mo_ta
stringlengths 3
1.19k
⌀ | so_ky_hieu
stringlengths 1
136
| ngay_ban_hanh
stringdate 1945-10-01 00:00:00
2025-09-22 00:00:00
| loai_van_ban
stringclasses 20
values | ngay_co_hieu_luc
stringdate 1913-11-23 00:00:00
4998-04-27 00:00:00
⌀ | nguon_thu_thap
stringlengths 1
165
⌀ | ngay_cong_bao
stringdate 1945-11-10 00:00:00
2917-02-25 00:00:00
⌀ | co_quan_ban_hanh
stringclasses 274
values | chuc_danh
stringclasses 143
values | nguoi_ky
stringlengths 5
35
⌀ | pham_vi
stringclasses 209
values | toan_van
stringlengths 0
1.28M
| url
stringlengths 60
91
| crawled_at
stringdate 2025-09-24 02:11:26
2025-09-26 12:05:07
| _source_file
stringlengths 26
163
| ngay_het_hieu_luc
stringlengths 10
10
⌀ | toan_van_clean
stringlengths 0
1.28M
|
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Quy định thủ tục đăng ký đối với những người làm nghề khắc dấu
|
001/CA
|
04/12/1957
|
Nghị định
|
19/12/1957
|
Sách - Nhà xuất bản Công an nhân dân;
|
18/12/1957
|
Bộ Công an
|
Bộ trưởng
|
Trần Quốc Hoàn
| null |
NGHỊ ĐỊNH
CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN SỐ 001/CA NGÀY 4 THÁNG 12 NĂM 1957 QUY ĐỊNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI
LÀM NGHỀ KHẮC DẤU
BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
Căn cứ Điều lệ số 488/TTg ngày 30-3 -1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp;
Căn cứ Quyết định số 609/TTg ngày 4-11-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh công thương nghiệp;
Căn cứ Thông tư số 3191 ngày 9-12-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công các ngành đăng ký công thương nghiệp;
Sau khi thỏa thuận với Bộ Thương nghiệp;
NGHỊ ĐỊNH
Điều 1:
Tất cả những người làm nghề khắc chữ, khắc bản in, khắc con dấu (dấu ướt, dấu chìm, dấu nổi ) trên các loại kim, gỗ, nhựa,v.v. nói chung là làm nghề khắc dấu, có mở cửa hiệu hay bày hàng ngoài trời, hoặc chỉ khắc thuê mà không bày hàng hay không mở hiệu, đều phải làm thủ tục đăng ký tại các cơ quan công an quy định trong nghị định này.
Điều 2:
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố, và những khu không có tỉnh trực thuộc, công bố nghị định này, tất cả những người đã làm nghề khắc dấu từ trước đều phải nộp tại Ty, Sở, Khu Công an địa phương những giấy tờ sau đây:
Một đơn xin đăng ký kinh doanh
Một bản lý lịch
Một ảnh khổ 4 x6 phân, nửa người, mới chụp, nghiêng mặt 2/3.
Trong khi chờ đợi cơ quan đăng ký xét cấp giấy phép, những người làm nghề khắc dấu nói trên vẫn được tiếp tục kinh doanh cho đến khi có quyết định mới.
Điều 3:
Những người làm nghề khắc dấu hoạt động sau ngày công bố nghị định này phải làm thủ tục nói ở điều 2 và chỉ được phép hoạt động sau khi được cấp giấy phép.
Điều 4:
Mỗi khi đổi tên hiệu, thay đổi cổ phần, dời địa điểm kinh doanh đi nơi khác, thu hẹp hay mở rộng phạm vi kinh doanh, nhường cửa hiệu cho người khác hay đóng cửa hiệu, người làm nghề khắc dấu phải báo trước 10 ngày cho cơ quan công an trực tiếp quản lý mình biết. Trường hợp dời địa điểm kinh doanh đến một tỉnh hay thành phố khác thì khi đến phải báo việc tiếp tục kinh doanh cùng một lần với việc khai báo hộ khẩu cho cơ quan công an nơi mới đến biết.
Điều 5:
a- Người làm nghề khắc dấu chỉ được nhận khắc những con dấu thuộc cơ quan chính quyền, quân đội. và đoàn thể các cấp khi nào người đến thuê đưa đủ giấy giới thiệu của cơ quan hay đoàn thể đó và giấy giới thiệu khắc dấu của cơ quan công an nơi người làm nghề khắc dấu đó đang kinh doanh, kèm theo chứng minh thư của người đến thuê khắc.
b- Người làm nghề khắc dấu khi nhận khắc các con dấu như "Mật" "Khẩn" "Hoả tốc" "Ký thay" dấu tên cá nhân, chữ ký của cá nhân, những tiêu đề đóng trên các giấy tờ, những bản in hay những con dấu của tư nhân (cá nhân hay tổ chức ) thì phải đòi hỏi người đến thuê khắc đưa ra một trong những loại giấy tờ sau đây để ghi vào sổ: Chứng minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch.
Điều 6:
Mỗi khắc dấu đều phải có sổ ghi họ tên, tên, tuổi, địa chỉ, quốc tịch, nghề nghiệp của người đến thuê khắc, sổ và ngày cấp giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và của công an hoặc số và ngày cấp chững minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch, số lượng, loại khuôn khổ và nội dung vật phẩm, ngày nhận hàng, ngày giao hàng. Khi khắc xong mỗi con dấu, người làm nghề khắc dấu phải đóng mẫu dấu vào sổ để xuất trình nhà chức trách khi cần thiết.
Riêng đối với loại con dấu của cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội nói ở khoản a điều 5 của nghị định này, trước khi giao hàng cho khách chủ hiệu phải mang dấu đó đến đóng mẫu tại đồn công an nơi mình đang kinh doanh hoặc cơ quan công an xã (nếu nơi đó không có đồn công an) đồng thời nộp lại giấy giới thiệu của cơ quan thuê khắc dấu và của công an nộp.
Điều 7:
Người làm nghề khắc dấu nào không hoạt động liền trong vòng hai tháng mà cơ quan đăng ký xét ra không có lý do chính đáng thì giấy phép xem như không có giá trị nữa.
Điều 8:
Người làm nghề khắc dấu nào làm trái những điều quy định trên đây sẽ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ mà bị phê bình, hoặc cảnh cáo hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh tạm thời hay vĩnh viễn hoặc bị truy tố trước toà án.
Điều 9:
Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 10:
Các Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành phố, các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ Trị an hành chính Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
Trần Quốc Hoàn
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=971&Keyword=
|
2025-09-24T02:16:10.370863
|
../data\bocongan\001CA\document.json
| null |
NGHỊ ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN SỐ 001/CA NGÀY 4 THÁNG 12 NĂM 1957 QUY ĐỊNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ KHẮC DẤU BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Căn cứ Điều lệ số 488/TTg ngày 30 - 3 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Quyết định số 609/TTg ngày 4 - 11 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh công thương nghiệp; Căn cứ Thông tư số 3191 ngày 9 - 12 - 1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công các ngành đăng ký công thương nghiệp; Sau khi thỏa thuận với Bộ Thương nghiệp; NGHỊ ĐỊNH Điều 1: Tất cả những người làm nghề khắc chữ, khắc bản in, khắc con dấu (dấu ướt, dấu chìm, dấu nổi ) trên các loại kim, gỗ, nhựa, v. v. nói chung là làm nghề khắc dấu, có mở cửa hiệu hay bày hàng ngoài trời, hoặc chỉ khắc thuê mà không bày hàng hay không mở hiệu, đều phải làm thủ tục đăng ký tại các cơ quan công an quy định trong nghị định này. Điều 2: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố, và những khu không có tỉnh trực thuộc, công bố nghị định này, tất cả những người đã làm nghề khắc dấu từ trước đều phải nộp tại Ty, Sở, Khu Công an địa phương những giấy tờ sau đây: Một đơn xin đăng ký kinh doanh Một bản lý lịch Một ảnh khổ 4 x6 phân, nửa người, mới chụp, nghiêng mặt 2/3. Trong khi chờ đợi cơ quan đăng ký xét cấp giấy phép, những người làm nghề khắc dấu nói trên vẫn được tiếp tục kinh doanh cho đến khi có quyết định mới. Điều 3: Những người làm nghề khắc dấu hoạt động sau ngày công bố nghị định này phải làm thủ tục nói ở điều 2 và chỉ được phép hoạt động sau khi được cấp giấy phép. Điều 4: Mỗi khi đổi tên hiệu, thay đổi cổ phần, dời địa điểm kinh doanh đi nơi khác, thu hẹp hay mở rộng phạm vi kinh doanh, nhường cửa hiệu cho người khác hay đóng cửa hiệu, người làm nghề khắc dấu phải báo trước 10 ngày cho cơ quan công an trực tiếp quản lý mình biết. Trường hợp dời địa điểm kinh doanh đến một tỉnh hay thành phố khác thì khi đến phải báo việc tiếp tục kinh doanh cùng một lần với việc khai báo hộ khẩu cho cơ quan công an nơi mới đến biết. Điều 5: a - Người làm nghề khắc dấu chỉ được nhận khắc những con dấu thuộc cơ quan chính quyền, quân đội. và đoàn thể các cấp khi nào người đến thuê đưa đủ giấy giới thiệu của cơ quan hay đoàn thể đó và giấy giới thiệu khắc dấu của cơ quan công an nơi người làm nghề khắc dấu đó đang kinh doanh, kèm theo chứng minh thư của người đến thuê khắc. b - Người làm nghề khắc dấu khi nhận khắc các con dấu như "Mật" "Khẩn" "Hoả tốc" "Ký thay" dấu tên cá nhân, chữ ký của cá nhân, những tiêu đề đóng trên các giấy tờ, những bản in hay những con dấu của tư nhân (cá nhân hay tổ chức ) thì phải đòi hỏi người đến thuê khắc đưa ra một trong những loại giấy tờ sau đây để ghi vào sổ: Chứng minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch. Điều 6: Mỗi khắc dấu đều phải có sổ ghi họ tên, tên, tuổi, địa chỉ, quốc tịch, nghề nghiệp của người đến thuê khắc, sổ và ngày cấp giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và của công an hoặc số và ngày cấp chững minh thư, sổ đăng ký công thương, sổ hộ tịch, số lượng, loại khuôn khổ và nội dung vật phẩm, ngày nhận hàng, ngày giao hàng. Khi khắc xong mỗi con dấu, người làm nghề khắc dấu phải đóng mẫu dấu vào sổ để xuất trình nhà chức trách khi cần thiết. Riêng đối với loại con dấu của cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội nói ở khoản a điều 5 của nghị định này, trước khi giao hàng cho khách chủ hiệu phải mang dấu đó đến đóng mẫu tại đồn công an nơi mình đang kinh doanh hoặc cơ quan công an xã (nếu nơi đó không có đồn công an) đồng thời nộp lại giấy giới thiệu của cơ quan thuê khắc dấu và của công an nộp. Điều 7: Người làm nghề khắc dấu nào không hoạt động liền trong vòng hai tháng mà cơ quan đăng ký xét ra không có lý do chính đáng thì giấy phép xem như không có giá trị nữa. Điều 8: Người làm nghề khắc dấu nào làm trái những điều quy định trên đây sẽ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ mà bị phê bình, hoặc cảnh cáo hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh tạm thời hay vĩnh viễn hoặc bị truy tố trước toà án. Điều 9: Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ. Điều 10: Các Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành phố, các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ Trị an hành chính Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Trần Quốc Hoàn
|
Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng
|
01-LB
|
19/03/1966
|
Thông tư
|
19/03/1966
| null | null |
Bộ Công an
|
Thứ trưởng
|
Đang cập nhật
|
Trung Ương
|
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất,
sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng
_________________________
Thi hành Nghị định số 175-CP ngày 11-12-1964 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng .
Căn cứ vào điều 7 của Nghị định số 175-CP, Bộ Công an và Ủy ban thể dục thể thao quy định cụ thể các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng như sau:
I. NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Súng đạn thể thao quốc phòng là của Nhà nước do Ủy ban thể dục thể thao phân phối cho Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành và các ngành; Ban thể dục thể thao tỉnh, thành và các ngành chịu trách nhiệm phân phối cho các đội bắn súng thể thao quốc phòng các cơ sở (xã, xí nghiệp, trường học, cơ quan, công trường, nông trường, lâm trường, khu phố, hợp tác xã ) để làm nhiệm vụ luyện tập thi đấu thể thao và khi cần thiết sẽ sử dụng vào việc chiến đấu bảo vệ trị an.
Cá nhân không được quyền có súng đạn thể thao quốc phòng làm của riêng. Bất cứ ai có súng đạn riêng, kể cả cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân và công an nhân dân võ trang, không kể do nguồn gốc nào mà có, đều phải kê khai và nộp cho cơ quan công an hoặc Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành. Tùy theo phẩm chất của súng đạn, người nộp vũ khí có thể được xét bồi hoàn một số tiền thích đáng. Nếu không chịu nộp, khi phát hiện thấy, sẽ bị xử lý về hành chính, súng đạn bị tịch thu.
2. Súng thể thao quốc phòng, sau khi được phân phối cho các cơ sở địa phương nào đều phải mang súng đạn đến Sở, Ty công an địa phương ấy đăng ký cấp giấy phép. Khi đến đăng ký phải có giấy giới thiệu của Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành. Khi giấy phép hết hạng phải mang súng và giấy phép cũ đến cơ quan công an kiểm tra, ký gia hạn hoặc đổi giấy phép mới.
3. Các cơ quan, xí nghiệp vv… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng không được tự điều chuyển, đổi chác, bán cho cơ quan khác hoặc bán cho cá nhân. Trường hợp điều chuyển súng cho các đơn vị trực thuộc phải báo cho Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành mình biết và khi nào Ban thể dục thể thao cấp giấy giới thiệu đến Sở, Ty công an đổi giấy dùng súng mới có giá trị.
4. Các Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành phố và ngành cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý súng đạn thể thao.
5. Các cơ quan, xí nghiệp, thôn xã, khu phố v..v… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng cứ sáu tháng một lần báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý, các Sở, Ty công an, Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành, ngành cứ một năm báo cáo một lần về Bộ Công an, Ủy ban thể dục thể thao trung ương về tình hình súng đạn thể thao của đơn vị, địa phương mình.
Trường hợp xẩy ra tai nạn, hoặc thất lạc, mất súng đạn thì phải báo cáo ngay cho Đồn, Khu, Huyện công an nơi gần nhất, đồng thời phải báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý.
II. BẢO QUẢN
6. Súng đạn thể thao quốc phòng, ngoài thì giờ luyện tập, công tác và thi bắn đều phải tập trung tại kho của cơ quan, xí nghiệp và được bảo quản chặt chẽ, không để xẩy ra thất lạc hoặc mất súng và cử người phụ trách. Riêng ở xã mới được phép giao cho cá nhân giữ để ở nhà riêng, những người được giao giữ súng đạn do Ủy ban hành chính xã xét duyệt.
Đối với các vận động viên “bắn súng nâng cao” cần có súng để luyện tập thường xuyên phải do Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành phố, cơ quan xét và khi phát súng cho vận động viên giữ phải thông báo cho Ủy ban hành chính địa phương hoặc cơ quan, xí nghiệp… của vận động viên ấy biết để phối hợp theo dõi, quản lý và phải đăng ký tại Sở, Ty công an.
7. Sau khi tập và bắn đạn thật hoặc bị mưa ướt, phải tiến hành lau chùi súng đạn ngay nếu súng để ở kho hàng tuần, hàng tháng phải kiểm tra và lau chùi sạch sẽ, đặc biệt các bộ phận nòng súng, khóa súng, không được để súng đạn nơi ẩm thấp hoặc phơi ngoài nắng.
8. Không được để súng đạn và giấy phép dùng súng thất lạc mất. Nếu súng đạn bị hư hỏng, thất lạc, mất không có lý do chính đáng, ngoài việc bị xử lý, người sử dụng súng đạn còn phải bồi thường sự gây ra tổn thất.
III. SỬ DỤNG
9. Súng đạn thể thao quốc phòng chỉ được dùng vào việc luyện tập và thi đấu thể thao, khi cần thiết sử dụng vào việc giữ gìn trật tự trị an. Tuyệt đối không được dùng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú, cá… để giải trí, cải thiện sinh hoạt..v.v Trường hợp đặc biệt cần sử dụng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú quý để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học phải được phép của Bộ công an, Ủy ban thể dục thể thao và Tổng cục Lâm nghiệp.
10. Người được mang giữ súng đạn thể thao quốc phòng phải biết những điều tối thiểu về sử dụng súng như: biết bắn súng, biết tháo lắp, bảo quản, lau chùi thông thường và hiểu rõ chế độ sử dụng, bảo quản súng đạn.
11. Khi luyện tập hay công tác, súng đạn phải mang luôn bên người, không đựơc cho người khác mượn hay giữ hộ. Súng đạn thể thao quốc phòng không được mua bán, đổi chác hoặc biếu, tặng cho cá nhân.
12. Nghiêm cấm không được ngắm súng vào hướng có người, không được dùng súng đạn đùa giỡn hay đe doạ người khác. Chỉ được nạp đạn vào nòng súng khi đứng tại vị trí bắt đầu bắn đạn thật ở trường bắn hoặc đang trực tiếp chiến đấu, khi bắn xong hoặc không chiến đấu nữa phải tháo đạn và xem xét lại nòng súng. Ngòai ra không được nạp đạn vào nòng súng nhất là ở những nơi đông người như ở chợ, ở cuộc mít tinh, trên tàu, xe ôtô.v.v…
13. Chỉ được nổ súng trong trường hợp phải tự vệ chính đáng để bảo vệ tính mạng mình và người khác bị kẻ địch ám hại.
14. Muốn bắn đạn thật trong luyện tập, hay trong thi đấu, phải bắn tại trường bắn, nếu không có trường bắn phải chọn nơi có đủ điều kiện bảo đảm an toàn và phải báo cáo cho công an sở tại biết trước khi bắn. Trường hợp để xảy ra tai nạn, gây thương vong cho người, súc vật thì người chỉ huy cuộc bắn đạn thật và người bắn phải chịu trách nhiệm.
15. Không được bắn đạn khác với cỡ súng.
16. Người mang súng đạn khi đi công tác, học tập phải mang theo giấy phép dùng súng của công an cấp, kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan hoặc giấy chứng nhận của Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành, ngành. Khi các cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm đã được quy định quản lý vũ khí của Hội đồng Chính phủ cần kiểm soát, phải sẵn sàng xuất trình giấy tờ, không từ chối.
IV. VẬN CHUYỂN
17. Vận chuyển súng đạn thể thao quốc phòng từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy phép vận chuyển do Sở, Ty công an cấp, theo giấy giới thiệu của Ủy ban thể dục thể thao trung ương hoặc Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành. Cơ quan xin vận chuyển cần ghi rõ số lượng các loại súng, đạn, địa chỉ đi đến, thời gian vận chuyển, tên chức vụ người chịu trách nhiệm cuộc vận chuyển, tên người lái xe và số xe.
18. Vận chuyển súng đạn trong phạm vi một tỉnh, không phải xin giấy phép của Sở, Ty công an, nhưng phải có giấy giới thiệu của cơ quan do thủ trưởng cơ quan quản ký, giấy giới thiệu cần ghi rõ nội dung như điều 17.
19. Khi vận chuyển súng đạn, bất cứ xa hay gần, ngoài người lái xe, còn phải có người đi theo bảo vệ. Khi cần phải nghỉ ở dọc đường phải báo cho công an địa phương biết và phải tổ chức việc bảo vệ chu đáo, không được đỗ xe đang chở vũ khí ở chợ hoặc nơi đông người.
V. SẢN XUẤT, SỬA CHỮA
20. Ngoài binh công xưởng, các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí của các lực lượng vũ trang, chỉ có cơ sở, xí nghiệp của Nhà nước được Bộ công an cấp giấy phép mới được sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng , các cơ sở hợp tác xã, tư nhân không được sản xuất sữa chữa súng đạn thể thao.
Các cơ sở được cấp phép sản xuất súng đạn thể thao chỉ được nhận sản xuất theo kế hoạch và hợp đồng của Ủy ban thể dục thể thao. Ngoài ra không được sản xuất súng đạn cho các cơ quan khác, hoặc cá nhân.
21. Việc sửa chữa súng thể thao quốc phòng, nếu bị hư hỏng thông thường, các cơ sở có thể tự mua phụ tùng thay thế, phụ tùng do Ủy ban thể dục thể thao trung ương và Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành phân phối.
22. Các cơ sở được phép sửa chữa súng thể thao quốc phòng chỉ được nhận sửa chữa súng đạn thể thao, khi có giấy giới thiệu của cơ quan người đến thuê sửa chữa, kèm theo giấy phép dùng súng của công an cấp và giấy chứng minh của người ấy.
23. Các cơ sở được phép sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng phải chấp hành đầy đủ các thủ tục và sự hướng dẫn kiểm soát của cơ quan công an. Khi có sự thay đổi người, địa điểm, mở rộng hay thu hẹp phạm vi sản xuất, sửa chữa đều phải được phép của cơ quan công an nơi cấp giấy phép trước.
24. Thông tư này thi hành kể từ ngày ký.
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=76792&Keyword=
|
2025-09-24T02:32:58.235165
|
../data\bocongan\01-LB\document.json
|
10/01/1999
|
THÔNG TƯ LIÊN BỘ Quy định các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa các loại súng đạn thể thao Quốc Phòng _________________________ Thi hành Nghị định số 175 - CP ngày 11 - 12 - 1964 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng. Căn cứ vào điều 7 của Nghị định số 175 - CP, Bộ Công an và Ủy ban thể dục thể thao quy định cụ thể các chế độ sử dụng, bảo quản, vận chuyển, sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG 1. Súng đạn thể thao quốc phòng là của Nhà nước do Ủy ban thể dục thể thao phân phối cho Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành và các ngành; Ban thể dục thể thao tỉnh, thành và các ngành chịu trách nhiệm phân phối cho các đội bắn súng thể thao quốc phòng các cơ sở (xã, xí nghiệp, trường học, cơ quan, công trường, nông trường, lâm trường, khu phố, hợp tác xã ) để làm nhiệm vụ luyện tập thi đấu thể thao và khi cần thiết sẽ sử dụng vào việc chiến đấu bảo vệ trị an. Cá nhân không được quyền có súng đạn thể thao quốc phòng làm của riêng. Bất cứ ai có súng đạn riêng, kể cả cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân và công an nhân dân võ trang, không kể do nguồn gốc nào mà có, đều phải kê khai và nộp cho cơ quan công an hoặc Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành. Tùy theo phẩm chất của súng đạn, người nộp vũ khí có thể được xét bồi hoàn một số tiền thích đáng. Nếu không chịu nộp, khi phát hiện thấy, sẽ bị xử lý về hành chính, súng đạn bị tịch thu. 2. Súng thể thao quốc phòng, sau khi được phân phối cho các cơ sở địa phương nào đều phải mang súng đạn đến Sở, Ty công an địa phương ấy đăng ký cấp giấy phép. Khi đến đăng ký phải có giấy giới thiệu của Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành. Khi giấy phép hết hạng phải mang súng và giấy phép cũ đến cơ quan công an kiểm tra, ký gia hạn hoặc đổi giấy phép mới. 3. Các cơ quan, xí nghiệp vv… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng không được tự điều chuyển, đổi chác, bán cho cơ quan khác hoặc bán cho cá nhân. Trường hợp điều chuyển súng cho các đơn vị trực thuộc phải báo cho Ban thể dục thể thao tỉnh, thành phố, ngành mình biết và khi nào Ban thể dục thể thao cấp giấy giới thiệu đến Sở, Ty công an đổi giấy dùng súng mới có giá trị. 4. Các Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành phố và ngành cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý súng đạn thể thao. 5. Các cơ quan, xí nghiệp, thôn xã, khu phố v. .v… được phân phối súng đạn thể thao quốc phòng cứ sáu tháng một lần báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý, các Sở, Ty công an, Ban thể dục thể thao các tỉnh, thành, ngành cứ một năm báo cáo một lần về Bộ Công an, Ủy ban thể dục thể thao trung ương về tình hình súng đạn thể thao của đơn vị, địa phương mình. Trường hợp xẩy ra tai nạn, hoặc thất lạc, mất súng đạn thì phải báo cáo ngay cho Đồn, Khu, Huyện công an nơi gần nhất, đồng thời phải báo cáo về Sở, Ty công an và Ban thể dục thể thao nơi trực tiếp quản lý. II. BẢO QUẢN 6. Súng đạn thể thao quốc phòng, ngoài thì giờ luyện tập, công tác và thi bắn đều phải tập trung tại kho của cơ quan, xí nghiệp và được bảo quản chặt chẽ, không để xẩy ra thất lạc hoặc mất súng và cử người phụ trách. Riêng ở xã mới được phép giao cho cá nhân giữ để ở nhà riêng, những người được giao giữ súng đạn do Ủy ban hành chính xã xét duyệt. Đối với các vận động viên “bắn súng nâng cao” cần có súng để luyện tập thường xuyên phải do Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành phố, cơ quan xét và khi phát súng cho vận động viên giữ phải thông báo cho Ủy ban hành chính địa phương hoặc cơ quan, xí nghiệp… của vận động viên ấy biết để phối hợp theo dõi, quản lý và phải đăng ký tại Sở, Ty công an. 7. Sau khi tập và bắn đạn thật hoặc bị mưa ướt, phải tiến hành lau chùi súng đạn ngay nếu súng để ở kho hàng tuần, hàng tháng phải kiểm tra và lau chùi sạch sẽ, đặc biệt các bộ phận nòng súng, khóa súng, không được để súng đạn nơi ẩm thấp hoặc phơi ngoài nắng. 8. Không được để súng đạn và giấy phép dùng súng thất lạc mất. Nếu súng đạn bị hư hỏng, thất lạc, mất không có lý do chính đáng, ngoài việc bị xử lý, người sử dụng súng đạn còn phải bồi thường sự gây ra tổn thất. III. SỬ DỤNG 9. Súng đạn thể thao quốc phòng chỉ được dùng vào việc luyện tập và thi đấu thể thao, khi cần thiết sử dụng vào việc giữ gìn trật tự trị an. Tuyệt đối không được dùng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú, cá… để giải trí, cải thiện sinh hoạt. .v. v Trường hợp đặc biệt cần sử dụng súng đạn thể thao quốc phòng vào việc săn bắn chim, thú quý để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học phải được phép của Bộ công an, Ủy ban thể dục thể thao và Tổng cục Lâm nghiệp. 10. Người được mang giữ súng đạn thể thao quốc phòng phải biết những điều tối thiểu về sử dụng súng như: biết bắn súng, biết tháo lắp, bảo quản, lau chùi thông thường và hiểu rõ chế độ sử dụng, bảo quản súng đạn. 11. Khi luyện tập hay công tác, súng đạn phải mang luôn bên người, không đựơc cho người khác mượn hay giữ hộ. Súng đạn thể thao quốc phòng không được mua bán, đổi chác hoặc biếu, tặng cho cá nhân. 12. Nghiêm cấm không được ngắm súng vào hướng có người, không được dùng súng đạn đùa giỡn hay đe doạ người khác. Chỉ được nạp đạn vào nòng súng khi đứng tại vị trí bắt đầu bắn đạn thật ở trường bắn hoặc đang trực tiếp chiến đấu, khi bắn xong hoặc không chiến đấu nữa phải tháo đạn và xem xét lại nòng súng. Ngòai ra không được nạp đạn vào nòng súng nhất là ở những nơi đông người như ở chợ, ở cuộc mít tinh, trên tàu, xe ôtô. v. v… 13. Chỉ được nổ súng trong trường hợp phải tự vệ chính đáng để bảo vệ tính mạng mình và người khác bị kẻ địch ám hại. 14. Muốn bắn đạn thật trong luyện tập, hay trong thi đấu, phải bắn tại trường bắn, nếu không có trường bắn phải chọn nơi có đủ điều kiện bảo đảm an toàn và phải báo cáo cho công an sở tại biết trước khi bắn. Trường hợp để xảy ra tai nạn, gây thương vong cho người, súc vật thì người chỉ huy cuộc bắn đạn thật và người bắn phải chịu trách nhiệm. 15. Không được bắn đạn khác với cỡ súng. 16. Người mang súng đạn khi đi công tác, học tập phải mang theo giấy phép dùng súng của công an cấp, kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan hoặc giấy chứng nhận của Ban thể dục thể thao cấp tỉnh, thành, ngành. Khi các cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm đã được quy định quản lý vũ khí của Hội đồng Chính phủ cần kiểm soát, phải sẵn sàng xuất trình giấy tờ, không từ chối. IV. VẬN CHUYỂN 17. Vận chuyển súng đạn thể thao quốc phòng từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy phép vận chuyển do Sở, Ty công an cấp, theo giấy giới thiệu của Ủy ban thể dục thể thao trung ương hoặc Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành. Cơ quan xin vận chuyển cần ghi rõ số lượng các loại súng, đạn, địa chỉ đi đến, thời gian vận chuyển, tên chức vụ người chịu trách nhiệm cuộc vận chuyển, tên người lái xe và số xe. 18. Vận chuyển súng đạn trong phạm vi một tỉnh, không phải xin giấy phép của Sở, Ty công an, nhưng phải có giấy giới thiệu của cơ quan do thủ trưởng cơ quan quản ký, giấy giới thiệu cần ghi rõ nội dung như điều 17. 19. Khi vận chuyển súng đạn, bất cứ xa hay gần, ngoài người lái xe, còn phải có người đi theo bảo vệ. Khi cần phải nghỉ ở dọc đường phải báo cho công an địa phương biết và phải tổ chức việc bảo vệ chu đáo, không được đỗ xe đang chở vũ khí ở chợ hoặc nơi đông người. V. SẢN XUẤT, SỬA CHỮA 20. Ngoài binh công xưởng, các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí của các lực lượng vũ trang, chỉ có cơ sở, xí nghiệp của Nhà nước được Bộ công an cấp giấy phép mới được sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng, các cơ sở hợp tác xã, tư nhân không được sản xuất sữa chữa súng đạn thể thao. Các cơ sở được cấp phép sản xuất súng đạn thể thao chỉ được nhận sản xuất theo kế hoạch và hợp đồng của Ủy ban thể dục thể thao. Ngoài ra không được sản xuất súng đạn cho các cơ quan khác, hoặc cá nhân. 21. Việc sửa chữa súng thể thao quốc phòng, nếu bị hư hỏng thông thường, các cơ sở có thể tự mua phụ tùng thay thế, phụ tùng do Ủy ban thể dục thể thao trung ương và Ban thể dục thể thao tỉnh, thành, ngành phân phối. 22. Các cơ sở được phép sửa chữa súng thể thao quốc phòng chỉ được nhận sửa chữa súng đạn thể thao, khi có giấy giới thiệu của cơ quan người đến thuê sửa chữa, kèm theo giấy phép dùng súng của công an cấp và giấy chứng minh của người ấy. 23. Các cơ sở được phép sản xuất, sửa chữa súng đạn thể thao quốc phòng phải chấp hành đầy đủ các thủ tục và sự hướng dẫn kiểm soát của cơ quan công an. Khi có sự thay đổi người, địa điểm, mở rộng hay thu hẹp phạm vi sản xuất, sửa chữa đều phải được phép của cơ quan công an nơi cấp giấy phép trước. 24. Thông tư này thi hành kể từ ngày ký.
|
Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
|
01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA
|
12/06/2000
|
Thông tư liên tịch
|
27/06/2000
| null | null |
Toà án nhân dân tối cao
|
Chánh án
|
Trịnh Hồng Dương
|
Toàn quốc
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số
32/1999/QH10
ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội
và Nghị quyết số
229/2000/NQ-UBTVQH10
ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
_________________________________
Ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số
32/1999/QH10
về việc thi hành Bộ luật Hình sự (từ đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định là Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01-7-2000, nhưng tại Mục 3 của Nghị quyết đã quy định đường lối, chính sách xử lý đối với một số trường hợp cụ thể được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4-1-2000). Ngày 28-1-2000, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số
229/2000/NQ-UBTVQH10
về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 229).
Để thi hành đúng các quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các quy định tại Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây, kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4-1-2000):
1. Trong mọi trường hợp khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm cũng không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm một trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội đó; cụ thể là các tội sau đây:
STT
Tội danh và Điều luật theo
BLHS năm 1985
Tội danh và Điều luật theo
BLHS năm 1999
1
Tội phạm an ninh lãnh thổ
(Điều 75)
Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
(Điều 81)
2
Tội chống phá trại giam
(Điều 84)
Tội chống phá trại giam
(Điều 90)
3
Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
(Điều 95)
Tội chế tạo, tàng chữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
(Điều 230)
4
Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới
(Điều 97)
Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới
(Điều 154)
5
Tội trộm cắp tài sản XHCN
(Điều 132)
Tội trộm cắp tài sản
(Điều 138)
6
Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN
(Điều 138)
Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
(Điều 143)
7
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân
(Điều 156)
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
(Điều 280)
8
Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả
(Điều 167)
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156)
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi
(Điều 158)
9
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý
(Điều 185m)
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý
(Điều 200)
10
Tội làm môi giới hối lộ
(Điều 227)
Tội làm môi giới hối lộ
(Điều 290)
11
Tội bỏ vị trí chiến đấu
(Điều 258)
Tội bỏ vị trí chiến đấu
(Điều 324)
12
Tội tuyển mộ lính đánh thê, tội làm lính đánh thê
(Điều 280)
Tôị thuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê
(Điều 344)
Trong các trường hợp trên đây, nếu khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm mà xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình, thì nay áp dụng điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất mà điều luật đó quy định.
2. Khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con (con đẻ, con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử về tội phạm mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tử hình.
Chỉ được coi là con nuôi, nếu việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định.
3. Điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 quy định: "Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm...." Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm bao gồm:
a. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định thành một tội danh cụ thể trong một điều luật cụ thể nay Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa và đã bỏ tội danh này; cụ thể là:
STT
Điều luật và tội danh theo BLHS năm 1985
1
Điều 86. Các tội chống nhà nước XHCN anh em
2
Điều 98. Tội phá huỷ tiền tệ
3
Điều 164. Tội cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa
4
Điều 172. Tội chiếm đoạt tem, phiếu; tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối
5
Điều 177 Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất
6
Điều 183. Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (nếu không thuộc trường hợp kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999).
7
Điều 184. Tội lạm sát gia súc
8
Điều 208. Tội trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích
9
Điều 209. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích
10
Điều 261. Tội vắng mặt trái phép
b. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm trong một điều luật cụ thể về một tội danh cụ thể, nay Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có điều luật cụ thể về tội danh đó, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi phạm tội này.
Ví dụ 1: Hành vi chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý thu lợi bất chính lớn, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà" theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 270 quy định về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà ở", nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này.
Ví dụ 2: hành vi của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không tố giác các tội phạm không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác không phải là tội đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "không tố giác tội phạm" theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 314 quy định về tội không tố giác tội phạm, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này;
c. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi này không phải là tội phạm vì không có một hoặc một số dấu hiệu cấu thành bắt buộc mới được bổ sung.
Ví dụ 1: Các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng mà không cần phải kèm theo bất kỳ một điều kiện nào, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng, nếu thuộc một trong các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; do đó, các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng mà không thuộc một trong các trường họp này, thì theo Bộ luật Hình sự năm 1999 không phải là tội phạm.
Ví dụ 2: Các hành vi như cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, tổ chức tảo hôn hoặc tảo hôn theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danhtương ứng, nếu họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, thì không phải là tội phạm.
Ví dụ 3: Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai không vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai", (Điều 180); nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai" (Điều 174) nếu đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử lý kỷ luật (kể cả xử phạt vi phạm hành chính) về hành vi này, dù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì vẫn không phải là tội phạm. (Nếu vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, thì tuỳ từng thời điểm, từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985 hoặc Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999).
4. Điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội quy định: "không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năn tù..."; do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cần kiểm tra xem về tội phạm mà người chưa thành niên đó bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bao nhiêu năm tù; nếu Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đó là 7 năm tù trở xuống, thì đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
5. Việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp nêu tại Mục 3 và Mục 4 Thông tư này được thực hiện như sau:
a. Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, thì cơ quan điều tra áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án;
b. Nếu hồ sơ vụ án đã được chuyển đến Viện kiểm sát để quyết định việc truy tố, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án;
c. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thì cần phân biệt như sau:
- Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của bị can mà Toà án xét thấy có căn cứ, thì Toà án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát; nếu qua điều tra bổ sung thấy vẫn thuộc một trong các trường hợp nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án biết theo quy định tại khoản 2 Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn (hoặc Quyết định ) rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà xét xử vụ án đó áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án;
- Trong trường hợp Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà (nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiên toà sơ thẩm) áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại mục 3 Thông tư này) hoặc áp dụng điểm d mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này);
d. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà và tuỳ từng trường hợp việc quyết định đình chỉ vụ án được thực hiện như sau:
- Đối với trường hợp được nêu tại Mục 3 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự và đình chỉ vụ án.
- Đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
đ. Cần chú ý rằng việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án được hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d mục này chỉ là đình chỉ đối với các trường hợp được nêu tại các Mục 3 và 4 Thông tư này về mặt hình sự, còn các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng... (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can, bị cáo khác trong vụ án (nếu có), thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung.
6. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước như sau:
a. Cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm rà soát các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt và lập thành một danh sách. Danh sách này cần ghi rõ họ, tên người được đề nghị miễn chấp hành hình phạt; ngày, tháng, năm sinh và nơi cư trú của họ, tội danh và mức hình phạt đã bị Toà án xử phạt theo bản án số..., ngày, tháng, năm. Kèm theo danh sách này là bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đối với mỗi một đối tượng cụ thể. Danh sách này và các bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được gửi kèm theo Công văn đề nghị đến Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
b. Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm chấp hành hình phạt xem xét và nếu thấy các tài liệu đã đầy đủ rõ ràng, thì tuỳ từng trường hợp áp dụng điểm tương ứng Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra quyết định miễn chấp hành hình phạt cho các đối tượng được đề nghị; nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có vấn đề gì chưa rõ thì yêu cầu cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị cung cấp tài liệu đó hoặc làm rõ thêm;
c. Bản sao quyết định miễn chấp hành hình phạt được gửi cho đương sự, cơ quan đề nghị miễn chấp hành hình phạt, các cơ quan liên quan để thi hành và Viện kiểm sát cùng cấp;
d. Cần chú ý là điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội chỉ quy định việc miễn chấp hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), còn đối với các vấn đề khác đối với họ, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng...., thì họ vẫn phải thi hành;
đ. Cần chú ý là việc miễn chấp hành hình phạt theo các bước trên đây chỉ được tiến hành đối với người bị kết án trước ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 4-1-2000). Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này mà bị kết án kể từ ngày 4-1-2000, thì không thực hiện miễn chấp hành hình phạt đối với họ mà phải xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với họ theo thủ tục giám đốc thẩm.
7. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau:
a. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị toà án xử phạt 2 năm tù về tội "vắng mặt trái phép" và 3 năm tù về tội "làm mất vũ khí quân dụng", tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 5 năm tù; nếu Nguyễn Văn A chưa chấp hành hình phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt tù, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt tù chưa quá ba năm, thì Nguyễn Văn A được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt 2 năm tù đối với tội "vắng mặt trái phép";
b. Nếu người bị kết án đã chấp hành một phần hình phạt hoặc dang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
Ví dụ 2: Nếu trong ví dụ 1 trên đây của Mục này, Nguyễn Văn A đã chấp hành hình phạt tù quá 3 năm, thì Nguyễn văn A được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại.
8. Khi đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ hay quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người được đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, chứ không phải về oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự.
9. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cũng như bản thân người bị kết án đề nghị việc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp cần hướng dẫn họ làm đơn đề nghị và cùng bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật gửi cho cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tiến hành việc miễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư này.
10. Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này cũng như các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành phạt theo quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà đang bị truy nã, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã biết để cơ quan này ra ngay quyết định (hoặc lệnh) đình nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác.
11. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội.
Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=27069&Keyword=
|
2025-09-24T02:38:14.212014
|
../data\bocongan\012000TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA\document.json
| null |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 của quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ - UBTVQH10 ngày 28 tháng 1 năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội _________________________________ Ngày 21 - 12 - 1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật Hình sự mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999). Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự (từ đây gọi tắt là Nghị quyết số 32). Tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định là Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 - 7 - 2000, nhưng tại Mục 3 của Nghị quyết đã quy định đường lối, chính sách xử lý đối với một số trường hợp cụ thể được áp dụng kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4 - 1 - 2000). Ngày 28 - 1 - 2000, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số 229/2000/NQ - UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc thi hành Bộ luật Hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 229). Để thi hành đúng các quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội và các quy định tại Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây, kể từ ngày Bộ luật Hình sự được công bố (ngày 4 - 1 - 2000): 1. Trong mọi trường hợp khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm cũng không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm một trong những tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội đó; cụ thể là các tội sau đây: STT Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1985 Tội danh và Điều luật theo BLHS năm 1999 1 Tội phạm an ninh lãnh thổ (Điều 75) Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81) 2 Tội chống phá trại giam (Điều 84) Tội chống phá trại giam (Điều 90) 3 Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 95) Tội chế tạo, tàng chữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230) 4 Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97) Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154) 5 Tội trộm cắp tài sản XHCN (Điều 132) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138) 6 Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN (Điều 138) Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) 7 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280) 8 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả (Điều 167) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156) - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158) 9 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 185m) Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 200) 10 Tội làm môi giới hối lộ (Điều 227) Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) 11 Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 258) Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324) 12 Tội tuyển mộ lính đánh thê, tội làm lính đánh thê (Điều 280) Tôị thuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê (Điều 344) Trong các trường hợp trên đây, nếu khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm mà xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình, thì nay áp dụng điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất mà điều luật đó quy định. 2. Khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con (con đẻ, con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử về tội phạm mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tử hình. Chỉ được coi là con nuôi, nếu việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định. 3. Điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 quy định: "Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm. . ." Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm bao gồm: a. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định thành một tội danh cụ thể trong một điều luật cụ thể nay Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa và đã bỏ tội danh này; cụ thể là: STT Điều luật và tội danh theo BLHS năm 1985 1 Điều 86. Các tội chống nhà nước XHCN anh em 2 Điều 98. Tội phá huỷ tiền tệ 3 Điều 164. Tội cản trở việc thực hiện các quy định của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa 4 Điều 172. Tội chiếm đoạt tem, phiếu; tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối 5 Điều 177 Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất 6 Điều 183. Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (nếu không thuộc trường hợp kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 1999). 7 Điều 184. Tội lạm sát gia súc 8 Điều 208. Tội trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích 9 Điều 209. Tội làm trái hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích 10 Điều 261. Tội vắng mặt trái phép b. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm trong một điều luật cụ thể về một tội danh cụ thể, nay Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có điều luật cụ thể về tội danh đó, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi phạm tội này. Ví dụ 1: Hành vi chuyển nhượng trái phép nhà do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội quản lý thu lợi bất chính lớn, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà" theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 270 quy định về tội "vi phạm các quy định về quản lý nhà ở", nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này. Ví dụ 2: hành vi của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không tố giác các tội phạm không phải là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác không phải là tội đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "không tố giác tội phạm" theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 1985, nay trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy vẫn có Điều 314 quy định về tội không tố giác tội phạm, nhưng trong điều luật đó đã bỏ hành vi này; c. Hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hành vi này không phải là tội phạm vì không có một hoặc một số dấu hiệu cấu thành bắt buộc mới được bổ sung. Ví dụ 1: Các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng mà không cần phải kèm theo bất kỳ một điều kiện nào, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng, nếu thuộc một trong các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; do đó, các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng mà không thuộc một trong các trường họp này, thì theo Bộ luật Hình sự năm 1999 không phải là tội phạm. Ví dụ 2: Các hành vi như cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, tổ chức tảo hôn hoặc tảo hôn theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng, nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danhtương ứng, nếu họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, thì không phải là tội phạm. Ví dụ 3: Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai không vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính theo Bộ luật Hình sự năm 1985 có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai", (Điều 180); nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ coi là tội phạm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai" (Điều 174) nếu đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp chưa bị xử lý kỷ luật (kể cả xử phạt vi phạm hành chính) về hành vi này, dù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì vẫn không phải là tội phạm. (Nếu vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, thì tuỳ từng thời điểm, từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985 hoặc Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999). 4. Điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội quy định: "không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năn tù. . "; do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cần kiểm tra xem về tội phạm mà người chưa thành niên đó bị khởi tố, truy tố hoặc xét xử, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là bao nhiêu năm tù; nếu Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đó là 7 năm tù trở xuống, thì đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ án. 5. Việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án đối với các trường hợp nêu tại Mục 3 và Mục 4 Thông tư này được thực hiện như sau: a. Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra, thì cơ quan điều tra áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án; b. Nếu hồ sơ vụ án đã được chuyển đến Viện kiểm sát để quyết định việc truy tố, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; c. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thì cần phân biệt như sau: - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của bị can mà Toà án xét thấy có căn cứ, thì Toà án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát; nếu qua điều tra bổ sung thấy vẫn thuộc một trong các trường hợp nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này, thì Viện kiểm sát áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 143 b Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án biết theo quy định tại khoản 2 Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự; - Trong trường hợp Viện kiểm sát có Công văn (hoặc Quyết định ) rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà xét xử vụ án đó áp dụng điểm c (hoặc điểm d) Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; - Trong trường hợp Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà (nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiên toà sơ thẩm) áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại mục 3 Thông tư này) hoặc áp dụng điểm d mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án (đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này); d. Nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà và tuỳ từng trường hợp việc quyết định đình chỉ vụ án được thực hiện như sau: - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 3 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự và đình chỉ vụ án. - Đối với trường hợp được nêu tại Mục 4 Thông tư này, thì Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, Mục 3 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, điểm 3 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. đ. Cần chú ý rằng việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án được hướng dẫn tại các điểm a, b, c và d mục này chỉ là đình chỉ đối với các trường hợp được nêu tại các Mục 3 và 4 Thông tư này về mặt hình sự, còn các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. . (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can, bị cáo khác trong vụ án (nếu có), thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. 6. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước như sau: a. Cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm rà soát các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành hình phạt và lập thành một danh sách. Danh sách này cần ghi rõ họ, tên người được đề nghị miễn chấp hành hình phạt; ngày, tháng, năm sinh và nơi cư trú của họ, tội danh và mức hình phạt đã bị Toà án xử phạt theo bản án số. . , ngày, tháng, năm. Kèm theo danh sách này là bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đối với mỗi một đối tượng cụ thể. Danh sách này và các bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được gửi kèm theo Công văn đề nghị đến Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; b. Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm chấp hành hình phạt xem xét và nếu thấy các tài liệu đã đầy đủ rõ ràng, thì tuỳ từng trường hợp áp dụng điểm tương ứng Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra quyết định miễn chấp hành hình phạt cho các đối tượng được đề nghị; nếu có tài liệu nào chưa đủ hoặc có vấn đề gì chưa rõ thì yêu cầu cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị cung cấp tài liệu đó hoặc làm rõ thêm; c. Bản sao quyết định miễn chấp hành hình phạt được gửi cho đương sự, cơ quan đề nghị miễn chấp hành hình phạt, các cơ quan liên quan để thi hành và Viện kiểm sát cùng cấp; d. Cần chú ý là điểm c Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội chỉ quy định việc miễn chấp hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), còn đối với các vấn đề khác đối với họ, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng. . ., thì họ vẫn phải thi hành; đ. Cần chú ý là việc miễn chấp hành hình phạt theo các bước trên đây chỉ được tiến hành đối với người bị kết án trước ngày công bố Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 4 - 1 - 2000). Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này mà bị kết án kể từ ngày 4 - 1 - 2000, thì không thực hiện miễn chấp hành hình phạt đối với họ mà phải xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với họ theo thủ tục giám đốc thẩm. 7. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau: a. Nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm nữa. Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị toà án xử phạt 2 năm tù về tội "vắng mặt trái phép" và 3 năm tù về tội "làm mất vũ khí quân dụng", tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 5 năm tù; nếu Nguyễn Văn A chưa chấp hành hình phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt tù, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt tù chưa quá ba năm, thì Nguyễn Văn A được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt 2 năm tù đối với tội "vắng mặt trái phép"; b. Nếu người bị kết án đã chấp hành một phần hình phạt hoặc dang chấp hành hình phạt, nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt vượt quá mức hình phạt mà Toà án đã xử phạt đối với tội mà Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn quy định là tội phạm, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Ví dụ 2: Nếu trong ví dụ 1 trên đây của Mục này, Nguyễn Văn A đã chấp hành hình phạt tù quá 3 năm, thì Nguyễn văn A được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại. 8. Khi đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ hay quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người được đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước ta, chứ không phải về oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, họ không có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự. 9. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cũng như bản thân người bị kết án đề nghị việc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp cần hướng dẫn họ làm đơn đề nghị và cùng bản sao bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật gửi cho cơ quan được giao thẩm quyền đề nghị theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tiến hành việc miễn chấp hành hình phạt theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư này. 10. Đối với các đối tượng được nêu tại các mục 3 và 4 Thông tư này cũng như các đối tượng thuộc diện được miễn chấp hành phạt theo quy định tại mục 4 Nghị quyết số 229 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà đang bị truy nã, thì cơ quan ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã biết để cơ quan này ra ngay quyết định (hoặc lệnh) đình nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác. 11. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời. /.
|
Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999
|
01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC
|
25/09/2001
|
Thông tư liên tịch
|
10/10/2001
|
Công báo số 44, năm 2001
|
30/11/2001
|
Bộ Tư pháp
|
Thứ trưởng
|
Uông Chu Lưu
|
Toàn quốc
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình”
của Bộ luật Hình sự năm 1999
_________________
Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là BLHS), Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:
1. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm"
Đối với các tội: "cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ" (Điều 146 BLHS); "vi phạm chế độ một vợ, một chồng" (Điều 147 BLHS); tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn" (Điều 148 BLHS); "ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình" (Điều 151 BLHS); "từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều 152 BLHS), BLHS có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" trong cấu thành tội phạm; do đó, cần chú ý:
Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại:
a) Thực hiện chính hành vi đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi tổ chức tảo hôn; v.v...
b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi hành hạ vợ, con, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi ngược đãi cha, mẹ; v.v..
.
Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
2. Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS)
2.1. Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó.
Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác.
a) Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v.v... nhằm mục đích cưỡng ép việc kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều 151 BLHS.
b) Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v.v..
.
c) Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ.
d) Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v.v...
2.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2.3. Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị...); người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (như: người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ..
.
); người có ảnh hưởng trong công tác (như: thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ).
3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS)
3
.
1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó
...
3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.
Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v
...
b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
3
.
3
.
Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS.
4. Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS)
4.1
.
Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
4.2. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người tổ chức tảo hôn biết rõ hoặc có căn cứ để biết rõ là cả hai người hoặc một trong hai người mà mình tổ chức lễ cưới là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định
.
Trong trường hợp, người tổ chức thực sự không biết việc đó hoặc bị nhầm lẫn về độ tuổi, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.
4.3
.
Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
4.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:
a) Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn;
b) Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó;
c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
4.5
.
Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng thông thường là: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ.
Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên.
5. Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS)
5.1
.
Đăng ký kết hôn trái pháp luật là việc người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận sự kiện kết hôn (ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn) cho người mà mình biết rõ là không đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 hoặc thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
5.2. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, khi người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là xoá kỷ luật mà còn vi phạm.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số
97/1998/NĐ-CP
ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức, thì thời gian hiệu lực của kỷ luật đối với công chức là 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành. Công chức được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người bị kỷ luật thì cũng được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật, mặc dù cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật.
Đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn do pháp luật chưa có quy định thời hạn được xoá kỷ luật nên thời gian hiệu lực của kỷ luật cũng được tính là 12 tháng, kể từ ngày Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định xử lý kỷ luật.
Cần lưu ý, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì chỉ tính những trường hợp "đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" kể từ ngày 01/7/2000 trở đi, tức là ngày BLHS có hiệu lực thi hành.
5
.
3
.
Chủ thể của tội này là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là:
a) Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn;
b) Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài;
c) Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.
6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS)
6.1
.
Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
6.2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS).
Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS); nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS); trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS) .
7. Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 BLHS)
7.1
.
Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm,... làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác và tinh thần.
7.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS).
Trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc Điều 93 BLHS về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức tử theo Điều 100 BLHS.
b) Người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
7.3. Đối tượng bị xâm hại quy định tại Điều 151 BLHS bao gồm:
a) Ông bà, bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại;
b) Cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế;
c) Vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình;
d) Con, bao gồm con đẻ (con trong giá thú và con ngoài giá thú); con nuôi; con rể; con dâu; con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng;
đ) Cháu, bao gồm cháu nội, cháu ngoại;
e) Người có công nuôi dưỡng mình là anh chị em, cô, dì, chú, bác, bà con thân thích hoặc những người khác đã hoặc đang nuôi dưỡng người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ.
Cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này; nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác theo Điều 110 BLHS; trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định tại Điều 146 BLHS.
8. Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS)
8.1
.
Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều 60 Chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa:
a) Vợ và chồng;
b) Cha, mẹ và con;
c) Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu;
d) Anh chị em với nhau.
8.2. Có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương.
8.3. Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thường được biểu hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó.
8.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:
a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng;
c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật, v.v…). Trong trường hợp chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
8.5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về tội không chấp hành án.
9. Hiệu lực thi hành của Thông tư
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2001.
Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích, hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=22714&Keyword=
|
2025-09-24T02:37:58.976304
|
../data\bocongan\012001TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC\document.json
| null |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 _________________ Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là BLHS), Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau: 1. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" Đối với các tội: "cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ" (Điều 146 BLHS); "vi phạm chế độ một vợ, một chồng" (Điều 147 BLHS); tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn" (Điều 148 BLHS); "ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình" (Điều 151 BLHS); "từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" (Điều 152 BLHS), BLHS có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" trong cấu thành tội phạm; do đó, cần chú ý: Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại: a) Thực hiện chính hành vi đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi tổ chức tảo hôn; v. v. . b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó. Ví dụ: trước đó A đã bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; trước đó B đã bị xử phạt hành chính về hành vi hành hạ vợ, con, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính lại thực hiện hành vi ngược đãi cha, mẹ; v. v. . Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS) 2. 1. Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó. Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác. a) Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v. v. . nhằm mục đích cưỡng ép việc kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều 151 BLHS. b) Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v. v. . c) Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ. d) Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v. v. . 2. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. 3. Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị. . ); người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (như: người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ. . ); người có ảnh hưởng trong công tác (như: thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ). 3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) 3. 1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó. . 3. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v. v. . b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 3. 3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS. 4. Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS) 4. 1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 4. 2. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người tổ chức tảo hôn biết rõ hoặc có căn cứ để biết rõ là cả hai người hoặc một trong hai người mà mình tổ chức lễ cưới là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Trong trường hợp, người tổ chức thực sự không biết việc đó hoặc bị nhầm lẫn về độ tuổi, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. 4. 3. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4. 4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn; b) Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó; c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 4. 5. Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng thông thường là: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ. Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên. 5. Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS) 5. 1. Đăng ký kết hôn trái pháp luật là việc người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận sự kiện kết hôn (ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn) cho người mà mình biết rõ là không đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 9 hoặc thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 5. 2. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, khi người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là xoá kỷ luật mà còn vi phạm. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 97/1998/NĐ - CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức, thì thời gian hiệu lực của kỷ luật đối với công chức là 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành. Công chức được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người bị kỷ luật thì cũng được coi là xoá kỷ luật nếu sau 12 tháng kể từ ngày có quyết định kỷ luật, công chức không tái phạm và không có những vi phạm đến mức phải bị xử lý kỷ luật, mặc dù cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật. Đối với cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn do pháp luật chưa có quy định thời hạn được xoá kỷ luật nên thời gian hiệu lực của kỷ luật cũng được tính là 12 tháng, kể từ ngày Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định xử lý kỷ luật. Cần lưu ý, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì chỉ tính những trường hợp "đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" kể từ ngày 01/7/2000 trở đi, tức là ngày BLHS có hiệu lực thi hành. 5. 3. Chủ thể của tội này là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là: a) Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn; b) Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài; c) Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. 6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS) 6. 1. Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. 6. 2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS). Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS); nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS); trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS). 7. Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 BLHS) 7. 1. Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm, . . làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác và tinh thần. 7. 2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS). Trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc Điều 93 BLHS về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức tử theo Điều 100 BLHS. b) Người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 7. 3. Đối tượng bị xâm hại quy định tại Điều 151 BLHS bao gồm: a) Ông bà, bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại; b) Cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế; c) Vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; d) Con, bao gồm con đẻ (con trong giá thú và con ngoài giá thú); con nuôi; con rể; con dâu; con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng; đ) Cháu, bao gồm cháu nội, cháu ngoại; e) Người có công nuôi dưỡng mình là anh chị em, cô, dì, chú, bác, bà con thân thích hoặc những người khác đã hoặc đang nuôi dưỡng người thực hiện hành vi ngược đãi, hành hạ. Cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này; nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác theo Điều 110 BLHS; trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định tại Điều 146 BLHS. 8. Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS) 8. 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại các điều từ Điều 50 đến Điều 60 Chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa: a) Vợ và chồng; b) Cha, mẹ và con; c) Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; d) Anh chị em với nhau. 8. 2. Có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương. 8. 3. Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thường được biểu hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó. 8. 4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật, v. v…). Trong trường hợp chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 8. 5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về tội không chấp hành án. 9. Hiệu lực thi hành của Thông tư Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2001. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần phải giải thích, hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
|
Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông.
|
01/2001/TTLT/TCBĐ-BCA
|
07/06/2001
|
Thông tư liên tịch
|
22/06/2001
|
Công báo số 25, năm 2001;
|
08/07/2001
|
Tổng cục Bưu điện
|
Tổng Cục trưởng
|
Mai Liêm Trực
|
Toàn quốc
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin
trong hoạt động bưu chính, viễn thông
Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
109/1997/NĐ-CP
về bưu chính và viễn thông. Để thi hành các quy định của Nghị định này, Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông như sau:
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (sau đây viết gọn là cơ quan, tổ chức, cá nhân) bao gồm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh đối với các việc thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông.
2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến lĩnh vực bưu chính, viễn thông đều phải chấp hành pháp luật về bưu chính, viễn thông; có trách nhiệm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
II. BẢO ĐẢM AN TOÀN MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG
Việc bảo đảm an toàn mạng lưới bưu chính, viễn thông thực hiện như sau:
1. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an xem xét, thẩm định danh mục công trình bưu chính, viễn thông trọng điểm do doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đề xuất để trình Chính phủ phê duyệt danh mục công trình bưu chính, viễn thông cần được lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ.
Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức, triển khai lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ các công trình trọng điểm thuộc danh mục Chính phủ đã phê duyệt.
2. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông (sau đây viết tắt là doanh nghiệp) có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an tiến hành:
a. Xây dựng các phương án bảo vệ; phòng, chống cháy, nổ; tuần tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; các công trình trọng điểm thuộc danh mục đã được Chính phủ phê duyệt;
b. Xây dựng phương án phối hợp hành động khi có tình huống khẩn cấp xảy ra như đột nhập, phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông;
c. Tổ chức lực lượng bảo vệ, trang bị các thiết bị bảo vệ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông thuộc quyền quản lý.
3. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 mục II của Thông tư này và huấn luyện, hướng dẫn nghiệp vụ cho doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng giữa 2 bên.
4. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có trách nhiệm:
a. Bảo vệ an toàn hoạt động mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình;
b. Không được lợi dụng hoặc để người khác lợi dụng mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình gây nhiễu, gây rối loạn, phá hoại hoạt động mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông;
c. Phát hiện, thông báo đầy đủ, kịp thời những hoạt động phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông cho doanh nghiệp, các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp.
III. BẢO ĐẢM AN NINH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG
Việc bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông thực hiện như sau:
1. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài:
a. Trong thời hạn 10 ngày làm việc và trường hợp đặc biệt thì không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Bộ Ngoại giao và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và ưu đãi, miễn trừ lãnh sự, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao và Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an.
b. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm a nêu trên, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an.
2. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng; cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông; thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam:
Tổng cục Bưu điện thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an. Trường hợp đã phân cấp quản lý cho các Cục Bưu điện khu vực thì Cục Bưu điện khu vực có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Việc cấp phép thiết lập mạng, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam thực hiện theo các quy định hiện hành của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan.
4. Đối với việc cấp phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng cáp quang biển:
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ của tổ chức xin phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng các tuyến cáp quang biển Quốc tế đi qua vùng biển của Việt Nam (vùng nội thuỷ, lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Tổng cục Bưu điện tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
5. Bộ Công an và Tổng cục Bưu điện phối hợp chỉ đảo, hướng dẫn việc ngăn chặn khẩn cấp đối với các trường hợp cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các hoạt động vi phạm pháp luật khác.
6. Các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện và các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an phối hợp thực hiện bảo đảm an ninh thông tin trong các lĩnh vực sau:
a. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông; kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông trái với pháp luật;
b. Kiểm tra và xử lý các vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện thực hiện theo các quy định trong Thông tư liên tịch số 05/TTLT ngày 26/07/1997 của Tổng cục Bưu điện, Bộ Thương mại, Bộ Công an và Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch số
06/1998/TTLT-TCBĐ-TCHQ
ngày 11/12/1998 của Tổng cục Bưu điện và Tổng cục Hải quan;
c. Thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để xây dựng các phương án ngăn chặn khẩn cấp nhằm bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
7. Doanh nghiệp có trách nhiệm:
a. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ trong trường hợp cần thiết để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vị lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
b. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra, kiểm soát an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông;
c. Bố trí mặt bằng, điểm truy nhập mạng lưới và các điều kiện kỹ thuật cần thiết cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, viễn thông;
d. Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin liên quan cho Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông;
đ. Phổ biến, cung cấp thông tin cần thiết về công nghệ, kỹ thuật mới trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an để phục vụ công tác quản lý an ninh thông tin;
e. Hướng dẫn người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông bảo vệ nội dung thông tin theo Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước.
8. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng bưu chính, viễn thông có trách nhiệm:
a. Tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đưa vào lưu trữ và chuyển đi trên mạng khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông;
b. Phối hợp và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin liên quan cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động của mạng viễn thông dùng riêng, mạng nội bộ và việc sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn các cơ quan tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn mạng lưới, an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông.
2. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 02/01/1993 của Tổng cục Bưu điện và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc tăng cường công tác bảo vệ an toàn mạng viễn thông Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phản ánh về Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để hướng dẫn giải quyết kịp thời.
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=22715&Keyword=
|
2025-09-24T02:38:00.771074
|
../data\bocongan\012001TTLTTCBĐ-BCA\document.json
|
09/01/2009
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn việc bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/1997/NĐ - CP về bưu chính và viễn thông. Để thi hành các quy định của Nghị định này, Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (sau đây viết gọn là cơ quan, tổ chức, cá nhân) bao gồm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh đối với các việc thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông. 2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến lĩnh vực bưu chính, viễn thông đều phải chấp hành pháp luật về bưu chính, viễn thông; có trách nhiệm bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. II. BẢO ĐẢM AN TOÀN MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an toàn mạng lưới bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an xem xét, thẩm định danh mục công trình bưu chính, viễn thông trọng điểm do doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đề xuất để trình Chính phủ phê duyệt danh mục công trình bưu chính, viễn thông cần được lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức, triển khai lực lượng cảnh sát nhân dân canh gác, bảo vệ các công trình trọng điểm thuộc danh mục Chính phủ đã phê duyệt. 2. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông (sau đây viết tắt là doanh nghiệp) có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an tiến hành: a. Xây dựng các phương án bảo vệ; phòng, chống cháy, nổ; tuần tra, kiểm tra đột xuất và định kỳ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; các công trình trọng điểm thuộc danh mục đã được Chính phủ phê duyệt; b. Xây dựng phương án phối hợp hành động khi có tình huống khẩn cấp xảy ra như đột nhập, phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Tổ chức lực lượng bảo vệ, trang bị các thiết bị bảo vệ mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông thuộc quyền quản lý. 3. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 mục II của Thông tư này và huấn luyện, hướng dẫn nghiệp vụ cho doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng giữa 2 bên. 4. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Bảo vệ an toàn hoạt động mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình; b. Không được lợi dụng hoặc để người khác lợi dụng mạng lưới, thiết bị đầu cuối thuê bao và mật khẩu truy nhập của mình gây nhiễu, gây rối loạn, phá hoại hoạt động mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông; c. Phát hiện, thông báo đầy đủ, kịp thời những hoạt động phá hoại mạng lưới và các công trình bưu chính, viễn thông cho doanh nghiệp, các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp. III. BẢO ĐẢM AN NINH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG Việc bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông thực hiện như sau: 1. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài: a. Trong thời hạn 10 ngày làm việc và trường hợp đặc biệt thì không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Bộ Ngoại giao và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và ưu đãi, miễn trừ lãnh sự, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao và Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. b. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ xin cấp phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm a nêu trên, Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Trên cơ sở đó, Tổng cục Bưu điện xét cấp phép và thông báo cho Bộ Công an. 2. Đối với việc cấp phép thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng; cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông; thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam: Tổng cục Bưu điện thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an. Trường hợp đã phân cấp quản lý cho các Cục Bưu điện khu vực thì Cục Bưu điện khu vực có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, xét cấp phép và thông báo bằng văn bản cho Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Việc cấp phép thiết lập mạng, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam thực hiện theo các quy định hiện hành của Tổng cục Bưu điện, Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan. 4. Đối với việc cấp phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng cáp quang biển: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Tổng cục Bưu điện và hồ sơ hợp lệ của tổ chức xin phép khảo sát thiết kế, thi công lắp đặt, bảo dưỡng các tuyến cáp quang biển Quốc tế đi qua vùng biển của Việt Nam (vùng nội thuỷ, lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), Bộ Công an có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Tổng cục Bưu điện tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 5. Bộ Công an và Tổng cục Bưu điện phối hợp chỉ đảo, hướng dẫn việc ngăn chặn khẩn cấp đối với các trường hợp cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các hoạt động vi phạm pháp luật khác. 6. Các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện và các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an phối hợp thực hiện bảo đảm an ninh thông tin trong các lĩnh vực sau: a. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động thiết lập mạng lưới bưu chính, viễn thông; cung cấp và sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát vô tuyến điện; thi công lắp đặt công trình bưu chính, viễn thông; kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông trái với pháp luật; b. Kiểm tra và xử lý các vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện thực hiện theo các quy định trong Thông tư liên tịch số 05/TTLT ngày 26/07/1997 của Tổng cục Bưu điện, Bộ Thương mại, Bộ Công an và Bộ Tài chính và Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT - TCBĐ - TCHQ ngày 11/12/1998 của Tổng cục Bưu điện và Tổng cục Hải quan; c. Thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để xây dựng các phương án ngăn chặn khẩn cấp nhằm bảo đảm an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông; triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. 7. Doanh nghiệp có trách nhiệm: a. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ trong trường hợp cần thiết để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vị lợi dụng mạng lưới bưu chính, viễn thông để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; b. Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra, kiểm soát an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; c. Bố trí mặt bằng, điểm truy nhập mạng lưới và các điều kiện kỹ thuật cần thiết cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, viễn thông; d. Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin liên quan cho Tổng cục Bưu điện, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh thông tin đối với các hoạt động bưu chính, viễn thông; đ. Phổ biến, cung cấp thông tin cần thiết về công nghệ, kỹ thuật mới trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an để phục vụ công tác quản lý an ninh thông tin; e. Hướng dẫn người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông bảo vệ nội dung thông tin theo Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước. 8. Chủ mạng viễn thông dùng riêng, chủ mạng nội bộ, đại lý bưu chính, viễn thông và người sử dụng bưu chính, viễn thông có trách nhiệm: a. Tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đưa vào lưu trữ và chuyển đi trên mạng khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông; b. Phối hợp và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin liên quan cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm an ninh thông tin trong hoạt động của mạng viễn thông dùng riêng, mạng nội bộ và việc sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn các cơ quan tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn mạng lưới, an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông. 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 02/01/1993 của Tổng cục Bưu điện và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc tăng cường công tác bảo vệ an toàn mạng viễn thông Việt Nam. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phản ánh về Tổng cục Bưu điện và Bộ Công an để hướng dẫn giải quyết kịp thời.
|
"Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đ(...TRUNCATED)
|
01/2002/TT-BCA(C11)
|
04/01/2002
|
Thông tư
|
19/01/2002
|
Công báo điện tử;
| null |
Bộ Công an
|
Thứ trưởng
|
Lê Thế Tiệm
|
Toàn quốc
| "THÔNG TƯ\nHướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện\ngiao thông c(...TRUNCATED)
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17194&Keyword=
|
2025-09-24T02:32:40.069379
|
../data\bocongan\012002TT-BCAC11\document.json
|
08/02/2007
| "THÔNG TƯ Hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ(...TRUNCATED)
|
"Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm ngh(...TRUNCATED)
|
01/2003/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP
|
11/08/2003
|
Thông tư liên tịch
|
21/09/2003
|
Công báo số 145, năm 2003
|
06/09/2003
|
Toà án nhân dân tối cao
|
Phó Chánh án
|
Đặng Quang Phương
|
Toàn quốc
| "THÔNG TƯ\nLIÊN TỊCH\nHướng dẫn áp dụng một số quy định\ntại Chương XXIII \"(...TRUNCATED)
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=25130&Keyword=
|
2025-09-24T02:37:44.191872
|
../data\bocongan\012003TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP\document.json
| null | "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII \"Cá(...TRUNCATED)
|
"Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2002/NĐ-CP ngày 15/5(...TRUNCATED)
|
01/2003/TTLT/BLĐTBXH- BYT-BCA
|
24/01/2003
|
Thông tư liên tịch
|
09/02/2003
|
Số 14
|
10/03/2003
|
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
|
Thứ trưởng
|
Đàm Hữu Đắc
|
Toàn quốc
| "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH\nHướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số\(...TRUNCATED)
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=21820&Keyword=
|
2025-09-24T02:37:47.417100
|
../data\bocongan\012003TTLTBLĐTBXH- BYT-BCA\document.json
|
26/03/2012
| "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 5(...TRUNCATED)
|
"Về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH(...TRUNCATED)
|
01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP
|
25/03/2004
|
Thông tư liên tịch
|
05/05/2004
|
Công báo điện tử;
| null |
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
|
Phó Viện trưởng
|
Trần Thu
|
Toàn quốc
| "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH\nHướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số (...TRUNCATED)
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=18525&Keyword=
|
2025-09-24T02:37:34.676049
|
../data\bocongan\012004TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP\document.json
|
20/12/2006
| "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 3(...TRUNCATED)
|
"Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hì(...TRUNCATED)
|
01/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP
|
01/07/2005
|
Thông tư liên tịch
|
10/08/2005
|
Công báo số 31 & 32 - 07/2005;
|
26/07/2005
|
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
|
Phó Viện trưởng
|
Trần Thu
| null | "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH\nHướng dẫn thi hành một số quy định\ncủa pháp luật trong (...TRUNCATED)
|
https://vbpl.vn/bocongan/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=17926&Keyword=
|
2025-09-24T02:37:20.537851
|
../data\bocongan\012005TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP\document.json
|
01/01/2019
| "THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong c(...TRUNCATED)
|
End of preview. Expand
in Data Studio
README.md exists but content is empty.
- Downloads last month
- 9