, tổ chức tín đụng ra văn bản thông báo việc áp dụng biện pháp buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản cho tổ chức tín đụng. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý đo áp dụng, thời hạn bàn giao tài sản bảo đảm, biện pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên. 2. Tổ chức tín dụng được áp dụng các biện pháp sau đây: 2. 1. Tổ chức tín dụng yêu cầu bên giữ tài sản bảo đảm giao tài sản bảo đảm đang quản lý cho tổ chức tín dụng. 2. 2. Sau khi đã áp dụng biện pháp trên mà bên giữ tài sản bảo đảm vẫn không giao tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng gửi văn bản tới Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an nơi cư trú của bên bảo đảm hoặc nơi có tài sản bảo đảm đề nghị phối hợp, hỗ trợ tổ chức tín dụng thu hồi tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên thứ ba giữ tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng thông báo cho bên bảo đảm phối hợp với tổ chức tín dụng buộc bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng. 2. 3. Sau khi hết thời hạn ấn định trong thông báo áp dụng biện pháp buộc giao tài sản mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý, tổ chức tín đụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm cùng với sự hỗ trợ của Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an. 3. Trách nhiệm phối hợp của Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an trong việc hỗ trợ tổ chức tín dụng thu hồi tài sản bảo đảm như sau: 3. 1. Sau khi nhận được đề nghị của tổ chức tín dụng theo quy định tại điểm 2. 2 khoản 2 trên đây, Uỷ ban nhân dân áp dụng biện pháp giáo dục, thuyết phục bên giữ tài sản giao tài sản bảo đảm đang quản lý cho tổ chức tín dụng. Uỷ ban nhân dân quy định thời hạn bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng để xử lý, nhưng không quá 10 ngày kể từ ngày Uỷ ban nhân dân áp dụng biện pháp giáo dục 3. 2. Nếu hết thời hạn trên, bên giữ tài sản bảo đảm vẫn không giao tài sản bảo đảm theo đề nghị của tổ chức tín dụng, Uỷ ban nhân dân chỉ đạo các ban, ngành chức năng tham gia phối hợp với tổ chức tín dụng và tiến hành các thủ tục cần thiết buộc bên giữ tài sản bảo đảm giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dựng. a. Đối với tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông, căn cứ vào văn bản đề nghị của tổ chức tín dụng (có ghi rõ địa chỉ liên hệ, số Fax, số điện thoại): - Cơ quan Cảnh sát giao thông qua công tác đăng ký phương tiện, nếu phát hiện thấy các trường hợp mà tổ chức tín dụng đề nghị thì không cho sang tên, chuyển dịch sở hữu và yêu cầu chủ phương tiện hoặc người được uỷ quyền của chủ phương tiện phải xin ý kiến của tổ chức tín dụng trước khi làm các thủ tục sang tên, chuyển dịch sở hữu. - Trường hợp thông qua công tác tuần tra, kiểm soát, cơ quan Cảnh sát giao thông phát hiện thấy người điều khiển phương tiện sử dụng bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 178 đã hết thời. hạn lưu hành, thì cơ quan Cảnh sát giao thông lập biên bán tạm giữ phương tiện và có văn bán thông báo (gửi trực tiếp, fax hoặc qua các phương tiện thông tin liên lạc khác) cho tổ chức tín dụng biết để nhận bàn giao phương tiện tạm giữ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, tổ chức tín dụng phải cử người đến nhận tài sản. Việc bàn giao tài sản giữa cơ quan Cảnh sát giao thông và tổ chức tín dụng phải lập thành biên bản giao nhận. Tổ chức tín dụng phải thông báo việc giao, nhận tài sản này cho chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện biết. Nếu quá thời hạn này mà tổ chức tín dụng không đến nhận tài sản, cơ quan Cảnh sát giao thông sẽ trả lại phương tiện cho người điều khiển phương tiện bị tạm giữ. Tổ chức tín dụng phải thanh toán chi phí thông báo, tạm giữ phương tiện và các chi phí hợp lý khác (nếu có) khi đến nhận phương tiện bị tạm giữ. Số tiền này được tính vào chi phí xử lý tài sản theo quy định tại mục VIII phần B. Trường hợp tổ chức tín dụng không đến nhận phương tiện theo thông báo của cơ quan Cảnh sát giao thông, thì tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí nói trên từ khoản tiền của mình. b. Đối với tài sản bảo đảm là kho tàng, nhà ở và các công trình xây dựng khác, tổ chức tín dụng cho chuyển đồ đạc, tài sản không thuộc tài sản bảo đảm đến cơ quan gửi giữ tài sản và tiếp nhận tài sản bảo đảm để xử lý. Chi phí gửi giữ tài sản đo bên có tài sản thanh toán. c. Đối với tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu vật liệu hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và tài sản bảo đảm khác, tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ. 3. 3. Việc thu giữ tài sản bảo đảm phải được lập thành biên bản thu giữ tài sản, có sự chứng kiến của đại diện Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú của bên giữ tài sản hoặc nơi có tài sản bảo đảm và các cơ quan liên quan. 3. 4. Trong quá trình tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có hành vi chống đối, cản trở cán bộ thi hành nhiệm vụ, hoặc có các hành vi khác nhằm lấy lại tài sản, hoặc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của cán bộ thi hành nhiệm vụ, gây rối trật tự, an ninh thì cơ quan Công an có trách nhiệm áp đụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để ngăn chặn và xử lý kịp thời; Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm tạo các điều kiện hỗ trợ tổ chức tín dụng, cử người tham gia và giải quyết theo thẩm quyền các vướng mắc phát sinh trong quá trình tồ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH I. Thông tư này được áp dụng để xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ cho các loại hình tổ chức tín dụng quy định tại Điều 12 Luật Các tổ chức tín dụng. Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho cá nhân, pháp nhân trong nước; cá nhân, pháp nhân nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng áp dụng theo các quy định của Nghị định số 165/1999/NĐ - CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. II. Các hợp đồng tín dụng đã quá hạn trả nợ trước ngày Thông tư này có hiệu lực nhưng tài sản bảo đảm chưa được xử lý thì được áp dụng những quy định tại Thông tư này để xử lý. III. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới các hình thức khác, nếu các bên có thoả thuận về biện pháp bảo đảm thì được áp dụng các quy định tại Thông tư này để xử lý. IV. Đối với các tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự thì áp dụng các quy định tại Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BCA - BTC - BTP ngày 4/10/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử Iý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. V. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các ngành báo cáo để liên ngành giải thích, bổ sung, sửa đổi kịp thời. Mọi sửa đổi, bổ sung Thông tư này do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính quyết định.
Hướng dẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.
03/2002/TTLT-BCA-BNG
29/01/2002
Thông tư liên tịch
13/02/2002
Công báo 11+12/2002;
22/03/2002
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Văn Hưởng
Toàn quốc
THÔNGTƯ LIÊN TỊCH Hướngdẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000 của Chínhphủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam: Thực hiệnNghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnhcủa công dân Việt Nam Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫnviệc cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành chocông dân Việt Nam ở nước ngoài như sau: I. NHỮNGQUY ĐỊNH CHUNG 1. Thông tưnày hướng dẫn việc cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấythông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. 2. Việc cấpgiấy thông hành cho công dân Việt Nam ở những nước có ký Hiệp định hoặcThỏa thuận với Việt Nam về việc nhận trở lại công dân Việt Nam không được nướcngoài cho cư trú; người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương theo Quyếtđịnh số 875/TTg ngày 21/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ không thuộc phạm viđiều chỉnh của Thông tư này. 3. Việc cấp,gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dânViệt Nam ở nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việccư trú, đi lại của công dân Việt Nam, nhưng phải đảm bảo chính xác và phục vụ đượcyêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. 4. Công dânViệt Nam ở nước ngoài đề nghị cấp, gia hạn, bổ sung, sửađổi hộ chiếu phải trực tiếp có mặt tại cơ quan khác đại diện ngoại giao, cơquan lãnh sự hoặc cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài được ủyquyền thực hiện chức năng lãnh sự (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện) đểnộp hồ sơ và nhận hộ chiếu. Trường hợp người đề nghị cấp, gia hạn, bổ sung, sửađổi hộ chiếu đang ở nước chưa có cơ quan đại diện hoặc vì ốm đaubệnh tật hoặc vì lý do đặc biệt khác mà không trực tiếp nộp hồ sơ hoặc nhận hộchiếu được thì những người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét, quyết định chonộp hoặc nhận thay trên cơ sở có đơn của người đề nghị. 5. Trườnghợp phức tạp về an ninh, cơ quan đại diện chỉ cấp hộ chiếu hoặc giấy thông hànhkhi có ý kiến đồng ý của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Côngan. 6. TrongThông tư này, những khái niệm sau đây được hiểu là: Giấy tờchứng minh có quốc tịch Việt Nam bao gồm: Giấy chứng nhận có quốc tịch ViệtNam; quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; quyết định cho trở lại quốc tịchViệt Nam; giấy chứng minh nhân dân và hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp. Giấy tờchứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp bao gồm: giấy chứng minh nhân dân; giấy chứng nhận nhân thân (theomẫu) có xác nhận của Trưởng công an cấp phường, xã nơi đăng ký nhân khẩu thườngtrú trước khi xuất cảnh; giấy xác nhận yếu tố nhân sự do Cục Quản lý xuất nhậpcảnh - Bộ Công an cấp; sơ yếu lý lịch có xác nhận của Thủtrưởng cơ quan có thẩm quyền, nếu người đó đang là cán bộ, viên chức nhà nướcthuộc quyền quản lý của cơ quan đó. Yếu tố nhânthân của người đề nghị cấp hộ chiếu bao gồm: họ tên khai sinh; ngày tháng nămsinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; địa chỉ hiện nay và địa chỉ thường trú ở trongnước trước khi xuất cảnh. Yếu tố nhânsự của người đề nghị cấp hộ chiếu bao gồm: yếu tố nhân thân, ảnh và thông tinvề thời gian, cửa khẩu, hình thức xuất cảnh chi tiết giấy tờ xuất nhập cảnh(loại giấy tờ, số, ngày và cơ quan cấp, thời hạn thân nhân đã hoặc đang sốngtại Việt Nam (họ tên, quan hệ, thời gian và địa chỉ thường trú), kể cả trườnghợp thân nhân đã chết. II. VIỆCCẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI HỘ CHIẾU VÀ GIẤY THÔNG HÀNH 1. Việccấp hộ chiếu cho những người chưa có hộ chiếu (cấp lần đầu). 1.1. Hồ sơnộp tại cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đềnghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Bản sao giấytờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam; Bản sao giấytờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp. Khi nộp bảnsao các giấy tờ trên thì xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu. Trườnghợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng nhận nhânthân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thìnộp sơ yếu lý lịch theo quy định. Đối với ngườiđã được nước sở tại cho cư trú thì nộp kèm theo giấy phép cư trú hợp lệ . Trườnghợp chưa dược nước sở tại cho cư trú thì trong tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cầnghi rõ nguồn gốc, thời gian, lý do và mục đích đến cư trú ở nướcsở tại kèm theo các giấy tờ chứng minh (nếu có). 1.2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, các yếu tố nhân thân và nội dungkê khai đầy đủ, chính xác, không thuộc trường hợp quy định tại Mục III Thôngtư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơquan đại diện cấp hộ chiếu cho người đề nghị. b) Trườnghợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng nhận nhânthân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cơquan đại diện hướng dẫn người đề nghị cấp hộ chiếu khai sơ yếu lý lịch, nộp kèmtheo các giấy tờ có giá trị tham khảo về quốc tịch (phù hợp với pháp luật ViệtNam về quốc tịch). Cơ quan đại diện lập danh sách gồm các yếu tố nhân sự và ảnhcủa người đề nghị cấp hộ chiếu gửi về Cục Lãnh sự - Bộ Ngoạigiao. Cục Lãnh sự có trách nhiệm chuyển danh sách và ảnh đó cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh - Công an để xác minh về nhân thân và cơ quan chức năng của Bộ Tưpháp để xác minh về quốc tịch (tùy theo yêu cầu xác minh). Trong thời hạn 40ngày, kể từ ngày nhận được danh sách do Cục Lãnh sự chuyển, Cục Quản lý xuấtnhập cảnh và cơ quan chức năng của Bộ Tư pháp có trách nhiệm xem xét trảlời Cục Lãnh sự để Cục Lãnh sự trả lời cơ quan đại diện. Cơ quanđại diện xem xét, giải quyết và trả lời cho người đề nghị cấp hộ chiếu trongthời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục lãnh sự. 1.3. Thânnhân ở Việt Nam của người đề nghị cấp hộ chiếu (cha,mẹ, vợ, chồng, con, ông bà nội ngoại, anh chị em ruột hoặc chú, bác, cô, dìruột) có thể trực tiếp đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuấtnhập cảnh công an tỉnh, thành phố nơi cư trú đề nghị xác nhận yếu tố nhân sựcủa người đề nghị cấp hộ chiếu. Trong thờihạn 40 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét và cóvăn bản trả lời, đồng thời thông báo cho cơ quan đại diện. Khi công dânViệt Nam ở nước ngoài nộp tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu, kèmtheo giấy tờ xác nhận yếu tố nhân sự của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, thì trongthời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ nêu trên, cơ quan đạidiện xem xét, quyết định. 1.4. Việccấp hộ chiếu cho các trường hợp đặc biệt khác, cơ quan đại diện báo cáo Bộ Ngoạigiao để Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định, sau khi có ýkiến của Bộ Công an xác nhận không có vấn đề về mặt an ninhvà đảm bảo nguyên tắc chỉ cấp hộ chiếu cho công dân Việt Nam. 2. Việccấp lại hộ chiếu do bị mất. 2.1. Hồ sơnộp tại cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Đơn trìnhbáo mất hộ chiếu có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại, nơi ngườiđó trình báo. 2.2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Sau khinhận được đơn trình báo mất hộ chiếu, cơ quan đại diện có trách nhiệm thông báokịp thời yếu tố nhân sự cho: Cơ quan đãcấp hộ chiếu đó để kiểm tra và hủy giá trị sử dụng của hộ chiếu này; Cục Quảnlý xuất nhập cảnh để thông báo các cửa khẩu; Cơ quan cóchức năng quản lý xuất nhập cảnh của nước sở tại. b) Trườnghợp hộ chiếu bị mất do chính cơ quan đại diện cấp, cơ quan đại diện kiểm tra,đối chiếu với hồ sơ lưu hoặc hồ sơ đăng ký công dân, nếu xác định yếu tố nhânsự mà người đề nghị cấp lại hộ chiếu khai là chính xác, không thuộc trường hợpquy định tại Mục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việckể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện cấp lại hộ chiếu. c) Những trườnghợp khác, cơ quan đại diện gửi yếu tố nhân sự, kèm theo ảnh của người đề nghịcấp lại hộ chiếu đến cơ quan đã cấp hộ chiếu bộ mất để xác minh. Nếu cơ quanđược yêu cầu xác minh xác nhận có cấp hộ chiếu đó, thì trong thời hạn 5 ngàylàm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, cơ quan đại diện cấp lại hộchiếu. Nếu cơ quanđược yêu cầu xác minh trả lời không cấp hộ chiếu đã khai mất, thì cơ quan đạidiện không cấp lại hộ chiếu cho người đó và yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xácđể xem xét, giải quyết theo hướng dẫn tại điểm 1 Mục này. Trường hợp đượcxem xét lại và giải quyết, cơ quan đại diện thông báo rõ lý do giải quyết choCục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnh biết. Sau 45 ngàykể từ ngày cơ quan đại diện gửi yêu cầu xác minh mà không nhận được ý kiến trảlời của cơ quan cấp hộ chiếu, thì người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét,quyết định. 2.3 . Thânnhân ở Việt Nam của người đề nghị cấp lại hộ chiếu(cha, mẹ, vợ, chồng, con, ông bà nội ngoại, anh chị em ruột hoặc chú, bác, cô,dì ruột) có thể trực tiếp đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lýxuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố nơi cư trú đề nghị xác nhận yếu tố nhânsự của người đề nghị cấp lại hộ chiếu. Trong thờihạn 40 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét và cóvăn bản trả lời, đồng thời thông báo cho cơ quan đại diện. Khi công dânViệt Nam ở nước ngoài nộp tờ khai đề nghị cấp lại hộ chiếu,kèm theo giấy tờ xác nhận yếu tố nhân sự của người đó do Cục Quản lý xuất nhậpcảnh cấp, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ,cơ quan đại diện xem xét, quyết định. 3. Việccấp lại hộ chiếu do bị hư hỏng (rách, bẩn,...), hết trang hoặc hết hạn sử dụng. 3.1. Hồ sơnộp cho cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Hộ chiếu bịhư hỏng, hết trang hoặc hết hạn sử dụng. 3.2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp hộ chiếu bị hư hỏng, hết trang hoặc hết hạn sử dụng, nhưng trang nhân thânvà ảnh còn nguyên vẹn, không bị tẩy xóa, hoặc đối chiếu ảnh trong tờ khai vàtrong hộ chiếu cũ đúng với người đề nghị, không thuộc trường hợp quy định tạiMục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việckể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện cấp lại hộ chiếu. b) Trườnghợp hộ chiếu có dấu hiệu không bình thường như: bị tẩy xóa, sửa chữa tại trangnhân thân, thay ảnh, thay trang, khâu lại hộ chiếu, ảnh trong hộ chiếu bị mờ,bong..., cơ quan đại diện gửi công văn, kèm theo bản sao hộ chiếu và ảnh đến cơquan đã cấp hộ chiếu đó để xác minh. Nội dung công văn yêu cầu xác minh cần nêurõ các dấu hiệu không bình thường nói trên. Nếu cơ quanxác minh trả lời không cấp hộ chiếu đó, thì cơ quan đại diện không cấp lại hộchiếu cho người đề nghị và yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xác để xem xét, giảiquyết theo hướng dẫn tại điểm 1 Mục này. Trường hợp được xem xét lại và giảiquyết, cơ quan đại diện thông báo rõ lý do giải quyết cho Cục lãnh sự và CụcQuản lý xuất nhập cảnh biết. Sau 45 ngàykể từ ngày cơ quan đại diện gửi yêu cầu xác minh mà không nhận được ý kiến trảlời của cơ quan cấp hộ chiếu, thì người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét,quyết định. Trường hợphộ chiếu có dấu hiệu không bình thường nêu trên, nếu người đề nghị cấp hộ chiếunộp hoặc xuất trình giấy tờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai docơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cơ quan đại diện giải quyết như quyđịnh tại điểm 3.2a Mục này. c) Đối vớihộ chiếu được cấp lại, cơ quan đại diện ghi chú vào hộ chiếu mới nội dung"Hộ chiếu này thay cho hộ chiếu số........., do.............cấpngày.......tháng........năm......." đồng thời cắt góc hộ chiếu cũ và trảcho người được cấp lại. 4. Việcgia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu. 4.1. Việcgia hạn hộ chiếu: a) Trongvòng 12 tháng trước khi hộ chiếu hết hạn, nếu có nhu cầu gia hạn hộ chiếu thìngười mang hộ chiếu phải nộp cho cơ quan đại diện tờ khai đề nghị gia hạn hộchiếu theo mẫu quy định, kèm theo hộ chiếu. b) Cơ quanđại diện giải quyết như sau: Nếu xác định hộ chiếu của người đề nghị gia hạncòn nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa ở trangnhân thân, không bị thay ảnh, thay trang hoặc khâu lại hộ chiếu, không thuộc trườnghợp quy định tại Mục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện gia hạn hộ chiếu. Nếu hộ chiếucủa người đề nghị gia hạn có dấu hiệu không bình thường như: bị tẩy xóa, sửachữa ở trang nhân thân, thay ảnh, thay trang, khâu lạihộ chiếu, thì cơ quan đại diện gửi công văn, kèm theo bản sao hộ chiếu và ảnhđến cơ quan đã cấp hộ chiếu để xác minh. Nội dung công văn yêu cầu xác minh cầnnêu rõ các dấu hiệu không bình thường nói trên. Nếu cơ quan xác minh trả lờikhông cấp hộ chiếu đó, thì cơ quan đại diện không gia hạn mà thu hồi hộ chiếuvà yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xác để xem xét, giải quyết theo hướng dẫntại điểm 1 Mục này. Trường hợp được xem xét lại và giải quyết, cơ quan đại diệnthông báo rõ lý do giải quyệt cho Cục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnhbiết. Trường hợphộ chiếu có dấu hiệu không bình thường nêu trên, nếu người đề nghị cấp hộ chiếunộp hoặc xuất trình giấy tờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai docơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, thì cơ quan đại diện xem xét, quyếtđịnh cấp hộ chiếu mới thay hộ chiếu cũ đã bị hư hỏng, không phải xác minh quacơ quan đã cấp hộ chiếu. Trường hợpphức tạp, cơ quan đại diện trao đổi với Cục Quản lý xuất nhập cảnh để phối hợpxử lý. Nếu hộ chiếu đã hết hạn sử dụng, hộ chiếu cấp cho người dưới 16 tuổi thìcơ quan đại diện không gia hạn mà hướng dẫn họ làm thủ tục cấp lại hộ chiếu vàgiải quyết theo quy định tại điểm 3 Mục này. 4.2. Việc bổsung, sửa đổi hộ chiếu: a) Người đềnghị bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phải nộp cho cơ quan đại diện tờ khai đề nghị bổsung, sửa đổi hộ chiếu theo mẫu quy định, kèm theo hộ chiếu. Những trườnghợp sau đây cần nộp thêm bản sao giấy tờ có giá từ pháp lý liên quan đến nộidung đề nghị bổ sung, sửa đổi, đồng thời xuất trình bản chính để đối chiếu: Bổ sung trẻem vào hộ chiếu của cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hoặc người đỡ đầu thì nộp bản saogiấy khai sinh của trẻ em đó hoặc bản sao quyết định của cấp có thẩm quyền côngnhận việc nuôi con nuôi hoặc đỡ đầu. Sửa đổi yếutố về nhân thân: họ, tên, tên đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh..., thì tùytrường hợp cụ thể mà nộp bản sao giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân hoặcbản sao quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nơi cư trú trước đây ở ViệtNam) cho phép thay đổi, cải chính họ, tên, tên đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơisinh.... b) Cơ quanđại điện giải quyết như sau: Nếu hộ chiếu của người đề nghị bổ sung sửa đổi cònnguyên vẹn, trang nhân thân không bị tẩy xóa, sửa chữa, không bị thay ảnh hoặcdán lại ảnh và yếu tố nhân thân ghi ở các loại giấy tờ trên chính xác,thì cơ quan đại diện bổ sung, sửa đổi trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngàynhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nếu không cócăn cứ xác định yếu tố nhân thân ghi ở các loại giấy tờ trên là chính xác,thì cơ quan đại diện không bổ sung, sửa đổi vào hộ chiếu. Nếu người đó tiếp tụcđề nghị bổ sung, sửa đổi, thì cơ quan đại diện gửi bản sao giấy tờ đó và nêu rõnhững yếu tố chưa chính xác hoặc nghi vấn về Cục Lãnh sự để xử lý theo quy địnhtại điểm 1.2b Mục này. Không bổsung trẻ em vào hộ chiếu của người không phải là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hoặcngười đỡ đầu; không bổ sung trẻ em không có quốc tịch Việt Nam vào hộ chiếu củacông dân Việt Nam. Sau khi bổsung, sửa đổi hộ chiếu, cơ quan đại diện thông báo cho cơ quan cấp hộ chiếubiết. 5. Việccấp giấy thông hành. 5.1. Giấythông hành cấp cho những trường hợp không có hộ chiếu sau đây để về nước: a) Bị chínhquyền nước sở tại trục xuất hoặc buộc xuất cảnh về Việt Nam; b) Phải về nướctheo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; c) Có nguyệnvọng được cấp giấy tờ để về nước. 5.2. Nhữngngười thuộc diện nêu tại điểm 5.1 Mục này, phải nộp cho cơ quan đại diện tờkhai đề nghị cấp giấy thông hành theo mẫu quy định và giấy tờ nêu tại điểm 1.1Mục này (nếu có) 5.3. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp nêu tại điểm 5.1a, cơ quan đại diện gửi yếu tố nhân thân, kèm theo ảnh vềCục lãnh sự. Cục Lãnh sự có trách nhiệm gửi các tài liệu này cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh để xác minh. Trên cơ sở kết quả xác minh của Cục Quản lý xuấtnhập cảnh, Cục Lãnh sự thông báo cho cơ quan đại diện giải quyết. b) Trườnghợp nêu tại điểm 5.1b, cơ quan có yêu cầu đưa đương sự về nước cần trao đổibằng văn bản với Cục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quanđại diện chỉ cấp giấy thông hành cho đương sự khi có thông báo của Cục Lãnh sựhoặc Cục Quản lý xuất nhập cảnh. c) Đối vớitrường hợp nêu tại điểm 5.1c, cơ quan đại diện xử lý như sau: Nếu có giấytờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, yếu tố nhân thân và nội dung kê khai đầy đủ,chính xác, không thuộc trường hợp quy định tại Mục III Thôngtư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sự hợp lệ, cơquan đại diện cấp giấy thông hành. Nếu không cógiấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, mà chỉ có bản khai sơ yếu lý lịch hoặcnội dung kê khai trong tờ khai có điểm nghi vấn, thì cơ quan đại diện thực hiệntheo quy định tại điểm l.2b Mục này. d) Đối vớitrường hợp quy định tại các điểm 1, 3, 4, 5 và 6 Mục III Thôngtư này, cơ quan đại diện chỉ cấp giấy thông hành khi có thông báo đồng ý củaCục Quản lý xuất nhập cảnh. đ) Đối vớingười được cấp giấy thông hành để về nước nêu tại điểm 5.1a và điểm 5.1b Mụcnày, cơ quan đại diện cung cấp kịp thời các thông tin về thời gian, phươngtiện, số hiệu chuyến bay và cửa khẩu nhập cảnh của đương sự cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh và Cục lãnh sự để phối hợp xử lý. III.TRƯỜNG HỢP CHƯA ĐƯỢC CẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI HỘ CHIẾU Những trườnghợp sau đây chưa được cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu: 1. Vì lý doan ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của Việt Nam, 2. Đang cưtrú ở nước ngoài theo quy chế tị nạn; 3. Quốc tịchnhân thân và các chi tiết kê khai không rõ ràng hoặc không có cơ sở để xác địnhnội dung kê khai là đúng sự thật; 4. Giả mạohồ sơ hoặc khai không dúng sự thật để được cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộchiếu; 5. Mua, bánhoặc cho người khác mượn và sử dụng hộ chiếu; 6. Cố ýlàm hư hỏng hộ chiếu. IV. TỔCHỨC THỰC HIỆN 1. Sau khicấp hộ chiếu, giấy thông hành, cơ quan đại diện có trách nhiệm thông báo kịpthời danh sách những người được cấp hộ chiếu, giấy thông hành, nêu rõ yếu tốnhân thân và chi tiết hộ chiếu, giấy thông hành về Cục Quản lý xuất nhập cảnhvà Cục Lãnh sự. 2. Khi pháthiện những trường hợp nêu tại Mục III Thông tư này đã được cấp hộ chiếu,nếu hộ chiếu đó do chính cơ quan đại diện cấp thì cơ quan đại diện thu hồi hoặcthông báo hủy giá trị sử dụng; nếu hộ chiếu đó do cơ quan khác cấp thì cơ quanđại diện thu giữ và gửi về cơ quan cấp. Ngay sau khithu hồi hoặc thu giữ hộ chiếu, cơ quan đại diện thông báo cho Cục Lãnh sự vàCục Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp xử lý. 2. Cục Quảnlý xuất nhập cảnh có trách nhiệm: a) Hướng dẫncông an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện công tác xác minh,báo cáo về các trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài đề nghị cấp gia hạn,sửa đổi, bổ sung hộ chiếu quy định tại Thông tư này. b) Hướng dẫnthực hiện quy định về việc thân nhân ở trong nước đề nghị xác nhận yếu tốnhân sự của người đề nghị cấp hộ chiếu. c) Ban hànhmẫu "Đơn đề nghị xác nhận yếu tố nhân sự", "Giấy xác nhận yếu tốnhân sự" và "Giấy chứng nhận nhân thân" d) Kịp thờitrao đổi với Cục Lãnh sự và cơ quan đại diện để giải quyết những vướng mắctrong quá trình thực hiện Thông tư này. Phối hợp với Cục Lãnh sự tổ chức kiểmtra, nắm tình hình việc thực hiện Thông tư này tại các cơ quan đại diện khi cóyêu cầu. 4. Cục Lãnhsự có trách nhiệm: a) Hướng dẫncác cơ quan đại diện và Sở Ngoại vụ thành phố Hồ ChíMinh thực hiện Thông tư này. b) Chủ trì,phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành các loại mẫu: "Tờ khai đềnghị cấp hộ chiếu"; "Tờ khai đề nghị gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộchiếu"; "Tờ khai đề nghị cấp giấy thông hành"; "Sơ yếu lýlịch". 5. Định kỳhàng năm, các cơ quan đại diện có trách nhiệm sơ kết việc thực hiện Thông tư nàygửi về Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Cục lãnh sự. 6. Thông tưnày có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-BNV-BNG ngày 19/5/1998 của Bộ Nội vụ - Bộ Ngoạigiao. Những quy định và hướng dẫn liên tịch trước đây của Bộ Côngan - Bộ Ngoại giao trái với Thông tư liên tịch này đềubãi bỏ./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=21890&Keyword=
2025-09-24T02:37:55.379664
../data\bocongan\032002TTLT-BCA-BNG\document.json
20/11/2009
THÔNGTƯ LIÊN TỊCH Hướngdẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo Nghị định số 05/2000/NĐ - CP ngày 03/3/2000 của Chínhphủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam: Thực hiệnNghị định số 05/2000/NĐ - CP ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnhcủa công dân Việt Nam Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫnviệc cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành chocông dân Việt Nam ở nước ngoài như sau: I. NHỮNGQUY ĐỊNH CHUNG 1. Thông tưnày hướng dẫn việc cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấythông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. 2. Việc cấpgiấy thông hành cho công dân Việt Nam ở những nước có ký Hiệp định hoặcThỏa thuận với Việt Nam về việc nhận trở lại công dân Việt Nam không được nướcngoài cho cư trú; người Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương theo Quyếtđịnh số 875/TTg ngày 21/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ không thuộc phạm viđiều chỉnh của Thông tư này. 3. Việc cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành cho công dânViệt Nam ở nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việccư trú, đi lại của công dân Việt Nam, nhưng phải đảm bảo chính xác và phục vụ đượcyêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. 4. Công dânViệt Nam ở nước ngoài đề nghị cấp, gia hạn, bổ sung, sửađổi hộ chiếu phải trực tiếp có mặt tại cơ quan khác đại diện ngoại giao, cơquan lãnh sự hoặc cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài được ủyquyền thực hiện chức năng lãnh sự (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện) đểnộp hồ sơ và nhận hộ chiếu. Trường hợp người đề nghị cấp, gia hạn, bổ sung, sửađổi hộ chiếu đang ở nước chưa có cơ quan đại diện hoặc vì ốm đaubệnh tật hoặc vì lý do đặc biệt khác mà không trực tiếp nộp hồ sơ hoặc nhận hộchiếu được thì những người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét, quyết định chonộp hoặc nhận thay trên cơ sở có đơn của người đề nghị. 5. Trườnghợp phức tạp về an ninh, cơ quan đại diện chỉ cấp hộ chiếu hoặc giấy thông hànhkhi có ý kiến đồng ý của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Côngan. 6. TrongThông tư này, những khái niệm sau đây được hiểu là: Giấy tờchứng minh có quốc tịch Việt Nam bao gồm: Giấy chứng nhận có quốc tịch ViệtNam; quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; quyết định cho trở lại quốc tịchViệt Nam; giấy chứng minh nhân dân và hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp. Giấy tờchứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp bao gồm: giấy chứng minh nhân dân; giấy chứng nhận nhân thân (theomẫu) có xác nhận của Trưởng công an cấp phường, xã nơi đăng ký nhân khẩu thườngtrú trước khi xuất cảnh; giấy xác nhận yếu tố nhân sự do Cục Quản lý xuất nhậpcảnh - Bộ Công an cấp; sơ yếu lý lịch có xác nhận của Thủtrưởng cơ quan có thẩm quyền, nếu người đó đang là cán bộ, viên chức nhà nướcthuộc quyền quản lý của cơ quan đó. Yếu tố nhânthân của người đề nghị cấp hộ chiếu bao gồm: họ tên khai sinh; ngày tháng nămsinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; địa chỉ hiện nay và địa chỉ thường trú ở trongnước trước khi xuất cảnh. Yếu tố nhânsự của người đề nghị cấp hộ chiếu bao gồm: yếu tố nhân thân, ảnh và thông tinvề thời gian, cửa khẩu, hình thức xuất cảnh chi tiết giấy tờ xuất nhập cảnh(loại giấy tờ, số, ngày và cơ quan cấp, thời hạn thân nhân đã hoặc đang sốngtại Việt Nam (họ tên, quan hệ, thời gian và địa chỉ thường trú), kể cả trườnghợp thân nhân đã chết. II. VIỆCCẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI HỘ CHIẾU VÀ GIẤY THÔNG HÀNH 1. Việccấp hộ chiếu cho những người chưa có hộ chiếu (cấp lần đầu). 1. 1. Hồ sơnộp tại cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đềnghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Bản sao giấytờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam; Bản sao giấytờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam cấp. Khi nộp bảnsao các giấy tờ trên thì xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu. Trườnghợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng nhận nhânthân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thìnộp sơ yếu lý lịch theo quy định. Đối với ngườiđã được nước sở tại cho cư trú thì nộp kèm theo giấy phép cư trú hợp lệ. Trườnghợp chưa dược nước sở tại cho cư trú thì trong tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cầnghi rõ nguồn gốc, thời gian, lý do và mục đích đến cư trú ở nướcsở tại kèm theo các giấy tờ chứng minh (nếu có). 1. 2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, các yếu tố nhân thân và nội dungkê khai đầy đủ, chính xác, không thuộc trường hợp quy định tại Mục III Thôngtư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơquan đại diện cấp hộ chiếu cho người đề nghị. b) Trườnghợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng nhận nhânthân, có ảnh đóng dấu giáp lai do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cơquan đại diện hướng dẫn người đề nghị cấp hộ chiếu khai sơ yếu lý lịch, nộp kèmtheo các giấy tờ có giá trị tham khảo về quốc tịch (phù hợp với pháp luật ViệtNam về quốc tịch). Cơ quan đại diện lập danh sách gồm các yếu tố nhân sự và ảnhcủa người đề nghị cấp hộ chiếu gửi về Cục Lãnh sự - Bộ Ngoạigiao. Cục Lãnh sự có trách nhiệm chuyển danh sách và ảnh đó cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh - Công an để xác minh về nhân thân và cơ quan chức năng của Bộ Tưpháp để xác minh về quốc tịch (tùy theo yêu cầu xác minh). Trong thời hạn 40ngày, kể từ ngày nhận được danh sách do Cục Lãnh sự chuyển, Cục Quản lý xuấtnhập cảnh và cơ quan chức năng của Bộ Tư pháp có trách nhiệm xem xét trảlời Cục Lãnh sự để Cục Lãnh sự trả lời cơ quan đại diện. Cơ quanđại diện xem xét, giải quyết và trả lời cho người đề nghị cấp hộ chiếu trongthời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục lãnh sự. 1. 3. Thânnhân ở Việt Nam của người đề nghị cấp hộ chiếu (cha, mẹ, vợ, chồng, con, ông bà nội ngoại, anh chị em ruột hoặc chú, bác, cô, dìruột) có thể trực tiếp đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuấtnhập cảnh công an tỉnh, thành phố nơi cư trú đề nghị xác nhận yếu tố nhân sựcủa người đề nghị cấp hộ chiếu. Trong thờihạn 40 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét và cóvăn bản trả lời, đồng thời thông báo cho cơ quan đại diện. Khi công dânViệt Nam ở nước ngoài nộp tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu, kèmtheo giấy tờ xác nhận yếu tố nhân sự của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, thì trongthời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ nêu trên, cơ quan đạidiện xem xét, quyết định. 1. 4. Việccấp hộ chiếu cho các trường hợp đặc biệt khác, cơ quan đại diện báo cáo Bộ Ngoạigiao để Bộ Ngoại giao xem xét, quyết định, sau khi có ýkiến của Bộ Công an xác nhận không có vấn đề về mặt an ninhvà đảm bảo nguyên tắc chỉ cấp hộ chiếu cho công dân Việt Nam. 2. Việccấp lại hộ chiếu do bị mất. 2. 1. Hồ sơnộp tại cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Đơn trìnhbáo mất hộ chiếu có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại, nơi ngườiđó trình báo. 2. 2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Sau khinhận được đơn trình báo mất hộ chiếu, cơ quan đại diện có trách nhiệm thông báokịp thời yếu tố nhân sự cho: Cơ quan đãcấp hộ chiếu đó để kiểm tra và hủy giá trị sử dụng của hộ chiếu này; Cục Quảnlý xuất nhập cảnh để thông báo các cửa khẩu; Cơ quan cóchức năng quản lý xuất nhập cảnh của nước sở tại. b) Trườnghợp hộ chiếu bị mất do chính cơ quan đại diện cấp, cơ quan đại diện kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ lưu hoặc hồ sơ đăng ký công dân, nếu xác định yếu tố nhânsự mà người đề nghị cấp lại hộ chiếu khai là chính xác, không thuộc trường hợpquy định tại Mục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việckể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện cấp lại hộ chiếu. c) Những trườnghợp khác, cơ quan đại diện gửi yếu tố nhân sự, kèm theo ảnh của người đề nghịcấp lại hộ chiếu đến cơ quan đã cấp hộ chiếu bộ mất để xác minh. Nếu cơ quanđược yêu cầu xác minh xác nhận có cấp hộ chiếu đó, thì trong thời hạn 5 ngàylàm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, cơ quan đại diện cấp lại hộchiếu. Nếu cơ quanđược yêu cầu xác minh trả lời không cấp hộ chiếu đã khai mất, thì cơ quan đạidiện không cấp lại hộ chiếu cho người đó và yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xácđể xem xét, giải quyết theo hướng dẫn tại điểm 1 Mục này. Trường hợp đượcxem xét lại và giải quyết, cơ quan đại diện thông báo rõ lý do giải quyết choCục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnh biết. Sau 45 ngàykể từ ngày cơ quan đại diện gửi yêu cầu xác minh mà không nhận được ý kiến trảlời của cơ quan cấp hộ chiếu, thì người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét, quyết định. 2. 3. Thânnhân ở Việt Nam của người đề nghị cấp lại hộ chiếu(cha, mẹ, vợ, chồng, con, ông bà nội ngoại, anh chị em ruột hoặc chú, bác, cô, dì ruột) có thể trực tiếp đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lýxuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố nơi cư trú đề nghị xác nhận yếu tố nhânsự của người đề nghị cấp lại hộ chiếu. Trong thờihạn 40 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét và cóvăn bản trả lời, đồng thời thông báo cho cơ quan đại diện. Khi công dânViệt Nam ở nước ngoài nộp tờ khai đề nghị cấp lại hộ chiếu, kèm theo giấy tờ xác nhận yếu tố nhân sự của người đó do Cục Quản lý xuất nhậpcảnh cấp, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện xem xét, quyết định. 3. Việccấp lại hộ chiếu do bị hư hỏng (rách, bẩn, . .), hết trang hoặc hết hạn sử dụng. 3. 1. Hồ sơnộp cho cơ quan đại diện gồm: Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu và ảnh theo quy định; Hộ chiếu bịhư hỏng, hết trang hoặc hết hạn sử dụng. 3. 2. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp hộ chiếu bị hư hỏng, hết trang hoặc hết hạn sử dụng, nhưng trang nhân thânvà ảnh còn nguyên vẹn, không bị tẩy xóa, hoặc đối chiếu ảnh trong tờ khai vàtrong hộ chiếu cũ đúng với người đề nghị, không thuộc trường hợp quy định tạiMục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việckể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện cấp lại hộ chiếu. b) Trườnghợp hộ chiếu có dấu hiệu không bình thường như: bị tẩy xóa, sửa chữa tại trangnhân thân, thay ảnh, thay trang, khâu lại hộ chiếu, ảnh trong hộ chiếu bị mờ, bong. . , cơ quan đại diện gửi công văn, kèm theo bản sao hộ chiếu và ảnh đến cơquan đã cấp hộ chiếu đó để xác minh. Nội dung công văn yêu cầu xác minh cần nêurõ các dấu hiệu không bình thường nói trên. Nếu cơ quanxác minh trả lời không cấp hộ chiếu đó, thì cơ quan đại diện không cấp lại hộchiếu cho người đề nghị và yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xác để xem xét, giảiquyết theo hướng dẫn tại điểm 1 Mục này. Trường hợp được xem xét lại và giảiquyết, cơ quan đại diện thông báo rõ lý do giải quyết cho Cục lãnh sự và CụcQuản lý xuất nhập cảnh biết. Sau 45 ngàykể từ ngày cơ quan đại diện gửi yêu cầu xác minh mà không nhận được ý kiến trảlời của cơ quan cấp hộ chiếu, thì người đứng đầu cơ quan đại diện xem xét, quyết định. Trường hợphộ chiếu có dấu hiệu không bình thường nêu trên, nếu người đề nghị cấp hộ chiếunộp hoặc xuất trình giấy tờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai docơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cơ quan đại diện giải quyết như quyđịnh tại điểm 3. 2a Mục này. c) Đối vớihộ chiếu được cấp lại, cơ quan đại diện ghi chú vào hộ chiếu mới nội dung"Hộ chiếu này thay cho hộ chiếu số. . . . . , do. . . . . . . cấpngày. . . . tháng. . . . .năm. . . . " đồng thời cắt góc hộ chiếu cũ và trảcho người được cấp lại. 4. Việcgia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu. 4. 1. Việcgia hạn hộ chiếu: a) Trongvòng 12 tháng trước khi hộ chiếu hết hạn, nếu có nhu cầu gia hạn hộ chiếu thìngười mang hộ chiếu phải nộp cho cơ quan đại diện tờ khai đề nghị gia hạn hộchiếu theo mẫu quy định, kèm theo hộ chiếu. b) Cơ quanđại diện giải quyết như sau: Nếu xác định hộ chiếu của người đề nghị gia hạncòn nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa ở trangnhân thân, không bị thay ảnh, thay trang hoặc khâu lại hộ chiếu, không thuộc trườnghợp quy định tại Mục III Thông tư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện gia hạn hộ chiếu. Nếu hộ chiếucủa người đề nghị gia hạn có dấu hiệu không bình thường như: bị tẩy xóa, sửachữa ở trang nhân thân, thay ảnh, thay trang, khâu lạihộ chiếu, thì cơ quan đại diện gửi công văn, kèm theo bản sao hộ chiếu và ảnhđến cơ quan đã cấp hộ chiếu để xác minh. Nội dung công văn yêu cầu xác minh cầnnêu rõ các dấu hiệu không bình thường nói trên. Nếu cơ quan xác minh trả lờikhông cấp hộ chiếu đó, thì cơ quan đại diện không gia hạn mà thu hồi hộ chiếuvà yêu cầu khai báo rõ ràng, chính xác để xem xét, giải quyết theo hướng dẫntại điểm 1 Mục này. Trường hợp được xem xét lại và giải quyết, cơ quan đại diệnthông báo rõ lý do giải quyệt cho Cục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnhbiết. Trường hợphộ chiếu có dấu hiệu không bình thường nêu trên, nếu người đề nghị cấp hộ chiếunộp hoặc xuất trình giấy tờ chứng nhận nhân thân, có ảnh đóng dấu giáp lai docơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, thì cơ quan đại diện xem xét, quyếtđịnh cấp hộ chiếu mới thay hộ chiếu cũ đã bị hư hỏng, không phải xác minh quacơ quan đã cấp hộ chiếu. Trường hợpphức tạp, cơ quan đại diện trao đổi với Cục Quản lý xuất nhập cảnh để phối hợpxử lý. Nếu hộ chiếu đã hết hạn sử dụng, hộ chiếu cấp cho người dưới 16 tuổi thìcơ quan đại diện không gia hạn mà hướng dẫn họ làm thủ tục cấp lại hộ chiếu vàgiải quyết theo quy định tại điểm 3 Mục này. 4. 2. Việc bổsung, sửa đổi hộ chiếu: a) Người đềnghị bổ sung, sửa đổi hộ chiếu phải nộp cho cơ quan đại diện tờ khai đề nghị bổsung, sửa đổi hộ chiếu theo mẫu quy định, kèm theo hộ chiếu. Những trườnghợp sau đây cần nộp thêm bản sao giấy tờ có giá từ pháp lý liên quan đến nộidung đề nghị bổ sung, sửa đổi, đồng thời xuất trình bản chính để đối chiếu: Bổ sung trẻem vào hộ chiếu của cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hoặc người đỡ đầu thì nộp bản saogiấy khai sinh của trẻ em đó hoặc bản sao quyết định của cấp có thẩm quyền côngnhận việc nuôi con nuôi hoặc đỡ đầu. Sửa đổi yếutố về nhân thân: họ, tên, tên đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh. . , thì tùytrường hợp cụ thể mà nộp bản sao giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân hoặcbản sao quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nơi cư trú trước đây ở ViệtNam) cho phép thay đổi, cải chính họ, tên, tên đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơisinh. . . b) Cơ quanđại điện giải quyết như sau: Nếu hộ chiếu của người đề nghị bổ sung sửa đổi cònnguyên vẹn, trang nhân thân không bị tẩy xóa, sửa chữa, không bị thay ảnh hoặcdán lại ảnh và yếu tố nhân thân ghi ở các loại giấy tờ trên chính xác, thì cơ quan đại diện bổ sung, sửa đổi trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngàynhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nếu không cócăn cứ xác định yếu tố nhân thân ghi ở các loại giấy tờ trên là chính xác, thì cơ quan đại diện không bổ sung, sửa đổi vào hộ chiếu. Nếu người đó tiếp tụcđề nghị bổ sung, sửa đổi, thì cơ quan đại diện gửi bản sao giấy tờ đó và nêu rõnhững yếu tố chưa chính xác hoặc nghi vấn về Cục Lãnh sự để xử lý theo quy địnhtại điểm 1. 2b Mục này. Không bổsung trẻ em vào hộ chiếu của người không phải là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hoặcngười đỡ đầu; không bổ sung trẻ em không có quốc tịch Việt Nam vào hộ chiếu củacông dân Việt Nam. Sau khi bổsung, sửa đổi hộ chiếu, cơ quan đại diện thông báo cho cơ quan cấp hộ chiếubiết. 5. Việccấp giấy thông hành. 5. 1. Giấythông hành cấp cho những trường hợp không có hộ chiếu sau đây để về nước: a) Bị chínhquyền nước sở tại trục xuất hoặc buộc xuất cảnh về Việt Nam; b) Phải về nướctheo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; c) Có nguyệnvọng được cấp giấy tờ để về nước. 5. 2. Nhữngngười thuộc diện nêu tại điểm 5. 1 Mục này, phải nộp cho cơ quan đại diện tờkhai đề nghị cấp giấy thông hành theo mẫu quy định và giấy tờ nêu tại điểm 1. 1Mục này (nếu có) 5. 3. Cơ quanđại diện giải quyết như sau: a) Trườnghợp nêu tại điểm 5. 1a, cơ quan đại diện gửi yếu tố nhân thân, kèm theo ảnh vềCục lãnh sự. Cục Lãnh sự có trách nhiệm gửi các tài liệu này cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh để xác minh. Trên cơ sở kết quả xác minh của Cục Quản lý xuấtnhập cảnh, Cục Lãnh sự thông báo cho cơ quan đại diện giải quyết. b) Trườnghợp nêu tại điểm 5. 1b, cơ quan có yêu cầu đưa đương sự về nước cần trao đổibằng văn bản với Cục Lãnh sự và Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quanđại diện chỉ cấp giấy thông hành cho đương sự khi có thông báo của Cục Lãnh sựhoặc Cục Quản lý xuất nhập cảnh. c) Đối vớitrường hợp nêu tại điểm 5. 1c, cơ quan đại diện xử lý như sau: Nếu có giấytờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, yếu tố nhân thân và nội dung kê khai đầy đủ, chính xác, không thuộc trường hợp quy định tại Mục III Thôngtư này, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sự hợp lệ, cơquan đại diện cấp giấy thông hành. Nếu không cógiấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, mà chỉ có bản khai sơ yếu lý lịch hoặcnội dung kê khai trong tờ khai có điểm nghi vấn, thì cơ quan đại diện thực hiệntheo quy định tại điểm l. 2b Mục này. d) Đối vớitrường hợp quy định tại các điểm 1, 3, 4, 5 và 6 Mục III Thôngtư này, cơ quan đại diện chỉ cấp giấy thông hành khi có thông báo đồng ý củaCục Quản lý xuất nhập cảnh. đ) Đối vớingười được cấp giấy thông hành để về nước nêu tại điểm 5. 1a và điểm 5. 1b Mụcnày, cơ quan đại diện cung cấp kịp thời các thông tin về thời gian, phươngtiện, số hiệu chuyến bay và cửa khẩu nhập cảnh của đương sự cho Cục Quản lýxuất nhập cảnh và Cục lãnh sự để phối hợp xử lý. III. TRƯỜNG HỢP CHƯA ĐƯỢC CẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI HỘ CHIẾU Những trườnghợp sau đây chưa được cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộ chiếu: 1. Vì lý doan ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của Việt Nam, 2. Đang cưtrú ở nước ngoài theo quy chế tị nạn; 3. Quốc tịchnhân thân và các chi tiết kê khai không rõ ràng hoặc không có cơ sở để xác địnhnội dung kê khai là đúng sự thật; 4. Giả mạohồ sơ hoặc khai không dúng sự thật để được cấp, gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộchiếu; 5. Mua, bánhoặc cho người khác mượn và sử dụng hộ chiếu; 6. Cố ýlàm hư hỏng hộ chiếu. IV. TỔCHỨC THỰC HIỆN 1. Sau khicấp hộ chiếu, giấy thông hành, cơ quan đại diện có trách nhiệm thông báo kịpthời danh sách những người được cấp hộ chiếu, giấy thông hành, nêu rõ yếu tốnhân thân và chi tiết hộ chiếu, giấy thông hành về Cục Quản lý xuất nhập cảnhvà Cục Lãnh sự. 2. Khi pháthiện những trường hợp nêu tại Mục III Thông tư này đã được cấp hộ chiếu, nếu hộ chiếu đó do chính cơ quan đại diện cấp thì cơ quan đại diện thu hồi hoặcthông báo hủy giá trị sử dụng; nếu hộ chiếu đó do cơ quan khác cấp thì cơ quanđại diện thu giữ và gửi về cơ quan cấp. Ngay sau khithu hồi hoặc thu giữ hộ chiếu, cơ quan đại diện thông báo cho Cục Lãnh sự vàCục Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp xử lý. 2. Cục Quảnlý xuất nhập cảnh có trách nhiệm: a) Hướng dẫncông an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện công tác xác minh, báo cáo về các trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài đề nghị cấp gia hạn, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu quy định tại Thông tư này. b) Hướng dẫnthực hiện quy định về việc thân nhân ở trong nước đề nghị xác nhận yếu tốnhân sự của người đề nghị cấp hộ chiếu. c) Ban hànhmẫu "Đơn đề nghị xác nhận yếu tố nhân sự", "Giấy xác nhận yếu tốnhân sự" và "Giấy chứng nhận nhân thân" d) Kịp thờitrao đổi với Cục Lãnh sự và cơ quan đại diện để giải quyết những vướng mắctrong quá trình thực hiện Thông tư này. Phối hợp với Cục Lãnh sự tổ chức kiểmtra, nắm tình hình việc thực hiện Thông tư này tại các cơ quan đại diện khi cóyêu cầu. 4. Cục Lãnhsự có trách nhiệm: a) Hướng dẫncác cơ quan đại diện và Sở Ngoại vụ thành phố Hồ ChíMinh thực hiện Thông tư này. b) Chủ trì, phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành các loại mẫu: "Tờ khai đềnghị cấp hộ chiếu"; "Tờ khai đề nghị gia hạn, bổ sung, sửa đổi hộchiếu"; "Tờ khai đề nghị cấp giấy thông hành"; "Sơ yếu lýlịch". 5. Định kỳhàng năm, các cơ quan đại diện có trách nhiệm sơ kết việc thực hiện Thông tư nàygửi về Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Cục lãnh sự. 6. Thông tưnày có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT - BNV - BNG ngày 19/5/1998 của Bộ Nội vụ - Bộ Ngoạigiao. Những quy định và hướng dẫn liên tịch trước đây của Bộ Côngan - Bộ Ngoại giao trái với Thông tư liên tịch này đềubãi bỏ. /.
Tam thoi
03/2002/TTLT/BXD-BCA
30/05/2002
Thông tư liên tịch
null
null
null
Bộ Xây dựng
null
null
null
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=24775&Keyword=
2025-09-24T02:37:51.363700
../data\bocongan\032002TTLTBXD-BCA\document.json
null
Hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe
03/2003/TTLT-BCA-BGTVT
27/01/2003
Thông tư liên tịch
27/01/2003
Công báo số 15/2003;
15/03/2003
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe ____________________________ Thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, liên Bộ Công an - Giao thông vận tải hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe, để quản lý người điểu khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ mà theo quy định của pháp luật, hành vi đó có mức cao nhất của khung tiền phạt từ 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) trở lên thì ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính còn bị đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó. 2. Đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: Việc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe được thực hiện bằng cách bấm lỗ (có hình tròn, đường kính 4,5 mm) vào vị trí quy định trên giấy phép lái xe. 3. Nguyên tắc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: a) Mỗi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ tại điểm 1 nêu trên bị bấm một lỗ trên giấy phép lái xe; trường hợp cùng một lúc vi phạm từ hai hành vi vi phạm trở lên và theo quy định của pháp luật, các hành vi đó đều bị bấm lỗ thì cũng chỉ bấm một lỗ trên giấy phép lái xe; b) Giấy phép lái xe bị bấm đến lỗ thứ ba thì hết giá trị sử dụng và bị thu hồi; c) Đối với hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn thì không cần phải bấm lỗ. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Vị trí bấm lỗ trên giấy phép lái xe: a) Vị trí bấm lỗ trên giấy phép lái xe nằm trên đường kẻ viền ngoài, phía bên phải mặt sau giấy phép lái xe và bấm theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau: Lỗ thứ nhất ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng A 2 và A 3 ; Lỗ thứ hai ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng B 1 và B 2 ; Lỗ thứ ba ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng D và E; b) Giấy phép lái xe có quy định vị trí đánh dấu, thì bấm lỗ vào đúng vị trí đó. 2. Thẩm quyền đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: Người có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ nêu tại điểm 1 phần I Thông tư này thuộc lực lượng cảnh sát giao thông quyết định việc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe. 3. Xử lý giấy phép lái xe bị đánh dấu: a) Khi người vi phạm thi hành xong quyết định xử phạt, thì tiến hành bấm lỗ, ghi rõ ngày tháng năm bấm lỗ vào quyết định xử phạt. Trường hợp giấy phép lái xe bị bấm lỗ lần thứ ba, cơ quan cảnh sát giao thông (nơi bấm lỗ lần thứ ba) tạm giữ giấy phép lái xe và thông báo bằng văn bản cho Cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở giao thông vận tải (giao thông công chính) nơi quản lý biết để phối hợp và báo cáo Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt. b) Sau 12 tháng kể từ ngày bấm lỗ lần thứ ba, người vi phạm mới được sát hạch để cấp lại giấy phép lái xe theo quy định. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Bộ Công an hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện việc đánh dấu vi phạm pháp luật giao thông đường bộ theo quy định của Thông tư liên tịch này; hàng tháng thông báo các trường hợp bấm lỗ lần thứ ba cho cơ quan chức năng của ngành Giao thông vận tải biết để phối hợp. 2. Cục Đường bộ Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện theo đúng các quy định của Thông tư liên tịch này; tiếp nhận, theo dõi các trường hợp bị bấm lỗ lần thứ ba do Cảnh sát giao thông thông báo để quản lý. Đồng thời, hàng tháng thông báo cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt về các trường hợp bấm lỗ lần thứ ba đã được giải quyết sát hạch cấp lại giấy phép lái xe. 3. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt chủ trì, phối hợp với Cục Đường bộ Việt Nam hướng dẫn thống nhất mẫu thông báo để áp dụng cho các trường hợp quy định tại điểm 2, điểm 3 nêu trên. 4. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, cần phản ảnh kịp thời về liên Bộ Công an - Giao thông vận tải (qua Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Cục Đường bộ Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=19258&Keyword=
2025-09-24T02:37:45.679348
../data\bocongan\032003TTLT-BCA-BGTVT\document.json
01/08/2007
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe ____________________________ Thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ - CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, liên Bộ Công an - Giao thông vận tải hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe, để quản lý người điểu khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ mà theo quy định của pháp luật, hành vi đó có mức cao nhất của khung tiền phạt từ 200. 000 đồng (hai trăm ngàn đồng) trở lên thì ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính còn bị đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó. 2. Đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: Việc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe được thực hiện bằng cách bấm lỗ (có hình tròn, đường kính 4, 5 mm) vào vị trí quy định trên giấy phép lái xe. 3. Nguyên tắc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: a) Mỗi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ tại điểm 1 nêu trên bị bấm một lỗ trên giấy phép lái xe; trường hợp cùng một lúc vi phạm từ hai hành vi vi phạm trở lên và theo quy định của pháp luật, các hành vi đó đều bị bấm lỗ thì cũng chỉ bấm một lỗ trên giấy phép lái xe; b) Giấy phép lái xe bị bấm đến lỗ thứ ba thì hết giá trị sử dụng và bị thu hồi; c) Đối với hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn thì không cần phải bấm lỗ. II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Vị trí bấm lỗ trên giấy phép lái xe: a) Vị trí bấm lỗ trên giấy phép lái xe nằm trên đường kẻ viền ngoài, phía bên phải mặt sau giấy phép lái xe và bấm theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau: Lỗ thứ nhất ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng A 2 và A 3; Lỗ thứ hai ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng B 1 và B 2; Lỗ thứ ba ở giao điểm giữa đường kẻ viền ngoài với đường kẻ phân chia hạng D và E; b) Giấy phép lái xe có quy định vị trí đánh dấu, thì bấm lỗ vào đúng vị trí đó. 2. Thẩm quyền đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe: Người có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ nêu tại điểm 1 phần I Thông tư này thuộc lực lượng cảnh sát giao thông quyết định việc đánh dấu vi phạm trên giấy phép lái xe. 3. Xử lý giấy phép lái xe bị đánh dấu: a) Khi người vi phạm thi hành xong quyết định xử phạt, thì tiến hành bấm lỗ, ghi rõ ngày tháng năm bấm lỗ vào quyết định xử phạt. Trường hợp giấy phép lái xe bị bấm lỗ lần thứ ba, cơ quan cảnh sát giao thông (nơi bấm lỗ lần thứ ba) tạm giữ giấy phép lái xe và thông báo bằng văn bản cho Cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở giao thông vận tải (giao thông công chính) nơi quản lý biết để phối hợp và báo cáo Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt. b) Sau 12 tháng kể từ ngày bấm lỗ lần thứ ba, người vi phạm mới được sát hạch để cấp lại giấy phép lái xe theo quy định. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Bộ Công an hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện việc đánh dấu vi phạm pháp luật giao thông đường bộ theo quy định của Thông tư liên tịch này; hàng tháng thông báo các trường hợp bấm lỗ lần thứ ba cho cơ quan chức năng của ngành Giao thông vận tải biết để phối hợp. 2. Cục Đường bộ Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện theo đúng các quy định của Thông tư liên tịch này; tiếp nhận, theo dõi các trường hợp bị bấm lỗ lần thứ ba do Cảnh sát giao thông thông báo để quản lý. Đồng thời, hàng tháng thông báo cho Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt về các trường hợp bấm lỗ lần thứ ba đã được giải quyết sát hạch cấp lại giấy phép lái xe. 3. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt chủ trì, phối hợp với Cục Đường bộ Việt Nam hướng dẫn thống nhất mẫu thông báo để áp dụng cho các trường hợp quy định tại điểm 2, điểm 3 nêu trên. 4. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, cần phản ảnh kịp thời về liên Bộ Công an - Giao thông vận tải (qua Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Cục Đường bộ Việt Nam) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS
03/2004/TTLT-BCA-BTC-BNV-BLĐTBXH
04/02/2004
Thông tư liên tịch
06/03/2004
Số 11
20/02/2004
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Khánh Toàn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS ___________________________ Thi hành Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS, liên tịch Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện như sau: I. CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP 1. Đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp: Cán bộ y tế, quản giáo, cán bộ giáo dục và dạy nghề, Trưởng phân trại, Trưởng phân khu, trinh sát, cảnh sát bảo vệ công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và giáo viên chủ nhiệm lớp trong các trường giáo dưỡng thuộc lực lượng Công an nhân dân thường xuyên (hàng ngày) trực tiếp tiếp xúc với những đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS tại các đơn vị nói trên. 2. Mức phụ cấp: - Mức 120.000 đồng/người/tháng: Áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1 Mục I Thông tư liên tịch này đang công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS từ 10% trở lên. - Mức 100.000 đồng/người/tháng: Áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1 Mục I Thông tư liên tịch này đang công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS dưới 10% . Tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS được xác định trên cơ sở số lượng đối tượng đã được cơ quan y tế dự phòng cấp tỉnh nơi đơn vị trú đóng xét nghiệm, xác nhận bị nhiễm HIV/AIDS trên tổng số phạm nhân, trại viên, học sinh có mặt ở đơn vị tại thời điểm báo cáo. 3. Nguyên tắc chi trả: Mức phụ cấp quy định tại điểm 2 Mục I Thông tư liên tịch này chỉ được chi trả cho cán bộ, chiến sĩ trong thời gian trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh cho đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (dưới đây gọi tắt là thời gian làm công việc được hưởng phụ cấp). 4. Cách tính trả: Mức phụ cấp nói trên được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Trường hợp đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp (nêu tại điểm 1 Mục I) làm công việc được hưởng phụ cấp không trọn tháng thì cách tính chi trả như sau: - Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian từ 16 ngày trở lên/tháng thì được hưởng 100% mức phụ cấp. - Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian dưới 16 ngày/tháng thì được hưởng 50% mức phụ cấp. II. CHẾ ĐỘ VÀ THỦ TỤC, HỒ SƠ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN NHÂN DÂN BỊ NHIỄM HIV/AIDS TRONG KHI THI HÀNH NHIỆM VỤ 1. Cán bộ, chiến sĩ Công an trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà da hoặc niêm mạc của họ bị tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch sinh học của đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (phơi nhiễm với HIV) thì đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ đó phải lập biên bản xảy ra sự việc (do Thủ trưởng đơn vị hoặc đại diện chính quyền địa phương nơi xảy ra sự việc ký, đóng dấu) để lưu vào hồ sơ; đồng thời tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đó đến cơ quan y tế để xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV. Chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an bị phơi nhiễm HIV thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức bị phơi nhiễm HIV. 2. Cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này khi có kết luận chính thức của cơ quan y tế có thẩm quyền bị nhiễm vi rút HIV (kết quả xét nghiệm là dương tính) thì được hưởng chế độ, chính sách như sau: - Được đơn vị bố trí công việc phù hợp. - Được ưu tiên khám, chữa bệnh, ưu tiên cung cấp thuốc điều trị khác, tại các cơ sở y tế của Nhà nước và của Bộ Công an; được cấp thuốc điều trị đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng, thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV/AIDS gây ra, theo hướng dẫn của Bộ Y tế. - Được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp, bồi dưỡng khác đang hưởng (nếu có) trong thời gian khám, điều trị bệnh. - Được hưởng chính sách bệnh binh khi đủ điều kiện quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. - Khi từ trần được đề nghị xét công nhận liệt sĩ theo quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. 3. Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sĩ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS nêu tại điểm 1 mục II Thông tư liên tịch này. a) Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh: - Hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh do Công an các cấp trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ bị nhiễm HIV/AIDS lập, báo cáo về Bộ Công an, gồm có: + Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này). + Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. + Phiếu cá nhân. + Biên bản giám định bệnh tật. - Căn cứ hồ sơ đề nghị của Công an các cấp nói ở phần trên, Bộ Công an xem xét, cấp giấy chứng nhận bệnh binh, phiếu trợ cấp bệnh binh cho cán bộ, chiến sĩ và giải quyết quyền lợi bệnh binh theo quy định tại điểm 2 Mục II Phần C Thông tư liên tịch số 16/1998/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BCA, ngày 25/11/1998 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng - Bộ Công an hướng dẫn một số điểm về việc công nhận và giải quyết quyền lợi đối với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh. b) Thủ tục, hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sĩ: - Hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sĩ: + Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này). + Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. + Phiếu cá nhân. + Bệnh án điều trị và giấy chứng tử của bệnh viện, bệnh xá hoặc trung tâm y tế nơi cán bộ, chiến sĩ chữa trị. Trường hợp từ trần tại gia đình, ngoài bệnh án điều trị phải có thêm xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi cư trú về trường hợp tử vong. + Giấy báo tử do Thủ trưởng Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc cấp tương đương ký. + Giấy chứng nhận về thân nhân của cán bộ, chiến sĩ được đề nghị xét công nhận liệt sĩ do Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi thân nhân cư trú lập. - Cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ lưu giữ 01 bộ hồ sơ và có trách nhiệm theo dõi và bàn giao hồ sơ đề nghị công nhận liệt sĩ và giải quyết quyền lợi liệt sĩ cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sĩ cư trú, cho đến khi giải quyết xong quyền lợi cho liệt sĩ. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Bộ Công an có trách nhiệm theo dõi, kiểm định tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS hiện đang quản lý, giam giữ trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và kiểm tra việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an theo quy định tại Thông tư liên tịch này. 2. Trên cơ sở tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đã được xác định, định kỳ 06 tháng một lần Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Công an quyết định số lượng cán bộ, chiến sĩ được hưởng chế độ phụ cấp ở từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. 3. Nguồn chi trả chế độ phụ cấp cho cán bộ, chiến sĩ Công an bị nhiễm HIV/AIDS theo quy định tại Thông tư này do nguồn ngân sách nhà nước cấp trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Riêng kinh phí để thực hiện chế độ năm 2003, Bộ Công an thống nhất với Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ cấp bổ sung. 4. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trong quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám, chữa bệnh với đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng mà bị nhiễm HIV/AIDS trước ngày Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thì cũng được giải quyết chế độ bệnh binh, liệt sĩ quy định tại Mục II Thông tư liên tịch này. 5. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các chế độ quy định tại Thông tư liên tịch này được thực hiện từ ngày 01 tháng 3 năm 2003. 6. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để nghiên cứu, giải quyết.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=85493&Keyword=
2025-09-24T02:37:36.204798
../data\bocongan\032004TTLT-BCA-BTC-BNV-BLĐTBXH\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS ___________________________ Thi hành Quyết định số 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS, liên tịch Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện như sau: I. CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP 1. Đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp: Cán bộ y tế, quản giáo, cán bộ giáo dục và dạy nghề, Trưởng phân trại, Trưởng phân khu, trinh sát, cảnh sát bảo vệ công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và giáo viên chủ nhiệm lớp trong các trường giáo dưỡng thuộc lực lượng Công an nhân dân thường xuyên (hàng ngày) trực tiếp tiếp xúc với những đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS tại các đơn vị nói trên. 2. Mức phụ cấp: - Mức 120. 000 đồng/người/tháng: Áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1 Mục I Thông tư liên tịch này đang công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS từ 10% trở lên. - Mức 100. 000 đồng/người/tháng: Áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1 Mục I Thông tư liên tịch này đang công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS dưới 10%. Tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS được xác định trên cơ sở số lượng đối tượng đã được cơ quan y tế dự phòng cấp tỉnh nơi đơn vị trú đóng xét nghiệm, xác nhận bị nhiễm HIV/AIDS trên tổng số phạm nhân, trại viên, học sinh có mặt ở đơn vị tại thời điểm báo cáo. 3. Nguyên tắc chi trả: Mức phụ cấp quy định tại điểm 2 Mục I Thông tư liên tịch này chỉ được chi trả cho cán bộ, chiến sĩ trong thời gian trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh cho đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (dưới đây gọi tắt là thời gian làm công việc được hưởng phụ cấp). 4. Cách tính trả: Mức phụ cấp nói trên được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Trường hợp đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp (nêu tại điểm 1 Mục I) làm công việc được hưởng phụ cấp không trọn tháng thì cách tính chi trả như sau: - Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian từ 16 ngày trở lên/tháng thì được hưởng 100% mức phụ cấp. - Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian dưới 16 ngày/tháng thì được hưởng 50% mức phụ cấp. II. CHẾ ĐỘ VÀ THỦ TỤC, HỒ SƠ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN NHÂN DÂN BỊ NHIỄM HIV/AIDS TRONG KHI THI HÀNH NHIỆM VỤ 1. Cán bộ, chiến sĩ Công an trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà da hoặc niêm mạc của họ bị tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch sinh học của đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (phơi nhiễm với HIV) thì đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ đó phải lập biên bản xảy ra sự việc (do Thủ trưởng đơn vị hoặc đại diện chính quyền địa phương nơi xảy ra sự việc ký, đóng dấu) để lưu vào hồ sơ; đồng thời tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đó đến cơ quan y tế để xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV. Chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an bị phơi nhiễm HIV thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức bị phơi nhiễm HIV. 2. Cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này khi có kết luận chính thức của cơ quan y tế có thẩm quyền bị nhiễm vi rút HIV (kết quả xét nghiệm là dương tính) thì được hưởng chế độ, chính sách như sau: - Được đơn vị bố trí công việc phù hợp. - Được ưu tiên khám, chữa bệnh, ưu tiên cung cấp thuốc điều trị khác, tại các cơ sở y tế của Nhà nước và của Bộ Công an; được cấp thuốc điều trị đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng, thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV/AIDS gây ra, theo hướng dẫn của Bộ Y tế. - Được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp, bồi dưỡng khác đang hưởng (nếu có) trong thời gian khám, điều trị bệnh. - Được hưởng chính sách bệnh binh khi đủ điều kiện quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. - Khi từ trần được đề nghị xét công nhận liệt sĩ theo quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. 3. Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sĩ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS nêu tại điểm 1 mục II Thông tư liên tịch này. a) Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh: - Hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh do Công an các cấp trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ bị nhiễm HIV/AIDS lập, báo cáo về Bộ Công an, gồm có: + Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này). + Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. + Phiếu cá nhân. + Biên bản giám định bệnh tật. - Căn cứ hồ sơ đề nghị của Công an các cấp nói ở phần trên, Bộ Công an xem xét, cấp giấy chứng nhận bệnh binh, phiếu trợ cấp bệnh binh cho cán bộ, chiến sĩ và giải quyết quyền lợi bệnh binh theo quy định tại điểm 2 Mục II Phần C Thông tư liên tịch số 16/1998/TTLT - BLĐTBXH - BQP - BCA, ngày 25/11/1998 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng - Bộ Công an hướng dẫn một số điểm về việc công nhận và giải quyết quyền lợi đối với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh. b) Thủ tục, hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sĩ: - Hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sĩ: + Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1 Mục II Thông tư liên tịch này). + Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. + Phiếu cá nhân. + Bệnh án điều trị và giấy chứng tử của bệnh viện, bệnh xá hoặc trung tâm y tế nơi cán bộ, chiến sĩ chữa trị. Trường hợp từ trần tại gia đình, ngoài bệnh án điều trị phải có thêm xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi cư trú về trường hợp tử vong. + Giấy báo tử do Thủ trưởng Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc cấp tương đương ký. + Giấy chứng nhận về thân nhân của cán bộ, chiến sĩ được đề nghị xét công nhận liệt sĩ do Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi thân nhân cư trú lập. - Cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ lưu giữ 01 bộ hồ sơ và có trách nhiệm theo dõi và bàn giao hồ sơ đề nghị công nhận liệt sĩ và giải quyết quyền lợi liệt sĩ cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sĩ cư trú, cho đến khi giải quyết xong quyền lợi cho liệt sĩ. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Bộ Công an có trách nhiệm theo dõi, kiểm định tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS hiện đang quản lý, giam giữ trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và kiểm tra việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an theo quy định tại Thông tư liên tịch này. 2. Trên cơ sở tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đã được xác định, định kỳ 06 tháng một lần Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Công an quyết định số lượng cán bộ, chiến sĩ được hưởng chế độ phụ cấp ở từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. 3. Nguồn chi trả chế độ phụ cấp cho cán bộ, chiến sĩ Công an bị nhiễm HIV/AIDS theo quy định tại Thông tư này do nguồn ngân sách nhà nước cấp trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Riêng kinh phí để thực hiện chế độ năm 2003, Bộ Công an thống nhất với Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ cấp bổ sung. 4. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trong quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám, chữa bệnh với đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng mà bị nhiễm HIV/AIDS trước ngày Quyết định số 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thì cũng được giải quyết chế độ bệnh binh, liệt sĩ quy định tại Mục II Thông tư liên tịch này. 5. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các chế độ quy định tại Thông tư liên tịch này được thực hiện từ ngày 01 tháng 3 năm 2003. 6. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an - Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để nghiên cứu, giải quyết.
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS
03/2004/TTLT/BCA-BTC-BNV-BLĐTB
04/02/2004
Thông tư liên tịch
06/03/2004
Công báo số 11, năm 2004
20/02/2004
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Khánh Toàn
Toàn quốc
THÔNG T­Ư LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS Thi hành Quyết định 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS, liên tịch Bộ Công an – Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện như sau: I . Chế độ phụ cấp: Đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp: Cán bộ y tế, quản giáo, cán bộ giáo dục và dạy nghề, Trưởng phân trại, Trưởng phân khu, trinh sát, cảnh sát bảo vệ công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và giáo viên chủ nhiệm lớp trong các trường giáo dưỡng thuộc lực lượng Công an nhân dân thường xuyên (hàng ngày) trực tiếp tiếp xúc với những đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS tại các đơn vị nói trên. 2. Mức phụ cấp: Mức 120.000đồng/người/tháng: áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1, mục I Thông tư này đang công tác tại các trạm giam, trại tạm gia, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS từ 10% trở lên. Mức 100.000đồng/người/tháng: áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1, mục I Thông tư này đang công tác tại các trạm giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS dưới10%. Tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS được xác định trên cơ sở số lượng đối tượng đã được cơ quan y tế dự phòng cấp tỉnh nơi đơn vị trú đóng xét nghiệm, xác nhận bị nhiễm HIV/AIDS trên tổng số phạm nhân, trại viên, học sinh có mặt ở đơn vị tại thời điểm báo cáo. Nguyên tắc chi trả: Mức phụ cấp tại điểm 2, mục I Thông tư này chỉ được chi trả cho cán bộ, chiến sỹ trong thời gian trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh cho đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (dưới đây gọi tắt là thời gian làm công việc được hưởng phụ cấp). Cách tính trả: Mức phụ cấp nói trên được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Trường hợp đối tượng được hưởng chế đọ phụ cấp (nêu tại điểm 1, mục I) làm công việc được hưởng phụ cấp không trọn tháng thi cách tính chi trả như sau: Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian từ 16 ngày trở lên/tháng thì được hưởng 100% mức phụ cấp. Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian dưới 16 ngày/tháng thì được hưởng 50% mức phụ cấp. II. Chế độ và thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS trong khi thi hành nhiệm vụ: 1- Cán bộ, chiến sỹ Công an trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà da hoặc nhiêm mạc của họ bị tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch sinh học của đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (phơi nhiễm với HIV) thì đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sỹ đó phải lập biên bản xảy ra sự việc (do Thủ trưởng đơn vị hoặc đại diện chính quyền địa phương nơi xảy ra sự việc ký, đóng dấu) để lưu vào hồ sơ; đồng thời tổ chức cho cán bộ, chiến sỹ đó đến cơ quan y tế để xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV. Chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an bị phơi nhiễm HIV thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức bị phơi nhiễm HIV. 2-Cán bộ, chiến sỹ thuộc đối tượng nêu tại điểm 1, mục II thông tư này khi có kết luận chính thức của cơ quan y tế có thẩm quyền bị nhiễm vi rút HIV (kết quả xét nghiệm là dương tính) thì được hưởng chế độ, chính sách như sau: Được đơn vị bố trí công việc phù hợp. Được ưu tiên khám, chữa bệnh, ưu tiên cấp thuốc điều trị khác, tại các cơ sở y tế của Nhà nước và của Bộ Công an; được cấp thuốc điều trị đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng, thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV/AIDS gây ra, theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp, bồi dưỡng khác đang hưởng (nếu có) trong thời gian khám, điều trị bệnh. Được hưởng chính sách bệnh binh khi đủ điều kiện quy định tại Nghị định số 28/CP, ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi nguời hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. 3- Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sỹ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS nêu tại điểm 1, mục II Thông tư này. a/ Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh: Hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sỹ đối với cán bộ, chiến sỹ bị nhiễm HIV/AIDS lập, báo cáo về Bộ Công an, gồm có: Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1, mục II thông tư này) Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. Phiếu cá nhân Biên bản giám định bệnh tật. Căn cứ hồ sơ đề nghị của Công an các cấp nói ở phần trên, Bộ công an xem xét, cấp giấy chứng nhận bệnh binh, phiếu trợ cấp bệnh binh cho cán bộ, chiến sỹ và giải quyết quyền lợi bệnh binh theo quy định tại điểm 2, mục II, phần C Thông tư liên tịch số 16/1998/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BCA, ngày 25/11/1998 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Quốc phòng – Bộ Công an hướng dẫn một số điểm về việc công nhận và giải quyết quyền lợi đối với liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh. b/ Thủ tục, hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sỹ: Hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sỹ: Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1, mục II Thông tư này). Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. Phiếu cá nhân. Bệnh án điều trị và giấy chứng tử của bệnh viện, bệnh xá hoặc trung tâm y tế nơi cán bộ, chiến sỹ chữa trị. Trường hợp từ trần tại gia đình, ngoài bệnh án điều trị phải có thêm xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi cư trú về trường hợp tử vong. Giấy báo tử do Thủ trưởng Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cấp tương đương ký. Giấy chứng nhận về thân nhân của cán bộ, chiến sỹ được đề nghị xét công nhận liệt sỹ do Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi thân nhân cư trú lập. Cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sỹ lưu giữ 01 bộ hồ sơ và có trách nhiệm theo dõi và bàn giao hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ và giải quyết quyền lợi liệt sỹ cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sỹ cư trú, cho đến khi giải quyết xong quyền lợi cho liệt sỹ. III. Tổ chức thực hiện: 1-Bộ Công an có trách nhiệm theo dõi, kiểm định tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS hiện đang quản lý, giam giữ trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và kiểm tra việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an theo quy định tại Thông tư này. 2-Trên cơ sở tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đã được xác định, định kỳ 6 tháng một lần thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Công an quyết định số lượng cán bộ, chiến sỹ được hưởng chế độ phụ cấp ở từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. 3-Nguồn chi trả chế độ phụ cấp cho cán bộ, chiến sỹ Công an bị nhiễm HIV/AIDS theo quy định tại Thông tư này do nguồn ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Riêng kinh phí để thực hiện chế độ năm 2003, Bộ Công an thống nhất với Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ cấp bổ sung. 4- Cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trong quản lý, giáo dục chăm sóc, khám, chữa bệnh với đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng mà bị nhiễm HIV/AIDS trước ngày Quyết định số 22/2003/QĐ-TTg, ngày 30/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thì cũng được giải quyết chế độ bệnh binh, liệt sỹ quy định tại mục II Thông tư này. 5- Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo. Các chế độ quy định tại Thông tư này được thực hiện từ ngày 01 tháng 3 năm 2003. 6- Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an – Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để nghiên cứu, giải quyết.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=19944&Keyword=
2025-09-24T02:37:37.713186
../data\bocongan\032004TTLTBCA-BTC-BNV-BLĐTB\document.json
null
THÔNG T­Ư LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS Thi hành Quyết định 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh và đấu tranh với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS, liên tịch Bộ Công an – Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện như sau: I. Chế độ phụ cấp: Đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp: Cán bộ y tế, quản giáo, cán bộ giáo dục và dạy nghề, Trưởng phân trại, Trưởng phân khu, trinh sát, cảnh sát bảo vệ công tác tại các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và giáo viên chủ nhiệm lớp trong các trường giáo dưỡng thuộc lực lượng Công an nhân dân thường xuyên (hàng ngày) trực tiếp tiếp xúc với những đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS tại các đơn vị nói trên. 2. Mức phụ cấp: Mức 120. 000đồng/người/tháng: áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1, mục I Thông tư này đang công tác tại các trạm giam, trại tạm gia, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS từ 10% trở lên. Mức 100. 000đồng/người/tháng: áp dụng đối với đối tượng nêu tại điểm 1, mục I Thông tư này đang công tác tại các trạm giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục trường giáo dưỡng có tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS dưới10%. Tỷ lệ phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS được xác định trên cơ sở số lượng đối tượng đã được cơ quan y tế dự phòng cấp tỉnh nơi đơn vị trú đóng xét nghiệm, xác nhận bị nhiễm HIV/AIDS trên tổng số phạm nhân, trại viên, học sinh có mặt ở đơn vị tại thời điểm báo cáo. Nguyên tắc chi trả: Mức phụ cấp tại điểm 2, mục I Thông tư này chỉ được chi trả cho cán bộ, chiến sỹ trong thời gian trực tiếp làm công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh cho đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (dưới đây gọi tắt là thời gian làm công việc được hưởng phụ cấp). Cách tính trả: Mức phụ cấp nói trên được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng. Trường hợp đối tượng được hưởng chế đọ phụ cấp (nêu tại điểm 1, mục I) làm công việc được hưởng phụ cấp không trọn tháng thi cách tính chi trả như sau: Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian từ 16 ngày trở lên/tháng thì được hưởng 100% mức phụ cấp. Nếu làm công việc được hưởng phụ cấp có thời gian dưới 16 ngày/tháng thì được hưởng 50% mức phụ cấp. II. Chế độ và thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS trong khi thi hành nhiệm vụ: 1 - Cán bộ, chiến sỹ Công an trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà da hoặc nhiêm mạc của họ bị tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch sinh học của đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS (phơi nhiễm với HIV) thì đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sỹ đó phải lập biên bản xảy ra sự việc (do Thủ trưởng đơn vị hoặc đại diện chính quyền địa phương nơi xảy ra sự việc ký, đóng dấu) để lưu vào hồ sơ; đồng thời tổ chức cho cán bộ, chiến sỹ đó đến cơ quan y tế để xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV. Chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an bị phơi nhiễm HIV thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức bị phơi nhiễm HIV. 2 - Cán bộ, chiến sỹ thuộc đối tượng nêu tại điểm 1, mục II thông tư này khi có kết luận chính thức của cơ quan y tế có thẩm quyền bị nhiễm vi rút HIV (kết quả xét nghiệm là dương tính) thì được hưởng chế độ, chính sách như sau: Được đơn vị bố trí công việc phù hợp. Được ưu tiên khám, chữa bệnh, ưu tiên cấp thuốc điều trị khác, tại các cơ sở y tế của Nhà nước và của Bộ Công an; được cấp thuốc điều trị đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng, thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV/AIDS gây ra, theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp, bồi dưỡng khác đang hưởng (nếu có) trong thời gian khám, điều trị bệnh. Được hưởng chính sách bệnh binh khi đủ điều kiện quy định tại Nghị định số 28/CP, ngày 29/4/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi nguời hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. 3 - Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sỹ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân bị nhiễm HIV/AIDS nêu tại điểm 1, mục II Thông tư này. a/ Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh: Hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bệnh binh, xét công nhận liệt sỹ đối với cán bộ, chiến sỹ bị nhiễm HIV/AIDS lập, báo cáo về Bộ Công an, gồm có: Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1, mục II thông tư này) Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. Phiếu cá nhân Biên bản giám định bệnh tật. Căn cứ hồ sơ đề nghị của Công an các cấp nói ở phần trên, Bộ công an xem xét, cấp giấy chứng nhận bệnh binh, phiếu trợ cấp bệnh binh cho cán bộ, chiến sỹ và giải quyết quyền lợi bệnh binh theo quy định tại điểm 2, mục II, phần C Thông tư liên tịch số 16/1998/TTLT - BLĐTBXH - BQP - BCA, ngày 25/11/1998 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Quốc phòng – Bộ Công an hướng dẫn một số điểm về việc công nhận và giải quyết quyền lợi đối với liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh. b/ Thủ tục, hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sỹ: Hồ sơ đề nghị xét công nhận liệt sỹ: Biên bản xảy ra sự việc (nêu tại điểm 1, mục II Thông tư này). Phiếu xét nghiệm và kết luận của cơ quan y tế nơi xét nghiệm HIV/AIDS. Phiếu cá nhân. Bệnh án điều trị và giấy chứng tử của bệnh viện, bệnh xá hoặc trung tâm y tế nơi cán bộ, chiến sỹ chữa trị. Trường hợp từ trần tại gia đình, ngoài bệnh án điều trị phải có thêm xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi cư trú về trường hợp tử vong. Giấy báo tử do Thủ trưởng Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cấp tương đương ký. Giấy chứng nhận về thân nhân của cán bộ, chiến sỹ được đề nghị xét công nhận liệt sỹ do Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi thân nhân cư trú lập. Cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sỹ lưu giữ 01 bộ hồ sơ và có trách nhiệm theo dõi và bàn giao hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ và giải quyết quyền lợi liệt sỹ cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sỹ cư trú, cho đến khi giải quyết xong quyền lợi cho liệt sỹ. III. Tổ chức thực hiện: 1 - Bộ Công an có trách nhiệm theo dõi, kiểm định tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS hiện đang quản lý, giam giữ trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và kiểm tra việc thực hiện các chế độ đối với cán bộ, chiến sỹ Công an theo quy định tại Thông tư này. 2 - Trên cơ sở tỷ lệ đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đã được xác định, định kỳ 6 tháng một lần thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Công an quyết định số lượng cán bộ, chiến sỹ được hưởng chế độ phụ cấp ở từng trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. 3 - Nguồn chi trả chế độ phụ cấp cho cán bộ, chiến sỹ Công an bị nhiễm HIV/AIDS theo quy định tại Thông tư này do nguồn ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của Bộ Công an. Riêng kinh phí để thực hiện chế độ năm 2003, Bộ Công an thống nhất với Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ cấp bổ sung. 4 - Cán bộ, chiến sỹ lực lượng Công an nhân dân trong khi làm nhiệm vụ bị tội phạm tấn công mà bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trong quản lý, giáo dục chăm sóc, khám, chữa bệnh với đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng mà bị nhiễm HIV/AIDS trước ngày Quyết định số 22/2003/QĐ - TTg, ngày 30/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thì cũng được giải quyết chế độ bệnh binh, liệt sỹ quy định tại mục II Thông tư này. 5 - Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo. Các chế độ quy định tại Thông tư này được thực hiện từ ngày 01 tháng 3 năm 2003. 6 - Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Công an – Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để nghiên cứu, giải quyết.
Sửa đổi bổ sung điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biến số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
03/2006/TT-BCA(C11)
22/02/2006
Thông tư
09/04/2006
Công báo số 36+37, năm 2006
25/03/2006
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Sửa đổi bổ sung điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biến số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ________ Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Để tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về trật tư an toàn xã hội và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Bộ Công an hướng dẫn sửa đổi, bổ sung về thời hạn cấp lại biển số xe bị mất cắp quy định tại điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) của Bộ Công an như sau: 1. Sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11 ) của Bộ Công an, cơ quan đăng ký xe cấp lại ngay biển số xe. Trường hợp phải chờ để làm biển số thì cấp đăng ký và biển số tạm thời. Thủ tục hồ sơ cấp đăng ký và biển số tạm thời gồm: Hồ sơ chủ xe xin cấp lại biển số và bản phôtô giấy đăng ký xe. 2. Tổ chức thực hiện: - Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các nội dung khác không đề cập trong Thông tư này vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của Thông tư 01/2002/TT-BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an. - Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. - Tổng cục Hậu cần chỉ đạo các cơ sở sản xuất biển số tổ chức thực hiện đáp ứng được yêu cầu sản xuất biển số theo đúng quy định. - Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng của Công an các tỉnh, thành phố có biện pháp ngăn chặn, kịp thời phát hiện, điều tra xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi trộm cắp biển số đăng ký xe. Định kỳ báo cáo kết quả về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát)./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16465&Keyword=
2025-09-24T02:31:59.417718
../data\bocongan\032006TT-BCAC11\document.json
08/02/2007
THÔNG TƯ Sửa đổi bổ sung điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biến số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ________ Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Để tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về trật tư an toàn xã hội và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Bộ Công an hướng dẫn sửa đổi, bổ sung về thời hạn cấp lại biển số xe bị mất cắp quy định tại điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) của Bộ Công an như sau: 1. Sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại điểm 2 mục D phần II Thông tư số 01/2002/TT - BCA(C11 ) của Bộ Công an, cơ quan đăng ký xe cấp lại ngay biển số xe. Trường hợp phải chờ để làm biển số thì cấp đăng ký và biển số tạm thời. Thủ tục hồ sơ cấp đăng ký và biển số tạm thời gồm: Hồ sơ chủ xe xin cấp lại biển số và bản phôtô giấy đăng ký xe. 2. Tổ chức thực hiện: - Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các nội dung khác không đề cập trong Thông tư này vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của Thông tư 01/2002/TT - BCA(C11 ) ngày 04/01/2002 của Bộ Công an. - Tổng cục Cảnh sát chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư này. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện đúng quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật khác có liên quan đến đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. - Tổng cục Hậu cần chỉ đạo các cơ sở sản xuất biển số tổ chức thực hiện đáp ứng được yêu cầu sản xuất biển số theo đúng quy định. - Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng của Công an các tỉnh, thành phố có biện pháp ngăn chặn, kịp thời phát hiện, điều tra xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi trộm cắp biển số đăng ký xe. Định kỳ báo cáo kết quả về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát). /.
Hướng dẫn về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội
03/2006/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC
01/06/2006
Thông tư liên tịch
07/07/2006
Công báo số 24 + 25, năm 2006
22/06/2006
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội __________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội nhằm thực hiện tốt công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau: I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội giữa các cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp, bao gồm những thông tin, tài liệu phản ánh về lý lịch, đặc điểm nhận dạng, nhân thân, kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các thông tin, tài liệu khác có liên quan đến người phạm tội; trách nhiệm, thủ tục, thời hạn thông báo, gửi, cung cấp các thông tin, tài liệu đó. 2. Nguyên tắc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu Việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: a) Thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải được thông báo, gửi đầy đủ, kịp thời, chính xác, tập trung vào cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát của ngành Công an (sau đây gọi là cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát) để quản lý, khai thác và cung cấp phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; b) Bảo đảm đúng quy định của Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, Pháp lệnh lưu trữ quốc gia và danh mục bí mật nhà nước của từng ngành. 3. Các loại thông tin, tài liệu phải được thông báo, gửi, cung cấp 3.1. Các loại thông tin, tài liệu mà Cơ quan điều tra các cấp của Bộ Công an, Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thông báo, gửi, cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định trả tự do; c) Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn; quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; d) Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự; quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự; quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; đ) Lệnh bắt khẩn cấp; e) Quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can; g) Lệnh bắt bị can để tạm giam; lệnh tạm giam; h) Quyết định tạm giữ; quyết định gia hạn tạm giữ; i) Quyết định đình chỉ điều tra bị can; quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can; quyết định phục hồi điều tra bị can; k) Quyết định truy nã; quyết định đình nã. 3.2. Các loại thông tin, tài liệu mà Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Quyết định tạm giam; b) Bản trích sao cáo trạng; bản sao quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; c) Bản sao quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án. 3.3. Các loại thông tin, tài liệu mà Tòa án nhân dân có trách nhiệm thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Lệnh bắt và tạm giam; b) Lệnh tạm giam; c) Quyết định bắt và tạm giam; d) Quyết định tạm giam; đ) Bản án hình sự sơ thẩm; e) Bản án hình sự phúc thẩm; g) Quyết định hình sự giám đốc thẩm; h) Quyết định hình sự tái thẩm; i) Quyết định thi hành hình phạt tù; k) Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; l) Quyết định miễn chấp hành hình phạt tù; m) Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; n) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; o) Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; p) Quyết định đình chỉ thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh; q) Giấy chứng nhận xóa án tích; r) Quyết định xóa án tích. s) Quyết định của Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình hoặc ân giảm hình phạt tử hình); t) Quyết định thi hành án tử hình; u) Biên bản thi hành án tử hình. 3.4. Các loại thông tin, tài liệu mà cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi có yêu cầu bao gồm: a) Danh bản, chỉ bản căn cước can phạm; b) Trích lục tiền án, tiền sự; c) Thông báo kết quả xác minh đối tượng, nhân thân; d) Bản sao những văn bản đã được cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát nêu tại các điểm 3.1, 3.2 và 3.3 phần I của Thông tư này. II. THỦ TỤC VÀ THỜI HẠN THÔNG BÁO, GỬI, CUNG CẤP THÔNG TIN, TÀI LIỆU 1. Thủ tục và thời hạn thông báo, gửi thông tin, tài liệu 1.1. Thủ tục thông báo, gửi thông tin, tài liệu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thông báo, gửi các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát; cụ thể như sau: a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện thông báo, gửi cho bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Công an cấp huyện; b) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Công an cấp tỉnh; c) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Bộ Công an. Đối với những vụ án do Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển khởi tố điều tra và chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo, gửi tất cả những thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội nêu tại các mục 3.1 và 3.2 phần I của Thông tư này cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát. 1.2. Thời hạn thông báo, gửi thông tin, tài liệu a) Đối với các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này mà pháp luật có quy định thời hạn gửi, cấp thì cơ quan có trách nhiệm thông báo, gửi thông tin, tài liệu đó phải thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc cơ quan Công an cùng cấp trong thời hạn do pháp luật quy định. b) Đối với các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này mà phát luật không quy định thời hạn gửi, cấp thì chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày ban hành, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân phải thông báo, gửi thông tin, tài liệu đó cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc cơ quan Công an cùng cấp. 1.3. Bảo đảm tính pháp lý của thông tin, tài liệu được thông báo, gửi Thông tin, tài liệu được thông báo, gửi phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật về hình thức văn bản (bản chính hoặc bản sao). Đối với bản sao hoặc trích sao thông tin, tài liệu phải được người có thẩm quyền của cơ quan, đơn vị ký xác nhận và đóng dấu của cơ quan đó. 2. Thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát các cấp thuộc Bộ Công an có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu khi có yêu cầu theo thủ tục và thời hạn như sau: 2.1. Thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc bằng văn bản. a) Khi cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng hình thức trực tiếp thì người trực tiếp đi nhận thông tin, tài liệu phải có giấy giới thiệu của cơ quan chủ quản, trong đó ghi rõ tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao) , mục đích sử dụng. Nếu cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát yêu cầu thì phải xuất trình giấy tờ tùy thân của mình. b) Khi cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng văn bản (công văn), thì trong văn bản yêu cầu phải ghi rõ tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao) , mục đích sử dụng. Văn bản yêu cầu phải đánh số; ngày tháng năm ban hành; họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu cơ quan yêu cầu. Văn bản yêu cầu được gửi gửi đến cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát nơi trực tiếp quản lý, lưu trữ thông tin, tài liệu đó. 2.2. Thời hạn cung cấp a) Đối với trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng hình thức trực tiếp thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải cung cấp ngay trong ngày. Trong trường hợp chưa thể cung cấp ngay được, thì cần hẹn ngày cung cấp thông tin, tài liệu nhưng tối đa không quá bảy ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. b) Đối với trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng văn bản thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải có văn bản trả lời cho cơ quan, đơn vị yêu cầu trong thời hạn như sau: - Ở cấp huyện: chậm nhất là 5 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 10 ngày; - Ở cấp tỉnh: chậm nhất là 7 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 15 ngày; - Ở cấp bộ: chậm nhất là 10 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 20 ngày. c) Đối với trường hợp yêu cầu cần đọc, nghiên cứu thông tin, tài liệu tại chỗ, thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải cung cấp ngay sau khi có sự phê duyệt của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý thông tin, tài liệu đó. Nếu không cung cấp được ngay thì cần nêu rõ lý do. d) Trường hợp không thể đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu thì cơ quan được yêu cầu phải nêu rõ lý do bằng văn bản. 2.3. Văn bản trả lời, nội dung thông tin, tài liệu cung cấp phải bảo đảm chính xác, đầy đủ. Thủ trưởng cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát trực tiếp quản lý thông tin, tài liệu duyệt, ký và đóng dấu văn bản trả lời. Nếu kèm theo văn bản trả lời có bản sao thông tin, tài liệu thì các bản sao này phải được xác nhận và đóng dấu theo quy định. III. HIỆU LỰC THI HÀNH 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn, bổ sung, đề nghị các đơn vị, địa phương báo cáo theo ngành dọc về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=15845&Keyword=
2025-09-24T02:36:54.674247
../data\bocongan\032006TTLTBCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội __________________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội nhằm thực hiện tốt công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau: I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội giữa các cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp, bao gồm những thông tin, tài liệu phản ánh về lý lịch, đặc điểm nhận dạng, nhân thân, kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các thông tin, tài liệu khác có liên quan đến người phạm tội; trách nhiệm, thủ tục, thời hạn thông báo, gửi, cung cấp các thông tin, tài liệu đó. 2. Nguyên tắc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu Việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: a) Thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải được thông báo, gửi đầy đủ, kịp thời, chính xác, tập trung vào cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát của ngành Công an (sau đây gọi là cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát) để quản lý, khai thác và cung cấp phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; b) Bảo đảm đúng quy định của Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, Pháp lệnh lưu trữ quốc gia và danh mục bí mật nhà nước của từng ngành. 3. Các loại thông tin, tài liệu phải được thông báo, gửi, cung cấp 3. 1. Các loại thông tin, tài liệu mà Cơ quan điều tra các cấp của Bộ Công an, Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thông báo, gửi, cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định trả tự do; c) Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn; quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; d) Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự; quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự; quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; đ) Lệnh bắt khẩn cấp; e) Quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can; g) Lệnh bắt bị can để tạm giam; lệnh tạm giam; h) Quyết định tạm giữ; quyết định gia hạn tạm giữ; i) Quyết định đình chỉ điều tra bị can; quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can; quyết định phục hồi điều tra bị can; k) Quyết định truy nã; quyết định đình nã. 3. 2. Các loại thông tin, tài liệu mà Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Quyết định tạm giam; b) Bản trích sao cáo trạng; bản sao quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; c) Bản sao quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án. 3. 3. Các loại thông tin, tài liệu mà Tòa án nhân dân có trách nhiệm thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát bao gồm: a) Lệnh bắt và tạm giam; b) Lệnh tạm giam; c) Quyết định bắt và tạm giam; d) Quyết định tạm giam; đ) Bản án hình sự sơ thẩm; e) Bản án hình sự phúc thẩm; g) Quyết định hình sự giám đốc thẩm; h) Quyết định hình sự tái thẩm; i) Quyết định thi hành hình phạt tù; k) Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; l) Quyết định miễn chấp hành hình phạt tù; m) Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; n) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; o) Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; p) Quyết định đình chỉ thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh; q) Giấy chứng nhận xóa án tích; r) Quyết định xóa án tích. s) Quyết định của Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình hoặc ân giảm hình phạt tử hình); t) Quyết định thi hành án tử hình; u) Biên bản thi hành án tử hình. 3. 4. Các loại thông tin, tài liệu mà cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi có yêu cầu bao gồm: a) Danh bản, chỉ bản căn cước can phạm; b) Trích lục tiền án, tiền sự; c) Thông báo kết quả xác minh đối tượng, nhân thân; d) Bản sao những văn bản đã được cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát nêu tại các điểm 3. 1, 3. 2 và 3. 3 phần I của Thông tư này. II. THỦ TỤC VÀ THỜI HẠN THÔNG BÁO, GỬI, CUNG CẤP THÔNG TIN, TÀI LIỆU 1. Thủ tục và thời hạn thông báo, gửi thông tin, tài liệu 1. 1. Thủ tục thông báo, gửi thông tin, tài liệu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thông báo, gửi các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát; cụ thể như sau: a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện thông báo, gửi cho bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Công an cấp huyện; b) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Công an cấp tỉnh; c) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc Bộ Công an. Đối với những vụ án do Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển khởi tố điều tra và chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo, gửi tất cả những thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội nêu tại các mục 3. 1 và 3. 2 phần I của Thông tư này cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát. 1. 2. Thời hạn thông báo, gửi thông tin, tài liệu a) Đối với các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này mà pháp luật có quy định thời hạn gửi, cấp thì cơ quan có trách nhiệm thông báo, gửi thông tin, tài liệu đó phải thông báo, gửi cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc cơ quan Công an cùng cấp trong thời hạn do pháp luật quy định. b) Đối với các thông tin, tài liệu nêu tại mục 3 phần I của Thông tư này mà phát luật không quy định thời hạn gửi, cấp thì chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày ban hành, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân phải thông báo, gửi thông tin, tài liệu đó cho cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát thuộc cơ quan Công an cùng cấp. 1. 3. Bảo đảm tính pháp lý của thông tin, tài liệu được thông báo, gửi Thông tin, tài liệu được thông báo, gửi phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật về hình thức văn bản (bản chính hoặc bản sao). Đối với bản sao hoặc trích sao thông tin, tài liệu phải được người có thẩm quyền của cơ quan, đơn vị ký xác nhận và đóng dấu của cơ quan đó. 2. Thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát các cấp thuộc Bộ Công an có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu khi có yêu cầu theo thủ tục và thời hạn như sau: 2. 1. Thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc bằng văn bản. a) Khi cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng hình thức trực tiếp thì người trực tiếp đi nhận thông tin, tài liệu phải có giấy giới thiệu của cơ quan chủ quản, trong đó ghi rõ tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao), mục đích sử dụng. Nếu cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát yêu cầu thì phải xuất trình giấy tờ tùy thân của mình. b) Khi cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng văn bản (công văn), thì trong văn bản yêu cầu phải ghi rõ tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao), mục đích sử dụng. Văn bản yêu cầu phải đánh số; ngày tháng năm ban hành; họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu cơ quan yêu cầu. Văn bản yêu cầu được gửi gửi đến cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát nơi trực tiếp quản lý, lưu trữ thông tin, tài liệu đó. 2. 2. Thời hạn cung cấp a) Đối với trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng hình thức trực tiếp thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải cung cấp ngay trong ngày. Trong trường hợp chưa thể cung cấp ngay được, thì cần hẹn ngày cung cấp thông tin, tài liệu nhưng tối đa không quá bảy ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. b) Đối với trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu bằng văn bản thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải có văn bản trả lời cho cơ quan, đơn vị yêu cầu trong thời hạn như sau: - Ở cấp huyện: chậm nhất là 5 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 10 ngày; - Ở cấp tỉnh: chậm nhất là 7 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 15 ngày; - Ở cấp bộ: chậm nhất là 10 ngày đối với yêu cầu bình thường; đối với yêu cầu phức tạp được gia hạn tối đa là 20 ngày. c) Đối với trường hợp yêu cầu cần đọc, nghiên cứu thông tin, tài liệu tại chỗ, thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp phải cung cấp ngay sau khi có sự phê duyệt của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý thông tin, tài liệu đó. Nếu không cung cấp được ngay thì cần nêu rõ lý do. d) Trường hợp không thể đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu thì cơ quan được yêu cầu phải nêu rõ lý do bằng văn bản. 2. 3. Văn bản trả lời, nội dung thông tin, tài liệu cung cấp phải bảo đảm chính xác, đầy đủ. Thủ trưởng cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát trực tiếp quản lý thông tin, tài liệu duyệt, ký và đóng dấu văn bản trả lời. Nếu kèm theo văn bản trả lời có bản sao thông tin, tài liệu thì các bản sao này phải được xác nhận và đóng dấu theo quy định. III. HIỆU LỰC THI HÀNH 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn, bổ sung, đề nghị các đơn vị, địa phương báo cáo theo ngành dọc về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn việc nhập khẩu ôtô chở người dưới 16 chỗ ngồi đã qua sử dụng theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
03/2006/TTLT/BTM-BGTVT-BTC-BCA
31/03/2006
Thông tư liên tịch
01/05/2006
Công báo số 17 & 18 - 04/2006;
15/04/2006
Bộ Thương mại
Thứ trưởng
Phan Thế Ruệ
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc nhập khẩu ôtô chở người dưới 16 chỗ ngồi đã qua sử dụng theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ Căn cứ Nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại; Căn cứ Nghị định số 34/2003/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài; Liên Bộ Thương mại, Giao thông vận tải, Tài chính, Công an hướng dẫn cụ thể việc nhập khẩu ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi đã qua sử dụng (dưới đây gọi tắt là ô tô đã qua sử dụng) theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP như sau: I. Quy định chung 1. Ôtô đã qua sử dụng là ôtô đã được sử dụng, được đăng ký với thời gian tối thiểu là 6 tháng và đã chạy được một quãng đường tối thiểu là 10.000 km (mười nghìn) tính đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam. 2. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu vào Việt Nam phải thỏa mãn quy định của Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ, các quy định của Thông tư này và quy định trong Quyết định số 35/2005/QĐ-BGTVT ngày 21 tháng 7 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. 3. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu phải nộp thuế theo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế Giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hiện hành. II. Điều kiện nhập khẩu ôtô đã qua sử dụng 1. Ôtô đã qua sử dụng được nhập khẩu phải đảm bảo điều kiện: không quá 05 năm tính từ năm sản xuất đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam, cụ thể là năm 2006 chỉ được nhập ôtô loại sản xuất từ năm 2001 trở lại đây. Năm sản xuất của ôtô được xác định theo thứ tự ưu tiên sau đây: a) Theo số nhận dạng của ôtô; b) Theo số khung của ôtô; c) Theo các tài liệu kỹ thuật: Catalog, sổ tay thông số kỹ thuật, phần mềm nhận dạng, ê tơ két gắn trên xe hoặc các thông tin của nhà sản xuất; d) Theo năm sản xuất được ghi nhận trong bản chính của Giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc Giấy hủy đăng ký xe đang lưu hành tại nước ngoài; đ) Đối với các trường hợp đặc biệt khác thì cơ quan kiểm tra chất lượng thành lập Hội đồng giám định trong đó có sự tham gia của các chuyên gia kỹ thuật chuyên ngành để quyết định. e) Trường hợp cơ quan kiểm tra chất lượng có nghi vấn về số khung và/hoặc số máy của chiếc xe nhập khẩu thì cơ quan kiểm tra sẽ trưng cầu giám định tại cơ quan Công an. Kết luận của cơ quan Công an về số khung và/hoặc số máy là cơ sở đề giải quyết các thủ tục kiểm tra chất lượng nhập khẩu theo quy định. 2. Cấm nhập khẩu ôtô các loại có tay lái bên phải (tay lái nghịch kể cả dạng tháo rời và dạng đã được chuyển đổi tay lái trước khi nhập khẩu vào Việt Nam, trừ các loại phương tiện chuyên dùng có tay lái bên phải hoạt động trong phạm vi hẹp gồm: xe cần cẩu; máy đào kênh rãnh; xe quét đường, tưới đường, xe chở rác và chất thải sinh hoạt; xe thi công mặt đường; xe chở khách trong sân bay và xe nâng hàng trong kho, cảng; xe bơm bê tông; xe chỉ di chuyển trong sân golf, công viên. 3. Cấm nhập khẩu ôtô cứu thương đã qua sử dụng. 4. Cấm tháo rời ôtô khi vận chuyển và khi nhập khẩu. 5. Cấm nhập khẩu ôtô các loại đã thay đổi kết cấu, chuyển đổi công năng so với thiết kế ban đầu, kể cả ôtô có công năng không phù hợp với số nhận dạng của ôtô hoặc số khung của nhà sản xuất đã công bố, bị đục sửa số khung, số máy trong mọi trường hợp và dưới mọi hình thức. III. Thủ tục nhập khẩu và đăng ký lưu hành 1. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu ngoài các hồ sơ hải quan theo quy định, người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan 01 bản chính và 01 bản sao (có xác nhận do giám đốc doanh nghiệp ký tên, đóng dấu) của một trong các loại giấy tờ sau: a) Giấy chứng nhận đăng ký. b) Giấy chứng nhận lưu hành; c) Giấy huỷ Giấy chứng nhận đăng ký hoặc Giấy hủy Giấy chứng nhận lưu hành. Giấy chứng nhận quy định tại điểm a, b, c nêu trên do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi ôtô được đăng ký lưu hành cấp. 2. Ôtô đã qua sử dụng chỉ được nhập khẩu về Việt Nam qua các cửa khẩu cảng biển quốc tế: Cái Lân Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Thủ tục hải quan được thực hiện tại của khẩu nhập. 3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa, người nhập khẩu phải nộp bộ hồ sơ xin đăng kiểm và thông báo địa điểm để cơ quan Đăng kiểm thực hiện kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. 4. Chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ xin đăng kiểm hợp lệ, cơ quan Đăng kiểm phải thông báo kết quả đăng kiểm cho người nhập khẩu. 5. Cơ quan Hải quan chỉ được phép giải phóng, thông quan hàng hoá khi có thông báo kết quả kiểm tra chất lượng của cơ quan Đăng kiểm xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu theo quy định. Trường hợp quá 33 ngày, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa mà người nhập khẩu không xuất trình được kết quả kiểm tra chất lượng hoặc kết quả kiểm tra chất lượng không đủ điều kiện nhập khẩu thì phải xử lý theo quy định của pháp luật. 6. Trường hợp phải kéo dài thời hạn kiểm tra để trưng cầu giám định theo quy định tại điểm đ, e, mục 1 phần II của Thông tư này, cơ quan Đăng kiểm thông báo bằng văn bản cho cơ quan Hải quan và người nhập khẩu biết. 7. Cơ quan Cảnh sát Giao thông thực hiện kiểm tra hồ sơ của ôtô nhập khẩu trước khi làm thủ tục đăng ký. Trường hợp phát hiện xe không đủ điều kiện nhập khẩu thì không làm thủ tục đăng ký và thông báo bằng văn bản cho cơ quan Hải quan biết đề xử lý theo quy định. V. Tổ chức thực hiện 1. Các Bộ theo thẩm quyền của mình tổ chức thực hiện các quy định của Thông tư này, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 2006 và các văn bản pháp luật liên quan. Trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc cần phản ánh về Bộ Thương mại, các Bộ liên quan để chỉ đạo, bàn biện pháp xử lý, phối hợp chỉnh sửa kịp thời. 2. Bãi bỏ những quy định trước đây trái với những quy định tại Thông tư này. 3. Thông tư này có hiệu lực thực hiện từ 01 tháng 5 năm 2006./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16389&Keyword=
2025-09-24T02:37:03.253715
../data\bocongan\032006TTLTBTM-BGTVT-BTC-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc nhập khẩu ôtô chở người dưới 16 chỗ ngồi đã qua sử dụng theo Nghị định số 12/2006/NĐ - CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ Căn cứ Nghị định số 29/2004/NĐ - CP ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại; Căn cứ Nghị định số 34/2003/NĐ - CP ngày 04 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Căn cứ Nghị định số 136/2003/NĐ - CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 12/2006/NĐ - CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài; Liên Bộ Thương mại, Giao thông vận tải, Tài chính, Công an hướng dẫn cụ thể việc nhập khẩu ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi đã qua sử dụng (dưới đây gọi tắt là ô tô đã qua sử dụng) theo Nghị định số 12/2006/NĐ - CP như sau: I. Quy định chung 1. Ôtô đã qua sử dụng là ôtô đã được sử dụng, được đăng ký với thời gian tối thiểu là 6 tháng và đã chạy được một quãng đường tối thiểu là 10. 000 km (mười nghìn) tính đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam. 2. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu vào Việt Nam phải thỏa mãn quy định của Nghị định số 12/2006/NĐ - CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ, các quy định của Thông tư này và quy định trong Quyết định số 35/2005/QĐ - BGTVT ngày 21 tháng 7 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. 3. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu phải nộp thuế theo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế Giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hiện hành. II. Điều kiện nhập khẩu ôtô đã qua sử dụng 1. Ôtô đã qua sử dụng được nhập khẩu phải đảm bảo điều kiện: không quá 05 năm tính từ năm sản xuất đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam, cụ thể là năm 2006 chỉ được nhập ôtô loại sản xuất từ năm 2001 trở lại đây. Năm sản xuất của ôtô được xác định theo thứ tự ưu tiên sau đây: a) Theo số nhận dạng của ôtô; b) Theo số khung của ôtô; c) Theo các tài liệu kỹ thuật: Catalog, sổ tay thông số kỹ thuật, phần mềm nhận dạng, ê tơ két gắn trên xe hoặc các thông tin của nhà sản xuất; d) Theo năm sản xuất được ghi nhận trong bản chính của Giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc Giấy hủy đăng ký xe đang lưu hành tại nước ngoài; đ) Đối với các trường hợp đặc biệt khác thì cơ quan kiểm tra chất lượng thành lập Hội đồng giám định trong đó có sự tham gia của các chuyên gia kỹ thuật chuyên ngành để quyết định. e) Trường hợp cơ quan kiểm tra chất lượng có nghi vấn về số khung và/hoặc số máy của chiếc xe nhập khẩu thì cơ quan kiểm tra sẽ trưng cầu giám định tại cơ quan Công an. Kết luận của cơ quan Công an về số khung và/hoặc số máy là cơ sở đề giải quyết các thủ tục kiểm tra chất lượng nhập khẩu theo quy định. 2. Cấm nhập khẩu ôtô các loại có tay lái bên phải (tay lái nghịch kể cả dạng tháo rời và dạng đã được chuyển đổi tay lái trước khi nhập khẩu vào Việt Nam, trừ các loại phương tiện chuyên dùng có tay lái bên phải hoạt động trong phạm vi hẹp gồm: xe cần cẩu; máy đào kênh rãnh; xe quét đường, tưới đường, xe chở rác và chất thải sinh hoạt; xe thi công mặt đường; xe chở khách trong sân bay và xe nâng hàng trong kho, cảng; xe bơm bê tông; xe chỉ di chuyển trong sân golf, công viên. 3. Cấm nhập khẩu ôtô cứu thương đã qua sử dụng. 4. Cấm tháo rời ôtô khi vận chuyển và khi nhập khẩu. 5. Cấm nhập khẩu ôtô các loại đã thay đổi kết cấu, chuyển đổi công năng so với thiết kế ban đầu, kể cả ôtô có công năng không phù hợp với số nhận dạng của ôtô hoặc số khung của nhà sản xuất đã công bố, bị đục sửa số khung, số máy trong mọi trường hợp và dưới mọi hình thức. III. Thủ tục nhập khẩu và đăng ký lưu hành 1. Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu ngoài các hồ sơ hải quan theo quy định, người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan 01 bản chính và 01 bản sao (có xác nhận do giám đốc doanh nghiệp ký tên, đóng dấu) của một trong các loại giấy tờ sau: a) Giấy chứng nhận đăng ký. b) Giấy chứng nhận lưu hành; c) Giấy huỷ Giấy chứng nhận đăng ký hoặc Giấy hủy Giấy chứng nhận lưu hành. Giấy chứng nhận quy định tại điểm a, b, c nêu trên do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi ôtô được đăng ký lưu hành cấp. 2. Ôtô đã qua sử dụng chỉ được nhập khẩu về Việt Nam qua các cửa khẩu cảng biển quốc tế: Cái Lân Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Thủ tục hải quan được thực hiện tại của khẩu nhập. 3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa, người nhập khẩu phải nộp bộ hồ sơ xin đăng kiểm và thông báo địa điểm để cơ quan Đăng kiểm thực hiện kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. 4. Chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ xin đăng kiểm hợp lệ, cơ quan Đăng kiểm phải thông báo kết quả đăng kiểm cho người nhập khẩu. 5. Cơ quan Hải quan chỉ được phép giải phóng, thông quan hàng hoá khi có thông báo kết quả kiểm tra chất lượng của cơ quan Đăng kiểm xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu theo quy định. Trường hợp quá 33 ngày, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa mà người nhập khẩu không xuất trình được kết quả kiểm tra chất lượng hoặc kết quả kiểm tra chất lượng không đủ điều kiện nhập khẩu thì phải xử lý theo quy định của pháp luật. 6. Trường hợp phải kéo dài thời hạn kiểm tra để trưng cầu giám định theo quy định tại điểm đ, e, mục 1 phần II của Thông tư này, cơ quan Đăng kiểm thông báo bằng văn bản cho cơ quan Hải quan và người nhập khẩu biết. 7. Cơ quan Cảnh sát Giao thông thực hiện kiểm tra hồ sơ của ôtô nhập khẩu trước khi làm thủ tục đăng ký. Trường hợp phát hiện xe không đủ điều kiện nhập khẩu thì không làm thủ tục đăng ký và thông báo bằng văn bản cho cơ quan Hải quan biết đề xử lý theo quy định. V. Tổ chức thực hiện 1. Các Bộ theo thẩm quyền của mình tổ chức thực hiện các quy định của Thông tư này, Nghị định số 12/2006/NĐ - CP ngày 23 tháng 1 năm 2006 và các văn bản pháp luật liên quan. Trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc cần phản ánh về Bộ Thương mại, các Bộ liên quan để chỉ đạo, bàn biện pháp xử lý, phối hợp chỉnh sửa kịp thời. 2. Bãi bỏ những quy định trước đây trái với những quy định tại Thông tư này. 3. Thông tư này có hiệu lực thực hiện từ 01 tháng 5 năm 2006. /.
Về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố
03/2006/TTLT/VKSNDTC-TTrCP-BCA-BQP
23/05/2006
Thông tư liên tịch
15/06/2006
Công báo số 33, năm 2006
31/05/2006
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Phó Viện trưởng
Trần Thu
Toàn quốc
THÔNG TƯ  LIÊN TỊCH Về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố __________________ Để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Thanh tra, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật phòng, chống tham nhũng và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Về phạm vi mối quan hệ phối hợp Thông tư này quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (bao gồm cả Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quân đội) trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố vụ án hình sự. 2. Về mối quan hệ phối hợp trong việc xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố 2.1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, Cơ quan thanh tra chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở Cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của huyện nào, tỉnh nào hoặc của đơn vị quân đội cấp nào thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra cấp đó; vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở Cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của cấp bộ hoặc Chính phủ thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Sau khi nhập được hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố, qua kiểm tra thấy chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, thì Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp thu thập thêm tài liệu, chứng cứ bổ sung vào hồ sơ kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp Cơ quan thanh tra đã bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mà vẫn không có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, trả lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra giải quyết theo thẩm quyền. Việc giao trả hồ sơ giữa Cơ quan đều tra và Cơ quan thanh tra được tiến hành tại trụ sở Cơ quan điều tra. Nếu tài liệu bổ sung xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định này kèm tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trường hợp vụ việc vị phạm pháp luật có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nếu thấy cần thiết thì Cơ quan thanh tra tổ chức họp lãnh đạo liên ngành gồm Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để phân tích, đánh giá những tài liệu đã thu thập được. Nếu liên ngành thống nhất xác định vụ việc đã rõ dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra khẩn trương lập hồ sơ và văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 2.2. Khi kết thúc cuộc thanh tra, Cơ quan thanh tra không kiến nghị khởi tố, nhưng Cơ quan điều tra phát hiện vụ việc đã thanh tra có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp này, nếu Cơ quan điều tra đề nghị thì Cơ quan thanh tra có trách nhiệm phối hợp cung cấp những tài liệu liên quan đến việc xác định tội phạm mà Cơ quan thanh tra đã thu thập được trong quá trình thanh tra. 2.3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến và trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan điều tra phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp vụ việc đó có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh ở nhiều nơi thì  thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không được quá sáu mươi ngày; quá thời hạn này, Cơ quan thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý của Cơ quan điều tra, thì có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, giải quyết. Trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Cơ quan thanh tra kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để chỉ đạo, giải quyết. Cơ quan điều tra cấp dưới phải chấp hành ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. 2.4. Khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra mà thấy sự việc phạm tội không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp trước khi ra quyết định chuyển hồ sơ đó cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát đã được Cơ quan thanh tra thông báo kiến nghị khởi tố và Viện kiểm sát cùng cấp với Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ. Khi Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phải chuyển ngay quyết định đó kèm theo các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố. 2.5. Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phân công ngay Kiểm sát viên để kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định đó và đề xuất bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát ra một trong những quyết định sau đây: a) Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện việc điều tra theo quy định tại Điều 109 của Bộ luật tố tụng hình sự. b) Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Cơ quan điều tra giao lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị để giải quyết theo thẩm quyền. 2.6. Trường hợp không đồng ý với các quyết định của Viện kiểm sát quy định tại các điểm a, b mục 2.5 Thông tư này thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và báo cáo Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp Trung ương thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì ra quyết định hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định cuối cùng. 2.7. Trường hợp Cơ quan thanh tra không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát cùng cấp cũng cho rằng quyết định đó có căn cứ nên không hủy bỏ; hoặc Cơ quan thanh tra không đồng ý với quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thì có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Nếu là Cơ quan thanh tra Chính phủ thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Nếu là Cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định cuối cùng. 2.8. Khi Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, nhưng quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ có kết quả khác với những nội dung ghi trong Bản kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra, thì Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp xác minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án để xử lý đúng với quy định của pháp luật. 3. Hồ sơ kiến nghị khởi tố 3.1. Người ra quyết định thanh tra là người có quyền quyết định chuyển hồ sơ và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự. Tài liệu trong hồ sơ kiến nghị khởi tố là tài liệu chính, nếu là tài liệu photocopy thì Trưởng đoàn thanh tra phải ký xác nhận, đóng dấu sao y bản chính và chịu trách nhiệm pháp lý về hồ sơ này. 3.2. Hồ sơ kiến nghị khởi tố gồm: a) Bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự do người ra quyết định thanh tra ký, trong đó nêu rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. b) Quyết định thanh tra, biên bản xác minh sự việc có vi phạm pháp luật do Đoàn thanh tra, thanh tra viên lập, báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra; c) Báo cáo của Trưởng đoàn thanh tra về những vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra có dấu hiệu tội phạm. Trong trường hợp cuộc thanh tra đã kết thúc, người ra quyết định thanh tra mới kiếnnghị cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự; thì hồ sơ kiến nghị khởi tố phải có Bản trích văn bản kết luận thanh tra về vụ việc vi phạm pháp luật mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Kèm theo hồ sơ kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra phải chuyển toàn bộ những tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ sách có liên quan cho Cơ quan điều tra. Những đồ vật, tiền, vàng… liên quan trực tiếp đến vụ việc vi phạm pháp luật thu được trong quá trình thanh tra phải được quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Việc giao nhận hồ sơ kiến nghị khởi tố Khi giao hồ sơ kiến nghị khởi tố sang Cơ quan điều tra, Cơ quan thanh tra phải lập bảng kê đầy đủ tên các tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ được tiến hành tại trụ sở Cơ quan điều tra và phải lập biên bản bàn giao nhận, người giao và người nhận ký biên bản và ghi rõ họ tên. 5. Tổ chức thực hiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện Thông tư này. Mỗi năm một lần, Viện kiểm sát các cấp chủ trì tổ chức họp lãnh đạo liên ngành Thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để đánh giá, rút kinh nghiệp về sự phối hợp trong công tác phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố, đồng thời bàn biện pháp phối hợp tiếp theo. 6. Hiệu lực của Thông tư Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn bổ sungthì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thanh tra địa phương phản ánh về Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=16161&Keyword=
2025-09-24T02:36:58.202428
../data\bocongan\032006TTLTVKSNDTC-TTrCP-BCA-BQP\document.json
06/05/2012
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về quan hệ phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố __________________ Để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Thanh tra, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật phòng, chống tham nhũng và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn như sau: 1. Về phạm vi mối quan hệ phối hợp Thông tư này quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (bao gồm cả Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quân đội) trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố vụ án hình sự. 2. Về mối quan hệ phối hợp trong việc xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố 2. 1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu Cơ quan thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, Cơ quan thanh tra chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở Cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của huyện nào, tỉnh nào hoặc của đơn vị quân đội cấp nào thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan điều tra cấp đó; vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra ở Cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của cấp bộ hoặc Chính phủ thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Sau khi nhập được hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố, qua kiểm tra thấy chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, thì Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp thu thập thêm tài liệu, chứng cứ bổ sung vào hồ sơ kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp Cơ quan thanh tra đã bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mà vẫn không có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, trả lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra giải quyết theo thẩm quyền. Việc giao trả hồ sơ giữa Cơ quan đều tra và Cơ quan thanh tra được tiến hành tại trụ sở Cơ quan điều tra. Nếu tài liệu bổ sung xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định này kèm tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trường hợp vụ việc vị phạm pháp luật có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nếu thấy cần thiết thì Cơ quan thanh tra tổ chức họp lãnh đạo liên ngành gồm Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để phân tích, đánh giá những tài liệu đã thu thập được. Nếu liên ngành thống nhất xác định vụ việc đã rõ dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra khẩn trương lập hồ sơ và văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 2. 2. Khi kết thúc cuộc thanh tra, Cơ quan thanh tra không kiến nghị khởi tố, nhưng Cơ quan điều tra phát hiện vụ việc đã thanh tra có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp này, nếu Cơ quan điều tra đề nghị thì Cơ quan thanh tra có trách nhiệm phối hợp cung cấp những tài liệu liên quan đến việc xác định tội phạm mà Cơ quan thanh tra đã thu thập được trong quá trình thanh tra. 2. 3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và bản kiến nghị khởi tố do Cơ quan thanh tra chuyển đến và trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan điều tra phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp vụ việc đó có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh ở nhiều nơi thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không được quá sáu mươi ngày; quá thời hạn này, Cơ quan thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý của Cơ quan điều tra, thì có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, giải quyết. Trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Cơ quan thanh tra kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để chỉ đạo, giải quyết. Cơ quan điều tra cấp dưới phải chấp hành ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. 2. 4. Khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra mà thấy sự việc phạm tội không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp trước khi ra quyết định chuyển hồ sơ đó cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát đã được Cơ quan thanh tra thông báo kiến nghị khởi tố và Viện kiểm sát cùng cấp với Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ. Khi Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phải chuyển ngay quyết định đó kèm theo các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc khởi tố theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố. 2. 5. Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phân công ngay Kiểm sát viên để kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định đó và đề xuất bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát ra một trong những quyết định sau đây: a) Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện việc điều tra theo quy định tại Điều 109 của Bộ luật tố tụng hình sự. b) Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Cơ quan điều tra giao lại hồ sơ cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị để giải quyết theo thẩm quyền. 2. 6. Trường hợp không đồng ý với các quyết định của Viện kiểm sát quy định tại các điểm a, b mục 2. 5 Thông tư này thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và báo cáo Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp Trung ương thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì ra quyết định hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định cuối cùng. 2. 7. Trường hợp Cơ quan thanh tra không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát cùng cấp cũng cho rằng quyết định đó có căn cứ nên không hủy bỏ; hoặc Cơ quan thanh tra không đồng ý với quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thì có quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Nếu là Cơ quan thanh tra Chính phủ thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Nếu là Cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng thì kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, quyết định. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới, nếu không đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định cuối cùng. 2. 8. Khi Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, nhưng quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ có kết quả khác với những nội dung ghi trong Bản kiến nghị khởi tố của Cơ quan thanh tra, thì Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan thanh tra phối hợp xác minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án để xử lý đúng với quy định của pháp luật. 3. Hồ sơ kiến nghị khởi tố 3. 1. Người ra quyết định thanh tra là người có quyền quyết định chuyển hồ sơ và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự. Tài liệu trong hồ sơ kiến nghị khởi tố là tài liệu chính, nếu là tài liệu photocopy thì Trưởng đoàn thanh tra phải ký xác nhận, đóng dấu sao y bản chính và chịu trách nhiệm pháp lý về hồ sơ này. 3. 2. Hồ sơ kiến nghị khởi tố gồm: a) Bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự do người ra quyết định thanh tra ký, trong đó nêu rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. b) Quyết định thanh tra, biên bản xác minh sự việc có vi phạm pháp luật do Đoàn thanh tra, thanh tra viên lập, báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra; c) Báo cáo của Trưởng đoàn thanh tra về những vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra có dấu hiệu tội phạm. Trong trường hợp cuộc thanh tra đã kết thúc, người ra quyết định thanh tra mới kiếnnghị cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự; thì hồ sơ kiến nghị khởi tố phải có Bản trích văn bản kết luận thanh tra về vụ việc vi phạm pháp luật mà Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Kèm theo hồ sơ kiến nghị khởi tố, Cơ quan thanh tra phải chuyển toàn bộ những tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ sách có liên quan cho Cơ quan điều tra. Những đồ vật, tiền, vàng… liên quan trực tiếp đến vụ việc vi phạm pháp luật thu được trong quá trình thanh tra phải được quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Việc giao nhận hồ sơ kiến nghị khởi tố Khi giao hồ sơ kiến nghị khởi tố sang Cơ quan điều tra, Cơ quan thanh tra phải lập bảng kê đầy đủ tên các tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ được tiến hành tại trụ sở Cơ quan điều tra và phải lập biên bản bàn giao nhận, người giao và người nhận ký biên bản và ghi rõ họ tên. 5. Tổ chức thực hiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện Thông tư này. Mỗi năm một lần, Viện kiểm sát các cấp chủ trì tổ chức họp lãnh đạo liên ngành Thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để đánh giá, rút kinh nghiệp về sự phối hợp trong công tác phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố, đồng thời bàn biện pháp phối hợp tiếp theo. 6. Hiệu lực của Thông tư Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn bổ sungthì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thanh tra địa phương phản ánh về Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
Hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về
03/2008/TTLT-BCA-BQP-BNG-BLĐTBXH
08/05/2008
Thông tư liên tịch
02/06/2008
Công báo số 271+272, năm 2008
18/05/2008
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 – 2010; Căn cứ Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em là công dân Việt Nam bị buôn bán từ nước ngoài trở về (sau đây gọi tắt là nạn nhân) để thực hiện Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (sau đây gọi tắt là Quy chế), như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Về tổ chức xác minh, tiếp nhận nạn nhân a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Cục QLXNC) – Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của các Bộ, ngành liên quan và chỉ đạo lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Công an tỉnh) tổ chức việc xác minh, tiếp nhận đối với: - Nạn nhân do nước ngoài trao trả theo khuôn khổ thỏa thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài; giữa Bộ Công an Việt Nam với cơ quan chức năng của nước ngoài về việc nhận trở lại công dân (sau đây gọi tắt là thỏa thuận song phương). - Nạn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) tiếp nhận thông tin, tài liệu và đề nghị Cục QLXNC xác minh. b) Bộ Tham mưu Bộ đội Biên phòng – Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của các Bộ, ngành liên quan và chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức việc xác minh, tiếp nhận nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ không qua thủ tục nêu tại điểm a khoản 1 mục này. 2. Về việc xác định nạn nhân a) Phụ nữ, trẻ em được xác định là nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể) nếu thuộc một trong các trường hợp sau: - Bị sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực; bị bắt cóc, bị ép buộc dưới nhiều hình thức để bán ra nước ngoài. - Bị lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương để bán ra nước ngoài hoặc đưa ra nước ngoài để nhận một lợi ích vật chất khác. b) Xác định nạn nhân là công việc của các cơ quan chức năng được quy định tại điểm c khoản 2 mục này nhằm xác minh, kết luận phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về là nạn nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Quy chế. Việc xác định nạn nhân dựa trên các căn cứ sau: - Tài liệu, bằng chứng do phía nước ngoài cung cấp. - Lời khai và bằng chứng do nạn nhân cung cấp. - Kết quả xác minh của Công an tỉnh nơi nạn nhân thường trú. - Kết quả xác minh của Bộ đội Biên phòng tỉnh - Lời khai của tội phạm thực hiện hành vi buôn bán nạn nhân. - Các nguồn cung cấp thông tin khác. c) Trách nhiệm xác định nạn nhân: - Cục QLXNC, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân được tiếp nhận theo thỏa thuận song phương. - Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân đang ở nước ngoài, do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin, tài liệu. - Bộ đội Biên phòng tỉnh biên giới chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ. - Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh nơi nạn nhân thường trú chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân đã trở về địa phương không qua tiếp nhận. 3. Giải thích từ ngữ a) Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây dùng để làm căn cứ xác định nạn nhân có quốc tịch Việt Nam: Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam; Quyết định công nhận con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài; Xác nhận đăng ký công dân do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp; Hộ khẩu; Thẻ cử tri; Giấy khai sinh; Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. b) Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về là giấy dành cho nạn nhân khai về lý lịch cá nhân và những vấn đề liên quan tới việc bị buôn bán ra nước ngoài. c) Giấy chứng nhận về nước dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về là giấy cấp cho nạn nhân sau khi được tiếp nhận để sử dụng đi đường, làm thủ tục đăng ký lại hộ khẩu và làm cơ sở cho các cơ quan chức năng thực hiện chế độ, chính sách với nạn nhân khi về địa phương. d) Cơ sở tiếp nhận nạn nhân là nơi tiếp nhận, giải quyết các thủ tục ban đầu và thực hiện các hỗ trợ cần thiết cho nạn nhân khi tiếp nhận. - Cục Quản lý xuất nhập cảnh lập cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại cửa khẩu sân bay quốc tế. - Công an tỉnh biên giới chỉ đạo Công an huyện biên giới lựa chọn xây dựng cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại những nơi cần thiết trong khu vực biên giới. - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng chỉ đạo Biên phòng tỉnh biên giới lập cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại các đồn Biên phòng. II. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÁC MINH, XÁC ĐỊNH, TIẾP NHẬN NẠN NHÂN 1. Trình tự, thủ tục xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân theo khuôn khổ thỏa thuận song phương a) Đối với nạn nhân đang cư trú tại một nước không tiếp giáp với Việt Nam a.1) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân - Cục QLXNC tiếp nhận đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài về việc nhận trở lại công dân và thông tin, tài liệu về nạn nhân như: giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam; thông tin, tài liệu liên quan đến việc nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài…. - Sau khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân, Cục QLXNC gửi văn bản đề nghị Công an địa phương nơi nạn nhân khai thường trú xác minh về nhân thân của nạn nhân và các căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. - Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Cục QLXNC có văn bản trả lời phía nước ngoài. Trường hợp xác định đúng là nạn nhân và đồng ý nhận trở lại và thì cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân gửi kèm theo văn bản trả lời đồng y tiếp nhận. - Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và đủ điều kiện nhận trở lại theo thỏa thuận song phương thì trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của phía nước ngoài, Cục QLXNC cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân gửi kèm theo văn bản trả lời phía nước ngoài đồng ý tiếp nhận hoặc thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân. a.2) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân - Cục QLXNC thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi nạn nhân về thường trú về kế hoạch tiếp nhận và danh sách nạn nhân trước khi nạn nhân về đến cửa khẩu ít nhất 03 ngày làm việc để phối hợp. - Cục QLXNC tiếp nhận nạn nhân do cơ quan chức năng của nước ngoài giao tại cửa khẩu sân bay quốc tế, làm thủ tục nhập cảnh và đưa nạn nhân về cơ sở tiếp nhận. - Tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân: Cục QLXNC chủ trì và phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi nạn nhân về thường trú thực hiện những việc sau: + Phỏng vấn nhanh nạn nhân để phân loại và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân gồm: hỗ trợ vật dụng sinh hoạt cần thiết; tư vấn về tâm lý, pháp lý; khám sức khỏe. + Hướng dẫn nạn nhân kê khai vào tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ của cơ sở tiếp nhận giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân; khai thác thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi buôn bán người mà nạn nhân biết và thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tỉnh có liên quan các thông tin, tài liệu thu thập được. + Cấp giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân. + Trường hợp nạn nhân có nguyện vọng được trở về gia đình ngay thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn đường để họ tự trở về; đồng thời có văn bản thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân thường trú để thực hiện chế độ, chính sách cho nạn nhân. Đối với nạn nhân cần chăm sóc về sức khỏe, tâm lý trước khi tái hòa nhập cộng đồng, nạn nhân là trẻ em thì bàn giao nạn nhân cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân về thường trú trong thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận; trong Biên bản bàn giao xác định rõ người trở về là nạn nhân. b) Đối với nạn nhân đang cư trú tại một nước tiếp giáp với Việt Nam b.1) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân - Cơ quan QLXNC Công an tỉnh biên giới tiếp nhận đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài về việc nhận trở lại công dân và thông tin, tài liệu về nạn nhân. Trường hợp đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài và thông tin, tài liệu gửi qua Biên phòng cửa khẩu thì Biên phòng cửa khẩu chuyển ngay cho cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới để xử lý. - Sau khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới gửi văn bản đề nghị Công an tỉnh nơi nạn nhân khai thường trú xác minh về nhân thân và căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. Nếu nạn nhân khai thường trú ở địa phương mình thì Công an tỉnh biên giới xác minh; nếu nạn nhân khai thường trú tại xã biên giới thì gửi văn bản đề nghị Bộ đội Biên phòng tỉnh nơi nạn nhân khai thường trú xác minh. Thời hạn xác minh không quá 10 ngày làm việc. - Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới có văn bản trả lời cơ quan chức năng nước ngoài đồng ý hoặc không tiếp nhận. - Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và thuộc diện Việt Nam đồng ý nhận trở lại theo thỏa thuận song phương thì trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Công an tỉnh biên giới gửi văn bản trả lời cơ quan chức năng nước ngoài đồng ý hoặc không đồng ý tiếp nhận. b.2) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân - Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới thống nhất với cơ quan chức năng nước ngoài về danh sách, thời gian, phương tiện và cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân; thông báo cho Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi tiếp nhận trước 03 ngày làm việc để phối hợp tiếp nhận và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân. - Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nhận bàn giao nạn nhân do cơ quan chức năng của nước ngoài trao tại cửa khẩu đường bộ; bàn giao nạn nhân cho cơ quan QLXNC Công an tỉnh biên giới để đưa về cơ sở tiếp nhận. - Tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan nơi tiếp nhận thực hiện như quy định tại tiết 3 điểm a.2 khoản 1 mục II. 2. Trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận nạn nhân do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin, tài liệu và đề nghị Cục QLXNC xác minh a) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài a.1) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan chức năng nước ngoài, do cơ quan chức năng của Việt Nam trao đổi hoặc do nạn nhân trực tiếp đến khai báo, xin về nước. a.2) Phối hợp với cơ quan thẩm quyền của nước sở tại nhanh chóng tiếp xúc với nạn nhân để kiểm tra, xác minh thông tin và thu thập, kiểm tra giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (nếu có); hướng dẫn nạn nhân kê khai tờ khai dành cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân. a.3) Gửi văn bản đề nghị Cục QLXNC xác minh về nhân thân của nạn nhân và các căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 30 ngày làm việc. Đối với trường hợp đặc biệt như: trẻ em không có người lớn đi kèm; phụ nữ, trẻ em không có năng lực hành vi; phụ nữ; trẻ em là nhân chứng cần được bảo vệ; phụ nữ, trẻ em đang ốm đau, bệnh nặng thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần nêu rõ tình trạng của nạn nhân và đề nghị Cục QLXNC xác minh, trả lời trong thời gian sớm nhất. a.4) Căn cứ kết quả xác minh của Cục QLXNC và các thông tin, tài liệu thu thập được, trường hợp xác định là nạn nhân thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp giấy thông hành, thu xếp cho nạn nhân về nước và thông báo cho Cục QLXNC trước 03 ngày làm việc về thời gian, cửa khẩu nhập cảnh của nạn nhân để tiếp nhận. Trong nội dung thông báo cho Cục QLXNC cần xác định rõ người trở về là nạn nhân. a.5) Trường hợp qua kiểm tra thông tin, tài liệu thu thập được có thể xác định ngay nạn nhân là công dân Việt Nam thì khẩn trương thực hiện: các biện pháp bảo hộ công dân; hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân có khó khăn về chỗ ở, vật dụng sinh hoạt cần thiết; cấp giấy thông hành, thu xếp cho nạn nhân được về nước trong thời gian sớm nhất. b) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân Sau khi nhận được thông báo của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về kế hoạch trở về của nạn nhân, Cục QLXNC tổ chức tiếp nhận (nếu nạn nhân về nước qua cửa khẩu sân bay quốc tế) như quy định tại điểm a.2 khoản 1 mục II hoặc thông báo cho cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới và Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp tiếp nhận (nếu nạn nhân về nước qua cửa khẩu đường bộ) như quy định tại điểm b.2 khoản 1 mục II. 3. Trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ Đơn vị Bộ đội Biên phòng tiếp nhận nạn nhân, đưa về cơ sở tiếp nhận tại đồn Biên phòng cửa khẩu và thực hiện những việc sau: a) Phỏng vấn nhanh nạn nhân để phân loại và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, gồm: hỗ trợ vật dụng sinh hoạt cần thiết; tư vấn tâm lý, tư vấn pháp lý; khám sức khỏe. b) Thu thập và kiểm tra giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, hướng dẫn nạn nhân kê khai tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ cơ sở tiếp nhận giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân; khai thác để thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi buôn bán người mà nạn nhân biết và thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an tỉnh có liên quan các thông tin, tài liệu đã thu thập được. c) Tiến hành xác minh về nạn nhân như sau: Trường hợp nạn nhân khai thường trú tại xã biên giới thì chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức xác minh trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc. Nếu nạn nhân khai thường trú ở khu vực khác thì có văn bản đề nghị Công an địa phương nơi nạn nhân khai thường trú xác minh; thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. d) Căn cứ kết quả xác minh và thông tin, tài liệu thu thập được, nếu xác định là nạn nhân thì Bộ đội Biên phòng tỉnh gửi văn bản đề nghị cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới cấp giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân, kèm theo tờ khai của nạn nhân. Trong văn bản nêu rõ người trở về là nạn nhân. đ) Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và có nguyện vọng được trở về gia đình ngay thì Bộ đội Biên phòng tỉnh hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn đường để họ tự trở về đồng thời có văn bản thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân về thường trú biết. Trong văn bản nêu rõ người trở về là nạn nhân để Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chế độ, chính sách cho người đó. Văn bản này được đồng gửi cho Công an tỉnh nơi nạn nhân về thường trú và Công an tỉnh biên giới để phối hợp. Công an tỉnh nơi nạn nhân về thường trú căn cứ văn bản thông báo nêu trên để hướng dẫn nạn nhân các thủ tục cần thiết. Đối với nạn nhân cần chăm sóc về sức khỏe, tâm lý trước khi tái hòa nhập cộng đồng, nạn nhân là trẻ em thì bàn giao cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi tiếp nhận trong vòng 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận. 4. Trình tự, thủ tục xác minh nạn nhân tự trở về không qua tiếp nhận a) Ủy ban nhân dân xã (UBND xã) nơi nạn nhân thường trú thu thập và xử lý thông tin về nạn nhân tự trở về không qua tiếp nhận theo phản ảnh của người dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội và do nạn nhân trình báo. - Hướng dẫn người tự trở về kê khai tờ khai dành cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về, tiếp xúc để thu thập thông tin, bằng chứng về việc nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài. - Trường hợp có dấu hiệu hoặc bằng chứng là nạn nhân thì lập hồ sơ và có văn bản gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh (thông qua phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện) trong thời gian không quá 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tờ khai của nạn nhân. Hồ sơ gồm: tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; tài liệu, bằng chứng thu thập được có liên quan đến việc xác định nạn nhân. b) Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của người tự trở về do UBND xã chuyển đến, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh gửi văn bản đề nghị cơ quan QLXNC – Công an tỉnh xác minh, xác định nạn nhân. c) Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh xác minh, trả lời trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh. Văn bản trả lời có nội dung xác định là nạn nhân hoặc kết luận không phải là nạn nhân. d) Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh căn cứ vào văn bản trả lời của cơ quan QLXNC – Công an tỉnh để hướng dẫn và xem xét, quyết định việc chi hỗ trợ cho nạn nhân theo chế độ quy định. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cơ quan chức năng tại các tỉnh trực tiếp phối hợp để thực hiện công tác xác minh, tiếp nhận, hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân và giải quyết các vấn đề khác liên quan đến nạn nhân gồm: cơ quan QLXNC – Công an tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh. 2. Cục trưởng Cục QLXNC – Công an chủ trì, phối hợp với Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng – Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Cục trưởng Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành các mẫu giấy tờ sau: Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Giấy chứng nhận về nước dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Biên bản giao, nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. 3. Định kỳ 6 tháng, Bộ Tham mưu – Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có văn bản thông báo Cục QLXNC về tình hình và số liệu nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ do Bộ đội Biên phòng tiếp nhận để tập hợp báo cáo lãnh đạo Bộ Công an trình Thủ tướng Chính phủ. 4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=24332&Keyword=
2025-09-24T02:36:19.611843
../data\bocongan\032008TTLT-BCA-BQP-BNG-BLĐTBXH\document.json
25/03/2014
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ - CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Quyết định số 130/2004/QĐ - TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 – 2010; Căn cứ Quyết định số 17/2007/QĐ - TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em là công dân Việt Nam bị buôn bán từ nước ngoài trở về (sau đây gọi tắt là nạn nhân) để thực hiện Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về (sau đây gọi tắt là Quy chế), như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Về tổ chức xác minh, tiếp nhận nạn nhân a) Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Cục QLXNC) – Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của các Bộ, ngành liên quan và chỉ đạo lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Công an tỉnh) tổ chức việc xác minh, tiếp nhận đối với: - Nạn nhân do nước ngoài trao trả theo khuôn khổ thỏa thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài; giữa Bộ Công an Việt Nam với cơ quan chức năng của nước ngoài về việc nhận trở lại công dân (sau đây gọi tắt là thỏa thuận song phương). - Nạn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) tiếp nhận thông tin, tài liệu và đề nghị Cục QLXNC xác minh. b) Bộ Tham mưu Bộ đội Biên phòng – Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng của các Bộ, ngành liên quan và chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức việc xác minh, tiếp nhận nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ không qua thủ tục nêu tại điểm a khoản 1 mục này. 2. Về việc xác định nạn nhân a) Phụ nữ, trẻ em được xác định là nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể) nếu thuộc một trong các trường hợp sau: - Bị sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực; bị bắt cóc, bị ép buộc dưới nhiều hình thức để bán ra nước ngoài. - Bị lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương để bán ra nước ngoài hoặc đưa ra nước ngoài để nhận một lợi ích vật chất khác. b) Xác định nạn nhân là công việc của các cơ quan chức năng được quy định tại điểm c khoản 2 mục này nhằm xác minh, kết luận phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về là nạn nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Quy chế. Việc xác định nạn nhân dựa trên các căn cứ sau: - Tài liệu, bằng chứng do phía nước ngoài cung cấp. - Lời khai và bằng chứng do nạn nhân cung cấp. - Kết quả xác minh của Công an tỉnh nơi nạn nhân thường trú. - Kết quả xác minh của Bộ đội Biên phòng tỉnh - Lời khai của tội phạm thực hiện hành vi buôn bán nạn nhân. - Các nguồn cung cấp thông tin khác. c) Trách nhiệm xác định nạn nhân: - Cục QLXNC, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân được tiếp nhận theo thỏa thuận song phương. - Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân đang ở nước ngoài, do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin, tài liệu. - Bộ đội Biên phòng tỉnh biên giới chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ. - Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh nơi nạn nhân thường trú chịu trách nhiệm xác định đối với nạn nhân đã trở về địa phương không qua tiếp nhận. 3. Giải thích từ ngữ a) Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây dùng để làm căn cứ xác định nạn nhân có quốc tịch Việt Nam: Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam; Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam; Quyết định công nhận con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài; Xác nhận đăng ký công dân do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp; Hộ khẩu; Thẻ cử tri; Giấy khai sinh; Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. b) Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về là giấy dành cho nạn nhân khai về lý lịch cá nhân và những vấn đề liên quan tới việc bị buôn bán ra nước ngoài. c) Giấy chứng nhận về nước dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về là giấy cấp cho nạn nhân sau khi được tiếp nhận để sử dụng đi đường, làm thủ tục đăng ký lại hộ khẩu và làm cơ sở cho các cơ quan chức năng thực hiện chế độ, chính sách với nạn nhân khi về địa phương. d) Cơ sở tiếp nhận nạn nhân là nơi tiếp nhận, giải quyết các thủ tục ban đầu và thực hiện các hỗ trợ cần thiết cho nạn nhân khi tiếp nhận. - Cục Quản lý xuất nhập cảnh lập cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại cửa khẩu sân bay quốc tế. - Công an tỉnh biên giới chỉ đạo Công an huyện biên giới lựa chọn xây dựng cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại những nơi cần thiết trong khu vực biên giới. - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng chỉ đạo Biên phòng tỉnh biên giới lập cơ sở tiếp nhận nạn nhân tại các đồn Biên phòng. II. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÁC MINH, XÁC ĐỊNH, TIẾP NHẬN NẠN NHÂN 1. Trình tự, thủ tục xác minh, xác định, tiếp nhận nạn nhân theo khuôn khổ thỏa thuận song phương a) Đối với nạn nhân đang cư trú tại một nước không tiếp giáp với Việt Nam a. 1) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân - Cục QLXNC tiếp nhận đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài về việc nhận trở lại công dân và thông tin, tài liệu về nạn nhân như: giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam; thông tin, tài liệu liên quan đến việc nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài…. - Sau khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân, Cục QLXNC gửi văn bản đề nghị Công an địa phương nơi nạn nhân khai thường trú xác minh về nhân thân của nạn nhân và các căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. - Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Cục QLXNC có văn bản trả lời phía nước ngoài. Trường hợp xác định đúng là nạn nhân và đồng ý nhận trở lại và thì cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân gửi kèm theo văn bản trả lời đồng y tiếp nhận. - Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và đủ điều kiện nhận trở lại theo thỏa thuận song phương thì trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của phía nước ngoài, Cục QLXNC cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân gửi kèm theo văn bản trả lời phía nước ngoài đồng ý tiếp nhận hoặc thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy thông hành về nước cho nạn nhân. a. 2) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân - Cục QLXNC thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi nạn nhân về thường trú về kế hoạch tiếp nhận và danh sách nạn nhân trước khi nạn nhân về đến cửa khẩu ít nhất 03 ngày làm việc để phối hợp. - Cục QLXNC tiếp nhận nạn nhân do cơ quan chức năng của nước ngoài giao tại cửa khẩu sân bay quốc tế, làm thủ tục nhập cảnh và đưa nạn nhân về cơ sở tiếp nhận. - Tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân: Cục QLXNC chủ trì và phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi nạn nhân về thường trú thực hiện những việc sau: + Phỏng vấn nhanh nạn nhân để phân loại và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân gồm: hỗ trợ vật dụng sinh hoạt cần thiết; tư vấn về tâm lý, pháp lý; khám sức khỏe. + Hướng dẫn nạn nhân kê khai vào tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp nạn nhân là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ của cơ sở tiếp nhận giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân; khai thác thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi buôn bán người mà nạn nhân biết và thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tỉnh có liên quan các thông tin, tài liệu thu thập được. + Cấp giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân. + Trường hợp nạn nhân có nguyện vọng được trở về gia đình ngay thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn đường để họ tự trở về; đồng thời có văn bản thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân thường trú để thực hiện chế độ, chính sách cho nạn nhân. Đối với nạn nhân cần chăm sóc về sức khỏe, tâm lý trước khi tái hòa nhập cộng đồng, nạn nhân là trẻ em thì bàn giao nạn nhân cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân về thường trú trong thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận; trong Biên bản bàn giao xác định rõ người trở về là nạn nhân. b) Đối với nạn nhân đang cư trú tại một nước tiếp giáp với Việt Nam b. 1) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân - Cơ quan QLXNC Công an tỉnh biên giới tiếp nhận đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài về việc nhận trở lại công dân và thông tin, tài liệu về nạn nhân. Trường hợp đề nghị của cơ quan chức năng nước ngoài và thông tin, tài liệu gửi qua Biên phòng cửa khẩu thì Biên phòng cửa khẩu chuyển ngay cho cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới để xử lý. - Sau khi tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới gửi văn bản đề nghị Công an tỉnh nơi nạn nhân khai thường trú xác minh về nhân thân và căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. Nếu nạn nhân khai thường trú ở địa phương mình thì Công an tỉnh biên giới xác minh; nếu nạn nhân khai thường trú tại xã biên giới thì gửi văn bản đề nghị Bộ đội Biên phòng tỉnh nơi nạn nhân khai thường trú xác minh. Thời hạn xác minh không quá 10 ngày làm việc. - Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới có văn bản trả lời cơ quan chức năng nước ngoài đồng ý hoặc không tiếp nhận. - Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và thuộc diện Việt Nam đồng ý nhận trở lại theo thỏa thuận song phương thì trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Công an tỉnh biên giới gửi văn bản trả lời cơ quan chức năng nước ngoài đồng ý hoặc không đồng ý tiếp nhận. b. 2) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân - Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới thống nhất với cơ quan chức năng nước ngoài về danh sách, thời gian, phương tiện và cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân; thông báo cho Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Phụ nữ tỉnh nơi tiếp nhận trước 03 ngày làm việc để phối hợp tiếp nhận và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân. - Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nhận bàn giao nạn nhân do cơ quan chức năng của nước ngoài trao tại cửa khẩu đường bộ; bàn giao nạn nhân cho cơ quan QLXNC Công an tỉnh biên giới để đưa về cơ sở tiếp nhận. - Tại cơ sở tiếp nhận nạn nhân, cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan nơi tiếp nhận thực hiện như quy định tại tiết 3 điểm a. 2 khoản 1 mục II. 2. Trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận nạn nhân do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin, tài liệu và đề nghị Cục QLXNC xác minh a) Tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài a. 1) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân do cơ quan chức năng nước ngoài, do cơ quan chức năng của Việt Nam trao đổi hoặc do nạn nhân trực tiếp đến khai báo, xin về nước. a. 2) Phối hợp với cơ quan thẩm quyền của nước sở tại nhanh chóng tiếp xúc với nạn nhân để kiểm tra, xác minh thông tin và thu thập, kiểm tra giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (nếu có); hướng dẫn nạn nhân kê khai tờ khai dành cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân. a. 3) Gửi văn bản đề nghị Cục QLXNC xác minh về nhân thân của nạn nhân và các căn cứ xác định nạn nhân. Thời hạn xác minh, trả lời không quá 30 ngày làm việc. Đối với trường hợp đặc biệt như: trẻ em không có người lớn đi kèm; phụ nữ, trẻ em không có năng lực hành vi; phụ nữ; trẻ em là nhân chứng cần được bảo vệ; phụ nữ, trẻ em đang ốm đau, bệnh nặng thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần nêu rõ tình trạng của nạn nhân và đề nghị Cục QLXNC xác minh, trả lời trong thời gian sớm nhất. a. 4) Căn cứ kết quả xác minh của Cục QLXNC và các thông tin, tài liệu thu thập được, trường hợp xác định là nạn nhân thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp giấy thông hành, thu xếp cho nạn nhân về nước và thông báo cho Cục QLXNC trước 03 ngày làm việc về thời gian, cửa khẩu nhập cảnh của nạn nhân để tiếp nhận. Trong nội dung thông báo cho Cục QLXNC cần xác định rõ người trở về là nạn nhân. a. 5) Trường hợp qua kiểm tra thông tin, tài liệu thu thập được có thể xác định ngay nạn nhân là công dân Việt Nam thì khẩn trương thực hiện: các biện pháp bảo hộ công dân; hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân có khó khăn về chỗ ở, vật dụng sinh hoạt cần thiết; cấp giấy thông hành, thu xếp cho nạn nhân được về nước trong thời gian sớm nhất. b) Tổ chức tiếp nhận nạn nhân Sau khi nhận được thông báo của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về kế hoạch trở về của nạn nhân, Cục QLXNC tổ chức tiếp nhận (nếu nạn nhân về nước qua cửa khẩu sân bay quốc tế) như quy định tại điểm a. 2 khoản 1 mục II hoặc thông báo cho cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới và Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp tiếp nhận (nếu nạn nhân về nước qua cửa khẩu đường bộ) như quy định tại điểm b. 2 khoản 1 mục II. 3. Trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ Đơn vị Bộ đội Biên phòng tiếp nhận nạn nhân, đưa về cơ sở tiếp nhận tại đồn Biên phòng cửa khẩu và thực hiện những việc sau: a) Phỏng vấn nhanh nạn nhân để phân loại và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, gồm: hỗ trợ vật dụng sinh hoạt cần thiết; tư vấn tâm lý, tư vấn pháp lý; khám sức khỏe. b) Thu thập và kiểm tra giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, hướng dẫn nạn nhân kê khai tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. Trường hợp là trẻ em, người dân tộc thiểu số, người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ cơ sở tiếp nhận giúp kê khai theo lời khai của nạn nhân; khai thác để thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi buôn bán người mà nạn nhân biết và thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an tỉnh có liên quan các thông tin, tài liệu đã thu thập được. c) Tiến hành xác minh về nạn nhân như sau: Trường hợp nạn nhân khai thường trú tại xã biên giới thì chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức xác minh trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc. Nếu nạn nhân khai thường trú ở khu vực khác thì có văn bản đề nghị Công an địa phương nơi nạn nhân khai thường trú xác minh; thời hạn xác minh, trả lời không quá 20 ngày làm việc. d) Căn cứ kết quả xác minh và thông tin, tài liệu thu thập được, nếu xác định là nạn nhân thì Bộ đội Biên phòng tỉnh gửi văn bản đề nghị cơ quan QLXNC – Công an tỉnh biên giới cấp giấy chứng nhận về nước cho nạn nhân, kèm theo tờ khai của nạn nhân. Trong văn bản nêu rõ người trở về là nạn nhân. đ) Trường hợp nạn nhân có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và có nguyện vọng được trở về gia đình ngay thì Bộ đội Biên phòng tỉnh hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn đường để họ tự trở về đồng thời có văn bản thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi nạn nhân về thường trú biết. Trong văn bản nêu rõ người trở về là nạn nhân để Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chế độ, chính sách cho người đó. Văn bản này được đồng gửi cho Công an tỉnh nơi nạn nhân về thường trú và Công an tỉnh biên giới để phối hợp. Công an tỉnh nơi nạn nhân về thường trú căn cứ văn bản thông báo nêu trên để hướng dẫn nạn nhân các thủ tục cần thiết. Đối với nạn nhân cần chăm sóc về sức khỏe, tâm lý trước khi tái hòa nhập cộng đồng, nạn nhân là trẻ em thì bàn giao cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh nơi tiếp nhận trong vòng 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận. 4. Trình tự, thủ tục xác minh nạn nhân tự trở về không qua tiếp nhận a) Ủy ban nhân dân xã (UBND xã) nơi nạn nhân thường trú thu thập và xử lý thông tin về nạn nhân tự trở về không qua tiếp nhận theo phản ảnh của người dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội và do nạn nhân trình báo. - Hướng dẫn người tự trở về kê khai tờ khai dành cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về, tiếp xúc để thu thập thông tin, bằng chứng về việc nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài. - Trường hợp có dấu hiệu hoặc bằng chứng là nạn nhân thì lập hồ sơ và có văn bản gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh (thông qua phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện) trong thời gian không quá 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tờ khai của nạn nhân. Hồ sơ gồm: tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; tài liệu, bằng chứng thu thập được có liên quan đến việc xác định nạn nhân. b) Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của người tự trở về do UBND xã chuyển đến, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh gửi văn bản đề nghị cơ quan QLXNC – Công an tỉnh xác minh, xác định nạn nhân. c) Cơ quan QLXNC – Công an tỉnh xác minh, trả lời trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh. Văn bản trả lời có nội dung xác định là nạn nhân hoặc kết luận không phải là nạn nhân. d) Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh căn cứ vào văn bản trả lời của cơ quan QLXNC – Công an tỉnh để hướng dẫn và xem xét, quyết định việc chi hỗ trợ cho nạn nhân theo chế độ quy định. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cơ quan chức năng tại các tỉnh trực tiếp phối hợp để thực hiện công tác xác minh, tiếp nhận, hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân và giải quyết các vấn đề khác liên quan đến nạn nhân gồm: cơ quan QLXNC – Công an tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh. 2. Cục trưởng Cục QLXNC – Công an chủ trì, phối hợp với Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng – Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Cục trưởng Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành các mẫu giấy tờ sau: Tờ khai dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Giấy chứng nhận về nước dùng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về; Biên bản giao, nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về. 3. Định kỳ 6 tháng, Bộ Tham mưu – Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có văn bản thông báo Cục QLXNC về tình hình và số liệu nạn nhân được giải cứu trở về hoặc tự trở về qua biên giới đường bộ do Bộ đội Biên phòng tiếp nhận để tập hợp báo cáo lãnh đạo Bộ Công an trình Thủ tướng Chính phủ. 4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. /.
Quy định việc cấp, phát, quản lý và sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
03/2010/TTLT-BYT-BCA
20/01/2010
Thông tư liên tịch
01/04/2010
Công báo số 87+88, năm 2010
12/02/2010
Bộ Y tế
Thứ trưởng
Trịnh Quân Huấn
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc cấp, phát, quản lý và sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV __________________ Căn cứ Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về p hòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ Y tế và Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ, mẫu Thẻ, việc cấp, phát, quản lý và sử dụng Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV (sau đây viết gọn là nhân viên tiếp cận cộng đồng) như sau: Chương I TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CẤP THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG VÀ MẪU THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG Điều 1. Tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng 1. Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng. 2. Là người không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều 2. Hình thức, chất liệu và màu sắc của Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng 1. Chất liệu Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng (sau đây viết gọn là Thẻ): giấy Couche định lượng 230 g/m 2 và ép Plastic. 2. Kích thước Thẻ: chiều dài 10 cm, chiều rộng 6,5 cm. 3. Màu sắc của Thẻ: nền Thẻ màu trắng; dòng chữ “THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG” và biểu tượng của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS ở mặt trước Thẻ màu đỏ; tất cả các chữ khác trên Thẻ màu đen. Điều 3. Nội dung Thẻ 1. Mặt trước Thẻ gồm các thông tin sau: a) Bên trái, từ trên xuống: - Biểu tượng của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS; - Ảnh cỡ 2cm x 3cm của nhân viên tiếp cận cộng đồng có đóng dấu giáp lai của đơn vị cấp Thẻ; - Số Thẻ; - Thời hạn sử dụng Thẻ. b) Bên phải, từ trên xuống: - Tên đơn vị cấp Thẻ; - Dòng chữ “THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG” bằng chữ in hoa; - Họ và tên; giới tính; - Ngày, tháng, năm sinh; - Phạm vi nhiệm vụ; - Địa bàn được phép hoạt động; - Ngày, tháng, năm cấp Thẻ; - Chữ ký, họ và tên của thủ trưởng đơn vị cấp Thẻ và đóng dấu của đơn vị cấp Thẻ. 2. Mặt sau Thẻ gồm các quy định về sử dụng Thẻ, cụ thể như sau: a) Chỉ được sử dụng Thẻ khi tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại địa bàn được phân công theo đúng quy định của pháp luật; b) Không được tẩy xoá, sửa chữa, cho người khác mượn Thẻ; c) Khi Thẻ bị mất, rách, nhàu nát hoặc hết hạn sử dụng phải báo ngay cho người đứng đầu chương trình, dự án để đề nghị cấp lại Thẻ. 3. Mẫu Thẻ theo quy định tại Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Chương II CẤP THẺ VÀ THU HỒI THẺ Điều 4. Hồ sơ đề nghị cấp Thẻ 1. Hồ sơ đề nghị cấp Thẻ lần đầu: a) Đơn đề nghị cấp Thẻ có dán ảnh 4cm x 6 cm (theo quy định tại Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) 02 ảnh cỡ 2cm x 3cm của người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng; c) Giấy xác nhận nhân thân người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo quy định tại Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); d) Danh sách người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng có xác nhận của người đứng đầu chương trình, dự án; đ) Công văn đề nghị cấp Thẻ cho những người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng của người đứng đầu chương trình, dự án. 2. Hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ: a) Đơn đề nghị cấp lại Thẻ có dán ảnh 4cm x 6cm, trong đó nêu rõ lý do đề nghị cấp lại Thẻ (theo quy định tại Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) 02 ảnh cỡ 2cm x 3cm của nhân viên tiếp cận cộng đồng đề nghị cấp lại Thẻ; c) Danh sách nhân viên tiếp cận cộng đồng đề nghị cấp lại Thẻ có xác nhận của người đứng đầu chương trình, dự án; d) Công văn đề nghị cấp lại Thẻ cho những nhân viên tiếp cận cộng đồng của người đứng đầu chương trình, dự án. Điều 5. Thẩm quyền, trình tự cấp Thẻ 1. Thẩm quyền cấp Thẻ: Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS hoặc cơ quan đầu mối về phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS) có thẩm quyền cấp Thẻ cho các nhân viên tiếp cận cộng đồng trong phạm vi địa bàn tỉnh. 2. Trình tự xét, cấp Thẻ lần đầu: a) Người có nguyện vọng làm nhân viên tiếp cận cộng đồng tự nguyện viết đơn đề nghị cấp Thẻ và nộp cho người đứng đầu chương trình, dự án; b) Người đứng đầu chương trình, dự án lập danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng và gửi danh sách này kèm theo đơn tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng về Công an xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Công an cấp xã) nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú để đề nghị xác nhận về nhân thân của những người đó; c) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp Thẻ và danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng do người đứng đầu chương trình, dự án gửi đến, Công an cấp xã xem xét để xác nhận về nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú cũng như các nội dung quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch này (theo quy định tại Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không xác nhận, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do; d) Sau khi nhận được giấy xác nhận về nhân thân của Công an cấp xã, người đứng đầu chương trình, dự án hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị cấp Thẻ gửi đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; đ) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ban hành quyết định cấp Thẻ cho những người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không cấp, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. 3. Trình tự cấp lại Thẻ: a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Thẻ bị mất, hỏng và trong thời hạn 01 tháng, trước khi Thẻ hết hạn sử dụng, nhân viên tiếp cận cộng đồng phải làm đơn đề nghị cấp lại Thẻ và gửi người đứng đầu chương trình, dự án; b) Người đứng đầu chương trình, dự án có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ và gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ban hành quyết định cấp lại Thẻ cho nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không cấp, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. Điều 6. Thời hạn sử dụng Thẻ Thời hạn sử dụng Thẻ phù hợp với thời hạn hoạt động của từng chương trình, dự án nhưng tối đa mỗi lần cấp không quá 05 năm, kể từ ngày cấp Thẻ. Điều 7. Các trường hợp bị thu hồi Thẻ, thẩm quyền, trình tự thu hồi Thẻ 1. Thẻ bị thu hồi trong những trường hợp sau: a) Nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này; b) Thẻ hết thời hạn sử dụng hoặc chương trình, dự án hết thời hạn hoạt động; c) Người có Thẻ không tiếp tục tham gia chương trình, dự án. 2. Thẩm quyền thu hồi Thẻ: Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS có thẩm quyền thu hồi Thẻ đã cấp cho các nhân viên tiếp cận cộng đồng trong phạm vi địa bàn tỉnh. 3. Trình tự thu hồi Thẻ: a) Khi phát hiện các trường hợp phải thu hồi Thẻ theo quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu chương trình, dự án, cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp và Trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Trạm Y tế cấp xã) phải tạm giữ Thẻ. Việc tạm giữ Thẻ phải lập biên bản (theo Mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp phát hiện nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này thì trước khi tạm giữ Thẻ phải lập biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (theo Mẫu số 06 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ Thẻ, người đứng đầu chương trình, dự án, cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp và Trạm Y tế cấp xã phải gửi Thẻ và biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (nếu có) về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS để xem xét, quyết định việc thu hồi Thẻ; c) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Thẻ bị tạm giữ và biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (nếu có) do các cơ quan quy định tại điểm b khoản 3 Điều này gửi đến, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ra quyết định thu hồi Thẻ (theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không thu hồi Thẻ phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. Đối với trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tự mình phát hiện các trường hợp phải thu hồi Thẻ thì Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS ra quyết định thu hồi Thẻ ngay mà không phải làm thủ tục tạm giữ Thẻ. Trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phát hiện nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này thì phải lập biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ trước khi ra quyết định thu hồi Thẻ. d) Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định thu hồi Thẻ, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải gửi quyết định thu hồi Thẻ đến chương trình, dự án nơi nhân viên tiếp cận cộng đồng đang hoạt động và các cơ quan quy định tại điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch này. Chương III QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THẺ Điều 8. Quản lý Thẻ 1. Người đứng đầu chương trình, dự án và người trực tiếp phụ trách nhân viên tiếp cận cộng đồng chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng Thẻ theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và Thông tư liên tịch này. 2. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS chịu trách nhiệm: a) Quản lý hồ sơ đề nghị cấp Thẻ lần đầu và cấp lại Thẻ; b) Cấp, phát, thu hồi và hủy Thẻ; c) Kiểm tra, giám sát việc sử dụng Thẻ; d) Thông báo cho Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân, Trạm Y tế và Công an cấp xã nơi chương trình, dự án hoạt động danh sách những người được cấp Thẻ, bị thu hồi Thẻ hoặc không đủ điều kiện tiếp tục sử dụng Thẻ nhưng chưa thu hồi được Thẻ để phối hợp trong việc quản lý, phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm. 3. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ quan y tế cùng cấp trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ nhân viên tiếp cận cộng đồng thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và của Thông tư liên tịch này. Điều 9. Sử dụng Thẻ 1. Thẻ chỉ được sử dụng khi nhân viên tiếp cận cộng đồng trực tiếp tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại địa bàn được phân công trong chương trình, dự án. 2. Nhân viên tiếp cận cộng đồng có nhiệm vụ bảo quản Thẻ, không để mất hoặc hỏng Thẻ; phải viết bản tường trình nộp cho người đứng đầu chương trình, dự án nơi mình đang làm việc khi Thẻ bị mất, rách, nhàu nát. 3. Nghiêm cấm các hành vi sau: a) Cho người khác mượn Thẻ hoặc mượn Thẻ của người khác; b) Tẩy xoá, sửa chữa hoặc làm giả Thẻ; c) Sử dụng Thẻ không đúng mục đích hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Bộ Y tế, Bộ Công an trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quán triệt, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện Thông tư liên tịch này trong các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Hàng năm, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức tổng kết để đánh giá kết quả việc phối hợp thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Sở Y tế phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp và các cơ quan có liên quan tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này tại địa phương. 3. Hàng năm, Sở Y tế chủ trì, phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tổ chức tổng kết, đánh giá việc cấp, phát, quản lý, sử dụng Thẻ, hoạt động của nhân viên tiếp cận cộng đồng tại địa phương và báo cáo kết quả về liên Bộ. Điều 11. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2010. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc nảy sinh, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Y tế, Bộ Công an để có hướng dẫn kịp thời .
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=24982&Keyword=
2025-09-24T02:35:54.043098
../data\bocongan\032010TTLT-BYT-BCA\document.json
09/05/2025
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định việc cấp, phát, quản lý và sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV __________________ Căn cứ Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về p hòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ - CP ngày 27/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ Y tế và Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ, mẫu Thẻ, việc cấp, phát, quản lý và sử dụng Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV (sau đây viết gọn là nhân viên tiếp cận cộng đồng) như sau: Chương I TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CẤP THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG VÀ MẪU THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG Điều 1. Tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng 1. Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng. 2. Là người không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều 2. Hình thức, chất liệu và màu sắc của Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng 1. Chất liệu Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng (sau đây viết gọn là Thẻ): giấy Couche định lượng 230 g/m 2 và ép Plastic. 2. Kích thước Thẻ: chiều dài 10 cm, chiều rộng 6, 5 cm. 3. Màu sắc của Thẻ: nền Thẻ màu trắng; dòng chữ “THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG” và biểu tượng của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS ở mặt trước Thẻ màu đỏ; tất cả các chữ khác trên Thẻ màu đen. Điều 3. Nội dung Thẻ 1. Mặt trước Thẻ gồm các thông tin sau: a) Bên trái, từ trên xuống: - Biểu tượng của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS; - Ảnh cỡ 2cm x 3cm của nhân viên tiếp cận cộng đồng có đóng dấu giáp lai của đơn vị cấp Thẻ; - Số Thẻ; - Thời hạn sử dụng Thẻ. b) Bên phải, từ trên xuống: - Tên đơn vị cấp Thẻ; - Dòng chữ “THẺ NHÂN VIÊN TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG” bằng chữ in hoa; - Họ và tên; giới tính; - Ngày, tháng, năm sinh; - Phạm vi nhiệm vụ; - Địa bàn được phép hoạt động; - Ngày, tháng, năm cấp Thẻ; - Chữ ký, họ và tên của thủ trưởng đơn vị cấp Thẻ và đóng dấu của đơn vị cấp Thẻ. 2. Mặt sau Thẻ gồm các quy định về sử dụng Thẻ, cụ thể như sau: a) Chỉ được sử dụng Thẻ khi tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại địa bàn được phân công theo đúng quy định của pháp luật; b) Không được tẩy xoá, sửa chữa, cho người khác mượn Thẻ; c) Khi Thẻ bị mất, rách, nhàu nát hoặc hết hạn sử dụng phải báo ngay cho người đứng đầu chương trình, dự án để đề nghị cấp lại Thẻ. 3. Mẫu Thẻ theo quy định tại Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Chương II CẤP THẺ VÀ THU HỒI THẺ Điều 4. Hồ sơ đề nghị cấp Thẻ 1. Hồ sơ đề nghị cấp Thẻ lần đầu: a) Đơn đề nghị cấp Thẻ có dán ảnh 4cm x 6 cm (theo quy định tại Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) 02 ảnh cỡ 2cm x 3cm của người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng; c) Giấy xác nhận nhân thân người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo quy định tại Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); d) Danh sách người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng có xác nhận của người đứng đầu chương trình, dự án; đ) Công văn đề nghị cấp Thẻ cho những người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng của người đứng đầu chương trình, dự án. 2. Hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ: a) Đơn đề nghị cấp lại Thẻ có dán ảnh 4cm x 6cm, trong đó nêu rõ lý do đề nghị cấp lại Thẻ (theo quy định tại Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) 02 ảnh cỡ 2cm x 3cm của nhân viên tiếp cận cộng đồng đề nghị cấp lại Thẻ; c) Danh sách nhân viên tiếp cận cộng đồng đề nghị cấp lại Thẻ có xác nhận của người đứng đầu chương trình, dự án; d) Công văn đề nghị cấp lại Thẻ cho những nhân viên tiếp cận cộng đồng của người đứng đầu chương trình, dự án. Điều 5. Thẩm quyền, trình tự cấp Thẻ 1. Thẩm quyền cấp Thẻ: Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS hoặc cơ quan đầu mối về phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS) có thẩm quyền cấp Thẻ cho các nhân viên tiếp cận cộng đồng trong phạm vi địa bàn tỉnh. 2. Trình tự xét, cấp Thẻ lần đầu: a) Người có nguyện vọng làm nhân viên tiếp cận cộng đồng tự nguyện viết đơn đề nghị cấp Thẻ và nộp cho người đứng đầu chương trình, dự án; b) Người đứng đầu chương trình, dự án lập danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng và gửi danh sách này kèm theo đơn tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng về Công an xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Công an cấp xã) nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú để đề nghị xác nhận về nhân thân của những người đó; c) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp Thẻ và danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng do người đứng đầu chương trình, dự án gửi đến, Công an cấp xã xem xét để xác nhận về nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú cũng như các nội dung quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch này (theo quy định tại Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không xác nhận, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do; d) Sau khi nhận được giấy xác nhận về nhân thân của Công an cấp xã, người đứng đầu chương trình, dự án hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị cấp Thẻ gửi đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; đ) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ban hành quyết định cấp Thẻ cho những người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không cấp, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. 3. Trình tự cấp lại Thẻ: a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Thẻ bị mất, hỏng và trong thời hạn 01 tháng, trước khi Thẻ hết hạn sử dụng, nhân viên tiếp cận cộng đồng phải làm đơn đề nghị cấp lại Thẻ và gửi người đứng đầu chương trình, dự án; b) Người đứng đầu chương trình, dự án có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ và gửi Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS; c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ban hành quyết định cấp lại Thẻ cho nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không cấp, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. Điều 6. Thời hạn sử dụng Thẻ Thời hạn sử dụng Thẻ phù hợp với thời hạn hoạt động của từng chương trình, dự án nhưng tối đa mỗi lần cấp không quá 05 năm, kể từ ngày cấp Thẻ. Điều 7. Các trường hợp bị thu hồi Thẻ, thẩm quyền, trình tự thu hồi Thẻ 1. Thẻ bị thu hồi trong những trường hợp sau: a) Nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này; b) Thẻ hết thời hạn sử dụng hoặc chương trình, dự án hết thời hạn hoạt động; c) Người có Thẻ không tiếp tục tham gia chương trình, dự án. 2. Thẩm quyền thu hồi Thẻ: Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS có thẩm quyền thu hồi Thẻ đã cấp cho các nhân viên tiếp cận cộng đồng trong phạm vi địa bàn tỉnh. 3. Trình tự thu hồi Thẻ: a) Khi phát hiện các trường hợp phải thu hồi Thẻ theo quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu chương trình, dự án, cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp và Trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Trạm Y tế cấp xã) phải tạm giữ Thẻ. Việc tạm giữ Thẻ phải lập biên bản (theo Mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp phát hiện nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này thì trước khi tạm giữ Thẻ phải lập biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (theo Mẫu số 06 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này); b) Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ Thẻ, người đứng đầu chương trình, dự án, cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp và Trạm Y tế cấp xã phải gửi Thẻ và biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (nếu có) về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS để xem xét, quyết định việc thu hồi Thẻ; c) Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Thẻ bị tạm giữ và biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ (nếu có) do các cơ quan quy định tại điểm b khoản 3 Điều này gửi đến, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ra quyết định thu hồi Thẻ (theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không thu hồi Thẻ phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp. Đối với trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tự mình phát hiện các trường hợp phải thu hồi Thẻ thì Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS ra quyết định thu hồi Thẻ ngay mà không phải làm thủ tục tạm giữ Thẻ. Trường hợp Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phát hiện nhân viên tiếp cận cộng đồng vi phạm các hành vi bị cấm quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch này thì phải lập biên bản vi phạm pháp luật về sử dụng Thẻ trước khi ra quyết định thu hồi Thẻ. d) Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định thu hồi Thẻ, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải gửi quyết định thu hồi Thẻ đến chương trình, dự án nơi nhân viên tiếp cận cộng đồng đang hoạt động và các cơ quan quy định tại điểm d khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch này. Chương III QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THẺ Điều 8. Quản lý Thẻ 1. Người đứng đầu chương trình, dự án và người trực tiếp phụ trách nhân viên tiếp cận cộng đồng chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng Thẻ theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và Thông tư liên tịch này. 2. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS chịu trách nhiệm: a) Quản lý hồ sơ đề nghị cấp Thẻ lần đầu và cấp lại Thẻ; b) Cấp, phát, thu hồi và hủy Thẻ; c) Kiểm tra, giám sát việc sử dụng Thẻ; d) Thông báo cho Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân, Trạm Y tế và Công an cấp xã nơi chương trình, dự án hoạt động danh sách những người được cấp Thẻ, bị thu hồi Thẻ hoặc không đủ điều kiện tiếp tục sử dụng Thẻ nhưng chưa thu hồi được Thẻ để phối hợp trong việc quản lý, phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm. 3. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ quan y tế cùng cấp trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ nhân viên tiếp cận cộng đồng thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 108/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và của Thông tư liên tịch này. Điều 9. Sử dụng Thẻ 1. Thẻ chỉ được sử dụng khi nhân viên tiếp cận cộng đồng trực tiếp tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV tại địa bàn được phân công trong chương trình, dự án. 2. Nhân viên tiếp cận cộng đồng có nhiệm vụ bảo quản Thẻ, không để mất hoặc hỏng Thẻ; phải viết bản tường trình nộp cho người đứng đầu chương trình, dự án nơi mình đang làm việc khi Thẻ bị mất, rách, nhàu nát. 3. Nghiêm cấm các hành vi sau: a) Cho người khác mượn Thẻ hoặc mượn Thẻ của người khác; b) Tẩy xoá, sửa chữa hoặc làm giả Thẻ; c) Sử dụng Thẻ không đúng mục đích hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 10. Trách nhiệm thi hành 1. Bộ Y tế, Bộ Công an trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quán triệt, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện Thông tư liên tịch này trong các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Hàng năm, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức tổng kết để đánh giá kết quả việc phối hợp thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Sở Y tế phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp và các cơ quan có liên quan tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch này tại địa phương. 3. Hàng năm, Sở Y tế chủ trì, phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp tổ chức tổng kết, đánh giá việc cấp, phát, quản lý, sử dụng Thẻ, hoạt động của nhân viên tiếp cận cộng đồng tại địa phương và báo cáo kết quả về liên Bộ. Điều 11. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2010. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc nảy sinh, đề nghị các đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Y tế, Bộ Công an để có hướng dẫn kịp thời.
Hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân
03/2012/TTLT-BCA-BQP-BNG
13/02/2012
Thông tư liên tịch
02/04/2012
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng - Trung tướng
Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 104/2008/NĐ-CP ngày 16-9-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04-02-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao; Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài bị kết án tử hình như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn về nguyên tắc, thủ tục thông báo, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình (gọi chung là phạm nhân). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là Cơ quan ngoại giao, lãnh sự), các trại giam, trại tạm giam, phạm nhân là người nước ngoài và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó. Điều 3. Nguyên tắc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình 1. Tuân thủ quy định pháp luật. 2. Bảo đảm chính sách nhân đạo và bình đẳng trước pháp luật. 3. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình. 4. Khuyến khích người chấp hành án tự giác tích cực học tập, lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ của người chấp hành án. Chương II THỦ TỤC THÔNG BÁO THĂM GẶP, TIẾP XÚC LÃNH SỰ Điều 4. Thông báo việc phạm nhân đến chấp hành án phạt tù 1. Trong thời gian 5 (năm) ngày làm việc, kể từ khi tiếp nhận phạm nhân là người nước ngoài đến trại giam chấp hành án phạt tù hoặc kể từ ngày người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình, giám thị trại giam, trại tạm giam phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao và báo cáo cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng biết. 2. Nội dung thông báo gồm: họ và tên của phạm nhân; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu; tội danh, ngày bắt, án phạt, án phí, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác (nếu có) và Tòa án đã kết án; ngày đến trại giam, nơi thi hành án; tình trạng sức khỏe khi vào trại giam; các thông tin liên quan khác (nếu có). 3. Cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự của nước có phạm nhân mang quốc tịch để xác nhận quốc tịch của họ. 4. Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của trại giam, cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng kết quả việc xác minh quốc tịch của phạm nhân. Điều 5. Thông báo phạm nhân chấp hành xong án phạt tù và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình có quyết định thi hành án Giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao và báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng trong các trường hợp sau: 1. Bốn (4) tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù; 2. Ngay sau khi phạm nhân được đặc xá hoặc giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù; 3. Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành án tử hình của cơ quan có thẩm quyền đối với người nước ngoài bị kết án tử hình. 4. Nội dung thông báo gồm: họ và tên của phạm nhân; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; tội danh, ngày bắt, án phạt, án phí, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác (nếu có) mà phạm nhân còn phải chấp hành và Tòa án đã kết án; thời gian hết án, kết quả chấp hành án phạt tù và thông tin cần thiết khác có liên quan; Cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự nước phạm nhân mang quốc tịch biết để làm thủ tục tiếp nhận công dân của mình đúng ngày được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù hoặc để biết về quyết định thi hành án tử hình của cơ quan có thẩm quyền đối với người mang quốc tịch nước mình bị kết án tử hình. Chương III TỔ CHỨC THĂM GẶP, TIẾP XÚC LÃNH SỰ Điều 6. Thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự là hoạt động của viên chức ngoại giao, lãnh sự thuộc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự nước có phạm nhân mang quốc tịch đến thực hiện thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Cơ quan ngoại giao, lãnh sự có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân mang quốc tịch nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao. Nội dung văn bản yêu cầu gồm: a) Tên Cơ quan ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản; b) Họ và tên, quốc tịch phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; c) Trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án; d) Họ và tên, chức vụ của những người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; đ) Họ và tên người phiên dịch (nếu có). 3. Trong thời hạn 5 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao để thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự đã đề nghị biết để liên hệ với Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Điều 7. Trách nhiệm của người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Xuất trình giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, chứng minh thư ngoại giao, lãnh sự. 2. Chấp hành các quy định của trại giam, trại tạm giam về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 3. Không được chuyển cho phạm nhân những đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam hoặc tiếp xúc, liên hệ với người khác trong khu vực thăm gặp. 4. Động viên phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Không được có lời nói hoặc cử chỉ thể hiện sự ủng hộ, khích lệ đối với hành vi vi phạm pháp luật của phạm nhân. 5. Trong quá trình thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự không được sử dụng phương tiện ghi hình, ghi âm, chụp ảnh hoặc sử dụng các thiết bị kỹ thuật khác nếu không được sự đồng ý của cán bộ giám sát. 6. Tôn trọng luật pháp và phong tục, tập quán của Việt Nam. 7. Không được tiến hành các hoạt động khác ngoài nội dung thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Điều 8. Trách nhiệm của trại giam, trại tạm giam 1. Tổ chức thực hiện việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân. 2. Có biện pháp theo dõi, giám sát việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nhằm bảo đảm an ninh, an toàn cho cán bộ ngoại giao, lãnh sự và kịp thời, phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật các hành vi lợi dụng thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự để vu khống, tuyên truyền xuyên tạc sự thật hoặc vi phạm quy định về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam. Điều 9. Trách nhiệm của cán bộ theo dõi thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Tiếp nhận giấy giới thiệu đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, kiểm tra chứng minh thư ngoại giao, lãnh sự của người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Thông báo quy định của trại giam, trại tạm giam về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 3. Thông báo về tình hình sức khỏe, thái độ cải tạo của phạm nhân được thăm gặp. 4. Theo dõi, giám sát quá trình thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, lập biên bản ghi nhận việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 5. Trong quá trình theo dõi thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nếu phát hiện người đến thăm hoặc phạm nhân được thăm gặp vi phạm quy định về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự hoặc Nội quy trại giam, trại tạm giam thì cán bộ theo dõi có quyền nhắc nhở hoặc yêu cầu chấm dứt việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 6. Báo cáo giám thị trại giam, trại tạm giam xử lý những kiến nghị của Cơ quan ngoại giao, lãnh sự (nếu có). Điều 10. Thời gian thăm gặp 1. Thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự được thực hiện trong giờ làm việc, ngày làm việc. 2. Phạm nhân được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự mỗi tháng một lần, mỗi lần không quá 1 (một) giờ. 3. Trong trường hợp đặc biệt và được sự đồng ý của giám thị trại giam, trại tạm giam thì được kéo dài thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nhưng không quá 2 (hai) giờ. Điều 11. Các trường hợp không giải quyết thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Phạm nhân có văn bản từ chối việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Vì lý do bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trại giam, trại tam giam hoặc phòng, chống dịch bệnh, thiên tai. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự có đề nghị biết rõ lý do không giải quyết thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 12. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02-4-2012. Những hướng dẫn trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Điều 13. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122185&Keyword=
2025-09-24T02:35:24.716922
../data\bocongan\032012TTLT-BCA-BQP-BNG\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 - 9 - 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 104/2008/NĐ - CP ngày 16 - 9 - 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ - CP ngày 04 - 02 - 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao; Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài bị kết án tử hình như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn về nguyên tắc, thủ tục thông báo, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình (gọi chung là phạm nhân). Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là Cơ quan ngoại giao, lãnh sự), các trại giam, trại tạm giam, phạm nhân là người nước ngoài và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó. Điều 3. Nguyên tắc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình 1. Tuân thủ quy định pháp luật. 2. Bảo đảm chính sách nhân đạo và bình đẳng trước pháp luật. 3. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình. 4. Khuyến khích người chấp hành án tự giác tích cực học tập, lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ của người chấp hành án. Chương II THỦ TỤC THÔNG BÁO THĂM GẶP, TIẾP XÚC LÃNH SỰ Điều 4. Thông báo việc phạm nhân đến chấp hành án phạt tù 1. Trong thời gian 5 (năm) ngày làm việc, kể từ khi tiếp nhận phạm nhân là người nước ngoài đến trại giam chấp hành án phạt tù hoặc kể từ ngày người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình, giám thị trại giam, trại tạm giam phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao và báo cáo cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng biết. 2. Nội dung thông báo gồm: họ và tên của phạm nhân; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu; tội danh, ngày bắt, án phạt, án phí, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác (nếu có) và Tòa án đã kết án; ngày đến trại giam, nơi thi hành án; tình trạng sức khỏe khi vào trại giam; các thông tin liên quan khác (nếu có). 3. Cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự của nước có phạm nhân mang quốc tịch để xác nhận quốc tịch của họ. 4. Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của trại giam, cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng kết quả việc xác minh quốc tịch của phạm nhân. Điều 5. Thông báo phạm nhân chấp hành xong án phạt tù và người nước ngoài phạm tội bị kết án tử hình có quyết định thi hành án Giám thị trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao và báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng trong các trường hợp sau: 1. Bốn (4) tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù; 2. Ngay sau khi phạm nhân được đặc xá hoặc giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù; 3. Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành án tử hình của cơ quan có thẩm quyền đối với người nước ngoài bị kết án tử hình. 4. Nội dung thông báo gồm: họ và tên của phạm nhân; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; giới tính; quốc tịch; tội danh, ngày bắt, án phạt, án phí, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác (nếu có) mà phạm nhân còn phải chấp hành và Tòa án đã kết án; thời gian hết án, kết quả chấp hành án phạt tù và thông tin cần thiết khác có liên quan; Cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự nước phạm nhân mang quốc tịch biết để làm thủ tục tiếp nhận công dân của mình đúng ngày được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù hoặc để biết về quyết định thi hành án tử hình của cơ quan có thẩm quyền đối với người mang quốc tịch nước mình bị kết án tử hình. Chương III TỔ CHỨC THĂM GẶP, TIẾP XÚC LÃNH SỰ Điều 6. Thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự là hoạt động của viên chức ngoại giao, lãnh sự thuộc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự nước có phạm nhân mang quốc tịch đến thực hiện thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Cơ quan ngoại giao, lãnh sự có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân mang quốc tịch nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao. Nội dung văn bản yêu cầu gồm: a) Tên Cơ quan ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản; b) Họ và tên, quốc tịch phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; c) Trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án; d) Họ và tên, chức vụ của những người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; đ) Họ và tên người phiên dịch (nếu có). 3. Trong thời hạn 5 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan chức năng thuộc Bộ Ngoại giao để thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự đã đề nghị biết để liên hệ với Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Điều 7. Trách nhiệm của người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Xuất trình giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, chứng minh thư ngoại giao, lãnh sự. 2. Chấp hành các quy định của trại giam, trại tạm giam về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 3. Không được chuyển cho phạm nhân những đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam hoặc tiếp xúc, liên hệ với người khác trong khu vực thăm gặp. 4. Động viên phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Không được có lời nói hoặc cử chỉ thể hiện sự ủng hộ, khích lệ đối với hành vi vi phạm pháp luật của phạm nhân. 5. Trong quá trình thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự không được sử dụng phương tiện ghi hình, ghi âm, chụp ảnh hoặc sử dụng các thiết bị kỹ thuật khác nếu không được sự đồng ý của cán bộ giám sát. 6. Tôn trọng luật pháp và phong tục, tập quán của Việt Nam. 7. Không được tiến hành các hoạt động khác ngoài nội dung thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Điều 8. Trách nhiệm của trại giam, trại tạm giam 1. Tổ chức thực hiện việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân. 2. Có biện pháp theo dõi, giám sát việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nhằm bảo đảm an ninh, an toàn cho cán bộ ngoại giao, lãnh sự và kịp thời, phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật các hành vi lợi dụng thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự để vu khống, tuyên truyền xuyên tạc sự thật hoặc vi phạm quy định về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam. Điều 9. Trách nhiệm của cán bộ theo dõi thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Tiếp nhận giấy giới thiệu đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, kiểm tra chứng minh thư ngoại giao, lãnh sự của người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Thông báo quy định của trại giam, trại tạm giam về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 3. Thông báo về tình hình sức khỏe, thái độ cải tạo của phạm nhân được thăm gặp. 4. Theo dõi, giám sát quá trình thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, lập biên bản ghi nhận việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 5. Trong quá trình theo dõi thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nếu phát hiện người đến thăm hoặc phạm nhân được thăm gặp vi phạm quy định về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự hoặc Nội quy trại giam, trại tạm giam thì cán bộ theo dõi có quyền nhắc nhở hoặc yêu cầu chấm dứt việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 6. Báo cáo giám thị trại giam, trại tạm giam xử lý những kiến nghị của Cơ quan ngoại giao, lãnh sự (nếu có). Điều 10. Thời gian thăm gặp 1. Thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự được thực hiện trong giờ làm việc, ngày làm việc. 2. Phạm nhân được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự mỗi tháng một lần, mỗi lần không quá 1 (một) giờ. 3. Trong trường hợp đặc biệt và được sự đồng ý của giám thị trại giam, trại tạm giam thì được kéo dài thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự nhưng không quá 2 (hai) giờ. Điều 11. Các trường hợp không giải quyết thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự 1. Phạm nhân có văn bản từ chối việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. 2. Vì lý do bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trại giam, trại tam giam hoặc phòng, chống dịch bệnh, thiên tai. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan ngoại giao, lãnh sự có đề nghị biết rõ lý do không giải quyết thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 12. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 - 4 - 2012. Những hướng dẫn trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Điều 13. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để có hướng dẫn kịp thời.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng
03/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BCA
10/02/2012
Thông tư liên tịch
26/03/2012
Công báo số 179+180, năm 2012
01/03/2012
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thứ trưởng
Nguyễn Trọng Đàm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng ____________________________ Căn cứ Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng; Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/09/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Liên bộ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng (sau đây gọi tắt là Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ) như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định: 1. Việc thành lập, giải thể và quy chế làm việc của Tổ công tác cai nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là Tổ công tác). 2. Thẩm quyền và thủ tục xác định người nghiện ma túy. 3. Điều kiện và hoạt động của cơ sở điều trị cắt cơn nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là cơ sở điều trị cắt cơn). 4. Việc đánh giá kết quả cai nghiện và cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. Điều 2. Nguyên tắc hướng dẫn và áp dụng pháp luật 1. Thông tư này hướng dẫn những điều, khoản, điểm mà Nghị định số 94/2010/NĐ-CP giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Công an hướng dẫn thi hành và những vấn đề khác có liên quan đến việc thực hiện hoạt động cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng. 2. Ngoài việc áp dụng Nghị định số 94/2010/NĐ-CP và Thông tư này, việc thực hiện cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng còn phải thực hiện các quy định của Luật phòng, chống ma túy và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Chương II QUY ĐỊNH VỀ THÀNH LẬP, GIẢI THỂ VÀ QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY Điều 3. Thành lập, giải thể Tổ công tác 1. Thành lập Tổ công tác: a) Hồ sơ đề nghị thành lập Tổ công tác do cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là cấp xã) lập, gồm các giấy tờ sau: - Tờ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy; - Kế hoạch tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cai nghiện ma túy tại cộng đồng đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt; - Danh sách các thành viên dự kiến tham gia Tổ công tác. b) Thành phần và số lượng thành viên Tổ công tác: - Thành phần Tổ công tác gồm: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Tổ trưởng, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã làm Thường trực và các thành viên theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 94/2010/NĐ-CP; - Số lượng thành viên Tổ công tác: Đối với xã có dưới 20 người cai nghiện, Tổ công tác gồm 07 người; đối với xã có từ 20 người cai nghiện trở lên cứ thêm 03 người cai nghiện thì thêm 01 người tham gia Tổ công tác. Căn cứ nơi cư trú của người cai nghiện, Tổ công tác bố trí các thành viên tại tổ dân phố, thôn, ấp, bản để thuận tiện cho công tác quản lý, giúp đỡ người cai nghiện. c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị thành lập Tổ công tác, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Tổ công tác; d) Nội dung Quyết định thành lập Tổ công tác thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này. 2. Giải thể Tổ công tác: Tổ công tác tự giải thể sau khi hết thời hạn hoạt động theo Quyết định thành lập. Trường hợp chưa hết thời hạn nhưng trên địa bàn xã không còn người cai nghiện thì Tổ trưởng Tổ công tác trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giải thể. Điều 4. Quy chế làm việc của Tổ công tác Quy chế làm việc của Tổ công tác do Tổ trưởng Tổ công tác xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt căn cứ vào Điều 5 Nghị định số 94/2010/NĐ-CP và quy định tại Điều này, bao gồm các nội dung chính sau: 1. Nguyên tắc làm việc của Tổ công tác a) Tổ công tác làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự phân công, phân nhiệm của Tổ trưởng Tổ công tác. Mọi hoạt động của các thành viên phải tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy; b) Mỗi thành viên được phân công trực tiếp theo dõi, quản lý một số người cai nghiện và phối hợp với thành viên khác thực hiện nội dung hoạt động liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ của mình; c) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người cai nghiện trong việc tiếp cận dịch vụ tư vấn, chăm sóc y tế, tâm lý và xã hội cho người cai nghiện. 2. Nhiệm vụ của Tổ trưởng Tổ công tác a) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng và phê duyệt các phương án tổ chức điều trị cắt cơn cho người cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; b) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể tại địa phương phối hợp với Tổ công tác thực hiện kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; c) Phân công trách nhiệm đối với từng thành viên Tổ công tác trong việc thực hiện kế hoạch cai nghiện và kế hoạch giúp đỡ người cai nghiện ma túy; d) Chủ trì thẩm tra hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và các phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; đ) Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 3. Nhiệm vụ của Thường trực Tổ công tác a) Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; b) Tổng hợp hồ sơ phục vụ cho công tác thẩm tra việc đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; c) Chuẩn bị các thủ tục để Tổ trưởng Tổ công tác trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Quyết định về quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, Quyết định về cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng, Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này; cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này; d) Định kỳ hoặc đột xuất tổng hợp báo cáo kết quả cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; đ) Quản lý hồ sơ cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng theo quy định. 4. Nhiệm vụ của thành viên Tổ công tác a) Thành viên là cán bộ Công an cấp xã có trách nhiệm - Lập hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy; - Thu thập tài liệu, lập, kiểm tra hồ sơ để xác định đối tượng thuộc diện cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; - Giữ gìn trật tự, an toàn cho công tác cai nghiện và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và gia đình người nghiện ma túy theo dõi, giúp đỡ, quản lý người nghiện ma túy trong và sau khi cai nghiện theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ công tác. b) Thành viên là cán bộ Y tế cấp xã có trách nhiệm - Thẩm tra, xác định tình trạng nghiện của người nghiện ma túy và tổ chức xét nghiệm tìm chất ma túy khi cần thiết; - Hướng dẫn người nghiện ma túy và gia đình hoặc người giám hộ lập và thực hiện kế hoạch cai nghiện; - Lập hồ sơ bệnh án, tổ chức điều trị cắt cơn nghiện và điều trị các rối loạn sinh học cho người cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này. c) Các thành viên khác có trách nhiệm giám sát, theo dõi, quản lý, giúp đỡ người được cai nghiện theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ công tác. 5. Chế độ hội họp, báo cáo a) Định kỳ hàng tháng Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm triệu tập các thành viên tham gia họp định kỳ, mỗi thành viên báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng và đề ra kế hoạch cho tháng tiếp theo. b) Định kỳ hàng tháng, quý, 06 tháng và 01 năm hoặc đột xuất Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chương III THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC XÁC ĐỊNH NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY Điều 5. Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy khi đủ các điều kiện sau: 1. Là bác sỹ hoặc y sỹ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp. 2. Thuộc trong các đối tượng sau a) Trạm trưởng trạm Y tế cấp xã; b) Bệnh xá trưởng Bệnh xá Quân y; c) Giám đốc, Trưởng khoa Khám bệnh các Phòng khám khu vực, Bệnh viện cấp huyện trở lên; d) Giám đốc, Trưởng Phòng Y tế của Trung tâm cai nghiện ma túy. Điều 6. Thủ tục xác định người nghiện ma túy 1. Hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy gồm: a) Văn bản đề nghị xác định người nghiện ma túy của công an cấp xã; b) Sơ yếu lý lịch tóm tắt của người được đề nghị xác định nghiện ma túy theo mẫu quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này; c) Bản sao tài liệu chứng minh hành vi sử dụng ma túy bất hợp pháp. 2. Thủ tục xác định người nghiện ma túy a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy của Công an cấp xã, người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy tại Khoản 1 Điều này, căn cứ vào tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế để xác định tình trạng nghiện ma túy; b) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải trả lời bằng văn bản kết quả xác định nghiện ma túy theo mẫu quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Chương IV ĐIỀU KIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG Điều 7. Điều kiện đối với cơ sở điều trị cắt cơn nghiện ma túy tại cộng đồng 1. Trường hợp thành lập cơ sở điều trị cắt cơn riêng biệt a) Về cơ sở vật chất, thiết bị: cơ sở điều trị cắt cơn phải xây dựng thành khu liên hoàn, cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy và tối thiểu phải có 03 phòng chức năng và các thiết bị kèm theo như sau: - Phòng khám và cấp cứu: Diện tích tối thiểu 10m 2 trong đó có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; - Phòng lưu bệnh nhân: Diện tích tối thiểu 8m 2 và bằng hoặc lớn hơn 4m 2 /người điều trị; phòng phải thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông và trong phòng có đủ mỗi bệnh nhân 01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; - Phòng thường trực của cán bộ y tế, bảo vệ. b) Về cán bộ phải có tối thiểu 04 người gồm: Phụ trách đơn vị điều trị cắt cơn là y, bác sỹ chuyên khoa tâm thần hoặc đa khoa có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy; 01 y, bác sỹ điều trị; 01 điều dưỡng viên; 01 bảo vệ. 2. Trường hợp không thành lập cơ sở điều trị cắt cơn riêng biệt theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 94/2010/NĐ-CP mà thực hiện kết hợp với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội, các cơ sở khác được phép điều trị cắt cơn trong khu vực để tổ chức điều trị cắt cơn cho người nghiện ma túy thì khu vực điều trị cắt cơn phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Về cơ sở vật chất, thiết bị: Khu vực để tổ chức điều trị cắt cơn phải bảo đảm cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy; có đầy đủ dụng cụ sinh hoạt cho người nghiện ma túy theo định mức 01 người/01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm: giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; b) Về nhân sự: cán bộ điều trị cắt cơn, giải độc cho người nghiện ma túy phải qua đào tạo, tập huấn về điều trị hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy và được Sở Y tế cấp chứng chỉ. Điều 8. Hoạt động của cơ sở điều trị cắt cơn 1. Hoạt động chuyên môn về cắt cơn a) Lập hồ sơ bệnh án theo mẫu quy định. Việc ghi chép, bảo quản hồ sơ bệnh án phải thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; b) Thực hiện chế độ điều trị cắt cơn theo phác đồ do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. 2. Hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tại cơ sở. a) Tuyên truyền, giáo dục cho người cai nghiện nâng cao nhận thức, thực hiện các hành vi an toàn dự phòng lây truyền HIV và các bệnh truyền nhiễm khác tại cơ sở; b) Thực hiện các chế độ kiểm soát nhiễm khuẩn theo quy định của Bộ Y tế; c) Bảo đảm liên tục trong điều trị thuốc kháng HIV đối với các trường hợp người người nghiện ma túy đang được điều trị bằng thuốc kháng HIV. 3. Bảo đảm trật tự, an toàn cho đối tượng điều trị cắt cơn tại cơ sở, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phòng tránh thẩm lậu ma túy và các hành vi mất an toàn khác của đối tượng. 4. Hướng dẫn gia đình quản lý, chăm sóc, hỗ trợ người nghiện ma túy trong quá trình điều trị cắt cơn, tư vấn, động viên, khích lệ để họ an tâm điều trị. Chương V ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAI NGHIỆN VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN HOÀN THÀNH THỜI GIAN CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG Điều 9. Nội dung quản lý, giám sát người cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng. 1. Quản lý, giúp đỡ người cai nghiện thực hiện kế hoạch cai nghiện cá nhân, bao gồm: a) Giám sát thực hiện thời gian biểu hàng ngày; b) Hướng dẫn người nghiện ma túy tham gia học nghề, lao động sản xuất, sinh hoạt câu lạc bộ và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao do địa phương tổ chức; c) Quản lý việc chấp hành các chế độ về cư trú, đi lại, thông tin, báo cáo; 2. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất tổ chức xét nghiệm nước tiểu để xác định hành vi sử dụng ma túy của người cai nghiện. Điều 10. Đánh giá kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng 1. Nội dung đánh giá a) Tình trạng sức khỏe của người cai nghiện; b) Trạng thái tinh thần, tâm lý của người cai nghiện, mối quan hệ của người cai nghiện với các thành viên trong gia đình và mối quan hệ của người cai nghiện với cộng đồng dân cư; c) Tình trạng sử dụng ma túy; d) Kết quả học nghề, lao động sản xuất và tham gia các hoạt động khác tại địa phương. 2. Phương pháp đánh giá a) Cán bộ được phân công theo dõi giúp đỡ người cai nghiện, Tổ trưởng tổ dân phố nơi người cai nghiện cư trú và gia đình quan sát thái độ, hành vi của người cai nghiện trong việc thực hiện kế hoạch cai nghiện cá nhân của họ và nhận xét bằng văn bản; b) Tổ trưởng Tổ công tác tổ chức các cuộc họp Tổ công tác, họp Tổ dân phố, thôn, bản để đánh giá kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và ghi lại biên bản cuộc họp; c) Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu. 3. Việc đánh giá kết quả cai nghiện phải được thực hiện định kỳ hàng tháng và đánh giá khi kết thúc thời gian cai nghiện. Điều 11. Đánh giá kết quả cai nghiện và cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng 1. Người cai nghiện ma túy được cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Kết quả xét nghiệm không dương tính với chất ma túy; b) Đã thực hiện đầy đủ nội dung kế hoạch cai nghiện cá nhân đối với người tự nguyện cai nghiện tại gia đình; c) Đã thực hiện nghiêm chỉnh quy trình cai nghiện đối với người tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và người bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. 2. Tổ trưởng Tổ công tác tổ chức đánh giá kết quả cai nghiện đối với từng người cai nghiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư này và làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Chương VI TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 12. Trách nhiệm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội 1. Chủ trì phối hợp với Sở Y tế, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ; xây dựng quy chế làm việc, cơ chế phối hợp và mối quan hệ của các ban, ngành, đoàn thể; bố trí cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng, đặc biệt là ở cấp xã. 2. Tổ chức đào tạo tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về tư vấn điều trị nghiện ma túy và dự phòng tái nghiện cho đội ngũ cán bộ làm công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 3. Hướng dẫn và kiểm tra việc tổ chức cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 4. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: - Chỉ đạo cấp xã xây dựng và triển khai kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng và hướng dẫn, giám sát việc thực hiện; - Xây dựng các cơ sở điều trị cắt cơn theo cụm xã, nâng cấp các phòng khám để điều trị cắt cơn và bố trí nhân lực, vật lực cho công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Điều 13. Trách nhiệm của Sở Y tế 1. Tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ về điều trị cắt cơn nghiện ma túy cho đội ngũ cán bộ y tế tại địa phương. 2. Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các cơ sở điều trị cắt cơn; việc xác định người nghiện ma túy và xét nghiệm tìm chất ma túy. Điều 14. Trách nhiệm của Công an cấp tỉnh 1. Tổ chức tập huấn công tác bảo vệ bảo đảm trật tự, an toàn tại cơ sở điều trị cắt cơn. 2. Chỉ đạo Công an cấp xã - Lập hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy; - Lập hồ sơ cai nghiện tự nguyện tại gia đình và tại cộng đồng và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. 2. Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT/BLĐTBXH-BYT-BCA ngày 24/01/2003 của liên bộ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2002/NĐ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng kể từ thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đề nghị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an để xem xét, giải quyết./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27365&Keyword=
2025-09-24T02:35:26.410102
../data\bocongan\032012TTLT-BLĐTBXH-BYT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 94/2010/NĐ - CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng ____________________________ Căn cứ Nghị định số 94/2010/NĐ - CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng; Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ - CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ - CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15/09/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Liên bộ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 94/2010/NĐ - CP ngày 09/09/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng (sau đây gọi tắt là Nghị định số 94/2010/NĐ - CP ) như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định: 1. Việc thành lập, giải thể và quy chế làm việc của Tổ công tác cai nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là Tổ công tác). 2. Thẩm quyền và thủ tục xác định người nghiện ma túy. 3. Điều kiện và hoạt động của cơ sở điều trị cắt cơn nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là cơ sở điều trị cắt cơn). 4. Việc đánh giá kết quả cai nghiện và cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. Điều 2. Nguyên tắc hướng dẫn và áp dụng pháp luật 1. Thông tư này hướng dẫn những điều, khoản, điểm mà Nghị định số 94/2010/NĐ - CP giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Bộ Công an hướng dẫn thi hành và những vấn đề khác có liên quan đến việc thực hiện hoạt động cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng. 2. Ngoài việc áp dụng Nghị định số 94/2010/NĐ - CP và Thông tư này, việc thực hiện cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng còn phải thực hiện các quy định của Luật phòng, chống ma túy và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Chương II QUY ĐỊNH VỀ THÀNH LẬP, GIẢI THỂ VÀ QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CÔNG TÁC CAI NGHIỆN MA TÚY Điều 3. Thành lập, giải thể Tổ công tác 1. Thành lập Tổ công tác: a) Hồ sơ đề nghị thành lập Tổ công tác do cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là cấp xã) lập, gồm các giấy tờ sau: - Tờ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy; - Kế hoạch tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cai nghiện ma túy tại cộng đồng đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt; - Danh sách các thành viên dự kiến tham gia Tổ công tác. b) Thành phần và số lượng thành viên Tổ công tác: - Thành phần Tổ công tác gồm: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Tổ trưởng, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã làm Thường trực và các thành viên theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 94/2010/NĐ - CP; - Số lượng thành viên Tổ công tác: Đối với xã có dưới 20 người cai nghiện, Tổ công tác gồm 07 người; đối với xã có từ 20 người cai nghiện trở lên cứ thêm 03 người cai nghiện thì thêm 01 người tham gia Tổ công tác. Căn cứ nơi cư trú của người cai nghiện, Tổ công tác bố trí các thành viên tại tổ dân phố, thôn, ấp, bản để thuận tiện cho công tác quản lý, giúp đỡ người cai nghiện. c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị thành lập Tổ công tác, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Tổ công tác; d) Nội dung Quyết định thành lập Tổ công tác thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này. 2. Giải thể Tổ công tác: Tổ công tác tự giải thể sau khi hết thời hạn hoạt động theo Quyết định thành lập. Trường hợp chưa hết thời hạn nhưng trên địa bàn xã không còn người cai nghiện thì Tổ trưởng Tổ công tác trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giải thể. Điều 4. Quy chế làm việc của Tổ công tác Quy chế làm việc của Tổ công tác do Tổ trưởng Tổ công tác xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt căn cứ vào Điều 5 Nghị định số 94/2010/NĐ - CP và quy định tại Điều này, bao gồm các nội dung chính sau: 1. Nguyên tắc làm việc của Tổ công tác a) Tổ công tác làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự phân công, phân nhiệm của Tổ trưởng Tổ công tác. Mọi hoạt động của các thành viên phải tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy; b) Mỗi thành viên được phân công trực tiếp theo dõi, quản lý một số người cai nghiện và phối hợp với thành viên khác thực hiện nội dung hoạt động liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ của mình; c) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người cai nghiện trong việc tiếp cận dịch vụ tư vấn, chăm sóc y tế, tâm lý và xã hội cho người cai nghiện. 2. Nhiệm vụ của Tổ trưởng Tổ công tác a) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng và phê duyệt các phương án tổ chức điều trị cắt cơn cho người cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; b) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể tại địa phương phối hợp với Tổ công tác thực hiện kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; c) Phân công trách nhiệm đối với từng thành viên Tổ công tác trong việc thực hiện kế hoạch cai nghiện và kế hoạch giúp đỡ người cai nghiện ma túy; d) Chủ trì thẩm tra hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và các phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; đ) Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 3. Nhiệm vụ của Thường trực Tổ công tác a) Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; b) Tổng hợp hồ sơ phục vụ cho công tác thẩm tra việc đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; c) Chuẩn bị các thủ tục để Tổ trưởng Tổ công tác trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Quyết định về quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, Quyết định về cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng, Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này; cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này; d) Định kỳ hoặc đột xuất tổng hợp báo cáo kết quả cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng; đ) Quản lý hồ sơ cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng theo quy định. 4. Nhiệm vụ của thành viên Tổ công tác a) Thành viên là cán bộ Công an cấp xã có trách nhiệm - Lập hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy; - Thu thập tài liệu, lập, kiểm tra hồ sơ để xác định đối tượng thuộc diện cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng; - Giữ gìn trật tự, an toàn cho công tác cai nghiện và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và gia đình người nghiện ma túy theo dõi, giúp đỡ, quản lý người nghiện ma túy trong và sau khi cai nghiện theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ công tác. b) Thành viên là cán bộ Y tế cấp xã có trách nhiệm - Thẩm tra, xác định tình trạng nghiện của người nghiện ma túy và tổ chức xét nghiệm tìm chất ma túy khi cần thiết; - Hướng dẫn người nghiện ma túy và gia đình hoặc người giám hộ lập và thực hiện kế hoạch cai nghiện; - Lập hồ sơ bệnh án, tổ chức điều trị cắt cơn nghiện và điều trị các rối loạn sinh học cho người cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng theo mẫu quy định tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này. c) Các thành viên khác có trách nhiệm giám sát, theo dõi, quản lý, giúp đỡ người được cai nghiện theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ công tác. 5. Chế độ hội họp, báo cáo a) Định kỳ hàng tháng Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm triệu tập các thành viên tham gia họp định kỳ, mỗi thành viên báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng và đề ra kế hoạch cho tháng tiếp theo. b) Định kỳ hàng tháng, quý, 06 tháng và 01 năm hoặc đột xuất Tổ trưởng Tổ công tác có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chương III THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC XÁC ĐỊNH NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY Điều 5. Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy khi đủ các điều kiện sau: 1. Là bác sỹ hoặc y sỹ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp. 2. Thuộc trong các đối tượng sau a) Trạm trưởng trạm Y tế cấp xã; b) Bệnh xá trưởng Bệnh xá Quân y; c) Giám đốc, Trưởng khoa Khám bệnh các Phòng khám khu vực, Bệnh viện cấp huyện trở lên; d) Giám đốc, Trưởng Phòng Y tế của Trung tâm cai nghiện ma túy. Điều 6. Thủ tục xác định người nghiện ma túy 1. Hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy gồm: a) Văn bản đề nghị xác định người nghiện ma túy của công an cấp xã; b) Sơ yếu lý lịch tóm tắt của người được đề nghị xác định nghiện ma túy theo mẫu quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này; c) Bản sao tài liệu chứng minh hành vi sử dụng ma túy bất hợp pháp. 2. Thủ tục xác định người nghiện ma túy a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy của Công an cấp xã, người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy tại Khoản 1 Điều này, căn cứ vào tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế để xác định tình trạng nghiện ma túy; b) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải trả lời bằng văn bản kết quả xác định nghiện ma túy theo mẫu quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Chương IV ĐIỀU KIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG Điều 7. Điều kiện đối với cơ sở điều trị cắt cơn nghiện ma túy tại cộng đồng 1. Trường hợp thành lập cơ sở điều trị cắt cơn riêng biệt a) Về cơ sở vật chất, thiết bị: cơ sở điều trị cắt cơn phải xây dựng thành khu liên hoàn, cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy và tối thiểu phải có 03 phòng chức năng và các thiết bị kèm theo như sau: - Phòng khám và cấp cứu: Diện tích tối thiểu 10m 2 trong đó có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; - Phòng lưu bệnh nhân: Diện tích tối thiểu 8m 2 và bằng hoặc lớn hơn 4m 2 /người điều trị; phòng phải thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông và trong phòng có đủ mỗi bệnh nhân 01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; - Phòng thường trực của cán bộ y tế, bảo vệ. b) Về cán bộ phải có tối thiểu 04 người gồm: Phụ trách đơn vị điều trị cắt cơn là y, bác sỹ chuyên khoa tâm thần hoặc đa khoa có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy; 01 y, bác sỹ điều trị; 01 điều dưỡng viên; 01 bảo vệ. 2. Trường hợp không thành lập cơ sở điều trị cắt cơn riêng biệt theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 94/2010/NĐ - CP mà thực hiện kết hợp với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội, các cơ sở khác được phép điều trị cắt cơn trong khu vực để tổ chức điều trị cắt cơn cho người nghiện ma túy thì khu vực điều trị cắt cơn phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Về cơ sở vật chất, thiết bị: Khu vực để tổ chức điều trị cắt cơn phải bảo đảm cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy; có đầy đủ dụng cụ sinh hoạt cho người nghiện ma túy theo định mức 01 người/01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm: giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; b) Về nhân sự: cán bộ điều trị cắt cơn, giải độc cho người nghiện ma túy phải qua đào tạo, tập huấn về điều trị hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy và được Sở Y tế cấp chứng chỉ. Điều 8. Hoạt động của cơ sở điều trị cắt cơn 1. Hoạt động chuyên môn về cắt cơn a) Lập hồ sơ bệnh án theo mẫu quy định. Việc ghi chép, bảo quản hồ sơ bệnh án phải thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; b) Thực hiện chế độ điều trị cắt cơn theo phác đồ do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. 2. Hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tại cơ sở. a) Tuyên truyền, giáo dục cho người cai nghiện nâng cao nhận thức, thực hiện các hành vi an toàn dự phòng lây truyền HIV và các bệnh truyền nhiễm khác tại cơ sở; b) Thực hiện các chế độ kiểm soát nhiễm khuẩn theo quy định của Bộ Y tế; c) Bảo đảm liên tục trong điều trị thuốc kháng HIV đối với các trường hợp người người nghiện ma túy đang được điều trị bằng thuốc kháng HIV. 3. Bảo đảm trật tự, an toàn cho đối tượng điều trị cắt cơn tại cơ sở, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phòng tránh thẩm lậu ma túy và các hành vi mất an toàn khác của đối tượng. 4. Hướng dẫn gia đình quản lý, chăm sóc, hỗ trợ người nghiện ma túy trong quá trình điều trị cắt cơn, tư vấn, động viên, khích lệ để họ an tâm điều trị. Chương V ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAI NGHIỆN VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN HOÀN THÀNH THỜI GIAN CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG Điều 9. Nội dung quản lý, giám sát người cai nghiện ma túy tại gia đình và tại cộng đồng. 1. Quản lý, giúp đỡ người cai nghiện thực hiện kế hoạch cai nghiện cá nhân, bao gồm: a) Giám sát thực hiện thời gian biểu hàng ngày; b) Hướng dẫn người nghiện ma túy tham gia học nghề, lao động sản xuất, sinh hoạt câu lạc bộ và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao do địa phương tổ chức; c) Quản lý việc chấp hành các chế độ về cư trú, đi lại, thông tin, báo cáo; 2. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất tổ chức xét nghiệm nước tiểu để xác định hành vi sử dụng ma túy của người cai nghiện. Điều 10. Đánh giá kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng 1. Nội dung đánh giá a) Tình trạng sức khỏe của người cai nghiện; b) Trạng thái tinh thần, tâm lý của người cai nghiện, mối quan hệ của người cai nghiện với các thành viên trong gia đình và mối quan hệ của người cai nghiện với cộng đồng dân cư; c) Tình trạng sử dụng ma túy; d) Kết quả học nghề, lao động sản xuất và tham gia các hoạt động khác tại địa phương. 2. Phương pháp đánh giá a) Cán bộ được phân công theo dõi giúp đỡ người cai nghiện, Tổ trưởng tổ dân phố nơi người cai nghiện cư trú và gia đình quan sát thái độ, hành vi của người cai nghiện trong việc thực hiện kế hoạch cai nghiện cá nhân của họ và nhận xét bằng văn bản; b) Tổ trưởng Tổ công tác tổ chức các cuộc họp Tổ công tác, họp Tổ dân phố, thôn, bản để đánh giá kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và ghi lại biên bản cuộc họp; c) Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu. 3. Việc đánh giá kết quả cai nghiện phải được thực hiện định kỳ hàng tháng và đánh giá khi kết thúc thời gian cai nghiện. Điều 11. Đánh giá kết quả cai nghiện và cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng 1. Người cai nghiện ma túy được cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Kết quả xét nghiệm không dương tính với chất ma túy; b) Đã thực hiện đầy đủ nội dung kế hoạch cai nghiện cá nhân đối với người tự nguyện cai nghiện tại gia đình; c) Đã thực hiện nghiêm chỉnh quy trình cai nghiện đối với người tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng và người bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. 2. Tổ trưởng Tổ công tác tổ chức đánh giá kết quả cai nghiện đối với từng người cai nghiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư này và làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Chương VI TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 12. Trách nhiệm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội 1. Chủ trì phối hợp với Sở Y tế, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ; xây dựng quy chế làm việc, cơ chế phối hợp và mối quan hệ của các ban, ngành, đoàn thể; bố trí cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng, đặc biệt là ở cấp xã. 2. Tổ chức đào tạo tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về tư vấn điều trị nghiện ma túy và dự phòng tái nghiện cho đội ngũ cán bộ làm công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 3. Hướng dẫn và kiểm tra việc tổ chức cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng. 4. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: - Chỉ đạo cấp xã xây dựng và triển khai kế hoạch cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng và hướng dẫn, giám sát việc thực hiện; - Xây dựng các cơ sở điều trị cắt cơn theo cụm xã, nâng cấp các phòng khám để điều trị cắt cơn và bố trí nhân lực, vật lực cho công tác cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Điều 13. Trách nhiệm của Sở Y tế 1. Tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ về điều trị cắt cơn nghiện ma túy cho đội ngũ cán bộ y tế tại địa phương. 2. Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các cơ sở điều trị cắt cơn; việc xác định người nghiện ma túy và xét nghiệm tìm chất ma túy. Điều 14. Trách nhiệm của Công an cấp tỉnh 1. Tổ chức tập huấn công tác bảo vệ bảo đảm trật tự, an toàn tại cơ sở điều trị cắt cơn. 2. Chỉ đạo Công an cấp xã - Lập hồ sơ đề nghị xác định người nghiện ma túy; - Lập hồ sơ cai nghiện tự nguyện tại gia đình và tại cộng đồng và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. 2. Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT/BLĐTBXH - BYT - BCA ngày 24/01/2003 của liên bộ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2002/NĐ - CP ngày 15 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng kể từ thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đề nghị báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công an để xem xét, giải quyết. /.
Quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự
03/2012/TTLT-BTP-BCA
30/03/2012
Thông tư liên tịch
15/05/2012
Công báo số 351+352, năm 2012
27/04/2012
Bộ Tư pháp
Thứ trưởng
Nguyễn Đức Chính
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự _________________________ Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008; Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự (sau đây viết gọn là phối hợp bảo vệ cưỡng chế) giữa cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an cùng cấp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng tham gia. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Cơ quan thi hành án dân sự; 2. Cơ quan công an cùng cấp; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp Việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: 1. Nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật . 2. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan đã được pháp luật quy định, không làm ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của mỗi ngành. 3. Bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của nhân dân và những người tham gia cưỡng chế. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Phối hợp trong xây dựng kế hoạch cưỡng chế 1. Trước thời điểm ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự ít nhất 10 ngày, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải cung cấp thông tin, trao đổi ý kiến với cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan về các nội dung, yêu cầu cụ thể của vụ việc cưỡng chế có huy động lực lượng tham gia bảo vệ, bao gồm: a) Tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế; b) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; c) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của đương sự); d) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin, trao đổi ý kiến, thủ trưởng cơ quan công an phải trả lời về các nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp. 3. Trường hợp cơ quan công an cùng cấp có ý kiến khác về yêu cầu phối hợp bảo vệ cưỡng chế thì ngay sau khi nhận được ý kiến, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cuộc họp với đại diện cơ quan công an cùng cấp để trao đổi, thống nhất biện pháp giải quyết. 4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công an cùng cấp, Chấp hành viên phải dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở dự thảo kế hoạch cưỡng chế đó, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cuộc họp với sự tham gia của cơ quan công an cùng cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan để tham khảo ý kiến. Cuộc họp đóng góp ý kiến phải được tổ chức trước ít nhất 10 ngày, kể từ thời điểm cưỡng chế đã được ấn định. 5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức cuộc họp đóng góp ý kiến vào dự thảo kế hoạch cưỡng chế, Chấp hành viên phải hoàn chỉnh, trình thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê duyệt. Kế hoạch cưỡng chế bao gồm các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự. Kế hoạch cưỡng chế được gửi ngay cho cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự. Điều 5. Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan công an phải xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế bao gồm các nội dung sau: a) Nội dung kế hoạch - Nêu rõ mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác cưỡng chế, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn cho việc cưỡng chế; tình hình có liên quan đến hoạt động bảo vệ cưỡng chế; - Giao nhiệm vụ cụ thể cho người chỉ huy chung, người chỉ huy từng lực lượng; phân công trách nhiệm cho từng đơn vị chức năng trong việc chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện nghiệp vụ cần thiết khác để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế. Đối với những vụ việc cưỡng chế được đánh giá có khả năng xảy ra nhiều diễn biến phức tạp thì phải có lực lượng dự phòng và tăng cường thêm các phương tiện như: phương tiện phòng cháy, chữa cháy, thiết bị dò mìn, xe chở đối tượng vi phạm pháp luật, khoá tay. b) Nội dung phương án - Nêu khái quát nhiệm vụ và đặc điểm tình hình có liên quan, thời gian, địa điểm thực hiện nhiệm vụ; - Dự kiến các tình huống có thể xảy ra, trong đó đặc biệt lưu ý đến tình huống chống đối, gây hậu quả cháy, nổ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, công dân, cán bộ, chiến sỹ tham gia cưỡng chế và phương án giải quyết các tình huống đó (nêu rõ nhiệm vụ của người chỉ huy, trách nhiệm của cán bộ, chiến sỹ trong từng tình huống cụ thể); - Quy ước phối hợp giữa các lực lượng và quy ước thông tin liên lạc; - Phương án bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, có sơ đồ kèm theo. c) Việc xây dựng nội dung kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế phải được trao đổi, thống nhất giữa cơ quan công an với cơ quan thi hành án dân sự trước khi trình người có thẩm quyền của cơ quan công an phê duyệt. 2. Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải được gửi ngay cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp để kịp thời triển khai thực hiện. Điều 6. Phối hợp triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự 1. Trong trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm phối hợp với lực lượng công an để tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án. 2. Trước thời điểm cưỡng chế 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan để bàn biện pháp triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế. 3. Cơ quan công an, các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tham dự cuộc họp đầy đủ, đúng thành phần theo giấy mời của cơ quan thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp các thông tin về nội dung vụ việc, quá trình tổ chức thi hành và bảo đảm kinh phí cho việc cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế theo đúng quy định. 4. Tại buổi cưỡng chế, việc phối hợp được thực hiện như sau: a) L ực lượng cảnh sát được phân công bảo vệ cưỡng chế thi hành án phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ việc cưỡng chế để duy trì trật tự và bảo đảm an toàn trong suốt quá trình diễn ra cưỡng chế. Các lực lượng chức năng thuộc cơ quan công an và các lực lượng khác được giao nhiệm vụ phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh lệnh và điều hành trực tiếp của người chỉ huy thuộc lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. b) Lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu hợp pháp của người chủ trì, điều hành việc cưỡng chế. Điều 7. Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành cưỡng chế cử đại diện tham gia cưỡng chế thi hành án, huy động lực lượng tại chỗ phối hợp với cơ quan công an để tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự. Điều 8. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế 1. Trong quá trình diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải thông báo kịp thời cho người chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế thi hành án dân sự biết những diễn biến phức tạp về an ninh, trật tự có liên quan đến công tác cưỡng chế thi hành án dân sự để có biện pháp xử lý. 2. Khi có vụ việc xảy ra thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì cơ quan đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp. Trường hợp vụ việc xảy ra thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều ngành thì đơn vị nào phát hiện đầu tiên có trách nhiệm giải quyết vụ việc theo thẩm quyền, sau đó chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền chính giải quyết. Nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của các lực lượng đang làm nhiệm vụ cưỡng chế thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. 3. Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ việc có khả năng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì cơ quan công an có thể đề nghị người chủ trì thực hiện việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án. Điều 9. Chi phí bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự Chi phí cho việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh phí cưỡng chế thi hành án. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 10. Tổ chức họp rút kinh nghiệm Định kỳ 6 tháng một lần, cơ quan thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với cơ quan công an cùng cấp tổ chức họp để đánh giá, trao đổi và rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Trường hợp cần thiết thì có thể mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia. Đối với những vụ việc cưỡng chế có tính chất phức tạp, gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương thì phải tổ chức họp bàn rút kinh nghiệm ngay. Điều 11. Tổng kết, đánh giá và chỉ đạo thực hiện Định kỳ mỗi năm, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổng hợp báo cáo, đánh giá tình hình thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; có biện pháp chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, nhằm bảo đảm cho việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án được an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật. Điều 12. Thông tin, báo cáo tình hình thực hiện 1. Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an là đầu mối giúp Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong chỉ đạo, hướng dẫn, tiếp nhận thông tin, báo cáo và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này của cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương; 2. Cục Thi hành án dân sự, công an cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cơ quan cấp dưới thuộc quyền thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; thông tin, báo cáo tình hình, kết quả triển khai thực hiện Thông tư này. Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Tư pháp, Bộ Công an (qua Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27357&Keyword=
2025-09-24T02:35:19.513856
../data\bocongan\032012TTLT-BTP-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự _________________________ Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008; Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ - CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự (sau đây viết gọn là phối hợp bảo vệ cưỡng chế) giữa cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an cùng cấp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng tham gia. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Cơ quan thi hành án dân sự; 2. Cơ quan công an cùng cấp; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Điều 3. Nguyên tắc phối hợp Việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: 1. Nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật. 2. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan đã được pháp luật quy định, không làm ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của mỗi ngành. 3. Bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của nhân dân và những người tham gia cưỡng chế. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Phối hợp trong xây dựng kế hoạch cưỡng chế 1. Trước thời điểm ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự ít nhất 10 ngày, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải cung cấp thông tin, trao đổi ý kiến với cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan về các nội dung, yêu cầu cụ thể của vụ việc cưỡng chế có huy động lực lượng tham gia bảo vệ, bao gồm: a) Tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế; b) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; c) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của đương sự); d) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin, trao đổi ý kiến, thủ trưởng cơ quan công an phải trả lời về các nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp. 3. Trường hợp cơ quan công an cùng cấp có ý kiến khác về yêu cầu phối hợp bảo vệ cưỡng chế thì ngay sau khi nhận được ý kiến, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cuộc họp với đại diện cơ quan công an cùng cấp để trao đổi, thống nhất biện pháp giải quyết. 4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công an cùng cấp, Chấp hành viên phải dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở dự thảo kế hoạch cưỡng chế đó, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ chức cuộc họp với sự tham gia của cơ quan công an cùng cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan để tham khảo ý kiến. Cuộc họp đóng góp ý kiến phải được tổ chức trước ít nhất 10 ngày, kể từ thời điểm cưỡng chế đã được ấn định. 5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức cuộc họp đóng góp ý kiến vào dự thảo kế hoạch cưỡng chế, Chấp hành viên phải hoàn chỉnh, trình thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê duyệt. Kế hoạch cưỡng chế bao gồm các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự. Kế hoạch cưỡng chế được gửi ngay cho cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự. Điều 5. Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế 1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan công an phải xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế bao gồm các nội dung sau: a) Nội dung kế hoạch - Nêu rõ mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác cưỡng chế, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn cho việc cưỡng chế; tình hình có liên quan đến hoạt động bảo vệ cưỡng chế; - Giao nhiệm vụ cụ thể cho người chỉ huy chung, người chỉ huy từng lực lượng; phân công trách nhiệm cho từng đơn vị chức năng trong việc chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện nghiệp vụ cần thiết khác để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế. Đối với những vụ việc cưỡng chế được đánh giá có khả năng xảy ra nhiều diễn biến phức tạp thì phải có lực lượng dự phòng và tăng cường thêm các phương tiện như: phương tiện phòng cháy, chữa cháy, thiết bị dò mìn, xe chở đối tượng vi phạm pháp luật, khoá tay. b) Nội dung phương án - Nêu khái quát nhiệm vụ và đặc điểm tình hình có liên quan, thời gian, địa điểm thực hiện nhiệm vụ; - Dự kiến các tình huống có thể xảy ra, trong đó đặc biệt lưu ý đến tình huống chống đối, gây hậu quả cháy, nổ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, công dân, cán bộ, chiến sỹ tham gia cưỡng chế và phương án giải quyết các tình huống đó (nêu rõ nhiệm vụ của người chỉ huy, trách nhiệm của cán bộ, chiến sỹ trong từng tình huống cụ thể); - Quy ước phối hợp giữa các lực lượng và quy ước thông tin liên lạc; - Phương án bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, có sơ đồ kèm theo. c) Việc xây dựng nội dung kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế phải được trao đổi, thống nhất giữa cơ quan công an với cơ quan thi hành án dân sự trước khi trình người có thẩm quyền của cơ quan công an phê duyệt. 2. Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải được gửi ngay cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp để kịp thời triển khai thực hiện. Điều 6. Phối hợp triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự 1. Trong trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm phối hợp với lực lượng công an để tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án. 2. Trước thời điểm cưỡng chế 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan để bàn biện pháp triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế. 3. Cơ quan công an, các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tham dự cuộc họp đầy đủ, đúng thành phần theo giấy mời của cơ quan thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp các thông tin về nội dung vụ việc, quá trình tổ chức thi hành và bảo đảm kinh phí cho việc cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế theo đúng quy định. 4. Tại buổi cưỡng chế, việc phối hợp được thực hiện như sau: a) L ực lượng cảnh sát được phân công bảo vệ cưỡng chế thi hành án phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ việc cưỡng chế để duy trì trật tự và bảo đảm an toàn trong suốt quá trình diễn ra cưỡng chế. Các lực lượng chức năng thuộc cơ quan công an và các lực lượng khác được giao nhiệm vụ phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh lệnh và điều hành trực tiếp của người chỉ huy thuộc lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. b) Lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu hợp pháp của người chủ trì, điều hành việc cưỡng chế. Điều 7. Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành cưỡng chế cử đại diện tham gia cưỡng chế thi hành án, huy động lực lượng tại chỗ phối hợp với cơ quan công an để tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự. Điều 8. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế 1. Trong quá trình diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải thông báo kịp thời cho người chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế thi hành án dân sự biết những diễn biến phức tạp về an ninh, trật tự có liên quan đến công tác cưỡng chế thi hành án dân sự để có biện pháp xử lý. 2. Khi có vụ việc xảy ra thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì cơ quan đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp. Trường hợp vụ việc xảy ra thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều ngành thì đơn vị nào phát hiện đầu tiên có trách nhiệm giải quyết vụ việc theo thẩm quyền, sau đó chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền chính giải quyết. Nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của các lực lượng đang làm nhiệm vụ cưỡng chế thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. 3. Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ việc có khả năng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì cơ quan công an có thể đề nghị người chủ trì thực hiện việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án. Điều 9. Chi phí bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự Chi phí cho việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh phí cưỡng chế thi hành án. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 10. Tổ chức họp rút kinh nghiệm Định kỳ 6 tháng một lần, cơ quan thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với cơ quan công an cùng cấp tổ chức họp để đánh giá, trao đổi và rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Trường hợp cần thiết thì có thể mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia. Đối với những vụ việc cưỡng chế có tính chất phức tạp, gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương thì phải tổ chức họp bàn rút kinh nghiệm ngay. Điều 11. Tổng kết, đánh giá và chỉ đạo thực hiện Định kỳ mỗi năm, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổng hợp báo cáo, đánh giá tình hình thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; có biện pháp chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, nhằm bảo đảm cho việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án được an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật. Điều 12. Thông tin, báo cáo tình hình thực hiện 1. Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an là đầu mối giúp Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong chỉ đạo, hướng dẫn, tiếp nhận thông tin, báo cáo và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này của cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương; 2. Cục Thi hành án dân sự, công an cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cơ quan cấp dưới thuộc quyền thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; thông tin, báo cáo tình hình, kết quả triển khai thực hiện Thông tư này. Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Tư pháp, Bộ Công an (qua Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân
03/2013/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT
15/05/2013
Thông tư liên tịch
01/07/2013
Công báo số 299 + 300
06/06/2013
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân ______________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn cụ thể về đối tượng, nguyên tắc, điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị và quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện; người đã có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án đang ở trong trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chờ đưa đi chấp hành án (gọi chung là người đang chờ đưa đi chấp hành án) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 3. Nguyên tắc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân 1. Tuân thủ quy định của pháp luật. 2. Bảo đảm khách quan, công bằng, đúng đối tượng, phù hợp với chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Chương II ĐIỀU KIỆN, THỜI HẠN, THẨM QUYỀN ĐỀ NGHỊ TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 4. Điều kiện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp dưới đây: a) Phạm nhân bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ, do đó, cần thiết phải cho họ tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để có điều kiện chữa bệnh, trừ người không có thân nhân hoặc không có nơi cư trú rõ ràng. Người bị bệnh nặng quy định tại khoản này là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng; b) Nữ phạm nhân có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nếu họ bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng; c) Phạm nhân là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (không có nguồn thu nhập nào khác, không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng những người thân thích là người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình họ), trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; d) Phạm nhân bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ, cần thiết sự có mặt của họ để thực hiện công vụ nhất định. 2. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. 3. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia hoặc bị kết án tù chung thân mà chưa được giảm xuống tù có thời hạn, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều 5. Thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam đó. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện do Công an cấp tỉnh quản lý. 3. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc quân khu quản lý. 4. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Điều 6. Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân bị bệnh nặng được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù một lần hoặc nhiều lần cho đến khi sức khỏe hồi phục. 2. Phạm nhân là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đến khi con đủ 36 tháng tuổi. 3. Phạm nhân là lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ được tạm đình chỉ chấp hành án một lần hoặc nhiều lần, nhưng tổng số thời gian được tạm đình chỉ tối đa là một năm. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 7. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Các trại giam thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục, hồ sơ làm Ủy viên thường trực, Đội trưởng Giáo dục và hồ sơ làm Ủy viên thư ký và các Ủy viên gồm: Các Phó Giám thị; các Trưởng phân trại; Đội trưởng các đội: Tham mưu, Cảnh sát quản giáo, Trinh sát, Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Kế hoạch, hướng nghiệp, dạy nghề và xây dựng, Hậu cần, tài vụ, Y tế và bảo vệ môi trường. 2. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên thường trực, Trưởng phân trại quản lý phạm nhân, Đội trưởng Đội Quản giáo, Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ, cán bộ trinh sát, giáo dục, y tế của Phân trại Quản lý phạm nhân làm ủy viên và Đội trưởng Đội Tham mưu làm ủy viên thư ký. 3. Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, cán bộ quản giáo, y tế là ủy viên và cán bộ tổng hợp của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện là ủy viên thư ký. 4. Các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc thuộc quân khu thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị làm Ủy viên thường trực, Trợ lý giam giữ làm thư ký và các ủy viên gồm: Chính trị viên, Đội trưởng Quản giáo, Vệ binh, Quân y, Văn thư. Điều 8. Trình tự, thủ tục lập và thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam đó và chuyển cho Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng thuộc Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an để xem xét, thẩm định. 2. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam đó và chuyển cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để xem xét, thẩm định. 3. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, thẩm định. 4. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam thuộc quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam đó và chuyển cho cơ quan thi hành án hình sự quân khu để xem xét, thẩm định. 5. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại tạm giam thuộc quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc quân khu, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự quân khu xem xét, thẩm định. 6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ phải xem xét, thẩm định và có văn bản trả lời cho cơ quan lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ. Nếu hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chưa đầy đủ tài liệu thì cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung hoặc làm rõ thêm. Thời hạn 02 ngày để xem xét, thẩm định được tính lại, kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận được tài liệu bổ sung hoặc văn bản giải trình về vấn đề cần được làm rõ thêm. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến đồng ý của cơ quan thẩm định có thẩm quyền, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu làm văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam thuộc quân khu thì sau khi thẩm định hồ sơ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 7. Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và không có khả năng tự phục vụ bản thân, có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, cơ quan có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 5 của Thông tư liên tịch này lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định mà không cần phải thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ như các trường hợp khác. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân quy định tại khoản này phải được sao gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 8. Qua công tác kiểm sát thi hành án, nếu thấy có phạm nhân đủ điều kiện được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát tự mình hoặc có văn bản yêu cầu Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đó. Trường hợp Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo yêu cầu của Viện kiểm sát thì trình tự, thủ tục vẫn thực hiện theo quy định của các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Điều này. Điều 9. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân gồm có: 1. Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. 2. Bản sao Quyết định thi hành án phạt tù. 3. Văn bản đề nghị của Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo Phiếu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (Phiếu đề nghị làm theo mẫu do Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng ban hành). 4. Văn bản đồng ý của cơ quan thẩm định có thẩm quyền. 5. Văn bản đề nghị của Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng và văn bản đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (đối với những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Thông tư liên tịch này). 6. Đơn của gia đình phạm nhân đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đó, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú (nếu gia đình phạm nhân không còn ai đủ khả năng làm đơn đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân). 7. Đối với phạm nhân là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi phải có kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc phạm nhân có thai hoặc bản sao Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của con phạm nhân, xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi phạm nhân đang chấp hành án về việc họ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ. 8. Đối với phạm nhân bị bệnh nặng phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao Bệnh án, kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên về tình trạng sức khỏe của người đó. Riêng phạm nhân bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS phải có kết quả xét nghiệm HIV theo quy định của Bộ Y tế và bản sao Bệnh án hoặc kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền khẳng định đã chuyển giai đoạn AIDS, đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao. Cơ quan y tế và bệnh viện các cấp có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe của phạm nhân khi có đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. 9. Đối với phạm nhân được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án thường trú về việc người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt. 10. Đối với trường hợp tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do nhu cầu công vụ phải có văn bản đề nghị của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương hoặc đơn vị quân đội có liên quan đến việc thực hiện công vụ đó. 11. Văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát (trong trường hợp do Viện kiểm sát đề nghị). Điều 10. Tạm đình chỉ đối với người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù Người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì có thể được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện như phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại tạm giam do Công an cấp tỉnh hoặc cấp quân khu quản lý. Chương IV QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 11. Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Trường hợp cần bổ sung tài liệu hoặc tài liệu chưa rõ thì Chánh án Tòa án yêu cầu cơ quan đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bổ sung hoặc làm rõ thêm. Trong trường hợp này, thời hạn 07 ngày để xem xét, quyết định được tính lại, kể từ ngày Chánh án Tòa án nhận được tài liệu bổ sung hoặc ý kiến bằng văn bản về vấn đề cần làm rõ thêm. 2. Trường hợp không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan đề nghị tạm đình chỉ biết, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận cho phạm nhân được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 3. Khi Viện kiểm sát có kiến nghị đối với văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do không xác đáng hoặc kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì không có đầy đủ căn cứ, Chánh án Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ phải xem xét kiến nghị hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Nếu kiến nghị hoặc kháng nghị có căn cứ thì Chánh án Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Điều 12. Thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Việc gửi quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; bàn giao, quản lý, tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ; chấm dứt việc tạm đình chỉ, truy nã, truy bắt người được tạm đình chỉ bỏ trốn; giải quyết đối với trường hợp người được tạm đình chỉ chết được thực hiện theo Điều 32 Luật Thi hành án hình sự. 2. Đối với người đang được tạm đình chỉ do bị bệnh nặng mà có bệnh án hoặc kết luận giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu xác định sức khỏe của họ chưa phục hồi, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý người đó thông báo bằng văn bản cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định việc có tiếp tục cho họ được tạm đình chỉ hay không. Các tài liệu gửi kèm theo văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gồm: đơn xin tiếp tục được tạm đình chỉ của người được tạm đình chỉ hoặc thân nhân của họ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ; bản sao bệnh án hoặc kết luận giám định y khoa xác định tình trạng sức khỏe của người được tạm đình chỉ chưa phục hồi. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thường xuyên theo dõi, giám sát và định kỳ 3 tháng, 6 tháng, một năm kiểm tra, rà soát, đánh giá kết quả thực hiện quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và kịp thời báo cáo với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để tổng hợp, báo cáo kết quả về cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. 3. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thường xuyên theo dõi, giám sát và định kỳ 3 tháng, 6 tháng, một năm kiểm tra, rà soát, đánh giá kết quả thực hiện quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và kịp thời tổng hợp, báo cáo kết quả về cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. 4. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=44359&Keyword=
2025-09-24T02:34:38.456484
../data\bocongan\032013TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân ______________ Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này hướng dẫn cụ thể về đối tượng, nguyên tắc, điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị và quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện; người đã có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án đang ở trong trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chờ đưa đi chấp hành án (gọi chung là người đang chờ đưa đi chấp hành án) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 3. Nguyên tắc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân 1. Tuân thủ quy định của pháp luật. 2. Bảo đảm khách quan, công bằng, đúng đối tượng, phù hợp với chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Chương II ĐIỀU KIỆN, THỜI HẠN, THẨM QUYỀN ĐỀ NGHỊ TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 4. Điều kiện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp dưới đây: a) Phạm nhân bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ, do đó, cần thiết phải cho họ tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để có điều kiện chữa bệnh, trừ người không có thân nhân hoặc không có nơi cư trú rõ ràng. Người bị bệnh nặng quy định tại khoản này là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng; b) Nữ phạm nhân có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nếu họ bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng; c) Phạm nhân là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (không có nguồn thu nhập nào khác, không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng những người thân thích là người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình họ), trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; d) Phạm nhân bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ, cần thiết sự có mặt của họ để thực hiện công vụ nhất định. 2. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. 3. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia hoặc bị kết án tù chung thân mà chưa được giảm xuống tù có thời hạn, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều 5. Thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam đó. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện do Công an cấp tỉnh quản lý. 3. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc quân khu quản lý. 4. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Điều 6. Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Phạm nhân bị bệnh nặng được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù một lần hoặc nhiều lần cho đến khi sức khỏe hồi phục. 2. Phạm nhân là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đến khi con đủ 36 tháng tuổi. 3. Phạm nhân là lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ được tạm đình chỉ chấp hành án một lần hoặc nhiều lần, nhưng tổng số thời gian được tạm đình chỉ tối đa là một năm. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 7. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Các trại giam thuộc Bộ Công an thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách công tác giáo dục, hồ sơ làm Ủy viên thường trực, Đội trưởng Giáo dục và hồ sơ làm Ủy viên thư ký và các Ủy viên gồm: Các Phó Giám thị; các Trưởng phân trại; Đội trưởng các đội: Tham mưu, Cảnh sát quản giáo, Trinh sát, Cảnh sát bảo vệ - cơ động, Kế hoạch, hướng nghiệp, dạy nghề và xây dựng, Hậu cần, tài vụ, Y tế và bảo vệ môi trường. 2. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị phụ trách Phân trại Quản lý phạm nhân làm Ủy viên thường trực, Trưởng phân trại quản lý phạm nhân, Đội trưởng Đội Quản giáo, Trung đội trưởng Cảnh sát bảo vệ, cán bộ trinh sát, giáo dục, y tế của Phân trại Quản lý phạm nhân làm ủy viên và Đội trưởng Đội Tham mưu làm ủy viên thư ký. 3. Công an cấp huyện thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là Ủy viên thường trực, cán bộ quản giáo, y tế là ủy viên và cán bộ tổng hợp của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện là ủy viên thư ký. 4. Các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng hoặc thuộc quân khu thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Giám thị làm Chủ tịch, Phó Giám thị làm Ủy viên thường trực, Trợ lý giam giữ làm thư ký và các ủy viên gồm: Chính trị viên, Đội trưởng Quản giáo, Vệ binh, Quân y, Văn thư. Điều 8. Trình tự, thủ tục lập và thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam đó và chuyển cho Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng thuộc Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an để xem xét, thẩm định. 2. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam đó và chuyển cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để xem xét, thẩm định. 3. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, thẩm định. 4. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại giam thuộc quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam đó và chuyển cho cơ quan thi hành án hình sự quân khu để xem xét, thẩm định. 5. Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của trại tạm giam thuộc quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc quân khu, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự quân khu xem xét, thẩm định. 6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ phải xem xét, thẩm định và có văn bản trả lời cho cơ quan lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ. Nếu hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chưa đầy đủ tài liệu thì cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung hoặc làm rõ thêm. Thời hạn 02 ngày để xem xét, thẩm định được tính lại, kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận được tài liệu bổ sung hoặc văn bản giải trình về vấn đề cần được làm rõ thêm. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến đồng ý của cơ quan thẩm định có thẩm quyền, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu làm văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam thuộc quân khu thì sau khi thẩm định hồ sơ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 7. Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và không có khả năng tự phục vụ bản thân, có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, cơ quan có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 5 của Thông tư liên tịch này lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định mà không cần phải thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ như các trường hợp khác. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân quy định tại khoản này phải được sao gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. 8. Qua công tác kiểm sát thi hành án, nếu thấy có phạm nhân đủ điều kiện được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát tự mình hoặc có văn bản yêu cầu Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đó. Trường hợp Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo yêu cầu của Viện kiểm sát thì trình tự, thủ tục vẫn thực hiện theo quy định của các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Điều này. Điều 9. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân gồm có: 1. Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. 2. Bản sao Quyết định thi hành án phạt tù. 3. Văn bản đề nghị của Giám thị trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo Phiếu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (Phiếu đề nghị làm theo mẫu do Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng ban hành). 4. Văn bản đồng ý của cơ quan thẩm định có thẩm quyền. 5. Văn bản đề nghị của Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng và văn bản đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (đối với những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Thông tư liên tịch này). 6. Đơn của gia đình phạm nhân đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân đó, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú (nếu gia đình phạm nhân không còn ai đủ khả năng làm đơn đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân). 7. Đối với phạm nhân là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi phải có kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc phạm nhân có thai hoặc bản sao Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của con phạm nhân, xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi phạm nhân đang chấp hành án về việc họ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ. 8. Đối với phạm nhân bị bệnh nặng phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao Bệnh án, kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên về tình trạng sức khỏe của người đó. Riêng phạm nhân bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS phải có kết quả xét nghiệm HIV theo quy định của Bộ Y tế và bản sao Bệnh án hoặc kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền khẳng định đã chuyển giai đoạn AIDS, đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao. Cơ quan y tế và bệnh viện các cấp có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe của phạm nhân khi có đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. 9. Đối với phạm nhân được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án thường trú về việc người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt. 10. Đối với trường hợp tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do nhu cầu công vụ phải có văn bản đề nghị của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương hoặc đơn vị quân đội có liên quan đến việc thực hiện công vụ đó. 11. Văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát (trong trường hợp do Viện kiểm sát đề nghị). Điều 10. Tạm đình chỉ đối với người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù Người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì có thể được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện như phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, trại tạm giam do Công an cấp tỉnh hoặc cấp quân khu quản lý. Chương IV QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Điều 11. Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Trường hợp cần bổ sung tài liệu hoặc tài liệu chưa rõ thì Chánh án Tòa án yêu cầu cơ quan đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bổ sung hoặc làm rõ thêm. Trong trường hợp này, thời hạn 07 ngày để xem xét, quyết định được tính lại, kể từ ngày Chánh án Tòa án nhận được tài liệu bổ sung hoặc ý kiến bằng văn bản về vấn đề cần làm rõ thêm. 2. Trường hợp không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan đề nghị tạm đình chỉ biết, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận cho phạm nhân được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. 3. Khi Viện kiểm sát có kiến nghị đối với văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do không xác đáng hoặc kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì không có đầy đủ căn cứ, Chánh án Tòa án có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ phải xem xét kiến nghị hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Nếu kiến nghị hoặc kháng nghị có căn cứ thì Chánh án Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Điều 12. Thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù 1. Việc gửi quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; bàn giao, quản lý, tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ; chấm dứt việc tạm đình chỉ, truy nã, truy bắt người được tạm đình chỉ bỏ trốn; giải quyết đối với trường hợp người được tạm đình chỉ chết được thực hiện theo Điều 32 Luật Thi hành án hình sự. 2. Đối với người đang được tạm đình chỉ do bị bệnh nặng mà có bệnh án hoặc kết luận giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu xác định sức khỏe của họ chưa phục hồi, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý người đó thông báo bằng văn bản cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định việc có tiếp tục cho họ được tạm đình chỉ hay không. Các tài liệu gửi kèm theo văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gồm: đơn xin tiếp tục được tạm đình chỉ của người được tạm đình chỉ hoặc thân nhân của họ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ; bản sao bệnh án hoặc kết luận giám định y khoa xác định tình trạng sức khỏe của người được tạm đình chỉ chưa phục hồi. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 13. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Các văn bản trước đây của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân trái với Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thường xuyên theo dõi, giám sát và định kỳ 3 tháng, 6 tháng, một năm kiểm tra, rà soát, đánh giá kết quả thực hiện quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và kịp thời báo cáo với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để tổng hợp, báo cáo kết quả về cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. 3. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thường xuyên theo dõi, giám sát và định kỳ 3 tháng, 6 tháng, một năm kiểm tra, rà soát, đánh giá kết quả thực hiện quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và kịp thời tổng hợp, báo cáo kết quả về cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. 4. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01-9-1011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng
03/2014/TTLT- BCA-BQP
03/09/2014
Thông tư liên tịch
23/10/2014
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01-9-1011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng Căn cứ Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01-9-2011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Nghị định số 21/2014/NĐ-CP ngày 25-3-2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ-CP ngày 22-4-2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01-9-2011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Thông tư này quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01-9-1011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng (sau đây viết gọn là Nghị định số 78/2011/NĐ-CP), bao gồm: Thông tin về phòng cháy và chữa cháy; huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy; thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy; kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy; cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm; xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy; thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy; chỉ huy chữa cháy và trách nhiệm phối hợp thực hiện. 2. Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục phân cấp quản lý về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở hoạt động phục vụ mục đích quân sự. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Cấp chiến lược là các cơ quan, đơn vị chỉ đạo ở cơ quan Bộ Quốc phòng. 2. Cấp chiến dịch, chiến thuật là các cơ quan, đơn vị chỉ đạo ở Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Sư đoàn, Lữ đoàn và tương đương. Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP Điều 4. Thông tin về phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ - Bộ Công an (sau đây viết gọn là Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) và Cục Cứu hộ - Cứu nạn/ Bộ Tổng tham mưu/ Bộ Quốc phòng (sau đây viết gọn là Cục Cứu hộ - Cứu nạn); Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữaa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau dây viết gọn là Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh) và cấp chiến dịch, chiến thuật đóng quân trên địa bàn có trách nhiệm thông tin cho nhau theo các nội dung tương ứng quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 78/2011/NĐ-CP. 2. Việc trao đổi thông tin được thực hiện định kỳ bằng văn bản một năm một lần vào cuối quý IV giữa Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ với Cục Cứu hộ - Cứu nạn; sáu tháng một lần vào cuối quý II và quý IV giữa Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh với cơ quan cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật. Trường hợp đột xuất cần trao đổi thông tin thì hai bên trực tiếp thông báo kịp thời cho nhau. Điều 5. Huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm phối hợp với Cục Cứu hộ - Cứu nạn xây dựng các nội dung tuyên truyền, phổ biến phápluật và kiến thức về phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Người đứng dầu cơ sở quốc phòng có trách nhiệm tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc phạm vi quản lý theo chương trình huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy quy định tại Khoản 1 Điều này. 3. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của Bộ Quốc phòng làm việc tại các cơ sở phục vụ kinh tế - xã hội thuộc đối tượng phải huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy. 4. Cục Cứu hộ - Cứu nạn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan của Bộ Quốc phòng tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của cơ sở phục vụ mục đích quân sự thuộc cấp chiến lược theo quy định của Bộ Quốc phòng. 5. Phòng, Ban cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật chủ trì, phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn đóng quân tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của cơ sở phục vụ mục đích quân sự thuộc cấp chiến dịch, chiến thuật theo quy định của Bộ Quốc phòng. Điều 6. Thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thẩm duyệt, kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công xây dựng và kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội và phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy được chế tạo hoặc hoán cải chuyên dùng cho hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội do Thủ tướng Chính phủ và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt, quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh thẩm quyền, kiểm tra an toàn phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công xây dựng và kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội do Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt, quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 3. Cục Cứu hộ - Cứu nạn thực hiện các điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự và phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy được các cơ sở quốc phòng chế tạo hoặc hoán cải chuyên dùng cho hoạt động quân sự tại nhóm I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Cấp chiến dịch, chiến thuật thực hiện các điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy và trình Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự tại các nhóm II, III Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này và những trường hợp do cấp trên ủy quyền. Trường hợp nếu có yêu cầu phối hợp bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự thì Cục Cứu hộ - Cứu nạn có văn bản đề nghị Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; cấp chiến dịch, chiến thuật có văn bản đề nghị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn đóng quân tham gia. Điều 7. Kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy 1. Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh phối hợp với cấp chiến dịch, chiến thuật trên địa bàn tổ chức kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Cục Cứu hộ - Cứu nạn kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở  hoạt động phục vụ mục đích quân sự thuộc nhóm I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. Hàng năm, xây dựng kế hoạch phối hợp với Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với một số cơ sở theo kế hoạch đã được Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu phê duyệt. Để đảm bảo bí mật quốc phòng, người tham gia kiểm tra phải được Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn và Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quyết định. 3. Phòng, Ban cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở hoạt động phục vụ mục đích quân sự thuộc các nhóm II, III Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. Hàng năm, xây dựng kế hoạch phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn  đóng quân kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với một số cơ sở theo kế hoạch đã được Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt. Để đảm bảo bí mật quốc phòng, người tham gia kiểm tra phải được Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật và Giám đốc Cảnh  sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh quyết định. Điều 8. Cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm 1. Bộ Công an chủ trì và tổ chức thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm (trừ vật liệu nổ công nghiệp) phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội bằng các loại phương tiện giao thông cơ giới theo thẩm quyền quy định tại Thông tư số 35/2010/TT-BCA ngày 11-10-2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và hàng nguy hiểm và Thông tư số 04/2014/TT-BCA ngày 21/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 35/2010/TT-BCA ngày 11-10-2010 quy định về cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và hàng nguy hiểm. 2. Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm phục vụ mục đích quân sự bằng phương tiện giao thông cơ giới của Bộ Quốc phòng và bảo đảm các điều kiện an toàn về cháy, nổ; thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BQP ngày 11/3/12013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về quản lý hoạt động vật liệu nổ công nghiệp trong Quân đội. Điều 9. Xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy 1. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch và phương án chữa cháy sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ thuộc phạm vi quản lý của mình, tổ chức hiệp đồng cụ thể với lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và lực lượng phòng cháy và chữa cháy của các đơn vị khác trên địa bàn đóng quân. Định kỳ ít nhất một năm một lần thực tập phương án chữa cháy đã được phê duyệt. 2. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng chủ trì, phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn đóng quân xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy trong các tình huống cháy lớn, cháy có diễn biến phức tạp, phương án chữa cháy cần huy động lực lượng, phương tiện của nhiều cơ quan, tổ chức hoặc nhiều địa phương tham gia. Điều 10. Thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy 1. Cấp trên trực tiếp của cơ sở quốc phòng phê duyệt phương án chữa cháy trong đó sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ của cơ sở đó. 2. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng và Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh phê duyệt phương án chữa cháy (tình huống chữa cháy cụ thể) đã có trong kế hoạch phối hợp đối với cơ sở quốc phòng thuộc phạm vi và địa bàn quản lý khi trong phương án có huy động lực lượng, phương tiện của nhiều cơ quan, tổ chức tham gia. 3. Cục Cứu hộ - Cứu nạn và Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phê duyệt phương án chữa cháy trong các tình huống cháy lớn, cháy có diễn biến phức tạp xảy ra tại các cơ sở quốc phòng khi trong phương án cần huy động lực lượng, phương tiện của các địa phương, Bộ, ngành và các đơn vị khác tham gia, trường hợp đặc biệt thì Bộ trưởng hai bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điều 11. Chỉ huy chữa cháy 1. Khi xảy ra cháy tại cơ sở quốc phòng thì người đứng đầu cơ sở  quốc phòng xảy ra cháy hoặc người được ủy quyền là người chỉ huy chữa cháy tại chỗ, ban đầu. Khi có lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia chữa cháy thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều  này. 2. Khi xảy ra cháy tại các cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội thì người có chức vụ cao nhất của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có mặt tại đám cháy là người chỉ huy chữa cháy. 3. Khi xảy ra cháy tại cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự có lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia chữa cháy thì phải thành lập Ban chỉ huy xử lý vụ cháy do người có chức vụ cao nhất của cơ sở quốc phòng bị cháy có mặt tại đám cháy là Trưởng ban, người có chức vụ cao nhất của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia Ban chỉ huy xử lý vụ cháy và là người chỉ huy chữa cháy. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 12. Trách nhiệm phối hợp thực hiện 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ giúp Bộ trưởng Bộ Công an, Cục Cứu hộ - Cứu nạn giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định số 78/2011/NĐ-CP và Thông tư này. Định kỳ vào cuối quý IV hàng năm, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh và cấp chiến dịch, chiến thuật trên địa bàn tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp thực hiện Nghị định số 78/2011/NĐ-CP và Thông tư này. 2. Các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 23 tháng 10 năm 2014. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) và Bộ Quốc phòng (qua Cục Cứu hộ - Cứu nạn) để kịp thời hướng dẫn.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=121776&Keyword=
2025-09-24T02:39:09.669217
../data\bocongan\032014TTLT- BCA-BQP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ - CP ngày 01 - 9 - 1011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng Căn cứ Nghị định số 78/2011/NĐ - CP ngày 01 - 9 - 2011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 - 9 - 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Nghị định số 21/2014/NĐ - CP ngày 25 - 3 - 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 77/2009/NĐ - CP ngày 15 - 9 - 2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ - CP ngày 22 - 4 - 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ - CP ngày 01 - 9 - 2011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Thông tư này quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ - CP ngày 01 - 9 - 1011 của Chính phủ quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng (sau đây viết gọn là Nghị định số 78/2011/NĐ - CP), bao gồm: Thông tin về phòng cháy và chữa cháy; huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy; thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy; kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy; cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm; xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy; thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy; chỉ huy chữa cháy và trách nhiệm phối hợp thực hiện. 2. Ban hành kèm theo Thông tư này Phụ lục phân cấp quản lý về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở hoạt động phục vụ mục đích quân sự. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Cấp chiến lược là các cơ quan, đơn vị chỉ đạo ở cơ quan Bộ Quốc phòng. 2. Cấp chiến dịch, chiến thuật là các cơ quan, đơn vị chỉ đạo ở Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Sư đoàn, Lữ đoàn và tương đương. Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP Điều 4. Thông tin về phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ - Bộ Công an (sau đây viết gọn là Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) và Cục Cứu hộ - Cứu nạn/ Bộ Tổng tham mưu/ Bộ Quốc phòng (sau đây viết gọn là Cục Cứu hộ - Cứu nạn); Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữaa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau dây viết gọn là Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh) và cấp chiến dịch, chiến thuật đóng quân trên địa bàn có trách nhiệm thông tin cho nhau theo các nội dung tương ứng quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 78/2011/NĐ - CP. 2. Việc trao đổi thông tin được thực hiện định kỳ bằng văn bản một năm một lần vào cuối quý IV giữa Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ với Cục Cứu hộ - Cứu nạn; sáu tháng một lần vào cuối quý II và quý IV giữa Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh với cơ quan cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật. Trường hợp đột xuất cần trao đổi thông tin thì hai bên trực tiếp thông báo kịp thời cho nhau. Điều 5. Huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm phối hợp với Cục Cứu hộ - Cứu nạn xây dựng các nội dung tuyên truyền, phổ biến phápluật và kiến thức về phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Người đứng dầu cơ sở quốc phòng có trách nhiệm tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc phạm vi quản lý theo chương trình huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy quy định tại Khoản 1 Điều này. 3. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của Bộ Quốc phòng làm việc tại các cơ sở phục vụ kinh tế - xã hội thuộc đối tượng phải huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy. 4. Cục Cứu hộ - Cứu nạn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan của Bộ Quốc phòng tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của cơ sở phục vụ mục đích quân sự thuộc cấp chiến lược theo quy định của Bộ Quốc phòng. 5. Phòng, Ban cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật chủ trì, phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn đóng quân tổ chức kiểm tra, sát hạch và cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ của cơ sở phục vụ mục đích quân sự thuộc cấp chiến dịch, chiến thuật theo quy định của Bộ Quốc phòng. Điều 6. Thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thẩm duyệt, kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công xây dựng và kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội và phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy được chế tạo hoặc hoán cải chuyên dùng cho hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội do Thủ tướng Chính phủ và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt, quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh thẩm quyền, kiểm tra an toàn phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công xây dựng và kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội do Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt, quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 3. Cục Cứu hộ - Cứu nạn thực hiện các điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự và phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy được các cơ sở quốc phòng chế tạo hoặc hoán cải chuyên dùng cho hoạt động quân sự tại nhóm I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Cấp chiến dịch, chiến thuật thực hiện các điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy và trình Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự tại các nhóm II, III Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này và những trường hợp do cấp trên ủy quyền. Trường hợp nếu có yêu cầu phối hợp bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý đầu tư xây dựng đối với dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật công trình quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự thì Cục Cứu hộ - Cứu nạn có văn bản đề nghị Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; cấp chiến dịch, chiến thuật có văn bản đề nghị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn đóng quân tham gia. Điều 7. Kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy 1. Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh phối hợp với cấp chiến dịch, chiến thuật trên địa bàn tổ chức kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. 2. Cục Cứu hộ - Cứu nạn kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở hoạt động phục vụ mục đích quân sự thuộc nhóm I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. Hàng năm, xây dựng kế hoạch phối hợp với Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với một số cơ sở theo kế hoạch đã được Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu phê duyệt. Để đảm bảo bí mật quốc phòng, người tham gia kiểm tra phải được Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn và Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quyết định. 3. Phòng, Ban cứu hộ, cứu nạn cấp chiến dịch, chiến thuật kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở hoạt động phục vụ mục đích quân sự thuộc các nhóm II, III Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này theo quy định của pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy. Hàng năm, xây dựng kế hoạch phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn đóng quân kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với một số cơ sở theo kế hoạch đã được Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp cấp chiến dịch, chiến thuật phê duyệt. Để đảm bảo bí mật quốc phòng, người tham gia kiểm tra phải được Thủ trưởng cấp chiến dịch, chiến thuật và Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh quyết định. Điều 8. Cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm 1. Bộ Công an chủ trì và tổ chức thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm (trừ vật liệu nổ công nghiệp) phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội bằng các loại phương tiện giao thông cơ giới theo thẩm quyền quy định tại Thông tư số 35/2010/TT - BCA ngày 11 - 10 - 2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và hàng nguy hiểm và Thông tư số 04/2014/TT - BCA ngày 21/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 35/2010/TT - BCA ngày 11 - 10 - 2010 quy định về cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và hàng nguy hiểm. 2. Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm phục vụ mục đích quân sự bằng phương tiện giao thông cơ giới của Bộ Quốc phòng và bảo đảm các điều kiện an toàn về cháy, nổ; thực hiện việc cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT - BQP ngày 11/3/12013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về quản lý hoạt động vật liệu nổ công nghiệp trong Quân đội. Điều 9. Xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy 1. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch và phương án chữa cháy sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ thuộc phạm vi quản lý của mình, tổ chức hiệp đồng cụ thể với lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và lực lượng phòng cháy và chữa cháy của các đơn vị khác trên địa bàn đóng quân. Định kỳ ít nhất một năm một lần thực tập phương án chữa cháy đã được phê duyệt. 2. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng chủ trì, phối hợp với Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh trên địa bàn đóng quân xây dựng kế hoạch phòng cháy và chữa cháy, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy trong các tình huống cháy lớn, cháy có diễn biến phức tạp, phương án chữa cháy cần huy động lực lượng, phương tiện của nhiều cơ quan, tổ chức hoặc nhiều địa phương tham gia. Điều 10. Thẩm quyền phê duyệt phương án chữa cháy 1. Cấp trên trực tiếp của cơ sở quốc phòng phê duyệt phương án chữa cháy trong đó sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ của cơ sở đó. 2. Người đứng đầu cơ sở quốc phòng và Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh phê duyệt phương án chữa cháy (tình huống chữa cháy cụ thể) đã có trong kế hoạch phối hợp đối với cơ sở quốc phòng thuộc phạm vi và địa bàn quản lý khi trong phương án có huy động lực lượng, phương tiện của nhiều cơ quan, tổ chức tham gia. 3. Cục Cứu hộ - Cứu nạn và Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phê duyệt phương án chữa cháy trong các tình huống cháy lớn, cháy có diễn biến phức tạp xảy ra tại các cơ sở quốc phòng khi trong phương án cần huy động lực lượng, phương tiện của các địa phương, Bộ, ngành và các đơn vị khác tham gia, trường hợp đặc biệt thì Bộ trưởng hai bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điều 11. Chỉ huy chữa cháy 1. Khi xảy ra cháy tại cơ sở quốc phòng thì người đứng đầu cơ sở quốc phòng xảy ra cháy hoặc người được ủy quyền là người chỉ huy chữa cháy tại chỗ, ban đầu. Khi có lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia chữa cháy thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này. 2. Khi xảy ra cháy tại các cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ kinh tế - xã hội thì người có chức vụ cao nhất của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có mặt tại đám cháy là người chỉ huy chữa cháy. 3. Khi xảy ra cháy tại cơ sở quốc phòng hoạt động phục vụ mục đích quân sự có lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia chữa cháy thì phải thành lập Ban chỉ huy xử lý vụ cháy do người có chức vụ cao nhất của cơ sở quốc phòng bị cháy có mặt tại đám cháy là Trưởng ban, người có chức vụ cao nhất của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tham gia Ban chỉ huy xử lý vụ cháy và là người chỉ huy chữa cháy. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 12. Trách nhiệm phối hợp thực hiện 1. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ giúp Bộ trưởng Bộ Công an, Cục Cứu hộ - Cứu nạn giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định số 78/2011/NĐ - CP và Thông tư này. Định kỳ vào cuối quý IV hàng năm, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh và cấp chiến dịch, chiến thuật trên địa bàn tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp thực hiện Nghị định số 78/2011/NĐ - CP và Thông tư này. 2. Các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 23 tháng 10 năm 2014. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, các tổ chức, cá nhân báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ) và Bộ Quốc phòng (qua Cục Cứu hộ - Cứu nạn) để kịp thời hướng dẫn.
Quy định về phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân
03/2015/TT-BCA
05/01/2015
Thông tư
20/02/2015
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Trần Đại Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định về phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010; Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra (sau đây viết gọn là Nghị định số 86/2011/NĐ-CP); Căn cứ Nghị định số 41/2014/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về mục đích, nguyên tắc, trách nhiệm trong phối hợp giữa cơ quan thanh tra nhà nước trong Công an nhân dân (sau đây viết gọn là cơ quan thanh tra) với Công an các đơn vị, địa phương trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, tiến hành thanh tra, thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Công an các đơn vị, địa phương. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hành chính, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. 4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 3. Mục đích phối hợp Phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân nhằm huy động lực lượng cần thiết của các đơn vị chức năng để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; không gây cản trở cho hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị phối hợp. 2. Bảo đảm kịp thời, chính xác, hiệu quả, khách quan, dân chủ trong quá trình phối hợp và thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 3. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp phải được các cơ quan, đơn vị, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết kịp thời. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc mà các cơ quan, đơn vị phối hợp không giải quyết được thì thủ trưởng cơ quan thanh tra báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp quyết định. 4. Nghiêm cấm lợi dụng việc phối hợp để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra hành chính và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị tham gia phối hợp. Điều 5. Trách nhiệm trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính 1. Thanh tra Bộ giúp Bộ trưởng theo dõi công tác phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. 2. Cơ quan thanh tra các đơn vị, địa phương giúp thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính; kịp thời báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp và cơ quan thanh tra cấp trên tình hình, kết quả công tác phối hợp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao; tham mưu, đề xuất giải quyết khó khăn, vướng mắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính. 3. Thủ trưởng Công an các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm xem xét, thực hiện các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra theo đúng quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi để các Đoàn thanh tra hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 6. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xây dựng kế hoạch thanh tra 1. Cơ quan thanh tra căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thường xuyên thu thập thông tin về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong Công an nhân dân và yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp để xây dựng kế hoạch thanh tra. 2. Trong trường hợp cần thiết, khi xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm, thủ trưởng cơ quan thanh tra đề nghị cơ quan, đơn vị Công an có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến, đề xuất những vấn đề cần phải đưa vào kế hoạch thanh tra. 3. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhận được đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu hoặc tham gia ý kiến về xây dựng kế hoạch thanh tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến bằng văn bản về việc xây dựng kế hoạch thanh tra. Điều 7. Phối hợp xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra hành chính 1. Khi phát sinh việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra của đơn vị, địa phương nào thì thủ trưởng cơ quan thanh tra đơn vị, địa phương đó xử lý; trường hợp vượt thẩm quyền thì kịp thời báo cáo, đề xuất thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp trên xử lý. 2. Khi nhận được quyết định thanh tra của cơ quan ngoài lực lượng Công an nhân dân đối với cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an là đối tượng thanh tra có trách nhiệm báo cáo với cơ quan thanh tra Công an cấp trên để xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra theo thẩm quyền. Điều 8. Phối hợp trưng tập cộng tác viên thanh tra 1. Khi có yêu cầu trưng tập cộng tác viên thanh tra thuộc cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan thanh tra phải có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó để thống nhất việc trưng tập cộng tác viên thanh tra. Sau khi thống nhất với thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp người được trưng tập, cơ quan thanh tra ra quyết định trưng tập cộng tác viên thanh tra. 2. Khi nhận được yêu cầu của cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý trực tiếp cộng tác viên phải bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu của cơ quan thanh tra. Trường hợp vì lý do khách quan mà không bố trí được cộng tác viên thanh tra theo yêu cầu của cơ quan thanh tra thì thông báo kịp thời cho cơ quan thanh tra để phối hợp giải quyết. 3. Cơ quan thanh tra trưng tập cộng tác viên thanh tra có trách nhiệm bố trí cộng tác viên thanh tra theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra; quản lý cộng tác viên thanh tra trong thời gian trưng tập; thực hiện hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan quản lý cộng tác viên thanh tra, thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp thực hiện chế độ, chính sách đối với cộng tác viên thanh tra theo quy định của pháp luật. 4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thời gian trưng tập, cơ quan trưng tập phải có văn bản nhận xét về việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên thanh tra gửi thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người được trưng tập. Nội dung văn bản nhận xét bao gồm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ; việc chấp hành quy định về những điều cộng tác viên thanh tra không được làm; kết quả, chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cộng tác viên thanh tra; đề nghị khen thưởng, kỷ luật (nếu có). Điều 9. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu trong quá trình tiến hành thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP. 2. Khi xét thấy cần thiết, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra trực tiếp hoặc có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu phải xác định rõ nội dung, thời hạn và hình thức của việc cung cấp thông tin, tài liệu. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đúng thời hạn, đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu thì phải có văn bản gửi người yêu cầu nêu rõ lý do về việc không thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu. Điều 10. Phối hợp thực hiện trưng cầu chuyên môn 1. Trong quá trình thanh tra, nếu có nội dung, vấn đề mà Đoàn thanh tra chưa đủ căn cứ để kết luận, xử lý, xét thấy cần thiết phải trưng cầu chuyên môn thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra yêu cầu cơ quan chức năng trong Công an nhân dân thực hiện kết luận chuyên môn để phục vụ công tác thanh tra. 2. Cơ quan, đơn vị chức năng trong Công an nhân dân có trách nhiệm thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu trưng cầu chuyên môn của người ra quyết định thanh tra. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu của người ra quyết định thanh tra thì phải có văn bản gửi người trưng cầu chuyên môn nêu rõ lý do không thực hiện được yêu cầu trưng cầu chuyên môn. Điều 11. Phối hợp kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu phục vụ đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra 1. Trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu mà Đoàn thanh tra không đủ điều kiện trực tiếp tiến hành thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra có văn bản đề nghị Thanh tra Công an đơn vị, địa phương có liên quan tiến hành kiểm tra, xác minh. Văn bản đề nghị phải ghi rõ yêu cầu cụ thể nội dung và thời hạn thực hiện việc kiểm tra, xác minh. 2. Cơ quan thanh tra được yêu cầu kiểm tra, xác minh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, xác minh, gửi kết quả và văn bản trả lời theo đúng thời hạn mà người ra quyết định thanh tra yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm tra, xác minh. Điều 12. Phối hợp trong việc thành lập Đoàn thanh tra liên ngành 1. Khi thành lập Đoàn thanh tra liên ngành, thủ trưởng cơ quan chủ trì cuộc thanh tra đề xuất phương án thành lập Đoàn thanh tra, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng để thành lập Đoàn thanh tra và thực hiện các nội dung liên quan đến nhiệm vụ thanh tra theo quy định. 2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra liên ngành có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chủ trì cuộc thanh tra thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về thanh tra; bố trí lực lượng, phương tiện tham gia theo yêu cầu của cơ quan chủ trì cuộc thanh tra. Điều 13. Phối hợp thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra 1.  Thủ trưởng Công an các cấp có trách nhiệm áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc quyền quản lý phối hợp với cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra bảo đảm thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. 2. Khi cần áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra; tạm đình chỉ công tác, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người ra quyết định thanh tra kiến nghị với người có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ trong Công an nhân dân. Văn bản kiến nghị phải ghi rõ căn cứ, đối tượng, thời gian tạm đình chỉ, hình thức xử lý. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm cung cấp các tài liệu làm căn cứ áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu của người có thẩm quyền. 3. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị áp dụng các biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người được kiến nghị phải thông báo kết quả thực hiện kiến nghị cho người ra quyết định thanh tra. Trường hợp cần thiết, người nhận được kiến nghị áp dụng biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra tổ chức họp liên ngành có sự tham gia của đại diện cơ quan tổ chức cán bộ, cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra để thống nhất các nội dung trước khi áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền. Điều 14. Phối hợp tổ chức thông báo nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng 1. Khi cần thông báo một phần hoặc toàn bộ nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng, người ra quyết định thanh tra có văn bản gửi cơ quan báo chí trong Công an nhân dân đề nghị thực hiện việc thông báo. Nội dung văn bản đề nghị phải ghi rõ căn cứ thực hiện thông báo, nội dung, thời gian, số lần thông báo. 2. Cơ quan báo chí nhận được đề nghị có trách nhiệm thực hiện thông báo kết luận thanh tra theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra và quy định của pháp luật. Điều 15. Phối hợp thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra 1. Cơ quan thanh tra phối hợp với cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân để tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. 2. Cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật về thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thanh tra để thực hiện kịp thời, đầy đủ kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 16. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2015. Điều 17. Trách nhiệm thi hành 1. Thanh tra Bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để kịp thời hướng dẫn.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122425&Keyword=
2025-09-24T02:27:06.715102
../data\bocongan\032015TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Quy định về phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010; Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ - CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra (sau đây viết gọn là Nghị định số 86/2011/NĐ - CP); Căn cứ Nghị định số 41/2014/NĐ - CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Công an nhân dân; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về mục đích, nguyên tắc, trách nhiệm trong phối hợp giữa cơ quan thanh tra nhà nước trong Công an nhân dân (sau đây viết gọn là cơ quan thanh tra) với Công an các đơn vị, địa phương trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, tiến hành thanh tra, thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với: 1. Công an các đơn vị, địa phương. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hành chính, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra; 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. 4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 3. Mục đích phối hợp Phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân nhằm huy động lực lượng cần thiết của các đơn vị chức năng để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ quy định của Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; không gây cản trở cho hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị phối hợp. 2. Bảo đảm kịp thời, chính xác, hiệu quả, khách quan, dân chủ trong quá trình phối hợp và thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 3. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp phải được các cơ quan, đơn vị, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết kịp thời. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc mà các cơ quan, đơn vị phối hợp không giải quyết được thì thủ trưởng cơ quan thanh tra báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp quyết định. 4. Nghiêm cấm lợi dụng việc phối hợp để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra hành chính và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị tham gia phối hợp. Điều 5. Trách nhiệm trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính 1. Thanh tra Bộ giúp Bộ trưởng theo dõi công tác phối hợp trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. 2. Cơ quan thanh tra các đơn vị, địa phương giúp thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính; kịp thời báo cáo thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp và cơ quan thanh tra cấp trên tình hình, kết quả công tác phối hợp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao; tham mưu, đề xuất giải quyết khó khăn, vướng mắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính. 3. Thủ trưởng Công an các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm xem xét, thực hiện các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra theo đúng quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi để các Đoàn thanh tra hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 6. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xây dựng kế hoạch thanh tra 1. Cơ quan thanh tra căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thường xuyên thu thập thông tin về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong Công an nhân dân và yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp để xây dựng kế hoạch thanh tra. 2. Trong trường hợp cần thiết, khi xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm, thủ trưởng cơ quan thanh tra đề nghị cơ quan, đơn vị Công an có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến, đề xuất những vấn đề cần phải đưa vào kế hoạch thanh tra. 3. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhận được đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu hoặc tham gia ý kiến về xây dựng kế hoạch thanh tra có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia ý kiến bằng văn bản về việc xây dựng kế hoạch thanh tra. Điều 7. Phối hợp xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra hành chính 1. Khi phát sinh việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra của đơn vị, địa phương nào thì thủ trưởng cơ quan thanh tra đơn vị, địa phương đó xử lý; trường hợp vượt thẩm quyền thì kịp thời báo cáo, đề xuất thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp trên xử lý. 2. Khi nhận được quyết định thanh tra của cơ quan ngoài lực lượng Công an nhân dân đối với cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an là đối tượng thanh tra có trách nhiệm báo cáo với cơ quan thanh tra Công an cấp trên để xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn thanh tra theo thẩm quyền. Điều 8. Phối hợp trưng tập cộng tác viên thanh tra 1. Khi có yêu cầu trưng tập cộng tác viên thanh tra thuộc cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan thanh tra phải có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó để thống nhất việc trưng tập cộng tác viên thanh tra. Sau khi thống nhất với thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp người được trưng tập, cơ quan thanh tra ra quyết định trưng tập cộng tác viên thanh tra. 2. Khi nhận được yêu cầu của cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý trực tiếp cộng tác viên phải bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu của cơ quan thanh tra. Trường hợp vì lý do khách quan mà không bố trí được cộng tác viên thanh tra theo yêu cầu của cơ quan thanh tra thì thông báo kịp thời cho cơ quan thanh tra để phối hợp giải quyết. 3. Cơ quan thanh tra trưng tập cộng tác viên thanh tra có trách nhiệm bố trí cộng tác viên thanh tra theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra; quản lý cộng tác viên thanh tra trong thời gian trưng tập; thực hiện hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan quản lý cộng tác viên thanh tra, thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp thực hiện chế độ, chính sách đối với cộng tác viên thanh tra theo quy định của pháp luật. 4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thời gian trưng tập, cơ quan trưng tập phải có văn bản nhận xét về việc thực hiện nhiệm vụ của cộng tác viên thanh tra gửi thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người được trưng tập. Nội dung văn bản nhận xét bao gồm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ; việc chấp hành quy định về những điều cộng tác viên thanh tra không được làm; kết quả, chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cộng tác viên thanh tra; đề nghị khen thưởng, kỷ luật (nếu có). Điều 9. Phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu trong quá trình tiến hành thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 86/2011/NĐ - CP. 2. Khi xét thấy cần thiết, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra trực tiếp hoặc có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu phải xác định rõ nội dung, thời hạn và hình thức của việc cung cấp thông tin, tài liệu. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đúng thời hạn, đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu thì phải có văn bản gửi người yêu cầu nêu rõ lý do về việc không thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu. Điều 10. Phối hợp thực hiện trưng cầu chuyên môn 1. Trong quá trình thanh tra, nếu có nội dung, vấn đề mà Đoàn thanh tra chưa đủ căn cứ để kết luận, xử lý, xét thấy cần thiết phải trưng cầu chuyên môn thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra yêu cầu cơ quan chức năng trong Công an nhân dân thực hiện kết luận chuyên môn để phục vụ công tác thanh tra. 2. Cơ quan, đơn vị chức năng trong Công an nhân dân có trách nhiệm thực hiện kịp thời, đầy đủ yêu cầu trưng cầu chuyên môn của người ra quyết định thanh tra. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu của người ra quyết định thanh tra thì phải có văn bản gửi người trưng cầu chuyên môn nêu rõ lý do không thực hiện được yêu cầu trưng cầu chuyên môn. Điều 11. Phối hợp kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu phục vụ đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra 1. Trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu mà Đoàn thanh tra không đủ điều kiện trực tiếp tiến hành thì Trưởng đoàn thanh tra kiến nghị người ra quyết định thanh tra có văn bản đề nghị Thanh tra Công an đơn vị, địa phương có liên quan tiến hành kiểm tra, xác minh. Văn bản đề nghị phải ghi rõ yêu cầu cụ thể nội dung và thời hạn thực hiện việc kiểm tra, xác minh. 2. Cơ quan thanh tra được yêu cầu kiểm tra, xác minh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, xác minh, gửi kết quả và văn bản trả lời theo đúng thời hạn mà người ra quyết định thanh tra yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả kiểm tra, xác minh. Điều 12. Phối hợp trong việc thành lập Đoàn thanh tra liên ngành 1. Khi thành lập Đoàn thanh tra liên ngành, thủ trưởng cơ quan chủ trì cuộc thanh tra đề xuất phương án thành lập Đoàn thanh tra, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng để thành lập Đoàn thanh tra và thực hiện các nội dung liên quan đến nhiệm vụ thanh tra theo quy định. 2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra liên ngành có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chủ trì cuộc thanh tra thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về thanh tra; bố trí lực lượng, phương tiện tham gia theo yêu cầu của cơ quan chủ trì cuộc thanh tra. Điều 13. Phối hợp thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra 1. Thủ trưởng Công an các cấp có trách nhiệm áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc quyền quản lý phối hợp với cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra bảo đảm thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng Công an nhân dân. 2. Khi cần áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra; tạm đình chỉ công tác, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người ra quyết định thanh tra kiến nghị với người có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ trong Công an nhân dân. Văn bản kiến nghị phải ghi rõ căn cứ, đối tượng, thời gian tạm đình chỉ, hình thức xử lý. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm cung cấp các tài liệu làm căn cứ áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu của người có thẩm quyền. 3. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị áp dụng các biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra, người được kiến nghị phải thông báo kết quả thực hiện kiến nghị cho người ra quyết định thanh tra. Trường hợp cần thiết, người nhận được kiến nghị áp dụng biện pháp quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 48 Luật Thanh tra tổ chức họp liên ngành có sự tham gia của đại diện cơ quan tổ chức cán bộ, cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra để thống nhất các nội dung trước khi áp dụng các biện pháp thuộc thẩm quyền. Điều 14. Phối hợp tổ chức thông báo nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng 1. Khi cần thông báo một phần hoặc toàn bộ nội dung kết luận thanh tra trên phương tiện thông tin đại chúng, người ra quyết định thanh tra có văn bản gửi cơ quan báo chí trong Công an nhân dân đề nghị thực hiện việc thông báo. Nội dung văn bản đề nghị phải ghi rõ căn cứ thực hiện thông báo, nội dung, thời gian, số lần thông báo. 2. Cơ quan báo chí nhận được đề nghị có trách nhiệm thực hiện thông báo kết luận thanh tra theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra và quy định của pháp luật. Điều 15. Phối hợp thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra 1. Cơ quan thanh tra phối hợp với cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân để tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. 2. Cơ quan quản lý cán bộ, tài chính, pháp chế và các cơ quan chức năng khác trong Công an nhân dân, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật về thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thanh tra để thực hiện kịp thời, đầy đủ kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 16. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2015. Điều 17. Trách nhiệm thi hành 1. Thanh tra Bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này. 2. Các Tổng cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Công an (qua Thanh tra Bộ) để kịp thời hướng dẫn.
Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân thuộc đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 và Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng chính phủ
03/2015/TTLT-BCA-BTC
12/05/2015
Thông tư liên tịch
26/06/2015
null
null
null
Bộ trưởng - Đại tướng
Trần Đại Quang
Toàn quốc
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=122402&Keyword=
2025-09-24T02:39:07.635019
../data\bocongan\032015TTLT-BCA-BTC\document.json
null
Hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế
03/2016/TTLT-BCA-BQP
24/06/2016
Thông tư liên tịch
08/08/2016
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Bùi Văn Nam
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế Căn cứ Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2014; Căn cứ Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế và Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quản lý cư trú của người nước ngoài, cấp thị thực, cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu; kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Thông tư này áp dụng đối với người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu; phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. 2. Thông tư này không áp dụng đối với người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu có thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc nhập cảnh theo diện miễn thị thực đơn phương của Việt Nam; người nước ngoài nhập cảnh được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều 3. Điều kiện nhập cảnh, xuất cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu phải có một trong các giấy tờ sau: a) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hợp lệ còn thời hạn ít nhất 06 tháng; b) Giấy thông hành biên giới hợp lệ và các giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật phù hợp với điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng còn thời hạn ít nhất 45 ngày. 2. Người nước ngoài không thuộc trường hợp “chưa cho nhập cảnh”, “tạm hoãn xuất cảnh” quy định tại các Điều 21, 28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Điều 4. Nguyên tắc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu được tạm trú không quá 15 ngày. 2. Người nước ngoài được tạm trú ở cơ sở lưu trú tại khu kinh tế cửa khẩu trừ khu vực cấm, khu vực tạm dừng các hoạt động trong khu vực biên giới đất liền hoặc vùng cấm, khu vực hạn chế hoạt động trong khu vực biên giới biển. 3. Đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. 4. Người nước ngoài nhập cảnh khu kinh tế cửa khẩu nào được đóng dấu khu kinh tế cửa khẩu đó (thực hiện theo mẫu số 01/KC ban hành kèm theo Thông tư này). 5. Người nước ngoài sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế thuộc diện đối tượng nêu tại Thông tư này, đang tạm trú tại khu kinh tế cửa khẩu nếu có nhu cầu đi du lịch ra khu vực khác của Việt Nam phải được doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam bảo lãnh làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xét cấp thị thực. 6. Người nước ngoài sử dụng giấy thông hành biên giới hoặc giấy tờ khác nêu tại Khoản 1 Điều 3 nhập cảnh nếu có nhu cầu đi đến các địa điểm khác trong tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu phải được doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam bảo lãnh làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xét cấp giấy phép tham quan (thực hiện theo mẫu số 03/GP ban hành kèm theo Thông tư này). Không giải quyết cho tham quan du lịch các địa phương khác trong nội địa Việt Nam. Chương II KIỂM TRA, KIỂM SOÁT NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH VÀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ TẠI KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Điều 5. Kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hộ chiếu, giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư này; đối chiếu ảnh và không thuộc trường hợp “chưa cho nhập cảnh” quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì giải quyết nhập cảnh. Trường hợp không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì lập biên bản, không giải quyết nhập cảnh và thực hiện những yêu cầu trong văn bản đăng ký “chưa cho nhập cảnh” (nếu có). 2. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh, cấp chứng nhận tạm trú 15 ngày và đóng dấu “KKT cửa khẩu…” vào hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới; đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 6. Kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài xuất cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hộ chiếu, giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư này; đối chiếu ảnh và không thuộc trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh” quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì giải quyết xuất cảnh. Trường hợp không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì lập biên bản, không giải quyết xuất cảnh và thực hiện những yêu cầu trong văn bản đăng ký “tạm hoãn xuất cảnh” (nếu có). Trường hợp người nước ngoài quá thời hạn tạm trú thì lập biên bản, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết xuất cảnh. 2. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu đóng dấu kiểm chứng xuất cảnh vào hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới; đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 7. Việc khai báo tạm trú của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Cơ sở lưu trú tại khu kinh tế cửa khẩu có trách nhiệm khai báo tạm trú cho người nước ngoài tạm trú trong thời hạn 12 giờ kể từ khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú. 2. Công an xã, phường, thị trấn tại khu kinh tế cửa khẩu, Đồn Công an khu kinh tế cửa khẩu tiếp nhận thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài từ cơ sở lưu trú và chuyển cho Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu trong ngày. Trạm Quản lý xuất nhập cảnh nhập dữ liệu người nước ngoài tạm trú tại khu kinh tế cửa khẩu chuyển ngay về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh và thông báo cho Đồn Biên phòng nơi có cơ sở lưu trú. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh thực hiện truyền thông tin tạm trú về cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh . Điều 8. Nhập và chuyển thông tin nhập, xuất cảnh của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu nhập thông tin nhập cảnh, xuất cảnh của người nước ngoài và chuyển về Cục Cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. 2. Sau khi nhận thông tin nhập cảnh, xuất cảnh từ đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh, Cục Cửa khẩu (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng) chuyển cho Cục An ninh cửa khẩu (Tổng cục An ninh) phục vụ yêu cầu quản lý và thống kê nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP THỊ THỰC, CẤP GIẤY PHÉP THAM QUAN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Điều 9. Thủ tục cấp thị thực cho người nước ngoài đi du lịch đến địa điểm khác của Việt Nam Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu, nếu có nhu cầu đi du lịch ra khu vực khác của Việt Nam, phải thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam làm thủ tục xin cấp thị thực tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh nơi có khu kinh tế cửa khẩu. 1. Hồ sơ đề nghị cấp thị thực gồm: a) 01 Tờ khai đề nghị theo mẫu NA5 ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BCA ngày 05/01/2015 của Bộ Công an quy định mẫu giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. b) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế. 2. Việc giải quyết cấp thị thực: a) Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp thị thực, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh báo cáo ngay về Cục Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để xét cấp thị thực. b) Trong thời gian 01 ngày làm việc, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, trả lời Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để cấp thị thực. Đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 10. Thủ tục cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới và các giấy tờ khác nêu tại Khoản 1 Điều 3 của Thông tư này đi đến các địa điểm khác trong tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu 1. Công dân Trung Quốc và công dân Cămpuchia nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới hoặc các giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 Thông tư này muốn đến các địa điểm khác của tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu phải thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam làm thủ tục xin cấp giấy phép tham quan tại Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu. Thời hạn của giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh phù hợp với chương trình du lịch do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tổ chức nhưng không quá 15 ngày và không được gia hạn. a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tham quan gồm: - Công văn đề nghị cấp giấy phép tham quan thực hiện theo theo mẫu số 02/CV ban hành kèm theo Thông tư này. - Giấy thông hành biên giới và giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 Thông tư này. b) Việc giải quyết cấp phép như sau: - Sau khi nhận được văn bản đề nghị, Trạm Quản lý xuất nhập cảnh báo cáo ngay về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để xét cấp giấy phép. - Trong thời gian 01 (một) ngày làm việc, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, trả lời để Trạm Quản lý xuất nhập cảnh cấp giấy phép tham quan. Lệ phí cấp giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh thu theo quy định pháp luật về phí và lệ phí. 2. Công dân Lào sử dụng giấy thông hành biên giới nhập cảnh Việt Nam thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 41/2011/TT-BCA ngày 29/6/2011 của Bộ Công an Hướng dẫn cấp giấy thông hành biên giới cho công dân Việt Nam sang Lào và giấy phép đến các tỉnh, thành phố của Việt Nam cho công dân Lào. Chương IV VIỆC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT, GIÁM SÁT NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO, RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU VÀ CẢNG BIỂN THUỘC KHU KINH TẾ Điều 11. Việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát người điều khiển phương tiện, phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Phương tiện, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài qua cửa khẩu đường bộ, khi nhập cảnh, xuất cảnh phải có các loại giấy tờ sau: a) Đối với phương tiện: - Giấy đăng ký phương tiện; - Giấy tờ về thủ tục hàng hóa (đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa); - Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chủ phương tiện; - Giấy phép liên vận; - Giấy phép vận chuyển hành khách, hàng hóa (nếu có); - Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. - Giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. b) Đối với người điều khiển phương tiện: - Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới. - Giấy phép điều khiển phương tiện. c) Người điều khiển phương tiện tại nội dung Điểm b Khoản 1 Điều này được miễn thị thực nhập cảnh. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu kiểm tra, đối chiếu nếu đủ điều kiện tại nội dung Điều 3 Thông tư này thì giải quyết cho nhập cảnh, cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích nhập cảnh. Việc giải quyết nhập cảnh thực hiện theo Điều 5, xuất cảnh thực hiện theo Điều 6 Thông tư này. 2. Phương tiện, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hóa đường thủy của nước có chung đường biên giới với Việt Nam vào giao, nhận hàng hóa tại cảng biển, cảng sông thuộc khu kinh tế cửa khẩu được thực hiện theo thủ tục nhập, xuất cảnh vùng biên giới. Khi làm thủ tục phải nộp và xuất trình các loại giấy tờ sau: a) Giấy tờ phải nộp (01 bản chính): - Bản khai chung; - Danh sách thuyền viên; - Danh sách hành khách (nếu có); - Bản khai hàng hóa nguy hiểm, vũ khí, vật liệu nổ (nếu có); - Bản khai người trốn trên tàu (nếu có). b) Giấy tờ phải xuất trình (01 bản chính): - Giấy chứng nhận đăng ký tàu thuyền hoặc sổ đăng ký tàu; - Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện; - Giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật; - Giấy tờ liên quan đến hàng hóa vận chuyển trên phương tiện; - Hộ chiếu hoặc hộ chiếu thuyền viên hoặc sổ thuyền viên hoặc giấy thông hành biên giới do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà người đó là công dân cấp. 3. Trường hợp phương tiện quy định tại các Khoản 1, 2 Điều này có nhu cầu vận chuyển hoặc giao nhận hàng hóa tại các địa điểm khác ngoài địa phận khu kinh tế cửa khẩu thực hiện theo quy định hiện hành. 4. Việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát người, phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài từ nội địa vào, ra khu kinh tế cửa khẩu thực hiện theo Nghị định 34/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị định số 50/2008/NĐ-CP ngày 21/4/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ an ninh trật tự tại cửa khẩu cảng biển. Chương V TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG TRONG VIỆC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT, GIÁM SÁT NGƯỜI, PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO, RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU VÀ CẢNG BIỂN  THUỘC KHU KINH TẾ Điều 12. Trách nhiệm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an 1. Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu) a) Phối hợp với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) hướng dẫn Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh đối với người, phương tiện và xử lý người nước ngoài vi phạm về xuất nhập cảnh tại cửa khẩu; b) Hướng dẫn Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh khi vượt quá thẩm quyền xử lý của Bộ đội Biên phòng. 2. Tổng cục An ninh (Cục Quản lý xuất nhập cảnh) a) Thông báo mẫu hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy thông hành biên giới và các giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật phù hợp với điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng. b) Xét cấp thị thực để trả lời Công an tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu cấp thị thực cho người nước ngoài theo đề nghị của doanh nghiệp lữ hành quốc tế; c) Hướng dẫn lực lượng Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thị thực, cấp giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh, xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu. 3. Công an tỉnh nơi có khu kinh tế cửa khẩu: a) Cấp thị thực cho người nước ngoài có nhu cầu đi du lịch đến khu vực khác của Việt Nam; cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài có nhu cầu đến các địa điểm khác thuộc tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu; b) Tổ chức quản lý tạm trú, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu; c) Tham mưu, đề xuất việc thành lập Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu. 4. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm quản lý cư trú, kiểm tra, xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh. Điều 13. Trách nhiệm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng 1. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) a) Chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu tổ chức, bố trí, sử dụng lực lượng, phương tiện thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, giám sát đối với người nước ngoài, phương tiện vận tải nước ngoài ra, vào hoạt động tại khu kinh tế cửa khẩu và cửa khẩu cảng biển thuộc khu kinh tế. Chủ trì, phối hợp với Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu và Cục Quản lý xuất nhập cảnh) hướng dẫn thực hiện kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, giám sát, phương tiện, hàng hóa của nước ngoài ra, vào khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế; xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại cửa khẩu; b) Chỉ đạo các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh hàng ngày chuyển dữ liệu người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh và dữ liệu xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu về Cục Cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng để chuyển cho Cục An ninh cửa khẩu, Tổng cục An ninh. 2. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh: a) Thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài, phương tiện vận tải hàng hóa của nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh tại cửa khẩu; b) Quản lý, giám sát tàu, thuyền, thuyền viên nước ngoài hoạt động trong thời gian neo đậu tại cảng biển thuộc khu kinh tế theo quy định pháp luật; c) Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu. Chương VI ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 14. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. Điều 15. Tổ chức thực hiện 1. Tổng cục An ninh (Bộ Công an) và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Bộ Quốc phòng) có trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. 2. Cục An ninh cửa khẩu và Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Tổng cục An ninh), Cục Cửa khẩu (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Giám đốc Công an, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, Công an và Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phản ảnh về Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu) hoặc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) để có hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=126275&Keyword=
2025-09-24T02:33:39.114740
../data\bocongan\032016TTLT-BCA-BQP\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế Căn cứ Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2014; Căn cứ Nghị định số 29/2008/NĐ - CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế và Nghị định số 164/2013/NĐ - CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ - CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ - CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 35/2013/NĐ - CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế như sau: Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quản lý cư trú của người nước ngoài, cấp thị thực, cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu; kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Thông tư này áp dụng đối với người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu; phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. 2. Thông tư này không áp dụng đối với người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu có thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc nhập cảnh theo diện miễn thị thực đơn phương của Việt Nam; người nước ngoài nhập cảnh được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều 3. Điều kiện nhập cảnh, xuất cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu phải có một trong các giấy tờ sau: a) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hợp lệ còn thời hạn ít nhất 06 tháng; b) Giấy thông hành biên giới hợp lệ và các giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật phù hợp với điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng còn thời hạn ít nhất 45 ngày. 2. Người nước ngoài không thuộc trường hợp “chưa cho nhập cảnh”, “tạm hoãn xuất cảnh” quy định tại các Điều 21, 28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Điều 4. Nguyên tắc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu được tạm trú không quá 15 ngày. 2. Người nước ngoài được tạm trú ở cơ sở lưu trú tại khu kinh tế cửa khẩu trừ khu vực cấm, khu vực tạm dừng các hoạt động trong khu vực biên giới đất liền hoặc vùng cấm, khu vực hạn chế hoạt động trong khu vực biên giới biển. 3. Đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. 4. Người nước ngoài nhập cảnh khu kinh tế cửa khẩu nào được đóng dấu khu kinh tế cửa khẩu đó (thực hiện theo mẫu số 01/KC ban hành kèm theo Thông tư này). 5. Người nước ngoài sử dụng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế thuộc diện đối tượng nêu tại Thông tư này, đang tạm trú tại khu kinh tế cửa khẩu nếu có nhu cầu đi du lịch ra khu vực khác của Việt Nam phải được doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam bảo lãnh làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xét cấp thị thực. 6. Người nước ngoài sử dụng giấy thông hành biên giới hoặc giấy tờ khác nêu tại Khoản 1 Điều 3 nhập cảnh nếu có nhu cầu đi đến các địa điểm khác trong tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu phải được doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam bảo lãnh làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xét cấp giấy phép tham quan (thực hiện theo mẫu số 03/GP ban hành kèm theo Thông tư này). Không giải quyết cho tham quan du lịch các địa phương khác trong nội địa Việt Nam. Chương II KIỂM TRA, KIỂM SOÁT NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH VÀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ TẠI KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Điều 5. Kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hộ chiếu, giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư này; đối chiếu ảnh và không thuộc trường hợp “chưa cho nhập cảnh” quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì giải quyết nhập cảnh. Trường hợp không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì lập biên bản, không giải quyết nhập cảnh và thực hiện những yêu cầu trong văn bản đăng ký “chưa cho nhập cảnh” (nếu có). 2. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh, cấp chứng nhận tạm trú 15 ngày và đóng dấu “KKT cửa khẩu…” vào hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới; đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 6. Kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài xuất cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hộ chiếu, giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư này; đối chiếu ảnh và không thuộc trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh” quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì giải quyết xuất cảnh. Trường hợp không đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì lập biên bản, không giải quyết xuất cảnh và thực hiện những yêu cầu trong văn bản đăng ký “tạm hoãn xuất cảnh” (nếu có). Trường hợp người nước ngoài quá thời hạn tạm trú thì lập biên bản, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết xuất cảnh. 2. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu đóng dấu kiểm chứng xuất cảnh vào hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới; đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 7. Việc khai báo tạm trú của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Cơ sở lưu trú tại khu kinh tế cửa khẩu có trách nhiệm khai báo tạm trú cho người nước ngoài tạm trú trong thời hạn 12 giờ kể từ khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú. 2. Công an xã, phường, thị trấn tại khu kinh tế cửa khẩu, Đồn Công an khu kinh tế cửa khẩu tiếp nhận thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài từ cơ sở lưu trú và chuyển cho Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu trong ngày. Trạm Quản lý xuất nhập cảnh nhập dữ liệu người nước ngoài tạm trú tại khu kinh tế cửa khẩu chuyển ngay về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh và thông báo cho Đồn Biên phòng nơi có cơ sở lưu trú. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh thực hiện truyền thông tin tạm trú về cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Điều 8. Nhập và chuyển thông tin nhập, xuất cảnh của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu nhập thông tin nhập cảnh, xuất cảnh của người nước ngoài và chuyển về Cục Cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. 2. Sau khi nhận thông tin nhập cảnh, xuất cảnh từ đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh, Cục Cửa khẩu (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng) chuyển cho Cục An ninh cửa khẩu (Tổng cục An ninh) phục vụ yêu cầu quản lý và thống kê nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh. Chương III TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP THỊ THỰC, CẤP GIẤY PHÉP THAM QUAN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Điều 9. Thủ tục cấp thị thực cho người nước ngoài đi du lịch đến địa điểm khác của Việt Nam Người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu, nếu có nhu cầu đi du lịch ra khu vực khác của Việt Nam, phải thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam làm thủ tục xin cấp thị thực tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh nơi có khu kinh tế cửa khẩu. 1. Hồ sơ đề nghị cấp thị thực gồm: a) 01 Tờ khai đề nghị theo mẫu NA5 ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT - BCA ngày 05/01/2015 của Bộ Công an quy định mẫu giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. b) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế. 2. Việc giải quyết cấp thị thực: a) Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp thị thực, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh báo cáo ngay về Cục Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để xét cấp thị thực. b) Trong thời gian 01 ngày làm việc, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, trả lời Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để cấp thị thực. Đối với công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu phổ thông điện tử thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Công an. Điều 10. Thủ tục cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới và các giấy tờ khác nêu tại Khoản 1 Điều 3 của Thông tư này đi đến các địa điểm khác trong tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu 1. Công dân Trung Quốc và công dân Cămpuchia nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới hoặc các giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 Thông tư này muốn đến các địa điểm khác của tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu phải thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam làm thủ tục xin cấp giấy phép tham quan tại Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu. Thời hạn của giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh phù hợp với chương trình du lịch do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tổ chức nhưng không quá 15 ngày và không được gia hạn. a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tham quan gồm: - Công văn đề nghị cấp giấy phép tham quan thực hiện theo theo mẫu số 02/CV ban hành kèm theo Thông tư này. - Giấy thông hành biên giới và giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 Thông tư này. b) Việc giải quyết cấp phép như sau: - Sau khi nhận được văn bản đề nghị, Trạm Quản lý xuất nhập cảnh báo cáo ngay về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (qua Fax hoặc qua đường truyền) để xét cấp giấy phép. - Trong thời gian 01 (một) ngày làm việc, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, trả lời để Trạm Quản lý xuất nhập cảnh cấp giấy phép tham quan. Lệ phí cấp giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh thu theo quy định pháp luật về phí và lệ phí. 2. Công dân Lào sử dụng giấy thông hành biên giới nhập cảnh Việt Nam thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 41/2011/TT - BCA ngày 29/6/2011 của Bộ Công an Hướng dẫn cấp giấy thông hành biên giới cho công dân Việt Nam sang Lào và giấy phép đến các tỉnh, thành phố của Việt Nam cho công dân Lào. Chương IV VIỆC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT, GIÁM SÁT NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO, RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU VÀ CẢNG BIỂN THUỘC KHU KINH TẾ Điều 11. Việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát người điều khiển phương tiện, phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu 1. Phương tiện, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài qua cửa khẩu đường bộ, khi nhập cảnh, xuất cảnh phải có các loại giấy tờ sau: a) Đối với phương tiện: - Giấy đăng ký phương tiện; - Giấy tờ về thủ tục hàng hóa (đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa); - Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chủ phương tiện; - Giấy phép liên vận; - Giấy phép vận chuyển hành khách, hàng hóa (nếu có); - Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. - Giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. b) Đối với người điều khiển phương tiện: - Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế hoặc giấy thông hành biên giới. - Giấy phép điều khiển phương tiện. c) Người điều khiển phương tiện tại nội dung Điểm b Khoản 1 Điều này được miễn thị thực nhập cảnh. Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu kiểm tra, đối chiếu nếu đủ điều kiện tại nội dung Điều 3 Thông tư này thì giải quyết cho nhập cảnh, cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích nhập cảnh. Việc giải quyết nhập cảnh thực hiện theo Điều 5, xuất cảnh thực hiện theo Điều 6 Thông tư này. 2. Phương tiện, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hóa đường thủy của nước có chung đường biên giới với Việt Nam vào giao, nhận hàng hóa tại cảng biển, cảng sông thuộc khu kinh tế cửa khẩu được thực hiện theo thủ tục nhập, xuất cảnh vùng biên giới. Khi làm thủ tục phải nộp và xuất trình các loại giấy tờ sau: a) Giấy tờ phải nộp (01 bản chính): - Bản khai chung; - Danh sách thuyền viên; - Danh sách hành khách (nếu có); - Bản khai hàng hóa nguy hiểm, vũ khí, vật liệu nổ (nếu có); - Bản khai người trốn trên tàu (nếu có). b) Giấy tờ phải xuất trình (01 bản chính): - Giấy chứng nhận đăng ký tàu thuyền hoặc sổ đăng ký tàu; - Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện; - Giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật; - Giấy tờ liên quan đến hàng hóa vận chuyển trên phương tiện; - Hộ chiếu hoặc hộ chiếu thuyền viên hoặc sổ thuyền viên hoặc giấy thông hành biên giới do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà người đó là công dân cấp. 3. Trường hợp phương tiện quy định tại các Khoản 1, 2 Điều này có nhu cầu vận chuyển hoặc giao nhận hàng hóa tại các địa điểm khác ngoài địa phận khu kinh tế cửa khẩu thực hiện theo quy định hiện hành. 4. Việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát người, phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài từ nội địa vào, ra khu kinh tế cửa khẩu thực hiện theo Nghị định 34/2014/NĐ - CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị định số 50/2008/NĐ - CP ngày 21/4/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ an ninh trật tự tại cửa khẩu cảng biển. Chương V TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG TRONG VIỆC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT, GIÁM SÁT NGƯỜI, PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO, RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU VÀ CẢNG BIỂN THUỘC KHU KINH TẾ Điều 12. Trách nhiệm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an 1. Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu) a) Phối hợp với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) hướng dẫn Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh đối với người, phương tiện và xử lý người nước ngoài vi phạm về xuất nhập cảnh tại cửa khẩu; b) Hướng dẫn Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật xuất nhập cảnh khi vượt quá thẩm quyền xử lý của Bộ đội Biên phòng. 2. Tổng cục An ninh (Cục Quản lý xuất nhập cảnh) a) Thông báo mẫu hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy thông hành biên giới và các giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của pháp luật phù hợp với điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng. b) Xét cấp thị thực để trả lời Công an tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu cấp thị thực cho người nước ngoài theo đề nghị của doanh nghiệp lữ hành quốc tế; c) Hướng dẫn lực lượng Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thị thực, cấp giấy phép tham quan đến các địa điểm khác của tỉnh, xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại khu kinh tế cửa khẩu. 3. Công an tỉnh nơi có khu kinh tế cửa khẩu: a) Cấp thị thực cho người nước ngoài có nhu cầu đi du lịch đến khu vực khác của Việt Nam; cấp giấy phép tham quan cho người nước ngoài có nhu cầu đến các địa điểm khác thuộc tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu; b) Tổ chức quản lý tạm trú, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại khu kinh tế cửa khẩu; c) Tham mưu, đề xuất việc thành lập Trạm Quản lý xuất nhập cảnh tại khu kinh tế cửa khẩu. 4. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm quản lý cư trú, kiểm tra, xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh. Điều 13. Trách nhiệm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng 1. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) a) Chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu tổ chức, bố trí, sử dụng lực lượng, phương tiện thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, giám sát đối với người nước ngoài, phương tiện vận tải nước ngoài ra, vào hoạt động tại khu kinh tế cửa khẩu và cửa khẩu cảng biển thuộc khu kinh tế. Chủ trì, phối hợp với Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu và Cục Quản lý xuất nhập cảnh) hướng dẫn thực hiện kiểm tra, kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, giám sát, phương tiện, hàng hóa của nước ngoài ra, vào khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế; xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại cửa khẩu; b) Chỉ đạo các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh hàng ngày chuyển dữ liệu người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh và dữ liệu xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu về Cục Cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng để chuyển cho Cục An ninh cửa khẩu, Tổng cục An ninh. 2. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh: a) Thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát người nước ngoài, phương tiện vận tải hàng hóa của nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh tại cửa khẩu; b) Quản lý, giám sát tàu, thuyền, thuyền viên nước ngoài hoạt động trong thời gian neo đậu tại cảng biển thuộc khu kinh tế theo quy định pháp luật; c) Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu. Chương VI ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 14. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. Điều 15. Tổ chức thực hiện 1. Tổng cục An ninh (Bộ Công an) và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Bộ Quốc phòng) có trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. 2. Cục An ninh cửa khẩu và Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Tổng cục An ninh), Cục Cửa khẩu (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Giám đốc Công an, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, Công an và Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phản ảnh về Tổng cục An ninh (Cục An ninh cửa khẩu) hoặc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (Cục Cửa khẩu) để có hướng dẫn kịp thời. /.
Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố
03/2020/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC
11/12/2020
Thông tư liên tịch
25/01/2021
null
null
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thứ trưởng
Thượng tướng Lê Quý Vương
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; C ă n cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 164/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch bãi bỏ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố. Điều 1. Bãi bỏ toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật Bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố. Điều 2. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 01 năm 2021. Điều 3 . Tổ chức thực hiện Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=145520&Keyword=
2025-09-24T02:33:20.164222
../data\bocongan\032020TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT - BCA - BQP - BTP - NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; C ă n cứ Nghị định số 34/2016/NĐ - CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 164/2017/NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng; Căn cứ Nghị định số 96/2017/NĐ - CP ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Căn cứ Nghị định số 16/2017/NĐ - CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch bãi bỏ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT - BCA - BQP - BTP - NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố. Điều 1. Bãi bỏ toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật Bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 06/2012/TTLT - BCA - BQP - BTP - NHNNVN - VKSNDTC - TANDTC ngày 05 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố. Điều 2. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 01 năm 2021. Điều 3. Tổ chức thực hiện Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư liên tịch này. /.
Quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội
03/2023/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
12/05/2023
Thông tư liên tịch
01/07/2023
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Lê Quốc Hùng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 12 tháng 11 năm 2021; Căn cứ Luật Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2011; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu phản ánh về nhân thân, lý lịch, đặc điểm nhân dạng, kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các thông tin, tài liệu khác có liên quan đến người phạm tội; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thủ tục, thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp; Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 3. Nguyên tắc thực hiện 1. Thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải được thông báo hoặc gửi đầy đủ, kịp thời, chính xác về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân để quản lý, khai thác, sử dụng. 2. Bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; pháp luật về lưu trữ. 3. Thông tin, tài liệu do Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân cung cấp phải được quản lý, sử dụng phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các mục đích khác theo quy định của pháp luật và của Thông tư liên tịch này. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Thông tin, tài liệu Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Quyết định khởi tố bị can, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can. 2. Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can. 3. Quyết định truy nã; quyết định đình nã. Điều 5. Thông tin, tài liệu Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Quyết định truy nã. 2. Quyết định đình nã. Điều 6. Thông tin, tài liệu Viện kiểm sát nhân dân thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp của Công an nhân dân 1. Quyết định khởi tố bị can, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát nhân dân ban hành. 2. Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can do Viện kiểm sát nhân dân ban hành. 3. Đối với những vụ án do bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đề nghị truy tố theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) thì Viện kiểm sát nhân dân thông báo hoặc gửi những thông tin, tài liệu theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ cùng cấp. Điều 7. Thông tin, tài liệu Tòa án nhân dân thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Bản án hình sự phúc thẩm. 3. Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo do Tòa án ban hành. 4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. 5. Quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm. 6. Quyết định tổng hợp hình phạt. 7. Quyết định đình chỉ thi hành án. 8. Quyết định về việc xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình của Chủ tịch nước. 9. Biên bản thi hành án tử hình. Điều 8. Thông tin, tài liệu Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh 1. Danh bản, chỉ bản, ảnh người phạm tội. 2. Trích lục tiền án, tiền sự. 3. Thông báo kết quả xác minh nhân thân, lý lịch đối tượng. 4. Những thông tin, tài liệu đã được cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cung cấp cho Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân nêu tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này. Chương III TRÁCH NHIỆM, THỦ TỤC, THỜI HẠN THÔNG BÁO HOẶC GỬI, CUNG CẤP THÔNG TIN, TÀI LIỆU Điều 9. Trách nhiệm thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh Các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thông báo hoặc gửi các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo phân cấp, như sau: 1. Cơ quan điều tra, Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Cục Hồ sơ nghiệp vụ - Bộ Công an; 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an cấp tỉnh; 3. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Công an cấp huyện. Điều 10. Thời hạn thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu 1. Đối với các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này mà pháp luật có quy định thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thì các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này trong thời hạn do pháp luật quy định. 2. Đối với các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này mà pháp luật không quy định thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thì chậm nhất 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành hoặc ngày nhận được, các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. 3. Đối với các thông tin, tài liệu do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đề nghị truy tố (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)) thì chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền phải thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ cùng cấp ngành của Công an nhân dân. Điều 11. Phương thức thông báo hoặc gửi tài liệu và kết nối, chia sẻ thông tin 1. Các đơn vị có liên quan thuộc các ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu bằng bản giấy hoặc sử dụng hệ thống phần mềm quản lý văn bản điều hành của ngành tích hợp với Trục liên thông văn bản quốc gia để thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu điện tử liên quan đến người phạm tội. 2. Thông tin, tài liệu số hóa được trao đổi thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia. 3. Bộ Công an chủ trì đề xuất, xây dựng Cơ sở dữ liệu kết quả điều tra, truy tố, xét xử để phục vụ kết nối, chia sẻ thông tin giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào yêu cầu thực tiễn để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu kết quả điều tra, truy tố, xét xử. Điều 12. Thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu Cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh gửi yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo biểu mẫu số 206 (ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự) phải ghi rõ số, ngày, tháng, năm ban hành văn bản, tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao), mục đích sử dụng, họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu của cơ quan yêu cầu. Điều 13. Thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu 1. Đối với yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân trả lời trong thời hạn, như sau: a) Cấp Trung ương, không quá 07 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 15 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh; b) Cấp tỉnh, không quá 07 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 15 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh; c) Cấp huyện, không quá 05 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 10 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh. 2. Đối với yêu cầu đọc, nghiên cứu thông tin, tài liệu tại chỗ, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân làm thủ tục cung cấp ngay. 3. Trường hợp không đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều 14. Bảo đảm tính pháp lý của thông tin, tài liệu được thông báo hoặc gửi, cung cấp 1. Thông tin, tài liệu được thông báo hoặc gửi, cung cấp phải bảo đảm tính pháp lý, đúng quy định của pháp luật về hình thức văn bản (bản chính, bản sao, bản điện tử). 2. Thủ trưởng Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân duyệt, ký, đóng dấu cơ quan; duyệt, ký số của người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật vào văn bản trả lời và bản sao tài liệu (nếu có), cung cấp cho cơ quan, đơn vị gửi yêu cầu để bảo đảm giá trị pháp lý. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 15. Cơ quan đầu mối 1. Cấp trung ương, cơ quan đầu mối trong phối hợp chỉ đạo và tham mưu, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này, như sau: a) Bộ Công an là Cục Hồ sơ nghiệp vụ; b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; c) Tòa án nhân dân tối cao là Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao. 2. Cấp tỉnh, cơ quan đầu mối trong phối hợp chỉ đạo và tham mưu, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này, như sau: a) Công an tỉnh là Phòng Hồ sơ nghiệp vụ; b) Viện kiểm sát nhân dân là Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân là Văn phòng Tòa án nhân dân. 3. Cấp huyện, cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân phân công cán bộ làm đầu mối tham mưu, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này. Điều 16. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Bộ Công an (Cục Hồ sơ nghiệp vụ) định kỳ 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Văn phòng), Tòa án nhân dân tối cao (Văn phòng) và Công an các đơn vị, địa phương. 2. Công an cấp tỉnh (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ) định kỳ 6 tháng, 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng), Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng) và báo cáo Bộ Công an (qua Cục Hồ sơ nghiệp vụ). 3. Công an cấp huyện định kỳ 6 tháng, 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện và báo cáo Công an cấp tỉnh (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ). 4. Mốc thời gian báo cáo như sau: a) Báo cáo 6 tháng tính từ ngày 01 tháng 12 năm trước đến ngày 31 tháng 5 của năm báo cáo; b) Báo cáo năm tính từ ngày 01 tháng 12 năm trước đến ngày 30 tháng 11 của năm báo cáo. 5. Thời hạn gửi báo cáo là 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo. Điều 17. Chế độ sơ kết, kinh phí thực hiện 1. Định kỳ 05 năm/lần, Bộ Công an chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao họp sơ kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Hằng năm, Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp họp sơ kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Kinh phí thực hiện: Được bảo đảm từ nguồn do ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của mỗi ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023, thay thế Thông tư liên tịch số 05/2018/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc có vấn đề mới phát sinh, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan phản ánh với Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, hướng dẫn thực hiện hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=167791&Keyword=
2025-09-24T02:33:13.889387
../data\bocongan\032023TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 12 tháng 11 năm 2021; Căn cứ Luật Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2011; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu phản ánh về nhân thân, lý lịch, đặc điểm nhân dạng, kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các thông tin, tài liệu khác có liên quan đến người phạm tội; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thủ tục, thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp; Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 3. Nguyên tắc thực hiện 1. Thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội phải được thông báo hoặc gửi đầy đủ, kịp thời, chính xác về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân để quản lý, khai thác, sử dụng. 2. Bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; pháp luật về lưu trữ. 3. Thông tin, tài liệu do Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân cung cấp phải được quản lý, sử dụng phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các mục đích khác theo quy định của pháp luật và của Thông tư liên tịch này. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 4. Thông tin, tài liệu Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Quyết định khởi tố bị can, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can. 2. Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra bị can. 3. Quyết định truy nã; quyết định đình nã. Điều 5. Thông tin, tài liệu Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Quyết định truy nã. 2. Quyết định đình nã. Điều 6. Thông tin, tài liệu Viện kiểm sát nhân dân thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp của Công an nhân dân 1. Quyết định khởi tố bị can, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát nhân dân ban hành. 2. Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can do Viện kiểm sát nhân dân ban hành. 3. Đối với những vụ án do bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đề nghị truy tố theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) thì Viện kiểm sát nhân dân thông báo hoặc gửi những thông tin, tài liệu theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ cùng cấp. Điều 7. Thông tin, tài liệu Tòa án nhân dân thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân 1. Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. 2. Bản án hình sự phúc thẩm. 3. Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo do Tòa án ban hành. 4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. 5. Quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm. 6. Quyết định tổng hợp hình phạt. 7. Quyết định đình chỉ thi hành án. 8. Quyết định về việc xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình của Chủ tịch nước. 9. Biên bản thi hành án tử hình. Điều 8. Thông tin, tài liệu Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh 1. Danh bản, chỉ bản, ảnh người phạm tội. 2. Trích lục tiền án, tiền sự. 3. Thông báo kết quả xác minh nhân thân, lý lịch đối tượng. 4. Những thông tin, tài liệu đã được cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cung cấp cho Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân nêu tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này. Chương III TRÁCH NHIỆM, THỦ TỤC, THỜI HẠN THÔNG BÁO HOẶC GỬI, CUNG CẤP THÔNG TIN, TÀI LIỆU Điều 9. Trách nhiệm thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh Các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thông báo hoặc gửi các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo phân cấp, như sau: 1. Cơ quan điều tra, Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Cục Hồ sơ nghiệp vụ - Bộ Công an; 2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an cấp tỉnh; 3. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu về Công an cấp huyện. Điều 10. Thời hạn thông báo hoặc gửi thông tin, tài liệu 1. Đối với các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này mà pháp luật có quy định thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thì các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này trong thời hạn do pháp luật quy định. 2. Đối với các thông tin, tài liệu quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 của Thông tư liên tịch này mà pháp luật không quy định thời hạn thông báo hoặc gửi, cung cấp thì chậm nhất 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành hoặc ngày nhận được, các cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này. 3. Đối với các thông tin, tài liệu do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đề nghị truy tố (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)) thì chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền phải thông báo hoặc gửi về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ cùng cấp ngành của Công an nhân dân. Điều 11. Phương thức thông báo hoặc gửi tài liệu và kết nối, chia sẻ thông tin 1. Các đơn vị có liên quan thuộc các ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu bằng bản giấy hoặc sử dụng hệ thống phần mềm quản lý văn bản điều hành của ngành tích hợp với Trục liên thông văn bản quốc gia để thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu điện tử liên quan đến người phạm tội. 2. Thông tin, tài liệu số hóa được trao đổi thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia. 3. Bộ Công an chủ trì đề xuất, xây dựng Cơ sở dữ liệu kết quả điều tra, truy tố, xét xử để phục vụ kết nối, chia sẻ thông tin giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào yêu cầu thực tiễn để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu kết quả điều tra, truy tố, xét xử. Điều 12. Thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu Cơ quan tiến hành tố tụng; Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh gửi yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu về Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân theo biểu mẫu số 206 (ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT - BCA ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự) phải ghi rõ số, ngày, tháng, năm ban hành văn bản, tên thông tin, tài liệu đề nghị cung cấp, hình thức (bản chính hoặc bản sao), mục đích sử dụng, họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu của cơ quan yêu cầu. Điều 13. Thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu 1. Đối với yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân trả lời trong thời hạn, như sau: a) Cấp Trung ương, không quá 07 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 15 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh; b) Cấp tỉnh, không quá 07 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 15 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh; c) Cấp huyện, không quá 05 ngày làm việc đối với yêu cầu không phải xác minh; không quá 10 ngày đối với yêu cầu cần phải xác minh. 2. Đối với yêu cầu đọc, nghiên cứu thông tin, tài liệu tại chỗ, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân làm thủ tục cung cấp ngay. 3. Trường hợp không đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều 14. Bảo đảm tính pháp lý của thông tin, tài liệu được thông báo hoặc gửi, cung cấp 1. Thông tin, tài liệu được thông báo hoặc gửi, cung cấp phải bảo đảm tính pháp lý, đúng quy định của pháp luật về hình thức văn bản (bản chính, bản sao, bản điện tử). 2. Thủ trưởng Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân duyệt, ký, đóng dấu cơ quan; duyệt, ký số của người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật vào văn bản trả lời và bản sao tài liệu (nếu có), cung cấp cho cơ quan, đơn vị gửi yêu cầu để bảo đảm giá trị pháp lý. Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 15. Cơ quan đầu mối 1. Cấp trung ương, cơ quan đầu mối trong phối hợp chỉ đạo và tham mưu, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này, như sau: a) Bộ Công an là Cục Hồ sơ nghiệp vụ; b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; c) Tòa án nhân dân tối cao là Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao. 2. Cấp tỉnh, cơ quan đầu mối trong phối hợp chỉ đạo và tham mưu, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này, như sau: a) Công an tỉnh là Phòng Hồ sơ nghiệp vụ; b) Viện kiểm sát nhân dân là Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân là Văn phòng Tòa án nhân dân. 3. Cấp huyện, cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân phân công cán bộ làm đầu mối tham mưu, đôn đốc thực hiện Thông tư liên tịch này. Điều 16. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Bộ Công an (Cục Hồ sơ nghiệp vụ) định kỳ 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Văn phòng), Tòa án nhân dân tối cao (Văn phòng) và Công an các đơn vị, địa phương. 2. Công an cấp tỉnh (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ) định kỳ 6 tháng, 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng), Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Văn phòng) và báo cáo Bộ Công an (qua Cục Hồ sơ nghiệp vụ). 3. Công an cấp huyện định kỳ 6 tháng, 01 năm thông báo kết quả thực hiện Thông tư liên tịch này cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp huyện và báo cáo Công an cấp tỉnh (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ). 4. Mốc thời gian báo cáo như sau: a) Báo cáo 6 tháng tính từ ngày 01 tháng 12 năm trước đến ngày 31 tháng 5 của năm báo cáo; b) Báo cáo năm tính từ ngày 01 tháng 12 năm trước đến ngày 30 tháng 11 của năm báo cáo. 5. Thời hạn gửi báo cáo là 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo. Điều 17. Chế độ sơ kết, kinh phí thực hiện 1. Định kỳ 05 năm/lần, Bộ Công an chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao họp sơ kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Hằng năm, Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp họp sơ kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện Thông tư liên tịch này. 3. Kinh phí thực hiện: Được bảo đảm từ nguồn do ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của mỗi ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án. Chương V ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 18. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023, thay thế Thông tư liên tịch số 05/2018/TTLT/BCA - VKSNDTC - TANDTC ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Điều 19. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc có vấn đề mới phát sinh, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan phản ánh với Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, hướng dẫn thực hiện hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. /.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thông tư số 43/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ, Thông tư số 45/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu
03/2024/TT-BCA
15/01/2024
Thông tư
01/03/2024
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Tô Lâm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thông tư số 43/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ, Thông tư số 45/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu Căn cứ Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Căn cứ Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 56/2023/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ s ửa đổi , bổ sung một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 về quản lý và sử dụng con dấu, Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 quy định về quản lý, sử dụng pháo; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thông tư số 43/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ, Thông tư số 45/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu. Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau: “ Điều 2. Biểu mẫu phục vụ công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự Ban hành kèm theo Thông tư này các biểu mẫu phục vụ công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 56/2023/NĐ-CP (sau đây viết gọn là Nghị định số 96/2016/NĐ-CP), ký hiệu chung là ĐK, cụ thể như sau: 1. Biểu mẫu sử dụng cho cơ quan Công an, bao gồm: a) Biên nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK1); b) Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK2); c) Thông báo về việc hồ sơ không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK3); d) Phiếu xác minh lý lịch của người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự là người Việt Nam ở trong nước (Mẫu ĐK4a); đ) Phiếu xác minh lý lịch của người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài (Mẫu ĐK4b); e) Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK5a); g) Biên bản hậu kiểm đối với cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK5b); h) Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK6); i) Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK7); k) Báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý cơ sở hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK8); l) Biên bản giao, nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK9); m) Sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK10); n) Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK16). 2. Biểu mẫu sử dụng cho cơ sở kinh doanh, bao gồm: a) Danh sách người làm trong cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK11); b) Danh sách nhân viên đăng ký đào tạo và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK12); c) Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện các quy định về an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh (Mẫu ĐK13); d) Sổ quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK14); đ) Sổ quản lý đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ (Mẫu ĐK15). 3. Quy cách biểu mẫu Các biểu mẫu quy định tại khoản 1 Điều này được in đen trắng trên khổ giấy A4 (riêng biểu mẫu ĐK8 in trên khổ giấy A3). 4. Yêu cầu ghi biểu mẫu a) Ghi đầy đủ, chính xác các cột, mục; chữ viết phải rõ ràng, thể hiện đầy đủ các nội dung thông tin trong từng biểu mẫu; b) Màu mực để ghi biểu mẫu và nội dung thông tin trong biểu mẫu dùng màu xanh, tím than hoặc đen và chỉ viết một loại mực cho một nội dung hoàn chỉnh của biểu mẫu. Công an các đơn vị, địa phương và cơ sở kinh doanh đã ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thì biểu mẫu được sử dụng trực tiếp trên máy tính nhưng phải bảo đảm đầy đủ các nội dung thông tin của các loại biểu mẫu đã ban hành theo Thông tư này. Các cơ sở kinh doanh có hệ thống máy tính lưu trữ thông tin thì cập nhật dữ liệu thống kê theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh phù hợp với ngành, nghề mà cơ sở đang kinh doanh theo đúng biểu mẫu ĐK14; trường hợp cơ sở không có hệ thống máy tính lưu trữ thông tin thì lập sổ để theo dõi theo mẫu quy định. 5. In, quản lý các biểu mẫu và kinh phí bảo đảm thực hiện a) Công an các đơn vị, địa phương, cơ sở kinh doanh tự in các loại biểu mẫu để sử dụng; b) Quản lý các biểu mẫu: Công an các đơn vị, địa phương thực hiện quản lý các loại biểu mẫu sử dụng cho cơ quan Công an theo chế độ hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân; Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm quản lý các loại biểu mẫu sử dụng tại cơ sở kinh doanh. c) Kinh phí in các loại biểu mẫu quy định tại khoản 1 Điều này được sử dụng từ nguồn kinh phí thường xuyên của Bộ Công an cấp cho Công an các đơn vị, địa phương. Hằng năm, Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm lập dự trù kinh phí in các loại biểu mẫu gửi Cục Kế hoạch và Tài chính tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Bộ Công an.”. 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 6 như sau: “3. Việc hậu kiểm phải lập biên bản theo mẫu ĐK5b ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng một trong các điều kiện về an ninh, trật tự hoặc điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, thì xử lý như sau: a) Thông báo bằng văn bản yêu cầu cơ sở kinh doanh tạm ngừng hoạt động kinh doanh ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hoặc khoản 2 Điều 96 Luật Hợp tác xã năm 2023. Đồng thời, yêu cầu cơ sở kinh doanh khắc phục điều kiện chưa đáp ứng để đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP; b) Trường hợp cơ sở kinh doanh có văn bản báo cáo đã khắc phục đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì ghi cụ thể vào biên bản theo mẫu ĐK5b ban hành kèm theo Thông tư này để cơ sở kinh doanh tiếp tục hoạt động ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư đã phải tạm ngừng kinh doanh trước đó; c) Trường hợp trong thời hạn quy định tại điểm a khoản này, cơ sở kinh doanh không khắc phục được để đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì cơ quan Công an có thẩm quyền ra quyết định thu hồi không có thời hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư mà cơ sở kinh doanh đã phải tạm ngừng hoạt động trước đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP.”. 3. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau: “ Điều 7. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Đối với cơ quan Công an a) Định kỳ hàng quý trong năm: Công an cấp xã gửi báo cáo về Công an cấp huyện trước ngày 04 tháng 3 của Quý I; 04 tháng 6 của Quý II; 04 tháng 9 của Quý III; 04 tháng 12 của Quý IV. Công an cấp huyện gửi báo cáo về Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh trước ngày 06 tháng 3 của Quý I; 06 tháng 6 của Quý II; 06 tháng 9 của Quý III; 06 tháng 12 của Quý IV. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh gửi báo cáo về Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trước ngày 08 tháng 3 của Quý I; 08 tháng 6 của Quý II; 08 tháng 9 của Quý III; 08 tháng 12 của Quý IV. Báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý cơ sở hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thực hiện theo mẫu ĐK8 ban hành kèm theo Thông tư này. Số liệu báo cáo thực hiện theo mốc thời gian: Quý I tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày cuối cùng của tháng 2 năm báo cáo; Quý II tính từ ngày 01 tháng 3 đến hết ngày 31 tháng 5; Quý III tính từ ngày 01 tháng 6 đến hết ngày 31 tháng 8; Quý IV tính từ ngày 01 tháng 9 đến hết ngày 30 tháng 11. b) Đối với vụ, việc đột xuất, Công an cấp xã kịp thời gửi báo cáo về Công an cấp huyện; Công an cấp huyện gửi báo cáo về Công an cấp tỉnh; Công an cấp tỉnh gửi báo cáo về Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nếu vụ, việc mang tính cấp bách, ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận thì báo cáo trước qua điện thoại, sau đó báo cáo bằng văn bản. 2. Đối với cơ sở kinh doanh a) Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo định kỳ hàng quý trong năm trước ngày 02 tháng 3; ngày 02 tháng 6; ngày 02 tháng 9; ngày 02 tháng 12. Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện các quy định về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh thực hiện theo mẫu ĐK13 ban hành kèm theo Thông tư này gửi cơ quan Công an trực tiếp quản lý. Số liệu báo cáo thực hiện theo mốc thời gian: Quý I tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày cuối cùng của tháng 2 năm báo cáo; Quý II tính từ ngày 01 tháng 3 đến hết ngày 31 tháng 5; Quý III tính từ ngày 01 tháng 6 đến hết ngày 31 tháng 8; Quý IV tính từ ngày 01 tháng 9 đến hết ngày 30 tháng 11. b) Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo đột xuất các vụ, việc hoặc thông tin liên quan đến lĩnh vực an ninh, trật tự xảy ra tại cơ sở kinh doanh gửi cơ quan Công an cấp xã nơi cơ sở kinh doanh hoạt động và cơ quan Công an trực tiếp quản lý.”. 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau: “ Điều 8. Kiểm tra cơ sở kinh doanh 1. Kiểm tra định kỳ Cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP thực hiện kiểm tra định kỳ cơ sở kinh doanh không quá một lần trong một năm, cụ thể như sau: a) Thủ trưởng cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quyết định thành lập đoàn hoặc tổ kiểm tra (sau đây gọi chung là đoàn kiểm tra); b) Lập kế hoạch kiểm tra Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đội có chức năng đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu thuộc Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh; Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp huyện; Công an cấp xã có trách nhiệm lập kế hoạch kiểm tra định kỳ đối với cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý, trình lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phê duyệt; c) Nội dung kế hoạch kiểm tra định kỳ phải ghi rõ lý do, căn cứ tiến hành kiểm tra; mục đích, yêu cầu kiểm tra; đối tượng kiểm tra; nội dung kiểm tra; thành phần đoàn kiểm tra; thời gian tiến hành kiểm tra; d) Thực hiện kiểm tra Cơ quan Công an có thẩm quyền phải có văn bản thông báo cho cơ sở kinh doanh về thời gian, địa điểm, nội dung kiểm tra, thành phần đoàn kiểm tra trước khi thực hiện kiểm tra 05 ngày làm việc; Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho thành viên đoàn kiểm tra theo kế hoạch; Thành viên đoàn kiểm tra phải nghiên cứu, nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch kiểm tra; chủ động thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn kiểm tra; Nội dung kiểm tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP và kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt; Việc kiểm tra phải lập biên bản kiểm tra theo mẫu ĐK5a ban hành kèm theo Thông tư này, có chữ ký của người lập biên bản, đại diện đoàn kiểm tra và người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự hoặc người đại diện của cơ sở kinh doanh. Biên bản kiểm tra phải lập ít nhất 02 bản và giao cho cơ sở kinh doanh 01 bản. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thì ngoài việc lập biên bản kiểm tra còn phải lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng một trong các điều kiện về an ninh, trật tự thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan tới các lĩnh vực khác nếu không thuộc thẩm quyền xử lý thì trưởng đoàn kiểm tra phải kịp thời báo cáo lãnh đạo quản lý trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo; không được tự ý giải quyết công việc không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. đ) Kết thúc kiểm tra Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo đã phê duyệt kế hoạch kiểm tra về kết quả kiểm tra; Lãnh đạo có trách nhiệm phân công cán bộ theo dõi, đôn đốc việc khắc phục hạn chế, thiếu sót hoặc xử lý vi phạm của cơ sở kinh doanh (nếu có). 2. Kiểm tra đột xuất Thủ trưởng các cơ quan Công an quy định tại khoản 3 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ban hành quyết định việc kiểm tra đột xuất đối với cơ sở kinh doanh, cụ thể như sau: a) Trường hợp thành lập đoàn kiểm tra thì trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm đề xuất biện pháp, nội dung thực hiện công tác kiểm tra và báo cáo lãnh đạo phê duyệt và quyết định thành lập đoàn kiểm tra; b) Trường hợp vì lý do cấp thiết không thành lập đoàn kiểm tra mà lãnh đạo chỉ phân công cán bộ thực hiện thì cán bộ được giao nhiệm vụ kiểm tra phải chịu trách nhiệm về việc kiểm tra; c) Đối với đoàn kiểm tra hoặc cán bộ kiểm tra thuộc các lực lượng nghiệp vụ khác không trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh thì cán bộ phụ trách đoàn kiểm tra phải xuất trình Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy giới thiệu của lãnh đạo có thẩm quyền cho người đại diện của cơ sở kinh doanh; d) Nội dung kiểm tra, lập biên bản kiểm tra, kết thúc kiểm tra thực hiện theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 1 Điều này.”. 5. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau: “Điều 10. Trách nhiệm của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội 1. Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP; chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra Công an các đơn vị, địa phương thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 2. Tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 3. Tham mưu, đề xuất hoặc trực tiếp phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 4. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh. 5. Ban hành văn bản chấp thuận để các cơ sở kinh doanh ngoài Quân đội, Công an kinh doanh: Quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng Quân sự, Công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP thuộc thẩm quyền quản lý khi các cơ sở kinh doanh đáp ứng các điều kiện theo quy định. 6. Thực hiện công tác quản lý cơ sở kinh doanh; thường xuyên nắm tình hình, thu thập tài liệu liên quan đến công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tại các cơ sở kinh doanh; xử lý vi phạm theo thẩm quyền. 7. Có văn bản thông báo cho cơ sở kinh doanh không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hoặc khoản 2 Điều 96 Luật Hợp tác xã năm 2023. 8. Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh gửi Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý. 9. Thực hiện chế độ hậu kiểm đối với cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý; kiểm tra cơ sở kinh doanh theo quy định; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về an ninh, trật tự theo thẩm quyền. 10. Hướng dẫn công tác bảo đảm an ninh, trật tự cho các cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý. 11. Phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an trong phòng chống tội phạm; vi phạm pháp luật và nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 12. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. 13. Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an.”. 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau: “Điều 11. Trách nhiệm của Công an địa phương 1. Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm: a) Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan Công an trong công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. b) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ nâng cao hiệu quả công tác quản lý để phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật những cơ sở kinh doanh hoạt động khi chưa đăng ký hoặc chưa được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động theo quy định. c) Ban hành văn bản chấp thuận để các cơ sở kinh doanh ngoài Quân đội, Công an thuộc thẩm quyền quản lý được sản xuất, mua, bán: Quần, áo, mũ quân phục; quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu, số hiệu của lực lượng vũ trang; kinh doanh máy kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; kinh doanh thiết bị kiểm tra nồng độ cồn; kinh doanh thiết bị giám sát điện thoại di động GSM và các thiết bị giám sát điện thoại di động khác khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về an ninh, trật tự và quy định của pháp luật có liên quan theo đề xuất của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về an ninh, trật tự theo thẩm quyền; 2. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ quan Công an cấp huyện nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý; c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp tỉnh. 3. Công an cấp huyện có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ quan Công an cấp xã nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý; c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp tỉnh. 4. Công an cấp xã có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Tiếp nhận thông báo của cơ sở kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP, gồm: Văn bản thông báo hoạt động của các cơ sở kinh doanh; văn bản thông báo mục tiêu bảo vệ của cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ; thông báo khách lưu trú của cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp huyện.”. 7. Bãi bỏ Điều 3 Thông tư số 42/2017/TT-BCA; 8. Bãi bỏ các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT-BCA. Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 15/2022/TT-BCA ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau: “ Điều 4. Trình tự thẩm định, duyệt hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự 1. Sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ tiếp nhận có trách nhiệm thẩm định, đề xuất bằng văn bản việc giải quyết thủ tục cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định sau: a) Đối với hồ sơ nộp tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thì đề xuất lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu; b) Đối với hồ sơ nộp tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh thì đề xuất chỉ huy Đội có chức năng đăng ký quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và con dấu; c) Đối với hồ sơ nộp tại Công an cấp huyện thì đề xuất chỉ huy Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; d) Đối với hồ sơ nộp tại Công an cấp xã thì đề xuất chỉ huy Công an cấp xã. 2. Lãnh đạo Phòng, chỉ huy Đội quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ và có văn bản đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này duyệt cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Đối với chỉ huy Công an cấp xã, sau khi xem xét, kiểm tra hồ sơ thì duyệt, ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh. 3. Lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh, lãnh đạo Công an cấp huyện có trách nhiệm xem xét, duyệt, ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự do cấp dưới đề xuất. 4. Sau khi lãnh đạo có thẩm quyền ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ được giao tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin vào sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo mẫu ĐK10 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT-BCA.”. 2. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau: “ Điều 5. Trình tự trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và lập hồ sơ quản lý 1. Trường hợp trả trực tiếp cho cơ sở kinh doanh, cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự thực hiện theo quy định sau: a) Kiểm tra giấy biên nhận hồ sơ, kiểm tra thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thông qua phần mềm ứng dụng VNeID hoặc Hộ chiếu của người được cử đến nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; b) Đề nghị người được cử đến nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự ký vào sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; c) Viết biên lai và thu phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của Bộ Tài chính. 2. Trường hợp trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích a) Đối với hồ sơ tiếp nhận qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an: Cán bộ tiếp nhận gửi thông báo cho cơ sở kinh doanh về phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự phải nộp và thời hạn nộp tiền qua tài khoản của cơ sở kinh doanh trên cổng dịch vụ công và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp cơ sở kinh doanh chọn hình thức nộp tiền qua cổng dịch vụ công thì thực hiện theo hướng dẫn trên Cổng dịch vụ công. Sau khi cơ sở kinh doanh hoàn thành nộp phí thẩm định, cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự gửi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. b) Đối với hồ sơ nhận trực tiếp hoặc nhận qua dịch vụ bưu chính: Cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự có trách nhiệm chuyển Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và biên lai thu phí thẩm định cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích sau khi đã nhận được tiền phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. 3. Trường hợp trả kết quả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (bản điện tử) qua dịch vụ công Cán bộ được giao trả kết quả thông báo và trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (bản điện tử) qua tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an của cá nhân, tổ chức, cơ sở kinh doanh hoặc gửi qua thư điện tử cho cá nhân, tổ chức, cơ sở kinh doanh (nếu có) sau khi nhận được tiền phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh. 4. Sau khi hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ được giao quản lý hồ sơ có trách nhiệm lập và bảo quản hồ sơ theo quy định về chế độ hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân.”. 3. Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 6 như sau: “d) Đối với Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự do Công an cấp xã cấp thì đề xuất Chỉ huy Công an cấp xã xem xét, duyệt, ký quyết định thu hồi và duyệt, ký thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép cơ sở kinh doanh hoạt động về việc thu hồi.”. 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau: “ Điều 7. Sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ 1. Trước khi mở lớp đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, cơ sở có chức năng tự đào tạo và đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ phải có văn bản thông báo về việc mở lớp đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, danh sách nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia khóa đào tạo kèm theo chương trình đào tạo, lịch giảng dạy, danh sách giảng viên, thời gian đào tạo gửi cơ quan có thẩm quyền sát hạch nghiệp vụ bảo vệ. Đối với cơ sở có chức năng đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ thực hiện việc đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có địa điểm đào tạo cần bổ sung tài liệu chứng minh điều kiện về phòng học và địa điểm tập luyện cho nhân viên dịch vụ bảo vệ và các điều kiện cần thiết khác phục vụ việc đào tạo. Cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ phải chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình tổ chức đào tạo, đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định, đào tạo đúng đối tượng, đáp ứng về nội dung, thời gian quy định tại điểm d, điểm đ khoản 3 Điều 12 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP . Cơ quan có thẩm quyền tổ chức sát hạch thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo của cơ sở đào tạo nếu xét thấy nội dung và thời gian không đảm bảo. 2. Sau khi nhận được văn bản đề nghị sát hạch nghiệp vụ bảo vệ của cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, cán bộ cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP đề xuất thành lập Hội đồng sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (sau đây viết gọn là Hội đồng sát hạch), chuẩn bị nội dung câu hỏi, đáp án, kiểm tra thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ và tổ chức sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ theo quy định sau: a) Thành phần Hội đồng sát hạch, gồm: Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP và các thành viên là cán bộ của đơn vị có thẩm quyền sát hạch. Trường hợp sát hạch cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được đào tạo tại các cơ sở, trung tâm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP thì báo cáo lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và con dấu, có văn bản đề xuất lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội duyệt, ký Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch theo mẫu ĐK7 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT-BCA; Trường hợp sát hạch cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được đào tạo tại trung tâm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP thì báo cáo chỉ huy Đội có chức năng đăng ký quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu, có văn bản đề xuất lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh duyệt, ký Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch theo mẫu ĐK7 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT-BCA. b) Kiểm tra, đối chiếu nội dung thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ trong danh sách nhân viên dịch vụ bảo vệ đăng ký sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ ghi trong danh sách theo mẫu ĐK12 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT-BCA của cơ sở đào tạo. 3. Việc sát hạch được thực hiện theo hình thức kiểm tra trắc nghiệm trong thời gian 40 phút, bằng câu hỏi in trên giấy (30 câu hỏi). Nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch chỉ được cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ khi trả lời đúng ít nhất 25/30 câu hỏi so với đáp án của Hội đồng sát hạch. 4. Tổ chức sát hạch Việc sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được Hội đồng sát hạch tổ chức theo hình thức tập trung, cụ thể như sau: a) Kiểm tra, đối chiếu nội dung thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch phù hợp với danh sách đăng ký sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; b) Công bố Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch trước khi tiến hành sát hạch; c) Phát đề sát hạch; d) Thu bài sát hạch, phải kiểm tra các thông tin do nhân viên dịch vụ bảo vệ tự khai trong bài sát hạch, hướng dẫn nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch ký xác nhận vào danh sách sau khi đã nộp bài cho Hội đồng sát hạch.”. 5. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 8 như sau: “5. Lưu trữ và bảo quản bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ trong thời hạn 02 năm kể từ ngày sát hạch tại cơ quan, đơn vị chủ trì sát hạch.”. 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau: “ Điều 9. Trình tự trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ và lập hồ sơ quản lý Cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện theo quy định sau: 1. Trường hợp trả trực tiếp a) Kiểm tra thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thông qua phần mềm ứng dụng VNeID hoặc Hộ chiếu của người được cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ cử đến nhận Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; b) Trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ và gửi kèm văn bản thông báo kết quả sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho người được cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ cử đến nhận Chứng chỉ; c) Viết biên lai và thu phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ theo quy định của Bộ Tài chính. 2. Trường hợp trả qua dịch vụ bưu chính Cán bộ được giao trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ có trách nhiệm chuyển Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ kèm văn bản thông báo kết quả sát hạch nghiệp vụ bảo vệ và biên lai thu phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ theo quy định của Bộ Tài chính cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích sau khi đã nhận được tiền phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ của cơ sở kinh doanh. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. 3. Lập hồ sơ sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ để quản lý theo quy định về chế độ hồ sơ hình thành phổ biến trong Công an nhân dân và thực hiện mỗi cơ sở đào tạo mở một hồ sơ theo dõi việc sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ.”. 7. Bổ sung Điều 9a vào sau Điều 9 như sau: “ Điều 9a. Trình tự hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ 1. Cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ có trách nhiệm đề xuất bằng văn bản về việc hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ khi hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều 8 Thông tư này và thực hiện theo quy định sau: a) Đối với cơ sở do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tổ chức sát hạch thì đề xuất lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu. b) Đối với cơ sở do Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh tổ chức sát hạch thì đề xuất chỉ huy Đội có chức năng đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu. 2. Lãnh đạo Phòng, chỉ huy Đội quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm kiểm tra và ký văn bản đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này xem xét, duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ. 3. Lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ theo mẫu ĐK16 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Sau khi lãnh đạo có thẩm quyền duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ, cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ đảm bảo không còn khả năng khôi phục. Thực hiện lưu đề xuất hủy, Quyết định hủy vào hồ sơ theo dõi việc sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ.”. 8. Thay thế cụm từ “ĐK1a” và “ĐK1b” tại Điều 3 Thông tư số 43/2017/TT-BCA bằng cụm từ “ĐK1”. 9. Bãi bỏ khoản 2 Điều 3 Thông tư số 43/2017/TT-BCA. Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT-BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 15/2022/TT-BCA ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 như sau: “1. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký mẫu con dấu hoặc hồ sơ nộp lại con dấu của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17 và khoản 8 Điều 24 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 56/2023/NĐ-CP (sau đây viết gọn là Nghị định số 99/2016/NĐ-CP), cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra thông tin, thành phần, tính hợp lệ của hồ sơ và thực hiện: Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì tiếp nhận hồ sơ, ghi đầy đủ nội dung thông tin tại Giấy biên nhận hồ sơ (theo Mẫu CD1 ban hành kèm theo Thông tư này). Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước hoàn thiện hồ sơ và ghi đầy đủ nội dung thông tin quy định tại Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ (theo Mẫu CD2 ban hành kèm theo Thông tư này). Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP thì không tiếp nhận hồ sơ và nêu rõ lý do từ chối giải quyết hồ sơ; trường hợp có yêu cầu trả lời bằng văn bản thì có thông báo về việc từ chối giải quyết hồ sơ (theo Mẫu CD3 ban hành kèm theo Thông tư này).”. 2. Bổ sung điểm đ, e vào sau điểm d khoản 3 Điều 4 như sau: “đ) Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đối với thủ tục nộp lại con dấu: Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, cán bộ xử lý hồ sơ kiểm tra, đối chiếu con dấu với Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu và thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này. e) Trường hợp nộp hồ sơ qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an đối với thủ tục nộp lại con dấu: Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu do cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước chuyển đến, cán bộ xử lý tiếp nhận hồ sơ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và khoản 1 Điều 10 Thông tư này.”. 3. Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 1 Điều 9 như sau: “đ) Đối với hồ sơ đề nghị nộp lại con dấu: Trả Giấy chứng nhận thu hồi con dấu.”. 4. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 9 như sau: “3. Trường hợp trả Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu (bản điện tử) qua dịch vụ công: Cán bộ được giao trả kết quả thông báo và trả Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu (bản điện tử) qua tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước hoặc gửi qua thư điện tử cho cá nhân, tổ chức (nếu có).”. 5. Thay thế biểu mẫu CD2, CD3, CD4, CD5, CD6, CD7, CD8, CD9 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2017/TT-BCA bằng biểu mẫu CD2, CD3, CD4, CD5, CD6, CD7, CD8, CD9 ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 4. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2024. 2. Các nội dung dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì nội dung dẫn chiếu thực hiện theo văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế. Điều 5. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ quan Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phản ánh về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) để kịp thời hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=170133&Keyword=
2025-09-24T02:20:12.159760
../data\bocongan\032024TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thông tư số 43/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ, Thông tư số 45/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu Căn cứ Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Căn cứ Nghị định số 99/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 56/2023/NĐ - CP ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ s ửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Nghị định số 99/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 về quản lý và sử dụng con dấu, Nghị định số 137/2020/NĐ - CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 quy định về quản lý, sử dụng pháo; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thông tư số 43/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ, Thông tư số 45/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu. Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau: “ Điều 2. Biểu mẫu phục vụ công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự Ban hành kèm theo Thông tư này các biểu mẫu phục vụ công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 56/2023/NĐ - CP (sau đây viết gọn là Nghị định số 96/2016/NĐ - CP), ký hiệu chung là ĐK, cụ thể như sau: 1. Biểu mẫu sử dụng cho cơ quan Công an, bao gồm: a) Biên nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK1); b) Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK2); c) Thông báo về việc hồ sơ không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK3); d) Phiếu xác minh lý lịch của người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự là người Việt Nam ở trong nước (Mẫu ĐK4a); đ) Phiếu xác minh lý lịch của người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài (Mẫu ĐK4b); e) Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK5a); g) Biên bản hậu kiểm đối với cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK5b); h) Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK6); i) Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK7); k) Báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý cơ sở hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK8); l) Biên bản giao, nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK9); m) Sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK10); n) Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK16). 2. Biểu mẫu sử dụng cho cơ sở kinh doanh, bao gồm: a) Danh sách người làm trong cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK11); b) Danh sách nhân viên đăng ký đào tạo và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ (Mẫu ĐK12); c) Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện các quy định về an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh (Mẫu ĐK13); d) Sổ quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Mẫu ĐK14); đ) Sổ quản lý đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ (Mẫu ĐK15). 3. Quy cách biểu mẫu Các biểu mẫu quy định tại khoản 1 Điều này được in đen trắng trên khổ giấy A4 (riêng biểu mẫu ĐK8 in trên khổ giấy A3). 4. Yêu cầu ghi biểu mẫu a) Ghi đầy đủ, chính xác các cột, mục; chữ viết phải rõ ràng, thể hiện đầy đủ các nội dung thông tin trong từng biểu mẫu; b) Màu mực để ghi biểu mẫu và nội dung thông tin trong biểu mẫu dùng màu xanh, tím than hoặc đen và chỉ viết một loại mực cho một nội dung hoàn chỉnh của biểu mẫu. Công an các đơn vị, địa phương và cơ sở kinh doanh đã ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thì biểu mẫu được sử dụng trực tiếp trên máy tính nhưng phải bảo đảm đầy đủ các nội dung thông tin của các loại biểu mẫu đã ban hành theo Thông tư này. Các cơ sở kinh doanh có hệ thống máy tính lưu trữ thông tin thì cập nhật dữ liệu thống kê theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh phù hợp với ngành, nghề mà cơ sở đang kinh doanh theo đúng biểu mẫu ĐK14; trường hợp cơ sở không có hệ thống máy tính lưu trữ thông tin thì lập sổ để theo dõi theo mẫu quy định. 5. In, quản lý các biểu mẫu và kinh phí bảo đảm thực hiện a) Công an các đơn vị, địa phương, cơ sở kinh doanh tự in các loại biểu mẫu để sử dụng; b) Quản lý các biểu mẫu: Công an các đơn vị, địa phương thực hiện quản lý các loại biểu mẫu sử dụng cho cơ quan Công an theo chế độ hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân; Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm quản lý các loại biểu mẫu sử dụng tại cơ sở kinh doanh. c) Kinh phí in các loại biểu mẫu quy định tại khoản 1 Điều này được sử dụng từ nguồn kinh phí thường xuyên của Bộ Công an cấp cho Công an các đơn vị, địa phương. Hằng năm, Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm lập dự trù kinh phí in các loại biểu mẫu gửi Cục Kế hoạch và Tài chính tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Bộ Công an. ”. 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 6 như sau: “3. Việc hậu kiểm phải lập biên bản theo mẫu ĐK5b ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng một trong các điều kiện về an ninh, trật tự hoặc điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, thì xử lý như sau: a) Thông báo bằng văn bản yêu cầu cơ sở kinh doanh tạm ngừng hoạt động kinh doanh ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hoặc khoản 2 Điều 96 Luật Hợp tác xã năm 2023. Đồng thời, yêu cầu cơ sở kinh doanh khắc phục điều kiện chưa đáp ứng để đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP; b) Trường hợp cơ sở kinh doanh có văn bản báo cáo đã khắc phục đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì ghi cụ thể vào biên bản theo mẫu ĐK5b ban hành kèm theo Thông tư này để cơ sở kinh doanh tiếp tục hoạt động ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư đã phải tạm ngừng kinh doanh trước đó; c) Trường hợp trong thời hạn quy định tại điểm a khoản này, cơ sở kinh doanh không khắc phục được để đảm bảo điều kiện về an ninh, trật tự và điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì cơ quan Công an có thẩm quyền ra quyết định thu hồi không có thời hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư mà cơ sở kinh doanh đã phải tạm ngừng hoạt động trước đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP. ”. 3. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau: “ Điều 7. Chế độ thông tin, báo cáo 1. Đối với cơ quan Công an a) Định kỳ hàng quý trong năm: Công an cấp xã gửi báo cáo về Công an cấp huyện trước ngày 04 tháng 3 của Quý I; 04 tháng 6 của Quý II; 04 tháng 9 của Quý III; 04 tháng 12 của Quý IV. Công an cấp huyện gửi báo cáo về Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh trước ngày 06 tháng 3 của Quý I; 06 tháng 6 của Quý II; 06 tháng 9 của Quý III; 06 tháng 12 của Quý IV. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh gửi báo cáo về Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trước ngày 08 tháng 3 của Quý I; 08 tháng 6 của Quý II; 08 tháng 9 của Quý III; 08 tháng 12 của Quý IV. Báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý cơ sở hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thực hiện theo mẫu ĐK8 ban hành kèm theo Thông tư này. Số liệu báo cáo thực hiện theo mốc thời gian: Quý I tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày cuối cùng của tháng 2 năm báo cáo; Quý II tính từ ngày 01 tháng 3 đến hết ngày 31 tháng 5; Quý III tính từ ngày 01 tháng 6 đến hết ngày 31 tháng 8; Quý IV tính từ ngày 01 tháng 9 đến hết ngày 30 tháng 11. b) Đối với vụ, việc đột xuất, Công an cấp xã kịp thời gửi báo cáo về Công an cấp huyện; Công an cấp huyện gửi báo cáo về Công an cấp tỉnh; Công an cấp tỉnh gửi báo cáo về Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nếu vụ, việc mang tính cấp bách, ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận thì báo cáo trước qua điện thoại, sau đó báo cáo bằng văn bản. 2. Đối với cơ sở kinh doanh a) Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo định kỳ hàng quý trong năm trước ngày 02 tháng 3; ngày 02 tháng 6; ngày 02 tháng 9; ngày 02 tháng 12. Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện các quy định về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh thực hiện theo mẫu ĐK13 ban hành kèm theo Thông tư này gửi cơ quan Công an trực tiếp quản lý. Số liệu báo cáo thực hiện theo mốc thời gian: Quý I tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước đến hết ngày cuối cùng của tháng 2 năm báo cáo; Quý II tính từ ngày 01 tháng 3 đến hết ngày 31 tháng 5; Quý III tính từ ngày 01 tháng 6 đến hết ngày 31 tháng 8; Quý IV tính từ ngày 01 tháng 9 đến hết ngày 30 tháng 11. b) Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo đột xuất các vụ, việc hoặc thông tin liên quan đến lĩnh vực an ninh, trật tự xảy ra tại cơ sở kinh doanh gửi cơ quan Công an cấp xã nơi cơ sở kinh doanh hoạt động và cơ quan Công an trực tiếp quản lý. ”. 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau: “ Điều 8. Kiểm tra cơ sở kinh doanh 1. Kiểm tra định kỳ Cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP thực hiện kiểm tra định kỳ cơ sở kinh doanh không quá một lần trong một năm, cụ thể như sau: a) Thủ trưởng cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP quyết định thành lập đoàn hoặc tổ kiểm tra (sau đây gọi chung là đoàn kiểm tra); b) Lập kế hoạch kiểm tra Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đội có chức năng đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu thuộc Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh; Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp huyện; Công an cấp xã có trách nhiệm lập kế hoạch kiểm tra định kỳ đối với cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý, trình lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phê duyệt; c) Nội dung kế hoạch kiểm tra định kỳ phải ghi rõ lý do, căn cứ tiến hành kiểm tra; mục đích, yêu cầu kiểm tra; đối tượng kiểm tra; nội dung kiểm tra; thành phần đoàn kiểm tra; thời gian tiến hành kiểm tra; d) Thực hiện kiểm tra Cơ quan Công an có thẩm quyền phải có văn bản thông báo cho cơ sở kinh doanh về thời gian, địa điểm, nội dung kiểm tra, thành phần đoàn kiểm tra trước khi thực hiện kiểm tra 05 ngày làm việc; Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho thành viên đoàn kiểm tra theo kế hoạch; Thành viên đoàn kiểm tra phải nghiên cứu, nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch kiểm tra; chủ động thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn kiểm tra; Nội dung kiểm tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP và kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt; Việc kiểm tra phải lập biên bản kiểm tra theo mẫu ĐK5a ban hành kèm theo Thông tư này, có chữ ký của người lập biên bản, đại diện đoàn kiểm tra và người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự hoặc người đại diện của cơ sở kinh doanh. Biên bản kiểm tra phải lập ít nhất 02 bản và giao cho cơ sở kinh doanh 01 bản. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thì ngoài việc lập biên bản kiểm tra còn phải lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng một trong các điều kiện về an ninh, trật tự thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan tới các lĩnh vực khác nếu không thuộc thẩm quyền xử lý thì trưởng đoàn kiểm tra phải kịp thời báo cáo lãnh đạo quản lý trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo; không được tự ý giải quyết công việc không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. đ) Kết thúc kiểm tra Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo đã phê duyệt kế hoạch kiểm tra về kết quả kiểm tra; Lãnh đạo có trách nhiệm phân công cán bộ theo dõi, đôn đốc việc khắc phục hạn chế, thiếu sót hoặc xử lý vi phạm của cơ sở kinh doanh (nếu có). 2. Kiểm tra đột xuất Thủ trưởng các cơ quan Công an quy định tại khoản 3 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP ban hành quyết định việc kiểm tra đột xuất đối với cơ sở kinh doanh, cụ thể như sau: a) Trường hợp thành lập đoàn kiểm tra thì trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm đề xuất biện pháp, nội dung thực hiện công tác kiểm tra và báo cáo lãnh đạo phê duyệt và quyết định thành lập đoàn kiểm tra; b) Trường hợp vì lý do cấp thiết không thành lập đoàn kiểm tra mà lãnh đạo chỉ phân công cán bộ thực hiện thì cán bộ được giao nhiệm vụ kiểm tra phải chịu trách nhiệm về việc kiểm tra; c) Đối với đoàn kiểm tra hoặc cán bộ kiểm tra thuộc các lực lượng nghiệp vụ khác không trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh thì cán bộ phụ trách đoàn kiểm tra phải xuất trình Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy giới thiệu của lãnh đạo có thẩm quyền cho người đại diện của cơ sở kinh doanh; d) Nội dung kiểm tra, lập biên bản kiểm tra, kết thúc kiểm tra thực hiện theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 1 Điều này. ”. 5. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau: “Điều 10. Trách nhiệm của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội 1. Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ - CP; chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra Công an các đơn vị, địa phương thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 2. Tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 3. Tham mưu, đề xuất hoặc trực tiếp phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 4. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh. 5. Ban hành văn bản chấp thuận để các cơ sở kinh doanh ngoài Quân đội, Công an kinh doanh: Quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng Quân sự, Công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP thuộc thẩm quyền quản lý khi các cơ sở kinh doanh đáp ứng các điều kiện theo quy định. 6. Thực hiện công tác quản lý cơ sở kinh doanh; thường xuyên nắm tình hình, thu thập tài liệu liên quan đến công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tại các cơ sở kinh doanh; xử lý vi phạm theo thẩm quyền. 7. Có văn bản thông báo cho cơ sở kinh doanh không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hoặc khoản 2 Điều 96 Luật Hợp tác xã năm 2023. 8. Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh gửi Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý. 9. Thực hiện chế độ hậu kiểm đối với cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý; kiểm tra cơ sở kinh doanh theo quy định; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về an ninh, trật tự theo thẩm quyền. 10. Hướng dẫn công tác bảo đảm an ninh, trật tự cho các cơ sở kinh doanh thuộc phạm vi quản lý. 11. Phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an trong phòng chống tội phạm; vi phạm pháp luật và nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. 12. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. 13. Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an. ”. 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau: “Điều 11. Trách nhiệm của Công an địa phương 1. Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm: a) Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan Công an trong công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. b) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ nâng cao hiệu quả công tác quản lý để phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật những cơ sở kinh doanh hoạt động khi chưa đăng ký hoặc chưa được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động theo quy định. c) Ban hành văn bản chấp thuận để các cơ sở kinh doanh ngoài Quân đội, Công an thuộc thẩm quyền quản lý được sản xuất, mua, bán: Quần, áo, mũ quân phục; quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu, số hiệu của lực lượng vũ trang; kinh doanh máy kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; kinh doanh thiết bị kiểm tra nồng độ cồn; kinh doanh thiết bị giám sát điện thoại di động GSM và các thiết bị giám sát điện thoại di động khác khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về an ninh, trật tự và quy định của pháp luật có liên quan theo đề xuất của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về an ninh, trật tự theo thẩm quyền; 2. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ quan Công an cấp huyện nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý; c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp tỉnh. 3. Công an cấp huyện có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Thông báo bằng văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ quan Công an cấp xã nơi cơ sở kinh doanh hoạt động để phối hợp quản lý; c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp tỉnh. 4. Công an cấp xã có trách nhiệm: a) Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7, 9, 10 và 12 Điều 10 Thông tư này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; b) Tiếp nhận thông báo của cơ sở kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ - CP, gồm: Văn bản thông báo hoạt động của các cơ sở kinh doanh; văn bản thông báo mục tiêu bảo vệ của cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ; thông báo khách lưu trú của cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú. c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan tới việc quản lý cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công an cấp huyện. ”. 7. Bãi bỏ Điều 3 Thông tư số 42/2017/TT - BCA; 8. Bãi bỏ các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT - BCA. Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 15/2022/TT - BCA ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau: “ Điều 4. Trình tự thẩm định, duyệt hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự 1. Sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ tiếp nhận có trách nhiệm thẩm định, đề xuất bằng văn bản việc giải quyết thủ tục cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định sau: a) Đối với hồ sơ nộp tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thì đề xuất lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu; b) Đối với hồ sơ nộp tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh thì đề xuất chỉ huy Đội có chức năng đăng ký quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và con dấu; c) Đối với hồ sơ nộp tại Công an cấp huyện thì đề xuất chỉ huy Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; d) Đối với hồ sơ nộp tại Công an cấp xã thì đề xuất chỉ huy Công an cấp xã. 2. Lãnh đạo Phòng, chỉ huy Đội quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ và có văn bản đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này duyệt cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Đối với chỉ huy Công an cấp xã, sau khi xem xét, kiểm tra hồ sơ thì duyệt, ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh. 3. Lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh, lãnh đạo Công an cấp huyện có trách nhiệm xem xét, duyệt, ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự do cấp dưới đề xuất. 4. Sau khi lãnh đạo có thẩm quyền ký Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ được giao tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin vào sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo mẫu ĐK10 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT - BCA. ”. 2. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau: “ Điều 5. Trình tự trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và lập hồ sơ quản lý 1. Trường hợp trả trực tiếp cho cơ sở kinh doanh, cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự thực hiện theo quy định sau: a) Kiểm tra giấy biên nhận hồ sơ, kiểm tra thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thông qua phần mềm ứng dụng VNeID hoặc Hộ chiếu của người được cử đến nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; b) Đề nghị người được cử đến nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự ký vào sổ quản lý cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; c) Viết biên lai và thu phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của Bộ Tài chính. 2. Trường hợp trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích a) Đối với hồ sơ tiếp nhận qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an: Cán bộ tiếp nhận gửi thông báo cho cơ sở kinh doanh về phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự phải nộp và thời hạn nộp tiền qua tài khoản của cơ sở kinh doanh trên cổng dịch vụ công và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp cơ sở kinh doanh chọn hình thức nộp tiền qua cổng dịch vụ công thì thực hiện theo hướng dẫn trên Cổng dịch vụ công. Sau khi cơ sở kinh doanh hoàn thành nộp phí thẩm định, cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự gửi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. b) Đối với hồ sơ nhận trực tiếp hoặc nhận qua dịch vụ bưu chính: Cán bộ được giao trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự có trách nhiệm chuyển Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và biên lai thu phí thẩm định cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích sau khi đã nhận được tiền phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. 3. Trường hợp trả kết quả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (bản điện tử) qua dịch vụ công Cán bộ được giao trả kết quả thông báo và trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (bản điện tử) qua tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an của cá nhân, tổ chức, cơ sở kinh doanh hoặc gửi qua thư điện tử cho cá nhân, tổ chức, cơ sở kinh doanh (nếu có) sau khi nhận được tiền phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh. 4. Sau khi hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, cán bộ được giao quản lý hồ sơ có trách nhiệm lập và bảo quản hồ sơ theo quy định về chế độ hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân. ”. 3. Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 6 như sau: “d) Đối với Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự do Công an cấp xã cấp thì đề xuất Chỉ huy Công an cấp xã xem xét, duyệt, ký quyết định thu hồi và duyệt, ký thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép cơ sở kinh doanh hoạt động về việc thu hồi. ”. 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau: “ Điều 7. Sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ 1. Trước khi mở lớp đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, cơ sở có chức năng tự đào tạo và đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ phải có văn bản thông báo về việc mở lớp đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, danh sách nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia khóa đào tạo kèm theo chương trình đào tạo, lịch giảng dạy, danh sách giảng viên, thời gian đào tạo gửi cơ quan có thẩm quyền sát hạch nghiệp vụ bảo vệ. Đối với cơ sở có chức năng đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ thực hiện việc đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có địa điểm đào tạo cần bổ sung tài liệu chứng minh điều kiện về phòng học và địa điểm tập luyện cho nhân viên dịch vụ bảo vệ và các điều kiện cần thiết khác phục vụ việc đào tạo. Cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ phải chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình tổ chức đào tạo, đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định, đào tạo đúng đối tượng, đáp ứng về nội dung, thời gian quy định tại điểm d, điểm đ khoản 3 Điều 12 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức sát hạch thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo của cơ sở đào tạo nếu xét thấy nội dung và thời gian không đảm bảo. 2. Sau khi nhận được văn bản đề nghị sát hạch nghiệp vụ bảo vệ của cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ, cán bộ cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP đề xuất thành lập Hội đồng sát hạch nghiệp vụ bảo vệ (sau đây viết gọn là Hội đồng sát hạch), chuẩn bị nội dung câu hỏi, đáp án, kiểm tra thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ và tổ chức sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ theo quy định sau: a) Thành phần Hội đồng sát hạch, gồm: Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo cơ quan Công an có thẩm quyền quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP và các thành viên là cán bộ của đơn vị có thẩm quyền sát hạch. Trường hợp sát hạch cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được đào tạo tại các cơ sở, trung tâm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP thì báo cáo lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và con dấu, có văn bản đề xuất lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội duyệt, ký Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch theo mẫu ĐK7 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT - BCA; Trường hợp sát hạch cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được đào tạo tại trung tâm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 96/2016/NĐ - CP thì báo cáo chỉ huy Đội có chức năng đăng ký quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu, có văn bản đề xuất lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh duyệt, ký Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch theo mẫu ĐK7 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT - BCA. b) Kiểm tra, đối chiếu nội dung thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ trong danh sách nhân viên dịch vụ bảo vệ đăng ký sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ ghi trong danh sách theo mẫu ĐK12 ban hành kèm theo Thông tư số 42/2017/TT - BCA của cơ sở đào tạo. 3. Việc sát hạch được thực hiện theo hình thức kiểm tra trắc nghiệm trong thời gian 40 phút, bằng câu hỏi in trên giấy (30 câu hỏi). Nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch chỉ được cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ khi trả lời đúng ít nhất 25/30 câu hỏi so với đáp án của Hội đồng sát hạch. 4. Tổ chức sát hạch Việc sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho nhân viên dịch vụ bảo vệ được Hội đồng sát hạch tổ chức theo hình thức tập trung, cụ thể như sau: a) Kiểm tra, đối chiếu nội dung thông tin của nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch phù hợp với danh sách đăng ký sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; b) Công bố Quyết định thành lập Hội đồng sát hạch trước khi tiến hành sát hạch; c) Phát đề sát hạch; d) Thu bài sát hạch, phải kiểm tra các thông tin do nhân viên dịch vụ bảo vệ tự khai trong bài sát hạch, hướng dẫn nhân viên dịch vụ bảo vệ tham gia sát hạch ký xác nhận vào danh sách sau khi đã nộp bài cho Hội đồng sát hạch. ”. 5. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 8 như sau: “5. Lưu trữ và bảo quản bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ trong thời hạn 02 năm kể từ ngày sát hạch tại cơ quan, đơn vị chủ trì sát hạch. ”. 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau: “ Điều 9. Trình tự trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ và lập hồ sơ quản lý Cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện theo quy định sau: 1. Trường hợp trả trực tiếp a) Kiểm tra thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thông qua phần mềm ứng dụng VNeID hoặc Hộ chiếu của người được cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ cử đến nhận Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; b) Trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ và gửi kèm văn bản thông báo kết quả sát hạch nghiệp vụ bảo vệ cho người được cơ sở đào tạo nhân viên dịch vụ bảo vệ cử đến nhận Chứng chỉ; c) Viết biên lai và thu phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ theo quy định của Bộ Tài chính. 2. Trường hợp trả qua dịch vụ bưu chính Cán bộ được giao trả Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ có trách nhiệm chuyển Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ kèm văn bản thông báo kết quả sát hạch nghiệp vụ bảo vệ và biên lai thu phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ theo quy định của Bộ Tài chính cho cơ sở kinh doanh qua dịch vụ bưu chính công ích sau khi đã nhận được tiền phí sát hạch cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ của cơ sở kinh doanh. Phí dịch vụ bưu chính công ích do cơ sở kinh doanh chi trả. 3. Lập hồ sơ sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ để quản lý theo quy định về chế độ hồ sơ hình thành phổ biến trong Công an nhân dân và thực hiện mỗi cơ sở đào tạo mở một hồ sơ theo dõi việc sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ. ”. 7. Bổ sung Điều 9a vào sau Điều 9 như sau: “ Điều 9a. Trình tự hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ 1. Cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ có trách nhiệm đề xuất bằng văn bản về việc hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ khi hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều 8 Thông tư này và thực hiện theo quy định sau: a) Đối với cơ sở do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tổ chức sát hạch thì đề xuất lãnh đạo Phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu. b) Đối với cơ sở do Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh tổ chức sát hạch thì đề xuất chỉ huy Đội có chức năng đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu. 2. Lãnh đạo Phòng, chỉ huy Đội quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm kiểm tra và ký văn bản đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này xem xét, duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ. 3. Lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, lãnh đạo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ theo mẫu ĐK16 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Sau khi lãnh đạo có thẩm quyền duyệt, ký Quyết định hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ, cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện hủy bài sát hạch nghiệp vụ bảo vệ đảm bảo không còn khả năng khôi phục. Thực hiện lưu đề xuất hủy, Quyết định hủy vào hồ sơ theo dõi việc sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ. ”. 8. Thay thế cụm từ “ĐK1a” và “ĐK1b” tại Điều 3 Thông tư số 43/2017/TT - BCA bằng cụm từ “ĐK1”. 9. Bãi bỏ khoản 2 Điều 3 Thông tư số 43/2017/TT - BCA. Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT - BCA ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 15/2022/TT - BCA ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 như sau: “1. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký mẫu con dấu hoặc hồ sơ nộp lại con dấu của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17 và khoản 8 Điều 24 Nghị định số 99/2016/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 56/2023/NĐ - CP (sau đây viết gọn là Nghị định số 99/2016/NĐ - CP), cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra thông tin, thành phần, tính hợp lệ của hồ sơ và thực hiện: Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì tiếp nhận hồ sơ, ghi đầy đủ nội dung thông tin tại Giấy biên nhận hồ sơ (theo Mẫu CD1 ban hành kèm theo Thông tư này). Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước hoàn thiện hồ sơ và ghi đầy đủ nội dung thông tin quy định tại Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ (theo Mẫu CD2 ban hành kèm theo Thông tư này). Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 99/2016/NĐ - CP thì không tiếp nhận hồ sơ và nêu rõ lý do từ chối giải quyết hồ sơ; trường hợp có yêu cầu trả lời bằng văn bản thì có thông báo về việc từ chối giải quyết hồ sơ (theo Mẫu CD3 ban hành kèm theo Thông tư này). ”. 2. Bổ sung điểm đ, e vào sau điểm d khoản 3 Điều 4 như sau: “đ) Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đối với thủ tục nộp lại con dấu: Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, cán bộ xử lý hồ sơ kiểm tra, đối chiếu con dấu với Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu và thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này. e) Trường hợp nộp hồ sơ qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an đối với thủ tục nộp lại con dấu: Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu do cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước chuyển đến, cán bộ xử lý tiếp nhận hồ sơ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và khoản 1 Điều 10 Thông tư này. ”. 3. Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 1 Điều 9 như sau: “đ) Đối với hồ sơ đề nghị nộp lại con dấu: Trả Giấy chứng nhận thu hồi con dấu. ”. 4. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 9 như sau: “3. Trường hợp trả Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu (bản điện tử) qua dịch vụ công: Cán bộ được giao trả kết quả thông báo và trả Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu (bản điện tử) qua tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước hoặc gửi qua thư điện tử cho cá nhân, tổ chức (nếu có). ”. 5. Thay thế biểu mẫu CD2, CD3, CD4, CD5, CD6, CD7, CD8, CD9 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2017/TT - BCA bằng biểu mẫu CD2, CD3, CD4, CD5, CD6, CD7, CD8, CD9 ban hành kèm theo Thông tư này. Điều 4. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2024. 2. Các nội dung dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì nội dung dẫn chiếu thực hiện theo văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế. Điều 5. Trách nhiệm thi hành 1. Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này. 2. Thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ quan Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này. 3. Trong quá trình thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phản ánh về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) để kịp thời hướng dẫn. /.
Quy định chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân
03/2025/TT-BCA
06/01/2025
Thông tư
20/02/2025
null
null
Bộ Công an
Bộ trưởng
Đại tướng Lương Tam Quang
Toàn quốc
THÔNG TƯ Quy định chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân 1/01/clip_image001.gif" width="233" /> Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật An toàn, vệ sinh lao động ngày 25 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Công an nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2018 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân ngày 22 tháng 6 năm 2023; Căn cứ Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 09 tháng 12 năm 2020; Căn cứ Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức vật chất hậu cần trong Công an nhân dân; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Y tế; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về đối tượng, nguyên tắc; trường hợp được thực hiện, không được thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; thời gian, hình thức, chế độ và nội dung chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe; phương tiện đi, lại; thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; kinh phí thực hiện và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ Công an; công nhân Công an, lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ đang tạm tuyển; sinh viên, học sinh Công an nhân dân được hưởng sinh hoạt phí; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân (sau đây gọi chung là cán bộ, chiến sĩ). 2. Các nhà nghỉ dưỡng được giao thực hiện tổ chức điều dưỡng, chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ. 3. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân. 4. Các đơn vị thuộc cơ quan Bộ; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Công an các đơn vị, địa phương). Điều 3. Giải thích từ ngữ Chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân là chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng, luyện tập, chăm sóc y tế và biện pháp khác theo chỉ định của cán bộ y tế để phục hồi, nâng cao sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ sau khi làm việc trong điều kiện công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; cán bộ, chiến sĩ có vấn đề sức khỏe cần thiết phải chăm sóc để sức khỏe được phục hồi do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mạn tính kéo dài; cán bộ, chiến sĩ sau khi ốm đau, thai sản và điều trị thương tật, bệnh tật; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân. Điều 4. Nguyên tắc áp dụng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Việc thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân phải đảm bảo đúng quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. 2. Cán bộ, chiến sĩ thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe năm nào thì được tính chế độ vào năm đó. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có thời gian nghỉ điều dưỡng phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe được tính cho năm trước. 3. Cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng được hưởng nhiều chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại cùng một thời điểm thì được hưởng theo chế độ cao nhất. 4. Cán bộ, chiến sĩ thuộc diện được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Thông tư này thì giải quyết cho cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng phục hồi sức khỏe không quá một (01) lần trong năm. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Các trường hợp được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT-BCA ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và khám sức khỏe đối với lực lượng Công an nhân dân (sau đây viết gọn là Thông tư số 62/2023/TT-BCA); cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mạn tính kéo dài. 2. Cán bộ, chiến sĩ sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 3. Cán bộ, chiến sĩ đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 4. Cán bộ, chiến sĩ nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 5. Cán bộ, chiến sĩ có đủ điều kiện nghỉ công tác chờ hưởng chế độ hưu trí mà sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D theo quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT-BCA; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mãn tính kéo dài cần thiết được điều dưỡng trước khi nghỉ công tác hưởng chế độ hưu trí. 6. Người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Điều 6. Các trường hợp không được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe Cán bộ, chiến sĩ thuộc một trong các trường hợp sau đây không được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe: 1. Các trường hợp tổn hại sức khỏe do sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định hoặc tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu; 2. Đang điều trị bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; 3. Bị đình chỉ công tác. Điều 7. Thời gian điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Về thời gian điều dưỡng a) Mức 1 Tối đa 10 ngày đối với cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh một lần từ hai con trở lên; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. b) Mức 2 Tối đa 07 ngày đối với cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh con phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến 50% do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. c) Mức 3 Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp thai sản khác mà được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30% do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT-BCA; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mãn tính kéo dài. 2. Thời gian điều dưỡng bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. 3. Thời gian điều dưỡng đối với các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 5 thực hiện theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, các văn bản hướng dẫn của nhà nước và Bộ Công an. Điều 8. Hình thức điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Hình thức điều dưỡng tại nhà áp dụng đối với trường hợp cán bộ, chiến sĩ bị ốm đau, bệnh tật mà không thể đi điều dưỡng tập trung hoặc việc di chuyển ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khỏe. 2. Hình thức điều dưỡng tập trung áp dụng đối với: a) Cán bộ, chiến sĩ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, 5 Điều 5 Thông tư này mà không thuộc trường hợp điều dưỡng tại nhà quy định tại khoản 1 Điều này; b) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 5 Thông tư này đã nhận chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 58/2014/QH13, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 mà có nguyện vọng đi điều dưỡng tập trung; c) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này đã nhận chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng mà có nguyện vọng đi điều dưỡng tập trung. Điều 9. Chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe và nội dung chi chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Chế độ điều dưỡng: a) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13; b) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại  khoản 3, khoản 4 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 29, Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13; c) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 5 Thông tư này áp dụng theo quy định tại điểm a Khoản này. d) Mức hưởng điều dưỡng của các đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ. 2. Nội dung chi điều dưỡng tập trung quy định tại khoản 1 Điều này như sau: a) Tiền ăn: Tiêu chuẩn, định lượng ăn của cán bộ chiến sĩ thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức vật chất hậu cần trong Công an nhân dân và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Công an (sau đây viết gọn là Nghị định số 01/2021/NĐ-CP). Căn cứ tình trạng sức khỏe, bệnh lý và theo đề nghị của người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe đến điều dưỡng, nhà nghỉ dưỡng điều chỉnh mức ăn cho phù hợp với nhu cầu tăng thêm hoặc nhu cầu thấp hơn của người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe so với tiêu chuẩn, định lượng. Trường hợp chi phí tăng thêm so với tiêu chuẩn thì cán bộ, chiến sĩ được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe phải thanh toán phần chênh lệch cho nhà nghỉ dưỡng; trường hợp chi phí thấp hơn so với tiêu chuẩn thì nhà nghỉ dưỡng thanh toán chi trả phần chênh lệch cho cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng phục hồi sức khỏe; b) Chăm sóc sức khỏe: Người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe đi điều dưỡng được khám, điều trị, tư vấn sức khỏe, dinh dưỡng bổ sung, vận động hợp lý, hướng dẫn và triển khai một số hoặc tất cả các dịch vụ luyện tập dưỡng sinh, khí công, thiền, yoga, massage, xông thuốc, ngâm thuốc, chườm ngải và các phương pháp chăm sóc sức khỏe khác theo chỉ định của cán bộ y tế. Chi phí chăm sóc sức khỏe thanh toán theo danh mục dịch vụ sử dụng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chi phí không vượt quá mức hưởng điều dưỡng sau khi trừ các chi phí quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều này. Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chưa triển khai thì nhà nghỉ dưỡng thanh toán kinh phí thực hiện dịch vụ cho người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định. Mức khung giá dịch vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2023/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp và các văn bản hướng dẫn khác liên quan theo quy định; c) Chi phí phục vụ người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong thời gian điều dưỡng: Mức chi tối đa 15% mức chi quy định tại khoản 1 Điều này, gồm khăn mặt, khăn tắm, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, tham quan, chụp ảnh, sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các khoản chi khác phục vụ đối tượng điều dưỡng phục hồi sức khỏe. 3. Chế độ thuốc, bông băng phục vụ công tác điều dưỡng tập trung thực hiện theo quy định tại mục 1 phần II Bảng 1 Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP. 4. Các chi phí cho tạp chi vệ sinh, xử lý chất thải, rác thải, điện, nước phục vụ công tác điều dưỡng tập trung thực hiện theo tiêu chuẩn, định mức quy định tại Điều 7, Điều 11, Điều 12 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP. 5. Trường hợp điều dưỡng tại nhà theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này được thanh toán mức hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này. Điều 10. Phương tiện đi lại Cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng tập trung được bố trí phương tiện đưa, đón theo thông báo của Cục Y tế. Trường hợp không bố trí được phương tiện đưa đón thì cán bộ, chiến sĩ tự túc phương tiện đến nhà nghỉ dưỡng và được thanh toán tiền phương tiện đi lại tại Công an đơn vị, địa phương quản lý cán bộ, chiến sĩ theo giá tiền ghi trên vé. Mức thanh toán cao nhất bằng giá vé tàu, xe (ngồi mềm hoặc giường mềm, điều hòa) quy định từ địa phương nơi cán bộ công tác, đóng quân đến nhà nghỉ dưỡng. Điều 11. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Thẩm quyền phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe: a) Cục trưởng Cục Y tế phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng tập trung; b) Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng tại nhà. 2. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe gồm: a) Công văn đề nghị của Công an các đơn vị, địa phương (đối với trường hợp điều dưỡng tập trung); b) Danh sách cán bộ, chiến sĩ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này. Đối với trường hợp cán bộ, chiến sĩ đang công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; cán bộ, chiến sĩ đã nhận chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13; Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân đã nhận chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ thì có xác nhận của bộ phận chính sách đơn vị tương ứng với từng trường hợp. Đối với các trường hợp còn lại thì không cần xác nhận của bộ phận chính sách đơn vị; c) Giấy xác nhận tình trạng sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giao nhiệm vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này, trừ trường hợp cán bộ, chiến sĩ thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thuộc Công an nhân dân thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giao nhiệm vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ căn cứ giấy ra viện để xác nhận tình trạng sức khỏe của cán bộ, chiến sĩ; d) Ngoài hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản này, đối với từng trường hợp cụ thể bổ sung thêm hồ sơ như sau: Trường hợp sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày quy định tại Thông tư số 46/2016/TT-BYT ngày 30 tháng 12  năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh một lần từ hai con trở lên, các trường hợp thai sản khác mà được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc sức khỏe chưa phục hồi, các trường hợp cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có bản photo giấy ra viện đợt điều trị gần nhất; Trường hợp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 thì phải có bản photo kết luận mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa; Trường hợp sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh con phải phẫu thuật theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 thì phải có bản photo giấy xác nhận phẫu thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có đủ điều kiện nghỉ công tác chờ hưởng chế độ hưu trí thì phải có bản photo quyết định về việc nghỉ công tác hưởng chế độ hưu trí. 3. Trình tự, thủ tục thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng tập trung: a) Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương lập hồ sơ đề nghị gửi Cục Y tế. Đối với các đơn vị trực thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động đóng quân độc lập và có bệnh xá, Thủ trưởng đơn vị đó có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ hưởng chế độ điều dưỡng gửi Cục Y tế; đồng thời gửi văn bản đề nghị nêu trên về Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động để theo dõi, phối hợp chỉ đạo; b) Trên cơ sở đề nghị của người có thẩm quyền quy định tại điểm a Khoản này, Cục trưởng Cục Y tế cấp phiếu điều dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ đủ điều kiện hưởng chế độ điều dưỡng tập trung; thông báo đến nhà nghỉ dưỡng để tổ chức đón tiếp, phục vụ; đồng thời thông báo cho đơn vị quản lý cán bộ, chiến sĩ hưởng chế độ điều dưỡng tập trung để phối hợp thực hiện. 4. Trình tự, thủ tục thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng tại nhà: Bộ phận y tế hoặc bộ phận chính sách đối với đơn vị không có bộ phận y tế lập hồ sơ đề nghị trình Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương phê duyệt. 5. Bộ phận chính sách của Công an các đơn vị, địa phương xác nhận đối với các trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư này. Điều 12. Kinh phí thực hiện 1. Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe được quy định cụ thể như sau: a) Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 5 Thông tư này do ngân sách nhà nước cấp, bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an giao cho Công an các đơn vị, địa phương. b) Kinh phí thực hiện chế độ cho các trường hợp quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 5 Thông tư này được chi từ nguồn kinh phí Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13. c) Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này được chi từ nguồn kinh phí chi trợ cấp ưu đãi theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH. d) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 8 Thông tư này (đã nhận chế độ tại đơn vị) khi đi điều đưỡng tập trung có trách nhiệm thanh toán các chi phí theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư này cho nhà nghỉ dưỡng, các nội dung chi khác do ngân sách nhà nước bảo đảm. đ) Việc quản lý, cấp phát, sử dụng, thanh, quyết toán kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ điều dưỡng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. 2. Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để tổ chức công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà nghỉ dưỡng do ngân sách nhà nước cấp cho Bộ Công an và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và thay thế Thông tư số 105/2020/TT-BCA ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chế độ điều dưỡng trong Công an nhân dân. 2. Trường hợp văn bản dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới thì những nội dung dẫn chiếu tại Thông tư này cũng được thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới. 3. Ban hành kèm theo Thông tư này các phụ lục sau: a) Phụ lục I. Danh sách cán bộ, chiến sĩ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; b) Phụ lục II. Giấy xác nhận tình trạng sức khỏe. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Cục Y tế a) Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này; b) Tổng hợp báo cáo của Công an các đơn vị, địa phương về tình hình cán bộ, chiến sĩ được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe hằng năm; c) Phối hợp với Cục Hậu cần và Công an các đơn vị, địa phương có liên quan đề xuất đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y tế để tổ chức công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại các nhà nghỉ dưỡng; d) Hàng năm, phối hợp với Cục Hậu cần và Công an địa phương có nhà nghỉ dưỡng được giao thực hiện tổ chức điều dưỡng, chăm sóc và phục hồi sức khỏe bố trí số giường, phương tiện phục vụ công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ. 2. Cục Kế hoạch và tài chính có trách nhiệm hướng dẫn Công an các đơn vị, địa phương lập dự toán, quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các nhà nghỉ dưỡng để triển khai thực hiện Thông tư này theo quy định. 3. Công an các đơn vị, địa phương a) Phổ biến các quy định của Thông tư này đến cán bộ, chiến sĩ thuộc thẩm quyền quản lý; tổ chức triển khai thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe và thanh, quyết toán theo quy định; b) Chỉ đạo các nhà nghỉ dưỡng trực thuộc tổ chức thực hiện công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Thông tư này; c) Chỉ đạo bộ phận y tế hoặc bộ phận chính sách đối với đơn vị không có y tế theo dõi quản lý sức khỏe cán bộ, chiến sĩ, chủ trì đề xuất lập hồ sơ các trường hợp được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe báo cáo lãnh đạo đơn vị; d) Bố trí phương tiện đưa đón cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng tập trung theo kế hoạch; đ) Căn cứ vào nhu cầu, điều kiện thực tế của các nhà nghỉ dưỡng, Công an các đơn vị, địa phương nghiên cứu đề xuất đầu tư, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y tế và tổ chức triển khai thực hiện tốt chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ theo quy định; e) Báo cáo tình hình cán bộ, chiến sĩ được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe gửi về Cục Y tế trước ngày 15 tháng 12 hằng năm (thời gian báo cáo từ ngày 15 tháng 12 năm trước đến hết ngày 14 tháng 12 của năm báo cáo). Trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Y tế) để được hướng dẫn kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=176756&Keyword=
2025-09-24T02:19:07.548516
../data\bocongan\032025TT-BCA\document.json
null
THÔNG TƯ Quy định chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20 tháng 11 năm 2014; Căn cứ Luật An toàn, vệ sinh lao động ngày 25 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Công an nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2018 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân ngày 22 tháng 6 năm 2023; Căn cứ Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 09 tháng 12 năm 2020; Căn cứ Nghị định số 33/2016/NĐ - CP ngày 10 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ - CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an; Căn cứ Nghị định số 01/2021/NĐ - CP ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức vật chất hậu cần trong Công an nhân dân; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Y tế; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về đối tượng, nguyên tắc; trường hợp được thực hiện, không được thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; thời gian, hình thức, chế độ và nội dung chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe; phương tiện đi, lại; thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; kinh phí thực hiện và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ Công an; công nhân Công an, lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ đang tạm tuyển; sinh viên, học sinh Công an nhân dân được hưởng sinh hoạt phí; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân (sau đây gọi chung là cán bộ, chiến sĩ). 2. Các nhà nghỉ dưỡng được giao thực hiện tổ chức điều dưỡng, chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ. 3. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân. 4. Các đơn vị thuộc cơ quan Bộ; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Công an các đơn vị, địa phương). Điều 3. Giải thích từ ngữ Chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân là chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng, luyện tập, chăm sóc y tế và biện pháp khác theo chỉ định của cán bộ y tế để phục hồi, nâng cao sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ sau khi làm việc trong điều kiện công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; cán bộ, chiến sĩ có vấn đề sức khỏe cần thiết phải chăm sóc để sức khỏe được phục hồi do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mạn tính kéo dài; cán bộ, chiến sĩ sau khi ốm đau, thai sản và điều trị thương tật, bệnh tật; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân. Điều 4. Nguyên tắc áp dụng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Việc thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong Công an nhân dân phải đảm bảo đúng quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật. 2. Cán bộ, chiến sĩ thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe năm nào thì được tính chế độ vào năm đó. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có thời gian nghỉ điều dưỡng phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe được tính cho năm trước. 3. Cán bộ, chiến sĩ thuộc đối tượng được hưởng nhiều chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại cùng một thời điểm thì được hưởng theo chế độ cao nhất. 4. Cán bộ, chiến sĩ thuộc diện được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Thông tư này thì giải quyết cho cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng phục hồi sức khỏe không quá một (01) lần trong năm. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ Điều 5. Các trường hợp được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT - BCA ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và khám sức khỏe đối với lực lượng Công an nhân dân (sau đây viết gọn là Thông tư số 62/2023/TT - BCA); cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mạn tính kéo dài. 2. Cán bộ, chiến sĩ sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 3. Cán bộ, chiến sĩ đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 4. Cán bộ, chiến sĩ nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi. 5. Cán bộ, chiến sĩ có đủ điều kiện nghỉ công tác chờ hưởng chế độ hưu trí mà sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D theo quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT - BCA; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mãn tính kéo dài cần thiết được điều dưỡng trước khi nghỉ công tác hưởng chế độ hưu trí. 6. Người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Điều 6. Các trường hợp không được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe Cán bộ, chiến sĩ thuộc một trong các trường hợp sau đây không được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe: 1. Các trường hợp tổn hại sức khỏe do sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định hoặc tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu; 2. Đang điều trị bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; 3. Bị đình chỉ công tác. Điều 7. Thời gian điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Về thời gian điều dưỡng a) Mức 1 Tối đa 10 ngày đối với cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh một lần từ hai con trở lên; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. b) Mức 2 Tối đa 07 ngày đối với cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh con phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến 50% do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. c) Mức 3 Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp thai sản khác mà được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30% do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe loại IV, V hoặc loại C, D quy định tại điểm d khoản 10 Điều 16 Thông tư số 62/2023/TT - BCA; cán bộ, chiến sĩ sức khỏe yếu do công tác căng thẳng kéo dài, điều trị bệnh mãn tính kéo dài. 2. Thời gian điều dưỡng bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. 3. Thời gian điều dưỡng đối với các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 5 thực hiện theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, các văn bản hướng dẫn của nhà nước và Bộ Công an. Điều 8. Hình thức điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Hình thức điều dưỡng tại nhà áp dụng đối với trường hợp cán bộ, chiến sĩ bị ốm đau, bệnh tật mà không thể đi điều dưỡng tập trung hoặc việc di chuyển ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khỏe. 2. Hình thức điều dưỡng tập trung áp dụng đối với: a) Cán bộ, chiến sĩ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, 5 Điều 5 Thông tư này mà không thuộc trường hợp điều dưỡng tại nhà quy định tại khoản 1 Điều này; b) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 5 Thông tư này đã nhận chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 58/2014/QH13, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 mà có nguyện vọng đi điều dưỡng tập trung; c) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này đã nhận chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng mà có nguyện vọng đi điều dưỡng tập trung. Điều 9. Chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe và nội dung chi chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Chế độ điều dưỡng: a) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13; b) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Điều 29, Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13; c) Mức hưởng điều dưỡng một (01) ngày của các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 5 Thông tư này áp dụng theo quy định tại điểm a Khoản này. d) Mức hưởng điều dưỡng của các đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ - CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 77/2024/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ - CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ - CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ. 2. Nội dung chi điều dưỡng tập trung quy định tại khoản 1 Điều này như sau: a) Tiền ăn: Tiêu chuẩn, định lượng ăn của cán bộ chiến sĩ thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 01/2021/NĐ - CP ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức vật chất hậu cần trong Công an nhân dân và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Công an (sau đây viết gọn là Nghị định số 01/2021/NĐ - CP). Căn cứ tình trạng sức khỏe, bệnh lý và theo đề nghị của người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe đến điều dưỡng, nhà nghỉ dưỡng điều chỉnh mức ăn cho phù hợp với nhu cầu tăng thêm hoặc nhu cầu thấp hơn của người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe so với tiêu chuẩn, định lượng. Trường hợp chi phí tăng thêm so với tiêu chuẩn thì cán bộ, chiến sĩ được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe phải thanh toán phần chênh lệch cho nhà nghỉ dưỡng; trường hợp chi phí thấp hơn so với tiêu chuẩn thì nhà nghỉ dưỡng thanh toán chi trả phần chênh lệch cho cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng phục hồi sức khỏe; b) Chăm sóc sức khỏe: Người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe đi điều dưỡng được khám, điều trị, tư vấn sức khỏe, dinh dưỡng bổ sung, vận động hợp lý, hướng dẫn và triển khai một số hoặc tất cả các dịch vụ luyện tập dưỡng sinh, khí công, thiền, yoga, massage, xông thuốc, ngâm thuốc, chườm ngải và các phương pháp chăm sóc sức khỏe khác theo chỉ định của cán bộ y tế. Chi phí chăm sóc sức khỏe thanh toán theo danh mục dịch vụ sử dụng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chi phí không vượt quá mức hưởng điều dưỡng sau khi trừ các chi phí quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều này. Đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chưa triển khai thì nhà nghỉ dưỡng thanh toán kinh phí thực hiện dịch vụ cho người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định. Mức khung giá dịch vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2023/TT - BYT ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp và các văn bản hướng dẫn khác liên quan theo quy định; c) Chi phí phục vụ người được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe trong thời gian điều dưỡng: Mức chi tối đa 15% mức chi quy định tại khoản 1 Điều này, gồm khăn mặt, khăn tắm, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, tham quan, chụp ảnh, sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các khoản chi khác phục vụ đối tượng điều dưỡng phục hồi sức khỏe. 3. Chế độ thuốc, bông băng phục vụ công tác điều dưỡng tập trung thực hiện theo quy định tại mục 1 phần II Bảng 1 Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 01/2021/NĐ - CP. 4. Các chi phí cho tạp chi vệ sinh, xử lý chất thải, rác thải, điện, nước phục vụ công tác điều dưỡng tập trung thực hiện theo tiêu chuẩn, định mức quy định tại Điều 7, Điều 11, Điều 12 Nghị định số 01/2021/NĐ - CP. 5. Trường hợp điều dưỡng tại nhà theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này được thanh toán mức hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này. Điều 10. Phương tiện đi lại Cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng tập trung được bố trí phương tiện đưa, đón theo thông báo của Cục Y tế. Trường hợp không bố trí được phương tiện đưa đón thì cán bộ, chiến sĩ tự túc phương tiện đến nhà nghỉ dưỡng và được thanh toán tiền phương tiện đi lại tại Công an đơn vị, địa phương quản lý cán bộ, chiến sĩ theo giá tiền ghi trên vé. Mức thanh toán cao nhất bằng giá vé tàu, xe (ngồi mềm hoặc giường mềm, điều hòa) quy định từ địa phương nơi cán bộ công tác, đóng quân đến nhà nghỉ dưỡng. Điều 11. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe 1. Thẩm quyền phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe: a) Cục trưởng Cục Y tế phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng tập trung; b) Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương phê duyệt hưởng chế độ điều dưỡng tại nhà. 2. Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe gồm: a) Công văn đề nghị của Công an các đơn vị, địa phương (đối với trường hợp điều dưỡng tập trung); b) Danh sách cán bộ, chiến sĩ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này. Đối với trường hợp cán bộ, chiến sĩ đang công tác, chiến đấu, lao động thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; cán bộ, chiến sĩ đã nhận chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13; Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân đã nhận chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ - CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 77/2024/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ - CP ngày 24 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ - CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ thì có xác nhận của bộ phận chính sách đơn vị tương ứng với từng trường hợp. Đối với các trường hợp còn lại thì không cần xác nhận của bộ phận chính sách đơn vị; c) Giấy xác nhận tình trạng sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giao nhiệm vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này, trừ trường hợp cán bộ, chiến sĩ thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người có công đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân. Trường hợp cán bộ, chiến sĩ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thuộc Công an nhân dân thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giao nhiệm vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ căn cứ giấy ra viện để xác nhận tình trạng sức khỏe của cán bộ, chiến sĩ; d) Ngoài hồ sơ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản này, đối với từng trường hợp cụ thể bổ sung thêm hồ sơ như sau: Trường hợp sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày quy định tại Thông tư số 46/2016/TT - BYT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh một lần từ hai con trở lên, các trường hợp thai sản khác mà được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc sức khỏe chưa phục hồi, các trường hợp cán bộ, chiến sĩ sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có bản photo giấy ra viện đợt điều trị gần nhất; Trường hợp sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe chưa phục hồi theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 thì phải có bản photo kết luận mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa; Trường hợp sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau phải phẫu thuật; cán bộ, chiến sĩ nữ sinh con phải phẫu thuật theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 thì phải có bản photo giấy xác nhận phẫu thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có đủ điều kiện nghỉ công tác chờ hưởng chế độ hưu trí thì phải có bản photo quyết định về việc nghỉ công tác hưởng chế độ hưu trí. 3. Trình tự, thủ tục thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng tập trung: a) Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương lập hồ sơ đề nghị gửi Cục Y tế. Đối với các đơn vị trực thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động đóng quân độc lập và có bệnh xá, Thủ trưởng đơn vị đó có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ hưởng chế độ điều dưỡng gửi Cục Y tế; đồng thời gửi văn bản đề nghị nêu trên về Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng hoặc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động để theo dõi, phối hợp chỉ đạo; b) Trên cơ sở đề nghị của người có thẩm quyền quy định tại điểm a Khoản này, Cục trưởng Cục Y tế cấp phiếu điều dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ đủ điều kiện hưởng chế độ điều dưỡng tập trung; thông báo đến nhà nghỉ dưỡng để tổ chức đón tiếp, phục vụ; đồng thời thông báo cho đơn vị quản lý cán bộ, chiến sĩ hưởng chế độ điều dưỡng tập trung để phối hợp thực hiện. 4. Trình tự, thủ tục thực hiện hưởng chế độ điều dưỡng tại nhà: Bộ phận y tế hoặc bộ phận chính sách đối với đơn vị không có bộ phận y tế lập hồ sơ đề nghị trình Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương phê duyệt. 5. Bộ phận chính sách của Công an các đơn vị, địa phương xác nhận đối với các trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư này. Điều 12. Kinh phí thực hiện 1. Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe được quy định cụ thể như sau: a) Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 5 Thông tư này do ngân sách nhà nước cấp, bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an giao cho Công an các đơn vị, địa phương. b) Kinh phí thực hiện chế độ cho các trường hợp quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 5 Thông tư này được chi từ nguồn kinh phí Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13. c) Kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư này được chi từ nguồn kinh phí chi trợ cấp ưu đãi theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH. d) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 8 Thông tư này (đã nhận chế độ tại đơn vị) khi đi điều đưỡng tập trung có trách nhiệm thanh toán các chi phí theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư này cho nhà nghỉ dưỡng, các nội dung chi khác do ngân sách nhà nước bảo đảm. đ) Việc quản lý, cấp phát, sử dụng, thanh, quyết toán kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ điều dưỡng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. 2. Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để tổ chức công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà nghỉ dưỡng do ngân sách nhà nước cấp cho Bộ Công an và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 13. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và thay thế Thông tư số 105/2020/TT - BCA ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chế độ điều dưỡng trong Công an nhân dân. 2. Trường hợp văn bản dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới thì những nội dung dẫn chiếu tại Thông tư này cũng được thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới. 3. Ban hành kèm theo Thông tư này các phụ lục sau: a) Phụ lục I. Danh sách cán bộ, chiến sĩ đề nghị hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe; b) Phụ lục II. Giấy xác nhận tình trạng sức khỏe. Điều 14. Trách nhiệm thi hành 1. Cục Y tế a) Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này; b) Tổng hợp báo cáo của Công an các đơn vị, địa phương về tình hình cán bộ, chiến sĩ được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe hằng năm; c) Phối hợp với Cục Hậu cần và Công an các đơn vị, địa phương có liên quan đề xuất đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y tế để tổ chức công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại các nhà nghỉ dưỡng; d) Hàng năm, phối hợp với Cục Hậu cần và Công an địa phương có nhà nghỉ dưỡng được giao thực hiện tổ chức điều dưỡng, chăm sóc và phục hồi sức khỏe bố trí số giường, phương tiện phục vụ công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ. 2. Cục Kế hoạch và tài chính có trách nhiệm hướng dẫn Công an các đơn vị, địa phương lập dự toán, quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các nhà nghỉ dưỡng để triển khai thực hiện Thông tư này theo quy định. 3. Công an các đơn vị, địa phương a) Phổ biến các quy định của Thông tư này đến cán bộ, chiến sĩ thuộc thẩm quyền quản lý; tổ chức triển khai thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe và thanh, quyết toán theo quy định; b) Chỉ đạo các nhà nghỉ dưỡng trực thuộc tổ chức thực hiện công tác điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định tại Thông tư này; c) Chỉ đạo bộ phận y tế hoặc bộ phận chính sách đối với đơn vị không có y tế theo dõi quản lý sức khỏe cán bộ, chiến sĩ, chủ trì đề xuất lập hồ sơ các trường hợp được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe báo cáo lãnh đạo đơn vị; d) Bố trí phương tiện đưa đón cán bộ, chiến sĩ đi điều dưỡng tập trung theo kế hoạch; đ) Căn cứ vào nhu cầu, điều kiện thực tế của các nhà nghỉ dưỡng, Công an các đơn vị, địa phương nghiên cứu đề xuất đầu tư, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y tế và tổ chức triển khai thực hiện tốt chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ theo quy định; e) Báo cáo tình hình cán bộ, chiến sĩ được thực hiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe gửi về Cục Y tế trước ngày 15 tháng 12 hằng năm (thời gian báo cáo từ ngày 15 tháng 12 năm trước đến hết ngày 14 tháng 12 của năm báo cáo). Trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Y tế) để được hướng dẫn kịp thời. /.
Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước
03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
01/03/2025
Thông tư liên tịch
01/03/2025
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Trung tướng Nguyễn Văn Long
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 1/01/clip_image001.gif" width="177" /> Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi không tổ chức Công an cấp huyện và tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an. 2. Đối tượng áp dụng a) Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Công an cấp xã); Công an các đơn vị, địa phương; b) Viện Kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 khi không tổ chức Công an cấp huyện và tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an được thực hiện theo Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với nội dung của Thông tư liên tịch này. 2. Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành. Điều 3. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng quy định tại Điều 92 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (sau đây gọi chung là Luật Xử lý vi phạm hành chính) được thực hiện như sau: a) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người vi phạm; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ, ý kiến của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi đang học tập hoặc làm việc (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ. 2. Trường hợp người dưới 18 tuổi vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 92 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó. Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã đề nghị cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu bổ sung, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: Bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha, mẹ hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 3. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 2 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 4. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 1. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. 2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm: a) Hồ sơ quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 13 Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Điều 5 . Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện như sau: a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Trưởng Công an cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 2. Trường hợp Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 118 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hồ sơ bao gồm: hồ sơ cai nghiện bắt buộc hiện có; biên bản về hành vi vi phạm mới; văn bản của Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Trưởng Công an cấp xã đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 3. Trường hợp người vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 4. Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 3 Điều này và Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 6. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã lập hồ sơ thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 2. Trường hợp Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản về hành vi vi phạm mới quy định tại khoản 3 Điều 118 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi hồ sơ cho Trưởng Công an cấp xã nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc để bổ sung hồ sơ; thời hạn bổ sung hồ sơ là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 3. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 27 Nghị định số 140/2021/NĐ-CP; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Điều 7. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện như sau: a) Trường hợp người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Trường hợp người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này; d) Hồ sơ đề nghị quy định tại các điểm a, b và c khoản này gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan; đ) Trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc thì hồ sơ đề nghị gồm có: đơn tự nguyện xin đi cai nghiện; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan. Tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó được thực hiện như sau: Nếu người đó có phiếu xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền còn trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp thì sử dụng phiếu này; nếu người đó không có phiếu xác định tình trạng nghiện hoặc có phiếu xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền cấp đã quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp thì Công an cấp xã hướng dẫn họ thực hiện việc xác định tình trạng nghiện. 2. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 8. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 9. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi 1. Việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện như sau: a) Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú hoặc có hành vi vi phạm trong trường hợp không xác định được nơi cư trú lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh phát hiện đối tượng là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc diện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản này để lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp tài liệu vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã đề nghị cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu bổ sung, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Hồ sơ đề nghị gồm có: Bản tóm tắt lý lịch; biên bản vi phạm; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; ý kiến của cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp. 2. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý về tài liệu, hồ sơ đề nghị. Điều 10. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi 1. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi ý kiến về việc lập hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ, Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch này quyết định chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 51 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong nội dung văn bản của Trưởng Công an cấp xã phải nêu ý kiến về bảo vệ quyền trẻ em. Điều 11 . Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Công an cấp xã tổ chức thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 12 . Thi hành quyết định buộc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm trình diện với Công an cấp xã nơi họ cư trú. 2. Quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được gửi cho Công an cấp xã nơi tổ chức thi hành quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, Công an cấp xã phải tổ chức áp giải đối tượng. Điều 13. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn 1. Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì Công an cấp xã nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng. 2. Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều 132 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, Công an cấp xã nơi lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Điều 14. Báo cáo Công an cấp tỉnh về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Ngay sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, Công an cấp xã lập hồ sơ phải báo cáo bằng văn bản cho Công an cấp tỉnh để theo dõi. Điều 15. Sử dụng các mẫu trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi Các thành phần hồ sơ quy định tại Thông tư liên tịch này sử dụng các mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Điều 16. Điều khoản chuyển tiếp 1. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Công an cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đang giải quyết mà chưa chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp huyện thì bàn giao hồ sơ đó cho Công an cấp xã có thẩm quyền theo quy định Thông tư liên tịch này để tiếp tục giải quyết. 2. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết mà cần bổ sung hồ sơ đề nghị thì chuyển hồ sơ đó cho cơ quan đã lập hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ theo Thông tư liên tịch này. Trường hợp Công an cấp huyện là cơ quan đã lập hồ sơ thì Tòa án nhân dân đề nghị Công an cấp tỉnh phân công Công an cấp xã chịu trách nhiệm tiếp tục giải quyết. 3. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết mà chưa mở phiên họp xem xét, quyết định thì Tòa án nhân dân cấp huyện yêu cầu Công an cấp xã đã giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đề nghị tham gia khi mở phiên họp. Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025. Điều 1 8 . Trách nhiệm thi hành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=176653&Keyword=
2025-09-24T02:33:09.609003
../data\bocongan\032025TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư liên tịch này quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi không tổ chức Công an cấp huyện và tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an. 2. Đối tượng áp dụng a) Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Công an cấp xã); Công an các đơn vị, địa phương; b) Viện Kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 khi không tổ chức Công an cấp huyện và tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an được thực hiện theo Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với nội dung của Thông tư liên tịch này. 2. Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành. Điều 3. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng quy định tại Điều 92 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (sau đây gọi chung là Luật Xử lý vi phạm hành chính) được thực hiện như sau: a) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người vi phạm; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ, ý kiến của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi đang học tập hoặc làm việc (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ. 2. Trường hợp người dưới 18 tuổi vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 92 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó. Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã đề nghị cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu bổ sung, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ đề nghị gồm có: Bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha, mẹ hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 3. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 2 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 4. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 1. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. 2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm: a) Hồ sơ quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 13 Nghị định số 140/2021/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Điều 5. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện như sau: a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Trưởng Công an cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 2. Trường hợp Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 118 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hồ sơ bao gồm: hồ sơ cai nghiện bắt buộc hiện có; biên bản về hành vi vi phạm mới; văn bản của Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Trưởng Công an cấp xã đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 3. Trường hợp người vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 4. Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 3 Điều này và Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 6. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã lập hồ sơ thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 2. Trường hợp Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản về hành vi vi phạm mới quy định tại khoản 3 Điều 118 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi hồ sơ cho Trưởng Công an cấp xã nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc để bổ sung hồ sơ; thời hạn bổ sung hồ sơ là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. 3. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 27 Nghị định số 140/2021/NĐ - CP; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Điều 7. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện như sau: a) Trường hợp người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Trường hợp người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này; d) Hồ sơ đề nghị quy định tại các điểm a, b và c khoản này gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan; đ) Trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc thì hồ sơ đề nghị gồm có: đơn tự nguyện xin đi cai nghiện; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan. Tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó được thực hiện như sau: Nếu người đó có phiếu xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền còn trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp thì sử dụng phiếu này; nếu người đó không có phiếu xác định tình trạng nghiện hoặc có phiếu xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền cấp đã quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp thì Công an cấp xã hướng dẫn họ thực hiện việc xác định tình trạng nghiện. 2. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 8. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 9. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi 1. Việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện như sau: a) Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú hoặc có hành vi vi phạm trong trường hợp không xác định được nơi cư trú lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh phát hiện đối tượng là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc diện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và chuyển cho Công an cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản này để lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp tài liệu vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã đề nghị cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu bổ sung, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Hồ sơ đề nghị gồm có: Bản tóm tắt lý lịch; biên bản vi phạm; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; ý kiến của cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp. 2. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý về tài liệu, hồ sơ đề nghị. Điều 10. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi 1. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi ý kiến về việc lập hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. 2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ, Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch này quyết định chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm có: a) Hồ sơ quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này và các quy định khác của Điều 51 Nghị định số 116/2021/NĐ - CP; b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong nội dung văn bản của Trưởng Công an cấp xã phải nêu ý kiến về bảo vệ quyền trẻ em. Điều 11. Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Công an cấp xã tổ chức thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 12. Thi hành quyết định buộc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm trình diện với Công an cấp xã nơi họ cư trú. 2. Quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được gửi cho Công an cấp xã nơi tổ chức thi hành quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, Công an cấp xã phải tổ chức áp giải đối tượng. Điều 13. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn 1. Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì Công an cấp xã nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng. 2. Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 Điều 132 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, Công an cấp xã nơi lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Điều 14. Báo cáo Công an cấp tỉnh về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Ngay sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, Công an cấp xã lập hồ sơ phải báo cáo bằng văn bản cho Công an cấp tỉnh để theo dõi. Điều 15. Sử dụng các mẫu trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi Các thành phần hồ sơ quy định tại Thông tư liên tịch này sử dụng các mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 140/2021/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Điều 16. Điều khoản chuyển tiếp 1. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Công an cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đang giải quyết mà chưa chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp huyện thì bàn giao hồ sơ đó cho Công an cấp xã có thẩm quyền theo quy định Thông tư liên tịch này để tiếp tục giải quyết. 2. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết mà cần bổ sung hồ sơ đề nghị thì chuyển hồ sơ đó cho cơ quan đã lập hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ theo Thông tư liên tịch này. Trường hợp Công an cấp huyện là cơ quan đã lập hồ sơ thì Tòa án nhân dân đề nghị Công an cấp tỉnh phân công Công an cấp xã chịu trách nhiệm tiếp tục giải quyết. 3. Kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết mà chưa mở phiên họp xem xét, quyết định thì Tòa án nhân dân cấp huyện yêu cầu Công an cấp xã đã giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đề nghị tham gia khi mở phiên họp. Điều 17. Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025. Điều 1 8. Trách nhiệm thi hành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời. /.
Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
04 /2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
27/06/2025
Thông tư liên tịch
01/07/2025
null
null
Bộ Công an
Thứ trưởng
Thượng tướng Nguyễn Văn Long
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự 1/01/clip_image001.gif" width="176" /> Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, năm 2025); Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh , đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. 2. Đối tượng áp dụng: a) Công an xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Công an cấp xã), Đồn Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan quản lý, thi hành án hình sự của Công an nhân dân; b) Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân; việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ việc, vụ án được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và việc kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 3. Việc gửi các văn bản tố tụng hình sự, văn bản trong thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự Cơ quan ban hành các lệnh, quyết định, thông báo, bản án và các văn bản khác trong tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền và có trách nhiệm thi hành theo thẩm quyền được quy định trong Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Chương II PHỐI HỢP TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Điều 4. Tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân gồm: 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cấp tỉnh). Điều 5. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân 1. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân. 3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã. Điều 6. Ủy quyền, phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh cho Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã 1. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chỉ có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã; trường hợp khi Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã vắng mặt hoặc đối với Công an cấp xã chưa có Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã thì có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Phó Trưởng Công an cấp xã (sau đây gọi là Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã) thụ lý, giải quyết đối với nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. 2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã được thực hiện toàn bộ hoặc một trong các hoạt động sau đây đối với nguồn tin về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã: a) Trưng cầu giám định chất ma túy đối với các vụ liên quan đến các hành vi phạm tội về ma túy; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; b) Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; c) Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; d) Tạm giữ người; đ) Khám nghiệm hiện trường; e) Khám xét, khám xét trong trường hợp khẩn cấp. 3. Văn bản ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này phải được gửi ngay đến Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. 4. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền (sau đây gọi là Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. 5. Căn cứ tình hình thực tế, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh quyết định việc ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này; Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) quyết định việc phân công quy định tại khoản 4 Điều này. 6. Đối với nguồn tin về tội phạm, vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu thì Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã của một trong các xã, phường, đặc khu xảy ra tội phạm giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Trong trường hợp này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự. 7. Khi thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã sử dụng con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và ký “thừa ủy quyền” Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Điều 7. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thực hiện như sau: a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác trong cùng một tỉnh, thành phố thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác ngoài tỉnh, thành phố hoặc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khác thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã. Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi tội phạm xảy ra, trường hợp tội phạm xảy ra ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt; b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra nhưng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực thì chậm nhất 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để cử Kiểm sát viên tham gia. Ngay sau khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định phân công cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân khu vực được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo quy định; c) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm có quyền trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự; d) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 và khoản 3 Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với vụ việc, vụ án thì có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trong hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Điều 8. Rà soát, phân công tiếp nhận, giải quyết tiếp đối với vụ việc, vụ án tạm đình chỉ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh tổ chức rà soát toàn bộ các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ, nếu thuộc trường hợp tại khoản 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này thì có thể chuyển hồ sơ (kèm theo vật chứng và các tài liệu có liên quan) cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã tiếp nhận, quản lý và giải quyết tiếp theo quy định. 2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này. Việc chuyển hồ sơ vụ việc, vụ án tại khoản 1 Điều này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Chương III PHỐI HỢP TRONG THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Điều 9. Tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam gồm: a) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Bộ Công an; b) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an cấp tỉnh. 2. Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ sở giam giữ của Công an cấp tỉnh gồm: trại tạm giam; phân trại thuộc trại tạm giam. 3. Cơ sở giam giữ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng. Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Giám thị trại tạm giam, Trưởng phân trại. Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Phó Giám thị trại tạm giam, Phó Trưởng phân trại. Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giam giữ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ Công an cấp tỉnh: a) Cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 13 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; c) Trưởng phân trại có trách nhiệm giúp Giám thị trại tạm giam theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám thị trại tạm giam và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ được giao; d) Phân trại được sử dụng con dấu của phân trại khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Điều 11. Tổ chức cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. 2. Cơ quan thi hành án hình sự, gồm: a) Trại giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; c) Ủy ban nhân dân cấp xã; d) Công an cấp xã. Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án hình sự 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 14; điểm a và điểm b khoản 1, các khoản 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 16 của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 18 của Luật Thi hành án hình sự. Phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại phân trại thuộc trại tạm giam; tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù ở phân trại thuộc trại tạm giam và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; tiếp nhận người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người bị buộc chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến để đi chấp hành án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã: a) Quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế; b) Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú hoặc nơi người chấp hành án chết có trách nhiệm phối hợp với cơ quan được giao quản lý người đang chấp hành án thực hiện thủ tục khai tử theo quy định của pháp luật; gửi trích lục khai tử cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an cấp xã: a) Tham mưu và trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế; b) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi phát hiện người thi hành án hình sự tại cộng đồng có vi phạm pháp luật; c) Đưa người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người bị buộc chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam để thực hiện các thủ tục thi hành án; d) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Điều 13. Thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện các thẩm quyền: a) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại trại tạm giam Công an cấp tỉnh; kiểm sát việc thi hành án phạt tù tại trại giam đóng trên địa bàn; kiểm sát việc thi hành án hình sự tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; kiểm sát việc thi hành hình phạt trục xuất tại cơ sở lưu trú; b) Khi xét thấy cần thiết, trực tiếp kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; kiểm sát thi hành án hình sự tại Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự trên địa bàn cấp tỉnh; c) Khi được Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện một số hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; d) Kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; đ) Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, về quản lý giáo dục phạm nhân; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. 3. Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hiện các thẩm quyền sau: a) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh đóng trên địa bàn; kiểm sát việc thi hành án hình sự của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trụ sở đóng trên địa bàn thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực; b) Khi được Viện kiểm sát nhân dân cấp trên phân công thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hiện một số hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; c) Kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân khu vực theo quy định của pháp luật; d) Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, về quản lý giáo dục phạm nhân; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân khu vực, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự 1. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ra quyết định thi hành án, xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù; giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, miễn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, thành lập hội đồng thi hành án tử hình, giải quyết trường hợp xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử hình; b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 3. Tòa án nhân dân khu vực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ra quyết định thi hành án, xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại; miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại; b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và thay thế Thông tư liên tịch số 02/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện. 2. Trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý, xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù mà đến ngày 01 tháng 7 năm 2025 chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết. Điều 16. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=179024&Keyword=
2025-09-24T02:33:08.083255
../data\bocongan\04 2025TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, năm 2025); Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh: Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. 2. Đối tượng áp dụng: a) Công an xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Công an cấp xã), Đồn Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan quản lý, thi hành án hình sự của Công an nhân dân; b) Viện kiểm sát nhân dân; c) Tòa án nhân dân; d) Người có thẩm quyền của các cơ quan quy định tại các điểm a, b và c khoản này; đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Điều 2. Áp dụng pháp luật 1. Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân; việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ việc, vụ án được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. 2. Việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và việc kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Điều 3. Việc gửi các văn bản tố tụng hình sự, văn bản trong thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự Cơ quan ban hành các lệnh, quyết định, thông báo, bản án và các văn bản khác trong tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền và có trách nhiệm thi hành theo thẩm quyền được quy định trong Thông tư liên tịch này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mà không trái với quy định của Thông tư liên tịch này. Chương II PHỐI HỢP TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Điều 4. Tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân gồm: 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cấp tỉnh). Điều 5. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân 1. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân. 3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã. Điều 6. Ủy quyền, phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh cho Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã 1. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chỉ có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã; trường hợp khi Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã vắng mặt hoặc đối với Công an cấp xã chưa có Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã thì có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Phó Trưởng Công an cấp xã (sau đây gọi là Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã) thụ lý, giải quyết đối với nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. 2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã được thực hiện toàn bộ hoặc một trong các hoạt động sau đây đối với nguồn tin về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã: a) Trưng cầu giám định chất ma túy đối với các vụ liên quan đến các hành vi phạm tội về ma túy; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; b) Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; c) Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; d) Tạm giữ người; đ) Khám nghiệm hiện trường; e) Khám xét, khám xét trong trường hợp khẩn cấp. 3. Văn bản ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này phải được gửi ngay đến Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. 4. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền (sau đây gọi là Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. 5. Căn cứ tình hình thực tế, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh quyết định việc ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này; Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) quyết định việc phân công quy định tại khoản 4 Điều này. 6. Đối với nguồn tin về tội phạm, vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu thì Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã của một trong các xã, phường, đặc khu xảy ra tội phạm giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Trong trường hợp này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự. 7. Khi thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã sử dụng con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và ký “thừa ủy quyền” Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Điều 7. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thực hiện như sau: a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác trong cùng một tỉnh, thành phố thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác ngoài tỉnh, thành phố hoặc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khác thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã. Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi tội phạm xảy ra, trường hợp tội phạm xảy ra ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt; b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra nhưng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực thì chậm nhất 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để cử Kiểm sát viên tham gia. Ngay sau khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định phân công cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân khu vực được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo quy định; c) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm có quyền trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự; d) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 và khoản 3 Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự; đ) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với vụ việc, vụ án thì có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trong hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Điều 8. Rà soát, phân công tiếp nhận, giải quyết tiếp đối với vụ việc, vụ án tạm đình chỉ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh tổ chức rà soát toàn bộ các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ, nếu thuộc trường hợp tại khoản 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này thì có thể chuyển hồ sơ (kèm theo vật chứng và các tài liệu có liên quan) cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã tiếp nhận, quản lý và giải quyết tiếp theo quy định. 2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này. Việc chuyển hồ sơ vụ việc, vụ án tại khoản 1 Điều này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Chương III PHỐI HỢP TRONG THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Điều 9. Tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam gồm: a) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Bộ Công an; b) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an cấp tỉnh. 2. Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ sở giam giữ của Công an cấp tỉnh gồm: trại tạm giam; phân trại thuộc trại tạm giam. 3. Cơ sở giam giữ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng. Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Giám thị trại tạm giam, Trưởng phân trại. Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ bao gồm Phó Giám thị trại tạm giam, Phó Trưởng phân trại. Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam của Công an nhân dân 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giam giữ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ Công an cấp tỉnh: a) Cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 13 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; c) Trưởng phân trại có trách nhiệm giúp Giám thị trại tạm giam theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám thị trại tạm giam và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ được giao; d) Phân trại được sử dụng con dấu của phân trại khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Điều 11. Tổ chức cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. 2. Cơ quan thi hành án hình sự, gồm: a) Trại giam thuộc Bộ Công an; b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, gồm: a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; b) Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; c) Ủy ban nhân dân cấp xã; d) Công an cấp xã. Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự của Công an nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án hình sự 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 14; điểm a và điểm b khoản 1, các khoản 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 16 của Luật Thi hành án hình sự. 3. Trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 18 của Luật Thi hành án hình sự. Phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại phân trại thuộc trại tạm giam; tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù ở phân trại thuộc trại tạm giam và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; tiếp nhận người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người bị buộc chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến để đi chấp hành án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. 4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã: a) Quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế; b) Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú hoặc nơi người chấp hành án chết có trách nhiệm phối hợp với cơ quan được giao quản lý người đang chấp hành án thực hiện thủ tục khai tử theo quy định của pháp luật; gửi trích lục khai tử cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an cấp xã: a) Tham mưu và trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành án phạt quản chế; b) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi phát hiện người thi hành án hình sự tại cộng đồng có vi phạm pháp luật; c) Đưa người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người bị buộc chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đến trại tạm giam, phân trại thuộc trại tạm giam để thực hiện các thủ tục thi hành án; d) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Điều 13. Thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện các thẩm quyền: a) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại trại tạm giam Công an cấp tỉnh; kiểm sát việc thi hành án phạt tù tại trại giam đóng trên địa bàn; kiểm sát việc thi hành án hình sự tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; kiểm sát việc thi hành hình phạt trục xuất tại cơ sở lưu trú; b) Khi xét thấy cần thiết, trực tiếp kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh; kiểm sát thi hành án hình sự tại Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự trên địa bàn cấp tỉnh; c) Khi được Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện một số hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; d) Kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; đ) Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, về quản lý giáo dục phạm nhân; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. 3. Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hiện các thẩm quyền sau: a) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại phân trại thuộc trại tạm giam Công an cấp tỉnh đóng trên địa bàn; kiểm sát việc thi hành án hình sự của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trụ sở đóng trên địa bàn thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực; b) Khi được Viện kiểm sát nhân dân cấp trên phân công thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hiện một số hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; c) Kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân khu vực theo quy định của pháp luật; d) Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, về quản lý giáo dục phạm nhân; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân khu vực, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự 1. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ra quyết định thi hành án, xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù; giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, miễn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, thành lập hội đồng thi hành án tử hình, giải quyết trường hợp xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử hình; b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. 3. Tòa án nhân dân khu vực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ra quyết định thi hành án, xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại; miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại; b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 15. Hiệu lực thi hành 1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và thay thế Thông tư liên tịch số 02/2025/TTLT - BCA - VKSNDTC - TANDTC ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức Công an cấp huyện. 2. Trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý, xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù mà đến ngày 01 tháng 7 năm 2025 chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết. Điều 16. Tổ chức thực hiện 1. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, thực hiện Thông tư liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn hoặc bổ sung thì kịp thời phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn. /.
Hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/1999/ NĐ-CP ngày 03/2/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân.
04/1999/TT-BCA(C13)
29/04/1999
Thông tư
01/05/1999
Công báo số 26/1999;
15/07/1999
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ Hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/1999/ NĐ-CP ngày 03/2/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân _____________________ Ngày 3 tháng 2 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/1999/NĐ-CP về Chứng minh nhân dân (viết tắc là CMND), Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định trên như sau: I. ĐỐI TƯỢNG CẤP CMND 1. Đối tượng được cấp CMND Điều 3 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP quy định đối tượng được cấp CMND là những người sau đây: a- Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, cơ sở để tính tuổi theo ngày, tháng, năm sinh ghi trong hộ khẩu hoặc giấy khai sinh; b- Công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam được hiểu là công dân đó đang sinh sống, làm việc, học tập... tại một địa chỉ xác định trên lãnh thổ Việt Nam; 2. Đối tượng tạm thời chưa được cấp CMND bao gồm: a- Đang chấp hành lệnh tạm giam tại trại giam, nhà tạm giữ. b- Đang thi hành án phạt tù tại trại giam, phân trại quản lý phạm nhân thuộc trại tạm giam; c- Đang chấp hành quyết định đưa vào các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; d- Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có khả năng điều khiển được năng lực hành vi của bản thân họ bao gồm người bị bệnh đang điều trị tập trung tại các bệnh viện tâm thần, cơ sở y tế khác. Những người tuy không điều trị tập trung nhưng có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền chứng nhận họ bị bệnh không điều khiển được năng lực hành vi thì cũng tạm thời chưa được cấp CMND. Các trường hợp trên sau khi chấp hành xong các quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, được trả tự do hoặc khỏi bệnh tâm thần công dân đem các giấy tờ có liên quan đến Công an cấp huyện làm các thủ tục cấp CMND. 3. Quyền và trách nhiệm công dân: a- Công dân được sử dụng CMND của mình làm giấy tờ tuỳ thân trong việc đi lại và thực hiện các giao dịch. Mọi công dân phải có trách nhiệm mang theo CMND và xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. b- Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp CMND theo quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 3-2-1999. c- Công dân có trách nhiệm đến công an cấp huyện để đổi lại CMND trong các trường hợp phải đổi CMND, cấp lại CMND nếu mất. Đến công an phường, xã trình báo trong trường hợp bị thu hồi CMND. d- Những trường hợp mất CMND đã được cấp lại CMND khác, nếu tìm thấy CMND đã mất thì phải nộp lại cho cơ quan công an nơi làm thủ tục cấp lại, người nào nhặt được giấy CMND của người khác phải nộp cho cơ quan Công an. Nghiêm cấm một người sử dụng hai hoặc nhiều CMND. 4. Số và thời hạn sử dụng của CMND. CMND có giá trị sử dụng 15 năm. Mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Nếu có sự thay đổi hoặc bị mất CMND thì được làm thủ tục đổi, cấp lại một giấy CMND khác nhưng số ghi trên CMND vẫn giữ đúng theo số ghi trên CMND đã cấp. II. THỦ TỤC CẤP CMND 1. Cấp mới CMND. a- Đối tượng cấp mới gồm: những công dân chưa được cấp CMND theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP của Chính phủ và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP ngày 9-8-1976 của Hội đồng Chính phủ. b- Thủ tục cấp mới CMND. - Xuất trình hộ khẩu thường trú (Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể). Ở những địa phương chưa cấp hai loại sổ hộ khẩu trên Công an nơi làm thủ tục cấp CMND căn cứ vào sổ đăng ký hộ khẩu hoặc chứng nhận đăng ký hộ khẩu thường trú của Công an xã, phường, thị trấn; - Chụp ảnh: ảnh do cơ quan công an chụp hoặc thu qua camera để in trên CMND và tờ khai. Ảnh màu, kích thước là 3x4 cm, đầu để trần, chụp chính diện, rõ mặt, rõ hai tai, không đeo kính, trang phục tác phong nghiêm túc, lịch sự. - Kê khai tờ khai cấp CMND (theo mẫu); - In vân tay 10 ngón vào chỉ bản, tờ khai (theo mẫu) hoặc cơ quan Công an thu vân tay 10 ngón qua máy lấy vân tay tự động để in vào chỉ bản và CMND; - Nộp lệ phí cấp CMND. 2. Đổi, cấp lại CMND: a- Đổi CMND. Những công dân đã được cấp CMND mới theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 3-2-1999 và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP được đổi lại trong các trường hợp sau: + Quá thời hạn sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp; + CMND rách, nát, không rõ ảnh hoặc một trong các thông tin đã ghi trên CMND; + Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh. Những thay đổi này phải có quyết định của cơ quan có thẩm quyền; + Những người đã được cấp giấy CMND nhưng chuyển nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trường hợp chuyển ĐKHKTT trong phạm vi tỉnh, thành phố mà công dân có yêu cầu thì được đổi lại CMND; + Thay đổi đặc điểm nhận dạng là những trường hợp đã qua phẫu thuật thẩm mỹ chỉnh hình hoặc vì lý do khác đã làm thay đổi hình ảnh hoặc đặc điểm nhận dạng của họ. b- Cấp lại CMND. Đối tượng cấp lại CMND là những công dân đã được cấp CMND theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 3-2-1999 và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP nhưng bị mất. c- Thủ tục đổi, cấp lại CMND. - Đơn trình bầy rõ lý do đổi CMND hoặc cấp lại, có xác nhận của Công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, ảnh dán vào đơn và đóng dấu giáp lai; - Xuất trình hộ khẩu thường trú (Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể). Ở những địa phương chưa cấp hai loại sổ hộ khẩu trên Công an nơi làm thủ tục cấp CMND căn cứ vào sổ đăng ký hộ khẩu, chứng nhận đăng ký hộ khẩu thường trú của Công an xã, phường, thị trấn; - Đối với những trường hợp thay đổi họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, đổi lại CMND phải xuất trình Quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép thay đổi các nội dung trên đây; - Chụp ảnh (như trường hợp cấp mới); - Kê khai tờ khai cấp chứng minh nhân dân theo mẫu; - Vân tay hai ngón trỏ có thể in vào tờ khai theo mẫu hoặc cơ quan Công an thu vân tay hai ngón qua máy lấy vân tay tự động để in vào tờ khai và CMND; - Nộp lệ phí; - Các trường hợp đổi CMND phải nộp lại giấy CMND theo Quyết định số 143/CP ngày 9-8-1976 của Hội đồng Chính phủ (nếu có), CMND đã hết hạn sử dụng, hư hỏng hoặc có thay đổi nội dung cho cơ quan công an ngay khi làm thủ tục đổi để lưu chung với hồ sơ. Những trường hợp mất hồ sơ do thất lạc, hoả hoạn, bão lụt và các trường hợp bất khả kháng, cơ quan công an phải thông báo khi công dân đến làm thủ tục cấp đổi, cấp lại CMND thì làm thủ tục cấp mới cho những đối tượng này. 3. Những công dân đã được cấp giấy CMND theo Quyết định số 143/CP được tiếp tục sử dụng và phải đổi lại CMND theo quy định tại Nghị định số 05/1999/NĐ-CP theo kế hoạch thông báo của Bộ Công an. Thủ tục cấp đổi giấy CMND đã cấp theo Quyết định số 143/CP áp dụng như các trường hợp đổi CMND quy định tại điểm c mục 2 phần II Thông tư này nhưng không cần phải làm đơn xin đổi theo quy định. 4. Thủ tục cấp CMND cho Quân đội và Công an nhân dân. a- Đối với những công dân trong biên chế chính thức của Quân đội, Công an nhân dân đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể khi làm thủ tục cấp mới, cấp đổi, cấp lại CMND cũng phải làm đầy đủ các thủ tục theo quy định chung. Riêng việc xuất trình hộ khẩu thường trú được thay bằng giấy giới thiệu của cấp có thẩm quyền kèm theo Chứng minh Quân đội, Giấy chứng nhận Công an. b- Thẩm quyền cấp giấy giới thiệu cho công dân là quân nhân và công an nhân dân để làm thủ tục cấp CMND quy định như sau: + Cục trưởng hoặc cấp tương đương (nếu cấp cho người thuộc biên chế của các cơ quan đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an). + Thủ trưởng Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ Tư lệnh. + Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. + Giám đốc học viện, Hiệu trưởng các trường đại học, trung học. + Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Người cấp giấy giới thiệu làm thủ tục cấp CMND phải chịu trách nhiệm cấp đúng đối tượng đã quy định tại điểm a nêu trên. 5. Nơi làm thủ tục cấp CMND. a- Công dân thuộc diện được cấp CMND hiện đăng ký hộ khẩu thường trú thuộc địa phương nào do công an cấp huyện nơi đó làm thủ tục cấp CMND. b- Những công dân đang phục vụ trong Quân đội và Công an nhân dân (trừ số đang thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự) chưa đăng ký hộ khẩu thường trú cùng gia đình hiện đang ở tập trung trong doanh trại quân đội, công an thì do Công an cấp huyện nơi đơn vị đóng trụ sở chính, nhà ở tập thể đó làm thủ tục cấp CMND theo quy định về cấp CMND đối với quân đội và công an. Trường hợp đã đăng ký hộ khẩu thường trú cùng gia đình thì áp dụng như các công dân khác. 6. Thời gian hoàn chỉnh CMND. - Thời hạn hoàn chỉnh trả CMND cho công dân là 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và trong thời hạn 30 ngày (ở các địa bàn khác) tính từ ngày làm xong thủ tục cấp CMND theo quy định tại phần II Thông tư này. III. QUẢN LÝ CMND 1. Sắp xếp, lưu trữ, khai thác, quản lý hồ sơ CMND. Những hồ sơ xin cấp mới, đổi, cấp lại CMND của từng công dân theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP được tổ chức sắp xếp, lưu tại Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để quản lý. 2. Thu hồi, tạm giữ CMND. a- Tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP đã quy định: Công dân bị thu hồi CMND trong các trường hợp đã có quyết định bằng văn bản của cấp có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đã có quyết định cho phép công dân Việt Nam ra định cư ở nước ngoài, thì công dân phải báo cho công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú biết. Công an phường, xã, thị trấn phải báo cáo Công an cấp huyện để thu hồi CMND những trường hợp này, khi thu hồi CMND phải lập biên bản và chuyển về Công an tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương để lưu chung với hồ sơ cấp CMND. b- Công dân bị tạm giữ CMND trong các trường hợp: có hành vi vi phạm hành chính phải tạm giữ CMND để ngăn chặn và bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 5 Điều 41 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: có quyết định tạm giam, quyết định thi hành án phạt tù tại trại giam, quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan thi hành lệnh tạm giam, thi hành án phạt tù, thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc Công an cấp huyện, cấp tỉnh phải tạm giữ CMND của những người này, việc tạm giữ CMND phải ghi vào biên bản lưu chung hồ sơ thực hiện lệnh hoặc các quyết định đó. Công dân được trả lại CMND khi chấp hành xong các biện pháp xử lý nói trên: người có thẩm quyền, cơ quan tạm giữ CMND trả lại CMND cho họ sử dụng, khi trao trả CMND phải lập biên bản cụ thể. 3. Kiểm tra CMND. - Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân và Công an xã trong khi làm nhiệm vụ được quyền kiểm tra CMND của công dân. Việc kiểm tra có thể tổ chức thành từng đợt, kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất theo chỉ đạo của lãnh đạo Công an các cấp. 4. Phân công cấp và quản lý CMND. a- Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát giúp Bộ trưởng thống nhất cấp, quản lý CMND trong toàn quốc gồm: - Đề xuất Bộ Công an ban hành, quản lý, hướng dẫn sử dụng các loại biểu mẫu về CMND. - Hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn, kiểm tra, thanh tra về cấp, quản lý CMND; - Tổ chức quản lý và phát hành CMND trắng; - Thống kê về cấp quản lý CMND; - Hợp tác quốc tế những vấn đề có liên quan về cấp, quản lý CMND; - Tổ chức cấp CMND cho một số đối tượng do Bộ Công an quy định và giao hồ sơ cho Công an các địa phương quản lý. b- Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: - Chịu trách nhiệm tổ chức công tác cấp, quản lý CMND tại địa phương mình: - Quản lý hồ sơ những công dân đã được cấp CMND tại địa phương; - Giải quyết khiếu nại tố cáo về CMND; - Thống kê về cấp, quản lý CMND báo cáo về Bộ Công an; - Thanh tra kiểm tra về cấp, quản lý CMND. c- Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: - Tiếp nhận hồ sơ để làm thủ tục cấp CMND cho công dân; - Kiểm tra hồ sơ xin cấp CMND và chuyển hồ sơ về Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Nhận giấy CMND đã hoàn chỉnh trả cho Công an xã, phường, thị trấn. - Tổ chức kiểm tra việc sử dụng CMND của công dân trong phạm vi địa bàn quản lý. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về CMND. d- Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm: - Chịu trách nhiệm nắm số người trong diện cấp CMND tại địa phương; - Phối hợp với Công an huyện, thị làm thủ tục cấp CMND cho công dân; - Nhận CMND từ Công an cấp trên vào sổ theo dõi và trả cho nhân dân; - Tổ chức kiểm tra việc quản lý, sử dụng CMND của công dân trong phạm vi địa bàn quản lý. - Tuyên tryền hướng dẫn công dân, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định về CMND. - Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về CMND. IV. XỬ LÝ VI PHẠM 1. Những trường hợp thuộc đối tượng được cấp CMND đã được thông báo, nhắc nhở nhưng không đến làm thủ tục lấy CMND hoặc khi đi lại không mang theo CMND, vi phạm quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này sẽ bị xử phạt theo Điều 10 Nghị định số 49/CP ngày 15-8-1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự. 2. Cán bộ, chiến sĩ Công an làm nhiệm vụ cấp, quản lý CMND có hành vi vi phạm trong việc cấp, quản lý CMND thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại về vật chất sẽ phải bồi thường. V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm: a- Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, tập huấn Nghị định số 05/1999/NĐ-CP và Thông tư này; b- Đề xuất phương án đổi lại CMND đã cấp theo Quyết định số 143/CP ngày 9-8-1976; thông báo kịp thời cho công dân, các cơ quan tổ chức biết thực hiện. c- Chủ trì phối hợp các Tổng cục, đơn vị khác nghiên cứu, triển khai công nghệ cấp chứng minh mới. d- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các địa phương, thực hiện việc sơ kết đánh giá công tác trong toàn quốc. 2. Các Tổng cục, Bộ tư lệnh, đơn vị trực thuộc Bộ Công an theo chức năng của mình tổ chức triển khai theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP và Thông tư này. 3. Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kế hoạch cụ thể để chỉ đạo Công an các cấp, các lực lượng triển khai nghiêm túc, kịp thời Nghị định số 05/1999/NĐ-CP và Thông tư này. 4. Bộ Công an đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị định 05/1999/NĐ-CP và Thông tư này trong phạm vi địa phương, đơn vị mình. 5. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1999, thay thế Thông tư số 04/TT ngày 9-8-1976 và Thông tư số 01 ngày 2-3-1985 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Các quy định và hướng dẫn trước đây của Bộ Công an trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 6. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc các địa phương đơn vị cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=6544&Keyword=
2025-09-24T02:32:50.487233
../data\bocongan\041999TT-BCAC13\document.json
null
THÔNG TƯ Hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/1999/ NĐ - CP ngày 03/2/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân _____________________ Ngày 3 tháng 2 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/1999/NĐ - CP về Chứng minh nhân dân (viết tắc là CMND), Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định trên như sau: I. ĐỐI TƯỢNG CẤP CMND 1. Đối tượng được cấp CMND Điều 3 Nghị định số 05/1999/NĐ - CP quy định đối tượng được cấp CMND là những người sau đây: a - Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, cơ sở để tính tuổi theo ngày, tháng, năm sinh ghi trong hộ khẩu hoặc giấy khai sinh; b - Công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam được hiểu là công dân đó đang sinh sống, làm việc, học tập. . tại một địa chỉ xác định trên lãnh thổ Việt Nam; 2. Đối tượng tạm thời chưa được cấp CMND bao gồm: a - Đang chấp hành lệnh tạm giam tại trại giam, nhà tạm giữ. b - Đang thi hành án phạt tù tại trại giam, phân trại quản lý phạm nhân thuộc trại tạm giam; c - Đang chấp hành quyết định đưa vào các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; d - Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có khả năng điều khiển được năng lực hành vi của bản thân họ bao gồm người bị bệnh đang điều trị tập trung tại các bệnh viện tâm thần, cơ sở y tế khác. Những người tuy không điều trị tập trung nhưng có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền chứng nhận họ bị bệnh không điều khiển được năng lực hành vi thì cũng tạm thời chưa được cấp CMND. Các trường hợp trên sau khi chấp hành xong các quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, được trả tự do hoặc khỏi bệnh tâm thần công dân đem các giấy tờ có liên quan đến Công an cấp huyện làm các thủ tục cấp CMND. 3. Quyền và trách nhiệm công dân: a - Công dân được sử dụng CMND của mình làm giấy tờ tuỳ thân trong việc đi lại và thực hiện các giao dịch. Mọi công dân phải có trách nhiệm mang theo CMND và xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. b - Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp CMND theo quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ - CP ngày 3 - 2 - 1999. c - Công dân có trách nhiệm đến công an cấp huyện để đổi lại CMND trong các trường hợp phải đổi CMND, cấp lại CMND nếu mất. Đến công an phường, xã trình báo trong trường hợp bị thu hồi CMND. d - Những trường hợp mất CMND đã được cấp lại CMND khác, nếu tìm thấy CMND đã mất thì phải nộp lại cho cơ quan công an nơi làm thủ tục cấp lại, người nào nhặt được giấy CMND của người khác phải nộp cho cơ quan Công an. Nghiêm cấm một người sử dụng hai hoặc nhiều CMND. 4. Số và thời hạn sử dụng của CMND. CMND có giá trị sử dụng 15 năm. Mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Nếu có sự thay đổi hoặc bị mất CMND thì được làm thủ tục đổi, cấp lại một giấy CMND khác nhưng số ghi trên CMND vẫn giữ đúng theo số ghi trên CMND đã cấp. II. THỦ TỤC CẤP CMND 1. Cấp mới CMND. a - Đối tượng cấp mới gồm: những công dân chưa được cấp CMND theo Nghị định số 05/1999/NĐ - CP của Chính phủ và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP ngày 9 - 8 - 1976 của Hội đồng Chính phủ. b - Thủ tục cấp mới CMND. - Xuất trình hộ khẩu thường trú (Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể). Ở những địa phương chưa cấp hai loại sổ hộ khẩu trên Công an nơi làm thủ tục cấp CMND căn cứ vào sổ đăng ký hộ khẩu hoặc chứng nhận đăng ký hộ khẩu thường trú của Công an xã, phường, thị trấn; - Chụp ảnh: ảnh do cơ quan công an chụp hoặc thu qua camera để in trên CMND và tờ khai. Ảnh màu, kích thước là 3x4 cm, đầu để trần, chụp chính diện, rõ mặt, rõ hai tai, không đeo kính, trang phục tác phong nghiêm túc, lịch sự. - Kê khai tờ khai cấp CMND (theo mẫu); - In vân tay 10 ngón vào chỉ bản, tờ khai (theo mẫu) hoặc cơ quan Công an thu vân tay 10 ngón qua máy lấy vân tay tự động để in vào chỉ bản và CMND; - Nộp lệ phí cấp CMND. 2. Đổi, cấp lại CMND: a - Đổi CMND. Những công dân đã được cấp CMND mới theo Nghị định số 05/1999/NĐ - CP ngày 3 - 2 - 1999 và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP được đổi lại trong các trường hợp sau: + Quá thời hạn sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp; + CMND rách, nát, không rõ ảnh hoặc một trong các thông tin đã ghi trên CMND; + Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh. Những thay đổi này phải có quyết định của cơ quan có thẩm quyền; + Những người đã được cấp giấy CMND nhưng chuyển nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trường hợp chuyển ĐKHKTT trong phạm vi tỉnh, thành phố mà công dân có yêu cầu thì được đổi lại CMND; + Thay đổi đặc điểm nhận dạng là những trường hợp đã qua phẫu thuật thẩm mỹ chỉnh hình hoặc vì lý do khác đã làm thay đổi hình ảnh hoặc đặc điểm nhận dạng của họ. b - Cấp lại CMND. Đối tượng cấp lại CMND là những công dân đã được cấp CMND theo Nghị định số 05/1999/NĐ - CP ngày 3 - 2 - 1999 và giấy CMND theo Quyết định số 143/CP nhưng bị mất. c - Thủ tục đổi, cấp lại CMND. - Đơn trình bầy rõ lý do đổi CMND hoặc cấp lại, có xác nhận của Công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, ảnh dán vào đơn và đóng dấu giáp lai; - Xuất trình hộ khẩu thường trú (Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể). Ở những địa phương chưa cấp hai loại sổ hộ khẩu trên Công an nơi làm thủ tục cấp CMND căn cứ vào sổ đăng ký hộ khẩu, chứng nhận đăng ký hộ khẩu thường trú của Công an xã, phường, thị trấn; - Đối với những trường hợp thay đổi họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, đổi lại CMND phải xuất trình Quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép thay đổi các nội dung trên đây; - Chụp ảnh (như trường hợp cấp mới); - Kê khai tờ khai cấp chứng minh nhân dân theo mẫu; - Vân tay hai ngón trỏ có thể in vào tờ khai theo mẫu hoặc cơ quan Công an thu vân tay hai ngón qua máy lấy vân tay tự động để in vào tờ khai và CMND; - Nộp lệ phí; - Các trường hợp đổi CMND phải nộp lại giấy CMND theo Quyết định số 143/CP ngày 9 - 8 - 1976 của Hội đồng Chính phủ (nếu có), CMND đã hết hạn sử dụng, hư hỏng hoặc có thay đổi nội dung cho cơ quan công an ngay khi làm thủ tục đổi để lưu chung với hồ sơ. Những trường hợp mất hồ sơ do thất lạc, hoả hoạn, bão lụt và các trường hợp bất khả kháng, cơ quan công an phải thông báo khi công dân đến làm thủ tục cấp đổi, cấp lại CMND thì làm thủ tục cấp mới cho những đối tượng này. 3. Những công dân đã được cấp giấy CMND theo Quyết định số 143/CP được tiếp tục sử dụng và phải đổi lại CMND theo quy định tại Nghị định số 05/1999/NĐ - CP theo kế hoạch thông báo của Bộ Công an. Thủ tục cấp đổi giấy CMND đã cấp theo Quyết định số 143/CP áp dụng như các trường hợp đổi CMND quy định tại điểm c mục 2 phần II Thông tư này nhưng không cần phải làm đơn xin đổi theo quy định. 4. Thủ tục cấp CMND cho Quân đội và Công an nhân dân. a - Đối với những công dân trong biên chế chính thức của Quân đội, Công an nhân dân đang ở tập trung trong doanh trại, nhà tập thể khi làm thủ tục cấp mới, cấp đổi, cấp lại CMND cũng phải làm đầy đủ các thủ tục theo quy định chung. Riêng việc xuất trình hộ khẩu thường trú được thay bằng giấy giới thiệu của cấp có thẩm quyền kèm theo Chứng minh Quân đội, Giấy chứng nhận Công an. b - Thẩm quyền cấp giấy giới thiệu cho công dân là quân nhân và công an nhân dân để làm thủ tục cấp CMND quy định như sau: + Cục trưởng hoặc cấp tương đương (nếu cấp cho người thuộc biên chế của các cơ quan đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an). + Thủ trưởng Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ Tư lệnh. + Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. + Giám đốc học viện, Hiệu trưởng các trường đại học, trung học. + Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Người cấp giấy giới thiệu làm thủ tục cấp CMND phải chịu trách nhiệm cấp đúng đối tượng đã quy định tại điểm a nêu trên. 5. Nơi làm thủ tục cấp CMND. a - Công dân thuộc diện được cấp CMND hiện đăng ký hộ khẩu thường trú thuộc địa phương nào do công an cấp huyện nơi đó làm thủ tục cấp CMND. b - Những công dân đang phục vụ trong Quân đội và Công an nhân dân (trừ số đang thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự) chưa đăng ký hộ khẩu thường trú cùng gia đình hiện đang ở tập trung trong doanh trại quân đội, công an thì do Công an cấp huyện nơi đơn vị đóng trụ sở chính, nhà ở tập thể đó làm thủ tục cấp CMND theo quy định về cấp CMND đối với quân đội và công an. Trường hợp đã đăng ký hộ khẩu thường trú cùng gia đình thì áp dụng như các công dân khác. 6. Thời gian hoàn chỉnh CMND. - Thời hạn hoàn chỉnh trả CMND cho công dân là 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và trong thời hạn 30 ngày (ở các địa bàn khác) tính từ ngày làm xong thủ tục cấp CMND theo quy định tại phần II Thông tư này. III. QUẢN LÝ CMND 1. Sắp xếp, lưu trữ, khai thác, quản lý hồ sơ CMND. Những hồ sơ xin cấp mới, đổi, cấp lại CMND của từng công dân theo Nghị định số 05/1999/NĐ - CP được tổ chức sắp xếp, lưu tại Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để quản lý. 2. Thu hồi, tạm giữ CMND. a - Tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ - CP đã quy định: Công dân bị thu hồi CMND trong các trường hợp đã có quyết định bằng văn bản của cấp có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đã có quyết định cho phép công dân Việt Nam ra định cư ở nước ngoài, thì công dân phải báo cho công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú biết. Công an phường, xã, thị trấn phải báo cáo Công an cấp huyện để thu hồi CMND những trường hợp này, khi thu hồi CMND phải lập biên bản và chuyển về Công an tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương để lưu chung với hồ sơ cấp CMND. b - Công dân bị tạm giữ CMND trong các trường hợp: có hành vi vi phạm hành chính phải tạm giữ CMND để ngăn chặn và bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 5 Điều 41 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: có quyết định tạm giam, quyết định thi hành án phạt tù tại trại giam, quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan thi hành lệnh tạm giam, thi hành án phạt tù, thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc Công an cấp huyện, cấp tỉnh phải tạm giữ CMND của những người này, việc tạm giữ CMND phải ghi vào biên bản lưu chung hồ sơ thực hiện lệnh hoặc các quyết định đó. Công dân được trả lại CMND khi chấp hành xong các biện pháp xử lý nói trên: người có thẩm quyền, cơ quan tạm giữ CMND trả lại CMND cho họ sử dụng, khi trao trả CMND phải lập biên bản cụ thể. 3. Kiểm tra CMND. - Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân và Công an xã trong khi làm nhiệm vụ được quyền kiểm tra CMND của công dân. Việc kiểm tra có thể tổ chức thành từng đợt, kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất theo chỉ đạo của lãnh đạo Công an các cấp. 4. Phân công cấp và quản lý CMND. a - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát giúp Bộ trưởng thống nhất cấp, quản lý CMND trong toàn quốc gồm: - Đề xuất Bộ Công an ban hành, quản lý, hướng dẫn sử dụng các loại biểu mẫu về CMND. - Hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn, kiểm tra, thanh tra về cấp, quản lý CMND; - Tổ chức quản lý và phát hành CMND trắng; - Thống kê về cấp quản lý CMND; - Hợp tác quốc tế những vấn đề có liên quan về cấp, quản lý CMND; - Tổ chức cấp CMND cho một số đối tượng do Bộ Công an quy định và giao hồ sơ cho Công an các địa phương quản lý. b - Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: - Chịu trách nhiệm tổ chức công tác cấp, quản lý CMND tại địa phương mình: - Quản lý hồ sơ những công dân đã được cấp CMND tại địa phương; - Giải quyết khiếu nại tố cáo về CMND; - Thống kê về cấp, quản lý CMND báo cáo về Bộ Công an; - Thanh tra kiểm tra về cấp, quản lý CMND. c - Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: - Tiếp nhận hồ sơ để làm thủ tục cấp CMND cho công dân; - Kiểm tra hồ sơ xin cấp CMND và chuyển hồ sơ về Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Nhận giấy CMND đã hoàn chỉnh trả cho Công an xã, phường, thị trấn. - Tổ chức kiểm tra việc sử dụng CMND của công dân trong phạm vi địa bàn quản lý. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về CMND. d - Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm: - Chịu trách nhiệm nắm số người trong diện cấp CMND tại địa phương; - Phối hợp với Công an huyện, thị làm thủ tục cấp CMND cho công dân; - Nhận CMND từ Công an cấp trên vào sổ theo dõi và trả cho nhân dân; - Tổ chức kiểm tra việc quản lý, sử dụng CMND của công dân trong phạm vi địa bàn quản lý. - Tuyên tryền hướng dẫn công dân, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định về CMND. - Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về CMND. IV. XỬ LÝ VI PHẠM 1. Những trường hợp thuộc đối tượng được cấp CMND đã được thông báo, nhắc nhở nhưng không đến làm thủ tục lấy CMND hoặc khi đi lại không mang theo CMND, vi phạm quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ - CP và hướng dẫn tại Thông tư này sẽ bị xử phạt theo Điều 10 Nghị định số 49/CP ngày 15 - 8 - 1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự. 2. Cán bộ, chiến sĩ Công an làm nhiệm vụ cấp, quản lý CMND có hành vi vi phạm trong việc cấp, quản lý CMND thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại về vật chất sẽ phải bồi thường. V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát có trách nhiệm: a - Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, tập huấn Nghị định số 05/1999/NĐ - CP và Thông tư này; b - Đề xuất phương án đổi lại CMND đã cấp theo Quyết định số 143/CP ngày 9 - 8 - 1976; thông báo kịp thời cho công dân, các cơ quan tổ chức biết thực hiện. c - Chủ trì phối hợp các Tổng cục, đơn vị khác nghiên cứu, triển khai công nghệ cấp chứng minh mới. d - Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các địa phương, thực hiện việc sơ kết đánh giá công tác trong toàn quốc. 2. Các Tổng cục, Bộ tư lệnh, đơn vị trực thuộc Bộ Công an theo chức năng của mình tổ chức triển khai theo Nghị định số 05/1999/NĐ - CP và Thông tư này. 3. Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kế hoạch cụ thể để chỉ đạo Công an các cấp, các lực lượng triển khai nghiêm túc, kịp thời Nghị định số 05/1999/NĐ - CP và Thông tư này. 4. Bộ Công an đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị định 05/1999/NĐ - CP và Thông tư này trong phạm vi địa phương, đơn vị mình. 5. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1999, thay thế Thông tư số 04/TT ngày 9 - 8 - 1976 và Thông tư số 01 ngày 2 - 3 - 1985 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Các quy định và hướng dẫn trước đây của Bộ Công an trái với Thông tư này đều bãi bỏ. 6. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc các địa phương đơn vị cần báo cáo về Bộ (qua Tổng cục Cảnh sát) để có hướng dẫn kịp thời.
Hướng dẫn mẫu dấu, việc khắc, quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam
04/2000/TTLT-BCA-HCCBVN
20/03/2000
Thông tư liên tịch
04/04/2000
Công báo số 18, năm 2000
15/05/2000
Bộ Công an
Thứ trưởng
Lê Thế Tiệm
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn mẫu dấu, việc khắc, quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam _______________________________ Căn cứ Điều 8 Nghị định số 62/CP ngày 22/09/1993 của Chính phủ quy định việc quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Giấy phép thành lập số 528/NC ngày 24/2/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Căn cứ Chỉ thị số 478/TTg ngày 03/07/1997 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước; Căn cứ Thông tư liên tịch số 32-TTLT/TCCP-CCB ngày 30/09/1998 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Thường vụ Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hướng dẫn thi hành Chỉ thị trên; Bộ Công an - Hội Cựu chiến binh Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn mẫu dấu, việc khắc, quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam như sau: I. CÁC CẤP, ĐƠN VỊ THUỘC HỆ THỐNG TỔ CHỨC HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM ĐƯỢC SỬ DỤNG CON DẤU GỒM: 1. Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; 2. Ban chấp hành Hội cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh); 3. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện); 4. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã); 5.. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện; 6. Các cơ quan giúp việc thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam, trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh. II. MẪU CON DẤU 1. Hình thể, kích thước a) Hình thể: Con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam đều hình tròn. b) Kích thước: - Con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam có đường kính 38 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam có đường kính 36 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp huyện, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh có đường kính 34 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp xã, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện có đường kính 32 mm. 2. Đường chỉ Con dấu của Hội Cựu chiến binh các cấp, đơn vị nói trên đều có hai đường chỉ. Đường chỉ ngoài gồm hai đường tròn sát nhau, đường tròn phía ngoài nét đậm, đường tròn phía trong nét nhỏ. Đường chỉ phía trong là một đường tròn nét nhỏ. Khoảng cách giữa đường chỉ ngoài và đường chỉ trong của từng loại con dấu như sau: - Loại con dấu có đường kính từ 36 - 38 mm là 5 mm. - Loại con dấu có đường kính từ 32 - 34 mm là 4 mm 3. Nội dung con dấu a) Con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam: - Xung quanh vành ngoài con dấu khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có một ngôi sao nhỏ ở giữa phía dưới đầu và cuối dòng chữ này; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành Trung ương (phía dưới khắc hình bông lúa và bánh xe răng cưa). (Mẫu số 1) b) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam: - Xung quanh vành ngoài khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có một ngôi sao nhỏ ở giữa phía dưới đầu và cuối dòng chữ này; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành tỉnh Hội hoặc thành Hội kèm tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; hoặc Ban chấp hành Hội kèm theo tên cơ quan, tổ chức (nếu là Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp); hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 2) c) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp huyện, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh: - Vành ngoài phía trên khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có hai ngôi sao nhỏ ở đầu và cuối dòng chữ này; - Vành ngoài phía dưới khắc: Tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành huyện Hội....., quận Hội..... hoặc Ban chấp hành Hội kèm theo tên cơ quan, tổ chức hoặc tên doanh nghiệp, hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 3) d) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp xã, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện: - Vành ngoài phía trên khắc: Hội Cựu chiến binh tỉnh....., thành phố....... trực thuộc Trung ương, có hai ngôi sao nhỏ ở đầu và cuối dòng chữ này; - Vành ngoài phía dưới khắc: quận huyện......, huyện...... thị xã....... thành phố thuộc tỉnh.....; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành Hội xã......, phường....., thị trấn..... hoặc tên cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp; hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 4) III. NGUYÊN TẮC, THỦ TỤC KHẮC DẤU,VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CON DẤU 1. Nguyên tắc a) Các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam chỉ được sử dụng một con dấu theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Trung ương Hội, tỉnh Hội, thành Hội Cựu chiến binh được khắc thêm con dấu thu nhỏ để đóng vào thẻ Hội viên. b) Nghiêm cấm việc đóng dấu khống chỉ (đóng dấu lên các văn bản, giấy tờ khi chưa có chữ ký của cấp có thẩm quyền). Chỉ được phép đóng dấu lên các văn bản, giấy tờ đã có nội dung và phải được cấp có thẩm quyền ký. c) Việc thành lập và cho phép sử dụng con dấu của các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam phải được cấp có thẩm quyền cho phép. Cụ thể là: - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh và tương đương do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam quyết định; - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp huyện và tương đương do Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh quyết định; - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp xã và tương đương do Hội Cựu chiến binh cấp huyện quyết định. 2. Thủ tục khắc dấu a) Trường hợp khắc mới: - Quyết định thành lập và cho phép sử dụng con dấu của cấp có thẩm quyền (xuất trình bản chính, nộp bản sao có công chứng) theo quy định tại điểm c mục 1 nêu trên; - Công văn hoặc giấy giới thiệu đề nghị khắc dấu; - Ý kiến bằng văn bản (hoặc giấy giới thiệu) của Ban Tổ chức Trung ương Đảng (nếu tổ chức đó trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam) hoặc của Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Thành uỷ (nếu tổ chức đó trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện). b) Trường hợp khắc lại: Trường hợp con dấu bị mòn, hỏng, bị mất hoặc thay đổi tên cần khắc đổi lại thì cần có công văn đề nghị nói rõ lý do kèm theo giấy giới thiệu đề nghị khắc lại con dấu. Người đến liên hệ khắc dấu phải xuất trình Chứng minh nhân dân. 3. Quản lý và sử dụng con dấu Việc quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam phải thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 62/CP ngày 22/9/1993 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng con dấu và Thông tư số 32/TTLB ngày 30/12/1993 liên Bộ Nội vụ - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định số 62/CP. Cụ thể là: a) Con dấu khắc xong phải đăng ký lưu chiểu mẫu con dấu tạo cơ quan Công an nơi cấp giấy phép khắc dấu, nộp lại con dấu cũ (nếu có). Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu con dấu các cấp, đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam mới được sử dụng. b) Con dấu trước khi sử dụng phải thông báo bằng văn bản để các cơ quan chức năng biết. c) Con dấu để tại trụ sở của Hội Cựu chiến binh và phải được quản lý chặt chẽ. Trường hợp cần thiết mang con dấu đi công tác phải được cấp có thẩm quyền cho phép. d) Người được giao giữ, bảo quản con dấu của Hội Cựu chiến binh phải là người có trách nhiệm, có trình độ nghiệp vụ văn thư. đ) Khi mất dấu phải kịp thời báo ngay cho cơ quan Công an biết phối hợp giải quyết. e) Các cấp, đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam có trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan Công an, cơ quan có chức năng kiểm tra việc bảo quản, sử dụng con dấu. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an giải quyết thủ tục khắc con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các đơn vị trực thuộc; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết thủ tục khắc con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các đơn vị trực thuộc. 2. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. 3. Văn phòng Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Tổng cục Cảnh sát hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư liên tịch này./. KT. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Lê Thế Tiệm KT. CHỦ TỊCH HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Nguyễn Quốc Thước
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=93080&Keyword=
2025-09-24T02:38:19.975539
../data\bocongan\042000TTLT-BCA-HCCBVN\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn mẫu dấu, việc khắc, quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam _______________________________ Căn cứ Điều 8 Nghị định số 62/CP ngày 22/09/1993 của Chính phủ quy định việc quản lý và sử dụng con dấu; Căn cứ Giấy phép thành lập số 528/NC ngày 24/2/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Căn cứ Chỉ thị số 478/TTg ngày 03/07/1997 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước; Căn cứ Thông tư liên tịch số 32 - TTLT/TCCP - CCB ngày 30/09/1998 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Thường vụ Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hướng dẫn thi hành Chỉ thị trên; Bộ Công an - Hội Cựu chiến binh Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn mẫu dấu, việc khắc, quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam như sau: I. CÁC CẤP, ĐƠN VỊ THUỘC HỆ THỐNG TỔ CHỨC HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM ĐƯỢC SỬ DỤNG CON DẤU GỒM: 1. Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; 2. Ban chấp hành Hội cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh); 3. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện); 4. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã); 5. . Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện; 6. Các cơ quan giúp việc thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam, trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh. II. MẪU CON DẤU 1. Hình thể, kích thước a) Hình thể: Con dấu của các cấp, các đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam đều hình tròn. b) Kích thước: - Con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam có đường kính 38 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam có đường kính 36 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp huyện, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh có đường kính 34 mm. - Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp xã, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện có đường kính 32 mm. 2. Đường chỉ Con dấu của Hội Cựu chiến binh các cấp, đơn vị nói trên đều có hai đường chỉ. Đường chỉ ngoài gồm hai đường tròn sát nhau, đường tròn phía ngoài nét đậm, đường tròn phía trong nét nhỏ. Đường chỉ phía trong là một đường tròn nét nhỏ. Khoảng cách giữa đường chỉ ngoài và đường chỉ trong của từng loại con dấu như sau: - Loại con dấu có đường kính từ 36 - 38 mm là 5 mm. - Loại con dấu có đường kính từ 32 - 34 mm là 4 mm 3. Nội dung con dấu a) Con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam: - Xung quanh vành ngoài con dấu khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có một ngôi sao nhỏ ở giữa phía dưới đầu và cuối dòng chữ này; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành Trung ương (phía dưới khắc hình bông lúa và bánh xe răng cưa). (Mẫu số 1) b) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam: - Xung quanh vành ngoài khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có một ngôi sao nhỏ ở giữa phía dưới đầu và cuối dòng chữ này; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành tỉnh Hội hoặc thành Hội kèm tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; hoặc Ban chấp hành Hội kèm theo tên cơ quan, tổ chức (nếu là Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp); hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 2) c) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp huyện, con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh và các cơ quan giúp việc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh: - Vành ngoài phía trên khắc: Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có hai ngôi sao nhỏ ở đầu và cuối dòng chữ này; - Vành ngoài phía dưới khắc: Tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành huyện Hội. . . , quận Hội. . . hoặc Ban chấp hành Hội kèm theo tên cơ quan, tổ chức hoặc tên doanh nghiệp, hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 3) d) Con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp xã, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện: - Vành ngoài phía trên khắc: Hội Cựu chiến binh tỉnh. . . , thành phố. . . . trực thuộc Trung ương, có hai ngôi sao nhỏ ở đầu và cuối dòng chữ này; - Vành ngoài phía dưới khắc: quận huyện. . . ., huyện. . . . thị xã. . . . thành phố thuộc tỉnh. . . ; - Giữa con dấu khắc: Ban chấp hành Hội xã. . . ., phường. . . , thị trấn. . . hoặc tên cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp; hoặc tên cơ quan giúp việc. (Mẫu số 4) III. NGUYÊN TẮC, THỦ TỤC KHẮC DẤU, VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CON DẤU 1. Nguyên tắc a) Các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam chỉ được sử dụng một con dấu theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Trung ương Hội, tỉnh Hội, thành Hội Cựu chiến binh được khắc thêm con dấu thu nhỏ để đóng vào thẻ Hội viên. b) Nghiêm cấm việc đóng dấu khống chỉ (đóng dấu lên các văn bản, giấy tờ khi chưa có chữ ký của cấp có thẩm quyền). Chỉ được phép đóng dấu lên các văn bản, giấy tờ đã có nội dung và phải được cấp có thẩm quyền ký. c) Việc thành lập và cho phép sử dụng con dấu của các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam phải được cấp có thẩm quyền cho phép. Cụ thể là: - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh và tương đương do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam quyết định; - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp huyện và tương đương do Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh quyết định; - Đối với Hội Cựu chiến binh cấp xã và tương đương do Hội Cựu chiến binh cấp huyện quyết định. 2. Thủ tục khắc dấu a) Trường hợp khắc mới: - Quyết định thành lập và cho phép sử dụng con dấu của cấp có thẩm quyền (xuất trình bản chính, nộp bản sao có công chứng) theo quy định tại điểm c mục 1 nêu trên; - Công văn hoặc giấy giới thiệu đề nghị khắc dấu; - Ý kiến bằng văn bản (hoặc giấy giới thiệu) của Ban Tổ chức Trung ương Đảng (nếu tổ chức đó trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam) hoặc của Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Thành uỷ (nếu tổ chức đó trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh hoặc trực thuộc Hội Cựu chiến binh cấp huyện). b) Trường hợp khắc lại: Trường hợp con dấu bị mòn, hỏng, bị mất hoặc thay đổi tên cần khắc đổi lại thì cần có công văn đề nghị nói rõ lý do kèm theo giấy giới thiệu đề nghị khắc lại con dấu. Người đến liên hệ khắc dấu phải xuất trình Chứng minh nhân dân. 3. Quản lý và sử dụng con dấu Việc quản lý và sử dụng con dấu của các cấp, đơn vị thuộc hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam phải thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 62/CP ngày 22/9/1993 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng con dấu và Thông tư số 32/TTLB ngày 30/12/1993 liên Bộ Nội vụ - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định số 62/CP. Cụ thể là: a) Con dấu khắc xong phải đăng ký lưu chiểu mẫu con dấu tạo cơ quan Công an nơi cấp giấy phép khắc dấu, nộp lại con dấu cũ (nếu có). Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu con dấu các cấp, đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam mới được sử dụng. b) Con dấu trước khi sử dụng phải thông báo bằng văn bản để các cơ quan chức năng biết. c) Con dấu để tại trụ sở của Hội Cựu chiến binh và phải được quản lý chặt chẽ. Trường hợp cần thiết mang con dấu đi công tác phải được cấp có thẩm quyền cho phép. d) Người được giao giữ, bảo quản con dấu của Hội Cựu chiến binh phải là người có trách nhiệm, có trình độ nghiệp vụ văn thư. đ) Khi mất dấu phải kịp thời báo ngay cho cơ quan Công an biết phối hợp giải quyết. e) Các cấp, đơn vị thuộc hệ thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam có trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan Công an, cơ quan có chức năng kiểm tra việc bảo quản, sử dụng con dấu. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an giải quyết thủ tục khắc con dấu của Ban chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các đơn vị trực thuộc; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết thủ tục khắc con dấu của Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các đơn vị trực thuộc. 2. Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. 3. Văn phòng Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Tổng cục Cảnh sát hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư liên tịch này. /. KT. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Lê Thế Tiệm KT. CHỦ TỊCH HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Nguyễn Quốc Thước
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cứ trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
04/2002/TTLT/BCA-BNG
29/01/2002
Thông tư liên tịch
13/02/2002
Công báo số 11 & 12/2002;
22/03/2002
Bộ Công an
Thứ trưởng
Nguyễn Văn Hưởng
Toàn quốc
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Nghị định), Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn như sau: I. VIỆC MỜI, ĐÓN, BẢO LÃNH NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. a) Cơ quan, tổ chức được giao chủ trì đón khách nước ngoài vào Việt Nam theo lời mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi công văn thông báo danh sách và chương trình hoạt động của khách tới Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, đồng gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an; nếu yêu cầu cấp thị thực cho khách tại cửa khẩu quốc tế, thì công văn cần nêu rõ cửa khẩu và thời gian khách nhập cảnh để Cục Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện. Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thông báo cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài được Uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự (sau đây gọi là cơ quan đại diện Việt Nam) cấp thị thực cho khách (nếu thuộc diện phải cấp thị thực). b) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác của nước ngoài được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đặt tại Việt Nam (sau đây gọi là cơ quan đại diện nước ngoài) có nhu cầu thay đổi thành viên hoặc mời người nuộc ngoài vào làm việc với cơ quan đại diện, thì gửi công hàm tới Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh. Công văn cần nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, chức vụ, quốc tịch, số hộ chiếu, mục đích nhập cảnh, thời gian cư trú tại Việt Nam, nơi nhận thị thực của người được mời. Cục Lãnh sự, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh có công văn thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh về việc cơ quan đại diện nước ngoài thay đổi thành viên hoặc mời người vào làm việc. Sau 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được công văn thông báo, nếu Cục Quản lý xuất nhập cảnh không có ý kiến, thì Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thông báo cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho khách. Trường hợp khách có nhu cầu xin cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế, Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh có công văn đề nghị Cục Quản lý xuất nhập cảnh giải quyết. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có công văn trả lời trong thời hạn 2 ngày làm việc. c) Thành viên cơ quan đại diện nước ngoài có nhu cầu mời khách vào thăm, cơ quan đại diện mà người đó là thành viên làm thủ tục theo quy định tại điểm 1b Mục này. d) Cơ quan, tổ chức đề nghị thông báo cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho khách phải thanh toán với Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh cước phí theo biểu giá của ngành bưu điện. 2. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. a) Các cơ quan, tổ chức có nhu cầu mời người nước ngoài vào Việt Nam không thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao quy định tại điểm 1 Mục này, gửi công văn đề nghị tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh; nếu đề nghị cấp thị thực cho khách tại cửa khẩu quốc tế, thì công văn cần nêu rõ cửa khẩu và thời gian khách nhập cảnh, lý do đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu. Các tổ chức quy định tại các điểm d, đ, g, h khoản 1 Điều 4 của Nghị định, trước khi làm thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh phải nộp hồ sơ chứng minh tư cách pháp nhân tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Hồ sơ gồm: - Giấy phép hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc thành lập tổ chức; Văn bản đăng ký hoạt động của tổ chức, có xác nhận đồng ý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức đặt trụ sở; - Văn bản giới thiệu con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền của tổ chức. Việc nộp hồ sơ nêu trên chỉ thực hiện một lần. Khi có sự thay đổi nội dung trong hồ sơ, thì tổ chức đó có văn bản thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh để bổ sung hồ sơ. b) Cá nhân có nhu cầu mời người nước ngoài vào thăm, nộp đơn tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Đơn phải có xác nhận theo quy định sau đây: - Nếu người mời là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, thì đơn phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã nơi cư trú. - Nếu người mời là người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam từ 6 tháng trở lên, thì đơn phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. c) Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thời hạn.5 ngày làm việc kể từ khi nhận được công văn hoặc đơn đề nghị trường hợp phát hiện người nước ngoài thuộc diện chưa được nhập cảnh Việt Nam, thì nêu rõ tại văn bản trả lời để cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh biết. d) Việc thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho người nước ngoài (trừ các trường hợp được miễn thị thực, nhận thị thực tại cửa khẩu) do Cục Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị thông báo phải thanh toán với Cục Quản lý xuất nhập cảnh cước phí theo biểu giá của ngành bưu điện. II. VIỆC CẤP, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI THỊ THỰC TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM 1. Việc cấp thị thực. a) Người nước ngoài xin thị thực nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam 1 đơn (theo mẫu quy định) kèm hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (sau đây gọi chung là hộ chiếu). Thời hạn giá trị còn lại của hộ chiếu phải dài hơn ít nhất 1 tháng so với thời hạn giá trị của thị thực xin cấp. Nếu xin cấp thị thực rời thì trong đơn nêu rõ lý do, mục đích xin cấp thị thực rời. Người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu về thăm thân nhân mà không có hộ chiếu, nếu mang giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp có giá trị xuất, nhập cảnh và mẫu giấy tờ đó đã được thông báo chính thức cho Việt Nam qua đường ngoại giao, cũng làm thủ tục theo quy định tại điểm này. b) Cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực như sau: - Đối với người không có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam mời đón, thì xét cấp thị thực một lần, thời hạn 15 ngày. Việc xét cấp thị thực được thực hiện trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu. - Đối với người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài có nhu cầu về thăm thân nhân, nếu có bằng chứng đã nhập cảnh Việt Nam lần trước cách thời điểm xin nhập cảnh thông quá 36 tháng, thì cơ quan đại diện Việt Nam xét cấp thị thực có giá trị một lần không quá 3 tháng. Việc xét cấp thị thực được thực hiện trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu. - Đối với người đã có thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh về việc cho nhập cảnh, thì trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu của khách, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực theo nội dung đã được thông báo. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam phát hiện người xin thị thực có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc có hoạt động phương hại đến an ninh quốc gia mà cơ quan chức năng ở trong nước chưa phát hiện được, thì người đứng đầu cơ quan đại diện cần kịp thời trao đổi lại với cơ quan đã thông báo cấp thị thực để xem xét, quyết định. c) Đối với người Việt Nam ở nước ngoài không có hộ chiếu, mang giấy tờ nêu tại điểm 1a Mục này, nếu được chấp thuận nhập cảnh, thì cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực rời. 2. Việc sửa đổi thị thực, chuyển thị thực sang hộ chiếu mới. a) Đối với trường hợp đề nghị sửa đổi thị thực đã cấp do bị lỗi kỹ thuật, cơ quan đại diện giải quyết ngay trong ngày làm việc. b) Đối với trường hợp đề nghị chuyển thị thực còn giá trị sử dụng từ hộ chiếu cũ sang hộ chiếu mới, cơ quan đại diện Việt Nam thực hiện như sau: - Nếu thị thực do cơ quan đại diện Việt Nam cấp thì đối chiếu với hồ sơ cấp thị thực để giải quyết; - Nếu thị thực do cơ quan chức năng khác của Việt Nam cấp, cơ quan đại diện trao đổi với cơ quan chức năng đó để giải quyết. Việc giải quyết chuyển thị thực được thực hiện trong thời hạn 2 ngày làm việc. Đối với trường hợp được chấp thuận, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực vào hộ chiếu mới của khách với thời hạn giá trị, số lần nhập cảnh và ký hiệu như thị thực đã cấp ở hộ chiếu cũ. c) Đối với trường hợp đề nghị sửa đổi loại thị thực (số lần nhập cảnh), thời hạn thị thực hoặc mục đích nhập cảnh, thì thủ tục và trình tự giải quyết như đối với trường hợp xin thị thực nhập cảnh nêu tại Mục I Thông tư này. Người đề nghị sửa đổi thị thực nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam 1 đơn theo mẫu quy định. Đối với trường hợp được chấp thuận, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực mới phù hợp với nội dung được chấp thuận. III. VIỆC CẤP CHỨNG NHẬN TẠM TRÚ TẠI CỬA KHẨU QUỐC TẾ VÀ VIỆC KHAI BÁO TẠM TRÚ 1. Việc cấp chứng nhận tạm trú. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài tại cửa khẩu quốc tế như sau: a) Đối với người mang thị thực, thì cấp chứng nhận tạm trú đến hết thời hạn của thị thực. Nếu ở thời điểm người đó nhập cảnh mà thời hạn của thị thực còn giá trị không quá 15 ngày, thì cấp chứng nhận tạm trú 15 ngày kể từ ngày nhập cảnh. b) Đối với người được miễn thị thực: - Đối với người được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, thì cấp chứng nhận tạm trú theo thời hạn quy định tại điều ước quốc tế đó. Nếu tại điều ước quốc tế không quy định thời hạn tạm trú, thì cấp chứng nhận tạm trú 90 ngày. - Đối với quan chức, viên chức Ban thư ký ASEAN, thì cấp chứng nhận tạm trú 30 ngày. c) Đối với người nước ngoài mang thẻ tạm trú, thẻ thường trú còn giá trị sử dụng, thì không cấp chứng nhận tạm trú. 2. Việc khai báo tạm trú. a) Thủ tục khai báo tạm trú của người nước ngoài với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh gồm: - Xuất trình hộ chiếu, tờ khai nhập xuất cảnh, chứng nhận tạm trú và thi thực (nếu thuộc diện phải có thị thực); - Khai vào phiếu khai báo tạm trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản ]ý xuất nhập cảnh ban hành. b) Người nước ngoài nghỉ qua đêm tại khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ của tổ chức, cá nhân, khu nhà ở dành riêng cho người nước ngoài (sau đây gọi là cơ sở có người nước ngoài tạm trú) thực hiện việc khai báo tạm trú thông qua chủ cơ sở đó. Chủ cơ sở có người nước ngoài tạm trú có trách nhiệm: - Hướng dẫn người nước ngoài làm thủ tục khai báo tạm trú nêu tại điểm 2a trên đây. - Lập danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú và nộp tại công an phường, xã sở tại. Đối với cơ sở có người nước ngoài tạm trú đã nối mạng máy tính với Phòng Quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Phòng Quản lý xuất nhập cảnh), thì truyền ngay nội dung khai báo tạm trú của người nước ngoài về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh và thông báo số lượng người nước ngoài tạm trú cho công an phường, xã sở tại biết. Mẫu danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành. - Lưu giữ phiếu khai báo tạm trú và danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú tại cơ sở của mình để xuất trình với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh khi có yêu cầu. Thời gian lưu giữ phiếu khai báo tạm trú và danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú ít nhất 6 tháng. c) Người nước ngoài nghỉ qua đêm tại nhà riêng của thân nhân, phải trực tiếp hoặc thông qua chủ nhà thực hiện việc khai báo tạm trú tại công an phường, xã sở tại. d) Những quy định tại điểm 2 Mục này không áp dụng đối với việc nghỉ qua đêm tại trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài hoặc nhà riêng của thành viên cơ quan đại diện nước ngoài. IV. VIỆC CẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI CÁC LOẠI GIẤY TỜ CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ĐANG TẠM TRÚ TẠI VIỆT NAM 1. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. a) Người nước ngoài là khách mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ; khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi; khách vào làm việc với cơ quan đại diện nước ngoài hoặc vào thăm thành viên cơ quan đại diện có nhu cầu xin cấp, bổ sung, sủa đổi thị thực, cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, thì cơ quan đón tiếp thực hiện như sau: - Nếu khách có nhu cầu cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, thì gửi văn bản đề nghị tới Vụ Lễ tân - Bộ Ngoại giao hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền. - Nếu khách có nhu cầu cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực, thì gửi văn bản đề nghị tới Cục lãnh sự hoặc Sở Ngoài vụ thành phố Hồ Chí Minh. Việc xem xét, giải quyết các đề nghị nói trên được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc. b) Thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi được Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền cấp thẻ tạm trú. Cơ quan đại diện nước ngoài gửi công hàm đề nghị cấp thẻ tạm trú tới một trong các cơ quan nói trên kèm theo tờ khai có ảnh của người đề nghị cấp thẻ. Sau khi cấp thẻ tạm trú, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan cấp thẻ lập danh sách với các chi tiết thân nhân kèm ảnh của người được cấp thẻ và gửi cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh. c) Trường hợp người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam xin chuyển đổi mục đích tạm trú để làm việc với cương vị là thành viên cơ quan đại diện nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài gửi công hàm kèm theo đơn và hộ chiếu của người đó tới Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền. Công hàm cần nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, số hộ chiếu, nghề nghiệp, địa chỉ và mục đích tạm trú của người xin chuyển đổi mục đích tạm trú. Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền có văn bản trao đổi với Cục Quản lý xuất nhập cảnh để thống nhất cách giải quyết. Đối với người được chấp thuận chuyển đổi mục đích, Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền cấp thẻ tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. 2. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. a) Người nước ngoài xin cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực phải thông qua cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh để làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh người nước ngoài gửi văn bản đề nghị kèm theo hộ chiếu của khách tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. Trường hợp người nước ngoài xin cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú để giải quyết việc riêng của cá nhân người đó, thì có thể trực tiếp nộp đơn tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. b) Người nước ngoài xin chuyển đổi mục đích tạm trú tại Việt Nam phải thông qua cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo lãnh để làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo lãnh việc chuyển đổi mục đích của người nước ngoài gửi văn bản đề nghị kèm theo hộ chiếu của khách tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. Việc xem xét, giải quyết yêu cầu nêu trên được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc. Đối với người nước ngoài được chấp thuận chuyển đổi mục đích tạm trú, Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. c) Trường hợp người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam xin chuyển đổi mục đích để làm thuê cho cơ quan đại diện nước ngoài (trừ trường hợp làm thành viên của cơ quan đại diện), cơ quan đại diện nước ngoài có công hàm kèm theo hộ chiếu của người đó gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh, nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, số hộ chiếu của khách, mục đích và địa chỉ đang tạm trú tại Việt Nam, lý do xin chuyển đổi mục đích. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có công văn gửi Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh để thống nhất giải quyết. Đối với người nước ngoài được chấp thuận chuyển đổi mục đích tạm trú, Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. d) Người không quốc tịch nếu được cấp thẻ tạm trú, thì được dùng thẻ này để xuất, nhập cảnh Việt Nam. V. KÝ HIỆU CỦA THỊ THỰC VÀ THẺ TẠM TRÚ 1. Thị thực có các ký hiệu sau đây: A1: Cấp cho thành viên chính thức các đoàn khách mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thân nhân, người giúp việc cùng đi. A2: Cấp cho thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi. A3: Cấp cho người vào làm việc với cơ quan đại diện nước ngoài hoặc vào thăm thành viên cơ quan đại diện nước ngoài. B1: Cấp cho người vào làm việc với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan Trung ương cua các tổ chức nhân dân, đoàn thể quần chúng. B2: Cấp cho người vào thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép. B3: Cấp cho người vào làm việc với các doanh nghiệp của Việt Nam. B4: Cấp cho người vào làm việc tại văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài; tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Việt Nam. C1: Cấp cho người vào Việt Nam du lịch. C2: Cấp cho người vào việt Nam với mục đích khác. D: Cấp cho người vào Việt Nam không có cơ quan, tổ chức, cá nhận mời đón. Thị thực ký hiệu có giá trị 15 ngày; thị thực ký hiệu khác có giá trị từ 30 ngày trở lên. 2. Thẻ tạm trú có các ký hiệu sau dây: A: Cấp cho thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi. B1: Cấp cho người nước ngoài làm việc với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan Trung ương của các tổ chức nhân dân, đoàn thể quần chúng. B2: Cấp cho người nước ngoài làm việc tại dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép. B3: Cấp cho người nước ngoài làm việc với doanh nghiệp của Việt Nam. B4: Cấp cho người nước ngoài thuộc biên chế của văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài; tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Việt Nam. C: Cấp cho người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam với mục đích khác. VI. VIỆC GIẢI QUYẾT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THƯỜNG TRÚ 1. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định xin thường trú tại Việt Nam, phải nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Hồ sơ gồm: - 2 đơn xin thường trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành, kèm theo 4 ảnh; - 2 bản tự khai lý lịch; - 2 bản chụp hộ chiếu; - Các giấy tờ, tài liệu liên quan (nếu có): Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Bộ Công an có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú biết quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nếu được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, thì thông báo công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đó xin thường trú để chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện việc cấp thẻ thường trú; 2. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 13 của Nghị định xin thường trú tại Việt Nam, phải nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi người đó xin thường trú. Hồ sơ gồm: - 2 đơn xin thường trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành, kèm theo 4 ảnh; - 2 bản lý lịch tư pháp có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân hoặc của nước mà người đó có nơi thường trú; - Công hàm của cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân đề nghị giải quyết cho người đó được thường trú tại Việt Nam; - Giấy tờ chứng minh là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam; - 2 bản chụp hộ chiếu; - Các giấy tờ, tài liệu liên quan (nếu có). Các giấy tờ nêu tại điểm này (trừ đơn xin thường trú, công hàm, hộ chiếu) phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng hoặc hợp pháp hóa theo quy định. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Cục Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thẩm tra, xác minh và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định. Trường hợp xét thấy cần phải thẩm tra bổ sung, thì thời gian có thể được kéo dài thêm nhưng không quá 3 tháng. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú biết quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an; nếu được Bộ trưởng Bộ Công an chấp thuận, thì thông báo công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đó xin thường trú để chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện việc cấp thẻ thường trú. VII. VIỆC CẤP THẺ THƯỜNG TRÚ 1. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) cấp thẻ thường trú trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Thẻ thường trú được cấp riêng cho từng người, kể cả người dưới 14 tuổi. Mẫu thẻ thường trú do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành. Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, người nước ngoài được chấp thuận cho thường trú tại Việt Nam phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để nhận thẻ thường trú. Quá thời hạn nói trên, người được chấp thuận cho thường trú không đến nhận thẻ mà không có lý do chính đáng, thì thẻ thường trú mặc nhiên hết giá trị. 2. Người nước ngoài đã được cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp giấy chứng nhận thường trú trước thời điểm ban hành Thông tư này, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ban hành Thông tư, phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để đổi thẻ thường trú. 3. Định kỳ 3 năm một lần, người được cấp thẻ thường trú phải mang theo thẻ đến trình diện tại cơ quan cấp thẻ để được đổi thẻ mới. Nếu không trình diện theo quy định, thì có thể bị thu hồi thẻ thường trú. 4. Trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú người thường trú phải nộp đơn tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) có trách nhiệm báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, quyết định. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời. Đối với trường hợp được chấp thuận thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) thực hiện việc cấp thẻ mới trong thời gian không quá 5 ngày làm việc. 5. Người không quốc tịch nếu được cấp thẻ thường trú, thì được sử dụng thẻ này để xuất, nhập cảnh Việt Nam. VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm: - Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, đón, bảo lãnh người nước ngoài vào Việt Nam và người nước ngoài thực hiện Thông tư này. - Ban hành văn bản hướng dẫn lực lượng kiểm soát nhập xuất cảnh ở cửa khẩu quốc tế và công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; ban hành quy trình, biểu mẫu giải quyết việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. - Kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng của Bộ Ngoại giao những vấn đề về an ninh quốc gia có liên quan và những vi phạm pháp luật Việt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự để xử lý về mặt ngoại giao. - Quản lý và cung cấp kịp thời ấn phẩm trắng thị thực cho Cục Lãnh sự, theo kế hoạch đã được dự trù trước. 2. Giám đốc công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ đặc điểm của địa phương, quy định cụ thể việc chuyển danh sách tạm trú của người nước ngoài từ công an phường, xã về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh bằng biện pháp nhanh nhất. 3. Cục Lãnh sự có trách nhiệm: - Hướng dẫn cơ quan đại diện Việt Nam, cơ quan đại diện nước ngoài và cơ quan liên quan thực hiện Thông tư này. - Ban hành quy trình, biểu mẫu giải quyết việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. - Định kỳ hàng quý thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh tình hình nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao để tổng hợp báo cáo Chính phủ. 4. Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh chủ trì, phối hợp với Cục trưởng Cục Lãnh sự thống nhất ban hành các loại mẫu giấy tờ sau: a) Đơn xin thị thực; b) Mẫu thị thực; c) Mẫu thẻ tạm trú. 5. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện Thông tư này. 6. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Những quy định, hướng dẫn liên tịch trước đây của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trái với Thông tư này đều bãi bỏ./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=21887&Keyword=
2025-09-24T02:37:57.444667
../data\bocongan\042002TTLTBCA-BNG\document.json
null
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ - CP ngày 28 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Nghị định), Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn như sau: I. VIỆC MỜI, ĐÓN, BẢO LÃNH NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. a) Cơ quan, tổ chức được giao chủ trì đón khách nước ngoài vào Việt Nam theo lời mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi công văn thông báo danh sách và chương trình hoạt động của khách tới Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, đồng gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an; nếu yêu cầu cấp thị thực cho khách tại cửa khẩu quốc tế, thì công văn cần nêu rõ cửa khẩu và thời gian khách nhập cảnh để Cục Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện. Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thông báo cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài được Uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự (sau đây gọi là cơ quan đại diện Việt Nam) cấp thị thực cho khách (nếu thuộc diện phải cấp thị thực). b) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác của nước ngoài được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đặt tại Việt Nam (sau đây gọi là cơ quan đại diện nước ngoài) có nhu cầu thay đổi thành viên hoặc mời người nuộc ngoài vào làm việc với cơ quan đại diện, thì gửi công hàm tới Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh. Công văn cần nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, chức vụ, quốc tịch, số hộ chiếu, mục đích nhập cảnh, thời gian cư trú tại Việt Nam, nơi nhận thị thực của người được mời. Cục Lãnh sự, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh có công văn thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh về việc cơ quan đại diện nước ngoài thay đổi thành viên hoặc mời người vào làm việc. Sau 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được công văn thông báo, nếu Cục Quản lý xuất nhập cảnh không có ý kiến, thì Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thông báo cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho khách. Trường hợp khách có nhu cầu xin cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế, Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh có công văn đề nghị Cục Quản lý xuất nhập cảnh giải quyết. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có công văn trả lời trong thời hạn 2 ngày làm việc. c) Thành viên cơ quan đại diện nước ngoài có nhu cầu mời khách vào thăm, cơ quan đại diện mà người đó là thành viên làm thủ tục theo quy định tại điểm 1b Mục này. d) Cơ quan, tổ chức đề nghị thông báo cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho khách phải thanh toán với Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh cước phí theo biểu giá của ngành bưu điện. 2. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. a) Các cơ quan, tổ chức có nhu cầu mời người nước ngoài vào Việt Nam không thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao quy định tại điểm 1 Mục này, gửi công văn đề nghị tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh; nếu đề nghị cấp thị thực cho khách tại cửa khẩu quốc tế, thì công văn cần nêu rõ cửa khẩu và thời gian khách nhập cảnh, lý do đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu. Các tổ chức quy định tại các điểm d, đ, g, h khoản 1 Điều 4 của Nghị định, trước khi làm thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh phải nộp hồ sơ chứng minh tư cách pháp nhân tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Hồ sơ gồm: - Giấy phép hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc thành lập tổ chức; Văn bản đăng ký hoạt động của tổ chức, có xác nhận đồng ý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức đặt trụ sở; - Văn bản giới thiệu con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền của tổ chức. Việc nộp hồ sơ nêu trên chỉ thực hiện một lần. Khi có sự thay đổi nội dung trong hồ sơ, thì tổ chức đó có văn bản thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh để bổ sung hồ sơ. b) Cá nhân có nhu cầu mời người nước ngoài vào thăm, nộp đơn tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Đơn phải có xác nhận theo quy định sau đây: - Nếu người mời là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, thì đơn phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường, xã nơi cư trú. - Nếu người mời là người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam từ 6 tháng trở lên, thì đơn phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. c) Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thời hạn. 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được công văn hoặc đơn đề nghị trường hợp phát hiện người nước ngoài thuộc diện chưa được nhập cảnh Việt Nam, thì nêu rõ tại văn bản trả lời để cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh biết. d) Việc thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực cho người nước ngoài (trừ các trường hợp được miễn thị thực, nhận thị thực tại cửa khẩu) do Cục Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị thông báo phải thanh toán với Cục Quản lý xuất nhập cảnh cước phí theo biểu giá của ngành bưu điện. II. VIỆC CẤP, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI THỊ THỰC TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM 1. Việc cấp thị thực. a) Người nước ngoài xin thị thực nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam 1 đơn (theo mẫu quy định) kèm hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (sau đây gọi chung là hộ chiếu). Thời hạn giá trị còn lại của hộ chiếu phải dài hơn ít nhất 1 tháng so với thời hạn giá trị của thị thực xin cấp. Nếu xin cấp thị thực rời thì trong đơn nêu rõ lý do, mục đích xin cấp thị thực rời. Người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu về thăm thân nhân mà không có hộ chiếu, nếu mang giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp có giá trị xuất, nhập cảnh và mẫu giấy tờ đó đã được thông báo chính thức cho Việt Nam qua đường ngoại giao, cũng làm thủ tục theo quy định tại điểm này. b) Cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực như sau: - Đối với người không có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam mời đón, thì xét cấp thị thực một lần, thời hạn 15 ngày. Việc xét cấp thị thực được thực hiện trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu. - Đối với người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài có nhu cầu về thăm thân nhân, nếu có bằng chứng đã nhập cảnh Việt Nam lần trước cách thời điểm xin nhập cảnh thông quá 36 tháng, thì cơ quan đại diện Việt Nam xét cấp thị thực có giá trị một lần không quá 3 tháng. Việc xét cấp thị thực được thực hiện trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu. - Đối với người đã có thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh về việc cho nhập cảnh, thì trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hộ chiếu của khách, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực theo nội dung đã được thông báo. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam phát hiện người xin thị thực có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc có hoạt động phương hại đến an ninh quốc gia mà cơ quan chức năng ở trong nước chưa phát hiện được, thì người đứng đầu cơ quan đại diện cần kịp thời trao đổi lại với cơ quan đã thông báo cấp thị thực để xem xét, quyết định. c) Đối với người Việt Nam ở nước ngoài không có hộ chiếu, mang giấy tờ nêu tại điểm 1a Mục này, nếu được chấp thuận nhập cảnh, thì cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực rời. 2. Việc sửa đổi thị thực, chuyển thị thực sang hộ chiếu mới. a) Đối với trường hợp đề nghị sửa đổi thị thực đã cấp do bị lỗi kỹ thuật, cơ quan đại diện giải quyết ngay trong ngày làm việc. b) Đối với trường hợp đề nghị chuyển thị thực còn giá trị sử dụng từ hộ chiếu cũ sang hộ chiếu mới, cơ quan đại diện Việt Nam thực hiện như sau: - Nếu thị thực do cơ quan đại diện Việt Nam cấp thì đối chiếu với hồ sơ cấp thị thực để giải quyết; - Nếu thị thực do cơ quan chức năng khác của Việt Nam cấp, cơ quan đại diện trao đổi với cơ quan chức năng đó để giải quyết. Việc giải quyết chuyển thị thực được thực hiện trong thời hạn 2 ngày làm việc. Đối với trường hợp được chấp thuận, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực vào hộ chiếu mới của khách với thời hạn giá trị, số lần nhập cảnh và ký hiệu như thị thực đã cấp ở hộ chiếu cũ. c) Đối với trường hợp đề nghị sửa đổi loại thị thực (số lần nhập cảnh), thời hạn thị thực hoặc mục đích nhập cảnh, thì thủ tục và trình tự giải quyết như đối với trường hợp xin thị thực nhập cảnh nêu tại Mục I Thông tư này. Người đề nghị sửa đổi thị thực nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam 1 đơn theo mẫu quy định. Đối với trường hợp được chấp thuận, cơ quan đại diện Việt Nam cấp thị thực mới phù hợp với nội dung được chấp thuận. III. VIỆC CẤP CHỨNG NHẬN TẠM TRÚ TẠI CỬA KHẨU QUỐC TẾ VÀ VIỆC KHAI BÁO TẠM TRÚ 1. Việc cấp chứng nhận tạm trú. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài tại cửa khẩu quốc tế như sau: a) Đối với người mang thị thực, thì cấp chứng nhận tạm trú đến hết thời hạn của thị thực. Nếu ở thời điểm người đó nhập cảnh mà thời hạn của thị thực còn giá trị không quá 15 ngày, thì cấp chứng nhận tạm trú 15 ngày kể từ ngày nhập cảnh. b) Đối với người được miễn thị thực: - Đối với người được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, thì cấp chứng nhận tạm trú theo thời hạn quy định tại điều ước quốc tế đó. Nếu tại điều ước quốc tế không quy định thời hạn tạm trú, thì cấp chứng nhận tạm trú 90 ngày. - Đối với quan chức, viên chức Ban thư ký ASEAN, thì cấp chứng nhận tạm trú 30 ngày. c) Đối với người nước ngoài mang thẻ tạm trú, thẻ thường trú còn giá trị sử dụng, thì không cấp chứng nhận tạm trú. 2. Việc khai báo tạm trú. a) Thủ tục khai báo tạm trú của người nước ngoài với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh gồm: - Xuất trình hộ chiếu, tờ khai nhập xuất cảnh, chứng nhận tạm trú và thi thực (nếu thuộc diện phải có thị thực); - Khai vào phiếu khai báo tạm trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản ]ý xuất nhập cảnh ban hành. b) Người nước ngoài nghỉ qua đêm tại khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ của tổ chức, cá nhân, khu nhà ở dành riêng cho người nước ngoài (sau đây gọi là cơ sở có người nước ngoài tạm trú) thực hiện việc khai báo tạm trú thông qua chủ cơ sở đó. Chủ cơ sở có người nước ngoài tạm trú có trách nhiệm: - Hướng dẫn người nước ngoài làm thủ tục khai báo tạm trú nêu tại điểm 2a trên đây. - Lập danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú và nộp tại công an phường, xã sở tại. Đối với cơ sở có người nước ngoài tạm trú đã nối mạng máy tính với Phòng Quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Phòng Quản lý xuất nhập cảnh), thì truyền ngay nội dung khai báo tạm trú của người nước ngoài về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh và thông báo số lượng người nước ngoài tạm trú cho công an phường, xã sở tại biết. Mẫu danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành. - Lưu giữ phiếu khai báo tạm trú và danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú tại cơ sở của mình để xuất trình với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh khi có yêu cầu. Thời gian lưu giữ phiếu khai báo tạm trú và danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú ít nhất 6 tháng. c) Người nước ngoài nghỉ qua đêm tại nhà riêng của thân nhân, phải trực tiếp hoặc thông qua chủ nhà thực hiện việc khai báo tạm trú tại công an phường, xã sở tại. d) Những quy định tại điểm 2 Mục này không áp dụng đối với việc nghỉ qua đêm tại trụ sở cơ quan đại diện nước ngoài hoặc nhà riêng của thành viên cơ quan đại diện nước ngoài. IV. VIỆC CẤP, GIA HẠN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI CÁC LOẠI GIẤY TỜ CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI ĐANG TẠM TRÚ TẠI VIỆT NAM 1. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. a) Người nước ngoài là khách mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ; khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi; khách vào làm việc với cơ quan đại diện nước ngoài hoặc vào thăm thành viên cơ quan đại diện có nhu cầu xin cấp, bổ sung, sủa đổi thị thực, cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, thì cơ quan đón tiếp thực hiện như sau: - Nếu khách có nhu cầu cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, thì gửi văn bản đề nghị tới Vụ Lễ tân - Bộ Ngoại giao hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền. - Nếu khách có nhu cầu cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực, thì gửi văn bản đề nghị tới Cục lãnh sự hoặc Sở Ngoài vụ thành phố Hồ Chí Minh. Việc xem xét, giải quyết các đề nghị nói trên được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc. b) Thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi được Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền cấp thẻ tạm trú. Cơ quan đại diện nước ngoài gửi công hàm đề nghị cấp thẻ tạm trú tới một trong các cơ quan nói trên kèm theo tờ khai có ảnh của người đề nghị cấp thẻ. Sau khi cấp thẻ tạm trú, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan cấp thẻ lập danh sách với các chi tiết thân nhân kèm ảnh của người được cấp thẻ và gửi cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh. c) Trường hợp người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam xin chuyển đổi mục đích tạm trú để làm việc với cương vị là thành viên cơ quan đại diện nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài gửi công hàm kèm theo đơn và hộ chiếu của người đó tới Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền. Công hàm cần nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, số hộ chiếu, nghề nghiệp, địa chỉ và mục đích tạm trú của người xin chuyển đổi mục đích tạm trú. Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền có văn bản trao đổi với Cục Quản lý xuất nhập cảnh để thống nhất cách giải quyết. Đối với người được chấp thuận chuyển đổi mục đích, Vụ Lễ tân, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh hoặc cơ quan khác được Bộ Ngoại giao ủy quyền cấp thẻ tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. 2. Đối với người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. a) Người nước ngoài xin cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú, cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực phải thông qua cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh để làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh người nước ngoài gửi văn bản đề nghị kèm theo hộ chiếu của khách tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. Trường hợp người nước ngoài xin cấp, gia hạn chứng nhận tạm trú để giải quyết việc riêng của cá nhân người đó, thì có thể trực tiếp nộp đơn tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. b) Người nước ngoài xin chuyển đổi mục đích tạm trú tại Việt Nam phải thông qua cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo lãnh để làm thủ tục với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo lãnh việc chuyển đổi mục đích của người nước ngoài gửi văn bản đề nghị kèm theo hộ chiếu của khách tới Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh. Việc xem xét, giải quyết yêu cầu nêu trên được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc. Đối với người nước ngoài được chấp thuận chuyển đổi mục đích tạm trú, Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. c) Trường hợp người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam xin chuyển đổi mục đích để làm thuê cho cơ quan đại diện nước ngoài (trừ trường hợp làm thành viên của cơ quan đại diện), cơ quan đại diện nước ngoài có công hàm kèm theo hộ chiếu của người đó gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh, nêu rõ: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, số hộ chiếu của khách, mục đích và địa chỉ đang tạm trú tại Việt Nam, lý do xin chuyển đổi mục đích. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có công văn gửi Vụ Lễ tân hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh để thống nhất giải quyết. Đối với người nước ngoài được chấp thuận chuyển đổi mục đích tạm trú, Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú phù hợp với mục đích chuyển đổi. d) Người không quốc tịch nếu được cấp thẻ tạm trú, thì được dùng thẻ này để xuất, nhập cảnh Việt Nam. V. KÝ HIỆU CỦA THỊ THỰC VÀ THẺ TẠM TRÚ 1. Thị thực có các ký hiệu sau đây: A1: Cấp cho thành viên chính thức các đoàn khách mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và khách mời cấp tương đương của các vị có hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thân nhân, người giúp việc cùng đi. A2: Cấp cho thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi. A3: Cấp cho người vào làm việc với cơ quan đại diện nước ngoài hoặc vào thăm thành viên cơ quan đại diện nước ngoài. B1: Cấp cho người vào làm việc với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan Trung ương cua các tổ chức nhân dân, đoàn thể quần chúng. B2: Cấp cho người vào thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép. B3: Cấp cho người vào làm việc với các doanh nghiệp của Việt Nam. B4: Cấp cho người vào làm việc tại văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài; tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Việt Nam. C1: Cấp cho người vào Việt Nam du lịch. C2: Cấp cho người vào việt Nam với mục đích khác. D: Cấp cho người vào Việt Nam không có cơ quan, tổ chức, cá nhận mời đón. Thị thực ký hiệu có giá trị 15 ngày; thị thực ký hiệu khác có giá trị từ 30 ngày trở lên. 2. Thẻ tạm trú có các ký hiệu sau dây: A: Cấp cho thành viên cơ quan đại diện nước ngoài và thân nhân, người giúp việc cùng đi. B1: Cấp cho người nước ngoài làm việc với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan Trung ương của các tổ chức nhân dân, đoàn thể quần chúng. B2: Cấp cho người nước ngoài làm việc tại dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép. B3: Cấp cho người nước ngoài làm việc với doanh nghiệp của Việt Nam. B4: Cấp cho người nước ngoài thuộc biên chế của văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài; tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Việt Nam. C: Cấp cho người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam với mục đích khác. VI. VIỆC GIẢI QUYẾT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THƯỜNG TRÚ 1. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định xin thường trú tại Việt Nam, phải nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Hồ sơ gồm: - 2 đơn xin thường trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành, kèm theo 4 ảnh; - 2 bản tự khai lý lịch; - 2 bản chụp hộ chiếu; - Các giấy tờ, tài liệu liên quan (nếu có): Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Bộ Công an có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú biết quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nếu được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, thì thông báo công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đó xin thường trú để chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện việc cấp thẻ thường trú; 2. Người nước ngoài thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 13 của Nghị định xin thường trú tại Việt Nam, phải nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi người đó xin thường trú. Hồ sơ gồm: - 2 đơn xin thường trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành, kèm theo 4 ảnh; - 2 bản lý lịch tư pháp có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân hoặc của nước mà người đó có nơi thường trú; - Công hàm của cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân đề nghị giải quyết cho người đó được thường trú tại Việt Nam; - Giấy tờ chứng minh là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam; - 2 bản chụp hộ chiếu; - Các giấy tờ, tài liệu liên quan (nếu có). Các giấy tờ nêu tại điểm này (trừ đơn xin thường trú, công hàm, hộ chiếu) phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng hoặc hợp pháp hóa theo quy định. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Cục Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thẩm tra, xác minh và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định. Trường hợp xét thấy cần phải thẩm tra bổ sung, thì thời gian có thể được kéo dài thêm nhưng không quá 3 tháng. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người xin thường trú biết quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an; nếu được Bộ trưởng Bộ Công an chấp thuận, thì thông báo công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đó xin thường trú để chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện việc cấp thẻ thường trú. VII. VIỆC CẤP THẺ THƯỜNG TRÚ 1. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) cấp thẻ thường trú trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Thẻ thường trú được cấp riêng cho từng người, kể cả người dưới 14 tuổi. Mẫu thẻ thường trú do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành. Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, người nước ngoài được chấp thuận cho thường trú tại Việt Nam phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để nhận thẻ thường trú. Quá thời hạn nói trên, người được chấp thuận cho thường trú không đến nhận thẻ mà không có lý do chính đáng, thì thẻ thường trú mặc nhiên hết giá trị. 2. Người nước ngoài đã được cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp giấy chứng nhận thường trú trước thời điểm ban hành Thông tư này, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ban hành Thông tư, phải đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú để đổi thẻ thường trú. 3. Định kỳ 3 năm một lần, người được cấp thẻ thường trú phải mang theo thẻ đến trình diện tại cơ quan cấp thẻ để được đổi thẻ mới. Nếu không trình diện theo quy định, thì có thể bị thu hồi thẻ thường trú. 4. Trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú người thường trú phải nộp đơn tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi thường trú. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) có trách nhiệm báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, quyết định. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Cục Quản lý xuất nhập cảnh có văn bản trả lời. Đối với trường hợp được chấp thuận thay đổi nội dung ghi trong thẻ thường trú, công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Phòng Quản lý xuất nhập cảnh) thực hiện việc cấp thẻ mới trong thời gian không quá 5 ngày làm việc. 5. Người không quốc tịch nếu được cấp thẻ thường trú, thì được sử dụng thẻ này để xuất, nhập cảnh Việt Nam. VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm: - Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, đón, bảo lãnh người nước ngoài vào Việt Nam và người nước ngoài thực hiện Thông tư này. - Ban hành văn bản hướng dẫn lực lượng kiểm soát nhập xuất cảnh ở cửa khẩu quốc tế và công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; ban hành quy trình, biểu mẫu giải quyết việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Công an. - Kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng của Bộ Ngoại giao những vấn đề về an ninh quốc gia có liên quan và những vi phạm pháp luật Việt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự để xử lý về mặt ngoại giao. - Quản lý và cung cấp kịp thời ấn phẩm trắng thị thực cho Cục Lãnh sự, theo kế hoạch đã được dự trù trước. 2. Giám đốc công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ đặc điểm của địa phương, quy định cụ thể việc chuyển danh sách tạm trú của người nước ngoài từ công an phường, xã về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh bằng biện pháp nhanh nhất. 3. Cục Lãnh sự có trách nhiệm: - Hướng dẫn cơ quan đại diện Việt Nam, cơ quan đại diện nước ngoài và cơ quan liên quan thực hiện Thông tư này. - Ban hành quy trình, biểu mẫu giải quyết việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao. - Định kỳ hàng quý thông báo cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh tình hình nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao để tổng hợp báo cáo Chính phủ. 4. Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh chủ trì, phối hợp với Cục trưởng Cục Lãnh sự thống nhất ban hành các loại mẫu giấy tờ sau: a) Đơn xin thị thực; b) Mẫu thị thực; c) Mẫu thẻ tạm trú. 5. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện Thông tư này. 6. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Những quy định, hướng dẫn liên tịch trước đây của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trái với Thông tư này đều bãi bỏ. /.
Quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma tuý
04/2003/NĐ-CP
16/01/2003
Nghị định
31/01/2003
Số 10
20/02/2003
Chính phủ
Thủ tướng
Phan Văn Khải
Toàn quốc
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơquan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma tuý CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chứcChính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Phòng,chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000; Xét đề nghị của Bộtrưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp. NGHỊ ĐỊNH: Chương I Những quy định chung Điều 1. 1.Nghị định này quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổchức có thành tích ( sau đây viết gọn là đối tượng có thành tích ) trongphòng, chống tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về ma tuý và các hành vi tráiphép khác về ma tuý. 2.Cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế có thành tích trong phòng, chốngma tuý trên lãnh thổ Việt Nam được xét khen thưởng theo quy định của Nghị địnhnày. 3.Người cộng tác bí mật với cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuýcó thành tích thì được xét khen thưởng đặc biệt theo quy định của Nghị địnhnày. 4.Việc khen thưởng đối với cá nhân, đơn vị thuộc cơ quan có chức năng phát hiện,điều tra, thụ lý vụ án tội phạm về ma tuý có thành tích thì được xem xét thựchiện theo các quy định khác của pháp luật. Điều 2 1.Việc khen thưởng phải bảo đảm dân chủ, chính xác, kịp thời, kết hợp khen thưởngvề tinh thần và vật chất nhằm động viên, khuyến khích cá nhân, gia đình, cơquan, tổ chức tham gia phòng, chống tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về matuý và các hành vi trái phép khác về ma tuý. 2.Chú trọng khen thưởng đối với các đơn vị cơ sở, cá nhân, tập thể hoạt động trêncác lĩnh vực trọng yếu, nguy hiểm trong đấu tranh phòng, chống ma tuý. 3.Mỗi hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng. 4.Chỉ xét khen thưởng một lần đối với một thành tích của mỗi đối tượng. Điều 3. 1.Đối tượng có thành tích có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xemxét, quyết định việc khen thưởng đối với đối tượng của mình. Trường hợp ngườicó thành tích đã chết thì gia đình hoặc cơ quan, tổ chức, người đại diện hợppháp của người đó có quyền đề nghị xem xét việc khen thưởng đối với người đó. 2.Cơ quan nhà nước quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị định này có trách nhiệm xemxét, quyết định khen thưởng đối với đối tượng có thành tích theo quy định củapháp luật có liên quan và quy định của Nghị định này. Điều 4. Cáccơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có trách nhiệm phối hợp, giúpđỡ cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, cung cấp thông tin, tài liệu liênquan về đối tượng có thành tích để thực hiện việc khen thưởng kịp thời, đúngquy định của pháp luật. Chương II Hình thức tiêu chuẩn, chế độ và thẩm quyền xét khen thưởng Điều 5. 1.Các hình thức khen thưởng chung gồm: a)Cờ thi đua của Chính phủ, của Bộ, ngành và của tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương; b)Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; c)Bằng khen của Thủ trưởng các Bộ, ngành Trung ương; d)Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( sauđây viết gọn là cấp tỉnh ); đ)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh ( sau đây viết gọn là cấp huyện ); e)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( sau đây viếtgọn là cấp xã). 2.Ngoài các hình thức khen thưởng chung, đối tượng có thành tích quy định tạikhoản 3 Điều 1 Nghị định này là người cộng tác bí mật với cơ quan chuyên tráchphòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân, Cơ quan điều tra hìnhsự trong Quân đội nhân dân, đơn vị Cảnh sát biển, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơquan Hải quan còn được khen thưởng theo các hình thức quy định tại khoản 2 Điềunày gồm: a.Giấy khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Tư lệnh Bộ đội biên phòng,Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Thủ trưởng cơ quan chuyên trách phòng, chốngtội phạm về ma tuý Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Cảnhsát biển, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Chỉ huy trưởngBộ đội biên phòng cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh, Thủ trưởng cơquan Điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân từ cấp Tổng cục và tương đươngtrở lên; b.Giấy khen của Trưởng Công an cấp huyện; c.Thưởng tiền. Điều 6. 1.Tiêu chuẩn, chế độ cụ thể đối với các hình thức khen thưởng quy định tại điểm akhoản 1 Điều 5 Nghị định này thực hiện theo Điều 15 và Điều 28 của Nghị định số 56/1998/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ. 2.Tiêu chuẩn cụ thể đối với các hình thức khen thưởng quy định tại các điểm b, c,d, đ và e khoản 1 Điều 5 Nghị định này thực hiện như sau: a)Thủ tướng Chính phủ xét khen thưởng đối với những trường hợp có thành tích độtxuất đặc biệt xuất sắc hoặc những đối tượng có thành tích được Thủ trưởng cácBộ, ngành Trung ương, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng Bằng khenba năm liên tục, nay có thành tích mới xuất sắc hơn; b)Bằng khen của Thủ trưởng các Bộ, ngành là hình thức khen thưởng đối với đối tượngcó thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kết thúc cuộc vậnđộng phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tác dụng ảnh hưởng trongphạm vi một Bộ, ngành; c)Bằng khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh là hình thức khen thưởng đốivới đối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một tỉnh; d)Giấy khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện là hình thức khen thưởng đốivới đối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một huyện; đ)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã là hình thức khen thưởng đối vớiđối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống, ma tuý gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một xã. 3.Việc thưởng tiền quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định này thực hiệntheo Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2000 của Thủ tướng Chínhphủ về việc thành lập quỹ phòng, chống ma tuý. Bộtrưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụthể về đối tượng, trình tự, thủ tục xét khen và tổ chức trao tặng hoặc truytặng khen thưởng đối với các hình thức khen thưởng quy định tại khoản 2 Điều 5Nghị định này. Điều 7. 1.Đối tượng có thành tích ngoài việc được khen thưởng bằng khen, giấy khen theoquy định tại Điều 5 Nghị định này còn được kèm theo khung, bằng và một khoảntiền thưởng. Mức tiền kèm theo giấy khen, bằng khen đối với đối tượng có thànhtích là cá nhân dựa trên cơ sở mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối vớicán bộ, công chức tại thời điểm xét khen thưởng và được quy định cụ thể nhưsau: a)Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ kèm theo một khoản tiền không quá hai tháng lươngtối thiểu; b)Bằng khen quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 5 Nghị định này kèm theo mộtkhoản tiền không quá một tháng lương tối thiểu; c)Giấy khen quy định tại điểm đ và e khoản 1 Điều 5 Nghị định này kèm theo mộtkhoản tiền không quá một phần hai tháng lương tối thiểu. 2.Mức tiền kèm theo giấy khen, bằng khen đối với đối tượng có thành tích là giađình, cơ quan, tổ chức gấp hai lần so với mức tiền kèm theo giấy khen, bằngkhen đối với cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này. Chương III Trình tự, thủ tục và kinh phí khen thưởng Điều 8. Hồsơ đề nghị khen thưởng gồm: Báo cáo thành tích của đối tượng có thành tích;công văn đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền nơi đối tượngcó thành tích cư trú, làm việc; ý kiến của các cơ quan cấp dưới ( nếu có ). Điều 9. 1.Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền xét khen thưởngphải thành lập Hội đồng xét khen thưởng; thành phần Hội đồng gồm đại diện cơquan có thẩm quyền xét khen thưởng làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tàichính, đại diện tổ chức công đoàn ( nếu có ) và đại diện cơ quan, tổ chứchoặc chính quyền nơi đối tượng có thành tích cư trú, làm việc. 2.Hội đồng xét khen thưởng có nhiệm vụ kiểm tra các tài liệu trong hồ sơ, đánhgiá mức độ thành tích, đề xuất mức và hình thức khen thưởng cụ thể trình cấp cóthẩm quyền quyết định. Hội đồng xét khen thưởng kết luận theo đa số. Biên bảnhọp Hội đồng xét khen thưởng được lưu vào hồ sơ đề nghị khen thưởng. 3.Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ đề nghị, Biên bản họp Hội đồngxét khen thưởng và ra quyết định khen thưởng. Việc khen thưởng sẽ được công bốngay sau khi được cấp có thẩm quyền ra quyết định. 4.Đối với trường hợp xét khen thưởng cho người cộng tác bí mật với các cơ quanquy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này thì Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyềnquyết định xét khen thưởng, không phải lập Hội đồng xét khen thưởng để bảo đảmbí mật. Điều 10. Trườnghợp cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức do khai man thành tích đấu tranh phòng,chống ma tuý để được khen thưởng thì cơ quan có thẩm quyền quyết định khen thưởngđược quyền quyết định huỷ bỏ hình thức khen thưởng đó. Điều 11. Nguồn kinh phí khen thưởng theo quy định của Nghị định này được sử dụng từ Quỹphòng, chống ma tuý của Trung ương và địa phương và quỹ khen thưởng của các Bộ,ngành, địa phương. Chương IV Điều khoản thi hành Điều 12. Nghịđịnh này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. BộCông an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan kiểmtra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này. Điều 13. CácBộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủtịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệmthi hành Nghị định này./.
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=21779&Keyword=
2025-09-24T02:15:40.150314
../data\bocongan\042003NĐ-CP\document.json
20/08/2024
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơquan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma tuý CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chứcChính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Phòng, chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000; Xét đề nghị của Bộtrưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp. NGHỊ ĐỊNH: Chương I Những quy định chung Điều 1. 1. Nghị định này quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổchức có thành tích ( sau đây viết gọn là đối tượng có thành tích ) trongphòng, chống tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về ma tuý và các hành vi tráiphép khác về ma tuý. 2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế có thành tích trong phòng, chốngma tuý trên lãnh thổ Việt Nam được xét khen thưởng theo quy định của Nghị địnhnày. 3. Người cộng tác bí mật với cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuýcó thành tích thì được xét khen thưởng đặc biệt theo quy định của Nghị địnhnày. 4. Việc khen thưởng đối với cá nhân, đơn vị thuộc cơ quan có chức năng phát hiện, điều tra, thụ lý vụ án tội phạm về ma tuý có thành tích thì được xem xét thựchiện theo các quy định khác của pháp luật. Điều 2 1. Việc khen thưởng phải bảo đảm dân chủ, chính xác, kịp thời, kết hợp khen thưởngvề tinh thần và vật chất nhằm động viên, khuyến khích cá nhân, gia đình, cơquan, tổ chức tham gia phòng, chống tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về matuý và các hành vi trái phép khác về ma tuý. 2. Chú trọng khen thưởng đối với các đơn vị cơ sở, cá nhân, tập thể hoạt động trêncác lĩnh vực trọng yếu, nguy hiểm trong đấu tranh phòng, chống ma tuý. 3. Mỗi hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng. 4. Chỉ xét khen thưởng một lần đối với một thành tích của mỗi đối tượng. Điều 3. 1. Đối tượng có thành tích có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xemxét, quyết định việc khen thưởng đối với đối tượng của mình. Trường hợp ngườicó thành tích đã chết thì gia đình hoặc cơ quan, tổ chức, người đại diện hợppháp của người đó có quyền đề nghị xem xét việc khen thưởng đối với người đó. 2. Cơ quan nhà nước quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị định này có trách nhiệm xemxét, quyết định khen thưởng đối với đối tượng có thành tích theo quy định củapháp luật có liên quan và quy định của Nghị định này. Điều 4. Cáccơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có trách nhiệm phối hợp, giúpđỡ cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, cung cấp thông tin, tài liệu liênquan về đối tượng có thành tích để thực hiện việc khen thưởng kịp thời, đúngquy định của pháp luật. Chương II Hình thức tiêu chuẩn, chế độ và thẩm quyền xét khen thưởng Điều 5. 1. Các hình thức khen thưởng chung gồm: a)Cờ thi đua của Chính phủ, của Bộ, ngành và của tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương; b)Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; c)Bằng khen của Thủ trưởng các Bộ, ngành Trung ương; d)Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( sauđây viết gọn là cấp tỉnh ); đ)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh ( sau đây viết gọn là cấp huyện ); e)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( sau đây viếtgọn là cấp xã). 2. Ngoài các hình thức khen thưởng chung, đối tượng có thành tích quy định tạikhoản 3 Điều 1 Nghị định này là người cộng tác bí mật với cơ quan chuyên tráchphòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân, Cơ quan điều tra hìnhsự trong Quân đội nhân dân, đơn vị Cảnh sát biển, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơquan Hải quan còn được khen thưởng theo các hình thức quy định tại khoản 2 Điềunày gồm: a. Giấy khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Thủ trưởng cơ quan chuyên trách phòng, chốngtội phạm về ma tuý Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Cảnhsát biển, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Chỉ huy trưởngBộ đội biên phòng cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh, Thủ trưởng cơquan Điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân từ cấp Tổng cục và tương đươngtrở lên; b. Giấy khen của Trưởng Công an cấp huyện; c. Thưởng tiền. Điều 6. 1. Tiêu chuẩn, chế độ cụ thể đối với các hình thức khen thưởng quy định tại điểm akhoản 1 Điều 5 Nghị định này thực hiện theo Điều 15 và Điều 28 của Nghị định số 56/1998/NĐ - CP ngày 30 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ. 2. Tiêu chuẩn cụ thể đối với các hình thức khen thưởng quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 5 Nghị định này thực hiện như sau: a)Thủ tướng Chính phủ xét khen thưởng đối với những trường hợp có thành tích độtxuất đặc biệt xuất sắc hoặc những đối tượng có thành tích được Thủ trưởng cácBộ, ngành Trung ương, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng Bằng khenba năm liên tục, nay có thành tích mới xuất sắc hơn; b)Bằng khen của Thủ trưởng các Bộ, ngành là hình thức khen thưởng đối với đối tượngcó thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kết thúc cuộc vậnđộng phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tác dụng ảnh hưởng trongphạm vi một Bộ, ngành; c)Bằng khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh là hình thức khen thưởng đốivới đối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một tỉnh; d)Giấy khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện là hình thức khen thưởng đốivới đối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống ma tuý, gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một huyện; đ)Giấy khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã là hình thức khen thưởng đối vớiđối tượng có thành tích đột xuất hoặc mỗi năm xét khen một lần hoặc khi kếtthúc một cuộc vận động phòng, chống, ma tuý gương người tốt, việc tốt có tácdụng trong phạm vi một xã. 3. Việc thưởng tiền quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định này thực hiệntheo Quyết định số 31/2000/QĐ - TTg ngày 02 tháng 3 năm 2000 của Thủ tướng Chínhphủ về việc thành lập quỹ phòng, chống ma tuý. Bộtrưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụthể về đối tượng, trình tự, thủ tục xét khen và tổ chức trao tặng hoặc truytặng khen thưởng đối với các hình thức khen thưởng quy định tại khoản 2 Điều 5Nghị định này. Điều 7. 1. Đối tượng có thành tích ngoài việc được khen thưởng bằng khen, giấy khen theoquy định tại Điều 5 Nghị định này còn được kèm theo khung, bằng và một khoảntiền thưởng. Mức tiền kèm theo giấy khen, bằng khen đối với đối tượng có thànhtích là cá nhân dựa trên cơ sở mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối vớicán bộ, công chức tại thời điểm xét khen thưởng và được quy định cụ thể nhưsau: a)Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ kèm theo một khoản tiền không quá hai tháng lươngtối thiểu; b)Bằng khen quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 5 Nghị định này kèm theo mộtkhoản tiền không quá một tháng lương tối thiểu; c)Giấy khen quy định tại điểm đ và e khoản 1 Điều 5 Nghị định này kèm theo mộtkhoản tiền không quá một phần hai tháng lương tối thiểu. 2. Mức tiền kèm theo giấy khen, bằng khen đối với đối tượng có thành tích là giađình, cơ quan, tổ chức gấp hai lần so với mức tiền kèm theo giấy khen, bằngkhen đối với cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này. Chương III Trình tự, thủ tục và kinh phí khen thưởng Điều 8. Hồsơ đề nghị khen thưởng gồm: Báo cáo thành tích của đối tượng có thành tích; công văn đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền nơi đối tượngcó thành tích cư trú, làm việc; ý kiến của các cơ quan cấp dưới ( nếu có ). Điều 9. 1. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền xét khen thưởngphải thành lập Hội đồng xét khen thưởng; thành phần Hội đồng gồm đại diện cơquan có thẩm quyền xét khen thưởng làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tàichính, đại diện tổ chức công đoàn ( nếu có ) và đại diện cơ quan, tổ chứchoặc chính quyền nơi đối tượng có thành tích cư trú, làm việc. 2. Hội đồng xét khen thưởng có nhiệm vụ kiểm tra các tài liệu trong hồ sơ, đánhgiá mức độ thành tích, đề xuất mức và hình thức khen thưởng cụ thể trình cấp cóthẩm quyền quyết định. Hội đồng xét khen thưởng kết luận theo đa số. Biên bảnhọp Hội đồng xét khen thưởng được lưu vào hồ sơ đề nghị khen thưởng. 3. Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ đề nghị, Biên bản họp Hội đồngxét khen thưởng và ra quyết định khen thưởng. Việc khen thưởng sẽ được công bốngay sau khi được cấp có thẩm quyền ra quyết định. 4. Đối với trường hợp xét khen thưởng cho người cộng tác bí mật với các cơ quanquy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này thì Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyềnquyết định xét khen thưởng, không phải lập Hội đồng xét khen thưởng để bảo đảmbí mật. Điều 10. Trườnghợp cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức do khai man thành tích đấu tranh phòng, chống ma tuý để được khen thưởng thì cơ quan có thẩm quyền quyết định khen thưởngđược quyền quyết định huỷ bỏ hình thức khen thưởng đó. Điều 11. Nguồn kinh phí khen thưởng theo quy định của Nghị định này được sử dụng từ Quỹphòng, chống ma tuý của Trung ương và địa phương và quỹ khen thưởng của các Bộ, ngành, địa phương. Chương IV Điều khoản thi hành Điều 12. Nghịđịnh này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. BộCông an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan kiểmtra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này. Điều 13. CácBộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủtịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệmthi hành Nghị định này. /.