url stringlengths 90 358 | title stringlengths 8 222 | published_at stringdate 1946-11-24 00:00:00 2026-12-31 00:00:00 | abstract stringlengths 41 25.5k ⌀ | body_text stringlengths 1k 241k |
|---|---|---|---|---|
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/825600/cuoc-chien-dau-bao-ve-thanh-co-quang-tri-nam-1972---khat-vong-doc-lap%2C-tu-do-cua-dan-toc-viet-nam.aspx | Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam | 19-07-2022 | Kiên cường chiến đấu với tương quan lực lượng chênh lệch | Các chiến sĩ giải phóng dũng cảm đánh phá đồn địch trên điểm cao 365 (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)_Ảnh: TTXVN Là địa đầu của hai chiến tuyến, tỉnh Quảng Trị nói chung, thị xã Quảng Trị, đặc biệt là Thành cổ nói riêng trở thành nơi tập trung sự quan tâm đặc biệt cả về quân sự, chính trị và ngoại giao. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị “với phương thức tác chiến phòng ngự, bảo vệ một mục tiêu có tính chất chiến lược trong thời điểm có tính nhạy cảm, với điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau nhiều cả về số quân, trang bị vũ khí hiện đại, phương tiện vật chất trong một thời gian dài, là một thành công đặc biệt xuất sắc” (1) . Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm giữ vững Thành cổ trở thành sự kiện quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, mở đường cho đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, khẳng định lòng yêu nước nhiệt thành, sự hy sinh cao cả cho chính nghĩa, vì sự nghiệp vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Kiên cường chiến đấu với tương quan lực lượng chênh lệch Sau khi để mất Quảng Trị, Tổng thống Mỹ Ních-xơn một mặt ra lệnh cho Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải chiếm lại tỉnh Quảng Trị, một mặt “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh để cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ sụp đổ. Để ngăn chặn quân ta phát triển tiến công vào phía nam, chính quyền Sài Gòn lập tức tăng quân và hỏa lực, nhanh chóng củng cố tuyến phòng ngự phía nam sông Mỹ Chánh. Đồng thời, lập tuyến phòng ngự phía tây đường 12 để ngăn chặn quân ta tiến công vào Huế nhằm bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công lại ở Quảng Trị. Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, để chắc thắng, Nguyễn Văn Thiệu đã huy động lực lượng tham gia chiến dịch mạnh nhất. Lực lượng phản công gồm: 1 sư đoàn dù, 1 sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, sư đoàn 1 bộ binh, trung đoàn 4 thuộc sư đoàn 2 bộ binh. “Tổng lực lượng gồm 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn và nhiều đơn vị công binh, không quân, hải quân của quân khu 1 hỗ trợ” (2) . Đặc biệt, Mỹ tăng gấp 2 lần số máy bay ném bom chiến lược B52, triển khai lại các lực lượng không quân và hải quân chi viện hỏa lực trực tiếp với mật độ cao và cường độ rất lớn cho cuộc phản công. Chính quyền Sài Gòn hy vọng sẽ nhanh chóng chiếm lại thị xã, cắm cờ lên Thành cổ trước ngày 10-7-1972. Đến ngày 27-6-1972, “địch đã chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt cho cuộc tiến công lớn ra vùng giải phóng nhằm chiếm mục tiêu trước mắt là thị xã và Thành cổ Quảng Trị” (3) . Trước hành động của địch, ngày 27-6-1972, Quân ủy Trung ương thông báo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch các hoạt động khẩn trương chuẩn bị tiến công ra Quảng Trị của địch và chỉ thị biện pháp đánh địch của ta phối hợp với đấu tranh ngoại giao. Tối 28-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: “Chuyển từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phản công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân của địch và phát triển lúc thời cơ có lợi” (4) . Bộ Tư lệnh chiến dịch đã bố trí lực lượng gồm các Sư đoàn 308 (trung đoàn 36, 102, 66, Tiểu đoàn 2 độc lập); 304 (trung đoàn 24, 9, 88, Tiểu đoàn đặc công 35); 320B (trung đoàn 27, 64, 18, các tiểu đoàn 14, 47 địa phương) có nhiệm vụ ngăn chặn các hướng tiến công của địch; Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương và 3 tiểu đoàn phòng không có nhiệm vụ bảo vệ khu vực thị xã Quảng Trị, La Vang, Ái Tử. Cùng với việc tổ chức lực lượng ở các hướng chiến lược, việc tổ chức sơ tán cho nhân dân ra khỏi vùng có chiến sự ác liệt được thực hiện khẩn trương. Trong một thời gian ngắn, ta đã đưa được “8 vạn dân thị xã và hai huyện Thiệu Phong, Hải Lăng… đến các nơi an toàn” (5) . Trước khi bước vào trận chiến mới, mọi công tác chuẩn bị về lực lượng và thế trận chiến đấu của ta cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên, thực tế lúc đó do ta chưa nắm chắc và chưa lường hết âm mưu, thủ đoạn và quyết tâm của địch là tái chiếm lại Quảng Trị, nên ta vẫn chưa có kế hoạch phòng ngự, giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị. Do đó, lực lượng ban đầu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị do Trung đoàn 48 đảm nhiệm là chính. Tác chiến phòng ngự, bảo vệ một mục tiêu có tính chất chiến lược, trong một thời điểm chiến lược với điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau khá lớn trong một thời gian dài, “là một thành công đặc biệt xuất sắc của các lực lượng vũ trang bảo vệ thị xã, Thành cổ và các lực lượng hiệp đồng tác chiến ở vòng ngoài” (6) . Vào thời điểm quân ta rút khỏi Thành cổ, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điện khen: “Cán bộ, chiến sĩ ta rất dũng cảm, nhiệm vụ đã hoàn thành. Lịch sử chống ngoại xâm, giữ Thành lâu như thế, ông cha ta ít làm” (7) . Kiên cường bám trụ, bảo vệ từng tấc đất Thành cổ Với mục tiêu trước ngày 10-7-1972 cắm cờ lên Thành cổ để phục vụ ý đồ ép ta ở Hội nghị Pari, dự định họp lại vào ngày 13-7-1972 sau nhiều lần trì hoãn, địch điên cuồng đánh phá. Đây là cuộc hành binh đẫm máu, cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại, từ bom phá, bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade đến các loại pháo chơm, pháo khoan, chất độc hoá học và hơi ngạt… Nhằm mục đích hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, quân địch dừng lại, đội bom, pháo vào rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc với các cựu chiến binh đến dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Thành cổ Quảng trị_Ảnh: TTXVN Suốt 81 ngày đêm, ngày nào địch cũng tiến hành rất nhiều trận đánh bằng bom pháo, bằng bộ binh có xe tăng, xe thiết giáp, xe phun lửa yểm trợ cho lính dù, lính thuỷ đánh bộ, lính biệt động tiến công, chỉ xoay quanh một tòa thành không đầy 300.000m 2 , trong một thị xã với diện tích gần 4km 2 , nhà cửa đổ nát, không một bóng người… Trong khi đó, quân ta, trừ mấy tiểu đoàn của Tỉnh đội Quảng Trị, đại bộ phận đều chưa thông thạo địa hình, phải vừa đánh vừa quan sát hiệp đồng nhưng đã phát huy trí thông minh của từng cấp mà tạo ra cách đánh phù hợp, không chịu phòng thủ thụ động mà liên tục cải thiện thế phòng thủ, vừa giữ chốt vừa xuất kích phản kích, tập kích tìm địch mà đánh. Chính cách đánh sáng tạo của ta đã tạo ra “cái tốc độ rùa bò” (8) 81 ngày đêm từ sông Mỹ Chánh tới Thành cổ của những lực lượng cơ động chiến lược hàng đầu của địch. Trước sức mạnh tàn phá, huỷ diệt điên cuồng của địch, có ngày “địch đã trút vào mảnh đất nhỏ hẹp này 13.000 đạn pháo, hàng ngàn tấn bom… Tính bình quân, mỗi người dân phải chịu 250 quả đạn pháo” (9) . Tuy nhiên, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị về ý nghĩa cuộc chiến đấu ở Quảng Trị là “trận quyết chiến có tầm quan trọng lớn về chính trị và về chiến lược” (10) , chúng ta đã kiên cường bám trụ, nhiều trận phản kích đẫm máu của bộ đội ta diễn ra dưới chân Thành cổ. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch phòng ngự Thành cổ Quảng Trị, có thời điểm “các chiến sĩ Trung đoàn 48 đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm “1 chọi 100” đánh quỵ Lữ đoàn 2 dù” (11) . Trong trận địa đang nghiêng ngả, chao đảo vì bom đạn của địch, bộ đội ta vẫn kiên cường đánh trả. Trong đó, “có ngày Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 3 đánh lui 13 đợt tiến công của địch. Chiến sĩ Phan Văn Ba (Tiểu đoàn 3) bị thương nát một bàn tay vẫn kiên quyết xin ở lại chiến đấu” (12) . Tình trạng thiếu thốn, khó khăn do tiếp tế vũ khí đạn dược, hậu cần gặp khó khăn như giai đoạn “đầu tháng 8, chiến sĩ ta phải sống bằng lương khô, nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây địch” (13) cũng không làm nhụt ý chí, quyết tâm của bộ đội ta. Tuy nhiên, do hỏa lực của địch quá mạnh, phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần. Từ đầu tháng 9-1972, cuộc chiến đấu đã diễn ra vô cùng ác liệt trong lòng thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố, từng mảng tường Thành cổ. Thời tiết lúc này không thuận lợi, áp thấp nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao, cả thị xã chìm trong biển nước. Lợi dụng tình hình đó địch tăng cường bắn phá vào công sự của ta. Các chiến sĩ của ta vừa thay nhau tát nước chống ngập công sự, vừa chống trả địch, suốt ngày ngâm mình trong nước, ăn lương khô, uống nước lã nên sức khoẻ giảm sút, thương vong rất lớn. Trước tình thế đó, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn vào 18 giờ, ngày 16-9-1972. Từ một thị xã nhỏ ít ai biết đến, Quảng Trị trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và thế giới bởi sự hung bạo của kẻ thù và tinh thần anh dũng vô song của đồng bào, chiến sĩ ta. Địch đã huy động vào đây những sư đoàn thiện chiến nhất, những đơn vị binh chủng được trang bị tối tân, hiện đại nhất, được chi viện tối đa hỏa lực với khối lượng bom đạn tương đương “7 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima”. Nhưng quân ta đã làm chủ thị xã trong một thời gian dài, “diệt hơn 24.000 tên địch, phần lớn là quân dù và thuỷ quân lục chiến, bắn rơi 180 máy bay, phá huỷ 140 xe quân sự trong đó có 90 xe tăng, xe bọc thép, 20 khẩu pháo cùng nhiều đồ dùng quân sự khác. Riêng lực lượng vũ trang tỉnh từ 28-6-1972 đến 16-9-1972 đã đánh 642 trận…” (14) . Không có sự so sánh nào nói lên hết sự khốc liệt của chiến tranh nhưng “nếu đem so với tất cả các trận đánh phòng ngự đô thị đã diễn ra trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam thì đây là đợt tác chiến dài ngày nhất và cũng là quyết liệt nhất” (15) . Tất cả sự hy sinh ấy đều vì độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Sáng ngời chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Trải qua 81 ngày đêm chiến đấu (thời gian kéo dài gấp tám lần dự kiến ban đầu của Mỹ - ngụy), phải chịu đựng hàng trăm ngàn tấn bom đạn các loại, nhưng với ý chí “bộ đội còn, Quảng Trị còn”, nhiều trận đánh giáp lá cà để giành giật từng căn hầm, đoạn hào, điểm chốt với địch, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận Quảng Trị đã thực sự trở thành một tập thể anh hùng. Tinh thần, nghị lực, ý chí chiến đấu trong 81 ngày đêm dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị bộ đội của ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ và giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát; mưu trí, linh hoạt, phát hiện và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thậm chí tiêu diệt cả những bộ phận nhỏ, lẻ, bí mật lẻn vào bằng đường hầm nhằm cắm cờ trên Thành cổ. Qua gần 3 tháng chiến đấu anh dũng, kiên cường, các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược được giao, làm thất bại ý đồ nhanh chóng “tái chiếm Thành Cổ” của Mỹ - ngụy, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ đấu tranh chính trị, ngoại giao. Hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và nằm lại nơi Thành cổ, tinh thần kiên cường chiến đấu và niềm tin quyết thắng của những người lính khi tuổi còn đôi mươi đã khẳng định ý chí sắt đá của con người trước bom đạn và điều kiện sống khắc nghiệt nhất của chiến tranh. Sự hy sinh của họ là câu trả lời ngắn gọn, rõ ràng nhất, cảm động nhất, thức tỉnh lương tri nhân loại về khát vọng cháy bỏng “độc lập, tự do, thống nhất” cho cả dân tộc. Sự hy sinh ấy đã làm sáng ngời chân lý: cái chết không làm chùn bước những người con yêu nước, vũ khí của kẻ thù dù có tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí thép gang và lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc tập, tự do là khát vọng của cả dân tộc và để có độc lập, tự do thì họ sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình, chấp nhận và khắc phục mọi khó khăn, trở ngại về điều kiện sống, như lời của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong lần về thăm Thành cổ đã viết: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thật sự - những con người Việt Nam, với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại” (16) . Chính tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất và một cuộc sống hoà bình, với ý thức về cội nguồn dân tộc đã khiến sức mạnh con người chiến thắng sự tàn phá của vũ khí, bom đạn ác liệt của kẻ thù. Giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ (Trong ảnh: Các em học sinh tiểu học tham quan Di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị)_Nguồn: vnexpress.net Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm oanh liệt đã góp phần quan trọng đánh bại những cố gắng cao nhất của Mỹ - ngụy, tác động trực tiếp đến Hội nghị Pari. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari được ký kết, những hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm ấy, cùng với những chiến công khác trong năm 1972 đã phần nào được hiện thực hoá trong Hiệp định. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn phải tiếp tục đấu tranh hai năm gian khổ, mất mát, hy sinh mới tới ngày toàn thắng năm 1975 và được sống trong nền độc lập, tự do mà cả dân tộc cùng đoàn kết đồng lòng, đánh đổi bằng rất nhiều máu xương để giành lại. Ý chí, khát vọng độc lập tự do của dân tộc được hiện thực hóa bằng sự hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm kiên cường bám trụ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Đó cũng là ý chí chung của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ 21 năm. Sau ngày toàn thắng 30-4-1975, non sông thu về một mối, đất nước ta bắt tay vào khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. 81 ngày đêm “hoa lửa” bảo vệ Thành cổ Quảng Trị đã trở thành huyền thoại. Sự hy sinh, mất mát của quân dân cả nước nói chung, quân dân Quảng Trị nói riêng làm sáng ngời chân lý “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Từ trong bom đạn ấy, hàng nghìn tấm gương anh hùng liệt sĩ đã trở thành những bài học thực tiễn sinh động về lòng quả cảm, về chủ nghĩa yêu nước, về truyền thống anh hùng cách mạng. Trên cơ sở đó, chúng ta tiếp tục “giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” (17) … để thế hệ trẻ hôm nay thêm tự hào, kính trọng, biết ơn lớp lớp cha anh đi trước, nguyện tiếp nối truyền thống quý báu ấy của dân tộc; đồng thời, thấm nhuần tư tưởng “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam” (18) để đóng góp sức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển giàu mạnh, tự lực, tự cường./. ------------------------------ (1), (8), (16) Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ Quốc phòng: 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu bảo vệ Thành cổ (1972 - 2012 ), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 20, 191, 788 (2), (3), (4), (5), (6), (7), (15) Viện Lịch sử quân sự: Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị , Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 20, 22, 26, 29, 129, 128, 127 (9), (11), (12), (13), (14) Thường vụ Đảng ủy và Ban Chấp hành quân sự tỉnh Quảng Trị: Quảng Trị - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) , 1998, tr. 213, 211, 213, 214, 215 (10) Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, t. 13, tr. 362 (17), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 143 (18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 22 |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/920002/chien-thang-dien-bien-phu---bai-hoc-lich-su-va-y-nghia-doi-voi-su-nghiep-doi-moi-hien-nay.aspx | Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay | 06-05-2024 | 1- Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ tư, phân tích một cách sâu sắc, khoa học hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Nam và chiến trường toàn Đông Dương. Trung ương nhận định, do tình hình phát triển không đồng đều của lực lượng ta trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, nên đại bộ phận chủ lực của địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, trong lúc chúng còn nhiều sơ hở trên các chiến trường khác. Ở Bắc Bộ, lực lượng của chúng tập trung ở đồng bằng, còn ở chiến trường miền núi thì chúng tương đối yếu hơn, điều kiện địa hình ở đó lại có lợi cho ta, không có lợi cho địch. | Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ (xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cuối năm 1953)_Nguồn: hochiminh.vn 1- Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ tư, phân tích một cách sâu sắc, khoa học hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Nam và chiến trường toàn Đông Dương. Trung ương nhận định, do tình hình phát triển không đồng đều của lực lượng ta trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, nên đại bộ phận chủ lực của địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, trong lúc chúng còn nhiều sơ hở trên các chiến trường khác. Ở Bắc Bộ, lực lượng của chúng tập trung ở đồng bằng, còn ở chiến trường miền núi thì chúng tương đối yếu hơn, điều kiện địa hình ở đó lại có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Từ phân tích sát tình hình, nắm vững tư tưởng tiêu diệt sinh lực địch là chính, Trung ương Đảng đã đề ra phương hướng chiến lược hết sức đúng đắn là: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai; đồng thời, buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ; từ đó, do địch phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nói một cách cụ thể hơn, trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, trước mắt tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, cũng có thể dùng một bộ phận chủ lực để đánh những trận nhỏ. Còn các chiến dịch lớn thì nên mở vào những hướng khác, làm như vậy cũng tức là dần dần tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng. Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc với Hiệp định đình chiến (7-1953), chúng ta đã dự đoán âm mưu mới của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là ra sức tăng cường lực lượng và mở rộng chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Tình hình chiến sự vào mùa hè năm 1953 đã trở nên khẩn trương một cách rõ rệt, nhất là từ khi tướng H. Na-va được cử làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Song, nhân dân và quân đội ta không hề nao núng trước những âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Nhiệm vụ của chúng ta là phải kiên quyết chiến đấu để phá tan kế hoạch Na-va (1) của địch. Đảng ta thấy rõ những nét chính của kế hoạch Na-va, nhưng âm mưu của địch vẫn chưa bộc lộ một cách cụ thể. Trung ương Đảng nghiên cứu và phân tích tình hình, tư tưởng và phương hướng chiến lược cơ bản đã được đề ra từ trước, đi tới xác định chủ trương tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do, để cho quân chủ lực có điều kiện tập trung làm nhiệm vụ. Vào thời điểm các cuộc tiến công Đông - Xuân của ta chuẩn bị bắt đầu, cục diện chiến sự có một sự biến chuyển mới. Địch phát hiện sự di chuyển của một bộ phận chủ lực ta lên hướng Tây Bắc. Ngày 20-11-1953, chúng đã dùng một bộ phận lực lượng cơ động, nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ. Chúng ta đã kịp thời nhận định tình huống mới: Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể về địa điểm và thời gian, nhưng cũng nằm trong phạm vi phán đoán trước của ta là nếu Tây Bắc bị uy hiếp thì địch sẽ tăng viện lên hướng đó. Như vậy là, trước sự uy hiếp của ta, địch đã phải bị động đối phó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động lên Điện Biên Phủ để yểm hộ cho Tây Bắc, che chở cho Thượng Lào. Căn cứ vào nhận định trên, các đơn vị chủ lực của ta đang tiến quân lên Tây Bắc nhận được mệnh lệnh gấp rút tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu; đồng thời, một cánh quân tiến nhanh về phía bắc Điện Biên Phủ cắt đường rút lui của quân địch ở Lai Châu về phía Điện Biên Phủ, ngăn chặn không cho quân địch ở Điện Biên Phủ tiến lên đón chúng; cùng lúc đó, ta tiến hành bám sát địch ở Điện Biên Phủ, bao vây Điện Biên Phủ và chuẩn bị chiến trường. Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc. Cánh đồng Điện Biên Phủ có chiều dài khoảng 18km, chiều rộng từ 6km đến 8km. Đây là cánh đồng lớn nhất, giàu có nhất và dân cư đông đúc nhất ở Tây Bắc. Điện Biên Phủ ở gần biên giới Việt Nam - Lào, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng, phía đông bắc nối liền với Lai Châu, phía đông và đông nam nối liền với Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản, phía tây thông với Luông Prabăng, phía nam thông với Sầm Nưa (Lào). Đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, vùng Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam Á. Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ được bố trí thành tập đoàn cứ điểm bao gồm 3 phân khu yểm hộ lẫn nhau, tất cả có 49 cứ điểm. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự; nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành những cụm cứ điểm gọi là “trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp”, có lực lượng cơ động, hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vững chắc, xung quanh có hào giao thông và hàng rào dây thép gai, có khả năng độc lập phòng ngự khá mạnh. Mỗi phân khu bao gồm nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm đều được bảo vệ bằng hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, bằng một hệ thống công sự phụ (hàng rào hoặc bãi dây thép gai, bãi mìn) và bằng một hệ thống hỏa lực rất mạnh. Điện Biên Phủ có hai sân bay. Ngoài sân bay chính ở Mường Thanh, còn có một sân bay dự bị ở Hồng Cúm, ngày ngày được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng từ 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng từ 100 đến 150 tấn. Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự vững chắc, H. Na-va đã từng nhận định rằng, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương, là một “pháo đài không thể công phá”. Từ nhận định chủ quan đó, địch đã phán đoán rằng quân ta ít có khả năng tiến công vào Điện Biên Phủ. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có đủ những yếu tố mạnh của mọi tập đoàn cứ điểm, lại có thêm những chỗ mạnh đặc biệt nữa. Mặc dù vậy, do vị trí của nó nằm cô lập ở giữa núi rừng trùng điệp và mênh mông của miền Tây Bắc Việt Nam và vùng Thượng Lào, rất xa những căn cứ hậu phương, nhất là những căn cứ không quân lớn của địch, mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều hoàn toàn dựa vào đường không. Do đó, nếu đường hàng không bị hạn chế hay bị cắt đứt thì tập đoàn cứ điểm rất mạnh này sẽ ngày càng lộ rõ nhược điểm của mình, có thể mất dần sức chiến đấu và lâm vào thế bị động phòng ngự trong những điều kiện ngày càng khó khăn; trường hợp lâm nguy cũng khó lòng rút quân được toàn vẹn. Về phía ta, lực lượng ta có những đơn vị chủ lực tinh nhuệ có tinh thần chiến đấu cao, trình độ trang bị vũ khí, kỹ thuật có tiến bộ, hăng hái phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt địch. Chúng ta có thể tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực để đánh địch, lại đã có kinh nghiệm nhất định về đánh địch trong công sự vững chắc, đã bước đầu được huấn luyện để đánh tập đoàn cứ điểm, có khả năng khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề cần thiết để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Vấn đề tiếp tế lương thực và đạn dược cho một lực lượng lớn ở xa hậu phương trong một thời gian dài đứng trước những khó khăn rất lớn, nhưng ta lại có sức mạnh của một hậu phương rộng lớn, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng tập trung toàn lực để chi viện tiền tuyến, bảo đảm lương thực, đạn dược cho quân đội làm tròn nhiệm vụ. Chúng ta cũng đã từng cân nhắc đến khả năng tăng viện của địch trong khi H. Na-va còn có sẵn trong tay một lực lượng cơ động lớn. Tuy nhiên, do những cuộc tiến công mùa đông của ta, khối cơ động đó đã bị phân tán rất nhiều. Chúng ta dự đoán, trong thời gian tới lực lượng địch có thể bị phân tán nhiều hơn nữa. Điều đó tạo điều kiện tốt cho chủ lực ta tiến công tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, hạn chế sự tăng viện của địch lên mặt trận Điện Biên Phủ. Xuất phát từ sự phân tích trên, nắm vững nguyên tắc tiêu diệt sinh lực địch và đánh chắc thắng, Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Trong khi H. Na-va chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân chủ lực ta thì chúng ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với địch. Chúng ta hạ quyết tâm tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ để tiêu diệt binh lực tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương. Quyết tâm rất lớn trên đây quán triệt phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt mà Trung ương đã đề ra khi chỉ đạo tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng vào ngày 7-5-1954 (2) . Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 của quân ta đã kết thúc bằng một chiến thắng vĩ đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây cũng là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của ý chí quyết chiến, quyết thắng, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”; của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Chiều sâu của chiến thắng Điện Biên Phủ tiềm ẩn trong truyền thống quật cường, bất khuất mấy nghìn năm của dân tộc, từ khí phách huyền thoại của em bé làng Gióng mới lên ba tuổi đã đánh giặc nước mà đã cho là muộn, giận chín tầng trời còn thấp khi bay tận mây xanh. Chiều sâu ấy tiềm ẩn trong câu thơ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, từ Hịch Tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo... đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (3) . Các cựu chiến binh Điện Biên năm xưa gặp nhau trên đồi A1 (Tác giả ảnh: Dương Vân Anh)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 2- Bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại và những bài học kinh nghiệm quý báu của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay. Chiến thắng Điện Biên Phủ là biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, xa hậu phương, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng lưới giao thông chiến lược hầu như chưa có. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Lần đầu tiên, ta tập trung gần 5 đại đoàn chủ lực vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước và có hai nước bạn Lào, Căm-pu-chia chiến đấu phối hợp với chiến trường chính. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, nhân dân các dân tộc khắc phục khó khăn, ngày đêm phục vụ chiến dịch. Hàng chục vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, thanh niên xung phong, tham gia làm đường, vận tải, phục vụ chiến trường, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hàng trăm ki-lô mét, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, địch đánh phá ác liệt. Bên cạnh tinh thần đại đoàn kết và những đóng góp sức người, sức của to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam còn được thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn thể dân tộc, đặc biệt là các chiến sĩ xung kích ngoài mặt trận, trực tiếp chiến đấu với quân thù. Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, nơi tập trung nỗ lực cao nhất của cả hai bên. Chính vì vậy, đây là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Nhưng dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục và rèn luyện của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc đã được khơi dậy, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để chiến thắng kẻ thù. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định đi đến ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Chiến thắng này góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn” (4) . Nắm chắc diễn biến trên chiến trường, nhận thức rõ ý nghĩa của Điện Biên Phủ đối với cục diện chiến tranh và đàm phán, đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế” (5) . Ngày 26-4-1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức khai mạc, trùng với thời gian Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công đợt hai ở Điện Biên Phủ. Lúc này, địa danh Điện Biên Phủ với khói lửa ác liệt đang là tâm điểm chú ý của thế giới. Muốn giành lợi thế tại Giơ-ne-vơ, cần có những hành động quyết liệt - cả phía Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều quá thuộc bài học vỡ lòng đó (6) . Mục tiêu trên bàn đàm phán Hội nghị Giơ-ne-vơ đã biến Điện Biên Phủ thành một đấu trường khốc liệt, khi cả hai bên tham chiến đặt lên bàn cờ tất cả lực lượng dự trữ của mình. Với Việt Nam, hoạt động quân sự tại Điện Biên Phủ không còn đơn thuần là hoạt động quân sự, mà mang một ý nghĩa rộng lớn hơn - ý nghĩa chính trị - quân sự. Và 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đánh chiếm Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ bộ tham mưu bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức bàn về vấn đề Đông Dương đã tạo “thế” và “lực” mới cho ta trên bàn đàm phán, góp phần kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Việt Nam giành được sự công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, một nửa đất nước hoàn toàn được giải phóng. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh . Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến là chọn nơi địch sơ hở, nơi địch tương đối yếu để đánh, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, không thể tập trung lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị thông qua Phương án tác chiến mùa Xuân 1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ; giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh chiến dịch. Trước khi ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao toàn quyền quyết định cho Đại tướng và căn dặn: Chiến dịch này rất quan trọng cả về chính trị và quân sự, phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Tháng 12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi cán bộ và chiến sĩ chiến dịch Điện Biên Phủ, động viên tinh thần chiến đấu, giữ vững quyết tâm giành thắng lợi. Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, với ý chí “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, đồng bào các dân tộc trong cả nước, đặc biệt là đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đã đóng góp hơn 260 nghìn dân công (tính ra khoảng 14 triệu ngày công), 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ. Về bảo đảm vật chất, đồng bào đã đóng góp cho chiến dịch 25.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm đã chuyển được ra mặt trận là hơn 20 nghìn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô (7) . Sự tham gia, đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực to lớn đó của nhân dân là nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Do sớm đề ra và tổ chức thực hiện thành công đường lối kháng chiến toàn dân gắn với toàn diện, Đảng ta đã khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính năng động, sáng tạo của nhân dân trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa; quy tụ, tập hợp được sức mạnh to lớn của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm; từ hậu phương đến tiền tuyến; phát huy được sức mạnh của các yếu tố nội lực, truyền thống và con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc. Mỗi người dân yêu nước trên từng cương vị của mình đều tích cực tham gia sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đóng góp vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta. Điện Biên Phủ là chiến dịch mà cả ta và địch đều tập trung sự nỗ lực, cùng sức mạnh lớn nhất để giành thắng lợi quyết định. Trong chiến dịch này, ta đã tập trung về đây những lực lượng mạnh nhất và tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tạo sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Phần lớn đại đoàn chủ lực, sử dụng nhiều trang bị hiện đại nhất của quân đội ta thời kỳ đó, như lựu pháo 105mm, cao xạ 37mm được đưa vào tác chiến. Đây là chiến dịch có quy mô sử dụng lực lượng lớn nhất của quân đội ta, với 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo, hàng vạn dân công làm đường và vận chuyển chi viện cho chiến dịch. Đó còn là chiến dịch có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành và lớn mạnh của quân đội ta. Cùng với tập trung lực lượng, cách đánh của chiến dịch cũng có bước phát triển rất quan trọng so với các chiến dịch tiến công trước đây. Cách đánh “đánh chắc, tiến chắc” (8) , chuẩn bị khi nào chắc thắng thì đánh, chưa chắc thắng thì chưa đánh đã khẳng định rõ sự chủ động tiến công địch trên chiến trường của bộ đội ta. Từ ngày 13-3-1954, tại mặt trận Điện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt lần lượt từng cứ điểm, vây lấn địch từng mét hào và mở những đợt tiến công quyết định đi đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sức mạnh của dân tộc Việt Nam với sức mạnh thời đại. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chiến thắng Điện Biên Phủ, “là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới” (9) . Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam vì độc lập, hoà bình đã nhận được sự ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của thời đại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội được mở đầu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam nhận được sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước bạn Lào và Căm-pu-chia; sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân yêu chuộng hòa bình ở Pháp. Các dân tộc đều phải tự mình đấu tranh để giành độc lập, tự do, song sự xúc tác dây chuyền mà Điện Biên Phủ châm ngòi với sức mạnh tạo chấn động lớn, sự hỗ trợ của sức mạnh thời đại, tạo ra những yếu tố về thời cơ, về nguồn lực, sự phối hợp đấu tranh giữa các trào lưu tiến bộ, đã giúp nhiều dân tộc trên con đường đấu tranh cho độc lập, tự do giành thắng lợi. Khối nữ Lực lượng gìn giữ hòa bình của Quân đội nhân dân Việt Nam diễu hành trên đường phố Điện Biên_Nguồn: vnexpress.net 3- Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách: Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, trải qua gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ” (10) . Tuy nhiên, trước những biến động nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực, đòi hỏi chúng ta tiếp tục phát huy những bài học lịch sử quý báu từ chiến thắng Điện Biên Phủ trong điều kiện mới. Đó là bài học về giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh, điều kiện hiện nay, cần củng cố sức mạnh chính trị, sức mạnh tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng. Phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực một cách hiệu quả. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các biểu hiện suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới. Trong tình hình mới, Ðảng ta tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “ Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân ” (11) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðộng viên và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn gắn liền với yêu cầu mở rộng dân chủ và giữ vững kỷ cương phép nước trong đời sống xã hội. Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, để phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì bản thân Đảng phải là tấm gương về đoàn kết, thống nhất. “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế” (12) . Đó là bài học về tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu hiểu đúng và nắm vững nội hàm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Nếu trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân, đế quốc, sức mạnh dân tộc được xác định là tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, thì hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh đến yếu tố “sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc” với vấn đề căn cốt là đại đoàn kết toàn dân tộc - là sự tổng hòa tiềm lực của đất nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh được tạo nên bởi quy mô và chất lượng dân số cả nước, được thể hiện ở sự tổng hợp của cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Trong bối cảnh hiện nay, nguồn lực của sức mạnh thời đại hết sức đa dạng. Sức mạnh thời đại được cấu thành bởi các xu thế lớn, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, bình đẳng; sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, sức mạnh của các quốc gia... Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; tự hào về dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./. ----------------------------- (1) Kế hoạch Na-va là một kế hoạch chiến lược quy mô rộng lớn, nhằm mục đích trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn quân chủ lực của ta, giành lấy một thắng lợi chiến lược quyết định, buộc ta phải điều đình theo những điều kiện do Chính phủ Pháp đề ra, thực chất là nhằm biến Việt Nam vĩnh viễn thành một thuộc địa và căn cứ quân sự của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. (2) Tại Điện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt và bắt làm tù binh trên 16.000 tên địch, trong đó có toàn bộ cơ quan chỉ huy của tập đoàn cứ điểm, có 1 tướng, 16 quan năm, 1.749 sĩ quan và hạ sĩ quan. Lực lượng của địch bị tiêu diệt bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ (trong đó có 7 tiểu đoàn dù), 3 tiểu đoàn pháo binh, gần 1 tiểu đoàn công binh, tổng cộng là 21 tiểu đoàn. Nhìn chung trên các chiến trường cả nước thì trong cuộc tiến công Đông - Xuân này, quân ta đã tiêu diệt 112.000 tên địch, tức là một phần tư lực lượng vũ trang của địch ở Đông Dương, trong số đó có 25 tiểu đoàn bị tiêu diệt hoàn toàn. Số máy bay oanh tạc, chiến đấu và vận tải, kể cả máy bay oanh tạc B.24 và máy bay vận tải hạng nặng C.119 của Mỹ bị bắn rơi và phá hủy ở Điện Biên Phủ là 62 chiếc, tính cả các chiến trường cả nước là 177 chiếc, tức là một bộ phận rất quan trọng lực lượng không quân của địch ở Đông Dương. Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 205 - 206 (3) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd , tr. 359 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 315 (5) Xem Hồ Chí Minh: Thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp , ngày 22-12-1953, tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (6) Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: “Chiến thắng Điện Biên Phủ và sự ảnh hưởng đến Hội nghị Giơnevơ”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 26-4-2014, https://www.tapchicongsan.org.vn/xay-dung-ang2/-/2018/26989/chien-thang-dien-bien-phu-va-su-anh-huong-den-hoi-nghi-gio-ne-vo.aspx (7) Xem: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 202 (8) Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Bởi vậy, tại mặt trận Điện Biên Phủ, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã chủ động, sáng tạo trong thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Theo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ- Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 66 Ngày 30-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có thư gửi báo cáo điều này với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh và Bộ Chính trị: “Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước”. Kế hoạch “đánh chắc, tiến chắc” của Đảng ủy chiến dịch được Bộ Chính trị chấp thuận. Theo: Điện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ, Văn kiện Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 214 – 221 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 14, tr. 271 (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd , t. I, tr. 50 (12) Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 139 |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1217602/phat-huy-truyen-thong-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-anh-hung-trong-giai-doan-phat-trien-moi.aspx | Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới | 22-02-2026 | Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới | Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân uỷ Trung ương chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ 15_Ảnh: TTXVN Tự hào truyền thống vẻ vang Lịch sử vẻ vang, truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam được ghi dấu ngay từ những ngày đầu thành lập. Chỉ với 34 chiến sĩ và vũ khí thô sơ, nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở ra truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta. Chưa đầy một năm sau, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội đã làm nòng cốt, góp phần quan trọng cùng toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành độc lập dân tộc, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dù gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, nhưng quân đội ta đã nỗ lực vượt qua và trưởng thành nhanh chóng, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thế trận chiến tranh nhân dân, lần lượt tổ chức nhiều chiến dịch đánh bại quân địch, điển hình là cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân năm 1953 - 1954, giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đặc biệt, khi phải đối đầu với đội quân xâm lược có sức mạnh hàng đầu là đế quốc Mỹ, quân đội ta đã thể hiện rõ ý chí “dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng”, cùng toàn dân tộc khẳng định sức mạnh Việt Nam. Với tinh thần đoàn kết, kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân đội đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, thể hiện rõ bản lĩnh anh hùng cách mạng, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, từng bước hình thành các binh chủng, quân chủng, quân đoàn chủ lực cơ động; đồng thời, phát triển nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam đến đỉnh cao, nhất là nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược và sự chỉ đạo phối hợp tác chiến giữa các chiến trường. Nhờ đó, ở miền Bắc, quân đội tham gia cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc “hậu phương lớn”, chi viện đắc lực cho “tiền tuyến lớn” miền Nam. Trên chiến trường miền Nam, quân đội làm nòng cốt cùng toàn dân lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi huy hoàng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân đội ta tiếp tục xung kích, đi đầu trong khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia phát triển kinh tế - xã hội; đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quân đội ta đã nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng “tinh, gọn, mạnh”, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định để đất nước phát triển. Đặc biệt, toàn quân thực hiện tốt nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích giúp nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, nhất là ở những địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Đảng bộ Quân đội và toàn quân là điển hình mẫu mực trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và nhân dân tin tưởng, khen ngợi. Trong năm 2025, quân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2025) và kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 - 2-9-2025); nhất là chủ trì, phối hợp thực hiện xuất sắc nhiệm vụ diễu binh, diễu hành, thể hiện rõ sự trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang. Qua đó, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn, tự lực, tự cường và hào khí dân tộc; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể khẳng định, hơn 81 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn giữ vững và phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (1) . Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày của Quân đội nhân dân Việt Nam trong khuôn khổ Triển lãm thành tựu đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9_Ảnh: mod.gov.vn Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược, xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thương mại, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ quân sự… tiếp tục tác động nhiều mặt. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn ra ngày càng gay gắt. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục phát triển năng động, song đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới cả bên trong và bên ngoài; Biển Đông vẫn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định… Nước ta sau 40 năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược đang mở ra cơ hội mang tính lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới. Quân đội ta, với sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng lực lượng “tinh, gọn, mạnh”, có nhiều mặt bứt phá. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, khi phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 15 (nhiệm kỳ 2020 - 2025) đánh giá: Năm 2025, toàn quân đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, toàn quân luôn có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Kết quả đó là thuận lợi cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới cũng đứng trước nhiều thử thách, đồng thời đặt ra những yêu cầu rất cao, đòi hỏi toàn quân phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu; nhất là năm 2026, đất nước có nhiều sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Tự hào với lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân đội ta và kế thừa những thành tựu, bài học kinh nghiệm quý đã được đúc rút, trong giai đoạn phát triển mới, toàn quân cần chủ động, đổi mới, sáng tạo, bứt phá, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đề ra và quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sắp tới, trong đó, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau: Một là, thực hiện tốt chức năng tham mưu về quân sự, quốc phòng. Trước hết, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, an ninh, toàn quân luôn chủ động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, đánh giá đúng tình hình; tích cực tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, sách lược, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kịp thời tham mưu, phối hợp với các lực lượng xử lý kịp thời, linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong các vấn đề chiến lược, liên quan đến quốc phòng, an ninh. Chủ động nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, ứng phó với các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến trong điều kiện mới. Hai là, phát huy hiệu quả vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương chỉ đạo thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng và giáo dục quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng xây dựng, hoạt động của lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, cơ quan quân sự cấp xã, ban chỉ huy phòng thủ khu vực… phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Huy động hiệu quả các nguồn lực xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ và hệ thống công trình phòng thủ, công trình chiến đấu liên hoàn, vững chắc. Triển khai hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần các nghị quyết, kết luận của Trung ương; phát triển các doanh nghiệp quân đội tiên phong trong các lĩnh vực trọng yếu, chiến lược. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong thực hiện Nghị định của Chính phủ về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng trên địa bàn cả nước… Ba là, quyết liệt nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Tập trung thực hiện tốt 3 đột phá đã được Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định. Đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện và thúc đẩy thực hiện “Bộ tiêu chí xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong tình hình mới”. Tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng tinh, gọn, mạnh; nghiên cứu thành lập một số lực lượng mới; đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài và nghiên cứu, sản xuất, bảo đảm vũ khí, trang bị đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ. Coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, huấn luyện, diễn tập sát thực tế, trong điều kiện tác chiến hiện đại, ứng phó hiệu quả với chiến tranh công nghệ cao. Thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ dân sự, chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Triển khai hiệu quả công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, công nghiệp quốc phòng; đột phá về nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phấn đấu làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, công nghệ số…, tạo cơ sở vững chắc để tự chủ xây dựng quân đội hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Khối xe tăng thiết giáp diễu binh trên phố Trần Phú (Hà Nội) trong sự chào đón nồng nhiệt của người dân và du khách trong dịp Đại lễ Quốc khánh 2-9_Ảnh: TTXVN Bốn là, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng q uân đội vững mạnh về chính trị, Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh mẫu mực, tiêu biểu. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương, Quân ủy Trung ương và chỉ đạo của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và “5 vững” (2) ; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân phải làm gương, làm mẫu, làm hiệu quả, làm thực chất, thể hiện vai trò tiên phong, dẫn dắt trong quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc cho bộ đội; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề mới, phức tạp, nhạy cảm, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nền nếp, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, đẩy mạnh phong trào “Thi đua Quyết thắng” và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực, sức khỏe, uy tín, tiên phong gương mẫu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới. Thực hiện chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ an ninh. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, làm tốt công tác chính sách - xã hội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Chú trọng đổi mới, thực hiện tốt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ nỗ lực phấn đấu, phát huy cao độ phẩm chất, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Năm là, triển khai linh hoạt, mở rộng, nâng tầm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo đúng chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước . Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, đa phương và tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc thực chất, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, quân đội và bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích, củng cố tin cậy chiến lược với các đối tác trên cơ sở kiên định chính sách quốc phòng “bốn không” (3) , đáp ứng mục tiêu chiến lược và lợi ích quốc gia - dân tộc. Tham gia có trách nhiệm vào các diễn đàn khu vực, quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Chủ động đề xuất sáng kiến, thể hiện vai trò dẫn dắt hoặc cùng dẫn dắt trong một số lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng trong những lĩnh vực then chốt và hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh, hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực phòng thủ dân sự… Phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao theo quy chế đã được ký kết; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách xử lý hiệu quả các vấn đề quan hệ quốc tế, tạo lập thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các đối tác, nhất là các nước lớn, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc; luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, chăm lo, dành cho những tình cảm đặc biệt. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước và quân đội, toàn quân tự hào phát huy truyền thống “Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”, tiếp tục phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khởi đầu nhiệm kỳ mới, kỷ nguyên mới, toàn quân càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, chủ động, sáng tạo, quyết tâm cao hơn, đặc biệt là tạo bước đột phá về phát triển nhân lực, nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng./. ---------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 435 (2) “2 kiên định” là: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. “2 đẩy mạnh” là: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. “2 ngăn ngừa” là: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. “5 vững” là: Chính trị vững - kỷ luật vững - công nghệ vững - nghệ thuật quân sự vững - đời sống bộ đội vững (3) Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1200504/suy-ngam-ve-%E2%80%9Cbat-bien%E2%80%9D-trong-phuong-cham-%E2%80%9Cdi-bat-bien-ung-van-bien%E2%80%9D-tu-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh.aspx | Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh | 03-01-2026 | “Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng | Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến”” (1) . Là người am hiểu sâu sắc triết học phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong lời căn dặn đó một số định hướng mang tầm chiến lược. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho thâm hiểu kinh điển, lời căn dặn được hiểu là trong hoàn cảnh khó khăn, phải kiên định nguyên tắc căn bản, lấy cái không đổi ứng phó với muôn sự thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa_Ảnh: Tư liệu “Dĩ bất biến ứng vạn biến” thường được hiểu là lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự biến động. Ở tầm chỉ đạo hành động, phương châm này hàm ý rằng, để ứng xử linh hoạt, trước hết phải xác định rõ đâu là “cái bất biến” và đâu là “cái vạn biến”. Xác định đúng “cái bất biến” giúp chủ động điều chỉnh “cái vạn biến”, mà vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích phương châm này, song các nhà nghiên cứu thống nhất rằng “cái bất biến” chính là mục tiêu, nguyên tắc lớn của cách mạng Việt Nam (2) . Giữ vững nguyên tắc chính là điều kiện để thực hiện mục tiêu. Trong tư duy của Người, mục tiêu luôn là điểm khởi đầu, đồng thời là thước đo của mọi hành động cách mạng. Từ thực tiễn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1946 và tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cái bất biến” là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, “bất biến” luôn được cụ thể hóa thành mục tiêu phù hợp với bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó là biểu hiện sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và linh hoạt - giữa “bất biến” và “vạn biến” - trong tư duy chiến lược và hành động thực tiễn của Người. “Bất biến” - mục tiêu đặt ra Quan niệm về mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất trong việc lựa chọn tiêu ngữ quốc hiệu của nước Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 50 ngày 9-10-1945, lần đầu tiên cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” xuất hiện dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3) . Ba thành tố này được đặt ngang hàng, song mang giá trị ý nghĩa ở những cấp độ khác nhau, phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về mục tiêu tối thượng: độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (4) . Như vậy, “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu cuối cùng, còn “độc lập” là điều kiện trung tâm để đạt được mục tiêu đó. Tư tưởng này tiếp tục được Người khẳng định trong Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai vào ngày 18-10-1945, khi kêu gọi: “Từ đây đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, tranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” và bày tỏ niềm tin: “Tất cả nhân dân Lào Cai,... cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng” (5) . Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan niệm sâu sắc về “tự do” và “hạnh phúc”. Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (6) . Trong khi khẳng định “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu tối thượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đề cao vai trò quyết định của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt tới tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa được quốc tế công nhận, nền độc lập còn “ngàn cân treo sợi tóc”, Người xác định rõ độc lập chính là “cái bất biến” cần được giữ vững trước mọi biến động. Ngày 6-10-1945, khi đề cập đến chính sách ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp - rất đơn giản, Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, các vấn đề khác cũng có thể giải quyết dễ dàng”. Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Ngoại giao đối với Pháp: a) Nhất quyết đòi độc lập. b) Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa. c) Ngoại giao với Trung Hoa: Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam (7) . Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập là “cái bất biến”, đồng thời xác định rõ “cái vạn biến” có thể linh hoạt điều chỉnh là kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, thể hiện tầm vóc tư duy chiến lược của Người trong nghệ thuật lãnh đạo và đối ngoại cách mạng. “Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu cụ thể (mục tiêu trước mắt), phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 - 1946, mục tiêu trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gặp Lư Hán (1895 - 1974), tướng lĩnh cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Trung Hoa Quốc dân đảng tại Bắc Đông Dương, được Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch (1887 - 1975) làm Chủ tịch ủy nhiệm sang Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam (8) . Theo quyết định của Hội nghị Postdam, quân đội Trung Hoa Dân Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân đội Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16. Mặc dù mang danh nghĩa “giải giáp quân đội Nhật”, song lực lượng do tướng Lư Hán chỉ huy - khoảng 20 vạn quân - đã có nhiều hoạt động vượt ra ngoài phạm vi được ủy nhiệm, tác động đáng kể đến tình hình chính trị ở miền Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh phức tạp đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối diện với không ít sức ép từ bên ngoài, đòi hỏi nghệ thuật xử lý tình huống hết sức linh hoạt và tỉnh táo. Tại một cuộc tiếp xúc quan trọng, khi phía đối phương đưa ra nhiều yêu cầu gây khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ thái độ bình tĩnh, phân tích rõ tương quan lực lượng và xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chủ động ứng phó với những biến động tiếp theo. Việc xác định rõ mục tiêu cụ thể và kiên định thực hiện mục tiêu cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố khác - kể cả mục tiêu lâu dài - có thể được điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết để bảo vệ “cái bất biến”. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật đó. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam là độc lập dân tộc, song với tương quan lực lượng lúc bấy giờ, chưa thể buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam dù chỉ trên danh nghĩa. Trước đó, ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc Đông Dương. Để việc chuyển quân diễn ra thuận lợi, phía Pháp mong muốn đạt được thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột không cần thiết. Trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột đa chiều đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một giải pháp mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếp tục phát triển. Đầu tháng 3-1946 (từ ngày 1 đến 3-3-1946), đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Cộng hòa Pháp tiến hành các cuộc đàm phán bí mật. Phía Việt Nam kiên trì lập trường yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam, song hai bên còn những bất đồng. Trước đó, ngày 25-2-1946, trong cuộc gặp với Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Pháp - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác” (9) . Tình hình lúc bấy giờ diễn biến hết sức căng thẳng. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện tại vịnh Bắc Bộ; phía Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố nếu quân Pháp đổ bộ khi chưa có Hiệp định Việt - Pháp, sẽ nổ súng. Ở trong nước, nhân dân và lực lượng vũ trang sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, trong khi một số tổ chức chính trị tìm cách lợi dụng thời cơ để gây rối tình hình. Tối ngày 5-3-1946, đại diện quân đội Tưởng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và bày tỏ sẽ ủng hộ nếu Việt Nam đạt được thỏa thuận với Pháp. Ngay sau đó, đại diện Pháp cũng đến gặp, mong muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất ngay trong đêm cùng ngày. Cuộc trao đổi giữa hai bên kéo dài đến rạng sáng ngày 6-3-1946. Phía Việt Nam kiên trì đề nghị Pháp công nhận nền độc lập và thừa nhận kết quả trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ, song phía Pháp vẫn giữ quan điểm khác biệt đối với vấn đề độc lập. Sáng ngày 6-3-1946, khi tàu chiến Pháp tiến vào Hải Phòng, xung đột vũ trang đã xảy ra giữa quân đội Pháp và một bộ phận quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Tại Thủ đô Hà Nội, tình hình trở nên hết sức căng thẳng; phía Trung Hoa Dân Quốc liên tục thúc giục Việt Nam sớm đạt thỏa thuận với Pháp. Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc thỏa hiệp, đẩy Việt Nam vào thế bất lợi, là điều khó tránh khỏi. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất sáng kiến ký “Hiệp định Sơ bộ” với điều kiện Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia tự do”. Phía Pháp chấp thuận. Chiều ngày 6-3-1946, vào lúc 16 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp - ký kết Hiệp định Việt - Pháp. Hiệp định khẳng định “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình” (10) . Ngày 7-3-1946, tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân thủ đô Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu làm rõ ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn” (11) . Lời khẳng định đó phản ánh rõ quan điểm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong bối cảnh phức tạp, cần biết tạm thời chấp nhận bước đi thích hợp để giữ vững “cái bất biến” - mục tiêu độc lập dân tộc - đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh lâu dài. Việc xác định mục tiêu cụ thể tiếp tục được thể hiện rõ trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vẫn là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), được thông qua và phổ biến sau đợt họp lần thứ hai vào tháng 7-1959, đã xác định rõ: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (12) . Trước đó, ngày 1-8-1956, trả lời phỏng vấn Báo Tuần lễ Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi sẽ kiên quyết phấn đấu để củng cố hòa bình, giành thống nhất, độc lập và dân chủ hoàn toàn cho đất nước” (13) . Những phát biểu và chủ trương này cho thấy sự nhất quán trong tư duy của Người: kiên định mục tiêu “bất biến” là độc lập, thống nhất Tổ quốc, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược “vạn biến” để đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể. Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, cần được kiên định trong mọi giai đoạn. Trong đàm phán Paris, nguyên tắc này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Mỹ không tham gia ký kết Hiệp định Genève năm 1954 và không thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Mặc dù gặp thất bại trên chiến trường và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, song phía Mỹ vẫn cố duy trì lập trường này. Thậm chí, đến tháng 11-1972, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger còn đề xuất không ghi cụm từ “Mỹ công nhận”, mà chỉ “các nước công nhận”, đồng thời tìm cách chuyển nội dung “công nhận các quyền cơ bản của Việt Nam” từ Chương I, Điều 1 xuống Chương IV nhằm làm giảm giá trị pháp lý của điều khoản đó (14) . Thống nhất đất nước là mục tiêu cuối cùng, song để đạt được mục tiêu đó, trong từng giai đoạn cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thể. Trong đàm phán Paris, mục tiêu trước mắt được xác định là “quân đội Mỹ rút, quân ta ở lại”. Ngày 20-7-1968, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 14 năm ký kết Hiệp định Genève, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay… Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước!” (15) . Lập trường đó thể hiện hai nội dung nhất quán: 1- Quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam; 2- Các vấn đề nội bộ của Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định, trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng chính trị - quân sự ở miền Nam. Đây chính là sự vận dụng linh hoạt tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu thống nhất và độc lập, đồng thời xác định bước đi chiến lược phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó. Ngày 1-1-1969, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ: “Năm qua thắng lợi vẻ vang,/Năm nay tiền tuyền chắc càng thắng to./Vì độc lập, vì tự do,/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn! (16) . Bài thơ đã khẳng định rõ mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do và thống nhất đất nước (“Bắc - Nam sum họp”), đồng thời chỉ ra mục tiêu cụ thể, trước mắt là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là sự kết hợp nhất quán giữa cái “bất biến” - mục tiêu chiến lược - với cái “vạn biến” - sách lược hành động phù hợp từng giai đoạn cách mạng. Đánh giá ý nghĩa của Hiệp định Paris, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát… mà mấu chốt là quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại” (17) . Như vậy, tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” tiếp tục được vận dụng sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Hội nghị Paris (từ tháng 5 đến tháng 10-1968), Việt Nam chưa chấp nhận đàm phán với chính quyền Sài Gòn. Theo hồi ức của ông Nguyễn Đình Phương - phiên dịch tại hội nghị, trong một cuộc gặp bí mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thủy và phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu, phía Mỹ yêu cầu có đại diện của chính quyền Sài Gòn tham dự. Ông Xuân Thủy thẳng thắn khẳng định: “Ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu - Kỳ” (18) . Đến tháng 10-1968, Mỹ tiếp tục đề nghị Việt Nam chấp thuận sự tham gia của chính quyền Sài Gòn như một điều kiện để chấm dứt ném bom miền Bắc. Việt Nam đồng ý, với điều kiện phía Mỹ phải thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là một bước đi thể hiện rõ nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định lập trường nguyên tắc, vừa linh hoạt trong sách lược. Cục diện đàm phán bốn bên tại Thủ đô Paris được mở ra, với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng chính trị, quân sự có uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao - tạo thuận lợi mới cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tham quan trưng bày ảnh về công tác đối ngoại nhân dân_Ảnh: TTXVN Xác định “cái bất biến” trong bối cảnh hiện nay Cách thức Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ nhất , mục tiêu cuối cùng là “kim chỉ nam” cho hành động. Kiên định mục tiêu lâu dài giúp không chệch hướng, không sa vào chủ quan, giáo điều. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, cần có những điều kiện cụ thể; nếu vận dụng cứng nhắc trong bối cảnh chưa chín muồi, sẽ khó xử lý hiệu quả các vấn đề phức tạp, trước mắt. Thứ hai , mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn là yếu tố quan trọng dẫn tới mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu này phải phù hợp thực tiễn, khả thi và có tính định hướng, là “nấc thang” tiến dần tới thắng lợi toàn diện. Càng xác định rõ mục tiêu trước mắt, càng tạo được sự linh hoạt trong điều hành chiến lược và trong hành động. Thứ ba , mục tiêu cuối cùng và mục tiêu cụ thể có vai trò khác nhau nhưng thống nhất trong tổng thể. Mục tiêu cuối cùng giữ vai trò định hướng chiến lược, còn mục tiêu cụ thể là căn cứ xử lý những vấn đề cấp bách, thiết thực. Thứ tư , để xác định đúng “cái bất biến” trong từng giai đoạn, cần “biết người, biết mình, biết thời thế”. “Biết người” là hiểu rõ đối tác và bối cảnh; “biết mình” là nắm chắc năng lực, mục tiêu, phương cách hành động; “biết thời thế” là nhận diện đúng xu hướng vận động của thế giới và khu vực (19) . Khi hội đủ ba yếu tố này, việc xác định “cái bất biến” mới thực sự chính xác và khả thi. Ngày nay, sau hơn 80 năm giành được độc lập, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam. “Cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu chiến lược - không thay đổi; song “cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu cụ thể - cần được xác định phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao (20) . Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại, đều phải phục vụ hiệu quả cho việc hiện thực hóa những mục tiêu này. Nói cách khác, mục tiêu phát triển quốc gia - “cái bất biến” - chi phối toàn bộ hoạt động đối ngoại, từ lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên đến cách xử lý các vấn đề phát sinh - “cái vạn biến”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc xử lý “cái bất biến” trong các tình huống cụ thể của quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các mối quan hệ đa phương, song phương và khu vực đều có thể phát sinh những vấn đề phức tạp; nếu có nguyên tắc chung, sự đồng thuận và ứng phó sẽ chủ động, hiệu quả hơn. Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn. Một là, đánh giá kỹ tác động của từng vụ việc đối với mục tiêu cuối cùng và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Phải tránh hai khuynh hướng: nghiêm trọng hóa dẫn đến cứng nhắc, làm vấn đề thêm phức tạp; hoặc đơn giản hóa, dẫn đến chủ quan, bỏ lỡ thời cơ hoặc gây hệ lụy lâu dài. Hai là, trên cơ sở đánh giá mức độ tác động, xác định mục tiêu cấp bách, trước mắt theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu cuối cùng, tối ưu và khả thi. Từ đó, xác định các biện pháp xử lý phù hợp, cả về phương thức và mức độ. Ba là, khi xác định được mục tiêu cụ thể (cái bất biến) và biện pháp xử lý (cái vạn biến), cần kiên định thực hiện, đồng thời chủ động hóa giải các hệ quả có thể phát sinh. Bài học từ lịch sử còn nguyên giá trị đến hôm nay. Ngày 7-3-1946, một ngày sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đồng bào Thủ đô: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước” (21) . Lời khẳng định đó thể hiện bản lĩnh kiên định, niềm tin vững chắc và tinh thần bất khuất đối với “cái bất biến” - độc lập, chủ quyền và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc. Tóm lại, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một nội dung cốt lõi, thể hiện chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Vấn đề then chốt và cũng là khó nhất trong việc vận dụng đúng tinh thần ấy chính là xác định “cái bất biến” trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể. Kiên định “cái bất biến” là giữ vững mục tiêu chiến lược; linh hoạt trong “vạn biến” là nghệ thuật ứng xử sáng tạo để đạt tới mục tiêu đó. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố này không đối lập, mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc ngoại giao Việt Nam. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi nhanh của thế giới hiện nay, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là cẩm nang quý báu cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, là kim chỉ nam trong xử lý linh hoạt, hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ quốc tế hiện đại./. ---------------------------- (1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (21) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 3, tr. 197, 44, 46, 119, 76, 139, 147, 149 (2) Xem: Nguyễn Văn Nguyên: ““Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1946)”, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 10-7-2025, https://lyluanchinhtri.vn/phuong-cham-di-bat-bien-ung-van-bien-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-va-gia-tri-chi-dao-thuc-tien-doi-voi-cach-mang-viet-nam-giai-doan-1945-1969-6997.html (3) Xem: Hà Minh Hồng: “Thêm nhận thức về 6 chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trong Quốc hiệu Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 1-9-2020, https://baochinhphu.vn/them-nhan-thuc-ve-6-chu-doc-lap-tu-do-hanh-phuc-trong-quoc-hieu-viet-nam-102278396.htm (8) Hội nghị diễn ra tại thành phố Potsdam (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh (11) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia , tr. 28 ( 1 2) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 20, tr. 81 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 393 (14) Huỳnh Văn Trình: “Những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris về Việt Nam” trong cuốn Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 176 (15), (16) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1967 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 10, tr. 200, 253 (17) Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2007, tr. 18 (18) Nguyễn Đình Phương: “Về cuộc đàm phán bí mật”, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 152 (19) Xem: Đặng Đình Quý: “Bàn về phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Vận dụng ngũ tri trong nghiên cứu đối ngoại”, Nghiên cứu quốc tế, số 2(93), tháng 6-2013, tr. 23 - 35 (20) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 36 |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1226202/hop-tac-va-ket-noi-kinh-te%2C-ket-cau-ha-tang-giua-viet-nam---lao-trong-boi-canh-moi.aspx | Hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới | 13-03-2026 | Một số cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng giữa Việt Nam - Lào | Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone_Ảnh: baochinhphu.vn Một số cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng giữa Việt Nam - Lào Quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào là một trong những mối quan hệ đặc biệt, bền chặt và toàn diện nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hai nước không chỉ là láng giềng gần gũi, mà còn có mối liên kết chính trị, lịch sử và văn hóa sâu sắc, được hình thành trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1962 và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (năm 1977), hợp tác giữa hai nước đã được nâng tầm từ quan hệ truyền thống sang quan hệ chiến lược toàn diện, thể hiện qua việc thể chế hóa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến giáo dục, khoa học và phát triển vùng biên giới (1) . Trong đó, các cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong những thành tựu hợp tác phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam - Lào. - Cơ quan điều phối chính: Cơ chế hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào được điều phối chủ yếu thông qua Uỷ ban Liên Chính phủ về Hợp tác Song phương Việt Nam - Lào, thành lập năm 1978. Cơ chế này họp thường niên để đánh giá kết quả hợp tác và đề ra phương hướng phát triển trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, năng lượng và hạ tầng. Đây là cơ quan điều phối trung tâm, kết nối các bộ, ngành địa phương hai nước nhằm bảo đảm thực thi các cam kết hợp tác (2) . Hằng năm, hai bên tổ chức Kỳ họp Ủy ban Liên Chính phủ luân phiên tại Hà Nội hoặc Viêng Chăn để rà soát kết quả hợp tác và đề ra phương hướng cho giai đoạn tiếp theo. Ngoài ra, hai bên còn thành lập các tiểu ban chuyên ngành như Tiểu ban Hợp tác Kinh tế - Thương mại - Đầu tư, Tiểu ban Hợp tác Năng lượng và Khoáng sản, Tiểu ban Hợp tác tài chính - ngân hàng. Hệ thống điều phối này góp phần tăng cường tính hiệu quả trong việc triển khai các chương trình hợp tác và phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai Đảng và hai Nhà nước (3) . - Các hiệp định hợp tác quan trọng: Trong lĩnh vực thương mại, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào có hiệu lực từ tháng 4-2024 đã thay thế hiệp định năm 2015. Hiệp định cũng chú trọng tạo thuận lợi thương mại thông qua cải cách thủ tục hải quan, áp dụng cơ chế một cửa điện tử và tăng cường phối hợp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại. Bên cạnh đó, hàng hóa có xuất xứ từ hai nước được hưởng mức thuế ưu đãi 0% hoặc giảm đáng kể, qua đó thúc đẩy trao đổi thương mại song phương (4) . Trong lĩnh vực đầu tư, hai văn kiện quan trọng là Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư song phương giữa Việt Nam và Lào (năm 1996) và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần (năm 1996) đã tạo nền tảng pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp hai nước (5) . Các hiệp định này quy định nguyên tắc đối xử công bằng, bảo đảm quyền chuyển vốn và lợi nhuận, cũng như thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hoặc trọng tài quốc tế. Trong lĩnh vực giao thông, Hiệp định tạo thuận lợi cho phương tiện cơ giới đường bộ qua lại biên giới (năm 2009) đã đặt nền tảng pháp lý cho vận tải xuyên biên giới. Bên cạnh đó, Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2021 - 2030 xác định trọng tâm là tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên quốc gia, ba gồm các tuyến đường bộ, đường sắt và hành lang kinh tế xuyên biên giới (6) . Trong lĩnh vực năng lượng và khoáng sản, các thoả thuận hợp tác như Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào (năm 2016) và Hiệp định Hợp tác Hiệp định Hợp tác phát triển các công trình năng lượng điện và mỏ (năm 2019) đã tạo cơ sở cho việc phát triển các dự án thuỷ điện tại Lào và xuất khẩu điện sang Việt Nam. Cụ thể, Hiệp định Hợp tác năng lượng năm 2019 được ký nhằm thúc đẩy phát triển các công trình thủy điện và mỏ tại Lào để cung cấp điện năng cho Việt Nam, với mục tiêu đạt công suất xuất khẩu từ 3.000 đến 5.000MW (7) . Nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh. Ngoài hợp tác song phương, Việt Nam và Lào còn phối hợp trong nhiều cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Nổi bật là Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA), được thành lập năm 1999 nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh biên giới của ba nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển và tăng cường liên kết nội khối trong khu vực. Cơ chế này hoạt động thông qua Hội nghị Cấp cao giữa ba Thủ tướng và các cơ quan điều phối liên ngành (8) . Bên cạnh đó, hai nước cũng tham gia các cơ chế hợp tác như Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Khung Chiến lược hợp tác kinh tế Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam (CLVM), Chiến lược hợp tác kinh Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS). Về các hiệp định, trong khuôn khổ Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (CES), các quốc gia đã thông qua Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (năm 2003), tiếp đó là Chương trình Hành động CLMV 2016 - 2020 và 2021 - 2025, tập trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, thương mại điện tử, năng lượng sạch, du lịch bền vững và giáo dục nghề (9) . Các văn kiện này khẳng định quyết tâm của CLMV trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Đối với Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya- Mekong (ACMECS), các mốc hợp tác quan trọng bao gồm Tuyên bố Bagan 2003 – văn kiện khởi đầu chiến lược hợp tác và Kế hoạch Tổng thể ACMECS 2019 - 2023, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột hợp tác: kết nối hạ tầng và logistics; phát triển đồng đều và bền vững; và xây dựng khu vực Mekong có khả năng chống chịu cao trước khủng hoảng toàn cầu (10) . Những cơ chế này đóng vai trò bổ sung và mở rộng cho hợp tác Việt Nam và Lào trong lĩnh vực kinh tế và kết cấu hạ tầng, tạo nên mạng lưới hợp tác đa tầng và liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong lưu vực Mekong. Đồng thời, việc tham gia vào các cơ chế này giúp Việt Nam và Lào tranh thủ nguồn lực từ các đối tác phát triển như ADB, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, và các tổ chức quốc tế khác, qua đó khắc phục hạn chế về tài chính và năng lực thể chế nội khối (11) . Thực trạng hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào Quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển khu vực của hai nước. Trong nhiều năm qua, hợp tác này đã không ngừng được mở rộng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và năng lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống người dân vùng biên giới và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia. Về thương mại, năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Lào đạt 2,3 tỷ USD, tăng 38,2% so với năm 2023. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đến Lào đạt 755,2 triệu USD, tăng 41,6% và chiếm 0,2% tổng xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 1,5 tỷ USD, tăng 36,5% và chiếm 0,4% tổng nhập khẩu của cả nước. Nhập siêu của Việt Nam từ Lào đạt 741,8 triệu USD, tăng 31,7% so với năm 2023 (12) . Việt Nam xuất khẩu sang Lào chủ yếu là xăng dầu, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng và linh kiện máy móc, trong khi nhập khẩu từ Lào điện năng, khoáng sản, gỗ và nông sản. Sự tăng trưởng thương mại này được thúc đẩy nhờ các hiệp định song phương quan trọng như Hiệp định Thương mại Việt - Lào năm 2015 và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần năm 2016, giúp tạo khung pháp lý ổn định cho hoạt động thương mại giữa hai nước. Cùng với đó, việc hoàn thiện các tuyến giao thông chiến lược như Quốc lộ 8, Quốc lộ 9 và Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC) đã giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và tăng cường liên kết giữa các địa phương trong khu vực CLV (13) . Trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác đầu tư Việt - Lào đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu và hình thức, phản ánh nỗ lực của hai Chính phủ trong việc thể chế hóa và cụ thể hóa quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững và lâu dài. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam đầu tư vào Lào khoảng 28,8% vốn, tăng 62,2% so với năm 2023 (14) . Với con số này, Lào trở thành quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư lớn nhất của Việt Nam, khẳng định vị thế đặc biệt của quan hệ kinh tế song phương trong chiến lược phát triển khu vực của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Lào hiện có 18 dự án đầu tư đang triển khai ổn định tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt trên 110 triệu USD. Doanh nghiệp Lào được các cơ quan chức năng của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đầu tư, kinh doanh (15) . Đầu tư của Việt Nam sang Lào tập trung vào các lĩnh vực có tính bổ trợ cao và phù hợp với tiềm năng của Lào như năng lượng - thủy điện, nông lâm nghiệp, khai khoáng, viễn thông, ngân hàng, và hạ tầng du lịch. Khoảng 35 - 40% tổng vốn đầu tư tập trung trong ngành năng lượng và thủy điện, với các dự án tiêu biểu như Xekaman 1, Xekaman 3 và Xekong 3 A-B do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và PetroVietnam triển khai (16) . Bên cạnh đó, dự án viễn thông Unitel - liên doanh giữa Viettel và Lao Asia Telecom - đã trở thành nhà mạng lớn nhất tại Lào, đóng góp quan trọng cho quá trình chuyển đổi số và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Ngành nông - lâm nghiệp chiếm khoảng 25 - 30% tổng vốn đầu tư, với các dự án trồng cao su, mía đường, cà phê của Tập đoàn Cao su Việt Nam và Hoàng Anh Gia Lai. Lĩnh vực viễn thông cũng ghi nhận thành công nổi bật với thương hiệu Unitel (Viettel), hiện chiếm hơn 50% thị phần tại Lào và đóng góp hàng chục triệu USD mỗi năm cho ngân sách nước bạn (17) . Cùng với đó, các dự án trong lĩnh vực ngân hàng, dịch vụ, thương mại và du lịch đang dần mở rộng, góp phần hình thành các chuỗi giá trị song phương và kết nối kinh tế vùng biên giới giữa hai nước. Ngoài ra, hợp tác năng lượng cũng được xem là trụ cột chiến lược trong quan hệ Việt - Lào. Với tiềm năng thủy điện lớn, Lào được mệnh danh là “cục pin của Đông Nam Á” và Việt Nam là đối tác tiêu thụ điện hàng đầu của Lào. Trên cơ sở các thỏa thuận cấp cao như Hiệp định Hợp tác năng lượng Việt Nam - Lào năm 2006, Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào năm 2016, hai bên đã xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 5.000MW điện từ Lào (18) . Đến năm 2024, Việt Nam đã ký kết 19 hợp đồng mua bán điện với 26 nhà máy thủy điện của Lào, với tổng công suất khoảng 2.689MW (19) . Các tuyến truyền tải chính hiện đang vận hành gồm đường dây 220kV Xekaman 1 - Pleiku 2, Xekaman 3 - Thừa Thiên Huế, Nam Kong 1 - Quảng Trị, cùng các dự án đang triển khai như tuyến 500kV Mường Phin - Hà Tĩnh. Nhiều dự án thủy điện lớn do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào đã đi vào hoạt động như Xekaman 1 (290MW), Xekaman 3 (250MW), Xekaman 4 (32MW) và cụm dự án Nam Mo 1 - Nam Mo 2, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển năng lượng của cả hai quốc gia (20) . Ngoài thủy điện, Việt Nam và Lào đang mở rộng hợp tác sang các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời, nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch năng lượng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng khu vực. Tiêu biểu là dự án điện gió Savan1 tại tỉnh Savannakhet, do T&T Group của Việt Nam đầu tư với tổng công suất lắp đặt khoảng 495MW, tổng vốn đầu tư 768 triệu USD và dự kiến xuất khẩu điện về Việt Nam vào cuối năm 2025 (21) . Hợp tác này giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung và chuyển dịch sang năng lượng sạch, trong khi Lào đẩy mạnh xuất khẩu điện mặt hàng chiến lược trong mục tiêu trở thành “Bình điện của Đông Nam Á”. Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới không chỉ giúp bảo đảm an ninh năng lượng cho Việt Nam mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho Lào. Dẫu vậy, vấn đề đánh giá tác động môi trường và xã hội của các dự án năng lượng, nhất là tại lưu vực sông Mekong, vẫn là thách thức cần được giải quyết. Lãnh đạo Công ty cổ phần Cao su Việt Lào thăm vườn giống tại huyện Bachiang, tỉnh Champasak, Lào_Ảnh: tuoitre.vn Để tăng cường hiệu quả hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào Trong những năm gần đây, hợp tác giữa Việt Nam - Lào tiếp tục phát triển theo hướng đa tầng và đa chiều, bao gồm các cấp độ hợp tác song phương, đa phương tiểu vùng và đa phương mở rộng, phản ánh xu hướng chuyển dịch từ quan hệ hỗ trợ phát triển sang liên kết kinh tế thể chế hóa và định hướng bền vững. Ở cấp độ song phương, các cơ chế như Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Lào cùng với các hiệp định về thương mại, đầu tư, năng lượng và giao thông, đã tạo nền tảng pháp lý cho việc mở rộng hợp tác kinh tế biên giới. Việt Nam tiếp tục là nhà đầu tư và đối tác thương mại lớn hàng đầu của Lào, chiếm phần lớn giá trị đầu tư nội khối và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu song phương. Tuy nhiên, hợp tác song phương vẫn còn thiếu cân bằng, do chênh lệch năng lực phát triển và cơ chế chia sẻ lợi ích chưa thực sự hiệu quả. Ở cấp độ đa phương tiểu vùng, cơ chế Tam giác Phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV-DTA) đã được thể chế hóa tương đối hoàn chỉnh, với cấu trúc ba tầng gồm Hội nghị Cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng, và Ủy ban Điều phối chung, cùng các Kế hoạch Hành động giai đoạn 2004 - 2010, 2011 - 2020 và 2021 - 2030. Cơ chế này đóng vai trò điều phối chính sách phát triển vùng biên, xúc tiến thương mại, đầu tư và kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi vẫn còn hạn chế do CLV - DTA chưa có Cơ quan Thường trực điều phối, nguồn tài chính phụ thuộc nhiều vào các đối tác phát triển khu vực và quốc tế, và tiến độ thực hiện các dự án còn chậm. Đặc biệt, việc Campuchia rút khỏi cơ chế hợp tác Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA) đã gây nên gián đoạn cơ chế ba bên tập trung, làm mất đi nền tảng huy động nguồn lực chung cũng như rủi ro về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên khu vực biên giới trở nên cao hơn. Ở cấp độ đa phương mở rộng, Việt Nam và Lào đã chủ động hội nhập vào các cơ chế lớn hơn như Chiến lược ACMECS, Chương trình GMS và trong phạm vi rộng hơn là ASEAN. Thông qua các khuôn khổ này, ba nước CLV được hưởng lợi từ nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ xanh do các thể chế tài chính quốc tế cung cấp, đặc biệt là ADB, World Bank. Các dự án trong khuôn khổ GMS Chiến lược Hợp tác năng lượng 2023 - 2030 và Kế hoạch tổng thể ACMECS 2023 - 2030 đã hỗ trợ ba nước phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy trao đổi điện xuyên biên giới và hướng tới mô hình tăng trưởng xanh. Dù hiệu quả thực tiễn bước đầu đã thể hiện rõ, hợp tác mở rộng này vẫn đối mặt với thách thức về năng lực thể chế, minh bạch dự án và khả năng hấp thụ vốn quốc tế. Tổng thể cho thấy, trên cả phương diện tổ chức và kết quả thực tiễn, hợp tác Việt Nam - Lào có cấu trúc hợp tác ba tầng rõ rệt: hợp tác song phương đóng vai trò nền tảng, hợp tác đa phương tiểu vùng là công cụ điều phối, trong khi hợp tác đa phương mở rộng là động lực hội nhập và phát triển bền vững. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả và tính tự chủ, Việt Nam và Lào cần xây dựng cơ chế điều phối chung có tính pháp lý cao hơn, thiết lập quỹ phát triển nội vùng, đồng thời đồng bộ hóa quy hoạch hạ tầng - thương mại - năng lượng nhằm hướng tới một mô hình hợp tác tiểu vùng năng động, tự cường và xanh hóa trong bối cảnh chuyển đổi phát triển của khu vực Mekong. Bối cảnh mới toàn cầu và khu vực tạo ra các cơ hội và thách thức đồng thời đối với hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt - Lào. Trên bình diện toàn cầu, sự trỗi dậy của Trung Quốc, việc hình thành khối BRICS, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, cùng với tiến trình Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã tạo ra áp lực lớn, nhưng cũng đồng thời thúc đẩy các nước Việt Nam và Lào củng cố quan hệ song phương, nâng cao tính tự chủ kinh tế - chính trị và giảm phụ thuộc vào một đối tác duy nhất. Trên bình diện khu vực, sự ổn định và tăng trưởng của ASEAN, cùng với các cơ chế hợp tác đa phương, tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam - Lào phát triển các dự án kinh tế, thương mại, năng lượng và hạ tầng biên giới, nhờ vào khung pháp lý minh bạch, tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và cơ chế điều phối chính trị. Trong khi đó, hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng Việt Nam - Lào phải đối mặt với các thách thức lớn. Môi trường kinh tế chính trị toàn cầu tiềm tàng nhiều bất ổn, tác động không tích cực đến triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào. Bên cạnh đó, xung đột tiềm tàng tại các điểm nóng trong khu vực và thế giới nếu xảy ra sẽ làm gián đoạn các hoạt động thương mại và đầu tư các nước trong khu vực, từ đó tác động không tích cực đến hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Ngoài ra, các thách thức toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng. Cạnh tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn tại ASEAN khiến cho sức mạnh tổng thể, tính trung tâm của ASEAN bị ảnh hưởng đáng kể, từ đó tác động đến khả năng hợp tác giữa các thành viên, trong đó có hợp tác Việt Nam - Lào. Thêm vào đó, các dự án địa chiến lược của các nước lớn đối với khu vực tạo ra những thách thức mới đối với hợp tác và kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào. Để tăng cường tính hiệu quả trong hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào, cần tập trung thực hiện một số nội dung: Thứ nhất, Việt Nam - Lào cần tiếp tục duy trì và mở rộng các liên kết song phương, đồng thời mời các đối tác thứ ba như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, ADB hay WB tham gia vào các dự án ưu tiên, đặc biệt về hạ tầng, năng lượng tái tạo và thương mại biên giới. Điều này vừa giúp duy trì dòng vốn và công nghệ cho Việt Nam và Lào, vừa tạo động lực để Campuchia quay trở lại khuôn khổ hợp tác CLV khi điều kiện thuận lợi. Vì vậy, cần có cơ chế hiệu quả để tiếp tục huy động nguồn lực quốc tế và phối hợp hỗ trợ kỹ thuật, nhằm bảo đảm các dự án năng lượng tái tạo và hạ tầng xanh được triển khai bền vững. Thứ hai , Việt Nam cần khẳng định và phát huy vai trò “điều phối trung tâm” trong hợp tác Mekong, chủ động lồng ghép các ưu tiên của kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào vào khuôn khổ ACMECS, GMS và Chiến lược Hợp tác Mekong - Nhật Bản. Việt Nam có thể vận động các đối tác phát triển hỗ trợ mô hình “CLV mở rộng”, trong đó Việt Nam và Lào đóng vai trò hạt nhân, tạo điều kiện cho Campuchia quay trở lại khi điều kiện thuận lợi. Thứ ba, Việt Nam và Lào nên tập trung nâng cấp các hành lang kinh tế và kết nối logistic Việt Nam - Lào, đồng thời thúc đẩy các dự án tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp, chế biến, năng lượng sạch và du lịch sinh thái. Thứ tư, trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò trung tâm nhập khẩu và trung chuyển điện trong tiểu vùng, tập trung thúc đẩy hợp tác song phương Việt - Lào trong lĩnh vực thủy điện, năng lượng tái tạo và lưới điện liên kết. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể mở rộng hợp tác năng lượng với Lào theo cơ chế ACMECS hoặc GMS để tận dụng các nguồn lực và sự hỗ trợ từ các tổ chức khu vực và quốc tế. Thứ năm , nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh. Trong bối cảnh hiện nay, việc thúc đẩy hợp tác và kết nối chiến lược giữa Việt Nam - Lào trong lĩnh vực kinh tế, kết cấu hạ tầng đang đứng trước cả những vận hội và thách thức mới. Cùng với nhu cầu, mong muốn tiếp tục thúc đẩy kết nối chiến lược, đổi mới và nâng cao tính hiệu quả của các cơ chế hợp tác từ hai phía, sự gia tăng các nguồn lực, nhất là từ phía Việt Nam cũng như kinh nghiệm rút ra trong hợp tác giữa hai nước và xu hướng kết nối về thể chế, kết cấu hạ tầng giữa các nước trong ASEAN, giữa các nước trong Tiểu vùng Mekong với các đối tác bên ngoài đang gia tăng cũng tạo ra cơ hội mới cho thúc đẩy kết nối chiến lược kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Chính vì vậy, sự đổi mới, nâng cao tính hiệu quả các cơ chế hợp tác, tăng cường các nguồn lực để kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng cần được nhận thức sâu sắc và có hành động cụ thể hơn./. -------------------- * Bài viết là sản phẩm khoa học của nhiệm vụ: “Xu hướng quan hệ của Thái Lan với Lào và Campuchia đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Những vấn đề đặt ra và thích ứng chính sách của Việt Nam”, mã số: 506.01-2024.04 do TS Trương Quang Hoàn là Chủ nhiệm, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED tài trợ. (1) VOV (2023), “New milestones in Vietnam-Laos comprehensive cooperative relations”, https://english.vov.vn/en/politics/new-milestones-in-vietnam-laos-comprehensive-cooperative-relations-post1033367.vov, truy cập ngày 10-9-2025 (2) Cổng thông tin điện tử Chính phủ: “Quyết định số 422/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc kiện toàn Ủy ban Hợp tác Việt Nam - Lào trong Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2017/04/422.signed.pdf (3) Tùng Linh (2024): “Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2024-1-8/Ky-hop-lan-thu-46-Uy-ban-lien-Chinh-phu-ve-hop-tacu1uzyu.aspx, t ruy cập ngày 10-9-2025 (4) Bộ Công Thương (2024): “Chính thức ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào mới”, Vụ thị trường châu Á - châu Phi, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/chinh-thuc-ky-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-lao-moi.html, truy cập ngày 10-9-2025 (5) “Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (1996)”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Hiep-dinh-khuyen-khich-bao-ho-dau-tu-giua-Viet-Nam-Lao-1996-81266.aspx ., truy cập ngày 15-9-2025 (6) Hà Văn (2023), “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Lào ngày càng thực chất, hiệu quả”, Báo Chính phủ điện tử , https://baochinhphu.vn/thuc-day-hop-tac-viet-nam-lao-ngay-cang-thuc-chat-hieu-qua-102230405191918487.htm, t ruy cập ngày 17-9-2025 (7) Xinhua (2022), “Laos to expand energy trade with Vietnam”, http://www.xinhuanet.com/english/2019-08/22/c_138329111.htm, t ruy cập ngày 17-9-2025 (8) Vannarith Chheang (2018), “The Cambodia-Laos-Vietnam Development Triangle Area”, ISEAS Perspective, No. 30, https://www.iseas.edu.sg/wp-content/uploads/pdfs/ISEAS_Perspective_2018_30@50.pdf, truy cập ngày 17-9-2025 (9) Bộ Công Thương (2022), “CLMV Action Plan for 2023-2024 period adopted”, https://moit.gov.vn/en/news/ministerial-leaders-activities/clmv-action-plan-for-2023-2024-period-adopted.html#:~:text=The%20CLMV%20Action%20Plan%20for%20the%202023-2024%20period,Minister%20of%20Industry%20and%20Trade%20Nguyen%20Hong%20Dien, truy cập ngày 27-9-2025 (10) ACMECS Secretariat (2020): “ACMECS Master Plan 2019–2023”, Bangkok, https://image.mfa.go.th/mfa/0/mkKfL2iULZ/migrate_directory/information-20180618-142227-835103.pdf (11) Nguyen, T. M., & Pham, L. H (2021): Regional Cooperation in the Mekong Subregion: Trends and Challenges, Journal of Southeast Asian Studies , 52(3), 412–430 (12) Bộ Công Thương (2024): “Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024”, Nhà xuất bản Công Thương, https://trungtamwto.vn/file/23903/bao-cao-xnk-vn-2024-1534_compressed.pdf (13) Asian Development Bank (ADB) (2022): “The Greater Mekong Subregion Economic Cooperation Program Strategic Framework 2030”, Manila: ADB, https://www.adb.org/sites/default/files/institutional-document/678631/gms-economic-cooperation-strategic-framework-2030.pdf (14) Bộ Tài chính (2024): “Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2024”, Cục Đầu tư nước ngoài, https://ipcs.mpi.gov.vn/bao-cao-tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-nam-2024 (15) Báo điện tử Chính phủ: “Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương”, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-va-thu-tuong-lao-dong-chu-tri-ky-hop-lan-thu-46-uy-ban-lien-chinh-phu-ve-hop-tac-song-phuong-102240107115900978.htm, truy cập ngày 27-9-2025 (16) Báo điện tử Chính phủ: “Việt Nam - Lào đẩy mạnh kết nối kinh tế, sớm đạt mục tiêu 5 tỷ USD thương mại song phương”, https://baochinhphu.vn/viet-nam-lao-day-manh-ket-noi-kinh-te-som-dat-muc-tieu-5-ty-usd-thuong-mai-song-phuong-102250109105904898.htm, truy cập ngày 20-10-2025 (17) VietnamPlus: “Việt Nam - Lào: Tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện”, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-lao-tinh-huu-nghi-vi-dai-doan-ket-dac-biet-hop-tac-toan-dien-post1060053.vnp, t ruy cập ngày 20-10-2025 (18) Bộ Công Thương: “Năng lượng và mỏ là trụ cột hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào”, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/nang-luong-va-mo-la-tru-cot-hop-tac-kinh-te-viet-nam-lao.html, truy cập ngày 20-10-2025 (19) Tuổi trẻ và Pháp luật: “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://phapluat.tuoitrethudo.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-tai-lao-88126.html, t ruy cập ngày 20-10-2025 (20) “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://tuoitre.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-lao-20240107161515734.htm, truy cập ngày 20-10-2025 (21) “T&T Group's wind power project in Laos will export electricity to Vietnam by the end of 2025”, https://www.vietnam.vn/en/du-an-dien-gio-cua-tt-group-tai-lao-xuat-khau-dien-ve-viet-nam-cuoi-nam-2025, t ruy cập ngày 20-10-2025 |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1207202/the-va-luc-cua-dat-nuoc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-quoc-te-qua-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi-moi.aspx | Thế và lực của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới | 16-01-2026 | Khẳng định thành tựu phát triển qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới | Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khởi công Nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN Khẳng định thành tựu phát triển qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ... ” (1) . “...Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD” (2) . Chỉ số hạnh phúc năm 2025 của Việt Nam tăng 8 bậc so với năm 2024, xếp thứ 46/143 quốc gia. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau, phát triển ngày càng vững chắc, trở thành trụ đỡ vững vàng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc, trên nền tảng là nhân dân: “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”, dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ngày càng được hiện thực hóa. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi tiếp tục phải đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (3) . “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi công dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, có ý thức thượng tôn pháp luật thì sẽ tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” (4) . Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố, qua đó khẳng định nhất quán nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong tiến trình hội nhập quốc tế suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn kiên định giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược: phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt; phát triển văn hóa và con người Việt Nam là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhờ đó, Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; an toàn thông tin được tăng cường; môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước được bảo đảm. Tiềm lực quốc phòng - an ninh tiếp tục được đầu tư, củng cố, nâng cao; khả năng xử lý tình huống chiến lược được thực hiện chủ động, linh hoạt, hiệu quả, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội; sức mạnh quốc phòng, an ninh đều được tăng cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển; đồng thời, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mối quan hệ về quốc phòng, quân sự, an ninh được xây dựng, phát triển ở mức độ thích hợp trên cơ sở bảo đảm lợi ích cốt lõi của Việt Nam, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, vì lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực cạnh tranh quốc gia. Công tác phát triển văn hóa, xã hội và con người đạt nhiều tiến bộ, từng bước định hình hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện rõ rệt. Năm 2024, tỷ lệ người lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 28,1%, tăng 1,3% so với năm 2023. Tiềm lực khoa học - công nghệ tiếp tục được củng cố, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hình thành và phát triển. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 56/119 về hệ sinh thái khởi nghiệp, tăng 2 bậc so với năm 2023; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tăng 4 bậc so với năm 2022, đứng thứ 44/132, cho thấy năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang nâng lên một bước quan trọng. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong chính sách xã hội ngày càng được nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn, thể hiện rõ ở việc gắn kết hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Lĩnh vực an sinh và phúc lợi xã hội tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách đối với người có công và người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống khám, chữa bệnh ngày càng tiếp cận rộng rãi hơn với kỹ thuật y khoa tiên tiến của thế giới; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 94,1% năm 2024. Công tác quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường; kiểm soát ô nhiễm môi trường có chuyển biến rõ nét; đồng thời, việc huy động nguồn lực để ứng phó với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam năm 2024 xếp thứ 54/166, tăng một bậc so với năm 2023, phản ánh nỗ lực và tiến bộ đáng ghi nhận trong phát triển bền vững. Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đường lối đối ngoại rộng mở và hội nhập quốc tế sâu rộng đã đưa Việt Nam trở thành “bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế; đồng thời, khẳng định và nâng cao rõ rệt vị thế, uy tín quốc gia trên trường thế giới. Từ một đất nước từng bị bao vây, cô lập, hiện nay Việt Nam là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác và liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), đã kết nối Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, thúc đẩy tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Nhờ đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thuộc nhóm 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất từ năm 2019 đến nay; đồng thời, là một trong 10 nước có lượng kiều hối lớn nhất thế giới (5) . Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự lựa chọn mang tính bước ngoặt, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại với ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn yêu cầu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó mục tiêu phát triển được đặt ở vị trí trung tâm; vai trò của hội nhập quốc tế đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đề cao; nhiệm vụ nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trong cộng đồng quốc tế được nhấn mạnh như một động lực quan trọng của tiến trình phát triển đất nước. Trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn quán triệt chủ trương của Đảng về bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Trên cơ sở đó, phương châm và định hướng lớn được quán triệt nhất quán: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn; đồng thời, duy trì, củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống. Quá trình phát triển đường lối cho thấy định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn, chuyển mạnh từ tâm thế “quốc gia đi sau” sang vị thế “quốc gia chủ động, tích cực, tiên phong” trong nhiều lĩnh vực hợp tác mới. Trong triển khai hội nhập quốc tế, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và mở rộng quan hệ hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; đồng thời, khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường nội lực để hội nhập quốc tế đạt hiệu quả, bền vững. Đảng chỉ rõ việc tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nâng cao khả năng thích ứng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị. Hội nhập quốc tế phải được tiến hành trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài; trong đó, hội nhập kinh tế là trọng tâm, các lĩnh vực khác được mở rộng theo lộ trình phù hợp. Việt Nam kiên trì thực hiện nghiêm cam kết quốc tế, đồng thời chủ động, tích cực tham gia xây dựng và định hình chuẩn mực chung nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Với các quan hệ đối tác đã được xác lập, Đảng chủ trương đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu và làm sâu sắc hơn, ngày càng gia tăng mức độ đan xen lợi ích, tăng cường lòng tin, mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác, nâng cấp quan hệ với các đối tác phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công, trong vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu phản động của các thế lực thù địch, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước. Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, “hội tụ” thế và lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới Thực tiễn hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy, thế và lực của Việt Nam đạt được thành tựu to lớn, bên cạnh đó cũng còn hạn chế cần khắc phục. Về thành tựu , hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc duy trì và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quá trình hội nhập quốc tế đã phá vỡ thế bị bao vây, cấm vận trước đây, đồng thời mở rộng không gian đối ngoại, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước và đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện tiếp tục được thiết lập, củng cố và mở rộng, bao quát các đối tác có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Hội nhập quốc tế gắn với quốc phòng, an ninh đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; đồng thời, giúp Việt Nam tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các cơ chế hòa bình, hợp tác khu vực và toàn cầu, qua đó không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng quan hệ đối tác toàn diện trở lên với 42 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới thuộc nhóm G20 (6) . Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền và 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền hoặc tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ hợp tác với hơn 140 quốc hội và nghị viện trên thế giới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân với khoảng 1.200 tổ chức trên thế giới và đối tác nước ngoài. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại chuyên ngành tiếp tục được mở rộng, trở thành bộ phận quan trọng góp phần tạo nên những thành tựu toàn diện của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng sông Mê Công, APEC, Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), các hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao “Vành đai, con đường”... Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc, như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong hai nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và nhiệm kỳ 2026 - 2028, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027... Về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Óoc (Mỹ); cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Mi-an-ma. Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời tạo chuyển biến tích cực trong xử lý vấn đề biên giới, lãnh thổ với các nước liên quan. Cùng với việc đàm phán và ký kết điều ước, thỏa thuận quốc tế, Việt Nam từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, xây dựng khuôn khổ hợp tác và quản lý biên giới hiệu quả, qua đó củng cố môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và mở rộng không gian hợp tác đối ngoại. Đối với Trung Quốc, Việt Nam đã ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền và hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên bộ; ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ; ký kết Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Hai bên tiếp tục thiết lập các hiệp định về quy chế quản lý biên giới và quản lý cửa khẩu trên đất liền, tạo khung pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền, phát triển đường biên giới hòa bình, hữu nghị. Trong khuôn khổ các nước ASEAN, Việt Nam đã có những nỗ lực trong việc mở rộng và tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Với Lào, hai nước đã hoàn thành dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên toàn tuyến biên giới, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và củng cố đường biên giới hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào. Đối với Cam-pu-chia, hai bên đã hoàn thành phân giới, cắm mốc khoảng 84% chiều dài biên giới trên đất liền. Gắn với việc phân định, hợp tác và xử lý vùng chồng lấn trên biển, Việt Nam đã từng bước cùng các quốc gia liên quan giải quyết trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 quốc gia trên tất cả châu lục; chủ động, tích cực tham gia hơn 500 điều ước quốc tế song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, qua đó thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn và đa dạng. Công tác đối ngoại góp phần quan trọng làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tăng cường gắn kết và hợp tác kinh tế với nhiều đối tác chủ chốt, tạo nền tảng củng cố kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, thu hút hiệu quả nguồn lực bên ngoài, bao gồm FDI, viện trợ không hoàn lại (ODA), thành tựu khoa học - công nghệ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong đại dịch COVID-19, việc triển khai chủ động, quyết liệt đường lối đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao vắc-xin, giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ quý báu, kịp thời của cộng đồng quốc tế để ứng phó, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, được bạn bè và đối tác quốc tế đánh giá cao. Triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt từ sau khi Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” và Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”, Đảng và Nhà nước nhất quán khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều kết quả quan trọng. Đến cuối năm 2024, đồng bào ta ở nước ngoài đã đầu tư 422 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 1.725 tỷ USD; số lượng kiều hối chuyển về qua hệ thống ngân hàng đạt gần 250 tỷ USD, góp phần hỗ trợ gia đình, người thân và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng củng cố, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương, đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại. Công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa được đổi mới mạnh mẽ, triển khai ngày càng bài bản, hiệu quả, góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Thông qua nhiều hình thức phong phú, thế giới hiểu rõ hơn về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đã đạt được; về truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc; về nền văn hóa phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc; về phẩm chất anh hùng, thủy chung, nghĩa tình và yêu chuộng hòa bình của con người Việt Nam; cũng như về một đất nước Việt Nam an toàn, thân thiện, ổn định, hội nhập và phát triển. Nhiều hoạt động truyền thông được tổ chức nhằm lan tỏa giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh nhân văn hóa Việt Nam được UNESCO vinh danh; đồng thời, tích cực vận động UNESCO công nhận di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của Việt Nam. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, kịp thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, việc xây dựng và triển khai đường lối, chính sách đối ngoại đã góp phần hình thành nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, với ba trụ cột ngày càng được củng cố và phát triển: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, phương tiện và công cụ phục vụ công tác đối ngoại cũng không ngừng đổi mới, ngày càng đa dạng và hiệu quả hơn. Nhờ đó, hoạt động đối ngoại đã theo kịp xu thế thời đại, mở rộng về chủ thể tham gia, làm sâu sắc mạng lưới đối tác, đồng thời đổi mới mạnh mẽ về phương thức và công cụ triển khai. Về hạn chế , thế và lực mới của đất nước tuy đã được củng cố vững chắc, nhưng chưa thực sự phát huy tối đa để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế. Quan hệ với một số đối tác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và khuôn khổ hợp tác, nhất là trong lĩnh vực kinh tế khi vẫn thiếu vắng dự án mang tính chiến lược. Việc theo dõi, triển khai, đôn đốc thực hiện thỏa thuận, cam kết, khuôn khổ hợp tác quốc tế vẫn còn hạn chế, còn xuất hiện “điểm nghẽn” trong quan hệ với một số đối tác quan trọng. Cải cách thể chế trong một số lĩnh vực vẫn chưa theo kịp yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để vừa hội nhập quốc tế sâu rộng, vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hiệu quả phối hợp giữa bộ, ngành và địa phương vẫn chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ, còn thiếu sự gắn kết. Công tác nghiên cứu chiến lược và dự báo biến chuyển của tình hình quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tham mưu trong bối cảnh mới. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập Nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ đạt được những kỳ tích (kỳ tích về một nước dân chủ thuộc địa nửa phong kiến có thể chiến thắng hai đế quốc thực dân hùng mạnh; kỳ tích về một nước từ bị bao vây cấm vận thực hiện thành công công cuộc đổi mới với những thành tựu vĩ đại). Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ những vấn đề trên, có thể thấy, đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa các lợi thế, sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới” (7) ./. ------------- * Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài cấp quốc gia, Mã số KX.06.03/21-30 (1) Xem: Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 1-11-2024 (2) Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 1059, tháng 4-2025, tr. 10 (3) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1049, tháng 11-2024, tr. 4 (4) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tlđd (5) Xem: Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tlđd (6) G-20 thường được biết đến với tên gọi: Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới, bao gồm 19 quốc gia và Liên minh châu Âu. Gần đây, Liên minh châu Phi (AU) đã trở thành thành viên mới nhất của G-20 (7) Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tlđd |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1224502/ngoai%C2%A0giao-khoa-hoc-trong-chien-luoc-doi-ngoai-%C2%A0tu%C2%A0kinh-nghiem-quoc-te-den-dinh-huong-chinh-sach%C2%A0cua-viet-nam.aspx | "Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến(...TRUNCATED) | 09-03-2026 | Ngoại giao khoa học trong kỷ nguyên phát triển mới | "Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các đại sứ, trưởng các cơ quan đại diện ngoại(...TRUNCATED) |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/826103/cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-nam-1982--bon-muoi-nam-vi-hoa-binh%2C-phat-trien-ben-vung-bien-va-dai-duong.aspx | "Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982: Bốn mươi năm vì hòa bìn(...TRUNCATED) | 04-11-2022 | Cơ chế hòa bình giải quyết các tranh chấp biển | "Tháng 8-1967, khởi đầu từ đề xuất của Đại sứ A-vi-đơ Pác-đô (Arvid Pardo),(...TRUNCATED) |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/869602/hiep-dinh-paris-mo-duong-thong-nhat-dat-nuoc-va-bai-hoc-cho-hoat-dong-ngoai-giao-cua-viet-nam-hien-nay.aspx | "Hiệp định Paris mở đường thống nhất đất nước và bài học cho hoạt động(...TRUNCATED) | 06-01-2024 | Tính chất bước ngoặt, mở đường của Hiệp định Paris | "Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng các đồng c(...TRUNCATED) |
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1219402/nhan-thuc%2C-tu-duy-moi-ve-an-ninh-trong-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx | Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng | 08-02-2026 | Nhận thức, tư duy mới về an ninh quốc gia | "Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, làm việc tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 (Khu Cô(...TRUNCATED) |
End of preview. Expand in Data Studio
No dataset card yet
- Downloads last month
- -