content stringlengths 465 7.22k | question stringlengths 10 193 | answer stringlengths 1 76 |
|---|---|---|
Năm 2006, Trung Quốc Quốc dân Đảng bán trụ sở của mình tại số 11 Đường Trung Sơn Nam tại Đài Bắc cho Tập đoàn Trường Vinh lấy 2,3 tỷ Đài tệ (96 triệu USD). Quốc dân Đảng chuyển đến một tòa nhà nhỏ hơn trên Đường Bát Đức tại phần phía đông của thành phố. Trong thời gian cầm quyền tại Đài Loan, Quốc dân Đảng tích lũy được một đế chế kinh doanh rộng lớn gồm các ngân hàng, công ty đầu tư, hãng hóa dầu, đài phát thanh truyền hình, qua đó khiến Quốc dân Đảng trở thành chính đảng giàu nhất thế giới, với tài sản từng được ước tính là khoảng 2-10 tỷ USD. Mặc dù nguồn quỹ này có vẻ đã giúp ích cho Quốc dân Đảng đến giữa thập niên 1990, song sau đó nó dẫn đến các cáo buộc tham nhũng (thường gọi là "vàng đen"). Sau năm 2000, tài sản tài chính của Quốc dân Đảng có vẻ như là mắc nợ nhiều hơn có lợi, và Quốc dân Đảng bắt đầu đa dạng tài sản của họ. Tháng 7 năm 2014, Quốc dân Đảng báo cáo tổng tài sản là 26,8 tỷ Đài tệ (892,4 triệu USD) và lợi nhuận thu được là 981,52 triệu Đài tệ trong năm 2013, là một trong các chính đảng giàu nhất trên thế giới. | Quốc dân Đảng báo cáo tổng tài sản của họ là bao nhiêu vào tháng 7 năm 2014? | 26,8 tỷ Đài tệ |
Năm 2006, Trung Quốc Quốc dân Đảng bán trụ sở của mình tại số 11 Đường Trung Sơn Nam tại Đài Bắc cho Tập đoàn Trường Vinh lấy 2,3 tỷ Đài tệ (96 triệu USD). Quốc dân Đảng chuyển đến một tòa nhà nhỏ hơn trên Đường Bát Đức tại phần phía đông của thành phố. Trong thời gian cầm quyền tại Đài Loan, Quốc dân Đảng tích lũy được một đế chế kinh doanh rộng lớn gồm các ngân hàng, công ty đầu tư, hãng hóa dầu, đài phát thanh truyền hình, qua đó khiến Quốc dân Đảng trở thành chính đảng giàu nhất thế giới, với tài sản từng được ước tính là khoảng 2-10 tỷ USD. Mặc dù nguồn quỹ này có vẻ đã giúp ích cho Quốc dân Đảng đến giữa thập niên 1990, song sau đó nó dẫn đến các cáo buộc tham nhũng (thường gọi là "vàng đen"). Sau năm 2000, tài sản tài chính của Quốc dân Đảng có vẻ như là mắc nợ nhiều hơn có lợi, và Quốc dân Đảng bắt đầu đa dạng tài sản của họ. Tháng 7 năm 2014, Quốc dân Đảng báo cáo tổng tài sản là 26,8 tỷ Đài tệ (892,4 triệu USD) và lợi nhuận thu được là 981,52 triệu Đài tệ trong năm 2013, là một trong các chính đảng giàu nhất trên thế giới. | Quốc dân Đảng báo cáo tổng tài sản là bao nhiêu vào tháng 7 năm 2014? | 26,8 tỷ Đài tệ (892,4 triệu USD) |
Ngày 28 tháng 3 năm 2005, ba mươi thành viên của Quốc dân Đảng dưới quyền Phó Chủ tịch Giang Bính Khôn sang thăm Trung Quốc Đại lục. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Trung Quốc Quốc dân Đảng đến Đại lục từ khi họ chiến bại trước cộng sản vào năm 1949 (dù các thành viên Quốc dân Đảng kể cả Giang Bính Không trước đó từng tới thăm với tư cách cá nhân). Trong chuyến đi, Quốc dân Đảng ký kết một thỏa thuận mười điểm với Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đối lập gọi chuyến đi này là Quốc-Cộng hợp tác lần thứ ba. Đến tháng 5 năm 2005, Chủ tịch Liên Chiến đến thăm Đại lục và hội kiến Tống bí thư Hồ Cẩm Đào, là cuộc gặp đầu tiên giữa lãnh đạo hai đảng kể từ sau khi kết thúc nội chiến vào năm 1949. | Ngày ký thỏạ thuận mười điểm giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cọng Sản Trung Quốc? | 28 tháng 3 năm 2005 |
Ngày 28 tháng 3 năm 2005, ba mươi thành viên của Quốc dân Đảng dưới quyền Phó Chủ tịch Giang Bính Khôn sang thăm Trung Quốc Đại lục. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Trung Quốc Quốc dân Đảng đến Đại lục từ khi họ chiến bại trước cộng sản vào năm 1949 (dù các thành viên Quốc dân Đảng kể cả Giang Bính Không trước đó từng tới thăm với tư cách cá nhân). Trong chuyến đi, Quốc dân Đảng ký kết một thỏa thuận mười điểm với Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đối lập gọi chuyến đi này là Quốc-Cộng hợp tác lần thứ ba. Đến tháng 5 năm 2005, Chủ tịch Liên Chiến đến thăm Đại lục và hội kiến Tống bí thư Hồ Cẩm Đào, là cuộc gặp đầu tiên giữa lãnh đạo hai đảng kể từ sau khi kết thúc nội chiến vào năm 1949. | Chủ tịch nào đã đến thăm Đại lục vào tháng 5 năm 2005? | Liên Chiến |
Năm 2005, Mã Anh Cửu trở thành chủ tịch của Quốc dân Đảng, đến ngày 13 tháng 2 năm 2007, ông bị truy tố với cáo buộc biển thủ khoảng 11 triệu Đài tệ (339.000 USD), liên quan đến vấn đề "chi phí đặc biệt" trong thời gian ông làm thị trưởng Đài Bắc. Ngay sau đó, ông đệ đơn từ chức chủ tịch đảng và đồng thời chính thức tuyên bố tranh cử tổng thống. Tháng 12 năm 2007, Mã Anh Cửu trắng án mọi tội trạng và lập tức đệ đơn kiện các công tố viên. Mặc dù ông đã từ chức chủ tịch đảng, ông là ứng cử viên của đảng trong bầu cử tổng thống năm 2008 và giành thắng lợi. Ngày 25 tháng 6 năm 2009, Tổng thống Mã Anh Cửu ứng cử chức vụ chủ tịch đảng và trở thành ứng cử viên duy nhất đăng ký. Ngày 26 tháng 7, Mã Anh Cửu thắng cử, trở thành tân chủ tịch Quốc dân Đảng, Điều này chính thức cho phép Mã Anh Cửu có thể gặp Tống bí thứ Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình và các phái đoàn Đại lục khác, do ông có thể đại diện cho Quốc dân Đảng với thân phận nhà lãnh đạo của một chính đảng Trung Quốc. | Mã Anh Cửu đệ đơn kiện ai sau khi trắng án mọi tội trạng? | công tố viên |
Năm 2005, Mã Anh Cửu trở thành chủ tịch của Quốc dân Đảng, đến ngày 13 tháng 2 năm 2007, ông bị truy tố với cáo buộc biển thủ khoảng 11 triệu Đài tệ (339.000 USD), liên quan đến vấn đề "chi phí đặc biệt" trong thời gian ông làm thị trưởng Đài Bắc. Ngay sau đó, ông đệ đơn từ chức chủ tịch đảng và đồng thời chính thức tuyên bố tranh cử tổng thống. Tháng 12 năm 2007, Mã Anh Cửu trắng án mọi tội trạng và lập tức đệ đơn kiện các công tố viên. Mặc dù ông đã từ chức chủ tịch đảng, ông là ứng cử viên của đảng trong bầu cử tổng thống năm 2008 và giành thắng lợi. Ngày 25 tháng 6 năm 2009, Tổng thống Mã Anh Cửu ứng cử chức vụ chủ tịch đảng và trở thành ứng cử viên duy nhất đăng ký. Ngày 26 tháng 7, Mã Anh Cửu thắng cử, trở thành tân chủ tịch Quốc dân Đảng, Điều này chính thức cho phép Mã Anh Cửu có thể gặp Tống bí thứ Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình và các phái đoàn Đại lục khác, do ông có thể đại diện cho Quốc dân Đảng với thân phận nhà lãnh đạo của một chính đảng Trung Quốc. | Tổng thống Mã Anh Cửu thắng cử chủ tịch Quốc dân Đảng vào ngày nào? | 26 tháng 7 |
Năm 2005, Mã Anh Cửu trở thành chủ tịch của Quốc dân Đảng, đến ngày 13 tháng 2 năm 2007, ông bị truy tố với cáo buộc biển thủ khoảng 11 triệu Đài tệ (339.000 USD), liên quan đến vấn đề "chi phí đặc biệt" trong thời gian ông làm thị trưởng Đài Bắc. Ngay sau đó, ông đệ đơn từ chức chủ tịch đảng và đồng thời chính thức tuyên bố tranh cử tổng thống. Tháng 12 năm 2007, Mã Anh Cửu trắng án mọi tội trạng và lập tức đệ đơn kiện các công tố viên. Mặc dù ông đã từ chức chủ tịch đảng, ông là ứng cử viên của đảng trong bầu cử tổng thống năm 2008 và giành thắng lợi. Ngày 25 tháng 6 năm 2009, Tổng thống Mã Anh Cửu ứng cử chức vụ chủ tịch đảng và trở thành ứng cử viên duy nhất đăng ký. Ngày 26 tháng 7, Mã Anh Cửu thắng cử, trở thành tân chủ tịch Quốc dân Đảng, Điều này chính thức cho phép Mã Anh Cửu có thể gặp Tống bí thứ Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình và các phái đoàn Đại lục khác, do ông có thể đại diện cho Quốc dân Đảng với thân phận nhà lãnh đạo của một chính đảng Trung Quốc. | Mã Anh Cửu bị truy tố vì lý do gì? | biển thủ khoảng 11 triệu Đài tệ |
Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. | Quốc dân Đảng bầu cử chủ tịch đảng vào ngày nào? | 17 tháng 1 năm 2015 |
Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. | Ai đắc cử chủ tịch Đảng Quốc dân vào ngày 17 tháng 1 năm 2015? | Chu Lập Luân |
Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. | Chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng là ai? | Hồng Tú Trụ |
Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. | Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng nào? | Đảng Dân Tiến |
Ngày 29 tháng 11 năm 2014, Quốc dân Đảng chịu tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến, chỉ thắng tại sáu huyện thị. Mã Anh Cửu sau đó từ chức chủ tịch Đảng vào ngày 3 tháng 12 và thay thế là quyền Chủ tịch Ngô Đôn Nghĩa. Bầu cử chủ tịch đảng được tổ chức vào ngày 17 tháng 1 năm 2015 và Chu Lập Luân đắc cử. Ông nhậm chức vào ngày 19 tháng 2. Tháng 5 cùng năm, ông cùng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành hội đàm tại Bắc Kinh. Đến tháng 7 cùng năm, Hồng Tú Trụ trong Đại hội đại biểu toàn quốc được chọn làm ứng cử viên tổng thống của Quốc dân Đảng. Ngày 17 tháng 10, Đảng bộ Trung ương Quốc dân Đảng triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lâm thời, quyết định phế trừ tư cách ứng cử viên của Hồng Tú Trụ, chọn Chu Lập Luân làm ứng cử viên. Trong bầu cử tổng thống năm 2016, Chu Lập Luân thất bại và tuyên bố từ chức chủ tịch đảng, Hoàng Mẫn Huệ tạm quyền chủ tịch đảng. Trong bầu cử chủ tịch đảng năm 2016, Hồng Tú Trụ trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc dân Đảng. | Đảng Quốc dân bị tổn thất lớn trong bầu cử địa phương trước Đảng Dân Tiến vào ngày nào? | 29 tháng 11 năm 2014 |
Tổ chức đảng của Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ ủy ban, thường gọi là "đảng bộ" (năm 1924 do chính sách "liên Nga dung Cộng" nên có quyết sách học tập Nga, đưa quy chế đảng cải tổ thành chế độ tập trung dân chủ do Lenin đề xuất làm cơ sở, được đảng cộng sản các quốc gia thực thi, cải tiến thành chế độ tập quyền dân chủ, về sau do tình thế chống cộng thời kỳ dẹp loạn nên về hình thức đổi thành chế độ ủy ban, về thực chất chưa có cải biến), chủ yếu phân thành ba cấp là Ủy ban Trung ương(tức Đảng bộ trung ương), ủy ban cấp huyện thị, ủy ban cấp khu. Trước đây, Trung Quốc Quốc dân Đảng lập ra nhiều "đảng bộ chuyên nghiệp" do Đảng bộ Trung ương trực tiếp quản lý, như "Đảng bộ Lưu Trung Hưng" trong hệ thống đặc vụ cảnh sát, trải qua nhiều lần tinh giản tổ chức đảng vụ, hiện nay chỉ còn Đảng bộ Hoàng Phục Hưng trong hệ thống quân đội và cựu chiến binh. | Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ đảng nào? | Ủy ban |
Tổ chức đảng của Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ ủy ban, thường gọi là "đảng bộ" (năm 1924 do chính sách "liên Nga dung Cộng" nên có quyết sách học tập Nga, đưa quy chế đảng cải tổ thành chế độ tập trung dân chủ do Lenin đề xuất làm cơ sở, được đảng cộng sản các quốc gia thực thi, cải tiến thành chế độ tập quyền dân chủ, về sau do tình thế chống cộng thời kỳ dẹp loạn nên về hình thức đổi thành chế độ ủy ban, về thực chất chưa có cải biến), chủ yếu phân thành ba cấp là Ủy ban Trung ương(tức Đảng bộ trung ương), ủy ban cấp huyện thị, ủy ban cấp khu. Trước đây, Trung Quốc Quốc dân Đảng lập ra nhiều "đảng bộ chuyên nghiệp" do Đảng bộ Trung ương trực tiếp quản lý, như "Đảng bộ Lưu Trung Hưng" trong hệ thống đặc vụ cảnh sát, trải qua nhiều lần tinh giản tổ chức đảng vụ, hiện nay chỉ còn Đảng bộ Hoàng Phục Hưng trong hệ thống quân đội và cựu chiến binh. | Tổ chức đảng của Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ nào? | chế độ ủy ban |
Tổ chức đảng của Trung Quốc Quốc dân Đảng tuân theo chế độ ủy ban, thường gọi là "đảng bộ" (năm 1924 do chính sách "liên Nga dung Cộng" nên có quyết sách học tập Nga, đưa quy chế đảng cải tổ thành chế độ tập trung dân chủ do Lenin đề xuất làm cơ sở, được đảng cộng sản các quốc gia thực thi, cải tiến thành chế độ tập quyền dân chủ, về sau do tình thế chống cộng thời kỳ dẹp loạn nên về hình thức đổi thành chế độ ủy ban, về thực chất chưa có cải biến), chủ yếu phân thành ba cấp là Ủy ban Trung ương(tức Đảng bộ trung ương), ủy ban cấp huyện thị, ủy ban cấp khu. Trước đây, Trung Quốc Quốc dân Đảng lập ra nhiều "đảng bộ chuyên nghiệp" do Đảng bộ Trung ương trực tiếp quản lý, như "Đảng bộ Lưu Trung Hưng" trong hệ thống đặc vụ cảnh sát, trải qua nhiều lần tinh giản tổ chức đảng vụ, hiện nay chỉ còn Đảng bộ Hoàng Phục Hưng trong hệ thống quân đội và cựu chiến binh. | Trung Quốc Quốc dân Đảng hiện nay còn những "đảng bộ chuyên nghiệp" nào? | Đảng bộ Hoàng Phục Hưng |
Quan hệ giữa Trung Quốc Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc từng trải qua hợp tác sau Tuyên ngôn Tôn Trung Sơn-Adolph Joffe, phân liệt sau năm 1927, đồng thời dẫn đến Quốc-Cộng nội chiến lần thứ nhất. Sau Sự biến Tây An năm 1936, Quốc-Cộng hợp tác lần thứ hai, cùng nhau kháng nhật. Sau khi kháng chiến thắng lợi, Quốc-Cộng nội chiến lần thứ hai bùng phát, năm 1949 Đảng Cộng sản giành được thắng lợi, lập chính phủ tại Bắc Kinh. Quốc dân Đảng buộc phải dời sang Đài Loan, sau đó hai bên tiến hành đối lập vũ trang trong nhiều năm, đồng thời tranh chấp quyền đại diện cho Trung Quốc trên trường quốc tế. Năm 2005, nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng Liên Chiến lần đầu tiên hội kiến nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, sau đó hai đảng bắt đầu liên lạc khá mật thiết, quan hệ hai đảng trở thành một trong các kênh liên lạc giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Ngày 4 tháng 5 năm 2015, Chủ tịch Quốc dân Đảng Chu Lập Luân và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc hội ngộ tại Bắc Kinh. Chu Lập Luân một lần nữa làm sâu sắc thêm Nhận thức chung 1992, đồng thời đề xuất" hai bên đạt tới hai bờ cùng thuộc một Trung Quốc, song định nghĩa nội hàm có điểm bất đồng". Ngày 1 tháng 11 năm 2016, Chủ tịch Quốc dân Đảng Hồng Tú Trụ và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Tập Cận Bình hội ngộ tại bắc Kinh, hai nhà lãnh đạo cùng tuyên bố phản đối "Đài Loan độc lập". | Ngày nào Chủ tịch Quốc dân Đảng Chu Lập Luân và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc hội ngộ tại Bắc Kinh? | 4 tháng 5 năm 2015 |
Nguồn ủng hộ của Quốc dân Đảng có xu hướng cao hơn tại miền Bắc Đài Loan và tại các khu vực đô thị, là nơi họ nhận được ủng hộ từ các doanh nghiệp lớn do có chính sách duy trì các liên kết thương mại với Trung Quốc Đại lục. Quốc dân Đảng cũng được ủng hộ nhiệt tình trong tầng lớp lao động do trong thời gian cầm quyền Quốc dân Đảng thi hành nhiều phúc lợi và bảo hiểm cho người lao động. Quốc dân Đảng có truyền thống hợp tác vững chắc với các sĩ quan quân đội, giáo viên và nhân viên chính phủ. Trong thành phần dân cư tại Đài Loan, Quốc dân Đảng nhận được ủng hộ vững chắc từ những người Đại lục và hậu duệ của họ vì nguyên nhân ý thức hệ, và từ thổ dân Đài Loan. | Ai là tầng lớp có xu hướng ủng hộ Quốc dân Đảng nhiệt tình? | tầng lớp lao động |
Nguồn ủng hộ của Quốc dân Đảng có xu hướng cao hơn tại miền Bắc Đài Loan và tại các khu vực đô thị, là nơi họ nhận được ủng hộ từ các doanh nghiệp lớn do có chính sách duy trì các liên kết thương mại với Trung Quốc Đại lục. Quốc dân Đảng cũng được ủng hộ nhiệt tình trong tầng lớp lao động do trong thời gian cầm quyền Quốc dân Đảng thi hành nhiều phúc lợi và bảo hiểm cho người lao động. Quốc dân Đảng có truyền thống hợp tác vững chắc với các sĩ quan quân đội, giáo viên và nhân viên chính phủ. Trong thành phần dân cư tại Đài Loan, Quốc dân Đảng nhận được ủng hộ vững chắc từ những người Đại lục và hậu duệ của họ vì nguyên nhân ý thức hệ, và từ thổ dân Đài Loan. | Quốc dân Đảng được ủng hộ nhiệt tình từ tầng lớp nào? | lao động |
Thù địch sâu sắc giữa thổ dân và người Mân Nam Phúc Kiến, cộng với hệ thống Quốc dân Đảng có ảnh hưởng trong các cộng đồng thổ dân, góp phần khiến thổ dân hoài nghi với Đảng Dân Tiến và có khuynh hướng bỏ phiếu cho Quốc dân Đảng. Thổ dân chỉ trích các chính trị gia lạm dụng phong trào "bản địa hóa" vì mục tiêu chính trị, với đa số các hương trấn vùng núi bỏ phiếu cho Mã Anh Cửu. Năm 2005, Quốc dân Đảng trưng bày một ảnh lớn về thủ lĩnh thổ dân kháng Nhật Mona Rudao tại trụ sở của họ nhằm kỷ niệm 60 năm ngày thu hồi Đài Loan từ Nhật Bản. | Năm 2005, Quốc dân Đảng kỷ niệm sự kiện gì? | thu hồi Đài Loan từ Nhật Bản |
Thù địch sâu sắc giữa thổ dân và người Mân Nam Phúc Kiến, cộng với hệ thống Quốc dân Đảng có ảnh hưởng trong các cộng đồng thổ dân, góp phần khiến thổ dân hoài nghi với Đảng Dân Tiến và có khuynh hướng bỏ phiếu cho Quốc dân Đảng. Thổ dân chỉ trích các chính trị gia lạm dụng phong trào "bản địa hóa" vì mục tiêu chính trị, với đa số các hương trấn vùng núi bỏ phiếu cho Mã Anh Cửu. Năm 2005, Quốc dân Đảng trưng bày một ảnh lớn về thủ lĩnh thổ dân kháng Nhật Mona Rudao tại trụ sở của họ nhằm kỷ niệm 60 năm ngày thu hồi Đài Loan từ Nhật Bản. | Quốc dân Đảng trưng bày ảnh ai tại trụ sở của họ vào năm 2005? | Mona Rudao |
Thủ lĩnh Trung Quốc Quốc dân Đảng là Tưởng Giới Thạch từng cảnh báo Liên Xô và các quốc gia khác về việc can thiệp công việc của Trung Quốc. Ông tức giận về cách thức người ngoại quốc đối xử với Trung Quốc, chủ yếu là từ Liên Xô, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Ông và phong trào Phong trào Tân sinh hoạt của mình kêu gọi nghiền nát ảnh hưởng của Liên Xô, phương Tây, Hoa Kỳ và ngoại quốc khác tại Trung Quốc. Trần Lập Phu thuộc phái Câu lạc bộ Trung ương nói rằng "chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa đế quốc Xô viết, thứ đã xâm phạm nước ta." Ông cũng lưu ý rằng "gấu trắng Bắc Cực nổi tiếng về tính xấu xa và tàn ác." | Trần Lập Phu nói chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ đâu? | chủ nghĩa đế quốc Xô viết |
Thủ lĩnh Trung Quốc Quốc dân Đảng là Tưởng Giới Thạch từng cảnh báo Liên Xô và các quốc gia khác về việc can thiệp công việc của Trung Quốc. Ông tức giận về cách thức người ngoại quốc đối xử với Trung Quốc, chủ yếu là từ Liên Xô, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Ông và phong trào Phong trào Tân sinh hoạt của mình kêu gọi nghiền nát ảnh hưởng của Liên Xô, phương Tây, Hoa Kỳ và ngoại quốc khác tại Trung Quốc. Trần Lập Phu thuộc phái Câu lạc bộ Trung ương nói rằng "chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa đế quốc Xô viết, thứ đã xâm phạm nước ta." Ông cũng lưu ý rằng "gấu trắng Bắc Cực nổi tiếng về tính xấu xa và tàn ác." | Ai nói rằng "chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa đế quốc Xô viết, thứ đã xâm phạm nước ta"? | Trần Lập Phu |
Thủ lĩnh Trung Quốc Quốc dân Đảng là Tưởng Giới Thạch từng cảnh báo Liên Xô và các quốc gia khác về việc can thiệp công việc của Trung Quốc. Ông tức giận về cách thức người ngoại quốc đối xử với Trung Quốc, chủ yếu là từ Liên Xô, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Ông và phong trào Phong trào Tân sinh hoạt của mình kêu gọi nghiền nát ảnh hưởng của Liên Xô, phương Tây, Hoa Kỳ và ngoại quốc khác tại Trung Quốc. Trần Lập Phu thuộc phái Câu lạc bộ Trung ương nói rằng "chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa đế quốc Xô viết, thứ đã xâm phạm nước ta." Ông cũng lưu ý rằng "gấu trắng Bắc Cực nổi tiếng về tính xấu xa và tàn ác." | Tưởng Giới Thạch tức giận về cách thức đối xử của ai với Trung Quốc? | người ngoại quốc |
Lam Y xã là một tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, mô phỏng theo quân áo đen của Mussolini, là một nhóm chống ngoại quốc và chống cộng sản, tuyên bố chương trình nghị sự của mình là trục xuất chủ nghĩa đế quốc ngoại quốc (Nhật Bản và phương Tây) khỏi Trung Quốc, trấn áp chủ nghĩa cộng sản, và diệt trừ chủ nghĩa phong kiến. Ngoài việc chống cộng sản, một số thành viên Quốc dân Đảng như Đới Lạp (thủ hạ thân cận của Tưởng Giới Thạch) là người chống Hoa Kỳ, muốn trục xuất ảnh hưởng của Hoa Kỳ. | Lam Y xã được mô phỏng theo tổ chức nào? | quân áo đen |
Lam Y xã là một tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, mô phỏng theo quân áo đen của Mussolini, là một nhóm chống ngoại quốc và chống cộng sản, tuyên bố chương trình nghị sự của mình là trục xuất chủ nghĩa đế quốc ngoại quốc (Nhật Bản và phương Tây) khỏi Trung Quốc, trấn áp chủ nghĩa cộng sản, và diệt trừ chủ nghĩa phong kiến. Ngoài việc chống cộng sản, một số thành viên Quốc dân Đảng như Đới Lạp (thủ hạ thân cận của Tưởng Giới Thạch) là người chống Hoa Kỳ, muốn trục xuất ảnh hưởng của Hoa Kỳ. | Tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng được gọi là gì? | Lam Y xã |
Lam Y xã là một tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, mô phỏng theo quân áo đen của Mussolini, là một nhóm chống ngoại quốc và chống cộng sản, tuyên bố chương trình nghị sự của mình là trục xuất chủ nghĩa đế quốc ngoại quốc (Nhật Bản và phương Tây) khỏi Trung Quốc, trấn áp chủ nghĩa cộng sản, và diệt trừ chủ nghĩa phong kiến. Ngoài việc chống cộng sản, một số thành viên Quốc dân Đảng như Đới Lạp (thủ hạ thân cận của Tưởng Giới Thạch) là người chống Hoa Kỳ, muốn trục xuất ảnh hưởng của Hoa Kỳ. | Ai là người chống Hoa Kỳ trong Lam Y xã? | Đới Lạp |
Lam Y xã là một tổ chức bán quân sự phát xít trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, mô phỏng theo quân áo đen của Mussolini, là một nhóm chống ngoại quốc và chống cộng sản, tuyên bố chương trình nghị sự của mình là trục xuất chủ nghĩa đế quốc ngoại quốc (Nhật Bản và phương Tây) khỏi Trung Quốc, trấn áp chủ nghĩa cộng sản, và diệt trừ chủ nghĩa phong kiến. Ngoài việc chống cộng sản, một số thành viên Quốc dân Đảng như Đới Lạp (thủ hạ thân cận của Tưởng Giới Thạch) là người chống Hoa Kỳ, muốn trục xuất ảnh hưởng của Hoa Kỳ. | Lam Y xã được thành lập dựa trên mô hình nào? | quân áo đen của Mussolini |
Chi nhánh Trung Quốc dân Đảng tại Quảng Tây dưới quyền Tân Quế hệ của Bạch Sùng Hy và Lý Tông Nhân thi hành các chính sách chống chủ nghĩa đế quốc, chống tôn giáo và chống ngoại quốc. Trong Bắc phạt, năm 1926 tại Quảng Tây, Tướng quân người Hồi Bạch Sùng Hy dẫn quân tàn phá hầu hết các chùa và đập tan các tượng thần thánh, biến chùa thành các trường học và trụ sở Quốc dân Đảng. Bạch Sùng Hy lãnh đạo một làn sóng chống ngoại quốc tại Quảng Tây, tấn công người Mỹ, châu Âu và các nước khác, khiến tỉnh trở nên không an toàn đối với người phi bản địa. Người phương Tây đào thoát khỏi Quảng Tây, và một số người Cơ Đốc giáo Trung Quốc cũng bị tấn công do bị cho là tay sai đế quốc. | Ai là người dẫn đầu làn sóng chống ngoại quốc tại Quảng Tây? | Bạch Sùng Hy |
Chi nhánh Trung Quốc dân Đảng tại Quảng Tây dưới quyền Tân Quế hệ của Bạch Sùng Hy và Lý Tông Nhân thi hành các chính sách chống chủ nghĩa đế quốc, chống tôn giáo và chống ngoại quốc. Trong Bắc phạt, năm 1926 tại Quảng Tây, Tướng quân người Hồi Bạch Sùng Hy dẫn quân tàn phá hầu hết các chùa và đập tan các tượng thần thánh, biến chùa thành các trường học và trụ sở Quốc dân Đảng. Bạch Sùng Hy lãnh đạo một làn sóng chống ngoại quốc tại Quảng Tây, tấn công người Mỹ, châu Âu và các nước khác, khiến tỉnh trở nên không an toàn đối với người phi bản địa. Người phương Tây đào thoát khỏi Quảng Tây, và một số người Cơ Đốc giáo Trung Quốc cũng bị tấn công do bị cho là tay sai đế quốc. | Bạch Sùng Hy lãnh đạo một làn sóng nào tại Quảng Tây? | chống ngoại quốc |
Trung Quốc Quốc dân Đảng có ý thức hệ xã hội, "bình quân địa quyền" là một điều khoản do Tôn Trung Sơn đưa ra từ thời Đồng Minh hội. Ý thức hệ cách mạng của Quốc dân Đảng trong thập niên 1920 đã kết hợp độc đáo chủ nghĩa xã hội Trung Quốc. Liên Xô từng đào tạo các nhà cách mạng Quốc dân Đảng tại Đại học Tôn Trung Sơn Moskva. Tại phương Tây và Liên Xô, Tưởng Giới Thạch từng được gọi là "Tướng quân Đỏ". Năm 1948, Quốc dân Đảng một lần nữa tấn công các thương gia tại Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch phái con trai là Tưởng Kinh Quốc đi khôi phục trật tự kinh tế. Tưởng Kinh Quốc sao chép các phương pháp của Liên Xô mà ông học được trong thời gian lưu lại đó, để khởi đầu một cuộc cách mạng xã hội bằng việc tấn công các thương gia trung lưu. Ông cũng cưỡng bách đặt giá thấp đối với toàn bộ các hàng hóa để làm tăng ủng hộ từ giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx cũng tồn tại trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, họ nhìn nhận cách mạng Trung Quốc với các điều kiện khác so với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc mới bước qua giai đoạn phong kiến và trong một giai đoạn đình trệ thay vì trong phương thức sản xuất khác. Những người Marxist trong Quốc dân Đảng phản đối ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc in KMT opposed the CPC ideology. | Tôn Trung Sơn đã đưa ra điều khoản gì trong ý thức hệ xã hội của Trung Quốc Quốc dân Đảng? | bình quân địa quyền |
Trung Quốc Quốc dân Đảng có ý thức hệ xã hội, "bình quân địa quyền" là một điều khoản do Tôn Trung Sơn đưa ra từ thời Đồng Minh hội. Ý thức hệ cách mạng của Quốc dân Đảng trong thập niên 1920 đã kết hợp độc đáo chủ nghĩa xã hội Trung Quốc. Liên Xô từng đào tạo các nhà cách mạng Quốc dân Đảng tại Đại học Tôn Trung Sơn Moskva. Tại phương Tây và Liên Xô, Tưởng Giới Thạch từng được gọi là "Tướng quân Đỏ". Năm 1948, Quốc dân Đảng một lần nữa tấn công các thương gia tại Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch phái con trai là Tưởng Kinh Quốc đi khôi phục trật tự kinh tế. Tưởng Kinh Quốc sao chép các phương pháp của Liên Xô mà ông học được trong thời gian lưu lại đó, để khởi đầu một cuộc cách mạng xã hội bằng việc tấn công các thương gia trung lưu. Ông cũng cưỡng bách đặt giá thấp đối với toàn bộ các hàng hóa để làm tăng ủng hộ từ giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx cũng tồn tại trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, họ nhìn nhận cách mạng Trung Quốc với các điều kiện khác so với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc mới bước qua giai đoạn phong kiến và trong một giai đoạn đình trệ thay vì trong phương thức sản xuất khác. Những người Marxist trong Quốc dân Đảng phản đối ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc in KMT opposed the CPC ideology. | Liên Xô từng đào tạo những ai tại Đại học Tôn Trung Sơn Moskva? | nhà cách mạng Quốc dân Đảng |
Trung Quốc Quốc dân Đảng có ý thức hệ xã hội, "bình quân địa quyền" là một điều khoản do Tôn Trung Sơn đưa ra từ thời Đồng Minh hội. Ý thức hệ cách mạng của Quốc dân Đảng trong thập niên 1920 đã kết hợp độc đáo chủ nghĩa xã hội Trung Quốc. Liên Xô từng đào tạo các nhà cách mạng Quốc dân Đảng tại Đại học Tôn Trung Sơn Moskva. Tại phương Tây và Liên Xô, Tưởng Giới Thạch từng được gọi là "Tướng quân Đỏ". Năm 1948, Quốc dân Đảng một lần nữa tấn công các thương gia tại Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch phái con trai là Tưởng Kinh Quốc đi khôi phục trật tự kinh tế. Tưởng Kinh Quốc sao chép các phương pháp của Liên Xô mà ông học được trong thời gian lưu lại đó, để khởi đầu một cuộc cách mạng xã hội bằng việc tấn công các thương gia trung lưu. Ông cũng cưỡng bách đặt giá thấp đối với toàn bộ các hàng hóa để làm tăng ủng hộ từ giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx cũng tồn tại trong Trung Quốc Quốc dân Đảng, họ nhìn nhận cách mạng Trung Quốc với các điều kiện khác so với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc mới bước qua giai đoạn phong kiến và trong một giai đoạn đình trệ thay vì trong phương thức sản xuất khác. Những người Marxist trong Quốc dân Đảng phản đối ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc in KMT opposed the CPC ideology. | Ý thức hệ của Trung Quốc Quốc dân Đảng được hình thành như thế nào? | kết hợp độc đáo chủ nghĩa xã hội Trung Quốc |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng các nghi lễ tôn giáo Trung Hoa truyền thống, theo họ linh hồn của những liệt sĩ Quốc dân Đảng được đưa đến thiên đàng. Quốc dân Đảng ủng hộ Phong trào Tân sinh hoạt, vốn xúc tiến Nho giáo, và cũng chống lại Tây phương hóa. Các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng phản đối Phong trào Ngũ Tứ, Tưởng Giới Thạch chống lại việc phong trào này đập phá tượng thần thánh. Ông nhìn nhận một số tư tưởng phương Tây là ngoại lai, và không hoan nghênh việc phổ biến các tư tưởng và văn học phương Tây như ý muốn của Phong trào Ngũ Tứ. Tưởng Giới Thạch và Tôn Trung Sơn chỉ trích các tri thức Ngũ Tứ làm lệnh lạc đạo đức của thanh niên. Quốc dân Đảng còn hợp nhất Nho giáo vào luật học của mình, họ xá tội cho Thi Kiếm Kiềm việc giết Tôn Truyền Phương do bà làm vậy để trả thù vì Tôn Truyền Phương giết cha bà, một ví dụ về lòng hiếu thảo với cha mẹ trong Nho giáo. | Quốc dân Đảng ủng hộ phong trào nào? | Tân sinh hoạt |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng các nghi lễ tôn giáo Trung Hoa truyền thống, theo họ linh hồn của những liệt sĩ Quốc dân Đảng được đưa đến thiên đàng. Quốc dân Đảng ủng hộ Phong trào Tân sinh hoạt, vốn xúc tiến Nho giáo, và cũng chống lại Tây phương hóa. Các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng phản đối Phong trào Ngũ Tứ, Tưởng Giới Thạch chống lại việc phong trào này đập phá tượng thần thánh. Ông nhìn nhận một số tư tưởng phương Tây là ngoại lai, và không hoan nghênh việc phổ biến các tư tưởng và văn học phương Tây như ý muốn của Phong trào Ngũ Tứ. Tưởng Giới Thạch và Tôn Trung Sơn chỉ trích các tri thức Ngũ Tứ làm lệnh lạc đạo đức của thanh niên. Quốc dân Đảng còn hợp nhất Nho giáo vào luật học của mình, họ xá tội cho Thi Kiếm Kiềm việc giết Tôn Truyền Phương do bà làm vậy để trả thù vì Tôn Truyền Phương giết cha bà, một ví dụ về lòng hiếu thảo với cha mẹ trong Nho giáo. | Phong trào nào được Quốc dân Đảng chống lại? | Phong trào Ngũ Tứ |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng các nghi lễ tôn giáo Trung Hoa truyền thống, theo họ linh hồn của những liệt sĩ Quốc dân Đảng được đưa đến thiên đàng. Quốc dân Đảng ủng hộ Phong trào Tân sinh hoạt, vốn xúc tiến Nho giáo, và cũng chống lại Tây phương hóa. Các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng phản đối Phong trào Ngũ Tứ, Tưởng Giới Thạch chống lại việc phong trào này đập phá tượng thần thánh. Ông nhìn nhận một số tư tưởng phương Tây là ngoại lai, và không hoan nghênh việc phổ biến các tư tưởng và văn học phương Tây như ý muốn của Phong trào Ngũ Tứ. Tưởng Giới Thạch và Tôn Trung Sơn chỉ trích các tri thức Ngũ Tứ làm lệnh lạc đạo đức của thanh niên. Quốc dân Đảng còn hợp nhất Nho giáo vào luật học của mình, họ xá tội cho Thi Kiếm Kiềm việc giết Tôn Truyền Phương do bà làm vậy để trả thù vì Tôn Truyền Phương giết cha bà, một ví dụ về lòng hiếu thảo với cha mẹ trong Nho giáo. | Đảng Quốc dân ủng hộ phong trào nào? | Phong trào Tân sinh hoạt |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng các nghi lễ tôn giáo Trung Hoa truyền thống, theo họ linh hồn của những liệt sĩ Quốc dân Đảng được đưa đến thiên đàng. Quốc dân Đảng ủng hộ Phong trào Tân sinh hoạt, vốn xúc tiến Nho giáo, và cũng chống lại Tây phương hóa. Các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng cũng phản đối Phong trào Ngũ Tứ, Tưởng Giới Thạch chống lại việc phong trào này đập phá tượng thần thánh. Ông nhìn nhận một số tư tưởng phương Tây là ngoại lai, và không hoan nghênh việc phổ biến các tư tưởng và văn học phương Tây như ý muốn của Phong trào Ngũ Tứ. Tưởng Giới Thạch và Tôn Trung Sơn chỉ trích các tri thức Ngũ Tứ làm lệnh lạc đạo đức của thanh niên. Quốc dân Đảng còn hợp nhất Nho giáo vào luật học của mình, họ xá tội cho Thi Kiếm Kiềm việc giết Tôn Truyền Phương do bà làm vậy để trả thù vì Tôn Truyền Phương giết cha bà, một ví dụ về lòng hiếu thảo với cha mẹ trong Nho giáo. | Tưởng Giới Thạch phản đối điều gì liên quan đến Phong trào Ngũ Tứ? | đập phá tượng thần thánh |
Đảng Cách mạng Tây Tạng do Pandatsang Rapga thành lập, ông là một nhà cách mạng thân Dân Quốc và Quốc dân Đảng, chống lại Chính phủ của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tại Lhasa. Rapga vay mượn chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn và dịch các học thuyết chính trị của ông ra tiếng Tạng, ca ngợi nó là hy vọng tốt nhất để người châu Á chống lại chủ nghĩa đế quốc. Ông muốn tiêu diệt chính phủ phong kiến tại Lhasa, bên cạnh đó là hiện đại hóa và thế tục hóa xã hội Tây Tạng. Mục tiêu cuối cùng của đảng là lật đổ chế độ Đạt Lai Lạt Ma, lập nước Cộng hòa Tây Tạng tự trị trong thành phần Trung Hoa Dân Quốc. Chiang Kai-shek and the KMT funded the party and their efforts to build an army to battle the Dalai Lama's government. | Đảng Cách mạng Tây Tạng được thành lập bởi ai? | Pandatsang Rapga |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng Việt Nam Quốc dân Đảng để phục vụ lợi ích của họ tại miền nam Trung Quốc và Đông Dương. Tướng quân Trương Phát Khuê tại Quảng Tây lập ra Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) vào năm 1942. Quân đội Vân Nam của Trung Quốc Quốc dân Đảng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, Việt Nam Quốc dân Đảng với danh nghĩa bản thân phản đối đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc dân Đảng chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. | Việt Nam Quốc dân Đảng được lập ra vào năm nào? | 1942 |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng Việt Nam Quốc dân Đảng để phục vụ lợi ích của họ tại miền nam Trung Quốc và Đông Dương. Tướng quân Trương Phát Khuê tại Quảng Tây lập ra Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) vào năm 1942. Quân đội Vân Nam của Trung Quốc Quốc dân Đảng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, Việt Nam Quốc dân Đảng với danh nghĩa bản thân phản đối đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc dân Đảng chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. | Quân đội nào chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng? | Quân đội Vân Nam |
Trung Quốc Quốc dân Đảng sử dụng Việt Nam Quốc dân Đảng để phục vụ lợi ích của họ tại miền nam Trung Quốc và Đông Dương. Tướng quân Trương Phát Khuê tại Quảng Tây lập ra Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) vào năm 1942. Quân đội Vân Nam của Trung Quốc Quốc dân Đảng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, Việt Nam Quốc dân Đảng với danh nghĩa bản thân phản đối đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc dân Đảng chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. | Tướng quân nào lập ra Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách)? | Trương Phát Khuê |
Xã hội tác động tới các cá nhân thông qua nhóm. Vì vậy, cần phải xem xét những ảnh hưởng của nhóm với tư cách là người trung gian giữa cá nhân và xã hội. Cần phải xem xét nhóm như là một tập hợp, một tiểu hệ thống của xã hội trong một bối cảnh xã hội rộng lớn. Hoạt động xã hội, dạng cụ thể và những hình thức của nó là yếu tố liên kết cơ bản và là dấu hiệu chính của nhóm xã hội. Sự tham dự chung của các thành viên của nhóm vào trong một hoạt động chung phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của nhóm. Ngược lại, cơ cấu xã hội, tiểu văn hóa của nhóm cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các thành viên. | Yếu tố chính liên kết nhóm xã hội là gì? | Hoạt động xã hội |
Xã hội tác động tới các cá nhân thông qua nhóm. Vì vậy, cần phải xem xét những ảnh hưởng của nhóm với tư cách là người trung gian giữa cá nhân và xã hội. Cần phải xem xét nhóm như là một tập hợp, một tiểu hệ thống của xã hội trong một bối cảnh xã hội rộng lớn. Hoạt động xã hội, dạng cụ thể và những hình thức của nó là yếu tố liên kết cơ bản và là dấu hiệu chính của nhóm xã hội. Sự tham dự chung của các thành viên của nhóm vào trong một hoạt động chung phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của nhóm. Ngược lại, cơ cấu xã hội, tiểu văn hóa của nhóm cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các thành viên. | Hoạt động xã hội là yếu tố liên kết cơ bản của gì? | nhóm xã hội |
Khái niệm tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường. Tổ chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể. Khái niệm tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu xã hội; với ý nghĩa này, tổ chức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định. Như vậy, định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội. Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào đó. Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định. | Khái niệm tổ chức xã hội, được xem là một thành tố của cơ cấu xã hội, nhấn mạnh đến hệ thống gì? | hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân |
Nhóm uy quyền hoạt động được thường là dựa vào sự đóng góp của các thành viên dưới danh nghĩa bổn phận. Tuy nhiên, nhóm cũng có thể có những nguồn thu nhập từ việc sản xuất kinh doanh. Dần dần, trong nhóm uy quyền sẽ mở ra những chức vụ, thứ loại, quyền lực dưới thủ lĩnh. Từ đó, các dạng nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các nhóm có tính tổ chức cao - Tổ chức xã hội. Về bản chất nhóm uy quyền là một dạng tổ chức sơ khai với những đặc điểm cấu trúc lỏng lẻo và kém bền vững. Nhưng trong quá trình phát triển, các nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các dạng như tổ chức xã hội; | Nhóm uy quyền hoạt động được thường dựa vào gì? | sự đóng góp của các thành viên |
Nhóm uy quyền hoạt động được thường là dựa vào sự đóng góp của các thành viên dưới danh nghĩa bổn phận. Tuy nhiên, nhóm cũng có thể có những nguồn thu nhập từ việc sản xuất kinh doanh. Dần dần, trong nhóm uy quyền sẽ mở ra những chức vụ, thứ loại, quyền lực dưới thủ lĩnh. Từ đó, các dạng nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các nhóm có tính tổ chức cao - Tổ chức xã hội. Về bản chất nhóm uy quyền là một dạng tổ chức sơ khai với những đặc điểm cấu trúc lỏng lẻo và kém bền vững. Nhưng trong quá trình phát triển, các nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các dạng như tổ chức xã hội; | Về bản chất, nhóm uy quyền là gì? | tổ chức sơ khai |
Nhóm uy quyền hoạt động được thường là dựa vào sự đóng góp của các thành viên dưới danh nghĩa bổn phận. Tuy nhiên, nhóm cũng có thể có những nguồn thu nhập từ việc sản xuất kinh doanh. Dần dần, trong nhóm uy quyền sẽ mở ra những chức vụ, thứ loại, quyền lực dưới thủ lĩnh. Từ đó, các dạng nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các nhóm có tính tổ chức cao - Tổ chức xã hội. Về bản chất nhóm uy quyền là một dạng tổ chức sơ khai với những đặc điểm cấu trúc lỏng lẻo và kém bền vững. Nhưng trong quá trình phát triển, các nhóm uy quyền sẽ chuyển thành các dạng như tổ chức xã hội; | Nhóm uy quyền có thể có nguồn thu nhập từ đâu? | sản xuất kinh doanh |
Tổ chức tự nguyện hoạt động dựa vào những thành viên không hưởng lương, tổ chức này thiếu một cơ cấu chắc chắn hoặc một hệ thống quyền lực cưỡng bức. Do tính chất tự nguyện này, mà tổ chức tự nguyện hành động không bị ràng buộc chặt chẽ, cho nên tổ chức tự nguyện thường thu hút đông đảo thành viên. Và cũng chính vì sự đông đảo này, nên tổ chức tự nguyện thường có khả năng tạo ra những nguồn kinh phí lớn nhờ vào sự đóng góp, tài trợ. Tổ chức tự nguyện có thể phát triển thành những tổ chức phức tạp được gọi là bộ máy quan liêu. Thực tế cho thấy rằng, tổ chức tự nguyện (Hiệp hội những người chăn nuôi, Hội đồng hương, Hội phụ huynh,...) là những tổ chức không thể thiếu trong đời sống xã hội. Nó đáp ứng được một phần nhu cầu tổ chức hoạt động đời sống của các thành viên trong xã hội, đồng thời vẫn tôn trọng tự do cá nhân của các thành viên trong tổ chức. | Tổ chức tự nguyện có thể phát triển thành những tổ chức phức tạp nào? | bộ máy quan liêu |
Tổ chức tự nguyện hoạt động dựa vào những thành viên không hưởng lương, tổ chức này thiếu một cơ cấu chắc chắn hoặc một hệ thống quyền lực cưỡng bức. Do tính chất tự nguyện này, mà tổ chức tự nguyện hành động không bị ràng buộc chặt chẽ, cho nên tổ chức tự nguyện thường thu hút đông đảo thành viên. Và cũng chính vì sự đông đảo này, nên tổ chức tự nguyện thường có khả năng tạo ra những nguồn kinh phí lớn nhờ vào sự đóng góp, tài trợ. Tổ chức tự nguyện có thể phát triển thành những tổ chức phức tạp được gọi là bộ máy quan liêu. Thực tế cho thấy rằng, tổ chức tự nguyện (Hiệp hội những người chăn nuôi, Hội đồng hương, Hội phụ huynh,...) là những tổ chức không thể thiếu trong đời sống xã hội. Nó đáp ứng được một phần nhu cầu tổ chức hoạt động đời sống của các thành viên trong xã hội, đồng thời vẫn tôn trọng tự do cá nhân của các thành viên trong tổ chức. | Tổ chức tự nguyện dựa vào gì để hoạt động? | thành viên không hưởng lương |
Tổ chức tự nguyện hoạt động dựa vào những thành viên không hưởng lương, tổ chức này thiếu một cơ cấu chắc chắn hoặc một hệ thống quyền lực cưỡng bức. Do tính chất tự nguyện này, mà tổ chức tự nguyện hành động không bị ràng buộc chặt chẽ, cho nên tổ chức tự nguyện thường thu hút đông đảo thành viên. Và cũng chính vì sự đông đảo này, nên tổ chức tự nguyện thường có khả năng tạo ra những nguồn kinh phí lớn nhờ vào sự đóng góp, tài trợ. Tổ chức tự nguyện có thể phát triển thành những tổ chức phức tạp được gọi là bộ máy quan liêu. Thực tế cho thấy rằng, tổ chức tự nguyện (Hiệp hội những người chăn nuôi, Hội đồng hương, Hội phụ huynh,...) là những tổ chức không thể thiếu trong đời sống xã hội. Nó đáp ứng được một phần nhu cầu tổ chức hoạt động đời sống của các thành viên trong xã hội, đồng thời vẫn tôn trọng tự do cá nhân của các thành viên trong tổ chức. | Tổ chức nào hoạt động dựa vào những thành viên không hưởng lương? | Tổ chức tự nguyện |
Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger ( /ˈʃroʊdɪŋər/; tiếng Đức: [ˈɛʁviːn ˈʃʁøːdɪŋɐ]; 12 tháng 8 năm 1887 – 4 tháng 1 năm 1961), là nhà vật lý người Áo với những đóng góp nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, đặc biệt là cơ học sóng: ông nêu ra phương trình sóng mô tả trạng thái của hệ lượng tử (phương trình Schrödinger phụ thuộc thời gian và dừng) và đã chứng minh hai hình thức cơ học sóng và cơ học ma trận của Werner Heisenberg về bản chất là giống nhau. Schrödinger cũng tự đề xuất ra cách giải thích cho ý nghĩa vật lý của hàm sóng và những năm về sau ông luôn phản đối cách giải thích Copenhagen về bản chất của cơ học lượng tử (với nghịch lý nổi tiếng con mèo của Schrödinger). Ngoài ra, ông còn nghiên cứu trong những lĩnh vực khác như: cơ học thống kê và nhiệt động lực học, lý thuyết điện môi, lý thuyết màu sắc, điện động lực học, thuyết tương đối rộng, và vũ trụ học, cũng như thử xây dựng một lý thuyết trường thống nhất. Trong cuốn sách của ông Sự sống là gì?, Schrödinger thảo luận về di truyền học, ông giải thích các hiện tượng sự sống trong tự nhiên theo quan điểm của vật lý học. Ông cũng chú trọng đến khía cạnh triết học trong khoa học, những khái niệm triết học từ thời cổ đại, luân lý học và tôn giáo. Ông cũng viết một số công trình về triết học và sinh học lý thuyết. | Phương trình nào mô tả trạng thái của hệ lượng tử? | phương trình Schrödinger |
Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger ( /ˈʃroʊdɪŋər/; tiếng Đức: [ˈɛʁviːn ˈʃʁøːdɪŋɐ]; 12 tháng 8 năm 1887 – 4 tháng 1 năm 1961), là nhà vật lý người Áo với những đóng góp nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, đặc biệt là cơ học sóng: ông nêu ra phương trình sóng mô tả trạng thái của hệ lượng tử (phương trình Schrödinger phụ thuộc thời gian và dừng) và đã chứng minh hai hình thức cơ học sóng và cơ học ma trận của Werner Heisenberg về bản chất là giống nhau. Schrödinger cũng tự đề xuất ra cách giải thích cho ý nghĩa vật lý của hàm sóng và những năm về sau ông luôn phản đối cách giải thích Copenhagen về bản chất của cơ học lượng tử (với nghịch lý nổi tiếng con mèo của Schrödinger). Ngoài ra, ông còn nghiên cứu trong những lĩnh vực khác như: cơ học thống kê và nhiệt động lực học, lý thuyết điện môi, lý thuyết màu sắc, điện động lực học, thuyết tương đối rộng, và vũ trụ học, cũng như thử xây dựng một lý thuyết trường thống nhất. Trong cuốn sách của ông Sự sống là gì?, Schrödinger thảo luận về di truyền học, ông giải thích các hiện tượng sự sống trong tự nhiên theo quan điểm của vật lý học. Ông cũng chú trọng đến khía cạnh triết học trong khoa học, những khái niệm triết học từ thời cổ đại, luân lý học và tôn giáo. Ông cũng viết một số công trình về triết học và sinh học lý thuyết. | Ông Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger là người quốc tịch gì? | Áo |
Năm 1914 Erwin Schrödinger đạt được văn bằng Habilitation (venia legendi). Giai đoạn 1914 đến 1918 ông tham gia chiến tranh với vị trí là sĩ quan chính thức trong đội pháo binh phòng thủ của các lâu đài thuộc Áo (Gorizia, Duino, Sistiana, Prosecco, Vienna). Năm 1920 ông trở thành trợ lý cho Max Wien ở Jena, và tháng 9 năm 1920 ông đạt được vị trí ao. Prof. (ausserordentlicher Professor), tương đương với chức danh Reader (ở Anh) hay associate professor (ở Mỹ) tại Stuttgart. Năm 1921, ông trở thành o. Prof. (ordentlicher Professor, giáo sư đầy đủ) tại Breslau (ngày nay là Wrocław, Ba Lan). | Schrödinger đạt được chức danh Reader ở đâu? | Stuttgart |
Cũng trong năm 1921, ông chuyển tới Đại học Zürich. Năm 1927, ông đảm nhiệm vị trí trước đó của Max Planck tại Đại học Friedrich Wilhelm ở Berlin. Tuy nhiên, năm 1934, Schrödinger quyết định rời nước Đức do ông không ủng hộ chủ nghĩa chống người Do thái của Quốc xã. Ông trở thành giáo sư tại Magdalen College thuộc Đại học Oxford. Ngay sau khi đến nơi, ông nhận Giải Nobel Vật lý cùng với Paul Dirac. Vị trí ở Oxford không được công tác thuận lợi; do sự sắp xếp chỗ ở của ông không bình thường khi ông muốn chia sẻ nơi ở với hai phụ nữ khác.. Năm 1934, Schrödinger khi đang thỉnh giảng tại Đại học Princeton; trường này đã mời ông về giảng dạy lâu năm tại đây nhưng ông đã từ chối. Một lần nữa, mong muốn có một nơi ở cùng với vợ và vợ hai của ông đã gây cản trở cho ông. Ông có cơ hội được nhận tại Đại học Edinburgh nhưng thị thực bị cấp trễ, và cuối cùng ông chấp nhận làm giáo sư ở Đại học Graz thuộc Áo năm 1936. Ông cũng chấp nhận một vị trí ở phòng vật lý, Đại học Allahabad ở Ấn Độ. | Năm 1927, Schrödinger đảm nhiệm vị trí nào? | trước đó của Max Planck tại Đại học Friedrich Wilhelm |
Cũng trong năm 1921, ông chuyển tới Đại học Zürich. Năm 1927, ông đảm nhiệm vị trí trước đó của Max Planck tại Đại học Friedrich Wilhelm ở Berlin. Tuy nhiên, năm 1934, Schrödinger quyết định rời nước Đức do ông không ủng hộ chủ nghĩa chống người Do thái của Quốc xã. Ông trở thành giáo sư tại Magdalen College thuộc Đại học Oxford. Ngay sau khi đến nơi, ông nhận Giải Nobel Vật lý cùng với Paul Dirac. Vị trí ở Oxford không được công tác thuận lợi; do sự sắp xếp chỗ ở của ông không bình thường khi ông muốn chia sẻ nơi ở với hai phụ nữ khác.. Năm 1934, Schrödinger khi đang thỉnh giảng tại Đại học Princeton; trường này đã mời ông về giảng dạy lâu năm tại đây nhưng ông đã từ chối. Một lần nữa, mong muốn có một nơi ở cùng với vợ và vợ hai của ông đã gây cản trở cho ông. Ông có cơ hội được nhận tại Đại học Edinburgh nhưng thị thực bị cấp trễ, và cuối cùng ông chấp nhận làm giáo sư ở Đại học Graz thuộc Áo năm 1936. Ông cũng chấp nhận một vị trí ở phòng vật lý, Đại học Allahabad ở Ấn Độ. | Schrödinger đảm nhiệm vị trí của Max Planck ở trường đại học nào? | Friedrich Wilhelm |
Cũng trong năm 1921, ông chuyển tới Đại học Zürich. Năm 1927, ông đảm nhiệm vị trí trước đó của Max Planck tại Đại học Friedrich Wilhelm ở Berlin. Tuy nhiên, năm 1934, Schrödinger quyết định rời nước Đức do ông không ủng hộ chủ nghĩa chống người Do thái của Quốc xã. Ông trở thành giáo sư tại Magdalen College thuộc Đại học Oxford. Ngay sau khi đến nơi, ông nhận Giải Nobel Vật lý cùng với Paul Dirac. Vị trí ở Oxford không được công tác thuận lợi; do sự sắp xếp chỗ ở của ông không bình thường khi ông muốn chia sẻ nơi ở với hai phụ nữ khác.. Năm 1934, Schrödinger khi đang thỉnh giảng tại Đại học Princeton; trường này đã mời ông về giảng dạy lâu năm tại đây nhưng ông đã từ chối. Một lần nữa, mong muốn có một nơi ở cùng với vợ và vợ hai của ông đã gây cản trở cho ông. Ông có cơ hội được nhận tại Đại học Edinburgh nhưng thị thực bị cấp trễ, và cuối cùng ông chấp nhận làm giáo sư ở Đại học Graz thuộc Áo năm 1936. Ông cũng chấp nhận một vị trí ở phòng vật lý, Đại học Allahabad ở Ấn Độ. | Schrödinger đã từ chối một lời mời làm việc từ trường nào vào năm 1934? | Princeton |
Năm 1938, sau phong trào Anschluss, Schrödinger đã gặp rắc rối bởi chuyến bay rời nước Đức năm 1933 và tư tưởng chống phát xít. Sau đó ông công khai là đã mắc sai lầm trong tư tưởng này (ông cảm thấy hối tiếc và sau đó giải thích với Einstein). Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn được tha thứ và Đại học Graz đã buộc phải cho ông thôi việc vì những quan điểm không đáng tin về chính trị. Ông đã trải qua lo lắng ưu phiền và nhận được chỉ thị không được phép rời khỏi Áo, nhưng cuối cùng ông và vợ đã bỏ trốn tới Ý. Từ đây, ông được mời về làm việc ở Oxford và Đại học Ghent. | Schrödinger đã được mời làm việc ở đâu sau khi bỏ trốn tới Ý? | Oxford và Đại học Ghent |
Năm 1938, sau phong trào Anschluss, Schrödinger đã gặp rắc rối bởi chuyến bay rời nước Đức năm 1933 và tư tưởng chống phát xít. Sau đó ông công khai là đã mắc sai lầm trong tư tưởng này (ông cảm thấy hối tiếc và sau đó giải thích với Einstein). Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn được tha thứ và Đại học Graz đã buộc phải cho ông thôi việc vì những quan điểm không đáng tin về chính trị. Ông đã trải qua lo lắng ưu phiền và nhận được chỉ thị không được phép rời khỏi Áo, nhưng cuối cùng ông và vợ đã bỏ trốn tới Ý. Từ đây, ông được mời về làm việc ở Oxford và Đại học Ghent. | Schrödinger bị buộc thôi việc tại trường nào? | Đại học Graz |
Năm 1944, ông viết cuốn sách Sự sống là gì? (What Is Life?), với thảo luận về negentropy và đề cập đến khái niệm về một phân tử phức hợp mang mã di truyền cho các sinh vật sống. Theo như hồi ký của James D. Watson, DNA, the Secret of Life, cuốn sách của Schrödinger tạo cảm hứng cho Watson thực hiện nghiên cứu về gen, mà dẫn tới khám phá ra cấu trúc chuỗi xoắn kép DNA vào năm 1953. Cũng vậy, Francis Crick, trong cuốn tự thuật của ông What Mad Pursuit, miêu tả ông đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi các phỏng đoán của Schrödinger về cách thức mà thông tin di truyền có thể được lưu giữ trong các phân tử. | Cuốn sách của Erwin Schrödinger được xuất bản vào năm nào? | 1944 |
Năm 1944, ông viết cuốn sách Sự sống là gì? (What Is Life?), với thảo luận về negentropy và đề cập đến khái niệm về một phân tử phức hợp mang mã di truyền cho các sinh vật sống. Theo như hồi ký của James D. Watson, DNA, the Secret of Life, cuốn sách của Schrödinger tạo cảm hứng cho Watson thực hiện nghiên cứu về gen, mà dẫn tới khám phá ra cấu trúc chuỗi xoắn kép DNA vào năm 1953. Cũng vậy, Francis Crick, trong cuốn tự thuật của ông What Mad Pursuit, miêu tả ông đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi các phỏng đoán của Schrödinger về cách thức mà thông tin di truyền có thể được lưu giữ trong các phân tử. | Schrödinger viết cuốn sách gì vào năm 1944? | Sự sống là gì? |
Năm 1944, ông viết cuốn sách Sự sống là gì? (What Is Life?), với thảo luận về negentropy và đề cập đến khái niệm về một phân tử phức hợp mang mã di truyền cho các sinh vật sống. Theo như hồi ký của James D. Watson, DNA, the Secret of Life, cuốn sách của Schrödinger tạo cảm hứng cho Watson thực hiện nghiên cứu về gen, mà dẫn tới khám phá ra cấu trúc chuỗi xoắn kép DNA vào năm 1953. Cũng vậy, Francis Crick, trong cuốn tự thuật của ông What Mad Pursuit, miêu tả ông đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi các phỏng đoán của Schrödinger về cách thức mà thông tin di truyền có thể được lưu giữ trong các phân tử. | Cuốn sách của Schrödinger tạo cảm hứng cho ai thực hiện nghiên cứu về gen? | James D. Watson |
Ngày 6 tháng 4 năm 1920, Schrödinger cưới Annemarie (Anny) Bertel. Schrödinger bị chứng lao phổi và phải chữa trị vài lần trong thập niên 1920 tại một nhà điều dưỡng ở Arosa. Cũng chính tại đây, ông đã thiết lập lên phương trình sóng nổi tiếng trong cơ học lượng tử. Như đã nêu ở trên, Schrödinger có đời sống cá nhân không bình thường. Khi nhập cư vào Ireland năm 1938, ông được nhận thị thực cho mình, vợ ông và một người phụ nữ khác, cô Hilde March. March là vợ của một đồng nghiệp người Áo và Schrödinger có với cô này một con gái vào năm 1934. Schrödinger đã viết thư gửi tới thủ tướng Ireland Éamon de Valera để nhận được thị thực cho cô March. Tháng 10 năm 1939 ba người đến định cư ở Dublin. Schrödinger còn là cha của hai con gái nữa với hai người phụ nữ khác trong thời gian ông sống ở Ireland. Cháu nội của ông, Terry Rudolph, cũng theo sự nghiệp của Schrödinger khi ông ta là một nhà vật lý lượng tử, giảng dạy ở trường Imperial College, London. | Schrödinger kết hôn với ai vào ngày 6 tháng 4 năm 1920? | Annemarie (Anny) Bertel |
Ngày 6 tháng 4 năm 1920, Schrödinger cưới Annemarie (Anny) Bertel. Schrödinger bị chứng lao phổi và phải chữa trị vài lần trong thập niên 1920 tại một nhà điều dưỡng ở Arosa. Cũng chính tại đây, ông đã thiết lập lên phương trình sóng nổi tiếng trong cơ học lượng tử. Như đã nêu ở trên, Schrödinger có đời sống cá nhân không bình thường. Khi nhập cư vào Ireland năm 1938, ông được nhận thị thực cho mình, vợ ông và một người phụ nữ khác, cô Hilde March. March là vợ của một đồng nghiệp người Áo và Schrödinger có với cô này một con gái vào năm 1934. Schrödinger đã viết thư gửi tới thủ tướng Ireland Éamon de Valera để nhận được thị thực cho cô March. Tháng 10 năm 1939 ba người đến định cư ở Dublin. Schrödinger còn là cha của hai con gái nữa với hai người phụ nữ khác trong thời gian ông sống ở Ireland. Cháu nội của ông, Terry Rudolph, cũng theo sự nghiệp của Schrödinger khi ông ta là một nhà vật lý lượng tử, giảng dạy ở trường Imperial College, London. | Phương trình sóng nổi tiếng trong cơ học lượng tử được thiết lập ở đâu? | Arosa |
Ngày 6 tháng 4 năm 1920, Schrödinger cưới Annemarie (Anny) Bertel. Schrödinger bị chứng lao phổi và phải chữa trị vài lần trong thập niên 1920 tại một nhà điều dưỡng ở Arosa. Cũng chính tại đây, ông đã thiết lập lên phương trình sóng nổi tiếng trong cơ học lượng tử. Như đã nêu ở trên, Schrödinger có đời sống cá nhân không bình thường. Khi nhập cư vào Ireland năm 1938, ông được nhận thị thực cho mình, vợ ông và một người phụ nữ khác, cô Hilde March. March là vợ của một đồng nghiệp người Áo và Schrödinger có với cô này một con gái vào năm 1934. Schrödinger đã viết thư gửi tới thủ tướng Ireland Éamon de Valera để nhận được thị thực cho cô March. Tháng 10 năm 1939 ba người đến định cư ở Dublin. Schrödinger còn là cha của hai con gái nữa với hai người phụ nữ khác trong thời gian ông sống ở Ireland. Cháu nội của ông, Terry Rudolph, cũng theo sự nghiệp của Schrödinger khi ông ta là một nhà vật lý lượng tử, giảng dạy ở trường Imperial College, London. | Vào năm nào Schrödinger và gia đình chuyển đến Dublin? | 1939 |
Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên ADN. Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae. | Họ thực vật nào có khoảng 730 chi và 19.400 loài? | Họ Đậu |
Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên ADN. Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae. | Họ Đậu có bao nhiêu loài? | 19.400 |
Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên ADN. Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae. | Họ Đậu được xếp vào bộ thực vật nào? | bộ Đậu |
Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên ADN. Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae. | Họ Đậu còn được gọi là họ gì? | họ Cánh bướm |
Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae sensu stricto (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist. Trong các phân loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang (Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi khoa học tương ứng là Mimosaceae và Caesalpiniaceae. Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae). APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae). | APG coi nhóm nào ở mức độ phân họ? | Faboideae |
Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae sensu stricto (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist. Trong các phân loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang (Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi khoa học tương ứng là Mimosaceae và Caesalpiniaceae. Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae). APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae). | Trong hệ thống Cronquist, họ Trinh nữ và họ Vang được nâng lên thành cấp gì? | họ |
Leguminosae (hay Fabaceae sensu lato) là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 730 chi và trên 19.400 loài. Các tên gọi thông thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu, và họ này chứa một số loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng v.v. Các loài khác trong họ cũng là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm hoặc để làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương. Một số chi như Laburnum, Robinia, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix là các loại cây cảnh. Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng hạn Derris) hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc nhuộm hoặc nhựa. Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài bản địa. | Họ thực vật lớn thứ hai có bao nhiêu loài? | trên 19.400 |
Leguminosae (hay Fabaceae sensu lato) là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 730 chi và trên 19.400 loài. Các tên gọi thông thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu, và họ này chứa một số loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng v.v. Các loài khác trong họ cũng là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm hoặc để làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương. Một số chi như Laburnum, Robinia, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix là các loại cây cảnh. Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng hạn Derris) hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc nhuộm hoặc nhựa. Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài bản địa. | Họ Leguminosae còn được gọi là gì? | Fabaceae sensu lato |
Cây phát sinh chủng loài của họ Đậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế giới, họ sử dụng các phương pháp phân tích hình thái học, các dữ liệu ADN (trnL intron thể hạt, các gen thể hạt rbcL và matK, và các ITS) và phân tích miêu tả theo nhánh để dung giải các mối quan hệ của các dòng dõi khác nhau trong họ này. Bằng cách ấy người ta đã không thể xác nhận tính đơn ngành của các phân họ truyền thống là Mimosoideae và Faboideae, do chúng cùng nhau lồng sâu bên trong phân họ cận ngành Caesalpinioideae. Tất cả các nghiên cứu, thông qua cách tiếp cận khác nhau, là trước sau như một và đưa ra sự hỗ trợ mạnh cho các mối quan hệ giữa các nhánh chính của họ này, như sơ đồ dưới đây. Nhánh rẽ ra sớm nhất là tông Cercideae, tiếp theo đó là tông Detarieae, và chi đơn loài Duparquetia (trước đây chúng được xếp vào phân họ Caesalpinioideae). | Ngành của các phân họ Mimosoideae và Faboideae không thể xác định bằng phương pháp nào? | phân tích hình thái học |
Cây phát sinh chủng loài của họ Đậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế giới, họ sử dụng các phương pháp phân tích hình thái học, các dữ liệu ADN (trnL intron thể hạt, các gen thể hạt rbcL và matK, và các ITS) và phân tích miêu tả theo nhánh để dung giải các mối quan hệ của các dòng dõi khác nhau trong họ này. Bằng cách ấy người ta đã không thể xác nhận tính đơn ngành của các phân họ truyền thống là Mimosoideae và Faboideae, do chúng cùng nhau lồng sâu bên trong phân họ cận ngành Caesalpinioideae. Tất cả các nghiên cứu, thông qua cách tiếp cận khác nhau, là trước sau như một và đưa ra sự hỗ trợ mạnh cho các mối quan hệ giữa các nhánh chính của họ này, như sơ đồ dưới đây. Nhánh rẽ ra sớm nhất là tông Cercideae, tiếp theo đó là tông Detarieae, và chi đơn loài Duparquetia (trước đây chúng được xếp vào phân họ Caesalpinioideae). | Tông rẽ ra sớm nhất trong họ Đậu là tông nào? | Cercideae |
Cây phát sinh chủng loài của họ Đậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế giới, họ sử dụng các phương pháp phân tích hình thái học, các dữ liệu ADN (trnL intron thể hạt, các gen thể hạt rbcL và matK, và các ITS) và phân tích miêu tả theo nhánh để dung giải các mối quan hệ của các dòng dõi khác nhau trong họ này. Bằng cách ấy người ta đã không thể xác nhận tính đơn ngành của các phân họ truyền thống là Mimosoideae và Faboideae, do chúng cùng nhau lồng sâu bên trong phân họ cận ngành Caesalpinioideae. Tất cả các nghiên cứu, thông qua cách tiếp cận khác nhau, là trước sau như một và đưa ra sự hỗ trợ mạnh cho các mối quan hệ giữa các nhánh chính của họ này, như sơ đồ dưới đây. Nhánh rẽ ra sớm nhất là tông Cercideae, tiếp theo đó là tông Detarieae, và chi đơn loài Duparquetia (trước đây chúng được xếp vào phân họ Caesalpinioideae). | Các phân họ truyền thống không được xác nhận tính đơn ngành là gì? | Mimosoideae và Faboideae |
Cây phát sinh chủng loài của họ Đậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế giới, họ sử dụng các phương pháp phân tích hình thái học, các dữ liệu ADN (trnL intron thể hạt, các gen thể hạt rbcL và matK, và các ITS) và phân tích miêu tả theo nhánh để dung giải các mối quan hệ của các dòng dõi khác nhau trong họ này. Bằng cách ấy người ta đã không thể xác nhận tính đơn ngành của các phân họ truyền thống là Mimosoideae và Faboideae, do chúng cùng nhau lồng sâu bên trong phân họ cận ngành Caesalpinioideae. Tất cả các nghiên cứu, thông qua cách tiếp cận khác nhau, là trước sau như một và đưa ra sự hỗ trợ mạnh cho các mối quan hệ giữa các nhánh chính của họ này, như sơ đồ dưới đây. Nhánh rẽ ra sớm nhất là tông Cercideae, tiếp theo đó là tông Detarieae, và chi đơn loài Duparquetia (trước đây chúng được xếp vào phân họ Caesalpinioideae). | Nhánh rẽ ra sớm nhất trong họ Đậu là gì? | tông Cercideae |
Bộ Đậu chứa khoảng 9,6% đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự và hầu hết chúng tập trung trong một trong 4 họ của nó là họ Đậu. Nguồn gốc của nhánh này bao gồm cả các họ Polygalaceae, Surianaceae và Quillajaceae được xác định là đã tồn tại từ 94 đến 89 triệu năm, và bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng 79 đến 74 triệu năm. Trong thực tế, các loài trong họ Đậu dường như đã đa dạng hóa trong suốt đầu kỷ Đệ Tam để trở thành thành viên phổ biến ở khắp mọi nơi của thực vật trên cạn hiện đại, giống như nhiều họ thực vật hạt kín khác. | Bộ Đậu chứa bao nhiêu phần trăm đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự? | 9,6% |
Bộ Đậu chứa khoảng 9,6% đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự và hầu hết chúng tập trung trong một trong 4 họ của nó là họ Đậu. Nguồn gốc của nhánh này bao gồm cả các họ Polygalaceae, Surianaceae và Quillajaceae được xác định là đã tồn tại từ 94 đến 89 triệu năm, và bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng 79 đến 74 triệu năm. Trong thực tế, các loài trong họ Đậu dường như đã đa dạng hóa trong suốt đầu kỷ Đệ Tam để trở thành thành viên phổ biến ở khắp mọi nơi của thực vật trên cạn hiện đại, giống như nhiều họ thực vật hạt kín khác. | Nhánh thực vật trong Bộ Đậu bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng thời gian nào? | 79 đến 74 triệu năm |
Bộ Đậu chứa khoảng 9,6% đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự và hầu hết chúng tập trung trong một trong 4 họ của nó là họ Đậu. Nguồn gốc của nhánh này bao gồm cả các họ Polygalaceae, Surianaceae và Quillajaceae được xác định là đã tồn tại từ 94 đến 89 triệu năm, và bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng 79 đến 74 triệu năm. Trong thực tế, các loài trong họ Đậu dường như đã đa dạng hóa trong suốt đầu kỷ Đệ Tam để trở thành thành viên phổ biến ở khắp mọi nơi của thực vật trên cạn hiện đại, giống như nhiều họ thực vật hạt kín khác. | Nguồn gốc của nhánh chứa họ Đậu có từ khi nào? | 94 đến 89 triệu năm |
Hóa thạch của họ Đậu phong phú và đa dạng, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tam. Các hóa thạch của hoa, quả, lá chét, gỗ và phấn hoa được tìm thấy ở nhiều nơi. Hóa thạch sớm nhất có thể chắc chắn gán cho họ Đậu đã xuất hiện vào Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước). Các đại diện của các phân họ được công nhận theo truyền thống là Caesalpinioideae, Papilionoideae và Mimosoideae - cũng như các nhánh lớn trong phạm vi các phân họ - như Genisteae - đã được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch trong các giai đoạn muộn hơn một chút, cách đây khoảng 55 đến 50 triệu năm. Trong thực tế, việc phát hiện ra một số đơn vị phân loại đại diện cho các nhánh chính của họ Đậu trong thời kỳ Eocen giữa và muộn gợi ý rằng các nhóm hiện đại nhất của họ Đậu đã có mặt và đa dạng hóa trong giai đoạn này. Sau đó, họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng 60 triệu năm và các nhánh chính được tách ra cách đây 50 triệu năm. Tuổi của các nhánh chính trong Caesalpinioideae được ước tính vào khoảng từ 56 đến 34 triệu năm và nhóm Mimosoideae vào khoảng 44 ± 2,6 triệu năm. Sự tách biệt giữa Mimosoideae và Faboideae đã diễn ra cách đây từ 59 đến 34 triệu năm và tuổi của các nhánh chính trong Faboideae vào khoảng 58,6 ± 0,2 triệu năm. Trong phân họ Faboideae, sự chia tách của các nhóm cũng đã được xác định tuổi. Theo đó, Astragalus đã tách ra từ Oxytropsis vào khoảng 16 đến 12 triệu năm trước, mặc dù sự đa dạng hóa trong mỗi chi chỉ xảy ra tương đối gần đây. Ví dụ, sự phân tỏa của các loài thể bội không chỉnh trong nhánh Neo-Astragalus (các loài thuộc chi Astragalus có ở châu Mỹ) đã bắt đầu khoảng 4 triệu năm trước. Inga, một chi khác trong phân họ Faboideae chứa khoảng 350 loài dường như đã tách ra khoảng 2 triệu năm trước. | Khi nào sự đa dạng hóa trong chi Astragalus xảy ra? | gần đây |
Hóa thạch của họ Đậu phong phú và đa dạng, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tam. Các hóa thạch của hoa, quả, lá chét, gỗ và phấn hoa được tìm thấy ở nhiều nơi. Hóa thạch sớm nhất có thể chắc chắn gán cho họ Đậu đã xuất hiện vào Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước). Các đại diện của các phân họ được công nhận theo truyền thống là Caesalpinioideae, Papilionoideae và Mimosoideae - cũng như các nhánh lớn trong phạm vi các phân họ - như Genisteae - đã được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch trong các giai đoạn muộn hơn một chút, cách đây khoảng 55 đến 50 triệu năm. Trong thực tế, việc phát hiện ra một số đơn vị phân loại đại diện cho các nhánh chính của họ Đậu trong thời kỳ Eocen giữa và muộn gợi ý rằng các nhóm hiện đại nhất của họ Đậu đã có mặt và đa dạng hóa trong giai đoạn này. Sau đó, họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng 60 triệu năm và các nhánh chính được tách ra cách đây 50 triệu năm. Tuổi của các nhánh chính trong Caesalpinioideae được ước tính vào khoảng từ 56 đến 34 triệu năm và nhóm Mimosoideae vào khoảng 44 ± 2,6 triệu năm. Sự tách biệt giữa Mimosoideae và Faboideae đã diễn ra cách đây từ 59 đến 34 triệu năm và tuổi của các nhánh chính trong Faboideae vào khoảng 58,6 ± 0,2 triệu năm. Trong phân họ Faboideae, sự chia tách của các nhóm cũng đã được xác định tuổi. Theo đó, Astragalus đã tách ra từ Oxytropsis vào khoảng 16 đến 12 triệu năm trước, mặc dù sự đa dạng hóa trong mỗi chi chỉ xảy ra tương đối gần đây. Ví dụ, sự phân tỏa của các loài thể bội không chỉnh trong nhánh Neo-Astragalus (các loài thuộc chi Astragalus có ở châu Mỹ) đã bắt đầu khoảng 4 triệu năm trước. Inga, một chi khác trong phân họ Faboideae chứa khoảng 350 loài dường như đã tách ra khoảng 2 triệu năm trước. | Nhóm hiện đại nhất của họ Đậu bắt đầu đa dạng hóa trong giai đoạn nào? | Eocen giữa và muộn |
Hóa thạch của họ Đậu phong phú và đa dạng, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tam. Các hóa thạch của hoa, quả, lá chét, gỗ và phấn hoa được tìm thấy ở nhiều nơi. Hóa thạch sớm nhất có thể chắc chắn gán cho họ Đậu đã xuất hiện vào Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước). Các đại diện của các phân họ được công nhận theo truyền thống là Caesalpinioideae, Papilionoideae và Mimosoideae - cũng như các nhánh lớn trong phạm vi các phân họ - như Genisteae - đã được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch trong các giai đoạn muộn hơn một chút, cách đây khoảng 55 đến 50 triệu năm. Trong thực tế, việc phát hiện ra một số đơn vị phân loại đại diện cho các nhánh chính của họ Đậu trong thời kỳ Eocen giữa và muộn gợi ý rằng các nhóm hiện đại nhất của họ Đậu đã có mặt và đa dạng hóa trong giai đoạn này. Sau đó, họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng 60 triệu năm và các nhánh chính được tách ra cách đây 50 triệu năm. Tuổi của các nhánh chính trong Caesalpinioideae được ước tính vào khoảng từ 56 đến 34 triệu năm và nhóm Mimosoideae vào khoảng 44 ± 2,6 triệu năm. Sự tách biệt giữa Mimosoideae và Faboideae đã diễn ra cách đây từ 59 đến 34 triệu năm và tuổi của các nhánh chính trong Faboideae vào khoảng 58,6 ± 0,2 triệu năm. Trong phân họ Faboideae, sự chia tách của các nhóm cũng đã được xác định tuổi. Theo đó, Astragalus đã tách ra từ Oxytropsis vào khoảng 16 đến 12 triệu năm trước, mặc dù sự đa dạng hóa trong mỗi chi chỉ xảy ra tương đối gần đây. Ví dụ, sự phân tỏa của các loài thể bội không chỉnh trong nhánh Neo-Astragalus (các loài thuộc chi Astragalus có ở châu Mỹ) đã bắt đầu khoảng 4 triệu năm trước. Inga, một chi khác trong phân họ Faboideae chứa khoảng 350 loài dường như đã tách ra khoảng 2 triệu năm trước. | Hóa thạch sớm nhất của họ Đậu có thể chắc chắn gán cho xuất hiện vào thời kỳ nào? | Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước) |
Hóa thạch của họ Đậu phong phú và đa dạng, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tam. Các hóa thạch của hoa, quả, lá chét, gỗ và phấn hoa được tìm thấy ở nhiều nơi. Hóa thạch sớm nhất có thể chắc chắn gán cho họ Đậu đã xuất hiện vào Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước). Các đại diện của các phân họ được công nhận theo truyền thống là Caesalpinioideae, Papilionoideae và Mimosoideae - cũng như các nhánh lớn trong phạm vi các phân họ - như Genisteae - đã được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch trong các giai đoạn muộn hơn một chút, cách đây khoảng 55 đến 50 triệu năm. Trong thực tế, việc phát hiện ra một số đơn vị phân loại đại diện cho các nhánh chính của họ Đậu trong thời kỳ Eocen giữa và muộn gợi ý rằng các nhóm hiện đại nhất của họ Đậu đã có mặt và đa dạng hóa trong giai đoạn này. Sau đó, họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng 60 triệu năm và các nhánh chính được tách ra cách đây 50 triệu năm. Tuổi của các nhánh chính trong Caesalpinioideae được ước tính vào khoảng từ 56 đến 34 triệu năm và nhóm Mimosoideae vào khoảng 44 ± 2,6 triệu năm. Sự tách biệt giữa Mimosoideae và Faboideae đã diễn ra cách đây từ 59 đến 34 triệu năm và tuổi của các nhánh chính trong Faboideae vào khoảng 58,6 ± 0,2 triệu năm. Trong phân họ Faboideae, sự chia tách của các nhóm cũng đã được xác định tuổi. Theo đó, Astragalus đã tách ra từ Oxytropsis vào khoảng 16 đến 12 triệu năm trước, mặc dù sự đa dạng hóa trong mỗi chi chỉ xảy ra tương đối gần đây. Ví dụ, sự phân tỏa của các loài thể bội không chỉnh trong nhánh Neo-Astragalus (các loài thuộc chi Astragalus có ở châu Mỹ) đã bắt đầu khoảng 4 triệu năm trước. Inga, một chi khác trong phân họ Faboideae chứa khoảng 350 loài dường như đã tách ra khoảng 2 triệu năm trước. | Họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng bao nhiêu năm? | 60 triệu năm |
Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH4+). Hoạt động này được gọi là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây Đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất. | Vi khuẩn có quan hệ mật thiết với các loài cây thuộc họ Đậu được gọi là gì? | vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium) |
Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH4+). Hoạt động này được gọi là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây Đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất. | Cây đậu cung cấp gì cho vi khuẩn nốt rễ? | nơi ở và dinh dưỡng |
Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH4+). Hoạt động này được gọi là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây Đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất. | Vi khuẩn có khả năng cố định đạm được gọi là gì? | vi khuẩn nốt rễ |
Sự lệch lạc, hay còn gọi là Sự lầm lạc, Hành vi lệch lạc, (tiếng Anh: deviance hoặc deviant behavior) là một khái niệm của xã hội học được định nghĩa là sự vi phạm có nhận thức các tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng của một nhóm hay của xã hội. Các tiêu chuẩn văn hóa và kỳ vọng định dạng một dải rộng các hoạt động của con người nên khái niệm sự lệch lạc cũng mang nghĩa rộng tương ứng. Một dạng hiển nhiên của lệch lạc là tội phạm, sự vi phạm các quy phạm được ban hành chính thức thành luật pháp. Ngoài ra nó còn là rất nhiều những dạng không tuân thủ tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng khác ở rất nhiều mức độ từ ôn hòa đến cực đoan. Sự lệch lạc thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực tuy nhiên những cá thể bị tách riêng ra khỏi nhóm do sự tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn văn hóa lý tưởng trong một chừng mực nào đó cũng là một dạng của lệch lạc. Điều này là do sự khác nhau giữa văn hóa lý tưởng và văn hóa thực tế, trên thực tế, hầu như tất cả mọi cá nhân đều không hội đủ các tiêu chuẩn của văn hóa lý tưởng và nếu một cá nhân trong nhóm trở nên vượt trội trong việc đó thì anh ta sẽ thành "'người lên mặt đạo đức, ít nhất cũng có phần lệch lạc". Nhưng những người không bị mắc chứng bệnh đến tâm lý và thần kinh thì không phải là người lệch lạc. | Sự lệch lạc thường được hiểu theo nghĩa nào? | tiêu cực |
Hành vi con người được hiểu - hay nói chính xác hơn, hiểu lầm - trong thế kỷ 19 như là sự thể hiện bản năng sinh học. Những nghiên cứu ban đầu nhấn mạnh đến nguyên nhân này, năm 1876, Caesare Lombroso đã phát triển thuyết tội phạm sinh học. Thuyết này đã mô tả các đặc điểm về thể chất của tội phạm như trán thấp, cằm, gò má nhô, tai vểnh, nhiều râu tóc và cánh tay dài bất thường trông giống như tổ tiên giống vượn của con người. Theo lý thuyết này, do những khiếm khuyết về sinh học nên những cá nhân như thế sẽ tư duy và hành động theo cách nguyên thủy và dẫn đến phạm tội, hay nói cách khác, có những người sinh ra đã là tội phạm tiềm năng. Gần cuối đời, Lombroso mới thừa nhận yếu tố xã hội cũng đóng góp một phần vai trò trong sự phạm tội. Lý thuyết này "dựa trên những phương pháp nghiên cứu sai lầm nghiêm trọng" và đã bị bác bỏ bởi các kết quả nghiên cứu sau đó. Sang thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các giải thích sinh học về sự phạm tội. Giữa thế kỷ 20, William Herbert Sheldon đã đưa ra quan điểm cho rằng cấu trúc cơ thể có vai trò quan trọng trong sự phạm tội. Ông phân cấu trúc cơ thể người thành ba loại: ốm yếu gầy còm, lùn mập và cơ bắp rắn chắc, mọi người đều là sự kết hợp của ba thể tạng này nhưng sẽ có một trong số đó chiếm ưu thế. Ông cho rằng có liên kết giữa sự phạm tội và tạng người cơ bắp rắn chắc. Sau đó, những nghiên cứu của hai vợ chồng Sheldon Glueck và Eleanor Glueck cho rằng sự phạm tội có liên kết với cấu tạo cơ thể lùn mập như người lùn, mập thường lớn lên trong những gia đình ít tình cảm và hiểu biết nên kém nhạy cảm và hay gây hấn. Từ thập niên 1960, những giải thích theo hướng này tập trung vào yếu tố gien cùng với sự phát triển của khoa học nghiên cứu di truyền. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, những giải thích sinh học về tội phạm trong thế kỷ 20 đều nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố xã hội. | Thuyết tội phạm sinh học do ai đưa ra? | Caesare Lombroso |
Hành vi con người được hiểu - hay nói chính xác hơn, hiểu lầm - trong thế kỷ 19 như là sự thể hiện bản năng sinh học. Những nghiên cứu ban đầu nhấn mạnh đến nguyên nhân này, năm 1876, Caesare Lombroso đã phát triển thuyết tội phạm sinh học. Thuyết này đã mô tả các đặc điểm về thể chất của tội phạm như trán thấp, cằm, gò má nhô, tai vểnh, nhiều râu tóc và cánh tay dài bất thường trông giống như tổ tiên giống vượn của con người. Theo lý thuyết này, do những khiếm khuyết về sinh học nên những cá nhân như thế sẽ tư duy và hành động theo cách nguyên thủy và dẫn đến phạm tội, hay nói cách khác, có những người sinh ra đã là tội phạm tiềm năng. Gần cuối đời, Lombroso mới thừa nhận yếu tố xã hội cũng đóng góp một phần vai trò trong sự phạm tội. Lý thuyết này "dựa trên những phương pháp nghiên cứu sai lầm nghiêm trọng" và đã bị bác bỏ bởi các kết quả nghiên cứu sau đó. Sang thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các giải thích sinh học về sự phạm tội. Giữa thế kỷ 20, William Herbert Sheldon đã đưa ra quan điểm cho rằng cấu trúc cơ thể có vai trò quan trọng trong sự phạm tội. Ông phân cấu trúc cơ thể người thành ba loại: ốm yếu gầy còm, lùn mập và cơ bắp rắn chắc, mọi người đều là sự kết hợp của ba thể tạng này nhưng sẽ có một trong số đó chiếm ưu thế. Ông cho rằng có liên kết giữa sự phạm tội và tạng người cơ bắp rắn chắc. Sau đó, những nghiên cứu của hai vợ chồng Sheldon Glueck và Eleanor Glueck cho rằng sự phạm tội có liên kết với cấu tạo cơ thể lùn mập như người lùn, mập thường lớn lên trong những gia đình ít tình cảm và hiểu biết nên kém nhạy cảm và hay gây hấn. Từ thập niên 1960, những giải thích theo hướng này tập trung vào yếu tố gien cùng với sự phát triển của khoa học nghiên cứu di truyền. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, những giải thích sinh học về tội phạm trong thế kỷ 20 đều nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố xã hội. | William Herbert Sheldon đưa ra quan điểm gì về sự phạm tội? | cấu trúc cơ thể có vai trò quan trọng |
Cách giải thích này của sự lệch lạc thường tập trung vào tính bất thường trong nhân cách và mặc dù một số bất thường của nhân cách liên kết với tính di truyền, những nhà tâm lý học xem hầu hết rối loạn nhân cách là kết quả của quá trình xã hội hóa. Vì nhân cách là do kinh nghiệm xã hội định hình trong suốt chu kỳ đời sống, sự lệch lạc được coi là kết quả xã hội hóa không thành công đối với kỳ vọng văn hóa chứ không phải kết quả của tác động sinh học khi con người sinh ra. Một trong số đó là lý thuyết tiết chế của Walter Reckless và Simon Dinitz cho rằng các áp lực xã hội có thể dẫn đến tình trạng phạm tội đang phổ biến đối với trẻ vị thành niên, những trẻ em thích ứng tốt với thất bại và đồng nhất một cách tích cực với các giá trị và tiêu chuẩn văn hóa có khả năng đề kháng tốt hơn đối với sự phạm tội. Tuy vậy, cách giải thích này có những hạn chế: | Theo cách giải thích xã hội học, sự lệch lạc nhân cách có nguyên nhân chính từ đâu? | quá trình xã hội hóa |
Cách giải thích này của sự lệch lạc thường tập trung vào tính bất thường trong nhân cách và mặc dù một số bất thường của nhân cách liên kết với tính di truyền, những nhà tâm lý học xem hầu hết rối loạn nhân cách là kết quả của quá trình xã hội hóa. Vì nhân cách là do kinh nghiệm xã hội định hình trong suốt chu kỳ đời sống, sự lệch lạc được coi là kết quả xã hội hóa không thành công đối với kỳ vọng văn hóa chứ không phải kết quả của tác động sinh học khi con người sinh ra. Một trong số đó là lý thuyết tiết chế của Walter Reckless và Simon Dinitz cho rằng các áp lực xã hội có thể dẫn đến tình trạng phạm tội đang phổ biến đối với trẻ vị thành niên, những trẻ em thích ứng tốt với thất bại và đồng nhất một cách tích cực với các giá trị và tiêu chuẩn văn hóa có khả năng đề kháng tốt hơn đối với sự phạm tội. Tuy vậy, cách giải thích này có những hạn chế: | Lý thuyết của Reckless và Dinitz cho rằng gì có thể dẫn đến tình trạng phạm tội? | áp lực xã hội |
Cách giải thích này của sự lệch lạc thường tập trung vào tính bất thường trong nhân cách và mặc dù một số bất thường của nhân cách liên kết với tính di truyền, những nhà tâm lý học xem hầu hết rối loạn nhân cách là kết quả của quá trình xã hội hóa. Vì nhân cách là do kinh nghiệm xã hội định hình trong suốt chu kỳ đời sống, sự lệch lạc được coi là kết quả xã hội hóa không thành công đối với kỳ vọng văn hóa chứ không phải kết quả của tác động sinh học khi con người sinh ra. Một trong số đó là lý thuyết tiết chế của Walter Reckless và Simon Dinitz cho rằng các áp lực xã hội có thể dẫn đến tình trạng phạm tội đang phổ biến đối với trẻ vị thành niên, những trẻ em thích ứng tốt với thất bại và đồng nhất một cách tích cực với các giá trị và tiêu chuẩn văn hóa có khả năng đề kháng tốt hơn đối với sự phạm tội. Tuy vậy, cách giải thích này có những hạn chế: | Lý thuyết nào cho rằng trẻ vị thành niên có khả năng đề kháng tốt hơn đối với tội phạm khi chúng thích ứng tốt với thất bại và đồng nhất tích cực với các giá trị văn hóa? | lý thuyết tiết chế |
Cảm giác chung của chúng ta là sự lệch lạc có tác dụng tiêu cực, tội phạm gây thất thoát tiền của, gây tổn thương, thậm chí tước đoạt đi sinh mạng của người khác... Thế nhưng các nhà nghiên cứu theo mô hình cấu trúc chức năng lập luận rằng sự lệch lạc góp phần quan trọng cho hoạt động liên tục của xã hội. Emile Durkheim là người đã có những công trình tiên phong về chức năng của sự lệch lạc đối với xã hội. Ông khẳng định sự lệch lạc không có gì bất thường, nó là một bộ phận gắn liền với mọi xã hội và nó có bốn chức năng chính: | Tác giả công trình nghiên cứu tiên phong về chức năng của sự lệch lạc đối với xã hội là ai? | Emile Durkheim |
Mô hình tương tác biểu tượng đặt con người vào quá trình tương tác xã hội mà trong đó các tiêu chuẩn văn hóa thay đổi do vậy sự lệch lạc được áp dụng với mức độ linh hoạt. Ngoài các lý thuyết như "lý thuyết truyền đạt văn hóa" nhấn mạnh đến môi trường giao tiếp, "lý thuyết sinh hoạt thường nhật" nhấn mạnh đến nguyên nhân của sự lệch lạc nằm trong những gì bình thường trong cuộc sống hàng ngày (ví dụ như cha mẹ có thói quen để tiền ở chỗ dễ thấy khiến trẻ em lấy tiền mà không cảm thấy như thế là lệch lạc), một lý thuyết quan trọng là "lý thuyết gán nhãn hiệu khẳng định sự lệch lạc và tuân thủ là do kết quả của quá trình người khác xác định hay gán nhãn hiệu cho một người". Lý thuyết này không nhằm vào việc tại sao những cá nhân nào đó lại đi đến chuyện lệch lạc mà nó "nhấn mạnh đến việc người ta bị gán nhãn là kẻ làm sai lệch hay chấp nhận cái nhãn gán ấy như thế nào". Lý thuyết này cũng được gọi là "cách tiếp cận bằng phản ứng xã hội" vì nó nhấn mạnh rằng hành vi lệch lạc không phải có ý nghĩa tự thân mà là phản ứng của xã hội. Howard Becker, người có công phổ biến lý thuyết gán nhãn hiệu đã tóm tắt về nó qua phát biểu như sau: "Hành vi làm sai lệch là hành vi mà người ta gán nhãn như thế". Thuyết này cũng nhấn mạnh rằng người bị gán nhãn hiệu lệch lạc có thể kết hợp nó vào sự nhận thức bản thân đến nỗi dẫn đến sự lệch lạc tiếp theo (ví dụ người bị dãn nhãn "gầy như que củi" có thể nói dối liên tục để khỏi phải đi bơi), thậm chí trở thành "lệch lạc chuyên nghiệp". | Theo lý thuyết gán nhãn hiệu, hành vi làm sai lệch là gì? | hành vi mà người ta gán nhãn như thế |
Mô hình tương tác biểu tượng đặt con người vào quá trình tương tác xã hội mà trong đó các tiêu chuẩn văn hóa thay đổi do vậy sự lệch lạc được áp dụng với mức độ linh hoạt. Ngoài các lý thuyết như "lý thuyết truyền đạt văn hóa" nhấn mạnh đến môi trường giao tiếp, "lý thuyết sinh hoạt thường nhật" nhấn mạnh đến nguyên nhân của sự lệch lạc nằm trong những gì bình thường trong cuộc sống hàng ngày (ví dụ như cha mẹ có thói quen để tiền ở chỗ dễ thấy khiến trẻ em lấy tiền mà không cảm thấy như thế là lệch lạc), một lý thuyết quan trọng là "lý thuyết gán nhãn hiệu khẳng định sự lệch lạc và tuân thủ là do kết quả của quá trình người khác xác định hay gán nhãn hiệu cho một người". Lý thuyết này không nhằm vào việc tại sao những cá nhân nào đó lại đi đến chuyện lệch lạc mà nó "nhấn mạnh đến việc người ta bị gán nhãn là kẻ làm sai lệch hay chấp nhận cái nhãn gán ấy như thế nào". Lý thuyết này cũng được gọi là "cách tiếp cận bằng phản ứng xã hội" vì nó nhấn mạnh rằng hành vi lệch lạc không phải có ý nghĩa tự thân mà là phản ứng của xã hội. Howard Becker, người có công phổ biến lý thuyết gán nhãn hiệu đã tóm tắt về nó qua phát biểu như sau: "Hành vi làm sai lệch là hành vi mà người ta gán nhãn như thế". Thuyết này cũng nhấn mạnh rằng người bị gán nhãn hiệu lệch lạc có thể kết hợp nó vào sự nhận thức bản thân đến nỗi dẫn đến sự lệch lạc tiếp theo (ví dụ người bị dãn nhãn "gầy như que củi" có thể nói dối liên tục để khỏi phải đi bơi), thậm chí trở thành "lệch lạc chuyên nghiệp". | Lý thuyết nào cho rằng hành vi lệch lạc là hành vi mà người ta gán nhãn như thế? | lý thuyết gán nhãn hiệu |
Mô hình này giải thích sự lệch lạc theo nghĩa thứ nguyên căn bản của bất công xã hội, mô hình này nhấn mạnh đến vấn đề người nào cũng như những gì được xác định là sự lệch lạc trước sự bất công xã hội. Những lý thuyết gia duy xung đột đặt vấn đề tại sao chúng ta có khuynh hướng nghĩ những người lệch lạc như những kẻ nhếch nhác, đồi bại..., tóm lại là ít quyền lực trong xã hội. Người thất nghiệp, những người trong điều kiện sống không tốt khác dễ bị xem là những kẻ lệch lạc trong khi người giàu có thường dễ được tôn kính hơn. Câu trả lời của họ như sau: | Người thất nghiệp dễ bị xem như thế nào? | những kẻ lệch lạc |
Mặt khác, mức độ phản ứng đối với sự lệch lạc cũng khác nhau, tùy thuộc họ đe dọa chủ nghĩa tư bản như thế nào. Spitzer gọi những người có hành vi lệch lạc như thế là "dân số có vấn đề" và phân họ làm hai loại: "kẻ nhát gan trong xã hội" và "chất nổ xã hội". Loại thứ nhất là những người không làm việc nhưng ít đe dọa như những kẻ "chủ trương rút lui", những người giàu có không lao động, người khuyết tật... Loại thứ hai là những người có khả năng tích cực không thừa nhận chủ nghĩa tư bản như đa số người thất nghiệp ở thành phố, thanh niên bị xã hội xa lánh, những người cấp tiến, cách mạng. Ông cũng khẳng định rằng cả hai loại người trong "dân số có vấn đề" đều là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và do vậy chủ nghĩa tư bản kiểm soát họ nhằm giảm thiểu sự đe dọa với phí tổn nhỏ nhất và xác định nguồn gốc của "dân số có vấn đề" là thất bại cá nhân hơn là sản phẩm của xã hội. | Theo Spitzer, những người có khả năng tích cực không thừa nhận chủ nghĩa tư bản được phân vào loại nào? | chất nổ xã hội |
Mặt khác, mức độ phản ứng đối với sự lệch lạc cũng khác nhau, tùy thuộc họ đe dọa chủ nghĩa tư bản như thế nào. Spitzer gọi những người có hành vi lệch lạc như thế là "dân số có vấn đề" và phân họ làm hai loại: "kẻ nhát gan trong xã hội" và "chất nổ xã hội". Loại thứ nhất là những người không làm việc nhưng ít đe dọa như những kẻ "chủ trương rút lui", những người giàu có không lao động, người khuyết tật... Loại thứ hai là những người có khả năng tích cực không thừa nhận chủ nghĩa tư bản như đa số người thất nghiệp ở thành phố, thanh niên bị xã hội xa lánh, những người cấp tiến, cách mạng. Ông cũng khẳng định rằng cả hai loại người trong "dân số có vấn đề" đều là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và do vậy chủ nghĩa tư bản kiểm soát họ nhằm giảm thiểu sự đe dọa với phí tổn nhỏ nhất và xác định nguồn gốc của "dân số có vấn đề" là thất bại cá nhân hơn là sản phẩm của xã hội. | Theo Spitzer, ai là "dân số có vấn đề"? | những người có hành vi lệch lạc |
Mặt khác, mức độ phản ứng đối với sự lệch lạc cũng khác nhau, tùy thuộc họ đe dọa chủ nghĩa tư bản như thế nào. Spitzer gọi những người có hành vi lệch lạc như thế là "dân số có vấn đề" và phân họ làm hai loại: "kẻ nhát gan trong xã hội" và "chất nổ xã hội". Loại thứ nhất là những người không làm việc nhưng ít đe dọa như những kẻ "chủ trương rút lui", những người giàu có không lao động, người khuyết tật... Loại thứ hai là những người có khả năng tích cực không thừa nhận chủ nghĩa tư bản như đa số người thất nghiệp ở thành phố, thanh niên bị xã hội xa lánh, những người cấp tiến, cách mạng. Ông cũng khẳng định rằng cả hai loại người trong "dân số có vấn đề" đều là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và do vậy chủ nghĩa tư bản kiểm soát họ nhằm giảm thiểu sự đe dọa với phí tổn nhỏ nhất và xác định nguồn gốc của "dân số có vấn đề" là thất bại cá nhân hơn là sản phẩm của xã hội. | Loại người nào được Spitzer gọi là "dân số có vấn đề"? | người có hành vi lệch lạc |
Người bản địa sống tại nơi mà ngày nay là Hoa Kỳ trước khi những người thực dân châu Âu bắt đầu đi đến, phần lớn là từ Anh Quốc, sau năm 1600. Vào thập niên 1770, Mười ba thuộc địa Anh có đến 2 triệu rưỡi người sinh sống. Các thuộc địa này thịnh vượng và phát triển nhanh chóng, phát triển các hệ thống pháp lý và chính trị tự chủ của chính mình. Nghị viện Anh Quốc áp đặt quyền lực của mình đối với các thuộc địa này bằng cách đặt ra các thứ thuế mới mà người Mỹ cho rằng là vi hiến bởi vì họ không có đại diện của mình trong nghị viện. Các cuộc xung đột ngày càng nhiều đã biến thành cuộc chiến tranh toàn lực, bắt đầu vào tháng 4 năm 1775. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, các thuộc địa tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh bằng một văn kiện do Thomas Jefferson viết ra và trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. | Người Mỹ cho rằng các thứ thuế của Anh Quốc đặt ra là gì? | vi hiến |
Người bản địa sống tại nơi mà ngày nay là Hoa Kỳ trước khi những người thực dân châu Âu bắt đầu đi đến, phần lớn là từ Anh Quốc, sau năm 1600. Vào thập niên 1770, Mười ba thuộc địa Anh có đến 2 triệu rưỡi người sinh sống. Các thuộc địa này thịnh vượng và phát triển nhanh chóng, phát triển các hệ thống pháp lý và chính trị tự chủ của chính mình. Nghị viện Anh Quốc áp đặt quyền lực của mình đối với các thuộc địa này bằng cách đặt ra các thứ thuế mới mà người Mỹ cho rằng là vi hiến bởi vì họ không có đại diện của mình trong nghị viện. Các cuộc xung đột ngày càng nhiều đã biến thành cuộc chiến tranh toàn lực, bắt đầu vào tháng 4 năm 1775. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, các thuộc địa tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh bằng một văn kiện do Thomas Jefferson viết ra và trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. | Ngày độc lập của Hoa Kỳ là ngày nào? | 4 tháng 7 năm 1776 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.