content
stringlengths
465
7.22k
question
stringlengths
10
193
answer
stringlengths
1
76
Năm 2009, NYU đáp lại loạt bài phỏng vấn trên The New York Times cho thấy hành vi lạm dụng lao động ở cơ sở mới tại Abu Dhabi bằng cách ra tuyên bố về giá trị người lao động cho các nhân viên ở khuôn viên tại Abu Dhabi. Một bài báo nối tiếp công bố năm 2014 trên tờ The Times cho thấy mặc dù một số điều kiện làm việc đã được cải thiện, các nhà thầu của trường đại học có giá trị vốn hoá hàng tỷ USD này vẫn thường xuyên bắt các lao động của mình làm việc trong điều kiện như ở thế giới thé ba. Bài báo cho biết các điều kiện làm việc tồi tệ bao gồm tịch thu hộ chiếu của công nhân, bắt làm thêm giờ, thu phí tuyển dụng và lao động phải ngủ dưới gầm giường trong các phòng ngủ tập thể đầy gián. theo bài báo trên, các lao động có ý định phản đối điều kiện làm việc của các nhà thầu đối tác của NYU đều ngay lập tức bị bắt. NYU có phản hồi ngay trong ngày bài báo được đăng và xin lỗi các lao động. Một báo cáo khác cũng được công bố, trong đó vẫn nêu rằng những lao động đình công ngay lập tức bị cảnh sát bắt và bị đánh đập tại đồn cảnh sát. Những ai không phải là người bản địa bị trục xuất về nước.
Hành vi lạm dụng lao động của NYU được phơi bày thông qua nguồn nào?
The New York Times
Năm 2009, NYU đáp lại loạt bài phỏng vấn trên The New York Times cho thấy hành vi lạm dụng lao động ở cơ sở mới tại Abu Dhabi bằng cách ra tuyên bố về giá trị người lao động cho các nhân viên ở khuôn viên tại Abu Dhabi. Một bài báo nối tiếp công bố năm 2014 trên tờ The Times cho thấy mặc dù một số điều kiện làm việc đã được cải thiện, các nhà thầu của trường đại học có giá trị vốn hoá hàng tỷ USD này vẫn thường xuyên bắt các lao động của mình làm việc trong điều kiện như ở thế giới thé ba. Bài báo cho biết các điều kiện làm việc tồi tệ bao gồm tịch thu hộ chiếu của công nhân, bắt làm thêm giờ, thu phí tuyển dụng và lao động phải ngủ dưới gầm giường trong các phòng ngủ tập thể đầy gián. theo bài báo trên, các lao động có ý định phản đối điều kiện làm việc của các nhà thầu đối tác của NYU đều ngay lập tức bị bắt. NYU có phản hồi ngay trong ngày bài báo được đăng và xin lỗi các lao động. Một báo cáo khác cũng được công bố, trong đó vẫn nêu rằng những lao động đình công ngay lập tức bị cảnh sát bắt và bị đánh đập tại đồn cảnh sát. Những ai không phải là người bản địa bị trục xuất về nước.
Theo một bài báo trên tờ The Times, hành vi nào của các nhà thầu của NYU khiến cho điều kiện làm việc của người lao động giống như ở thế giới thứ ba?
thu phí tuyển dụng
Logo của trường hình ngọn đuốc hướng lên, lấy ý tưởng từ Tượng Nữ thần Tự do, nhấn mạnh sứ mệnh phục vụ của NYU đối với thành phố New York. Ngọn đuốc xuất hiện trên cả con dấu của NYU và một logo khác trừu tượng hơn của trường, thiết kế vào năm 1965 bởi nhà thiết kế đồ hoạ nổi tiếng Tom Geismar của tổ chức nhãn hiệu và thiết kế Chermayeff & Geismar. Có ít nhất hai lý giải về nguồn gốc màu sắc đặc trưng của trường, tím Violet. Một số người cho rằng màu này được chọn bởi vì Chi Hoa tím được cho là đã mọc rất rậm rạp ở Quảng trường Washington và xung quanh trụ tường của Toà nhà Đại học cũ. Số khác cho rằng màu này được chọn bởi vì tím violet là màu sắc gắn liền với Athens, trung tâm học vấn của Hy Lạp cổ đại.
Logo của trường NYU được thiết kế bởi ai?
Tom Geismar
Logo của trường hình ngọn đuốc hướng lên, lấy ý tưởng từ Tượng Nữ thần Tự do, nhấn mạnh sứ mệnh phục vụ của NYU đối với thành phố New York. Ngọn đuốc xuất hiện trên cả con dấu của NYU và một logo khác trừu tượng hơn của trường, thiết kế vào năm 1965 bởi nhà thiết kế đồ hoạ nổi tiếng Tom Geismar của tổ chức nhãn hiệu và thiết kế Chermayeff & Geismar. Có ít nhất hai lý giải về nguồn gốc màu sắc đặc trưng của trường, tím Violet. Một số người cho rằng màu này được chọn bởi vì Chi Hoa tím được cho là đã mọc rất rậm rạp ở Quảng trường Washington và xung quanh trụ tường của Toà nhà Đại học cũ. Số khác cho rằng màu này được chọn bởi vì tím violet là màu sắc gắn liền với Athens, trung tâm học vấn của Hy Lạp cổ đại.
Logo của trường hình gì?
ngọn đuốc hướng lên
Quảng trường Washington và Làng Greenwich là những trung tâm của đời sống văn hoá thành phố New York từ đầu thế kỷ 19. Phần lớn văn hoá này đã giao thoa với NYU vào nhiều thời điểm trong lịch sử. Các họa sĩ đến từ Trường Sông Hudson, trường đào tạo họa sĩ xuất sắc đầu tiên của Hoa Kỳ, sống xung quanh Quảng trường Washington. Samuel F.B. Morse, một họa sĩ nổi tiếng và cũng là người đi tiên phong trong việc sử dụng máy điện báo, người sáng tạo ra mã Morse, là Chủ tịch đầu tiên của Hội họa và Điêu khắc. Ông cùng với Daniel Huntington là những người từng thuê Toà nhà Đại học cũ hồi giữa thế kỷ 19. (NYU đã cho thuê không gian phòng vẽ và căn hộ ngay trong toà nhà "giảng đường" này.) Do đó, họ có mối quan hệ đáng chú ý với đời sống văn hoá và học thuật của trường đại học.
Ai là Chủ tịch đầu tiên của Hội họa và Điêu khắc?
Samuel F.B. Morse
Vào những năm 1870, hai nhà điêu khắc Augustus Saint-Gaudens và Daniel Chester French sinh sống và làm việc gần Quảng trường. Đến những năm 1920, Công viên Quảng trường Washington được công nhận cấp quốc gia là một trung tâm của phong trào nổi loạn về nghệ thuật và đạo đức. Do đó, khuôn viên NYU tại Quảng trường Washington trở nên đa dạng và hối hả nhờ có năng lượng của cuộc sống đô thị, điều này đã dẫn đến những sự thay đổi về mặt học thuật ở NYU. Những cư dân nổi tiếng thời kỳ này bao gồm Eugene O'Neill, John Sloan, và Maurice Prendergast. Vào những năm 1930, những người theo chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng Jackson Pollock và Willem de Kooning, cùng với những người ủng hộ thuyết duy thực Edward Hopper và Thomas Hart Benton đều có xưởng vẽ xung quanh Quảng trường Washington. Những năm 1960 khu này trở thành một trong những trung tâm của thế hệ âm nhạc beat và folk (dân gian), khi Allen Ginsberg và Bob Dylan sinh sống tại đó. Điều này đã dẫn tới căng thẳng giữa họ và NYU, vốn hồi đó đang trải qua một chiến dịch mở rộng cơ sở vật chất lớn. Năm 1975, trường mở một Bộ sưu tập Nghệ thuật Xám tại số 100 đường Washington Square East, nhằm lưu trữ bộ sưu tập nghệ thuật của NYU và tổ chức các buổi triển lãm có chất lượng tương đương các bảo tàng.
Nhà điêu khắc nào đã sống và làm việc gần Quảng trường Washington vào những năm 1870?
Augustus Saint-Gaudens và Daniel Chester French
Vào những năm 1870, hai nhà điêu khắc Augustus Saint-Gaudens và Daniel Chester French sinh sống và làm việc gần Quảng trường. Đến những năm 1920, Công viên Quảng trường Washington được công nhận cấp quốc gia là một trung tâm của phong trào nổi loạn về nghệ thuật và đạo đức. Do đó, khuôn viên NYU tại Quảng trường Washington trở nên đa dạng và hối hả nhờ có năng lượng của cuộc sống đô thị, điều này đã dẫn đến những sự thay đổi về mặt học thuật ở NYU. Những cư dân nổi tiếng thời kỳ này bao gồm Eugene O'Neill, John Sloan, và Maurice Prendergast. Vào những năm 1930, những người theo chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng Jackson Pollock và Willem de Kooning, cùng với những người ủng hộ thuyết duy thực Edward Hopper và Thomas Hart Benton đều có xưởng vẽ xung quanh Quảng trường Washington. Những năm 1960 khu này trở thành một trong những trung tâm của thế hệ âm nhạc beat và folk (dân gian), khi Allen Ginsberg và Bob Dylan sinh sống tại đó. Điều này đã dẫn tới căng thẳng giữa họ và NYU, vốn hồi đó đang trải qua một chiến dịch mở rộng cơ sở vật chất lớn. Năm 1975, trường mở một Bộ sưu tập Nghệ thuật Xám tại số 100 đường Washington Square East, nhằm lưu trữ bộ sưu tập nghệ thuật của NYU và tổ chức các buổi triển lãm có chất lượng tương đương các bảo tàng.
Năm nào Quảng trường Washington được công nhận là trung tâm nổi loạn về nghệ thuật và đạo đức?
những năm 1920
Vào những năm 1870, hai nhà điêu khắc Augustus Saint-Gaudens và Daniel Chester French sinh sống và làm việc gần Quảng trường. Đến những năm 1920, Công viên Quảng trường Washington được công nhận cấp quốc gia là một trung tâm của phong trào nổi loạn về nghệ thuật và đạo đức. Do đó, khuôn viên NYU tại Quảng trường Washington trở nên đa dạng và hối hả nhờ có năng lượng của cuộc sống đô thị, điều này đã dẫn đến những sự thay đổi về mặt học thuật ở NYU. Những cư dân nổi tiếng thời kỳ này bao gồm Eugene O'Neill, John Sloan, và Maurice Prendergast. Vào những năm 1930, những người theo chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng Jackson Pollock và Willem de Kooning, cùng với những người ủng hộ thuyết duy thực Edward Hopper và Thomas Hart Benton đều có xưởng vẽ xung quanh Quảng trường Washington. Những năm 1960 khu này trở thành một trong những trung tâm của thế hệ âm nhạc beat và folk (dân gian), khi Allen Ginsberg và Bob Dylan sinh sống tại đó. Điều này đã dẫn tới căng thẳng giữa họ và NYU, vốn hồi đó đang trải qua một chiến dịch mở rộng cơ sở vật chất lớn. Năm 1975, trường mở một Bộ sưu tập Nghệ thuật Xám tại số 100 đường Washington Square East, nhằm lưu trữ bộ sưu tập nghệ thuật của NYU và tổ chức các buổi triển lãm có chất lượng tương đương các bảo tàng.
Nhà điêu khắc nào sống gần Quảng trường Washington vào những năm 1870?
Augustus Saint-Gaudens
Vào những năm 1870, hai nhà điêu khắc Augustus Saint-Gaudens và Daniel Chester French sinh sống và làm việc gần Quảng trường. Đến những năm 1920, Công viên Quảng trường Washington được công nhận cấp quốc gia là một trung tâm của phong trào nổi loạn về nghệ thuật và đạo đức. Do đó, khuôn viên NYU tại Quảng trường Washington trở nên đa dạng và hối hả nhờ có năng lượng của cuộc sống đô thị, điều này đã dẫn đến những sự thay đổi về mặt học thuật ở NYU. Những cư dân nổi tiếng thời kỳ này bao gồm Eugene O'Neill, John Sloan, và Maurice Prendergast. Vào những năm 1930, những người theo chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng Jackson Pollock và Willem de Kooning, cùng với những người ủng hộ thuyết duy thực Edward Hopper và Thomas Hart Benton đều có xưởng vẽ xung quanh Quảng trường Washington. Những năm 1960 khu này trở thành một trong những trung tâm của thế hệ âm nhạc beat và folk (dân gian), khi Allen Ginsberg và Bob Dylan sinh sống tại đó. Điều này đã dẫn tới căng thẳng giữa họ và NYU, vốn hồi đó đang trải qua một chiến dịch mở rộng cơ sở vật chất lớn. Năm 1975, trường mở một Bộ sưu tập Nghệ thuật Xám tại số 100 đường Washington Square East, nhằm lưu trữ bộ sưu tập nghệ thuật của NYU và tổ chức các buổi triển lãm có chất lượng tương đương các bảo tàng.
Trường mở một Bộ sưu tập Nghệ thuật Xám ở đâu?
100 đường Washington Square East
NYU đã hoàn tất thành công chiến dịch huy động 2,5 tỷ USD trong bảy năm, với kết quả ngoài mong đợi khi đã huy động được hơn ba tỷ USD trong khoảng thời gian bảy năm. Bắt đầu từ năm 2001, chiến dịch này đã trở thành chiến dịch lớn nhất trong lịch sử của trường đại học, trong đó họ dự định "gây quỹ 1 triệu USD mỗi ngày để chi trả tiền học bổng và hỗ trợ tài chính, mời thêm cán bộ giảng dạy, hỗ trợ các sáng kiến học thuật mới, và cải tiến phương tiện học tập của NYU". Chiến dịch cũng nhận được món quà trị giá 50 triệu USD từ gia đình Tisch (sau này một toà nhà và một trường nghệ thuật được đặt theo tên họ) và một món quà khác trị giá 60 triệu USD từ sáu thành viên quản trị gọi là "Quỹ Những người bạn" nhằm mời thêm cán bộ giảng dạy. Vào ngày 15 tháng 10 năm 2007, trường thông báo rằng gia đình Silver đã ủng hộ 50 triệu USD cho Trường Công tác Xã hội. Đây là khoản ủng hộ lớn nhất trong lịch sử dành cho một trường công tác xã hội ở Hoa Kỳ.
Chiến dịch gây quỹ của NYU bắt đầu vào năm nào?
2001
NYU đã hoàn tất thành công chiến dịch huy động 2,5 tỷ USD trong bảy năm, với kết quả ngoài mong đợi khi đã huy động được hơn ba tỷ USD trong khoảng thời gian bảy năm. Bắt đầu từ năm 2001, chiến dịch này đã trở thành chiến dịch lớn nhất trong lịch sử của trường đại học, trong đó họ dự định "gây quỹ 1 triệu USD mỗi ngày để chi trả tiền học bổng và hỗ trợ tài chính, mời thêm cán bộ giảng dạy, hỗ trợ các sáng kiến học thuật mới, và cải tiến phương tiện học tập của NYU". Chiến dịch cũng nhận được món quà trị giá 50 triệu USD từ gia đình Tisch (sau này một toà nhà và một trường nghệ thuật được đặt theo tên họ) và một món quà khác trị giá 60 triệu USD từ sáu thành viên quản trị gọi là "Quỹ Những người bạn" nhằm mời thêm cán bộ giảng dạy. Vào ngày 15 tháng 10 năm 2007, trường thông báo rằng gia đình Silver đã ủng hộ 50 triệu USD cho Trường Công tác Xã hội. Đây là khoản ủng hộ lớn nhất trong lịch sử dành cho một trường công tác xã hội ở Hoa Kỳ.
Chiến dịch gây quỹ của NYU kéo dài trong bao lâu?
bảy năm
NYU đã công bố kế hoạch phát triển chiến lược 25 năm, trùng với dịp kỷ niệm 200 năm thành lập trường vào năm 2031. Trong số các kế hoạch "NYU 200" này là mở rộng không gian học tập và sinh hoạt cho sinh viên, mời thêm các cán bộ giảng dạy xuất sắc, và thu hút cộng đồng Thành phố New York theo một quá trình quy hoạch rõ ràng. Thêm vào đó, NYU hy vọng sẽ cải thiện các toà nhà của trường cho thân thiện với môi trường hơn, thông qua một quy trình đánh giá không gian của tất cả các khuôn viên của trường. Trong khuôn khổ kế hoạch này, NYU đã mua 118 triệu kilôwatt giờ năng lượng gió trong năm học 2006–2007 – nhiều hơn bất kỳ trường đại học nào của Hoa Kỳ và bất kỳ cơ sở giáo dục nào của Thành phố New York. Trong năm 2007, trường mua tới 132 triệu kilôwatt giờ năng lượng gió. Kết quả là, Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) xếp hạng NYU là một trong những trường đại học xanh nhất Hoa Kỳ sau chương trình Thách thức Sử dụng Năng lượng Xanh với Trường Đại học.
NYU mua bao nhiêu kilôwatt giờ năng lượng gió trong năm 2007?
132 triệu kilôwatt giờ
NYU đã công bố kế hoạch phát triển chiến lược 25 năm, trùng với dịp kỷ niệm 200 năm thành lập trường vào năm 2031. Trong số các kế hoạch "NYU 200" này là mở rộng không gian học tập và sinh hoạt cho sinh viên, mời thêm các cán bộ giảng dạy xuất sắc, và thu hút cộng đồng Thành phố New York theo một quá trình quy hoạch rõ ràng. Thêm vào đó, NYU hy vọng sẽ cải thiện các toà nhà của trường cho thân thiện với môi trường hơn, thông qua một quy trình đánh giá không gian của tất cả các khuôn viên của trường. Trong khuôn khổ kế hoạch này, NYU đã mua 118 triệu kilôwatt giờ năng lượng gió trong năm học 2006–2007 – nhiều hơn bất kỳ trường đại học nào của Hoa Kỳ và bất kỳ cơ sở giáo dục nào của Thành phố New York. Trong năm 2007, trường mua tới 132 triệu kilôwatt giờ năng lượng gió. Kết quả là, Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) xếp hạng NYU là một trong những trường đại học xanh nhất Hoa Kỳ sau chương trình Thách thức Sử dụng Năng lượng Xanh với Trường Đại học.
Năm 2006–2007, NYU đã mua bao nhiêu kilôwatt giờ năng lượng gió?
118 triệu
NYU liên tục được xếp hạng là một trong những cơ sở giáo dục huy động được nhiều ngân sách nhất của Hoa Kỳ, với số tiền 449,34 triệu USD trong năm 2013 và 455,72 triệu USD năm 2014. NYU cũng là trường đại học giàu thứ 19 Hoa Kỳ với 5,3 triệu USD tiền mặt và các khoản đầu tư trong năm tài khoá 2014. Từ năm 2002 đến 2015, NYU đã huy động được gần 6 tỷ USD, trong đó có bảy món quà 9 chữ số (từ 100 triệu USD trở lên); trong số các trường đại học của Hoa Kỳ chỉ có Harvard đạt được mức huy động như thế trong khoảng thời gian trên.
NYU huy động được gần bao nhiêu tiền từ năm 2002 đến 2015?
6 tỷ USD
NYU liên tục được xếp hạng là một trong những cơ sở giáo dục huy động được nhiều ngân sách nhất của Hoa Kỳ, với số tiền 449,34 triệu USD trong năm 2013 và 455,72 triệu USD năm 2014. NYU cũng là trường đại học giàu thứ 19 Hoa Kỳ với 5,3 triệu USD tiền mặt và các khoản đầu tư trong năm tài khoá 2014. Từ năm 2002 đến 2015, NYU đã huy động được gần 6 tỷ USD, trong đó có bảy món quà 9 chữ số (từ 100 triệu USD trở lên); trong số các trường đại học của Hoa Kỳ chỉ có Harvard đạt được mức huy động như thế trong khoảng thời gian trên.
Năm 2014, NYU có bao nhiêu tiền mặt và các khoản đầu tư?
5,3 triệu USD
NYU liên tục được xếp hạng là một trong những cơ sở giáo dục huy động được nhiều ngân sách nhất của Hoa Kỳ, với số tiền 449,34 triệu USD trong năm 2013 và 455,72 triệu USD năm 2014. NYU cũng là trường đại học giàu thứ 19 Hoa Kỳ với 5,3 triệu USD tiền mặt và các khoản đầu tư trong năm tài khoá 2014. Từ năm 2002 đến 2015, NYU đã huy động được gần 6 tỷ USD, trong đó có bảy món quà 9 chữ số (từ 100 triệu USD trở lên); trong số các trường đại học của Hoa Kỳ chỉ có Harvard đạt được mức huy động như thế trong khoảng thời gian trên.
NYU là trường đại học giàu thứ mấy ở Hoa Kỳ?
thứ 19
NYU liên tục được xếp hạng là một trong những cơ sở giáo dục huy động được nhiều ngân sách nhất của Hoa Kỳ, với số tiền 449,34 triệu USD trong năm 2013 và 455,72 triệu USD năm 2014. NYU cũng là trường đại học giàu thứ 19 Hoa Kỳ với 5,3 triệu USD tiền mặt và các khoản đầu tư trong năm tài khoá 2014. Từ năm 2002 đến 2015, NYU đã huy động được gần 6 tỷ USD, trong đó có bảy món quà 9 chữ số (từ 100 triệu USD trở lên); trong số các trường đại học của Hoa Kỳ chỉ có Harvard đạt được mức huy động như thế trong khoảng thời gian trên.
Trong năm tài khoá 2014, NYU giàu thứ mấy ở Hoa Kỳ?
19
NYU điều hành và quản lý các nhà hát và phương tiện biểu diễn thường được sử dụng bởi nhạc viện của trường và Trường Nghệ thuật Tisch. Thỉnh thoảng, một số chương trình bên ngoài cũng thuê cơ sở vật chất của NYU. Các sân khấu biểu diễn lớn nhất của NYU bao gồm Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Skirball (850 chỗ ngồi) toạ lạc ở số 566 LaGuardia Place, ngay phía nam Quảng trường Washington Nam, và Hội trường Eisner-Lubin Auditorium (560 chỗ ngồi) tại Trung tâm Kimmel. Gần đây, Trung tâm Skirball là nơi tổ chức nhiều buổi nói chuyện về chính sách đối ngoại của John Kerry và Al Gore. Trung tâm Skirball là địa điểm tổ chức biểu diễn nghệ thuật lớn nhất nằm ở phía nam Đường 42.
Hội trường nào có sức chứa lớn nhất trong số các sân khấu biểu diễn của NYU?
Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Skirball
NYU điều hành và quản lý các nhà hát và phương tiện biểu diễn thường được sử dụng bởi nhạc viện của trường và Trường Nghệ thuật Tisch. Thỉnh thoảng, một số chương trình bên ngoài cũng thuê cơ sở vật chất của NYU. Các sân khấu biểu diễn lớn nhất của NYU bao gồm Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Skirball (850 chỗ ngồi) toạ lạc ở số 566 LaGuardia Place, ngay phía nam Quảng trường Washington Nam, và Hội trường Eisner-Lubin Auditorium (560 chỗ ngồi) tại Trung tâm Kimmel. Gần đây, Trung tâm Skirball là nơi tổ chức nhiều buổi nói chuyện về chính sách đối ngoại của John Kerry và Al Gore. Trung tâm Skirball là địa điểm tổ chức biểu diễn nghệ thuật lớn nhất nằm ở phía nam Đường 42.
Trung tâm Skirball là địa điểm biểu diễn nghệ thuật lớn nhất nằm ở đâu?
phía nam Đường 42
Thư viện Elmer Holmes Bobst, xây dựng từ năm 1967 đến năm 1972, là thư viện lớn nhất của Đại học New York và là một trong những thư viện học thuật lớn nhất tại Hoa Kỳ. Thư viện được thiết kế bởi Philip Johnson và Richard Foster, gồm 12 tầng, rộng 425.000 foot vuông (39.500 m2) toạ lạc ở rìa phía nam của Công viên Quảng trường Washington (số 70 Washington Square South) và là thư viện chính của hệ thống tám thư viện với 4,5 triệu đầu sách. Thư viện Bobst cung cấp một Trung tâm Tham khảo Đa ngành, một Khu Nghiên cứu Chung, hệ thống giá sách mở dài 28 dặm (45 km), và khoảng 2.000 chỗ ngồi cho sinh viên nghiên cứu. Mỗi ngày thư viện đón gần 6.800 lượt người, và cho mượn hơn 1 triệu cuốn sách mỗi năm.
Thư viện Elmer Holmes Bobst nằm ở đâu?
rìa phía nam của Công viên Quảng trường Washington
Thư viện Elmer Holmes Bobst, xây dựng từ năm 1967 đến năm 1972, là thư viện lớn nhất của Đại học New York và là một trong những thư viện học thuật lớn nhất tại Hoa Kỳ. Thư viện được thiết kế bởi Philip Johnson và Richard Foster, gồm 12 tầng, rộng 425.000 foot vuông (39.500 m2) toạ lạc ở rìa phía nam của Công viên Quảng trường Washington (số 70 Washington Square South) và là thư viện chính của hệ thống tám thư viện với 4,5 triệu đầu sách. Thư viện Bobst cung cấp một Trung tâm Tham khảo Đa ngành, một Khu Nghiên cứu Chung, hệ thống giá sách mở dài 28 dặm (45 km), và khoảng 2.000 chỗ ngồi cho sinh viên nghiên cứu. Mỗi ngày thư viện đón gần 6.800 lượt người, và cho mượn hơn 1 triệu cuốn sách mỗi năm.
Thư viện Bobst rộng bao nhiêu?
425.000 foot vuông (39.500 m2)
Thư viện Elmer Holmes Bobst, xây dựng từ năm 1967 đến năm 1972, là thư viện lớn nhất của Đại học New York và là một trong những thư viện học thuật lớn nhất tại Hoa Kỳ. Thư viện được thiết kế bởi Philip Johnson và Richard Foster, gồm 12 tầng, rộng 425.000 foot vuông (39.500 m2) toạ lạc ở rìa phía nam của Công viên Quảng trường Washington (số 70 Washington Square South) và là thư viện chính của hệ thống tám thư viện với 4,5 triệu đầu sách. Thư viện Bobst cung cấp một Trung tâm Tham khảo Đa ngành, một Khu Nghiên cứu Chung, hệ thống giá sách mở dài 28 dặm (45 km), và khoảng 2.000 chỗ ngồi cho sinh viên nghiên cứu. Mỗi ngày thư viện đón gần 6.800 lượt người, và cho mượn hơn 1 triệu cuốn sách mỗi năm.
Thư viện Bobst có bao nhiêu chỗ ngồi cho sinh viên nghiên cứu?
khoảng 2.000
Thư viện Elmer Holmes Bobst, xây dựng từ năm 1967 đến năm 1972, là thư viện lớn nhất của Đại học New York và là một trong những thư viện học thuật lớn nhất tại Hoa Kỳ. Thư viện được thiết kế bởi Philip Johnson và Richard Foster, gồm 12 tầng, rộng 425.000 foot vuông (39.500 m2) toạ lạc ở rìa phía nam của Công viên Quảng trường Washington (số 70 Washington Square South) và là thư viện chính của hệ thống tám thư viện với 4,5 triệu đầu sách. Thư viện Bobst cung cấp một Trung tâm Tham khảo Đa ngành, một Khu Nghiên cứu Chung, hệ thống giá sách mở dài 28 dặm (45 km), và khoảng 2.000 chỗ ngồi cho sinh viên nghiên cứu. Mỗi ngày thư viện đón gần 6.800 lượt người, và cho mượn hơn 1 triệu cuốn sách mỗi năm.
Thư viện Elmer Holmes Bobst toạ lạc ở đâu?
số 70 Washington Square South
Thư viện Bobst cũng là nơi lưu trữ nhiều bộ sưu tập đặc biệt có giá trị quan trọng. Bộ sưu tập Fales lưu trữ một trong những tuyển tập truyện giả tưởng Anh và Mỹ tốt nhất ở Hoa Kỳ, bộ sưu tập Downtown, ghi chép lại những tác phẩm văn chương đầu tiên của New York từ thập niên 1970 tới nay, và Bộ sưu tập Ẩm thực và Nghệ thuật chế biến, ghi chép lại lịch sử ẩm thực Hoa Kỳ, trong đó tập trung vào ẩm thực của thành phố New York. Thư viện Bobst còn lưu trữ Thư viện Tamiment, một trong những bộ sưu tập hoàn hảo nhất trên thế giới về tư liệu nghiên cứu học thuật thuộc các lĩnh vực lịch sử lao động, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cấp tiến Hoa Kỳ. Tamiment còn bao gồm Kho lưu trữ Lao động Robert F. Wagner, Kho lưu trữ của các tác giả Mỹ gốc Ireland, Trung tâm Chiến tranh lạnh và Hoa Kỳ, và Trung tâm Tự do Học thuật Frederic Ewen.
Thư viện Bobst lưu trữ bộ sưu tập nào ghi chép lại lịch sử ẩm thực Hoa Kỳ?
Bộ sưu tập Ẩm thực và Nghệ thuật chế biến
Từ đầu thập niên 2000, NYU đã xây dựng nhiều công trình và trang bị cơ sở vật chất mới tại Khuôn viên Quảng trường Washington và các vùng lân cận. Trung tâm phục vụ Đời sống Đại học Kimmel được xây dựng vào năm 2003 và trở thành địa điểm chủ yếu của các văn phòng dịch vụ sinh viên của trường. Đây cũng là nơi đặt Trung tâm Nghệ thuật biểu diễn Skirball, nhà phụ Rosenthal, hội trường Eisner & Lubin và Trung tâm Sinh viên Loeb. Khoa Luật của NYU đã cho xây dựng Hội trường Furman vào năm 2004, kết hợp các yếu tố kiến trúc của hai toà nhà lịch sử vào chung một mặt tiền (một trong hai toà nhà đó từng nằm dưới quyền sở hữu của nhà thơ Edgar Allan Poe).
Khoa Luật của NYU đã xây dựng hội trường nào vào năm 2004?
Hội trường Furman
Từ đầu thập niên 2000, NYU đã xây dựng nhiều công trình và trang bị cơ sở vật chất mới tại Khuôn viên Quảng trường Washington và các vùng lân cận. Trung tâm phục vụ Đời sống Đại học Kimmel được xây dựng vào năm 2003 và trở thành địa điểm chủ yếu của các văn phòng dịch vụ sinh viên của trường. Đây cũng là nơi đặt Trung tâm Nghệ thuật biểu diễn Skirball, nhà phụ Rosenthal, hội trường Eisner & Lubin và Trung tâm Sinh viên Loeb. Khoa Luật của NYU đã cho xây dựng Hội trường Furman vào năm 2004, kết hợp các yếu tố kiến trúc của hai toà nhà lịch sử vào chung một mặt tiền (một trong hai toà nhà đó từng nằm dưới quyền sở hữu của nhà thơ Edgar Allan Poe).
Khoa Luật của NYU xây dựng Hội trường nào vào năm 2004?
Furman
Hoa Kỳ: 36.516 chết (bao gồm 2.830 không chiến đấu) 92.134 bị thương 8.176 mất tích 7.245 tù binh Anh Quốc: 1.109 chết 2.674 bị thương 1.060 mất tích hoặc bị bắt Thổ nhĩ Kỳ: 721 chết 2.111 bị thương 168 mất tích 216 tù binh Canada: 516 chết 1.042 bị thương Australia: 339 1.200 bị thương Pháp: 300 chết hoặc mất tích Hi Lạp: 194 chết 459 bị thương Colombia 163 chết 448 bị thương 2 mất tích 28 bị bắt Thái Lan: 129 chết 1.139 bị thương 5 mất tích Hà Lan: 123 chết Philippines: 112 chết Bỉ: 101 chết 478 bị thương 5 mất tích New Zealand: 33 chết Nam Phi: 28 chết 8 mất tích Luxembourg: 2 chết Tổng cộng: 178.698 chết, 32.925 mất tích và 566.434 bị thương
Bỉ có bao nhiêu binh lính bị thương trong chiến tranh?
478
Hoa Kỳ: 36.516 chết (bao gồm 2.830 không chiến đấu) 92.134 bị thương 8.176 mất tích 7.245 tù binh Anh Quốc: 1.109 chết 2.674 bị thương 1.060 mất tích hoặc bị bắt Thổ nhĩ Kỳ: 721 chết 2.111 bị thương 168 mất tích 216 tù binh Canada: 516 chết 1.042 bị thương Australia: 339 1.200 bị thương Pháp: 300 chết hoặc mất tích Hi Lạp: 194 chết 459 bị thương Colombia 163 chết 448 bị thương 2 mất tích 28 bị bắt Thái Lan: 129 chết 1.139 bị thương 5 mất tích Hà Lan: 123 chết Philippines: 112 chết Bỉ: 101 chết 478 bị thương 5 mất tích New Zealand: 33 chết Nam Phi: 28 chết 8 mất tích Luxembourg: 2 chết Tổng cộng: 178.698 chết, 32.925 mất tích và 566.434 bị thương
Hoa Kỳ có bao nhiêu binh sĩ bị thương trong chiến tranh Triều Tiên?
92.134
Hoa Kỳ: 36.516 chết (bao gồm 2.830 không chiến đấu) 92.134 bị thương 8.176 mất tích 7.245 tù binh Anh Quốc: 1.109 chết 2.674 bị thương 1.060 mất tích hoặc bị bắt Thổ nhĩ Kỳ: 721 chết 2.111 bị thương 168 mất tích 216 tù binh Canada: 516 chết 1.042 bị thương Australia: 339 1.200 bị thương Pháp: 300 chết hoặc mất tích Hi Lạp: 194 chết 459 bị thương Colombia 163 chết 448 bị thương 2 mất tích 28 bị bắt Thái Lan: 129 chết 1.139 bị thương 5 mất tích Hà Lan: 123 chết Philippines: 112 chết Bỉ: 101 chết 478 bị thương 5 mất tích New Zealand: 33 chết Nam Phi: 28 chết 8 mất tích Luxembourg: 2 chết Tổng cộng: 178.698 chết, 32.925 mất tích và 566.434 bị thương
Tổng số người chết trong cuộc chiến là bao nhiêu?
178.698
Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.
Cuộc chiến Triều Tiên bắt đầu vào ngày nào?
25 tháng 6 năm 1950
Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.
Xung đột giữa hai miền Triều Tiên tạm ngưng vào ngày nào?
27 tháng 7 năm 1953
Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.
Chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào năm nào?
chưa kết thúc
Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin kêu gọi lập "các vùng đệm" tại châu Á và châu Âu. Stalin tin rằng Liên Xô phải có tiếng nói quyết định tại Trung Quốc và để đổi lại Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật Bản "hai hoặc ba tuần sau khi Đức đầu hàng." Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản và vào ngày 8 tháng 8 bắt đầu tấn công phía bắc Bán đảo Triều Tiên. Như đã thỏa thuận với Mỹ, Liên Xô dừng quân lại ở vĩ tuyến 38 độ bắc. Quân đội Hoa Kỳ ở phần phía nam của bán đảo đầu tháng 9 năm 1945. Nhiều người Triều Tiên đã tổ chức chính trị trước khi quân đội Hoa Kỳ đến.
Liên Xô dừng quân lại ở vĩ tuyến nào khi tấn công Triều Tiên?
38 độ bắc
Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin kêu gọi lập "các vùng đệm" tại châu Á và châu Âu. Stalin tin rằng Liên Xô phải có tiếng nói quyết định tại Trung Quốc và để đổi lại Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật Bản "hai hoặc ba tuần sau khi Đức đầu hàng." Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản và vào ngày 8 tháng 8 bắt đầu tấn công phía bắc Bán đảo Triều Tiên. Như đã thỏa thuận với Mỹ, Liên Xô dừng quân lại ở vĩ tuyến 38 độ bắc. Quân đội Hoa Kỳ ở phần phía nam của bán đảo đầu tháng 9 năm 1945. Nhiều người Triều Tiên đã tổ chức chính trị trước khi quân đội Hoa Kỳ đến.
Ngày nào Liên Xô tấn công Triều Tiên?
ngày 8 tháng 8
Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin kêu gọi lập "các vùng đệm" tại châu Á và châu Âu. Stalin tin rằng Liên Xô phải có tiếng nói quyết định tại Trung Quốc và để đổi lại Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật Bản "hai hoặc ba tuần sau khi Đức đầu hàng." Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản và vào ngày 8 tháng 8 bắt đầu tấn công phía bắc Bán đảo Triều Tiên. Như đã thỏa thuận với Mỹ, Liên Xô dừng quân lại ở vĩ tuyến 38 độ bắc. Quân đội Hoa Kỳ ở phần phía nam của bán đảo đầu tháng 9 năm 1945. Nhiều người Triều Tiên đã tổ chức chính trị trước khi quân đội Hoa Kỳ đến.
Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản vào ngày nào?
6 tháng 8 năm 1945
Ngày 10 tháng 8 năm 1945, khi mà sự đầu hàng của Nhật Bản trông thấy rõ, chính phủ Hoa Kỳ không biết chắc là người Nga có tôn trọng vào lời đề nghị đã được mình dàn xếp trước đó hay không. Một tháng trước đó, hai vị đại tá là Dean Rusk và Bonesteel đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, sử dụng một bản đồ của Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ để tham khảo. Rusk, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng quân đội Hoa Kỳ lúc đó phải đối mặt với sự thiếu hụt lực lượng có sẵn tại chỗ cũng như gặp phải các yếu tố bất lợi về thời gian và quãng cách khiến quân đội khó mà có thể tiến về phía bắc nhanh chóng trước khi quân đội Liên Xô tiến vào khu vực".
Hai vị đại tá nào đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ?
Dean Rusk và Bonesteel
Ngày 10 tháng 8 năm 1945, khi mà sự đầu hàng của Nhật Bản trông thấy rõ, chính phủ Hoa Kỳ không biết chắc là người Nga có tôn trọng vào lời đề nghị đã được mình dàn xếp trước đó hay không. Một tháng trước đó, hai vị đại tá là Dean Rusk và Bonesteel đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, sử dụng một bản đồ của Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ để tham khảo. Rusk, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng quân đội Hoa Kỳ lúc đó phải đối mặt với sự thiếu hụt lực lượng có sẵn tại chỗ cũng như gặp phải các yếu tố bất lợi về thời gian và quãng cách khiến quân đội khó mà có thể tiến về phía bắc nhanh chóng trước khi quân đội Liên Xô tiến vào khu vực".
Đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ được vẽ trong bao lâu?
nửa tiếng
Ngày 10 tháng 8 năm 1945, khi mà sự đầu hàng của Nhật Bản trông thấy rõ, chính phủ Hoa Kỳ không biết chắc là người Nga có tôn trọng vào lời đề nghị đã được mình dàn xếp trước đó hay không. Một tháng trước đó, hai vị đại tá là Dean Rusk và Bonesteel đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, sử dụng một bản đồ của Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ để tham khảo. Rusk, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng quân đội Hoa Kỳ lúc đó phải đối mặt với sự thiếu hụt lực lượng có sẵn tại chỗ cũng như gặp phải các yếu tố bất lợi về thời gian và quãng cách khiến quân đội khó mà có thể tiến về phía bắc nhanh chóng trước khi quân đội Liên Xô tiến vào khu vực".
Ai đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ?
Rusk và Bonesteel
Vào ngày 8 tháng 9 năm 1945, trung tướng John R. Hodge của Hoa Kỳ đến Incheon để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38. Được bổ nhiệm làm thống đốc quân đội, Tướng Hodge đã trực tiếp kiểm soát miền nam Triều Tiên với tư cách là người đứng đầu Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên (USAMGIK 1945-48). Ông đã cố gắng thiết lập sự kiểm soát bằng cách khôi phục lại sự cai trị của Nhật Bản đối với khu vực này, nhưng trước những cuộc biểu tình của người dân Triều Tiên, ông đã nhanh chóng đảo ngược quyết định. USAMGIK từ chối công nhận chính phủ lâm thời của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc (PRK) do tư tưởng chống cộng của họ.
Trung tướng nào đã tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38 vào ngày 8 tháng 9 năm 1945?
John R. Hodge
Vào ngày 8 tháng 9 năm 1945, trung tướng John R. Hodge của Hoa Kỳ đến Incheon để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38. Được bổ nhiệm làm thống đốc quân đội, Tướng Hodge đã trực tiếp kiểm soát miền nam Triều Tiên với tư cách là người đứng đầu Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên (USAMGIK 1945-48). Ông đã cố gắng thiết lập sự kiểm soát bằng cách khôi phục lại sự cai trị của Nhật Bản đối với khu vực này, nhưng trước những cuộc biểu tình của người dân Triều Tiên, ông đã nhanh chóng đảo ngược quyết định. USAMGIK từ chối công nhận chính phủ lâm thời của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc (PRK) do tư tưởng chống cộng của họ.
Thống đốc quân đội trực tiếp kiểm soát miền nam Triều Tiên là ai?
Tướng Hodge
Vào ngày 8 tháng 9 năm 1945, trung tướng John R. Hodge của Hoa Kỳ đến Incheon để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38. Được bổ nhiệm làm thống đốc quân đội, Tướng Hodge đã trực tiếp kiểm soát miền nam Triều Tiên với tư cách là người đứng đầu Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên (USAMGIK 1945-48). Ông đã cố gắng thiết lập sự kiểm soát bằng cách khôi phục lại sự cai trị của Nhật Bản đối với khu vực này, nhưng trước những cuộc biểu tình của người dân Triều Tiên, ông đã nhanh chóng đảo ngược quyết định. USAMGIK từ chối công nhận chính phủ lâm thời của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc (PRK) do tư tưởng chống cộng của họ.
Tướng Hodge được bổ nhiệm làm gì?
thống đốc quân đội
Tháng 12 năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Triều Tiên dưới một Ủy ban Hỗn hợp Hoa Kỳ-Liên Xô. Thỏa thuận cũng nói rằng Triều Tiên sẽ được độc lập sau bốn năm quốc tế giám sát. Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đã cho phép phần họ quản lý có một chính phủ do người Triều Tiên lãnh đạo trong khi đó các chính phủ của hai phần Triều Tiên lại ưa chuộng theo ý thức hệ của lực lượng chiếm đóng mình. Các sự dàn xếp này bị đa số người dân Triều Tiên bác bỏ và biến thành các cuộc bạo động dữ dội ở cả miền bắc và miền nam.[cần dẫn nguồn].
Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Triều Tiên dưới cơ quan nào?
Ủy ban Hỗn hợp Hoa Kỳ-Liên Xô
Với thất bại của Ủy ban hỗn hợp trong việc dàn xếp, Mỹ đã đưa vấn đề Triều Tiên trình lên Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 1947. Liên Xô lại phản đối mọi sự can thiệp của Liên Hợp Quốc vào nội bộ Triều Tiên. Vào thời điểm đó, Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn hơn Liên Xô trong Liên Hợp Quốc.. Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết vào ngày 14 tháng 11 năm 1947, tuyên bố rằng một cuộc bầu cử tự do trên toàn bán đảo Triều Tiên nên được tổ chức, quân đội nước ngoài phải rút lui, và thành lập một Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên gọi là UNTCOK. Liên Xô và chính quyền cộng sản ở phía Bắc đã tẩy chay bầu cử và không coi nghị quyết của LHQ mang tính chất ràng buộc, họ cho rằng LHQ không thể bảo đảm bầu cử công bằng. Không có sự hợp tác từ phía Liên Xô, người ta quyết định tổ chức cuộc bầu cử dưới sự giám sát của LHQ ở miền nam (mặc dù bầu cử ban đầu dự kiến sẽ được tổ chức trên toàn bán đảo) . Một số đại biểu UNTCOK cho rằng bầu cử chỉ tổ chức ở miền Nam đã tạo ra lợi thế không công bằng cho các ứng cử viên cánh hữu, nhưng ý kiến của họ đã bị bác bỏ. Không ngoài mong muốn của Mỹ, chính phủ đắc cử được lãnh đạo bởi Lý Thừa Vãn, một người Triều Tiên sống lưu vong tại Mỹ và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Ông là một người Triều Tiên bị Nhật Bản cầm tù từ khi còn là một thanh niên và rồi trốn thoát sang Hoa Kỳ nơi ông lấy được các cấp bằng đại học và sau đại học tại Đại học Georgetown, Đại học Harvard và Đại học Princeton. Hoa Kỳ ủng hộ Lý Thừa Vãn bởi ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo và chống Cộng rất mạnh
Ai là người lãnh đạo chính phủ đắc cử của Triều Tiên?
Lý Thừa Vãn
Với thất bại của Ủy ban hỗn hợp trong việc dàn xếp, Mỹ đã đưa vấn đề Triều Tiên trình lên Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 1947. Liên Xô lại phản đối mọi sự can thiệp của Liên Hợp Quốc vào nội bộ Triều Tiên. Vào thời điểm đó, Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn hơn Liên Xô trong Liên Hợp Quốc.. Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết vào ngày 14 tháng 11 năm 1947, tuyên bố rằng một cuộc bầu cử tự do trên toàn bán đảo Triều Tiên nên được tổ chức, quân đội nước ngoài phải rút lui, và thành lập một Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên gọi là UNTCOK. Liên Xô và chính quyền cộng sản ở phía Bắc đã tẩy chay bầu cử và không coi nghị quyết của LHQ mang tính chất ràng buộc, họ cho rằng LHQ không thể bảo đảm bầu cử công bằng. Không có sự hợp tác từ phía Liên Xô, người ta quyết định tổ chức cuộc bầu cử dưới sự giám sát của LHQ ở miền nam (mặc dù bầu cử ban đầu dự kiến sẽ được tổ chức trên toàn bán đảo) . Một số đại biểu UNTCOK cho rằng bầu cử chỉ tổ chức ở miền Nam đã tạo ra lợi thế không công bằng cho các ứng cử viên cánh hữu, nhưng ý kiến của họ đã bị bác bỏ. Không ngoài mong muốn của Mỹ, chính phủ đắc cử được lãnh đạo bởi Lý Thừa Vãn, một người Triều Tiên sống lưu vong tại Mỹ và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Ông là một người Triều Tiên bị Nhật Bản cầm tù từ khi còn là một thanh niên và rồi trốn thoát sang Hoa Kỳ nơi ông lấy được các cấp bằng đại học và sau đại học tại Đại học Georgetown, Đại học Harvard và Đại học Princeton. Hoa Kỳ ủng hộ Lý Thừa Vãn bởi ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo và chống Cộng rất mạnh
Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết về vấn đề Triều Tiên vào ngày nào?
14 tháng 11 năm 1947
Với thất bại của Ủy ban hỗn hợp trong việc dàn xếp, Mỹ đã đưa vấn đề Triều Tiên trình lên Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 1947. Liên Xô lại phản đối mọi sự can thiệp của Liên Hợp Quốc vào nội bộ Triều Tiên. Vào thời điểm đó, Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn hơn Liên Xô trong Liên Hợp Quốc.. Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết vào ngày 14 tháng 11 năm 1947, tuyên bố rằng một cuộc bầu cử tự do trên toàn bán đảo Triều Tiên nên được tổ chức, quân đội nước ngoài phải rút lui, và thành lập một Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên gọi là UNTCOK. Liên Xô và chính quyền cộng sản ở phía Bắc đã tẩy chay bầu cử và không coi nghị quyết của LHQ mang tính chất ràng buộc, họ cho rằng LHQ không thể bảo đảm bầu cử công bằng. Không có sự hợp tác từ phía Liên Xô, người ta quyết định tổ chức cuộc bầu cử dưới sự giám sát của LHQ ở miền nam (mặc dù bầu cử ban đầu dự kiến sẽ được tổ chức trên toàn bán đảo) . Một số đại biểu UNTCOK cho rằng bầu cử chỉ tổ chức ở miền Nam đã tạo ra lợi thế không công bằng cho các ứng cử viên cánh hữu, nhưng ý kiến của họ đã bị bác bỏ. Không ngoài mong muốn của Mỹ, chính phủ đắc cử được lãnh đạo bởi Lý Thừa Vãn, một người Triều Tiên sống lưu vong tại Mỹ và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Ông là một người Triều Tiên bị Nhật Bản cầm tù từ khi còn là một thanh niên và rồi trốn thoát sang Hoa Kỳ nơi ông lấy được các cấp bằng đại học và sau đại học tại Đại học Georgetown, Đại học Harvard và Đại học Princeton. Hoa Kỳ ủng hộ Lý Thừa Vãn bởi ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo và chống Cộng rất mạnh
Liên Xô có quan điểm gì về việc Liên Hợp Quốc can thiệp vào vấn đề Triều Tiên?
phản đối
Với thất bại của Ủy ban hỗn hợp trong việc dàn xếp, Mỹ đã đưa vấn đề Triều Tiên trình lên Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 1947. Liên Xô lại phản đối mọi sự can thiệp của Liên Hợp Quốc vào nội bộ Triều Tiên. Vào thời điểm đó, Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn hơn Liên Xô trong Liên Hợp Quốc.. Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết vào ngày 14 tháng 11 năm 1947, tuyên bố rằng một cuộc bầu cử tự do trên toàn bán đảo Triều Tiên nên được tổ chức, quân đội nước ngoài phải rút lui, và thành lập một Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên gọi là UNTCOK. Liên Xô và chính quyền cộng sản ở phía Bắc đã tẩy chay bầu cử và không coi nghị quyết của LHQ mang tính chất ràng buộc, họ cho rằng LHQ không thể bảo đảm bầu cử công bằng. Không có sự hợp tác từ phía Liên Xô, người ta quyết định tổ chức cuộc bầu cử dưới sự giám sát của LHQ ở miền nam (mặc dù bầu cử ban đầu dự kiến sẽ được tổ chức trên toàn bán đảo) . Một số đại biểu UNTCOK cho rằng bầu cử chỉ tổ chức ở miền Nam đã tạo ra lợi thế không công bằng cho các ứng cử viên cánh hữu, nhưng ý kiến của họ đã bị bác bỏ. Không ngoài mong muốn của Mỹ, chính phủ đắc cử được lãnh đạo bởi Lý Thừa Vãn, một người Triều Tiên sống lưu vong tại Mỹ và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Ông là một người Triều Tiên bị Nhật Bản cầm tù từ khi còn là một thanh niên và rồi trốn thoát sang Hoa Kỳ nơi ông lấy được các cấp bằng đại học và sau đại học tại Đại học Georgetown, Đại học Harvard và Đại học Princeton. Hoa Kỳ ủng hộ Lý Thừa Vãn bởi ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo và chống Cộng rất mạnh
UNTCOK là tên viết tắt của tổ chức nào?
Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên
Khi đó ở 2 miền Triều Tiên, quần chúng đã tự hình thành các "ủy ban nhân dân" nhằm chuẩn bị tiếp quản nước Triều Tiên sau khi được giải phóng. Nhân dân Triều Tiên đều rất khát khao độc lập. Ở miền Bắc, các "ủy ban nhân dân" nói trên có thái độ thân thiện với lực lượng quân quản Liên Xô. [cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, tình hình ở miền Nam thì lại khác. Chế độ quân quản của Mỹ nhận thấy các yếu tố cánh tả (ủng hộ Liên Xô) trong các "ủy ban nhân dân" do quần chúng lập nên, và đã ra sắc lệnh giải tán các tổ chức này. Thay vào đó, Mỹ đã chủ động ủng hộ một chính phủ lâm thời do Lý Thừa Vãn đứng đầu. Lý Thừa Vãn gây áp lực cho chính phủ Mỹ từ bỏ chế độ quân quản và thành lập một nước Cộng hòa Hàn Quốc độc lập ở phía Nam Vào ngày 19 tháng 7 năm 1947, Lyuh Woon-hyung, nhà chính trị gia cấp cao cuối cùng cam kết đối thoại, chết trong một vụ ám sát do Lý Thừa Vãn hậu thuẫn.. Chính quyền Lý Thừa Vãn tiến hành một số chiến dịch quân sự chống lại các phần tử nổi dậy phe cánh tả. Chỉ trong vài năm, từ 30.000 đến 100.000 người đã bị giết hại bởi các chiến dịch này.. Các chính trị gia miền Nam Kim Koo và Kim Kyu-sik cũng tẩy chay cuộc bầu cử, ngoài ra còn có một số đảng phái và chính trị gia khác. Kim Koo về sau bị ám sát bởi các thành phần cánh hữu ủng hộ Lý Thừa Vãn. Như vậy, chính quyền Lý Thừa Vãn đã loại bỏ hoàn toàn phe đối lập. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1948, nhà nước Đại Hàn Dân Quốc chính thức được thành lập ở miền nam, với Lý Thừa Vãn làm tổng thống đầu tiên.
Khi nào Đại Hàn Dân Quốc được thành lập?
15 tháng 8 năm 1948
Trước diễn biến trên, miền Bắc Triều Tiên đã đáp lại bằng 1 cuộc bầu cử quốc hội, và vào tháng 9/1948, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tuyên bố thành lập, đứng đầu bởi lãnh tụ Kim Nhật Thành, một cựu chiến binh từng tham gia kháng chiến chống Nhật suốt 20 năm (CHDCND Triều Tiên tuyên bố cuộc bầu cử quốc hội của nước này không chỉ diễn ra công khai ở miền Bắc mà còn được tiến hành bí mật ở cả miền Nam). Về phần Liên Xô, họ chấp thuận và gia tăng nỗ lực giúp Kim Nhật Thành ở miền bắc. Nhờ uy tín khi từng là một chiến binh kháng chiến chống Nhật, cùng với tài năng chính trị, mối liên hệ với Liên Xô nên Kim Nhật Thành vươn lên thành lãnh đạo của chính quyền mới và dẹp bỏ bất cứ chống đối nào đến sự lãnh đạo của ông. Kim Nhật Thành khao khát giành độc lập và thống nhất cho Triều Tiên, vốn đã bị Nhật bản chiếm đóng gần 50 năm qua.[cần dẫn nguồn]. Trước đó vào tháng 3 năm 1946, Kim Nhật Thành đã tiến hành một chương trình cải cách ruộng đất rộng lớn trên toàn miền Bắc. Đất đai thuộc sở hữu của những địa chủ Nhật Bản và cộng sự đã bị tịch thu và chia cho nông dân nghèo . Cải cách ruộng đất của Bắc Triều Tiên đã được tiến hành một cách ít bạo lực hơn ở Trung Quốc và Việt Nam. Những người nông dân phản ứng tích cực; nhiều chủ sở hữu đất cũ đã trốn chạy về phía nam, nơi một số người trong số họ có được vị trí trong chính phủ Hàn Quốc về sau. Ước tính 400.000 người Bắc Triều Tiên đã bỏ chạy xuống phía nam thời kì này.
Ai đứng đầu CHDCND Triều Tiên khi thành lập?
Kim Nhật Thành
Người chỉ huy lực lượng cảnh sát trên đảo là Trung tướng Kim Ik-ryeo nỗ lực nhằm kết thúc khởi nghĩa trong hòa bình bằng cách đàm phán với quân nổi dậy. Ông họp vài lần với thủ lĩnh Kim Dal-sam của SKLP song hai bên đều không nhất trí về các điều khoản. Chính phủ muốn quân nổi dậy đầu hàng hoàn toàn, còn quân nổi dậy cầu cảnh sát địa phương giải trừ quân bị, miễn nhiệm toàn bộ quan chức trên đảo, cấm chỉ các tổ chức thanh niên bán quân sự trên đảo và tái thống nhất đất nước Triều Tiên.:174
Người chỉ huy lực lượng cảnh sát trên đảo là ai?
Trung tướng Kim Ik-ryeo
Người chỉ huy lực lượng cảnh sát trên đảo là Trung tướng Kim Ik-ryeo nỗ lực nhằm kết thúc khởi nghĩa trong hòa bình bằng cách đàm phán với quân nổi dậy. Ông họp vài lần với thủ lĩnh Kim Dal-sam của SKLP song hai bên đều không nhất trí về các điều khoản. Chính phủ muốn quân nổi dậy đầu hàng hoàn toàn, còn quân nổi dậy cầu cảnh sát địa phương giải trừ quân bị, miễn nhiệm toàn bộ quan chức trên đảo, cấm chỉ các tổ chức thanh niên bán quân sự trên đảo và tái thống nhất đất nước Triều Tiên.:174
Chính phủ muốn quân nổi dậy làm gì?
đầu hàng hoàn toàn
Giao tranh tiếp tục sau khi đàm phán thất bại, Chính phủ Nam Triều Tiên đáp trả hoạt động du kích bằng cách triển khai các đại đội cảnh sát, mỗi đại đội có 1.700 người, từ các tỉnh miền nam đến Jeju.:168 Ngày 17 tháng 11 năm 1948, Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật nhằm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong giai đoạn này, Quân đội Nam Triều Tiên tham gia các hành động tàn bạo, một báo cáo mô tả sự kiện vào ngày 14 tháng 12 năm 1948 khi Quân đội Nam Triều Tiên tấn công làng, bắt giữ nhiều nam nữ thanh thiếu niên, hiếp dâm tập thể các nữ thanh thiếu niên trong hai tuần lễ và hành quyết họ cùng các nam thanh niên.
Quân đội Nam Triều Tiên tham gia các hành động tàn bạo vào ngày nào?
14 tháng 12 năm 1948
Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến.[cần dẫn nguồn]
Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái gì?
Khối Xã hội chủ nghĩa
Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến.[cần dẫn nguồn]
Chính phủ Hoa Kỳ xem cuộc chiến tranh Triều Tiên là gì?
cuộc xung đột quốc tế
Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến.[cần dẫn nguồn]
Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là gì?
một khối thống nhất
Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến.[cần dẫn nguồn]
Hoa Kỳ xem cuộc chiến tranh Triều Tiên là gì?
một cuộc xung đột quốc tế
Suốt một năm sau, Bắc Triều Tiên đã rèn luyện quân đội của họ thành một cỗ máy chiến tranh có tính tấn công khá ghê gớm, một phần dựa theo khuôn mẫu của một lực lượng cơ giới Liên Xô nhưng được tăng cường sức mạnh chính yếu bởi một làn sóng trở về của những người Triều Tiên đã phục vụ trong Quân Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc từ thập niên 1930. Đầu năm 1950 thời gian quyết định tấn công càng gấp rút đối với cả Bình Nhưỡng và Moskva vì thời gian này các lực lượng an ninh của Lý Thừa Vãn đã quét sạch được gần như tất cả các du kích quân do Bình Nhưỡng gửi vào Nam Triều Tiên trong năm 1949. Khả năng thống nhất đất nước dường như tiêu tan, và chính thể của Lý Thừa Vãn đang giành được lợi thế. Kim Nhật Thành đã có một chọn lựa cuối cùng là tấn công quân sự quy ước để thống nhất Triều Tiên dưới sự kiểm soát của ông trước khi Nam Triều Tiên trở nên đủ mạnh để có thể tự vệ.
Quân đội Bắc Triều Tiên được rèn luyện theo khuôn mẫu nào?
lực lượng cơ giới Liên Xô
Vào năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên được trang bị với những vũ khí Xô Viết tuy đã lỗi thời nhưng nó vẫn có lợi thế vượt trội hơn nhiều so với lực lượng Nam Triều Tiên về mọi mặt. Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Stalin, qua điện báo, thông báo cho Kim Nhật Thành hay rằng ông sẵn lòng giúp Kim Nhật Thành trong kế hoạch thống nhất Triều Tiên. Trong những cuộc thảo luận theo sau đó với Kim Nhật Thành, Stalin đề nghị: ông muốn lãnh đạo cuộc chiến và nói rằng một năm tối thiểu 25 ngàn tấn hàng viện trợ có lẽ sẽ giúp ích cho Bắc Triều Tiên chiến thắng. Sau những lần viếng thăm Moskva của Kim Nhật Thành trong tháng ba và tháng 4 năm 1950, Stalin chấp thuận một cuộc tấn công.
Stalin đã cung cấp bao nhiêu tấn hàng viện trợ mỗi năm cho Bắc Triều Tiên?
25 ngàn tấn
Mao Trạch Đông đã phản đối mạnh mẽ kế hoạch của Bắc Triều Tiên xâm chiếm Hàn Quốc cho đến 6 tuần trước khi nổ ra cuộc tấn công và ông chỉ thay đổi chính sách sau khi có chỉ thị của Josef Stalin. Mao Trạch Đông đã bỏ qua lời khuyên của phần còn lại trong chính quyền phản đối cuộc chiến và trở thành người khởi xướng mạnh mẽ cho nó. Sự phản đối quyết liệt của Lâm Bưu, người đáng lẽ đã thống lĩnh các lực lượng Trung Quốc trong cuộc chiến khiến nhân vật này phải rời Trung Quốc sang Liên Xô một thời gian.[cần nguồn tốt hơn]
Mao Trạch Đông đã phản đối kế hoạch của Bắc Triều Tiên xâm chiếm Hàn Quốc cho đến khi nào?
6 tuần trước khi nổ ra cuộc tấn công
Ngày 19/1/1950, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô rằng ông ta có kế hoạch tấn công xuống phía Nam để thống nhất đất nước. Stalin gửi một bức điện thể hiện ủng hộ kế hoạch, nhưng không nói gì với Mao Trạch Đông và cũng đồng ý cung cấp trong năm 1950 vũ khí và trang thiết bị đã cam kết cho năm 1951, để Kim Nhật Thành có thể tăng thêm 3 sư đoàn, nâng quân đội Bắc Triều Tiên lên 10 sư đoàn. Kim Nhật Thành bảo đảm với Stalin rằng ông ta có thể chiếm xong Hàn Quốc trước khi người Mỹ có thời gian cũng như ý định can thiệp. Mục đích của Stalin là muốn kiểm soát bán đảo Triều Tiên và dùng các cảng không bao giờ bị đóng băng là Inchon và Pusan cho hải quân Liên Xô, thay thế cho việc mất cảng Đại Liên (Trung Quốc) mà quân đội Liên Xô đã kiểm soát trong tháng 8/1945.[cần dẫn nguồn]
Stalin muốn sử dụng các cảng nào cho hải quân Liên Xô?
Inchon và Pusan
Ngày 19/1/1950, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô rằng ông ta có kế hoạch tấn công xuống phía Nam để thống nhất đất nước. Stalin gửi một bức điện thể hiện ủng hộ kế hoạch, nhưng không nói gì với Mao Trạch Đông và cũng đồng ý cung cấp trong năm 1950 vũ khí và trang thiết bị đã cam kết cho năm 1951, để Kim Nhật Thành có thể tăng thêm 3 sư đoàn, nâng quân đội Bắc Triều Tiên lên 10 sư đoàn. Kim Nhật Thành bảo đảm với Stalin rằng ông ta có thể chiếm xong Hàn Quốc trước khi người Mỹ có thời gian cũng như ý định can thiệp. Mục đích của Stalin là muốn kiểm soát bán đảo Triều Tiên và dùng các cảng không bao giờ bị đóng băng là Inchon và Pusan cho hải quân Liên Xô, thay thế cho việc mất cảng Đại Liên (Trung Quốc) mà quân đội Liên Xô đã kiểm soát trong tháng 8/1945.[cần dẫn nguồn]
Stalin cung cấp vũ khí và trang thiết bị cho Kim Nhật Thành để làm gì?
tăng thêm 3 sư đoàn
Về mặt chính thức, Bắc Triều Tiên được cho là bên nổ súng trước và ngày 25/6/1950 được coi là ngày mở màn chiến tranh. Tuy nhiên các tài liệu gần đây cho thấy thực ra trước đó khoảng 1 năm, tình hình Triều Tiên vốn đã trở nên căng thẳng và Nam Triều Tiên đã mở nhiều cuộc đột kích nhỏ mang tính khiêu khích nhằm vào Bắc Triều Tiên. Ngay từ tháng 6/1949, hơn 250 biệt kích Nam Triều Tiên được cho là đã phát động một cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên dọc theo bờ biển phía đông, với kết quả là đã có 200 biệt kích Nam Triều Tiên tử trận chỉ sau 2 tuần. Cuộc tấn công ngày 25/6/1950 của Bắc Triều Tiên chỉ là kết quả của một loạt xung đột đã xảy ra từ trước và thực ra đến nay vẫn chưa rõ ai là bên khai chiến trước
Cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên do bên nào phát động?
Nam Triều Tiên
Về mặt chính thức, Bắc Triều Tiên được cho là bên nổ súng trước và ngày 25/6/1950 được coi là ngày mở màn chiến tranh. Tuy nhiên các tài liệu gần đây cho thấy thực ra trước đó khoảng 1 năm, tình hình Triều Tiên vốn đã trở nên căng thẳng và Nam Triều Tiên đã mở nhiều cuộc đột kích nhỏ mang tính khiêu khích nhằm vào Bắc Triều Tiên. Ngay từ tháng 6/1949, hơn 250 biệt kích Nam Triều Tiên được cho là đã phát động một cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên dọc theo bờ biển phía đông, với kết quả là đã có 200 biệt kích Nam Triều Tiên tử trận chỉ sau 2 tuần. Cuộc tấn công ngày 25/6/1950 của Bắc Triều Tiên chỉ là kết quả của một loạt xung đột đã xảy ra từ trước và thực ra đến nay vẫn chưa rõ ai là bên khai chiến trước
Theo đoạn văn, cuộc tấn công đầu tiên của cuộc chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào ngày nào?
25/6/1950
Về mặt chính thức, Bắc Triều Tiên được cho là bên nổ súng trước và ngày 25/6/1950 được coi là ngày mở màn chiến tranh. Tuy nhiên các tài liệu gần đây cho thấy thực ra trước đó khoảng 1 năm, tình hình Triều Tiên vốn đã trở nên căng thẳng và Nam Triều Tiên đã mở nhiều cuộc đột kích nhỏ mang tính khiêu khích nhằm vào Bắc Triều Tiên. Ngay từ tháng 6/1949, hơn 250 biệt kích Nam Triều Tiên được cho là đã phát động một cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên dọc theo bờ biển phía đông, với kết quả là đã có 200 biệt kích Nam Triều Tiên tử trận chỉ sau 2 tuần. Cuộc tấn công ngày 25/6/1950 của Bắc Triều Tiên chỉ là kết quả của một loạt xung đột đã xảy ra từ trước và thực ra đến nay vẫn chưa rõ ai là bên khai chiến trước
Ai là bên khai chiến trước trong Chiến tranh Triều Tiên?
chưa rõ
Được trang bị tốt với 135.438 binh sĩ và 242 xe chiến đấu (bao gồm 150 xe tăng T-34 và vài chục pháo tự hành hạng nhẹ SU-76) của Liên Xô chế tạo, quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu cuộc chiến với khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích Yak và 70 máy bay ném bom tấn công. Tuy vậy, lực lượng hải quân vẫn còn khá thô sơ (so với hải quân Hoa Kỳ gần đó). Điểm yếu trầm trọng nhất của Bắc Triều Tiên là thiếu một hệ thống tiếp vận đáng tin cậy để di chuyển đồ tiếp liệu về miền Nam khi quân đội của họ tiến lên về phía trước, nhưng lực lượng Nam Triều Tiên còn yếu hơn nếu đem so với Bắc Triều Tiên. Hàng ngàn người dân chạy loạn về phía nam bị quân đội Nam Triều Tiên bắt buộc xách tay đồ tiếp liệu.
Quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu chiến tranh với khoảng bao nhiêu máy bay?
180
Được trang bị tốt với 135.438 binh sĩ và 242 xe chiến đấu (bao gồm 150 xe tăng T-34 và vài chục pháo tự hành hạng nhẹ SU-76) của Liên Xô chế tạo, quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu cuộc chiến với khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích Yak và 70 máy bay ném bom tấn công. Tuy vậy, lực lượng hải quân vẫn còn khá thô sơ (so với hải quân Hoa Kỳ gần đó). Điểm yếu trầm trọng nhất của Bắc Triều Tiên là thiếu một hệ thống tiếp vận đáng tin cậy để di chuyển đồ tiếp liệu về miền Nam khi quân đội của họ tiến lên về phía trước, nhưng lực lượng Nam Triều Tiên còn yếu hơn nếu đem so với Bắc Triều Tiên. Hàng ngàn người dân chạy loạn về phía nam bị quân đội Nam Triều Tiên bắt buộc xách tay đồ tiếp liệu.
Lực lượng hải quân Bắc Triều Tiên yếu thế như thế nào khi so sánh với Hoa Kỳ?
khá thô sơ
Khi cuộc tấn công trên bộ tiếp tục, không quân Bắc Triều Tiên tiến hành oanh tạc Phi trường Kimpo gần Seoul. Các lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. Trong cuộc tháo lui hoảng loạn, quân Nam Triều Tiên đã giật mìn đánh sập nhiều cây cầu để ngăn đà tiến của Bắc Triều Tiên, bất chấp việc có nhiều thường dân vẫn còn đi trên đó. Các hành động này không có tác dụng là bao, quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm được 80% lãnh thổ miền nam, quân Nam Triều Tiên chỉ còn kiểm soát một vùng nhỏ ở quanh thành phố cảng Busan.
Seoul bị chiếm vào ngày nào?
28 tháng 6
Khi cuộc tấn công trên bộ tiếp tục, không quân Bắc Triều Tiên tiến hành oanh tạc Phi trường Kimpo gần Seoul. Các lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. Trong cuộc tháo lui hoảng loạn, quân Nam Triều Tiên đã giật mìn đánh sập nhiều cây cầu để ngăn đà tiến của Bắc Triều Tiên, bất chấp việc có nhiều thường dân vẫn còn đi trên đó. Các hành động này không có tác dụng là bao, quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm được 80% lãnh thổ miền nam, quân Nam Triều Tiên chỉ còn kiểm soát một vùng nhỏ ở quanh thành phố cảng Busan.
Khi nào thì lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul?
ngày 28 tháng 6
Khi cuộc tấn công trên bộ tiếp tục, không quân Bắc Triều Tiên tiến hành oanh tạc Phi trường Kimpo gần Seoul. Các lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. Trong cuộc tháo lui hoảng loạn, quân Nam Triều Tiên đã giật mìn đánh sập nhiều cây cầu để ngăn đà tiến của Bắc Triều Tiên, bất chấp việc có nhiều thường dân vẫn còn đi trên đó. Các hành động này không có tác dụng là bao, quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm được 80% lãnh thổ miền nam, quân Nam Triều Tiên chỉ còn kiểm soát một vùng nhỏ ở quanh thành phố cảng Busan.
Không quân Bắc Triều Tiên oanh tạc sân bay nào gần Seoul?
Phi trường Kimpo
Việc Mỹ tham chiến có một số lý do như sau. Harry Truman là tổng thống thuộc Đảng Dân chủ Hoa Kỳ đang bị nhiều áp lực từ trong nước vì quá nhẹ tay đối với các nước theo chủ nghĩa cộng sản. Trong số những người gây áp lực với tổng thống có Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa là Joseph McCarthy, đặc biệt gay gắt nhất là những người tố cáo Đảng Dân chủ đã "làm mất Trung Hoa" vào tay Đảng cộng sản Trung Quốc. Sự can thiệp quân sự cũng là một việc áp dụng quan trọng học thuyết mới có tên là Học thuyết Truman, chủ trương chống đối lại chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ nơi đâu mà nó tìm cách mở rộng. Những bài học của Hiệp ước Munich năm 1938 cũng có ảnh hưởng đến quyết định của Washington, khiến họ tin rằng nhân nhượng các quốc gia hiếu chiến chỉ khuyến khích thêm những hành động bành trướng.
Học thuyết được áp dụng trong quyết định can thiệp quân sự của Mỹ là gì?
Học thuyết Truman
Liên Xô và đồng minh của họ không thừa nhận giải pháp này với lý do là nó bất hợp pháp vì có một thành viên thường trực của hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu. Đối đầu lại điều này, quan điểm đưa ra là một thành viên thường trực của hội đồng phải thật sự phủ quyết để đánh bại giải pháp. Chính phủ Bắc Triều Tiên cũng không đồng ý và lý giải rằng cuộc xung đột này là một cuộc nội chiến, và vì vậy không nằm trong tầm giải quyết của Liên Hiệp Quốc. Năm 1950, một giải pháp của Liên Xô đưa ra kêu gọi chấm dứt thù địch và rút các lực lượng ngoại quốc đã bị bác bỏ.
Chính phủ nào không đồng ý với giải pháp đưa ra của Liên Xô năm 1950?
Chính phủ Bắc Triều Tiên
Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến.
Ai ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược cho quân đội của Nam Triều Tiên?
Tổng thống Truman
Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến.
Truman không đồng ý với ý kiến nào của các cố vấn của mình?
không kích đơn phương của Mỹ
Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến.
Tướng nào được Tổng thống Truman ra lệnh chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên?
Tướng MacArthur
Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến.
Người Mỹ từ chối yêu cầu gì của Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc?
tham chiến tại Triều Tiên
Sự can thiệp lớn nhất và đầu tiên của quân đội ngoại quốc là Lực lượng Đặc nhiệm Smith (Task Force Smith) của Hoa Kỳ, một đơn vị của Sư đoàn Bộ binh số 24 Bộ binh của Mỹ đóng ở Nhật Bản. Ngày 5 tháng 7, lực lượng này chiến đấu lần đầu tiên ở Osan và bị bại trận với thương vong cao. Lực lượng chiến thắng của Bắc Triều Tiên tiến quân về phía Nam, và Sư đoàn bộ binh số 24 với sức mạnh còn phân nửa bị buộc phải rút quân về Taejeon là nơi cũng bị rơi vào tay quân Bắc Triều Tiên. Tướng William F. Dean bị bắt làm tù binh.
Lực lượng quân đội ngoại quốc đầu tiên can thiệp vào Triều Tiên là gì?
Lực lượng Đặc nhiệm Smith
Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo.
Lực lượng nào đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong?
Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên
Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo.
Vành đai Pusan nổi tiếng với điều gì tại Hoa Kỳ?
Hành động bám giữ liều lĩnh
Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo.
Tên gọi của phòng tuyến do lực lượng Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên giữ vững dọc theo sông Nakdong là gì?
Vành đai Pusan
Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo.
Vành đai Pusan là gì?
phòng tuyến dọc theo sông Nakdong
Không lực Hoa Kỳ đến với số lượng lớn, thực hiện 40 phi vụ một ngày trong những hành động hỗ trợ bộ binh, nhắm vào các lực lượng Bắc Triều Tiên nhưng cũng gây ra sự tàn phá to lớn đến người dân cũng như các thành phố. Các máy bay ném bom chiến thuật (đa số là oanh tạc cơ B-29 có căn cứ ở Nhật Bản) gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu không chỉ cần thiết cho chiến tranh mà còn quan trọng đối với việc di tản của người dân. Xe lửa dùng cho cả quân sự và dân sự đều phải nằm chờ đợi lúc ban ngày bên trong các đường hầm.
Phi vụ nào gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu?
máy bay ném bom chiến thuật
Không lực Hoa Kỳ đến với số lượng lớn, thực hiện 40 phi vụ một ngày trong những hành động hỗ trợ bộ binh, nhắm vào các lực lượng Bắc Triều Tiên nhưng cũng gây ra sự tàn phá to lớn đến người dân cũng như các thành phố. Các máy bay ném bom chiến thuật (đa số là oanh tạc cơ B-29 có căn cứ ở Nhật Bản) gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu không chỉ cần thiết cho chiến tranh mà còn quan trọng đối với việc di tản của người dân. Xe lửa dùng cho cả quân sự và dân sự đều phải nằm chờ đợi lúc ban ngày bên trong các đường hầm.
Máy bay nào phá 32 cây cầu thiết yếu?
oanh tạc cơ B-29
Không lực Hoa Kỳ đến với số lượng lớn, thực hiện 40 phi vụ một ngày trong những hành động hỗ trợ bộ binh, nhắm vào các lực lượng Bắc Triều Tiên nhưng cũng gây ra sự tàn phá to lớn đến người dân cũng như các thành phố. Các máy bay ném bom chiến thuật (đa số là oanh tạc cơ B-29 có căn cứ ở Nhật Bản) gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu không chỉ cần thiết cho chiến tranh mà còn quan trọng đối với việc di tản của người dân. Xe lửa dùng cho cả quân sự và dân sự đều phải nằm chờ đợi lúc ban ngày bên trong các đường hầm.
Không lực Hoa Kỳ gây ngừng lưu thông phương tiện gì trong ban ngày?
đường sá và đường xe hỏa
Kim Nhật Thành khiếp sợ khi chứng kiến hiệu quả tàn phá của không quân Mỹ mà quân Bắc Triều Tiên không có cách nào ngăn chặn được. Kim khẩn cầu Stalin hỗ trợ quân sự, nếu không từ Liên Xô thì cũng từ các quốc gia cộng sản khác nhưng không muốn gửi quân và đối mặt với nguy cơ gây chiến cùng Mỹ, Stalin gửi một bức điện cho Mao Trạch Đông: "Theo tình hình hiện nay, nếu Trung Quốc có thể hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Quốc".
Theo Stalin, số sư đoàn Trung Quốc cần hỗ trợ Bắc Triều Tiên là bao nhiêu?
5-6
Kim Nhật Thành khiếp sợ khi chứng kiến hiệu quả tàn phá của không quân Mỹ mà quân Bắc Triều Tiên không có cách nào ngăn chặn được. Kim khẩn cầu Stalin hỗ trợ quân sự, nếu không từ Liên Xô thì cũng từ các quốc gia cộng sản khác nhưng không muốn gửi quân và đối mặt với nguy cơ gây chiến cùng Mỹ, Stalin gửi một bức điện cho Mao Trạch Đông: "Theo tình hình hiện nay, nếu Trung Quốc có thể hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Quốc".
Stalin đề nghị hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên bao nhiêu sư đoàn?
5-6 sư đoàn
Kim Nhật Thành khiếp sợ khi chứng kiến hiệu quả tàn phá của không quân Mỹ mà quân Bắc Triều Tiên không có cách nào ngăn chặn được. Kim khẩn cầu Stalin hỗ trợ quân sự, nếu không từ Liên Xô thì cũng từ các quốc gia cộng sản khác nhưng không muốn gửi quân và đối mặt với nguy cơ gây chiến cùng Mỹ, Stalin gửi một bức điện cho Mao Trạch Đông: "Theo tình hình hiện nay, nếu Trung Quốc có thể hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Quốc".
Stalin đề xuất điều gì cho Trung Quốc?
hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên
Trong lúc đó, các căn cứ tiếp liệu tại Nhật Bản đưa vũ khí và binh sĩ Liên hiệp quốc ào ạt vào Pusan. Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ từ San Francisco được cấp bách đưa vào Triều Tiên; vào cuối tháng tám, Hoa Kỳ có trên 500 xe tăng loại trung tại vành đai Pusan. Đầu tháng chín, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Triều Tiên được củng cố mạnh hơn và đông hơn lực lượng quân sự Bắc Triều Tiên (đồng minh 180.000 quân so với Bắc Triều Tiên 100.000 quân). Vào thời điểm đó, đồng minh bắt đầu một cuộc phản công.
Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ được đưa vào Triều Tiên từ đâu?
San Francisco
Trong lúc đó, các căn cứ tiếp liệu tại Nhật Bản đưa vũ khí và binh sĩ Liên hiệp quốc ào ạt vào Pusan. Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ từ San Francisco được cấp bách đưa vào Triều Tiên; vào cuối tháng tám, Hoa Kỳ có trên 500 xe tăng loại trung tại vành đai Pusan. Đầu tháng chín, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Triều Tiên được củng cố mạnh hơn và đông hơn lực lượng quân sự Bắc Triều Tiên (đồng minh 180.000 quân so với Bắc Triều Tiên 100.000 quân). Vào thời điểm đó, đồng minh bắt đầu một cuộc phản công.
Vào thời điểm bắt đầu phản công, lực lượng đồng minh có bao nhiêu quân?
180.000 quân
Trong lúc đó, các căn cứ tiếp liệu tại Nhật Bản đưa vũ khí và binh sĩ Liên hiệp quốc ào ạt vào Pusan. Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ từ San Francisco được cấp bách đưa vào Triều Tiên; vào cuối tháng tám, Hoa Kỳ có trên 500 xe tăng loại trung tại vành đai Pusan. Đầu tháng chín, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Triều Tiên được củng cố mạnh hơn và đông hơn lực lượng quân sự Bắc Triều Tiên (đồng minh 180.000 quân so với Bắc Triều Tiên 100.000 quân). Vào thời điểm đó, đồng minh bắt đầu một cuộc phản công.
Đến cuối tháng tám, Hoa Kỳ có bao nhiêu xe tăng tại vành đai Pusan?
trên 500 xe tăng loại trung
Thủy triều cao và sự hiện hữu của một lực lượng quân địch mạnh làm cho cuộc đổ bộ này trở thành một chiến dịch cực kỳ mạo hiểm. MacArthur bắt đầu hoạch định chiến dịch này vài ngày sau khi chiến tranh khởi sự nhưng Lầu Năm Góc mạnh mẽ bác bỏ kế hoạch này. Cuối cùng khi được phép, MacArthur tập hợp Quân đoàn X dưới quyền của Tướng Edward Almond gồm có 70.000 quân từ Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn Bộ binh số 7 và tăng phái với 8.600 quân người Triều Tiên và ra lệnh cho họ đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite. Vào lúc tấn công đổ bộ ngày 15 tháng 9, nhờ vào thám báo của các du kích quân Nam Triều Tiên, sự cố tình tạo ra thông tin sai lạc và các cuộc pháo kích kéo dài trước khi đổ bộ, thêm vào đó lực lượng Bắc Triều Tiên có rất ít quân đóng tại Incheon nên lực lượng Mỹ chỉ gặp sự chống trả yếu ớt khi họ đổ bộ lên Incheon.
Chiến dịch Chromite do ai chỉ huy?
Tướng Edward Almond
Thủy triều cao và sự hiện hữu của một lực lượng quân địch mạnh làm cho cuộc đổ bộ này trở thành một chiến dịch cực kỳ mạo hiểm. MacArthur bắt đầu hoạch định chiến dịch này vài ngày sau khi chiến tranh khởi sự nhưng Lầu Năm Góc mạnh mẽ bác bỏ kế hoạch này. Cuối cùng khi được phép, MacArthur tập hợp Quân đoàn X dưới quyền của Tướng Edward Almond gồm có 70.000 quân từ Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn Bộ binh số 7 và tăng phái với 8.600 quân người Triều Tiên và ra lệnh cho họ đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite. Vào lúc tấn công đổ bộ ngày 15 tháng 9, nhờ vào thám báo của các du kích quân Nam Triều Tiên, sự cố tình tạo ra thông tin sai lạc và các cuộc pháo kích kéo dài trước khi đổ bộ, thêm vào đó lực lượng Bắc Triều Tiên có rất ít quân đóng tại Incheon nên lực lượng Mỹ chỉ gặp sự chống trả yếu ớt khi họ đổ bộ lên Incheon.
Đơn vị quân đội nào đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite?
Quân đoàn X
Thủy triều cao và sự hiện hữu của một lực lượng quân địch mạnh làm cho cuộc đổ bộ này trở thành một chiến dịch cực kỳ mạo hiểm. MacArthur bắt đầu hoạch định chiến dịch này vài ngày sau khi chiến tranh khởi sự nhưng Lầu Năm Góc mạnh mẽ bác bỏ kế hoạch này. Cuối cùng khi được phép, MacArthur tập hợp Quân đoàn X dưới quyền của Tướng Edward Almond gồm có 70.000 quân từ Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn Bộ binh số 7 và tăng phái với 8.600 quân người Triều Tiên và ra lệnh cho họ đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite. Vào lúc tấn công đổ bộ ngày 15 tháng 9, nhờ vào thám báo của các du kích quân Nam Triều Tiên, sự cố tình tạo ra thông tin sai lạc và các cuộc pháo kích kéo dài trước khi đổ bộ, thêm vào đó lực lượng Bắc Triều Tiên có rất ít quân đóng tại Incheon nên lực lượng Mỹ chỉ gặp sự chống trả yếu ớt khi họ đổ bộ lên Incheon.
MacArthur tập hợp bao nhiêu quân cho Chiến dịch Chromite?
70.000
Lực lượng Liên Hiệp Quốc (gồm chủ yếu là quân Mỹ) đẩy lui quân Bắc Triều Tiên ngược qua Vĩ tuyến 38. Mục tiêu cứu chính phủ Nam Triều Tiên của Mỹ đã đạt được nhưng vì bị quyến rũ bởi sự thành công và viễn cảnh thống nhất Triều Tiên dưới tay chính phủ Lý Thừa Vãn nên lực lượng Liên Hiệp Quốc tiến quân vào Bắc Triều Tiên. Sự kiện này đánh dấu khoảnh khắc quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khi các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ quyết định đi xa hơn là chỉ đơn thuần "ngăn chặn" mối đe dọa thấy rõ của cộng sản. Các vấn đề khác gồm có tác dụng tâm lý về việc tiêu diệt được một quốc gia cộng sản chủ nghĩa và giải thoát các tù nhân chiến tranh.
Mục tiêu của Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên là gì?
cứu chính phủ Nam Triều Tiên
Lực lượng Liên Hiệp Quốc (gồm chủ yếu là quân Mỹ) đẩy lui quân Bắc Triều Tiên ngược qua Vĩ tuyến 38. Mục tiêu cứu chính phủ Nam Triều Tiên của Mỹ đã đạt được nhưng vì bị quyến rũ bởi sự thành công và viễn cảnh thống nhất Triều Tiên dưới tay chính phủ Lý Thừa Vãn nên lực lượng Liên Hiệp Quốc tiến quân vào Bắc Triều Tiên. Sự kiện này đánh dấu khoảnh khắc quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khi các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ quyết định đi xa hơn là chỉ đơn thuần "ngăn chặn" mối đe dọa thấy rõ của cộng sản. Các vấn đề khác gồm có tác dụng tâm lý về việc tiêu diệt được một quốc gia cộng sản chủ nghĩa và giải thoát các tù nhân chiến tranh.
Lực lượng Liên Hiệp Quốc được thành lập chủ yếu từ quân đội nào?
quân Mỹ
Cuộc tiến công của Liên Hiệp Quốc gây lo ngại rất lớn cho Trung Quốc. Họ lo lắng lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không dừng lại ở Sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều người ở Tây phương bao gồm Tướng MacArthur nghĩ rằng mở rộng chiến tranh vào Trung Quốc là cần thiết. Tuy nhiên, Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý, và MacArthur được lệnh phải cẩn trọng khi tiến tới biên giới Trung Quốc. Dần dần, MacArthur không còn quan tâm đến lệnh của Tổng thống nữa và cho rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ tại Trung Quốc nên các căn cứ đó phải bị dội bom. Tuy nhiên, trừ một vài dịp hiếm hoi, các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc vẫn cách xa tầm bay đến Mãn Châu trong suốt cuộc chiến.
Quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ nào?
căn cứ tại Trung Quốc
Cuộc tiến công của Liên Hiệp Quốc gây lo ngại rất lớn cho Trung Quốc. Họ lo lắng lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không dừng lại ở Sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều người ở Tây phương bao gồm Tướng MacArthur nghĩ rằng mở rộng chiến tranh vào Trung Quốc là cần thiết. Tuy nhiên, Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý, và MacArthur được lệnh phải cẩn trọng khi tiến tới biên giới Trung Quốc. Dần dần, MacArthur không còn quan tâm đến lệnh của Tổng thống nữa và cho rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ tại Trung Quốc nên các căn cứ đó phải bị dội bom. Tuy nhiên, trừ một vài dịp hiếm hoi, các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc vẫn cách xa tầm bay đến Mãn Châu trong suốt cuộc chiến.
Các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc thường bay đến đâu trong suốt cuộc chiến?
cách xa tầm bay đến Mãn Châu
Cuộc tiến công của Liên Hiệp Quốc gây lo ngại rất lớn cho Trung Quốc. Họ lo lắng lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không dừng lại ở Sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều người ở Tây phương bao gồm Tướng MacArthur nghĩ rằng mở rộng chiến tranh vào Trung Quốc là cần thiết. Tuy nhiên, Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý, và MacArthur được lệnh phải cẩn trọng khi tiến tới biên giới Trung Quốc. Dần dần, MacArthur không còn quan tâm đến lệnh của Tổng thống nữa và cho rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ tại Trung Quốc nên các căn cứ đó phải bị dội bom. Tuy nhiên, trừ một vài dịp hiếm hoi, các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc vẫn cách xa tầm bay đến Mãn Châu trong suốt cuộc chiến.
Trong cuộc chiến Triều Tiên, các căn cứ tại Trung Quốc có vai trò gì đối với quân đội Bắc Triều Tiên?
tiếp tế
Trung Quốc cảnh cáo các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ qua các nhà ngoại giao trung lập rằng họ sẽ can thiệp để bảo vệ nền an ninh quốc gia. Truman xem các lời cảnh báo này như "một mưu toan táo bạo để hù dọa Liên Hiệp Quốc" và không coi trọng nó lắm. Ngày 15 tháng 10 năm 1950, Truman đến Đảo Wake để họp ngắn ngủi với MacArthur. Cục Tình báo Trung ương Mỹ trước đây có cho Truman biết rằng việc Trung Quốc tham chiến là không thể xảy ra. MacArthur suy đoán rằng có ít rủi ro về một cuộc chiến với Trung Quốc. MacArthur cho rằng Trung Quốc đã mất dịp giúp Bắc Triều Tiên. Ông ước tính Trung Quốc có 300.000 quân tại Mãn Châu với khoảng từ 100.000-125.000 quân dọc theo Sông Áp Lục; phân nửa quân số đó có thể vượt qua sông Áp Lục. Nhưng Trung Quốc không có lực lượng không quân, vì thế, "nếu Trung Quốc cố tràn xuống Bình Nhưỡng thì sẽ có một cuộc đại tàn sát." MacArthur nhận định rằng Trung Hoa muốn tránh bị thiệt hại nặng nề.
Trung Quốc ước tính có bao nhiêu quân dọc theo Sông Áp Lục?
100.000-125.000
Ngày 8 tháng 10 năm 1950, một ngày sau khi quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát lệnh tập kết Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Bảy mươi phần trăm thành viên của Chí nguyện quân là quân đội hiện dịch của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Mao ra lệnh quân đội di chuyển đến sông Áp Lục, sẵn sàng vượt sông. Mao Trạch Đông tìm sự trợ giúp của Liên Xô và coi sự can thiệp vào Triều Tiên là một hành động tự vệ cần thiết: "Nếu chúng ta để cho Hoa Kỳ chiếm đóng toàn Triều Tiên...chúng ta phải chuẩn bị chờ Hoa Kỳ tuyên chiến với Trung Hoa," ông nói với Stalin như vậy. Thủ tướng Chu Ân Lai được phái đến Moskva để tăng thêm cường độ cho những lý lẽ qua điện thoại của Mao. Mao trì hoãn trong lúc chờ đợi sự chi viện lớn từ Liên Xô, hủy bỏ cuộc tấn công đã hoạch định từ 13 tháng 10 đến 19 tháng 10. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Liên Xô chỉ giới hạn cung cấp yểm trợ bằng không quân không quá 60 dặm Anh (100 km) từ mặt trận. Các phi cơ MiG-15 của Liên Xô trong màu sắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một sự thách thức nghiêm trọng đối với các phi công Liên Hiệp Quốc. Tại một khu vực có biệt danh là "Hành lang MiG" (MiG Alley - do các lực lượng Liên Hiệp Quốc đặt), các phi cơ của Liên Xô có ưu thế hơn đối thủ với các phi cơ F-80 do Hoa Kỳ chế tạo (Lockheed F-80 Shooting Stars) cho đến khi các phi cơ F-86 (North American F-86 Sabre) được triển khai. Người Trung Quốc rất giận dữ trước việc tham chiến có giới hạn của Liên Xô vì họ cứ đinh ninh rằng họ đã được hứa cung ứng yểm trợ không quân toàn diện. Mỹ biết rõ vai trò của Liên Xô nhưng vẫn giữ im lặng để tránh một khả năng leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Chủ tịch Mao Trạch Đông phát lệnh tập kết Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc vào ngày nào?
8 tháng 10 năm 1950
Ngày 8 tháng 10 năm 1950, một ngày sau khi quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát lệnh tập kết Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Bảy mươi phần trăm thành viên của Chí nguyện quân là quân đội hiện dịch của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Mao ra lệnh quân đội di chuyển đến sông Áp Lục, sẵn sàng vượt sông. Mao Trạch Đông tìm sự trợ giúp của Liên Xô và coi sự can thiệp vào Triều Tiên là một hành động tự vệ cần thiết: "Nếu chúng ta để cho Hoa Kỳ chiếm đóng toàn Triều Tiên...chúng ta phải chuẩn bị chờ Hoa Kỳ tuyên chiến với Trung Hoa," ông nói với Stalin như vậy. Thủ tướng Chu Ân Lai được phái đến Moskva để tăng thêm cường độ cho những lý lẽ qua điện thoại của Mao. Mao trì hoãn trong lúc chờ đợi sự chi viện lớn từ Liên Xô, hủy bỏ cuộc tấn công đã hoạch định từ 13 tháng 10 đến 19 tháng 10. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Liên Xô chỉ giới hạn cung cấp yểm trợ bằng không quân không quá 60 dặm Anh (100 km) từ mặt trận. Các phi cơ MiG-15 của Liên Xô trong màu sắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một sự thách thức nghiêm trọng đối với các phi công Liên Hiệp Quốc. Tại một khu vực có biệt danh là "Hành lang MiG" (MiG Alley - do các lực lượng Liên Hiệp Quốc đặt), các phi cơ của Liên Xô có ưu thế hơn đối thủ với các phi cơ F-80 do Hoa Kỳ chế tạo (Lockheed F-80 Shooting Stars) cho đến khi các phi cơ F-86 (North American F-86 Sabre) được triển khai. Người Trung Quốc rất giận dữ trước việc tham chiến có giới hạn của Liên Xô vì họ cứ đinh ninh rằng họ đã được hứa cung ứng yểm trợ không quân toàn diện. Mỹ biết rõ vai trò của Liên Xô nhưng vẫn giữ im lặng để tránh một khả năng leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Mao Trạch Đông đã phái ai đến Moskva để tăng cường lý lẽ qua điện thoại của mình?
Thủ tướng Chu Ân Lai
Quân Trung Quốc đối mặt với quân đội Hoa Kỳ ngày 25 tháng 10 năm 1950 với 270.000 quân dưới quyền tư lệnh của tướng Bành Đức Hoài khiến cho Liên Hiệp Quốc rất ngạc nhiên vì không lường trước được mức độ quân số đông đảo đến như vậy lại đột ngột xuất hiện. Tuy nhiên, sau những vụ đụng độ ban đầu, các lực lượng Trung Quốc rút lui vào vùng núi. Các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc coi sự rút lui của Trung Quốc như là một dấu hiệu yếu thế và đánh giá sai lầm trầm trọng khả năng tác chiến của Trung Quốc. Thế nên các lực lượng Liên hiệp quốc tiếp tục tiến công về sông Áp Lục không đếm xỉa gì đến những lời cảnh cáo của Bắc Kinh.
Quân Trung Quốc đối mặt với quân đội Hoa Kỳ vào ngày nào?
25 tháng 10 năm 1950